Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 12

Mỹ viện trợ Việt Nam, gởi cố vấn Mỹ qua càng ngày càng nhiều. Những ngôi nhà rộng lớn cất hồi thời Pháp thuộc, bấy giờ chủ nhà sửa sang lại cho Mỹ mướn. Gia đình tôi có biết chú Tư là người trước kia theo Việt Minh. Hết giặc, chú về thành làm ăn lương thiện để nuôi vợ, nuôi con. Thím Tư có sạp bán cá ở chợ Cần Thơ, còn chú làm nghề thợ mộc cho hãng cây ở gần cầu Xéo. Hãng mộc trúng thầu sửa dẫy nhà gần phòng mạch bác sĩ Thuấn. Chú Tư tới sửa nhà cho hãng thầu không đầy hai ngày thì bị bom nổ, chết tại chỗ khi chú đang cưa cây. Người dân vô tội chết vì miếng cơm manh áo. Chú Tư chết, nhưng việc sửa nhà cho Mỹ mướn vẫn được tiến hành. Rồi người Mỹ cũng dọn vô ở. Họ mướn người Việt giữ an ninh cho họ. Việt Cộng bắt người vô tội hy sinh tánh mạng để dằn mặt người Mỹ, và chống đối sự tham chiến của quân đội Mỹ.

Lúc đó tôi còn nhỏ quá, nên không có ý kiến gì về cuộc chiến này. Dĩ nhiên tôi cũng muốn gia đình tôi được đoàn tụ, không nghĩ tới kẻ thắng người bại, mà chỉ mong cho hai bên ngưng bắn giết lẫn nhau.

Những người theo Việt Cộng tuyên truyền “Mỹ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam”, nhưng tôi lại thấy người Mỹ đem ánh sáng văn minh tới cho người Việt. Chỉ riêng trong tỉnh Cần Thơ, tôi đã thấy các Hội thiện nguyện Mỹ giúp xây cất công viên. Mấy cái ghế đá ở bến Ninh Kiểu đều có dấu tích của tổ chức CARE với hai bàn tay nắm lấy nhau. Họ xây cầu, sửa đường lộ, mở rộng, cất thêm trường học, chủng ngừa cho học sinh. Mức sống của người dân từ thành thị đến thôn quê được thoải mái hơn qua những chương trình viện trợ này. Trong khi đó, ban đêm Việt Cộng lại đặt mìn phá bỏ những công trình này để đưa đời sống người dân trở lại tối tăm, u ám như những hang hố họ đào cho họ.

Tôi không muốn cũng không đòi hỏi gì ở người Mỹ. Họ muốn gì? Họ sẽ làm gì tới dân tộc Việt Nam? Họ có xúc phạm tới nền văn hoá cổ truyền của người Việt không? Nhiều người tự nhận là đồng chí hoặc bạn của ba tôi cảnh giác chúng tôi là Mỹ sẽ xâm lăng Việt Nam như Tây đã làm hồi thế kỷ trước. Do đó, tôi phải có trách nhiệm cộng tác với họ để chống lại cuộc xâm lăng của Mỹ. Nhưng tôi là một đứa con nít cứng đầu, không tin những lời tuyên truyền đó. Tôi cũng không tin ai hết, tôi muốn tự mình nhận xét coi ai thật sự yêu nước, và ai đang hại dân. Tôi khi dễ những hành động phá hoại của Việt Cộng. Tôi hãnh diện về dân tộc mình, nên không muốn bất cứ ai nhảy vào Việt Nam. Mỹ hay Nga đều là ngoại bang, làm gì có chuyện họ thương xót dân mình. Tôi tin rằng khi có hoàn cảnh thuận tiện, khi người dân có quyền tự chủ và tự do, Việt Nam sẽ vươn lên sánh vai với các nước văn minh trên thế giới, không thua kém ai.

Tôi không tin Hoa Kỳ với truyền thống dân chủ lại đem quân xâm chiếm một nước nhỏ bé, xa xôi, cách nhau cả một đại dương. Vào cuối chiến tranh thế giới thứ hai, chính Tổng Thống Roosevelt là một trong các lãnh tụ thế giới chủ trương khuyến khích các nước thực dân như Pháp, Bỉ, Hoà Lan… nên trả lại độc lập cho các thuộc địa mà họ đang cai trị. Vậy thì không lẽ ngày nay Mỹ lại đi ngược với trào lưu mới của thế giới. Tôi nghĩ rằng dân Mỹ không thể quên lời nói bất hủ của Tổng Thống Abraham Lincoln: “Stand with anybody that stands right. Stand with him while he is right and part with him when he goes wrong”. Chủ nghĩa cộng sản là phi nghĩa, là làm trái lòng dân. Đứa nhỏ như chị em tôi đã hiểu như vậy rồi, tại sao những người biết yêu nước lại bị mê hoặc vì cái thuyết này. Tôi ví họ như những người theo đạo khùng, như mê tín dị đoan.

Ba tôi đã làm tròn bổn phận của một người cha đối với chúng tôi, ông dậy chúng tôi yêu quê hương, yêu dân tộc Việt Nam. Tôi tin tưởng ở người, tôi hãnh diện được làm con một nhà cách mạng, người đã hy sinh đời sống cá nhân của mình để tham gia cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Nhưng bước qua thập kỷ 1960, Việt Minh chỉ còn là một bóng mờ của dĩ vãng. Trên thực tế, Mặt trận giải phóng miền Nam mới được thành lập sau cuộc “Đồng Khởi”. Mặt Trận chỉ là một cánh tay vươn dài của Cộng sản Hà Nội mà thôi.

Bên này của con sông Bến Hải là Chánh phủ của ông Ngô Đình Diệm. Hồi còn học tiểu học, học trò chúng tôi thường phải đứng hai bên đường từ cầu Cái Khế tới đại lộ Hoà bình để đón chào Tổng Thống khi ông xuống thăm Cần Thơ. Chờ đợi từ sáng cho đến trưa, tay cầm cờ, lòng nôn nóng, bụng đói, khát nước. Một hôm một ông cán bộ Việt Cộng lớn tuổi, tôi kêu bằng chú, đánh đố đám con nít chúng tôi xem có đứa nào can đảm dám nhổ nước miếng vô mình Tổng Thống, khi ông xuống xe nhận hoa do học trò choàng cho ổng không? Sau một hồi suy nghĩ, tôi trả lời ông:

“Tôi là con ông Đặng Văn Quang chớ không phải vừa ở lỗ nẻ chui lên, nên không ngu dữ vậy đâu, chú”.

Chị Yvonne vội lấy tay bụm miệng tôi lại, rồi bắt tôi xin lỗi. Tôi đã không xin lỗi, mà còn nói thêm:

” Chú hy sinh con của chú đi, chớ cháu có huy chương rồi”!

Ông giận tái mặt, hỏi:

” Cháu làm gì mà được huy chương”?

Tôi vênh mặt đáp: ” Cháu sống ở rừng U Minh mấy năm mà không bị ai kêu là quân rừng, vì quân rừng mới ngu đi nhổ nước miếng vô mình người mà phe quốc gia coi như ông trời!

Tối hôm đó, chị Yvonne kể lại cho dì Bảy nghe câu chuyện tôi trả môi trả miếng ông cán bộ. Tôi bị dì Bảy cho là “đồ khó bảo”, không kính trọng người lớn, làm mất mặt ba tôi, mất mặt dì. Dì còn cấm không cho tôi về vườn nữa. Tôi tủi thân việc không được dì binh vực, mà dì còn nghe lời chị Yvonne, rầy tôi trước mặt mọi người làm tôi mất mặt. Tôi khóc lóc, giẫy giụa, ói mửa cho đã giận. Khi đã hết khóc, tôi làm bộ rên rỉ cho cả nhà sợ một phen. Chị ba Hồng Nga dẫn tôi ra sau vườn vỗ về.

Ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã hiểu những lời tuyên truyền lừa dối của cộng sản là mị dân. Họ hứa hẹn sẽ chia cho tá điền nghèo ruộng đất mà họ tịch thâu của chủ điền giầu. Những dân nghèo tin Việt Cộng, nghèo là phải, vì họ là những người khờ dại hoặc tham lam, làm biếng, không có tinh thần tự lập.

Giữa năm 1954, hơn 800 ngàn người Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Genève. Họ là những người cần cù, đáng làm gương cho những kẻ làm biếng. Sự chọn lựa “đi Nam” của họ là một sự chọn lựa mạo hiểm nhưng khôn ngoan. Họ đã dám lìa bỏ quê cha, đất tổ để vô Nam tìm tự do, tìm cuộc sống thoải mái, hơn là ở với cộng sản. Trong khi đó, chỉ có chừng khoảng 180.000 người Nam tập kết ra Bắc. Nhân chi sơ, tính bổn thiện, cho nên lúc đó tôi chưa biết kỳ thị “Bắc kỳ di cư”. Tôi còn hãnh diện vì có nhiều người Bắc kỳ chọn Cần Thơ là quê hương thứ hai của họ.

Giữa đường Võ Tánh, từ nhà tôi tới trường nam tiểu học có một cái nhà ngói đỏ. Sáng nào đi ngang, tôi cũng đứng lại nhìn thật lâu. Sao mà giống cái nhà ở Ong Vèo vậy, dù bốn cái cột trước nhà không phải bằng gỗ mun! Tôi nói với má tôi về cái nhà này, nhưng má không tin, vì hồi ở Ong Vèo tôi mới có 5 tuổi, làm sao mà nhớ được. Nhưng má cũng đi coi, rồi công nhận tôi nhớ dai. Tôi còn nhớ chính tôi tiếp chị Hiển giăng một cái võng trước nhà, giữa hai cây cột mun. Ba tôi thường đưa Hải Vân ngủ trên cái võng đó. Những kỷ niệm êm đềm ấy, làm sao tôi quên được. Có thể đây là lần đầu tiên ở Cần Thơ, má tôi và tôi nhắc đến Ong Vèo, nhắc đến ba tôi, và những ngày vui ở đó.

Từ ngày em Minh Tâm tôi bị bịnh, hầu như không bao giờ má tôi cười nữa. Nhưng khi tôi nhắc tới Ong Vèo, má tôi sẽ say sưa kể lại những kỷ niệm cũ, cứ một điều “ba con” hai điều “ba con” như một người vợ trẻ nhắc đến chồng.

Trong tiệm may Mỹ Dung, chúng tôi không có những giờ phút riêng tư. Cuộc sống chung chạ với các chị học may làm gia đình tôi mất đi phần nào tự do. Tôi không dám nhắc tới ba tôi trước mặt mọi người, vì ai cũng tin là ba tôi mất tích.

Dù còn là con nít, tôi quen nhiều người trên đường Võ Tánh. Vì vậy, những chuyện xảy ra trên con đường này, vui buồn cũng như những đổi thay, tôi đều biết. Một hôm, có người cho tôi biết ông chủ của căn nhà số 18 trên đường Võ Tánh là một ông cai tù sắp phải đổi ra Phú Quốc, nên muốn bán căn nhà đó trước khi khi đến nhiệm sở mới. Tôi về cho má hay. Vì muốn ở căn nhà đó, tôi “tán” má:

” Má à, có khi mình dọn vô nhà này mình gặp hên đó, má… Nó giống y như cái nhà hồi đó mình ở với ba. Không chừng khi mình ở nhà này ba với anh Khôi về.

Nghe tôi nói, má chỉ cười, nhưng cũng bằng lòng đi coi căn nhà ông cai ngục. Rồi má quyết định mua căn nhà đó, không phải vì lời tán tỉnh của tôi, mà vì má muốn được sống thoải mái hơn. Má bán tiệm may Mỹ Dung cho một người làm nghề giặt ủi, cho học trò về nhà nghỉ xả hơi hai tuần, trong khi chúng tôi dọn tới nhà mới. Nhà có sân trước thật rộng, nên má mướn người sửa cái sân đó thành một tiệm may. Khi tiệm mở cửa lại, tôi vẫn còn giữ sổ sách.

Vì sửa nhà quá tốn kém, má tôi thiếu tiền để trả nốt cho người bán, mà đã đáo hạn. Má sai tôi về vườn xin phép bà ngoại cho tôi bán đôi bông, hai chiếc vòng đeo tay, và sợi dây chuyền mà bà cho tôi. Má tôi thì luôn luôn coi những gì ông bà cho đều là bảo vật, là kỷ niệm quý báu. Riêng tôi, tôi cho những đồ vật đó chỉ là những của cải vật chất, không cần thiết, vì tôi có đeo nó bao giờ. Kỷ niệm đối với tôi là nụ cười vị tha, hiền hoà của bà, là bàn tay bà vuốt mái tóc che hai con mắt của tôi: “Tóc dài sao con không hớt?”. Bà thường hỏi tôi: “Có nghe chừng nào ba con về không?”. Còn bảo vật đối với tôi là tình yêu vô bờ bến của ông bà.

Chiều chúa nhựt, tôi đem vàng ra bán cho tiệm kim hoàn Mỹ Trang ở bến Ninh Kiều để có tiền trả cho ông chủ nhà.

Get your claws off our food! Terrifying moment cannibalistic robber crabs invade family camping trip on remote Australian island

By Claudia Poposki for Daily Mail Australia

Published: 22 September 2020 

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

  • Một gia đình trên đảo Giáng Sinh đang cố gắng thưởng thức bữa tiệc nướng mùa xuân
  • Tuy nhiên, mùi thức ăn đã thu hút đàn cua ‘cướp’ khổng lồ
  • Cua khổng lồ có thể sống tới 50 năm và được coi là ‘người khổng lồ hiền lành’
  • Chúng là loài ăn ngon nhưng được bảo vệ ở Úc như một loài có nguy cơ tuyệt chủng

Một gia đình đang cố gắng thưởng thức bữa tiệc nướng cắm trại mùa xuân trên một hòn đảo bình dị của Úc đã nhận được nhiều hơn những gì họ mong đợi khi nhanh chóng bị bao vây bởi hàng chục con cua cướp khổng lồ.

Loài giáp xác có vẻ ngoài hung dữ, còn được gọi là cua dừa, dài tới một mét và có khứu giác rất mạnh.

Khi gia đình vô tình thưởng thức bữa tiệc nướng ngoài trời trong khi cắm trại trên đảo Giáng sinh biệt lập, ngoài khơi phía Tây Bắc xa xôi của Tây Úc, những con cua đã tụ tập xung quanh họ để tìm kiếm thức ăn.

Những bức ảnh chụp tiệc nướng cho thấy hơn 20 con cua dừa đang chờ đợi cơ hội để ăn nhẹ một ít thức ăn thừa.

Winter McKendrick, con gái của một trong những gia đình khác trong chuyến đi, trông không hề bối rối khi những con cua khổng lồ vây quanh cô khi cô ăn bữa tối trên chiếc ghế xếp.

Bữa tối cắm trại nhóm trở thành thử thách kinh hoàng khi cố gắng tránh xa 52 tên cướp cua

Một loạt các bức ảnh tuyệt vời về bữa tiệc nướng cho thấy hơn 52 sinh vật móng vuốt đang háo hức chờ cơ hội để ăn nhẹ những thức ăn thừa.

Winter McKendrick, con gái của một trong những gia đình khác trong chuyến đi, trông không hề bối rối khi những con cua khổng lồ vây quanh cô khi cô ăn bữa tối trên chiếc ghế cắm trại gấp lại được.

Một con cua dũng cảm được chụp hình đang leo lên cạnh bàn để tiếp cận bữa ăn của gia đình dễ dàng hơn.

 Amy Luetich và gia đình cô ấy đã sống trên Đảo Giáng sinh được vài năm và đang cắm trại cùng một số gia đình khác ở Grants Well, nằm trong khu rừng rậm của hòn đảo.

Bà Luetich nói với Daily Mail Australia: “Chúng tôi đã cắm trại ở khu vực đó một vài lần và chưa bao giờ thấy nhiều tên cướp đến vậy”.

Cô cho biết khi họ đến nơi, có 20 hạt dưới gốc cây đã bắt đầu gieo hạt.

‘Nhưng ngay khi chúng tôi bắt đầu nấu ăn, chúng đã vây quanh chúng tôi. Con trai tôi đếm được 52 con”,

Một con cua dũng cảm đã được nhìn thấy đang leo lên cạnh bàn để dễ dàng tiếp cận bữa ăn ngon được trưng bày hơn

Một trong những con cua được phát hiện đã trèo lên trên vỉ nướng mà nhóm đang sử dụng

‘Công việc của anh ấy là nhặt chúng lên và di chuyển chúng ra khỏi nơi chúng tôi đang ăn. Anh ấy yêu nó.

Cô cho biết vì họ đã sống trên đảo Giáng sinh một thời gian nên đã quen với việc nhìn thấy lũ cua cướp.

Bà Luetich kể: “Sau đó, họ bắt đầu trèo lên bàn và một người khác trèo lên vỉ nướng”.

‘Chúng tôi để lều cách xa nơi chúng tôi ăn uống, nhưng một trong những gia đình cho biết cả đêm họ có thể cảm thấy có tiếng gõ nhẹ vào bên ngoài lều của mình.’

Cua cướp được đặt tên vì thói quen lấy vật lạ từ khu cắm trại

Cua cướp là loài giáp xác trên cạn lớn nhất thế giới và nhiều người coi Đảo Giáng sinh là nhà.

