Echoes of VietNam
Post by Sơn râu 17 Jun 2026
Echoes of VietNam
Post by Sơn râu 17 Jun 2026
vietlondon@music
Post by Sơn râu 17 Jun 2026
vietlondon@music
Post by6 Sơn râu 17 Jun 2026
vietlondon@music
Post by Sơn râu 17 Jun 2026
vietlondon@music
Post by Sơn râu 17 Jun 2026
Erich Maria Remarque
Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben
Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 16 Jun 2026



Du kích!
Steinbrenner thè lưỡi liếm môi và nhìn thấy người Nga. Có hai người đàn ông và hai người đàn bà. Một người đàn bà còn trẻ măng, hai má phinh phình, gò má cao. Họ mới bị bắt sáng nay.
Graber nói:
– Trông không có vẻ quân du kích.
– Họ là quân du kích. Sao anh biết rằng không phải?
– Không có vẻ là du kích. Họ là nông dân thì phải hơn.
Steinbrenner cười:
– Nói như anh thì không bao giờ bắt được đứa giết người.
Graber thấy đại úy Rahe đến nơi, y nghĩ thầm: “Đúng thế. Mày tiêu biểu nhất cho loại người nhắm mắt làm liều”.
Rahe hỏi:
– Bây giờ định làm gì họ?
– Bắt được họ ở đây. Phải giam lại đến khi có lệnh.
– Rắc rối nhiều rồi. Sao không gửi về đồn?
Rahe không đợi trả lời. Đã lâu nay không đóng đồn ở nơi nào nhất định. Giả sử có thể làm được thì bộ tham mưu gửi người đến thẩm vấn và định đoạt.
Steinbrenner vội nói thêm:
– Ở đầu làng có một nhà giàu ngoài xây cái vựa cửa có khóa.
Rahe quay lại. Ông ta đã đoán ra ý của Steinbrenner. Đối với anh này thì người Nga vẫn muốn trốn ra ngoài để rồi rước lấy cái chết.
Rahe bảo Graber:
– Đem tù binh đi. Steinbrenner chỉ cho anh xem cái vựa khóa ở chỗ nào. Xem lại thật có cửa đóng không hay còn lối đi nào khác. Để một người ở đấy canh và trở ra lại cho tôi biết tin. Anh lấy người trong đội của anh. Coi có mình anh trách nhiệm thôi.
Một người tù binh đi khập khiễng. Người đàn bà già bệnh tật, người trẻ tuổi đi chân đất. Ra khỏi làng, Steinbrenner nhát vào lưng một người:
– Thôi đi đi.
Người này kinh ngạc quay lại. Steinbrenner cười ra hiệu thả cho họ đi:
– Tha cho mày, đi đâu thì đi!
Người Nga già nói mấy câu tiếng Nga, người kia không nhúc nhích. Steinbrenner đá y một cái.
– Đi không, con khỉ!
Graber bảo y:
– Thôi kệ họ. Anh không nhớ đại úy bảo gì à?
Steinbrenner thầm thì:
– Mình có thể để bọn chúng chạy, tôi nói mấy thằng đàn ông ấy. Họ chạy độ mươi bước thì ta cho mỗi thằng một phát là yên. Còn đàn bà thì nhốt lại, đêm nay đến kiếm con nhỏ kia.
– Thôi để yên cho họ, anh về đi. Tôi được lệnh chỉ huy.
Steinbrenner đưa mắt thèm muốn nhìn bắp chân người phụ nữ trẻ. Người này mặc váy ngắn hai chân rám nắng và cứng cáp. Y nói:
– Dù sao thì họ cũng bị xử bắn. Mình có thể gỡ tạm con bé kia một đêm. Anh thì anh không cần, anh mới nghỉ phép về.
– Câm miệng đi, hãy nghĩ đến vợ chưa cưới của anh. Đại úy bảo anh chỉ cho xem vựa củi đâu, thế thôi, đừng lắm chuyện.
Họ đi vào lối dẫn đền căn nhà sơn trắng.
– Kia kìa!
Steinbrenner tức giận chỉ cho xem một cái vựa còn nguyên vẹn.
Tường bằng đá, cửa đóng thêm một tấm lưới sắt chắc chắn, đứng ngoài có thể cài lại được.
Y mở cửa dẫn mấy người vào. Hai tân binh tay cầm súng đứng cạnh. Mấy người tù binh bước vào cái vựa chật chội, người nọ đi sau người kia. Graber khóa cửa và thử xem có chắc không. Cửa rất chắc.
Steinbrenner nhạo báng:
– Vào cũi nhé! Coi thật y như đàn khỉ! Ăn chuối không, lũ khỉ kia?
Graber quay lại với mấy người tân binh:
– Các em đứng đây coi. Các em chịu trách nhiệm nếu xảy ra chuyện gì. Rồi sẽ có người đến thay phiên.
Y hỏi mấy người Nga:
– Có ai biết nói tiếng Đức không?
Không ai trả lời.
– Rồi sẽ kiếm cho mấy người ít rơm.
Steinbrenner lại châm biếm:
– Sao không kiếm gối nữa?
– Thôi đi! Còn các em nên cố để ý canh phòng.
***
Graber về nói lại với Rahe và nhận lấy trách nhiệm về nơi giam tù binh.
– Anh trông coi họ với vài người nữa. Trong vài ngày khi nào tình thế sáng sủa, chắc là có người đến lãnh lấy nhiệm vụ ấy cho chúng ta.
– Vâng, đại úy.
– Hai người có đủ không?
– Đủ. Vựa ấy chắc chắn. Tôi có thể đến đây ngủ để canh.
– Đồng ý. Thế càng hay. Tôi đang cần huấn luyện tân binh gấp. Tin tức…
Bỗng Rahe ngừng lại:
– Chắc anh cũng biết rõ như tôi tình hình thế nào rồi. Thôi anh về.
Graber đi kiếm đồ đạc của mình. Y chỉ biết ít người trong đội, Immermann nói :
– Bây giờ anh trở thành người canh tù.
– Tôi thích như thế còn hơn dạy tân binh. Ít ra mình còn ngủ được.
– Tôi có cảm tưởng rằng anh không có thì giờ ngủ đâu. Anh có nghe tin tức không?
– Có. Thối chịu không nổi!
– Quân Nga thấu nhập tứ phía. Chỉ toàn là nói hoẹt, đại tấn công với tiểu tấn công, ở đây là đồng bằng khó mà chống đỡ. Tôi có cảm tưởng rằng chúng mình lại rút lui.
– Anh có cho rằng họ tiến đến biên giới thì thôi?
– Còn anh, anh có nghĩ thế không?
– Không.
– Tôi cũng không. Ai đứng ra mà điều đình.
Hẳn là không phải Tổng tham mưu rồi. Họ không gánh lấy trách nhiệm. Năm 1918, họ đùn việc ấy cho một chính phủ lâm thời cấp tốc thành lập. Mấy anh chính khách tưởng bở đưa đầu ra hứng lấy, ký thỏa ước đình chiến được tám ngày, họ bị lên án phản quốc. Ngày nay thì bại trận cũng toàn diện. Không có đảng chính trị nào để đưa ra điều đình. Graber chua chát:
– Trừ đảng của anh. Anh vẫn thường nói thế. Dù sao thì cũng chỉ là chính phủ độc tài khác, chính sách vẫn y hệt. Thôi tôi ngủ đây. Tôi chỉ cần được để yên cho mình muốn nghĩ gì thì nghĩ, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Từ ngày tả phái cũng như hữu phái lọt vào tay những người muốn làm tiên tri, thì tội ác tầy trời.
Nói rồi y lại hối hận đã tranh luận vô bổ với Immermann: đối với anh này cũng như đối với Steinbrenner không thể nào có đối thoại được. Y vác bị lên vai và ra xe thực phẩm. Một bát cháo đậu, một miếng bánh mì và một khúc xúc xích. Như vậy khỏi cần trở về làng cho đến sáng hôm sau.
***
Buổi quá trưa yên lặng một cách kỳ dị. Tân binh đã đi khỏi và đã mang rơm đến. Mặt trận vẫn không yên tiếng súng, nhưng suốt ngày không có báo động. Trước vựa củi, cỏ đã mọc tốt um. Tuy có nơi bị dày xéo và hố đạn, nhưng cỏ xanh tốt, từng khóm hoa nở dọc theo lối đi.
Graber khám phá ra phía kia lối đi còn có một tòa nhà có chỗ chưa bị phá, ở đấy có thể canh chừng vựa củi nhốt tù binh. Bước vào xem thì thấy còn vài cuốn sách. Những sách cổ đóng bìa da, gáy thếp vàng, nhưng nắng mưa đã làm hư, chỉ còn một quyển có thể đọc được, Graber không đọc được trang sách viết bằng tiếng Pháp, nhưng có nhiều hình chụp những phong cảnh nên thơ gợi nhớ đến cái buồn êm ái, y như bị thôi miên. Khi gập sách lại y còn thấy lòng nao nao nhớ nhung vô vọng.
