Những mùa gió trên đất thấp

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

“Trên vùng đất thấp Flevoland – nơi con người đã kiên gan kéo đất lên từ đáy biển Hà Lan – những mùa gió không ngừng thổi qua cánh đồng phẳng lì, qua những cánh quạt gió khổng lồ quay đều trong sương lạnh. Giữa không gian tĩnh lặng và trống trải ấy, một người tha hương đứng lặng, nghe tiếng gió hòa lẫn với tiếng lòng mình.  Những buổi sáng Dronten mờ sương, những con đê ngăn biển IJsselmeer buồn buồn, những buổi chiều nắng đỏ nhạt trải dài… tất cả gợi lên nỗi nhớ da diết về quê nhà – nơi nắng vàng rót xuống mái lá ven sông, nơi tiếng ghe đánh cá ra cửa vàm vẫn vang vọng trong ký ức. Tha hương không chỉ là khoảng cách địa lý, mà là khoảng trống trong tâm hồn, nơi quê hương luôn hiện diện bằng sự vắng mặt đầy nghẹt thở. Đây là những trang tùy bút viết từ miền đất thấp lạnh lẽo, về nỗi cô đơn, về ký ức, và về chút ấm áp còn sót lại giữa những mùa gió lạnh. NT”  

Có những ngày tôi cảm giác như mình đang sống trong một thế giới được tạo ra từ những khoảng trống. Khoảng trống giữa những cánh đồng phẳng lì. Khoảng trống giữa những con đường dài không một bóng người. Và khoảng trống giữa tiếng gió và tiếng lòng mình. Vùng Flevoland, nơi đất được người Hà Lan bỏ công sức kéo lên từ đáy biển, nó mang một vẻ đẹp vừa kiêu hãnh, vừa mong manh, nhưng rất bền bỉ. Tôi thường nghĩ: có lẽ chính sự mong manh ấy khiến người ta dễ nhớ về những gì đã được vay mượn từ thiên nhiên, những thứ chưa từng thực sự thuộc về con người. Vì vậy mà người chiếm hữu gìn giữ, bằng tất cả lòng biết ơn.  Buổi sáng ở Dronten, thi thoảng mùa đông bắt đầu bằng một lớp sương mỏng, trông như bàn tay vô hình nào đó trải tấm khăn voan trắng lên mặt đất. Tôi bước ra khỏi nhà, đi qua những hàng cây trơ trụi, nghe tiếng gió và nhìn những cánh quạt gió khổng lồ nhẹ xoay. Chúng quay đều, không vội vã, không ngừng nghỉ, như thể thời gian ở đây không trôi đi mà chỉ xoay vòng. Tôi nhìn chúng và tự hỏi: liệu đời người có khác gì? Chúng ta đi, rồi dừng, rồi lại đi, nhưng cuối cùng vẫn quay về những câu hỏi cũ kỹ mà không bao giờ có câu trả lời chắc chắn.  Có những lúc, giữa cái lạnh cắt da của mùa đông Hà Lan, tôi bỗng nhớ đến hơi ấm của quê nhà. Nhớ những buổi chiều nắng vàng chiếu xuống mái nhà lá ven sông, nhớ tiếng rao quen thuộc của người bán hàng rong, nhớ cả mùi khói bếp cay mắt. Và nhớ tiếng ghe ra bãi đánh cá vô, ra cửa vàm. Còn ở đây, mọi thứ đều sạch sẽ, trật tự và im lặng đến mức khiến tôi sợ. Sợ rằng nếu mình lỡ cất lên một hơi thở dài, nó cũng sẽ vang lên quá lớn giữa không gian tĩnh lặng này. 
Tôi thường lái xe chạy dọc theo con đê xuyên qua biển hồ bên trong là Markermeer, bên ngoài là  IJsselmeer. Con đê không dài, cũng không thẳng; mùa này lạnh và hơi buồn. Tôi dừng lại khoảng giữa con đê, đứng giữa không gian trống trải ấy, và chợt thấy mình như một kẻ không thuộc về đâu. Nước biển vỗ nhẹ từng nhịp lên bãi cát, tạo thành những âm thanh đều đặn như nhịp tim của một sinh thể khổng lồ. Tôi nhìn ra xa, nơi đường chân trời mờ đi trong sương, và nghĩ về quê nhà – nơi ấy đường chân trời cũng là biển, nhưng hiện lên hòn đảo thẫm xanh. Mỗi nơi có một vẻ đẹp riêng. Nhưng vẻ đẹp nào cũng có cái giá của nó. Và cái giá của vùng nước này là làm cho người lữ thứ, dù quen hay lạ, cũng phải chạnh lòng nhớ nhung.  Tuy mùa đông rất lạnh, nhưng vẫn có những ngày nắng đẹp. Có những buổi chiều, khi mặt trời lặn sau những cánh đồng của vùng đất thấp, ánh sáng đỏ nhạt trải dài như một vệt ký ức.
