This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Lần đổi tiền thứ hai năm 1978, Hân chẳng có bao nhiêu tiền để đổi. Lúc đấy Hân đang thất nghiệp, chạy đầu này đầu nọ, chẳng ra việc gì, ai kêu gì làm nấy, bữa đói bữa no. Có thằng bạn thân vượt biên, trước ngày đi có cho một ít, ăn được vài tuần cũng hết sạch. Loay hoay mãi mà chưa biết cách gì để sống. Sách vở bán đã hết. Áo quần cũng chỉ còn bộ đồ mặc trên người, cũng chỉ còn đôi giày da mòn long đế. Gia sản chỉ có bấy nhiêu. Căn phòng càng ngày càng vắng đồ đạc, càng thưa thớt người. Lần lượt từng người đi. Kẻ về quê, người đi đâu mất biệt. Đôi lúc có kẻ lướt về rồi lại đi. Tất cả tản mác để tiếp tục sống, để tiếp tục tồn tại.
Đang là cuối đông. Sài Gòn bỗng lành lạnh với những cơn gió lạ. Cả xã hội nghèo, thiếu ăn. Chén cơm trắng là giấc mơ của bao người. Ai cũng gầy với đôi mắt thất thần và cái bụng lép. Chẳng ai giúp được ai. Hân co ro dưới gió trên đường Trương Minh Giảng. Con đường quen thuộc cả chục năm nay, Hân thuộc từng con hẻm, từng lối rẽ, từng cái ổ gà nho nhỏ trên nền xi măng của vỉa hè. Vẫn biết là chẳng đi đến đâu, chẳng giải quyết được gì cho cái bụng rỗng đã ba hôm rồi, nhưng anh vẫn đi. Nằm nhà xót bụng không chịu được, ra đường với chút hi vọng gặp ai đó, gặp một dịp may nào đó, lượm được đồng bạc ai đánh rơi. Biết đâu? Cũng còn vài người quen, cũng còn vài thằng bạn. Nhưng Hân ngại. Anh tiều tuỵ quá. Đói rách quá, ngại gặp mọi người. Gia đình nào cũng nghèo nhưng đến bữa cũng có bữa cơm dù là bo bo, bột mì hay cá hẩm thịt ôi. Hân chỉ cần có gì bỏ bụng. Lấp đầy khoảng trống của bao tử đang kẻu ầm ĩ. Nhưng Hân không dám đến nhà ai. Đói nhưng cái bệnh sĩ vẫn bám vào anh. Hân đi dọc căn phố, những cửa hàng ngày xưa sầm uất thế, rộn ràng thế bây giờ đìu hiu và buồn tẻ. Đã gần chập chọang chiều mà căn phố vẫn hiu hắt vì không có điện. Những giọt mưa lác đác, hắt vào anh. Hân tay ôm ngực tay loay hoay tìm điếu thuốc. Túi rỗng. Hân thèm một hơi thuốc trong mưa. Hân cúi xuống, mắt lướt trên nền xi măng, anh lượm được hai cái tàn thuốc. Anh lượm mảnh giấy báo, xé hai tàn thuốc, gói mấy sợi thuốc vào mảnh giấy báo rồi se lại. Ánh lửa soi sáng một vùng mặt, khói vờn lên. Bụng đang đói gặp hơi khói làm đầu anh lâng lâng như say. Những bóng người loang thoáng, chập chờn. Bụng anh thắt lại. Hân có cảm giác có dòng nước mắt đang âm ỉ chảy từ đôi mắt cận.
Hân băng qua ngã tư. Góc cây xăng Trần Quang Diệu với Trương Minh Giảng cũ có một bà cụ già bán bánh ít nhân đậu. Bà cụ người Bắc đã già lắm. Lưng còng, lúc nào người cũng quấn trong hai ba lớp áo, đầu quấn khăn. Hàng của bà chỉ chục cái bánh lá đặt trên cái thúng cũng cũ kỹ như bà. Một bà cụ nghèo, vốn liếng chẳng bao nhiêu. Bà bán vào buổi chiều, ít thấy khách mua nên nhiều lúc bảy tám giờ tối vẫn còn thấy bà ngồi dưới đèn đường, bóng bà đổ trên đường nhìn hiu quạnh lắm. Hân lâu lâu cũng ghé bà, mua một vài cái ăn qua cơn đói. Hôm nay Hân nghĩ giá có vài cái bánh này, chắc cũng đỡ cho cái bụng. Nhưng anh chẳng còn đồng bạc nào trong túi. Ngang qua, Hân đi luôn dù chân như muốn níu lại. Hân đi đến hẻm Trường Lê Bảo Tịnh. Anh quay lại, dùng dằng mấy bước rồi sà xuống cái thúng bánh tả tơi của bà cụ. Cụ ạ! Cụ cho con hai cái được không? Mời cậu. Cậu mua giúp. Ế quá. Nhưng cụ ơi! Hôm nay cháu không còn tiền, cụ cho cháu thiếu được không? Bà cụ ngần ngừ, chép miệng: Khổ thế cơ à? Ối giời thời thế gì mà ai cũng khổ thế này? Hân đứng lên, anh thấy chóng mặt, cái đầu hơi quay quay, anh lại đành ngồi xuống. Dạ vậy thôi cụ ạ. Vốn cụ chẳng bao nhiêu mà cháu lại ăn thiếu thì khổ cho cụ quá. Bà cụ đưa đôi mắt hấp hem nhìn Hân, móm mém: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử? Đêm đó nhờ hai cái bánh ít, Hân ngủ được một giấc ngon.
Mấy hôm sau đó, có việc ở Biên Hoà, anh xuống làm phụ mộc gần chục ngày. Về lại Sài Gòn mấy bữa, ghé góc đường lại không thấy bà cụ. Rồi ngày qua tháng lại, thời gian trôi đi, lúc thì quên, khi nhớ tìm mãi chẳng thấy bà cụ đâu.
**********
Cuối năm ấy, một người bạn cho một suất vượt biên, trả tiền sau. Hân liều làm một chuyến vì đang bế tắc quá. Lênh đênh gần nửa tháng ngoài biển, máy hư, tàu vô nước, cuối cùng cũng cặp được vào đảo Pulau Bidong đảo nhỏ ở phía nam biển Đông, thuộc bang Terengganu của Malaysia.
Đảo này được biết đến chủ yếu vì đây mở trại tạm cư cho người Việt tỵ nạn trong những đợt vượt biên liên tiếp của thuyền nhân từ năm 1975 đến năm 1991. Đến 30 tháng 10 năm 1991 khi trại đóng cửa thì nơi đây đã tiếp đón 250.000 người tỵ nạn.
Hân ở đảo gần một năm vì chẳng có thân nhân nào bảo lãnh, anh vốn lớn lên từ cô nhi viện, tứ cố vô thân nên chẳng biết cậy nhờ ai. Sau đó anh gia nhập đạo Tin Lành và rồi một hội thánh ở Mỹ bảo lãnh Hân qua Mỹ. Những năm tháng ở Mỹ, anh cật lực vừa học vừa làm, cuối cùng cũng có một việc làm ồn định, một bằng cấp kha khá, một căn nhà vừa ý. Hai lần lập gia đình đều đổ vỡ, không có đứa con nào, anh nghĩ chắc ở thế cho đến già. Số thế rồi thì chấp nhận vậy. Đi làm về, một mình trong căn nhà trống, nhiều đêm anh nhớ Việt Nam, đôi khi thấp thoáng bóng của bà cụ và hai chiếc bánh anh còn thiếu nợ hiện ra trong giấc mơ. Nhưng anh vẫn chưa về, thật ra cũng chẳng còn ai để về. Chẳng còn chi níu kéo để về. Nhưng Việt Nam vẫn về trong giấc mơ của Hân. Có một cái gì đó không giải thích được cứ gọi anh về.
Năm 2002, nhân chuyến công tác ở Thái Lan, anh về lại Sài Gòn năm hôm. Thành phố chẳng còn như cũ, nhiều nhà cao tầng, phố xá đông đúc hơn, người ta có vẻ giàu hơn, hàng quán nhiều hon. Buổi chiều anh về lại con đường Trương Minh Giảng cũ, con phố này có vẻ ít đổi thay, trường đại học ngày xưa của anh giờ trông tàn tạ, những bức tường ám rêu, cái cổng trường vẫn thế. Ngôi chợ cũ khang trang hơn, phố sầm uất hơn. Hân đi dọc con đường mấy chục năm trước thường đi, vỉa hè không còn loang lổ, lát gạch đẹp hơn. Đứng ở bên này ngã tư Trần Quang Diệu nhìn qua xây xăng, anh thoáng thấy bà cụ bán bánh ít nhân đậu xanh đang ngồi ở dưới cột đèn đường. Lạ nhỉ? Hai mươi mấy năm rồi, cụ còn sống sao? Cụ vẫn ngồi bán ở đây sao? Hân nhớ hai chiếc bánh còn thiếu nợ bà cụ. Anh vội băng qua đường. Một chiếc xe bus trờ tới, che tầm mắt của anh. Khi anh bước qua bên kia đường thì không còn thấy bà cụ nữa. Mới thấy đây mà? Hay chỉ là ảo ảnh. Hân đi tìm quanh quất mà chẳng thấy gì. Anh đứng ngay chỗ bà cụ hay ngồi ngày xưa, miệng lẩm bẩm: Cụ ơi! Con về tìm cụ trả tiền hai chiếc bánh. Chắc cụ chẳng còn trên đời này nữa đâu. Nhưng con vừa thấy cụ. Hay cụ nhắc con nhớ món nợ năm xưa. Nhưng con biết làm sao trả. Cụ ơi! Mong cụ siêu thoát. Món nợ này con suốt đời nợ cụ.
Mấy ngày còn lại ở Sài Gòn, Hân cứ quanh quất ở cây xăng Trần Quang Diệu, hỏi thăm về bà cụ bán bánh ít hơn hai mươi năm trước ở chỗ này. Mấy hôm rồi chẳng ai biết, chẳng biết thêm tin tức gì. Hôm cuối cùng ở Việt Nam, anh gặp được một anh chàng xe ôm, anh biết rất rõ bà cụ vì anh là con rể của bà cụ. Hân mừng quá, ngồi trên xe để anh xe ôm chở về nhà mà anh cứ ôm bụng anh chàng xe ôm mà nói: Mừng quá, mừng quá. Chắc là bà cụ khiến anh gặp tui. Mừng quá! Anh xe ôm kể đêm qua thấy cụ về bảo chiều mai ra góc cây xăng, có người muốn gặp. Hân nói với lên: Thế là cụ bảo ra gặp tui đấy. Bà cụ linh thiêng thật.
Xe chạy vào mấy cái hẻm ngoằn nghèo. Con hẻm càng vào sâu càng hẹp lại. Căn nhà ở cuối con hẻm ứ nước, cạnh bãi rác. Nhà sơn tróc loang lổ, nghiêng ngiêng như muốn ngã. Nhà tù mù một cái bóng đèn vàng hiu hắt. Một người đàn bà đi ra sau tiếng kêu của anh xe ôm. Hân bước vào nhà, đập vào mắt anh là chiếc bàn thờ be bé thắp ngọn đèn đỏ quạch soi tấm ảnh nho nhỏ của bà cụ. Bà cụ đang nhìn anh, mắt nheo nheo với nụ cười hóm hỉnh. Anh nhớ câu cuối cùng của bà nói với anh hơn hai mươi năm trước: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử? Hân xin ba cây nhang, đốt lửa, ánh sáng bùng lên soi khuôn mặt của người đàn bà nhầu nhĩ, chắc tại nghèo. Hân chắp tay vào ba cây nhang: Cụ ơi,con xin lỗi cụ, con đắc tội với cụ, con mang nợ cụ hai chiếc bánh cứu con qua cơn đói mà bây giờ con mới trả được cho cụ thì cụ đã chẳng còn. Con không quên được hai chiếc bánh của cụ đâu. Và vì không quên nên con mới nhìn thấy cụ, con mới tìm được nhà cụ để trả món nợ ân tình.
Hân ra ngoài cửa, ánh sáng cuối cùng của buổi chiều hắt lên ánh sáng kỳ dị vừa nhờ nhờ vừa tăm tối trên cánh cửa loang lổ. Anh rút hết số tiền trong ví, trong túi xách, anh không đếm là bao nhiêu nhưng cũng được một bó bằng cườm tay. Anh xin chiếc dĩa, đặt hết lên đấy và vái một lần nữa. Cụ ơi! Con xin gởi cụ. Đã biết trễ rồi nhưng có còn hơn không. Con đội ơn cụ và mong cụ tha lỗi cho con.
Hân bước ra con hẻm, ánh đèn đường vừa bật, anh lại ra con đường cũ. Cây xăng đang tấp nập. Khoảng sáng chiếu ở dưới đèn đường, anh lại thấy nụ cười và dáng lom khom của bà cụ. Nhưng lần này cụ không có bóng đổ. 15.7.2005 DODUYNGOC
Hai tuần đầu của tháng 11Dương lịch năm 1963, sau cái chết mờ ám của anh em cố Tổng-thống Ngô Đình Diệm, đất nước trở thành cái sở thú, mà thú vật là những sĩ quan cấp cao vừa phản bội một lãnh tụ mà họ đã từng ca tụng là anh minh.
Những ai còn trung thành với Tổng-thống Diệm phải giấu nỗi tiếc thương ông trong tim của họ. Tôi đã từng nghe người bán than đước nói chuyện với một bà già mua than:
” Bà có biết người ta nói tổng thống tự sát khi bị quân đảo chánh bao vây. Láo! Ông là người của Thiên Chúa, không bao giờ lại tự sát như vậy”.
Nói xong ông bán than cúi đầu gạt nước mắt. Tôi thấy ông đeo cây thánh giá ở cổ bằng sợi chỉ đen.
Nỗi buồn thảm bao phủ trên các gương mặt của nhiều người Bắc trong tỉnh Cần Thơ bé nhỏ này. Trong khi đó, các cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lại huênh hoang khoe rằng họ đã nhúng tay vào việc hạ bệ anh em ông Diệm. Trong nhiều làng họ triệu tập các buổi họp do các cán bộ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vỗ ngực xưng tên, là phe họ đã “tiêu diệt anh em nhà Ngô”.
Ông hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản ra lệnh cho học sinh các lớp gỡ bỏ hình Tổng-thống Ngô Đình Diệm. Khi leo lên gỡ hình Tổng-thống Diệm trên tường, tôi nhìn vào cặp mắt hiền từ của ông, thầm nói với ông:
” Ai biểu ông để cho bà Nhu làm trời làm đất, mới ra nông nỗi nầy”!
Cô Thu Hương muốn giữ hình của cố tổng thống, nên tôi lấy giấy nhật trình gói lại, rồi đưa cho cô. Trong khi đó, bên trường nam, đám học sinh liệng cả khung lẫn hình thành một đống kiếng bể, khung hình cũng bể luôn. Tự nhiên tôi cảm thấy nôn nao, tưởng như đất nước tôi cũng đang rạn nứt như khung hình đó.
Tôi thấy tôi cô đơn giữa những biến cố đột ngột của đất nước mình. Một quốc trưởng chết, hai ba phe bị nghi là thủ phạm, cho tới đồng minh cũng bị gán cho là thủ phạm làm sao mà tôi không thắc mắc, tôi nghiệp cho đất nước, và cho cả thân phận tôi!
Cuối tuần, chị em chúng tôi về vườn trong Bang Thạch để thăm bà ngoại và dì Bảy. Khi ra thăm mộ ông ngoại, tôi ước gì ông còn sống, vì tôi tin rằng ông có thể biết kẻ nào đã giết anh em ông Diệm.
Ba tuần, sau khi ông Diệm bị ám sát, chúng tôi lại nghe tin tổng thống Mỹ John F. Kennedy bị ám sát ở Dallas, tiểu bang Texas. Cũng như nhiều người Việt Nam, chúng tôi tin rằng tổng thống Kennedy quyết liệt chống cộng để thế giới được ổn định và gia đình tôi được đoàn tụ, và chúng tôi sẽ sống bình thường như các gia đình khác. Rồi chúng tôi sẽ liên lạc lại với họ nội. Ba tôi và các cậu tôi, vì lòng yêu nước, đã làm mất truyền thống của hai gia đình.
Có những buổi chiều đi bộ về phía chùa Cây Bàng, ngồi một mình trong chùa hoang vắng, tôi bỗng sợ một ngày nào đó có thể làm mất thể diện của ba tôi, vì tôi không đi theo chí hướng của Người. Nhưng tôi lại tin rằng ba tôi không muốn chúng tôi đi theo cộng sản đâu, vì không bao giờ ba nói với chúng tôi về chủ nghĩa đó, mà trước khi ra đi, ba cũng không có dặn dò hai chị tôi và tôi nói gót ba. Người chỉ là một nhà ái quốc muốn đuổi giặc Tây. Vào thời Tây đô hộ Việt Nam, chỉ có Việt Minh mới đủ sức đương đầu với bọn thực dân. Rồi “đâm lao phải theo lao”, trong khi Việt Minh chưa ló đuôi là tay sai của cộng sản quốc tế. Ba tôi lo việc nước, má tôi lo việc nhà, để việc giáo dục con cái cho má tôi.
Một hôm, tôi hỏi ông ngoại:
” Ngoại à, nếu cháu không theo họ, mai mốt ba cháu có giận cháu không?”.
Ông tôi trả lời:
” Đạo Thiên chúa họ tin là nếu một người đi tu thành ông cha, thì hết nhà họ được nhờ. Tụi cháu hy sinh ba cháu cho thằng già râu đó rồi, không còn nợ nần ai hết”.
Dì Bảy cúi đầu quẹt nước mắt vì câu trả lời này, nhưng tôi và Hải Vân lại thấy an lòng.
Đa số người Việt chúng ta thích tin theo lời đồn. Báo chỉ loan tin “nghe nói” là báo bán chạy như tôm tươi. Ít ai chịu tìm hiểu tận gốc. Khi tôi mới 15, 16, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức bầu cử. Suốt ngày tôi nghe đài phát thanh truyền đi những câu hát cổ động cho cuộc bầu cử, như “rủ nhau đi bầu, rủ nhau đi bầu… tay cầm lá phiếu tự do” v.v… Nhưng lại có nhiều người nói với nhau rằng: “Bầu làm chi, Chánh phủ nào cũng vậy”. Tôi không đồng ý với họ. Dù còn nhỏ tuổi, tôi cũng biết không thể “chánh phủ nào cũng vậy”, vì nếu cộng sản nắm được quyền, mọi sự sẽ thay đổi trong chớp nhoáng; đời sống của người dân sẽ không còn yên ổn như bây giờ. Tự do cá nhân sẽ bị tiêu diệt. Sở dĩ tôi biết được như vậy, là vì tôi đã chứng kiến những vụ cướp vườn, cướp đất, cướp vợ, cướp con của người dân, do một số người đi “giải phóng trong vùng giải phóng”.
Chuyện nước chuyện non còn nhiều lủng củng, lộn xộn, bà ngoại tôi qua đời vào mùa xuân năm 1964. Bà ngoại không còn được thấy bông bưởi, bông cam, bông quít nở ngoài vườn nữa. Bà cũng không còn hưởi tóc chúng tôi mà khen “thơm như bông bưởi” nữa. Cuộc đời của bà gắn bó với mảnh đất ông bà cóc để lại. Không một tấc đất nào trong miếng vườn, không có dấu chân của bà. Mỗi lần bà ra thăm vườn, ông tôi lại nhắc bà mang dép để khỏi đạp phải gai. Bà không bao giờ cãi lời ông, nhưng bà chỉ đi dép có một đỗi rồi lại bỏ ra cầm tay, hay máng nó trên một nhánh cây. Có lần tôi hỏi:
“Sao ngoại không mang dép mà đi chân không?”.
Câu trả lời của bà làm tôi ngỡ ngàng, và cho tôi hiểu tâm can của người yêu xứ sở:
“Đất đai của ông bà để lại, đi chưn không nó mới thấm!
Từ đó, mỗi lần về vườn, tôi lột đôi giầy sandale đeo lên bắt chước bà tôi “đi chưn không cho nó thấm”. Nhờ vậy, tôi biết được “cái thấm của đất dưới chân mình” và tôi yêu mảnh vườn của ông bà ngoại hơn.
Ngày xưa buổi sáng, khi người làm vườn tới nhà ăn cơm trước khi ra đồng, bà ngoại tôi lại cầm cây cu liêm (một cái dao hình lưỡi liềm) đi từ bờ này đến luống kia, kiếm điểm từng cây từng bờ, rồi về cho dì Bảy Nhẫn biết cây nào cần tỉa, bờ nào cần tưới. Mấy người làm vườn sẽ theo chỉ dẫn của dì mà làm việc. Bà thường len lỏi đi trong vườn để tỉa mấy nhánh cây, cắt mấy tàu lá chuối khô. Nếu có con cháu đi theo, bà chỉ những cây quít trĩu quả mà hứa:
“Tới chừng bán quít bà cho con tiền của cây này”.
Mấy chị bà con của tôi liền rủ nhau đi tìm những cây quít sai quả rồi buộc một sợi dây làm dấu:
“Tao xí cây này!”.
Nhưng khi biết được chuyện “xí” này, bà rầy:
“Đồ chết dầm! Bỏ cái tính tham lam đó nhen!”.
Chị em chúng tôi mắc cỡ, mạnh ai nấy cắt bỏ dây làm dấu. Chỉ có anh Quốc và Hải Vân không cần quần là áo lượt, không cần kẹp tóc, áo nịt ngực, nên không ham tiền bán quít. Nhưng cả xuân hạ thu đông, mùa nào họ cũng đủ ăn, đủ mặc, đủ tiền mua đồ chơi.
Hàng ngày, bà tôi làm việc không ngưng tay. Khi thì bà chẻ lạt tre cho thợ lợp nhà buộc lá dừa; khi thì vót đũa tre; khi chẻ cau phơi khô, hay xắt thuốc rê cho ông ngoại.
Ngày nay người ta mướn thầy phong thuỷ tới sửa đổi nhà, làm tôi nhớ lại phong thuỷ đã có trong đời sống ở nhà của bà ngoại tôi rồi; nó là cách tạo cho lối sống thuận tiện.
Bà ngoại giữ cho không có đũa so le, không có chén mẻ; nếu áo rách thì vá, áo đứt nút thì đơm lại. Thúng rổ bị rách thì vá cho tới sợi dây luộc xài để cột thúng tát mương bị dính sình, cũng phải rửa sạch sẽ, phơi khô. Bà nói, không chăm sóc những cái đấy là “cản trở không tốt” cho nhà.
Tôi hay theo bà ra vườn hai lá trầu. Bà dạy tôi lá nào vừa ăn, lá nào còn non, lá nào già cay nồng. Hồi mười hai tuổi, tôi xin bà cho ăn thử tép trầu. Lúc đầu bà không chịu; bà nói con gái ăn trầu xấu lắm. Nhưng tôi theo nịnh bà suốt ngày, nào têm trầu cho bà, nào ra sân trở cái nia cau cho mau khô ngoài nắng… Cuối cùng bà đành cho tôi ăn thử.
Trưa hôm đó say trầu, tôi ngủ li bì trên võng, bỏ buổi cơm trưa. Mấy chị con cậu Tư, cậu Năm, cười tôi quá.
Theo tục lệ xưa, bà mua trước một “cái thọ” cho ông ngoại. Cái thọ đó để dưới mái hiên cho khuất nắng, khuất mưa. Khi qua đời, ông được liệm trong cái hòm gỗ tốt. Đến phiên bà mất, con cháu họp nhau mua một cái hòm không được tốt bằng cái hòm của ông. Vài năm trước, lúc bà đau nhiều, thường phải đi bác sĩ, má tôi đã lén may cho bà một bộ quần áo dưỡng già rồi.
Bà ngoại ra đi không kèn không trống, chỉ có nước mắt tiếc thương, kính trọng, và ăn năn hối hận. Tiền để dành lo hậu sự cho bà, dì Bảy đã xài hết cho “chiến dịch”.
Năm 1964, đất nhà không còn an ninh nữa. Ban đêm Việt Cộng làm chủ, ban ngày lính quốc gia hành quân, phục kích, bắn sỏi, bỏ bom. Vì vậy, chỉ có hai ông em trai của bà cũng gia đình hai ông, và đám con cháu phía chúng tôi, với mấy người hàng xóm láng giềng ở Bang Thạch tới Xẻo Môn đưa bà ra tới nơi an nghỉ cuối cùng. Nhà cậu Hai Định quen lớn, nên lính quốc gia, tạm ngưng hành quân mấy tiếng đồng hồ. Mặt khác, dì Bảy xin Việt Cộng ở Xẻo Môn án binh bất động mấy ngày, để tang gia có thể hội họp đông đủ, lo chôn cất bà.
Có điều may mắn, là từ mấy năm trước, bà ngoại đã lo xa mướn người xây hai kim tĩnh cho cả ông lẫn bà. Nếu không, ngày nay gia đình chúng tôi có thể gặp khó khăn. Dì Bảy không còn tiền làm mộ bia, đừng nói tới chôn cất. Rồi chiến tranh, rồi bom phá sập nhà, dì phải dọn ra chợ Bang Thạch. Ban ngày dì vô trông coi vườn tược, chiều hội họp với tổ chức, rồi tối trở ra chợ Bang Thạch ngủ.
Từ sau ngày bà ngoại tôi qua đời, dì Bảy Nhãn không còn lo nợ nhà, mà dốc lòng trả nợ nước. Dì đã hy sinh nửa cuộc đời cho gia đình, nay dành nửa còn lại trọn vẹn cho nước cho non. Dì sống một cuộc đời trong sạch, gương mẫu. Dì đã thế ba tôi nuôi dạy chúng tôi, bây giờ dì làm mẹ chiến sĩ, nâng đỡ từ tinh thần đến vật chất cho những cán bộ Việt Cộng. Từ Cái Tắc đến Bang Thạch, từ Xẻo Môn đến Cái Chanh, Cái Muồng, khắp hang cùng ngõ hẻm, người nào cũng thương mến, kính trọng dì.
Còn đám con nít chúng tôi, nếu dân trong vùng Việt Cộng kiểm soát biết chúng tôi là cháu dì, chúng tôi sẽ được người ta quý mến. Có những nơi mà chúng tôi không dám tới, dân trong vùng đua nhau noi gương dì Bảy Nhãn.