Chúng có thể nặng tới bốn kg và rộng một mét.

Một số có thể sống tới 50 tuổi.

Cua cướp là loài ăn ngon và được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương, nhưng chúng là loài được bảo vệ ở Úc và không thể ăn được.

Cua cướp sàn kiếm ăn những thứ như hạt giống và trái cây.

Cua cướp lớn hơn được biết là ăn thịt những con nhỏ hơn.

Cua dừa là loài leo trèo đặc biệt và di chuyển rất nhanh khi tìm kiếm thức ăn.

Tên của nó xuất phát từ xu hướng lấy vật thể lạ và bỏ chạy cùng chúng.

Cua cướp có họ hàng gần với cua ẩn sĩ và sử dụng vỏ sò hoặc dừa để bảo vệ cho đến khi bụng chúng phát triển cứng.

Những người lái xe trên đảo Giáng sinh được yêu cầu ‘giảm tốc độ và lái xe vòng quanh’ những con vật như thể chúng bị ô tô đâm có thể bị giết.

Những hình ảnh được chia sẻ trên trang Facebook du lịch Đảo Giáng Sinh.

‘Cướp cua cư xử tồi tệ! Một vài gia đình địa phương ở Đảo Giáng Sinh đã có thêm vài miệng ăn để đi dự tiệc BBQ vào cuối tuần”, chú thích viết.

‘Gua dừa có khứu giác cực kỳ tốt và đối với những sinh vật di chuyển chậm, chúng chắc chắn sẽ di chuyển nhanh chóng khi có thức ăn xung quanh.’

Những người theo dõi trang này đã nhanh chóng bình luận về bài đăng, trong đó nhiều người kể lại trải nghiệm của chính họ.

‘Một đêm nọ, bọn này đã đánh mất một chiếc giày thể thao. Không tìm được con cua cướp một chân’, một người nói đùa.

Một người khác nói: “Chúng giống như những chú chó con vậy. Chúng tôi đi chơi trên bãi biển Dolly cho chúng ăn dừa. Rất dễ thương!’

Những người khác lại không hào hứng lắm với khả năng rơi vào hoàn cảnh của gia đình.

“Điều này khiến tôi cảm thấy không thoải mái”, một người nói.

Đảo Giáng sinh có số lượng cua cướp lớn nhất thế giới.

Cua cướp ăn rất ngon, có vị giống như sự kết hợp giữa cua bùn và tôm hùm. Nhưng trong khi chúng được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương thì chúng lại là loài được bảo vệ ở Úc và không thể ăn được.

Du khách được cảnh báo rằng mặc dù loài giáp xác ngoan ngoãn nhưng chúng có thể di chuyển nhanh chóng khi cảm nhận được thức ăn.

Khách du lịch được yêu cầu treo thức ăn của họ lên cây và luôn để mắt đến nó – đặc biệt là trên Bãi biển Dolly.

Các tài xế qua khu vực cũng được yêu cầu chạy chậm để không cán cua.

Người Úc sống ở WA có thể đến thăm Đảo Giáng sinh bất chấp lệnh cấm du lịch trên khắp đất nước.Khách du lịch được cảnh báo rằng cua cướp được ‘bảo vệ và tôn trọng’ trên đảo.

Cua cướp không phải là loài giáp xác duy nhất sinh sống ở Đảo Giáng sinh – ước tính có khoảng 25 triệu con cua đỏ

Cua cướp là loài giáp xác trên cạn lớn nhất thế giới và nhiều người gọi Đảo Giáng sinh là nhà

Đảo Giáng sinh được chuyển quyền sở hữu từ Singapore sang Úc vào tháng 10 năm 1958

Đảo Giáng sinh được chuyển quyền sở hữu từ Singapore sang Úc vào tháng 10 năm 1958.

Hòn đảo này được sử dụng làm trung tâm giam giữ ngoài khơi từ năm 2016 và đã bị đóng cửa trong một thời gian ngắn.

Gia đình Biloela người Sri Lanka đang ở trong cơ sở này,

Tuy nhiên, Đảo Giáng Sinh còn nổi tiếng với đời sống hoang dã tuyệt đẹp.

Hòn đảo này là nơi sinh sống của 25 triệu con cua đỏ, chúng sống trên đất liền cho đến khi di chuyển ra biển để sinh sản và sau đó con non quay trở lại đất liền.

Cá mập voi cũng là nét đặc trưng của hòn đảo vào thời điểm này trong năm.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Giăng lưới bắt tôm

Đặng Chí Bình

Bài 24

Đã chiều muộn, tôi từ giã anh chị Đạt để về nhà, chuẩn bị đi trình diện CA. Về đến nhà, ngạc nhiên, tôi thấy một chiếc xe đạp dựng khóa phía ngoài cửa, thì ra anh chàng Lê Văn Bưởi, cũng là điệp viên ra Bắc cá lẻ như tôi (Thép Đen III). Anh bị án 20 năm, nhưng lại được về trước tôi. Anh ở trên khu Đắc Lộ; tôi và anh đã gặp nhau một lần, giống như anh Bạch. Anh Bưởi đang sống nhờ, tạm trú một gia đình có cái xưởng lán làm gỗ, anh sống lai rai giúp việc nhà cho một người, còn có chút tấm lòng bao dung những kẻ khốn cùng.

Ngoài những chuyện bình thường, anh ghé vào tai tôi thì thầm: “CIA đã bắt mối liên lạc với anh, có thể họ sẽ đón anh đi một ngày gần đây”.

Hoàn cảnh của tôi như một người sắp chết đuối, không có điều kiện nào để bơi nữa, thấy bất cứ vật gì nổi cũng đều bám, hy vọng sống được.

Một chút mặc cảm vấn vít vào vị thế nhỏ bé của mình, anh Bưởi đã tâm sự với tôi từ buổi đầu gặp nhau ở phân trại E, phố Lu Lào Cai 1968. Anh là loại tình báo chiến lược, loại cấp cao của VNCH. Mình chỉ là loại tép riu chiến thuật, nên Mỹ đâu có để ý gì đến! Lòng nghĩ như thế, nhưng cuộc sống của tôi bị nhiều dồn ép, nghẹt thở quá nên tôi đã xuống nước, nói với anh Bưởi:

– Nếu anh đi được, nhớ đừng quên tôi đang bơi lội, trong sình lầy nhé!

Anh Bưởi nhìn tôi với ánh mắt chia xẻ:

– Bình yên tâm, tôi không thể quên Bình đâu!

Tuy nghe anh Bưởi nói thế, nhưng đầu tôi lại lóe lên một ý:

Biết đâu, đây chỉ là một đòn hiểm của CS? Mình là loại do áp lực của Quốc Tế, của dư luận. CS thả về để làm chiếc loa “không công” cho CS, chứ cộng sản không tha do thực lòng họ. Như vậy sớm muộn, nó sẽ cố tìm cớ để bắt lại, hoặc sẽ tạo điều kiện, bầy ra một hình thức khác, để bắt mình về tội hình sự. Có khi còn làm mai một hết những năm tháng tù đày, về chống Cộng Sản của mình. Nghĩ như thế, tôi quay lại tỏ ra bình thường nói chuyện, hơi một chút trầm trồ:

– Làm sao anh lại biết đấy là đường dây của CIA? Họ là loại người nào? Họ đến với anh ra sao?

Anh Bưởi đã biết tôi, không có cơ sở thì làm sao tôi tin, mắt anh liếc nhìn hai phía, rồi ngồi gần lại tôi:

– Là một anh Xích-lô bình thường, họ còn hỏi tôi: Cuộc sống có khó khăn lắm không? Có thể lần gặp tới, họ sẽ cung cấp một hai cây vàng!

Tôi hỏi liền:

– Khi nào lần gặp kỳ tới?

– Sáng thứ Tư này!

Vì có chủ trương nên tôi hỏi rõ:

– Mấy giờ và ở đâu?

-10 giờ sáng ở bùng binh, chợ Bến Thành!

Để biết rõ sự thật, và cũng để một con mắt cho sự việc của anh Bưởi có an toàn không? Ngày mai tôi sẽ ngoan ngoãn đi làm tổ mành trúc, chiều mai (Thứ Ba) sẽ báo cáo ông Bàng, tôi xin đi khám bệnh nơi một ông lang trên Ngã Bẩy sáng thứ Tư, tôi sẽ đi làm buổi chiều.

Hôm sau tôi dậy thật sớm, từ 6 giờ, tôi đã có quán tính, nếu không làm thì thôi, nếu đã định làm thì đừng tiếc công, dù có thiệt thòi hay mệt nhọc hơn, tôi chấp nhận. Để đạt những điều mình muốn, để không than trách tiếc nuối bỏ lỡ công việc này do mình lười, lỗi chính do mình.

Tôi tính anh Bưởi có hẹn 10 giờ, có thể anh Bưởi từ nhà đi sớm từ 9 giờ, nhỡ đi việc khác nữa, anh rời nhà ngay 8 giờ sáng thì sao? Vậy phòng hờ cao, là 7 giờ tôi đã có mặt ở phía trước cửa nhà anh rồi.

Tôi đứng từ một chỗ xa, cách cái cửa lán mộc nơi anh Bưởi đang ở hơn 100 mét. Trong một chỗ khuất nẻo thuận tiện, để nếu anh Bưởi ra, tôi phải biết. Lấy một nắm cơm nếp đã từ hôm kia cô Xuân mang biếu thầy mẹ, chưa ăn hết trong túi. Miệng nhai miếng cơm nếp vừa cứng, vừa hơi có mùi, mắt nhìn lên bầu trời sớm mai của khu Đắc Lộ. Mãi phía Tây, phía có dòng sông Sài Gòn, hơn một chục con hải âu, hay vịt trời cứ vòng quanh chao đảo đuổi nhau, không hiểu chúng đùa vui, hay đang săn đuổi bắt những côn trùng trong không khí?

Mặt trời còn chưa bò dậy mà da trời đã như một cánh buồm xanh mát mắt, chỉ có ba cụm mây nhỏ trăng trắng, cảm tưởng như một bà tiên vừa bưng một rổ bông gòn đi qua để vương vãi. Nếu ở gần, tôi chẳng tiếc công, đến nhặt hết cho cái màu xanh dịu êm ấy, nó êm dịu hơn.

Mãi 9:15 anh Bưởi, mới xách chiếc xe đạp đàn ông (chắc mượn của anh chị chủ nhà) lò cò trong cổng đi ra. Tôi giữ một khoảng cách, tùy theo trên dưới hàng trăm mét, trong dòng người ngược xuôi mỗi lúc càng đông. Tôi không để mất “con mồi” là anh Bưởi, và cũng không để anh Bưởi biết là tôi đang theo anh. Bất chợt tâm tư của tôi lại trở về với tháng Năm, tháng Sáu ở Thăng Long thành 1962. Tôi lại là “con mồi” và thường có năm cái đuôi của phản gián CS đi theo. Khác nhau hoàn toàn về ý nghĩa, bây giờ tôi lại đang dõi theo một đồng chí, một người bạn của tôi. Điệp viên về vườn, theo dõi một điệp viên hết thời. Vì muốn biết sự thật và cảnh giác cho bạn mình, cũng là cho mình. Từ hè của một ngôi nhà có cửa vòm phía gần rạp ciné Lê Lợi ngày xưa, tôi nhìn ra anh Bưởi đang ngồi một mình hút thuốc, trên chiếc ghế ciment ở công viên Quách Thị Trang. Từ 10 giờ kém 10, tinh thần tôi căng thẳng hơn vì điều tiết của mắt. Cả một hiện trường rộng với đầy người, xe cộ qua lại. Không những để ý người sẽ đến với anh Bưởi, mà còn phía sau và chung quanh người đó, từ những hiện tượng, thái độ để mình thẩm định.

Hai mươi phút sau, tức 10 giờ 10, một anh xích – lô, gác xe ở chỗ quán nước phía bên kia bùng binh, anh ta đội chiếc mũ vải tai bèo như nhiều xích – lô khác, che sụp gần kín mắt, thái độ quan sát của anh ta, tôi nghi có thể là đối tượng. Quả như rằng, anh ta vượt những dòng xe để tiến sang bùng binh, mà anh Bưởi vẫn chưa thấy, nhưng anh ta đã nhận thấy anh Bưởi rồi.

Khi anh Bưởi đã nhận ra, anh ta ra hiệu tay để anh Bưởi theo, thái độ anh này rất tháo vát, nhanh nhẹn. Chừng 35, 36 tuổi, mặc chiếc quần short mầu vàng nhạt đã tã. Chiếc áo màu cứt ngựa, rách cụt cả hai tay. Họ đã theo nhau trở về đường Cách Mạng Tháng Tám, vào một quán nước chéo vườn Tao Đàn.

Nửa giờ sau hai người ra hè phố còn bắt tay nhau, một người ra xe đạp, một người đến xích lô và đi về hai ngả khác nhau. Người tôi cần biết là tên xích lô này sẽ đi về đâu, làm gì? Trước khi y rẽ về đường Võ Tành, y còn ngoái lại nhìn về phía sau, sợ có anh Bưởi theo.

Y lách vào mấy phố vắng rồi trở ra đại lộ Trần Hưng Đạo. Điều làm tôi càng đặt vấn đề, khi y đạp xe qua nhà thờ Huyện Sĩ có một bà dẫn tay một đứa nhỏ năm, sáu tuổi vẫy xích – lô, y đã xua tay từ chối. Cuối cùng, y đã đến một ngôi nhà sang trọng, ngay phía trái trước thành CA, nơi hơn ba tuần trước tôi phải đến trình diện, y lái tuột xích – lô vào trong sân. Tôi chờ đến 11:30 không thấy y ra, tôi phải về cơm nước và chuẩn bị đi làm chiều.

Trên đường về nhà, tôi chưa thể có một kết luận rõ ràng, phải sau giờ làm chiều lên nhà anh Bưởi gặp anh đã, nhưng tôi cũng hơi phân định được chiều hướng. Khả năng hãn hữu, nếu không nói là không có cái kiểu CIA lại đặt nơi liên lạc ở trước Thành công an của Cộng Sản. Kể cả phương châm: nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất. Vậy chỉ có thể của Cộng Sản mới hợp tình, hợp lý.

Chiều hôm đó, tôi gặp lại anh Bưởi, tôi muốn đến anh trước rồi về trình diện sau. Anh Bưởi đang hì hục hót đống mùn cưa (cưa máy) trong lán mộc. Tôi cũng loay hoay làm với anh để nói chuyện. Tinh thần thái độ anh Bưởi tỏ ra phấn chấn rõ rệt. Tôi hỏi anh đã gặp người xích lô lần trước hẹn chưa? v.v. . . Anh Bưởi tươi tỉnh trả lời là họ còn xem cả giấy ra trại nữa và tôi cũng đã nói sơ, gợi ý về Bình. Họ nói còn phải xin ý kiến, và dặn tuyệt đối không được mở rộng thêm. Tôi hỏi anh Bưởi một vài việc, cho sáng tỏ thêm như: Gặp họ có lâu không? Họ có mời ăn uống gì không? Phương cách đi như thế nào? và vào khoảng bao giờ? Còn chuyện cây vàng thì sao?

Tất cả anh Bưởi chỉ được biết lờ mờ, thường lấy chữ “bí mật”, chờ, để trả lời nhiều vấn đề v.v. . . Tôi đã ngửi thấy cái hơi ngược hay xuôi rồi. Trước khi tôi có ý kiến, tôi vẫn hỏi để biết về sự tinh tế, của anh Bưởi:

– Anh Bưởi ơi: có lúc nào anh nghĩ đây là một đường dây của CS? Và có khi nào anh thử lại chưa? Như thử một cái máy, xem còn tốt hay hư rồi ấy mà!

Anh Bưởi đã trả lời tôi một cách tin tưởng:

– Họ tư cách, đúng mực lắm!

Không do dự, tôi nói luôn, còn về. Gần đến giờ trình diện và còn sinh hoạt cá nhân:

– Bây giờ anh hãy nghe tôi, anh hãy tìm cách từ chối không giao thiệp nữa. Phần tôi, tôi nói rõ ràng, tôi sống đến bây giờ là vì bố mẹ tôi, bởi vậy tôi chẳng ra đi, khi bố mẹ tôi chưa “mãn phần “.

Thấy anh Bưởi mở to mắt nhìn tôi như không hiểu, tôi cầm tay anh Bưởi bóp nhẹ nói:

– Chiều nay sáu bẩy giờ tối, đến tôi. Rất cần đấy!

Từ lâu, anh Bưởi đã hiểu tôi, khi tôi nói như vậy là có việc cần nói thật.

Vội vàng đạp xe về tới nhà, tôi khẽ mở khóa vào nhà mà, thầy mẹ tôi không biết. Thầy tôi hôm nay chưa ăn cơm, và từ trong màn người cứ rên, nghe não ruột. Mẹ tôi đang lần mò ra chỗ ấm tích, tay sờ miệng chén để rót nước. Tôi cứ đứng yên theo dõi, một tay mẹ tôi cầm một viên thuốc, một tay cầm chén nước, chân chậm chạp tiến về phía giường thầy tôi. Nhưng người không có tay sờ, nên lại đi ra phía cửa để rồi xô vào chiếc xe đạp tôi dựng sát cửa sổ, rơi cả thuốc, đổ cả chén nước, tôi không nhanh tay đỡ ôm lấy người thì người đã ngã xuống nền nhà.