Tôi đứng yên, nhìn bóng mình kéo dài trên mặt đất, và chợt nhận ra: tha hương không chỉ là đi xa, mà là mang theo một nơi chốn không bao giờ trở lại nguyên vẹn. Quê hương trong trí nhớ luôn đẹp hơn, ấm hơn và gần hơn thực tại. Nhưng chính vì vậy mà nó cũng đau đớn hơn.  Giữa những ngày dài lê thê ấy, hình bóng quê hương lại hiện lên như một vệt sáng mong manh. Không rõ ràng, không cụ thể, nhưng đủ để khiến tôi khựng lại. Quê hương như một câu hỏi mà càng cố quên, càng nhớ nhiều. Có những lúc, tôi tự hỏi: nếu quê hương tốt đẹp hơn hay tồi tệ hơn, thì sự hiện diện của tôi ở đây liệu có làm cho Hà Lan bớt lạnh không? Hay chính vì quê hương không ở đây mà tôi mới cảm nhận được trọn vẹn cái lạnh của miền đất thấp này? Rắc rối thật. Từ lúc rời xa quê hương, tôi mới hiểu rằng thương quê hương không phải là giữ bên mình, mà là mang theo trong từng suy nghĩ, từng bước chân, từng hơi thở. Quê hương không ở đây, nhưng sự vắng mặt của nó lại đầy đến mức khiến tôi nghẹt thở, nhất là mỗi khi nghe tin dữ từ quê nhà. Có lẽ vì vậy mà mỗi lần đi qua những con kênh tĩnh lặng trong vùng, tôi lại thấy bóng quê hương phản chiếu trên mặt nước. Không phải thật, mà là hình bóng của một điều gì đó tôi đã bỏ ở phía trời xa. Giờ tôi như đôi cánh đã mỏi.
Không còn bay được như trước, không còn mơ những giấc mơ lớn lao. Tôi chỉ mong một điều rất nhỏ: một nơi để trở về, một hơi ấm để xua đi cái lạnh của những mùa đông dài bất tận. Nhưng đời sống không phải lúc nào cũng cho ta điều ta muốn. Nó chỉ cho ta những câu hỏi, rồi bắt ta sống chung với chúng. Có những đêm, gió Bắc thổi qua cửa kiếng, lạnh đến mức tôi tưởng như nghe được tiếng quê hương nứt vỡ trong lòng mình. Tôi nằm đó, nhìn trần nhà trắng toát, và nghĩ về những điều đã qua. Nghĩ về quê nhà, về những ngày tôi còn trẻ và tin rằng mình có thể đi bất cứ đâu mà không đánh mất điều gì. Giờ thì tôi biết: mỗi bước đi đều có cái giá của nó. Nhất là cái giá của sự tự do, đôi khi, là một nỗi cô đơn không thể gọi tên. Nhưng dù vậy, tôi vẫn đi. Vẫn sống. Vẫn cố gắng tìm một ý nghĩa nào đó trong những ngày dài ở miền đất thấp này. Có lẽ ý nghĩa ấy không nằm ở nơi tôi đến, mà nằm ở cách tôi nhìn thế giới. Nằm ở việc tôi có thể đứng giữa một cánh đồng vùng đất thấp lạnh lẽo mà vẫn tìm thấy chút ấm áp trong ký ức. Nằm ở chỗ tôi có thể nhìn cối gió quay và nhận ra hình ảnh của chính mình – mệt mỏi, nhưng vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, có lẽ điều giữ tôi lại không phải là vùng đất này, mà là ký ức về một nơi đã xa không thể về, nhưng đủ ấm để tôi còn muốn lưu lại nơi đây giữa những mùa gió không ngừng thổi qua đời mình.

