This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Qua Úc nầy gần 30 năm rồi, tối ngày tui cứ “bầu” hoài hè. Hết đi bầu chánh quyền thành phố (council), tiểu bang rồi tới liên bang.
Nhiệm kỳ 4 năm nhưng hết năm thứ ba, chánh phủ đã công bố ngân sách hàng năm, ấn định ngày bầu cử. Chánh phủ cho tiền để dụ khị, mua phiếu của dân. Tiền nầy không phải là tiền túi của mấy ổng đâu! Tiền nầy từ công nho do người dân cày ngày không đủ, tranh thủ cày đêm để đóng thuế.
Lỡ công quỹ cạn kiệt không còn cắc nào thì sao? Thì chánh phủ bị gậy đi mượn; rồi con cháu chúng ta sẽ đi cày chết cha để trả.
Nghĩa là chúng ta được chánh phủ đương nhiệm xúi ăn cái đuôi của chính mình. Và chúng ta rất vui mừng ăn thịt của mình và con cái mình.
Cách đây 5 tuần, Thủ tướng Scott Morrison ấn định: Thứ Bảy, 21 tháng Năm, năm 2022 là ngày bầu cử chánh phủ Liên bang Úc. Bộ máy tranh cử các bên bắt đầu xả ga chạy rầm rộ.
Cuộc giành giựt quyết liệt làm đầy tớ nhân dân giữa Liên đảng (Tự Do và Quốc Gia) đang cầm quyền và đảng Lao Ðộng đối lập.
Lao động, giai cấp công nhân, tức cu li, lên xài cho đã. Rồi Tự Do của chủ hãng và Quốc Gia của điền chủ ngồi lì gần 10 năm nay rồi. Mấy ổng bóp cổ mình thè lưỡi ra để kiếm tiền trả nợ. Lưỡi mình dài ngoằng, ngáp ngáp gần chết thì lần nầy chắc Lao Ðộng lại leo lên.
Biết vậy nhưng hổng đi bầu, nó phạt mình cả trăm đô, mua được hai thùng beer chớ bộ. Hao quá!
Thiệt thua đế quốc Mỹ xa lơ, xa lắc về cái sự tự do bầu bán hè. Bên Mỹ hổng thèm đi bầu, ở nhà nhậu chả có ai dám làm gì sất! Bên Úc đi bầu là bắt buộc, cấm nói: “No”. Bên Mỹ, dân biểu chánh phủ làm. Bên Úc, chánh phủ biểu dân làm (cái nầy nghe quen quen nhe!).
Tui làm cu li nên bầu cho phe ta Lao Ðộng.
Tình nguyện viên đảng Lao Ðộng, mặc áo T-shirt màu đỏ, phát truyền đơn trước cửa. Phòng phiếu không có treo màn kín đáo gì ráo. Mạnh ai cứ chổng khu đứng đó mà điền số 1, 2, 3 (chúng ta đi lính Cộng Hoà).
Em yêu của tui là “bà chủ” của đời tui. Em chỉ ngồi nhà thâu tiền góp. Nên em nên bầu cho Liên đảng giai cấp của mấy tay chủ cả, chủ hãng, chủ điền. Bầu cử Liên bang Úc năm 2019, tui là cu li bỏ cho Lao Ðộng. Báo chí nói thăm dò dân ý chắc ăn như bắp (nấu). Ai dè thua! Tức như bị bò đá. Tức thiếu điều hộc gạch. Bỏ cho Liên đảng thắng, “em yêu” cười he he thấy mà ghét!
o O o
Hạ viện Liên bang Úc có tổng cộng 150 ghế dân biểu. Giống như chơi tài xỉu. Bên nào chiếm được ít nhứt 76 ghế là được quyền thành lập chánh phủ. Những con số diệu kỳ từ 76 trở lên là vô mánh. Tiền công nho như trời cho, ăn nhậu mệt nghỉ. Nghe phát thèm hè!
Trong gần 30 năm tui ở Úc chỉ có hai Thủ tướng làm trọn hết nhiệm kỳ 3 năm. Cả hai đều thuộc Ðảng Tự Do. Một là John Howard (1996-2007). Hai là Scott Morrison (2019-2022).
Thế mới biết cái job làm Thủ tướng Úc nó chinh, nó không bền vững, nó ngắn ngủi lắm. Ngắn đến nỗi, khi lần đầu gặp Scott Morrison, Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Donald Trump ngạc nhiên hỏi: “Ủa! Cái thằng cha (Malcolm Turnbull, Thủ tướng trước đó) đâu rồi? Mới điện thoại cự nự vụ nhận thuyền nhân nhốt ở đảo Manus với ổng hôm qua mà”.
Thế nên ngồi ghế Thủ Tướng Úc được 3 năm đã là hay, một bụng cũng đầy thủ đoạn chánh trị; chớ hổng phải chuyện giỡn chơi.
Dẫu vậy, mấy ông nầy chỉ đáng xách dép cho Vladimir Putin, Tổng thống của Nga. Y trèo lên, tuột xuống, rồi lại trèo lên trên đầu, trên cổ dân Nga suốt 20 năm trời đằng đẵng. Ngồi miết làm dân Nga thiếu điều gãy cổ.
o O o
Năm 2018, Scott Morison (tên thân mật là ScoMo), nhờ tròng tréo sau hậu trường chính trị đảng phái sao đó, lật đổ được đương kim Thủ tướng Malcolm Turnbull.