Tôi nhớ hoài bàn tay chai cứng đầy yêu thương của bà ngoại. Bàn tay ấy thường nắm lấy tay tôi, chỉ lên ngọn cây vú sữa hay cây khế sau nhà còn mấy trái cuối mùa, rồi nói: “Để bà kêu cậu Khương hái cho má con”.
Cậu Khương là cháu kêu bà bằng cô. Nhưng cậu chưa kịp tới, thì tôi lén bà leo bẻ trước. Thấy tôi hay leo trèo, bà thường nói là tôi có “bà mụ độ”, nếu không tôi đã té gẫy cổ chết từ lâu rồi. Tôi dám leo cả cây cau, cây dừa cao chót vót. Có lần tôi leo lên một cây cóc già cao vút, chỉ vì mấy trái cóc chín vàng. Nhưng khi tôi hái được mấy trái cóc rồi, nhìn xuống đất mới hết hồn, vì đất xa quá. Tôi không dám leo xuống nữa, ôm cây mà khóc, kêu cứu. Cậu Khương phải leo lên, buộc bụng tôi vô cây cóc, ngồi lên vai cậu rồi từ từ leo xuống. Từ đó tôi chỉ dám lượm cóc rụng, không dám leo cây cóc nữa.
Bà tôi ra đi mà không được thấy mặt hai người con trai bà yêu thương, mong đợi mỏi mòn. Bà mất rồi, không còn ai thèm hỏi tôi “Chừng nào ba con về” hay: “Có nghe tin gì của ba con không”.
Tôi thầm tự hứa với lòng, là lớn lên tôi sẽ có găng theo gương bà. Làm chị, làm mẹ, làm người như bà ngoại tôi không dễ, bà sống mãi trong lòng tôi. Xương máu của tôi là xương máu của bà. Bấy nhiêu cũng đủ là hành trang vào đời của tôi.
Năm ấy cũng là năm tôi học hết trung học. Huê lợi của nhà bà ngoại không còn đủ để cung cấp cho chúng tôi nữa, vì dì Bảy đã dâng hiến hết cho Việt Cộng. Má tôi không còn cha, không còn mẹ, không còn trông vào huê lợi của vườn tược, nên bà lo lắng và làm việc ngày đêm. Tôi xin má cho tôi nghỉ học để đi làm giúp đỡ gia đình. Bà vừa khóc vừa nói:
“Con mới có 18 tuổi hà!
Tôi không cãi lại, nhưng bắt đầu từ đó âm thầm kiếm việc làm. Tôi tính toán coi ai có thể mướn tôi được, và tôi muốn làm việc gì, cho ai. Những năm tôi học trung học, má tôi cấm chơi với bạn trai, nên chị em chúng tôi chơi với “Bạn Bốn Phương”. Tuần nào chúng tôi cũng ra Bưu Điện gởi thơ, nên đứa nào cũng thích nhà Bưu Điện Cần Thơ. Khi đã lớn, chúng tôi vẫn còn thích nhà Bưu Điện. Một hôm, tôi đến đó thử thời vận, qua lời giới thiệu của của anh bạn học, quen với con trai ông trưởng ty Bưu Điện. Chánh trị và xã giao nơi tỉnh nhỏ chúng tôi là vậy.
“Cô mấy tuổi?” Ông quản lý Bưu Điện vừa hỏi vừa nhìn tôi qua cặp mắt kiếng dầy cộm, đã trở mầu như có dính mỡ của ông.
Tôi lễ phép đáp:
“Dạ, cháu đã 18 tuổi tây, 19 tuổi ta”.
Sở dĩ tôi phải “kê khai” cả tuổi tây lẫn tuổi ta để ông già biết tôi là người lớn. Ông lại hỏi tiếp:
“Trước đây cô đã làm việc ở đâu chưa, cô bé? “
Nghe giọng Bắc kỳ của ông thật dễ ghét!
Khi tôi cho biết tôi mới học xong trung học, ông đẩy lá đơn trả lại cho tôi, rồi dựa lung vào ghế nói một cách lạnh nhạt, không thèm nhìn tôi:
“Chúng tôi không có ai rảnh dạy việc cho người mới trong lúc này. Chúng tôi cần người có kinh nghiệm cơ”.
Tôi mắc cỡ cầm lá đơn bước ra khỏi nhà Bưu Điện. Tôi vừa thất vọng vừa giận ông già quá. Tôi nghĩ thầm trong bụng “Cứ cho tui vô, đập “chúng tôi” một trận là có kinh nghiệm ngay”.
Dáng tôi thấp nhỏ, người ốm nhom ốm nhách, mà hễ giận là muốn đánh cho người đó một trận. Đó là đặc điểm của em anh Khôi. Nhiều lần Hải Vân khuyên tôi hãy đi học võ Judo trước khi muốn đánh ai.
Mộng làm bưu điện của tôi tan vỡ nhanh chóng. Tôi nghĩ đến một vài chỗ khác, như việc bán vé cho rạp hát Casino hay rạp Huỳnh Lạc. Bà chủ rạp Casino chịu nhận tôi vô làm, nhưng bắt phải ký quỹ trước 2.000 đồng. Lúc đó tài sản của tôi chỉ có mỗi một chiếc xe đạp, giá 1.500 đồng khi mới mua bốn năm về trước. Bán chiếc xe đi để có tiền ký quỹ, tôi sẽ lấy “chân” đâu để đi làm?
Như ngọn lửa vừa nhen nhóm cháy lên, chưa đủ nóng đã bị tàn. Lòng tự tin của tôi như cái bánh xe bị xì hơi, xẹp lép. Nhưng vài ngày sau tôi thầm tự khuyến khích: “Thua keo này, ta bày keo khác, sợ gì”. Nếu không còn củi để nấu cho cái nồi hy vọng đó sôi lên sùng sục, tôi cũng cô hâm cho nó nóng lại từ từ. Tôi nhớ lời bà ngoại dậy tôi kho thịt với nước dừa: “Nấu lửa nhỏ, càng chậm càng ngon”.
o O o
Hè năm này, Bang Thạch không còn là nơi yên ổn để chúng tôi về chơi nữa. Chị Thuận và tôi vừa đi kiếm việc làm vừa nghĩ cách kiếm ra tiền để ăn hàng và mua sách đọc. Có mấy cuốn ở nhà sách Văn Nhiều, chúng tôi chưa có tiền mua, dù đã đọc ké hết rồi. Chúng tôi xin với má cho chúng tôi luông và kết nút áo dài lấy công. Nếu tôi chịu khó, một ngày cũng làm xong được hai cái áo. Tiền công hai cái áo không đủ mua nửa cuốn sách. Trong khi đó, chị Thuận khéo tay hơn, nên áo chị luông đẹp hơn. Tôi đem số tiền ít ỏi ấy ra tiệm sách Văn Nhiều mua một bản nhạc cho Hải Vân đàn Mandoline; tôi và Mai Bắc Kỳ song ca.
Rồi một hôm, cái duyên văn nghệ, báo chí bỗng đến với tôi. Lúc đầu, tôi chỉ muốn giúp một ông nhà báo ở sát cạnh nhà tôi, cách nhau một cái hàng rào bằng đây kẽm gai. Tôi nghe nói ông là phóng viên cho tờ báo Sóng Thần trên Sài gòn. Chúng tôi thường kêu ông là dượng Tư Quan. Dượng là một người kỳ dị, ốm yếu như người bị ho lao. Tóc dượng hình như không chải mà lại có mỡ. Dượng ghét con nít, vì cho con nít là “lũ quỷ ồn ào”. Dượng ở nhà với bà mẹ và một người đàn bà bán bánh cổng vào buổi trưa, đến chiều thì bán chuối chiên. Tất cả mọi người trong xóm Cả Đài đều thương cho hoàn cảnh của “cô Tư bán chuối chiên”. Mỗi lần hai vợ chồng đánh lộn, dượng Tư Quan đánh vợ bể đầu, bầm mặt, chảy máu, quần áo rách tơi tả. Nhưng cô cũng không vừa. Cô nắm đầu, bứt tóc dượng, rồi vừa la lối, vừa bỏ chạy, ôm theo áo quần. Cô thường kể lể thật lớn:
“Từ đây tao với mấy đoạn tuyệt… Mầy hút cho hết tiền rồi đánh tao… Tao đi luôn… Tao về với má tao”.
Hàng xóm ai cũng thuộc lòng mấy câu trách móc.
Lần nào dượng Tư cũng chạy theo, níu kéo cô trở lại mà không được. Khi cô bỏ đi, chị em chúng tôi lại nhớ món chuối chiên của cô. Nhưng trăm lần như một, cô chỉ vắng bóng khoảng năm ba ngày, rồi lại thấy cô ngồi cùng một xe lôi với chồng, trở về với nụ cười tươi trên môi, trên mặt. Thế là hoà bình đã được tái lập. Riêng tôi, tôi vẫn thấy thương cô. Cô làm lụng vất vả để kiếm tiền, vậy mà dượng Tư lại đem đốt những đồng tiền mồ hôi nước mắt đó trong nhà hút ở Xóm Củi. Hễ cô giấu được đồng nào, chồng cô cũng khảo cho lòi những đồng tiền đó ra mới chịu. Vậy mà hai người đã sống bên nhau hơn mười bốn năm trời. Sở dĩ hàng xóm láng giềng biết như vậy, vì mỗi lần vợ chồng đánh lộn nhau, chính cô lại kể lể như vậy.
Một buổi tối, người ta xôn xao vì có tin Việt Cộng vừa phá nổ kho xăng giữa Đầu Sấu và Cái Răng. Kho xăng này chỉ cách nhà tôi độ tám cây số. Nghe được tin đó, tôi chạy qua cho ông nhà báo hay. Nhưng ông không có nhà, vì ông lại đi kiếm cô Tư. Tôi tiếc không gặp ông, vì tin Việt Cộng phá hoại kho xăng còn nóng hổi. Tôi biết dượng Tư theo phe Quốc gia, nên dượng sẽ quan tâm đến hoạt động phá hoại của Việt Cộng. Không cần phải nghĩ ngợi lâu, tôi phóng lên chiếc xe đạp, chạy đi săn tin này.
Khi đến gần kho xăng đang cháy ngùn ngụt, tôi bị sức nóng làm cay mắt. Tôi phải đứng xa xa trong khi cảnh sát không ngừng thổi tu huýt chặn những ai bén mảng đến gần hơn mấy chiếc Jeep đậu cản đường, kể cả những người ở tại phía Nam, bên kia cầu Rạch Ngỗng. Tôi phải năn nỉ mấy ông lính cho tôi về nhà ở bên kia bờ sông; nếu tôi không về đúng giờ, má tôi sẽ tưởng tôi bị chết cháy. Một anh lính trẻ đành cho tôi đi.
Hai bên đường, người ta chen lấn nhau đứng chật ních. Còn chừng một cây số cách kho xăng đang cháy, tôi phải ngừng lai. Xa xa, ngọn lửa lên cao vút, khói đen ngập trời. Bỗng trong đám những người bị sơ tán, có một ông ôm một bọc lớn, vừa đi vừa chạy từ bên kia cầu, miệng chửi Việt Cộng, chửi xe chữa lửa và chửi luôn cả đứa con gái nhỏ nắm áo chạy theo cha. Ông còn lớn tiếng hăm doạ:
“Nhà tao mà cháy, tao chém chết cha thằng chó đẻ nào chủ mưu”.
Cây cầu Rạch Ngỗng là chỗ cao nhứt để có thể thấy được ngọn lửa đằng xa. Nhưng rồi lính quân cảnh, cảnh sát lại ra lệnh giải tán đám người đứng trên cầu. Họ bóp kèn xe hơi, thổi tu huýt, la hét ầm ĩ. Nhưng đám đông không chịu giải tán. Từ trên một chiếc xe GMC, lính nhảy xuống, dùng súng xô người khỏi cây cầu. Lúc đó tôi mới nhích đi được hơn nữa cây cầu về phía Nam. Một người lính bắn bổng một phát súng, làm mọi người hốt hoảng bỏ chạy, kẻ đi về hướng nam, người qua phía bắc. Tôi vội vàng dắt chiếc xe đạp chạy miết qua phía Nam, vì nơi đó có nhà của hai chị học trò của má tôi. Tôi tính trong bụng, nếu có gì nguy hiểm, tôi còn có người quen. Tôi nhứt định phải lấy được tin này đem về cho ông nhà báo bên hàng xóm.
Đến gần đám cháy, hơi nóng càng dữ dội. Tiếng lửa cháy hoà với tiếng xe chữa lửa, xe cứu thương, làm tôi bắt đầu thấy bồn chồn, nóng ruột. Bấy giờ tôi mới hiểu nghĩa câu người ta thường nói “Nóng ruột như ngồi trên đống lửa”. Tôi không sợ Việt Cộng, mà chỉ sợ má tôi lo, vì lúc đi tôi không cho má biết là tôi đi coi kho xăng cháy. Trời tối, khói mịt mù, chỉ có ngọn lửa bốc lên từ kho xăng làm đỏ một góc trời. Vì nhìn không rõ, tôi đụng phải một bà già ngồi dưới đất. Tôi vội vàng xin lỗi và ngồi xuống cạnh bà. Thấy tôi, bà liền kể lại chuyện Việt Cộng pháo kích kho xăng:
“Tao thấy tận mắt nè! Pháo kích ngang qua nhà tao. Mới đầu họ bắn hụt, tới lần thứ ba, thứ tư mới trúng đích”.
Bà còn cho biết, người con trai bà đã trở về nhà ở bờ sông để tìm cách đem mấy con heo, con gà đi tỵ nạn. Bà phải ngồi một mình vì bà bị bại liệt. Tôi liền đề nghị bồng bà đến một nơi an toàn. Bà phì cười, tiếng cười trong vắt, rồi bảo tôi:
“Bay nhỏ xíu, bồng tao đâu được”.
Tôi chưa bao giờ nghĩ mình “nhỏ xíu”, vì vậy tôi cứ luồn tay mặt xuống hai chân bà, tay trái đỡ thân bà, và kêu bà ôm cổ tôi. Rồi tôi nâng bổng bà lên, bắt đầu đứng dậy đi. Một vài người tò mò nhìn chúng tôi, nhưng không ai tiếp tay. Tất cả mọi người đều mắc coi đám cháy. Tôi bồng bà già vô nhà một người quen của bà. Khi thấy bà đã được an toàn, tôi mới trở lại chỗ để xe đạp. Trời đã tối thui, nên tôi phải vội về nhà, vì “giờ giới nghiêm” của của má tôi dành cho chị Thuận và tôi là 9 giờ 30 tối. Sở dĩ má tôi bày đặt ra “giờ giới nghiêm”, vì một chị bạn cùng lớp bỗng hâm mộ thơ của bà Hồ Xuân Hương: “Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao đà nẩy nét ngang”. Chuyện xảy ra từ mấy năm trước, con chị nay đã biết đi. Nhưng má tôi vẫn không chịu bãi bài bỏ “giờ giới nghiêm”. Có lần tôi làm gan đề nghị bà bỏ giờ giới nghiêm cho chúng tôi dễ thở, nhưng bà làm lơ.
Trên đường về, tôi hai buồn là không tới được gần kho xăng gần hơn, hoặc hỏi thêm được nhiều chi tiết về đám cháy, để thuật lại cho ông nhà báo biết. Đầu óc tôi nghĩ hoài tới bà già nằm giữa đường. Hai tay tôi còn mỏi nhừ vì đã bồng bà đi một khoảng khá xa. Tôi thầm tự hỏi, tại sao bà già không khóc? Tại sao bà lại bình tĩnh như vậy? Biết được những điều đó, tôi sẽ cho ông nhà báo biết rằng Việt Cộng không làm nao núng một ai, kể cả một bà già bại xuội, trơ trọi có một mình, và chắc chắn tôi sẽ kể câu chuyện một người đàn ông đã nguyền rủa Việt Cộng, đòi tru di tam tộc thằng Việt Cộng nào mà ông ta tóm được.
Về tới nhà, tôi vội xé giấy trong một cuốn tập, để viết tin vụ nổ kho xăng, rồi nhờ bà Hai, má của dượng, chuyển cho dượng Tư Quan.
Chiều hôm sau, cô Tư qua nhà tôi và cho biết chồng cô muốn gặp tôi. Dượng Tư Quan là người quạu quọ, khó tánh, không bao giờ nhìn ai, hoặc chào hỏi ai, nên tôi cũng ngán gặp dượng. Nhưng tôi lại nghĩ rằng mình là con nít, không thể từ chối khi người lớn muốn nói chuyện với mình. Nếu tôi không sang gặp dượng Tư, dượng có thể nghĩ rằng má tôi không biết dạy con.
Dượng chỉ ghế kêu tôi ngồi, rồi dượng đọc bài tường thuật của tôi. Cuối cùng, dượng hỏi tôi:
“Sao cháu không viết kết luận của đám cháy?”
Tôi đáp:
“Cảnh sát không cho ai lại gần đám cháy. Họ còn bắn bổng mấy lần để đuổi người ta, không cho ai đứng trên cầu”.
Dượng Tư cười – đây là lần đầu tiên tôi thấy dượng cười – rồi nói:
“Phóng viên phải xông xáo, gan dạ mới lấy được tin lạ, tin hay chớ”.
Tôi làm gan chọc lại dượng:
“Phải luôn luôn có mặt đúng chỗ, đúng lúc nữa, dượng Tư. Tối hôm qua, bà Hai nói dượng đi săn tin khác”.
Dượng gượng cười, lấy hai trăm đưa cho tôi. Tôi từ chối, nhưng dượng cho biết dượng phải trả tiền cho người đưa tin. Cầm hai trăm trong tay, mà cứ nhìn nó hoài. Nó làm tôi nảy ra một ý kiến táo bạo: hay là làm phóng viên săn tin Việt Cộng giết người.
Một hôm, tôi nói nhỏ cho Hải Vân nghe ý định táo bạo của tôi. Nó la cho một trận:
“Chị đừng có lộn xộn. Dì Bảy mà biết được, đi méc má, má sợ dì buồn, má treo chưn chị lên nóc nhà, như má treo xe máy của chị mấy hôm trước đó”.
Đêm hôm đó, tôi lót 200$ dưới gối khi đi ngủ. Tôi không ngủ ngay, mà nghĩ ngợi miên man đến công việc dự tính làm. Tôi mơ ước làm phóng viên của đài phát thanh, để các tin tôi viết được đọc trên các làn sóng điện. Lúc đó, tôi sẽ ngồi trước cái radio để chờ nghe tin của mình được phát thanh cho cả nước nghe.
Sáng hôm sau tôi dậy trễ, mệt mỏi vì sau một đêm không ngủ với mộng mị, ước mơ tràn ngập trong lòng. Tôi rủ chị Thuận ra bờ sông sau chùa Cây Bàng để hỏi ý chị. Thật ra không phải hỏi, mà tôi muốn chia xẻ với chị giấc mơ của mình. Khi tôi còn đi học, nhiều lần cô Thu Hương hỏi cả lớp sau này muốn làm nghề gì? Tôi không dám trả lời thật, vì ý muốn của tôi táo bạo quá, nên mười lần như một chỉ trả lời: “Em chưa biết!”. Tôi ôm giấc mộng được là một sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng hoà, rồi trở thành một nữ tướng mũ đỏ. Làm gì mà được nối gót các anh mũ đỏ. Thôi thì thôi, đi viết tin tức cũng hay lắm rồi.
Giấc mơ của chị Thuận giản dị dễ thương hơn nhiều. Ngay từ hồi còn học tiểu học, chị đã mơ làm cô giáo, theo nghiệp ba của chị. Rồi “một mái nhà tranh hai quả tim vàng”. Trong mái nhà tranh đó, sẽ có một tủ, chứa đầy những sách chị đã đọc hay chưa đọc.
Từ bờ sông về nhà, chị Thuận hát nho nhỏ: “Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”
Tôi bèn hát đáp lại:
“Em đi lấy chồng Tàu, cho nó mua cái đài radio cho em”.
Hai chị em cười khúc khích bên nhau.
Từ đó, giấc mộng trở thành phóng viên, hay biên tập viên theo tôi từng bước. Tôi ăn, tôi ngủ, tôi mơ mộng, tôi tắm, tôi nấu ăn… đều có nó bên cạnh. Thật ra, giấc mộng của tôi quá viễn vông. Làm sao đứa con gái mới ra khỏi trường trung học, chưa đi làm lấy một ngày, chưa biết việc gì ngoài việc học, việc làm con, làm chị, mà đòi theo đuổi nghề cầm bút? Những tánh tôi lì hơn trâu, dai hơn con đỉa, cho nên tôi quyết tâm thực hiện được ước mơ này.
Nhiều lần, tôi xin phép má đi lính, nhưng má nhứt định không cho vì hai lý do. Một, tôi là con gái, không thể chịu đựng nổi đời sống quân ngũ. Hai, nếu tôi đi lính quốc gia, thể nào cũng bị dì Bảy Nhãn từ. Nhưng nếu tôi chỉ viết tin tức cho quân đội, chắc tội của tôi sẽ nhẹ hơn đối với dì.
Hoàn cảnh đất nước làm cho gia đình tôi gặp nhiều khó khăn nhưng bù lại, ông trời cũng ban cho tôi nhiều may mắn. Một ông trung uý người Bắc Kỳ ở trọ cạnh nhà tôi, mấy lần mon men đi qua nhà để làm quen với tôi. Những lần nào ông cũng bị má tôi “dàn chào”, nên không bao giờ ông được nói chuyện riêng với tôi, hay bất cứ một chị học trò nào của má. Má tôi cương quyết cấm chị em chúng tôi đi chơi với lính. Một hôm, Hải Vân nói nửa đùa nửa thật khi cả nhà đang ngồi ăn cơm:
“Thời chiến mà má không cho mấy chị quen với lính, thì chắc con gái nhà này thành gái già hết”.
Lúc bấy giờ tôi chưa có bạn trai, nhưng tôi nghĩ trung uý Phước hấp dẫn, vì nơi ông làm việc là Phòng V của Vùng Bốn Chiến thuật, một văn phòng mới được thành lập. Tôi cũng chỉ mới nghe nói đến phòng này khi trung uý Phước tự giới thiệu ông. Một trong nhiều chương trình của Phòng V là quân đội thiết lập một đài phát thanh ở Sóc Trăng để loan đi những tin của quân đội. Tôi ngây thơ nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để tôi có thể thực hiện giấc mơ của mình.
Trung uý Phước cho biết ông đang đi tìm nhà cho ông giám đốc của Phòng V, đó là đại uý Nguyễn Đạt Thịnh. Lại thêm một người mới, từ Sài gòn xuống Cần Thơ. Trung uý Phước cũng cho biết đại uý Thịnh là một nhà văn nổi tiếng ở Sài gòn. Ông đã xuất bản nhiều quyển tiểu thuyết và đã làm chủ bút những tờ báo của Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Ông là một trong những nhà văn cộng tác với nhiều tờ báo trên Sài gòn, và đã viết nhiều bài phê bình văn học có giá trị. Trung uý Phước ca tụng xếp của ông không tiếc lời. Người Sài gòn biết nhân tài Nguyễn Đạt Thịnh, nhưng dân miệt vườn của tôi chắc chưa mấy ai biết tới ông, nhứt là tuổi học trò cỡ tôi. Tôi thầm tự hứa sẽ tìm đọc sách của Nguyễn Đạt Thịnh vào mùa hè của đời tôi. Nhưng bây giờ đang là mùa xuân, tôi cần gieo mạ, trồng cây, nghĩa là tôi cần làm quen với đại uý Thịnh trước đã. Một hôm, tôi nói với trung uý Phước là tôi muốn nhờ ông giới thiệu tôi với đại uý Nguyễn Đạt Thịnh. Trung uý Phước cho biết là họ sẽ có mở tiệc ăn mừng ngày khánh thành Phòng V. Vì ông nói hơi lớn, tôi phải ra hiệu ông nói nhỏ lại, rồi bước ra cửa, thì thầm:
“Đừng nói lớn, má em nghe thì khỏi có đi đâu hết!
Phước cười thông cảm, rồi mời tôi đi dự buổi tiệc ấy. Tất nhiên tôi nhận lời ngay.
Ngày mở tiệc, tôi hẹn gặp trung uý Phước tại câu lạc bộ sân quần vợt, rồi chúng tôi đi bộ qua trại Lê Lợi, trên đại lộ Hoà Bình. Đây là con đường rất quan thuộc với tôi, vì suốt những năm học tiểu học rồi trung học, tôi đã đi qua đi lại đến mòn mấy chục đôi guốc, đôi sandale, mà tôi có thèm để ý gì cái trại lính ở ngoài cái bót canh nhỏ, có lính đứng gác. Bây giờ tôi đi vô đây để khánh thành của một văn phòng lạ hoắc. Tôi cảm thấy như đi lạc vào một nơi xa lạ, rời bỏ cái tuổi học trò, làm cho tôi xúc động, hồi hộp. Vừa đi trung uý Phước vừa nhắc tôi là đừng thất vọng nếu chưa xin được việc, vì có thể các nhân viên văn phòng của đại uý Thịnh sẽ từ Sài gòn chuyển xuống; họ toàn là sĩ quan và hạ sĩ quan. Không có nhân viên dân sự, không có đàn bà và đương nhiên là không có cả học trò mắt còn xanh. Trung uý Phước dặn thêm:
“Nếu đại uý Thịnh cho biết Phòng V không mướn biên tập viên dân sự, em có thể xin một chân thơ ký đánh máy”.
Tôi đáp:
“Nhưng em không biết đánh máy!”.
“Em chỉ cần học một cua đánh máy là xong”. – Trung uý Phước dỗ dành tôi bằng một giọng nói Bắc Kỳ quyến rũ, ngọt như mật rót vào tai.
“Em biết làm một việc khó gấp mười lần, dại gì em phải đi học một cua để làm một việc dễ hơn hả anh?”
Buổi tiệc hôm ấy tôi không ngớt khen thầm những người đàn bà đẹp từ Sài gòn xuống. Quần áo của họ đẹp hơn quần áo của cô giáo tỉnh lỵ. Họ là bạn, là tình nhân, là vợ của các sĩ quan trong buổi tiệc. Riêng tôi, tôi cùng thầm hãnh diện là giữa đám ba quân ấy cũng có mặt một nữ sinh áo trắng của trường trung học Phan Thanh Giản. Tôi không có mặc cảm nhà quê hay kém cỏi. Tôi còn lên mặt chủ nhà, chào đón khách từ Sàigòn xuống Cần Thơ. Trung uý Phước không ngớt giới thiệu tôi đại tá này, trung uý kia, hay chánh văn phòng nọ. Tôi nói nhỏ với ông:
“Em chỉ muốn bắt tay đại uý Thịnh thôi, rồi em về”.