Y bước vào lối đi dưới bóng cây và bên bờ hồ, đứng gần tượng một con thú còn đứng trơ trơ với điệu múa yên lặng giữa bụi gai. Con thú đã chỉ gãy mất hai sừng trong hai trận chiến tranh và cuộc cách mạng. Con thú đá cùng một thời với hình ảnh cuốn sách tiếng Pháp, nó đã chứng kiến một thời đại huy hoàng mà Graber chưa từng biết. Y ra đời thời thế chiến thứ nhất, lớn lên trong sự nghèo khổ và đảo lộn kế theo đó; y mới bắt đầu sống thực sự từ lúc có đệ nhị thế chiến. Y đi vòng hồ nước một lượt thì đến gần vựa củi bèn lấy tay thử lại tấm rào sắt. Chắc là trước kia không phải cửa sau vựa, sau này mới xây vào. Có lẽ chủ nhà này đã chết sau hàng rào sắt này.
Người đàn bà nằm ngủ. Người trẻ tuổi ở một góc nhà. Hai người đàn ông đứng nhìn trời. Thấy Graber họ cùng quay lại nhìn. Graber quay đi và ra ngả lưng trên bãi cỏ.
Một đám mây lững thững bay qua bầu trời. Chim ríu rít trong bụi. Một con bướm xanh la cà từ bông hoa này sang bông hoa khác trên hố bom. Một lát sau, con bướm nữa bay lại, hai con đùa giỡn, đuổi theo nhau. Ngoài mặt trận tiếng súng thêm mạnh. Hai con bướm giao nhau cùng bay cao lên trên không ấm áp và sáng lạn. Graber ngủ thiếp đi.
***
Đến tối, một tân binh mang canh lại cho tù binh, vẫn canh buổi trưa còn lại, nhà bếp đổ thêm ít nước. Anh ta đứng đợi ăn xong rồi cầm ga-men đi. Anh ta cũng mang lại cho Graber khẩu phần thuốc. Graber được nhiều hơn thường lệ. Điềm xấu. Khi nào thức ăn ngon và thuốc lá nhiều thì tai nạn lớn chẳng xa gì.
– Trưa nay tụi em phải tập thêm hai giờ. Bò sát đầt – ném lựu đạn – đánh nhau với lưỡi lê.
– Đoàn trưởng biết thế là cần chứ không phải ghét bỏ gì các em mà bắt phải tập tành khó nhọc.
Người tân binh gật đầu. Anh ta còn đứng ngắm nghía mấy người Nga như những con vật kỳ dị. Graber bảo y:
– Họ cũng là người.
– Cũng là người nhưng là người Nga.
– Thì hẳn là người Nga, thế thì sao? Cầm lấy súng, chúng ta đưa từng người đàn bà ra một.
Y quay lại nói qua rào sắt:
– Tất cả sang bên trái. Bà già ra trước, sau đến lượt những người khác.
Người Nga già nói mấy tiếng Nga. Tù binh nghe theo. Anh tân binh đứng cách vài bước, tay cầm súng. Người đàn bà già lại gần. Graber mở cửa cho ra rồi đóng cửa lại. Bà ta khóc chảy nước mắt, vì tưởng rằng bị đem ra bắn. Graber bảo người Nga già:
– Bảo cho bà ta biết rằng không sợ gì cả. Để đi tiểu tiện.
Ông già nói vài tiếng. Bà ta thôi khóc ngay, hai người dẫn bà ta ra một góc tường, đợi trở lại rồi dẫn về. Đến lượt người trẻ. Chị này đi thon thót và dẻo dang. Đến lượt đàn ông thì dễ dàng hơn. Chỉ cần dẫn ra sau nhà và đứng canh. Anh tân binh cẩn thận cầm súng bằng hai tay môi dưới thưỡi ra, mắt đăm đăm nhìn. Rồi anh ta đưa người đàn ông kia vào và đóng cửa.
Trở lại gần Graber, anh tân binh nói:
– Làm công việc này thú vị thật.
– Mỗi người có một cái thích. Thôi em mang đồ về đi.
Nói rồi y đặt súng xuống, đợi người tân binh đi khỏi y lấy thuốc ra đưa cho người Nga già bốn điếu, đánh diêm đưa qua rào sắt cho đốt thuốc, cả bốn người cùng hút. Bốn chấm đỏ trong chỗ mờ tối, thuốc hút vào làm sáng chút mặt người Graber nhìn người đàn bà trẻ, bất thần y nhớ đến vợ lạ lùng.
Người Nga già theo dõi mắt Graber bèn lẩm bẩm:
– Anh… tốt.
Hắn kề mặt gần gióng sắt:
– Đức thua trận. Anh người tốt.
Hắn hạ thấp giọng.
– Im mồm!
– Cho chúng tôi ra… Theo chúng tôi!
Khuôn mặt nhăn nheo quay ra nhìn người đàn bà trẻ và quay lại nhìn Graber.
– Nga đây… Theo Nga… Chúng tôi bảo chỗ trốn… sống với chúng tôi.
Hắn nhắc đi nhắc lại mãi.
Graber lắc đầu và nghĩ thầm: “Như thế không phải là một cách giải quyết. Không được. Nhưng thế nào là một cách giải quyết”.
Người Nga già nhắc lại:
– Sống… đừng chết… đừng làm tù binh… Anh tốt, đừng chết… tốt với chúng tôi… Chúng tôi không có tội…
Graber quay lưng lại. Giản dị quá! Trong ánh sáng mờ ngày tàn này, thật là giản dị! Có lẽ họ vô tội thật. Người họ không có khí giới và họ không có quân du kích. Hai người già thì rõ là vô tội rồi. “Nếu mình thả họ ra mình cũng làm được điều lành, mình đã cứu người vô tội. Nhưng không thể đi theo họ được. Mình không thể đi theo cái gì mình muốn bỏ trốn”. Bây giờ bụi cây đã in hình đen lên trên nền trời. Y trở lại vựa củi. Một điếu thuốc còn cháy ở trong rào sắt. Mặt người Nga già vẫn áp vào gióng sắt và lải nhải:
– Sống, sống với chúng tôi…
Graber lấy mấy điếu thuốc cuối cùng ra đặt vào bàn tay chai cứng người Nga già và cho thêm mấy que diêm.
– Sống… Anh còn trẻ… anh tốt… chúng tôi vô tội… sống, sống… mọi người sống…
Tiếng lải nhải như bài kinh nghe êm ái thâm trầm. Lão ta nói tiếng sống như người lái buôn nói bơ, như cô gái điếm nói tình, nói với giọng khẩn khoản đường mật và quyến rũ bỉ ổi. Bỗng dưng Graber giận sôi ruột.
– Câm ngay miệng. Nếu không, đi tố cáo lão bây giờ!
Y quay lại và rảo cẳng đi. Tiếng súng ở xa mỗi lúc thêm lớn. Sao bắt đầu lấp lánh. Bất thần sự cô đơn đè nặng xuống người, y lại tiếc cảnh màn trời chiếu đất mấy ngày trước. Hình như mình bị bạn bè bỏ mình khi phải quyết định một việc quan trọng.
Y nằm dài ra ổ rơm trong căn nhà nhỏ và cố ngủ một giấc. “Có lẽ họ sẽ tìm cách thoát thân được trước khi mình biết”. Y nghĩ vớ vẩn vậy nhưng biết rằng không có ai giúp thì họ không thể ra được.
Mặt trận có vẻ mỗi giờ mỗi tiến lại gần. Phi cơ bay khuất trên cao rầm rộ đi qua làng. Đã nghe rõ tiếng liên thanh khạc đạn. Rồi đến lượt tiếng ầm ầm bom nổ. Tiếng động dâng lên như nước thủy triều. Y nghĩ hoài: “Nếu có thể trốn được?”. Trở lại vựa củi thì thấy vẫn nguyên như cũ. Mấy người Nga có lẽ ngủ rồi. Nhưng hình như vẫn còn thấy khuôn mặt lão già. Y vội vàng chạy xa.
Đến nửa đêm thì không còn nghi ngờ gì nữa: trận đánh đang ác liệt. Trọng pháo bắn xa lắm, chẳng bao lâu nữa làng sẽ ở trong lằn đạn. Y biết rằng vị trí của mình rất xung yếu. Dù sao y cũng theo dõi sự tiến triển của trận đánh. Chẳng còn bao lâu nữa chiến xa sẽ kéo đến. Bom lửa bây giờ rung chuyển mặt đất, tiếng nổ dội đi dội lại khắp chân trời làm rung động con người thấu xương tủy. Y biết rằng chiến trường dâng lên như thủy triều, chẳng bao lâu sẽ đến chỗ y nằm, tuy nhiên y cũng có cảm tưởng rằng căn nhà trắng mỏng mảnh, bốn người Nga và chính y nữa là trung tâm của chiến trường, vận mệnh tùy thuộc có thế, và chỉ có thế.