Rồi chỉ 9 tháng sau, ổng kêu tổng tuyển cử. Buồn ngủ gặp chiếu manh, chó ngáp phải ruồi, liên đảng lại thắng. ScoMo gọi đó là phép lạ. “Ông Trời đã ban cho vợ của ta một giấc mộng đẹp làm bà Thủ tướng Úc”.
Lần nầy, trong 5 tuần lễ tranh cử, đương kim Thủ tướng Úc ScoMo và lãnh tụ đối lập Albo (tên thân mật của Anthony Albanese), thuộc đảng Lao Ðộng) bay khắp các tiểu bang nước Úc như mắc cửi để vận động tranh cử.
Ông Albanese khoe con nhà nghèo, má đơn thân (single mum), làm công nhân vệ sinh. Morrison xỏ ngọt, nói tuy ngưỡng mộ ông Albanese, một người lớn lên trong khu “nhà chánh phủ”, đã không bao giờ quên cái gốc gác của mình. Nhưng với một xuất thân như thế, ông Albanese thì rất khó có thể điều hành nền kinh tế quốc gia với vai trò Thủ tướng Úc. Thiệt là khen đểu!
Rồi theo kế hoạch do ban Vận động tranh cử vẽ ra, hai ông bay đến mấy cái vùng mà ghế dân biểu bấp bênh. Nơi phiếu chênh lệch nhau chưa tới 1, 2 phần trăm để vận động cho gà nhà.
Hai ông xắn tay áo, đeo tạp dề, nướng xúc xích (sausages) cho cử tri ăn và nhậu với beer. Xong mới chém gió (cái nầy nghe quen quen nhe) văng nước miếng tùm lum. Làm bà con phải né vì sợ lỗ đầu! Chẳng qua do ăn xúc xích xong, mấy ổng quên xỉa răng.
Rồi hai ông thi nhau bồng con nít (có đạo diễn sắp xếp đàng hoàng đó nhe).
Một trong những cái vở tuồng đó như vầy nè: “Thằng nhóc chừng 5 tuổi, đứng ngay trước mặt ông Anthony Albanese coi tranh cử. Ông Albo hỏi: “Má mầy đâu?”. Nó chỉ một em đứng sau lưng là má nó. Dân Úc cười ồ.
Thấy tuồng ăn khách, Ðảng Tự Do bèn bắt chước cho ScoMo chơi rugby (ôm bóng bầu dục chạy) với con nít. Ai dè sau 3 năm làm Thủ tướng Úc, ổng mập ú ù hè. Ổng giành trái banh cà na, té đè thằng nhỏ chừng 9, 10 tuổi ná thở. Làm thằng cu thiếu điều ọc ra hết Happy Meal của McDonald’s.
o O o
Sáng Thứ Bảy, ngày 21, tháng Năm ngay ngày bỏ phiếu, hai bên xuất tướng, bò về Melbourne. Hành động đó chứng tỏ chỗ tui ở sẽ là một chiến trường ác liệt quyết định một mất một còn. Mà làm đầy tớ của nhân dân (public servants) sướng ích gì mà hai cha xúm vô giành nhau dữ vậy chớ?
Thăm dò dân ý, đôi bên như hai con ngựa so kè rượt nhau. Mức đến phải cần photo finish (tức máy chụp hình) đua ngựa mới phân biệt thắng thua. Ðêm kiểm phiếu chắc sẽ dài vô tận.
Nhưng té ra mấy cha nhà báo nói láo không hè. Chưa đầy 5 tiếng đồng hồ sau khi phòng phiếu đóng cửa, ngựa Lao Ðộng đã bứt phá quá xa, ăn chắc gần 20 ghế!
Ðương kim Thủ tướng Úc, Scott Morrison lên truyền hình mặt như đưa đám. Ðến nỗi em yêu của ổng phải vỗ về: “Nín đi cưng, đừng khóc!”.
Ðương kim Thủ tướng Scott Morrison chúc mừng đối thủ, chấp nhận thua cuộc. Ông chịu trách nhiệm đã dẫn dắt liên đảng đến thất bại thảm thương. Ông tự xử bằng cách từ chức lãnh tụ đảng. Nhưng trước khi thở hơi ra, ông còn ráng lên gân, hẹn tái đấu trong vòng 3 năm nữa. Tuột xuống, nhưng ông chưa chịu về vườn.
Giới truyền thông đồng loạt đưa tin liên đảng bị tắm máu. Bầu cử mà nói chuyện máu me ghê quá hè!
Mấy nhà báo chuyên về chánh trị phân tích Ông Scott Morrison bị nghiện than đá, rề rà chống biến đổi khí hậu. Nên Úc cháy rừng, lũ lụt xảy ra liên miên làm dân tình khốn khổ. Mấy vùng bị thiên tai đó, cử tri kêu ông hãy “về quê cắm câu, bắt con nhái bầu” cho khuất mắt. Ngay cả ông xòe tay ra bắt, họ cũng không thèm!
Rồi ông Malcohm Turnbull vẫn còn cay cú, đồng chí thương nhau tay nắm lấy bàn tay đâm sau lưng. Ông xúi người theo đảng Tự Do hãy bầu cho ứng viên độc lập.