Tôi muốn trở lại ngay hôm sau để gặp đại uý Thịnh, như tôi lại sợ ông cho là tôi quá hăm hở, quá ngây thơ như một đứa con nít. Mà tôi cũng không muốn để lâu quá, rủi đại uý Thịnh không nhớ tôi là ai. Tôi tính toán, rồi quyết định tôi sẽ gặp sau hai ngày là vừa đủ. Phở nóng ăn nóng mới ngon.
Sáng ngày thứ nhì sau khi được giới thiệu với đại uý Thịnh, tôi đến trại Lê Lợi xin gặp ông trưởng Phòng V. Đại uý Thịnh phải ra cổng ký tên, tôi mới được vô gặp ông, vì tôi chưa có căn cước, mà thẻ học sinh vừa hết hạn, ông lính gác cổng không cho tôi vô một mình. Tôi phải xin lỗi ông, vì đã làm phiền ông phải mất công ra tận cổng đón tôi. Nụ cười dễ dãi của ông làm tôi bình tĩnh lại ngay. Ông cho biết từ đó tới giờ không có ai thăm ông mà mang thẻ học sinh. Hai hôm trước, trong buổi tiệc ông nói toàn giọng Bắc, bấy giờ ông nói giọng Nam đặc sệt khiến tôi cảm thấy gần gũi ông hơn, và không còn hồi hộp nữa.
Hôm nay quang cảnh Phòng V khác hơn ngày có tiệc. Mọi người trong văn phòng đều mặc đồng phục mầu xanh của lính, giầy đen bóng loáng. Ai cũng chăm chú làm việc, trong khi cây quạt trần quay kẽo kẹt trên trần nhà. Cả phòng im lặng, chỉ có tiếng đánh máy và tiếng quạt mà thôi. Văn phòng của đại uý Thịnh ở trong cùng, thì khác hẳn bên ngoài. Phòng này quá phân biệt, có máy lạnh. Hình như ông đọc được ý nghĩ của tôi về khác biệt, nên đã cắt nghĩa cho tôi biết về sự khác biệt ấy. Phòng này phải kín để có thể thâu băng. Ngoài ra, phòng này còn thêm một người nữa, đó là đại uý phóng viên người Mỹ. Ông Mỹ hiện ở ngoài chiến trường, thỉnh thoảng mới về.
Căn phòng của đại uý Thịnh có một khung kiếng để bên ngoài thể nhìn suốt qua, dù cửa đóng kín. Ông Thịnh không mở cửa ngay mà nhìn vô khung kiếng, rồi nói: “OK, boss cho phép mình vô. Mời cô bé”.
“Boss” là một ông thiếu uý, ốm và cao như cây tre miễu, môi thâm đen. Tóc ông không hớt ngắn nlur mấy ông nhà binh khác. Có vài sợi xoã xuống chân mày, khiến ông phải lấy mấy ngón tay vuốt lên. Ông Thịnh trịnh trọng giới thiệu
“Đây là thiếu uý Nam, một nhà thơ kiêm nhà văn, ông là linh hồn của đài Tiếng nói của Quân Lực Việt Nam Cộng hoà.
Chúng tôi bắt tay nhau, rồi thiếu uý Nam một tay mở của một tay cầm gói thuốc lá Camel bước ra ngoài.
Tôi ngồi xuống cái ghế bên cạnh bàn viết của thiếu uý Nam, nhưng đại uý Thịnh bảo tôi sang ngồi cạnh bàn của ông. Sau đó ông mở hộp xì-gà hiệu King Edwards, lấy một điếu rồi cẩn thận đóng hộp lại cất vào hộc tủ. Cái cách ông hút điếu xì-gà làm tôi tưởng đó là một lễ nghi đặc biệt. Ông từ từ nắm một góc nhỏ của thân điếu xì-gà, kéo ngược lại, xé cái giấy bóng trong suốt bọc ngoài điếu thuốc. Rồi ông lấy hộp quẹt Zippo, bật lửa lên. Ông ghìm ngón cái bên tay mặt giữ cho ngọn lửa tiếp tục cháy, còn tay trái ông xoay tròn điếu thuốc cho đến khi nó đã cháy đều và ở đầu có một vòng tàn thuốc; ông đóng hộp quẹt lại. Lúc đó, ông hít một hơi thuốc rồi nhả khói. Tôi nhìn ông trịnh trọng đốt cuốn lá khô, mà có cảm tưởng điếu xì-gà chắc là một thứ thuốc rất ngon.
Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với cái thế giới mà họ hàng Việt Cộng của tôi gọi là “Mỹ Ngụy”. Tôi hơi ngỡ ngàng vì trong văn phòng này không có một đồ vật nào do Cần Thơ của tôi sản xuất. Tôi ngồi trên một cái ghế sắt màu xám, cái bàn viết cùng mầu với cái ghế. Cả cái ghế xoay tròn của đại uý Thịnh cùng cái hộp để giấy tờ trên bàn đều là do “made in USA”
Có lẽ ông Thịnh đọc được ý nghĩ của tôi, nên ông nói:
“Cái gì trong phòng này cũng là Mỹ, chỉ có tôi là không sao, cô bé tìm tôi có việc gì?”
Tôi cũng biết trong quân đội người ta gọi nhau bằng cấp bậc, nhưng tôi vẫn còn là học trò, nên chưa quen cách xưng hô của lính. Thời gian đó, tôi chỉ biết có thầy, cô giáo, hoặc ông hiệu trưởng, bà hiệu trưởng mà thôi. Ngay đến ông xã trưởng Bang Thạch, tôi cũng kêu bằng cậu. Bây giờ, đối với đại uý Thịnh, tôi gọi bằng anh cho tiện và thân mật. Tôi đi thẳng vô vấn đề cho xong chuyện:
“Anh Thịnh, em muốn làm việc cho đài phát thanh… Nếu anh cần biên tập viên, em có thể….”
Nói xong, tôi thở phào nhẹ nhõm, vì chính tôi cũng không ngờ tôi có thể trình bày ý kiến một cách dễ dàng như vậy.
“Sao em muốn đi làm, mà không đi học nữa?” Ông Thịnh ân cần hỏi.
Tôi đáp:
“Em đang cần đi làm để giúp gia đình. Cả nhà em chỉ trông vô má thôi, nên em thấy má vất vả quá… Em phải giúp má em”.
Rồi tôi kể cho đại uý Thịnh nghe những nơi tôi đã đến xin việc. Bưu Điện thì đòi phải có kinh nghiệm, rạp hát đòi hai ngàn đồng thế chưn. Ông gật đầu tỏ vẻ thông cảm rồi nói:
“Catch-22″.
Nhìn mắt tôi, ông hiểu tôi có điều thắc mắc, nên vội giải thích:
“Làm biên tập viên ở đây là việc của lính tráng chúng tôi, chớ không có các cô làm”.
Tôi đáp ngay:
“Trung uý Phước cũng đã nói với em như vậy. Nhưng đó là luật lệ của Sài gòn, còn đây là vùng 4 Chiến thuật. Anh có quyền đặt ra luật lệ riêng cho văn phòng của anh, vì anh là trưởng phòng mà.”
Đại uý Thịnh đặt điếu xì-gà lên cái gạt tàn, rồi tựa lưng ghế, mỉm cười:
“Con gái Cần Thơ có tài thuyết phục giói như vậy à?”
Tôi mắc cỡ nhưng nói:
“Nếu Việt Cộng để Phòng V sống lâu ở Cần Thơ thì anh hiểu con gái Cần Thơ hơn”.
Đại uý Thịnh đã vui vẻ trả lời:
“Tôi tin là tương lai của Phòng V không lệ thuộc vô mấy chú Việt Cộng, cô bé ơi”.
Tôi mừng vì thái độ hoà nhã của ông, nên nói ngay:
“Em cũng tin như vậy.
Ông hỏi tôi bao nhiêu tuổi. Tôi liền cho tôi già thêm một tuổi:
” Em mười chín”.
“Tôi có nên tin con số 19 không?
Ông vừa hỏi vừa nghiêng đầu nhìn tôi bằng đôi mắt dò xét.
Tôi phải cố thuyết phục ông rằng tuổi tác không quan trọng, mà làm việc đúng sở nguyện mới đáng để ý.
“Em khó mà hình dung ra em trở thành một người bán cá hay một chị bán nước đá nhận cho con nít ở trường tiểu học”.
Tôi vừa nói vừa cười, nhưng trong lòng cảm thấy buồn đến muốn khóc.
Đại uý Thịnh cười vang lên:
“Tôi lại hình dung cô bé ôm tập đi học, chớ không bán cá hay bán nước đá nhận ở trường học”.
Ông nói bằng một giọng Nam Kỳ đặc sệt, làm tôi ngạc nhiên. Nhưng lúc này này tôi không có thì giờ để khen cái tài ăn nói của ông, mà phải giải thích cho ông rõ tại sao tôi cần việc làm.
“Chưa bao giờ em phải nói thiệt hoàn cảnh gia đình của em cho người lạ biết. Dĩ nhiên là em rất muốn đi học, vì em mê trường học của em lắm. Nhưng bây giờ đã tới lúc em phải giúp má em. Em không được quyền làm con nít nữa…”
Nói tới đây, tôi bỗng nghẹn ngào khóc, rồi hấp tấp đứng lên bỏ ra về.
Trên đường về nhà, tôi nghĩ rằng cái mộng cầm bút của tôi đã chết yểu trong trứng nước. Nhưng chiều hôm đó, tôi hết sức ngạc nhiên khi trung uý Phước tới nhà tìm tôi. Ông cho biết đại uý Thịnh mời ông ấy và tôi ăn cơm tối. Nhưng tôi không tin, và cho trung uý Phước biết là hồi sáng tôi đã vụng về có thể làm đại uý Thịnh giận tôi khi tôi bỗng dưng bỏ ra về. Truug uý Phước trấn an tôi, và nói đại uý muốn gặp tôi.
Hồi còn đi học, mấy đứa bạn thân của tôi và tôi thường huênh hoang cho rằng chúng tôi làm chủ Cần Thơ. Thật ra chúng tôi chỉ là con nít, chưa bao giờ ngồi ăn trong nhà hàng với con trai, chớ đừng nói là đi ăn với mấy ông sĩ quan. Vậy mà tôi nhận lời trung uý Phước liền, phần vì muốn tống khứ ông ra khỏi nhà càng nhanh càng tốt, để má tôi khỏi bắt gặp; phần vì tôi nghĩ rằng đã đi xin việc làm thì phải can đảm. Tôi nhớ tới lời nói của em Hải Vân tôi, là “muốn ăn phải lăn vô bếp, muốn chết phải lết về hòm!”. Chưa biết việc này sẽ ăn hay sẽ chết, những nếu má biết tôi hẹn gặp đàn ông ở nhà hàng, thì chết là cái chắc.
Chiều hôm đó, đại uý Thịnh đem theo chai cognac, rồi gọi soda và nước đá. Tôi, tôi uống nước chanh thôi. Trong lúc ngồi chờ bồi bàn đem soda và nước đá tới, đại uý Thịnh cho biết là ông cho tôi tập sự làm biên tập viên. Vì hoàn cảnh gia đình muốn bỏ học đi làm, nhưng mừng quá, tôi không hỏi đến lương bổng. Được việc trước cái đã. Đại uý Thịnh lớn hơn tôi ít nhứt 12 tuổi, nên ông sành tâm lý, đã đi giầy nhà binh trong bụng tôi, khi ông cho biết ông sẽ xin cho tôi làm trong chương trình Mỹ viện trợ, tiền lương là ba ngàn đồng mỗi tháng. Nhưng ông nói thêm, là nếu không được chấp thuận thêm một nhân viên nữa trong chương trình này, thì tôi sẽ phải đi học lại, vì làm thư ký lương chỉ có một ngàn rưỡi một tháng, không xứng để tôi phải bỏ học. Tôi đồng ý với ông điều này.
Tôi về nhà cho má tôi hay là có thể tôi sẽ đi làm. Má tôi không tỏ vẻ vui mừng, chỉ giữ im lặng, nhưng tôi biết má vừa muốn tôi đi học, vừa cần tôi tiếp má một tay. Căn nhà bỗng trở nên nặng nề khó thở. Tôi muốn làm một việc gì cho sự căng thẳng dịu xuống, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Nhà cửa bề bộn quá, mà tôi không biết nên dọn dẹp chỗ nào trước chỗ nào sau. Căn nhà ngổn ngang như lòng tôi đêm đó. Tôi nằm cạnh Hoà Bình mà cả đêm trăn trở với cái quyết định đi làm, không sao ngủ được. Vài lúc, tận đáy lòng, tôi thầm mong má tôi lấy chồng, để chị em chúng tôi được đi học tới nơi tới chốn, để tôi vẫn được làm con nít, và tận hưởng cái tuổi dậy thì mới chớm nở. Nhưng đâu có ai xứng đáng làm chồng má ngoài ba tôi, mà nghĩ tầm bậy như vậy! Tôi chưa kịp yêu ai, và cũng không có hoàn cảnh để người ta yêu mình, thì tôi đã xông vào thế giới của người lớn, còn thằng học trò nào dám để mắt xanh tới người con gái làm việc cho nhà binh nữa. Nhưng mối lo đó còn nhỏ lắm, chưa khiến mất ngủ. Thật ra, mối lo lớn nhất và được xếp hàng đầu, là cái lý lịch của tôi, phản ứng của dì Bảy và mấy chị bà con. Tôi không thể giấu được hết bà con giòng họ của tôi trong Bang Thạch, một khi tôi đi làm cho Phòng V. Ngoài ra, trước khi tôi đi làm, cơ quan An ninh quân đội sẽ điều tra lý lịch của tôi. Rồi chuyện gì sẽ xảy ra cho đại uý Thịnh, khi họ biết ông mướn con gái của ông Đặng Văn Quang, một cán bộ tập kết? Hầu hết tất cả những người bên họ ngoại tôi là những đoàn viên nòng cốt của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Người thay ba tôi nuôi dưỡng chúng tôi là một chiến sĩ, một người yêu mến “cậu Hồ”?
Người ta thường cho rằng những người tuổi Tuất, cầm tinh con chó, là những người có tình chung thuỷ. Đối với riêng trường hợp của tôi, điều này rất đúng. Đại uý Thịnh đã phá lệ để cho tôi việc làm, thì tôi có bổn phận phải bảo vệ ông, chớ không thể giấu nhẹm lý lịch của mình được. Tôi sẵn sàng nhận những hậu quả, vì tôi quan niệm sự thật là ánh sáng, là danh dự của cá nhân tôi.
Hôm sau, tôi hẹn gặp đại uý Thịnh ở câu lạc bộ sân quần vợt. Tôi đến sớm chừng 20 phút, ngồi chờ ông mà cứ ôn đi ôn lại những điều sẽ nói với ông. Tôi sẽ cho ông biết về cây cổ thụ cộng sản gia đình tôi. Tôi phải chỉ cho ông rõ, tôi thuộc về nhánh nào trong thân cây đó. Tôi ngồi một mình bên một cái bàn sơn vàng mà lòng đầy băn khoăn, hồi hộp. Mỗi lần gặp những việc khó khăn, muốn bỏ cuộc, tôi hay nhớ lại lời khuyên của ông ngoại: “Làm người khó, làm chó dễ!”. Nếu muốn làm người, ta phải ntranh đấu, phải can đảm, phải siêng năng, phải có lòng tin ở mình.
Đại uý Thịnh tới, cũng mang theo một chai cognac. Lúc ông chậm rãi nhâm nhi ly rượu, tôi cứ ngập ngừng mà không nói những điều đã sắp đặt từ trước. Tôi bẻ hết gần nửa ly tăm xỉa răng để trên bàn. Rồi cuối cùng, tôi cũng phải lấy hết can đảm để trình bày những điều cần cho đại uý biết:
“Em nghĩ em phải nói thật với anh về ba em. Ba em tập kết ra Bắc. Không phải chỉ một mình ba em, mà cả giòng họ bên ngoại em cũng tập kết. Bấy giờ ở đây chỉ có má em và tụi em không theo cộng sản hay Mặt trận thôi. Em nghĩ anh nên biết điều này trước khi anh quyết định cho em làm việc trong sở của anh”.
Đại uý Thịnh hít một hơi xì-gà dài, nâng niu điếu thuốc rồi nói:
“Anh cũng như em thôi… Anh có hai người em đi bộ đội”.
Ông đưa tay ra bắt tay tôi. Lúc ấy, tôi có cảm tưởng ông đưa cho tôi một cái phao. Tôi thở dài nhẹ nhõm.
Ông hứa sẽ đối phó với các cơ quan an ninh. Trước khi chia tay, ông còn dặn dò:
“Không nên đưa lưng cho người ta coi thẹo.
Ông cho tôi bắt đầu làm việc ngay hôm sau, nhưng lại là ngày thứ năm. Tôi xin hoãn lại đến thứ hai đầu tuần tới. Sở dĩ tôi hoãn lại, vì tôi muốn hưởng thêm mấy ngày cuối cùng của tuổi học trò với con Mai, con Tuyết, chị Thuận, con Lê Kim Lệ, trước khi bước chân vào cuộc đời của kẻ đi làm mướn.
Đại uý Thịnh hỏi tôi sẽ làm gì cho hết mấy ngày đó. Tôi vui vẻ trả lời:
“Tụi em lội đua”.
“Tôi tưởng con gái Cần Thơ e thẹn lắm, không chơi mấy cái trò đó chớ?”
“Lớn lên ở đây mà không biết Iội là có tội với sông ngòi”.
Lần đầu tiên tôi thấy thoải mái khi nói chuyện với ông sĩ quan, một nhà văn nổi tiếng ở Sài gòn. Ông nổi tiếng ở Sài gòn chớ không nổi tiếng ở Cần Thơ. Có thể tôi là người Cần Thơ đầu tiên mà ông quen biết. Tôi hy vọng ông sẽ không nghĩ tỉnh Cần Thơ đầy Việt Cộng.
“Em có nghĩ tới ba thường không?”
“Thường như nhịp tim em đập”.
“Cho anh hỏi em một câu rất riêng tư nhé!”.
Tôi gật đầu. Ông hỏi ngay:
“Em còn thương ba không?
Tôi không trả lời đại uý Thịnh được, tôi nghẹn ngào không trả lời. Chúng tôi giữ im lặng không biết bao lâu, cuối cùng tôi lên tiếng trước:
“Hy vọng em không phải là một gánh nặng cho anh”.
Ông an ủi:
“Cô bé ơi, cái gánh của cô nặng lắm rồi, để tôi gánh tiếp cho”.
Rồi ông hứa sẽ tìm cách đối phó với phòng An ninh, khi cần.
Tôi ra về với tràn trề hy vọng. Chân tôi bước nhẹ như tôi có chắp cánh. Rồi tôi chợt nghĩ đến những người bà con của tôi trong Bang Thạch. Không biết ăn làm sao nói làm sao với dì Bảy đây, khi dì biết tôi đi làm cho Quốc gia. Thôi thì chờ, có biết bước lên bao xa mà nhảy trước. Con nhà họ Đặng chả có sợ ai.
Năm 1960 ông ngoại tôi qua đời. Trong gia đình, sự ra đi vĩnh viễn của một người thân yêu ảnh hưởng đến mỗi người một cách khác. Bà ngoại tôi thương tiếc cho ông không được thấy mặt người con trai trước khi nhắm mắt. Má tôi ân hận là chưa có điều kiện để báo hiếu thì cha đã ra đi. Dì Bảy ước mong cuộc tổng tuyển cử hai miền Nam-Bắc thành hình để ông tôi không hiểu lầm “cách mạng” nữa. Tôi thì ân hận đã không chịu đấm lưng ông hơn năm phút. Trăm lần như một, tôi cứ kêu mỏi tay rồi bỏ đi chơi, rồi kêu đứa khác thay thế. Vậy mà không bao giờ ông giận.
Ông ra đi, tôi có cảm tưởng như rồi đây không còn trăng sao nữa, con sông trước nhà sẽ cạn, chim hết hót, đời sẽ hết vui. Tất cả chúng tôi đã dựa và trông cậy vào ông để được che chở, để được yêu thương. Bà con xa gần đến tiễn ông, để an ủi nỗi đau thương ngập trời của chúng tôi.
Quan tài của ông đặt ở phòng khách, nơi ông hay ngồi nhìn ra con rạch, chờ mong con cháu về thăm.
Trong sự mất mất kinh hoàng đó, gia đình tôi cũng mất đi tình đoàn kết. Bên ngoài, tất cả mọi người cũng vẫn một vành khăn tang, nhưng lòng mỗi người đã hướng một ngả khác nhau. Má tôi khóc, bà ngoại khóc, cả nhà đều khóc… Mới có mấy ngày thôi, trông má tôi già đi cả trăm tuổi. Mất ông ngoại, tôi đau đớn tận tim gan, nhưng tôi không khóc được.
Sau đám tang, ai về nhà nấy. Hai chị Kim, Cương trở lên Sài gòn tiếp tục đi học. Nhà tôi trở nên vắng vẻ, im lặng một cách lạ thường. Má tôi thức khuya hơn. Có đêm tôi thức giấc nửa khuya, còn thấy má vừa may vừa khóc. Ban ngày, không ai dám nhắc tới ông ngoại. Tôi cũng giấu kín niềm đau đó bằng cách không để tang, vì rất sợ có người hỏi tôi để tang ai, làm sao tôi thốt ra được rằng: “Ông ngoại tôi mất rồi!”.
Kể từ ngày ông ngoại tôi ra đi, bao nhiêu đổi thay dồn dập xảy tới. Tôi không nhớ là trước đó má tôi có đi chùa không, nhưng bây giờ bà thường tới chùa Cây Bàng. Tóc bà đã trở thành muối tiêu; tánh tình bỗng khó khăn hơn với chị em chúng tôi. Trong khi đó, sức khoẻ của bà ngoại tôi sa sút hẳn đi. Còn dì Bảy và các chị con cậu Tư Diệp hăng say hoạt động cho Mặt Trận hơn, vì không còn ai ngăn cản. Dì để cán bộ Việt Cộng tự do sử dụng đất nhà. Bà ngoại không dám có ý kiến gì khi họ hội họp ngay trong trang trại của mình, vì đối với bà Mặt Trận là con cháu của bà. Tinh mẹ bao giờ cũng bao la như trời, như biển. Đã vậy, bà còn nâng đỡ, quý mến tất cả những gì do con cháu của bà tạo ra. Ông ngoại không còn nữa, là mất đi một chướng ngại cho những cán bộ Việt Cộng. Với sự khuyến khích của dì Bảy, nhà ngoại tôi đã trở thành cái ổ chứa Việt Cộng, để họ hội họp. Họ có một một mảnh đất hoàn toàn tự do để đào tạo cán bộ của “Xã Hội Chủ Nghĩa” trong tương lai. Nhiều lần, tôi bắt gặp họ hội họp ngay trong phòng mà ông ngoại tôi thường ngồi hút thuốc khi còn sống.
Chị Thuận nói, miệng tôi “ăn mắm ăn muối, nói đâu có đó” vì tôi giận dì Bảy cứ chứa chấp Việt Cộng mà không nghĩ tới hậu quả hành động của dì: có ngày Quốc gia sẽ thụt canon sập nhà. Nhưng một hôm, ngay sân gạch nhà của bà ngoại bị bỏ bom. Dì Bảy phải đem bà ngoại ra chợ Bang Thạch ở đậu nhà của ông cả Phú; mỗi ngày dì Bảy tới lui thăm nom bà. Khi nào bà nhớ nhà thì dì rước về ban ngày, rồi ban đêm đưa bà ra ở nhà ông cả Phú. Bà ngoại không chịu ra chợ ở với má. Rồi sau đó bà nói, chết sống bà cũng trở về nhà của bà.
Bà ngoại bị lao phổi nên thường phải đi bác sĩ ngoài Cần Thơ. Một buổi chiều thứ sáu, dì Bảy kêu tôi về Bang Thạch để sáng thứ bảy đưa bà đi bác sĩ. Tối hôm đó, trong khi dì Bảy nấu tấm heo, tôi lùi mấy cái hạt mít trong lò lửa ở ngoài sân, bỗng có một cán bộ từ ngoài ruộng đi vô. Sau khi anh ta nói mấy lời với dì Bảy thì kêu tôi theo anh và một anh cán bộ khác, vô xóm trên để coi chiếu bóng ngoài trời. Nghe giọng anh, tôi biết đây là mệnh lịnh, không thể từ chối được, nên đành vô nhà thay quần áo, mặc một bộ bà ba đen cho vui lòng mọi người. Mà thật, lúc tôi trở ra sân, dì Bảy nhìn tôi hài lòng. Từ ngày ông ngoại qua đời, tôi không còn đồng minh nữa, nên không dám cãi lại mấy người bà con Việt Cộng. Trước khi chúng tôi ra khỏi nhà, dì Bảy căn dặn tôi:
“Cháu phải ăn nói đàng hoàng lễ phép nghen. Mấy trăm con mắt chăm chú vô con gái của ba cháu đó”.
Chúng tôi giữ im lặng một đỗi đường dài dưới ánh trăng. Hai người cán bộ đi nhẹ nhàng như lướt trên cỏ, vì đêm là thế giới của Việt Cộng. Tôi chỉ nghe có tiếng thở hổn hển của tôi trong bầu không khí im lặng và nặng nề đó. Vừa đi tôi vừa nghĩ đến cuộc đời làm cách mạng của ba tôi và các cậu của tôi. Họ đã hy sinh cả tuổi xuân để bảo vệ đất nước. Họ đã dọc ngang khắp đất nước để mưu tìm hạnh phúc cho toàn dân. Nhưng tôi không tin vào chủ thuyết cộng sản là lối thoát cho đất nước. Có lẽ tôi lẩm bẩm nói hơi lớn, nên một người quay lại hỏi tôi nói gì. Tôi vội trả lời là tôi đã mỏi chân. Họ cho biết là sắp tới nơi.
