Ngày về

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Sep 2023

Năm 1981, khi tôi còn bị giam trong trại cải tạo Z30C Hàm Tân, Thuận- Hải, cứ vào buổi chiều, tôi cùng vài anh bạn tù lại ngồi quây quần bên nhau trên sạp xi măng, nhâm nhi từng ngụm cà phê chế bằng cơm cháy, ôn lại chuyện đời cho nhau nghe.
Hầu như bữa nào cũng vậy, dù trời tạnh ráo hay mưa bão dầm dề, thế nào chúng tôi cũng được nghe tiếng guitar thánh thót của một nhạc sĩ tay ngang Cựu Thiếu Tá Hồ Văn Hùng, gốc Cảnh-Sát Quốc-Gia và tiếng ca trầm buồn ảo não của chàng ca sĩ ngang xương Cựu Thiếu Úy Nguyễn Văn Vinh gốc Biệt Cách Nhảy Dù.

Chúng tôi mất nước đã gần chục năm, xa nhà cũng đã gần chục năm, nên những lời buồn thảm, bi ai: “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua…”- “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho ai…” vừa cất lên, thì người đàn, người hát, người nghe cùng chạnh lòng, nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ vợ, nhớ con, nhớ bạn bè, nhớ xóm giềng, và nhớ quê hương.
Anh nhạc sĩ Hồ Văn Hùng, xưa kia là Cảnh- Sát tỉnh Hậu-Nghĩa; nay bị giam cùng buồng, cùng đội lao động với tôi. Anh thuộc nhiều bài hát lắm. Tôi xin anh chép lại cho tôi trọn bộ lời Pháp của bài “Chanson d’Orphée”
Anh ta chỉ cần dạo nhạc cho tôi đôi lần, là tôi đã thuộc nhập tâm bài hát này ngay. Trong bài ca ấy, tôi thích nhất câu “Le ciel a choisi mon pays. Pour faire un nouveau paradis” (Thượng Ðế đã chọn quê hương tôi để dựng lên một Tân Thiên Ðường)
Ngày xưa Thượng Ðế đã ban cho tôi một Thiên Ðường, mà tôi lại vô tình không nhận ra, đó là đất nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Năm 1975 Thiên Ðường của tôi đã không còn nữa.
Một năm sau ngày được thả, đầu Thu 1989 tôi gặp lại Hồ Văn Hùng trước một sạp báo cạnh nhà thương Sùng Chính, Chợ- Lớn. Khu này quy tụ khá nhiều dân gốc “Ngụy”: Một sạp báo do anh cựu nhân viên Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo làm chủ, một thợ hớt tóc là cựu Hải quân Thiếu úy, kế đó là một ông già mài dao, mài kéo, xưa kia làm tới Phó Quận xuất thân từ trường Quốc-Gia Hành-Chánh.
Anh chủ sạp báo là bạn tù tôi quen trong thời gian bị giam giữ ở Z 30 D. Vì làm bạn với anh chủ sạp báo, nên dần dà tôi quen “lây” sang hai ông “Ngụy” kế bên. Lâu lâu tôi ghé chơi, thấy tóc tôi dài, ông Hải quân lại đè đầu tôi xuống hớt tóc giùm, không lấy đồng bạc nào.
Thấy yên sau xe đạp của Hùng chất đầy sách vở, tôi hỏi anh làm nghề quái quỷ gì mà nhiều sách thế thì anh vênh mặt lên,
– Tớ đi dạy.
– Dạy nhạc hả?
– Nhạc gì?
– Thì nhạc Việt, tân nhạc… hồi còn trong trại tù cậu và thằng Vinh Biệt Cách hay hát cho tớ nghe…
Hùng xua tay, lắc đầu quầy quậy,
– Tớ có biết nhạc với nhiếc con mẹ gì đâu? Guitar tớ học lóm, chẳng có thầy bà nào dạy cả! Nhạc lý, nhạc Pháp cũng làng nhàng. Hiện giờ tớ đi dạy Anh Văn!
Tôi nghi ngờ vặn lại,
– Anh Văn của cậu cỡ nào mà dám đi dạy?
Hùng cười hì hì,
– Ối trời ơi! Sao cậu ngây thơ thế? Bộ suốt đời lính không lúc nào cậu bị ở vào cái thế lang bang, không chức vụ hả? Cứ lang bang không chức vụ là được gởi đi học. Tớ biết khối thằng có đầy bằng cấp chuyên môn chỉ vì lý do không có chức vụ trong đơn vị nên cứ có lớp là bị tống đi học. Hồi xưa, lúc còn lang bang không chức vụ, tớ có dịp được đề cử theo học một khóa Anh Văn, rồi lại bị đưa đi học tu nghiệp ở Mã-Lai. Năm ngoái ra khỏi tù cải tạo, tớ kiếm hoài không ra việc, tưởng là phải chết đói. Ai ngờ gặp đúng lúc đổi đời, nhà nhà học Anh Văn, người người học Anh Văn. Tớ vội ôn lại văn phạm vài ngày là đi dạy kiếm cơm được rồi. Cả khu phố của tớ đều mù, tớ là thằng chột. Xứ mù, thằng chột làm vua! Tớ đếch cần làm vua, chỉ cần gạo thôi…
Tôi không phục cái ngai vàng trên nước mù và chột của người bạn thời đi tù cải tạo này, nhưng tôi thích tiếng đàn guitar của anh, thích giọng ca của Nguyễn Văn Vinh mà tôi đã được nghe trong những chiều buồn nơi lán trại của Z 30 C, Hàm-Tân năm nào.
Tôi kéo Hùng ngồi xuống bên bàn cờ tướng của ông thợ hớt tóc. Tôi giới thiệu Hùng với hai ông bạn “Ngụy” của tôi. Ông Hải quân mời Hùng uống trà; ông Ðốc Sự cũng xúm vào góp chuyện. Hùng là người Huế, ông Ðốc Sự cũng là dân Huế; chỉ vài phút sau hai ông đã ra chiều tương đắc.
Thấy trên tường có treo cây guitar của ông thợ hớt tóc, bên cạnh là cây đờn cò của ông mài dao kéo, giáo sư Hùng gật gù,
– Các cha ở đây có cả Tân, Cổ giao duyên vui quá há?
Nghe Hùng nói, tôi chợt nhớ chuyện xưa, nên cầm tay Hùng tôi khẩn khoản yêu cầu anh hát lại khúc “Những ngày thơ mộng” của Hoàng Thi Thơ cho tôi nghe.
Chiều ý tôi, ông giáo sư Anh Văn bỏ nón xuống bàn cờ tướng, ông uống cạn ly trà móc câu, ôm cây guitar kê lên đùi, so dây, lấy giọng, rồi bắt đầu: “Tìm đâu những ngày thơ ấu qua? Tìm đâu những ngày xanh như mộng?…
Khi Hùng vừa xuống giọng câu chót: “Tìm đâu? Biết tìm đâu? đâu giờ…” thì anh bắt ngay qua “Matin, fait lever le soleil…” (Buổi sáng, mặt trời lên…) của bài hát tiếng Tây “Chanson d’Orphée”
Hứng chí, ông thợ mài dao ôm cây đờn cò “í!a! í!a!…” phụ họa, còn ông thợ hớt tóc thì hai tay thủ hai cái giũa sắt múa “cạch! cạch! cành! cành!…” trên thành cái chậu nhôm chứa nước như một tay trống điêu luyện, lành nghề.
Người qua đường dừng lại mua báo, khách của bác thợ mài dao, khách của bác thợ hớt tóc đứng ngây nghe các bạn tôi đàn hát. Tiếng hát não nuột, tiếng guitar réo rắt, tiếng trống sắt rộn ràng, và tiếng đờn cò nức nở làm cho lá vàng rơi tới tấp trên đường Trần Hưng Ðạo một chiều Thu năm 1989. Mấy bé con tan trường từ một lớp tiểu học gần đó xì xào với nhau: “Nhạc vàng, nhạc ngoại, hay quá trời, lại nghe coi tụi bây ơi!”
Sau khi chấm dứt câu cuối, “Chante chante mon coeur. La chanson du matin. Dans la joie de la vie qui revient…”
(Hát lên, hát lên trái tim tôi. Bài hát của buổi mai. Trong niềm vui vừa trở lại…) thì Hùng chợt hốt hoảng la toáng lên,
– Ủa chi rứa? Bà con làm chi rứa?
Thì ra… bà con qua đường tưởng bốn thằng tôi là gánh hát dạo, họ bỏ tiền vào cái nón của giáo sư Hùng, cái nón nằm ngửa trên bàn! … cái nón đầy tiền loại 20 đồng màu tim tím…
Bốn anh cựu quân, cán, chính, Việt-Nam Cộng-Hòa nhìn nhau, miệng mếu xệch.
Mười bốn năm sau khi Miền Nam sụp đổ, hàng trăm ngàn cựu tù cải tạo đã lẫn vào và như đã biến mất trong cái xã hội hỗn mang, hạ cám thượng vàng. Họ chìm vào giòng đời dưới những bộ mã khác nhau: Ông Thiếu Úy Hải quân thành ông thợ hớt tóc; ông Thiếu Tá Cảnh Sát thành ông thầy dạy Anh Văn lưu động; ông Phó Quận Hành Chánh thành ông mài dao kéo; nhưng cái giá trị nhân bản tiềm ẩn trong con người họ vẫn còn đó. Trái tim họ vẫn không ngủ quên.
Cũng như trăm ngàn đồng ngũ Việt-Nam Cộng-Hòa khác, ngày về của tôi cũng là ngày đầu một cuộc sống mới, đầy ngỡ ngàng. Sau đó, tôi cũng từ từ lẫn vào, và biến mất trong dòng chảy của một xã hội hạ cám, thượng vàng. Tôi bắt đầu xây lại cuộc đời với một chiếc xe đạp thồ.
Cái xe đạp thồ của tôi quả là một con ngựa đa năng, đa dụng. Nó chẳng đòi ăn, đòi uống, nghỉ ngơi, giải trí, chuyện trò gì. Tôi chất bất cứ vật gì lên lưng nó, nó cũng im re, không than van nặng nhọc nửa lời. Nó giúp tôi buổi sớm tinh mơ chuyển hàng cho thân chủ từ Chợ-Lớn về Chợ Bến-Thành. Buổi tối, chở hàng từ Cầu Chữ Y sang đổ nơi bến xe Miền Ðông. Trời nắng chang chang, nó chở tôi và một giỏ cá khô từ Sài-Gòn lên Thủ-Ðức, len lỏi trong những con hẻm ngoằn ngoèo, để tôi rao bán lẻ từng ký cá khô, tôm khô.
Nó chở vợ chồng tôi từ Sài-Gòn đi Thủ -Ðức tới nhà anh bạn Ngô Văn Niếu của tôi để họp mặt anh em cùng khóa 20 Võ-Bị chào mừng mười cựu sĩ quan khóa 20 Võ-Bị mới được tha, trong đó có tôi. Dịp này nơi bãi cỏ đậu xe trước sân nhà anh Niếu, nó được đứng xếp hàng chung với những chiếc xe Dream, Honda, Vespa của các bạn tôi. Tôi thấy chiếc xe đạp thồ của mình có vẻ “oai phong” không kém gì chúng bạn, vì so chiều ngang, chiều dài, nó đâu có kém ai? Nhìn kỹ, tôi thấy nó còn có vẻ “phong trần bạt mạng” hơn mấy chiếc xe máy bóng loáng, kiêu sa, yểu điệu, của các ông bạn tôi nữa đó!
Tôi có anh bạn làm Trung Tá Cảnh Sát. Anh ấy và tôi được thả ra khỏi trại cải tạo cùng giờ, cùng ngày. Nhà anh bạn tôi ở gần Thảo Cầm Viên Sài-Gòn.
Mỗi lần tôi ghé thăm nhà anh, vừa thấy mặt tôi, bà mẹ anh đã đon đả gọi con,
– Bảo ơi! Có “Anh Long Xe Thồ” tới thăm con kia kìa!
Trung Tá Cảnh Sát Phan Trần Bảo, Trưởng Ty Cảnh Sát tỉnh Phan-Thiết là bạn tôi; mấy chục năm sau anh ấy còn nhớ cái tên “Anh Long Xe Thồ” mà mẹ anh ta đã đặt cho tôi.
Trước ngày lên đường đi Mỹ định cư, nếu tôi ra khỏi nhà thì thế nào con ngựa thồ của tôi cũng đi theo. Chỉ khi nào tôi lên rừng tìm vàng, đào thiếc, tôi mới chịu để nó ở nhà.
“Ngựa nào cũng là ngựa, xe nào cũng là xe!” vợ tôi thường an ủi tôi như thế, mỗi khi thấy tôi có vẻ áy náy mời nàng dời gót ngọc lên yên sau con ngựa thồ để tôi chở đi đây, đi đó. Nàng lúc nào cũng giản dị bình thường. Có tôi bên cạnh, vợ tôi hết lo âu, nhìn đời lúc nào cũng đẹp. Sau những chuyến đi dài ngày đào thiếc, tìm vàng trên Cao-Nguyên, tôi trở về Sài-Gòn; vợ chồng tôi lại chở nhau trên lưng con ngựa thồ, lang thang rong chơi quanh phố. Ðường phố Sài-Gòn thời 1988-1990 thênh thang. Khu Nguyễn Cảnh Chân có nhiều giáo sư của Trường Trung Học Hưng Ðạo, nơi đứa con gái thứ nhì của tôi đang theo học. Qua những buổi họp phụ huynh học sinh, cô giáo hướng dẫn lớp con tôi đã quen mặt vợ tôi. Bà cũng biết rõ tôi là sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa đi tù cải tạo.
Chắc chắn hình ảnh chiếc xe đạp thồ của tôi bay lượn trong khu Cao Thắng, Nguyễn Cảnh Chân đã lọt vào những đôi mắt tò mò. Một hôm, con tôi về nhà sau buổi học, nó cười: “Sáng nay cô giáo hướng dẫn lớp con vừa hỏi con rằng ba của em đã về chưa? Con nói bố em mới về. Lúc đó cô giáo con mới nói cô có thấy một người đàn ông lạ chở má bằng xe đạp đi qua nhà cô.”
Ðời sống riêng tư của những bà vợ trẻ của sĩ quan chế độ cũ luôn luôn là mục tiêu theo dõi dòm ngó của xóm giềng. Những câu hỏi dò la, tọc mạch, chận đầu, bắt nọn như thế không thiếu trong xã hội này. Tôi chạnh nghĩ, qua mười mấy năm dài, xã hội đảo điên dưới chế độ mới, giá trị của nếp xưa Khổng Mạnh cũng còn là chút gì đáng giá cho người ta lưu tâm. Rồi tôi thấy thương vợ vô cùng. Chuyện xe đạp nổ lốp giữa phố đối với cặp uyên ương này là thường xuyên. Lốp xe nổ, thì vợ chồng nắm tay nhau, dắt xe đi bộ, về nhà, vá lốp xe! Ngựa nào cũng là ngựa, xe nào cũng là xe. Ngày xưa mình đi xe Jeep, ngày nay mình đạp xe thồ; ngựa xe nào cũng dùng làm phương tiện di chuyển có gì mà phải kén chọn, quan tâm? Ðiều quan yếu là: Ngày xưa mình có nhau, ngày nay mình vẫn còn có nhau. Mười ba năm, vật đổi, sao dời, mình còn nguyên vẹn như thế này là quý lắm rồi!
Một hôm có người mang đến cho cặp vỏ xe mới, mừng ơi là mừng! Anh bạn quý của tôi lúc này đang làm “gác-dan” cổng sau khách sạn Continental. Hắn chắt bóp mãi mới được món tiền mua tặng tôi cặp lốp mới. Hắn tên là Lê Văn Chánh, người Huế. Chánh vốn là một cựu sinh viên Dược Khoa Sài Gòn thời 1960s. Hắn có máu đàn ca và đã có lúc viết nhạc bán cho một nhạc sĩ đã thành danh để có tiền đi phòng trà Anh Vũ mỗi buổi tối. Học hành chật vật mãi vẫn chưa thành Dược Sĩ, hắn bị gọi nhập ngũ khóa 15 Sĩ Quan Trừ- Bị Thủ- Ðức để cứu nước. Rồi hắn trở thành sĩ quan An- Ninh Quân- Ðội.
Tôi và Chánh gặp nhau và thân nhau ở Trại Nam-Hà A. Chúng tôi ăn chung mâm, ngủ cùng sạp một thời gian rồi cùng được thả ra cùng một ngày, sau mười ba năm bị giam giữ, tù đày.
Thời mới đi tù cải tạo về, tôi gặp hắn dễ lắm. Cứ đi ngang qua đường Lê Thánh Tôn, tới cổng sau Khách Sạn Continental là thấy chàng ta ngồi nơi góc.
Những lần về phố, tôi đều ghé thăm Chánh. Gặp nhau, bù khú một lúc, hai đứa lại rủ nhau ra tán dóc với anh thợ vá lốp, sửa xe bên đường Hai Bà Trưng. Anh vá lốp xe máy, sửa xe đạp này thời xưa làm Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Trung -Tâm Huấn- Luyện Chi- Lăng của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Anh ta tên là Hoàng Trai xuất thân khóa 19 Võ-Bị. Ba chàng ngồi bên nhau, chuyện nổ như pháo. Hai bạn tôi chỉ quanh quẩn ở Sài-Gòn, nên thích nghe tôi kể chuyện đường rừng, mạo hiểm, như chuyện đào vàng, đào thiếc, chuyện bẫy khỉ, giữ lô, chuyện khai thác gỗ quý, săn ngải, tìm trầm…
Chánh kể cho tôi nghe rằng, nó có đứa con gái lớn tên là Lê Lâm Quỳnh Như. Cháu Quỳnh Như lớn hơn đứa con gái đầu của tôi một tuổi. Một ngày từ rừng trở về thành phố, tôi nghe bạn Chánh khoe, con gái anh vừa đứng đầu cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của Thành Phố Hồ Chí Minh. Phần thưởng mà con anh nhận được là cái dây chuyền 7 chỉ. Chánh nhìn tôi, cười, miệng xuýt xoa: “Thế là có tiền lo thủ tục hồ sơ đi H.O”
Sau đó khá lâu, gia đình Lê Văn Chánh đi Mỹ theo danh sách H.O 16. Qua tới Mỹ thì ca sĩ Quỳnh Như đổi tên là Như Quỳnh, danh tiếng nổi như cồn.
Thời gian đầu, khi Chánh còn cư ngụ ở Philadelphia thì tôi và Chánh vẫn thường xuyên liên lạc điện thoại thăm nhau. Bây giờ thì tình hình đã đổi thay nhiều. Chỉ có tôi và anh Trai là gặp nhau thường, vì hai đứa tôi cùng là cư dân Tiểu Bang Washington. Chúng tôi rất khó tiếp xúc với anh bạn cựu tù Lê Văn Chánh ngày xưa. Nghe đâu, cách đây vài năm, Như Quỳnh mua cho bố Chánh một căn nhà ở Cali, khu cư xá giống như một Fortress City, có rào cản, có cameras, hệ thống alarms cao cấp, security tuyệt hảo, phone của Chánh lại chuyển số luôn luôn, nên tôi và anh vá lốp xe đạp không chuyện trò với anh được. Lâu ngày không nói chuyện với nhau, chắc anh Chánh quên tôi rồi?
Riêng tôi, không bao giờ tôi quên “Chánh Phăng Si Ða”, anh bạn tù sốt rét kinh niên cùng buồng 16 ở trại Nam-Hà A Phủ- Lý của tôi. Sở dĩ Chánh có biệt hiệu “Chánh Phăng Si Ða” chỉ vì lúc nào trong túi anh cũng dự trữ sẵn một vỉ thuốc sốt rét cực mạnh mang nhãn hiệu Fansidar. Không rõ bạn tôi có hiểu rằng, trong mấy năm nay, anh chàng đào vàng trên rừng Nắp Bắc Ðà-Lạt và anh chàng sửa xe đạp trên đường Hai Bà Trưng Sài- Gòn nhớ nhung anh gác-dan Khách Sạn Continental không nguôi?
Những sự mất mát nhẹ nhàng như thế, những hình bóng mờ dần vì vô tình hay cố ý như thế, làm cho tôi thấy thương, thấy quý những giây phút bạn bè khăng khít bên nhau. Bây giờ, những sợi tơ thân thiết cột buộc chúng ta cứ mỏng dần, mỏng dần theo thời gian.
Ôi! Biết tìm đâu? Những ngày xưa thân ái! Biết tìm đâu xứ sở mà Thượng Ðế đã chọn làm một Thiên Ðường? Biết tìm đâu Việt-Nam Cộng-Hòa của tôi?

Vương Mộng Long – K20 
Seattle tháng Tư năm 2018

Mùa Xuân quê hương và khói súng

Vương Mộng Long K20

Posted on March 4, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn rậu 4 Sep 2023

Mấy hôm nay tuyết bắt đầu rơi, mùa Winter 2006 – Bắc Mỹ đã tới. Tôi nhủ thầm, “Như thế là Xuân đang về nơi quê mẹ!” Quê mẹ Việt-Nam của tôi nằm bên kia biển Thái Bình Dương, xa lắm!

Ðầu năm Dương Lịch, tôi có một tuần được nghỉ bù cho những ngày làm việc phụ trội mùa Giáng-Sinh. Tôi lên nhà đứa con gái thứ nhì, chơi với thằng cháu ngoại Maxwell hai tuổi. Bố mẹ nó đi làm tới tối mới về. Tuổi cháu Maxwell bây giờ bằng tuổi mẹ nó ngày ông ngoại nó thua trận năm xưa, ngày Sài-Gòn thất thủ, tháng tư 1975.

Thằng bé bập bẹ:

“Ong…ong… ong ngại…”

Tôi vuốt tóc nó. Nó toét miệng ra cười. Nụ cười của thằng bé thật là trong sáng, hồn nhiên. Mùa Xuân đời nó mới bắt đầu…

Tôi ôm thằng cháu ngoại vào lòng. Bồi hồi nhớ lại những mùa Xuân đã qua trong cuộc đời mình.

Thuở ấu thơ, Xuân về, tôi chỉ thấy buồn nhiều hơn vui: vì tôi là một đứa trẻ mồ côi cha khi chưa đầy sáu tuổi.

Tuổi hai mươi, tôi vào Trường Võ-Bị. Ra trường, tôi lặn ngụp trong chiến trận mười năm, tiếp theo là mười ba năm khổ nhục trong lao tù Cộng-Sản. Giờ đây tôi đang bước sang năm thứ mười ba của kiếp sống tha phương nơi đất lạ quê người.

Tới mùa Xuân 2006 này là chẵn bốn mươi năm kể từ ngày tôi trình diện đơn vị.

Tới mùa Xuân này là chẵn bốn mươi năm sau ngày tôi tham dự trận đánh lớn đầu tiên.

Trận đánh này tôi xem như bài khảo hạch thực tế quá khắt khe và quá phũ phàng đối với một sĩ quan trẻ vừa rời quân trường. Nó đã ghi sâu trong lòng tôi một kỷ niệm rất buồn, khó quên. Nó cũng là một bài học quý giá giúp tôi thành công những năm sau, trên cương vị một người chỉ huy, sống và chiến đấu sát vai với thuộc cấp của mình.

 Thiếu úy Vương Mộng Long-1966
 

Mùng Mười Tết năm Bính-Ngọ 1966, tôi mãn phép ra trường. Vài ngày sau đó tôi trình diện Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Chuẩn tướng Nhuận bắt tay tôi, chúc cho tôi một đời binh nghiệp thành công.

Lòng phơi phới, hân hoan tôi rời Sài-Gòn với cái sự vụ lệnh bổ sung quân số cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đồn trú ở Phú-Lộc, Ðà-Nẵng.

Ðoạn đường ngắn ngủi từ Ban Ðại-Diện Biệt Ðộng Quân Quân Khu 1 ở gần cầu Trịnh Minh Thế, tới hậu cứ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân ở xã Hòa-Khánh ngoại ô Ðà-Nẵng, cũng chiếm vài ngày, vì thủ tục giấy tờ nhiêu khê.

Thiếu úy Nguyễn Giáp, sĩ quan quân số của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nói với tôi rằng ông Ðại úy Tiểu đoàn trưởng đang hành quân ở Hội-An. Tôi có thể đi tìm ông ta bằng phương tiện tự túc.

Hạ tuần tháng Giêng Âm-Lịch, hơi hướm Tết còn vương. Vào Xuân, đường phố Hội-An rực rỡ. Những đóa hoa mai nở vàng sau vườn. Những câu đối đỏ còn đong đưa trên nêu tre trong phố cổ.

Trong nắng ấm, phấp phới những tà áo màu sặc sỡ. Phố hẹp, người đông. Người dân Hội-An đang sống trong một không khí thanh bình tạm bợ. Khói lửa chiến tranh vẫn ngùn ngụt nơi vùng quê. Từ ngoại ô, tiếng đại bác vẫn ì ầm vọng về…

Khoảng mười giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1966 tôi rời nhà, lên phố tìm ông tiểu đoàn trưởng để trình diện.

Từ chùa Âm-Bổn, tôi thả bộ theo đường Nguyễn Duy Hiệu, vừa đi vừa ngắm cảnh phố phường.

Khi tôi tới cổng trường Trung học Tư thục Diên-Hồng thì sau lưng tôi có một chiếc xe GMC từ hướng Ðế-Võng chạy lên. Thấy trên xe có cái quan tài phủ quốc kỳ Việt- Nam Cộng- Hòa, tôi dừng lại, đứng nghiêm, giơ tay chào vĩnh biệt người chiến sĩ vừa tử trận.

Bốn anh Biệt Ðộng Quân hộ tống xe tang ngồi hai bên quan tài, dõi mắt quan sát khách qua đường. Khi nhận ra tôi cũng là một Biệt Ðộng Quân, với bông mai vàng trên ve áo, họ giơ tay chào. Tôi tò mò,

– Ai đó mấy chú?

Một anh lính nghẹn ngào,

– Thiếu úy Gia, Thiếu úy Gia Ðại Ðội 2 đó Thiếu úy!

Tôi chột dạ, hỏi thêm,

– Thiếu úy Nguyễn Vĩnh Gia khóa 19 Ðà-Lạt phải không?

– Dạ phải!

Tim tôi nhoi nhói đau. Khóa 19 Ðà-Lạt ra trường trước khóa 20 Ðà-Lạt của tôi vừa tròn một năm. Tôi đứng lặng nhìn theo chiếc GMC chạy về hướng chợ.

Chiếc xe từ từ lăn bánh giữa hai hàng cây xanh. Những cành phượng vỹ mềm mại trĩu xuống, vướng vào mui xe, quệt trên lá cờ vàng ba sọc đỏ, như níu, như kéo. Khi chiếc xe đi qua, những cành cây bật qua, bật lại trông như những cánh tay vẫy chào biệt ly…

Tới đầu chợ Hội-An, tôi gặp một toán quân nhân Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đang tụ tập chờ xe đón về đơn vị. Tôi hỏi thăm họ nơi nào ông tiểu đoàn trưởng đóng quân, thì họ nói ông Ðại úy ngày nào cũng loanh quanh ở mấy quán cà phê đâu đó gần chùa Cầu.

Tôi tìm được Ðại úy tiểu đoàn trưởng trước cửa tiệm chụp ảnh Huỳnh Sỏ. Ông Ðại úy và đoàn tùy tùng của ông đang ngồi xẹp, tán dóc giữa đường Nguyễn Thái Học. Ông không cần đọc cái sự vụ lệnh của tôi. Ông nheo mắt quan sát tôi một phút rồi phán,

– Còn sữa quá! Làm ban 3 tiểu đoàn!

Tôi đứng nghiêm. Nhìn thẳng vào mặt ông tiểu đoàn trưởng, tôi dõng dạc,

– Thưa Ðại úy, tôi muốn ra đại đội tác chiến!

Ông tiểu đoàn trưởng nhìn sững tôi một giây, rồi phá lên cười,

– Ð! M! Chứ ban 3 tiểu đoàn không tác chiến sao? Oui! Toa về Ðại Ðội 3 thay Thiếu úy Vinh. Thằng Vinh lên làm ban 3.

Khi nói chuyện, Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân thường chêm tiếng Tây; sau này tôi biết ông xuất thân từ quân đội Tây. (Oui! = Ðược rồi!)

Xế trưa hôm đó, tôi quá giang xe đò tới xã Thanh-Quýt, quận Ðiện-Bàn, để giữ chức Ðại Ðội Phó kiêm Trung Ðội Trưởng Trung Ðội 1/Ðại Ðội 3/ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Sĩ quan Ðại Ðội Trưởng 3/11 là Trung úy Lê Bá Ngọ đi chơi vắng. Người tiếp tôi là Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh, sĩ quan trực đại đội, anh cũng là người sẽ bàn giao Trung Ðội 1 cho tôi.

Khi bàn giao trung đội cho tôi, Vinh cười,

– Sao mày ngu quá? Làm ban 3 có xe Jeep lại không chịu. Chịu làm trung đội trưởng, để đi bộ. Chuẩn úy Nguyễn Văn Vinh là con bác Bạo, y tá của Bệnh Viện Hội-An. Anh Vinh là bạn học cùng lớp Trung học Trần Quí Cáp của tôi. Vinh đi khóa 17 Thủ-Ðức. Khóa 17 Thủ Ðức nhập trường sau khóa 20 Ðà-Lạt vài ngày, ra trường trước khóa 20 Ðà-Lạt hơn một năm.

Ngày tiếp nhận sự vụ lệnh của tôi, Thiếu úy Giáp còn cho tôi biết khóa 20 Ðà-Lạt có ba người được bổ sung quân số cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ có mình tôi tới đơn vị đúng ngày, hai người kia thì chưa thấy đâu.

Hồi đó tôi còn thư sinh, trắng trẻo lắm, binh sĩ trong đơn vị cứ lầm tôi với Thiếu úy Hồng Dũ Thiều, khóa 19 Ðà-Lạt, cấp chỉ huy cũ của họ. Tôi thấy họ tỏ ra rất tin tưởng, vâng lời và thương yêu những sĩ quan xuất thân từ Ðà-Lạt.

Ðã có nhiều niên trưởng của tôi phục vụ đơn vị này trước khi tôi ra trường. Nhưng cùng với đà khốc liệt của chiến tranh tăng nhanh, sĩ quan Ðà-Lạt ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân cũng hao hụt nhanh. Trừ Thiếu úy Nguyễn Vĩnh Giám (K19) còn sống sót, nhưng đang là thương binh loại 2, những niên trưởng khác của tôi đều tử trận cả rồi.

Thiếu úy Hồng Dũ Thiều (K19) và Trung úy Nguyễn Văn Hùng (K18) chết trong trận Việt-An, Quảng-Ngãi khi tôi đang tập dượt lễ mãn khóa 20 trong Trường Võ-Bị. Thiếu úy Nguyễn Vĩnh Gia (K19) chết ở Cẩm-Kim, Hội-An, ngày tôi trình diện tiểu đoàn.

Vì thế đầu Xuân 1966, ở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nhìn tới, ngó lui, chỉ có một bông mai vàng Ðà-Lạt cô đơn, đó là tôi.

Thời gian này Quân Ðoàn I đang trong chiến dịch “Hỏa Tuyến Vùng Lên”. Ðơn vị tôi thường xuyên đi hành quân tảo thanh quanh thị xã Hội-An và vùng ven biển Quảng-Nam.

Tôi là cựu học sinh Trung học Trần Quí Cáp. Tôi không lạ gì hai con chó đá và hai con khỉ đá Chùa Cầu. Tôi cũng rất quen những địa danh Cẩm-Kim, Xuyên-Quang, Phước-Trạch, Thu-Bồn, Cửa-Ðợi, Câu-Lâu… vân vân.

Mỗi khi hành quân về, đại đội tôi lại đóng quân ở nghĩa trang Triều-Châu, gần miếu Ông Cọp, ngoại ô thị xã Hội-An.

Căn lều của ban chỉ huy Trung Ðội 1 dựng gần mộ nhạc sĩ La Hối, tác giả bài “Xuân và Tuổi Trẻ”. Ông La Hối là người của thành phố Fai-Foo, tên xưa của Hội-An.

Căn lều ấy chứa năm thầy trò chúng tôi. Gồm có tôi (Thiếu úy Vương Mộng Long), Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, người nấu cơm cho trung đội trưởng, Binh nhất Lý Thí, người mang đồ ngủ, lều võng cho trung đội trưởng, Binh nhất Mai Ðăng Vinh, hiệu thính viên của Trung Ðội 1, và Hạ sĩ nhất Nguyễn Mầu, xạ thủ trung liên BAR, hỏa lực chính của Trung Ðội 1.

Mặc dù gia đình tôi ở ngay trong phố Nguyễn Duy Hiệu, Hội-An, nhưng tôi thích sống tại đơn vị, gần gũi với những quân nhân dưới quyền.

Những buổi trở trời, mưa phùn bay mênh mang trên những đụn cát xa xa, Binh nhất Lý Thí lại mò ra đầu xóm, rinh về một đĩa lòng heo luộc và một bi-đông rượu trắng. Thầy trò tôi ngồi tán dóc chuyện dưới biển, trên trời.

Khi men cay đã thấm, ông Mầu và thằng Thí gân cổ, vụng về ca những câu vọng cổ chẳng đâu vào đâu, làm cho thằng Vinh lăn bò ra cười. Khi nó cười, miệng nó óng ánh hai cái răng vàng quê ơi là quê!

Vào những chiều mưa buồn như thế, đám đàn em của tôi thường nài nỉ tôi cụng ly với họ.

Sau mỗi lần tôi chịu “dzô!” một ly, thế nào họ cũng bắt tôi kể cho họ nghe một câu chuyện văn chương hay lịch sử.

Không biết họ có hiểu ý nghĩa của những câu chuyện tôi kể, thơ tôi ngâm hay không, nhưng tôi thấy họ ngây người nghệt mặt, miệng há tròn như chữ “O”, họ nhìn tôi với ánh mắt đầy cảm kích.

“Sĩ quan Ðà-Lạt, văn võ kiêm toàn!”

Thằng Thí chỉ biết gục gặc cái đầu, tán tụng một câu như vậy, mỗi khi tôi ngừng đọc một bài Ðường Thi, hay kết thúc một chuyện tình của Nã Phá Luân Ðại-Ðế.

o O o

Mờ sáng 22 tháng 2 năm 1966 đại đội tôi được thiết vận xa chở từ Hội-An lên Vĩnh-Ðiện để cùng với Ðại Ðội 1 và Ðại Ðội 4 đi giải vây cho đồn Kỳ-Ngọc, Ðiện-Bàn. Vì Ðại Ðội 2/11 của Trung úy Tôn Thất Trực đang tăng cường cho chi khu Quế-Sơn, nên lần hành quân này Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân chỉ tham chiến với ba đại đội.

Vừa rời ngã ba Quốc Lộ 1 được một đỗi, đơn vị tôi bị khựng lại vì đoàn người chạy loạn ngược chiều cản đường. Ðồng bào bồng bế dắt díu nhau ùn ùn dồn về thị trấn Vĩnh-Ðiện để lánh nạn chiến tranh.