Năm 2019 bất ngờ thắng cử, Scott Morrison cười he he thiếu điều té ghế. Tối nào ScoMo cũng đốt nhang trước bàn thiên, hứa ăn chay trường một tháng nếu phép lạ xảy ra lần nữa. Nhưng chữ rằng: “Phước bất trùng lai quạ vô ăn chuối”. Lần nầy thì: “Thôi rồi Lượm ơi”!
Dưới bài viết của em hiển thị sáu bình luận, ba khen ba chê, ba chấp nhận ba không thuận lòng. Sao anh không gióng tiếng? Nếu có, bình luận của anh? Em buôn chuyến đầu và em may phước huề vốn. Vậy là bình tài, cứ phóng theo lao biết đâu thắng đậm. Nếu vẫn ba chê ba khen như đã, anh nguyện nhập cuộc làm thay đổi cán cân. Ca ngợi ai xa lạ thì thầm thà thầm thụt đưa tay ra sờ vào ót, nhưng tán dương em chuyện ấy nào khó gì.
Em dự tính viết cái chi ở bận tới? Ôi, gieo cho anh nỗi bất ngờ chẳng phải là điều thậm sướng sao. Hãy nán chờ như anh từng mỏi mòn ngoài cõi viết. Hợp bụng là một chuyện mà đi tới tâm đầu ý hiệp lại phải bàn luận lung tung. Bây giờ em siêng bạch hoá nhưng giấc mơ trên màn hình, sao một cuộc tình chẳng thấy em gõ luôn tay trên bàn phím. Em giú trái cây xanh vào nơi khuất tất, lỡ khuấy quên cái chín rục kia không khéo phải dụt đi. Sống sít chát ngầm chẳng xơi được mà rụng cùi thúi cuống hẳn phí một lần dấu thu.
Hôm nay mưa nhưng em cuồng chân chi lạ. Lá vàng rụng em ưa đi dưới lòng đường. Anh thích uống cà phê không, nếu muốn đội mưa ra bờ thành cũ. Quán gì em quên tên, nằm sát sông Laurent luôn cau có, ở trên bờ trồng cột điện mãi toả một vũng vàng. Gạch đá ngỗn ngang người ta ưa bày biện, nhưng bước qua cửa sự ngăn nắp vén khéo vẫn chực chờ. Hình như đôi ta chưa hề ngồi với nhau trong đó. Ủa, vậy lần nọ em đi với ai cà, nhớ hổng ra! Nếu em nhiều bổi anh biết em ưa làm gì không? In thành tập toàn bộ những sáng tác của em. Việc ấy nào tốn kém gì, chỉ hai ba ngàn bạc chứ mấy. Giả dụ giàu có em kinh doanh mở quán cà phê thật đặc thù. Lấy màu nâu làm chủ, ton sur ton ngã dần về màu trắng ngà, vách tường viết đầy những câu của 108 nhà thơ Việt. Trang hoàng chỉ ngần ấy thôi, ấn tượng, bởi theo như Leonardo da Vinci nói “ Sự đơn giản là cái rất mực cầu kỳ”. Anh nhắm xem đụt mưa vào nơi ấy tay ôm cốc cà phê thơm dịu người anh có bần thần mê thiếp không? Kiếm đâu ra những một trăm linh tám vị? Chớ bỏ sót di chúc của Nguyễn Khuyến:
“Việc tống táng lăng nhăng qua quýt Cúng cho thầy một ít rượu hoa Đề vào mấy chữ trên bia Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
Sao cung đàn lạc điệu ra thế. Khẩu ngôn người xưa nằm trong kinh sách chứ ai nỡ lòng treo vào chốn giang hồ ông đi qua bà đi lại. Em nhắm chỉ tinh tuyển ròng thơ tình, thế mới đắt địa. Giáng Sinh tới anh sẽ quà cáp cho em xấp vé số Lotto Québec. Em sẽ dò sáu số biết đâu la toáng lên giấc mơ thành hiện thực một sớm chiều. Bà chủ tiệm, sao nghe cứ không đã cái lỗ tai. Nàng thi sĩ thì cầu chứng sự oai phong lẫm liệt hơn hẳn. Xưa nay người ta lỡ sắp hạng lao động đầu óc thì ăn đứt đứa tay chân loay hoay. Em mà làm cô hàng cà phê thì chán khối thằng phải bỏ quên cây đàn tại quán tình si mất. Hát hỏng gì buổi ấy! Nói chuyện với anh thường gây cho em một liên tưởng, em là con Lạc Long mà anh là con bà Âu Cơ, lạc hướng đi và địa hình khác biệt giữa núi biển đã tác động sâu vào nếp suy nghĩ, người xưa gọi là đầu Ngô mình Sở, chả đúng băng tần phát sóng giao thoa.
Tháng mười một gió luôn đi ngang để than van trên hàng cây bị vặt gần trụi lá. Lá không than van, chấp nhận rơi trong chao đảo đến buồn lòng. Có người không ưa nói tới số tuổi mình mang, chỉ cạn lòng bảo tôi đã trải qua ngần ấy mùa lá rụng. Rồi một mùa thu nào sừng sững hiện về, gió của nó cuốn người ấy rụng đi xa. Người ấy có kịp nói đôi câu giã từ cõi thế: Việc tống táng diễn trong hai bữa, đưa thây ta vào lửa nung thân, rãi tro cốt vào nơi thuận tiện, cười cho ta một trận hả hê.