Thì ra buổi chiếu bóng đêm đó là chiếu phim từ Hà Nội gởi vào do các “đồng chí Cuba” thực hiện. Tôi không nhớ chủ đề của phim. Phim nói đến tình hữu nghị giữa Hà Nội và các nước Cộng sản “anh em” trên thế giới. Có đoạn chiếu Hồ Chí Minh thân mật hàn huyên với Mao Trạch Đông. Có đoạn tả lại cuộc thăm viếng của phái đoàn Liên Xô tới Hà Nội. Những vòng tay thân ái, những cái hôn xa lạ từ bên kia đại dương, những bàn tay siết chặt, những nụ cười thân thiết, với mục đích tuyên truyền, dụ dỗ các anh du kích Việt Cộng ngây thơ, khờ khạo. Lại có đoạn chiếu cảnh hàng ngàn công nhân trong các hãng xưởng ở Nam Tư chào đón Hồ Chí Minh trong chuyến công du của ông hồi 1957; cảnh nông dân ở Mông Cổ, ở Bắc Hàn, Đông Đức, và Cuba… vỗ tay chào mừng ông Hồ. Những hình ảnh đó chỉ muốn cho người ta thấy ông Hồ được sự ủng hộ nồng nhiệt của dân tộc “bạn”.
Đó là đêm “học tập chánh trị” lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của tôi. Sau đó, hai anh cán bộ dẫn đường đưa tôi về nhà bà ngoại. Theo phép Iịch sự, tôi mời họ vô nhà uống nước, nhưng cả hai đều từ chối, viện cớ vấn đề an ninh buộc họ phải trở lại mật khu. Họ bỏ tôi một mình ở ven ruộng. Tôi sợ hết hồn, vì chung quanh tôi toàn là mồ mả, nhưng không dám nói ra, sợ bị chê là thỏ đế. Sau mặt trời lặn là tôi không bao giờ dám léo hánh ra đường, chớ đừng nói tới ra ven ruộng. Trong lúc sợ hãi, tôi chợt nhớ tới lối “bắt quyết” khi gặp ma. Mấy người em bà con của má tôi bày, là mình phải nắm hai ngón tay cái thật chặt vô lòng bàn tay rồi chạy. Tôi làm theo lời họ, rồi chạy bán sống bán chết về nhà. Tới cửa, tôi hấp tấp tông vô, chớ không mở cửa một cách từ tốn. Tôi té nhào xuống đất, làm mấy người đang hội họp bí mật trong nhà hoảng hốt. Tôi nghĩ họ sợ tôi hơn tôi sợ ma. Như cái máy, những người có mặt, như: dì Bảy cùng các chị Yvonne, Thảo, Hồng Nga, Hoàng Mai và mấy người cán bộ tôi chưa gặp, nhảy ra khỏi bàn họp lẹ như những người biết khinh công ở trong các chuyện võ hiệp. Căn nhà nhỏ im lặng như tờ. Tất cả các con mắt đổ dồn vào tôi. Rồi nhận ra ngay đứa con nít sợ ma, họ liền ngồi trở lại bàn họp, trong khi tôi mắc cỡ vô cùng.
Làng Long Thạnh như cái nôi đã ru ngủ, vỗ về chúng tôi, nay đã trở thành một cái ổ của Việt Cộng. Họ đến, họ đi, họ mở lối riêng, không dùng những con đường mòn quen thuộc. Họ luông tuồng trong mảnh vườn của ông bà tôi như bày thú sút chuồng vô trật tự. Những đổi thay đó làm tôi đau lòng xót xa. Hồi còn nhỏ, tôi đã có cảm tưởng đất đai của ông bà tôi rất thiêng liêng, có linh hồn riêng của nó, có hơi thở hoà cùng nhịp tim của gia đình chúng tôi. Giờ đây, dưới chế độ Cộng sản, mảnh đất thiêng liêng ấy chắc đã tan hoang. Nhưng tôi vẫn hy vọng cái miễu Thổ Thần vẫn còn đó, để ông che chở miếng đất của ông bà ngoại tôi. Sở dĩ tôi có niềm tin ấy, vì bà ngoại tôi cứ chiều đến là ra miễu Thổ Thần đốt nhang. Không sót một buổi chiều nào! Tôi không biết bà khấn vái những gì, nhưng lần nào bà cũng chùi nước mắt bằng vạt áo, rồi kính cẩn cắm ba cây nhang vào cái lư hương bằng sành màu xanh có hình con rồng.
Đường về Long Thạnh càng ngày càng nguy hiểm cho xe và hành khách. Mìn nổ giữa đường từ Cần Thơ xuống Cà Mau rất thường xuyên. Không biết bao nhiêu người đã chết, thương tích, què giò, cụt tay. Vậy mà chị em tôi vẫn về Bang Thạch thăm ngoại. Mỗi lần thấy chúng tôi, bà hay nói: “Tụi con về cho căn nhà này vui”.
Chúng tôi dù sợ mìn giữa đường cũng không nỡ bỏ bà một mình hiu quạnh, nên giả đui, giả điếc để về vườn thăm bà ngoại. Phá hoại là chủ trương của những người “chống Mỹ cứu nước”; còn chuyện về thăm bà là bổn phận của chúng tôi. Bà tôi thích nghe chuyện tình hình ở ngoài chợ. Có lần bà hỏi chúng tôi có phải một bà lớn ở Sài gòn đã cho tay sai đốt nhà dân để bán tôn vì bà ta có một xưởng làm tôn. Khu nhà bị đốt ấy về sau Chánh phủ xây một trường trung học cho con em dân Khánh Hội không phải đi xa.
Bà cũng hay hỏi về ba tôi và các cậu. Tôi biết bà vẫn nuôi hy vọng con trai, con rể và cháu của bà sẽ trở về trong vinh quang, để bù lại những năm dài chờ đợi. Thấy tôi tỏ vẻ không tin tưởng, bà khuyên tôi nên kiên nhẫn, rồi sẽ có ngày gặp ba tôi. Mỗi khi nghe bà khuyên như vậy, tôi tội nghiệp bà ngoại tôi vô cùng. Tay của bà không mềm như tay của bà ngoại Nhuận trên Sài gòn. Nhưng hai bàn tay của bà đem tình thương lại cho chúng tôi và che chở chúng tôi trước những tai hoạ bất cứ từ đâu đến. Hai bàn tay chai cứng ấy đã đùm bọc mẹ con chúng tôi trong lúc khó khăn, đơn độc này. Bấy giờ bà già yếu, chỉ trông cậy vào dì Bảy.
Tôi mong các chị bà con cán bộ của tôi buông tha tôi, quên tôi đi, đừng tìm cách níu kéo tôi vào tổ chức của họ. Một hôm, tôi đến Bang Thạch nhân ngày giỗ đầu tiên của ông ngoại. Chị Thảo hỏi tôi có thấy truyền đơn trong lớp của tôi không. Tôi biết ngay là chị và chị Yvonne đã nhúng tay vào việc rải truyền đơn trong các lớp học. Tôi dại dột, khờ khạo kể cho hai chị nghe về phản ứng thuận lợi của một đám học trò đã lén đọc truyền đơn. Thế là, hai chị khuyến khích tôi gia nhập Mặt Trận. Chị Thảo nói:
“Dung ơi, đất nước cần em. Bây giờ là lúc chị em mình phải phục vụ cho quê hương, tổ quốc”.
Chị Yvonne nói thêm:
“Lương tâm của một người yêu nước là biết chọn con đường nào nên theo. Dung đừng bỏ lỡ cơ hội”.
Tôi thẳng thắn nói ngay:
“Các chị có biết mấy trái mìn mà các đồng chí của các chị giựt ở ngoài lộ đã làm em mất hết tin tưởng vào cách mạng của mấy chị không?
Tôi đã nói huỵch toẹt như vậy, mà chị Thảo vẫn cố gắng thuyết phục tôi:
“Em thông minh, em sẽ là một cán bộ hăng say, có trình độ, có hoàn cảnh thuận lợi trong trường”.
Nhưng tôi vẫn từ chối:
“Em không mất công, mất tiền, mất thì giờ học luyện thi, vào được trường Phan Thanh Giản, để trở thành một cán bộ giết người, chị biết không?”.
Chị Yvonne không còn kiên nhẫn với tôi nữa, nên đứng dậy ôm củi đi vô nhà, vừa đi vừa nói:
“Tuỳ mấy người”.
Đêm đó tôi tưởng hai chị tôi đã hết hy vọng vào con em cứng đầu này rồi, nên trong bụng cũng thấy mừng. Nhưng khi mọi người cùng ngồi ăn cơm, hai chị lại tìm cách thuyết phục tôi. Họ rủ tôi ra ngoài bồ lúa, yêu cầu tôi bỏ thêm truyền đơn vào lớp học. Tôi từ chối ngay, nhưng chị Thảo vẫn nói:
“Truyền đơn sẽ được bỏ trong hộc tủ của con bạn thân nhất của em cuối tuần này. Làm ơn đừng cho nó biết để nó lấy ra kịp thời”.
Tôi bỗng giận hai chị sôi gan. Tại sao hai chị lại muốn hại bạn thân của tôi? Nhưng tôi cố dằn lòng, vui vẻ hỏi:
Sáng sớm thứ hai, tôi mau mau tôi trường sớm trước mọi người, nói dối với chú Hai gác gian là tuần này tới phiên tôi quét lớp. Sau đó, tôi chạy như bay vô lớp, tới ngay bàn chị Hiệp, mở ngăn ra. Tôi thấy ngay một xấp giấy màu xanh dầy cộm chừng ba phân tây. Tôi vội bỏ cả xấp vô cặp da của tôi, rồi đi thẳng ra cổng trường. Tim tôi đập liên hồi. Hai bàn tay tôi ướt nhẹp, vì ngay trước của trường là một đồn Công An. Tôi cố giữ vẻ mặt bình tĩnh, đi nhanh tới hẻm Ông Cả Đài để đến một nhà nuôi cá vồ, cá tra. Nơi đây có cầu tiêu công cộng cho dân xóm nghèo. Tôi vô nhà cầu, để xấp truyền đơn chung với đống giấy vệ sinh, vì không biết bỏ ở đâu.
Khi tôi và chị Thuận đậu vào trường Phan ThanhGiản, gia đình tôi coi đó là một thành công lớn, mở đầu cho con đường học vấn của chúng tôi sau này. Nhưng tôi tự biết tôi thua xa Hải Vân em của tôi, dù nó kém tôi hai lớp. Nhiều bài toán, tôi phải nhờ nó giải giùm. Khi Hải Vân thi vào Đệ thất Phan Thanh Giản, nó rất bình tỉnh và tự tin. Khi tôi hỏi nó về mấy bài thi, nó thản nhiên:
“Em biết em làm đúng nhiều hơn sai”.
Quả nhiên Hải Vân trúng tuyển với hạng cao. Tôi hãnh diện về nó, một thằng em dễ thương, thông minh lạ thường. Bốn tháng sau khi Hải Vân học trường Phan Thanh Giản, chị Thảo tìm cách thân thiện với nó hơn trước. Chị hay nói chuyện với nó. Tôi nói nhỏ và dặn dò chị:
“Chị để yên cho nó học. Chị xúi nó làm bậy, em méc má, méc luôn cái vụ chị cắt tóc”.
Hải Vân không thích tôi bảo vệ nó như gà mẹ bảo vệ gà con. Nó thường nói với tôi:
“Chị lo cho chị đi, để em lo cho em”.
Sự thật, tôi tin là em tôi có thể đối phó với các chị Việt Cộng của tôi. Nó sẵn sàng từ chối bất cứ điều gì có thể làm cho má tôi buồn lòng. Nhưng tôi cũng không quên rằng chúng tôi đều là con của một lãnh tụ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam; rủi nó lại nghĩ rằng nó có bổn phận nối gót cha. Vì vậy, đằng sau ót của tôi, không nhiều thì ít, cũng lo về Hải Vân.
Ba tôi đi tập kết khi Hải Vân mới sáu tuổi. Ba tôi dạy em đờn, chỉ cho em từng tên của các vì sao trên trời. Má và chị em tôi rất vui mừng là nó khôn trước tuổi; không ai xúi dại Hải Vân được.
Để tránh nanh vuốt của Việt Cộng, má đưa Hải Vân lên Sài gòn ở với chị Kim, chị Cương để đi học, dù lên Sài gòn em không được học trường công, mà phải đóng tiền cho em đi học trường Bồ Đề.
Hiện tượng thiên nhiên đáng kinh ngạc xảy ra trên Đảo Giáng Sinh ở Tây Úc
Nhân viên trên đảo tạo ra những cây cầu cua được xây dựng đặc biệt để bảo vệ động vật giáp xác
Con cái sẽ đẻ 100.000 quả trứng vào Ấn Độ Dương vào cuối tháng
Khuyến khích du khách đỗ xe đứng giữa biển cua đỏ rực
Khách du lịch đã vô cùng sửng sốt khi chứng kiến hàng triệu con cua đỏ di cư hàng năm ra biển để sinh sản trên Đảo Giáng sinh đẹp như tranh vẽ.Hơn 50 triệu con cua đỏ rực sẽ thực hiện cuộc hành trình từ rừng rậm đến bờ biển của Công viên Quốc gia, ở phía tây bắc xa xôi của Tây Úc.Người dân địa phương cũng như khách du lịch đã chạy đua để nắm bắt những gì được coi là một trong những cuộc di cư lớn nhất của động vật trên hành tinh khi các sinh vật này biến hòn đảo thành màu đỏ.Trong đoạn phim về hiện tượng tự nhiên, người ta thấy loài giáp xác tràn qua đường, cầu, đá và suối để đến đích kịp thời gian sinh sản.
Khách du lịch đã choáng váng khi thấy hàng triệu con Cua đỏ di cư hàng năm ra biển để sinh sản trên Đảo Giáng sinh đẹp như tranh vẽ (ảnh)
Người ta biết rằng loài cua này thường xuất hiện ở một số địa điểm khá kỳ lạ khi chúng di chuyển qua các vách đá và xuyên qua thị trấn.Nhân viên trên đảo dành vài tháng để chuẩn bị cho cuộc di cư bằng cách xây dựng những cây cầu cua được xây dựng đặc biệt và các rào chắn tạm thời.Tiến sĩ Tanya Detto, điều phối viên chương trình các loài xâm lấn tại Đảo Christmas, nói với Daily Mail Australia rằng khu vực này chưa từng chứng kiến nhiều cua di cư đến vậy kể từ năm 2005.Tiến sĩ Detto cho biết nhóm đã dành nhiều thời gian để quản lý các cây cầu và rào chắn giúp đảm bảo an toàn cho đàn cua trên hành trình đến Vịnh Cá Bay.Cô nói: “Thật vui khi thấy họ thoát khỏi dòng xe cộ đông đúc và đến đó an toàn”.
Chuyên gia này cho biết mặc dù các chuyên gia trên đảo có thể dự đoán lộ trình khó khăn mà loài giáp xác sẽ đi nhưng nó lại thay đổi đôi chút mỗi năm.Trong khi một số con cua bị mắc kẹt khi leo qua các tòa nhà ba tầng hoặc rơi từ vách đá vôi của hòn đảo, bà cho biết hầu hết các loài giáp xác sẽ sống sót.Cuộc di cư rất được mong đợi thường được kích hoạt bởi lượng mưa đầu tiên của mùa mưa xảy ra vào tháng 10 hoặc tháng 11.Một vài ngày mưa liên tục vào đầu tháng đã khiến cua đực phải rời khỏi nhà và tiến về phía bãi biển, đón những con cua cái trên đường đi.
Đảo Giáng sinh có số lượng cua đỏ lớn nhất thế giới và khách du lịch cảnh báo loài giáp xác này được ‘bảo vệ và tôn trọng’ trong khu vực
Nhân viên trên đảo dành vài tháng để chuẩn bị cho cuộc di cư bằng cách xây dựng những cây cầu cua được xây dựng đặc biệt (ảnh) và các rào chắn tạm thời
Trong đoạn phim về hiện tượng tự nhiên, người ta thấy loài giáp xác tràn qua đường, cầu, đá và suối để đến đích và sinh sản.
Thời gian và tốc độ di cư chính xác được xác định theo tuần trăng và cua được dự đoán sẽ sinh sản vào ngày 29 hoặc 30 tháng này.Những loài giáp xác thông minh biết chính xác thời gian rời hang để đến bãi biển kịp thời để sinh sản tối ưu.Mỗi con cua cái sẽ đẻ 100.000 quả trứng đáng kinh ngạc vào Ấn Độ Dương trong 5 hoặc 6 đêm liên tiếp trong quá trình di cư.Một tháng sau, những chú cua đỏ con sẽ quay trở lại bờ để thực hiện hành trình về nhà vào khu rừng nhiệt đới của đảo.Tuy nhiên, phần lớn ấu trùng sẽ bị ăn thịt bởi cá, cá đuối và cá mập voi khổng lồ đang chờ đợi bữa tiệc hàng năm ở vùng biển xung quanh.
Những con cua thông minh biết chính xác thời gian rời hang để đến bãi biển kịp thời để sinh sản tối ưu vào ngày âm lịch này.
Cuộc di cư rất được mong đợi thường được kích hoạt bởi lượng mưa đầu tiên của mùa mưa xảy ra vào tháng 10 hoặc tháng 11.
Bianca Priest, quyền quản lý của Đảo Giáng sinh cho biết hiện tượng thiên nhiên đáng kinh ngạc này diễn ra hàng năm trên hòn đảo đẹp như tranh vẽ.Bà Priest cho biết: “Nhân viên Công viên Quốc gia Đảo Christmas đã dựng hàng km rào chắn tạm thời, dựng biển báo và đóng các con đường trên khắp hòn đảo để bảo vệ hàng triệu con cua rời khỏi rừng để đến bờ biển”.‘Trong nhiều năm, du khách đã đi du lịch từ mọi nơi trên thế giới để chứng kiến hiện tượng động vật hoang dã này.’Các con đường trên đảo có thể bị đóng cửa bất ngờ để phục vụ cho việc di chuyển của cua bằng bảng thông báo công cộng và đài phát thanh địa phương cung cấp thông tin cập nhật về đường đi của chúng.
Du khách được khuyến khích đỗ xe và đi bộ cẩn thận giữa biển sinh vật màu đỏ tươi đang tiến vào bờ
Các con đường trên đảo có thể bị đóng cửa đột ngột để phục vụ cho việc di chuyển của cua bằng bảng thông báo công cộng và đài phát thanh địa phương cung cấp thông tin cập nhật
Phần lớn ấu trùng Cua Đỏ sẽ bị ăn thịt bởi cá, cá đuối và cá mập voi khổng lồ sống ở vùng nước xung quanh
Du khách được khuyến khích đỗ xe và cẩn thận đi bộ giữa biển cua màu đỏ tươi khi chúng tìm đường vào bờ và tích tụ trên những tảng đá.Hòn đảo này cũng là nơi sinh sống của một loài giáp xác khác được gọi là cua cướp.Những sinh vật này vô hại mặc dù có vẻ ngoài đáng sợ và thường ăn cắp vật phẩm từ các khu cắm trại, lấy tên của chúng.Loài này có thể dài tới một mét và có khứu giác rất nhạy nên thường thấy cua cuộn mình ở một số vị trí khó ngờ.Năm ngoái, những người cắm trại trên đảo đã ghi lại được khoảnh khắc họ bị hàng chục con cua cướp khổng lồ bao vây khi đang cố gắng thưởng thức bữa tiệc nướng của gia đình.
Năm ngoái, những người cắm trại trên đảo đã ghi lại khoảnh khắc bị hàng chục con cua cướp khổng lồ bao vây khi đang cố gắng thưởng thức bữa tiệc nướng của gia đình.
Một loạt bức ảnh đáng kinh ngạc cho thấy hơn 52 sinh vật móng vuốt đang háo hức chờ cơ hội ăn nhẹ những thức ăn thừa.
Người ta nhìn thấy những con cua đang leo lên những chiếc ghế xếp, bàn và thậm chí cả lò nướng để tiến gần hơn đến bữa ăn ngon đang được chuẩn bị.Amy Luetich và gia đình cô đã sống trên Đảo Giáng sinh được vài năm và đang cắm trại cùng một số gia đình khác trong khu rừng nhiệt đới Grants Well.Bà Luetich nói với Daily Mail Australia năm ngoái: “Chúng tôi đã cắm trại ở khu vực đó một vài lần và chưa bao giờ thấy nhiều tên cướp đến vậy”.Cô ấy nói khi họ đến nơi, có 20 hạt dưới gốc cây đã bắt đầu gieo hạt.
Những con cua được nhìn thấy tràn qua những cây cầu được xây dựng đặc biệt để tìm đường ra biển kịp thời gian sinh sản tối ưu.
Cua đỏ được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương, nhưng lại được coi là loài được bảo vệ ở Australia và không thể ăn được.
‘Nhưng ngay khi chúng tôi bắt đầu nấu ăn, chúng đã vây quanh chúng tôi. Con trai tôi đếm được 52 con”, cô nhớ lại.‘Công việc của anh ấy là nhặt chúng lên và di chuyển chúng ra khỏi nơi chúng tôi đang ăn. Anh ấy yêu nó.‘Chúng tôi để lều cách xa nơi chúng tôi ăn uống, nhưng một trong những gia đình cho biết cả đêm họ có thể cảm thấy có tiếng gõ nhẹ vào bên ngoài lều của mình.’
Đảo Giáng sinh có số lượng cua đỏ lớn nhất thế giới và khách du lịch cảnh báo loài giáp xác này được ‘bảo vệ và tôn trọng’ trong khu vực.Cua cướp được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương, nhưng được coi là loài được bảo vệ ở Úc và không thể ăn được.Cua cướp là gì?
Cua cướp là loài giáp xác trên cạn lớn nhất thế giới và nhiều người coi Đảo Giáng sinh là nhà.Chúng có thể nặng tới bốn kg và rộng một mét.Một số có thể sống tới 50 tuổi.Cua cướp được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương, nhưng chúng là loài được bảo vệ ở Úc và không thể ăn được.Cua cướp sàn kiếm ăn những thứ như hạt giống và trái cây.
Cua cướp lớn hơn được biết là ăn thịt những con nhỏ hơn.Cua dừa là loài leo trèo đặc biệt và di chuyển rất nhanh khi tìm kiếm thức ăn.Tên của nó xuất phát từ xu hướng lấy vật thể lạ và bỏ chạy cùng chúng.Cua cướp có họ hàng gần với cua ẩn sĩ và sử dụng vỏ sò hoặc dừa để bảo vệ cho đến khi bụng chúng phát triển cứng.Những người lái xe trên đảo Giáng sinh được yêu cầu ‘giảm tốc độ và lái xe vòng quanh’ những con vật như thể chúng bị ô tô đâm có thể bị giết.
Cái mặt của cô CA mới, cũng vàng vàng xạm xạm, hình như toàn do từ thanh niên xung phong trong chiến tranh, ngớ ngẩn đã nghe lời thúc giục, khích lệ của những con cáo già CS. Các cô các cậu đã xông vào rừng núi, nơi đèo heo, hút gió, nằm bờ, nằm bụi nơi ám khí của rừng già, mặt cô cậu nào cũng có vấn đề. Bây giờ Đảng trả công cho làm chức này, khung kia. Tôi cứ nhìn thấy nước da và cái mặt hơi rô rỗ của cô CA này là tôi lại nghĩ ngay đến cái “bánh xèo”, nó cũng vàng vàng lom lõm sần sùi.
Tuy vậy cô Ngọc Anh này lời nói lại dịu và niềm nở một chút, không nhấm nhẳn, cộc cằn như cô Mỹ Lệ. Nhất là đôi mắt của cô Ngọc Anh, dù rằng lấp lánh ở giữa cái “bánh xèo” nhưng đôi con ngươi óng xanh, vo lại hơi ưỡn cong ra mỗi khi cô cười. Tối nay, tôi phải phóng xe sang thằng Lợi, không ngờ nó cũng đang cần gặp tôi, nó cho tôi biết chuyến đi sẽ vào đầu tháng một, như thế chỉ còn gần một tháng để chuẩn bị, nó yêu cầu tôi về chuẩn bị với gia đình, với khu phố. Phần tôi, tôi lo. Phần nó, nó lo. Phần chung, cuối tuần sẽ bàn bạc với tôi. Trên đường đạp xe về nhà, thấy giấc mơ có chiều hướng hiện thực, tôi suy nghĩ rất nhiều về bố mẹ già, ngổn ngang nhiều ngả: Đất nước, bố mẹ, cuộc đời, ba đối thể này cọ xát, giằng co, to nhỏ, nặng nhẹ cả mấy đêm ngày tôi trăn trở không yên. Đêm thứ ba, tôi trèo vào mùng mẹ tôi, bóp đầu, đấm lưng cho người, lựa trong câu chuyện rồi tôi tự than:
– Mẹ ơi! Chúng nó o-ép con quá, mẹ ạ!
Thực sự, tôi không muốn mẹ tôi buồn, nhưng lòng tôi rối quá! Thân tôi không đáng kể, nhưng vì bố mẹ tôi, tôi mới đứt ruột, nát lòng. Mẹ tôi sờ soạng lên đầu, lên cổ tôi, nói trong nghẹn ngào, đau đớn:
– Mẹ muốn con ra đi, nhưng mẹ không có . . . . . . tiền!
Mẹ tôi đã nói ra điều tôi không thể mở miệng mấy ngày hôm nay. Hai mẹ con thầm thì bên nhau, cả buổi tối hôm ấy. Tôi không ngờ, người cũng buồn đã nhiều đêm ngày là mắt người đã lòa, người không còn khả năng lo tiền, vàng cho tôi đi. Người nói rõ, hiện nay con chỉ có một cách duy nhất là ra đi, ở lại chỉ là lặn lội trong bùn cả đời.
Từ năm, sáu tháng trước, sau một tuần tôi trở về người đã muốn bảo tôi phải ra đi, nhưng người lại không có điều kiện, người còn hiểu rõ, dù tôi có muốn ở lại hầu hạ cha mẹ già cũng không được. Cái loại tội của tôi, sớm muộn nó sẽ tìm cách bắt vào tù trở lại, nhìn không ra, thân vẫn khổ, mà cha mẹ cũng vẫn không phụng dưỡng được.
Nghe tiếng ho húng hắng của thầy tôi ở giường ngoài, tôi phải sang nói ý cho thầy tôi biết sơ, dự định ra đi của tôi. Tôi hiểu rằng thầy tôi tâm trí không còn sáng suốt bình thường, người lại nói ra khi có người đến nhà. Tôi vén màn, thầy tôi vắt một tay lên trán, với dáng nằm suy tư, thầy tôi mở mắt nhìn, tôi khẽ hỏi:
– Hôm nay thầy có ngủ ngon không?