Dronten, 28–12–2025
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Tôi trở lại Phnom Penh, tìm đến cái nhà trước đây trạm trú, hỏi về người dẫn mối. Người ta không biết kẻ kia ở đâu. Hóa ra đây là nhà cho thuê giường ngủ. Lòng tôi bời bời trăm mối lo toan, nát óc nghĩ không ra lẽ. Về không được, ở không xong.

Vợ nói: “Mình có thể buôn bán.”

Tôi hỏi: “Vốn đâu?”

“Em còn một ít tiền mặt và năm phân vàng. Anh còn hai chỉ.”

“Anh làm gì có?”

Vợ chỉ vào bụng tôi: “Nó còn trong ấy. Không chạy đàng nào.”

“Tính mổ bụng anh hả?”

“Gì mà trầm trọng thế? Trước sau gì, nó cũng tự động ra thôi.”

“Nếu nó không ra?”

“Thế thì nguy cho anh.”

“Thôi, chuyện ấy tính sau. Bây giờ, lo tìm chỗ ngủ đêm nay.” Tôi nói.

Vợ đề nghị: “Thuê giường ở đây.”

“Thuê giường một đêm, họ cứa cũng bộn bạc. Mình phải tiết kiệm.”

Tôi dẫn vợ con lên chợ Ô Hòa Xây, khu chợ chính của thủ đô Phnom Penh, tìm người Việt làm quen. Trước nhà lồng chợ là dãy phố buôn bán, tập nập kẻ lại người qua. Đặc biệt có một gian nhà không bày hàng. Ngoài hành lang có những người đàn bà Việt ngồi lê trên những manh chiếu. Bên trong kê mấy cái giường sắt. Tôi rà rê tới làm quen. Vợ con tôi đứng ủ rũ sau một chiếc xe bán nước mía.

Thấy tôi, một chị hỏi: “Đấm bóp hả?”

Tôi nói: “Không. Chỉ tìm người quen.” Và bịa ra một cái tên, hỏi chị ấy có biết không.

Chị bảo: “Không biết. Sẵn dịp lại đây thì đấm bóp đi anh. Trông anh có vẻ bơ phờ lắm. Đấm bóp giác hơi cho giãn gân cốt, máu huyết lưu thông là khỏe ngay.”

Tôi lắc đầu, cười gượng.

Thêm vài chị rỗi việc bu đến. Tôi áp dụng bổn cũ soạn lại khi còn ở Kongpong Xom với cụ già mài dao, rằng tìm người bà con không gặp, nên bị lỡ đường. Xin họ giúp cho một chỗ ngủ qua đêm.

Một chị nói: “Anh về với bọn tôi đêm nay.”

Tôi chỉ về phía xe nước mía: “Còn có vợ con tôi nữa.”

“Gì mà đông thế? Kêu lại đây. Đứng xớ rớ, coi chừng bị giật đồ.”

Vợ con tôi đến. Những người đàn bà nhìn, dò xét.

“Đi tìm việc hả?”

“Không. Tìm người bà con.”

“Đừng có xạo, cha nội. Tôi biết là đi tìm việc.”

Chị khác, ngó vợ con tôi: “Chị này trông còn ngọt nước lắm. Còn con bé này có thể bưng cà phê bán dạo cho các bạn hàng trong chợ.”

Vợ tôi hỏi: “Chị nghĩ em có thể tìm được việc ở đây không?”

“Ở đây à? Định cạnh tranh nghề nghiệp với bọn tôi hả?”

“Không. Em đâu biết đấm bóp. Việc khác kìa.”

“Đàn bà con gái lên đây, đừng hòng tìm được việc gì khác, ngoài cái việc làm đĩ. Nhưng ông anh chịu cho vợ mình làm không?”

Vợ tôi xám mặt: “Xin chị đừng nói chơi.”

Chị trề môi: “Mệnh phụ, tiểu thư lúc khốn cùng túng quẫn cũng thành gái ăn sương. Ở đó mà khư khư giữ lấy cái nghìn vàng.”