Y trở đi trở lại, đến gần vựa củi, sờ mó chiếc chìa khóa trong túi, trở mình qua lại trong ổ rơm, mãi đến sáng mới chợp mắt được chốc lát.
***
Y giật mình tỉnh dậy. Trời u ám, chiến trường vẫn sôi động. Trọng pháo đã rót xuống làng và hậu phương. Y liếc mắt trong vựa củi. Cửa sắt vẫn nguyên vẹn, vẫn nom rõ mấy người Nga. Chợt thấy Steinbrenner hấp tấp chạy lại:
– Rút lui. Quân Nga đã chọc thủng phòng tuyến. Tụ tập tại làng. Mau lên! Tình thế hỗn loạn rồi. Thu xếp đồ mau đi.
Hắn dừng lại gần Graber:
– Còn mấy thằng Nga này phải thanh toán ngay đi.
Graber thấy tim mình đập mạnh.
– Lệnh đâu?
– Lệnh! Trời! Còn đợi lệnh gì nữa! Anh mà biết trong làng bây giờ thế nào thì anh không hỏi đến kỹ lưỡng như thế! Anh có nghe trọng pháo xung kích không?
– Có.
– Thế thì anh biết tình thế rồi. Mau lên! Không lẽ mình còn dắt chúng nó đi theo? Đứng ngoài mà bắn cũng được.
Cặp mắt xanh Steinbrenner sáng quắc. Hàm răng dưới đưa ra nom thật tàn ác. Y đưa súng lên vai.
– Không được. Tôi chịu trách nhiệm. Nếu không có lệnh thì anh cứ việc quay về.
– Được rồi, nếu anh muốn thanh toán lấy thì tôi để phần anh.
– Không.
– Dù sao thì một trong hai ta phải thanh toán. Nếu anh gớm tay thì cứ đi đi, để chúng nó cho tôi.
– Không. Anh không được bắn họ.
– Không được bắn?
Y ngước mắt nhìn Graber:
– Tôi không được bắn chúng nó? Anh có ý thức được lời anh nói không?
– Tôi ý thức được rõ, tôi biết rõ tôi nói gì.
– Tôi, tôi cũng biết anh muốn gì.
Mặt Steinbrenner biến sắc, y lấy súng lục ra. Graber đưa súng lên vai bóp cò. Steinbrenner lảo đảo té xuống với tiếng kêu như con trẻ, khẩu súng lục rời khỏi tay.
Graber nhìn xác Steinbrenner mà thất sắc. Một quả trái pháo rít bay qua làng. Y đến vựa củi lấy chìa khóa mở cửa.
– Đi đi!
Mấy người Nga đứng yên nhìn, không dám động đậy. Graber bỏ khẩu súng xuống đất cho họ yên lòng. Rồi giơ hai bàn tay không ra bảo họ:
– Đi đi!
Người Nga trẻ đặt một chân ra ngoài. Graber đến gần xác Steinbrenner và lẩm bẩm:
– Giết người!
Y cũng khồng hiểu rằng y nói gì. Y nhìn Steinbrenner bằng hai mắt trống rỗng.
Thình lình bao nhiêu ý nghĩ nổi lên. Một hòn đá đã đụng chỗ yếu làm ra trận lở núi.
Y đã có một hành động tối ư hệ trọng không thể gỡ lại được, bây giờ y cảm thấy nhẹ bổng, tự do. Y biết rằng mình phải làm cái gì, nhưng hình như y cũng biết rằng chỉ làm thêm một cử chỉ nhỏ y cũng đủ bay bổng lên không. Ý nghĩ quay lộn trong đầu. Y đi lại vài bước. Phải làm cái gì, cái gì có một tầm quan trọng vô cùng, nhưng y thấy mình chưa đủ sức lực. Y cảm thấy mình yếu quá, mới lạ quá và sáng suốt một cách đau đớn.
Y đưa mắt tìm mấy người Nga. Họ đang khom lưng chạy, đàn bà đi trước. Một người quay lại. Tay hắn có khẩu súng, hắn dừng lại chĩa súng vào Graber. Graber nhìn thấy nòng súng đen thui. Y muốn kêu lên thật lớn, y còn nhiều điều muốn nói…
Y không biết là mình trúng đạn. Bất thần y thấy trước mắt mình hiện ra cỏ xanh, một đóa hoa yêu kiều, cánh hoa thanh tú, nhị ửng hồng, hình ảnh lớn dần, như y đã từng trông thấy một lần không biết từ bao giờ. Cánh hoa nghiêng nghiêng tỏa lớn khắp chân trời, nở ra trong yên lặng, cánh hoa tỏa ra khắp bầu trời cái vũ trụ bình yên tí hon của nó, nó trở thành cả vũ trụ – hai mắt Graber từ từ khép lại.

dongsongcu.wordpress.com
Posted on November 7, 2023 by dongsongcu
Nguyễn Quân
Post by Sơn râu 16 Jun 2026
Theo nguồn tin từ trang nhà phòng quân số hải quân (Navy Personnel Command) thông báo các bản danh sách hải quân thiếu tá (HQ) được hội đồng thăng cấp hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ trung tá*. Và 3 thiếu tá thuỷ quân lục chiến (TQLC) được đề cử thăng cấp trung tá cho tài khóa năm 2024 (YF24). Trong số hàng trăm HQ thiếu tá và thiếu tá TQLC được chọn đề cử thăng cấp trung tá năm nay có 8 HQ thiếu tá và 3 thiếu tá TQLC gốc Việt.

Minh hoạ của facebook.com/MyNAVYHR/photos: HQ thiếu tá Diana Tran-yu, tiến sĩ dược khoa quân y hải quân.
Riêng bên tuần duyên Hoa Kỳ (U.S Coast Guard) cũng có 1 thiếu tá gốc Việt được đề cử thăng cấp trung tá.
Năm 2022, có 12 HQ thiếu tá gốc Việt được thăng cấp trung tá.
Năm nay Sĩ quan Hoa Kỳ gốc Việt có 1 thiếu tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line Officers), 1 thiếu tá ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) và 6 thiếu ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) được chọn đề cử thăng cấp trung tá.
Danh sách HQ thiếu tá gốc Việt ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted Line Officers) hiện dịch và trừ bị được chọn đề cử thăng cấp trung tá: Nguyen Dalton Khac; Mai Carolyn**.

Minh hoạ của alamy.com: HQ thiếu tá Nguyen Peter Minh Van, bác sĩ quân y hải quân.
Danh sách HQ thiếu tá gốc Việt ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và trừ bị được đề cử thăng cấp HQ trung tá: Duong Jacob Ly Nguyen; Nguyen Peter Minh Van; Tran Brian Daniel; Tranyu Diana Thy; Nguyen Thuy Le Thanh; Allbaugh Nguyet Nguyen**.
Danh sách thiếu tá TQLC gốc Việt hiện dịch và trừ bị được đề cử thăng cấp trung tá: THUONG H. KIEU; PHILONG HAC DUONG; R.A LIEN***. Thiếu tá tuần duyên gốc Việt được đề cử thăng cấp trung tá: JASON D. NGUYEN

Minh hoạ của linkedin.com: Thiếu tá Jason Nguyen, tuần duyên Hoa Kỳ (U.S Coast Guard).
Theo hệ thống thăng cấp sĩ quan hải quân (Navy Officer Promotion System) và sĩ quan TQLC Hoa Kỳ, thì sau 3 năm mang cấp thiếu tá, khoảng 70% sĩ quan thiếu tá sẽ được thăng cấp trung tá. Và theo Defense Primer: Military Officers – Updated December 1, 2021, thì hải quân Hoa Kỳ có 10722 HQ thiếu và 6756 trung tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active-Duty Military Officers).

Minh hoạ của commons.wikimedia.org: Thiếu tá TQLC Philong H. Duong (Hình chụp vào năm 2013, khi còn mang cấp đại uý tại chiến trường A Phú Hãn).
Cần biết thêm về các ngành của sĩ quan hải quân Hoa Kỳ, xin được tóm lược:
Ngành sĩ quan tác chiến (chủ lực) của hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers và sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).
Sĩ quan ngành tác chiến hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan hải quân không chiến (không quân của hải quân), sĩ quan chiến tranh đặc biệt hải quân ( lực lượng đặc biệt hải quân ). Những sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các phi đoàn không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.