Mắt tôi lại mờ đi, ôm mẹ mà lòng tôi như quắt lại, vặn vò xót xa. Miệng tôi gọi mẹ chỉ còn thều thào. Tôi đỡ mẹ tôi đến giường thầy tôi, thầy tôi kêu đau bụng từ chiều, mẹ tôi đã mò mẫm kiếm được viên thuốc, rồi rót nước cố đưa đến cho thầy tôi. Cầm tay thầy, tôi còn hổn hển:

– Thầy đau ở đâu?

Thầy tôi không nói, mà chỉ run rẩy chỉ tay xuống bụng, tôi chỉ biết cho người uống thuốc, rồi xoa bụng cho người. Tôi vo gạo, gầy nồi cơm, nhìn trong chạn chỉ còn hai miếng đậu rán, lúc trưa còn lại, trong khi chờ cơm chín, tôi tranh thủ cầm sổ chạy sang cô CA Mỹ Lệ ở xóm trong.

Đi qua nhà bà Lân phía cuối nhà thờ, nhìn trên cái sạp bán những thứ lặt vặt của bà, một hũ cà ghém nén trắng phau, quyến rũ tôi đã từ lâu. Trình diện xong trở về phen này quyết tâm mua một đồng cà, để cho đời lên hương và thỏa lòng thèm muốn của mình. Cứ nghĩ đến câu: Canh đay, chan đẵm… Quả cà cắn ngang là nước miếng của tôi đã rỉ ra cuống họng rồi. Lần trước em Thu đã đút vào túi tôi mười đồng, hôm nay còn ba đồng trong túi, nên khi trở về tôi đã thực hiện được cái hạnh phúc đó. Tuy chưa tròn, chưa có canh rau đay, điều này phải chờ khi nào em Xuân hay em Thu, vì tôi chưa biết nấu, nhưng từ quan điểm: Hãy thích những cái gì mình đang có, lòng tôi vẫn thấy xởi lởi mang gói cà về.

Thầy tôi chắc đã đỡ đau, nằm im, mẹ tôi đã về giường, tôi trang trọng nhè nhẹ chuẩn bị một bữa cơm thịnh soạn, để cùng hưởng với thầy mẹ tôi.

Khi cơm đã đầy đủ trên chiếc bàn con góc nhà, tôi vào đỡ thầy tôi ngồi dậy, và dẫn thầy tôi xuống bếp đi tiểu với lời khích lệ:

– Hôm nay con thổi cơm rất dẻo, vì thầy đau bụng!

Tôi đã đỡ mẹ tôi ra ngồi một ghế, mẹ tôi hãy còn tinh tế thật! Tôi chưa nói gì thế mà cụ chỉ ngồi một tí đã hỏi:

– Tao ngửi thấy mùi cà ghém nén phải không?

Tôi đã vồ lấy hai tay cụ, trầm trồ:

– Mẹ của con giỏi lắm! Con vừa mua cà ở hiệu bà Lân.

Mâm cơm chỉ có đĩa đậu (hai miếng nhỏ) và một bát cà ghém nén, một bát con mắm tôm (không có chanh). Tôi đã có chủ định: hai miếng đậu để dành cho song thân, mỗi người một. Tôi đã có cà và thêm thắt chút mắm tôm.

Nghiệm ra rằng cứ hình dung, như những ngày còn ngồi trong xà- lim ở Hỏa Lò, hạnh phúc cuộc đời lại ùa về tràn ấp lòng tôi. Ngày ấy làm gì có cà ghém mắm tôm, làm gì có bát cơm đầy, và làm gì được ngồi với đấng sinh thành?

Tôi xin cảm tạ Chúa, cảm tạ cuộc đời thật nhiều, đã ban cho tôi niềm hạnh phúc này. Nhìn ba bát cơm còn khói bay lên, nhìn thầy tôi nhìn mẹ tôi, rồi tôi nhìn lên bàn thờ Chúa. Đức Mẹ Maria giang tay, nhìn gia đình tôi bằng đôi mắt bao la dịu hiền. Mẹ tôi làm dấu nguyện kinh theo thủ tục tôn giáo, tôi làm theo thủ tục gia đình là mời thầy, mời mẹ xơi cơm. Tôi đã gắp hai miếng đậu vào bát hai người, riêng mẹ tôi có thêm một quả cà.

Nhìn đôi mắt của mẹ tôi lòa hõm vào, nhưng khi người cắn quả cà, tôi cảm thấy nét hân hoan của mẹ tôi. Tôi phải xuống bếp lấy chiếc quạt nan, khi nãy nấu cơm tôi đã mang xuống, bây giờ nhìn mồ hôi đã lấm tấm trên mặt mẹ tôi, tôi phải quạt cho người.

Khi trở lại bát cơm của tôi lại có hai miếng đậu, tôi không muốn, mà nước mắt tôi cứ tràn ra, làm sao tôi ăn được hai miếng đậu này. Tôi gắp lại bát thầy mẹ, mà tay tôi còn run rẩy vì tấm lòng thương con, lồng lộng như đại dương của các người (bây giờ ngồi viết lại mấy dòng này mắt tôi lại mờ đi).

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Người ấy đã sang đò

Đặng Chí Bình

Bài 23

Trên đường đi xe, tôi đã được biết sơ lược: Vì Lộc không biết gì giữa tôi và cô Vân, nên cũng chẳng hỏi kỹ ông Võ. Chỉ biết cô Vân đã lấy chồng cuối năm 1969, HCM chết xong thì cô Vân đám cưới với một Trung úy bộ đội đi B. Hiện nay cô đã có một con trai 6 – 7 tuổi, Lộc cũng không nói chuyện với cô Vân, ngay ông Võ, Lộc cũng không biết địa chỉ.

Tôi trình diện CA về, thì Lộc cũng đã nấu xong cơm, tôi hì hục bác trứng và luộc tí rau muống, đã mua từ hôm qua. Hai anh em ăn cơm ở sàn trên gác, chỉ có trứng bác và rau muống luộc, nhưng thật đậm đà nghĩa tình trong khó khăn cuộc sống, của những người đi tù về.

Phần tôi vẫn thèm, nhớ tiếng hát của Lộc vàng nhất là lòng tôi đang nát nhão, như dưa khú lâu ngày. Tôi đã cho Lộc biết sơ sơ một chút sự liên hệ giữa tôi và cô Vân. Sau khi cơm nước xong, Lộc đã nho nhỏ hát tặng tôi một bài trên căn gác trống, không có đàn, trống. Tôi đã nằm lịm đi để mặc cho giọng hát truyền cảm của Lộc, chui luồn vào cơ thể, rúc vào hồn tôi. Theo Lộc, đây là bài: Lá Đổ Muôn Chiều:

Thu đi cho lá vàng …….bay….

Lá rơi…….cho đám cưới về……..

Có những đêm về sáng……..

Đời . buồn…..chi mấy cố nhân ơi…..

Đã vội chi……men rượu…. nhấp đôi môi…..

Mà phung phí…..đời em…..không tiếc nhớ… …

Lá đổ muôn chiều…..ôi lá úa…..

Phải chăng . . . . . là nước mắt người đi . . .

Em ơi…..đừng dối lòng……

Dù sao chăng nữa…….không nhớ đến tình đôi ta……..

Thôi thế đây……anh cố đành quên ….rằng có người ……

Cầm bằng……như không biết ………mà thôi…….

Lá Thu…..còn lại……đôi ba cánh…..

Đành lòng….cho nước cuốn…….hoa trôi…..

Thôi thế từ nay…….như vàng bay…….

Làm lòng anh …….nhớ mãi……… người ơi……

Nhớ nhau …….từ làn môi ………đôi mắt……..

Đời vắng em rồi……….vui với ai?………

(Đoàn Chuẩn, lời Từ Linh)

Lộc vàng đã đập vào chân tôi, dù tôi không ngủ, nhưng tôi như vừa ở một vùng đầy sương khói chui ra. Một ý thơ của T.T.KH hãy còn già một nửa ở trong đầu:

Nếu biết rằng tôi….. đã ……..lấy chồng!

Trời ơi!…….người ấy có ……buồn không?…..

Bao nhiêu ngược xuôi, ngang dọc rối rắm trong đầu, tôi thừa nhận cô Vân lấy chồng là đúng, là hợp lý, vậy mà tại sao, tôi vẫn buồn? Lộc nói, mà mắt nhìn tôi như nài nỉ:

– Anh đưa em về đi, kẻo khuya!

Tôi muốn Lộc ngủ lại với tôi đêm nay, nhưng Lộc cũng đã hiểu. Bất ngờ lũ Nặc – Nô CA lại vào khám nhà. Hai bên đều tự hiểu, tôi đứng dậy đưa Lộc về Khánh Hội. Bố mẹ tôi đã nằm yên ở trong màn, tôi cũng cần về sớm, sợ chúng vào lúc tôi không có nhà. Chiều theo ý của Lộc, tôi đạp xe theo đường Công Lý để Lộc nhìn Dinh Độc Lập một lần. Mới khoảng hơn 9 giờ mà Sài Gòn đã đìu hiu vắng vẻ.

Bao nhiêu năm xa vắng, tôi nhìn Dinh Độc Lập tận mắt, niềm ước mơ, niềm khắc khoải nhớ thương, thế mà tâm trạng của tôi chỉ thấy dửng dưng, quấn quít một chút xót xa. Nhìn tòa nhà từ xa, dưới ánh đèn đêm của thành phố, tôi có cảm tường như nét mặt của thầy tôi. Chiếc cửa sổ chiếu ánh đèn lờ mờ như đôi mắt kèm nhèm, cửa to phía dưới như cái miệng của thầy tôi méo xẹo, trong đêm CA vào khám nhà. Đã đạp xe qua rồi, mà đầu tôi còn ngoái lại; đúng nét mặt thiểu não của thầy tôi, cụ cũng đã lẩn thẩn rồi!

Đến một xóm nghèo phía bên kia cầu Khánh Hội. Một cái ôm khắng khít chia tay với Lộc, không hẹn ngày gặp lại. Nét mặt của Lộc, cũng thiểu não như nét mặt của thầy tôi khi nãy đi qua, Lộc đã giúi vào túi tôi 10 đồng. Tôi hiểu Lộc muốn chia xẻ với cảnh đời rách mướp của tôi lúc này, nhưng tôi đã cương quyết không nhận! Phần vì chính cảnh sống của Lộc cũng chỉ là một cái “sơ mướp”, phần khác, dù tôi đang gặp khó khăn thế này, hay rồi đây sẽ hơn nhiều thế nữa, tôi vẫn đứng bằng chính đôi chân của tôi. Tôi đã trả lại Lộc, những người cùng khổ có lòng và một cái ôm chặt nữa, để chia tay.

Hôm sau, buổi sáng tôi không làm sao bò dậy được, miệng khô đắng như cho giấy vào thấm, đã đến giờ ra tổ Mành Trúc, nhưng tôi cố mãi vẫn chưa ngồi được lên. Phải ra báo và xin phép nghỉ một ngày, nhưng tôi đành nằm liệt. Thế mà khoảng 9 giờ, cô ả Mỹ Lệ đã mò đến gõ cửa. Tôi nghe tiếng của thầy tôi nói, không thành câu:

– Thằng Bình ốm. . . . . .trên gác!

Tôi nghe tiếng chân khe khẽ, nhè nhẹ bước lên thang gác! Cô “ả” này liều thật? Nếu mặt cô “ả” không phải là quả cà ghém luộc? Và nếu tôi không có định kiến “ghét rồi” từ hôm đầu gặp “ả” thì cơ hội này, sẽ có một câu chuyện của cuộc đời.

Một giọng êm nhẹ, khác với mọi khi:

– Anh Bình!

Tôi cứ nằm im trong màn, xem sao?

Tiếng bước chân nhè nhẹ trên sàn gác, rồi chiếc màn tôi nhúc nhích: Đúng là coi “trời bằng vung”. Cô ả lưỡng lự, dùng dằng một lúc, rồi cô bước chân rón rén đi xuống nhà. Cho đến khi nghe tiếng chốt cửa của thầy tôi, một ý tưởng không thực tế len lỏi vào đầu: Giá đấy là cô Vân. Tôi cong hai chân bật người dậy theo thói quen, xuống đến dưới nhà nghe tiếng mẹ tôi ở trong màn:

– Con đã uống thuốc gì chưa?

Thầy tôi cũng đã chui ra khỏi màn. Để thầy mẹ tôi yên lòng, tôi nói cố ra vẻ bình thường:

– Con không có sao đâu!

Mấy hôm trước cô Thu, đã đưa sang hơn một chục ký gạo và một nải chuối. Tôi phải sắp xếp dọn dẹp trong nhà. Khi còn ở trong tù, tưởng như không có ngày về thì mơ ước, thèm khát được làm những công việc này, để phụng dưỡng đấng sinh thành. Bây giờ có, lại coi thường! Không thấy đó là một điều may mắn, sung sướng! Tâm lý của con người cũng kỳ lạ!

Tôi chợt nhớ đến thằng Đạt, từ cái dạo tôi mới về thằng Lợi đã cho tôi biết sơ về Đạt. Tôi cũng xin sơ lược về Đạt.

Thời gian 1955-1956 tôi chạy Bình Xuyên, lên sống ở trại định cư Hà Nội Hố Nai Biên Hòa. ở đây, tôi đã quen Nguyễn Hữu Lợi và Nguyễn Đức Đạt. Tôi với Đạt cũng chơi thân, nhưng không thân bằng Lợi với tôi. Bố của Đạt làm về bưu điện ở ngoài Bắc, bây giờ di cư vào Nam, già yếu về hưu.

Một số cậu thanh niên Hà Nội ở trại chơi với nhau, trong đó có Lợi, Đạt và tôi. Khi tôi đi Bắc, cậu nào cũng còn độc thân. Khi tôi trở về thì Nguyễn Hữu Lợi (tôi đã tường thuật trên), còn thằng Nguyễn Đức Đạt, nghe vợ chồng Lợi nói: Thằng Đạt có cái tú tài đôi đã theo nghề bố, thi vào ngạch bưu điện. Thời gian Mỹ ồ ạt vào miền Nam, Sài Gòn cũng “cuốn theo chiều gió” thằng Đạt nghe đâu đã làm trướng phòng nhân viên “bở béo” ngay bưu điện trung ương ở Sài Gòn (cạnh nhà thờ chính tòa). Hiện nay vợ con gia đình Đạt đang ở Trương Tấn Bửu, còn vì sao gia đình nó lại không đi di tản, tôi sẽ đến thăm gia đình, và hỏi trực tiếp nó.

Lợi dụng ngày hôm nay (không đến tổ mành trúc), tôi chuẩn bị lo nhà cửa và cho bố mẹ xong, xách xe đạp, tôi sang tìm nhà thằng Đạt. Sau một lúc mò mẫm, tôi đã đứng trước nhà của Đạt, thoáng qua một vài nét bên ngoài cũng là loại khá giả, nhưng không bằng thằng Lợi. Tôi bấm chuông đứng chờ, qua vợ chồng Lợi, nên Đạt và tôi không có cái bất ngờ gặp lại. Ngày xưa cậu trưởng phòng này, nọ; giờ đây đang ngồi đút cơm cho đứa con út, giúp vợ, giữ nhà.

Đạt rất vui, gọi cả vợ con trên gác xuống giới thiệu. Anh chị Đạt được năm sáu đứa con, đứa con gái lớn cũng 17 tuổi, con trai kế tiếp là Nguyễn Vạn Thắng 15 tuổi. Vợ chồng Đạt cứ ríu rít định làm cơm ăn bữa chiều. Tôi đã hiểu dưới chế độ “tem phiếu” nên tôi dứt khoát từ chối, lý do phải về trông nom ông bà cụ v.v. . . Ngay từ ngày tôi chưa đi Bắc, Đạt vẫn mến nể tôi, nhất là về mặt ngang tàng coi nguy hiểm là chuyện bình thường.

Do đấy, khi ở phòng khách chỉ có Đạt và tôi, tôi đã hỏi Đạt, có rào đón. Chính tôi cũng muốn biết tâm trạng, sự hiểu biết của một người có tú tài đôi, đã từng là một trường phòng ở Sài Gòn, cũng đã tiếp xúc nhiều với bạn bè Mỹ, Việt v.v. . . nên tôi đã ngửng lên hỏi:

– Đạt ơi? Bây giờ tao hỏi mày, với lòng tự trọng, trả lời những suy nghĩ thực mày đang nghĩ. Mày có đồng ý như thế không?

Mặt Đạt ngẩng lên tỏ ra, rất chân thành:

– Mày hỏi gì tao cũng nói sự thật?

Thấy đã đủ để biết rõ vấn đề, tôi hỏi ngay:

– Lý do chính, vì sao gia đình mày không đi di tản?

Thằng Đạt, cái mặt chảy dài, đứng hẳn dậy, nói như còn phẫn uất:

– Cái số của tao, chỉ vì vợ tao khi đó đang chửa đứa thứ tư, bố tao lại đang ốm nặng. Ngày 27-4, thằng Ted Folk, trung uý Hải Quân, quen thân gia đình tao, nói hai ba lần, tao vẫn dứt khoát không đi.