Vợ tôi cúi đầu nhẫn nhục. Lòng tôi tan nát. Cái tình đồng hương trên xứ lạ, sao nghe như muối xát gừng cay.

Không muốn vợ ngồi đây để nghe những lời xúc phạm, tôi bảo: “Em dẫn con đi mua đồ ăn cho nó.”

Vợ con tôi kéo nhau qua chợ mua cơm. Mỗi phần cơm, có con cá nướng bằng ngón tay, được gói trong chiếc lá sen. Cả hai ngồi bên lề đường, bốc từng nắm cơm uể oải cho vào miệng. Nắng chiều nghiêng đổ xuống hai mẹ con một màu tàn phai héo hắt. Con tôi không còn cái vẻ hồn nhiên tuổi nhỏ. Mặt nó vô hồn ngơ ngác. Còn khuôn mặt của vợ tôi, phảng phất một chút gì hờn tủi.

Tôi xót xa, muốn bỏ đi. Nhưng giữa nơi ồn ào phồn tạp quê người, tôi biết đi đâu?

Trong khi tôi ngồi đấy, có một người đàn ông Miên bước vào. Mặt sạm đen, nhễ nhại mồ hôi như thoa một lớp dầu bóng. Lưng áo cũng ướt đầm. Nhìn cách ăn mặc, tôi đoán chừng ông ta là phu khuân vác trong chợ. Các chị tranh nhau mời chào. Không biết họ sang đây hồi nào mà rành tiếng Miên thế? Ông khách đứng quan sát từng chị, so sánh chọn lựa một nhan sắc. Các chị ra vẻ tươi cười. Cũng vẫn những cái miệng này, mới đây đã phát ra những âm thanh cú diều với vợ tôi, bây giờ lại thốt những lời dịu dàng dễ thương chi lạ. Ông khách chỉ vào một chị. Chị vui vẻ liếng thoắng dẫn khách vào phía trong. Có lẽ đã từng là khách hàng đấm bóp nhiều lần, ông khách tự nhiên trút bỏ quần áo bên ngoài, chỉ còn độc cái quần xà lỏn màu đỏ chói, nằm sấp xuống chiếc chiếu trải sẵn trên nền xi măng.

Tôi hỏi một chị ngồi kế bên: “Sao không để người ta nằm trên giường?”

“Giường làm kiểng thôi. Nó lung lay như chiếc răng sắp rụng.” Chị nói.

Tôi lần vào phía trong, xem cách làm việc ra sao. Chị lau mồ hôi cho khách bằng chiếc khăn nhàu nát. Chiếc khăn đã từng lau cho hàng trăm người. Lau xong, chị xòe hai bàn tay chém lia lịa đều khắp trên lưng người khách. Những ngón tay va vào nhau, kêu lách chách.

Sau màn dần lưng, chị lên ngồi trên mông khách, đùi dang ra hai bên. Chị nhích tới nhích lui, bóp từ trên vai xuống tới thắt lưng. Khách có vẻ khoái, nằm nghiêng đầu qua một bên, mắt lim dim hưởng thụ. Dùng sức nhiều, trán chị lấm tấm mồ hôi, nhưng mặt tươi tắn yêu đời. Tiền. Chính mãnh lực đồng tiền đã biến đổi người đàn bà cáu gắt trở nên vui vẻ. Thỉnh thoảng chị ngừng tay, lau trán với chiếc khăn vẫn lau mồ hôi cho khách. Khoảng đôi phút, chị xoay qua màn khác. Chị dùng ngón trỏ và ngón cái, kẹp từng miếng thịt trên lưng khách kéo lên. Và bàn tay kia phạt ngang như nhát chém. Một hồi, lưng khách ửng đỏ trên làn da vốn đã sạm màu. Rồi chị xòe hai bàn tay chà xát thật mạnh dọc theo hai bên sống lưng. Sau đó, chị dùng mười đầu ngón tay kéo mảng thịt trên lưng khách. Mười ngón tay nhanh như những cái chân con rít, đùa mảng thịt thành gợn sóng chạy dài từ thắt lưng lên tận bả vai. Chị thụt về phía sau, chồm lên phía trước theo mỗi gợn thịt đùa từ dưới trở lên. Cái háng dạng ra, tới lui chà lết trên mông người đàn ông. Động tác làm tôi liên tưởng chuyện tục.