Gió làm gãy cọng chiếc dù em che. Tiếng em cằn nhằn nghe hư thực. Làm thơ trong hoàn cảnh nào xét thấy thôi thúc? Êm ả hay bực mình với những bất ưng tình cờ? Anh ưa phỏng vấn lôi thôi thế? Một bài đi dưới mưa có anh che dù e bất khả? Vai anh ướt cho tóc em khô, chẳng hạn? Dạng như thế em có bỏ trên facebook rồi, hình ảnh nghèo nàn quá anh chẳng ngộ ra? Trên hành tinh này mỗi sát na có cả triệu đôi nam nữ che dù đi dưới mưa, cái khó là làm sao người ta nhìn nhận ra anh trong đám đông ấy. Một bài thơ hay phải chăng là nơi hội tụ những ánh mắt, anh đi trong mưa mà dường như anh không ướt, điều huyền nhiệm nào đã vực anh lên, lôi anh ra sự chộn rộn của đám đông, khô thân để xem thường thời tiết. Anh mong mỏi có ngày em được như vậy, hãy ném cây dù vô dụng kia và trong nhất thời hãy chịu khó đi sát vào người anh, cho anh quàng vai em đi dưới vũ lượng mỗi lúc thêm ràn rụa nặng hạt. Hãy ôm nhau. Albert Camus nói: “Đừng chờ đợi sự phán xét cuối cùng. Nó xẩy ra hàng ngày”.
Sau cơn mưa trời lại sáng, người ta ưa nói thế, như đó là định luật tự nhiên của đất trời, như ký gửi một hy vọng. Kẻ thất vọng như anh thì đổi lời: Sau cơn mưa trời lại tối. Mưa buổi chiều, khi ngưng rơi thì trời chẳng quang mây chẳng tạnh được. Trời tối hù vì đêm đang tới, muốn sáng người ta phải phát minh ra bóng đèn điện và như thế, sau cơn mưa anh lầm lũi đi dưới hai hàng đèn vàng ệch. Sự phát quang của nó chẳng sánh được với màu lá rơi ngập đường, lầy lội. Anh vừa từ hội trường ra về, bỏ ngang phần phụ diễn văn nghệ hát hò ngâm vịnh, chỗ người ta tổ chức buổi ra mắt sách thi tập đầu tiên của “nàng”. Anh ngồi thu người trong lòng một chiếc ghế tự dưng quá đỗi lớn so với cơ thể anh. Anh đã cố gắng, cố gắng viết cho xong một cái tựa. Sự cố gắng không vượt qua lằn mức cuối, “nàng” sớm mang thơ đi in và dĩ nhiên lẳng lặng từ chối sự hợp tác của anh. “Nàng” nói tới hai chữ xin lỗi và anh linh cảm xấp vé số dự trù mua tặng trong dịp Chúa giáng sinh sẽ chẳng còn cơ hội trao tay “nàng”.
Chiếc áo dài tím có vẽ những bông hoa li ti nở rung động trên ngực làm “nàng” khác lạ, không như “em” của hôm qua. Khi bước ra ánh sáng, hoa nở bung và điều đó tôn tạo một vẻ đẹp xa cách. “Nàng” bị vây bọc bởi lắm kẻ yêu thơ và anh, vị trí thuận lợi nhất là thu mình trong lòng ghế lưng chừng giữa hội trường. Tuy gần mà xa. “Nàng” có tặng anh tập thơ dày đúng trăm trang, nếu in thêm cái tựa anh viết, không khéo làm lệch vai, làm mỏi tay ai đó cầm lên thêm nặng nhọc. Một trăm, thế mà hay. “Nàng” từng nói với anh về một trăm cái trứng huyền thoại thuộc dạng khoa học giả tưởng. “Nàng” nói đại khái tụi mình là con cùng cha cùng mẹ nhưng phạm tới lời nguyền hiểm hóc nên đành phải quay lưng gạt lệ thua buồn số phận, ăn ở với nhau đầu bạc răng long có mà chạm tới luân thường đạo lý đẻ con không có lỗ đít các thứ linh tinh, lê thê và chì chiết hậu sanh khả ố.