Gần tới tháp Bằng-An, tôi gặp Trung úy Nguyễn Ngại, đại đội trưởng đơn vị Ðịa Phương Quân phụ trách vùng Tây Vĩnh-Ðiện. Trung úy Ngại xin gặp Trung úy Ngọ. Hai ông đại đội trưởng trao đổi tin tức cùng nhau vài phút. Sau đó, tôi được lệnh triển khai đội hình một hàng dọc, theo lộ tiến về hướng Tây.

Trung Ðội 1 do tôi dẫn đầu vừa qua khỏi tháp Bằng-An thì đằng sau có tin báo, khẩu súng Colt của Trung úy đại đội trưởng bị “cướp cò” khiến cho một viên đạn “dính” vào cẳng ông. Ông Trung úy đã được y tá khiêng lên xe cứu thương chở đi mất rồi!

Hạ sĩ Phụng, hiệu thính viên đại đội chạy hộc tốc từ hậu quân lên tìm tôi để đưa cái ống liên hợp máy PRC10 cho tôi,

– Thiếu úy! Ðại Bàng muốn nói chuyện với Thiếu úy!

Ðây là lần đầu trong đời lính, tôi có dịp đàm thoại với “Ðại Bàng” trên máy PRC10.

Buổi ấy là thời cực thịnh của những danh xưng truyền tin dữ dằn, đầy hơi hướm giang hồ hảo hớn như “Sơn Vương”, “Phi Hổ”,”Mãnh Sư”, “Ðại Bàng”…

Mãi về sau, khi bọn thư sinh hào hoa may mắn sống sót, ngoi lên được những vị trí chỉ huy chiến trận, thì tên của những nữ minh tinh, ca sĩ thủ đô mới được “trực thăng vận” ra chiến trường. Từ đó, bất cứ chốn nào có súng nổ, đạn bay, thì các nàng Thái Thanh, Kiều Chinh, Phương Dung, Hoàng Oanh, Thanh Thúy… lại gọi nhau ơi ới.

Trận này chỉ có một “Ðại Bàng” Mũ Nâu, Nguyễn Thừa Dzu. Còn “Ðại Bàng” Mũ Ðen Nguyễn Văn Của, Chi Ðoàn Trưởng Thiết Kỵ thì vắng mặt. Người chỉ huy đơn vị thiết kỵ ngày hôm đó là Trung úy Lào, Chi Ðoàn Phó.

Ông Ðại úy tiểu đoàn trưởng cho lệnh tôi đảm đương chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 3/ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, vì đại đội tôi chỉ còn hai sĩ quan là tôi và Chuẩn úy Ðạt.

Từ phút đó, trên máy truyền tin, tôi không còn là “Giới Chức 1” nữa mà tôi được quyền xưng danh là “Thẩm Quyền 3”.

“Ðại Bàng! Ðây Thẩm Quyền 3 tôi nghe!”

Tôi chưa ổn định được đội hình đại đội thì Ðại úy đã thúc hối,

– A lê! Tiến lên cho kịp mấy con cua sắt! Ð! M! Cứ lù đù như gà mắc dây thun thì đến tối cũng chưa tới mục tiêu!

Quả thực, từ lúc khởi hành cho tới giờ đó, tôi có biết mục tiêu ở chỗ nào đâu! Trung úy ra đi không để lại một lời! Ðại úy ở chỗ nào tôi cũng chẳng hay! Tôi chỉ nghe được tiếng nói của người trên máy. Tôi định xin Ðại úy chỉ cho tôi mục tiêu ở chỗ nào, và nhiệm vụ của đại đội tôi làm gì, nhưng tôi lại sợ Ðại úy nổi giận!

Thấy đoàn M113 đang hàng dọc bò chầm chậm theo con lộ, tôi vội vàng ra lệnh cho quân mình dàn hàng ngang hai bên đường tiến lên phía trước đoàn xe.

Những tia nắng mai bắt đầu lóng lánh trên mặt nước đồng chiêm. Nếu không có những tiếng động cơ M113 rú lên từng chập trên con đường đá dăm gập ghềnh, thì toàn vùng đồng không mông quạnh này sẽ im ắng như tờ. Không cả tiếng chó sủa, mèo kêu. Tôi cảm thấy lạnh lưng, rùng mình trước cái im lặng ghê rợn ấy.

Tôi sử dụng đội hình “Tam Giác Mũi Trước”; ban chỉ huy đại đội đi sau Trung Ðội 2 bên trái đội hình. Tôi cẩn thận cho một toán tiền thám ba người đi dò đường một đoạn khá xa phía trước.

Khi chúng tôi đến gần một con dốc, nơi có cái miếu thổ địa bên đường, thì anh trưởng toán tiền thám là Binh nhất Trần Quy chạy ngược lại, hớt hải,

– Hướng Nam con lộ có rất nhiều người cài lá ngụy trang đang di chuyển ngược chiều quân bạn!

Tôi cho lệnh đại đội ngừng lại bố trí sẵn sàng. Tôi báo cáo sự việc cho Ðại Bàng.

Ông Ðại úy cằn nhằn,

– Ð! M! “Toa” cứ theo mấy con cua! Nó ngừng, “toa” ngừng. Nó tiến, “toa” tiến. Ðừng có lôi thôi!

Tôi thận trọng tiến lên cùng toán tiền sát để thăm dò tình hình. Tôi đã thấy những cành lá ngụy trang đang di chuyển từ Tây sang Ðông.

Chúng ẩn hiện sau những bờ đất hướng Nam con lộ. Tôi ra dấu cho Chuẩn úy Ðạt, Trung Ðội 3, và Thượng sĩ nhất Huỳnh, Trung Ðội 2, sẵn sàng chiến đấu.

Thế rồi…

“Ðùng! Ðùng! Oàng! Oàng! Chiu! Chíu!…” mìn nổ, đạn bay…địch khai hỏa!

Ðạn địch, trung liên, đại liên, AK47 từ trên dốc và khu ruộng khô bên trái lộ bắn xối xả về hướng đại đội tôi và đoàn xe sau lưng tôi.

Vậy là, chỉ mười hai ngày sau khi đáo nhậm đơn vị, tôi có dịp nếm mùi “Công Ðồn Ðả Viện”.

Mới mở màn mà trận này đã có vẻ sẽ là một trận lớn!

Cũng may, địch đang vận động lực lượng, mà chưa sẵn sàng! Tôi vào trận không đến nỗi bất ngờ lắm, vì tôi đã kịp thời thấy rõ tuyến dàn quân của địch. Tôi biết mình phải làm gì khi bị rơi vào một tuyến phục kích.

Lần đầu chạm địch với cương vị một đại đội trưởng, tôi cảm thấy hơi khớp. Nhưng những con mắt thuộc cấp nhìn tôi đầy tin tưởng đã khiến tôi vững tâm hơn.

Tôi nhủ thầm:

“Ta là Ðà-Lạt! Ta là một cấp chỉ huy!”

Tôi la lớn:

“Phục kích bên trái đường! Hai bên trái, Ba bên phải, xung phong!”

Những người lính già còn sót lại từ thời Chiến Tranh Ðông-Dương (1945-1954) như Thượng sĩ Huỳnh và Hạ sĩ Mầu đã chứng tỏ sự lợi hại của họ trong những tình huống hiểm nghèo như thế này!

Ông Huỳnh và ông Mầu cùng hô to:

“Xung phong bên trái!”

Nhưng ông Mầu thì kẹp khẩu trung liên BAR vừa bắn, vừa tiến lên trước mở đường, miệng ông oang oang,

– Theo tui! Theo tui! Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng! Sát!

Còn Thượng sĩ Huỳnh, thì xoay ngang khẩu Carbine ngáng sau lưng những anh lính trẻ đang bàng hoàng chần chừ, để đẩy họ chạy lên xung phong. Ông hạ sĩ quan già không ngần ngại xách cổ áo, đá đít những Biệt Ðộng Quân nhát gan đang nằm úp mặt, núp mình bên vệ đường. Ông lùa họ chạy theo đồng đội.

Thoáng chốc, trên cánh đồng mênh mông, từng cụm khói bốc cao, tiếng súng đã vang rền, hòa cùng những tiếng thét “Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng! Sát!…” kinh hoàng.

Tôi cùng Trung Ðội 2 vừa kiểm soát xong khu gò đất hướng Nam và cái miếu thổ địa thì Trung Ðội 3 của Chuẩn úy Ðạt cũng hoàn tất nhiệm vụ làm chủ con dốc hướng Tây.

Sau đó, tôi xua quân nhanh chân chạy lên chiếm giữ khoảng bờ đất cao tới ngực phân chia hai vùng ruộng khô và ruộng nước.

Thế là, chỉ vài phút sau, chúng tôi đã có một địa thế vô cùng thuận lợi để chiến đấu.

Ðoàn xe M113 vừa qua khỏi giai đoạn lúng túng ban đầu, cũng đã bình tĩnh trở lại. Họ xoay thành hình cánh cung sau lưng chúng tôi. Họ bắt đầu tác xạ tiếp tay cho Biệt Ðộng Quân.

Nép mình sau miếu thổ thần, tôi nhận định trận địa.

Khu ruộng thấp trồng lúa trải dài, cặp hai bên con lộ, theo hướng Ðông, Tây. Ruộng cao chạy song song với ruộng nước từ chân tháp Bằng-An tới ga Kỳ-Lam.

Khu ruộng cao trồng đậu phọng, khoai lang, hoặc thuốc lá.

Hết ruộng cao, xa về hướng Nam, là khu nhà dân với vườn phi lao và bãi mía um tùm.

Ðầu xóm là ngôi trường học cũ. Tường bao quanh trường, chỗ còn, chỗ sập. Từ bờ rào ngôi trường, và khu rừng phi lao, đạn địch đủ loại bắn ra đường tới tấp như mưa…

Rõ ràng địch đang vận động một cánh quân lớn từ hướng Tây qua hướng Ðông trường học để đánh bọc sườn Nam của lực lượng bạn.

Trước mắt tôi, những cán binh Việt-Cộng di chuyển thật lộ liễu nơi khoảng trống giữa hai bức tường đổ. Những cái bia sống cài lá ngụy trang, ẩn hiện chậm chạp hơn những cái bia “B” ở Trường Sình Lầy, Dục-Mỹ.

Chúng ẩn hiện sau những bờ đất hướng Nam con lộ. Tôi ra dấu cho Chuẩn úy Ðạt, Trung Ðội 3, và Thượng sĩ nhất Huỳnh, Trung Ðội 2, sẵn sàng chiến đấu.

Thế rồi…

“Ðùng! Ðùng! Oàng! Oàng! Chiu! Chíu!…” mìn nổ, đạn bay…địch khai hỏa!

Ðạn địch, trung liên, đại liên, AK47 từ trên dốc và khu ruộng khô bên trái lộ bắn xối xả về hướng đại đội tôi và đoàn xe sau lưng tôi.

Vậy là, chỉ mười hai ngày sau khi đáo nhậm đơn vị, tôi có dịp nếm mùi “Công Ðồn Ðả Viện”.

Mới mở màn mà trận này đã có vẻ sẽ là một trận lớn!

Cũng may, địch đang vận động lực lượng, mà chưa sẵn sàng! Tôi vào trận không đến nỗi bất ngờ lắm, vì tôi đã kịp thời thấy rõ tuyến dàn quân của địch. Tôi biết mình phải làm gì khi bị rơi vào một tuyến phục kích.

Lần đầu chạm địch với cương vị một đại đội trưởng, tôi cảm thấy hơi khớp. Nhưng những con mắt thuộc cấp nhìn tôi đầy tin tưởng đã khiến tôi vững tâm hơn.

Tôi nhủ thầm:

“Ta là Ðà-Lạt! Ta là một cấp chỉ huy!”

Tôi la lớn:

“Phục kích bên trái đường! Hai bên trái, Ba bên phải, xung phong!”

Những người lính già còn sót lại từ thời Chiến Tranh Ðông-Dương (1945-1954) như Thượng sĩ Huỳnh và Hạ sĩ Mầu đã chứng tỏ sự lợi hại của họ trong những tình huống hiểm nghèo như thế này!

Ông Huỳnh và ông Mầu cùng hô to:

“Xung phong bên trái!”

Nhưng ông Mầu thì kẹp khẩu trung liên BAR vừa bắn, vừa tiến lên trước mở đường, miệng ông oang oang,

– Theo tui! Theo tui! Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng! Sát!

Còn Thượng sĩ Huỳnh, thì xoay ngang khẩu Carbine ngáng sau lưng những anh lính trẻ đang bàng hoàng chần chừ, để đẩy họ chạy lên xung phong. Ông hạ sĩ quan già không ngần ngại xách cổ áo, đá đít những Biệt Ðộng Quân nhát gan đang nằm úp mặt, núp mình bên vệ đường. Ông lùa họ chạy theo đồng đội.

Thoáng chốc, trên cánh đồng mênh mông, từng cụm khói bốc cao, tiếng súng đã vang rền, hòa cùng những tiếng thét “Biệt Ðộng! Sát! Biệt Ðộng!Sát!…” kinh hoàng.

Tôi cùng Trung Ðội 2 vừa kiểm soát xong khu gò đất hướng Nam và cái miếu thổ địa thì Trung Ðội 3 của Chuẩn úy Ðạt cũng hoàn tất nhiệm vụ làm chủ con dốc hướng Tây.

Sau đó, tôi xua quân nhanh chân chạy lên chiếm giữ khoảng bờ đất cao tới ngực phân chia hai vùng ruộng khô và ruộng nước.

Thế là, chỉ vài phút sau, chúng tôi đã có một địa thế vô cùng thuận lợi để chiến đấu.

Ðoàn xe M113 vừa qua khỏi giai đoạn lúng túng ban đầu, cũng đã bình tĩnh trở lại. Họ xoay thành hình cánh cung sau lưng chúng tôi. Họ bắt đầu tác xạ tiếp tay cho Biệt Ðộng Quân.

Nép mình sau miếu thổ thần, tôi nhận định trận địa.

Khu ruộng thấp trồng lúa trải dài, cặp hai bên con lộ, theo hướng Ðông, Tây. Ruộng cao chạy song song với ruộng nước từ chân tháp Bằng-An tới ga Kỳ-Lam.

Khu ruộng cao trồng đậu phộng, khoai lang, hoặc thuốc lá.

Hết ruộng cao, xa về hướng Nam, là khu nhà dân với vườn phi lao và bãi mía um tùm.

Ðầu xóm là ngôi trường học cũ. Tường bao quanh trường, chỗ còn, chỗ sập. Từ bờ rào ngôi trường, và khu rừng phi lao, đạn địch đủ loại bắn ra đường tới tấp như mưa…

Rõ ràng địch đang vận động một cánh quân lớn từ hướng Tây qua hướng Ðông trường học để đánh bọc sườn Nam của lực lượng bạn.

Trước mắt tôi, những cán binh Việt-Cộng di chuyển thật lộ liễu nơi khoảng trống giữa hai bức tường đổ. Những cái bia sống cài lá ngụy trang, ẩn hiện chậm chạp hơn những cái bia “B” ở Trường Sình Lầy, Dục-Mỹ.

Từ tuyến dàn quân, chúng tôi dồn hỏa lực cắt ngang trục tiến quân của địch.

Hồi còn học trong trường Võ- Bị, tôi cũng được lãnh bằng thiện xạ. Hôm tôi đeo cái bằng đó trên túi áo vào chợ Ðà-Lạt, chị Chúc vừa nhìn thấy nó đã khen ngay,

– Thằng em của chị bắn giỏi quá nhỉ?

Chị Chúc bán tạp hóa trong chợ Ðà-Lạt. Chị thương chúng tôi lắm. Chị có rất nhiều em là sinh viên sĩ quan. Ðứa em nào cũng có tên trong sổ nợ của chị.

Nghe chị tôi khen, tôi vênh mặt lên, cứ tưởng mình là tay súng bá vàng John Wayne! Thực ra, tôi bắn Garand không giỏi lắm đâu! Khóa tôi còn khối người có bằng thiện xạ!

Thấy địch đi ngời ngời trước mắt ngon quá, tôi giành khẩu Garand M1 trên tay Binh nhì Nguyễn Truyền. Chú Truyền thành người nạp đạn cho tôi.

Giờ này là lúc tôi chứng tỏ bản lãnh của một Sinh Viên Sĩ Quan Ðà-Lạt có bằng thiện xạ!

Khi chạm trận, tôi mới phát huy được những gì thầy Khuê, thầy Cung, thầy Thạch đã dạy cho. Tôi điều chỉnh đường ngắm: Từ lỗ chiếu môn… qua đỉnh đầu ruồi … rồi tới … đầu thằng Việt Cộng!

Xạ trường nằm giữa hai bức tường đổ. Bờ đất cao tới ngực tôi là chỗ tỳ tay.

“Kẹp đạn tám viên nạp đạn! Thế bắn đứng có tỳ, thủ thế!”- “Bắn!”

Một thằng giặc gục, thằng thứ hai, thằng thứ ba… mỗi viên một đứa! Cứ tám tên, một kẹp đạn!

“Coong!”

Kẹp đạn rỗng văng ra khỏi buồng đạn. Binh nhì Truyền lại vội trao cho “Thiếu úy Sữa” kẹp đạn khác.

Không có hiệu lệnh, “Bên trái sẵn sàng! Bên phải sẵn sàng!” của sĩ quan giám xạ. Thầy trò tôi mạnh ai nấy bắn. Tiếng đại liên 30 của ban chỉ huy đại đội, hòa tấu với tiếng trung liên BAR của ba trung đội. Góp vui là những trái cối 60 ly và những quả phóng lựu từ súng Garand M1.

Thời này, vũ khí của Biệt Ðộng Quân còn hủ lậu lắm, đi sau vũ khí địch một bước khá dài. Chúng tôi có đủ loại súng. Trẻ nhất là khẩu Carbine M2. Cổ lỗ già nua nhất là khẩu Thompson 45. Có khi mới bắn được vài chục viên Thompson thì nòng súng đã nóng đỏ, dãn nở, làm cho đạn không thèm bay, mà rơi ngay trước mặt xạ thủ. Lựu đạn M26 còn rất hiếm hoi, mỗi khi trang bị cho ai, tôi phải đắn đo. Lựu đạn có khía, loại MK2 có tuổi đời già hơn tuổi tôi thì ê hề! Bao nhiêu cũng có! MK2 vừa nặng, vừa chậm nổ so với M26. Hình dạng nó cũng… xấu xí hơn.

Tiền quân của địch đã quấy động được phần đuôi của lực lượng hành quân, nơi Ðại Ðội 1 của Thiếu úy Lý Phát Tân đang bảo vệ bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Chú Binh nhất hiệu thính viên Mai Ðăng Vinh giao cái ống liên hợp cho tôi. Trong máy, ông Ðại úy ra lệnh,

– “Toa” nhào lên bẻ cổ con gà mổ nhanh cho “moa”!

Tôi ớ ra, chẳng biết “con gà mổ nhanh” là cái gì!

Ðại úy lại hối,

-Ð!M! Tao bảo nhào lên! Bất cứ giá nào! A lê! Vít! Vít! (A lê! Vít! Vít!= Ði! Mau lên! Mau lên!)

Tôi hỏi Vinh,

– Con gà mổ nhanh là cái gì vậy Vinh?

– Dạ, con gà mổ nhanh là khẩu “đum đum” đó Thiếu úy!

Tôi đoán khẩu “đum đum” chắc là khẩu 12.7 ly?

Rõ khổ! Trong trường, tôi đã học ám danh đàm thoại nhuần nhuyễn hai năm ròng, mà đến khi hữu sự lại cứ như thằng ngố! Ám danh đàm thoại ở ngoài đơn vị quả là ngộ!

Nhận lệnh, tôi gọi Chuẩn úy Ðạt lại dặn dò anh bảo vệ hông phải và phía sau đại đội. Tôi để lại cho Trung Ðội 3 của Ðạt khẩu cối 60 ly và khẩu đại liên 30. Tôi cùng hai Trung Ðội 1 và 2 xung phong lên mục tiêu.

Tiếng kèn xung phong của bộ chỉ huy tiểu đoàn từ rặng tre ngoài đường phía sau xa, vọng tới nghe đứt quãng. Có lẽ anh Ngữ, lính kèn, bị đạn Việt-Cộng bắn dữ quá nên không kịp hít hơi cho đầy phổi để thổi kèn cũng nên?

Tiếng kèn cứ “Pèm pẹp! Pèm pẹp!” như tiếng kèn xe ngựa đi, về, giữa chợ Ðà-Lạt và ấp Thái-Phiên.

Giờ này, sao tôi thấy thèm tiếng kèn xung phong của anh lính “kà” trường Võ-Bị quá đi!

Ngày đó, vào giờ học chiến thuật, trong rừng thông Ðà-Lạt, tiếng kèn xung phong âm vang, lanh lảnh, dội đi, dội lại, trong vách núi. Tiếng kèn làm người nghe lạnh gáy.

“Te! Te tí! Te tò! Tò! Tò! Te tí!…Tí!Tí! Tí!…Tí! …Tí!…”

Tiếng kèn ấy đã khiến khẩu trung liên BAR trên tay tôi nhẹ hẳn đi, khi tôi xung phong lên đồi 1441 sau miếu Thần Hổ, dưới chân núi Lap Bé Nord, Ðà-Lạt, trong những lần thực tập.

Tôi xung phong nhanh đến nỗi anh tải đạn Nguyễn Văn Cơ, cùng là sinh viên sĩ quan của Trung Ðội 6, Ðại Ðội B với tôi, phải vứt cả thùng đạn xuống đường mà theo chân tôi vẫn không kịp. Tiếng kèn thúc quân ma quái ấy thúc đít chúng tôi tiến ào ào lên đồi thông để tiêu diệt ổ đại liên bắn đạn …mã tử của mấy anh lính “kà” giả địch.

“Khói súng và kèn, còi xung phong, cũng chiếm một phần quan trọng trong các cuộc hành quân.”

Ðó là lời thầy Nguyễn Cửu Nhòng mới từ mặt trận Quân Khu 1 trở về trường năm 1965, làm phụ tá huấn luyện viên chiến thuật. Thầy nói rất đúng!

Khoảng trống hai trăm mét đồng cao trồng đậu phộng và khoai lang từ bìa ruộng nước tới bìa làng quả là đáng sợ. Chẳng có sách vở nào dạy rằng tuyến xung phong lại cách xa mục tiêu tới mấy trăm mét. Không đào đâu ra một điểm che giấu cho tôi tiến quân từ bờ ruộng tới khu xóm nhà có cái trường học, và khẩu đại liên 12.7 ly. Khẩu 12.7 ly này lại không bắn đạn mã tử!

Trời nắng, đồng trống. Mặt ruộng bằng phẳng. Lác đác đó đây có vài cái mả, trên mặt mả là dây lang. Ðạn địch đan lưới trước mặt. Ðạn cày đất bụi mịt mù. Mấy người lính có đạo làm dấu thánh giá. Những khuôn mặt đanh lại. Những đôi mắt rực lên, long lanh. Họ nhìn tôi chờ đợi.

Tôi sực nhớ bài thực tập phản phục kích vừa học xong tháng trước trên đồi Rọ-Tượng, Dục-Mỹ trong Khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy mà tôi đóng vai đại đội trưởng.

Tôi xin Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn cho pháo binh đánh bốn trái khói ngay trên cái trường học. Ông tiểu đoàn trưởng lấy làm lạ tại sao tôi xin tới bốn trái khói thay vì chỉ cần một trái thôi? Ông chỉ thuận cho tôi một trái.

Tôi nài nỉ anh đề-lô, hắn cũng là người Hội-An, đi khóa 10 Thủ-Ðức, vì tình riêng, anh ta cho tôi bốn trái.

Chờ cho màn khói vừa phủ mục tiêu, tôi đứng dậy, leo lên trên một gò mả, mặt hướng về phía địch, tay trái phất cao, tay phải kẹp khẩu Carbine M2, bóp cò.

Miệng tôi hét lớn:

“Xung phong!… Xung phong!…”

Tiếng súng Carbine lẹp bẹp khiêm nhường, nghe thật lép vế so với tiếng trung liên, đại liên, và Bazooka 57 ly của Việt-Cộng.

Tiếng súng lệnh của tôi loãng nhanh trong tiếng 106 ly trên M113 của ta, và tiếng đại bác 105 ly, 155 ly của Mỹ đang nổ đùng đùng tứ phía.

Nhưng những chiến sĩ dưới quyền tôi chỉ chờ có thế.

Thấy tôi đứng hiên ngang hô xung phong, họ hăng hái hẳn lên.

Họ bắn. Họ la hét. Họ ném lựu đạn. Họ chạy ào ào trên ruộng khô. Họ tràn lên những bờ ruộng nơi những chùm lá ngụy trang đang nhúc nhích. Họ nhào vào khu khói trắng,

“Biệt Ðộng! Sát!…Biệt Ðộng! Sát!…”

Mục tiêu trước mắt là cái trường học có khẩu phòng không cài lá ngụy trang. Khẩu phòng không đang ngóc lên ngóc xuống. Tôi cố gắng phóng lên cho ngang với những người lính tiên phong của Trung Ðội 1.

Chạy trước tôi là Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, người nấu cơm cho tôi. Chạy sau tôi là Hạ sĩ Nguyễn Mầu, xạ thủ trung liên BAR của Trung Ðội 1.

Chúng tôi đã lướt qua năm sáu cái gò mả. Cả chục xác Việt- Cộng nằm phơi trên đó. Chúng tôi đạp đầu giặc mà tiến! Khí thế bừng bừng, chúng tôi đuổi theo quân thù đang rút chạy.

Tôi theo sát gót thuộc cấp. Họ biết tôi đang ở bên cạnh họ. Không ai ngoảnh cổ lại đàng sau.

Anh hiệu thính viên Mai Ðăng Vinh cũng móc cái ống nghe bên hông ba lô, lượm vội một khẩu AK 47 bên xác giặc, chạy theo tôi bén gót (Vinh chỉ có súng Colt 45).

Bên trái tôi, một Biệt Ðộng Quân la thất thanh, “Ối cha!” rồi té nằm xoài bên luống khoai.

Trước mặt tôi, một Biệt Ðộng Quân vừa trúng đạn; viên đạn đẩy anh ngã ngửa về phía sau. Người đó đội béret đỏ.

Tôi thót ruột:

“Chắc là thằng Thí?”

Binh nhất Lý Thí là người đồ đệ mang đồ ngủ cho tôi. Nhưng tôi không thể ngừng lại để săn sóc cho nó. Ngừng lại là chết ngay! Tôi chỉ có một việc phải làm, bắt buộc! Ðó là vừa bắn, vừa lao tới khẩu phòng không khốn kiếp!

Bom Mỹ đánh vùi trước mặt. Trực thăng võ trang, Phantom, F.5, Sky-Raider chúi xuống, ngóc lên; tiếng động cơ rú điếc tai; khói bụi mù trời. Tai tôi đã “O!…O!…” vì tiếng nổ của bom đạn quá gần. Tôi chỉ nhìn thấy miệng khẩu phòng không chớp chớp, phà khói trắng.

Một trái lựu đạn hất khẩu 12.7 ly lăn quay. Chúng tôi tràn vào sân trường học. Những chiếc nón cối cài lá xanh vỡ toang. Óc người văng trên mặt sân, thoáng chốc đã trở màu ngà ngà như đậu hủ pha tương ớt.

Một tràng AK quét sát hông tôi, làm tung bức tường vôi lớp học trước mặt tôi. Từ dãy lớp hướng Tây, một tên địch đã nhắm bắn tôi nhưng không trúng.

Hạ sĩ Mầu ria một tràng trung liên BAR vào nơi phát ra tiếng súng. Tiếp theo là hai quả M26. Có nhiều tiếng rên la thảm thiết đồng loạt trong căn phòng đó. Ông Mầu bóp cò tiếp khẩu trung liên BAR. Chú Phong bồi một quả M26 nữa. Căn phòng đổ sụp.

Phong nhanh như con sóc; chỉ ba bước nhảy, chú đã tới bên lớp học. Chú bắn cạn ba mươi viên Carbine M2 rồi lăn sang núp sau một cây rơm. Phong vội vàng trở đầu băng đạn đôi. (Hai băng đạn nối ngược chiều nhau bằng băng keo. Mỗi lần nhồi đạn, có sáu chục viên sẵn sàng).

Căn lớp vừa đổ là nơi chứa thương binh của địch. Có khoảng trên dưới hai mươi thương binh địch trong căn nhà đó. Chúng vừa chết hết. Nơi góc nhà có mười mấy khẩu súng, vừa B40, vừa AK. Những cục cơm vắt văng trên nền gạch. Máu đỏ thấm ướt những hạt cơm vãi tung toé đó đây…

Khi Hạ sĩ Phong bận thay băng đạn khác thì B1 Vinh ngồi thủ thế khẩu AK 47 bảo vệ an ninh cho bạn.

Nghe có tiếng Ðại úy lè xè trong máy, tôi gỡ cái ống liên hợp, áp nó vào tai. Tôi nghe Ðại úy giận dữ,

-Ð!M! Anh là Ðà-Lạt! Anh không lên, tôi lột lon anh!

Nản quá, tôi không muốn nói chuyện với Ðại úy. Tôi đưa ống nghe cho Vinh,

– Em báo cho ổng biết rằng mình đang lục soát cái trường học.

Vinh nhìn tôi áy náy,

– Cứ chạm trận là Ðại úy lại chửi thề “Ð!M!” quen rồi! Thiếu úy đừng để bụng làm gì cho mệt!

Tôi bố quân theo hình chữ “L”. Trung Ðội 1 giữ mặt Nam, Trung Ðội 2 giữ mặt Tây trường học.

Tôi gọi Chuẩn úy Ðạt cho Trung Ðội 3 của anh tiến lên. Trên đường, Trung Ðội 3 có nhiệm vụ thu nhặt chiến lợi phẩm, chuyển những người bị thương và chết ra đường.

Bãi cỏ có cái miếu thổ địa bên đường đã thành nơi tập trung thương binh và chiến lợi phẩm của đại đội tôi. Tôi giao cho Trung sĩ Vũ, y tá đại đội, chỉ huy cái trạm này.

Trung sĩ Vũ báo cho tôi biết, tính tới giờ đó, trạm cứu thương của anh có hai chục áo vàng (bị thương) và năm áo đỏ (chết). Tôi hỏi Vũ về tình trạng của Binh nhất Lý Thí.

Vũ nghẹn ngào,

– Thằng Thí mặc áo đỏ rồi! Thẩm Quyền ơi!

Tôi lặng người, cúp máy, không hỏi thêm.

Mới chiều hôm trước, khi chiếc xe Dodge của tôi từ phố về ngang miếu Ông Cọp, Hội-An, thì Binh nhất Lý Thí (quê quán Miếu-Bông), đang đứng chờ tôi trước cửa quán cháo lòng. Tôi nhận ra nó ngay, vì lúc nào nó cũng đội cái béret đỏ chói.

Nó chận đầu xe tôi lại. Giọng nó lè nhè hơi men,

-Thiếu úy ơi! Vào đây cụng với em một ly! Ngày mai ra trận. Biết đâu em không về!

Tôi đã đậu xe dưới gốc cây đa bên cạnh miếu Ông Cọp.

Tôi đã “dzô!” với đồ đệ của mình một ly. Lúc ấy tôi không hề nghĩ tới chuyện ngày mai nó không về. Bởi vì chiều qua, từ Phòng 3 Tiểu Khu Quảng-Nam ra, trên tay tôi có cái phóng đồ hành quân tùng thiết vùng ven biển Phước-Trạch, Cửa-Ðợi. Cuộc hành quân đó dự trù sáng đi, chiều về. Tôi nói với Thí rằng, sáng mai em không cần mang theo đồ ngủ cho anh. Chúng mình sẽ chỉ sáng đi… chiều về!

Tôi không ngờ hỏa châu rơi suốt đêm. Mờ sáng, lệnh đổi hướng hành quân. Ðoàn thiết vận xa M113 đã không đưa chúng tôi ra bãi biển, mà nhắm hướng Tây, đi về vùng núi. Mờ sáng, thầy trò tôi cùng ra đi. Tới chiều… đồ đệ của tôi đã không về!

Sau khi báo cáo sơ lược thành quả vừa thu lượm được cho Trung úy Trung, tiểu đoàn phó, tôi giao nhiệm vụ củng cố mục tiêu cho Chuẩn úy Ðạt và ông thường vụ đại đội.

Chiếc L.19 lướt sát nóc trường học. Chiếc đầm già lắc cánh về trái và về phải hai cái để gửi cho chúng tôi lời chúc mừng của phi công. Tôi đề nghị với sĩ quan điều không cho không yểm di chuyển xa về hướng Tây Nam nơi những rừng mía um tùm rậm rạp. Tôi đoán địch đang rút lui hướng đó.

Không yểm đã di chuyển. Tôi cần pháo binh yểm trợ gần để tảo thanh khu vực hướng Tây trường học. Tôi liên lạc thẳng với sĩ quan đề-lô của tiểu đoàn để đơn xin được thỏa mãn kịp thời. Áp dụng kinh nghiệm hiếm hoi học hỏi được từ Ðà-Lạt và Dục-Mỹ, tôi thực hành nghề chọi pháo.

Cầm tấm bản đồ Kỳ-Lam và quyển “Cẩm Nang Ða Hiệu” trên tay, tôi vững tâm đánh những quả đạn 155 ly trên từng gò mả, từng gốc đa. Tôi điều chỉnh tầm đạn từ 100 mét, rồi 50 mét. Sau cùng, tôi dám chỉnh độ chính xác tới 20 mét trên mục tiêu. Những quả delay chui xuống hầm moi xác địch lên mặt đất. Những quả nổ cao chặn đầu chúng không cho chạy thoát thân về những đồi sim hướng Tây.

Tôi đã hoàn toàn làm chủ tình hình mặt Tây Nam của trận địa. Tôi định cho anh em lấy cơm vắt ra ăn thì bên hướng Bắc con lộ, pháo nổ ầm ầm. Thiếu úy Bửu Chuyển và Ðại Ðội 4 của anh đang bị địch tấn công từ hướng Bắc xuống. Ðịch bám trụ bên kia cái đầm cói rộng. Cái đầm nuôi cá vuông vức, mỗi chiều cỡ trăm thước, có bờ đất cao bao quanh. Ðầm nước nằm cách con lộ chừng ba, bốn trăm thước về hướng Bắc.

Ðại úy tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Ðại Ðội 1 từ phía sau di chuyển thật nhanh lên trám chỗ cho đơn vị tôi. Tiếp đó, ông ra lệnh cho đại đội tôi lui ra con đường lộ để tiếp viện cho anh Chuyển.

Khi tôi lội ngược ra tới đường thì đại đội của Chuyển và những chiếc thiết quân vận đang bám sát bìa đường chịu trận những đợt pháo ào ào của địch.

Vừa gặp nhau, Thiếu úy Bửu Chuyển đã dúi vội vào tay tôi tấm bản đồ có vẽ sẵn sơ đồ mục tiêu và ranh giới hành quân của tiểu đoàn. Tấm bản đồ tôi đang dùng là của cấp trung đội, không có những chi tiết trên.

Anh Chuyển cầm tay tôi ân cần,

– Cẩn thận nghe em!

Rồi anh hối hả lui quân; vì Ðại úy đã ra lệnh cho anh rút về bảo vệ bộ chỉ huy.