Thầy tôi giơ một tay như muốn ngồi dậy, tôi trèo lên giường, nhẹ đỡ thầy tôi dậy, cầm bàn tay nhăn nheo xương xẩu của người, tôi vuốt ve. Óc tôi liên tưởng đến ngày trước, cũng bàn tay gầy guộc, nhăn nheo này, thầy tôi đã biểu diễn những đường quyền Mai Hoa, có lúc dẻo cong uốn éo co như sợi lạt, lúc vùn vụt nhanh nhẹn như một con cắt chiến đấu với diều hâu, và cũng bàn tay này đã uốn nắn cho tôi đứng Chảo Mã Tấn, Đinh Tấn và Trung Bình Tấn trong bài Quý Châu Quyền.
Bé cậy cha, già cậy con!
Giờ đây thầy tôi đã già yếu, trông nhờ vào con phụng dưỡng đỡ đần, tôi đã trốn bỏ đi biệt gần hai chục năm. Bây giờ sống sót được trở về, lại định trốn đi nữa, một niềm xót xa quặn lòng tôi lại. Tôi ôm lấy thầy tôi, ghé sát vào tai người, nói như khẩn nài:
– Xin thầy tha tội cho con!
Chả hiểu thầy tôi có hiểu tôi nói gì không mà nước mắt của tôi cứ ràn rụa. Thầy tôi đặt nhẹ một tay lên vai tôi và cứ nhìn tôi trân trân như mất thần, tôi nói luôn, hơi ngập ngừng:
– Thầy ơi? con phải ra . . . . .
Tự nhiên thầy tôi nhấc một cánh màn, rồi người chậm chạp cho chân xuống tìm dép. Nhanh nhẹn, tôi nhẩy xuống lấy đôi dép xỏ vào chân cho người. Thầy tôi tiến đến chiếc tủ cũ từ ngày tôi ra Bắc, lúi húi một lúc, thầy tôi lấy ra chiếc túi con vải đen, người lôi ra một chiếc đồng hồ đeo tay đưa cho tôi, miệng người thều thào:
– Con ……..phải ………đi!
Tay tôi cầm chiếc đồng hồ, nhưng đầu óc tôi băn khoăn: Người nói thế là người đã hiểu, câu tôi nói dở dang trên với người? Tôi cầm chiếc đồng hồ Seiko 5 của Nhật vào giường trong hỏi mẹ. Mẹ tôi mỉm cười, mặt người rất tươi, tay mân mê chiếc đồng hồ tôi vừa đưa:
– Chiếc đồng hồ này của thằng Lý mua cho thầy, ngày nó còn sống! Bố mày giữ kỹ lắm, chỉ đeo có mấy lần.
Tôi vừa đeo chiếc đồng hồ vào tay, vừa tâm niệm: Tôi sẽ giữ chiếc đồng hồ này theo khả năng, nó là một “di bảo” của bố mình.
Hôm nay tôi phải mang sổ gia đình và tem phiếu ra phường xếp hàng, để mua gạo và bo bo cho bố mẹ tôi. Gần 11giờ trưa, tôi mới ôm một túi, mười ký gạo và tám ký bo bo về tới nhà, đó là tiêu chuẩn tem phiếu một tháng, của bố mẹ tôi. Các cụ già không có răng móm mém không nhai được bo bo, giá bo bo đổi ngay chỗ người xếp hàng: cứ 3 bo bo lấy một gạo. Trong tù tôi đã ăn bo bo nhiều, chỉ không biết nấu. Chưa biết, thì hôm nay tôi phải biết. Nhà lại hết củi, tôi chạy ra chợ mua hai đồng củi, được hai bó củi nho nhỏ. Lần mò trong chợ Nam Hòa, tôi mua năm hào đậu “cô – ve” về luộc dừ cho thầy mẹ tôi. Nhìn thấy một bà bán một thúng con cà ghém, tôi đã có chủ định, sẽ có một ngày tôi thực hiện được một món ăn sở thích của mẹ tôi. Món người thích ăn nhất, hai tháng trước cô Thu đã nấu cho mẹ tôi: Thịt ba chỉ xào cháy cạnh, nấu với cà ghém, cà chua, phải có lá tía tô, hơn hai tháng rồi, tôi biết mẹ tôi thèm lắm. Món ăn sở thích của thầy tôi cũng thật khác thường, người thích nhất là món đường phên. Ngày nào cũng vậy, sau bữa cơm chiều, ăn một cục đường phên, hút một điếu thuốc lào, là người vào trong màn yên vị.
Hôm lên Hồng Ngự, chị Công đã đút vào túi của tôi sáu chục, tiền xe cộ, cho đến nay trong túi còn 32 đồng. Từ nãy đến giờ tôi đi qua một hàng cá, nhìn một con cá rô biển nằm phây phây, dù đã chết rồi. Tôi cứ lượn đi, lượn lại hai lần rồi, tay đã đút vào túi lấy gân để tiến vào, nhưng rồi lại quay ra, xin hẹn một ngày khác. Hôm nay tôi đã mua một ký đường phên, món “ruột” của thầy tôi rồi.
Về nhà, sau khi gầy nồi cơm cho thầy mẹ, tôi lấy một kí bo bo để hầm cho tôi cả hai bữa. Khiếp thật, riêng nồi bo bo hơn một giờ rồi mà hãy còn cứng, đã mất tiêu một bó củi rồi. Sáng nay, tôi chỉ xin phép nghỉ được nửa buổi để xếp hàng mua gạo cho bố mẹ. Vừa dọn cơm xong cho thầy mẹ tôi, tôi chỉ xúc vội được một túi “bo bo” vừa dọn cơm vừa nhai. Và bây giờ, tôi xách cả cái túi con bo bo để vừa đi vừa thưởng thức, trên đường đến tổ mành trúc.
Đã hẹn với cô Thu từ tuần trước, sáng thứ Bẩy này, khi tôi đi lao động XHCN với cô CA khu vực Ngọc Anh xong, là đi liền với cô Thu vào nhà giam Chí Hòa để thăm chú Hoàng, chồng cô Thu. Tôi chưa hề biết mặt, cả tình, cả nghĩa và vì em gái của mình, tôi phải vào thăm chú ấy một lần, dù rằng thời gian của tôi ở ngoài, còn khắt khe hơn nhiều lần trong tù. Trong tù chỉ có kém cảnh tôi hiện nay là không được đi lại mà thôi, tinh thần không bị căng thẳng hàng ngày, hàng đêm như tôi.
Ngày Chủ Nhật phải lên thằng Lợi để đi vào cụ thể, những nét chính của chuyến đi. Đúng 5 giờ 10 phút tôi về gần đến nhà, tiếng mẹ tôi gào thét, tôi vừa mở cửa đã nghe mẹ tôi la to:
– Tao mù lòa già yếu, bố thì lẩm cẩm gần tám chục tuổi, mà nó còn về ăn bám!
Phía nhà ông Tấn mở cửa ra nhìn, nhà bà Cần, bà Tường cũng ra ngó nhìn tôi. Tôi ra ngoài đứng dựa vào cửa, mặt rầu rầu. Tôi và mẹ tôi đã chuẩn bị ăn ý, thỉnh thoảng người sẽ gào thét la mắng tôi: Bốn mươi mấy tuổi rồi mà không nuôi nổi thân, còn về ăn bám cha mẹ mù lòa già yếu v.v. . . để xóm giềng có ý niệm sau này.
Mẹ tôi gào, mắng làm như thật, tôi phải vào ôm lấy cụ, nói nhỏ: Vừa thôi kẻo mẹ mệt, lại bệnh thì con còn khổ nữa, thậm chí, tôi còn phải ghé tai cụ:
– Đủ rồi, để hôm khác!
Cả ông Trùm Lộc, tổ trưởng khu phố cũng mò đến khuyên răn mẹ tôi, tôi ra trước cửa ngồi dựa tường thiểu não. Thoáng bóng cả cô ả Ngọc Anh từ xa, tôi vờ gục đầu như không biết, nghe rõ tiếng hỏi của Ngọc Anh với ông Thanh hàng xóm, và rồi tiếng ông cụ Thanh trả lời:
– Bà cụ chửi bới anh cu Bình, còn về ăn bám bố mẹ già!
Tôi ngửng lên đứng dậy vào nhà, còn nhìn thấy đôi mắt nâu rười rượi chia xẻ nỗi niềm, của tên áo vàng khu vực. Cả một buổi tối cứ trằn trọc, hết trở mình bên này, lại trở mình bên kia, tôi nằm mãi mà không ngủ được. Cuộc đời, đất nước, cha mẹ, để rồi thiếp đi trong giấc ngủ muộn, nhiều khắc khoải. Bỗng có tiếng đập thình thình vào cửa, tôi bò nhổm dậy, xuống dưới nhà.
Tiếng đập cửa hãy còn rầm rầm, ánh đèn pin từ các cửa sổ, chiếu vào trong nhà loang loáng. Thầy mẹ tôi đều đã dậy. Khi tôi mở được cửa, hai ba người đẩy tôi ra, xông vào trong nhà. Người chạy xuống bếp, người leo lên gác, họ sục sạo như bắt giặc. Tôi bật được đèn lên, toàn là những người tôi chưa hề thấy bao giờ. Một tên đeo lon thượng úy cứ nhìn tôi chằm chằm. Thầy tôi đã vén màn thò đầu ra, miệng người cứ lảm nhảm:
– Lậy Chúa tôi!…..Lậy ….Chúa …. Tôi!
Mẹ tôi vẫn trong màn rên rỉ:
– Con xin……….. phó linh hồn……
Nhìn đồng hồ mới hơn một giờ, tên thượng úy chiếu đèn pin vào mặt tôi, hỏi gằn giọng:
– Tên Mẫn CIA đâu?
Tôi ngơ ngác, chẳng hiểu tên Mẫn nào! Tôi chợt nghĩ: Có thể đây là công an Thành hay Quận. Họ nghi ngờ nhà tôi có tên Mẫn CIA nào đó! Tôi cũng nhìn thẳng vào tên Thượng úy. Tôi định nói: “tôi đang để nó trong túi, của tôi đây này”! Nhưng tôi đã từ tốn trả lời:
– Tôi không biết tên Mẫn nào cả.
Bây giờ mới thấy ông Trùm Lộc, tổ trướng khu phố và cô Ngọc Anh công an khu vực, đẩy cửa bước vào. Cô ả Ngọc Anh tiến đến trước tên Thượng úy ỏn ẻn:
– Báo cáo thủ trưởng . . . . . . . .
Tên Thượng úy, hất chiếc đèn bấm cầm tay:
– Đồng chí đi ra ngoài!
Cô ả, vác cái mặt tiu nghỉu đi ra. Ông Trùm Lộc, mặt cũng rầu rầu như tôi, nghiêng đầu như chào, rồi cũng đi ra. Hai tên côn đồ hất tung cả mùng, màn của thầy mẹ tôi lên, trong khi các người vẫn rên rỉ, ngồi cóm róm trong một góc giường. Thoáng bên ngoài, còn nhiều tên áo vàng nữa.
Tôi mới về nhà được hơn bốn tháng, mà đã ba lần công an vào khám xét nhà ban đêm. Buổi tối lên nhà Lợi, tôi kể lại cảnh khám đêm qua. Thằng Lợi nghe tôi kể, mặt nó cứ đỏ dần lên, nói gầm gừ:
– Phát xít Nhật, cũng không như thế!
Còn chị Lợi cứ nói, vẻ băn khoăn:
– Sao bây giờ . . . .họ lại ác ôn như vậy?
Phải rồi . . . . . . . . . Họ hàng gia đình chị đều ở phía “bên kia”, thằng Lợi đã nói với tôi trước đây.
Sau khi chuyện trò chung chung xong, tôi và Lợi đã lên gác vào một căn buồng trống, tôi đã ngủ nhiều lần những ngày cuối tuần. Tôi được biết chuyến đi đã được quyết định đêm 14-01- 1981. Con gái lớn của thằng Lợi, 17 tuổi là Nguyễn Thị Mỹ Linh, và cả ba con trai của nó, cùng đi chuyến này. Riêng một mình chị Lợi ở lại để phòng hờ, chuyến đi không thành. Hơn nữa có người để giữ cái nhà. Vả lại chị Lợi họ hàng, thân nhân đều theo Cách Mạng từ trước 1975.
Theo thằng Lợi, chiếc ghe này chung hai phía, phía bên kia và phía thằng Lợi. Hai bên đã thỏa thuận, mỗi phía được rước thêm bao nhiêu khách. Những quy định gặp nhau ở đâu, nơi đón, nơi nằm ếm chờ tuyến đường, thời gian, đều đã được quy ước rõ ràng rồi. Chuyến này cũng có hai đứa con lớn của vợ chồng thằng Đạt, là Thu Thủy 17 tuổi và Thắng 16 tuổi. Biết có cả Lợi và tôi đi nên Đạt cho hai đứa con đi theo như gửi gấm
Tôi hiểu sự việc này giải quyết phải có “điểm” và có “thời”, điểm “nút” lại chính ở nơi tôi. Tôi đang ở cái thế “trên đe, dưới búa” cả ngày lẫn đêm, vậy hãy “nuốt sâu” vùi lấp nó lại.
Trước mắt hãy đến mộ thăm em tôi một lần, không phải là không có nguy hiểm, nếu tôi không dự trù ứng đối chuẩn bị trước. Tôi chỉ có ngày thứ Bẩy và Chủ Nhật cuối tuần. Tôi viết tờ giấy báo cáo cho phường và CA khu vực: Thăm các cháu, thăm mộ người em, thăm bà chị con ông bác ruột v.v . . . Đi sáng thứ Bẩy, Chủ Nhật trở về.
Ông Trung úy Mậu ngoài phường chấp nhận, nhưng CA khu vực lại không đồng ý, vì thứ Bẩy đó tôi phải đi hốt rác, dọn dẹp chung quanh khu vực chợ Nam Hòa. Cách một thứ Bẩy, phải đi lao động buổi sáng, do Mỹ Lệ đứng điều hành.
Tôi đã đề nghị, sẽ đi lao động vào thứ Bẩy tới, nét mặt cô “Ả”, cứ câng câng, lắc đầu không đồng ý! Nhìn quả “cà ghém luộc”, lòng tôi hơi tiêng tiếc cái hôm “ả” mò lên căn gác vắng, của tôi! Tôi cứ đi, đâu có “ngán” gì, khi tôi đã có phường chấp thuận.
Xe đò đi Long Xuyên, Hồng Ngự chật như nêm cối. Đất nước tôi từ Bắc chí Nam đều khốn khổ như nhau. Từ xưa, trên sách báo tôi đã nghe, đã đọc về vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Đến nay, cái đồng bằng đó, đang ở ngay trước mặt tôi. Nó rộng và bằng phẳng đến nỗi đứng ở bên đường, tôi có thể nhìn thấy trái đất tròn.
Tôi hơi ngạc nhiên, nhìn trải dài ra cánh đồng ruộng lúa chín vàng, những làn sóng từng hàng lần lượt đuổi nhau nhấp nhô như sóng biển ngoài khơi, chỉ có khác là mầu xanh (của nước) và mầu vàng (của lúa). Trên chiếc xe chật, mùi “mồ hôi” lẫn vào mùi lúa chín, thành một cái mùi riêng biệt của Đồng Tháp. Để rồi sau này ở xứ Cờ Hoa, tôi ngửi thoáng thấy mùi giò lụa, tôi lại nhớ đến Đồng Tháp Mười ngày ấy.
Cả một cái vung khổng lồ mầu xanh lam của bầu trời, úp chụp lấy mầu vàng óng của lúa chín. Xa xa dưới chân, riềm là một vạch ngang, mầu xám xám của nhà cửa, cây cối. Ngoài miền Bắc, tôi chưa hề nhìn thấy cảnh này, cái vựa lúa vĩ đại của quê hương yêu dấu đã quấn, hằn vào tâm tường. Thật là lạ kỳ! Sau này, khi tôi được may mắn chiêm ngưỡng bức tranh “Đất, Trời” của Van Gogh, trong bảo tàng viện thành Trier, dịp tôi đến thăm nhà lưu niệm của Karl Marx, bên Tây Đức 1992, hồn tôi lại trở về vựa lúa vĩ đại của dân tộc.
Xe chỉ đến Long Xuyên, từ Long Xuyên về Hồng Ngự phải đi bằng xe lôi, trên con đường huyện lồi lõm do phục vụ cuộc chiến lâu dài, đào xới, phá đường, chôn mìn v.v. .. Để rồi nắng mưa đã góp phần, làm cho con đường giờ đây như một cánh tay gầy, đầy ghẻ lở, hắc lào. Chiếc xe lôi nhún nhẩy lắc lư như lên đồng. Nét mặt bác tài xế hằn những vết nhăn trên trán, và quấn quanh miệng, môi bác mím lại, mỗi khi chiếc xe giằn xuống một ổ gà, như nói lên sự an phận, chịu đựng thân phận một người công dân của một chế độ “vì dân và do dân”.
Ngôi nhà sàn thương yêu của em tôi, một nửa ghé ra mặt đường, một nửa nằm gác lên con sông Hồng Ngự đầy mầu mỡ phù sa. Con sông thật là rộng, nhìn sang phía bên kia bờ lau sậy, xa hàng hai ba trăm mét, thỉnh thoảng có những chiếc tầu nhỏ, hay ca- nô xì khói chạy ngược dòng vào phía trong hay ra phía ngoài. Nhìn thím Lý chừng 35-40 tuổi nhẫn nhục, ngồi võng đút cơm cho đứa con gái chừng bốn năm tuổi, nhìn ba bốn đứa con trai trần truồng đang nô đùa trên mặt sàn, nhìn căn nhà nửa gỗ, nửa tre, lợp tôn nó đã ôm ấp người em trai độc nhất của tôi bao nhiêu tháng ngày. Bây giờ nó vẫn trân quý nâng niu, những giọt máu còn để lại cho đời của đứa em. Tiếng nhóp nhép của sóng nước phía dưới sàn vẳng lên, tiếng ò e cọt kẹt của những rui mè trên mái như tiếng nỉ non thầm thì, của người em bạc mệnh:
– Anh ơi! Hãy thương đàn con của em!
Tôi quay ngoắt lại gọi tất cả các cháu lại cho tôi ôm từng đứa, và hỏi từng tên:
Hoài Khanh 16 tuổi, đã về Sài Gòn thăm ông bà nội và đón tôi,
Chí Trung 12 tuổi,
Chí Tuấn 1 tuổi,
Chí Dũng 10 tuổi,
Chí Bảo 8 tuổi
Và cháu Hồng Trang 5 tuổi.
Như thế gồm 6 đứa, năm trai và một gái. Trừ thằng Khanh con cả, bốn đứa con trai sau đều lấy đệm là “Chí” Kết hợp với tấm hình của tôi 1959 thấy trong cuốn album của chú Lý. Tấm hình tôi mặc sơ- mi trắng ngấn tay, chụp ở giai đoạn trong trại học sinh di cư Pavie Lamothe Phú Thọ. Lật phía sau tấm hình nét chữ riêng biệt của em Lý còn ghi: “Đặng Chí Bình. Người anh đáng kính của mình!” Tôi không thể hiểu lời ghi chú trên của em tôi trong tình huống nào, vào giai đoạn nào. Vì ý nghĩa ấy, tôi đã lấy và in tấm hình đó ở tập I Thép Đen.
Từ tấm hình của tôi, đến lấy đệm “Chí” của tôi đặt cho các con của chú, đã như một dấu ấn trong lòng tôi. Trừ thằng Khanh, bác cháu đã có nhiều chuyện ở trên đường, tôi lục túi cho mỗi đứa một đồng, mua kẹo, bánh theo ý của mỗi đứa. Tôi cũng nói rõ với các cháu, tôi đi làm ba tháng nay không có gạo và cũng không tiền, tôi cũng xin lỗi các cháu, tôi xin lỗi cả thím Lý, đời các cháu lầm than nheo nhóc có phần của tôi góp vào.
Thím Lý nói một câu vẫn còn buộc túm trong lòng tôi:
– Nếu anh Lý biết anh còn sống trong tù ngoài Bắc, thì anh Lý đã ra Bắc rồi! Nếu anh Lý ra Bắc 1976 thì anh ấy lại không ……….” nói đến đây thím Lý nấc lên, không nói ra lời nữa. Lại chữ “nếu’ cái chữ mà một văn hào người Pháp đã dùng nó một cách điển hình nhất: Chữ “nếu” có thể đút cả thành phố Paris vào một cái chai nhỏ (Avec un “si”, on mettrait Paris en bouteille).
Lúc đó đã ba giờ chiều, trời tối sầm lại rồi chuyển gió lộng, con sông Hồng Ngự cũng bị đất trời làm nó ngứa ngáy dộp hết cả người. Người nó như khúc mình con rồng giương hết cả vẩy lên. Do hoàn cảnh và điều kiện, thằng Khanh sáng mai phải lên thị trấn Hồng Ngự, nó đang làm thuê cho một ông chủ “đít mới đỏ” do nhuộm sau 30-4-1975, nó đã xin nghỉ một tuần về Sài Gòn. Tôi, sáng mai cũng phải về lại Sài Gòn trình diện với CA khu vực. Hôm nay đã “cương ẩu” với cô nàng mặt “quả cà ghém luộc” rồi. Vậy, dù cho có mưa gió bão bùng, bằng mọi giá, hôm nay phải ra đồng gặp người em của tôi. Tôi, thằng Khanh, Trung, ba bác cháu chạy đến một cửa hàng bách hóa mua nhang và nến. Trên đường, qua các cháu, tôi được biết tên “sát thủ” ở một xóm phía bên kia cũng, có một vợ và hai con. Tôi đã quan sát, qua những tình huống sinh hoạt, của dân trong vùng.
Tôi đã đưa giấy chấp nhận của Phường 6 cho tôi lên Hồng Ngự cho công an địa phương để ngủ lại đêm nay. Chính tôi luôn có một con mắt “cảnh giác”, dù rằng tôi không có một chủ trương gì cả, nhưng chữ “ngờ” thì đã ai học được?
Trời có thể mưa to, hơn nữa thím Lý ở nhà với cháu Hồng Trang, nấu cơm. Tôi và tất cả năm đứa cháu trai lách lau sậy tiến về một nghĩa địa cách nhà gần hai cây số, cỏ dại mọc um tùm che khuất cả ngôi mộ. Tất cả sáu bác cháu cùng dọn sạch. Một con dao quắm tôi vùng vẫy, một ý nghĩ chợt đến tên “du kích” thật hèn! Hạ thủ một người đang ngủ, y sống kiếp của con rùa, con thỏ lén lút không những sợ ngay cái bóng của mình mà còn sợ cả ánh sáng. Là rùa, là thỏ mà có thời vẫn áo mũ nghênh ngang, xe mã; ngược lại tướng mà hết thời, thì cũng chỉ mòn mỏi chết dần.
Mùi cỏ dại bị phát, bị nhổ hăng lên trong gió, nó nồng nồng, hăng hăng, cái mùi chất phác, mộc mạc của máu xương tiền nhân quyện vào trong đất.
Một làn chớp nháng lên xanh lè cả nghĩa địa, rồi những tiếng ùng ục . . . . . . .ùng ục phía chân trời. Những đám mây đen vần vũ trên bầu trời sũng những nước, mấy đứa nhỏ lấm lét nhìn lên trời sợ mưa ở giữa cánh đồng, tôi muốn nói với thằng Khanh, Trung, Tuấn mấy đứa lớn:
– Các cháu hãy thắp nhang, đốt nến rồi bác cháu ta sẽ đọc một số kinh, cầu cho linh hồn bố các cháu? Bác cũng chẳng thuộc kinh nhiều, chúng ta hãy cầu nguyện giản đơn, điều quan trọng là phải có lòng thành.
Bất chợt một tiếng nổ như xé màng tang, ngay ở trên đầu, cả năm đứa đều ôm chầm lấy tôi. Các cháu nhỏ, như muốn tìm sự bảo vệ, chở che của một ông bác.
Nhìn ngôi mộ đất thấp lè tè của em Lý, tay tôi ôm và vỗ nhẹ các cháu, tôi như muốn nói: Bác của các cháu đã tài hèn sức mọn, lại không có thời, cũng đành tàn lụi dần theo vận nước, bác xin các cháu tha lỗi cho bác! Nhưng không thể thết ra thành lời.
Để xóa đi những nỗi niềm đầy vơi yếm thế trong lòng, tôi nhìn lên mây trời xám đen đang quay lộn, nói với các cháu:
– Bác hỏi cả năm cháu! Nếu bác cháu mình đang đọc kinh cho bố các cháu, trời có mưa to, gió lớn, bác cháu mình vẫn cương quyết đọc cho xong buổi kinh, các cháu có dám không?
– Chúng cháu “dám”! Không sợ trời mưa!
Mưa bắt đầu rơi, rồi như tháo cống, nước đổ xuống ầm ầm xối xả các cháu đã được khích lệ trang bị ý chí chịu đựng. Mưa rơi, mặc mưa rơi, bác cháu chúng tôi vẫn đọc kinh đều đều, mưa tầm tã rắc đổ lên đầu chúng tôi. Từng dòng nước chảy luồn vào cơ thể, thỉnh thoảng một đứa đưa tay lên vuốt mắt. Không biết chúng vuốt nước mưa hay nước mắt, khóc thương cho người bố hẩm hiu, nằm dưới mộ một mình đơn độc, cô liêu?.
Tiếng réo rột roạt của nước mưa chảy chung quanh, lẫn với tiếng mưa gió như giọng nói em Lý ngày nào:
– Anh ơi? Hãy cưu mang các con của em!
Bụng của tôi sôi lên ọ . . . . . . ẹ như muốn nói: Nút đầu tiên phải cởi là anh ra được nước ngoài, em hãy hỗ trợ anh! Một tiếng sấm gào lên ở chân trời phía đông như lời khẳng định của em Lý:
– Lúc nào em cũng ở bên anh!
Trên đường bác cháu trở về, óc tôi vẫn vấn vít cảnh ngoài mộ chú Lý vừa qua, dù chỉ là những dòng hình dung, tướng tượng trong tâm tưởng nhưng có một sức thúc đẩy mãnh liệt trong lòng tôi, để thể hiện ra trong cuộc sống.
Sáu bác cháu về đến nhà, mưa vẫn còn rơi nhì nhẹt. Nhìn dòng Hồng Ngự cuộn đỏ phù sa, tôi rủ cả năm cháu nhào xuống vẫy vùng. Cháu Dũng và Bảo nhỏ nhất, cũng bơi lội ra trò. Hầu như những đứa nhỏ được sinh ra bên bờ sông nước, đều chẳng lạ gì lội với bơi. Từ dưới dòng nước, qua màn mưa thưa, trời lại sáng dần, tôi nhìn lên nhà em Lý, rõ ràng có hai người phụ nữ.