Bất ngờ chị hỏi: “Muốn học nghề để truyền cho vợ hả?”

Tôi lắc đầu cười gượng, và bỏ ra ngoài hành lang. Thà tôi gặm cỏ cạp đất mà ăn, chứ không để vợ làm cái nghề dị hợm này!

Chiều sắp tàn. Khách càng đông. Họ cần đấm bóp giác hơi để tìm chút thư giãn sau một ngày lao động chân tay vất vả. Phía trong không đủ chỗ, các chị trải chiếu ra tận ngoài hiên. Những ông khách cũng dễ tính, họ xoay trần nằm sấp trên hiên, kế bên lề đường có bao nhiêu người qua lại. Người đi đường cũng không tò mò dòm ngó. Họ đã quen mắt nên coi đấy là chuyện thường.

Các chị làm việc lăng xăng. Tôi kiên nhẫn chờ một chỗ tá túc qua đêm. Lại có dịp coi thêm màn giác hơi.

Giai đoạn này, chị đấm bóp không ngồi trên mông khách. Bộ đồ nghề là những cái lọ thủy tinh bầu tròn cỡ trái quít. Chị thắp ngọn đèn dầu nhỏ. Dùng cái que, một đầu có đính cục bông, nhúng vào lọ dầu, châm lửa. Chị cầm nghiêng cái lọ, thọc ngọn lửa vào quậy quậy, và rất nhanh, chị chụp xuống. Cái lọ hút dính vào lưng. Từ miệng lọ da thịt phù lên. Chị làm nhanh tay và thiện nghệ. Cứ thế, từng lọ, từng lọ được chụp xuống, trông như những chiếc bong bóng nổi đầy trên lưng khách. Chị để yên đấy, và khách cũng nằm im. Trong thời gian chờ đợi, chị ngồi hút thuốc. Chị giải thích, phải chờ cho máu bầm tụ lại, sau đó sẽ đánh tan đi. Làm thế, máu huyết lưu thông, sẽ hết nhức mỏi và tránh được bệnh thời khí cảm mạo thông thường. Tàn điếu thuốc, da thịt phù lên trong lọ cũng bầm tím. Chị cầm từng chiếc giựt ra, mỗi lần giựt kêu bốc một tiếng. Lưng khách bây giờ, nổi đầy những vết bầm hình tròn. Chị lau sơ, và thoa đều một lớp dầu mỏng cho trơn. Thoa dầu xong, chị chỉ dùng một cái ống giác, thọc ngọn lửa vào quậy, và chụp nhanh xuống lưng khách. Chị kéo cái ông giác chạy lên chạy xuống, đều khắp trên lưng. Đây cũng là giai đoạn chót của màn giác hơi. Xong, chị lau sạch lớp dầu lần cuối cùng, và vỗ nhẹ trên lưng khách vài cái, báo hiệu mọi việc đã hoàn tất. Khách đứng lên vươn vai, mặc lại quần áo. Trông khách khỏe ra, mặt mày tươi tỉnh.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 18 Jun 2026