Ðại Ðội 4 chưa đi hết, Ðại úy đã ra lệnh cho tôi cùng một thành phần của chi đoàn thiết quân vận đánh thẳng lên hướng Bắc tiến chiếm khu gò mả và thôn xóm đằng sau đầm cá.

Lệnh của Ðại úy thật rõ ràng,

– Thẩm Quyền 3! Ðây là Ðại Bàng! Tôi ra lệnh cho anh nhào lên thanh toán cái xóm nhà bên kia hồ cá! Nghe rõ chưa?

Tôi ngạc nhiên vì quyết định của ông Ðại úy.

Tại sao ông phải chuyển Ðại Ðội 1 lên thay tôi trấn giữ khu trường học tôi vừa vất vả chiếm xong?

Tại sao Ðại úy phải lôi đại đội tôi từ Nam lên Bắc để theo chân M113 đánh vào cái hồ cá? Anh Chuyển và Ðại Ðội 4 của anh đang ở sẵn nơi đây cùng với đoàn xe kia mà?

Tôi im lặng thi hành lệnh, nhưng tôi biết thuộc cấp của tôi không vui…

Tôi nghe tiếng máy gọi nhau oang oang từ các thiết vận xa; rồi đoàn M113 bắt đầu nhúc nhích. Chúng tôi bì bõm tiến sau lưng M113.

Lúa cao tới nách tôi. Và nước thì cao tới háng tôi.

Bên kia cái đầm nước là nơi những ổ đại liên, trung liên đang khạc lửa. Khói từ khẩu 57 ly của Việt-Cộng lúc thì phụt ra ở đầu xóm, lúc cuối xóm. Phải công nhận tụi xạ thủ 57ly của Việt-Cộng chuyển dịch vị trí rất nhanh!

Một chiếc M113 vừa trúng đạn! Nó bị bắn đứt xích! Chiếc xe nằm bất động giữa ruộng lúa. Viên trưởng xa và xạ thủ đại bác đang lo gỡ khẩu 106 ly để chuyển sang chiếc xe khác. Từ bờ hồ, địch cài lá ngụy trang ào ạt xông về hướng đoàn xe. Chúng tính chuyện bắt sống chiếc M113 bị thương!

Ðạn 57ly và B40 nổ ùng oàng tứ phía. Vũ khí chống tank của địch thật là đáng sợ! Chúng bắn nà quá khiến đoàn thiết quân vận chùn bước, phải lui về phía sau.

Một chiếc M113 giật lùi để tránh B40 đã đè Hạ sĩ Nguyễn Mầu xẹp xuống bùn trong ruộng lúa. Tôi bị xe cán hụt.

Tôi kéo ông Mầu từ dưới bùn lên, rồi vội vàng vuốt bùn trên mặt cho người lính già.

Tôi thấy miệng ông mấp máy. Phải ghé tai sát mặt ông, tôi mới nghe được tiếng ông thều thào,

– Thiếu úy ơi! Em đi!

Máu miệng ông trào ra. Ðầu ông ngoẹo trên ruộng nước…

Ðoàn cơ giới tụt lại đằng sau. Chúng tôi lòi ra phía trước. Ðạn rơi “chủm! chủm!” trên ruộng lúa nước trước mặt.

Trong lúc tôi đang phân vân không biết làm cách nào vượt qua cái đầm nước rộng, thì ống liên hợp truyền tin lại xè xè tiếng của Ðại úy,

– Ð!M! Nhào lên! Bộ tụi mi ngủ sao? Nhào lên!

Tôi phóng nhanh sang phía Trung Ðội 1, bên trái tuyến xung phong. Tôi tránh đánh trực diện với tổ hỏa lực địch. Tôi và Trung đội 1 của Trung sĩ 1 Nguyễn Khê (vốn là trung đội phó của tôi) chạy thục mạng lên chiếm xóm nhà hướng Tây cái đầm. Ðại đội trừ (-) thì nằm sát mép đường chờ tôi lập đầu cầu.

Tôi có người bạn khóa 17 Thủ-Ðức là Chuẩn úy Dương Quang Tú, chi đội trưởng của chi đoàn thiết kỵ đang tham chiến sát cánh với tôi. Tôi nhờ Tú bắn tối đa vào khu nhà bên hướng Bắc hồ nước để chia lửa cho tôi. Ðầu cầu lập xong, vài Biệt Ðộng Quân chết và bị thương.

Khi quả khói vàng bốc lên nơi đám sầu đông đầu xóm, thì trực thăng võ trang can thiệp. Dưới hỏa lực yểm trợ hùng hậu của trực thăng võ trang, chúng tôi ào ào chạy lên chiếm những ụ đất nơi rặng tre. Tôi ra dấu cho chi đội thiết kỵ tiến lên để quân tôi theo sau. Hai Trung Ðội 2 và 3 dàn hàng ngang cùng M113 tiến lên tiếp tay Trung Ðội 1.

Ðạn bay khắp hướng. Không phân biệt được đạn của ta, hay của địch.

Chiếc thiết quân vận của Chuẩn úy Tú vừa đè sập một cái chuồng trâu thì hai quả B 40 bay sượt qua đuôi xe, nổ tung trong bụi chuối. Chiếc xe lùi vội ra ngoài ruộng lúa. Hai khẩu đại liên 30 và đại liên 50 trên xe bắn ào ào vào căn nhà lợp lá dừa, vách ván giữa xóm. Tôi và anh Binh nhì Truyền nấp sau cây rơm đàng trước căn nhà lá dừa, vách ván đó.

Tôi vừa ra sức ném được quả M26 qua nóc nhà để nó rơi nổ hướng sau nhà thì Truyền la to,

-Thiếu úy ơi! Súng em kẹt đạn rồi!

Tôi sợ địch nghe được tiếng anh ta la hoảng, vội đưa tay bịt miệng anh lại.

Cái vụ kẹt đạn thì tôi đã gặp nhiều lần trong hai năm còn thụ huấn trong trường. Khốn nỗi, khẩu Garand của Truyền không có lưỡi lê, biết lấy cái gì để cạy vỏ đạn khỏi cơ bẩm bây giờ?

Tôi chợt nhớ ra trong túi mình có cái bấm móng tay. Tôi giao khẩu Carbine cho Truyền để anh quan sát gác giặc. Chưa đầy một phút sau khẩu Garand lại tốt trở lại.

Tôi ném thêm một quả M26 nữa qua mái nhà. Hai thầy trò tôi nhào vào nấp sau cái cối xay lúa nơi đầu hiên. Có tiếng người rên bên hiên sau. Tôi thấy một khẩu trung liên nồi RPD nằm chỏng gọng trên nền đất. Hai cán binh Việt-Cộng mình mẩy bê bết máu đang cố lần lưng tìm kiếm cái gì đó. Tôi nhắm ngay đầu chúng, ria qua ria lại một băng M2.

Trung Ðội 2 của Thượng sĩ Huỳnh cũng vừa ào tới. Chúng tôi hàng ngang tiến sang khu mấy cái chòi nuôi vịt trên bờ Tây của cái đầm nước. Ðoàn thiết vận xa theo sát bên yểm trợ.

Chúng tôi giờ này đang ở sau lưng những tên Việt-Cộng bám trụ quanh hồ. Chúng ngụp lặn xuống nước giấu mình. Những khẩu đại liên trên xe bắn tung xác chúng. Những thân hình rũ xuống như những trái chuối nát. Nước hồ trở thành màu đỏ, thẫm dần, thẫm dần…

Chúng tôi còn phải tiếp tục thanh toán cái xóm nhà bên hướng Bắc cái đầm. Ðạn réo tứ tung. Khói súng, khói bom, khói lựu đạn, khói nhà cháy mù mịt.

Chú Hạ sĩ Phong, người nấu cơm của tôi, bị thất lạc từ lúc khởi đầu cuộc xung phong qua đường, giờ này mới tìm gặp lại được ông thầy.

Tôi và chú Phong nhảy vào một nhà có những cái lu bằng sành thật to dựng sát vách dùng để chứa lúa giống. Có mấy khẩu AK vứt trên sàn nhà. Dấu chân ướt bùn còn rất mới in trên mặt cái sập gỗ nơi góc nhà, cạnh một cái cót chứa lúa.

Hai khẩu Carbine M2 nổ giòn, những cái lu bể. Tôi rợn tóc gáy khi thấy từ trong vài cái lu chưa vỡ có người nhảy ra!

Tôi bị trượt chân té ngửa giữa sàn.

Tôi nằm ngửa bóp cò. Những người áo đen tay cầm AK trúng đạn gục xuống. Có vài cái xác đè ập trên người tôi.

Trong khi đó, chú Phong bắn ào ào vào căn phòng gỗ cửa đóng kín mít.

Vì nằm ngửa, tôi nhìn thấy một thanh mã tấu sáng loáng quơ lên từ cót chứa lúa nơi góc nhà sau lưng chú Phong. Tôi la thất thanh,

– Phong! Ðằng sau!

Thanh mã tấu hạ xuống! Phong chỉ kịp dang hai tay đưa khẩu súng Carbine lên đỡ nhát chém. Chú khuỵu xuống vì nhát chém quá mạnh. Người chém chú mất đà, lộn cổ xuống đất.

Phong hoàn hồn, nện một đế súng vào đầu kẻ địch.

“Bốp!”

Cái đầu vỡ sụm. Óc pha máu phọt ra, văng lên ngực Phong. Phong la lớn,

– Chạy thôi! Thiếu úy!

Tôi hoảng quá, bắn cạn băng đạn rồi lăn tròn ra hướng sân. Chú Phong theo sát bên.

Ra tới sân, chú Phong ném với vào kho một trái M26. Hai thầy trò tôi ù té chạy ngược ra bờ ruộng.

Hai chiếc M113 án ngữ dưới ruộng từ nãy tới giờ không dám can thiệp sợ bắn lầm quân bạn, nay thấy thầy trò tôi chạy ra, thế là họ tưới đạn trùm lên cái nhà kho.

Một quả lựu đạn lân tinh khiến cái nhà kho bốc cháy.

Chuẩn úy Tú nhảy xuống xe, giọng anh lạc đi,

– Long ơi! Toa bị thương có nặng không?

Tôi cúi nhìn quần áo mình. Áo quần tôi đầy máu!

Tôi đưa tay xoa mặt, mặt tôi cũng có máu! Máu đỏ cả cái thẻ bài, ướt đẫm cả cuốn Lăng Nghiêm Chú nhỏ xíu tôi đeo trước ngực.

Tôi dang tay sờ khắp người; chẳng có chỗ nào đau. Hóa ra máu trên người tôi là máu địch! Khi bị bắn hạ, xác chúng đè lên người tôi trong sàn kho lúa.

Giờ này bộ chỉ huy tiểu đoàn và một thành phần của Ðại Ðội 4 đã tiến lên hỗ trợ mặt sau cho đơn vị tôi. Tôi nhìn thấy Ðại úy đang cầm gậy chỉ trỏ ra lệnh cho anh Bửu Chuyển bố quân trên các gò đất dọc theo hai bên đường.

Người lính thổi kèn của tiểu đoàn sau khi chạy như bay qua hai vạt ruộng, vừa thở, vừa níu áo tôi,

– Ðại Bàng ra lệnh cho em đi theo Thiếu úy!

Nơi cuối thôn còn một mục tiêu cần thanh toán gấp trước khi địch có thể tái tụ hội, tái phối trí.

Bây giờ là lúc tôi dùng tới lực lượng trừ bị của đại đội. Từ đầu trận tới giờ, Trung Ðội 3 của Chuẩn úy Ðạt là ít bị tôi sử dụng nhất. Tôi phải phòng hờ một sĩ quan để thay thế mình, nếu mình có mệnh hệ gì.

“Dù ít, dù nhiều, phải có trừ bị” (huấn luyện viên chiến thuật, Ðại úy Mỹ và Trung úy Ðức căn dặn như thế!)

Tôi gọi Chuẩn úy Ðạt lên, giao cho anh nhiệm vụ thanh toán nốt mục tiêu cuối cùng.

Lúc này gió thổi từ Nam lên Bắc. Tôi biết M113 của Tú có đem theo nhiều lựu đạn lân tinh. Tôi nhờ Tú làm cho Ðạt một màn khói che để quân của Ðạt an toàn áp sát mục tiêu. Sau đó, Tú và tôi dồn hết hỏa lực bắn yểm trợ hông trái cho Trung Ðội 3.

Vậy mà những ổ kháng cự của địch vẫn còn rất mạnh. Cánh quân của Chuẩn úy Ðạt bị cầm chân nơi vườn chuối phía trước xóm nhà lá có những cây cau và bể chứa nước mưa. Ðạt gọi tôi xin tiếp tay.

Tôi dàn quân hàng ngang, ào lên bên trái chòm nhà mà Trung Ðội 3 đang giành giựt với địch.

“Biệt Ðộng! Sát!… Biệt Ðộng ! Sát!…”

Quân tôi xung phong lên khu mả lạng.

Tới đây thì Hạ sĩ Ngữ, lính kèn, tách ra khỏi hàng. Anh leo lên trên một gò đất, đứng dang hai chân, ưỡn ngực, ra sức thúc quân:

“Te! Te! Te! Tí! Tí! Te!Te!…”

Theo gió, tiếng kèn xung phong sắc như nước, cuồn cuộn, lanh lảnh, xé không gian. Chúng tôi cưỡi lên tiếng kèn mà phóng mình tới trước!

Nhưng chỉ một phút sau tiếng kèn bỗng tắc tị! Quay đầu nhìn lại, tôi thấy Ngữ đang ôm bụng, quằn quại trên mặt đất, một tay anh ôm vết thương đang phun máu, tay kia còn cố giữ cây kèn đồng không chịu buông.

Ngữ không có súng, cây kèn đồng buộc lá quốc kỳ đuôi nheo nho nhỏ là vũ khí của anh. Giờ đây, cả cây kèn lẫn lá quốc kỳ đều đã ướt đẫm máu đào.

Chi đội M 113 của Chuẩn úy Tú không thể vượt qua lớp rào bằng tre đực của Ấp Chiến Lược nên đành phải dừng lại ngoài ruộng khoai. Cũng may có nhiều lỗ trâu, bò chui qua rào, nên Biệt Ðộng Quân tiến sát mục tiêu không đến nỗi khó khăn lắm.

Căn nhà có những cây cau cao có vẻ là chỉ huy sở hành quân của Việt-Cộng, vì có nhiều đường dây điện thoại và chòi gác bao quanh. Xung quanh chòm nhà này là vườn tược, với hệ thống giao thông hào chằng chịt. Khu này được địch bảo vệ bằng những tổ tam tam. Mỗi tổ tam tam có hai AK47 và một B40.

Chúng tôi phải dùng lựu đạn cay xen kẽ với lựu đạn miểng MK2 để thanh toán từng mắt lưới giao thông hào. Chiếm được đoạn giao thông hào nào, chúng tôi phải chia người bám trụ, sợ địch phản công giành lại.

Tôi phải vào tần số không lục của chiếc L19 trên trời để xin không yểm tiếp cận. Sĩ quan điều không tiền tuyến hôm ấy là Thiếu úy Thành, gốc Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng-Nam; anh quen với gia đình tôi.

Trực thăng võ trang yểm trợ tiếp cận thật hữu hiệu. Chúng tôi tiến chiếm từng thước đất một sau những tràng đạn trải xuống từ trên không. Cuộc giao tranh giằng co, kéo dài khoảng hơn nửa giờ mà vẫn chưa ngã ngũ. Có lúc gió bất chợt đổi chiều, quân bạn cũng khổ vì hơi lựu đạn cay.

Khi cánh quân của tôi vào tới giữa vườn thuốc lá thì tiếng kèn xung phong của Việt Cộng bỗng nổi lên lanh lảnh từ cuối thôn hướng Tây. Rồi tôi nghe súng địch rộ lên đồng loạt khắp mọi hướng. Tôi ra lệnh cho đại đội ngừng lại bố trí tại chỗ, cảnh giác chờ đợi một cuộc phản công của địch.

Mấy phút sau súng địch thưa dần, rồi ngừng hẳn. Tôi chợt nghiệm ra, tiếng kèn xung phong của Việt-Cộng lại là hiệu lệnh rút lui của chúng!

Tôi yêu cầu máy bay di chuyển tác xạ về những mục tiêu xa hơn, hướng Tây Bắc.

Khoảng xế trưa, đại đội tôi hoàn toàn kiểm soát được lằn ranh Bắc trên bản đồ hành quân.

Hướng Bắc đại đội tôi là vùng trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến Hoa-Kỳ.

Chúng tôi lấy được khá nhiều vũ khí, cả trăm súng AK, và B40. Trung Ðội 3 tịch thu được một máy truyền tin Trung Cộng, một khẩu đại liên 12.7 ly, và một khẩu 57 ly không giật mà địch đã vùi vội trong đống rơm trước khi tháo chạy.

Việc cấp bách phải làm của tôi lúc đó là tản thương quân bạn. Tôi nhờ Chuẩn úy Tú cho một xe M113 chuyển vận giùm những Biệt Ðộng Quân chết và bị thương ra ngoài đường. Chiếc xe liên tục đi về như con thoi.

Tôi nhìn quanh, kiếm cái máy truyền tin đại đội để báo cáo kết quả xung phong cho Ðại úy tiểu đoàn trưởng. Tôi không thấy Binh 1 Mai Ðăng Vinh đâu cả.

Hạ sĩ Phong nước mắt dầm dề, cầm tay tôi, kéo tôi lui về khu vườn trồng đậu đũa. Thi thể Mai Ðăng Vinh nằm vắt ngang trên lối mòn. Ðầu của Vinh mất một mảnh sọ bằng bàn tay. Óc Vinh văng vãi trên đất. Ruồi nhặng bu đen hút máu người chết. Hai mắt Vinh mở trừng trừng. Miệng Vinh há hốc. Tôi nhìn rõ hai cái răng vàng óng ánh. Ngực Vinh cũng đầy máu.

Cái ống liên hợp của chiếc máy truyền tin PRC10 bị bắn văng đâu mất. Vì thế suốt giai đoạn chót của cuộc tấn công, tôi không nghe tiếng Ðại úy chửi thề.

Chuẩn úy Tú gỡ cái băng ca bên hông xe xuống. Tôi và Tú khiêng xác người đồ đệ của tôi lên thiết vận xa. Tình thầy trò giữa tôi và Vinh chỉ kéo dài có mười hai ngày. Tôi còn nhớ mãi tiếng nói, tiếng cười của Vinh cho tới ngày hôm nay.

Bốn mươi năm rồi, anh không quên hai cái răng vàng của em, lúc em cười. Vinh ơi!

Bên luống đậu, tôi ngồi thẫn thờ, hồi tưởng lại những lần chấm dứt hành quân trước đây, thầy trò tôi về quây quần trong căn lều nhỏ ngoài ngoại ô Hội-An.

Có lần tôi đã ngâm bài từ “Lương Châu” của Vương Hàn cho đàn em của mình nghe. Qua lời bình giải của tôi, những người lính Biệt Ðộng Quân ấy đã thấy trong ý thơ, cuộc đời của chính họ:

“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu.
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (Vương Hàn)

Dịch:

“Trên chiến địa, ta say mèm, mặc người cười chê.
Vì xưa nay ra trận mấy ai về?”

Chiếc M113 vừa rời điểm tải thương; chiếc xe đem đi những cái poncho; những cái poncho cuốn gọn những thuộc cấp của tôi vừa nằm xuống…

Trên đồng lúa chiêm xuân, khói vẫn còn mịt mù, nhưng tiếng súng đã dứt. Tàn quân của địch đang rút chạy về hướng Kỳ-Lam. Có hai cánh quân, một của Thủy Quân Lục Chiến Hoa-Kỳ, một của Trung Ðoàn 51 Biệt-Lập đang truy lùng chúng.

Tôi kiểm lại quân số, thấy đại đội mình hụt đi quá nửa.

Trận này, cả Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có 17 người chết, đại đội tôi chiếm 13. Số người bị thương của đại đội, vì lâu quá rồi, trong trí tôi chỉ còn mang máng giữa hai con số 46, hay 64 (?) – Riêng anh Ngữ, lính kèn, thì bị Việt-Cộng bắn lòi ruột. Sau khi xuất viện, anh không còn thổi kèn được nữa, nên được giao cho nhiệm vụ giữ kho xăng của tiểu đoàn. Năm 1973 anh Ngữ giải ngũ với cấp bậc trung sĩ nhất.

Tôi nhủ thầm:

“Ðây mới chỉ là trận đầu tiên trong đời một sĩ quan hiện dịch!”

Chúng tôi được lệnh rút ra đường, chờ đón phái đoàn từ trên xuống thị sát chiến trường.

Ðại tá Ðàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt Khu tới thăm trận địa. Ðại tá xuống vài phút, nói vài lời, rồi Ðại tá bay đi.

Chúng tôi lại chờ Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Khu tới thăm trận địa. Trung tướng cũng xuống vài phút, nói vài lời, rồi Trung tướng bay đi.

Khi bắt tay tôi trước lúc lên tàu, Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn nhìn sững quân phục của tôi. Chắc ông thấy lạ? Áo quần tôi bê bết bùn và máu. Hai ống quần của tôi tả tơi; chú Phong phải lấy ba, bốn cái kim băng cứu thương gài nó lại, nếu không, sẽ rất khó coi.

Tôi nghĩ, chắc có phép mầu nào đó che chở cho tôi. Hoặc linh hồn các niên trưởng của tôi đã khôn thiêng phù hộ cho tôi. Nếu không, tôi khó sống sót qua trận này.

o O o

Vương Mộng Long và cháu ngoại Maxwell năm 2006
(nguồn: http://baotreonline.com/)

Bốn mươi năm sau ngày đó, ở một nơi rất xa Hội-An, tôi ngồi nhìn mưa tuyết rơi chầm chậm. Một khúc phim đời mình đang quay lại rõ nét, từ từ…

Một mùa Xuân có mai vàng, nêu cao, đối đỏ. Một mùa Xuân quê hương khói súng mịt mù. Một cánh đồng lúa nước, và những đợt xung phong. Bên tai tôi như còn nghe những tiếng thét “Biệt Ðộng ! Sát!” vang rền…

Thằng cháu ngoại choàng tay qua cổ tôi. Nó đòi ẵm.

Tay trái nó vô tình chạm vào cạnh sườn phải của tôi. Tôi giật mình. Nơi cháu tôi chạm tay là chỗ viên đạn AK đã chui vào, nằm cách trái tim tôi chừng một đốt tay. Viên đạn nằm đấy đã ba mươi tám năm, kể từ trưa Mùng Một Tết Mậu-Thân. Một cảm giác tê tê, nhột nhột nơi vết thương cũ khiến tôi bật cười.

Thấy tôi cười, cháu tôi cũng toét miệng cười theo.

Thằng bé bập bẹ:

“Ong…ong… ong ngại…”

Nụ cười của nó thật là trong sáng, hồn nhiên.

Tôi cầu mong ơn Trời ban cho cháu tôi những mùa Xuân bình yên…

Vương Mộng Long- K20
Xuân Bính-Tuất (2006)
Seattle

Hoà Hợp, Hoà Giải

khoa1hocviencsqg.com

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Sep 2023

Ngày 15 tháng Tư năm 1993 tôi dắt díu vợ con, hối hả lên đường bỏ xứ. Chúng tôi ra đi, một gia đình sáu người, mỗi người vỏn vẹn chỉ có hai bộ quần áo cùng cái Jacket chống lạnh; hành trang còn lại là hai va-li sách vở.
Trưa hôm đó, trên sân ga quốc tế của phi trường Tân Sơn Nhất đã diễn ra một cuộc chia ly đầy tiếng cười, nhưng cũng có nước mắt. Những người ra đi mặt mày rạng rỡ, hớn hở, tươi vui, vì sắp thoát khỏi một vùng trời tăm tối, để bước vào một thế giới chói lòa ánh sáng.
Những người đi tiễn đưa thì, có người khóc vì thương người ra đi, có người khóc vì thương chính bản thân họ, vì sao họ lại không là người ra đi?

Thời ấy, vào năm 1993, dưới chế độ Cộng-Sản, con cái tôi, nói chung là con của cựu sĩ quan Quân Lực Việt-Nam Cộng- Hòa bị xếp hạng thứ 17/17 trên nấc thang ghi mức độ ưu đãi, ưu tiên về giáo dục, và tuyển dụng của nhà cầm quyền.
Các con tôi không thể mơ tưởng có một ngày được phép ghi danh vào đại học, cho dù chúng là những học sinh xuất sắc trong các trường trung học.

Tới Mỹ rồi, đa phần con cháu của những gia đình H.O đã trở thành những tinh hoa của cộng đồng Việt-Nam trên quê hương mới. Nay, dù không được giàu có cho lắm, nhưng con cái tôi đã không còn là những người vô sản, phải chạy ăn từng bữa toát mồ hôi như thời gian sau tháng Tư năm 1975. Tính tới nay thì tôi tới Mỹ và ở Mỹ vừa tròn hai mươi sáu năm. Tôi đã ở yên trên đất nước này mà chưa hề nghĩ tới chuyện quay về thăm nơi cắt rốn, chôn nhau.
Dù 44 năm đã trôi qua, vậy mà cứ tới tháng Tư, lòng tôi lại bồi hồi nhớ lại những chuyện không vui đã xảy ra trong suốt những năm dài trầm luân sau ngày Sài-Gòn sụp đổ.

                                                o O o

Mười một ngày sau khi thua trận, từ 11 tháng 5 năm 1975 tôi đã bị tù rồi, nên chuyện kể của tôi sẽ bắt đầu từ những gì tôi thấy ở trong trại tù.
Ngày ấy, đã là cuối tháng 8 năm 1975, chúng tôi đang “học tập” trong căn cứ Long-Giao.
Trên loa phóng thanh của trại giam, hàng ngày tôi được nghe những câu chuyện gia đình Bắc, Nam đoàn tụ sau nhiều năm cách xa, vì Hiệp định Genève năm 1954 đã chia đôi hai miền đất nước.
Tôi cũng nghe được những câu tuyên bố thắm đượm tình người của Chủ Tịch Nước Tôn Ðức Thắng và Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng kêu gọi toàn dân Việt-Nam hãy xóa bỏ hận thù, cùng nhau hòa hợp, hòa giải để tái xây dựng một đất nước Việt-Nam hùng mạnh.
Chúng tôi cũng đã học được 8 bài học căn bản để sẵn sàng hòa nhập vào xã hội mới.

Một sớm mai đầy sương mù, có lệnh từ ban chỉ huy trại bắt chúng tôi phải áo quần tươm tất sạch sẽ để sẵn sàng nghênh đón một phái đoàn cấp cao do “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm dẫn đầu tới thăm trại.
Chúng tôi cũng nghe phong thanh rằng, dịp này phái đoàn của chính phủ sẽ xét tha ra khỏi trại những cải tạo viên nào có thành tích “học tập tốt và lao động tốt”.
Ai cũng nghĩ mình sẽ là người đã học tập tốt, lao động tốt. Ai cũng hy vọng hôm nay sẽ có một cuộc phóng thích “đại trà”.
Chúng tôi chờ đã khá lâu phái đoàn mới xuất hiện. Phái đoàn đi trên hai chiếc xe con, không có ai hộ tống.
“Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm miệng cười toe toét, dẫn đầu phái đoàn quan khách gồm ba đàn ông và ba đàn bà tiến vào hội trường Long-Giao trong tiếng “Hoan hô!” dậy trời, lở đất của trại viên.
Phái đoàn Chính Phủ Cách-Mạng người nào cũng mặt mày rạng rỡ, thân mật và vui tươi.
Ba cán bộ nam mặc đồng phục áo bốn túi màu bồ quân, may bằng thứ vải dành riêng cho cán bộ cấp cao. Vị nào cũng đeo kiếng mát, đồng hồ, và lủng lẳng bên hông một cái cặp da thủ trưởng.
Ba nữ cán bộ thì chị nào cũng có một cái túi xách to với dây quàng qua vai, cổ quấn khăn rằn, dáng dấp đẹp đẽ như những bà bán vé số rong trên đường phố Miền Nam trước ngày “Giải Phóng”Về phía trại viên chúng tôi thì, trại viên nào cũng có vẻ hân hoan, hy vọng. Ai cũng mong những hồ sơ trong cặp da của các “đồng chí” sẽ có tên mình trong số những người sẽ được trả tự do, về với gia đình.

Trước khi vào chỗ ngồi dành cho các vị khách quý, phái đoàn còn dừng lại trong sân chuyện trò thân mật với chúng tôi. Các vị này rất thực thà, cởi mở, giản dị và bình dân.
Có vài anh em nêu thắc mắc là, nghe theo lệnh của Ủy-Ban Quân Quản Thành Phố, khi ra đi chúng tôi chỉ mang theo một tháng tiền ăn cho ba mươi ngày, nay đã gần ba tháng qua rồi mà chưa được về, nếu hôm nay chúng tôi được tha thì chúng tôi sẽ gửi tiền về địa chỉ nào để thanh toán những ngày ăn mà chúng tôi còn thiếu nợ?
Nghe hỏi thế, các “đồng chí” bèn xua tay nói rằng chúng tôi đừng lo xa, chính quyền và nhân dân đã dự trù cách giải quyết mọi chuyện đâu vào đó cả rồi.
Một cải tạo viên nguyên là một cựu sĩ quan Không Quân vừa nhận ra “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm là người cùng quê. Anh ta cứ quấn quýt bên chân “đồng chí” không chịu rời xa, cứ như là sợ có người cướp “đồng chí”của anh ta đi mất!
Buổi sơ giao các “đồng chí” đã gieo vào lòng chúng tôi một cảm giác thật là thân thiện và ấm áp.
Sau một hồi hàn huyên thắm tình hòa hợp, hòa giải dân tộc, mọi người về vị trí đã định sẵn để an tọa.
Phái đoàn của “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm ngồi trên bục, trại viên ngồi im trên ghế trong hội trường. Không khí thật là im lặng, trang nghiêm.

Anh em cải tạo viên thuộc khối 30 của tôi được ưu đãi, được xếp chỗ ngồi ngay dưới chân và trước mặt khán đài. Chúng tôi chiếm được vị trí tốt này cũng do công lao của ông khối trưởng có tên là anh Ba Gà Mổ, anh Ba Gà Mổ tên thật là Nguyễn Văn Lộc, nguyên là một thiếu tá làm việc trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Anh Ba Gà Mổ rất được lòng cán bộ cai quản trại giam. Anh đã được cán bộ giao quyền tiến cử ba cải tạo viên tiến bộ nhất sẽ lên bục phát biểu cảm tưởng đón chào “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm.
“Nghiêm!”
Viên cán bộ trại trưởng hô to.
Mọi người đồng loạt đứng phắt lên, cùng nhau cất cao tiếng hát “Giải phóng miền Nam”:
“Vùng lên! Nhân dân miền Nam anh hùng!
Vùng lên! Xông pha vượt qua bão bùng.
Thề cứu lấy nước nhà!
Thề hy sinh đến cùng!
Cầm gươm, ôm súng, xông tới!
Vận nước đã đến rồi.
Bình minh chiếu khắp nơi.
Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời.”
Rồi thì, hứng chí, thừa thắng xông lên, bà con tự động lặp lại bài hát này tới hai lần.

Sau khi đã “Cầm gươm, ôm súng, xông tới!” mệt ná thở, mọi người còn phải tiếp tục gân cổ thét:
“Hồ Chủ Tịch muôn năm!” – “Muôn năm! Muôn năm!”
“Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa muôn năm!” – “Muôn năm! Muôn năm!”
Rồi chúng tôi được phép ngồi xuống ghế để thở.
Thở xong, lấy lại được sức lực, chúng tôi bắt đầu rì rầm nói chuyện với nhau.
Viên cán bộ trại trưởng cũng vừa hồi sức, y trở về vị trí, đưa tay với chiếc micro:
– Yêu cầu các anh em trại viên giữ yên lặng, trật tự! Nhân dịp có phái đoàn đại diện của chính phủ và nhân dân tới tham quan. Chúng tôi cho phép một vài anh đại diện trại viên lên phát biểu cảm tưởng và đạo đạt thỉnh nguyện lên cho chính quyền cứu xét. Mời anh thứ nhất lên đọc bài phát biểu!

Anh thứ nhất nguyên là Thiếu tá Ðịa Phương Quân của Tiểu khu Pleiku. Anh ta là người Bắc Di Cư, tuổi khá già, nên ăn nói lưu loát lắm.
Ðang thả hồn lâng lâng với những câu phân trần của anh, thật là hợp với ý tôi, vì tôi cũng là dân Bắc Di Cư!
“Chúng tôi nhẹ dạ nghe lời dụ dỗ của Thực Dân và Ðế Quốc nên mới di cư vào Nam rồi bị bắt vào lính Nguỵ…”
thì thình lình, tôi giật bắn người với tiếng hét chói tai:
 “Ðả đảo Ngụy Quân! Ngụy Quyền!”
“Ðả đảo Ðế Quốc Mỹ!”
người bạn ngồi kế bên, vừa kéo tay cho tôi đứng lên, vừa hối:
“Ðứng dậy! Ðứng dậy! Ðả đảo mau lên! ”
Tôi vội vàng dụi mắt, ba chớp, ba nháng hét theo: “Ðả đảo! Ðả đảo!”
Trước khi xuống đài, ông Thiếu tá Di Cư còn, “Hoan hô! Ðả đảo!” vài lần nữa.
Dĩ nhiên chúng tôi cũng phải ngoác mồm, to tiếng phụ họa theo.
Anh cải tạo viên Thiếu tá Di Cư về tới ghế ngồi mà mắt còn ngoảnh lại nhìn “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm như dò hỏi xem “Ðồng chí” có hài lòng với bài diễn văn của anh ta không.
Hình như “Ðồng chí” có vẻ vui, vì tôi thấy ông nhoẻn miệng cười, hai bàn tay ông vỗ vào nhau ba lần nghe, “Ðộp! Ðộp! Ðộp!”

Cải tạo viên thứ hai là một Hải Quân Thiếu tá. Anh này cũng là dân Bắc Di Cư.
Vừa mở tờ giấy phản tỉnh, thú tội ra, anh đã cất tiếng khóc rống lên như cha anh ta vừa chết:
“Ôi! Bác Hồ ơi! Chúng con thương nhớ Bác! Chúng con là những đứa con có tội! Chúng con đã lỡ dại đi theo Mỹ, Ngụy chống lại tổ quốc, giết hại đồng bào! Bác ở trên trời, Bác linh thiêng, hãy tha tội cho chúng con! Bác ơi! Bác ơi!”
Bụng tôi bỗng réo lên “Ồ! ồ! ồ!” tôi vội lủi ra cửa xin cán bộ cho phép đi vệ sinh.
Tới khi tôi trở về thì bài diễn văn của ông cựu Hải Quân Thiếu tá đã chấm dứt.
Trên khán đài, “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm đang gật gù,
– Ðáng lý ra, các anh không xứng đáng được gọi Hồ Chủ Tịch là Bác! Nhưng chúng tôi cũng châm chước cho các anh lần này! Lần sau các anh chỉ được gọi Bác Hồ là Hồ Chủ Tịch! Bác là Bác của chúng tôi! Bác không phải là Bác của các anh! Nghe rõ chưa?”
Nghĩ cũng đúng! “Bác Hồ” đâu phải của chúng tôi? Chúng tôi thường quen gọi ông ta là “Già Hồ” – “Cáo Già” – “Hồ Già bán nước” hay “Hồ Già cõng rắn cắn gà nhà!” nay bỗng dưng bị bạn tù ép buộc tung hô ông ta là “Bác” hèn gì tai tôi, lưỡi tôi, có vẻ như hơi ngượng ngùng vì chưa quen!