“Nàng” viết ở trang đầu: “Tặng anh, để nhớ…” Chữ nhà thơ vẫn thế, đẹp không đẹp xấu không xấu nhưng bay bướm, kiểu tạo dáng. Anh thưa thốt, lí nhí: Chúc mừng. Rồi vặn giây thiều nghe cót két: Chiếc áo đẹp quá, tiếc là màu sắc nó buồn thâm trầm. “Nàng” có lối ứng xử nhạy bén: Anh tính trả thù à? Anh xuống giọng: Nếu trả thù ai dại đi trong mưa gió lặn lội tới chốn đây, làm đứa tiểu nhân ắt hẳn nó đang trùm chăn say ngủ hoặc gọi cốc cà phê đen ngồi rung đùi trong cái quán hôm nào hai đứa cụng đầu. Tiểu nhân có làm được thơ? Giọng thơ say lã một căm giận? Anh ngậm miệng đúng lúc khi sánh vai người mặc áo màu thâm trầm là gã đàn ông đạo mạo cứng thây trong bộ đồ lớn cắt may vụng, không vừa kích. Ông ta ngó anh như ngó cánh hoa tàn rơi trên khăn trải bàn, có nghiã là sẵn lòng nhặt nó ném đi sau khi thoả dạ săm soi. Và anh quay lưng cố giữ sự an nhiên có ở một đoá sen. Không mấy khó, anh biết người đàn ông đó đã bỏ tiền ra in thi phẩm nọ, lo từ a tới z để hoàn thành buổi ra mắt giới thiệu đứa con tinh thần của “nàng”. Không mấy khó để anh biết tên ông ta, in ở trang 17 dưới tựa bài thơ “Một cọng một bằng ba”. Nguyễn văn Không Trỗi còn nằm rải rác ở đôi ba trang khác. Ân nhân. Người xúi giục tôi làm thơ. Người cho tôi thi hứng. Người đồng minh không hề tháo chạy đang đi bên tôi. Người quyết tâm can ngăn không cho tôi nhọc thân làm bà chủ hàng cà phê…
Sau cơn mưa trời lại tối. Vào nhà anh mở sáng tất cả những bóng đèn, bật lò nấu nước trụng lai rai gói mì hiệu con tôm ăn qua loa theo di huấn của tiền nhân quân tử: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Lục soạn trí nhớ xem, có vị chính nhân quân tử nào ngôn: Nhưng mà sống để làm gì nhỉ? Chỉ nghe thi nhân Mai Thảo bảo:
“Sách một dãy nằm trơ trên giá Cạnh người thân thế cũng trơ trơ Sách, người hai cõi cùng hư hoại Nơi một ngàn chương thiếu một tờ”.
Tờ giấy rời ấy đã bay, nhẹ tợ lông hồng mang vẻ dưng dưng của kẻ bạc lòng với thơ văn. Ngàn chương luôn thiếu bởi cơm áo nặng tợ ngàn cân làm mê muội cuộc sinh tồn nhìn ngó đành hanh một hơn thua vật chất. Nghèo một tâm hồn, tiếng thở dài mãi bị bụi bám trên kệ sách chẳng còn ai lạc hồn đâm trắc ẩn. Không thiết thực khi thắp đuốc cố tìm cho ra một kẻ tâm giao, thứ bằng hữu đúng nghĩa nguyện chia sớt đớn đau với lạc thú đề huề? Đi dưới mưa, chẳng còn ai sánh đôi che chung ô dưới gió chướng làm vướng chân.
Trời lạnh, bật sưởi vẫn còn run, nghe cảm hàn tự đáy lòng. Tắt đèn đi ngủ anh mang theo cái nồi lớn mà dạo trước “nàng” cao hứng đến xắn tay áo để ninh hầm món phở hoành tráng thơm điếc lỗ mũi. Anh đặt chiếc nồi vô dụng bên giường, xé từ tốn tập thơ dày đúng 100 trang, mồi lửa từ một tới chín chín. Lửa không reo, chỉ vặn mình cháy ngúm. Cạn lực rồi hồi sinh. Riu riu tàn tro rồi bừng sáng lửa ngọn. Em ơi, quả nhiên thơ em đã làm ấm giấc ngủ anh lẻ loi. Xin cho anh sớm đụng đầu cơn mộng, tụi mình hôn nhau tàn bạo ở quán cà phê không nhớ tên em từng hẹn hò. Sông Laurent trôi hững hờ bên ngoài và bóng điện vàng gục đầu đứng hổ ngươi chỉ sáng tỏ một vũng tròn thắp mù mờ công án: Làm thế nào để giết nguyên một tập thơ?
Một. Trước một chia lìa, một chia tay, đa phần người ta bị đối mặt với những rối trí. Tâm trạng biểu hiện bằng nhiều cách, tuỳ vào mức độ rời xa ấy nghiêm trọng tới tầm cỡ nào. Năm hết Tết đến, vùi sâu năm cũ để dọn lòng đón đợi năm mới, cái cột mốc nọ tuy có chứa niềm vui nỗi buồn nhưng tuyệt không nên bảo sự giao thoa kia là nghiêm trọng. Cuối năm, trời đất buồn, đi vào lòng, thẩm thấu để A bày tỏ:
em vẽ một trái tim trên cửa kính nhìn tuyết rơi cùng hình vẽ nhạt nhoà nhớ toa tàu trôi ngày từ giã khuôn mặt mờ ai chôn lặng sân ga đường sắt song song như một định nghĩa xuôi tới vô cùng cái bến đỗ vắng thưa giờ đứng đây với ngày tháng lạ mừng tuổi em ngược lối anh quay về.
B đọc đủ đầy tên A ghi dưới bài thơ. Thủ pháp của A không trùng lẫn, e chỉ có một, để mang B ngó trực diện tới thứ cảnh sắc ngỡ đã hư hao. Anh nhớ hôm đó trời mưa nhỏ, mưa bụi nhưng gió lạnh sân ga trống. Anh đứng, không nón mũ không áo che mưa và tiếng còi tàu gửi lui anh tựa một loạt ám khí vừa ném trả. Khăn quàng màu xanh da trời nơi cổ A bị quang cảnh màu xám nuốt mất, nhấn chìm. Thành phố ấy, thời điểm đó buộc người ta phải tuân thủ một luật chơi khắc nghiệt, thậm chí người ta không có cho nhau một môi hôn. Cầm tay nhau trong khoảnh khắc, đứng ngó nhau vô duyên như hai tượng đài. Một biến mất và một còn lại tưởng chừng bị đúc xi-măng.