-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến hải quân giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan kỹ thuật cơ khí, sĩ quan kỹ thuật hàng không, sĩ quan bảo trì phi cơ, sĩ quan tình báo hải quân, sĩ quan chiến tranh mật mã, sĩ quan tin học điện toán, sĩ quan giao tế ngoại giao, sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị), sĩ quan hải dương học, sĩ quan truyền tin hải quân và sĩ quan tài nguyên nhân lực. -Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, nha sĩ, điều dưỡng và chuyên viên y tế thuộc bộ chỉ huy quân y hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh ( công binh hải quân ) và sĩ quan tiếp liệu hải quân thuộc bộ chỉ huy tiếp vận hải quân; Sĩ quan luật sư quân pháp và sĩ quan tuyên úy tôn giáo trực thuộc bộ hải quân.

Hình minh họa của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu trung tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted line officers) hải quân Hoa Kỳ****
Theo tài liệu lưu trữ trên các trang nhà Navy Personnel Command và Congress.gov thì có trên 60 HQ trung tá gốc Việt đang phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ (Không tính nhiều vị đã hồi hưu).
Chúc 12 tân trung tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến trên đường binh nghiệp.
Nguyễn Quân
Chú thích: *ghi theo cấp bậc: HQ thiếu tá ( Navy Lieutenant Commander ) và HQ trung tá Hoa Kỳ ( Navy Commander ); **Ghi theo họ và tên 11 thiếu tá gốc Việt trên các bản danh sách; ***Có một sô thiếu tá hải quân, TQLC và tuần duyên mang họ và tên giống người Việt: được đề cử thăng cấp trung tá, nhưng không thể xác định được gốc Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa?; ****Cấp hiệu trung tá ngành chuyên môn phục vụ hải quân ( Staff Corps officers ) không có ngôi sao như thiếu tá ngành tác chiến hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn.
Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; marines.mil; military.com/navy/officer-ranks; public.navy.mil; pnj.com; en.wikipedia.org; bienxua-12 Hải Quân Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung tá năm 2022.
vanchuongviet
Nguyễn Lê Hồng Hưng
Post by Sơn râu 16 Jun 2026

| Tôi chưa từng thấy trên thế giới nầy có đầu nậu phân phối thực phẩm nào bất lương như đầu nậu ở Algeciras, Tây Ban Nha. Một thùng bôm, một thùng cam họ tráng trên mặt những trái tươi, phần dưới đáy toàn ủng. Thịt bò họ lấy từ thịt của mấy con toros trong trường đấu ra hay sao mà dai nhách, heo thì mỡ nhiều hơn thịt, cá toàn khúc đuôi. Trứng gà dập và ung đến gần phân nửa, còn gà thì da bầm tím, thịt bủng xì bủng xịt, phải xát muối, gia vị nhiều cho bớt mùi hôi rồi đem chiên thiệt vàng mới ăn được. Theo nguyên tắc đầu bếp phải kiểm hàng trước khi ký nhận. Nhưng ông đầu bếp trước hải hành đã đúng kỳ về mà hãng không cho người xuống thay. Ông nổi khùng đến nỗi bà vợ phải bay từ Hòa Lan qua Gia Nã Đại thăm. Khi bà xuống tàu, ông đâm ra lười biếng, không muốn làm việc. Tới phiên tôi đổi xuống, thì đồ đạc ông vứt ngổn ngang. Nệm, ra dơ không giặt, phòng không lau chùi, thùng rác đầy nhóc vỏ bia. Kho chứa lương thực thì lộn xộn. Đồ khô ông dồn vô phòng đông đá, có vài món cần đông đá ông nhét vô tủ lạnh. Không biết ông đặt hàng làm sao mà chỉ có ba chục ký lô gà, mười lăm ký cá, ba chục ký heo, trong khi thịt bò ông dến cho một trăm năm chục ký. May cái là khoai tây, đồ khô và rau cải đông đá đầy đủ cho một chuyến đi. – Thằng đầu bếp trước khùng dữ lắm. Tôi day lại, thấy ông thủy thủ người Tây Ban Nha đứng bên cạnh mặt đầy râu giọng nói nghe khó chịu. Tôi cười: – Dĩ nhiên, ở trên tàu lâu ngày ai mà hổng vậy. – Tao hải hành có khi cả năm nhưng có sao đâu. Mặt mày ông ở đó mà trăng với sao! Chót mũi đỏ bóng như trái cà chua chín, miệng mồm tái ngắt giống cái âm hộ bà già nằm ngang giữa chùn râu bùm xùm. Tuổi chưa đầy năm mươi mà đã lẫn, ăn nói lộn tùng phèo, hay bắt nạt những người mới và ưa đâm thọc sau lưng người ta. Tôi định nói xỏ vài câu cho ông thấm thía sự đời, nhưng thấy chuyện hổng đáng nên bỏ qua. *** Tàu rời Algeciras, vượt Đại Tây Dương sang châu Mỹ mất hơn tháng trời. Bây giờ đang trên đường về lại Âu châu. Lương thực cạn dần, thịt đông lạnh chỉ còn mỗi một thứ là thịt bò. Hôm ghé Baltimore, tôi với viên thuyền trưởng lên chợ mua thêm thức ăn, nhưng thấy ở Mỹ thứ gì cũng bự, ông chê không mua. Cuối cùng mua được hai thùng rau, ba vỉ trứng. Tôi đề nghị ông mua thêm ít thịt heo, thịt gà và dăm bông. Ông không chịu, biểu tôi ghi đơn đặt hàng để ông gởi về công ty. – Bên Âu Châu đồ ăn vừa rẻ vừa chất lương cao, ông nói, bây giờ trên tàu còn thứ gì thì ăn thứ đó, hễ tên nào ọ ẹ thì ông cứ việc cho tôi biết. Không hiểu sao ông nói vậy, chớ thật ra đồ ăn trong bên Mỹ rẻ hơn bên Châu Âu và chất lượng thức ăn tươi nào thì cũng ngang nhau. Để làm gương cho thủy thủ, mỗi bữa ăn ông ăn rất ít rồi buông dao nĩa và ngồi ngó từng người. Anh nào ăn nhiều quá ông lưu ý bằng cách đếm từng miếng dăm bông, phó mát và từng lát bánh mì, làm anh đương ăn có muốn ăn thêm cũng phải buông dao, nĩa. Viên thuyền trưởng tuy có hơi quá đáng, nhưng trên một chiếc tàu buôn loại trung, thủy thủ đoàn đâu trên chục mạng đủ đầu, vậy mà lắm khi có tới bốn năm quốc tịch khác nhau. Từ người có bằng cấp đại học cho tới tên đặc cán mai, hễ đụng tới chuyện ăn uống thì tánh bần tiện thằng nào cũng lộ rỏ như nhau. Trình độ khác, văn hoá khác… nếu thuyền trưởng kỷ luật không nghiêm thì khó mà trị nổi cái đám người tạp nhạp. Công bằng mà nói, thức ăn trên tàu luôn lúc nào cũng dư, ngoài những tuyến đường dài rau cải tươi hết, phải dùng rau hộp, rau đông đá cho nên chất lượng kém. Nhứt là những ngày sóng to gió lớn, người nào không say sóng thì cũng ương ương khó chịu như đàn bà ốm nghén, vậy mà hễ ló mặt vô bếp là hỏi: – Bếp, hôm nay cho ăn món gì? Ngày nào đầu bếp cũng nghe câu hỏi y chang. Người hỏi lúc nào cũng chờ câu trả lời đúng như ý mình ưa thích. Tuy nhiên thực đơn của đầu bếp ít không khi nào vừa miệng cho tất cả mọi người. Nấu nướng khó khăn nhứt trong những lúc biển động và hết đồ tươi. Họ cũng thừa biết mấy tuần qua trong tàu chẳng còn cao lương mỹ vị nào, nhưng hỏi để tỏ thái độ bất bình với đầu bếp chơi vậy thôi. Không muốn cãi cọ lôi thôi, tôi tìm cách giả lả với họ: – Tui cho ăn thịt bò, từ đây về lại Âu châu các anh