‘Cải tạo viên đại diện thứ ba là một cựu Thiếu tá Biệt Ðộng Quân. Anh ta là người Miền Trung. Anh này có cái lợi thế là mặt anh trông rất giống mặt “Bác”, cũng cặp mắt đó, cũng đôi tai đó…
Sau một hồi ca tụng, tuyên dương công lao của Hồ Chủ Tịch, người đã “đẻ” ra đất nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng -Hòa, anh Biệt Ðộng Quân bắt đầu than khóc, hối hận những điều mà anh đã lỡ lầm làm hại đồng bào trong những năm đi lính Biệt Ðộng Quân.
Nước mắt của anh rơi lã chã, chứng tỏ rằng trong lòng anh, lúc đó đang đau đớn và hối hận thực sự.
Anh tự kết án anh là một kẻ phạm đại tội với nhân dân, đáng bị đem ra tòa xử tử.
Anh cao giọng cầu xin nhân dân hãy tha tội cho anh, cho anh cơ hội làm lại cuộc đời!
Khi bước xuống đài, anh cựu Biệt Ðộng Quân này còn vừa đi vừa sụt sịt.
Một anh ngồi bên cạnh, ghé tai tôi thì thầm,
– ÐM! “Thằng mặt dơi tai chuột” này đóng kịch hay quá!
Anh bạn ngồi bên tôi cũng là một Biệt Ðộng Quân Vùng 2 nên không lạ gì cái anh kịch sĩ vừa lên đài kêu khóc than van kia. Cái tên “Thằng mặt dơi tai chuột” cũng là do tụi tôi đặt cho anh kịch sĩ này từ khi anh ta còn mang lon chuẩn úy ở Liên đoàn 2 Biệt Ðộng Quân Pleiku.
Tôi buồn bã buông xuôi,
– Ðừng trách nó làm gì! Mỗi người có cách mưu sinh riêng, không ai giống ai!

Ðể kết thúc phần phản tỉnh, thú tội của cải tạo viên, cán bộ trại trưởng thay mặt Chính Quyền Cách Mạng và nhân dân tuyên bố rằng, sẽ khoan dung tha thứ cho chúng tôi là những đứa con lầm đường lạc lối nhưng nay đã biết hối hận ăn năn.
Sau đó là vỗ tay tưng bừng, tù vỗ tay, cán bộ vỗ tay, quan khách cũng vỗ tay.
“Cộc! Cộc! Cộc!” viên cán bộ trại trưởng liên tục gõ cán của cái micro trên mặt gỗ để vãn hồi trật tự.
Tiếng vỗ tay ngừng.
“Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm từ từ đứng lên, từ từ tiến về phía cái kệ gỗ.
Chúng tôi lại vỗ tay ào ào. Có người còn la lên, “Hoan hô! Hoan hô!…”
Một tay cầm cái micro, tay kia giơ lên quơ quơ trên không, ngụ ý ra dấu cho mọi người giữ im lặng, “Ðồng chí” Cao Ðăng Chiếm đột nhiên biến thành một người khác!
Trước hàng trăm con mắt sững sờ của chúng tôi, tên cán bộ cao cấp Cộng-Sản ấy không còn nụ cười trên môi nữa, mặt y đã trở thành lạnh như tiền.

Ngồi đối diện ngay mặt Cao Ðăng Chiếm, nên tôi nhìn rõ đôi mắt hắn ta đỏ ngầu mỗi khi hắn gỡ cặp kính râm ra nghỉ thở.
Tôi thấy bàn tay hắn nắm chặt, như muốn bóp nát cái micro vào những lúc hắn ta gằn giọng biểu lộ sự căm hờn.
Tiếng nói của viên cán bộ Việt-Cộng Phó Chủ Tịch Ủy- Ban Quân Quản Thành Phố Sài-Gòn Chợ-Lớn sang sảng vang lên, làm cho tóc gáy tôi dựng đứng như lông nhím:
“Các anh nghe đây!
Hôm nay tôi tới đây là để thay mặt Chính Quyền Cách Mạng, thay mặt nhân dân để cho các anh biết rằng, tội ác của các anh là tội ác tày đình, không thể gột rửa được!”
Xòe bàn tay ra phẩy phẩy mấy cái trước mặt, cái đầu thì lúc lắc, tỏ vẻ khinh bỉ, cán bộ Chiếm gằn giọng:
“Ðừng tưởng rằng chúng tôi sẽ tin những lời thú tội, ăn năn của các anh đâu! Ðừng tưởng rằng chúng tôi sẽ động lòng trắc ẩn vì những giọt nước mắt cá sấu của các anh đâu!”
Giơ cao tay, đập cái micro xuống mặt gỗ, mặt y đổi sang màu tím ngắt:
“Nhân dân và Chính Quyền Cách Mạng chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc không có nghĩa là quên hết hận thù. Hận thù chỉ quên hết khi chúng tôi đã trả thù xong!”
Tiếp đó, những lời đe dọa báo thù cứ như những phát đạn bắn ngay mang tai của những người ngồi nghe:
“Ngày xưa các anh cướp nhà cửa, ruộng vườn của chúng tôi, lấy vợ của chúng tôi, lấy con của chúng tôi, lấy xe cộ, tàu bè của chúng tôi. Nay chúng tôi sẽ đòi lại tất cả những thứ đó! Chúng tôi sẽ lấy nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tàu bè của các anh. Chúng tôi sẽ chiếm đoạt vợ con của các anh!”
Càng lúc, giọng cán bộ Chiếm càng lên cao, càng dõng dạc:
“Không thể hòa hợp hòa giải chung chung.
Bao giờ các anh trắng tay, các anh hoàn toàn thần phục, ngoan ngoãn tuân theo lệnh của chúng tôi thì lúc đó mới có thể hòa giải được!
Còn chuyện hòa hợp thì chỉ có thể xảy ra khi nào các anh đã trở thành người giống như chúng tôi.”

Rồi Cao Ðăng Chiếm chuyền cái micro từ tay phải sang tay trái, cánh tay phải vươn dài hết mức, bàn tay nắm lại, ngón tay trỏ của y chỉ vào mặt những người đang ngồi nghe.
Ngón tay đó cất lên, hạ xuống một cách thật chậm rãi, giống như một nòng súng ngắn K54 đang nổ những phát đạn ân huệ vào đầu tử tội.
Tiếng cán bộ Cao Ðăng Chiếm vang vang, ngạo nghễ:
“Hãy tỉnh trí mà suy nghĩ những gì tôi nói. Hãy ghi nhớ những gì tôi nói!”
Dứt lời, Cao Ðăng Chiếm vứt cái micro trên mặt kệ gỗ, rồi lừ lừ cất bước rời chỗ đứng, mắt không hề liếc nhìn ai. Ðoàn tùy tùng của y cũng vội vàng xô ghế đứng lên đi theo.

Hai chiếc xe con phóng đi đã vài phút rồi mà hội trường còn im lặng như bị đóng băng.
Chúng tôi theo chân nhau lầm lũi đi về lán. Cái không khí háo hức “phấn khởi, hồ hởi” đã biến mất, lúc ấy còn chăng là những gương mặt cam phận buồn rầu.

Sau ngày đó, anh em chúng tôi thường tụ tập phân tích những điều mà cán bộ Cao Ðăng Chiếm đã nêu ra trong lần thăm trại Long-Giao.
Chúng tôi thấy hầu như chẳng ai có “nợ máu” với nhân dân cả!
Vì Việt-Nam Cộng-Hòa là một đất nước có luật pháp, có chính quyền; ai phạm tội thì bị bắt, bị xử phạt, bị truy tố ra tòa án và bị giam cầm ngay.
Chẳng ai dám ngang nhiên cướp đất đai, nhà cửa, xe cộ, vợ con của người khác cả.
Trong một buổi học tập, khi cán bộ nghe tôi kể rằng trong trận Pleime năm 1974 đã có hơn một nghìn cán binh Cộng -Sản bị giết thì những anh thiếu tá cải tạo viên khác cũng bị vạ lây ngay,
– Ðấy!Thấy chưa? Mới có một anh Thiếu tá Long mà đất nước ta đã thiệt mất một nghìn thanh niên yêu nước. Miền Nam lại có tới mấy nghìn thiếu tá! Các anh cứ làm tính nhân lên thì biết ngay rằng, đã có bao nhiêu thanh niên yêu nước bị sát hại?
Nghe lời cán bộ kết tội sau khi “làm tính nhân”, nhiều bạn tôi giãy nảy lên, chối đây đẩy. Họ nói rằng suốt thời gian đi lính họ chưa từng bắn viên đạn thật nào thì làm gì có cơ hội để giết người?
Có anh còn đem chuyện mình chuyên ăn chay trường ra để chứng minh rằng anh ta là người vô tội.
Sau khi phân tích đã đời, anh em chúng tôi thấy chỉ những anh lính tác chiến là có “nợ máu” phải lo, phải sợ. Còn các anh em khác cứ yên chí học tập chờ đợi ngày về.
Tôi là dân tác chiến, nên tránh bàn bạc với các bạn tôi về đề tài này.

                                            o O o

Thời gian “học tập” chưa qua được bao lâu mà đã có hai ông thiếu tá qua đời vì bệnh. Tôi chỉ nhớ tên hai ông, mà không nhớ họ, ông thứ nhất tên là Khôi, ông thứ hai tên là Kỳ. Mộ hai ông được chôn sát bên hàng rào kẽm gai đằng sau nhà bếp.
Tiếp đó là một ông đại úy chết vì bị mìn nổ. Ông này chết trong lớp rào phòng thủ. Người thì nói ông ta chui vào rào để kiếm mớ rau tàu bay ăn cho đỡ đói; người thì nói ông ta chui rào vượt ngục. Chẳng biết ai nói đúng, ai nói sai?

Sau ngày tên Việt-Cộng Cao Ðăng Chiếm thăm Long-Giao, tôi nhìn thấy tương lai đời tôi sao mù mịt quá!
Tôi rủ được hai anh bạn, một là cựu Biệt Ðội Trưởng Biệt Ðội Quân Báo của Quân Ðoàn II, một là cựu quận trưởng quận Nhơn Cơ chuẩn bị vượt ngục.
Nào ngờ tới ngày hẹn, hai vị này hủy bỏ chương trình, tôi đành dự trù sẽ ra đi một mình.
Thời gian sau, tôi lo lựa những cục cơm cháy đem phơi.
Rủi thay, việc chuẩn bị của tôi lại lọt vào đôi mắt tò mò của một anh hạm trưởng tù cùng phòng.
Ðứng trước sân, giữa trời nắng chang chang, anh ta đưa tay chỉ lên mái tôn, nơi tôi phơi cơm cháy, vừa cười, vừa la oang oang:
– Bà con ơi! Có người chuẩn bị lương khô để vượt ngục! Ha! Ha! Ha!
Tôi đành cười giả lả:
– Phơi cơm cháy để thay cà phê mà!
Miệng tôi tuy cười, nhưng trong lòng, tôi muốn siết cổ, móc họng tên chó săn này quá!
Tôi đành mang cơm cháy ra giã nhỏ để làm cà phê rồi cắn răng chờ cơ hội.
Mãi tới khi bị đưa ra Hoàng Liên Sơn ngoài Bắc, tôi mới có dịp chắp cánh bay.
Tiếc thay! “Số trời khi đã tận, sức lay thành nhổ núi có làm chi!” (Thơ Phạm Thái)

Hai lần vượt ngục của tôi đều thất bại, xương sườn gãy, răng cũng gãy! Bị đánh đập tưởng chết mất rồi.
Rồi tôi phải cắn răng trả giá cái hành động ngông cuồng của mình với những ngày dài trong cùm kẹp, tra tấn, đày ải, nhục hình.
Và càng ngày “nợ máu” của tôi càng chất cao thêm!
Thời gian cứ lạnh lùng trôi…
Buổi sáng tiếng kẻng dựng chúng tôi thức dậy; buổi tối tiếng kẻng lùa chúng tôi vào lán.
Thét rồi chúng tôi tưởng mình là con trâu, con bò, quên rằng có thời chúng tôi đã là con người!
Ở xứ này, con người có khác gì con trâu đâu?
Bằng cớ là một hôm, con trâu kéo cày của tổ tăng gia trượt chân rơi xuống suối.
Chúng tôi bị tập họp ngồi trước sân để nghe tên Thượng úy Xuyên, cán bộ chính trị của trại giải thích:
“Con trâu chết thì ta làm thịt để bồi dưỡng. Cứ trích tiền ăn tháng sau của các anh để mua con trâu mới là xong ngay! Các anh đừng lo nghĩ gì về chuyện này cho nhọc xác!”
Lâu nay cứ ăn rau hoài, chúng tôi thèm thịt quá! Nghe nói con trâu chết nặng cả trăm cân. Ai cũng yên trí rằng kỳ này sẽ có dịp ăn thịt trâu đã đời!
Nhưng thực tế thật phũ phàng! Chỉ năm phút sau khi con trâu bị mổ bụng thì bộ lòng trâu và cái đầu trâu đã bị tụi vệ binh chia nhau đem đi hết. Tất cả thịt nạc, thịt mỡ lọc ra đều bị xát muối bỏ vào lu để trong nhà bếp của ban chỉ huy trại, dành cho cán bộ ăn dần.
Phần còn lại gồm có một bộ da, một bộ xương, và bốn cái cẳng dưới thì được chia cho nhà bếp của gần 400 miệng tù.
Sau bữa canh xương trâu nấu rau muống, chúng tôi phải kéo cày thay trâu.

Trên thửa ruộng khô canh tác đậu nành, một cải tạo viên hai tay giữ cán cày ra sức đẩy tới. Một trại viên khác còng lưng kéo cái dây thừng quàng qua vai. Người đẩy cái cày và người kéo cày là đồng loại, nên ra lệnh cho nhau dễ dàng hơn là người ra lệnh cho trâu, “rẽ phải, rẽ trái, quay lại!…”
Con trâu chết, anh trại viên thường ngày cầm roi đi cạnh dắt trâu bị mất việc, vì anh không đủ sức khỏe để kéo cày; anh bị chuyển lên khung chăm sóc mấy con lợn cho cán bộ.
Vì “lao động là vinh quang” là khẩu hiệu làm việc cho toàn dân cả nước Việt-Nam, nên cai tù bắt chúng tôi làm việc theo chế độ “thông tầm”, nghĩa là làm việc quần quật một hơi từ mờ sáng tới mờ tối mới ngừng tay, trừ nửa giờ ăn bữa trưa ngay tại chỗ.
Ðó là chưa kể tới những ngày lạnh cóng mùa Ðông, vì ngày thì ngắn, đêm lại dài, nên khẩu hiệu “Làm ngày chưa đủ, tranh thủ làm đêm” được áp dụng triệt để, khiến cho chúng tôi gần như kiệt sức, mắt mờ chân mỏi; có người không chịu nổi đã phải uống thuốc ký ninh vàng để tìm cái chết.

Mỗi năm chúng tôi có ba ngày được ăn cơm không độn, đó là các ngày, mùng Một, mùng Hai và mùng Ba Tết Âm Lịch.
Một tháng chúng tôi có ba ngày ăn theo chế độ độn năm mươi phần trăm (50%) nghĩa là bát cơm có năm mươi phần trăm (50%) là gạo, năm mươi phần trăm (50%) kia là khoai, ngô, hoặc sắn. Hai mươi bảy ngày còn lại của mỗi tháng là chế độ ăn độn một trăm phần trăm (100%) nghĩa là trong bữa ăn, không có hạt gạo nào, tất cả chỉ là khoai, ngô, hay sắn.
Ðau ốm, bệnh gì cũng chỉ có một thứ thuốc chữa, đó là Xuyên Tâm Liên.

Trong thời gian bị lưu đày nơi rừng thiêng nước độc, đầy muỗi vắt, bạn bè tôi rơi rụng dần.
Người thì xác chôn bên chân Ðèo Khế, người ngủ giấc nghìn thu trên đỉnh Lũng Ngàn, Cẩm-Nhân.
Cũng vì bị giam giữ ở Cẩm-Nhân, Yên Bình, Yên Bái trong thời gian 1976-1978 mà tôi biết được một chuyện mà nhiều người không biết đó là: Hai mươi năm trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, ở xã Cẩm-Nhân đèo heo hút gió này, đã có người bị gọi là “lính Ngụy” sống lưu đày ở đây rồi!

Số là, nhân dịp đi làm vần công, lợp mái chợ Cẩm-Nhân, tôi có dịp quen với một ông già, tuổi quá sáu mươi, tên ông ấy là An. Ông An là người Việt có quốc tịch Pháp, tên Tây của ông là André. Ông André là Trung úy trong quân đội Liên Hiệp Pháp.
Theo như ông nói, thì Tướng Phạm Văn Phú khi còn đeo lon thiếu úy đã từng làm việc dưới quyền Trung úy André.
Sau Hiệp Ðịnh Genève, các đơn vị của quân đội Liên Hiệp Pháp được lệnh rút theo đường số 5 từ Hà-Nội xuống Hải-Phòng rồi lên tàu há mồm của Mỹ để vào Nam.
Dân chúng hai bên đường số 5 bị Việt-Minh xúi giục đã kéo nhau ùa ra lộ níu chân các anh lính Việt Nam, mời gọi các anh ở lại.
Trung úy André đã mủi lòng, bỏ đơn vị, bỏ thuộc cấp, ở lại với cô thôn nữ mà anh đã gặp.
Suốt một năm dài sau đó, anh Trung úy André được xưng tụng như một anh hùng, đi khắp nơi để chiêu dụ các anh lính Việt-Nam bỏ ngũ.
Cho tới một ngày năm 1955, hết hạn Di Cư, hết tàu há mồm chở người vào Nam, Trung úy André bỗng nhiên trở thành một anh “lính Ngụy”. Tên “André” của anh bị Việt- Nam hóa thành “An”.
Cuối năm 1955, anh An lính Ngụy và người vợ là cô gái quê đã níu chân anh trên Quốc lộ 5, bị “chỉ định cư trú” lên Thượng Du ở với những người dân Tày trong thôn Cẩm-Nhân. Nơi này sau đó trở thành vùng đất đầu nguồn của hồ Thác Bà.
Ông An lính Ngụy có người con gái tên Dung. Nhưng trong xóm còn có một cô gái nữa cũng tên Dung, cùng trang lứa, nên cô Dung con ông An bị người ta gọi là “cô Dung Ngụy!” để phân biệt.
Nhân chuyện này mà tôi biết, hai mươi năm trước ngày chúng tôi mang tên “lính Ngụy” đã có người mang tên “lính Ngụy” rồi.
Biết chuyện này, tôi cũng đâm ra lo lắng, không biết ngày đó, trong Hẻm 555 Trần Hưng Ðạo Sài-Gòn, mấy đứa con tôi, mà tên gọi ở nhà là “Vịt, Cò, Giao, Liêu” có bị người ta thêm chữ “Ngụy” để thành “Con Vịt Ngụy”, “Con Cò Ngụy”, “Con Giao Ngụy” và “Cu Liêu Ngụy” hay không?(!)…

Còn một chuyện nữa cũng ít người hay biết, đó là việc người ta chuẩn bị đưa tất cả cải tạo viên đang ở trong các trại miền Bắc về định cư trong Vườn Quốc Gia Cúc Phương thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Chương trình đề ra là, cải tạo viên sẽ tới vùng định cư trước, dựng nhà, khai khẩn ruộng vườn, sau đó chính phủ sẽ cho phép vợ con họ lên vùng để đoàn tụ.
Người được trao quyền đại diện cư dân trong khu Kinh Tế Mới Cúc Phương này sẽ là cải tạo viên Nguyễn Hữu Có cựu Trung Tướng Việt-Nam Cộng-Hòa, từng đảm nhiệm chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.

Năm 1979-1980 khi bị giam trong trại Nam-Hà, Phủ-Lý, tôi đã có dịp được Tướng Có thổ lộ cho biết chuyện này, ngay sau khi ông ta trở về từ chuyến thăm viếng Công Viên Quốc Gia Cúc Phương. Không hiểu vì sao chương trình định cư này đã bị hủy bỏ vào giờ phút chót.
Trong khi đó ở miền Nam, bố vợ tôi, một sĩ quan giải ngũ trước ngày Sài-Gòn đầu hàng cũng bị bắt đi tù.
Căn nhà mà gia đình nhạc gia tôi cùng lũ em trú nắng, tránh mưa trên đường Hàm Nghi Ban Mê Thuột cùng với chiếc xe nhà hiệu Jeep Willy cũng bị chính quyền Cộng-Sản của thành phố tịch thu. Mẹ vợ tôi và lũ em chưa tới tuổi trưởng thành của vợ tôi phải dọn sang nhà hàng xóm ở nhờ.
Tiếp đó lại có tin căn phố số 72 đường Tăng Bạt Hổ, Qui-Nhơn của bố mẹ vợ tôi cũng bị Cộng Sản trưng dụng làm kho lương thực của thành phố.

44 năm qua rồi, cha mẹ vợ tôi cũng đã qua đời, mà tài sản bị chính quyền trưng dụng vẫn chưa được trả lại cho chủ của nó.
Cũng vì cái chủ đích của quân xâm lăng là, “Bao giờ các anh trắng tay, các anh hoàn toàn thần phục, ngoan ngoãn tuân theo lệnh của chúng tôi thì lúc đó mới có thể hòa giải được!” mà sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 nhiều gia đình mất nhà, mất cửa, phải dầm mưa dãi nắng nơi rừng rậm, núi cao trong những vùng Kinh Tế Mới. Ðó là chưa kể tới những chiến dịch đánh tư sản, những đợt đổi tiền, khiến cho không biết bao nhiêu người dân vô tội bị lâm vào cảnh đói khổ, lầm than.

Ngày tôi ra khỏi trại tù năm 1988, khi đi qua Ngã Sáu Chợ Lớn tôi gặp ông Lang Trọc, một vị đàn anh nguyên là cựu Trung tá liên đoàn trưởng một liên đoàn Biệt Ðộng Quân ở Pleiku. Vị cựu Trung tá liên đoàn trưởng lúc đó đang sinh sống bằng nghề bán hột vịt lộn gần bùng binh nơi Ngã Sáu.
Ông Lang Trọc bùi ngùi kể cho tôi nghe một chuyện buồn, đó là chuyện gia đình của anh “mặt dơi tai chuột.” Anh này vốn là một thuộc cấp thân thiết của ông Lang Trọc,
– Long có biết không? Năm 1985, ngày nó về, vợ nó tránh mặt. Bà mẹ vợ nó ngày nào cũng vui vẻ thiết đãi nó rượu chè, gà vịt ê hề. Ðúng một tuần lễ sau, bà ấy dúi cho nó một xấp tiền rồi đuổi nó ra cửa. Bà cụ nói rằng nó phải đi khỏi nhà bà ta ngay, vì thằng con rể mới của bà ấy đi công tác sắp về.

Con rể của bà cụ bây giờ là một tên Việt-Cộng mang lon đại úy trưởng đồn Công An! Tới lúc đó nó mới biết rằng, nhà nó, vợ nó, con nó đã thuộc quyền sở hữu của một cán bộ Việt-Cộng! Anh đã phải giúp nó một tí vốn để nó đi buôn gạo đường dài mà kiếm sống. Tình cảnh của nó bây giờ thật là đáng thương quá! Long ơi!
Nghe chuyện, tôi thở dài, không che nổi nỗi xót xa.

Tôi nghĩ, vào giờ phút bị bà mẹ vợ đuổi ra khỏi nhà, không biết anh bạn cùng đơn vị của tôi có nhớ lại và có thấm thía những lời tên Việt-Cộng Phó Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài-Gòn Chợ Lớn tuyên bố năm xưa hay không?
“Chúng tôi sẽ lấy nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tàu bè của các anh. Chúng tôi sẽ chiếm đoạt vợ con của các anh!”
Và có bao giờ anh ta còn mong được đứng trên bục thuyết trình để suy tôn và khóc thương “Bác Hồ” của anh ta lần nữa hay không?

Thêm một chuyện tả lại cảnh ngày về của một người tù cải tạo ở xóm tôi.
Ðó là, gần Hẻm 555 Trần Hưng Ðạo Sài-Gòn trên đường dẫn vào nhà tôi, có gia đình của một ông Trung úy Việt-Nam Cộng-Hòa. Vợ ông sĩ quan này là một cô giáo.
Ngày tôi ra tù thì hai vợ chồng nhà này không còn ở với nhau.
Lý do là vì chỉ ít lâu sau khi ông ta vào trại tập trung để “học tập” thì cô giáo đã lấy một tên thương binh Việt-Cộng chột mắt. Tên Việt- Cộng này là một thương binh phục viên. Y giữ một chức vụ rất có quyền uy trong trường của cô giáo.
Thế là từ đó, trong nhà cô giáo, hai cháu bé con ông Trung úy Việt-Nam Cộng-Hòa phải gọi một thương binh Việt-Cộng là cha.
Rõ ràng rằng, “lấy vợ, đoạt con, chiếm nhà, cướp của” là một chủ trương của bọn cướp nước.

Di lụy của chiến tranh, mấy chục năm sau còn đeo nặng trên vai, mang nặng trong tim người thua trận.
Ngày còn ở Pleiku, năm 1969, lớp sĩ quan trẻ chúng tôi nhìn vợ chồng một niên trưởng khóa 17 Ðà- Lạt như một cặp đôi lý tưởng, trai tài, gái sắc. Hình ảnh vợ chồng người sĩ quan đàn anh này là một mẫu mực mà chúng tôi nhìn vào đó để mơ ước, để noi theo.

Thế rồi, bẵng đi, cho tới năm 2004, tôi gặp lại niên trưởng này ở Seattle, trong dịp Kỷ Niệm 44 năm ngày thành lập binh chủng Biệt Ðộng Quân.
Hôm đó, ông cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 Biệt Ðộng Quân đi cùng đứa con trai 7 tuổi và bà vợ không phải là người đẹp sắc nước hương trời một thuở.
Nhân khi bà vợ anh cùng thằng con trai có việc đi ra ngoài, tôi mới hỏi anh,
– Tôi biết chị ngày xưa, không phải là chị này.
Niên trưởng của tôi cúi mặt, rầu rầu,
– Chị bỏ anh rồi! Long ơi!
Nghe xong câu này, tôi chợt thấy lòng mình tê tái. Tiếp đó, anh cầm tay tôi nói như khóc,
– Long thử nghĩ xem? Tụi mình đi tù, có biết ngày nào sẽ được tha ra đâu? Anh không trách gì chị, nếu có chăng là tự trách mình. Tụi mình không đổ lỗi cho ai được. Chỉ vì tụi mình thua trận, đánh mất đất nước, mà ra nông nỗi này!
Từ giờ phút đó, trong lúc trò chuyện cùng anh, tôi tránh nhắc lại những chuyện xưa ở Pleiku, kể cả những kỷ niệm suốt đời không quên được ngày tôi và anh sát cánh bên nhau mở đường máu trong trận Dak-Tô tháng 5 năm 1969.
Năm 1981, sau khi được chuyển trại về Nam, bị giam trong trại Z 30C, Hàm-Tân, Thuận-Hải, tôi mới hay, vào thời gian chiến tranh giải phóng Campuchia năm 1979, con cái của người miền Nam bắt đầu bị gọi đi làm nghĩa vụ quân sự và bị lùa ra chiến trường.

Nhiều gia đình trong xóm chợ Nancy gần nhà tôi đã có bàn thờ “liệt sĩ”. Danh hiệu “liệt sĩ” là do chính quyền Cộng-Sản đặt ra để tôn vinh những chiến sĩ Việt-Cộng đã chết trong chiến trận.
Tôi có người bạn vong niên, một cựu trung tá, già hơn tôi một giáp tên là Bệ.
Tôi và anh Bệ bị giam trong hai khu cách nhau một con đường đi và hai lớp hàng rào kẽm gai.
Một ngày gần Tết, anh Bệ quần áo chỉnh tề, gọi tôi ra hàng rào, vui vẻ khoe,
– Hôm nay anh có thăm nuôi, khi nào quay về, anh sẽ gọi chú! Anh sẽ chia cho chú một ít quà để ăn chơi!
Từ lâu lắm rồi, anh Bệ không có thư từ hay tin tức của gia đình. Trong tù, anh không khác gì một kẻ mồ côi. Hôm nay anh có người tới thăm, tôi cũng mừng cho anh.
Chiều hôm đó anh Bệ khệ nệ, cong lưng gánh vào trại hai bao quà, nhưng mặt anh không có chút dấu hiệu gì là vui vẻ cả.
Anh gọi tôi ra hàng rào, đôi mắt anh sụp xuống như chứa chất một nỗi buồn u uất,
– Anh có thăm nuôi, có quà, nhưng anh không chia sẻ cho em được! Vì anh hiểu rằng, nếu em biết những đồ ăn đó là do ai đã cho, chắc em sẽ không ăn. Anh cũng sẽ không ăn những thứ đó đâu!
Tôi ngạc nhiên,
– Vậy chứ ai vừa lên thăm anh?
– Thằng con trai anh.
Tôi chưa kịp thắc mắc vì sao anh lại nói những lời quái dị trên, thì anh bật khóc,
– Long ơi! Thằng con trai của anh bây giờ đã là một Thượng sĩ Việt-Cộng. Nó vừa từ Campuchia trở về…
Chưa dứt lời, anh bạn già của tôi đã ôm mặt quay lưng, để lại một mình tôi đứng sững sờ.

Sáng hôm sau, vừa ngủ dậy, chúng tôi đã nghe tiếng réo từ lán trại bên cạnh:
“Báo cáo cán bộ! Ðội 3 có người chết!”
Sau đó hai anh bạn tù hì hục khiêng xác một anh cải tạo viên vừa chết trong đêm ra phòng trực.
Người chết là anh Bệ, cựu Trung tá Việt-Nam Cộng-Hòa, một người bạn già của tôi.
Ði sau cái cáng của người chết là cán bộ Việt-Cộng tên là Liến. Bên cạnh cán bộ Liến là anh Ðội trưởng Ðội 3 đang ì ạch trên vai một gánh hai bao, đầy quà thăm nuôi còn cột chặt chưa mở ra.
Tôi biết gánh quà ấy do một Thượng sĩ Việt-Cộng đem lên cho bố anh ta.
Chiều qua, bố anh ta đã nói với tôi: “Anh cũng sẽ không ăn những thứ đó đâu!”
Mọi người trong Ðội 3 đều cho rằng anh Bệ đã vận sức quá nhiều để gánh hai bao quà nặng, nên đêm qua anh ấy đã bị đứt gân máu mà chết.
Nhưng người tù nằm bên anh Bệ lại cho tôi hay, đêm ấy anh Bệ nằm khóc rấm rứt tới khuya, không ngủ, rồi anh đi vào cầu tiêu uống thuốc gì đó, tới sáng, anh không thức dậy nữa!
Cái huy hiệu thượng sĩ Việt-Cộng trên ve áo một người con, đã bóp nát trái tim của một người cha, một cựu trung tá Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa!

Ngày tôi được tha (năm 1988) cũng là ngày anh bạn cựu Ðại úy Trần Ðức Thiệp của tôi từ Campuchia lội bộ, quay ngược về Việt-Nam sau một lần vượt biên thất bại. Chỉ vì thời gian này chính phủ Thái-Lan đã từ chối, không còn chấp nhận dân tị nạn nữa.
Tôi không có dịp để vượt biên, nên không biết gì về cái giá phải trả cho sự mạo hiểm đi tìm tự do này.
Nhưng tôi biết chắc chắn rằng trong những năm tôi còn bị lưu đày, hàng trăm nghìn đồng bào tôi đã phải bỏ nước ra đi. Hàng nghìn đồng bào tôi đã bỏ thây trên biển.
Cái khẩu hiệu “Bắc Nam hòa hợp” của chính quyền Cộng-Sản nghe thì thấy hay, nhưng thực hành sao khó quá!
Người dân miền Nam đã sống nhiều năm dưới chế độ Cộng-Hòa, và đã biết thế nào là Tự Do, nên khao khát Tự Do.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, muốn có Tự Do, cách duy nhất là tìm đường ra biển.
Có ai muốn xa lìa nơi quê cha đất tổ?
Có ai mà không sợ chết?
Ấy vậy mà đồng bào tôi cứ có dịp là bỏ xứ đi ngay!
Có một câu nói đã trở thành bất hủ: “Dưới chính sách hà khắc của Cộng-Sản, nếu cái cột đèn mà biết đi, chắc nó cũng vượt biên!” (Ginetta Sagan)
Bao nhiêu năm đã trôi qua, đồng bào tôi ngóng trông hoài mà chưa thấy, “Bình minh chiếu khắp nơi!” (Giải phóng miền Nam)
Bình minh đã trốn đi đâu? Tự do đã trốn đi đâu? Ðêm đen quá dài!

Vương Mộng Long-K20

Giao thừa ở Suối Máu

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Sep 2023

Vào cuối năm 1975, hàng ngàn tù nhân sĩ quan cấp tá của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa từ nhiều trại tập trung cải tạo vùng chung quanh Sài-Gòn đã bị chuyển về nhốt tại trại tù Suối Máu, Tam- Hiệp, Biên- Hòa.

Một đêm giữa tháng 10, 1975, từ Long Giao, tôi bị chuyển tới đây trên một chiếc Molotova bít bùng kín mít. Tôi bị dẫn vào khu K2. Hai tuần sau có lệnh “biên chế,” tôi lại bị chuyển sang khu K3. K3 chỉ chứa sĩ quan cấp thiếu tá. Tôi bị giam ở đây từ ngày 1 tháng 11, 1975 cho tới ngày lên tàu Sông Hương ra Bắc (tháng 7, 1976.)

Thời gian này, tin tức truyền thanh, truyền hình về tình hình thế giới càng lúc càng xấu đi. Người ta đồn rằng, hình như Cộng-Sản Việt-Nam đang trên đường tiến chiếm Thái-Lan. Thế Giới Tự Do như càng lúc càng xa chúng tôi hơn.

Anh em chúng tôi gặp nhau thường ngày, tụ tập từng nhóm, đánh cờ tướng, tán gẫu, bàn chuyện nhà cửa, gia đình, nước non, thời quá khứ. Trong những lúc tụ tập chuyện trò, chúng tôi nghe bạn bè rỉ tai rằng, “Chính quyền Giải Phóng” đang nghiên cứu hồ sơ cá nhân của từng người, để xét tha (?) Cũng có tin bi quan, cho rằng chúng tôi sắp bị đưa ra Tòa án Nhân dân để xử tội. Chúng tôi thực sự hoang mang, chẳng biết tương lai mình sẽ đi về đâu.