Một người chắc là thím Lý, còn người nữa là ai? Khi bác cháu vừa lên đến cửa thì “người ấy “đã chạy ra, cầm cả hai tay tôi, nói trong nước mắt đoanh tròng:
– Cậu Bình! Chị tường cậu đã chết rồi!
Tôi nghẹn ngào ôm chầm lấy chị, không nói ra lời, chị là chị Công, con của bác Hạnh là anh ruột của thầy tôi. Bác của tôi có ba người con, chị Công là cả, chị cùng tuổi với tôi. Thời 1945 chị xuống phố ở với bố mẹ tôi. Tháng ba Ất Dậu 1945, nạn đói khốc liệt của quê hương đã làm chết hơn hai triệu người, cả gia đình bác Hạnh ở trên quê đã góp phần bốn người, chị Công ở dưới phố với bố mẹ tôi nên còn sống và chúng tôi đã gặp nhau hôm nay.
Tôi nhớ trước khi tôi ra Bắc chị đã có chồng, chị không có con, nhưng không rõ người chồng của chị ngày ấy là anh Ký bây giờ ra sao, tôi cũng lơ mơ không hỏi được để biết. Chỉ vì giai đoạn từ trại tù về miền Nam này tôi bị Công An Thành, CA Quận, CA Phường, CA khu phố và phòng Quản lý những người học tập cải tạo được tha về, ràng bố, ép đè vây hãm mê tơi. Không gạo, không tiền mà vẫn phải đi làm hàng ngày.
Một điều khi còn trong tù tôi thường thấp thỏm, nếu được về Nam, cần biết rõ: Sau khi tôi ra Bắc bị mất tích, bố mẹ tôi có được đền bù phần nào, do chính phủ VNCH hay không? Cho tới lúc tôi đang ngồi viết những dòng này, tôi cũng không hề có một manh mối nào giải đáp rõ ràng cho câu hỏi trên của tôi. Tôi muốn biết để cho niềm ẩn ức ở trong lòng đậy lại, hay xóa đi, chứ chuyện đó đã “over” rồi.
Chị Công, vùng này hiện nay Huyện Tam Nông Đồng Tháp gọi chị là bà Hai Bắc, ở một gian nhà tranh vách đất nhỏ với một đứa con gái nuôi tên là Ngọc (đầu 1981). Bữa ấy, bằng mọi giá chị Công bắt tôi phải đến nhà chị ngủ đêm và sẽ ăn một bữa cơm nghèo với chị. Nghĩa tình chị em và những kỷ niệm ngày ấu thơ, tôi đã làm theo lời chị.
Sau bữa cơm sáng với chị Công của tôi, một mình rong ruổi về Sài Gòn. Tiễn tôi ra đến cửa, chị Công còn cầm tay tôi như ngày còn bé:
– Cậu về có biết đường thăm hỏi ở các bến xe?
Vỗ vai chị tôi nói cười, như còn ngây thơ lắm:
– Chị quên rằng khi còn “bức màn sất”1962, chỉ một cái địa chỉ, một mình em đã mò mẫm tới chỗ em cần đến trong khi ở miền Nam giai đoạn ấy, đã biết gì bên trong “bức màn sắt”, kể cả CIA?
Về đến nhà, tôi thưa trình sự việc lên Hồng Ngự với thầy mẹ tôi xong, là đến gặp cô công an Mỹ Lệ ngay. Mặt của cô “ả”, đang có chút máu mặt, thoáng thấy tôi đẩy cửa vào, mặt ả lại xám đi để tỏ ra ta oai nghiêm mới càng giống quả “cà ghém luộc”. Cô ả hạch sách, bắt tôi phải viết bản kiểm điểm, tại sao đã không nghe lời CA? Tôi nói là tôi không sai, nên tôi không làm kiểm điểm.
Tuy vậy, sáng hôm sau tôi đã đến gặp tên trung úy Mậu, đã chấp thuận cho tôi đi Hồng Ngự để thăm mộ em trai, và các cháu nhỏ con của em trai. Tôi trình bầy lại sự việc, rồi chỉ khẽ chêm một câu:
– Từ trước tôi cứ tưởng CA khu vực, phải dưới quyền của Phường!
Tôi không hề có chủ trương gì, nhưng lại gặt hái được kết quả. Hai ngày sau, có một CA khu vực khác về thay cô Mỹ Lệ hắc búa, đó là Ngọc Anh.
Trong khi dọn dẹp, rửa chén bát, tôi chợt nhớ cái hẹn sáng mai thứ Bẩy với Hoàng Ngọc Quang. Tôi xin phép sơ lược về Quang:
Khi được ra khỏi tù về Nam, tôi có mang lén giúp mấy cái thư gửi cho gia đình, của mấy anh BK còn ở lại. Trong đó có một thư của anh Hoàng Ngọc Chính (anh là tu xuất), anh ở trong toán Remus. Ra Bắc ngày 20-1-1965, địa bàn hoạt động tại Điện Biên, Lai Châu. Toán của anh gồm có bốn người:
Hoàng Ngọc Chính, Toán trưởng. Được về, năm 1984 vượt biên, mất tích. Cho tới nay (12/04), vẫn chưa có tin.
Nguyễn Văn Hiếu, đã đến Mỹ.
Nguyễn Văn Lực, Toán phó. Hiện ở Australia, Melboume
Trần Quang Toản, chết ở Atlanta. 4/1997, Ung thư phổi.
Lá thư của anh gửi cho người anh ruột ở khu Sơn Tây (sau bưu điện Chí Hòa). Tôi đã đến khu Sơn Tây, nhà của anh Thăng trong một khu xóm giữa những ruộng rau muống xanh tươi, phía sau đường Bắc Hải, Ông Tạ.
Đương nhiên nhà anh Thăng đều sinh sống bằng nghề trồng rau xanh, chung quanh nhà thờ Sơn Tây. Anh Thăng có mấy con trai, con gái, trong đó có người con trai là Hoàng Ngọc Quang. Quang khi ấy khoảng 26 – 27 tuổi đã tốt nghiệp Cử nhân Sư Phạm năm 1977. Vì tốt nghiệp ở chế độ mới nên Quang học tiếp, khi tôi gặp Quang đã là phó tiến sĩ (Master) đang là giảng viên phụ của một trường đại học bên Chợ Lớn.
Quang là cháu của Hoàng Ngọc Chính thì vai vế phải gọi tôi là chú. Phần vì tôi không vợ con, phần khác vì kiến thức và vì muốn tình thân tươi trẻ nên Quang và tôi đã coi nhau như anh em. Do hợp tính nên Quang và tôi thường đi chơi với nhau. Quang cũng đã sang nhà tôi nhiều lần, những ngày nghỉ hay những ngày cuối tuần, tôi và Quang hay lang thang đây đó bằng hai chiếc xe đạp, tuổi đời của chúng như nhau.
Tôi mến và quý Quang là một thanh niên có cái nhẫn nại và thông minh khác thường. Có những lần tôi và Quang đi trên đường Thống Nhất, gặp một đám thanh niên nam nữ 20 đến 25 tuổi, chúng đều cúi đầu lễ phép chào Quang và tôi, đó là những đám sinh viên mà Quang đã dậy. Trông thầy và trò lẫn lộn với nhau.
Quang mến và quý tôi là một người không may ở tù CS khá lâu mất hết cái tuổi hoa mộng đẹp nhất của một đời người, như chú của Quang. Mấy hôm trước Quang sang tôi chơi, Quang nhìn cái sân con con ở bếp, gạch tung lên từng mảng.
Nhà bố mẹ tôi có người đàn ông nào, hay có ai đâu để trông nom. Tôi và Quang đều đồng ý ngày thứ Bẩy này, sẽ sửa sang lại cái sân 2×3 mét. Một bể nước mưa đã chiếm 2 mét vuông rồi, chỉ còn cái sân 4 mét vuông mà thôi.
Sáng thứ Bẩy, Quang sang sớm, tôi đã chuẩn bị vôi gạch, dụng cụ v.v. . . từ hôm qua. Tôi không hề biết về thợ nề, nhưng dưới chế độ ưu việt XHCN, cái chuyện “không có trâu, bắt nghé đi cầy”, là chuyện thường tình. Hai anh em hì hục, lóng ngóng thao tác, cũng phải hoàn thành cái sân. Có một chuyện tôi không thể không nói: Trong khi tôi đang ngọ ngoạy lát gạch, cái vòi nước máy ở góc bể nước, cứ nhỏ giọt. Tôi quay lại Quang, đưa cái kìm con và chỉ vòi nước:
– Em cầm kìm này, vặn chặt lại cho anh, để nó khỏi ướt sân!
Quang vội vàng nhận cái kìm từ tay tôi. Tôi làm một lúc lâu, quay lại, nước vẫn nhỏ giọt như cũ. Quang cầm cái kìm cứ xoay ngược rồi xuôi, mở ra lại đóng vào, tay chân của Quang lóng nga, lóng ngóng làm tôi ngạc nhiên. Tôi phải đỡ cho Quang, vì thấy Quang tỏ ra khổ tâm quá, không làm được một việc nhỏ, như vậy.
Về lãnh vực học hành Quang là người thông minh ít ai bằng. Như thế đã cho tôi càng hiểu rõ: Không được coi thường bất cứ ai! Ngược lại cũng không quá trọng phục với bất cứ người nào. Mỗi người đều có ưu và khuyết, chỉ có mức độ ưu khuyết nhiều ít khác nhau, và loại ưu khuyết gì? Một ông Thạc sĩ, một nhà Bác học, thậm chí cả một nhà thông thái mà người đời thường ca tụng, họ cũng có nhiều khuyết điểm, nếu không nhìn thấy là vì chúng ta chưa tìm hiểu kỹ, hoặc không có điều kiện để chúng ta nhìn thấy mà thôi. Như thế cũng rõ ràng ngược lại, dù là một bác dân cày, một người thợ mỏ ở dưới hầm sâu, một người đạp xe xích – lô, một người nông dân ở nông thôn hay rừng núi, họ đều có những hiểu biết đặc biệt, nếu chúng ta chưa thấy thì cũng như trên của các nhà thông thái. Chúng ta chưa tìm hiểu kỹ, chưa có điều kiện để nhìn, để chứng kiến mà thôi.
Tóm lại: Tôi không dám coi thường bất cứ một ai, trừ nhân cách. Có những sự việc họ chậm hiểu thôi, nhưng rồi họ sẽ hiểu. Nói cách khác: Nếu ai nham hiểm, thủ đoạn, lừa lọc, miệng và lòng khác nhau, sớm muộn, chung quanh người ta sẽ biết. Ai hiền lành, không có ý hại ai, chân thật, có thể do những thế lực, do bè phái bị che đi, bị oan khuất nhưng rồi mọi người đều nhìn rõ bản chất sự việc, và con người.
Viết đến đây tôi lại chợt nhớ đến thuyết “tương đối” của Albert Einstein. Thành ra, người này có hiểu biết hơn người kia là do hoàn cảnh, và điều kiện. Tôi lại chợt thót người lại, do hoàn cảnh và điều kiện nên hiểu biết hơn nhau. Có nghĩa người này hơn người kia rồi còn gì nữa? Như vậy, tôi lý luận loanh quanh, rồi tôi lại trở về điểm khởi đầu!
(Tôi hiểu thuyết Tương Đối của Albert Einstein là về vật lý, chuyển động của không gian 3 chiều, 4 chiều. Tôi thấy cũng có ý nghĩa trong xã hội và tư tướng của con người, cũng như thuyết Trung Dung của Đức Không Tử).
Thật nguy hiểm? Trong đời sống của chúng ta, hẳn mỗi người đã thấy, đã gặp một hay vài người. Do hoàn cảnh và điều kiện họ có nhiều hiểu biết về nhiều lãnh vực, chuyện ngược, chuyện xuôi, chuyện ngang, chuyện dọc. Nếu họ không có ý chí chế ngự mạnh, không có một đạo đức tâm linh, trong một lúc nào đó, chừng mực nào đó, những sự hiểu biết ấy, đã làm cho đầu óc người ấy quay cuồng, sùng sục trở thành bịnh tâm thần, hay khùng điên.
Nếu họ có quyền thế, họ sẽ làm ra những chuyện hàng trăm, hàng triệu người chết như: Tần Thủy Hoàng, Staline, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và hiện nay là Kim Chính Nhật v.v. . . Giống như trong chuyện võ hiệp (của ông Kim Dung), cá biệt một vài cao thủ, họ thiếu điều hành bởi tâm linh, đạo đức nên những bí kíp cao siêu, kỵ nhau, hóa giải nhau rồi anh chàng cao thủ đó bị “tẩu hỏa nhập ma”.
Không được! Phải có sự nhiệm mầu, kỳ diệu trong cuộc đời! Nghĩa là có một đấng tối cao như tạo hóa, điều hành mọi sự việc, tùy theo không gian, thời gian, dân tộc. Con người đẻ ra văn hóa, quan điểm khác nhau, nên có tôn giáo này, tôn giáo kia, chứ chỉ có một đấng uy quyền tối cao duy nhất. Như thế xã hội loài người bây giờ, và sau này mới yên lành, mới bớt loại khùng điên, tẩu hỏa nhập ma.
Đi làm cho tổ mành trúc, tuần thứ hai lại khất không trả lương, nên tôi chỉ làm vừa phải phất phơ. Đến nay đã gần hai tháng, mà vẫn không có gạo, cũng không có tiền. Hôm nay sửa chữa cái sân sau, cho mình, tôi mới làm cật lực. Bốn giờ chiều đã hoàn thành theo yêu cầu của chính chúng tôi, để rồi thầy tôi ra nhìn. Người đã nói một câu, quá kỳ lạ và đặc biệt đối với tôi:
– Con của thầy giỏi nhỉ!
Trí nhớ của thầy tôi đã lẫn lộn, nhưng người vẫn không quên hút thuốc lào, mỗi ngày ba điếu. Hôm nay, thầy tôi nhìn cái sân, người lại nói thế! Đó là một phần thưởng vô giá với tôi, như một hành trang thiêng liêng (thầy tôi đã mất) tôi sẽ mang theo trọn đời.
Khi tôi đi trình diện về, nhà tôi lại có khách, bà này đang ngồi nói chuyện với mẹ tôi, dáng mặt tôi đã nhìn thấy hai ba lần. Mẹ tôi bảo:
– Hôm con mới về, chính bà Chức này đi xe đạp sang gọi con Xuân đấy!
Tôi đã nói lên sự biết ơn của tôi:
– Bố mẹ của tôi, mù lòa già yếu, nhà lại neo người, chỉ biết nhờ xóm giềng, tôi xin biết ơn bà!
Bà Chức đôn hậu, hiền lành, bà gọi thầy mẹ tôi là hai cụ. Gia đình của bà, ở ngay phía sau nhà tôi, chỉ cách có một cái giếng.
Thằng Lợi đã hẹn từ một tuần trước, ngày mai chủ nhật tôi sẽ lên nhà của Lợi. Thằng Lợi đã cho tôi một tin bất ngờ, một nguồn hy vọng, từ khi về tôi chưa dám nghĩ tới. Nó đã bỏ tiền để chung với một người, bên cầu chữ Y để đóng hay mua, một chiếc thuyền vượt biên. Tính thằng Lợi tôi đã biết, nó đã chuẩn bị hàng tháng, hôm nay mới cho tôi biết. Nó đã nói rõ:
Trước đây nó không hoặc chưa nghĩ tới ra đi vì nhiều lý do, chính nó đã nói, nó ở lại để chơi với tụi này (CS) về kinh tế. Nhưng tôi đã trở về, nói cho nó nhiều chuyện về CS. Những thủ đoạn sắt máu, lật lọng, nham hiểm của CS từ ngày thành lập Đảng (3 – 2 – 1930) diễn tiến cho tới ngày nay. Tôi cũng nhấn mạnh: Tuy tao biết khả năng của mày, nhưng mày chơi với chúng về kinh tế, mà mày vẫn nằm trong sự kiềm tỏa của chúng thì rồi sớm muộn, cuối cùng mày sẽ thua.
Không những mất hết, mà còn nguy hiểm đến cả tính mạng nữa. Tôi đã đưa ra những dẫn chứng bằng người thực, việc thực từ thời Pháp, Nhật, chính phủ liên hiệp, Quốc gia, ngoài Bắc trong Nam v.v. . . Nó đã phải suy ngẫm và chắc nó đã chuyển đổi chủ trương, nên mới có quyết định ra đi.
Theo như kế hoạch dự trù của nó, chuyến đi sẽ vào khoảng đầu 1981. Vì tôi không có tiền, hơn nữa tôi mới ra tù, tôi có biết gì về Sài Gòn đâu? Cho nên tất cả mọi vấn đề đều mặc cho Lợi lo toan, tính toán. Tôi cũng chẳng có thời gian để đi tìm hiểu đây đó, vì phải đi làm mành trúc và trình diện CA hàng ngày.
Buổi chiều, từ trên thằng Lợi về tới nhà, thoáng trong nhà qua cửa sổ thấy một cậu bé 15- 16 tuổi đang loay hoay ở dưới bếp với mẹ tôi. Vào tới cửa, nghe thầy tôi nói ngắt quãng:
– Thằng…… Khanh! Thằng……. Khanh!
Tôi chả hiểu thằng Khanh nào, thì cậu nhỏ từ bếp đi lên, nó và tôi đều nhìn nhau trân trân, tôi hỏi ngập ngừng:
Mẹ tôi cũng đang lò dò từ dưới bếp đi lên nhà. Sự việc sơ lược về người em trai duy nhất của tôi là …Công Lý: Vào khoảng cuối 1963, em tôi theo chúng bạn gia nhập binh chủng Thiên Thần Mũ Đỏ. Là một trung sĩ đã chiến đấu tung hoành ở nhiều vùng chiến thuật, để rồi cuối 1964 lấy vợ. Cuộc sống và di chuyển thế nào tới hội nghị Paris, em tôi đã mang cả gia đình về sống ở Hồng Ngự, thuộc tỉnh Đồng Tháp, tới cuối 1976, chăm chỉ làm nông nghiệp ở địa phương.
Hai vợ chồng đã có sáu mặt con, thằng Khanh là đứa con trai cả, năm nay đã 16 tuổi. Vào một đêm rằm trăng sáng, em Lý của tôi vẫn ngủ trong một căn nhà lá nhỏ, ở giữa cánh đồng để coi ruộng lúa. Em bị một tên trung đội trưởng du kích xã Tam Nông, bắn vỡ bọng đái chết khi đang ngủ. Do tư thù từ trước, bây giờ thời thế có súng trong tay, nên y đã hạ thủ, để trả thù.
Tôi ngồi nghe mẹ tôi và cháu Khanh thay nhau tường thuật lại người tôi cứ lịm dần, nhưng ngực của tôi nóng như có lửa đốt. Dựa lưng ghế, mặt tôi ngửa lên nhìn trần nhà, nhưng chả nhìn thấy cái gì, óc của tôi thì căng ra xoay lộn: Thằng Khanh khi ấy 12 tuổi, mẹ tôi đôi mắt đã lòa ngồi một chỗ, sự việc rất lơ mơ, chưa có gì rõ ràng cụ thể. Tôi sẽ thăm dò lại cô Xuân, cô Thu và chính tôi sẽ lên Hồng Ngự, gặp vợ chú Lý với đàn cháu nhỏ, và phải thăm mộ người em trai duy nhất của tôi, (dù em tôi đã nằm yên ở trong mồ). Tôi được biết khái niệm, tên sát thủ đó chỉ bị bắt vài tháng, và hiện vẫn ngông nghênh sống ở địa phương, với nhiều thế lực.
Lần đổi tiền thứ hai năm 1978, Hân chẳng có bao nhiêu tiền để đổi. Lúc đấy Hân đang thất nghiệp, chạy đầu này đầu nọ, chẳng ra việc gì, ai kêu gì làm nấy, bữa đói bữa no. Có thằng bạn thân vượt biên, trước ngày đi có cho một ít, ăn được vài tuần cũng hết sạch. Loay hoay mãi mà chưa biết cách gì để sống. Sách vở bán đã hết. Áo quần cũng chỉ còn bộ đồ mặc trên người, cũng chỉ còn đôi giày da mòn long đế. Gia sản chỉ có bấy nhiêu. Căn phòng càng ngày càng vắng đồ đạc, càng thưa thớt người. Lần lượt từng người đi. Kẻ về quê, người đi đâu mất biệt. Đôi lúc có kẻ lướt về rồi lại đi. Tất cả tản mác để tiếp tục sống, để tiếp tục tồn tại.
Đang là cuối đông. Sài Gòn bỗng lành lạnh với những cơn gió lạ. Cả xã hội nghèo, thiếu ăn. Chén cơm trắng là giấc mơ của bao người. Ai cũng gầy với đôi mắt thất thần và cái bụng lép. Chẳng ai giúp được ai. Hân co ro dưới gió trên đường Trương Minh Giảng. Con đường quen thuộc cả chục năm nay, Hân thuộc từng con hẻm, từng lối rẽ, từng cái ổ gà nho nhỏ trên nền xi măng của vỉa hè. Vẫn biết là chẳng đi đến đâu, chẳng giải quyết được gì cho cái bụng rỗng đã ba hôm rồi, nhưng anh vẫn đi. Nằm nhà xót bụng không chịu được, ra đường với chút hi vọng gặp ai đó, gặp một dịp may nào đó, lượm được đồng bạc ai đánh rơi. Biết đâu? Cũng còn vài người quen, cũng còn vài thằng bạn. Nhưng Hân ngại. Anh tiều tuỵ quá. Đói rách quá, ngại gặp mọi người. Gia đình nào cũng nghèo nhưng đến bữa cũng có bữa cơm dù là bo bo, bột mì hay cá hẩm thịt ôi. Hân chỉ cần có gì bỏ bụng. Lấp đầy khoảng trống của bao tử đang kẻu ầm ĩ. Nhưng Hân không dám đến nhà ai. Đói nhưng cái bệnh sĩ vẫn bám vào anh. Hân đi dọc căn phố, những cửa hàng ngày xưa sầm uất thế, rộn ràng thế bây giờ đìu hiu và buồn tẻ. Đã gần chập chọang chiều mà căn phố vẫn hiu hắt vì không có điện. Những giọt mưa lác đác, hắt vào anh. Hân tay ôm ngực tay loay hoay tìm điếu thuốc. Túi rỗng. Hân thèm một hơi thuốc trong mưa. Hân cúi xuống, mắt lướt trên nền xi măng, anh lượm được hai cái tàn thuốc. Anh lượm mảnh giấy báo, xé hai tàn thuốc, gói mấy sợi thuốc vào mảnh giấy báo rồi se lại. Ánh lửa soi sáng một vùng mặt, khói vờn lên. Bụng đang đói gặp hơi khói làm đầu anh lâng lâng như say. Những bóng người loang thoáng, chập chờn. Bụng anh thắt lại. Hân có cảm giác có dòng nước mắt đang âm ỉ chảy từ đôi mắt cận. Hân băng qua ngã tư. Góc cây xăng Trần Quang Diệu với Trương Minh Giảng cũ có một bà cụ già bán bánh ít nhân đậu. Bà cụ người Bắc đã già lắm. Lưng còng, lúc nào người cũng quấn trong hai ba lớp áo, đầu quấn khăn. Hàng của bà chỉ chục cái bánh lá đặt trên cái thúng cũng cũ kỹ như bà. Một bà cụ nghèo, vốn liếng chẳng bao nhiêu. Bà bán vào buổi chiều, ít thấy khách mua nên nhiều lúc bảy tám giờ tối vẫn còn thấy bà ngồi dưới đèn đường, bóng bà đổ trên đường nhìn hiu quạnh lắm. Hân lâu lâu cũng ghé bà, mua một vài cái ăn qua cơn đói. Hôm nay Hân nghĩ giá có vài cái bánh này, chắc cũng đỡ cho cái bụng. Nhưng anh chẳng còn đồng bạc nào trong túi. Ngang qua, Hân đi luôn dù chân như muốn níu lại. Hân đi đến hẻm Trường Lê Bảo Tịnh. Anh quay lại, dùng dằng mấy bước rồi sà xuống cái thúng bánh tả tơi của bà cụ. Cụ ạ! Cụ cho con hai cái được không? Mời cậu. Cậu mua giúp. Ế quá. Nhưng cụ ơi! Hôm nay cháu không còn tiền, cụ cho cháu thiếu được không? Bà cụ ngần ngừ, chép miệng: Khổ thế cơ à?
Ối giời thời thế gì mà ai cũng khổ thế này? Hân đứng lên, anh thấy chóng mặt, cái đầu hơi quay quay, anh lại đành ngồi xuống. Dạ vậy thôi cụ ạ. Vốn cụ chẳng bao nhiêu mà cháu lại ăn thiếu thì khổ cho cụ quá. Bà cụ đưa đôi mắt hấp hem nhìn Hân, móm mém: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử? Đêm đó nhờ hai cái bánh ít, Hân ngủ được một giấc ngon.
Mấy hôm sau đó, có việc ở Biên Hoà, anh xuống làm phụ mộc gần chục ngày. Về lại Sài Gòn mấy bữa, ghé góc đường lại không thấy bà cụ. Rồi ngày qua tháng lại, thời gian trôi đi, lúc thì quên, khi nhớ tìm mãi chẳng thấy bà cụ đâu.
**********
Cuối năm ấy, một người bạn cho một suất vượt biên, trả tiền sau. Hân liều làm một chuyến vì đang bế tắc quá. Lênh đênh gần nửa tháng ngoài biển, máy hư, tàu vô nước, cuối cùng cũng cặp được vào đảo Pulau Bidong đảo nhỏ ở phía nam biển Đông, thuộc bang Terengganu của Malaysia.
Đảo này được biết đến chủ yếu vì đây mở trại tạm cư cho người Việt tỵ nạn trong những đợt vượt biên liên tiếp của thuyền nhân từ năm 1975 đến năm 1991. Đến 30 tháng 10 năm 1991 khi trại đóng cửa thì nơi đây đã tiếp đón 250.000 người tỵ nạn.