sẽ mọc sừng. Mùa xuân ở Tây Ban Nha có đấu toros, các anh có thể qua đó thi tài. Câu khôi hài của tôi cũng có duyên lắm chớ, nhưng không làm ai cười được hết. Trái lại có tên mặt dài ra và còn chưởi tục nữa. Theo quy định trên tàu, thủy thủ nào có sinh nhựt đầu bếp phải làm cho một cái bánh kem hoặc bánh táo, nếu có thể được thì bửa ăn ngày hôm ấy dọn thêm một vài món đặt biệt. Có tên thèm ăn quá phịa đại ra cái ngày sinh nhựt và đề nghị đầu bếp làm bánh cho hắn. Khi đầu bếp xem lại trong danh sách thủy thủ đoàn, thấy không phải sinh nhựt sinh nhiếc gì của hắn hết bèn kêu hắn mắng cho một chặp. Từ đó về sau hễ gặp mặt đầu bếp thì mặt hắn ta gầm gầm như là gặp kẻ thù. Có tên vừa xuống tàu lập tức đi tìm đầu bếp kể lễ đủ thứ bịnh trong người và những món ăn hắn ta cần phải kiêng cử, rồi đưa ra thực đơn những món hắn ta ăn được, nhưng toàn là những món trong nhà hàng ba bốn ngôi sao. Nếu muốn chiều theo khẩu vị của loại người nầy, phải đề nghị công ty mướn một đầu bếp quốc tế và đặt hết thực phẩm trong siêu thị đem xuống họa may mới đủ phục vụ. Ngày nào đầu bếp cũng chứng kiến vài gương mặt bị bịnh thèm ăn riết cũng chán. Ðể khỏi phiền phức, trong lúc làm việc Bếp cấm cửa không cho tên nào ló vào. Thỉnh thoảng cũng có vài tên vô bếp thăm chừng hỏi nầy hỏi nọ, bị đuổi ra làm hắn ta bực mình: – Hỏi cũng có vấn đề sao? Xin thưa, nếu chỉ hỏi thôi thì đâu có vấn đề gì. Vấn đề là sau cái câu trả lời của đầu bếp, nếu trả lời trúng ý thì hắn cười tươi hai bàn tay chập lại chà chà miệng xuýt xoa khen ngon, bằng không thì hắn ôm bụng như bị bịnh tim la lâu ngày không trị, mặt nhăng như khỉ ăn gừng, miệng phung phèo phèo và chê thức ăn dơ. Hồi còn phụ bếp, tôi thấy rất nhiều đầu bếp khó tánh, thủy thủ nào lỡ hỗn láo, mấy ông liền nổi tam bành lục tặc, chửi thề ỏm tỏi. Vì kỷ luật trên tàu nên trước mặt họ nhịn ông, nhưng sau lưng thì rình đổ thuốc rửa chén lên đĩa xà lách hoặc đổ muối vô nồi xúp phá chơi cho bõ ghét. Sau nầy tôi trở thành đầu bếp, thấm thía cảnh làm dâu trăm họ và nhận thấy lối cư xử trịch thượng quá thường bị thiệt cho mình. Tôi tập tánh nhẫn nhục và ôn hòa với mọi người, nhưng với một đám người phức tạp, có muốn giữ được sự công bằng trong việc ăn uống cũng không dễ dàng gì. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, làm gà tôi chặt gà từng miếng nhỏ ướp gia vị, chiên vàng sắp vô đĩa cho đẹp, dọn lên bàn cho lịch sự. Mấy tên ăn trước lựa thịt ngon cho vô đĩa mình chừa lại xương, cánh vụn vặt. Mấy người sau không ăn được bèn bưng dĩa xương vụn vô mắng vốn đầu bếp. Về sau thịt nào mặc kệ, trước khi chiên, nấu cứ đếm đầu người chặt chia đều mỗi người một cục cho xong. Ý vậy mà vẫn lắm chuyện, đôi khi sắp đánh lộn với nhau chỉ vì cái trứng hay cái bánh ngọt. Có nhiều đêm bực mình muốn xách dao qua phòng cắt cổ cái tên dám hỗn láo với tôi và đem xác liệng xuống biển làm mồi cho cá. Có một thủy thủ người In-đô không ăn được bánh mì, mỗi bữa điểm tâm anh thường xin tôi mì gói. Hôm rày mì gói cũng hết, anh ta đến than với tôi: – Bên In-đô sáng trưa chiều tối đều ăn thức ăn nóng, còn Âu châu ăn đồ nguội ngắt lạnh tanh. Tôi từ tốn giải thích với anh ta như vầy: – Tui biết, ở In đô của anh cũng như ở Việt Nam của tôi ăn ngày ba bữa cơm hoặc khoai lang, nhưng cơm phải nấu, khoai lang phải luộc mới ăn được, cơm nóng ăn đơn giản với cá khô, xì dầu, ketjap cũng xong. Bên Âu châu có nhiều thức ăn tuy nguội nhưng hợp vệ sinh. Sống tập thể, anh phải tập cho quen với mọi người, chuyện gì tui hổng biết chớ chuyện ăn uống những nước nghèo như mình không bì kịp người ta đâu. Vì ngẫu hứng tôi lên lớp dạy anh ta hồi nào không hay, đợi đến khi nét mặt anh méo mó dài thòng, tôi mới dừng lại thì đã muộn màng rồi. Món ăn cũng là một trong những thứ biểu hiện văn hóa của dân tộc. Có lẽ tôi đã chạm tự ái dân tộc của anh nên từ đó trở đi anh hay xỉa xói, nói mỉa tôi là người Âu chớ không phải là Việt nữa. Ai cũng có một quê hương để tự hào, anh In đô kia cũng vậy, tôi không thể trách anh ta. Trứng gà cũng sắp hết nên tôi bớt phần trứng mỗi tuần hai lần trong bữa điểm tâm. Nhưng sáng nào cũng như sáng nấy, ông Tây Ban Nha thức trước hơn mọi người, lấy bánh mì trét bơ để lên đĩa rồi xin tôi một trứng. Ông tự tay chiên vàng, xong bưng vô phòng riêng ăn. Lần đầu tôi không nói, ăn quen ông làm lừng, buộc lòng tôi phải lên tiếng lưu ý. Tức thì mặt ông thụng ra một đống, sau đó tới màn kiếm chuyện: – Vài ngày nữa tàu ghé Santander, mầy lên bờ mua thêm thức ăn ? Tôi nói: – Được, nhưng tiền đâu ? – Thuyền trưởng. Ông nói chuyện ăn trớt như vậy thử hỏi làm sao tôi im được. Tôi ngó thẳng cái bản mặt râu nhiều hơn thịt của ông và lớn tiếng: – Tôi đã nói với ông rồi, đơn đặt thực phẩm tui làm xong và đã đưa ông thuyền trưởng gởi về công ty hôm ở Baltimore. Ông chờ vài hôm nữa sẽ có đồ ngon cho ông ăn, còn bây giờ có gì ăn nấy. – Nhưng mầy là đầu bếp thì phải lo cho đàng hoàng. – Ông khỏi phải lo, tui hổng để ông chết đói đâu, nhưng yêu cầu ông đừng vô đây làm phiền tui nữa. Chẳng lẽ mỗi chút mỗi lên tâu với thuyền trưởng, hơn nữa vì lễ nghĩa Á đông dạy tôi kính trọng người tuổi tác, tôi mới chịu khó giải thích dông dài. Ba trợn cỡ như ông và ông thợ máy, gặp phải đầu bếp thiếu tương tâm hoặc hung dữ mà ăn nói lăng nhăng như vậy nó không chửi vô mặt cũng cho ông ăn đàm và nước miếng hoặc lấy nước trong toilet pha trà, cà phê cho uống. Chuyến nầy đi có hai ông già, thứ già lựu đạn, ăn nói lộn sòng. Ông thợ máy cũng sắp sỉ sáu mươi. Hôm nọ còn hai cái bánh ngọt cuối cùng, tôi lấy cho thuyền phó ăn, ông biết được bèn chạy xuống bếp gặp tôi, la ó om xòm, nói sao không chia cho ông một cái. Rồi từ đó trở đi, hễ tới giờ cà phê là ông nhắc tới hai cái bánh ngọt. Trên bàn ăn của officer, bữa trưa ăn nóng dọn năm món; buổi sáng, buổi chiều bánh mì đen, trắng, phó mát, thịt nguội, mứt trái cây và nước trái cây đủ loại, sửa cà phê, bánh mì đen trắng… Người In đô thì cơm trắng cá hoặc thịt và rau coi như xong bửa. Thật ra người In đô thích ăn thịt rìa có nhiều mỡ, thứ thịt đầu bếp lạng bỏ họ nhưng xin lại và nhờ đầu bếp ướp gia vị theo bếp In Đô, nhờ có nhiều gia vị nên khi chiên, nấu bốc mùi thơm lừng. Mỗi bữa ăn ông thợ máy cứ ngó qua phòng thủy thủ, mũi hít hít lắm khi chịu không được ông nhào qua bốc ăn và khen ngon rồi vô bếp phân bì. Hôm