Tôi ở Lán 24 thuộc K3 (danh từ VC gọi Lán là nhà, K là Khối.) Mỗi lán chứa khoảng hơn 40 tù nhân, trong Lán 24 đó có vài cựu Sĩ quan Ðà Lạt gồm anh Trần Ngọc Dương (K10), Nguyễn Lành (K16), Hoàng Thế Bình (K18), Tạ Mạnh Huy (K19), khóa 20 có Ngô Văn Niếu và tôi (Vương Mộng Long). Lán tôi cách Lán 17 vài thước. Lán 17 có ba anh Biệt Ðộng Quân K20 Võ Bị là Nguyễn Cảnh Nguyên, Trịnh Trân, và Quách Thưởng. Trong cảnh đói khát thường xuyên, chúng tôi phải chia nhau từng mớ rau dền, tán đường thẻ, miếng cơm cháy.

Lán 24 lúc nào cũng hôi thối đầy ruồi nhặng, vì nó nằm trên đường đi ra cầu tiêu, mà bệnh kiết lỵ của tù nhân cải tạo ở đây hầu như bất trị.

Anh trưởng Lán 24 tên Trần Thành Trai, nguyên là Y sĩ Thiếu tá làm việc tại Quân y viện Duy-Tân, Ðà-Nẵng. Bác sĩ Trai luôn luôn xác định lập trường của anh là quyết tâm “học tập tốt” để được tha về với vợ con, vì vậy mỗi lệnh của ban chỉ huy trại đưa xuống, anh luôn luôn tìm cách thi hành đúng đắn.

Thằng Niếu, bạn tôi, được một chân làm bếp, nó ăn uống dưới bếp, nên phần cơm của nó dư, được mang về tiếp tế cho tôi và anh Nguyễn Phong Cảnh, người nằm cạnh tôi.

Vào những ngày cuối năm Ất Mẹo, không khí ở đây trở nên rộn rịp vô cùng. Những người liên lạc được với gia đình thì có những gói quà nhỏ gởi vào cho ăn Tết, những kẻ ít may mắn hơn thì đành trông chờ vào những gì ban chỉ huy trại ban cho. Thời gian này, các lán gấp rút tập văn nghệ để trình diễn đêm Giao Thừa.

Ðể khỏi tập ca hát nhảy múa, tôi tình nguyện làm công tác tạp dịch, quét tước. Trong khi mọi người ca múa, xả rác, tôi đi lượm rác và xách nước về cho bạn cùng lán rửa mặt rửa tay.

Hai ngày trước Tết, lán tôi phải tập họp đi làm cỏ ngoài rào K3.

Trại Suối Máu vốn dĩ là trại tù Phiến Cộng Tam-Hiệp của Quân Khu 3 Việt-Nam Cộng-Hòa. Trại có hai khu, hai hệ thống hàng rào. Lớp rào trong nhốt tù, rồi tới khu canh tù, ngoài cùng là rào mìn phòng thủ. Trại tù Phiến Cộng này có 6 khối. Mỗi khối cách biệt nhau bởi một khoảng đất trống, có rào mìn. Từ khối này muốn liên lạc với khối kia chúng tôi phải hét lên mới nghe tiếng nhau.

Ra khỏi hàng rào thứ nhất, tôi chứng kiến vài sự đổi đời.

Cái miếu thờ Thổ Ðịa trở thành cái chuồng nuôi heo. Nhà Thờ và Niệm Phật Ðường của trại tù binh đã thành chuồng gà sản xuất. Sư và Cha, Tuyên úy của trại này, chắc cũng đi tù đâu đây không xa!

Ngoài xa, bên kia hàng rào mìn là bãi cỏ trống rồi tới đường Quốc lộ 1. Trên Quốc lộ, xe Lamb chạy xuôi ngược; người người vội vàng buổi chợ cuối năm. Có vài bàn tay giơ lên ngoắc ngoắc về hướng trại tù, đôi người dân có liên hệ, hoặc ai đó còn nhớ tới chúng tôi, những sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, những người bảo vệ chế độ đến giờ cuối cùng, và những người chậm chân, chạy không kịp, đang bị nhốt ở đây, trong khu nhà tù do chính tay Công-Binh Việt-Nam Cộng-Hòa xây dựng lên trước đó nhiều năm.

Sáng nay bầu trời màu xanh, không một gợn mây. Từ hướng phi trường Biên-Hòa, bên kia cánh đồng trồng khoai mì, những chiếc F5 thực tập lên, xuống, lượn vòng…

Ðưa tay chỉ những cánh chim sắt đang bay trên trời cao, anh bạn Thiếu tá Không Quân, Trần Chiêu Quân nói với tôi rằng, sau 30 tháng 4, có một số phi công của Việt-Nam Cộng-Hòa bị trưng dụng để huấn luyện cho phi công Bắc-Việt lái những máy bay chúng ta còn để lại.

Những chiếc F5 sáng như bạc đảo lộn trong không gian. Tiếng rít của phi cơ làm cho tâm hồn người cựu chiến binh nao nao.

Làm sao quên được? Lần đầu ra trận (Tháng 2, 1966). Hôm đó, cũng vào một sáng đầu Xuân, đơn vị tôi án binh dưới chân núi Trà-Kiệu (Quảng-Nam) chờ lệnh xuất phát. Tôi ngồi bên bờ Nam sông Thu-Bồn, say sưa nhìn những cánh F-4C, F-5A Hoa Kỳ đan nhau trên vùng trời Bắc. Bên kia sông, vùng trách nhiệm của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập, khói đạn bom cuồn cuộn…

Rồi tới trận Mậu- Thân (1968) với những chiếc Skyraider dềnh dàng, chậm rãi phóng từng trái Napalm dài như chiếc xuồng màu trắng, lướt trên đỉnh 1632 cuối phi đạo Cam-Ly, Ðà-Lạt. Khi bom chạm mục tiêu, từ đó, những sợi lửa lân tinh trắng xanh, trông giống như những cái vòi bạch tuộc, vươn cao…

Còn nữa…

Nhớ thời chống giữ Pleime, ngày ngày, tôi nghe quen tiếng L19 lè xè của Võ Ý (K17VB). Chiếc L19 như cánh diều mảnh khảnh, lững lờ quanh đỉnh Chư Gô, hay trên Ia Drang, thung lũng Tử Thần…

Chúng tôi trông chờ đôi lúc trời trong, những phi tuần A-37 theo nhau tuôn bom… chờ những chiếc trực thăng rà sát đọt cây, lướt trên ngọn cột cờ căn cứ. Cơ phi, xạ thủ trên tàu chỉ kịp đạp vội xuống sân trại vài thùng điện trì, đạn, gạo sấy, con tàu đã lật bụng đảo một vòng, thoát chạy về Ðông. Phòng không như lưới, thảy xuống cho nhau được thùng nào, hay thùng nấy! Thảy đồ xong là chạy. Ðồ tiếp tế, có thùng còn nguyên dạng, có thùng vỡ tan, có thùng bay vào bãi mìn. Như thế cũng quý hóa lắm rồi! Cám ơn anh em Phi đoàn 229 Lạc Long!

Rồi đêm xuống, cứ như “Ðúng hẹn lại lên!” Chiếc AC 47 của anh Trần Bạch Thanh (K17) đã có mặt trên vùng.

“Thái Sơn! Ðây Hỏa Long gọi!”

Những đóm hỏa châu lập lòe, vừa trải rộng tầm quan sát cho người trấn giữ tiền đồn, vừa làm cho họ cảm thấy ấm lòng.

Ðã mất rồi, ngày xưa ấy! Giờ này tôi đang đứng nhìn những cánh chim sắt chao lượn trên đầu, người lái không phải là quân bạn.

Tiếng động cơ F5 nghe sao quá xót xa!

o O o

Tôi đang nhổ cỏ thì thấy một đoàn người từ hướng ban chỉ huy trại hò nhau khiêng một cái cổng gỗ rất to vừa đóng xong.

Tấm bảng nền đỏ chữ vàng “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do” được nâng niu như trứng trên vai những người tù nhễ nhại mồ hôi. Những người tù đang bị sức nặng của cái cổng đè trĩu trên vai. Họ phải lên gân chân mỗi lúc bước tới trước.

Mới vài tháng trước đây họ còn là những vị chỉ huy oai phong lẫm liệt. Giờ đây đành cam thân sống cảnh đọa đày, đóng vai những anh thợ mộc bất đắc dĩ không công. Ngày nào họ cũng ra đi rất sớm, chiều tối mới trở về trại. Họ dựng những cái cổng chào. Họ tu sửa, sơn phết những khẩu hiệu trên tường. Họ trồng lại hàng rào trại.

Mọi việc làm này là để chào đón ngày Quốc-Hội Việt-Nam Thống-Nhất ra đời. Những vị sĩ quan cao cấp này đã khởi đầu nghề thợ mộc của họ bằng những cái bảng “Không Có Gì Quý…” ở trại tù Tam-Hiệp.

Tôi có quen vài người trong số những “cải tạo viên”  hằng ngày xuất trại làm mộc, như vị sĩ quan cựu Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa và vị sĩ quan cựu Tiểu Ðoàn Phó Nhảy Dù. Cả hai vị đó, sau này nơi đất Bắc, đã thành hai ông đội trưởng nổi tiếng. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh!

Chỉ chín tháng sau ngày chế độ Cộng-Hòa sụp đổ, giờ đây tôi đang chứng kiến một hoạt cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi: Trên trời, phi công Việt-Cộng đang lái F5; trước cổng trại tù, sĩ quan cấp tá Việt-Nam Cộng-Hòa đang dựng cổng chào; quanh rào trại tù, sĩ quan cấp tá Việt-Nam Cộng-Hòa đang làm cỏ. Nơi nơi, người người, chuẩn bị đón Xuân. Mỗi người mang một tâm sự riêng…

Tới trưa, khi nghe tiếng kẻng phát cơm của nhà bếp, chúng tôi được dẫn trở lại trong vòng rào trại K3. Khi đi ngang qua sân bóng chuyền, tôi thấy người ta đang cá độ nhau trận đấu tay đôi đang diễn, một bên là Thiếu tá Trần Ðạo Hàm, cựu vô địch nhảy cao của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa, bên kia là một tay Thiếu tá Không Quân. Anh Lê Hữu Khái (K15) và thằng bạn Nguyễn Bích (K20) của tôi đang nhảy tưng tưng cổ vũ cho anh Hàm vì anh Hàm là “gà nhà”, Võ Bị khóa 17! Cái miệng thằng Bích lớn lắm, nó la hét vỗ tay, bình luận ào ào. Anh Hàm thật là may mắn, có cái loa phóng thanh cỡ bự Nguyễn Bích cổ vũ nên anh có vẻ như đang dẫn điểm.

Tôi thấy nhiều người đã để ghế “xí” chỗ tốt cho buổi TV văn nghệ tối; ngày nào cũng thế, cứ đến trưa là bà con đem ghế ra đặt sẵn trên sân bóng để “xí” chỗ xem phim TV của đài Sài-Gòn Giải-Phóng. Ai chậm chân thì không còn chỗ tốt. Thời gian này TV Sài-Gòn Giải-Phóng liên tiếp chiếu bộ phim nhiều tập “Trên Từng Cây Số” và “Ðại úy Ðen” của Ba-Lan.

Trong các lán, có nhiều bạn tụ tập bóc lột nhau bằng những con bài. Xì phé, sập xám và mạt chược là những môn chơi phổ thông khắp nơi trong trại. Tôi đã chứng kiến nhiều anh thua bạc phải bán cả những quà cáp từ gia đình gởi vào, như kem đánh răng, thuốc lào, thuốc tây để trừ nợ.

Sau Tết ít lâu, tôi nghe một câu chuyện đau lòng ở K3 năm ấy: có một vị Thiếu tá Quận trưởng khi cắt bánh thuốc lào làm đôi để chi cho chủ nợ một nửa, thì phát hiện ra một bức thư “chui” của người nhà giấu trong ruột bánh thuốc lào. Bức thư vắn tắt đôi lời làm đau lòng người đọc:

“Chị ấy đã gởi hai đứa con của anh cho bà nội của chúng nuôi. Chị đã đi lấy chồng rồi! Anh đừng buồn, ráng học tập lao động cho tiến bộ để sớm được thả về mà nuôi dạy con anh.”

Cái tin bất ngờ sét đánh ấy đã làm cho ông Quận sững sờ, buông rơi những con bài Cơ, Rô, Chuồn, Bích…

Từ đấy, tôi thấy ông suốt ngày thẫn thờ bên rào, nhìn về phía xa xôi. Ðôi lúc tỉnh táo, ông ôm cây Guitar, đàn solo những bài nhạc xưa, buồn đứt ruột.

Tôi bồi hồi nhớ lại lời Tổng thống nói ngày nào:

“Ðất nước còn, còn tất cả. Ðất nước mất, mất tất cả!”

Ôi! Lời Tổng thống nói thật là hữu lý!

Tổng thống ơi! Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình để giữ nước, nhưng chúng tôi đã không thể giữ nổi. Chúng tôi lấy làm xấu hổ vô cùng! Sao Tổng thống không ở lại giữ nước với chúng tôi? Lúc này chúng tôi đã “mất tất cả” rồi Tổng thống ơi!

Về tới lán, tôi nhận được một vỉ thuốc ho, một nắm xôi đậu xanh, và mười cục đường tán do anh bạn Phan Văn Hải gởi cho.

Tôi, Phan Văn Hải, cùng ba anh bạn khóa 20 Võ Bị là Phan Ðộ, Huỳnh Bá An, Trần Hữu Bảo, xuất thân từ trường Nam Tiểu Học Ðà-Nẵng. Chúng tôi là học trò của cô giáo Phạm Thị Tịnh Hoài, lớp Nhất C.

Phan Văn Hải là sĩ quan khóa Ðặc biệt Thủ Ðức, anh về phục vụ cùng đơn vị Biệt Ðộng Quân của tôi ở Pleiku. Những ngày cuối của cuộc chiến, Thiếu tá Phan Văn Hải giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 89 Biệt Ðộng Quân. Khi đi tù, bạn tôi không có ai thư từ, tiếp tế, nhưng hắn bài bạc rất giỏi, nên lúc nào cũng sung túc.

Chiều hôm đó, anh lán phó hậu cần, Hải Quân Thiếu tá Bùi Tiết Quý thâu tiền của trại viên trong lán, gởi cán bộ trại mua giùm mì gói, tương, chao, xì dầu và đường tán để ăn bồi bổ thêm trong ba ngày Tết. Tối đến, sau khi đã chia hết phần đường cho người mua, anh Quý cạo được một chén đường chảy dính trong thùng giấy và bao giấy gói đường. Anh ung dung ngồi thưởng thức nồi chè đặc biệt, nấu bằng đường mót được với hột su su và mấy hạt bắp non anh trồng được bên rào. Làm đội phó hậu cần cũng có chút bổng lộc!

Sáng Ba Mươi Tết, lại gặp ngày tổ tôi trực lán, tôi và một số bạn bị chỉ định xuống làm việc tăng cường cho Lán 9 nhà bếp. Tôi phụ việc vo gạo cho thằng Niếu và anh Cung. Những tạ gạo đựng trong bao viền chỉ xanh rất cũ được chuyển về từ bưng biền. Gạo thì mốc vàng, mốc xanh.

Những tổ sâu gạo to như nắm tay. Khi tôi tách những cái tổ sâu ra từng phần nhỏ thì những con sâu gạo trắng ngần có khoang, béo núc, to gần bằng đầu đũa và dài cả phân, ngo ngoe, ngo ngoe…

Anh Cung không cho phép tôi vứt bỏ những cái tổ sâu ấy, anh nói rằng nếu vứt bỏ sâu đi thì hết gạo, “Nếu vứt sâu đi thì còn cái gì mà ăn? Cứ nấu tưới đi! Sâu cũng bổ béo, cũng nhiều Prồ-tê-in, sâu gạo chứ có phải là dòi ở ngoài chuồng xí đâu mà ngán!”

Khi chảo cơm bắt đầu sôi thì nhiều khách khất thực nước cơm đã cầm ca đứng đợi. Anh Cung cho vài người, mà cũng từ chối đôi người. Người có phần, thì riu ríu cám ơn, người không có phần tiu nghỉu ra về, miệng lầm bầm, “Ð! M!… Ð!M!..”

Những trại viên nhà bếp gọi đám người chờ xin nước cơm là “Ðội quân cầm ca.” Chữ “cầm ca” ở đây không có nghĩa là ca sĩ, ca hát, hay ca kỹ mà có nghĩa đen chỉ sự cầm cái ca U.S dùng để đựng nước uống, cái ca nằm dưới cái bi-đông bộ binh ấy mà!

Dân “cầm ca” phải đứng xếp hàng cả giờ đồng hồ trước cửa lò cơm để chờ xin một ly nước cơm. Nước cơm có Vitamin B1 chữa được bệnh phù thủng (?) Chuyện xếp hàng trước, xếp hàng sau, đôi lúc cũng gây ra ẩu đả.

Sau này, khi ở trại tù Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên, tôi có đọc một tài liệu nói về cái chất độc của nấm cúc vàng từ gạo mục, gạo mốc. Nấm cúc vàng có chứa một loại chất độc nguyên nhân gây ung thư gan. Nước cơm lại là phần đậm đặc nhất của chất độc nấm cúc vàng từ gạo mốc. Không biết có bao nhiêu nạn nhân của bệnh xơ gan sau này có mặt trong đội quân “cầm ca” ngày ấy?

Chiều Ba Mươi Tết, bữa ăn có thịt heo kho. Thằng Niếu đem thêm về cả phần lòng heo bồi dưỡng nhà bếp của nó.

Thời buổi khó khăn, thuốc lá bắt đầu khan, những tay nghiền miền Nam bắt đầu nói chuyện thuốc lào.

Những danh từ “điếu cày,” “điếu bát,” “Cái Sắn,” “Hố Nai,” “Vĩnh Phúc,” “Tiên Lãng” nghe mãi cũng quen tai.

Anh Hoàng Kim Thanh, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân của tôi, từ bên K4 nhờ ai đó chuyển cho tôi được một bao thuốc lá 555 và một lạng cà phê.

Trong khi thằng Niếu và anh Cảnh lo bếp núc cúng Tất Niên thì tôi đi vòng vòng tán dóc với anh bạn Lưu Văn Ngọc, cựu Sĩ quan Quân Pháp Quân Ðoàn II.

o O o

Tối Ba Mươi Tết ở K3 Suối Máu không khí thật là rộn rã tưng bừng. Mọi lán đều đã chuẩn bị sẵn sàng chương trình văn nghệ chào đón Chúa Xuân. Sân khấu văn nghệ được thiết lập giữa sân tập họp. Ðèn điện sáng choang. Cờ Mặt Trận Giải- Phóng Miền- Nam che kín cả sân khấu.

Trước giờ văn nghệ, loa phóng thanh truyền đi những bản nhạc từ đài Sài- Gòn Giải- Phóng mà Tô Lan Phương là giọng ca chính. Những nghệ sĩ tù cũng ăn mặc tươm tất để sẵn sàng trình diễn giúp vui. Ðàn ghi-ta, trống, sáo đều làm bằng vật liệu lấy từ kho của nhà bếp như tôle, củi, ván gỗ…các nghệ nhân tự đẽo gọt, cắt xén, dán, ghép thành các nhạc cụ.

Tám giờ tối, buổi “Liên hoan văn nghệ” đêm Ba Mươi Tết bắt đầu.

Mở màn chương trình là bài đồng ca “Như có Bác” tôi không nhớ do lán nào trình diễn.

Kế tiếp, cựu Thiếu tá Không Quân Hoàng Ðình Ngoạn (K17 VB) lên đài trong tiếng hoan hô vỗ tay của “đồng bọn” tù Võ Bị.

Anh vừa hát được nửa bài tình ca, nhạc vàng “Mùa Xuân Trên Ðỉnh Bình Yên” thì bị cán bộ Cộng-Sản  chặn lại, đuổi xuống đài. Lý do, “Nhạc Ngụy ủy mị!”

Sau đó, chỉ những bài hát “Giải Phóng” mới được phép trình diễn.

Trên sân khấu, tiếng sáo trúc Tô Kiều Ngân lâm ly bài “Mùa Xuân Trên Thành Phố HCM” hòa ca cùng tiếng sáo miệng của Nguyễn Tuyên Thùy. Tôi cũng nghe vọng lại từ các khu khác, đại để, bạn tù cũng chỉ hát những bài ca eo éo, nghe rợn tóc gáy, như “Cô Gái Vót Chông,” “Tiếng Ðàn Ta Lư,” “Năm Anh Em Trên Chiếc Xe Tăng” vân vân…

Khắp 6 khu của trại tù đều sáng rực ánh đèn và vang rền tiếng nhạc…

Năm mới đang từ từ tiến về…

Ðến khi màn trình diễn của Lán 24 vừa được giới thiệu, thì tôi bỏ chạy về lán. Tôi ngồi một mình trong cái nhà tôle vắng tanh. Nỗi đau đớn nhói tim tôi!

Ngoài kia, bạn cùng lán của tôi, không tự nguyện, đang phải đóng vai “Dân quân chống Tầu, chống Tây, chống Mỹ, chống Ngụy” trong một vở trường kịch. Khi họ tập bài bản trong lán, tôi biết họ cũng đau lòng lắm.

Bạn Võ Bị của tôi, Tạ Mạnh Huy vì là Tây lai phải đóng giả làm Tây cho người ta trói. Thằng Niếu phải đóng vai “Biệt Ðộng Quân Ngụy” giơ tay đầu hàng để anh Dương người Bắc, đóng vai bô lão nông dân Việt Nam “đả đảo”. Mỗi lần tập xong, các bạn tôi đều buồn, họ đề nghị anh lán trưởng Trần Thành Trai cho tập một kịch bản lịch sử “Vua Quang Trung diệt quân Thanh” nhưng anh lán trưởng không đồng ý.

Anh Trai nói, “Ban chỉ huy trại đã ra lệnh” cho anh phải thực hiện cho được trường kịch này để mừng Giao Thừa, vì nó có tính cách “Lô gích lịch sử” (?)

Và đêm ấy, anh đội trưởng Trần Thành Trai đã thực hiện thành công xuất sắc vở trường kịch “Việt Nam 4000 năm anh hùng.”

Ngay sau khi bế mạc buổi văn nghệ mừng Xuân Bính Thìn, mùa Xuân đầu tiên của nước “Việt Nam Thống Nhất” cũng là  mùa Xuân đầu tiên quân và dân Miền Nam mất nước, anh đội trưởng Trần Thành Trai đã được ban chỉ huy trại “tuyên dương công lao” trước trại.

Khi trên sân khấu người diễn kịch bắt đầu hát bài “Tiến Quân Ca” thì tôi bật khóc.

Một mình, ngồi trong đêm tối, tôi nức nở khóc vùi. Tôi chưa bao giờ thấy cái khóc lại có hiệu lực chữa đau đớn hiệu nghiệm như đêm ấy!

Chợt tôi nghe tiếng chân ai ngoài cửa lán. Rồi tiếng lên đạn súng AK…

Thình lình, tia đèn pin chiếu ngay mặt tôi, làm mắt tôi chói lóa.

“Anh kia! làm gì ngồi khóc đấy? Sao không đi “rự nễ” mừng Xuân?”

Tên bộ đội đi tuần tra lớn tiếng hỏi.

Tôi lấy tay che mắt, nhưng không nhìn thấy gì. Tôi lặng thinh. Tiếng quát lại tiếp:

“Anh có mồm không thì bảo? Câm à? Sao không giả nhời tôi?”

Tôi vẫn ngồi im. Ánh đèn đảo một vòng quanh vách lán rồi tắt. Căn phòng tối om. Tôi nghe tiếng chửi:

“Ðịt mẹ thằng câm! Mới xa nhà có mấy tháng mà đã nhớ nhà phải khóc. Ông đây xa nhà hai ‘lăm’ rồi mà ông có khóc đâu! Ðồ không biết xấu hổ!”

Tôi vẫn lặng thinh.

“Rầm!” Tên bộ đội giận dữ, đóng sập cửa lán.

“Chảng!” Nó còn bồi thêm một cái đá cật lực vào vách tôle.

Vài giây sau, tôi nghe tiếng dép râu bước đi xa dần về hướng sân. Tôi nhìn đồng hồ tay (ngày đó chưa có lệnh thu giữ tư trang của tù) đúng lúc này hai cái kim lân tinh vừa chập nhau trên số 12: Giao Thừa!

Ngoài sân tiếng ca hát còn đang tiếp tục. Tôi mồi một điếu thuốc 555. Trong trí óc tôi, hình ảnh những Giao Thừa đã qua trong đời hiện về, mờ nhạt như từ thế giới nào rất xa…

Ngày xưa, mỗi độ Giao Thừa, cho dù lúc đó tôi đang đi hành quân với một toán Biên Vụ (Viễn Thám) quân số chỉ có 6 người, lần mò trên những nhánh của hệ thống “Ðường mòn Hồ Chí Minh” trên đất Lào, hoặc len lỏi trong rừng tre gai Plei-Trap Valley, hay lúc tôi đang chỉ huy cả năm trăm, sáu trăm quân trấn giữ Pleime, hoặc ải địa đầu Bu-Prang miền biên giới Việt Miên, tôi không lần nào quên nghe chương trình Giao Thừa của Ðài Phát Thanh Quân-Ðội.

Giao Thừa Xuân Bính-Thìn là Giao Thừa đầu tiên trong đời, tôi không tìm thấy lá cờ nước tôi, không nghe được câu hát: “Này công dân ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi…”

Bài quốc ca này đã đi vào lịch sử. Một thế hệ đã hát nó với cả bầu máu nóng trong tim. Bao nhiêu người thân của tôi, bao nhiêu bạn bè của tôi đã cống hiến tuổi trẻ và cả thân xác mình cho bài ca đó. Một thế hệ đã lớn lên thành người với bài ca đó. Một thế hệ sẽ mang nó theo, xuống tuyền đài…

Chợt tiếng anh lán trưởng Trần Thành Trai vọng lại trên loa phóng thanh:

“Ðổi đời đã tới! Cách Mạng đã thành công!”

Tiếng hô lặp lại hai chữ “Thành công!” của trại viên vang dội đêm Trừ Tịch. Tôi cảm thấy tiếng hoan hô đã làm rung những tấm tôle trên mái.

Trời đêm Trừ Tịch tối đen.

Tôi không biết những vạt đen ẩn hiện sau hè, là bóng những bụi rau dền, giàn mùng tơi hay những hồn ma đói cuối năm chập chờn.

Ngoài xa vẳng lại, từ bên K4, ai đó bắt đầu hát bài “Lá Ðỏ”…

o O o

Vài năm sau, tôi nghe tin, cựu Y sĩ Thiếu tá Trần Thành Trai của quân y viện Duy-Tân, Ðà-Nẵng, đã được tha khỏi trại cải tạo. Bác sĩ Trai đã cùng Bác sĩ Trần Ðông A, cựu Y sĩ Thiếu tá Nhảy Dù, nổi tiếng sau những ca mổ tách rời trẻ song sinh ở Sài-Gòn. Tôi cũng đã nghe tin, giờ này, Bác sĩ Trai đang là một “Dân biểu” của Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ Nghĩa Việt-Nam.

Nhân ngày đầu Xuân Ất Dậu (2005), tôi nhớ lại chuyện xưa, ba mươi năm trước. Nhớ những bạn Võ-Bị, cựu tù Lán 24 Suối Máu, Tam- Hiệp, Biên- Hòa.

Trong số những người bạn đó, thì hai người đã qua đời, là Hoàng Thế Bình và Ngô Văn Niếu. Còn những bạn khác như Dương, Lành, và Huy thì đang ở Mỹ, không rõ họ có còn nhớ chuyện ngày xưa hay không?

Riêng tôi, cái đêm Giao Thừa ba mươi năm trước ấy đã trở thành không thể nào quên, vì đó là lần đầu trong đời, tôi đón năm mới với thân phận một người tù mất nước…!!!

VML – K20 – Lập Xuân 2005 Vương Mộng Long

Đường Lên HIÊN, Lên GIÀNG

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 3 Sep 2023

Gia đình tôi dọn về khu chùa Âm-Bổn, Hội-An khi tôi học xong Đệ Lục trung học Trần Quý Cáp.  Tôi có bốn người bạn thân, Trần ngọc Lợi, Lê văn Bảy, Ngô Rân, và Lê hữu Mục.  Năm đứa chúng tôi chơi với nhau từ Đệ Thất.  Tối tối chúng tôi tụ họp trên lề xi măng sát bờ sông Thu-Bồn, trên đường Bạch-Đằng, đối diện với nhà bác Trần ngọc Mai, thân sinh của anh Trần ngọc Lợi.  Chúng tôi tâm sự, chuyện vãn, học bài dưới ánh điện đường.  Đôi khi cao hứng, chúng tôi ngâm nga những bài thơ vừa học trong giờ giảng văn, thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tản Đà, thơ Xuân Diệu…vân vân.  Thời cụ Diệm, đất nước thanh bình.  Nhà, phố, ban đêm không cần khóa cửa.  Tuổi trẻ hồn nhiên.  Tâm hồn tôi thơ thới.  Đời tôi chưa vướng chút âu lo gì về hòa bình hay chiến tranh.  Có khi, Thứ Bảy, tôi và bạn quây quần bên nhau cho tới nửa đêm mới chia tay, ai về nhà nấy.  Trừ những ngày nước lũ, mùa dông, dòng Thu-Bồn lúc nào cũng mờ mờ hơi khói sương, đầy nét mơ màng.  Dòng sông ấy là một trong những dòng sông tôi yêu quý nhứt.  Lớn lên, tôi sống xa Hội-An, nhưng mỗi khi có dịp ghé về, tôi thường lang thang nhiều giờ, bên bờ sông, nhìn những con đò ngang, đò dọc, nhìn bèo trôi, mây bay…

       Lên tới Đệ Ngũ, bạn bè tôi phần nhiều, đã biết yêu.  Thư qua, thư lại giữa các cặp tình nhân trao đổi ngay trước mắt tôi, hằng ngày, trong lớp.  Những mối tình đầu ở thành phố Fai-Foo cổ lỗ, nhỏ bé này cũng thường bị nhiều kẻ xâm lăng đe dọa.  Trước khi có lệnh động viên vì tình hình đất nước lâm nguy, thày giáo là địch thủ đáng gờm nhất của những chàng học trò đang yêu.  Lớp tôi có chị Tô thị Vân, Bắc-Kỳ, tóc dài.  Nhà chị Vân ở gần giếng Bá-Lễ.  Ngõ vào giếng, có cây hoa mộc lan; đêm đêm, mộc lan tỏa hương, thơm ngát một vùng.  Tết Trung-Thu hàng năm, chị Vân và em gái chị là Tô thị Lan được chọn đóng vai Hai Bà Trưng, ngồi trên xe hoa diễn hành.  Năm chúng tôi lên Đệ Tứ thì thày Huy dạy Quốc-Văn làm giáo sư hướng dẫn.  Thày Huy mê chị Tô thị Vân ra mặt.  Dù chị Vân không ưa gì thày Huy, nhưng những người đang theo đuổi chị Vân như anh Bảy, anh Rân, đều ghét thày cay đắng.  Những lúc thày ấp cái hình Hai Bà Trưng (Vân, Lan) vào ngực, đôi mắt hiu hiu, thì bọn bạn tôi ức lắm, họ chỉ muốn…. thoi cho thày vài thoi.

       Nhưng, xem chừng như nhiều cô nữ sinh trường tôi cũng thích nâng khăn sửa túi cho các giáo sư.  Con đường Hoàng-Diệu chỉ dài khoảng hai trăm thước, mà cũng có cả tá nam sinh ôm hận, bỏ ăn, bỏ học, ngẩn ngơ khi cô nữ sinh xinh đẹp, con gái quan phó tỉnh lên xe hoa về nhà… thày.

       Bạn tôi, có đứa đã trải qua vài trận thất tình.  Người thất tình thường hay làm thơ buồn day, buồn dứt.  Hình như người thất tình dễ trở thành thi sĩ lắm!  Thi sĩ nào cũng biết hút thuốc lá.  Khói thuốc làm cho thi nhân có hứng để viết.  Thuốc Cotab thơm ngon hơn Ruby nhiều, nhưng đắt lắm, chỉ có thày giáo mới hút Cotab.  Còn học sinh chỉ dám rít Ruby, hợp với túi tiền.  Ba đồng, bốn điếu Ruby.  Buổi đó chưa có Ruby Quân-Tiếp-Vụ loại bao in hình anh Chiến Sĩ Cộng-Hoà chân co, chân duỗi.  Mới chỉ có Ruby loại bao màu hồng, có hình những đồng tiền vàng dính nhau.  Khói Ruby vào phổi làm cho tâm hồn ta dạt dào, lâng lâng, ngẩn ngơ.  Trong sân trường tôi, thi sĩ lềnh bềnh, phiêu dạt đầy sân…Những tập thơ bằng giấy “pơ lua pho” với chữ viết bằng ngòi bút “rông” được chuyền tay, nâng niu như trứng.  Trong số những công tử mới tập tành phun châu, nhả ngọc thời ấy, có vài vị sau này trở thành thi sĩ thực thụ như (Huỳnh) Hoàng Quy, Thái tú Hạp, Phùng Tiến…

       Tôi chưa biết thất tình là gì nhưng cũng cố theo kịp bạn bè, bắt đầu tập tành hút thuốc lá.  Dù bị mẹ tôi cấm đoán, đôi lúc, tôi vẫn lén mua vài điếu Ruby lẻ, kiếm nơi thanh tịnh, ngồi hút một mình.  Tôi không biết cách ém khói, rồi để khói phì ra đàng mũi, hay nhả khói thành vòng tròn, như những tay lão luyện.  Tôi hớp từng ngụm khói vào mồm, rồi thở ra bằng mồm.  Tuổi tôi lúc đó làm gì có nhiều kinh nghiệm sống để mà viết lên cho thành truyện?  Tôi đành tưởng tượng.  Cứ ngồi một mình, cho trí tưởng tượng phiêu du theo khói thuốc, thế là có bao nhiêu đề tài để viết.  Mỗi khi làm được bài thơ nào ưng ý, tôi thường lấy phấn đủ màu mè ngũ sắc “yết” nó lên cái bảng đen giữa lớp để chia sẻ công trình của mình với bạn bè.  Vài tháng một lần, tôi và mấy người bạn cùng lớp, “xuất bản” một tập thơ viết tay trên giấy “pơ lua”, chỉ để tặng, không bán (vì có ai mà thèm mua!)  Chúng tôi sưu tầm những bài thơ hay trên các nguyệt san, đặc san, rồi sao chép lại thành tuyển tập chuyền tay nhau.  Một hôm, tôi vớ được “Paris Có Gì Lạ Không Em” của Nguyên Sa, tôi viết nó lên bảng cho bạn bè thưởng lãm.  Ai cũng khen thơ ông này có cái phong thái mới lạ, dễ thương…

       Thường thì, khi mê thơ của ai, tôi hay tò mò tìm hiểu xem người thơ ấy sống cuộc đời thường ra sao?  Ngày đó tôi mê thơ Thái Can.  Vì thế, lúc rảnh rang, tôi hay đạp xe qua phố Nguyễn thái Học.  Đường Nguyễn thái Học có nhà của Bác sĩ Thái Can.  Bác sĩ Thái Can chính là tác giả bài thơ bất hủ “Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về”.   Bác Can cũng là thân sinh của chị Thái thị Mai và anh Thái Thanh, bạn học (Đệ Tứ 1) ngang lớp với tôi trong trường Trần Quý Cáp.  Xe đi ngang nhà Bác sĩ Thái Can thế nào tôi cũng nghển cổ nhìn vào, quan sát.  Đã nhiều lần bác Can bắt quả tang đôi mắt láo liên, dớn dác của tôi, khiến tôi đỏ mặt.  Tôi phải ra sức gò lưng, đạp cho xe lướt nhanh.  Chắc bác tưởng tôi bắng nhắng lạng xe trước nhà bác chỉ vì nhan sắc của cô con gái cưng của bác?  Thực tình, tôi không nghển cổ kiếm hình bóng chị Mai đâu, mà tôi dòm xem bác Thái Can vui hay buồn?  Tôi cứ thắc mắc rằng, bị một trận tình, thua thất điên bát đảo như thế, chắc tim bác phải ê ẩm, rầu rĩ, lâu lắm?  Lời thơ của bác buồn ghê…

“Anh biết em đi chẳng trở về!
Dặm ngàn liễu rũ với sương che.
Thôi đừng quay lại nhìn anh nữa. 
Anh biết em đi chẳng trở về!”
                  (Thơ Thái Can)

       Bạn cùng lớp tôi ai cũng rõ tôi là “Công-Tử Nhất-Bộ” vì mỗi năm, tôi chỉ có một bộ đồng phục.  Tôi may bộ đồng phục đó sau khi lãnh học bổng mỗi cuối niên khóa.  Một cái sơ-mi trắng và một cái quần xanh.  Tôi mặc đồng phục đi học.  Về tới nhà, tôi thay quần áo ra, đem giặt.  Khi ở nhà hoặc đi kèm trẻ, tôi mặc quần áo nhà binh, vừa rẻ, vừa bền.  Mờ sáng, đi gánh nước, tôi cởi trần, mặc quần dài xăn tới đầu gối.  Đoạn đường từ nhà tôi tới giếng nước nhà cô Cư, đèn đường mờ mờ.  Lịch tập thể dục hàng tuần của trường Trần Quý Cáp chia ra, học trò con trai tập thể dục vào những ngày chẵn, Thứ Hai, Tư, Sáu. Học trò con gái tập thể dục vào những ngày lẻ, Thứ Ba, Năm, Bảy.  Bạn gái cùng lớp tôi, đi tập thể dục, thường xuyên đụng đầu một “thi nhân” đang hùng hục leo dốc với hai thùng nước đầy, đung đưa bên hông.  Bọn nữ tặc túm năm, tụm ba, chặn đường tôi, réo gọi om xòm, “Anh Vọi ơi! Anh Vọi ơi!  Dừng chân cho chúng em tỏ một đôi lời đi!… Anh Vọi ơi!”  Tiếng chúng nó the thé vang vang trong phố.  Cường độ âm thanh tiếng réo của bọn yêu tinh ấy chắc cũng cao cỡ vài trăm decibels, làm cho những trái sung trên cây, trong vườn, sau chùa Âm-Bổn rơi lộp độp.  Bạn bè trong lớp thường gọi tôi là anh Vọi. 