Ngập ngừng một chút, nhìn qua cửa sổ rồi quay lại, tỏra thành khẩn:

– Thực sự khi ấy tao còn tiếc cái nhà này, và đi như vậy, sẽ không biết như thế nào. Người ta bảo: “xẩy nhà ra thất nghiệp”.

Để cho cạn lý, tôi gặng hỏi tiếp:

– Mày nghĩ kỹ lại đi, còn một lý do nào nữa, để mày không đi?

Nó nhìn tôi chăm chú, và lấc đầu. Vào thời gian ấy (1980-1981), vượt biên bị lừa lọc, bị chết cao nhất. Tôi nhớ có một chiếc tầu ở ngoài Cấp bị vỡ, đắm chết hơn 300 người. Khu Ông Tạ, Tân Bình hầu như nhiều nhà phải để tang ngầm. Tôi thấy thằng Đạt cứ lúng túng, tìm nhiều lý do để bảo vệ. Đạt chưa nhìn thấy cái nguyên nhân chính, vì thế tôi đặt một câu hỏi nữa cho sáng vấn đề. Trước khi hỏi, tôi vẫn phải ràng lại:

– Bây giờ tao hỏi thật mày một câu, mà cũng nói thực lòng mày: “Nếu bây giờ có một chiếc tầu của Mỹ đến cảng Bạch Đằng, mày phải bỏ hết tất cả, cả vợ con, nhà cửa, bố mẹ, chỉ được mặc một chiếc quần đùi, tầu sẽ đón đi, mày có đi không?”

Đạt tươi hẳn mặt, nói như quả quyết:

– Đi, đi chứ! Tao đi ngay?

Tôi thong thả nói rành rọt:

– Như thế, tất cả những lý do mày nói, đều là sai cả! Cái nguyên nhân chính mày không nhìn thấy, hoặc chỉ nhìn thấy mập mờ, để mày và gia đình không đi di tản ngày 30/4/1975 là khi ấy mày chưa nhìn rõ CS. Mày không ngờ CS đểu ra, sắt thép, nham hiểm như bây giờ!

Mặt thằng Đạt lại đực ra, đầu gật gật, miệng còn nói như nhắc lại:

– Tao không ngờ nó độc hiểm, sắt máu như vậy!

Tôi phải nói chút nữa cho trọn ý:

– Mày nhớ, ông cụ (bố của Đạt) và mày, đã từng ở khu 3 (Việt Minh) về thành 1950 (vào Hà Nội). Đã di cư vào miền Nam 1954, mà còn mơ hồ, chưa nhìn rõ sự việc. Huống chi hầu hết đồng bào ở miền Nam. Chưa một ngày sống với CS, và nếu có biết về CS cũng chỉ qua sách báo, thì làm sao hiểu được cái tim đen của họ. Anh còn vũ khí, anh còn tiền, anh còn bên ngoài vòng kiềm tỏa của họ, anh đừng vội vỗ ngực, tự đắc: Tao còn đi guốc vào những lừa lọc, thủ đoạn của CS. Chưa đâu! Khi nào anh đã hạ vũ khí cất đi, anh hết tiền, anh đã vào trong sự kiềm tỏa của CS. Khi đó anh mới hiểu tim đen của CS, mà một khi anh đã hiểu, đã đủ hiểu thì anh không còn, làm gì được CS nữa.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Thăm mộ cụ Ngô

Đặng Chí Bình

Bài 22

Tôi đã vận dụng lý do: Mẹ tôi vừa ho ra máu, bố tôi đêm qua đã té ở dưới bếp, chảy máu mũi. Tôi phải lo cơm nước, thuốc men cho hai cụ, và tôi phải thu xếp nhiều chuyện trong nhà v.v. . . Thứ Ba tuần tới tôi mới có thể đi làm việc ở tổ Mành Trúc, trong khi chúng bắt tôi đi làm Thứ Hai. Phải dùng nhiều cách để hỗ trợ nhau, tên Mậu mới đồng ý.

Như thế phải tranh thủ ngày mai, tôi thực hiện cái chủ trương thứ ba, là thăm mộ Cụ Ngô. Những ngày trước, tôi lựa lời thăm hỏi, không ngờ người cho tôi tin tức tương đối đáng tin cậy, là ông Trùm Lộc. Ông là công giáo được phường chỉ định làm tổ trưởng khu phố của tôi. Tối thứ Năm hàng tuần, tôi vẫn phải đến nhà ông để sinh hoạt tổ dân phố với bà con, đọc báo và nghe thông báo điều này, khoản kia của Phường, của Quận. ông Trùm Lộc, hơn sáu chục tuổi tỏ vẻ lấm lét, ghé vào tai tôi thì thầm:

– Mộ của Cụ Diệm và ông Nhu được ông bà Trần Trung Dung (là cháu), chôn ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi.

Tôi hiểu một mình tôi vào thăm mộ hai người, là không tiện lắm! Tôi biết tụi CS vẫn rải những công an chìm, lẫn vào những người ra vào nghĩa trang. Như chúng sẽ bí mật chụp hình, hoặc để ý những ai còn tư tưởng hướng về một người mà chúng kình địch. Những tổng thống, hoặc các vị lãnh đạo khác chúng chẳng phí thời gian làm như vậy.

Tôi đã hẹn trước với cháu Thanh Lan, con của cô Xuân cũng đã 19 – 20 tuổi rồi. Điều tôi không thể quên, là cái tên “Thanh Lan” này lại chính tôi đã đặt cho cháu, khi vào thăm mẹ nó sinh ở nhà thương Từ Dũ. Hơn một năm trước ngày tôi đi Bắc, bố nó là công nhân ở Ba Son, đẻ con đầu lòng chưa kịp đặt tên. Bấy giờ anh trai vào thăm, nên mẹ nó nhờ tôi đặt tên cho cháu luôn. Đi với cháu gái, cho có vẻ gia đình, nếu biết khéo léo ứng xử có thể qua mặt, những con mắt cú vọ của CA chìm.

Hai bác cháu đã mò mẫm đến được mục tiêu. Lúc đầu, tôi còn ngồi xa xa cạnh những ngôi mộ khác, để quan sát theo dõi toàn bộ hiện trường. Tôi hơi ngạc nhiên, nhìn hai bó huệ còn tươi và một bó to bạch hồng, ở mỗi ngôi mộ. Hơn một chục cây nhang đang nghi ngút tỏa mùi hương, luồn vào trong gió của mỗi ngôi mộ.

Tôi bần thần, ngước mắt nhìn lên mây trời , lòng tôi rung rung mở dần ra như một sự cảm ơn không bằng lời. Những ai đã vừa tặng hoa, thắp nhang cho hai ngôi mộ đặc biệt này? Phải chăng cũng là những người dân vô danh như tôi và cháu Lan? Chỉ vì lòng ngưỡng phục một người đã dám gạt bỏ tiền tài và danh vọng, chọn cái chết dứt khoát, không chịu để chủ quyền Quốc Gia bị xâm phạm, không những người dân ngưỡng phục, kẻ thù cũng không thể coi thường.

Thấy không có gì trở ngại, tôi và cháu Lan trang trọng thắp nhang và đặt một bông hoa hồng nhỏ (tôi không đủ tiền mua một bó), như tỏ tấm lòng của một người, đã nhận một nhiệm vụ trong thời của cụ, ra Hà Nội nhưng bất tài, kém khả năng hiểu biết, nên đã rơi vào tay kẻ thù. Nay sống sót trở về, tôi xin cúi đầu tạ tội với cụ, với đồng bào lầm than khổ đau hiện nay, và sau này.

Tôi nhìn kỹ từng phần nhỏ của hai ngôi mộ, rồi tôi lại nhìn lên trời. Mây đen trắng lổn nhổn trên nền xanh mát của bầu trời. Tôi ngắm một đám mây to, đang đùn lên về phía Đông. Tôi chợt thấy- có thể từ lòng thành mong ước, hay trí tưởng tượng- rõ ràng tôi nhìn thấy nét mặt một bà cụ già tóc trắng phau, bộ mặt hiền từ đôn hậu. Mắt Cụ đang đăm đăm nhìn tôi, cháu Lan và hai ngôi mộ. Một luồng lạnh từ trong xương sống đi dần lên đầu tôi, phải chăng là hồn thiêng của dân tộc, linh khí của sông núi và của Sài Gòn đã bốc lên, kết tụ lại? Đó là Người Mẹ Hiền Việt Nam. Miệng của Mẹ mấp máy tôi nghe rành rọt:

Các con thương yêu của mẹ! Với ý chí rắn chắc, bền bỉ chịu đựng, các con hãy đứng dậy bằng chính đôi chân của mình, mẹ luôn luôn đứng bên cạnh và độ trì cho các con.

Tôi bàng hoàng thảng thốt, quay lại cháu Lan đang quỳ bên cạnh, mắt cháu Lan cũng đang ngước nhìn lên trời. Không biết cháu có nghe thấy những lời, của Mẹ Việt Nam như tôi không?

Kính thưa quý vị độc giả ! Hiện giờ tôi đang viết hồi ký tường thuật lại những cảnh đời tôi đã trải qua! Theo sự hiểu biết của tôi, hồi ký là tường thuật lại những sự việc gì tai tôi nghe, mắt tôi thấy, những sự kiện tôi đã phải trải qua và những gì chính tôi cảm nghĩ ở trong trại tù, không thể nhìn được trong buồng xà- lim này với trong buồng xà-lim kia. Ngoài trại chung không thể chứng kiến buồng này, nhìn sang buồng khác, càng không thể biết được cảm nghĩ của người khác. Viết như vậy là tưởng tượng, tưởng tượng là hư cấu, hư cấu là viết tiểu thuyết. Tôi luôn luôn tôn trọng sự hiểu biết rộng rãi, sáng suốt của quý vị.

Có một chuyện nhỏ, nhưng buồn cười, tôi xin trình bày, như một thể hiện lòng tôn trọng của tôi về sự sáng suốt của quý vị. Khi cháu Lan và tôi dắt hai chiếc xe đạp vào nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, mấy bà, mấy cô bán nhang, nến, hoa xông ra mời chào:

– Mời cậu mợ mua hoa đi!

– Mời cậu mợ mua nhang, nến này!

Tôi đã nghiêm mặt nói rõ ràng:

– Đây là cháu của tôi! Tôi là bác của nó!

Mấy bà xin lỗi, nhưng có cô lại buông một câu cộc lốc:

– Thế mà!

Do sự mời chào, lôi kéo khách mua hàng, nhưng cũng nói lên một điều: Vì tù lâu, nằm yên một chỗ, nên tôi không già lắm! Lòng tôi cũng “rổn” lên một niềm vui, hy vọng sẽ lấy được vợ, không sợ ở “giá”

Cháu Lan hiện nay đã có ba con, người cháu rể tên là Mão, hai vợ chồng mở một hiệu phở khá đông khách, ở Ông Tạ Sài Gòn.

Buổi chiều, tôi và bố mẹ vừa ăn xong, thì có tiếng gõ cửa, tôi lại tưởng CA. Nhưng thật vui, đó là anh Đèo Văn Bạch, anh được về trước tôi 7- 8 tháng, anh đã đến thăm tôi hơn tuần lễ trước. Nhà anh ở phía trước hồ bơi Cộng Hòa, tôi lại phải nhớ để ghi vào sổ trình diện, anh Bạch trình diện tháng một lần. Sở dĩ tôi tưởng anh Bạch là CA, vì mới đêm qua CA phường, CA khu vực một giờ đêm, đập cửa nhà tôi rầm rầm. Chúng bắt mở cửa ngay, cửa vừa mở chúng gạt tôi ra, chen lấn vào trong nhà. Đèn pin chiếu loang loáng khắp trên gác, dưới bếp, xoi mói, chúng bắt đưa sổ hộ khẩu, sổ trình diện. Tôi còn thoáng thấy một vài tên áo vàng nữa, phía sau nhà. Cảnh giác của chúng thật cao và kỹ thuật cũng thâm hậu.

Chúng suy đoán, bất ngờ ban đêm đột nhập vào khám nhà, nếu trong nhà có người lạ, không hợp pháp thì sẽ chạy chuồn ra ngoài, nên chúng đã phòng sẵn bên ngoài. Tôi thì chẳng ngán ngẩm gì, nhưng thầy mẹ tôi mù lòa, già yếu, các người hốt hoảng đờ người ra.

Tôi không nhìn rõ, nhưng chắc mặt các người phải tái đi, chúng kéo hất tung cả mùng mền của thầy mẹ tôi.

Tôi cảm thấy, tôi có lỗi với bậc sinh thành lắm, không những làm các người lo lắng, mà ngay giấc ngủ của các người cũng không yên. Sau khi chúng rút đi rồi, không một lời chào thầy mẹ tôi, tôi đã quỳ xuống, gục đầu vào đầu gối mẹ tôi, mắt tôi mờ đi, nói trong nghẹn ngào:

– Xin thầy mẹ, tha lỗi cho con!

Mẹ tôi đưa bàn tay run rẩy vuốt đầu tôi, từng dòng nước từ đôi mắt loà chảy xuống má, mẹ tôi không nói ra lời, bố tôi đã vào màn, chỉ nghe những tiếng thều thào mệt nhọc:

– Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi!

Tôi không hiểu thực dân Pháp ngày trước có làm như thế với người dân không?

Sáng hôm sau tôi đã đến tổ mành trúc, với cái tên: “Mành Trúc Xuất Khẩu 19 tháng Năm”. Đây là một khu thủ công chuyên sản xuất mành trúc của Phường, chừng gần hai chục người, năm sáu cậu 15- 16 tuổi, bẩy tám bà xồn xồn 30- 35 tuổi, vài thanh niên, mấy ông nhơ nhỡ như tôi. Tổ mành trúc do một bác chừng 50 tuổi, tên là Bằng làm tổ trưởng, các công nhân kể trên toàn là thường dân, chỉ có tôi là đi tù về mà thôi. Thấy tôi có vẻ nhanh nhẹn, nên ông Bằng phân công tôi ở khâu cắt trúc, bằng một chiếc máy cưa con con.

Sản xuất tính theo giờ và mức khoán, hình thức thì có vẻ nền nếp, nhưng thực tế thì không phải như thế. Chỉ thoáng qua thái độ làm việc của mọi người, qua các khâu tôi đã thấy, cũng như cái chung của công nhân dưới chế độ ưu việt XHCN dân chủ gấp triệu lần các chế độ dân chủ, của các nước tư bản. Trên sổ sách ghi 7 đồng một ngày, nhưng riêng tôi cuối tuần lãnh lương chiều thứ Sáu, ông Bằng đã khất lại, để tuần sau. Chỉ hơn một tuần tôi đã biết ông Bằng là một cán bộ của phường. Từ đó, trừ thứ Bẩy, Chủ Nhật cuối tuần, hoặc những ngày đặc biệt tôi phải lên Thành xuống Quận, ngày nào tôi cũng phải đi làm ở tổ Mành Trúc.

Một buổi chiều tôi cà rịch, cà tàng đạp xe đến đường Phan Đình Phùng để mua thuốc đau mắt cho mẹ tôi, thoáng một bóng người quen quen, anh ta đang định trèo lên một chiếc xe Buýt. Tôi dẫn xe đến, người đó cũng quay lại. Ồ! Tôi không thể tin ở mắt mình, Lộc, Lộc Vàng! Tôi và Lộc Vàng đã ríu rít như “mít quậy sinh tố với dứa”, vừa ngọt vừa thơm ngát. Lộc Vàng trong vụ nhạc vàng “đồi trụy” của Hà Nội năm 1967 (tôi đã tường thuật), tôi siết chặt tay Lộc vồn vã:

– Sao lại ở đây? Sao lại ở trong này? Vào đây bao giờ và ở đâu?

Lộc không trả lời, mà cũng cuống quít hỏi tôi tới tấp:

– Anh về bao giờ? Nhìn anh mà em không nghĩ là anh? Vì em không tin được!

Nhớ lại những ngày cuối tuần buồn lê thê, trong trại tù Thanh Phong muốn tìm những giờ phút trầm lắng để gửi hồn chơi vơi về những nơi mình muốn. Cái thú nhất giai đoạn ấy với tôi là ngồi năm bẩy người, những người cùng “gu” phóng đãng chơi vơi tâm hồn, với một ca trà rừng đặc, nhấm nháp bằng những chiếc ly nứa con tự chế.

Sắp xếp người “ghếch” (tiếng trong tù) áo vàng. Nếu có áo vàng vào trại thì người gác ra hiệu, trong này lời ca tiếng nhạc, bất đầu đổi “gam” từ nhạc xanh ra nhạc “đỏ”. Toán Xồm đàn, Đắc Sọ đập sàn nứa thay trống, Lộc Vàng ca Nhạc “tiền chiến, như những bài: Thiên Thai, Đêm Đông, Suối Mơ, Cánh hoa duyên kiếp v.v. . . Hay nhạc “vàng”: Mưa Rừng, Tầu Đêm Năm Cũ v. v… Thậm chí cả những bài của Sài Gòn sau này (tôi chưa biết) Đời Là Vạn Ngày Sầu, Xuân Này Con Không Về, Áo Lụa Hà Đông v.v. . .

Giọng ca của Lộc Vàng nổi tiếng của đất Thăng Long. Bây giờ trong một bối cảnh lâm ly ngục tù, ngồi lim dim đôi mắt, mặc cho lời ca, tiếng nhạc tỉ tê rót vào tai, thì còn cái thú nào hơn?