nhận được điện tín báo sau chuyến nầy ông được nghỉ hưu, ông mừng rỡ cầm bức điện xuống khoe với mọi người. Sau đó ông vô bếp trong lúc tôi đương chiên thịt. Mặt ông hớn hở như trẻ nhỏ được quà, ông khoe: – Tấn, dìa chuyến nầy tao được nghỉ hưu. Tôi gắp miếng thịt ra khỏi chảo, chưa kịp bắt tay chúc mừng thì ông vội nói tiếp: – Tao hải hành đúng bốn mươi hai năm. Nhắc cái chảo để ra khỏi lò, tôi day ngang bắt tay ông: – Chúc mừng ông, tuổi ông nghỉ ngơi cũng vừa rồi, nhưng Chủ Nhựt đừng quên dẫn bà và con Kees đi nhà thờ. – Dĩ nhiên, dĩ nhiên… Chợt nhớ ra, ông nói : – Nhưng nhà thờ đâu được phép dẫn chó vô. Có lẽ tôi phải nhắc chuyện con Kees trước khi tiếp tục chuyện của ông . Hơn mười năm về trước. Ông thợ máy cuối độ tứ tuần, tánh tình ông tuy có hơi nhỏ nhặt nhưng chưa quá đáng như bây giờ. Thời gian trôi qua như con nước chảy, ông đã già, còn tôi thì sấp sỉ bốn mươi. Ông cưới vợ Bồ Đào Nha, cư ngụ ở thủ đô Lisboa. Có lần ông tâm sự, vì sợ hao tốn và ngại cực, bà không chịu sanh con, nhưng nuôi một con chó nhỏ xíu đặt tên nó là Kees. Dạo đó tàu đi tuyến đường Lisboa – Angola. Hễ mỗi lần tàu về Lisboa, bà thường dẫn con Kees xuống thăm ông. Một bữa tôi đương dọn dẹp, Kees đi vô ủi mỏ, hít hít dưới chưn, sẵn thức ăn thừa tôi liệng xuống cho. Liệng bao nhiêu nó đớp hết bấy nhiêu… Ăn no bụng, Kees chạy đi đâu tôi cũng không để ý. Đến lúc bà phát hiện con chó nằm ngửa chổng bốn cẳng lên trời, miệng chảy nước, hơi thở đứt đoạn, bà tá hỏa tam tinh chạy vô phòng bếp, hỏi tôi : – Bếp, bếp, hồi nãy ông cho con Kees ăn gì ? Tôi nói : – Tui cho nó ăn đồ thừa. – Không được, không được! – Tại sao không ? – Con Kees có thức ăn riêng. Tức thì bà chạy kêu ông ôm con chó lên nhà thương cứu cấp. May mà con Kees được cứu sống, bằng không tôi chắc phải ra tòa, vì đối với ông bà sinh mạng con Kees còn quí hơn mạng người nữa. Mỗi lần đổi xuống gặp ông, tôi hỏi thăm sức khỏe của bà mà không hỏi đến con Kees thì ông cũng tự nói ra. Mới đây ông cho tôi biết sức khỏe của con Kees yếu lắm, mới vừa rụng hết mấy cái răng. Như vậy con Kees sẽ cùng về hưu với ông luôn một thể. Trở lại chuyện với ông, tôi nói : – Tôi nghe nói ở Âu châu chó chết chủ mướn linh mục đọc kinh trước khi chôn, vậy thì chó cũng biết nghe kinh chớ. Ông giơ tay gạt ngang trán một cái: – Mấy người đó là mấy người khùng, tao thì không như vậy. Thấy ông ngây ngô trả lời những câu khôi hài của tôi giống y như thiệt, chợt nhiên tôi nghe buồn buồn trong dạ. Nhìn mặt ông nhăn nheo, da tay sần sùi như rắn lột, hơi thở tỏa ra mùi ống cống làm tôi liên tưởng đến một xác chết. Còn sống chung chạ với nhau, nhỏ nhen, tham lam, ích kỷ. Đến cuối cuộc đời đầu óc lẫn lộn, tối tăm nằm chờ xuống lỗ. Giờ đây tôi mới thấy thấm thía câu sanh già bịnh chết của nhà Phật. Thiệt ra ông và ông già Tây Ban Nha làm ra vẻ mình là quan trọng vậy thôi chớ ăn uống có là bao. Muốn nói chuyện ăn uống nhiều thì hãy nói đến mấy thủy thủ trẻ. Một ngày tôi làm được có ba ổ sandwich, mỗi ổ dài hai tấc tám, bánh dành xắt miếng để ăn điểm tâm và ăn dậm thêm buổi chiều. Mấy ông con thấy đồ ăn còn ít, sợ chết đói hay sao mà mỗi đêm lấy ăn hơn cả ổ bánh mì, nửa ký phó mát, một đĩa dăm bông. Hết dăm bông, phó mát, mấy ông ăn qua mấy hũ mứt trái cây và đậu phộng nghiền… Tôi biết nhưng làm lơ. Một hôm sơ ý làm sao hổng biết, để cho ông già thợ máy bắt gặp. Sáng hôm sau ông tâu lên thuyền trưởng. Ngay ngày hôm đó, thuyền trưởng đề nghị tôi sau giờ ăn chiều đem tất cả đồ ăn để vô phòng lạnh rồi khóa cửa kho lại. Thức ăn mà đem dấu như mèo dấu cứt, thiệt tình thì cũng khó coi. Nhưng lịnh của thuyền trưởng biết làm sao bây giờ. Ngồi trong phòng tôi vẫn cảm được cái lạnh mùa xuân trên miền bắc Đại Tây Dương. Gió thổi ào ào, sóng ập thành tàu, nước biển văng lên va vô cửa kiếng xào xạc. Không gian đen thẫm một màu và con tàu vẫn ngả nghiêng theo triền sóng. Có tiếng nắp vung rớt xuống sàn bếp nghe cái xèn. Tôi đứng dậy định đi xuống coi chuyện gì, nhưng kịp sựng lại, vì mũi tôi vừa nghe mùi thơm của mì ăn liền. Khỏi cần xuống bếp, tôi cũng thừa biết có một vài thủy thủ khi biết thức ăn sắp cạn, xống kho chôm mì gói để dành, chờ mọi người ngủ bèn lén xuống bếp nấu ăn. Để anh bạn nào đó ăn cho ngon miệng, tôi tắt đèn, leo lên giường trùm mền. Trong khi thiêm thiếp, đầu óc tôi cứ chập chờn so đo. Vốn sống và lớn lên một đất nước nghèo và trong thời kỳ chiến tranh. Tôi cứ nghĩ trong cơn loạn lạc đói, khát mới có chuyện miếng ăn đã làm con người trở nên thấp kém. Chớ tôi đâu có ngờ ở nơi thức ăn thừa mứa, cũng có loại người chỉ vì miếng ăn mà trở nên bần tiện đâu khác gì. |
| Nguyễn Lê Hồng Hưng |
Lâm Chương
Post by Sơn râu 16 Jun 2026



Tôi trở lại Phnom Penh, tìm đến cái nhà trước đây trạm trú, hỏi về người dẫn mối. Người ta không biết kẻ kia ở đâu. Hóa ra đây là nhà cho thuê giường ngủ. Lòng tôi bời bời trăm mối lo toan, nát óc nghĩ không ra lẽ. Về không được, ở không xong.
Vợ nói: “Mình có thể buôn bán.”
Tôi hỏi: “Vốn đâu?”
“Em còn một ít tiền mặt và năm phân vàng. Anh còn hai chỉ.”
“Anh làm gì có?”
Vợ chỉ vào bụng tôi: “Nó còn trong ấy. Không chạy đàng nào.”
“Tính mổ bụng anh hả?”
“Gì mà trầm trọng thế? Trước sau gì, nó cũng tự động ra thôi.”
“Nếu nó không ra?”
“Thế thì nguy cho anh.”
“Thôi, chuyện ấy tính sau. Bây giờ, lo tìm chỗ ngủ đêm nay.” Tôi nói.
Vợ đề nghị: “Thuê giường ở đây.”
“Thuê giường một đêm, họ cứa cũng bộn bạc. Mình phải tiết kiệm.”
Tôi dẫn vợ con lên chợ Ô Hòa Xây, khu chợ chính của thủ đô Phnom Penh, tìm người Việt làm quen. Trước nhà lồng chợ là dãy phố buôn bán, tập nập kẻ lại người qua. Đặc biệt có một gian nhà không bày hàng. Ngoài hành lang có những người đàn bà Việt ngồi lê trên những manh chiếu. Bên trong kê mấy cái giường sắt. Tôi rà rê tới làm quen. Vợ con tôi đứng ủ rũ sau một chiếc xe bán nước mía.
Thấy tôi, một chị hỏi: “Đấm bóp hả?”
Tôi nói: “Không. Chỉ tìm người quen.” Và bịa ra một cái tên, hỏi chị ấy có biết không.
Chị bảo: “Không biết. Sẵn dịp lại đây thì đấm bóp đi anh. Trông anh có vẻ bơ phờ lắm. Đấm bóp giác hơi cho giãn gân cốt, máu huyết lưu thông là khỏe ngay.”
Tôi lắc đầu, cười gượng.
Thêm vài chị rỗi việc bu đến. Tôi áp dụng bổn cũ soạn lại khi còn ở Kongpong Xom với cụ già mài dao, rằng tìm người bà con không gặp, nên bị lỡ đường. Xin họ giúp cho một chỗ ngủ qua đêm.