Hân ở đảo gần một năm vì chẳng có thân nhân nào bảo lãnh, anh vốn lớn lên từ cô nhi viện, tứ cố vô thân nên chẳng biết cậy nhờ ai. Sau đó anh gia nhập đạo Tin Lành và rồi một hội thánh ở Mỹ bảo lãnh Hân qua Mỹ. Những năm tháng ở Mỹ, anh cật lực vừa học vừa làm, cuối cùng cũng có một việc làm ồn định, một bằng cấp kha khá, một căn nhà vừa ý. Hai lần lập gia đình đều đổ vỡ, không có đứa con nào, anh nghĩ chắc ở thế cho đến già. Số thế rồi thì chấp nhận vậy. Đi làm về, một mình trong căn nhà trống, nhiều đêm anh nhớ Việt Nam, đôi khi thấp thoáng bóng của bà cụ và hai chiếc bánh anh còn thiếu nợ hiện ra trong giấc mơ. Nhưng anh vẫn chưa về, thật ra cũng chẳng còn ai để về. Chẳng còn chi níu kéo để về. Nhưng Việt Nam vẫn về trong giấc mơ của Hân. Có một cái gì đó không giải thích được cứ gọi anh về.
Năm 2002, nhân chuyến công tác ở Thái Lan, anh về lại Sài Gòn năm hôm. Thành phố chẳng còn như cũ, nhiều nhà cao tầng, phố xá đông đúc hơn, người ta có vẻ giàu hơn, hàng quán nhiều hon. Buổi chiều anh về lại con đường Trương Minh Giảng cũ, con phố này có vẻ ít đổi thay, trường đại học ngày xưa của anh giờ trông tàn tạ, những bức tường ám rêu, cái cổng trường vẫn thế. Ngôi chợ cũ khang trang hơn, phố sầm uất hơn. Hân đi dọc con đường mấy chục năm trước thường đi, vỉa hè không còn loang lổ, lát gạch đẹp hơn. Đứng ở bên này ngã tư Trần Quang Diệu nhìn qua xây xăng, anh thoáng thấy bà cụ bán bánh ít nhân đậu xanh đang ngồi ở dưới cột đèn đường. Lạ nhỉ? Hai mươi mấy năm rồi, cụ còn sống sao? Cụ vẫn ngồi bán ở đây sao? Hân nhớ hai chiếc bánh còn thiếu nợ bà cụ. Anh vội băng qua đường. Một chiếc xe bus trờ tới, che tầm mắt của anh. Khi anh bước qua bên kia đường thì không còn thấy bà cụ nữa. Mới thấy đây mà? Hay chỉ là ảo ảnh. Hân đi tìm quanh quất mà chẳng thấy gì. Anh đứng ngay chỗ bà cụ hay ngồi ngày xưa, miệng lẩm bẩm: Cụ ơi! Con về tìm cụ trả tiền hai chiếc bánh. Chắc cụ chẳng còn trên đời này nữa đâu. Nhưng con vừa thấy cụ. Hay cụ nhắc con nhớ món nợ năm xưa. Nhưng con biết làm sao trả. Cụ ơi! Mong cụ siêu thoát. Món nợ này con suốt đời nợ cụ.
Mấy ngày còn lại ở Sài Gòn, Hân cứ quanh quất ở cây xăng Trần Quang Diệu, hỏi thăm về bà cụ bán bánh ít hơn hai mươi năm trước ở chỗ này. Mấy hôm rồi chẳng ai biết, chẳng biết thêm tin tức gì. Hôm cuối cùng ở Việt Nam, anh gặp được một anh chàng xe ôm, anh biết rất rõ bà cụ vì anh là con rể của bà cụ. Hân mừng quá, ngồi trên xe để anh xe ôm chở về nhà mà anh cứ ôm bụng anh chàng xe ôm mà nói: Mừng quá, mừng quá. Chắc là bà cụ khiến anh gặp tui. Mừng quá! Anh xe ôm kể đêm qua thấy cụ về bảo chiều mai ra góc cây xăng, có người muốn gặp. Hân nói với lên: Thế là cụ bảo ra gặp tui đấy. Bà cụ linh thiêng thật.
Xe chạy vào mấy cái hẻm ngoằn nghèo. Con hẻm càng vào sâu càng hẹp lại. Căn nhà ở cuối con hẻm ứ nước, cạnh bãi rác. Nhà sơn tróc loang lổ, nghiêng ngiêng như muốn ngã. Nhà tù mù một cái bóng đèn vàng hiu hắt. Một người đàn bà đi ra sau tiếng kêu của anh xe ôm. Hân bước vào nhà, đập vào mắt anh là chiếc bàn thờ be bé thắp ngọn đèn đỏ quạch soi tấm ảnh nho nhỏ của bà cụ. Bà cụ đang nhìn anh, mắt nheo nheo với nụ cười hóm hỉnh. Anh nhớ câu cuối cùng của bà nói với anh hơn hai mươi năm trước: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử? Hân xin ba cây nhang, đốt lửa, ánh sáng bùng lên soi khuôn mặt của người đàn bà nhầu nhĩ, chắc tại nghèo. Hân chắp tay vào ba cây nhang: Cụ ơi,con xin lỗi cụ, con đắc tội với cụ, con mang nợ cụ hai chiếc bánh cứu con qua cơn đói mà bây giờ con mới trả được cho cụ thì cụ đã chẳng còn. Con không quên được hai chiếc bánh của cụ đâu. Và vì không quên nên con mới nhìn thấy cụ, con mới tìm được nhà cụ để trả món nợ ân tình.
Hân ra ngoài cửa, ánh sáng cuối cùng của buổi chiều hắt lên ánh sáng kỳ dị vừa nhờ nhờ vừa tăm tối trên cánh cửa loang lổ. Anh rút hết số tiền trong ví, trong túi xách, anh không đếm là bao nhiêu nhưng cũng được một bó bằng cườm tay. Anh xin chiếc dĩa, đặt hết lên đấy và vái một lần nữa. Cụ ơi! Con xin gởi cụ. Đã biết trễ rồi nhưng có còn hơn không. Con đội ơn cụ và mong cụ tha lỗi cho con.
Hân bước ra con hẻm, ánh đèn đường vừa bật, anh lại ra con đường cũ. Cây xăng đang tấp nập. Khoảng sáng chiếu ở dưới đèn đường, anh lại thấy nụ cười và dáng lom khom của bà cụ. Nhưng lần này cụ không có bóng đổ. 15.7.2005 DODUYNGOC
Nhà hắn nằm sau lưng nhà tôi. Hắn là thằng lai Tây, hơn tôi đâu ba tuổi. Hắn sinh năm 1947 thì phải. Hắn có bố đàng hoàng chứ không phải là thằng con lai hoang. Hắn từng khoe giấy khai sinh làm từ lúc hắn mới sinh, bố hắn là quan ba Pháp, là Capitaine quân đội Pháp. Cũng là thứ dữ chứ chắng phải thường đâu. Sinh ở Hà Nội di cư vào Nam 1954. Mẹ hắn là một phụ nữ đẹp, da bà trắng, mũi cao thon như người Nhật với đôi mắt ướt. Bà lại thường mặc yếm và cái váy đụp như người đàn bà nông dân Bắc bộ nhưng không che hết nhan sắc của bà. Hắn kế thừa nước da trắng, mũi lõ mắt xanh và thân hình to lớn của giống Tây, lại hưởng chút nhan sắc của mẹ nên hắn là thằng đàn ông rất đẹp trai. Cả xóm gọi hắn là thằng Lai. Hắn đẹp không thua gì tài tử Alain Delon, một diễn viên điện ảnh nổi như cồn thời ấy nên tôi gọi hắn là Alain Delai. Hắn cũng khoái được gọi thế với một niềm hãnh diện. Hắn bảo bố hắn bị bắt làm tù binh của Việt minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sau đó được về cố quốc, bỏ mẹ con hắn lại đi tàu há mồm vào Nam.
Hắn sống cùng mẹ với một ông bố dượng trong căn nhà khá rộng nhưng lúc nào cũng tối om om. Mẹ hắn làm nghề đúc đậu khuôn. Những miếng đậu của bà lúc nào cũng chắc, beo béo. Nhất là những khuôn đậu chiên, vàng dòn ở bên ngoài, mềm mại ở bên trong. Những miếng đậu nóng hổi vừa mới rời chảo mà chấm với chén nước tương đầy ớt trái thì ngon rụng rời. Ký ức tuổi nhỏ của tôi ở xóm bến xe Chợ Cồn đầy những bánh đậu khuôn dòn béo ấy.
Bố dượng hắn đúng phong cách công tử Hà thành, ông chẳng làm ăn gì, lại nghiện thuốc phiện. Tôi không quên được cái phong thái vừa lịch lãm vừa phớt đời của ông. Ông cao lắm, chắc phải mét tám, nhưng gầy, vai so ngang của người nghiện thuốc lâu năm. Tôi nhớ mãi ông vì ông giống y chang hình nhà văn Vũ Trọng Phụng trong cuốn sách gì đó mà lâu quá tôi quên mất. Mà tôi thì khoái đọc mấy cái phóng sự rất đời của nhà văn này hồi mới vào lớp nhất dù ba tôi cấm triệt, bắt gặp tôi đọc loại sách ấy là đánh đòn nặng tay với những chiếc roi mây.
Đó là hình ảnh của một người đàn ông với khuôn mặt gầy xương, má hóp, cồ quấn chiếc khăn kẻ ca rô. Khuôn mặt ông bố dượng hắn đấy. Ra ngõ ông đội thêm cái mũ phớt nỉ hoặc chống cây baton lên nước bóng. Hắn có vẻ sợ bố dượng, nhưng trong ánh mắt xanh xanh của hắn có thoáng chút thù hận không nói ra.
Hắn là thằng nghịch phá nhất xóm, hình như đứa con lai nào cũng thế. Hắn lớn con, liều lĩnh, chẳng biết sợ ai nên đám trai trẻ quanh vùng đều tránh không dám gây sự với hắn. Xóm tôi ở là xóm bến xe Chợ Cồn, dân du đãng tứ xứ tụ về, dân tài xế, lơ xe toàn là dân giang hồ, thế mà ai cũng sợ hắn. Hắn liều lĩnh, bất chấp, trong mọi cuộc đấm đá, hắn là thằng đi đầu, xông vào trước, luôn hỗ trợ cho mấy thằng yếu thế hơn. Hắn liều, nhưng chơi đẹp, không bao giờ ăn hiếp kẻ thế cô, không bao giờ đánh tán mạng kẻ thù. Đánh gục đối thủ, hắn thường xốc nách chúng lên, cho ngổi dựa vào tường, lấy nước, mang bia cho uống, lấy khăn ướt lau mặt cho. Bởi thế, những tay hảo hớn bến xe đã từng đụng độ với hắn một lần thì đâm ra phục hắn, xem hắn như đại ca. Nhưng hắn không muốn làm đại ca, hắn chỉ ra tay khi thấy chuyện bất bình. Đám cảnh sát ở ngã tư Chợ Cồn cũng ngán hắn. Có lần tay cảnh sát ức hiếp bà già bán rau ở lề đường, hắn bay từ xa đá vào ngực tay cảnh sát làm y bồ ngửa, hắn bảo không được ức hiếp người nghèo, có giỏi thì chơi tay đôi với hắn. Xong nó kéo tay tên cảnh sát vào quán bún bò bà Hưng ngay nơi ngã tư, kêu bún bò xí quách và bia nhậu. Thế là xong.
Khi tôi vào tuổi mới lớn, khoảng mười ba, mười bốn thì hắn đã là một thanh niên vạm vỡ. Hắn rất thích chơi với tôi, hắn bảo hắn khoái cái kiểu sống của gia đình tôi. Tuy là một thằng rất ba trợn, nhưng hắn lại là một thằng rất tình cảm. Hồi đấy, tôi đang tập đàn mandoline, cũng chỉ biết lỏm bỏm thôi, nhưng tối tối không có chuyện đi đâu hắn lại rủ tôi ra đầu ngõ, dưới tàng cây trứng cá, đàn cho hắn nghe. Hắn chỉ thích độc một bài của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, bài Giọt mưa thu. Thế mới lạ. “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu Ai khóc ai than hờ! Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành như nhủ trời xanh Gió ngừng đi mưa buồn chi cho cõi lòng lâm ly . Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về Ai nức nở thương đời chân buông mau dương thế bao la sầu . Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh mây ngỏ trời xanh chắc gì vui mưa còn rơi bao kiếp sầu ta nguôi . Gió xa xôi vẫn về Mưa giăng mù lê thê Đến bao năm nữa trời … … Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu.”
Tôi đàn, hắn hát theo, tôi không ngờ hắn có giọng hát hay thế. Một giọng Bắc chuẩn thật chuẩn, luyến láy đúng điệu, nhịp phách không sai chút nào. Hắn làm tôi khá bất ngờ, bởi tôi biết hắn có chút kiến thức âm nhạc nào đâu. Giọng hắn thê thiết, buồn, trẩm, có hồn vía ghê lắm. Hắn chỉ hát có một bài đó. Buồn vui chi cũng Giọt mưa thu. Đám cưới, đám ma, sinh nhật, nhậu nhẹt mà có hát là hát Giọt mưa thu. Tò mò, tôi hỏi hắn thì mới biết là ngày xưa ở Hà Nội, lúc tuổi mới lớn, mẹ hắn là láng giềng và cũng là người yêu của nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Người nhạc sĩ tài hoa yểu mệnh, mẹ hắn vì thời cuộc cũng long đong. Khi sinh ra hắn, suốt quãng đời trong nôi, mẹ hắn chỉ ru hắn bằng một bài Giọt mưa thu. Bài hát thấm trong máu hắn, nằm mãi trong ký ức hắn và đối với hắn, âm nhạc chỉ có mình bài đó thôi.
Hắn rất thương mẹ, mẹ hắn ít nói, nhiều khi chỉ một ánh mắt nhìn, hắn đã líu ríu làm theo những gì mẹ hắn muốn. Ra khỏi nhà, hắn là thằng du côn, nhưng ở nhà, hắn là đứa con ngoan. Hắn phụ mẹ hắn xay đậu, ép khuôn, gánh hàng ra chợ. Nhìn hắn quấn quýt bên mẹ, thương lắm. Hắn bảo đời mẹ hắn có lắm nỗi buồn, hắn không muốn làm cho mẹ hắn thêm buồn nữa.
Hắn nói thế mà mười tám tuổi, hắn bỏ nhà đi lính sau một trận cãi nhau bốc lửa với ông bố dượng. Mẹ hắn buồn ghê lắm, nhưng cũng đành, bên chồng, bên con, biết làm sao? Hắn đi lính nhảy dù. Ngày gặp lại hắn với bộ đồ rằn ri, cái mũ bê rê đội lệch, tôi thấy hắn đẹp quá. Bộ đồ lính ấy trong thân hình thước tám hai, với mấy chiếc lựu đạn mini bên hông, đôi bốt đờ sô dềnh dàng trông nó oai hùng quá. Nhìn hắn chẳng khác chi tay lính Mỹ. Tôi chào hắn như mọi khi: Chào Alain Delai, hắn cũng chào lại như mọi lần gặp nhau: Chào thằng em bô giai. Hai thằng ôm nhau. Từ đó, sau những đợt hành quân, về hậu cứ là hắn dẫn tôi đi ăn chơi. Tôi vừa mới tuổi mười lăm, cao mét sau lăm, mới đứng ngang nách hắn. Hắn dẫn tôi đi mấy cái bar ở ngã năm. Đó là những nơi tôi chưa từng vào và cũng chưa từng biết. Hắn giúp tôi khám phá thế giới ấy. Thế giới của rượu, bia, thuốc lá và gái. Hăn đi đến đâu, mấy em cave theo đến đấy. Hắn đẹp quá mà. Người đàn bà nào lại không thích trai đẹp, kể cả những người đàn bà làm đĩ. Tôi đi với hắn, ngoan ngoãn như đứa em hưởng sái của thằng anh. Đi đến đâu hắn cũng được các em bao, rượu tràn trề, khói thuốc mờ mịt. Cũng có lần vì ganh tức mấy em, đám lính không quân gây sự, hắn đánh đấm một trận ra trò phải vào bệnh viện còn tôi thì trốn nhủi trong cầu tiêu. Ba tôi biết chuyện, cấm triệt, không cho tôi đi chơi với hắn. Nhưng đôi lúc ngồi đàn cho hắn hát Giọt mưa thu, ba tôi cũng chẳng nói gì, có lần khen hắn hát hay. Hắn cũng rất kính Ba tôi, mỗi lần gặp đều khoanh tay thưa ông Đốc rất đàng hoàng.
Năm 1966, lính vùng một của tướng Nguyễn Chánh Thi liên minh với Phật giáo miền Trung ly khai. Tướng Kỳ đem quân ra dẹp. Lực lượng nhảy dù làm nòng cốt dẹp loạn. Khu vực xóm tôi là trung tâm của cuộc giao tranh. Lính ông Kỳ từ ngã tư Chợ Cồn đánh thẳng đường Ông Ích Khiêm tiến tới chùa Tỉnh hội, trung tâm đầu não của cuộc đấu tranh. Súng nồ ì xèo. Lần đầu tiên tôi biết mùi của đạn bom, của chiến tranh. Hai quả M79 rớt ngay sân nhà tôi, tường lủng tứ tung. Cả nhà sợ quá dắt díu nhau chạy vô bàu Thạc Gián. Đêm tá túc nhà người quen, không dám ngủ, nhìn ra trời thấy đạn bay líu ríu, chỉ mong trời mau sáng. Đến sáng thì êm,khoảng trưa thì nghe tin hắn bị thương, một viên đạn M79 quét ngang chân hắn, hai chân nát bét phải cưa đến đầu gối, đang nằm ở Tồng y viện Duy Tân, chỗ làm việc của Ba tôi. Mẹ hắn qua gặp Ba tôi, nhờ giúp.
Tôi vào gặp hắn, hắn xanh xao vì mất nhiều máu, hai chân băng trắng xoá. Tôi chào: Chào Alain Delai. Hắn cầm tay tôi thều thào với nụ cười méo xệch: Chào thằng em bô giai. Hắn bảo hắn không sao, nhưng chỉ thương mẹ hắn, chắc mẹ buồn lắm. Mẹ hắn chỉ biết khóc. Đi chiến đấu bao lần không sao, cuối cùng lại bị thương vì đạn của phe mình. Hắn chửi đụ mẹ mấy thằng rách việc, bày đặt đấu tranh khiến hắn mất cặp giò. Thà ngoài chiến trường nó không tức. Đây lại tàn phế vì đồng đội, có khốn nạn không?
Từ đó, hắn trở thành kẻ cụt chân, di chuyển bằng đôi nạng, hắn vẫn đẹp, nhưng vẻ đẹp của kẻ thiếu đôi chân. Hắn vẫn là thằng giang hồ, đấm đá với đôi nạng, tuy không còn sức mạnh như xưa nhưng hắn vẫn là ông trùm của khu bến xe Chợ Cồn. Tôi chuẩn bị thi Tú tài, nên cũng ít gặp hắn, thỉnh thoảng lại đàn cho hắn hát Giọt mưa thu, giọng hắn lại buồn hơn. ******** Năm 1968, Mậu Thân, tôi đậu Tú tài hai, đi học xa nhà, đi ta bà thế giới, chẳng có dịp về lại cái xóm bến xe của một thời nên cũng không gặp hắn suốt cả mấy chục năm trời. Thời thế nhiều đổi thay, đời tôi cũng trải nhiều biến cố. Sau 1975, ba mẹ và các em tôi vào hết Sài Gòn, rồi lần lượt phân tán khắp nơi. Tôi chẳng còn ai ở Đà Nẵng nên cũng chẳng hẹn về nên chẳng biết tin tức gì về hắn.
Năm 1985, trong một dịp công tác, tôi trở về xóm cũ. Thay đổi nhiều, người cũ còn lơ thơ, toàn người mới đến. Hỏi thăm mới biết hắn đã đi Pháp theo diện con lai từ năm 1980. Mẹ hắn tự tử chết sau ngày hắn lên phi cơ đến Pháp. Bà tự tử bằng sái thuốc phiện với giấm thanh lấy ra từ cái bàn đèn lưu niên của ông bố dượng hắn. Tôi lại nhớ những miếng đậu khuôn dòn tan của bà, tôi lại nhớ cái nhan sắc rất Bắc của bà, một nhan sắc lầm lũi. Tôi nhớ đến lần đầu tiên tôi thấy bà mặc chiếc áo dài nhung đen với chuỗi hạt ngọc xanh nơi cổ và chiếc khăn quàng hững hờ trong một dịp Tết năm nào đó. Một hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam của một thời đã đi qua. Một hình ảnh rất đẹp đọng mãi trong đầu tôi. Đã nhiều lần tôi muốn vẽ một bức tranh như thế mà vẫn chưa vẽ được vì cái hồn cốt của nhân vật cũng chưa tìm lại được. Bây giờ bà đi xa rồi. Cầu mong bà yên nghỉ. Cũng xong một đời người. Tôi cũng cầu xin bạn tôi, Alain Delai của tôi sẽ có một cuộc sống bình yên nơi quê nội, chắc là chúng ta sẽ chẳng có dịp để gặp nhau nữa rồi.
******* Năm 2010, tôi trở lại nước Pháp để hoàn tất một số giấy tờ cho bản thân và gia đình. Chuyến đi dự trù ba tuần lễ, vì tôi nghĩ thủ tục hành chánh rất khó khăn, nhưng không ngờ chỉ trong một tuần lễ, mọi việc hoàn tất suông sẻ. Rảnh thì giờ, tôi đi lang thang.
Tôi đến lại những chốn xưa của một thời long đong và cô đơn ở xứ người. Có nhiều nơi chẳng chút đổi thay dù mấy chục năm đã trôi qua. Tôi đứng trên đồi Montmartre, một khu phố của Paris, quả đồi lớn thuộc Quận 18. Nơi đó là nơi tập trung của nhiều họa sĩ nổi tiếng, cộng với nhà thờ nhà thờ Sacré-Cœur, các con phố nhỏ, quán cà phê, nhà hàng… để nhớ những ngày lang thang vẽ chân dung cho du khách kiếm sống dưới những cánh tuyết mùa đông ẩm ướt.
Tôi tìm về khu Quartier Latin Quận 5 thành phố Paris. Nằm ở tả ngạn sông Seine, khu có nhiều trường đại học nồi tiếng thế giới. Ở đây còn có Điện Panthéon, cung điện Luxembourg trong vườn Luxembourg, Sorbonne, Bảo tàng Trung Cổ… Nơi đây đầy khách du lịch bốn phương tụ về. Tôi đi bộ trên phố Huchette nằm cạnh sông Seine, hai bên đầu đại lộ Saint-Michel với các con phố nhỏ, lát đá.. khu này có rất nhiều nhà hàng, quán cà phê, cùng các quán bar và nhiều gallery nghệ thuật. Ngày xưa nghèo, đi ngang mà chẳng dám vô. Bây giờ có đủ tiền để làm thực khách thì đi một mình, cảm thấy buồn nên cũng chẳng muốn vào.
Lang thang mãi cũng chán, tôi đi khám phá các metro ở Paris. Métro Paris là một trong những biểu tượng của thủ đô nước Pháp, đặc trưng bởi mạng lưới các tuyến dày đặc, mật độ sử dụng cao và các bến tàu điện ngầm được trang trí theo phong cách Art nouveau. Tôi làm nghề mỹ thuật nên rất ham tham khảo và chiêm ngưỡng những công trình độc đáo này.
Các bến Métro Paris trang trí theo phong cách Art nouveau, được lựa chọn từ năm 1900. Ngay cả trong những lần tu sửa và mở rộng sau này phong cách đó vẫn được tôn trọng. Các vách và trần bến thông thường được lát bằng các viên gạch sành hình vuông hoặc chữ nhật nhỏ màu trắng. Một số bến được trang trí cầu kì hoặc có phong cách rất khác biệt. Tôi ghé Bến Louvre-Rivoli tuyến 1 mang tên phố Rivoli và Bảo tàng Louvre vào buổi sáng, trời chưa có nắng. Bến được trang trí bằng những bản sao các tác phẩm nổi tiếng của Bảo tàng Louvre, trưng bày trong các hốc tường được chiếu sáng rất đẹp. Chán, tôi lại về Bến Arts et Métiers tuyến 11, vốn mang tên của Bảo tàng Kỹ nghệ Paris (Musée des arts et métiers), khu này toàn phú bằng những rãnh đồng chạy suốt. Lại định ghé qua Bến Pont Neuf tuyến 7 đặt theo tên cây cầu Pont Neuf. Nằm gần La Monnaie de Paris, chỗ in tiền, nhưng không đến, ngồi nghỉ nhìn đám bồ câu bay. Loanh quanh toàn thấy quảng cáo. Các tờ quảng cáo được dán trong các ô có viền trang trí và ký hiệu hãng khai thác.
Đang mỏi chân định nghỉ, nhưng rồi lại kêu taxi chạy lăng quăng. Trôi dạt về Gare du Nord. Rổi qua metro Crimée lúc nào không hay. Không biết sao mình lại giạt về đây, bởi khu này lộn xộn lắm, dễ bị móc túi, người đi lại nhiều lại lắm ăn xin. Nhưng rồi lại tự nhủ, biết muôn mặt của metro Paris cũng là điều thú vị nên dù chân đã mỏi cũng gắng thêm một vòng. Người nườm nượp, ồn ào. Con đường dẫn xuống hầm chật chội. Hai bên có mấy người ăn xin, người đàn, kẻ hát, tiếng trống bập bùng. Một không khí lạ lùng và cũng độc đáo. Trời về chiều, sương xuống sớm, không khí hơi lành lạnh. Đã cuối đông rồi. Tôi dừng chân, đốt điếu thuốc, khói thuốc tuôn mờ đục. Bỗng trong mớ âm thanh ồn ã ấy, tôi nghe loáng thoáng một giai điệu của bản nhạc Việt Nam. Thoang thoảng thôi, xa xa gần gần như sương khói. Nhưng chắc chắn là một bài hát Việt.
Tôi đi men theo tiếng hát và bắt gặp nột ông Tây già, râu ria lởm chởm, tóc phủ gáy ngồi trên chiếc xe lăn đưa hai chân cụt đến mỏm gối. Ông nhắm mắt hát say sưa bài Giọt mưa thu, hát đi rồi hát lại. Chiếc mũ trước mặt ông cũng có vài đồng tiền giấy và ít tiền xu. Nghe bài hát tôi hình dung ra hắn và tôi đoan chắc chắn là hắn chứ không ai khác. Chỉ có hắn, Alain Dalai mới hát Giọt mưa thu như thế, với giọng như thế và say sưa như thế. Tôi chạy nhanh đến bên lão và hét lớn Chào Alain Delai. Hắn hé mắt, ngập ngừng, nhìn rất lâu vào khuôn mặt tôi, rồi hắn cũng hét lớn Chào thằng em bô giai. Hai đứa tôi ôm nhau, cả hai đều khóc. Không ngờ còn được gặp nhau, mà lại gặp nhau giữa Paris khi tuổi đã già, thời gian chẳng còn bao nhiêu nữa.