Sau khi miền Nam bị “cướp giật” CS chuyển tôi ra trại xây. Nhóm “nhạc vàng” Toán Xồm, Đắc Sọ, Thành Tai Voi và Lộc Vàng, tôi không còn gặp nữa. Cho tới ngày tôi được ra từ trại Thanh Phong (Thanh Hóa) giữa năm 1980 cùng với Toán Xồm, tôi không có thời gian để hỏi về những người trong nhóm đó.

Hôm nay, bất chợt gặp lại Lộc Vàng ở Sài Gòn. Lộc Vàng đã được tha từ 1977, như thế Lộc đã có hơn hai năm ở ngoài chiếc lồng to, cuộc sống tần tảo, Lộc đã xoay sở đủ nghề: quét vôi, làm thuê, gánh nước v.v. . .

Hiện nay, Lộc tìm vào Sài Gòn “phe phẩy” vặt vãnh, tìm nơi “đất lành chim đậu”. Gặp tôi, Lộc tưởng là một dịp may, Lộc có biết đâu, tôi còn bị o-ép, đè bóp hơn ở trong tù. Ngồi ở một quán nước mía, hai anh em tâm tình, đều tắc tị. Trong những câu chuyện lan man, đến những người đã đi tù về, hiện đang ở Hà Nội, chợt Lộc nói như khoe thành tích:

– Em mới gặp ông Võ, bây giờ về hưu, ông buồn lắm! ông ấy muốn về Nam mà không có tiền!

Đầu óc tôi lơ mơ, chưa nhớ rõ “Võ” nào? Thấy mặt tôi ngẩn tò te, Lộc đã hỏi, như giải thích:

– Anh không biết ông Võ, chánh giám thị ở Hỏa Lò à?

Tôi chợt nhớ, ông Võ đó đã có “ân” với tôi, đã cấm CAVT đánh tôi, trong buổi tôi trốn tù ở Hỏa Lò 1964. Tôi săn đón hơn:

– Ủa, em gặp trong trường hợp nào? ông ta có khỏe không?

Lộc vẫn vồn vã:

– Em mới ngồi uống cà phê với cụ ấy ở Hàng Trống, cụ ấy bây giờ hom hem, bé tí, em cũng gặp cô Vân y tá nữa!

Như một luồng điện, tôi vội vàng cầm tay Lộc, vồ vập:

– Em biết cô Vân ư? Em gặp cô ấy ở đâu?

Lộc lại lơ đãng vô tình, không thấy sự mất bình thường của tôi, Lộc trả lời một cách rời rạc:

– Em đang ngồi với ông Võ, thấy cô Vân đi với một đứa nhỏ, em hỏi luôn ông Võ, là cô Vân có con lớn thế?

– Ông Võ trả lời em sao?

Bây giờ Lộc đã thấy thái độ không thường của tôi, Lộc còn cười, nói như đùa trêu tôi:

– Mặt anh làm gì mà thất sắc thế! Làm như cô Vân là bồ của anh không bằng?

Tôi đứng dậy trả tiền, kéo Lộc ra mé đường, tôi muốn rủ Lộc về nhà tôi chơi để hỏi thêm chi tiết, phần vì cũng gần tối đến giờ trình diện, và còn phải mua thuốc kịp cho mẹ. Lộc nói là Lộc về Bắc chuyến tầu Thống Nhất chiều mai, Lộc hiện đang ở nhà một người quen bên Khánh Hội. Tôi cứ khẩn khoản bảo Lộc ngồi lên yên, tôi “đèo” đi mua thuốc cho mẹ. Chơi với tôi, khoảng 9 giờ tôi sẽ mang Lộc về Khánh Hội.

Tôi ngấu nghiến đạp xe, mua thuốc rồi về, mới 6: 30 đã tới nhà. Trên đường tôi đã cho Lộc biết sơ qua cảnh sống của tôi. Lộc lại tỏ ra thương cảm, chia xẻ với tôi hơn, tôi chỉ có 4 đồng, trả tiền nước mía hết 2 đồng chỉ còn 2 đồng, tôi đành mua hai quả trứng vịt 1đồng 50 để bác, có rau muống luộc nữa, thế là hơn trong tù rồi. Bố mẹ tôi đã ăn cơm từ chiều. Tôi chỉ cho Lộc bếp núc, rồi tôi lấy cuốn vở sang nhà cô Mỹ Lệ ở xóm bên, trình diện. Gạo hãy còn nhiều, hai chục ký, thằng Lợi cho đã ăn hết đâu.

Xe đò tháng Chạp!

 đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Nhà thơ Thanh Nam, người di tản, xa quê, buồn u uất, đã từng viết: “Một năm người có mười hai tháng/ Ta chỉ riêng mình một tháng Tư”

Tháng Tư buồn thiệt! Tháng của những ngày ly biệt, rồi ra đi biền biệt, dẫu quê lòng tha thiết nhớ… nhưng làm sao biết tới ngày nào mà về quê cũ?

Nhưng tui còn buồn hơn nhà thơ Thanh Nam nữa. Ông buồn chỉ tháng Tư; tui còn buồn thêm tháng Chạp, tháng cuối cùng của năm. Con nhớ Má! Má ơi!

Ôi tháng Chạp, năm cùng tháng tận, xa quê, ai cũng muốn về nơi chôn nhau cắt rún để coi cái nhau rún ngày xưa (của tui), Tía vùi trong quê đất, chắc nó cũng lạc mất rồi… Nhưng cái tình quê tha thiết sao vẫn còn mãi trong tui!

Ôi nhớ xưa! Chiều cuối năm đi học xa, Tết gần kề thì đâu còn lòng dạ nào mà học! Chữ nghĩa không có vô vì chỉ trông ngóng ngày về.

Từ Sài Gòn về Mỹ Tho thì phải đi xe đò. Nhưng xe không chạy trên sông sao gọi xe đò? Có nhà từ nguyên học cắt nghĩa như vầy:“Đồng bằng Nam Bộ sông rạch chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường lộ chưa có nhiều, xe đến bến, khách phải đi tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện?!”

Tui nghe nhà từ nguyên học nầy cắt nghĩa như vậy là tui nghe vậy… rồi để đó!

Chớ trong bụng, lại nghĩ rằng: Đúng là Lục tỉnh Nam Kỳ mình sông rạch chằng chịt! Hồi chưa có lộ; có xe, bà con mình phải đi đò. Nào là đò dọc, đò ngang, chở khách từ bến nước nầy xuôi hay ngang qua bến khác, rồi lại quay về bến cũ

Xe đò, chắc cũng thế, đưa người từ bến nầy tới bến kia, thả khách cũ xong, bắt khách mới, quay trở lại bến cũ, như cái thoi đưa, nên ông bà mình gọi đó là xe đò?!

(Sao tui khoái chữ bắt khách và thả khách của giới xe đò giàn trời mây đi?!

Bắt khách, nhốt vô cái thùng bằng sắt tây, trấn lột lấy tiền vé, chạy lắc lắc hồi lâu tới bến; rồi thả khách ra tiếp tục bắt khách khác! )

Nhớ xưa đón xe ở dọc đường, tài xế chưa kịp ngừng hẳn là lơ xe nhảy xuống nắm tay mình kéo lên!“Tới luôn bác tài!” Là xe nó dọt lẹ vì phải ngăn thằng chạy sau qua mặt; kẻo nó hớt hết khách dọc đường!

Tui là đực rựa nên cái vụ nắm tay kéo áo nầy hỏng nhằm nhè gì! Nhưng có em nào coi đã con mắt, đi gần xa gì cũng được, lơ xe nó hốt lên liền! Một là có thêm tiền hay là đụng sơ chút chút cho nó khoái.

Ở đây không dám quơ đũa cả nắm đâu nhe mấy bác tài và lơ xe! Mấy ông lỡ có đọc bài nầy… xin đừng giận lẫy mà xài xể tui! Tội nghiệp!

Vài tay lơ xe quả là dê đạo lộ. Bác tài là bác của lơ xe; dĩ nhiên cái vụ dê nầy là chắc Bác cũng hơn thằng cháu hàng trăm cây số!

Nghe nói bác tài ngoài con vợ dữ như bà chằn ở nhà, bác tài vẫn tỉnh bơ, sơ cua (xe nào mà không có bánh sơ cua chớ?) ít nhứt thêm một vài em đi buôn chuyến đường dài.

Luôn ưu tiên cho người đẹp, giắt bông lài, ngồi sau lưng bác tài. Ghế số một cữ đàn bà con gái ngồi. Không phải trọng nam khinh nữ gì đâu; mà chỉ sợ cho người đẹp ngồi ngang mặt; bác tài cứ “địa” qua hoài; không lo lái là có ngày bay xuống ruộng!

Mới đây, tui có đọc tin một chiếc xe đổ đèo mà thắng lại không ăn. Bà con trên xe kêu cứu, la khóc rùm trời! May nhờ tài xế chiếc khác nhanh trí kêu ông đụng ‘đít’ tui đi! Hai xe bèn dìu nhau xuống đèo, an toàn xa lộ!

Nên bác tài cứu khổ cứu nạn nầy được quan lớn tặng thưởng vô lăng (volant) vàng. Cái vô lăng nầy không bằng vàng đâu mà ham! Nó bằng giấy… giấy khen!

Rồi có một bác tài chở chừng 6, 7 chục hành khách; hát xiệc, vừa lái xe vừa ăn mì gói đó. Ngon hông? Hành khách lên ruột, bèn chụp hình bằng mobile phone làm bằng chứng để đi méc, nên bác tài nầy nghe nói sẽ được nghỉ cầm lái dài dài.

“Ê! Cấm phóng nhanh giành đường vượt ẩu; chớ đâu có cấm vừa cầm tay lái vừa ăn mì gói (tại tui đói) sao lại đuổi tui?”

Tui e rằng bác tài nầy xe được các quan tặng cái bằng ‘vô lăng mì gói’!

Thưa thời Tây, ông bà mình đi xe ngựa không hè. Giờ thì có quốc lộ, tỉnh lộ trải nhựa và hương lộ trải đá. Rồi xe bên Tây nhập về để chở khách, chở hàng hóa!

Xe của Tây nên tiếng Pháp ăn theo, nhập vào kho tàng từ vựng của tiếng Việt mình. Démareur, ‘đề ma rưa’, cắt bớt đuôi, thành đề, là bộ phận khởi động xe! Manavel, ‘ma ni quên’, que sắt dùng để quay, khởi động xe,đôi khi được dân đứng bến quơ quơ như cây thiết bảng của Tề Thiên để đe dọa đám xe khác dám cạnh tranh, giành kéo, níu khách của mình.

Còn lơ xe là ‘Contrôleur’ có nghĩa là người soát vé mà ra! Sau nầy, tụi nó gọi là phụ xế!

Nhưng tài xế lại là tiếng Quảng Đông, do hai tiếng “đại xa” đọc theo tiếng Việt thì gần như là “tài sé”.

Tùy theo chạy đường xa hay gần; số hành khách nhiều hay ít nên xe đò có ba loại: nhỏ 10-15 người (tài xế kiêm lơ xe), loại trung (lỡ) chở 2, 3 chục khách (một tài xế, một lơ xe), loại lớn lên đến 50-70 người (gồm một tài xế, một lơ xe, và có thêm thằng nhỏ, theo học việc, chỉ được chủ xe cho ăn cơm, lâu lâu được chủ xe cho tiền cà phê thuốc lá chớ không có trả lương! Lơ nầy gọi là lơ cơm!

Xe đò chạy từ Sài Gòn về tận cùng đất mũi Cà Mau trên kiếng xe có chơi thêm chữ ‘chạy suốt’ cho nó oai! Sau nầy còn thêm chữ ‘tốc hành’ nghĩa là tao chạy lẹ đó nhe!

Lúc Tây còn làm cha thì hãng Renault của Pháp, xe thân dài (như xe của hãng Tân Mỹ chạy Tân An – Mỹ Tho), làm bá chủ!.

Tới thời Việt Nam Cộng Hòa của mình, sau 1954, thì tới phiên xe Mỹ như De Soto, Chevrolet, Ford , GMC… Nhựt Bổn ráng chen vô một tụ, hãng Toyota!

Xe lô (ca xông)! Như của hãng xe lô Minh Chánh ở Mỹ Tho! Nguyên là xe Huê Kỳ, của hãng Ford, đã cũ, ghế ngồi được thay đổi để chở được nhiều, khách phải đợi cho đủ số người sau đó xe sẽ chạy suốt, ít ngừng ở dọc đường. (Còn cuốc bộ thì gọi là đi ‘lô ca chưn!)

Để: ‘Nhỏ đưa anh, mặt mày ủ dột/ Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm…

xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh/ Nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn!’

Những chiếc xe đò chạy đường Sài Gòn Mỹ Tho mang tên như Á Đông, Tân Á, Đông Á của thầy Hài! Thuận Thành của ông Sáu Thuận và những hãng nhỏ hơn chỉ có một hai chiếc như: Ngọc Châu và Chánh Đức!

Xe đò đi miền Tây như: Hiệp Thành chạy Vĩnh Long, Đức Hiệp chạy Cần Thơ, rồi Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Đại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành,Tam Hữu chạy tới Bạc Liêu, Cà Mau hay qua Bắc Mỹ Thuận quẹo về tay phải đi Sa Đéc qua Bắc Vàm Cống về Long Xuyên và Rạch Giá.

Nhắc tới xe đò thì mình phải nhớ tới xe thơ chớ!

Đầu thập niên 20, Pháp đã thiết lập hệ thống nhà dây thép ở các tỉnh miền Nam.

Sau nầy gọi là Ty Bưu Điện. Mới đầu chỉ là bưu chính nghĩa là thơ tín cộng thêm đánh “morse” để chuyển điện tín cho nó nhanh.

Chuyến xe thơ chở thơ tín (được bỏ trong bao bố có niêm dấu khằn) cho Bưu Điện, thường chạy sớm khoảng 4 hay 5 giờ sáng, có quyền ưu tiên qua cầu Bến Lức, cầu Tân An hay Bắc Mỹ Thuận, Bắc Cần Thơ hoặc Bắc Vàm Cống!

Chủ xe không nhận tiền công mà được hưởng quyền ưu tiên qua cầu phà trước; không cần xếp hàng nối đuôi. Do đó, nhiều hãng xe các tỉnh tình nguyện nhận làm chùa! Đôi khi còn giành nhau khiến Ty Bưu Điện phải cho bắt thăm hàng năm; coi đứa nào được! Cũng là một cách các hãng xe cạnh tranh, phục vụ hành khách rất là chánh đáng!

xe-do-thang-chap-4Chủ xe chỉ cần treo tấm bảng “xe thơ” chữ màu đỏ phía trước. Nhiều hành khách thích đi xe thơ vì xe ưu tiên, nhanh chóng về quê mà không phải mất thời gian chờ đợi qua phà lâu lắc.

 Hồi nhỏ, mỗi lần được Tía má cho về quê Nội hoặc Ngoại ăn Tết là tối đêm trước khi đi, chu choa, ngủ không được! Vì sắp thoát khỏi cái đất Sài Gòn khói bụi và tù túng! Mà còn vì tui, giống như mấy thằng nhóc khác cùng tuổi, rất thích được đi xe đò, thích ngồi hàng ghế đầu, sát cửa sổ, phè phè ngắm phố phường chầm chậm lướt qua…

Ra khỏi thành phố là tha hồ ngắm cánh đồng cuối năm chỉ còn trơ gốc rạ. Những đống rơm to đùng! Khói nhà ai bốc lên trong sương sớm?! Xa xa, những vườn cây, dòng sông lóng lánh như dải bạc! Xe đò ngày cũ quả là những ký ức tuổi thơ êm đềm!

Lại nhớ năm 1961, Tía tui từ Bưu Điện Rạch Giá đổi về Sài Gòn! Cả nhà đông quá nên bao nguyên một cái băng 7 chỗ, trên chiếc xe đò Liên Trung thuở đó.

Tới Lấp Vò là phải xuống xe lội bộ vì tối qua Việt cộng mò ra đắp mô, đào đường phá hoại!

Tới bến xe Petrus Ký của Sài Gòn hoa lệ, cả nhà tíu tít làm sao mà để quên con chó cưng! Ôi con Mực của tui thời thơ ấu, giờ chú em phiêu bạt tới tiệm cầy tơ bảy món phương nào?!

Đêm nay, đêm tháng Chạp cuối năm, tui thả hồn về quê cũ!

Lại nhớ Giáng Thu, người ca sĩ gốc Ấn Độ, với bài hát của nhạc sĩ Hoài Linh: “Chuyến xe đầu đưa người từ lòng nôi/ Vào nhân thế chơi vơi/ Tay không hành lý ngóng nhìn về tương lai/ Ngỡ ngàng lên tiếng khóc cười/ Thay cho lời đầu tiên người nói!

Tháng năm dài vui buồn tuổi chồng thêm/ Ngọt cay cũng mau quen/ Xe loan nhiều chuyến cát bụi mòn chân đen/ Sang giàu may mắn phút đầu/Hay những đổ gẫy đôi ba cầu/

Xe hoa đưa người êm ấm tình nồng/ Em, anh nên nghĩa đôi vợ chồng/ Se tơ hồng một duyên hai bóng/

Duyên ưa có người chỉ một xe đầu/ Có người vài lần thương đau/ Có người chẳng bao giờ đâu.