Tống cựu nghinh tân. Đón cái mới làm gì trong lúc không ai dẹp yên được những ngỗn ngang luôn tồn đọng của tháng ngày cũ. Hoài cổ luôn có đất sống bởi nó mãi cất giữ giùm anh bao kỷ niệm. B không biết làm thơ hoặc một dạng bày tỏ cảm xúc tương tự nhằm ngợi ca về một vòng tròn liền lạc. Mỏi chân đi giáp vòng thì run rủi được gặp lại A, được đọc thơ A, được thấy tiềm ẩn đâu đó một niềm hy vọng ắt được sẻ chia. Rồi sẽ tới một đoạn nào đó, hai đường sắt có khi gặp điểm hội tụ trùng nhập. Toán học có phương trình riêng, tình yêu có lối chứng minh khác. Toán học giải quyết gọn nhẹ tựa lấy đồ trong túi ra, tình yêu thì nhiêu khê vượt qua bao rào cản với lá bùa trấn giữ trước sạn đạo mang hai chữ định mệnh. Nôm na là mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. A viết: Thành phố vắng những đời chim trốn lạnh, tay bao che đốm lửa chừng lụn tàn, cuộc lữ này chân đi về triền vực, rơi tiếc thương một hối muộn, sao đành? Email gửi đi lời hò hẹn, bảy giờ tối ở quán Thềm Xưa. Biết địa điểm không? B trả lời: Biết, tiền thân nó là tiệm ăn Mèo Đen của người Pháp. Ngày đầu tha phương B đã xin vào làm với công việc rửa chén, từ 4 giờ chiều tới 1 giờ sáng, lương mạt hạng và người hôi hơn một con mèo bị nhúng nước. Đời vô thường, B bổ túc. Quán đông khách nhưng chủ bị tai nạn, lây lất cho tới khi sang tay vào kẻ khác. Một kẻ Việt-nam bỏ xứ lãng mạn ngồi đây mà tơ tưởng tới thềm xưa.
B vẫn giữ cái gợn lòng kia khi đi cùng A tới quán ăn đêm cuối năm. Cuộc đời mãi trôi như sự ví von của người ta: Nước chảy qua cầu. Nó không dừng, luân lưu qua đi qua đi. A nói, đâu có gì lạ, bản chất của nó là sự đổi thay. B đi sát vào người A khi qua cầu lẻ loi một vũng sáng cháy đỏ trên cây thông trang trí Giáng sinh chưa ai nỡ dẹp bỏ. Dưới chân họ là con sông nhỏ đã đóng băng, có phải nó tượng trưng cho sự ngưng nghỉ của dòng đời? Cái buốt lạnh trên bề mặt không giết trọn vẹn đời sông, phía dưới kia cá vẫn lội rong vẫn lay và nước vẫn chảy về một chỗ trủng thấp. Luôn luôn cái bộ mặt dửng dưng bên ngoài chẳng nói hết những khúc mắc có ở đằng sau. Anh nghe đối tượng tâm sự nhưng khuất tự đáy lòng kia vẫn còn những thứ không tiện thổ lộ. Bí mật của mỗi cá nhân kỳ lạ ở chỗ, đã có người câm lặng mang bao nỗi lòng thu xuống mộ huyệt, tuyệt không hé môi. Yêu nhau, hiểu một cách ngắn gọn là anh dùng đủ mọi cách để lân la soán đoạt cái mặt trái khuất tất của người bạn lòng. Ngần ấy thôi đã thấy đầu bạc răng long, đã thoáng ngó ra cảnh gần đất xa trời. “Ôi đất thì rộng sao chỗ nằm quá chật” như lời than của một thi sĩ năm xưa.
Đất quanh đây rộng, trống trải nhưng quán ăn chẳng lớn, chật khách. A có gọi điện thoại đặt chỗ trước nên không cần phải đợi chờ và A phân bua: Có lẽ ở đâu cũng vậy, người ta thụ hưởng hết mình cho mùa lễ lạc kết thúc lộ trình một năm lao động hao tâm tổn trí. Có tờ báo thống kê, bước qua năm mới trung bình mỗi người tăng thêm 2 kí bởi họ vô tư chìm đắm vào tứ khoái mà cái mục ăn nhậu suốt năm canh là chính danh thủ phạm.
Cái bàn hai chỗ nằm trong góc. Xa cửa vô ra nên nhìn rõ cái ấm áp được ngọn đèn vàng toả xuống vây bọc, giữ riêng một địa phận. Họ cởi áo khoác, máng trên lưng ghế rồi lần lượt ngồi xuống. B nhìn A. A ngó vào tấm thực đơn. Chẳng rõ A lựa chọn ra món gì, phần B, anh phát hiện ra bao tàn phai ghi dấu trên gương mặt mất hết nét xuân thì. Anh không thích những kẻ dối già, nhưng nhìn vào vẻ trung thực chẳng lấp liếm ấy khiến anh thấy mềm lòng. Mềm lòng đi cùng nghi ngại, tại sao A phô bày một dung mạo không trang điểm khi hẹn gặp B? Gặp lại nhau phút đầu, A đã không đưa ra một lời bình phẩm nào về những đổi thay mà chính B tự nhìn rõ cái héo mòn của tuổi già vừa ập tới với riêng mình. Trước sau, bức tượng được dựng ở sân ga ngày cũ vẫn nguyên dạng cái cứng thây đi kèm với bao cục mịch vây khổn. Và A vẫn chẳng hỏi han về cảnh sống mà B đang hứng chịu. B thích được vậy, những kể lể thường mang hậu quả, nó sẽ dìm người ta xuống trong thứ cảnh sắc bày biện những u ẩn để khi đó than van có cớ hiện hình, chẳng cưỡng được. Cầu xin sự thương hại là thứ chẳng ai trông mong, nên lãng tránh.