Ngày xưa còn bé, tôi như mỗi lần cô tôi về nhà, than thở chuyện gia nương, buồn phiền chuyện chồng con, thì bà nội tôi lúc nảo cũng khuyến giải cô tôi nên học lấy chữ “nhẫn.” Bà thường giải thích trong nghi thức cưới hỏi, lễ vật lúc nào cũng có chiếc nhẫn làm đầu, đó là vật tượng trương cho tình vợ chồng, sống với nhau thì phải nhẫn, nhịn nhau cho qua lúc, đế có hạnh phúc suốt đời. Có lẽ nhờ học được chữ nhẫn, nên gia đình cô dượng tôi sinh hết thảy được mười hai đứa con, hiện nay con đàn cháu đống, mặc dầu sau tháng tư năm 1975 ly tán khắp nơi, nhưng con số đếm cùng dể chừng lên đến hơn trăm. Trong cách xứ thế thì mẹ tội lúc nào cũng mở kinh nhật tụng, khuyên con luôn luôn nhịn nhục, “chín bỏ làm mười,” cho rằng “một sự nhịn thì chín sự lành hay”chữ nhẫn là chữ thếp vàng, ai mà nhẫn được thì cảng sống lâu!” nên đi học thì bị bạn bè hiếp đáp, ra đời ngây ngô, nhũn nhặn, vẫn thường chịu cảnh “trâu chậm uống nước đục.” Những ngày cuối tháng tư năm ấy, bị cấp chỉ huy ra lệnh ôm chặt đơn vị cho đến phút tan hàng rã ngũ, biết bị ép, nhưng vẫn “nhẫn” để cho “xếp” có thời gian cao bay xa chạy. Cha tôi thì ảnh hưởng Khổng học, mọi điều theo kinh điển “Khổng Tử viết” (Đức Khổng Tử nói …) là chân lý, là kết luận cuối cùng không cần bàn cãi. Trong Phật Giáo có nói đến dức “Nhẫn Nhục Ba La Mật.” Đối với nghịch cảnh như nắng mưa, nóng lạnh, đói khát, đau ốm, hoặc bị người đánh đập, hành hạ. làm bức não nơi thân, mình cũng cam chịu, không phàn nàn hay chống cự lại. Đây là chịu đựng về thể xác là “thân nhẫn.” Thân đã nhẫn chịu không chống lại người và miệng cũng không thốt ra những lời nguyền rùa độc ác, trước những lời nhục mạ, chua cay, mắng nhiếc tồi tệ hay đánh đập tàn nhẫn, gọi là “khẩu nhẫn.” Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, không oán giận, không nổi lên ý phản đối, những tư tưởng hắc ám để trả thù gọi là “ý nhẫn.” Trong Luận Ngữ có ghi chuyện ông Từ Trương và chữ “Nhẫn” của Đức Khổng Khâu như sau:

Ông Từ Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên:

Khổng Từ nói: – Chữ Nhẫn đứng dầu trăm nết!

Từ Trương hòi lại: – Làm sao phải nhẫn?

Đức Khổng Tử trả lời: – Thiên Từ mà nhẫn thì nước không sinh hại. Chư hầu mà nhẫn thi nước sẽ mạnh lớn thêm. Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến. Anh em mà nhẫn thì cừa nhà giảu sang, Vợ chồng mà nhẫn thì ở với nhau được trọn đời. Bạn be mà nhẫn thì thanh danh không mất. Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ!

Từ Trương hòi lại: -Nếu không nhẫn thì sao?

Đức Khổng Tử đáp:- Thiên Từ không nhẫn thì nước sẽ trống không. Chư hầu mà không nhẫn mất mạng, Quan chức mà không nhẫn thì sẽ bị hình phạt. Anh em mà không nhẫn thì sẽ chia rẽ. Vợ chồng không nhẫn thì sẽ xa nhau. Tự mình không nhẫn dược tất không tránh dược lo lắng! Ông Từ Trương thần phục mà kêu rằng:- Phải lắm! Phải lắm!

Nhìn chung, trong triết lý sống, chỗ nào cũng đề cao chữ nhẫn.” Nho giáo cho rằng “Nhất định phải Nhẫn mới có thể thành công. Khoan dung thì đức sẽ lớn”. Khổng giảo nói:”Việc nhỏ không nhẫn, tất loạn việc lớn, bậc quân tử không có tranh giành.” Lão giáo nói: “Thiên Đạo không tranh mà Thiện thắng, không nói mà Thiện ứng”. Phật giáo giảng: “Trong sáu phép đo và hàng vạn phương pháp tu hành, Nhẫn’ là đệ nhất.” Không ai không nhắc nhỡ về đạo “Nhẫn” ở đời.