Sáng trưa chiều khi tuổi đời nặng gieo/ Vòng tay cũng xuôi theo/ Công danh ngày ấy giấc mộng tình hôm nay/ Cũng về như chiếc lá gầy /Xe đơn lạnh tiễn ai trong nầy?”

Vâng đúng vậy! Đời ta như lên những chuyến xe “đò” và cuối cùng ai cũng lên một chuyến xe “đòn” hết ráo.

Nên tháng Chạp cuối năm về; xin bà con và tui cứ vui lên đi khi mình còn được lên xe đò, nghĩa là vẫn còn lắc lư sống theo nhịp xe rung trong cuộc đời quá khổ đau nầy. Ha ha!

đoàn xuân thu

Xạo có số má!

Đoàn Xuân Thu

April 6th, 2023

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Thấy nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết xưng là Tiến sĩ NSND thì nghệ sĩ cải lương Kim Tuyến ở quận Cam, thủ đô của người Việt tị nạn CS tại Hoa Kỳ đặt quá nhiều dấu chấm hỏi:

– Bạch Tuyết không học trung học, không học đại học thì làm sao có bằng tiến sĩ?

– Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu?

– Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ðức thì làm luận án tiến sĩ bằng tiếng gì? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt?

– Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng tiến sĩ danh dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường đại học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng tiến sĩ giấy?

Tui cũng muốn đem mấy cái hồ nghi, mấy cái thắc mắc nầy đi hỏi Tiến sĩ NSND Bạch Tuyết như nghệ sĩ cải lương Kim Tuyến hỏi. Nhưng nghĩ tới, nghĩ lui, suy đi tính lại thấy không cần nữa đâu. Vì mới đây, ông Nguyễn Ðình Thi, Hiệu trưởng Sân khấu – Ðiện ảnh Hà Nội đã đề xuất NSND được tính tương đương như tiến sĩ.

Như vậy chúng ta sẽ có Tiến sĩ Kim Cương, Tiến sĩ Út Trà Ôn, Tiến sĩ Bảy Bá.  Tiến sĩ Bạch Tuyết bóng nhẫy, mướt rượt như tắm xà bông Cô Ba có 72% dầu dừa.

Thế nên xin đừng có nói danh xưng tiến sĩ nầy do bả ‘nổ’ như đẻ ở Trảng Bom, nổ ‘banh ta lông’ đó nhe bà con!

Rồi nhân NSND Diệp Lang vừa mới qua đời ở quận Cam, Hoa Kỳ, Tiến sĩ NSND, cụ bà Bạch Tuyết có viết như vầy: “Ở tuổi 79 chứng kiến những cuộc ‘di cư’ của người thân, bạn bè đồng nghiệp… lần lượt ra đi em đã quen dần với điều đó… Ấy vậy mà nhận được tin buồn của anh… em vẫn cứ day dứt và đau lòng khó tả…”

“Chuyến đi bão táp” năm 1984 với vở Ðời Cô Lựu… Ðó chính là cuộc hội ngộ đặc biệt trong cuộc đời làm nghệ thuật của cả hai. Trong cuộc đời của cô Lựu (vở cải lương Ðời Cô Lựu) có rất nhiều lần kết hợp với ông Hội Ðồng (Ðều là những nghệ sĩ tên tuổi và giỏi nghề). Ấy vậy mà, chỉ riêng ông hội đồng của anh là khiến cho cô Lựu đau đớn và nặng lòng nhất với từng câu thoại rất ư là “hội đồng Thăng”

“Từ ngày bà bước chân vô cái nhà này, tôi chưa bao giờ thấy bà nở với tôi một nụ cười, gương mặt lúc nào cũng trầm tư? U uất, nặng nề, âm trì địa ngục. Mười mấy, hai mươi năm rồi bà chờ đợi ở cái gì…Còn cái gì nữa mà bà chờ đợi, xương cha nó cũng mục nói chi là xương con…”                                                                

Một vở cải lương đã gần 40 năm mà đi đâu làm gì khán giả cũng nhắc nhớ… đó là phước báu của Tổ dành tặng cho cả ‘ekip’ mình… Bài viết ký là:  Em Bạch Tuyết.

Xưng em; vì ông Diệp Lang 82 tuổi; còn bà cụ Tiến Sĩ NSND Bạch Tuyết cũng đã 79 tuổi rồi. Cái tuổi con cháu đùm đề, gần đất xa trời thì nói dóc làm chi cho chúng nó khi?

Nói dóc ở đoạn nào? Ở đoạn: “Anh em nghệ sĩ chúng tôi đã bịn rịn chia ly Nguyễn Minh Thành (nghệ sĩ Thành Ðược) thủ vai đầu tiên vì “sự cố bắt cóc”, anh phải rời đi… đến một quốc gia khác…”

Không tin vụ em Bạch Tuyết nói anh Thành Ðược bị bắt cóc, tui bèn lục lọi trên web thì thấy như vầy: “Nghệ sĩ cải lương Thành Ðược là một trong những nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam thập niên 1980. Vào năm 1984, khi lưu diễn ở Tây Âu, ông đã đào thoát tìm tự do bằng cách lẩn trốn khỏi đoàn diễn. Thành Ðược đã được những người ủng hộ tại Châu Âu giúp đỡ, bao gồm việc cung cấp chỗ ở và thức ăn, để ông có thể tự lập cuộc sống mới. Trong thời gian đó, ông cũng đã tham gia các hoạt động vận động chống lại chính quyền Cộng sản ở Việt Nam.

Sau khi sống ở Châu Âu một thời gian, Thành Ðược đã được chính quyền Pháp cấp thị thực và cho phép định cư tại nước này. Tại Pháp, ông tiếp tục hoạt động nghệ thuật và trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng của cộng đồng người Việt tại Pháp. Sau khi sống ở Pháp một thời gian, Thành Ðược chuyển đến Hoa Kỳ và định cư tại tiểu bang California. Ông đã mở một nhà hàng cùng vợ tại thành phố San Jose, California. Bên cạnh đó, Thành Ðược cũng tiếp tục hoạt động nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa, giao lưu giữa cộng đồng người Việt tại Mỹ.”

Theo tui đoán mò nhưng chắc trúng: “Một nước Tây Âu như nước Ðức, có luật pháp đàng hoàng mà có cái vụ Thành Ðược bị bắt cóc nữa sao ta? Tội “kidnap” (bắt cóc) là một tội nặng, tù mọt gông chớ hổng phải chuyện giỡn chơi. “Tội bắt cóc là hành vi phạm tội nghiêm trọng, khi một người khống chế, ép buộc hoặc bắt cóc một người khác mà không có sự cho phép của nạn nhân hoặc của pháp luật. Tội bắt cóc là một trong những hành vi đe dọa tính mạng và tự do cá nhân của nạn nhân, do đó, bị xem là một tội ác đặc biệt nghiêm trọng và bị trừng phạt nghiêm khắc ở hầu hết các quốc gia.

Tại Ðức, theo Ðiều 234 của Bộ luật Hình sự, tội bắt cóc bị xem là một tội ác nghiêm trọng và bị xử theo cách nghiêm khắc. Nếu bị kết án tội bắt cóc, bị cáo có thể bị phạt tù từ 1 đến 15 năm, hoặc thậm chí có thể bị kết án tù chung thân. Ngoài ra, nếu hành vi bắt cóc gây ra thương tích, tổn thất tài sản, hoặc các hậu quả khác, bị cáo cũng sẽ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân”

Bằng cớ là ngày 25, tháng Bảy, năm 2018, Tòa án ở Berlin, Ðức đã tuyên án một người Czech gốc Việt, 3 năm 10 tháng tù vì tội tham gia giúp đỡ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đem về Hà Nội xử hai án chung thân.

Cụ bà Tiến sĩ NSND Bạch Tuyết mới đây có kể lại chuyện nghệ sĩ Thành Ðược bị bắt cóc? Bà con trong nước khen nức nở: “Bà tiến sĩ kể chuyện lâm li quá. Có thể dựng thành tuồng đấy!”.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Chương 11

Năm 1958, tôi học lớp nhứt ở trường Nữ Tiểu học. Cô giáo của tôi là cô Nguyễn Thị Hoa, người Bắc. Có có mái tóc dài đen mươt, nước da cô ngăm đen. Cô đẹp, khả ái và đặc biệt rất quý học trò của cô. So với cô Xuân Phương, cô Hoa dễ tánh hơn. Ngày cô lấy chồng, chúng tôi tò mò hỏi dò mấy đứa bạn có chị em bạn của cô Hoa, thì được biết người đã lọt mắt xanh của cô là một ông phi công. Nhưng cô chưa vui được lâu. Một hôm, chúng tôi đã thấy cô khóc nức nở vào giờ ra chơi. Tin sét đánh là chồng cô đã tử trận. Rồi từ đó, mỗi lần máy bay trực thăng bay ngang trời, cô quay mặt vô vách. Chúng tôi thấy vậy đều giữ im lặng như muốn tôn trọng nỗi đau khổ của cô. Hôm nào có nhiều máy bay, cô ra sân đứng, không cho chúng tôi thấy cô khóc. Từ đó cho tới cuối niên học, cả lớp bỗng trở nên ngoan ngoãn, không đứa nào dám làm cô phật ý. Không biết cô có hiểu chúng tôi làm như để chia buồn cùng cô không?

Năm đó là năm cuối cùng của bậc tiểu học, nên tôi rất chăm chỉ để sửa soạn thi vô trường trung học Phan Thanh Giản, năm đó cũng là năm gia đình tôi nhận được một tin quan trọng. Lần đầu tiên trong năm năm, chúng tôi được tin của ba tôi, người đàn ông lạ mặt đến tìm má tôi với mật khẩu chỉ riêng má tôi biết thôi. Ông tự giới thiệu: “Hai Lồi kêu tôi tới gặp chị!”. Vừa nghe nói đến “Hai Lồi”, má tôi giựt mình. “Hai Lồi” tên lóng của anh Khôi, vì lúc nhỏ anh bị lồi rún. Sau khi nói mật khẩu, sứ giả bí mật cho biết ba tôi muốn gặp má tôi ở Nam Vang. Ông ta cũng chỉ dẫn mọi đường đi nước bước để má có thể đến chỗ hẹn an toàn. Ông còn dặn thêm là má tôi phải đến đúng hẹn vì ba tôi không thể chờ lâu được. Nghe tin này, đứa nào cũng muốn đi gặp ba. Nhưng tiền đâu mà dẫn hết đám con nít đi Nam Vang. Đường đi từ Cần Thơ lên Nam Vang trong thời ấy rất nguy hiểm, má tôi cho biết, nếu đi cả nhà, lúc về sẽ không còn tiền để làm ăn nữa, phải bắt đầu lại từ con số không. Riêng tôi, tôi rất muốn gặp ba bằng xương bằng thịt, cho nên sẵn sàng chấp nhận con số không. Tôi thầm sửa soạn tinh thần để đi gặp ba.

Vì là một việc quá quan trọng, má tôi phải về Bang Thạch nói với ông bà ngoại và dì Bảy trước khi quyết định. Khi má trở về Cần Thơ, sự việc đã đổi khác. Mấy ngày sau, má cho biết mọi người khuyên nên để một hay hai đứa ở lại trông cửa tiệm, trong số có tôi. Tôi biết đo ni tấc cho khách hàng. Hải Vân cũng phải ở lại vì sợ phiền chủ nhà trên Nam Vang nếu có đông người tới, nhưng điều quan trọng hơn hết là sợ Công an để ý, nếu đóng tiệm may nhiều ngày. Trong thời gian này có nhiều vợ con của những tập kết cũng kéo nhau vô bưng để gặp chồng con họ. Một người đàn bà có người anh rể làm cảnh sát ở Cần Thơ đi thăm chồng ở vùng Cà Mau, rồi mang bầu. Khi bụng đội áo, bà bị công an kêu lên điều tra. Để giữ bí mật cho Việt Cộng và cho chính chồng mình, bà phải nói dối là bà làm bé một người có chức vụ trong tỉnh. Bà năn nỉ nhà cầm quyền đừng lôi xấu xa này ra ánh sáng để bảo vệ đứa con gái lớn của bà, cảnh sát công an mắc mưu nên bỏ qua.

Đất nước chìm trong khói súng. Hoàn cảnh trở nên phức tạp trong đời sống của người dân. Nguyên tắc đạo đức của con người bị đe doạ, nhân cách không được tôn trọng; phải tuỳ cơ ứng biến, tôi sợ lắm. Cứ sợ nhân-nghĩa-lễ-trí-tín rồi cũng đi theo cái đà ấy, làm cho dân tộc mình mất gốc. Nơi tôi ở, đi qua khỏi đường Cầu Ông Cả Đài, sâu bên trong có một con sông. Đi dọc bên bờ sông có thể tới Bến Xe Mới. Trên đường đi, có mấy cây cầu tre, cầu ván mà tôi thường ra đó một mình, ngồi thõng chân xuống nước để nhớ về Ong Vèo, Ba Ngọn, Kim Qui, những mật khu kháng chiến. Không biết còn di tích nào của ba tôi ở những nơi đó không, nhưng tôi đi đâu những nơi này cũng đi theo tôi tới đó, nơi đào tạo người ái quốc. Tôi nhìn bóng tôi trong dòng nước chảy lờ đờ, rồi nghĩ tới những mất mát của cuộc đời mình trong cuộc chiến, ví như nước chảy qua cầu, không biết mấy ai ngồi ôn lại để nhớ, để ghi, cho con cháu sau này đừng mắc mưu Cộng sản.

Má tôi nhờ một người bạn gái thân tín thỉnh thoảng tới thăm nom chúng tôi, trong khi bà phải “lên Sài gòn thăm bà ngoại Nhuận đang đau”. Sự việc xảy ra trong chớp nhoáng. Má dẫn Hoà Bình và Minh Tâm theo cho ba biết mặt Minh Tâm; ba cưng Hoà Bình lắm, nên má đem em theo. Tôi và Hải Vân ở lại nhiệm vụ tới nhà cậu Hai, con cô Chức, chụp hình năm chị em tôi để má đem lên Nam Vang cho ba biết Hải Vân và tôi đã lớn. Tiếc là không kịp chụp hình hai chị Kim, Cương vì hai chị học trên Sài gòn. Khi má tôi đi được mấy ngày, tôi mới nghĩ tới việc viết thơ hoặc mua quà biếu ba tôi. Tôi tự trách tôi vô tình, ngu quá! Hải Vân an ủi tôi là quà cáp không quan trọng đối với ba tôi đâu. Em nhắc tôi nhớ lại hồi còn ở “vùng giải phóng” ba không thích những đồ từ ngoài thành gởi vô, mà ông cho đó là đồ “xa xỉ phẩm”.

Không được theo má đi gặp ba, hai chị em tôi buồn vô cùng. Để phản ứng lại chuyện bị “bỏ rơi”, chúng tôi mưu toan sẽ bỏ mọi luật lệ, sẽ rủ nhau ngày thì đi chơi cho đã, nhưng không dám trốn học, tối thì thức thật khuya… Mấy chị học trò của má dù ở chung nhà cũng không có quyền rầy la chúng tôi… Nhưng sao, cứ tan học là hai chị về nhà ngay. Học bài xong, chúng tôi dọn dẹp cửa tiệm, nhà cửa cho sạch sẽ. Hải Vân còn tháo mấy bàn máy may, chùi sạch, cho dầu giùm mấy chị học trò của má. Chiều tối, cả hai đứa đều ru rú ở trong nhà, bạn tới rủ cũng không đi. Mấy chị học trò lấy làm lạ khi thấy chúng tôi không đi chơi. Vì vậy, một chị nói: “Cô Tám nên đi vắng thường hơn; mấy bữa này hai đứa này hiền như cục bột!”.

Rồi cũng tới ngày má tôi trở về. Bà buồn bã, thất vọng như chim gẫy cánh. Bà không được gặp ba tôi. Má tôi kể rằng khi lên tới Nam Vang, bà được vợ một đồng chí của ba tôi ân cần đón về nhà bà ấy. Hai ngày sau bà dẫn má tôi tới một bờ sông thật xa, lên một chiếc ghe có mui đã có ai chất mấy buồng chuối Xiêm sẵn đó rồi. Hai bà giả trang là hai bà bán chuối. Bà ấy làm theo chỉ dẫn của liên lạc viên, cứ giả dạng chèo trên sông bán chuối. Ghe của ba tôi sẽ tìm họ, sẽ nhận ra họ. Nhưng không thấy ba tôi đâu hết; cũng không có ai tới nhận diện hai bà để nhắn nhủ câu nào. Má tôi và bà bạn đi tìm nhiều ngày như vậy, sáng đi tối về rồi cũng đành thất vọng mà bỏ cuộc. Má tôi buồn bã dắt hai con trở về Cần Thơ, sau khi đưa mấy tấm hình của chúng tôi cho bà bạn chuyển giùm nếu gặp được ba tôi.