Tôi bảo hắn kiếm gì ăn tối, hắn dẫn tôi vào một quán be bé trong con đường nhỏ lát đá với những hàng cây leo. Quán vắng, kêu mấy món ăn, hai chai bia lạnh, hắn kể một đoạn đời mình.
Hắn qua Pháp trong những đợt đầu tiên của chính phủ Pháp giải quyết con lai còn lại ở Việt Nam. Nhờ hắn có giấy khai sinh và một số giấy tờ chứng minh, hình ảnh khác nên nó nhờ các tổ chức xã hội tìm lại bố ruột một cách dễ dàng. Một năm sau khi đến Pháp, hắn được gặp bố. Bố hắn đã già, nhưng rất thương yêu hắn, đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời hắn ở nước Pháp. Gia đình bố hắn ở Marseille. Đó là một thành phố cảng của nước Pháp, là thành phố lớn thứ hai của Pháp, sau Paris, và là vùng đô thị lớn thứ ba của Pháp. Hạnh phúc được hai năm thì bố hắn qua đời. Bố hắn có để lại di chúc, có phần thừa kế của hắn. Nhưng hắn lại không đọc được chữ Pháp, nên các anh chị em cùng cha khác mẹ của hắn bảo sao thì nó nghe vậy. Họ bảo nó không được hưởng thừa kế, không có quyền gì trong tài sản bố hắn để lại. Họ giao cho hắn mười ngàn quan, gọi là trợ cấp cho hắn để hắn ra đi. Thân cô thế cô, chữ nghĩa không biết, thân thể què cụt, hắn ngậm đắng nuốt cay, gạt nước mắt rời khỏi nhà làm kẻ lang thang, sống nhờ trợ cấp. Làm kẻ vagabond trôi giạt từ Marseille về đến Paris. Chờ ngày thành tro bụi giữa thành phố hoa lệ này. Mỗi ngày ngồi ở metro hay mấy quãng trường, hát Giọt mưa thu mấy chục năm rồi, để nhớ về mẹ hắn, để nhớ về Việt Nam, một chốn quê không còn chỗ để về.
Đêm đó, lúc chia tay, dù đã say khướt, bởi tôi có biết uống đâu, hai đứa tôi ôm nhau ở cửa quán ăn, tôi lè nhè Chào Alain Delai. Hắn siết vào vai tôi Chào thằng em bô giai. Tôi thấy vai mình ướt đẫm nước mắt. Tôi đẩy xe lăn của hắn một đoạn đường trong khi chờ taxi. Hai thằng già vừa đi vừa ngêu ngao bài Giọt mưa thu, tiếng hát hoà trong nước mắt. Những giọt mưa thu Việt Nam nhỏ xuống con phố nhỏ giữa khuya của Paris đang cuối đông. Lúc tôi leo vào taxi, hắn ngoái đầu lại, đưa tay lên và nói nhỏ Au revoir mon ami.
Hôm sau tôi trở lại Gare du Nord, không thấy bóng dáng hắn đâu. Tôi qua Gare de l’Est, một khu cũng lộn xộn không kém, cũng không thấy hắn. Hắn biến mất tăm. Những ngày còn lại ở Paris, tôi đi khắp nơi để tìm hắn, nhưng hắn đã biến mất như cây kim rơi vào đống sắt vụn. Biết đâu tìm.
Alain Delai! Với cái chân cụt đấy, bạn sẽ đi về đâu mà tìm không thấy?
Thôi thì cũng bắt chước hắn, tôi đến bên con đường lát đá có hàng dây leo tường vi, ngước nhìn lên trời và nói nhỏ Au revoir mon ami! 14.7.2011 Bastille Day Lễ Quốc khánh Pháp DODUYNGOC
Tôi nghe loa phóng thanh oang oang réo tên Trần Ngọc Dung làm tôi vừa mừng vừa hồi hộp. Tim tôi đập nhanh hơn, người tôi nóng bừng. Lúc đó, tôi không còn suy nghĩ được điều gì khác ngoài việc có giò chạy lẹ về nhà để báo tin cho má tôi hay là …tôi đã thì đỗ vào lớp đệ thất trường trung học Phan Thanh Giản. Không phải chỉ là một vinh dự vì được học ở một trường công lớn của tỉnh Cần Thơ, mà điều quan trọng hơn đối với riêng tôi là má tôi không phải trả học phí suốt bảy năm dài cho một trường tư nếu tôi thi rớt vô trường công.
Tôi chạy như bay về nhà. Nửa đường tôi sực nghĩ đến sự trùng tên: “Rủi có con nhỏ nào cũng tên là Trần Ngọc dung, cũng sanh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm với tôi thì sao?”. Tôi chậm lại. Tôi thầm tự hỏi, trong trường hợp này tôi sẽ phải làm sao? Nhưng chỉ mấy giây sau, tôi nghĩ đến số báo danh. Hai người có thể trùng nhau mọi chi tiết, những chắc chắn không thể trùng số báo danh. Như vậy thì còn sợ là ai khác nữa! Tôi đã bị thất vọng nhiều lần, nhiều hơn số tuổi của một đứa con nít, làm sao tránh khỏi mất tự tin.
Về đến nhà, tôi thấy má tôi ngồi may miệt mài như quanh năm ngày tháng má vẫn làm. Tôi rón rén lén vô sau lưng rút sợi dây điện ra khỏi ổ cắm điện; tức thì máy may ngưng. Má giựt mình quay lại thấy tôi, nhưng tôi không để bà hỏi, tôi vội nói: “Con đậu rồi!”. Bà không nói gì, nhưng vẻ mặt bà tươi lên, đôi mắt sáng ra, với nụ cười mãn nguyện. Tôi choàng ôm lấy lưng má, như để truyền niềm hạnh phúc tôi đang có sang cho bà.
Đó là kết quả của những ngày đêm cặm cụi học thi dưới nhà bếp, ở trường St. Paul, và ở lớp toán đặc biệt của thầy Ù. Những ngày cực hình đã qua. Hè này đi chơi cho thả cửa trả thù.
Mấy chị học trò của má cũng vui lây, giành nhau may áo dài cho tôi. Nhưng tôi lại không tha thiết với việc mặc áo dài, vì cứ nghĩ rằng áo dài chỉ dành cho người lớn, còn mình thì cứ quần cụt bằng kaki cho gọn.
Một lát sau, tôi trở lại trường Phan Thanh Giản, chen chúc trong đám đông các phụ huynh và thí sinh, cố đến gần tám bảng niêm yết danh sách các thí sinh trúng tuyển, để coi cho bằng được tên tôi trên giấy trắng mực đen cho thêm an tâm. Tôi nhẩm đọc đi đọc lại cả chục lần tên Trần Ngọc Dung, sanh ngày 24 tháng 5 năm 1946 tại Long Thạnh, Cần Thơ.
Chị Thuận cũng có tên trên bảng vàng. Điều đó đối với tôi là điều tất nhiên, vì Chị học rất chăm chỉ và thông minh. Chị luôn luôn là một trong ba người đứng đầu lớp. Tôi phục chị lắm, nên đã nghĩ rằng cuộc thi tuyển này đối với chị như ăn cơm bữa. Chị nhắm một con mắt cũng đậu. Trong khi đó, tôi không làm biếng, nhưng ham chơi, cứ vui trước, rồi trả nợ sau. Khi gần đến ngày thi, tôi phải học dồn học ép, mất ăn mất ngủ cả tháng trời. Điều tôi sợ thứ nhứt là làm má tôi buồn, và điều sợ thứ hai là phải học nhồi lớp, mắc cỡ với chị Thuận. Tôi hay thầm vái trời đừng bị học lớp tiếp liên.
Chiều hôm đó, chị Thuận và tôi rủ nhau đi quanh quẩn trong khu trường mới. Tôi nghe lòng vừa bồi hồi vừa hãnh diện. Bồi hồi vì tôi bước vào một giai đoạn mới, tương lai mở rộng trước trước mắt. Hãnh diện vì biết rằng mình không phải là… “đồ bỏ”. Thế là chị Thuận và tôi đã nối gót những người đi trước trong gia đình đã học trường này. Đó là ba của chị Thuận và các cậu.
Hai chị em tôi ngồi trong hành lang của trường, bên cạnh vừơn bông. Từ hành lang này, chúng tôi có thể nhìn thấy nhà mình bên kia đường Võ Tánh.
Chị Thuận là hình ảnh của người con gái dậy thì, dịu dàng và lãng mạn. Chị thích làm thơ và mê đọc sách. Chị mong đến ngày lên trung học để được mặc áo dài và được mang guốc cao gót. Còn tôi lại chỉ mơ được vào ban thể thao để chạy đua, mang giầy Bata trắng như con ông tỉnh trưởng. Tôi mơ được làm trưởng ban thể thao với hy vọng được phụ thầy Trần Ngọc Nhung, dạy lại các bạn cùng lớp.
Trong khi chúng tôi học thi, má tôi hứa, nếu chúng tôi thi đậu sẽ cho mỗi đứa một món quà. Chị Thuận muốn được thưởng cây viết Pilot ở tiệm Hồng Phát. Còn tôi lại mơ được uốn tóc! Chị Thuận hay hát nho nhỏ bên tai tôi “Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”. Mộng của hai chị em tôi đã thành. Cho đến ngày nay tôi còn nghe mùi thuốc uốn tóc đâu đây, và cả cái mùi khen khét trên cái đầu nặng trĩu với mây cây kẹp nóng. Tôi chọn uốn nóng vì rẻ hơn uốn lạnh.
Mấy chị học trò của má đều khen cái đầu quăn của tôi. Nhưng mấy ngày sau, khi ông ngoại tôi ra tỉnh để dẫn đám cháu đi mua sắm giấy mực cho ngày tựu trường, và cho chúng tôi đi ăn ở Túy Huế Lầu như mọi năm, thì cái đầu tóc quăn của tôi bị chê liền. Ông ngoại muốn cháu của ông phải giữ “tóc cha mẹ đẻ”. Hôm đó tôi biết tôi sẽ bị ông ngoại giận, nên định lấy khăn trùm kín tóc. Nhưng rồi tôi đổi ý, thử làm gan cho ông thấy cái đầu quăn. Lúc ông xuống xe lôi, bước vô nhà, tôi nhanh nhẹn chạy trước nhứt, khoanh tay chào:
“Thưa ông ngoại mới ra. Cháu thì đậu vô đệ thất rồi, ngoại”!
Trên khuôn mặt hiền từ của ông, nụ cười biến đi ngay khi ông nhìn thấy cái đầu quăn của tôi. Ông bực bội hỏi:
“Được cái đầu quăn mà để ông ngoại buồn, có xứng không”?
“Dạ không”. – Tôi trả lời yếu xỉu.
Ông không tha lỗi cho tôi dễ dàng như vậy đâu. Hôm đó, sau khi đi mua sắm cho các cháu, ông đưa chúng tôi tới tiệm Tuý Huê Lầu. Trước khi ngồi vào bàn, ông nói:
“Ông không ngồi gần mấy đứa đầu quăn đâu nhen”!
Tôi giành ngay cái ghế kế bên ông rồi nhõng nhẽo:
“Mà đầu quăn muốn ngồi kế ông ngoại”.
Chị em tôi cười rộ lên, chỉ có ông không cười thôi. Thò tay vô túi áo bà ba trắng của ông, tôi lấy ra bao thuốc, vấn một điếu rồi nhét vô giữa hai ngón tay của ông để chuộc tội. Mọi người nhìn tôi lắc đầu.
o O o
Từ ngày ở trong bưng biền ra Cần Thơ, năm Đệ Thất của tôi là năm đầu tiên tôi cho phép mình sung sướng, cho phép tôi vui với tuổi học trò, tôi bỏ dần lời hứa “hai năm” của ba tôi! Mấy chị học Đệ Ngũ cho rằng hai lớp Đệ Thất và Đệ Lục là hai năm học sung sướng nhất của tuổi học trò bậc trung học, rồi sau đó mới bắt đầu học hành chăm chú. Hai năm đó bọn tôi vừa là người lớn, vì lớn hơn đám học trò tiểu học, vừa là con nít vì nhỏ hơn mấy anh mấy chị lớp Đệ Ngũ trở lên.
Mới nhập học mà tôi đã có nhiều bạn, đủ thứ bạn. Người bạn là chị Nguyễn Thị Hiệp, trưởng lớp. Chị lớn hơn tôi chừng năm tuổi. Vì chiến tranh, nhiều người bị chậm trễ trong học hành, hoặc phải bỏ học để đi làm sớm, không phải chỉ riêng một mình chị Hiệp. Trong lớp tôi, có sáu chục học sinh đủ mọi lứa tuổi, từ 12 đến 19. Tôi thân với chị Hiệp nên lúc nào cũng kề sát bên chị, đến nỗi chị kêu tôi là “cái đuôi” của chị.
Cũng như ba tôi, ba chị Hiệp là Việt Minh, cùng người Issarak đánh đuổi giặc Tây. Má chị dẫn chị lên Nam Vang, và cho chị học một trường trung học Tây. Do đó, khi trở về Cần Thơ chị nói tiếng Việt không rành, và thiếu nhiều ngữ vựng. Chị phải học lại từ lớp Đệ Thất.
Lần đầu tiên gặp chị, tôi nói:
“Chị nói tiếng Việt như người Miên”!
Chị liền phản ứng:
“Merde, tại sao mày biết? Bộ mày là Miên hả?”
Rồi chị kể cho tôi nghe về ba má chị. Vì mới về Việt Nam, chị chưa hiểu gì về vấn đề an ninh nên không sợ công an quốc gia hỏi thăm.
Chị Hiệp học giỏi, vì đã có bằng trung học Pháp ở Cao Miên, chị thường “cúp cua” giờ Pháp văn và giờ toán. Đó chính là hai môn tôi rất kém. Chị chăm chú nhiều nhất là môn Việt văn. Ngoài ra, chị cũng cố gắng tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán của người Việt để trở lại làm người Việt chánh cống. Tôi thường nói đùa là chị suy nghĩ như một thằng Tây; còn tánh tình chị là tánh nóng của một người Miên, chỉ có máu Việt Nam trong người chị mà thôi. Một hôm, trong giờ Sử, chị không trả lời được câu hỏi của giáo sư. Chờ một hồi lâu, thầy phải cho chị ngồi xuống. Thế là chị xổ ra một tràng tiếng Pháp pha tiếng Miên. Tôi tò mò hỏi chị nói gì với thầy vậy, chị đáp:
“Tao nói: Merde! Tao đương điên cái đầu, nửa thằng Tây, nửa thằng Miên, bây giờ lại bắt tao trả bài của thằng Việt!”
Nói xong, chị gục đầu xuống bàn.
Chị Hiệp và tôi thường học bài chung với nhau, có khi ở nhà chị, có khi ở dưới bếp nhà tôi. Khi chúng tôi đã thật thân rồi, tôi tiết lộ bí mật gia đình tôi cho chị hay. Đó là chuyện ba tôi tập kết ra Bắc. Tôi cứ tưởng chị ngạc nhiên lắm, không ngờ chị lại nói:
“Tao biết rồi, biết từ hồi mới gặp mầy lần đầu kia, nhỏ à”!
Tôi hỏi làm sao chị biết? Có phải chị Thới ở Rạch Ngỗng cho chị biết không? Sở dĩ tôi nghĩ chị Thới, vì chị Thới cũng thuộc gia đình Việt Cộng. Nhưng chị Hiệp chỉ một ngón tay lên trán tôi thân mật đáp:
“Nhớ là tao lớn hơn mày năm tuổi nhen”.
Tình bạn giữa chị Hiệp và tôi vô cùng quý báu. Có một người bạn để tin tưởng và tâm sự ở cõi đời đầy lừa lọc, gian trá và nhiều đe doạ, không phải là dễ kiếm. Tôi đã sống nhiều năm trong cô đơn: có anh, anh đi tập kết; có chị, chị phải đi học xa nhà! Tôi khao khát tình phụ tử, nên càng rất cần có bạn. Chị Hiệp chợt xuất hiện như một vị cứu tinh của tôi lúc bấy giờ. Nhờ chị, tôi đã giành lại chỗ đứng danh dự dưới ánh sáng mặt trời; tôi không còn mặc cảm mồ côi cha. Đã vậy, cả hai chúng tôi cùng hãnh diện vì cha chúng tôi đều là những người yêu nước.
Chị Hiệp không thích nói tới chuyện thời sự. Mấy lần tôi nói chuyện nước non, chị gạt phắt đi. Chị nói:
“Mấy chuyện mắc dịch đó để cho mấy người ta lo; mình lo chừng nào đi vườn Thầy Cầu nè, vườn ổi nè”.
Thế giới của chị Hiệp lúc bấy giờ thật giản dị. Chị học phong tục, tập quán của Việt Nam, nhất là của tỉnh Cần Thơ. Chị gắng trở thành một người Việt Nam… thứ thiệt. Môn chánh là vườn Thầy Cầu, vườn ổi, bánh mì thịt của chú Lý Ngầu ở trong Cái Răng, và mấy anh học lớp Đệ Nhị, Đệ Nhứt. Vì vậy, mới năm Đệ Thất, chị Hiệp đã có bồ. Từ đó, chị không có nhiều thì giờ dành cho tôi. Nhưng mất chị Hiệp, tôi còn bạn khác. Đó là Lê Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thị Mai Bắc Kỳ, Lê Kim Lệ và chị Thuận. Tuyết, Lệ đều là dân “thổ sanh” tại Cần Thơ, nên Mai đối với chúng tôi là một người bạn vừa lạ, vừa vui tươi, vừa mới toanh. Mai là dân Bắc Kỳ di cư từ Hà Nội vô. Nhiều lúc giờ chơi, Tuyết và tôi kêu Mai là “Mai Bắc kỳ”. Mai không giận mà còn hãnh diện mình là “Bắc Kỳ” nữa. Mai hay trêu chúng tôi bằng cách kéo dài hai chữ “mình ên” theo giọng Nam.
Mai và gia đình di cư vào Nam năm 1954. Ba của Mai đã qua đời, chỉ còn mẹ. Chị cả của Mai là chị Thái Lan, rồi đến các anh Tuyến, Khuyến và ba người em là Minh Thu, Toàn và Hạnh. Lúc mới vào Nam, gia đình Mai ở Sài gòn. Khi chị Thái Lan bỏ về Ô Môn dạy học, cả gia đình đi theo chị. Với đồng lương nhỏ nhoi của một cô giáo tiểu học, chị Thái Lan nuôi một bầy em nhỏ. Người Nam lúc bấy giờ còn kỳ thị dân di cư, nhưng hàng xóm ai cũng thương gia đình của Mai. Ông thầy giáo Chín ở đầu hẻm gần nhà Mai tỏ ra mến phục chị Thái Lan lắm. Ông nói với má tôi:
“Tội nghiệp cô giáo Bắc Kỳ, một mình nuôi mẹ và một bầy em phá gạo. Bà già có tướng sang, chắc cũng là gia đình khá giả ở Bắc”.
Thái Lan không những là người con hiếu thảo, người chị yêu thuơng các em, mà còn là người có nhan sắc. Trong chị như một đoá hoa Lan mầu tím. Quanh năm suốt tháng chị Thái Lan mặc áo dài mầu tím.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Mai và tôi không hứa hẹn một tình bạn thân thiết. Cho đến ngày hôm nay, tôi chưa quên ngày nhập trường. Lòng dạ tôi vừa nôn nao hồi hộp, vừa sợ sệt, mến phục mấy chị các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ. Khi chúng tôi còn chờ đợi giờ vào lớp, bạn cùng lớp nói với tôi:
“Có con nhỏ Bắc Kỳ bên 7z giống mày lắm. Mới đầu, tụi tao tưởng mày đi lộn lớp”.
Tôi cười:
“Trên đời này chỉ có một Trần Ngọc Dung thôi”!
Tuy nói vậy, tôi cũng tò mò muốn biết mặt “con nhỏ Bắc kỳ” kia có thật giống tôi không? Giờ ra chơi, tôi chạy qua lớp 7z. Quả thật, tôi thấy con nhỏ đó giống tôi lắm; đến mái tóc cũng giống hệt tôi. Thiệt kỳ lạ! Tôi đứng ngoài cửa lớp nó một lát rồi ngoắc kêu nó ra. Lúc đầu, tôi thấy nó có vẻ hơi kiêu ngạo. Cặp mắt nó sáng long lanh, có vẻ tinh nghịch, lém lỉnh. Nụ cười ngây thơ nhưng duyên dáng với hàm răng trắng, đều dặn của con gái “Bắc kỳ” đã thu hút tôi. Tuy nhiên, cái vẻ thờ ơ, lạnh nhạt của nó làm tôi bực mình.
“Chị xuống đây lâu chưa?” Tôi hỏi trước.
“Năm năm”. Mai trả lời với giọng Bắc xa lạ.
Thật khó tin. Nếu tôi có người em song thai ở Cần Thơ năm năm, thì tôi phải biết nó từ lâu rồi.
“Năm ngoái chị học ở đâu?” Tôi hỏi.
Mai cho biết là nó học ở một trường tiểu học trên Sài gòn mà tôi không biết nơi đó. À, thì ra nó nói nó vô Nam năm năm chớ không phải “xuống” Cần Thơ 5 năm. Thấy nó có vẻ làm phách, tôi định không thèm làm quen với nó nữa. Nhưng khi nhìn kỹ mặt nó, tôi không đành quên nó, vì nó giống y tôi. Tôi đành miễn cưỡng hẹn nó:
“Giờ chơi kế tụi mình gặp nhau nhen”.
Mai liền trả lời:
“Giờ tan học.
Lời hứa của Mai làm tôi vui trở lại. Thế là từ chiều hôm chúng tôi thường gặp nhau sau giờ học. Dần dần, chúng tôi thành một đôi bạn thân, đi đâu cũng có nhau, như hình với bóng.
Nhà của Mai ở trong hẻm đường Võ Tánh, nhìn xéo qua trường nam tiểu học. Nhà tôi không xa nhà Mai mấy, nên hàng ngày tôi và chị Thuận đứng chờ nó trước cửa để cùng đi tới trường.
Sự thân thiết của chúng tôi giúp chúng tôi quên đi hoàn cảnh nghèo túng của cả hai gia đình. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi cười đùa vui vẻ như bài hát Summer Time mà tôi thường đàn cho Mai hát: “My daddy is rich and my mommy is good looking”. Chúng tôi cùng yêu âm nhạc, cùng là học trò giỏi của thầy Phan Thanh Thư. Tôi là người duy nhứt trong trường được nghe tiếng hát thuỷ tinh đó, vì Mai không bao giờ cho ai nghe tiếng hát của Mai.
Chúng tôi không có tiền đi coi hát bóng thường như chị em của Lê Thị Bạch Tuyết, nhưng hễ có dư đồng nào là xài hết ở hai nơi: một là tiệm sửa xe đạp; hai là nhà sách Văn Nhiều. Chúng tôi chỉ mua sách học và sách nhạc. Ngày cả khi không có một xu dính túi, chúng tôi cũng tới nhà sách Văn Nhiều, la cà cả tiếng đồng hồ. Ông chủ nhà sách là cậu Hai Văn Nhiều, bạn hồi nhỏ của má tôi, nên cậu biết tôi là con của “cô Tám”. Thỉnh thoảng đem cho sách chúng tôi. Nhưng có một người trong tiệm sách ghét chúng tôi lắm, vì chúng tôi cứ bắt anh lấy sách cho coi, hết cuốn này tới cuốn kia, rồi trả lại mà không mua. Yêu sách thì yêu lắm, nhưng tiền đâu mà mua hết những cuốn mình muốn. Coi cọp Văn Nhiều rồi lên Cái Khế mướn sách để coi tiếp tục. Chị Thuận nhiều tiền hơn tôi và Mai, nên chị mua sách, coi xong cho tôi và Mai mượn, với điều kiện là không được bẻ góc sách. Chị Thuận cưng sách lắm.
Mai nhớ Hà Nội nên thường nhắc đến Hà Nội với một giọng tự hào, như tôi hãnh diện về Cần Thơ của tôi.
“Gia đình tao tạm ở đây thôi, khi nào hết cộng sản tao trở về Hà Nội”.
Đó là lời chân thật của người bạn thân, nhưng tự ái của tôi cũng bị tổn thương, vì tôi vẫn nghĩ ở trên cõi đời này không có nơi nào đẹp bằng Cần Thơ, thanh tịnh bằng Cần Thơ và không có ai tử tế bằng người Cần Thơ. Vậy mà con nhỏ Bắc Kỳ này cứ đòi về Hà Nội là tại sao? Hà Nội nghèo nên người ta mới ăn cá rô cây mà!. Dù bị chạm tự ái, tôi vẫn thương Mai lắm, nên tôi giấu kín ý nghĩ đó.
Rồi mấy chục năm sau xa quê hương, tôi lại có tâm trạng của Mai hồi ấy. Một hôm, cùng chồng ngồi ngắm trăng, tôi đã nói:
“Trăng Cần Thơ sáng hơn trăng Hawaii”.
Một hôm khác, vợ chồng tôi ngồi trên cầu tầu ở Monterey Bay, California, chờ xem mặt trời lặn như hàng ngàn, hàng vạn người Mỹ khác đã từng làm để thưởng thức cảnh đẹp của quê hương họ. Vậy mà trên đường về nhà, tôi lại nói: “Trời chiều ở Cần Thơ đẹp hơn ở đây”.
Thì ra “không đâu đẹp bằng quê hương”. Buổi chiều trên đất vườn của ông bà ngoại tôi đều im lặng, như để dọn đường cho mặt trời đi ngủ. Nhưng trước khi lặn hẳn, mặt trời Cần Thơ có một vẻ huy hoàng đặc biệt, mà tôi cho rằng không đâu có. Không bao giờ tôi quên được những buổi chiều vàng trên cánh đồng yên tĩnh ở Bang Thạch. Tiếng mấy con ễnh ương tình tứ gọi nhau để đi ngủ với mặt trời. Tôi nhớ tiếng gà gáy khi trời vừa thức giấc vẫn vang động trong tâm hồn tôi, một kẻ sống xa quê hương cả nửa trái đất.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.