A lựa xong món ăn và B cũng chọn thứ trùng lẫn. Đó là thức ăn mà hai đứa cùng nhẫn nha ăn nhác nhớm hôm nào trước nhà ga. Chúng buông đũa khi nhìn lên cái đồng hồ trầy trụa bao sương gió va vấp gắn trên cao và khuất đàng sau gióng lên hồi còi tàu nghẹn ứ. Kỷ niệm buồn như tiếng thở dài. Có đúng vậy không? Hầu như trong thơ văn chưa một ai bảo tiếng còi tàu nghe vui thú cả, dẫu nó sẽ mang về người mà mình đang háo hức ngóng đợi. Hệt như tiếng ve sầu kêu râm ran suốt mùa hè nực nội. Tiếng ve trôi qua cành lá của cây cao, rót xuống một trưa im sững, nghe bần thần. Một buổi trưa nào A đã trao vụng dại cho B bao điều huyền nhiệm, mồ hôi đổ cùng nước mắt, thứ quà đớn đau trước cuộc phân lìa mà A chẳng có gì khác để trao gửi, để đánh dấu thứ tình yêu thiệt thòi. Ve kêu chẳng phải là điềm báo, súng đạn mới có khả năng làm chia cắt đành đoạn, làm phân tán bao gia đình. A xuôi nam như giải pháp buộc phải thế. B ở lại bồn chồn lòng chưa quyết thì thành phố đổi chủ. Nó chết đúng theo cách giải thích của sách vở và B trôi tuột đời mình thoi thóp sống với thời kỳ hang động cổ sơ, trù dập mất nhân tính. Người ta lì lợm không sợ ma quỷ nhưng người ta thót tim khi nghe tiếng chó sủa. Người ta ngủ không xuống khi lá rơi ngoài vườn khuya mà ngỡ như chân ai sẽ bước vào đập cửa với súng ống. Người ta ăn dè xẻn cơm độn để sống và muốn sống người ta phải lật lọng dối gian.
Ăn được không? A hỏi. Quán ồn ào quá sức tưởng tượng. B nói: Nuốt cũng trôi. Ừ quá đỗi bát nháo, không sợ làm phiền lòng hàng xóm. Người Việt mà, luôn tự tung tự tác, họ tự nhiên như đang ở trong nhà. Ưa khoe bày niềm vui một cách quá lố. Giờ này ở bên nhà ngó vậy mà êm. A ngạc nhiên, nhíu mày chờ đợi một giải thích. B lau miệng: Bởi vì chúng biết cách giữ mình, nếu không thì bàn ăn bên cạnh sẽ có đứa mang đao tới cà khịa xin tí huyết. Chuyện ấy xảy ra như cơm bữa, trước mỗi một vung đao kiếm, thằng bặm trợn bảo, để cho mày biết lễ độ. Ròng rã bao nhiêu năm trôi đi, người bên ấy vẫn chẳng hiểu ra chữ lễ độ. Chém, vì thằng kia nhìn đểu. Giết, vì con nọ xin đểu. Chặt, vì lão ấy nói đểu. Hình như trong thức ăn có tẩm xăng hay sao ấy mà con người xứ nọ chóng bốc hoả phát khiếp.