       Số là, trong chương trình Quốc-Văn lớp Đệ-Lục do cô Bạch Vân dạy, mỗi đứa trong lớp tôi phải chọn thuyết trình một tác phẩm của Tự- Lực Văn- Đoàn.  Tôi đã chọn tiểu thuyết “Trống Mái” của Khái Hưng.  Vọi là tên một anh dân chài khù khờ, nhân vật chính trong “Trống Mái”.  Vì tôi cũng có vẻ khù khờ như Vọi, nên sau buổi thuyết trình, tôi mang thêm một cái tên nữa là anh Vọi.  Gặp nhau, thay vì kêu tên tôi, bạn tôi cứ, “Anh Vọi ơi!… Anh Vọi ơi!”  Thét rồi, cái tên “Anh Vọi” thành quen.  Ngày tháng thoi đưa, chúng tôi lớn lên lúc nào không nhớ rõ… Trong lớp tôi, cũng có đôi người thầm thương anh Vọi.  Mãi sau này tôi mới biết.

       Một hôm, Đệ Tứ, gần vào hè, giờ ra chơi, tôi và vài anh bạn ra khu tập thể dục quay xà ngang.  Áo tôi bị quấn vào xà, xẻ dọc.  Mấy cô bạn gái xúm vào vá víu áo tôi.  Vá giùm áo tôi xong, bạn đã tan hàng, riêng một nàng chần chờ không chịu rời gót.  Cô ấy tên Thu-Cúc.  Phạm thị Thu-Cúc tuổi Mùi, người Vĩnh-Điện, trọ học ở nhà bà con, gần Chùa Cầu.  Thu-Cúc tóc thề ngang vai, trắng trẻo, dễ thương, nhưng hơi đẫy đà.  Tôi hỏi Cúc:

       – Ủa!  Mọi người đi hết rồi, Cúc còn đứng đây làm gì?  Cúc đỏ mặt lí nhí hỏi lại:

       – Áo Long bị rách, về nhà có bị mẹ la rầy không? Tôi cảm động:

       – Chắc không đâu!  Cũng gần hè rồi, mặc cái áo này vài tuần nữa, nghỉ học, lãnh học bổng xong là Long có áo mới liền!  Thấy xung quanh không có ai, Cúc bạo dạn hỏi tôi:

       – Cúc có chuyện riêng muốn nói, Long có nghe không?  Tôi ngạc nhiên nhưng trả lời ngay:

       – Ừ! Cúc muốn gì cứ nói đi!  Cúc tuôn ra một tràng mà tôi không ngờ:

       – Cúc thương Long, Long có thương Cúc không?  Có người đi dạm hỏi Cúc đấy!  Nếu Long không thương Cúc thì Cúc về quê lấy chồng!  Tôi điếng người.  Người ta nói con gái Quảng thật thà, bạo dạn, nồng nàn, quả đúng!  Tôi nhìn bạn:

       – Thực ra, cho tới giờ này Long cũng chưa rõ mình đã yêu ai hay chưa!  Long coi Cúc là bạn thôi.  Nếu có người thương Cúc, hỏi cưới Cúc, thì Cúc về lấy chồng đi!  Tôi thấy đôi mi Thu Cúc sụp xuống, vài giây sau đôi mắt ấy ngước lên nhìn tôi u uẩn:

       – Dù sao Cúc cũng phải nói cho bạn rõ rằng, gần ba năm nay có một người con gái đã yêu bạn vô cùng…thôi nhé ngày mai … Cúc sẽ về quê…

       Bạn tôi nhanh chân trở gót vào lớp.  Tôi thấy tay nàng đưa lên quệt nước mắt.  Đôi chân nàng như díu vào nhau…  Hôm sau Thu Cúc không tới trường.  Mọi người không rõ nguyên do vì sao cái máy thuộc bài ấy lại vắng mặt ngày thi Vạn-Vật đệ nhị lục cá nguyệt.  Cuối niên khóa, bạn bè trong lớp Đệ Tứ 3 kháo nhau chuyện Thu Cúc về quê, lấy chồng…  Sắp lên đệ nhị cấp, lòng tôi cảm thấy lo lắng bâng khuâng.   Chúng tôi đã chuẩn bị kỹ và đã chọn lựa xong con đường khoa bảng tương lai. Những người bạn thân chia tay nhau nơi ngã ba phân ban (A,B,C) của hệ thống giáo dục đương thời.  Ba con đường dẫn tới ba cái bệ phóng vào đời khác nhau.  Tôi sẽ lên Đệ Tam ban Toán (B).  Những người quen trong lớp, như chị Tô thị Vân, theo ban Vạn-Vật (A), anh Phùng Tiến theo ban Văn-Chương (C).  Bốn anh bạn thân của tôi không có ai chịu dấn thêm bước nữa.  Anh Bảy thi đậu vào trường Sư-Phạm Tiểu Học.  Anh Rân và anh Mục đứng lại nơi ngã ba, học Đệ Tứ thêm năm nữa.  Riêng anh Lợi thì nghỉ học để lấy vợ.  Không biết anh Trần ngọc Lợi và chị Ngô thị Xuân Lan tí toáy làm sao mà chị Xuân Lan có bầu.  Chị Lan đi sanh trước ngày chúng tôi đi thi Trung Học Đệ Nhứt Cấp vài tuần.

       -Tôi có hẹn với Nguyễn Nhị (anh bạn quê quán ở Nông-Sơn) rằng, sau khi thi trung học, tôi sẽ lên nhà anh, cùng anh mượn cái trường tiểu học của xã để dạy hè, kiếm chút tiền còm.  Trong hành trang, ngoài sách vở, quần áo, tôi còn mang theo những tập thơ chép tay của tôi và những bạn đồng học khác.  Nông-Sơn trùng điệp núi đồi.  Mặt đất khu nhà máy và mỏ than thì màu đen.  Những ngọn đồi khác vây quanh toàn là rừng thưa và cỏ tranh chen lẫn nhau.  Dưới thung lũng là những khe ruộng lúa mùa và những cánh đồng mía.  Mía đang lên cờ.  Gió lượn quanh khe, làm rạp những ngọn cờ mía.  Gió vô hình, vậy mà tôi có cảm tưởng rằng mình đã nhìn thấy gió đang “đi” trong thung lũng.  Gió đi từ ruộng mía, lên đồi tranh, rồi gió trốn vào rừng.  Ngôi trường làng bé tí teo.  Học trò tới trường, có em chỉ bận trên mình cái quần xà-lỏn.  Mỗi em hình như chỉ có một tập vở bẩn thỉu, góc tập bị cuốn cong veo.  Tôi bùi ngùi tự nhủ thầm rằng, tuổi thơ của tôi, về phần vật chất, còn sáng sủa hơn tuổi thơ của những em bé này.  Buổi chiều không có lớp; học trò mắc đi kiếm củi, giữ trâu, mò cua, trong lạch.  Hoàng hôn, tôi thường tản bộ ra ngồi bên ghềnh đá. Đây là đầu nguồn của sông Thu-Bồn.  Dòng nước uốn khúc quanh chân núi Chúa. Dưới thung lũng, trong ruộng bùn, những con trâu đang thoải mái nằm dầm mình nghỉ ngơi.  Chiều hè, sương trắng rơi từ từ trên rừng xanh.  Gió nhè nhẹ đưa những sợi mây mỏng như tơ bay về cuối trời.  Tôi lần dở những tập thơ viết tay trên giấy pơ-lua và trên tập vở, lòng chợt buồn vô cớ.  Tuổi thanh niên, mà sao có những lúc tôi thấy lòng trống vắng quá?  Tôi bâng khuâng nghĩ về tương lai, mà không biết tương lai mình sẽ ra sao…

       Ở Nông-Sơn được một tuần lễ, thì chị Quá và chị Thảo (bị ở lại Đệ Tứ) nhắn tôi về gấp để kèm toán cho họ luyện thi trung học.  Tiền công hai chị hứa trả cho tôi cao hơn nhiều so với số tiền sẽ nhận được do dạy học ở Nông-Sơn.  Thực tình, tôi không muốn rời Nông-Sơn.  Nơi đây xa hẳn phố phường phồn hoa, tục lụy.  Cảnh ở đây như cảnh tiên.  Người ở đây tuy nghèo nhưng rất hiền hoà, hiếu khách.  Tôi không muốn chia tay những đứa học trò nhỏ của tôi, những bé quê chăn bò, mót củi, thực thà, dễ thương.  Nhưng tôi chợt nghĩ tới niên học sắp đến. Chính phủ sẽ không trợ cấp học bổng cho học sinh đệ nhị cấp. Tôi rất cần tiền để mua sách vở, áo quần, giày vớ.  Tôi buồn rầu lên xe đạp rời núi Chúa.

       Vào năm Đệ Tam, vì không còn học bổng, trong niên khoá, tôi phải đi dạy kèm buổi tối.  Học trò của tôi là hai bé trai tiểu học, em của chị Thảo.  Cuộc sống của gia đình tôi khá hơn, vì mỗi tháng tôi kiếm thêm được ba trăm đồng.  Nhưng công việc học hành của tôi lại bận bịu hơn.  Tôi phải chăm chỉ hơn, vì lệnh động viên đã bắt đầu.  Chậm chân rớt lại đàng sau, có thể bị gọi đi lớp hạ sĩ quan.  Đối với vấn đề văn nghệ, văn gừng, thơ phú, tôi cũng thờ ơ.  Thời gian này tôi không có bạn gái, vì không có nữ sinh nào theo phân ban Toán (B).  Nhiều lần áo tôi rách bươm, không người vá giùm.

       Suốt mùa hè cuối năm Đệ Tam tôi kèm Toán, Lý, Hóa cho hai chị em con nhà giàu ở đường Cường-Để.  Cô chị tên là Tuyết Huệ đã có bồ là anh Tung, con trai ông trưởng ty Thú Y.  Anh Tung học ngang lớp với tôi.  Cô em tên là Thục Anh.  Hai chị em nhà này tính tình trái ngược hẳn nhau.  Tuyết Huệ lúc nào dáng dấp cũng đượm buồn.  Thục Anh thì vui tươi, nói cười như con sáo suốt ngày.  Thục Anh học nhanh hơn Tuyết Huệ.  Bạn bè tôi thấy tôi có hai cô học trò xinh đẹp, lại con nhà giàu, họ thường nói bóng gió để ghẹo tôi, “Mi đúng là chuột sa hũ nếp!”  Thuở đó, ở Hội-An, chuyện gia sư thương học trò, học trò thương gia sư, không có gì là lạ.  Đôi lần cuối giờ học, khi Thục Anh tiễn tôi ra cửa, tôi thấy có những cặp mắt tò mò của xóm giềng theo dõi.  Tôi cũng thấy những cái nguýt dài, đuôi mắt đắng cay, của chị em nhà bên kia đường đối diện.  Tôi thì cứ ngơ ngơ chẳng có ý thương ai.  Anh Vọi chỉ mong dạy cho xong bài, chiều về rủ anh Sếu Vườn hàng xóm là Doãn thiện Niệm, phóng xe đạp xuống đập Phước-Trạch câu cá.  Gần năm mươi năm sau (2006), cô học trò ngày xưa, từ Oakland (CA) gọi điện thoại cho anh gia sư đang ở Seattle (WA), giọng Thục Anh vẫn liến thoắng, trách móc, “Ngày đó anh bỏ Hội-An, anh lên Pleiku. Anh mê ’em Pleiku má đỏ môi hồng’ anh quên Hội-An”  Tôi chợt chạnh lòng, bâng khuâng…

       Rồi ba năm vất vả, bù đầu, bù cổ cũng qua.  Xong cái bằng Tú Tài 2, tôi nhờ anh bạn Hồ Hùng giới thiệu với người anh của anh ta là hiệu trưởng một trường bán công ở Điện-Bàn.  Ông ta thuê tôi dạy giờ môn Toán những lớp nhỏ đệ nhứt cấp.  Người ta nói rằng, nếu làm thày giáo, có thể xin hoãn dịch.  Thời gian này chiến tranh đã bắt đầu nhen nhúm ở đâu đó, xa xa…  Tôi mới mở hàng nghề gõ đầu trẻ được một tuần lễ thì bọn bạn cùng lớp tôi ùn ùn kéo nhau ra Huế thi vào Đại-Học Y-Khoa.  Học ngành này cũng được hoãn dịch.  Tôi bỏ dạy học, theo chân tụi bạn đâm đơn xin học nghề thày thuốc.  Tôi được chấm đủ điểm theo học lớp Dự-Bị Y-Khoa năm ấy.  Trước khi vào trường để học cái nghề bác sĩ “hái ra tiền”, tôi phải lo cho cái dạ dày trước đã. 

       Thế là, suốt một tháng mùa hè nắng cháy, tôi lang thang trong đường phố Cố Đô, thăm dò những nhà cần người kèm trẻ, dạy giờ.  Mỏi chân, tôi dừng bên dòng An-Cựu, vớt nước sông ấp lên mặt cho mát.  Người ta thường hát, “An-Cựu nắng đục mưa trong” Thực tế hình như không đúng như vậy?  Hè đó, tôi đã ngồi trên bực thang bên bờ, soi bóng mình trong nước An-Cựu biết bao lần.  Tôi thấy nước trong veo, nhìn rõ tận đáy.  Dưới đáy nước, những con cá bống thệ to bằng ngón chân cái, bò từ từ trên nền cát.  Con bống quẫy đuôi.  Cái quẫy đuôi tạo nên những quầng cát cuộn, lập lờ, lấp lánh.  Trên mặt sông, từng cụm lục bình hoa tím lững thững trôi.  Trong lòng sông, in hình một bầu trời xanh, mây trắng dật dờ.  Nhãn hai bên đường đã có lồng.  Phượng nở hoa, ve sầu hát, chim hót, bướm bay.  Mùa hè, dưới nắng, nước An-Cựu trong vắt.  Tôi ở trọ tại số 1 đường Báo-Quốc.  Chùa Báo-Quốc nằm trên đỉnh đồi. Nhà tôi trọ ở dưới chân đồi, bên kia đường.  Đêm đêm nghe kinh kệ, chuông chùa; đôi lúc tôi đã có ý giã từ cuộc đời ô trọc, đi tu, để tìm đường cứu nhân độ thế…

       Tháng 9 năm 1963, một người bạn tôi đi khám sức khoẻ ở Quân Y Viện Duy-Tân, Đà -Nẵng.  Anh ta lo hoàn tất hồ sơ sức khoẻ để theo học khóa Sĩ Quan Hải-Quân.  Tôi theo bạn vào thăm Quân Y Viện.  Khi tôi đang lang thang quanh khu nhận bệnh thì một chiếc xe Jeep tải thương ào tới.  Bên hông xe có treo cái bánh sơ-cua vẽ hình đầu cọp nhe nanh.  Xe đậu trước cửa phòng nhận bệnh.  Trên băng-ca, một thương binh, đầu, mình băng kín.  Chiếc Jeep thứ hai, có cần câu máy truyền tin, bám đuôi sau xe thứ nhứt.  Một sĩ quan nhảy xuống.  Anh ta ôm xốc người thương binh, chạy ào vào phòng nhận bệnh.  Anh trung úy Biệt Động Quân hối hả, “Cấp cứu! Xin quý vị cứu giùm người lính này cho tôi!  Thủ tục nhập viện sẽ làm sau!  Mau lên!  Quý vị làm ơn!”  Cả phòng nhận bệnh nhốn nháo.  Bác sĩ, y tá, nhân viên cứu cấp, vội vã chuyển người thương binh sang xe đẩy, đưa anh vào phòng mổ.  Anh trung úy không được phép vào phòng giải phẫu.  Anh bồn chồn, đi loanh quanh bên cái xe Jeep.  Miệng anh bập bập điếu thuốc lá, khói phà liên hồi.  Một sĩ quan khác, một thiếu úy, trên ngực có huy hiệu hình con rắn leo trên cây kiếm chúi đầu xuống (quân y) ngồi chờ trước vô-lăng xe tải thương, dáng băn khoăn.  Tôi mon men làm quen:

       – Thiếu úy! Đánh nhau ở đâu vậy, thiếu úy?

       – Trên Giàng!  Cậu có nghe Hiên, Giàng không?  Trên núi, sát biên giới Lào.

       – Đánh lớn lắm hả thiếu úy?   Tôi tò mò hỏi thêm.

       – Cũng không lớn lắm.  Đại đội chạm đại đội.  Có điều là đụng địch trong rừng già, tản thương chậm trễ, khó khăn…

       – Bên mình bị thiệt hại có nặng không thiếu úy?

       – Thường thôi!  Một chết, năm bị thương.  Chỉ một ca này là nặng.

       – Ông trung úy kia làm chức vụ gì vậy hả thiếu úy?  Sao ổng có vẻ lo lắng cho anh lính bị thương quá vậy?

       – Trung úy đại đội trưởng đó!  Chúng tôi sống chết có nhau.  Anh binh nhì bị thương, ông trung úy lo lắng cũng là chuyện thường ngày ở đây thôi!  Khi nào cậu vào lính, có dịp ra chiến trường, cậu sẽ thấm cái tình “huynh đệ chi binh…”

       Suốt mấy ngày sau, trong đầu tôi cứ ám ảnh với khúc phim tản thương đầy xúc cảm trong quân y viện.  Không bút nào tả nổi vẻ đẹp vừa oai dũng, vừa cảm động của một sĩ quan hai tay ẵm một thuộc cấp bị thương ào vào phòng nhận bệnh.  Câu “Xin quý vị cứu giùm… Quý vị làm ơn!” cứ văng vẳng bên tai tôi.  Tiếng cầu xin của người chỉ huy ấy thống thiết như tiếng của một người mẹ.  Hoạt cảnh ngắn ngủi hôm đó đã khiến đời tôi thay đổi.

       Tuần sau tôi ra Đà-Nẵng, hướng về cầu Trịnh minh Thế, tìm phòng Tuyển-Mộ Nhập- Ngũ Quân-Đoàn 1.  Tôi xin cái đơn gia nhập Khóa 20 /Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam.  Từ đấy, tôi vẫn mê thơ Nguyễn Bính, Thái Can, Nguyên Sa, nhưng tôi hút thuốc lá Lucky và bắt đầu đọc “L’Art De Commander” và “Tôn Ngô Binh Pháp”.  Cũng từ đấy, tuổi thanh niên của tôi không còn những lúc thấy lòng mình trống vắng nữa.  Có cả trăm con đường trước mặt dẫn vào tương lai, nhưng tôi đã quyết định chọn con đường “lên Hiên, lên Giàng” để phục vụ quê hương.

       Đầu năm 1966 tôi về lại Hội-An.  Thành phố đã đổi thay nhiều.  Dinh cơ của Ty Cảnh-Sát Tỉnh và Quận Hiếu-Nhơn đã được xây dựng trên ngõ vào giếng, sau nhà cô Cư.  Biết tìm đâu dấu tích con đường mòn ngày xưa anh Vọi đi gánh nước sớm mai?  Tìm đâu những tiếng réo lanh lảnh của bọn nữ yêu tinh đi tập thể dục mỗi sáng tinh mơ ngày lẻ?  Có chăng, không đổi, là dòng Thu-Bồn, chiều chiều sương giăng, buồn muốn chết, “Yên ba sầu sát nhân” – (Bạch cư Dị)

       Đi ngang qua trường Trần Quý Cáp, tôi chợt nhớ, năm nào, trong một giờ giảng văn, thày Huy có nói “Thày đoán rằng, sau này em Vương mộng Long và em Phùng Tiến sẽ thành công trong nghề viết văn…”  Thày ơi!  Không phải vậy đâu!  Thực tế đã không diễn ra như thày từng tiên đoán!  Dòng đời không lững lờ như mặt nước Thu-Bồn lúc xuân về.  Bằng cớ là, thày đã cưới một cô không phải chị Tô thị Vân.  Bạn bè tôi, mỗi đứa đã đi mỗi phương.  Anh Lê hữu Mục đã lên tới cấp trung sĩ nhứt, đồn trú mãi trong vùng 3.  Anh trung sĩ Trần ngọc Lợi đã có thêm hai đứa con.  Anh giáo viên Lê văn Bảy qua đời vì bạo bệnh.  Anh Ngô Rân vừa nối nghiệp ông cụ thân sinh, thành ông Cảnh-Sát.  Tôi, anh Vọi Fai-Foo của trường trung học Trần Quý Cáp, đã trở thành một thiếu úy đại đội trưởng của Tiểu đoàn 11/ Biệt Động Quân.

       Sau những lần chạm địch ở Tháp Bằng-An, Ải-Vân, Trà-Đình, Bà-Rén, Hương-An, tôi theo xe tải thương tới Quân Y Viện Duy-Tân, gởi gấm những thuộc cấp bị thương của mình cho nhân viên phòng nhận bệnh.  Lâu dần, tôi thành người quen của phòng nhận bệnh.  Trong thời gian gần nửa năm, tôi đã hành quân qua nhiều thôn làng hẻo lánh triền sơn Trà-Kiệu, Thăng- Bình.  Tuy tôi chưa có dịp lên Hiên, lên Giàng, nhưng tôi đã biết thế nào là,”cái tình huynh đệ chi binh”.  Tôi đã hiểu lý do tại sao ngày đó, ông trung úy lo lắng bồn chồn, khi anh binh nhì thân mình đầy máu được đưa vào phòng mổ.  Cái tình huynh đệ chi binh ấy không bút giấy nào mô tả rõ ràng được. Chỉ biết rằng, thiếu nó, chúng tôi không sống được.  Cái tình ấy nặng và sâu không có gì so sánh nổi.  Nó là sợi giây vô hình cột buộc chúng tôi khắng khít với nhau, thượng cấp và thuộc cấp, thày và trò, anh và em.  Cái tình ấy không thể dùng tiền mà mua.  Không có nó, chúng tôi không còn là quân nhân…

       (Để nhớ về bạn bè của tôi ở trung học Trần Quý Cáp Hội-An, và những thuộc cấp của tôi trong binh chủng BĐQ QLVNCH).

Seattle, tháng 11 năm 2006

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 18 Aug 2023

Post by Sơn râu 3 Sep 2023

Kỳ 16

Hình như số tôi không có diễm phúc được ở gần vợ tôi vào những ngày nàng sinh con để có thể vuốt ve an ủi nàng những lúc nàng thấy cần tôi nhất.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhất thì tôi đang lặn lội trong rừng Plei Trap, Pleiku.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhì thì tôi bận khai thông Quốc Lộ 14 nối Pleiku với Kon Tum.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ ba cũng là ngày tôi suýt chết trong một trận đánh vô cùng ác liệt đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711. Trận chiến này đã cướp đi hàng trăm sinh mạng của cả hai bên tham chiến.

o O o

Vĩnh biệt

Cao Nguyên…

Sau khi Liên Tỉnh Lộ 8B được khai thông thì Ðại tá Từ Vấn thuyên chuyển, nhường chức Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cho Trung tá Hoàng Kim Thanh.

Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân tiếp tục tăng phái cho Tiểu Khu Quảng-Ðức.

Cuối năm 1974, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn ra đi, Quân Ðoàn II đặt dưới quyền của Thiếu tướng Phạm Văn Phú.

Giữa tháng Hai năm 1974 tôi có dịp ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II.

Ông Trịnh Tiếu đã mang cấp bậc đại tá từ vài tháng trước, người phụ tá cho ông Tiếu là Thiếu tá Hồ cũng đã lên trung tá. Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II hiện thời là Ðại tá Lê Khắc Lý.

Năm 1971 Ðại tá Lê Khắc Lý đã là Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2, tôi là một sĩ quan tham mưu dưới quyền ông.

Tháng 8 năm 1971, trong buổi họp từ biệt Biệt Ðộng Quân Vùng 2 để theo học lớp Cao Ðẳng Quốc Phòng, trước mặt các sĩ quan tham mưu của Biệt Ðộng Quân Vùng 2, Ðại tá Lê Khắc Lý đã nhắn nhủ tôi một câu mà tôi cứ nhớ hoài:

“Trước khi từ biệt, tôi chỉ khuyên Ðại úy Long một điều là, trên đời này muốn thành công phải biết nhún nhường. Không phải cấp chỉ huy nào cũng thích cái tính khí nông nổi và cương trực của Long đâu!”

Sau gần bốn năm cách xa, gặp lại người chỉ huy cũ tôi vui lắm. Tôi đã ngồi tâm sự với ông Lý gần nửa giờ rồi cáo lui. Trước lúc chia tay, Ðại tá Lý hỏi tôi,

– Sao Long không xin thuyên chuyển đi vùng khác? Cứ bám vào cái đất khỉ ho, cò gáy này mãi vậy?

Tôi trả lời,

– Tôi tính về Liên Ðoàn 6 với ông Tây, nhưng vì ông Tất cố tình lưu giữ nên tôi không đi nữa.

Ông Lý xua tay,

– Mình lo cái thân mình trước, đừng nể nang ai cả! Nếu có dịp đi khỏi Vùng 2 thì chớ bỏ qua! Ðừng lưu luyến cái xứ này!

Tôi không rõ khi nói ra câu đó Ðại tá Lý có ý gì, nhưng tôi cũng thấy lo.

Tôi đã phục vụ ở đơn vị tác chiến của Vùng 2 một thời gian gần mười năm.

Vì thế, tôi có dư điều kiện để xin đổi về Vùng 3, về các quân trường, về Bộ Tổng Tham Mưu hay về canh gác các Phủ, các Bộ ở Sài-Gòn.

Tôi cũng đã biết rõ, trong tương lai, tình hình Cao Nguyên sẽ càng ngày càng nguy kịch, nhưng tôi không nỡ bỏ Cao Nguyên mà đi.

Thế rồi, chưa tới một tháng sau ngày tôi ghé thăm quân đoàn thì Việt-Cộng đánh chiếm Ban Mê Thuột.

Trước khi Ban Mê Thuột bị tấn công, tôi đã xin đem quân về tử thủ thành phố này nhưng không được chấp thuận.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột bị tràn ngập, gia đình tôi và gia đình binh sĩ dưới quyền tôi rơi vào tay địch.

Hôm sau tôi tình nguyện đem quân về tái chiếm thành phố này, nhưng lời cầu xin của tôi bị gác ngoài tai.

Ban Mê Thuột thất thủ, kéo theo sự sụp đổ của Quân Ðoàn II, khiến cho hằng chục ngàn quân, dân của Cao Nguyên phải bỏ mạng một cách thật là oan uổng trên Liên Tỉnh Lộ 7B.

Ngày 15 tháng 3 năm 1975 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã bỏ chạy tới Nha-Trang.

Vậy mà gần nửa tháng sau tôi vẫn còn tả xung, hữu đột ở vùng biên giới Việt Miên, cách xa tỉnh lỵ Quảng-Ðức gần 30 cây số.

Trong cơn hoảng loạn cùng cực của Vùng 2, ông trung tá liên đoàn trưởng bị thương vừa lên máy bay rời vùng ngày hôm trước, thì hôm sau ông trung tá liên đoàn phó cũng đào ngũ.

Cuối cùng, tôi là người phải đứng ra đảm nhận vai trò chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, đơn vị cuối cùng còn tồn tại của Cao Nguyên.

Sau gần nửa tháng lui binh, vừa đói rét, vừa chiến đấu, ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi được Phi Ðoàn 237 Trực Thăng của Quân Khu 3 bốc về Long Khánh, đây cũng là ngày tôi vĩnh biệt Cao Nguyên.

Chiếc trực thăng Chinook nặng nề cất mình lên cao, lượn một vòng, rồi bay thẳng về hướng biển.

Ngồi trong lòng con tàu, tôi dõi mắt nhìn qua khung cửa mà thấy tim mình nhói đau.

Dưới kia, Quốc Lộ 20 ngoằn ngoèo uốn khúc qua Ðèo Chuối…

Ðèo Chuối nằm vắt ngang rặng núi cuối cùng của Cao Nguyên Trung Phần.

Bên kia núi là lãnh thổ của Vùng 3 Chiến Thuật.

Vậy là, chỉ hai năm sau ngày đình chiến, Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã không còn….

VML –

Seattle ngày 15 tháng 4 năm 2023

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3 Aug 2023

Post by Sơn râu 3 Sep 2023

Kỳ 15

Phái đoàn gồm có một đại tá, một trung tá và bốn thiếu tá. Mặt người nào cũng đăm chiêu, đằng đằng sát khí.

Tôi là thuyết trình viên, Trung úy Trần Dân Chủ, làm người chỉ bảng và cung cấp tang vật.

Trong mười phút, tôi tóm lược tình hình bạn địch cho phái đoàn, rồi đi vào chi tiết diễn tiến trận đánh ác liệt kéo dài suốt hai ngày, một đêm cho phái đoàn nghe. Tôi cũng đưa cho phái đoàn xem bức ảnh do Trung úy Chủ chụp được là một núi súng đủ loại của Việt-Cộng đã bị tịch thu ngày 14 tháng 4.

Sau đó tôi chỉ cho phái đoàn tận mắt quan sát một thủ pháo chứa hơi độc, một cái bao nhựa phòng hơi độc kèm theo hai ve thuốc giải độc mà địch đã bỏ lại trên trận địa.

Ngoài một vài quân nhân của Ðại Ðội 2/82 và 3/82 đứng ra kể lại những gì họ tham dự và chứng kiến, tôi cho phái đoàn tiếp xúc trực tiếp với hai nhân chứng đặc biệt là vợ chồng người lao công đào binh đã bị Việt-Cộng bắt sau khi tràn ngập 711.

Vợ chồng anh này đã bị Việt-Cộng trưng dụng để khiêng xác cán binh Cộng-Sản tử trận suốt một ngày một đêm.

Xác Việt-Cộng chết được đồng bọn kéo tới chân dốc Ðồi Tử Chiến, vợ chồng anh lao công này chỉ việc chất những cái xác đó lên xe. Ước tính họ đã chuyển vận trên 200 xác địch.

Tới khi máy bay lên vùng bắn phá thì họ vội vàng dắt nhau chạy trốn vào rừng rồi tìm đường về Pleime.

Hai ông đại tá và trung tá luân phiên đưa ra những thắc mắc và thẩm vấn nhân chứng, bốn ông thiếu tá thì chỉ ngồi ghi chép mà không có ý kiến gì.

Sau thời gian gần một giờ tra vấn, hạch sách, chụp hình, chụp ảnh, phái đoàn đã đóng cửa phòng hội để họp kín.

Chừng mười lăm phút sau, đoàn thanh tra mời chúng tôi vào phòng để thông báo kết quả thanh tra.

Ông trung tá đứng giữa phòng thuyết trình lớn tiếng dõng dạc tuyên bố:

– Buổi thanh tra tới đây là chấm dứt. Chúng tôi đã có đủ bằng cớ để trình cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng về những gì đã xảy ra trong trận chiến ác liệt này. Xin cám ơn Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và toàn thể anh em đã có mặt ở đây ngày hôm nay.

Ông trung tá vừa dứt lời thì ông đại tá già, trưởng đoàn từ từ đứng dậy, hắng giọng một cái rồi chậm rãi từng tiếng một,

– Thực tình mà nói, giờ này quả là rất may mắn cho quân đội ta, khi trước mắt chúng ta còn có một vị tiểu đoàn trưởng xuất chúng là Thiếu tá Vương Mộng Long. Tôi xin hết lòng khen ngợi anh Long, đồng thời cũng khen ngợi lòng quyết chiến, quyết thắng của các anh em chiến sĩ trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Các anh đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng Quân Ðội Việt-Nam Cộng Hòa là một đạo quân vô cùng dũng cảm và thiện chiến. Về tới Sài-Gòn, tôi sẽ tường trình đầy đủ chi tiết trận đánh này cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, chắc chắn đại tướng sẽ gửi lời khen ngợi tới anh em.

Vài phút sau đó, tôi đích thân tiễn chân phái đoàn ra bãi trực thăng. Trước khi máy bay cất cánh, tôi đã nói với ông đại tá già một câu thật ngắn,

– Thưa Ðại tá, với tình hình hiện nay, tôi không biết có còn sống sót để có thể nhìn thấy quý vị lần nữa hay không. Tôi cám ơn phái đoàn thanh tra đã chịu khó lắng nghe và sáng suốt đánh giá những gì chúng tôi vừa trải qua. Chúc quý vị thượng lộ bình an.