Chữ nhẫn dùng trong gia tộc, nhẫn với vợ chồng, anh em, bạn bè, ruột thịt thì dễ hiểu. Thiếu chữ nhẫn thì vợ chồng đưa đến ly dị, chia cắt, anh cm, bạn bè chẳng muốn nhìn mặt nhau. Nhưng “nhẫn” ứng dụng cho thiên tử (cấp lãnh dạo), chư hầu (tiểu quốc) và quan lại (cán bộ) như đám Cộng sàn Việt Nam ngày nay thì nhẫn mang theo nhục. Cách đây mấy năm, chế độ cộng sản Trung cộng quyết định phục hồi ý thức hệ Khổng Tử, đặt tượng Khổng Tử ngay ở quãng trường Thiên An Môn, phải chăng qua hơn nửa thế kỷ, từ ngày Trung Quốc thành Trung Cộng, đạo lý suy đồi, nhân tâm ly tán, Khổng giảo bị lên án như lời của Mao Trạch Đông: “Khổng Tử là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến!” mà nay chế độ cộng sản lại muốn phục hồi Khổng giáo, vì trên thế giời này chế độ cộng sản hiện nay quả là phong kiến hơn phong kiến. Xưa Vua là tối thượng,

nhưng trong chế độ cộng sản, lãnh tụ là tối ưu. Xưa bầy tôi có thể can gián Vua, nhưng ngày nay đi nói nguợc lại ý Đảng có thể dễ dàng bị quy tội gián diệp, chống phá, lật đổ chính quyền, bị thanh trừng, thủ tiêu như dưới chế độ Staline, Mạo Trạch Đông và cả Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở Việt Nam. Khổng giáo với cộng sản như đen với trắng, như ngày và đêm.

Khổng Tử luôn nhấn mạnh đến nhân, nghĩa, lễ trí, tín, có nghĩa là con người phaả có lòng thương người, thương vạn vật (Nhân), phải hành động theo đúng lẽ phải, hợp đạo lý (Nghĩa và Lễ); phải có suy nghĩ (Trí) và phải giữ niềm tin (Tín). Trong khi đó thì con người cộng sản phải là: “một kẻ vô đạo đức, một thằng ăn cắp, một người lợi dụng thời cơ, một dứa hối lộ,” như lời Netchaïev, đồ đệ của Bakounine, của Marx và Eingels (Theo Jacques Attali – K. Morx ou Pesprit du monde trang 404- nhà xuất bản Fayard-Paris). (Chu Chỉ Nam- Báo Tổ Quốc -2011)

Chúng ta thấy gì trong chế độ cộng sản ngày nay: đạo đức suy đổi, giáo dục, y tế xuống cấp. Những con số về nạn phá thai, đĩ điếm, tội phạm xã hội tăng vọt, tham nhũng, đàn áp, bất công lan rộng, Để cứu vãn tình trạng này, không có gi khác hơn là phục hồi Khổng Giáo, nhưng Khổng giáo không thể đi song hành với chù nghĩa Mác, Lê Nin. Nhưng phải nói trong hoàn cảnh Việt Nam ngày nay chưa Júc nào Vua Quan đảng cộng sản là thực hành lời dạy cua Đức Khổng ráo riết như bây giờ:

– Sợ Trung Cộng nên Thiên Tử (lãnh đạo) phải nhẫn, nhịn nhục ca tụng 16 chữ vàng.

– Coi mình như chư hầu của Tàu nên Việt Nam phải nhẫn nhục, thà mất nước, để khỏi mất chức, mất đàng, đã bán đất bán biển, lại chịu nhục để ngư dân bị bắn giết, lạy lục bọn Tàu. Trong khi Philippines thề chống Trung Quốc “đến người cuối cùng” thì Cộng Sản Việt Nam kết án hai sinh viêu 7 và 8 năm tù chỉ vì viết khẩu hiệu: “Tàu Khựa hãy cút đi”

– Quan chức Cộng Sản hết lòng theo lời Khổng Tử khuyên thực hành chữ “Nhẫn.” “vì quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến, không nhẫn thì phải bị trừng phạt!” nên đảng viên thành đàn cừu, bịt mắt che tai, cung cúc tận tụy hết lòng với đảng để có đặc quyền đặc lợi. Phục hồi Khổng Giáo là phải, để rồi cả đám vua quan trong nước, như Từ Trương, đắc ý, mà đồng tình gào lên:

“Phải lắm! Phải lắm! Nhẫn ngày nay, nhiều khi đã thành hèn nhát. Nhẫn này hẳn phải đi theo với … nhục! Mà lại là quốc nhục.