Một chị nói: “Anh về với bọn tôi đêm nay.”
Tôi chỉ về phía xe nước mía: “Còn có vợ con tôi nữa.”
“Gì mà đông thế? Kêu lại đây. Đứng xớ rớ, coi chừng bị giật đồ.”
Vợ con tôi đến. Những người đàn bà nhìn, dò xét.
“Đi tìm việc hả?”
“Không. Tìm người bà con.”
“Đừng có xạo, cha nội. Tôi biết là đi tìm việc.”
Chị khác, ngó vợ con tôi: “Chị này trông còn ngọt nước lắm. Còn con bé này có thể bưng cà phê bán dạo cho các bạn hàng trong chợ.”
Vợ tôi hỏi: “Chị nghĩ em có thể tìm được việc ở đây không?”
“Ở đây à? Định cạnh tranh nghề nghiệp với bọn tôi hả?”
“Không. Em đâu biết đấm bóp. Việc khác kìa.”
“Đàn bà con gái lên đây, đừng hòng tìm được việc gì khác, ngoài cái việc làm đĩ. Nhưng ông anh chịu cho vợ mình làm không?”
Vợ tôi xám mặt: “Xin chị đừng nói chơi.”
Chị trề môi: “Mệnh phụ, tiểu thư lúc khốn cùng túng quẫn cũng thành gái ăn sương. Ở đó mà khư khư giữ lấy cái nghìn vàng.”
Vợ tôi cúi đầu nhẫn nhục. Lòng tôi tan nát. Cái tình đồng hương trên xứ lạ, sao nghe như muối xát gừng cay.
Không muốn vợ ngồi đây để nghe những lời xúc phạm, tôi bảo: “Em dẫn con đi mua đồ ăn cho nó.”
Vợ con tôi kéo nhau qua chợ mua cơm. Mỗi phần cơm, có con cá nướng bằng ngón tay, được gói trong chiếc lá sen. Cả hai ngồi bên lề đường, bốc từng nắm cơm uể oải cho vào miệng. Nắng chiều nghiêng đổ xuống hai mẹ con một màu tàn phai héo hắt. Con tôi không còn cái vẻ hồn nhiên tuổi nhỏ. Mặt nó vô hồn ngơ ngác. Còn khuôn mặt của vợ tôi, phảng phất một chút gì hờn tủi.
Tôi xót xa, muốn bỏ đi. Nhưng giữa nơi ồn ào phồn tạp quê người, tôi biết đi đâu?
Trong khi tôi ngồi đấy, có một người đàn ông Miên bước vào. Mặt sạm đen, nhễ nhại mồ hôi như thoa một lớp dầu bóng. Lưng áo cũng ướt đầm. Nhìn cách ăn mặc, tôi đoán chừng ông ta là phu khuân vác trong chợ. Các chị tranh nhau mời chào. Không biết họ sang đây hồi nào mà rành tiếng Miên thế? Ông khách đứng quan sát từng chị, so sánh chọn lựa một nhan sắc. Các chị ra vẻ tươi cười. Cũng vẫn những cái miệng này, mới đây đã phát ra những âm thanh cú diều với vợ tôi, bây giờ lại thốt những lời dịu dàng dễ thương chi lạ. Ông khách chỉ vào một chị. Chị vui vẻ liếng thoắng dẫn khách vào phía trong. Có lẽ đã từng là khách hàng đấm bóp nhiều lần, ông khách tự nhiên trút bỏ quần áo bên ngoài, chỉ còn độc cái quần xà lỏn màu đỏ chói, nằm sấp xuống chiếc chiếu trải sẵn trên nền xi măng.
Tôi hỏi một chị ngồi kế bên: “Sao không để người ta nằm trên giường?”
“Giường làm kiểng thôi. Nó lung lay như chiếc răng sắp rụng.” Chị nói.
Tôi lần vào phía trong, xem cách làm việc ra sao. Chị lau mồ hôi cho khách bằng chiếc khăn nhàu nát. Chiếc khăn đã từng lau cho hàng trăm người. Lau xong, chị xòe hai bàn tay chém lia lịa đều khắp trên lưng người khách. Những ngón tay va vào nhau, kêu lách chách.
Sau màn dần lưng, chị lên ngồi trên mông khách, đùi dang ra hai bên. Chị nhích tới nhích lui, bóp từ trên vai xuống tới thắt lưng. Khách có vẻ khoái, nằm nghiêng đầu qua một bên, mắt lim dim hưởng thụ. Dùng sức nhiều, trán chị lấm tấm mồ hôi, nhưng mặt tươi tắn yêu đời. Tiền. Chính mãnh lực đồng tiền đã biến đổi người đàn bà cáu gắt trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng chị ngừng tay, lau trán với chiếc khăn vẫn lau mồ hôi cho khách. Khoảng đôi phút, chị xoay qua màn khác. Chị dùng ngón trỏ và ngón cái, kẹp từng miếng thịt trên lưng khách kéo lên. Và bàn tay kia phạt ngang như nhát chém. Một hồi, lưng khách ửng đỏ trên làn da vốn đã sạm màu. Rồi chị xòe hai bàn tay chà xát thật mạnh dọc theo hai bên sống lưng. Sau đó, chị dùng mười đầu ngón tay kéo mảng thịt trên lưng khách. Mười ngón tay nhanh như những cái chân con rít, đùa mảng thịt thành gợn sóng chạy dài từ thắt lưng lên tận bả vai. Chị thụt về phía sau, chồm lên phía trước theo mỗi gợn thịt đùa từ dưới trở lên. Cái háng dạng ra, tới lui chà lết trên mông người đàn ông. Động tác làm tôi liên tưởng chuyện tục.
Bất ngờ chị hỏi: “Muốn học nghề để truyền cho vợ hả?”
Tôi lắc đầu cười gượng, và bỏ ra ngoài hành lang. Thà tôi gặm cỏ cạp đất mà ăn, chứ không để vợ làm cái nghề dị hợm này!
Chiều sắp tàn. Khách càng đông. Họ cần đấm bóp giác hơi để tìm chút thư giãn sau một ngày lao động chân tay vất vả. Phía trong không đủ chỗ, các chị trải chiếu ra tận ngoài hiên. Những ông khách cũng dễ tính, họ xoay trần nằm sấp trên hiên, kế bên lề đường có bao nhiêu người qua lại. Người đi đường cũng không tò mò dòm ngó. Họ đã quen mắt nên coi đấy là chuyện thường.
Các chị làm việc lăng xăng. Tôi kiên nhẫn chờ một chỗ tá túc qua đêm. Lại có dịp coi thêm màn giác hơi.
Giai đoạn này, chị đấm bóp không ngồi trên mông khách. Bộ đồ nghề là những cái lọ thủy tinh bầu tròn cỡ trái quít. Chị thắp ngọn đèn dầu nhỏ. Dùng cái que, một đầu có đính cục bông, nhúng vào lọ dầu, châm lửa. Chị cầm nghiêng cái lọ, thọc ngọn lửa vào quậy quậy, và rất nhanh, chị chụp xuống. Cái lọ hút dính vào lưng. Từ miệng lọ da thịt phù lên. Chị làm nhanh tay và thiện nghệ. Cứ thế, từng lọ, từng lọ được chụp xuống, trông như những chiếc bong bóng nổi đầy trên lưng khách. Chị để yên đấy, và khách cũng nằm im. Trong thời gian chờ đợi, chị ngồi hút thuốc. Chị giải thích, phải chờ cho máu bầm tụ lại, sau đó sẽ đánh tan đi. Làm thế, máu huyết lưu thông, sẽ hết nhức mỏi và tránh được bệnh thời khí cảm mạo thông thường. Tàn điếu thuốc, da thịt phù lên trong lọ cũng bầm tím. Chị cầm từng chiếc giựt ra, mỗi lần giựt kêu bốc một tiếng. Lưng khách bây giờ, nổi đầy những vết bầm hình tròn. Chị lau sơ, và thoa đều một lớp dầu mỏng cho trơn. Thoa dầu xong, chị chỉ dùng một cái ống giác, thọc ngọn lửa vào quậy, và chụp nhanh xuống lưng khách. Chị kéo cái ông giác chạy lên chạy xuống, đều khắp trên lưng. Đây cũng là giai đoạn chót của màn giác hơi. Xong, chị lau sạch lớp dầu lần cuối cùng, và vỗ nhẹ trên lưng khách vài cái, báo hiệu mọi việc đã hoàn tất. Khách đứng lên vươn vai, mặc lại quần áo. Trông khách khỏe ra, mặt mày tươi tỉnh.