Mười ngày sau tôi nhận được thông báo từ Thiếu tá Nguyễn Giáp Trưởng Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2:

“Long ơi! Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Bộ Tổng Tham Mưu tuyên dương công trạng trước quân đội. Thiếu tá Vương Mộng Long và toàn thể quân nhân trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 đều được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu”

Tôi còn nhận được tin báo rằng những quân nhân Thiết Giáp, Công Binh, Pháo Binh và những sĩ quan thực tập có mặt trong trận đánh này cũng được tưởng thưởng.

Hoàn tất công việc đón tiếp phái đoàn thanh tra của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi bàn giao Căn Cứ Hỏa Lực 711 cho Trung Ðoàn 42 Bộ Binh rồi rút về Pleime.

Tiểu Ðoàn 2/42 của Ðại úy Nguyễn Văn Chấn cũng di chuyển vào Pleime và tiếp tục tăng phái cho tôi.

Sau khi rút về Pleime ít ngày thì Thiếu úy Phạm Văn Tô Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/82 đã đào ngũ trong dịp nghỉ phép thường niên.

Tôi nghe mấy anh lính có quê ở Long-An cũng được về phép thăm nhà, sau khi trở lại đơn vị đã báo cáo rằng ông Phạm Văn Tô hiện thời đã đổi họ tên và trở thành một người lính Ðịa Phương Quân gác cầu Bến Lức.

Thời gian gần đây, chuyện lính đào ngũ từ đơn vị này rồi đầu quân vào đơn vị khác cũng không còn là lạ. Tôi không có ý chê trách sự lựa chọn của Thiếu úy Tô. Biết đâu đã có nguyên nhân sâu xa nào đó thúc đẩy Phạm Văn Tô chọn nhiệm vụ gác cầu của một binh nhì Ðịa Phương Quân, thay vì làm một thiếu úy đại đội trưởng tác chiến Biệt Ðộng Quân?

Tôi chỉ biết rằng, trong thời gian phục vụ dưới quyền tôi, chú Tô đã thi hành tất cả những gì mà tôi yêu cầu chú ấy làm, vì thế, tôi không muốn tìm hiểu xem vì sao Biệt Ðộng Quân Phạm Văn Tô đã rời xa đồng ngũ mà không một lời từ biệt.

Từ sau trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 tháng 4 năm 1974 thì Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản bắt đầu gọi Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bằng cái tên “Thằng Hai Nâu”

Tin tức tình báo cũng cho tôi biết các đơn vị trực thuộc F320A Cộng-Sản đã được lệnh tránh đụng độ với “Thằng Hai Nâu” vì thế, lợi dụng thời gian tạm thời yên tĩnh này, tôi cấp tốc tái tổ chức lại đơn vị.

Hai ông Chuẩn úy Trần Quảng và Trương Anh Kiệt được điều động đi nhận nhiệm vụ mới.

Chuẩn úy Trần Quảng trở thành Sĩ quan Phụ tá Ban 3 Liên Ðoàn 24.

Chuẩn úy Trương Anh Kiệt theo học lớp quản trị nhân viên.

Người mang máy truyền tin cho tôi giờ đây là Binh 2 Y Don Nier thay thế cho Hạ sĩ Ðiêu Lon.

Binh 2 Y Don Nier trước đây là hiệu thính viên của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến.

Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm được thăng cấp thiếu úy và được đề cử theo học khóa đào tạo Sĩ Quan Truyền Tin Binh Ðoàn.

Trung đội Trinh Sát 82 đã bị tôi giải tán. Trung đội Viễn Thám 82 được thành lập.

Thiếu úy Trần Văn Phước, Sĩ quan Ban 2 của đơn vị, kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy Trung Ðội Viễn Thám 82 với quân số 18 viễn thám viên.

Dàn đại đội trưởng 82 hiện nay gồm có:

Ðại đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ 82 là Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng.

Ðại đội trưởng 182 là Thiếu úy Lê Ðình Khay mới bổ sung.

Ðại đội trưởng 282 là Trung úy Nguyễn Hữu Anh từ Tiểu Ðoàn 11 chuyển sang.

Ðại đội trưởng 382 là Thiếu úy Phạm Ðại Việt.

Ðại đội trưởng 482 là Thiếu úy Phạm Văn Thủy.

Trong khi tôi bận bịu công tác huấn luyện đơn vị và thiết trí công sự phòng thủ thì những tin tức không vui tới tấp bay về. Tôi biết:

– Ngày 16 tháng 5 năm 1974 Chi Khu Dak Pek và Căn Cứ Biên Phòng Dak Pek rơi vào tay địch, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di đã tự sát ngay sau khi bị bắt.

– Hai tháng sau, ngày 16 tháng 7 năm 1974 Tiền Ðồn 5 trong vùng Kon Sơm Luk thất thủ. Ðại úy Dương Ðình Chính, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn 44 Bộ Binh bị chết mất xác.

Ðại úy Dương Ðình Chính là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi.

Thời gian này, cứ cách vài ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại bay vào Pleime thăm tôi một lần.

Tướng Niệm khuyến cáo tôi rằng, chắc chắn mục tiêu sắp tới của Sư Ðoàn 320A Cộng Sản sẽ là Căn Cứ Biên Phòng Pleime.

Vì thế, tôi không dám rời xa đơn vị một ngày nào.

Dù có việc bận phải đi Pleiku giải quyết, tôi cũng cố trở về trong ngày, không dám bỏ đồn, qua đêm.

Tôi đã tự đặt mình trong tình trạng báo động một cách thường xuyên.

Tình hình chợt xoay chuyển nhanh, mặt trận duyên hải trở nên sôi động; Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cấp tốc rời Pleiku để di chuyển xuống Bình Ðịnh; Căn Cứ Hỏa Lực 711 được giao lại cho Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Căn Cứ Hỏa Lực 711 mới này vừa được xây dựng trên cao điểm 601, nằm cách Plei Ngol Ho chừng bốn trăm mét về hướng Bắc. Căn Cứ 711 cũ và  Căn Cứ Plei Ngol Ho đều bị san bằng, không còn dấu tích.

Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đã thăng cấp đại tá, còn Trung tá Chính thì thuyên chuyển đi đơn vị khác.

Người thay thế Trung tá Chính để giữ chức vụ Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là Trung tá Hoàng Kim Thanh. Trung tá Hoàng Kim Thanh tốt nghiệp khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức.

Ngày tôi còn là một học sinh trung học thì anh Thanh đã là Ðại úy Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân đồn trú ngoài Ðà Nẵng. Rồi Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân nhanh chóng cải danh thành Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Tháng 2 năm 1966 tôi ra trường Võ Bị và học xong khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy, tới trình diện Tiểu Ðoàn 11 thì anh Thanh đã thuyên chuyển sang bộ binh, đảm nhận chức vụ Trung đoàn phó Trung Ðoàn 42 Biệt Lập của Biệt Khu 24 một thời gian rồi đi làm Quận trưởng Quận Lý Tín tỉnh Quảng-Tín.

Trung tá Hoàng Kim Thanh vừa mới trở lại Biệt Ðộng Quân vài tháng gần đây thôi.

Như vậy, sau khi Trung Ðoàn 42 Bộ Binh về Bình Ðịnh thì lần đầu tiên toàn bộ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân quy tụ trong vùng Tây Nam Pleiku.

Trong Pleime có Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, còn phía Bắc Pleime thì được Tiểu Ðoàn 63 và Tiểu Ðoàn 81 trấn giữ.

Tiểu Ðoàn 63 nằm chung với Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 trong Căn Cứ Hỏa Lực 711. Thiếu tá Trần Ðình Ðàng khóa 15 Võ Bị đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân.

Tiểu Ðoàn 81 nằm dưới chân Ðồi Tử Chiến hướng Nam của 711.

Người tạm thời giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân khóa 15 Thủ Ðức. Ông Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân chính là người mà tôi đã thay thế vài tháng trước đây.

Tôi không rõ Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 đi đâu mà Thiếu tá Lân lại tạm thời đảm đương công tác chỉ huy đơn vị này.

Ngày 27 tháng 7 năm 1974 Việt-Cộng bắt đầu khởi động chiến dịch xóa sổ Căn Cứ Biên Phòng Pleime.

Ngay ngày đầu trận chiến, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị đánh tan, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng bắt làm tù binh, các đơn vị tăng viện cho Pleime đều bị địch cầm chân hay bị đẩy lui.

Thế là, chưa đầy bốn tháng sau ngày tử chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản lại gặp mặt nhau.

Cũng vẫn tình trạng một chống với mười. Lần này trận thư hùng đã kéo dài tới 33 đêm ngày.

Trong trận Pleime năm 1974 tôi đã chứng tỏ cho Ðại tá Kim Tuấn, Tư lệnh Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản thấy rằng:

“Ở Tây Nguyên, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là vô địch!”

Diễn tiến của trận Pleime năm 1974 đã được tôi trình bày đầy đủ trong tác phẩm “Trận Pleime năm 1974”

Trưa 15 tháng 9 năm 1974 tôi đã dẫn đầu đoàn quân hiên ngang tiến vào Sân Vận Ðộng Pleiku trong một rừng cờ hoa và biểu ngữ.

Hôm đó toàn dân thành phố Pleiku đã đình công bãi thị để hân hoan chào đón Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa chiến thắng trở về.

Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cũng là chiến thắng sau cùng của quân ta trên Cao Nguyên Vùng 2.

Sau khi bàn giao Pleime cho một đơn vị bạn, tôi đem quân đi khai thông Liên Tỉnh Lộ 8B cho tỉnh Quảng-Ðức.

Trên đường đi giải vây cho Quảng-Ðức, tôi đã dừng quân ở Ban Mê Thuột một đêm. Dịp này tôi đã được gặp mặt vợ con vài tiếng đồng hồ.

Rồi tôi được nghe vợ tôi kể chuyện nàng sinh đứa con gái thứ ba vất vả như thế nào.

Ở Ban Mê Thuột, từ sáng 15 tháng 4, vợ tôi đã chuyển bụng, nhưng mẹ vợ tôi đi vắng nên chần chờ mãi bố vợ tôi mới chở vợ tôi tới bảo sanh viện.

Hai lần trước, vợ tôi sinh con rất nhanh, lần này lại quá khó khăn.

Bà mụ tỏ ra rất lo lắng, vì đứa bé này thật là khó tính; nó cứ đòi ra bằng mông.

Trong thời gian gần ba tiếng đồng hồ, bà mụ cứ cố gắng xoa xoa, nắn nắn cái bụng bầu để xoay cho cái thai đi theo chiều tự nhiên.

Cuối cùng cháu bé cũng chịu nghe lời bà mụ, nó xoay mình trở lại, rồi ra đời, mẹ tròn con vuông.

Vợ tôi sinh em bé xong rồi bà mẹ vợ tôi mới kịp về trông nom con gái.

Tới xế trưa, bố vợ tôi lại vào thăm cháu ngoại, rồi buột miệng nói rằng,

– Tao gọi điện thoại cho Biệt Ðộng Quân để báo cho thằng Long hay rằng vợ nó vừa đẻ con gái thì tụi Biệt Ðộng Quân trả lời rằng tiểu đoàn của thằng Long vừa bị Việt-Cộng tấn công tràn ngập, mất liên lạc rồi. Khi nào có tin tức mới thì chúng nó sẽ cho biết.

Vợ tôi nghe được câu này thì hai mắt tối sầm, không còn cảm biết gì nữa.

Sau khi được cạo gió, xức dầu, tỉnh lại, nàng nghe tiếng bà mẹ trách ông bố,

– Cái ông này! Chuyện như thế mà ông lại nói cho nó biết, làm cho nó bị xỉu! Thôi! Nó đã tỉnh rồi, ông đừng nhắc tới chuyện đó nữa!

Nghe chuyện kể, tôi thấy, vào ngày đơn vị tôi bị địch tràn ngập, phải chăng, nhờ thần giao cách cảm mà con tôi đã biết bố nó đang lâm nguy nên nó không chịu yên tâm chào đời một cách bình thường?

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on3 Aug 2023

Kỳ 14

Tới vị trí tiểu đoàn, tôi thở phào khi biết quân ta không có tổn thất nào.

Thiếu úy Việt là người chỉ huy đợt 1 báo cáo rằng không rõ trong căn cứ có bao nhiêu tên địch, nhưng vì bị đánh bất ngờ, chúng không phản ứng kịp, đợi khi quân ta khuất dạng chúng mới bắn theo vài ba tràng tiểu liên.

Thiếu úy Phước báo cáo rằng lúc quân ta xung phong đợt hai thì nghe có tiếng người rên la vì bị thương, nhưng chúng cũng không bắn lại, có lẽ vì trời tối, chúng sợ bắn lầm vào nhau?

Chiến thuật mà tôi vừa sử dụng để càn quét Plei Ngol Ho là do tôi học lóm được từ Trung Ðoàn E48 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.

Mỗi khi cần thanh toán một mục tiêu dã ngoại hay cứ điểm không có hàng rào vững chắc thì E48 cho quân dàn hàng ngang, ném thủ pháo ào ào, rồi vừa chạy vừa bắn, không đứng lại thu chiến lợi phẩm hay chiếm giữ công sự, hầm hào.

Sau khi lướt qua mục tiêu thì tất cả cán binh đồng loạt rẽ trái hay rẽ phải để về điểm tập họp đã định sẵn.

Cứ thế, sau vài đợt xung phong bắn giết, họ mới cho quân vào lục soát mục tiêu, thu nhặt chiến lợi phẩm và bắt giữ tù binh.

Chiến thuật này cũng rất hữu hiệu khi được sử dụng để triệt hạ những đơn vị mở đường và giữ đường.

Tới 10 giờ đêm thì máy bay võ trang AC47 Hỏa Long lên bao vùng.

Tôi nằm lăn trên poncho ngủ sau khi nhờ Hỏa Long liên tục tưới đạn trên Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.

Ngày 17 tháng 4 năm 1974

5 giờ sáng 17 tháng 4 tôi cho Ðại Ðội 1 men theo triền dốc hướng Tây tỉnh lộ rồi từ từ tiến về 711.  Trước khi trời sáng thì quân ta đã âm thầm áp sát bờ đất hướng Bắc của căn cứ.

Ðúng 6 giờ, Thiếu úy Tô báo cho tôi hay trong đồn 711 không còn tên địch nào cả.

Từ trưa tới chiều ngày hôm đó tôi tiếp tục dùng pháo binh đánh phá Plei Ngol Ho và làng Siêu 1.

Tối 17 tháng 4 Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy 12 anh Trinh Sát thực hiện một cuộc tấn kích nửa khuya, mục tiêu là làng Siêu 1.

Cú đột kích sẽ không có pháo yểm.

Toán quân này xuất phát từ Ðại Ðội 1, rồi len lách theo bìa rừng bên trái của tỉnh lộ, sau đó đổ dốc đánh địch từ phía sau lưng.

Kết quả, một tiểu đội Việt-Cộng đóng chốt trong làng Siêu 1 đang giấc ngủ ngon bên bếp than hồng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày 18 tháng 4 năm 1974

Mờ sáng 18 tháng 4 năm 1974 Ðại Ðội 3 dàn hàng ngang vượt qua tường đất khu đóng quân cũ của Chi Ðoàn 3/19.

Tôi và Ðại úy Nguyễn Xá ngồi trên M113 theo sau cánh quân này.

Tới bìa làng, tôi nhảy xuống xe đi bộ.

Hôm nay trời nắng ráo, hơi đất bốc lên mờ mờ, nồng nặc mùi tử thi đã sình trương.

Phòng thuyết trình là nơi chứa thương binh thì đầy ruồi nhặng và ong đen từng bầy.

Nóc hầm bị trũng xuống một lỗ to, vì đã bị một quả bom đánh trúng.

Tôi chỉ đứng ngoài nhìn mà không chui vào hầm nhưng cũng thấy rõ, trong hầm, gần ba chục thương binh đều đã bị đâm chết bằng lưỡi lê.

Rời căn phòng thuyết trình chứa thương binh, tôi theo chân Hạ sĩ Ba tới căn hầm mà tôi dự trù sẽ làm văn phòng.

Căn hầm này cũng vô cùng hôi thối và chứa đầy ruồi nhặng. Trên chiếc giường tre ở giữa hầm là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt-Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng.

Trên nền đất, máu đọng thành vũng.

Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân.

Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực.

Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày.

Họ đã không kịp chạy khi Việt-Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng 4 năm 1974.

Người đàn bà và đứa trẻ này là vợ và con của Trung sĩ Nguyễn Văn Tư, Hạ sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn.

Ðời tôi đã chứng kiến hàng ngàn cái chết do chiến tranh, quân ta chết, quân địch chết, dân thường chết, chết đủ kiểu, chết đủ cách, nhưng chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng ra cái cảnh mà địch thủ của tôi đã hành xử trong trận này.

Hành động giết chết thương binh có thể bỏ qua, nếu như tình hình cấp bách quá; nhưng hành động đâm chết một hài nhi hai tuổi rồi giết chết mẹ nó, sau khi đã hãm hiếp mẹ nó thì quả là quá sức vô lương tâm.

Có lẽ những tên cán binh Cộng-Sản kia không phải là người?

Những tên xâm lược khốn kiếp kia cũng không thể so sánh với những con thú; vì thú vật cũng không nỡ đối xử với nhau một cách tàn độc, và dã man như thế!

Hình ảnh cái chết thảm khốc của  vợ con Trung sĩ Nguyễn Văn Tư cứ ám ảnh tâm trí tôi một thời gian dài.

Sau khi cho quân bố trí quanh vị trí và đặt ba tổ báo động xa, tôi cho lệnh kiểm soát toàn bộ diện tích cứ điểm để thâu thập tài liệu.

Tất cả hầm hố, lô cốt, pháo đài trong khu vực Nam Plei Ngol Ho đều có dấu tích đã bị đánh phá bằng thủ pháo.

Hai chiếc xe kéo đại bác đều bị cháy rụi chỉ còn khung sườn sắt. Một khẩu pháo 155ly ngả nghiêng đè lên dăm viên đạn đã lột vỏ.

Chiếc xe ủi đất của Công-Binh hình như không hề hấn gì.

Xác quân Cộng-Hòa chết ở đâu vẫn nằm tại đó. Trên Plei Ngol Ho chỉ có ba vị trí đóng quân cấp trung đội của Việt-Cộng mới được thiết lập.  Ba vị trí này đã bị cày xới tan nát.

Trên mặt đất và dưới khe suối có khoảng gần ba chục xác Cộng Quân mới bị giết.

Giấy tờ trên tử thi địch cho ta biết tất cả những cán binh này đều trực thuộc Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải.

Ta chỉ tịch thu được 27 khẩu AK47 và 3 khẩu B40 của địch.

Trưa 18 tháng 4 năm 1974, một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh và một chi đoàn chiến xa từ Ngã Ba Mỹ-Thạch tiến vào đã bắt tay được Tiểu Ðoàn 82.

Kế đó những chiếc xe cứu nạn của Thiết Giáp được điều động vào để kéo xác những chiến xa bị bắn cháy.

Chỉ có 11 chiếc M113 bị cháy được kéo về Pleiku, một xe M113, một khẩu đại bác 155ly cùng khẩu súng cối 4.2 đã bị Cộng-Quân đem đi mất từ đêm 15 tháng 4.

Theo sau chiếc cứu nạn chiến xa của Thiết Giáp là chiếc GMC mười bánh dùng để chuyên chở thi hài những quân nhân tử trận.

Trên chiếc xe GMC vừa trở đầu và đậu lại bên tỉnh lộ có một người đàn bà vào đây để tìm xác chồng.

Người này là vợ của Trung úy Danh, sĩ quan Pháo Binh đã tăng phái cho tôi.

Chị Danh đã gạt nước mắt mà kể cho tôi hay rằng, đêm 15 rạng 16 tháng 4 năm 1974 chị đã nằm mơ thấy anh Danh mặt mày đầy máu bước vào nhà.

Chị đã hỏi anh vì sao anh ra nông nỗi này thì anh Danh chỉ lắc đầu không nói tiếng nào.

Sau cơn ác mộng, chị Danh lo lắng quá, nên ngay sáng hôm sau chị đã cấp tốc theo chuyến xe đò sớm nhất lên Pleiku để hỏi thăm tin tức của Trung úy Danh.

Chị được Bộ Tư Lệnh 22 trả lời rằng anh Danh đã bị thương và mất tích.

Hai ngày sau, chị xin đi theo xe vào 711.

Giấc mơ của vợ Trung úy Danh là một chuyện hoàn toàn khó tin, nhưng bắt buộc tôi phải tin.

Tới trưa 18 tháng 4, trên chiếc GMC từ 711 về Pleiku có một người đàn bà ngồi trên sàn, bên cạnh cái poncho gói xác chồng.

Ðối diện với người đàn bà, trên sàn xe, cũng có một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân ngồi cạnh hai cái poncho gói xác vợ và con. Ðồng hành với ba cái poncho đó, trên xe còn cả chục chiếc poncho khác chưa biết ai là thân nhân.

Trong lúc quân nhân của đại đội chỉ huy lo chuyển vận xác những tử sĩ, tôi cũng đích thân đứng kiểm tra từng vật dụng mà địch đã bỏ lại trận địa.

Tôi không tả nổi nỗi mừng vui khi nhìn thấy 6 ống lựu đạn chày có đánh dấu, “Coi chừng hơi độc” cùng với 10 ve thuốc bằng thủy tinh to như những đầu đạn Garant cũng được sơn hàng chữ màu đỏ, “Thuốc giải hơi độc”

Ngoài ra ta còn nhặt được cả chục cái bao nylon trắng dùng để làm mặt nạ chống hơi cay.

Nửa giờ sau, đích thân Ðại tá Phạm Duy Tất đã đáp xuống mặt Tỉnh Lộ 6C để nhận từ tay tôi một cái bao cát chứa 4 ống lựu đạn chày, 4 ve thuốc chống hơi ngạt và 4 cái mặt nạ.

Ông Tất vỗ vai tôi rồi cười thật lớn, át cả tiếng máy bay,

– Tui sẽ đem mấy thứ này về trao cho quân đoàn ngay! Cậu giỏi lắm! Vậy là thoát nạn! Mừng cho cậu!

Ông chỉ huy của tôi vui một, tôi vui mười!

Chợt nhớ ra ông Trung úy Chủ còn đeo cái máy chụp hình trước ngực, mà cuộn phim trong cái máy đó có chứng tích là hình ảnh một núi súng mà chúng tôi đã tịch thu được sáng 14 tháng 4. Tôi ra lệnh cho ông Chủ giao chiếc máy ảnh cho Ðại tá Tất rồi nói,

– Ðại tá về rửa cuộn phim này ra rồi đưa hình cho ông Toàn coi. Hôm đó tụi tôi đã lấy được cả trăm khẩu súng, hạ được cả trăm thằng địch rồi mới bị đánh bằng hơi ngạt nên phải bỏ chạy. Có bằng chứng rõ ràng như thế chắc ông Toàn mới tin.

Tôi đã biết chắc rằng, sau khi bị đánh bật ra khỏi 711 và Plei Ngol Ho nếu tôi kéo quân chạy thẳng ra Ngã Ba Mỹ-Thạch thì chắc chắn tôi đã bị Tướng Toàn lột lon.

Mặt khác, chỉ với cái tội để tổn thất 12 chiếc M113, tôi đã đủ tư cách lãnh 40 Trọng Cấm từ tay ông Toàn rồi.

Tôi đã thấy những cái gương mất đồn, xém chết mà còn bị “ký củ” với 40 Trọng Cấm của các ông chỉ huy Dak Seang, Ben Het, Ðức Cơ, là Ðại úy Nguyễn Hộ, Ðại úy Trần Văn Thanh, Trung tá Lê Chữ và Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.

Các vị chỉ huy này sau khi mất đồn đã chạy thẳng một lèo không dám quay cổ nhìn lại.

Còn tôi, ngay sau khi thoát chết, tôi đã quyết tâm phải lấy lại 711 cho bằng được.

Rồi đúng ba ngày sau tôi đã đặt chân trở lại Cứ Ðiểm 711 và đã tái kiểm soát toàn bộ khu vực mà địch đã chiếm cứ.

Ðại  tá Tất cho tôi hay, theo tin tức tình báo mới nhất thì, Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã chết vì trúng bom, đồng thời kế hoạch cắt đứt Quốc Lộ 14 một thời gian ngắn để Trung Ðoàn 470 Vận Tải vận chuyển quân lương cho vùng duyên hải của Cộng-Sản cũng bị phá vỡ.

Trận chiến đẫm máu để giành giựt Cứ Ðiểm 711 diễn ra chỉ vỏn vẹn có mấy ngày, nhưng đã có hàng trăm chiến sĩ từ hai bên tham chiến phải hy sinh.

Nhìn những cái xác Việt-Cộng rải rác đó đây, rồi lại nhìn những chiếc poncho quấn xác đồng ngũ nằm trên lề cỏ chờ được di chuyển về nhà xác của quân y viện, tôi chỉ biết ngậm ngùi thở dài.

Ðang trên đường bay về Pleiku, không rõ có suy nghĩ gì, Ðại tá Tất đã gọi cho tôi,

– Thái Sơn đây Trường An! Hôm nào yên, tui cho cậu vài ngày phép về thăm vợ và cô công chúa mới sinh!

Tôi cảm động, đáp lời người chỉ huy của mình,

– Cám ơn Trường An!

Nhưng chiến trận liên miên, tôi chờ hoài mà không thấy có “ngày nào yên…”

Tôi ngồi xuống vệ cỏ bên đường. Trước mắt tôi là Tỉnh lộ 6C như con rắn đen đang vặn mình, uốn khúc chui vào rừng xanh. Xa xa, hướng Ngã Ba Mỹ Thạch, vọng lại tiếng đại bác “Ì! Ầm!”

Trời đang trong sáng bỗng từ đâu, mây đen ùn ùn kéo tới nên trở thành âm u.

Trong màn mưa mỏng, tôi thấy những đóa hoa vàng rung rinh trong gió…

Giờ đây Pleime đang là lúc chuyển mùa, khắp núi rừng, muôn hoa khoe sắc màu…

Cách nơi này đúng một trăm cây số đường chim bay, trong vườn nhà tôi cũng vừa nở một bông hoa…

Con tôi chào đời đúng vào ngày pháo địch rơi như mưa trên đầu bố nó…

Mùa Mưa Hoa Nở

(Cho Em và bé Tiên Giao) 

Lại một lần Pleime hoa nở

Tôi ra đi vào chiến trường…

Một năm sau ngày ngừng bắn

Một năm sau ngày trao đổi tù binh

Ðồi núi Pleime hoa vàng rực rỡ

Hoa rừng mùa nào cũng đẹp

Cao Nguyên mùa Hạ nào cũng mưa

và chiến trường nào cũng đầy thù hận

dù trước, dù sau ngày Hòa Bình!

Mở mắt chào đời, tôi đã thấy chiến tranh

mà bây giờ …

ngày em sinh đứa con thứ ba ở Ban Mê Thuột

cũng là ngày mưa pháo địch trên Tiền Ðồn 711

Mùa mưa năm nay…

như mùa mưa năm kia

như mùa mưa năm ngoái

có những người bạn ra đi không trở lại

có những người thù ra đi không trở lại

Trận chiến vừa tàn,

đi tìm xác nhau…

Tôi tìm thấy bên chùm hoa gạo

 chiếc nón cối vỡ toang

của người quê miền Hải Hậu

tôi tìm thấy trên một đoạn giao thông hào

quyển nhật ký của người tuổi trẻ

 từ Hưng Yên vừa xâm nhập được năm ngày…

Hỡi những người lặn lội dặm dài,

hận thù gì khi mới hai mươi tuổi?

…

Tôi đứng nhìn Tỉnh Lộ 6 C

tìm Hoà Bình tít chốn xa mờ

 như không bao giờ thấy được

 như không bao giờ với được

Nghĩ về đứa con vừa mới ra đời

biết đến bao giờ nó thấy đồng xanh quê nội?

Giữa mùa hoa…

Cao Nguyên vào Hạ

có màu xanh của áo

có màu đỏ của máu

có màu trắng của xương

của những người Bắc Hà, Hải Hậu, Hưng Yên…

Pleime vào Hạ…

đạn vẫn bay

mưa vẫn đổ

và hoa vẫn nở…

Vương Mộng Long

(Pleime tháng 4 năm 1974)

Bài thơ viết vội trên chiến địa này đã được tôi gửi về Sài-Gòn để in trên Nguyệt San Biệt Ðộng Quân và Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa.

Vậy là đúng một tháng sau ngày tiền đồn Kon Sơm Luk bị tràn ngập, tiền đồn 711 cũng bị tràn ngập. Chỉ có một điều đáng ghi là Cứ Ðiểm 711 đã được Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân tái chiếm chỉ sau ba ngày, còn Kon Sơm Luk thì vĩnh viễn nằm trong tay địch quân.

Trận ác chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711 Pleiku tháng 4 năm 1974 coi như kết thúc sau khi quân ta tái chiếm lại lãnh thổ đã mất.

Ngày 20 tháng 4 năm 1975 tôi được lệnh chuẩn bị thuyết trình cho một phái đoàn thanh tra đặc biệt của Bộ Tổng Tham Mưu bay ra từ Sài-Gòn