Mười tám năm sau, khi ba má tôi gặp nhau ở London, má nhắc chuyến đi mạo hiểm lên Nam Vang và hỏi sao ba không đến chỗ hẹn gặp má, ba mới cho biết rằng năm 1954 dù nói là đi ra Bắc, nhưng ông vẫn ở trong Nam. Đến năm 1958, ông mới được lịnh ra Bắc thật sự. Ông muốn trước khi ra Hà Nội, ghé, rước má và sáu đứa con ra Bắc với ông, nên nhận cả gia đình lên Nam Vang. Nhưng không may, dự định của ông bị tình báo phe quốc gia phát giác, cho nên ông và các đồng chí phải đưa ba tôi đi đường khác ra Hà Nội. Má tôi lắc đầu nói: “Trời ơi, chớ không thì mẹ con tôi đứa thì bị đầy vô rừng sâu nước độc, đứa bị đi chống Mỹ cứu nước chết hết rồi!”.

Sau chuyến đi Nam Vang, lúc đó má tôi mới có 42 tuổi, bà quyết định sẽ không chạy theo tiếng gọi của ba tôi nữa. Bà dành thì giờ cho con cái ăn học đến nơi đến chốn. Một việc mà má không chịu bỏ cuộc, là phải tìm thầy chữa bịnh cho Minh Tâm. Cứ nghe ai chỉ có thầy hay, dù xa xôi đến mấy bà cũng bồng em đến đó. Lần ông ngoại ra thăm chúng tôi. Ông nói: “Tụi cháu có chết đi sống lại mấy kiếp cũng không làm sao trả ơn má cháu nổi. Kiếp này ráng mà hiếu thảo với má”.

Chị Thảo không thích việc may vá, vì chị không kiên nhẫn, mà cũng không khéo tay. Đơm một cái nút áo mà chị còn làm rối chỉ thì làm sao trở thành một thợ may được. Thường thường, cuối tuần chị về vườn săn sóc ông bà. Ngoài tình yêu dành cho ông bà nội và miếng vườn, chị còn một tình yêu khác. Vì vậy chị nói dối cả má lẫn ông bà. Với má, chị xin phép về vườn đến chúa nhựt sẽ trở ra Cần Thơ để đi học. Nhưng với ông bà, chị nói phải ra Cần Thơ sáng chúa nhựt để học bài.

Từ má tôi tới ông bà đều không ai biết sự thật về chị Thảo. Chị có trọn một ngày chúa nhựt hoàn toàn tự do. Chị dành ngày đó cho tình yêu thầm lén của chị. Tình yêu đó là những hoạt động của Việt Cộng. Chị Thảo được các cán bộ cộng sản huấn luyện để làm công tác học sinh, sinh viên. Một hôm, Hải Vân nói với tôi “Óc của chị Thảo bị rửa bằng xà bông Liên Xô rồi”. Chúng tôi đều biết chị đi đâu và làm gì, nhưng chúng tôi không dám cho người lớn biết. Bịnh của chị Thảo là một thứ bịnh không có thuốc chữa, dù ông bà ngoại và má tôi có biết, cũng không thể thay đổi được chị, chỉ thêm đau buồn vì thất vọng thôi.

Khác với các học trò lớp Nhứt bình thường, chị Thảo không muốn thi đậu để vô trường Phan Thanh Giản, vì Việt Cộng không cho phép. Họ sợ chị bị công an để ý theo dõi nếu học trường công. Chị vẫn đi thi nhưng cố tình làm cho mình rớt. Thật ra, chị là người thông minh, học rất giỏi. Bà ngoại tôi, vì muốn các cháu gái cũng được học hành đến nơi đến chốn như các cháu trai, sẵn sàng trả học phí trường tư cho chị. Việt Cộng muốn chị học Anh văn là sinh ngữ chánh, để sau này có thể giúp đỡ nhiều “cách mạng”.

Rồi chị Thảo bắt đầu nói đến “Mỹ-Diệm” với một giọng hằn học, đầy hận thù. Mỗi thứ hai, trong lúc mọi người ngồi quanh bàn tròn dưới bếp để học bài, thì chị thao thao bất tuyệt kể tội lỗi của “đế quốc Mỹ”. Những danh từ chị dùng cũng mới lạ đối với chúng tôi. Đó là kết quả của ngày hôm qua, chúa nhựt, khi chị họp với các cán bộ Việt Cộng.

Đã nhiều lần chị Thảo rủ tôi đi theo chị để gặp những cán bộ lớn tuổi đời, tuổi đảng. Nhưng lần nào tôi cũng trả lời chị một câu quen thuộc: “Mấy ông Cha bên đạo Thiên Chúa dụ em đi nhà thờ ngày chúa nhựt để được lên thiên đàng em còn từ chối, em đâu có ngu mà đi xuống địa ngục với Việt Cộng”. Chị không giận, chỉ cười, rồi tuần sau lại rủ nữa, và tôi cũng trả lời y như trước.

Nhưng rồi có một hôm tôi đã nghe lời chị, vì chị dụ tôi rằng: “Nếu em giúp chị việc này, ba mà biết được ba vui lắm”. Thế là tôi nghe bùi tai, đi theo chị. Hôm ấy nhằm buổi sáng chúa nhựt chị sửa soạn ra Cần Thơ trước bọn chúng tôi, để “học bài” như chị nói với ông ngoại bà ngoại. Tôi theo chị ra Cần Thơ sớm. Lúc đầu, chị và tôi đi xe đò, nhưng chưa tới Cái Tắc chị đã đòi xuống ngang giữa đường, để đứng bên đường chờ xe khác. Rồi đi gần tới Cái Răng chị lại xuống xe một lần nữa, và lại đứng bên đường đón xe khác. Chị không đón xe đò dù có xe vừa đi qua. Lần này chị bắt tôi phải chờ xe Lam, lên xe Lam ngồi, tôi giận chị lắm, không thèm nói chuyện với chị nữa. Hồi nhỏ, tôi nghĩ cách đối xử tàn nhẫn nhứt, là khi giận không nói chuyện với nhau. Xe Lam vừa chật chội vừa chạy chậm rì rì. Tôi bắt đầu cằn nhằn: “Chị làm mất hết ngày giờ của em. Nếu mình đi xe đò thì mình tới lâu rồi”. Chị không nói gì mà chỉ lấy cùi chỏ thúc vô hông tôi, bắt tôi im lặng. Khi đến giữa khoảng từ cầu Rạch Ngỗng đến cầu Tham Tướng, tôi thấy chị có vẻ lo sợ, ngồi không yên trên băng xe chật cứng, động đậy hoài. Xe bị kẹt một đoạn thật sự. Tôi không biết là có tai nạn xe, hay cảnh sát công an xét thẻ căn cước, thẻ học sinh. Cũng có thể quân cảnh xét lính. Tôi biết rõ hai chục cây số của con đường này, còn rành hơn biết người thân của tôi đi theo Việt Cộng. Lúc xe Lam ngưng lại, tắt máy, chị Thảo biểu tôi đi bộ lên coi chuyện gì mà bị kẹt cứng ở đó. Tôi nghe lời chị đi quan sát; lúc trở lại tôi cho chị hay là công an, cảnh sát, quân cảnh, hiến binh, có người mặc thường phục, có người quân phục, đang xét giấy ở phía trước. Nghe nói vậy, chị Thảo vội đưa cái cặp da của chị cho tôi giữ, cầm cái túi vải, rời xe, đi băng qua đường, mất dạng sau hàng tre trên bờ đê. Bà già ngồi trước mặt chúng tôi lấy khăn chùi cổ trầu quanh miệng, rồi nói: “Chờ giọng này có nước đái trong quần; con nhỏ này khôn, đi trước cho rồi”.

Khi người tài xế cho xe nổ máy rồi từ từ chạy theo xe trước, tôi nhìn quanh để tìm chị Thảo, nhưng không thấy chị đâu. Một lúc lâu, tôi thấy một bóng người quen quen đứng bên kia đường. Nhìn kỹ, tôi nhận ra chị Thảo. Chị Thảo bấy giờ không giống chị Thảo hồi sáng. Chị bỏ guốc, đi chân không, bộ quần áo cũ mèm thay cho bộ đồ sạch sẽ. Mái tóc thề của chị bị cắt cụt ngủn, như một bà xẩm bán hẹ! Chị băng qua đường, đến bên tài xế để trả tiền xe đi Cần Thơ, dù hồi nẫy chị đã trả rồi. Chị không nhìn tôi. Tôi không dám nhận chị. Chị không trở lại chỗ ngồi cũ bên cạnh tôi, mà tới ngồi ghế phía trong, cạnh một người đàn ông nhà quê. Hình dáng của chị thay đổi, cử chỉ cũng khác thường. Chị gãi đầu hoài, như đầu chị bị chí cắn. Hết gãi đầu, chị lại bẻ mấy lóng tay kêu lóc cóc. Chị còn móc lỗ mũi nữa. Thấy chị làm, tôi nói thầm: “Người này không phải chị Thảo!” Má tôi cấm ngặt việc móc lỗ mũi nơi công cộng. Tôi đoán ngay là chị đóng kịch để che mắt mọi người, tôi thầm phục chị lanh trí, và đóng kịch hay hơn cô Kim Cương. Sau khi Quân cảnh và cảnh sát kiểm soát giấy tờ của hành khách, một người mặc thường phục đưa ra ba tấm hình, hỏi tài xế có bao giờ gặp ba người trong hình không? Tôi nghển cổ lên nhìn, nhận ra một hình của chị Yvonne, giống như hình trong thẻ học sinh của chị. Tôi sợ điếng lên. Khi một người mặc thường phục khác xét cái cặp da của Thảo tôi đang ôm khư khư, tôi nín thở mở cặp ra. Bên trong chỉ có một cuốn từ điển Anh-Việt. Ông lấy ngón tay cái lật một cái rù, rồi thấy không có gì ngoài mấy trăm trang từ điển, ông trả cuốn từ điển lại cho tôi. Tôi hoàn hồn khi chiếc xe Lam từ từ lăn bánh.

Chúng tôi xuống xe ở góc đại lộ Hoà Bình và Ngô Quyền. Tôi giận chị Thảo quá nên ráng đi lẹ hơn chị cho hả giận. Cứ đi như vậy mà trong bụng tôi tức cành hông. Đến khi chúng tôi băng qua lộ để về cầu Cả Đài, chị Thảo mới lên tiếng:

“Hồi nãy chị vái cho em đừng nói chuyện với chị, hồi chị trong ruộng trở ra. Em nín thinh, chị mừng quá.”

Tôi nói:

“Em không biết ai phù hộ cho chị bữa nay?”

Chị chỉ cười, im lặng. Tôi nói:

“Hồi nẫy em thấy hình chị Yvonne”.

“Đừng lo, chỉ ra ngoài chợ trước mình rồi!”

“Còn phần chị?” – Tôi lo sợ hỏi.

“Hổng biết… đừng lo”.

Tôi nhìn đầu chị, doạ:

“Ông ngoại không cho tụi mình cắt tóc cụt, chết chị rồi!”

Chị nhún vai:

“Đừng lo, chị không về thăm ông nói bà nội ít tuần thì tóc dài lại”.

Chị đưa tay lấy lại cái cặp da từ tay tôi, rồi nói:

“Chị cho cưng biết là cưng đã làm một công việc vô cùng quan trọng để giúp chị. Em giỏi thiệt”.

Tôi tức giận nói:

“Em có làm cái gì đâu ngoài chuyện sợ muốn đái trong quần”.

Chị nghiêm giọng:

“Cái này không phải là chuyện giỡn, Dung à. Cưng cầm trong tay phân nửa cái kế hoạch Công tác Thành; nửa phần kia được đem ra ra ngoài này trước rồi”.

Tôi mau mau lấy tay che mắt, che tai, che miệng một hơi, rồi lắc đầu lia lịa:

“Em không muốn biết, muốn nghe, muốn thấy mấy cái việc chị làm đâu”!

Nhưng chị tiếp tục nói cho tôi biết là một nửa bản kế hoạch được dán trong cái bìa cứng của cuốn từ điển. Dù không còn ôm cái cặp da trong tay nữa, nhưng khi nghe chị nói vậy tôi bỗng tim đập mạnh lên, cổ tôi khô, hai bàn tay đổ mồ hôi.

Trong tôi, nhiều tình cảm lẫn lộn. Nào là tình cốt nhục giữa chị và tôi, nào là ngôi trường mà tôi vừa nhập học; nào là tình thầy trò vừa chớm nở. Tôi thầm thán phục sự can đảm của người con gái nhà quê này. Mới hôm qua chị hái rau, bẻ trầu cho bà nội, hôm nay đã đi làm cán bộ cho Việt Cộng. Tôi muốn can đảm như chị, nhưng dùng sự can đảm đó để đưa gia đình tôi ra khỏi khó khăn, chứ không lấy nó mà chung sức với Việt Cộng được.

Tối hôm đó, sau bữa cơm chiều, má tôi kiên nhẫn tỉa tóc cho chị Thảo, để chị có mái tóc gọn gàng, ngay ngắn lại. Trong nhà ai cũng tội nghiệp chị vì chị nói láo rằng lúc thổi lửa nấu tấm heo, lửa cháp phừng bắt qua tóc chị. Đêm đó, lúc chỉ có hai chị em tôi học bài, tôi nói nhỏ với chị là khi chị chết xuống Âm Phủ chị sẽ bị bọn quỷ sứ kéo lưỡi chị dài cả cây số vì cái tội nói láo. Chị Thảo cười vị tha mà không giận tôi, vì chị biết tôi thương chị.

Hai chị Thảo và Yvonne càng ngày càng bị siết chặt vào vòng của Việt Cộng. Hai chị không khác gì những kẻ mê muội tin vào một tà đạo, đem hết của cái, bản thân mình dâng hiến cho tà đạo ấy. Hai chị tôn thờ chủ nghĩa cộng sản một cách mù quáng, nên thờ ở với các bổn phận trong gia đình. Họ nói dối, họ qua mặt ông bà, để phục vụ cho cộng sản. Chị Thảo miệt mài trong Thư viện Việt-Mỹ, để tìm hiểu về “kẻ thù” của chị qua sách vở.

Người bạn hàng xóm của tôi là anh Chu Dung. Anh là người Bắc làm việc ở nhà thuốc tây Lương Xuân Đấu. Anh lớn hơn tôi chừng mười lăm tuổi, nhưng đám con nít chúng tôi mến anh lắm, có thể vì anh là người phương xa đến Cần Thơ làm ăn. Anh hiếu khách mà khách cũng quý mến anh, kêu anh là “anh Bắc kỳ”. Anh vui vẻ, thân mật với tất cả mọi người, từ trẻ con đến người lớn. Anh đẹp trai và là người duy nhất ở Cần Thơ lúc bấy giờ có chiếc xe đạp bằng nhôm bóng láng. Qua anh Dung, chúng tôi quen chị Hằng và em chị là anh Hùng. Cả hai chị em cùng làm việc ở Thư viện Việt Mỹ. Hai người cũng quý mến chị Thuận, Hải Vân và tôi. Chị Thảo biết chúng tôi quen với anh Hùng, nên một hôm chị nhờ tôi hỏi dò anh, để biết chừng nào ông giám đốc người Mỹ của Thư viện từ Sài gòn xuống Cần Thơ? Chị muốn biết rõ tên họ và chức vụ của ông. Chị Thảo và tổ chức của chị tin rằng chức giám đốc thư viện chỉ là bề ngoài, nhưng thật ra ông là nhân viên cao cấp của cơ quan tình báo CIA. Tôi từ chối săn tin cho chị Thảo. Tôi nói thẳng cho chị biết là tôi không thể lợi dụng bạn như vậy được. Chị liền nổi giận, nói: “Mấy người đó không phải là bạn của em được, họ là tay sai của Mỹ”. Tôi nổi giận, nạt lại: “Nếu chị không phải là chị của em, em kêu Công An bắt chị liền”. Chị liền lên mặt dạy đời tôi: “Đừng quên mình là con cháu của những người làm cách mạng; bổn phận của mình là ủng hộ cách mạng”. Tôi không chịu thua, la lớn lên: “Công tác đó là giựt mìn xe buýt, giết ông già bà cả chớ gì!”. Tôi dám thẳng thắn trả lời chị, vì tôi biết, ba tôi không đành lòng cho con mình đi làm kẻ giết người.

Chuyện tranh cãi giữa chị Thảo và tôi đến đó tạm ngưng. Nhưng con đường chị đi con dài lắm. Hai ngày sau, người ta liệng lựu đạn vô sân thư viện; người lính Việt Nam gác cổng thiệt mạng.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 10

Bây giờ trong gia đình có thêm chị Thảo, chị Thuận. Tôi khấp khởi mừng thầm là sẽ có thêm người giúp tôi lo việc nhà. Nhưng rồi tôi thất vọng ngay, vì má nói hai chị làm con má để có giấy tờ đi học, chớ không phải làm khai sanh con của má để gánh việc vặt trong nhà. Hai chị mồ côi cả cha lẫn mẹ. Ba của hai chị là là anh ruột của má. Má tôi thương yêu hai chị qua tình yêu của anh má. Má tôi bắt chúng tôi phải thương yêu hai chị như chị ruột, phải nhường nhịn và phải nghe lời hai chị. Mỗi chị có một cá tính. Chị Thảo là người cứng rắn, cương quyết, bướng bỉnh. Một mặt chị rất hiếu thảo với ông bà nội, một mặt chị lén lút liên lạc với những người ở trong mật khu Việt Cộng. Ngược lại, chị Thuận yếu đuối, nhút nhát và rụt rè.