Huy Phương
Post by Sơn râu 16 Jun 2026



Ngày xưa còn bé, tôi như mỗi lần cô tôi về nhà, than thở chuyện gia nương, buồn phiền chuyện chồng con, thì bà nội tôi lúc nảo cũng khuyến giải cô tôi nên học lấy chữ “nhẫn.” Bà thường giải thích trong nghi thức cưới hỏi, lễ vật lúc nào cũng có chiếc nhẫn làm đầu, đó là vật tượng trương cho tình vợ chồng, sống với nhau thì phải nhẫn, nhịn nhau cho qua lúc, đế có hạnh phúc suốt đời. Có lẽ nhờ học được chữ nhẫn, nên gia đình cô dượng tôi sinh hết thảy được mười hai đứa con, hiện nay con đàn cháu đống, mặc dầu sau tháng tư năm 1975 ly tán khắp nơi, nhưng con số đếm cùng dể chừng lên đến hơn trăm. Trong cách xứ thế thì mẹ tội lúc nào cũng mở kinh nhật tụng, khuyên con luôn luôn nhịn nhục, “chín bỏ làm mười,” cho rằng “một sự nhịn thì chín sự lành hay”chữ nhẫn là chữ thếp vàng, ai mà nhẫn được thì cảng sống lâu!” nên đi học thì bị bạn bè hiếp đáp, ra đời ngây ngô, nhũn nhặn, vẫn thường chịu cảnh “trâu chậm uống nước đục.” Những ngày cuối tháng tư năm ấy, bị cấp chỉ huy ra lệnh ôm chặt đơn vị cho đến phút tan hàng rã ngũ, biết bị ép, nhưng vẫn “nhẫn” để cho “xếp” có thời gian cao bay xa chạy. Cha tôi thì ảnh hưởng Khổng học, mọi điều theo kinh điển “Khổng Tử viết” (Đức Khổng Tử nói …) là chân lý, là kết luận cuối cùng không cần bàn cãi. Trong Phật Giáo có nói đến dức “Nhẫn Nhục Ba La Mật.” Đối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ. làm bức não nơi thân, mình cũng cam chịu, không phàn nàn hay chống cự lại. Đây là chịu đựng về thể xác là “thân nhẫn.” Thân đã nhẫn chịu không chống lại người và miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rùa độc ác, trước những lời nhục mạ, chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay đánh đập tàn nhẫn, gọi là “khẩu nhẫn.” Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán giận, không nổi lên ý phản đối, những tư tưởng hắc ám để trả thù gọi là “ý nhẫn.” Trong Luận Ngữ có ghi chuyện ông Từ Trương và chữ “Nhẫn” của Đức Khổng Khâu như sau:
Ông Từ Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên:
Khổng Từ nói: – Chữ Nhẫn đứng dầu trăm nết!
Từ Trương hòi lại: – Làm sao phải nhẫn?
Đức Khổng Tử trả lời: – Thiên Từ mà nhẫn thì nước không sinh hại. Chư hầu mà nhẫn thi nước sẽ mạnh lớn
thêm. Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến. Anh em mà nhẫn thì cừa nhà giảu sang, Vợ chồng mà nhẫn thì ở với nhau được trọn đời. Bạn be mà nhẫn thì thanh danh không mất. Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ!
Từ Trương hòi lại: -Nếu không nhẫn thì sao?
Đức Khổng Tử đáp:- Thiên Từ không nhẫn thì nước sẽ trống không. Chư hầu mà không nhẫn mất mạng, Quan chức mà không nhẫn thì sẽ bị hình phạt. Anh em mà không nhẫn thì sẽ chia rẽ. Vợ chồng không nhẫn thì sẽ xa nhau. Tự mình không nhẫn dược tất không tránh dược lo lắng! Ông Từ Trương thần phục mà kêu rằng:- Phải lắm! Phải lắm!
Nhìn chung, trong triết lý sống, chỗ nào cũng đề cao chữ nhẫn.” Nho giáo cho rằng “Nhất định phải Nhẫn mới có thể thành công. Khoan dung thì đức sẽ lớn”. Khổng giảo nói:”Việc nhỏ không nhẫn, tất loạn việc lớn, bậc quân tử không có tranh giành.” Lão giáo nói: “Thiên Đạo không tranh mà Thiện thắng, không nói mà Thiện ứng”. Phật giáo giảng: “Trong sáu phép đo và hàng vạn phương pháp tu hành, Nhẫn’ là đệ nhất.” Không ai không nhắc nhỡ về đạo “Nhẫn” ở đời.
Chữ nhẫn dùng trong gia tộc, nhẫn với vợ chồng, anh em, bạn bè, ruột thịt thì dễ hiểu. Thiếu chữ nhẫn thì vợ chồng đưa đến ly dị, chia cắt, anh cm, bạn bè chẳng muốn nhìn mặt nhau. Nhưng “nhẫn” ứng dụng cho thiên tử (cấp lãnh dạo), chư hầu (tiểu quốc) và quan lại (cán bộ) như đám Cộng sàn Việt Nam ngày nay thì nhẫn mang theo nhục. Cách đây mấy năm, chế độ cộng sản Trung cộng quyết định phục hồi ý thức hệ Khổng Tử, đặt tượng Khổng Tử ngay ở quãng trường Thiên An Môn, phải chăng qua hơn nửa thế kỷ, từ ngày Trung Quốc thành Trung Cộng, đạo lý suy đồi, nhân tâm ly tán, Khổng giảo bị lên án như lời của Mao Trạch Đông: “Khổng Tử là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến!” mà nay chế độ cộng sản lại muốn phục hồi Khổng giáo, vì trên thế giời này chế độ cộng sản hiện nay quả là phong kiến hơn phong kiến. Xưa Vua là tối thượng, nhưng trong chế độ cộng sản, lãnh tụ là tối ưu. Xưa bầy tôi có thể can gián Vua, nhưng ngày nay đi nói nguợc lại ý Đảng có thể dễ dàng bị quy tội gián diệp, chống phá, lật đổ chính quyền, bị thanh trừng, thủ tiêu như dưới chế độ Staline, Mạo Trạch Đông và cả Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở Việt Nam. Khổng giáo với cộng sản như đen với trắng, như ngày và đêm.
Khổng Tử luôn nhấn mạnh đến nhân, nghĩa, lễ trí, tín, có nghĩa là con người phaả có lòng thương người, thương vạn vật (Nhân), phải hành động theo đúng lẽ phải, hợp đạo lý (Nghĩa và Lễ); phải có suy nghĩ (Trí) và phải giữ niềm tin (Tín). Trong khi đó thì con người cộng sản phải là: “một kẻ vô đạo đức, một thằng ăn cắp, một người lợi dụng thời cơ, một dứa hối lộ,” như lời Netchaïev, đồ đệ của Bakounine, của Marx và Eingels (Theo Jacques Attali – K. Morx ou Pesprit du monde trang 404- nhà xuất bản Fayard-Paris). (Chu Chỉ Nam- Báo Tổ Quốc -2011)
Chúng ta thấy gì trong chế độ cộng sản ngày nay: đạo đức suy đổi, giáo dục, y tế xuống cấp. Những con số về nạn phá thai, đĩ điếm, tội phạm xã hội tăng vọt, tham nhũng, đàn áp, bất công lan rộng, Để cứu vãn tình trạng này, không có gi khác hơn là phục hồi Khổng Giáo, nhưng Khổng giáo không thể đi song hành với chù nghĩa Mác, Lê Nin. Nhưng phải nói trong hoàn cảnh Việt Nam ngày nay chưa Júc nào Vua Quan đảng cộng sản là thực hành lời dạy cua Đức Khổng ráo riết như bây giờ:
– Sợ Trung Cộng nên Thiên Tử (lãnh đạo) phải nhẫn, nhịn nhục ca tụng 16 chữ vàng.
– Coi mình như chư hầu của Tàu nên Việt Nam phải nhẫn nhục, thà mất nước, để khỏi mất chức, mất đàng, đã bán đất bán biển, lại chịu nhục để ngư dân bị bắn giết, lạy lục bọn Tàu. Trong khi Philippines thề chống Trung Quốc “đến người cuối cùng” thì Cộng Sản Việt Nam kết án hai sinh viên 7 và 8 năm tù chỉ vì viết khẩu hiệu: “Tàu Khựa hãy cút đi”
– Quan chức Cộng Sản hết lòng theo lời Khổng Tử khuyên thực hành chữ “Nhẫn.” “vì quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến, không nhẫn thì phải bị trừng phạt!” nên đảng viên thành đàn cừu, bịt mắt che tai, cung cúc tận tụy hết lòng với đảng để có đặc quyền đặc lợi. Phục hồi Khổng Giáo là phải, để rồi cả đám vua quan trong nước, như Từ Trương, đắc ý, mà đồng tình gào lên:
“Phải lắm! Phải lắm! Nhẫn ngày nay, nhiều khi đã thành hèn nhát. Nhẫn này hẳn phải đi theo với … nhục! Mà lại là quốc nhục.