Kỷ Niệm Sông Elbe

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 2 Sep 2023

Tôi quen gia đình chị Hoàng từ hồi qua trại tị nạn Pulau Bidong. Má chị mất trên đường vượt biển, chị còn lại bốn đứa em với ông già. Người em trai kế tên Hải, tiếp theo cô Hoa, tuổi tôi, cô Cúc mười tám và đứa em trai mười bốn. Năm đó tôi hai mươi hai tuổi, chị Hoàng không bao giờ cho tôi biết tuổi, tôi đoán tuổi chị chừng trên dưới ba mươi. Chuyện xảy ra hơn hai chục năm rồi, mãi tới hôm nay tôi vẫn chưa biết chuyện tình cảm giữa tôi và chị ra làm sao nữa. Đi xa thì lúc nhớ lúc quên. Nhưng mỗi lần trở về Hamburg, nhứt là những chiều nhìn tàu đò chở đầy du khách ngược xuôi trên dòng sông Elbe thì lòng tôi chạnh nhớ, nhớ cái thời xa xôi ấy. Năm 1980 gia đình chị Hoàng sang Đức định cư. Trong một căng nhà lớn, ở ngoại ô thành phố Hamburg. Tánh tình chị trầm tỉnh, nghiêm nghị và không cười nói ồn ào như hai cô em kế. Nhan sắc chị trung bình, duyên dáng nhờ thân hình mảnh mai và trang phục giảng dị. Dạo đó con gái Việt Nam sang đây lèo tèo dâm ba mống, còn con trai Việt Nam thì lủ khủ. Hễ nghe chỗ nào có gái, bất kể đẹp xấu, dầu ở xa xôi cách trở, bọn đực rựa sẵn sàng vượt đường xe lửa, băng xa lộ tìm tới. Tuổi chị Hoàng nếu còn ở Việt Nam thì lỡ thời rồi, nhưng sang đây chị vẫn còn ngon và có giá lắm. Rất nhiều anh tới lui săn đón, mời chị đi chơi nhưng không bao giờ chị nhận lời, các anh theo riết, thấy không chấm mút được gì hết, cháng không đeo đuổi nữa. Chị dửng dưng, lạnh lùng với mọi người, ngày lo chuyện bếp nút, dọn dẹp nhà cửa, tối giữ nhà cho mấy đứa em đi chơi.  Cùng thời gian ấy, tôi sang định cư Hòa Lan, cách chỗ ở của chị Hoàng trên năm trăm cây số, tôi thường đáp xe lửa qua thăm gia đình chị Hoàng. Thật ra chuyện thăm viếng chỉ là cái cớ để tôi săn đón hai cô em kế của chị.  Lần nào tôi qua khách khứa cũng chật nhà, toàn là con trai cùng lứa, mặt mài người nào cũng sáng sủa, đầu tóc mướt rượt, áo quần bảnh bao và có người đã sắm xe hơi. Hồi còn ở Việt nam tôi làm ngư phủ, da ăn nắng đen thui, lại mắc chứng mụng bọc mặt mài nổi u nổi cục, rổ chằng rổ chịt. Tôi không rành thời trang, ăn bận lè phè, nói năn không biết chao chuốt, bị chúng bạn sửa lưng hoài. Hôm ra hội chợ chơi bắng súng, tôi bắn điểm cao, lấy được con gấu và con khỉ đột nhồi bông lớn bằng chiếc gối ôm, tôi tặng Hoa con gấu, Cúc con khỉ. Dạo đó tôi còn cà nhỗng thất nghiệp, có đủ tiền mua vé xe lửa bận đi, bận về là quá lắm rồi, còn tiền đâu mà quà với cáp. May nhờ tài thiện xạ, tôi có được quà đắc giá tặng cho hai em. Hai em ôm hai con thú bông đi theo, miệng không ngớt khen tài bắn bá phát bá trúng của tôi, làm tôi nở mũi và hãnh diện quá chừng. Không ngờ cái tài vặt của tôi lại làm cho mấy thằng bạn đi chung đâm ra khó chịu, sẵn thấy mặt con gấu nhồi bông có in lấm chấm màu đen đen, chúng liền gọi tôi là chàng Mặt Gấu.  Rất tiếc tài của tôi được thi thố trước mặt hai em chỉ được một lần trong đêm hôm đó. Lần sau ra hội chợ chúng bạn cho xe vô St. Pauli rồi bỏ tôi xuống đường Reeperbahn, viện cớ là tôi ở Hòa Lan qua chơi, nên tham quan khu nầy cho biết, chúng nó hẹn tôi đúng mười hai giờ đêm ra chỗ cũ đứng chờ chúng sẽ tới rước về. Dầu có ngu ngốc đến mấy đi nữa tôi cũng đoán được trong bụng chúng toan tính những gì, tất nhiên chúng lo ngại tài bắn súng của tôi, biết đâu tôi day qua bắn trúng một trong hai trái tim của hai em thì phiền quá !    
 Mùa hè, bảy tám giờ đêm trời vẫn còn sáng. Người ta chen chút nhau đi trên đường phố, các bà các cô bận đồ mát mẻ, mặt mày hớn hở vui tươi, nhiều cặp ngực, cặp đùi, rún và bụng để lộ ra ngoài trắng như bông bưởi. Mấy thuở mới được đi dạo khu ăn chơi nổi tiếng Hamburg, nhưng bực mình mấy thằng bạn chơi xỏ lá nên tôi đâu còn lòng dạ nào mà dạo mà chơi. Tôi không dại gì đợi tới mười hai giờ mới ra chỗ hẹn, tin tưởng tụi nầy đêm nay có nước tôi phải lang thang ngoài đường suốt đêm. Tôi xuống xe điện ngầm tìm đường về nhà. Thề có đất trời,  kể từ đêm nay trở đi tôi sẽ không giao du với mấy tên cà chớn đó nữa!  Sang xe điện, đổi xe bus và bị lạc hết mấy trạm xe, hơn một tiến đồng hồ sau tôi mới lót tót về tới nhà. Tôi bấm chuông, chị Hoàng ra mở cửa. Vừa thấy tôi chị trố mắt ngạc nhiên hỏi:
– Sao anh dìa mình ên vậy?  Còn mấy người kia đâu? Tôi trả lời.
– Mấy người kia chắc ra hội chợ.
– Sao anh hổng theo chơi mà bỏ dìa ngang xương vậy?  Không biết trả lời sao, chuyện chẳng hay ho nói ra thêm mắc cở. Tôi nín lặng lách người bước vô nhà. Chị cũng không hỏi gì thêm, nhẹ gót bước qua nhà bếp, rót hai ly nước cam bưng ra chiếc bàn tròn sau vườn, mời  tôi ngồi uống với chị. 
– Nhà đi đâu hết rồi chị? Tôi hỏi.
– Ba với thằng Út ngủ trên phòng.  Chị nhìn tôi mĩm cười. Sao hôm nay tôi thấy cái nhìn của chị rất thân thiện và nụ cười của chị thật tươi, làm tôi quên hết mọi chuyện phiền phức vừa rồi. Tuy nhiên, tôi hay mặc cảm về gương mặt mụng của mình, hễ gặp ai ngó thẳng mặt thì tôi ngượng. Để tránh cái nhìn của chị tôi ngó mông lung. Trên trời mây không gợn, sao thưa thớt, không biết đêm nay mùng mấy mà trăng khuyết một bên, ánh sáng chang hoà cùng bóng đêm làm nhạt nhòa cỏ cây hoa lá.
– Qua đây thường chắc anh biết nhiều cảnh đẹp của Hamburg?  Nghe chị hỏi tôi ngoái lại:
– Ồ, đâu có chị,  ngoài cái bến xe lửa tới nhà chị  và cái hội chợ ra tui hổng biết chổ nào khác hết.
– Hamburg có nhiều cảnh đẹp lắm mà.
– Qua đây đi xe ké, ai chở đâu thì đi đó chớ biết gì đâu. Chị bưng ly nước cam lên nhấp một cái, nhẹ nhàng để ly xuống rồi ngã người dựa lưng ghế, chị đưa lưỡi rà vị nước cam còn đọng bên vành môi và mím môi lại ra chiều suy nghĩ. Hồi sau chị nói:
– Sáng mai anh đi chợ mua cá với Hoàng nghen.
– Cá biển hả chị?
 Chị cười một cái thiệt tươi.
– Ở bên nầy làm gì có cá đồng.
– Mấy giờ đi chị?
–Sớm chừng nào tốt chừng nấy, mình đi sớm mới mua được cá tươi.  Chúng tôi bắt qua chuyện về cá tôm hồi còn ở quê nhà. Đúng ra chị kể nhiều về chuyện quê hương Bạc Liêu của chị. Trong lúc chị nói tôi nhìn chị được tự nhiên hơn, chị bận bộ đồ vải bông, áo ngắn tay, ôm sát thân hình mảnh mai của chị. Chị  khoanh hai cánh tay cao ngang ngực, hai bàn tay vén tay áo lên xoa xoa vuốt vuốt đôi vai, hai cánh tay chị suôngnhưng không gầy guộc, trắng bật dưới bóng trăng mơ màng. Thấy tôi chăm chú nhìn, chị tưởng tôi lắng nghe chuyện, nên hăng hái kể, càng kể tôi thấy chị càng có duyên, chưa lần nào tôi thấy chị xinh đẹp như đêm nay. Thật ra tôi thích ngắm chị hơn là nghe chị nói, quê tôi ở Cà Mau, giáp giới Bạc Liêu, sông nước miệt nầy tôi đâu lạ gì, những địa danh trong vùng chị nói ra ít nhiều gì tôi cũng biết. Khi kể hết chuyện, chị hỏi tôi: – Anh có tới Bạc Liêu lần nào chưa? – Có chị, ở một tháng và đi ngang nhiều lần bằng đường xe lẩn đường sông.  Tôi muốn chị ngồi lại kể chuyện để tôi được ngắm chị thêm hồi nữa, nhưng chị đứng dậy dọn hai cái ly, rồi kêu tôi đi ngủ và căn dặn sáng mai thức sớm đi chợ mua cá với chị.   Chị  dịu dàng bước vô nhà bếp xả nước rửa ly. Tôi lên phòng tắm đánh răng, rửa mặt. Khi  trở về phòng, tôi nghe tiếng mấy người kia vừa đưa Hồng và Cúc về. Mặc kệ, tôi nghĩ mình cũng không nên dây vào bọn họ làm gì. Tôi  leo lên giường nằm vắt tay lên tráng, chưa biết chuyện làm ra sao hết mà trí óc tôi toan tính đủ điều. Tôi chọn lựa giữa chị Hoàng, Hoa và Cúc. Cuối cùng hình ảnh chị Hoàng hiện trong đầu tôi rất đậm. Cảm giác vừa rạo rực vừa thích thú chạy khắp thân thể làm suốt đêm tôi trằng trọc, giấc ngủ cứ chập chờn….Đến khi nghe tiếng giựt nước trong phòng tắm. Tôi mở mắt ra, thì đã thấy ánh sáng bên ngoài xuyên qua màng cửa sổ. Tôi đoán chừng chị Hoàng đã thức. Tôi bước xuống mang dép đi qua phòng tắm, đầu óc tôi tù mù, tôi bèn xả nước lạnh đầy chậu, rồi cúi xuống nhúng nguyên đầu vô, nước lạnh giúp tôi đôi phần tỉnh táo. Đánh răng, rửa mặt, thay áo quần, mang dớ, dày xong. Tôi đi xuống, thấy chị Hoàng đứng làm bửa điểm tâm trong phòng bếp. Tôi chưa kịp chào, chị đã ngước lên.
– Hồi hôm anh ngủ ngon hông? Tôi ngập ngừng.
– Cũng…được…                                                                                                                Nghe mùi thuốc lá toả ra từ phòng khách, biết chú Ba, ba của chị, đã thức. Thấy chị định bưng mâm điểm tâm lên. Tôi đi tới hỏi chị cho tôi bưng. Chị đưa mâm cho tôi và dặn:
– Anh bưng lên cho ba tui rồi trở xuống ăn sáng.  Ông già đương ngồi hút thuốc và đọc báo trong phòng, thấy tôi vô ông để tờ báo xuống và hỏi tôi.
– Sao thức sớm vậy mậy?
– Dạ, chị Hoàng rủ con đi chợ mua cá. Tôi để mâm đồ ăn xuống mời ông và hỏi vài câu vấn an. Sau đó tôi trở xuống ngồi uống cà phê, ăn bánh mì với chị  trên chiếc bàn nhỏ kê trong phòng nhà bếp.  Khi chúng tôi ra khỏi nhà mặt trời đã lên khỏi đọt cây. Sáng nay cỏ cây tươi, không khí sạch, trời trong và có nhiều tiếng chim réo ra réo rít gọi nhau trên những cành cây xanh lá.  Sang một lần xe bus, hai lần xe điện mới tới nơi. Chợ cá nằm bên bờ sông Elbe, dác nầy người đi thưa thớt, chuyện mua cá rất dễ dàng. Cá còn tươi rói chị ham quá lựa mua, nhét vô giỏ một hồi sau chiếc giỏ phình ra như bụng người có chửa. Chị khệ nệ rinh giỏ cá đầy, đã vậy thấy cua tươi chị còn tấp vô lựa mua thêm mấy con cua biển nữa. Thấy chị xách nặng, tôi kêu chị đưa giỏ cá cho tôi xách. Chị đưa giỏ cá qua cho tôi, rồi chị nắm lấy tay tôi dẫn đi ra bờ sông. Chúng tôi đứng nghỉ mệt và ngắm sông. Nắng sớm mai đã tỏa vàng lên thành phố cảng, sinh hoạt trên sông bắt đầu nhộn nhịp hơn. Những chiếc tàu đò ngược xuôi theo giòng, sóng nước lăng tăng, chưng vịt tàu quấy nước ào ào. Chị nghĩ gì không biết, nhưng sao chị cứ nắm chặt tay tôi, đứng lặng yên ngắm cảnh dòng sông sống động.  Một hồi sau chị ghì tôi sát lại, ngước mặt lên nói nhỏ nhẹ.  
– Đi mua thêm một mớ rau tươi rồi dìa, trưa nay cơm nước xong, mình ra đây chơi.  Tay bên nầy xách giỏ cá nặng trịch, nhưng tôi không muốn đổi, vì tay bên kia được chị nắm chặt trong bàn tay mềm mại của chị, như sợ chị buông ra rồi tôi không còn cơ hội nào để nắm lại lần nữa.  Trưa hôm đó không hẹn mà tôi và chị Hoàng bận đồ gần như giống nhau; quần Jean, áo thung cổ rộng, chưn mang dày thể thao, chỉ khác nhau áo tôi màu xanh cứt ngựa, áo chị màu trắng. Lúc chúng tôi ra khỏi cửa, mấy người khách hôm qua cũng vừa dậu xe trước bãi. Chị phớt lờ, câu tay tôi đi thẳng ra bến xe bus.  Khác với tánh dịu dàng trước kia, chị nhanh nhẹn như con sóc. Sang xe bus, xuống xe điện ra bến đò. Mua vé, xuống đò, chị dắt tôi lên mui tàu ngồi ngắm cảnh trên sông và hải cảng. Hết đuờng tàu chúng tôi đi đường bộ từ khu phố nầy qua khu phố khác. Khi mỏi chân, khô cổ thì vô quán dọc đường ngồi nghỉ, mua nước uống. Đói bụng ăn Hamburger và khoai tây chiêng xốt mayonaise.
– Tới Hamburg ăn Hamburger là đúng điệu.  
Nghe tôi nói chị phân trần.
– Hamburger của Mỹ chớ hổng phải của Đức đâu.  Chị kể tôi nghe chuyện nhà họ McDolnalds ở Mỹ là người đã chế biến ra món Hamburger kẹp bánh mì. Thức ăn tuy bình dân nhưng nhờ khung cảnh nơi ăn, uống sạch và vui vẻ nên được tiếng tăm khắp thế giới…    
Khi không còn biết chỗ nào để đi nữa, chúng tôi xuống đò trở vô phố. Nắng chiều vẫn còn trải vàng lên thành phố cảng. Tôi với chị ngồi trên mui tàu cùng với nhiều du khách. Gió trên sông  phất phơ mát rượi, tóc chị phả qua mặt tôi mơn trớn, tôi choàng tay qua vai chị, chị ngã đầu lên vai tôi. Chợt nhiên chị ngó xuống ngực, tôi ngó theo, cổ áo chi hở, ngực chị dẹp lép, áo ngực xệ xuống, chi thọc hai ngón tay kẹp vành áo ngực kéo lên, rồi ngữa mặt nhìn tôi mĩm cười.  Hồi sau chị hỏi tôi.
– Chừng nào anh dìa?
Tôi nói.
– Định mốt dìa, nhưng vui quá chắc ở thêm vài ngày nữa.  Chị muốn nói gì đó nhưng thôi. Chị day người, ngã đầu trở lại vai tôi. Tôi choàng tay xoa xoa vai chị, da thịt chị mềm mại làm tôi đê mê. Chị vẫn ngồi yên, mắt mơ màng hướng ra mặt sông, nơi có nhiều chim nhàn đương sớt cá. Phút dây thần tiên ấy trôi qua khi con tàu cặp bến cuối cùng và chúng tôi là người lên sau chót.  Bắt đầu từ hôm đó, ngày nào chị cũng sắp xếp dẩn tôi đi chơi. Lúc đi rừng, khi vô khu phố lạ, đến những khu du lịch mướn thuyền đạp nước. Chị nói, nhiều nơi chị cũng không biết, nhưng cứ đi cho biết. Chuyện đi chơi, thắng cảnh đối với tôi bây giờ không thành vấn đề. Được lẻo đẽo theo chị, được chị cặp kè đi dạo là tôi thấy đời lên hương rồi. Những toan tính lúc ban đầu tôi cho qua, thật ra tôi cũng có để ý tới Hoa và Cúc vài lần, nhưng sao tôi thấy trong lòng không còn háo hức như trước nữa.  Ngày tôi trở về chỉ có chị Hoàng đi theo tiễn. Trước khi lên xe tôi hôn lên hai bên má chị, chị cũng hôn lại tôi và ân cần dặn tôi nhớ sang chơi thường, khi  xe chạy một đoạn, tôi ngó ra thấy chị vẫn còn đứng bên kè đá nhón giò, giơ thẳng cánh tay lên cao vẫy vẫy…  Về lại Hoà Lan tôi xin được chân thủy thủ. Tôi theo tàu hơn một năm sau tôi mới trở lại thăm gia đình chị. Tôi vừa ngạc nhiên vừa ngỡ ngàng khi biết chị là sinh viên đại học. Tuy bận rộn học hành, nhưng chị cũng dành  một ít thởi giờ dẫn tôi đi chơi và xem trường học của chị. Chị giới thiệu những người bạn sinh viên chung lớp, toàn là con trai ngoại quốc, chị nói chuyện với họ bằng tiếng Đức. Tôi nghe như vịt nghe sấm, chỉ biết nhe răng ra cười khi người đối diện chìa tay ra bắt. Tới giờ ăn, chị rủ tôi vô căn tin thưởng thức món ăn sinh viên với chị.  Chị  cư xử với tôi rất thâm tình. Nhưng tôi cảm thấy không được tự nhiên và trong lòng áy náy làm sao. Khỏi bận tâm tính toán nữa, tôi biết tới lúc mình phải rời khỏi nơi đây, đi càng xa càng tốt. Tôi nán lại chơi một tuần. Sau đó tôi trở về và tiếp tục đi, đi miết…  Hơn hai năm sau, tôi nhận được thiệp cưới của chị. Đọc thiệp tôi mới biết chị lấy chồng người nước ngoài. Tôi đoán người cưới chị là một trong những anh sinh viên chung trường chung lớp. Không nhớ lúc nhận thiệp trong người tôi vui hay buồn. Tôi còn nhớ là, tôi không qua dự đám cưới mặt dầu lúc đó tôi đương nghỉ dài hạng trên đất liền.  Những năm gần đây tôi đi tuyến Bắc Âu. Tàu ghé cảng Hamburg hàng tuần. Một năm bốn bận đi, về. Mỗi bận tôi đều lên xuống xe ở nhà ga Hamburg. Thành phố nầy đối với tôi không còn xa lạ nữa và khu St. Pauli tôi đã thuộc lòng, nhưng tôi đã mất liên lạc với chị Hoàng từ lâu. Thỉnh thoảng tôi đi dạo phố hoặc ngồi chờ xe lửa ở nhà ga, tôi thường ngó quanh, ngó quất mong tìm một người Việt nào hỏi dò, may ra có người biết địa chỉ của gia đình chị. Nhưng mấy năm rồi tôi không thấy người Việt đi dạo phố, hoặc tiễn đưa hay chờ đón người thân nơi sân ga như cách đây hơn hai mươi năm về trước.   Rồi một ngày tôi chợt nhận ra, những người Việt tỵ nạn hồi đó, bây giờ ai cũng có xe hơi, đâu còn dùng xe công cộng nữa. Đời sống máy móc Tây phương bắt họ phải chạy theo, dư chút thời giờ dành lo chuyện nhà cửa, con cái muốn hụt hơi có rảnh đâu mà đi dạo. Chỉ có tôi, một tên không nhà cửa, không bận chuyện gia đình mới dư thời giờ đi lang thang, đầu óc rảnh rang nghĩ ngợi chuyện tình cảm cũ xì và cái kỹ niệm của một thời xa lơ xa lắc…  
Baltic zee, tháng 3-2007
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Hội Quán Thủy Thủ

Nguyễn Lê Hồng Hưng

   Hồi chiều Edy và Rischar rủ tôi đi nhậu, hai đứa muốn giới thiệu tôi với vị linh mục bên In-đô mới qua thực tập trên hội quán. Khi xe bus của hội quán xuống cảng đón, trên xe thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đã ngồi chật ém. Chúng tôi lên sau phải chen mông mới ngồi lọt. Mùa hè hơn bảy giờ chiều trời vẫn còn nắng chói chang, nóng nực mồ hôi tươm như mỡ. Thấy không thoải mái, tôi nhảy xuống và kêu hai đứa đi trước, tôi thả tà tà lên sau. Đi bộ là thói quen của tôi, hơn nữa đi chơi phải thảnh thơi chớ có đâu ngồi ém như ém mắn.   Lúc nhỏ ở quê nhà tôi thường đi chùa, dạo đó tôi đọc được kinh Phật và vài ba cuốn sách thiền nhưng lãnh hội chẳng được bao nhiêu. Hồi mới nhập cảnh Hòa Lan, khai lý lịch lại, trong phần tôn giáo tôi điền đạo Phật. Từ đó trở đi ai hỏi tôi theo đạo nào, tôi không ngần ngại trả lời tôi theo đạo Phật. Sau khi làm thủy thủ tôi đi đó đi đây, thường lênh đênh trên biển khong chùa chiền,  không kinh Phật. Bù lại ghé nhiều hải cảng, tôi gặp những người truyền giáo, các vị nầy có mặt khắp nơi, vừa giảng kinh vừa hướng dẫn và giúp đỡ thủy thủ những lúc gặp khó khăn. Nhờ họ mà tôi có kinh thánh, sách, báo tiếng Việt, mặc dầu sách  rao giảng về nước thiên đàng, nhưng  đã giúp tôi đỡ buồn trong những tháng ngày lênh đênh trên biển. Đọc riết rồi thắm,  đoạn nào hay tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Có lẽ vì thấy tôi nghiền ngẫm kinh thánh nên hôm nay Edy và Rischar muốn rủ tôi lên hội quán ‘đàm đạo’ với vị linh mục của tụi nó chăng.       Tại tụi nó không để ý đó thôi, vì những người tôi thường gặp là những nhà truyền giáo do tổ chức của đạo Tinh Lành hoặc Thiên Chúa đưa ra. Những phòng truyền giáo (Seamen’s Mission) sinh hoạt rất lành mạnh; có thư viện chứa sách, báo và thánh kinh được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngoài ra còn có phòng điện thoại, phòng thể thao. Trong ba có bán bia nhưng không nặng độ. Những hải cảng lớn, có phòng ngủ dành cho thủy thủ lở chuyến tàu, hoặc trên đường về mà chưa tới chuyến bay.           
Còn cái Hội Quán ở Hamburg, phải chi trên bảng hiệu đừng đề thêm chữ Mission và trước sân đừng treo cờ truyền đạo thì trông đỡ chướng mắt hơn. Ở những phòng truyền giáo người ta trang hoàng căn phòng nhỏ vừa đủ để cầu nguyện, trên tường treo thánh giá, hoặc tượng chúa Jêsus vừa sạch sẽ vừa tôn nghiêm. Còn ở đây họ dành ra hết một từng lầu. Trong căn phòng rộng được chia ra nhiều ngăn, mỗi ngăn dành cho một tôn giáo; bàn thờ Phật có lư hương, chuông và treo ảnh phật Thích Ca cạnh bên tượng phật bà Quan Âm. Ngăn dành cho đạo Hồi có bục quì và chiếc bàn vừa đủ để cuốn kinh Koran khổ lớn, dầy cộm. Bên góc trong treo tượng chúa Jêsus với quyển thánh kinh lật ngữa nằm trên kệ. Ngoài ba mối đạo lớn ra, còn có hình ảnh thần thánh khắp nơi được sưu tầm treo ngăn nắp trên một bức tường. Vì ít người lai vãng nên không khí trong phòng lạnh lẽo, ẩm uớt và phảng phất mùi mốc meo, thoạt nhìn thấy giống phòng triển lãm hơn là nơi thờ phượng.    
Đi đây đi đó tiếp xúc với nhiều hạng người,  chứng kiến những trò đời bịp bộm. Vì  vậy đối với tôi ba cái chuyện mượn đạo tạo đời, buôn thần bán thánh không khác nào chuyện các cô gái bán dâm.  Mấy năm nay đi đi lại lại cảng nầy, cũng thường ghé hội quán, nhưng tôi chẳng thấy vị linh mục hay ông cha nhà thờ nào léo hánh tới truyền đạo. Toàn một nhóm người bày biện bán buôn. Treo cờ truyền giáo, bán rượu, bia, bán tạp hoá…và có cả phụ nữ bán dâm. Tôi không hiểu mục sư từ In-đô bay qua đây học hỏi cái ‘đạo’ gì trên đó ?      
 Tuy nhiên phải công nhận hội quán ở cảng Hamburg sinh hoạt rộng ràng, vui vẻ hơn những phòng truyền giáo. Khi tôi bước vào, thủy thủ đông nghẹt, mùi thuốc lá, bia rượu pha lẩn mùi dầu thơm con gái ngây ngấy.  Lúc nào mấy anh Phi-luật-tân cũng rậm đám; tiệc tùng, ăn uống, nói năng ồn ào. Trên bàn của thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đầy bia, rượu và thức ăn, cạnh mỗi anh một em gái Phi-luật-tân trẻ trung môi son, má phấn ngồi ăn uống rất tận tình, có em phì phèo thuốc lá. Các em nầy đến từ hộp đêm bên kia bờ sông Elbe, sinh hoạt thường ngày của các em trong những căn phòng đèn màu hồng của khu St. Pauli. Khi nào mấy anh thủy thủ không đủ thời gian qua chơi với các em, chỉ cần một cú điện thoại, thì các em sẵn sàng tới vui với các anh vài giờ. Nhìn các anh bày tiệc tại đây, tôi cũng đoán được chiếc Blue Sea sẽ khởi hành nội trong đêm nay.       
Trong lúc tôi đứng ngó dáo dác tìm chổ nhập bọn, Edy tới đập lên vai tôi, tôi day lại, nó liền chỉ tay vô phía trong góc phòng:         
– Anh vô trong kia kìa.    
  Tôi đi theo Edy tới chiếc bàn thấp trong góc, ghế ngồi là bộ sa-long bọc nhung, bia rượu đã sẵn và có mấy cô gái ngồi tiếp chuyện. Người đàn ông có gương mặt hiền hậu ngồi vắt chéo chưn, day người ra ngoài làm như không dính dáng gì trong bàn tiệc. Thấy tôi tới anh ta bỏ chưn xuống, đứng dậy bắt tay. Edy giới thiệu anh là mục sư và gả thanh niên bận đồ đen tay trái đeo đồng hồ dây mạ vàng, tay phải đeo chiếc lắc vàng và trên cổ dây chuyền cũng vàng tên Frank, trong tương lai Frank sẽ thành linh mục. Sau màn giới thiệu mục sư kéo ghế mời tôi ngồi cạnh ông. Edy ngồi ngồi xuống băng nệm cạnh Bilia, lani ngồi kế Rischar, Frank ngồi bên Erika và Erika ngồi kế tôi. Bilia và Lani người Phi Luật Tân hai người nhỏ thó, ốm tong ốm teo, Erika người Đức mập thù lù, mấy cô đóng đô trong hội quán nên tôi đã lờn mặt.        
Erika day ngang nói với tôi:
-Từ ngày biết xếp tới nay, chưa bao giờ xếp mời tôi một ly bia.  
Nếu tôi đoán không lầm, tuổi Erika khoảng trên bốn mươi, vì cô tô lên mặt lớp phấn dầy cộm nhưng không dấu được những nét nhăn hai bên khoé mắt, môi thoa son nhưng không còn bóng mộng, răng vàng khói thuốc và nụ cười luôn héo hắt. Khi nào cần những món cần thiết tôi nhờ cô mua dùm, hoặc nhờ láy xe đưa ra phố, được cái lúc nào cô cũng sẵn lòng. Kể ra tôi cũng không công bằng với Erika lắm. Trước kia cô có rủ tôi về nhà ngủ miễn phí, nhưng nghĩ tới cảnh tối nằm ôm cái đống thịt bủng xì bủng xịt, nặng gần cả tạ của cô ta, tức thì cái thằng đàn ông của tôi nó thụt mất tiêu như rùa rút cổ. Thật ra không phải tôi keo kiệt đến đổi không dám mời cô một ly rượu, ăn vài cây xúc xít. Ngặt một điều, cách mời của thủy thủ khác hơn những người thường. Mỗi khi nhập bọn mạnh thằng nào nấy mua bia, rượu để đống lên bàn, mỗi người tự lấy bia khui rồi giơ chai lên hô một tiếng, đồng lượt ngước cổ chổng chai tu. Tôi bưng chai lên:
– Vậy thì bây giờ tôi mời cô.  
Thấy tôi cầm chai lên cụng với Erika, mấy người ngồi chung bàn cũng đưa chai lên ngang mài rồi hô lên một tiếng, ngữa cổ, chổng chai nốc bia ừng ực. Khi để ly xuống, Frank day qua hỏi tôi:
– Anh có đạo không?  
Ngồi chỗ nầy khơi chuyện đạo tôi cảm thấy kỳ khôi, tôi nghĩ ra câu trả lời cho Frank đừng phăng vô chuyện đạo nữa:
-Có,  tôi đạo Phật nhưng sống theo kinh thánh.      
Nghe tôi trả  phân hai, Frank không nói được thêm gì. Tôi day qua ông  mục sư , hỏi:
-Qua đây ông thấy thế nào?     
Ông đưa ngón tay cái ra gặt gặt:
-Tốt thôi.
-Như vầy ông thấy tốt sao?
-Sao lại không?
Tôi nghĩ ông chưa hiểu hết ý tôi, nên tôi khoa tay một vòng, lập lại câu hỏi:        
-Truyền đạo như vầy ông thấy tốt sao?  
Mục sư chưa kịp trả lời, thì Rischar chen vô:        
-Nếu đi tới đâu cũng Chúa không thôi, chắc thủy thủ mỗi khi thèm đàn bà phải tự giải quyết lấy.
Nhìn cái điệu bộ của nó, ngã người vựa ra sau băng nệm, nắm nắm tay để ngang dạ bụng cong người lại làm dấu sụt vô sụt ra… Mấy cô ngồi cạnh bên cười ha hả. Tôi đương hớp bia cũng không nín được cười, làm bia tràn lên mũi sặc văng tùm lum, cái sặc của tôi làm mọi người im bặt. Bây giờ  Frank mới nói:
-Nếu mầy thủ dâm thượng đế sẽ giết mầy.  
Cái ông con chưa thành mục sư, mở miệng ra là muốn truyền đạo. Tự dưng Erika day qua tôi, cô đưa tay ra dấu cứa ngang cần cổ, nói:
-Vậy thì thượng đế sẽ giết xếp trước.
– Tại sao?
Tôi hỏi:
-Hồi biết xếp tới giờ tôi chưa thấy xếp đi với ai hết. Nếu xếp không thủ dâm thì  xếp sẽ làm gì mỗi khi thèm đàn bà ?
Không đợi tôi trả lời, cô ta chộp tay vô giữa háng tôi bóp mạnh một cái, may nhờ cái quần Jean dầy ngăn cản bàn tay thô bạo cô ta, bằng không tôi bị dập dái như chơi. Ông mục sư ngồi ngó cái bầy chiên con của chúa cử chỉ lố lăng, thô bạo, nói năng tục tằng. Nhìn qua tôi, ông lắc đầu mĩm cười… hết ý!    
Năm nay Âu châu tranh giải bóng đá. Bên phòng thể thao ghế xắp hàng ngang giống như rạp hát. Đặt biệt có gắn máy thu hình,  màn ảnh được phóng đại chiếu lên chiếm gần hết bức tường. Những người ham mộ đá banh không thể bỏ qua, tới giờ họ ùa sang phòng bên theo giỏi trận đấu. Những người không khoái đá banh thì rút vô phòng coi phim con heo. Trong ba bây giờ lèo tèo vài mống ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày rượu, vừa uống vừa trò chuyện với cô gái ốm nhôm ốm nhách đứng trong quày.
Bàn chúng tôi cũng kéo nhau coi đá banh,  còn tôi với ông linh mục ngồi lại. Chúng tôi vừa uống rượu vừa trò chuyện. Mục sư cho tôi biết, ông sẽ qua hội quán bên Anh thực tập vào tuần tới, sau đó ông về In đô mở một hội quán ở Jakarta và một ở Batam đúng theo tiêu chuẩn Âu châu.     
Nghe những dự tính của ông, tôi không thắc mắc  nữa, mục sư cũng phải làm kinh tế mới có tiền nuôi vợ, nuôi con chớ. Tôi hỏi sang câu chuyện:
-Ông mở hội quán như vầy không bị chánh quyền In-Đô cấm sao?
 -Không,  không ai cấm hết, mình làm, mình đóng thuế đàng hoàng thôi.  
Câu chuyện được chuyển sang tình hình xã hội ở In Đô. Chuyện Hồi giáo chơi xỏ đạo Tinh Lành; chuyện chánh quyền phần đông là Hồi Giáo, chuyện dân chúng In-Đô sống trong cảnh nghèo đói và chuyện tham nhũng, hối lộ khắp nơi….
Không khí trở nên náo động khi hai đội banh đá hết hiệp đầu. Bà con ùa ra, người mua bia, người đi toilet… Trong khi chờ trận đấu tiếp tục, họ xôn xao bàn tán chuyện đá banh. Có nhóm đánh cuộc, phe nào thua phải trả tiền bia, rượu. Còn thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea sắp sửa khởi hành, các anh tụ ra bãi đậu xe. Sau khi anh tài xế hối thúc liên hồi mỗi anh ôm mỗi em  hôn vội hôn vàng hôn tới tấp rồi mới chịu buôn ra. Cuộc chia tay vui như đốt pháo, khi  xe lăng bánh tiếng hô rân giả từ và cả chục cánh tay đưa ra vẫy vẫy.      
  Trận banh kết thúc đã gần mười một giờ, đúng ra mười một giờ hội quán đóng cửa. Nhưng những hôm có đá banh họ mở cửa trể hơn thường ngày. Những đám đông lúc nào cũng vậy, khi sắp kết cuộc người ta bắt đầu rời rạc, kẽ lo mua sắm, người lo điện thoại…      
  Tôi trong toilet đi ra định tới từ giả bạn bè về tàu. Chợt thấy Frank đứng trước máy bán condom tự động treo trên tường cạnh chậu rửa tay, anh rút một hơi ba bao. Thấy tôi ra anh lắc lắc cái đầu cười gượng, nói:        
-Mấy đứa trong nầy dơ lắm, phải cẩn thận mới yên tâm.
-Dĩ nhiên rồi.      
 Frank đem condom phát cho Edy và Rischar mỗi thằng một gói, còn một gói anh nhét túi quần. Nhìn Frank tôi nghĩ tới một điều này này, trong tương lai, thủy thủ tàu buôn ghé cảng Jakarta và Batam, lên hội quán sẽ thấy những mục sư được đào tạo bên Âu châu về  nước vừa giảng đạo vừa bán bia, bán  rượu và bán… condom.         Đêm vui chơi trên hội quán coi như tàn. Bilia và lani đêm nay chộp được Edy và Rischar, nên hai cô lẹ làng đứng dậy điện thoại gọi tắc xi. Erika biết phận ế ẩm của mình, cô đứng dậy dọn dẹp ly tách trên bàn. Tôi bắt tay từ giả ông mục sư và Frank rồi quay gót. Khi tôi bước ra cửa, xuyên qua ánh đèn trước sân, nước trên trời trúc xuống rào rào làm ướt đẩm cỏ cây hoa lá. Bổng nhiên trời mưa dầm dề như vầy thì làm sao tôi thả bộ xuống tàu được. Đành quay trở vô nhờ xe bus của hội quán, nhưng phải chờ vì chưa có chuyến xe.    
Trong khi chờ đợi tôi kêu một ly bia và leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quầy rượu.  Nhân viên hội quán tắt hết đèn các phòng bên ngoài, chỉ trong ba còn đèn sáng. Ông mục sư theo những người hết phận sự ra xe về trước. Mấy cô gái Phi-luật-tân của các anh bên chiếc Blue Sea để lại vẫn còn ngồi tụm nhau bên chiếc bàn tròn, các cô nói cười dòn tan.  Ngót hơn hai chục năm qua tôi thường tiếp xúc với dân Phi-luật-tân.  Nhưng tôi không hiểu bằng cách nào mà các cô gái nầy có mặt khắp nơi trên thế giới. Đi tới đâu tôi cũng thấy hộp đêm của Phi-luật-tân. Lúc ra ngoài làm ăn các cô đi từng nhóm. Trai thủy thủ, gái giang hồ quấn quít với nhau mỗi khi găp mặt, cùng chia sẻ vui buồn và thụ hưởng những gì hiện có.     Trên bước lãng du, đôi khi tôi cũng có gặp vài cô gái Việt Nam làm trong những hộp đêm của người ngoại quốc. Nhưng khi tiếp chuyện, biết tôi là người đồng hương, các cô liền lánh đi đâu mất. Tôi không nghĩ các cô khi dể tôi  không đủ tiền bao. Có lẽ vì tự ái dân tộc, nên gặp đồng hương các cô mặc cảm không dám hết mình với nghề nghiệp. Giữa thời buổi các thầy tu còn phải tìm đủ mọi cách moi tiền bá tánh. Trong khi đó các cô bán thân  mình cho thiên hạ mua vui, thì lại sợ mang tai mang tiếng, làm ô danh nòi giống. Chụp giựt như mấy cô gái Phi luật tân kia có khi còn phải đói meo. Huống hồ các cô, mần ăn cái kiểu đó thì làm sao mà khá nổi.          
  – Chào ông!      
  Tôi day qua thấy người con gái Phi-luật-tân, tôi chào lại. Sẵn trớn cô ta bắt chuyện hỏi tôi là người nước nào. Tôi nói tôi người Viêt Nam. Cô chìa tay ra bắt và chỉ tay lên bắp tay nói Việt Nam và Phi-luật-tân giống nhau, ý cô ta nói màu da của tôi và cô giống nhau. Bây giờ tôi mới nhìn thẳng cô gái, mặt tròn trịa, hai má bầu bĩnh, đánh phớt lớp phấn mỏng màu hồng, môi son màu tim tím. Cô bận chiếc áo thung màu trắng cổ rộng, áo choàng cũng màu trắng và chiếc váy màu đen. Khi cô cười khoe hàm răng đều như hột bắp, trông duyên dáng quá chừng. Tôi chưa kịp mở lời tán tỉnh, cô ta đã cất tiếng hỏi tôi: –         Đêm nay ông đi với em. Ok.?       Cô vừa hỏi vừa giơ hai tay câu cổ tôi ghì mạnh, ưỡn lên cho phần trên cặp ngực phồng ra cổ áo, mùi dầu thơm ngào ngạt làm lòng tôi rạo rực. Tôi giơ tay bợ chiếc vú tròn, mềm mại và nắm vừa bàn tay. Hai tay cô gái vẫn bấu cổ, hai mắt tự tin nhìn thẳng mặt tôi, chờ câu trả lời.         Chậc! Mới hồi chiều trời trong vắt, chín mười giờ nắng vẫn còn vàng và đường đi khô ráo, không có dấu hiệu chuyển mưa. Đợi tôi sắp sửa ra về thì mưa như trúc nước, làm tôi phải trở vô hội quán. Rồi chợt nhiên xuất hiện một cô gái đẹp như thiên thần tới câu tôi cứng ngắc như vầy.  Quả thật, nếu mọi chuyện trên cõi đời nầy đều do bàn tay của thượng đế sắp đặt, thì tôi cũng sẵn sàng chịu theo sự sắp xếp Ngài.
Nguyễn Lê Hồng Hưng