Tựu trường, Hải Vân và anh Quốc được học trường Nam Tiểu Học. Chị Yvonne, chị Thảo, chị Thuận, Hoà Bình, Minh Hoàng (con gái lớn của chị Yến) và tôi cùng học trường Nữ Tiểu học ở đại lộ Hoà Bình. Chị Thuận và tôi học chung lớp nhì, cô giáo của chúng tôi là cô Xuân Phương. Cái duyên từ đâu không biết, trong lớp có hơn 50 học trò, nhưng cô Xuân Phuơng chọn tôi làm học trò cưng của cô. Chỉ có học sinh Cần Thơ mới biết cái danh dự được làm học trò cưng của thầy hoặc cô.

Cô Xuân Phương không có chồng; cô ở chung với ba má và mấy người em, người cháu. Nhà cô ở bên kia đường Hoà Bình, đối điện với trường Nữ Tiểu Học. Đó là một ngôi nhà ngói xinh đẹp, trước nhà có trồng kiểng, có giàn hoa bông giấy màu tím. Sân lót gach Tàu, được người làm săn sóc vén khéo, sạch sẽ. Mỗi ngày đi học, tôi phải ghé nhà có Xuân Phương để mang sổ điểm, bình mực tím và cây viết lá tre của cô tới trường. Sáng nào tới sớm, tôi thấy cô mặc áo mầu lam, tụng kinh vừa xong. Gia đình cô là Phật tử trong hội Phật Học. Nhiều lần cô rủ tôi vào hội, nhưng tôi đều từ chối, vì không có thì giờ. Đi học về, tôi còn phải giúp má tôi việc nhà, và lo cho tiệm may. Đến năm 2001 bạn học cùng trường cho biết, sau 30 tháng 4/75 mọi người mới biết cô Xuân Phương là cô Ba Phương, đảng viên cao cấp của cộng sản.

Vì tôi là học trò cưng của cô giáo, được giữ sổ điểm, bạn bè trong lớp thường năn nỉ tôi cho coi điểm. Tôi cũng muốn chiều bạn, nhưng lại sợ làm mất lòng tin của cô, nên đành phải từ chối, mà từ chối thì mất bạn. Mất bạn thì mất, nhưng không thể mất lòng tin.

Những gì trường dạy hay, tôi biên vô cuốn tập riêng để thực hành. Không có ba thì có trường, có cô giáo; tôi nghĩ như vậy.

Tôi gõ từng chữ trong cuốn tập “Học làm người”:

Không phá của công;
Không xả rác ngoài đường;
Phải nhường ghế cho người già, đàn bà có thai trên xe đò;
Dắt em bé hay cụ già qua đường;
Phải dừng lại dỡ nón chào khi xe tang đi qua;
Không gian lận.

Tôi thường phạm một tội trong bài học quý giá này, đó là bẻ bông, bẻ cành của người ta. Tôi nhớ hoài nụ cười chất phác, thiệt thà của những người lớn tuổi, cười với tôi khi tôi nhường ghế cho họ. Tôi dỡ nón dừng lại chào xe tang đi qua trong khi những người lớn hơn tôi họ vô tình bước đi nhanh nhẹn; tôi thầm biết ơn trường Nữ Tiểu học. Hồi còn học ở Sài gòn, mỗi lần đến trường, Hoà Bình khóc. Bấy giờ thì nó thích trường này lắm, vì có nhiều hàng quà dưới tàng cây Ô Môi ở sân trường. Cứ giờ ra chơi là nó và Minh Hoàng ra mua quà. Chị Thảo học lớp nhứt; cô giáo của chị là cô Hiếu Đức, vợ thầy Lưu Khôn, giám học trường trung học Phan Thanh Giản. Chị lớn nhứt nhà, nên má giao cho chị việc dẫn các em tới trường. Mỗi lần qua đường, qua lộ, chúng tôi phải nắm tay đi theo chị cho an toàn.

Cho đến nay, tôi vẫn chưa quên cái cảm giác khi tôi viết tên tôi lên cuốn tập mới đầu tiên. Cái tên Trần Ngọc Dung lạ hoắc đối với tôi. Nắn nót viết xong, tôi nhìn đi nhìn lại mà không sao quen được với cái tên đó, dù rằng họ Trần là họ của ông ngoại, chớ phải của ai xa lạ đâu. Nhưng tôi vẫn nhớ họ Đặng của ba tôi. Mãi mấy ngày sau, tôi mới quen dần với cái họ mới, tên mới.

Tôi là trưởng lớp nên thường lên văn phòng của hiệu trưởng để nhận thông cáo, rồi cùng mấy trò khác đi phân phát cho các lớp. Một hôm, tôi tới văn phòng hiệu trưởng vào lúc không có bà ở đó, nhưng lại gặp một bà khác. Tôi nhận ngay ra bà là người quen cũ mà tôi đã từng gặp ở Bang Thạch. Bà cũng có người thân theo Việt Cộng. Sau khi nhận ra người quen, tôi đến khoanh tay chào bà: “Thưa dì Ba!”. Bà giật mình nhìn tôi kéo ghế ra xa, rồi hỏi: “Con nhà ai đây? Làm sao biết tôi?”. Tôi đáp ngay: “Con có gặp dì trong Bang Thạch khi dì ghé thăm ông ngoại, bà ngoại của con”. Bà có vẻ hốt hoảng, mặt sa sầm xuống rồi hỏi nhỏ: “Mày là con của ai?”. Tôi ngây thơ, cứ tưởng bà là người cùng phe với mình, nên nhanh nhẩu đáp: “Ba con là nghị sĩ Đặng Văn Quang”. Mặt bà bỗng tái hẳn đi, rồi lạnh lùng nói: “Nè, mình chưa quen nhau, chưa từng gặp nhau ngoài cái trường này, hiểu chưa?”.

Tôi vừa mắc cỡ, vừa cảm thấy nhục nhã quá. Chắc bà tưởng tôi “thấy người ta làm quan, bắt quàng làm họ”. Tôi chỉ muốn chạy ra khỏi văn phòng, nhưng không hiểu sao tôi vẫn đứng chôn chân ở đó, rồi nuốt nước miếng đáp: “Thưa bà, con không hiểu ý bà”. Tôi nhớ, nhớ hoài suốt hai năm học ở đó. Tôi vẫn làm trưởng lớp, vẫn phải lên văn phòng hiệu trưởng, nhưng cố tránh né bà Ba Thông.

Tôi không dám kể lại cho má tôi nghe chuyện bà Ba Thông, sợ má đau lòng cho con. Nhưng khi về Bang Thạch, tôi đã kể lại cho dì Bảy nghe. Dì khuyên tôi hãy quên chuyện bà Ba Thông đi, vì mỗi người có một hoàn cảnh riêng, em của bà đi tập kết, mà bà thì làm việc cho Bộ giáo dục của Quốc gia, nếu công an biết được thì khổ thân bà, như công an đã biết về má tôi. Hãy thông cảm cho bà. Tôi biết dì tôi là người có tính vị tha, nên sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của người khác.

Buổi trưa hôm đó, dì Bảy ôm tôi vào lòng khi chúng tôi ngồi trên bờ đê. Gió hây hây nhẹ, lùa vào tóc tôi như sóng lướt trên luống mạ non giữa cánh đông bát ngát. Cảnh đẹp trước mặt làm tôi yêu Bang Thạch quá. Tôi ao ước tôi cứ nhỏ bé như vậy, để không phải rời xa khu vườn của ông bà ngoại. Nhưng thực tế bao giờ cũng khác hẳn với mộng mơ, tôi cứ phải lớn lên, phải đối phó với mọi chuyện phũ phàng trước mặt. Nếu mà tôi vững tinh thần như Hải Vân thì cũng đỡ khổ phần nào. Em thường khuyên tôi nên bỏ qua những cái “lặt vặt” để sống vui. “Hoàn cảnh đem cái buồn tới cho mình, chớ nó không phải là mình; mình có biết bao nhiêu người tử tế, dìu dắt mình từ ngày ba bỏ mình giữa đường”. Em là một đứa con nít rất thông minh và rất thực tế, khôn trước tuổi, em rất ít khi nhắc tới ba tôi. Tôi không rõ sự vắng mặt của ba tôi có để lại vết thương gì trong lòng em không?

Ngay từ khi còn nhỏ, tôi cũng ý thức được rằng đời người có nhiều biến đổi, như con sông có lúc nước lớn, nước ròng. Rồi tôi sẽ lớn lên, trở thành một người đàn bà, phải gánh vác việc đời, sẽ đương đầu với những khó khăn như má, có những lúc gặp hên mà cũng có khi bị xui. Nhưng tôi thầm cầu xin, tôi sẽ không bị cô đơn như má tôi, và tôi cũng mong ước được ở mãi ở hoài trong Bang Thạch, rồi lâu lâu ra chợ Cần Thơ chơi như ông ngoại bà ngoại, thì sướng biết bao nhiêu. Bang Thạch, một nơi cho tôi được bình an. Nhưng trên thực tế. Bang Thạch dần dần mất an ninh. Tôi đã thấy có mặt của những cán bộ Việt Cộng khi tôi về thăm nhà. Họ len lỏi trong vườn của ông bà ngoại tôi càng ngày đông. Họ lấy nơi đây làm địa điểm liên lạc với những người làm công tác thành. Họ là những cán bộ tuyên truyền, tình báo, phá hoại và khủng bố. Họ đã tổ chức bắt cóc thầy giáo, cô giáo từ tỉnh xuống dạy trường làng. Họ cũng âm mưu ám sát các viên chức bên phe Quốc Gia. Mấy chị bà con của tôi và dì Bảy Nhãn đã nhận nhiều mật lệnh của Việt Cộng. Họ giấu cán bộ trong mấy túp chòi, và ngay cả trong nhà ông bà tôi. Họ bắt mọi người, kể cả con nít, phải nói dối để che giấu cán bộ. Chính tôi, vào một buổi trưa chúa nhựt, đã phải nói dối một anh lính Quốc Gia khi anh tới sân nhà ông bà tôi. Trong vườn ai cũng sợ lính, vậy mà trưa hôm đó tôi phải vui vẻ nói rằng anh là người lạ đầu tiên tới nhà tôi. Bỗng dưng tôi cảm thấy buồn một cách lạ lùng. Tôi xấu hổ vì đã biết nói dối như Việt Cộng. Anh lính còn trẻ lắm, có thể không tới hai mươi. Anh xin tôi cho quá giang xuồng qua sông, tôi bằng lòng ngay. Đã vậy, tôi còn chạy vô nhà lấy một cái bánh tét cho anh. Tôi có hành động này, là chỉ muốn cho lương tâm mình đỡ bị cắn rứt phần nào.

Tất cả những người trong vườn của đại gia đình tôi đều dính líu với Việt Cộng, trừ ông bà ngoại. Chị Thảo và chị Yvonne dặn tôi không nên cho ông bà ngoại và má tôi biết những hoạt động ngấm ngầm của Việt Cộng ngày tại khu đất của ông bà. Nhưng bí mật nào cũng không thể giữ lâu được. Quân đội quốc gia đã bắt đầu nghi ngờ. Họ tuần tiễu nhiều hơn và không còn tử tế với gia đình tôi nữa. Họ lấy đồ ăn hoặc bắt gà vịt công khai. Nếu không kịp rượt gà vịt, thì lấy súng bắn chết một cách ngang nhiên. Họ bất chấp cả những lời khiếu nại của bà tôi. Rõ ràng họ muốn dùng súng để hăm doạ, dằn mặt gia đình tôi. Họ coi tất cả những người ở đây đều là những người đáng nghi.

Một hôm, Hải Vân, Hoà Bình và tôi về thăm ông bà ngoại. Chúng tôi vừa xuống xe Lambrerta ngay cây cầu ván để vào nhà, thì một toán lính Quốc Gia đi tới. Hai người lính chĩa súng thẳng vào ngực chị em tôi, một người khác lên cò lách cách. Tiếng thép va chạm nhau làm tay chân tôi sợ rã rời. Hoà Bình vừa khóc thút thít vừa ôm chân tôi cứng ngắc. Tôi nhìn nòng súng và gương mặt của người cầm súng, có cùng một mầu đen tối, lạnh lùng nhưng đầy quyền lực. Hai đầu gối của tôi run lên bần bật, làm tôi muốn té. Nhưng tôi phải thu hết can đảm nói với anh lính cầm súng:

“Tụi em đi thăm ông ngoại bà ngoại, mấy anh muốn vô nhà chơi không?”

Mặt người lính vẫn lạnh như nòng súng, rồi ra lịnh:

“Để cái giỏ xuống đất cho tao coi.”

Tôi vội vàng đổ tất cả đồ trong cái giỏ mây xuống cỏ: có một ổ bánh mì cho ông ngoại, một gói xá-xíu và mấy cái bánh ú nước tro cho bà ngoại, và một tờ báo cho dì Bảy. Người lính chĩa súng vô Hải Vân, bước lại xét mấy món đồ dưới đất. Anh lấy tờ báo liệng tứ tung, rồi lấy mũi súng mà vít qua vít lại miếng thịt xá-xíu. Hải Vân đưa tay chặn người lính, khi thấy anh vừa lấy giầy đinh đạp lên mấy cái bánh ú nước tro, nhưng tôi gạt tay em ra. Rồi một người lính khác khoát tay đuổi chị em tôi đi. Chị em tôi mau mau nắm tay nhau lính quýnh đi về phía nhà ông bà ngoại. Tiếng cười của họ còn đuổi theo chúng tôi một quãng. Cho tới lúc chúng tôi không còn nghe thấy gì nữa, mới biết mình còn sống. Hoà Bình sợ quá, không đi nổi, Hải Vân và tôi thay phiên nhau cõng em cho tới ranh của ông bà.

Bà ngoại tôi có cất một cái miễu thờ ông Thổ Thần nơi giáp với đất của dượng Ba Đậu trong xóm. Đến trước miễu, tôi dỡ nón khấn vái cám ơn ông Thổ Thần đã che chở chị em tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thờ kính ông Thổ Thần.

Ông Nguyễn Văn Kiệt được vinh danh tại Đại Sảnh Danh Vọng Châu Á Hoa Kỳ năm 2023

Posted on November 1, 2023 by dongsongcu

1/11/2023

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Hình minh hoạ: Thuy Nguyen

Nhận được tin vui, Ông Nguyễn Văn Kiệt, cựu người nhái Hải Quân VNCH, Hải Quân Huân Chương Hoa Kỳ (Navy Cross) được vinh danh tại Đại Sảnh Danh Vọng Châu Á, Hoa Kỳ năm 2023.

Ông Nguyễn Văn Kiệt rất khiêm nhường và vinh dự khi được chọn là một trong những người được giới thiệu vào Đại Sảnh Danh Vọng Châu Á năm 2023 (the Asian Hall of Fame 2023). Đại Sảnh Danh vọng Châu Á hàng năm tôn vinh những thành tựu của người Mỹ gốc Á Châu và người dân các đảo Thái Bình Dương trong nhiều lãnh vực khác nhau bao gồm giải trí, thể thao, kinh doanh và chính trị.

Hình minh hoạ: Thuy Nguyen

Vào ngày 29 tháng 9 năm 2023, Seattle Founders Gala (vinh danh những người được giới thiệu vùng Tây Bắc Thái Bình Dương) đã giới thiệu ông Kiệt vào Đại sảnh Danh vọng Châu Á với tư cách là người được Hải quân Hoa Kỳ vinh danh một lần nữa vào ngày 21 tháng 10 năm 2023, tại buổi lễ giới thiệu Đại Sảnh Danh Vọng Châu Á 2023, tại khách sạn Biltmore ở Los Angeles.

Hình minh hoạ: Thuy Nguyen

Chúng tôi rất hãnh diện được hiện diện ở nơi đó để chia sẻ khoảnh khắc đẹp đẽ với anh Kiêt. Anh Kiệt là Cựu Hạ Sĩ I của Hải quân Việt Nam Cộng hòa, được Tổng Thống Hoa Kỳ tặng thưởng Hải Quân Huân Chương Hoa Kỳ (Navy Cross) vì hành động anh hùng trong cuộc chiến Việt Nam. Nhờ sự bình tĩnh của Hạ sĩ I Kiệt trong hoàn cảnh nguy hiểm, cũng như lòng dũng cảm và tính chuyên nghiệp xuất sắc của anh, một trung tá`phi công Mỹ đã được cứu sống sau 11 ngày trong vòng vây địch vào năm 1972.

Hình minh hoạ: Thuy Nguyen

Tính kỷ luật, lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu cao của ông Kiệt là nguồn cảm hứng cho tất cả, phản ánh công lao to lớn đối với bản thân ông và lực lượng Hải quân VNCH. Một bộ phim sau đó đã được thực hiện.

Kiệt Nguyễn sinh năm 1945 tại Sài Gòn. Ông gia nhập Hải quân miền Nam Việt Nam năm 1963. Ông được đào tạo thành thủy thủ trọng pháo tàu tuần tiểu và sau đó được huấn luyện khoá người nhái. Ông Kiệt trở thành công dân Hoa Kỳ vào năm 1984 và chuyển đến Seattle, nơi ông làm việc cho tập đoàn Boeing.

Hình minh hoạ: Thuy Nguyen