Hai. Có thể B bị ung thư dạ dày. Có thể B bị ung thư gan. A không bận tâm đào sâu nguyên cớ dọ hỏi chi li, chẳng ích gì. Hãy coi như B ngộ độc thực phẩm, vào nhà thương đã hai hôm và nay đang nằm phòng hồi sức. Nằm lơ mơ dật dờ tựa tấm ván mỏng trôi sông. Khi A đến thăm, dọ đúng nơi tấp của bèo dạt thì bầu trời ngoài ô cửa phòng buông màn xám xịt. A không lay B, nghe theo lời cô y tá bảo. Chỉ ngó xuống và cố giữ lòng chẳng manh động một nỗi niềm vì khách đến thăm ngoài A còn có C. C tự nguyện làm tài xế khi nghe A nói mẹ vào bệnh viện thăm một người bạn cũ. C là bản sao hoàn chỉnh của A ba mươi năm trước. Đó là nói riêng tới nhan sắc, dáng vẻ, vóc vạc, mặt mày, tóc tai. Khác biệt với mẹ, đã ngần ấy tuổi, tam thập nhi lập C vẫn ở không, kén cá chọn canh, ung dung tự tại, đi về lẻ bóng trên con đường vốn chẳng mấy dài của phận người. Do sống ở xứ người đã lâu, C không quên mua một bó hoa nhỏ cầm tay, mang theo. Hiện tại C đặt những nụ hoa còn ngậm ướt nước trên cái bàn bằng mi-ca gắn liền giường bệnh. C quan sát cái thiêm thiếp của người đàn ông để phát hiện ra đó là một khuôn mặt dễ nhìn. A đến sát cửa kính nhìn xuống bên dưới, những chiếc xe trông bé nhỏ khiến A choáng với độ cao. A thử vẽ hình một trái tim, chùng vụng. Tấm kính chia hai bầu khí quyển giữa lạnh và ấm làm hình vẽ bám trụ chẳng được lâu. Con bận gì không? A hỏi khi trở lại đứng bên C. C lắc đầu, đợi ông ấy thức, nhận biết sự có mặt của mẹ rồi hẳn về. C nói nhỏ tiếng như cố tránh tối đa những dấy động khi đặt chân vào căn phòng ngột ngạt này. Ý tứ của C là điều mà bệnh viện luôn nhắc nhở nhưng C đã không biết một nội quy: Chớ xức nước hoa, dầu thơm các thứ, có thể gây dị ứng cho con bệnh. Không một ai hay, chính hương thơm ủ kín trong người C đã truyền vào khứu giác B, vực B ra khỏi sự tăm tối của giấc ngủ bị đe doạ bởi thuốc an thần. B mở mắt, đầu tiên là cái khăn quàng màu xanh nơi cổ C đập vào nhãn quang. Chính nó, lắt lay trong mắt B một đốm sáng và cơ hồ nó tựa một thứ thuốc điểm mắt làm nhãn tuyến B trở nên linh hoạt. B rướn thân ngồi lên, kê gối sau lưng với sự trợ giúp của A. Mắt B không rời mục tiêu, anh ngó xuống một khuôn mặt khả ái, một A ngày nào nguyên dạng nét hồn nhiên trùng nhập.
Ăn được ngủ được không? Có thấy đau đớn choáng váng gì không? Đã khoẻ, đã hết đau. Yếu người chút xíu nhưng sẽ chóng hồi phục. B nói, như lập lại lời của vị bác sĩ nào đó, chứa đủ niềm lạc quan. Rồi y khoa tân tiến sẽ đánh thắng dẹp yên toàn bộ các mặt trận. Đây là C, biết mẹ sợ vào nhà thương một mình nên đi theo cho có bạn. A giới thiệu để B đưa tay lên thế một lời chào.
Họ nói chuyện không lâu, một phần vì khung cảnh gây ra sự gượng gạo, phần khác người y tá xuất hiện bảo đã tới giờ uống thuốc. A nói mai lại vào thăm. Trước khi ra về A để lại một tờ giấy gấp làm tư, nhét nó dưới bó hoa chưa tìm được chỗ cắm. Không có hồi còi tàu nào thúc giục cả, nhưng còn đó chiếc khăn quàng màu xanh. Người vừa cột thắt chiếc khăn ấy gửi lại sau dáng đi mềm mại một nụ cười đằm thắm. B nhắm mắt lại. B tin là khi muốn giữ hình ảnh cho lâu dài trong đồng tử, mình chỉ cần đóng lại võng mô, nhốt chặt nó. Y như khi bạn ngó lâu vào một bóng đèn, nhắm nghiền mắt lại vẫn còn đó cái đốm sáng chói chang mãi thắp lung linh.
Uống, nuốt trôi ba viên thuốc khác màu. Đợi y tá kiểm tra từng công đoạn xong, B mở vuông giấy A gửi: Nếu đến muộn, B chết, mọi thứ chìm quên, đơn giản, và dĩ nhiên A sẽ mang niềm bí mật này về, côi cút. Nếu sống, chưa đành đoạn bỏ đi, ngày tháng eo hẹp còn lại này A nghĩ, nên cho B biết một sự thật. C, 30 tuổi là con gái của chúng ta. C là Chanh là Cam là kết cuộc mối tình Chua Chát của hai đứa quá đỗi vụng dại vào thời điểm tan tác nọ. A buộc lòng phải nói ra mà không mong muốn một đổi thay nào khác. Để biết, để chẳng dối lòng. Kỳ dư xin hãy để sự vật y nguyên như nó đã. Xê dịch, đổi dời làm gì khi chúng ta đã sức cùn lực cạn. Gắng tĩnh tâm để vui sống những ngày còn lại. Nếu tin vào đời sống còn đó một nối kết huyền nhiệm thì tự thân, C sẽ đề nghị đến thăm, không cứ là khi nằm viện. Hình như lâu rồi, có nghe B nói là thích loài hoa Cẩm Chướng?
Ba. Tuyết rơi, rơi mỗi lúc một dầy. B bình phục, dáng vẻ nhanh nhẹn khi xuất viện gửi lại cho bác sĩ và các cô y tá niềm kinh ngạc gần trùng với hoang mang. Theo hồ sơ bệnh lý họ nắm giữ, con bệnh ấy lẽ thường phải nằm điều trị không dưới hai tháng. Chính bản thân họ cũng không mấy tin tưởng tới sự tiến bộ của y khoa mang lại những “bonus” cho chúng sinh. Cuộc đời luôn trường tồn với sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân đi cùng với điều nhiệm mầu khuất tất. Bệnh nhân B đã vừa thủ đắc riêng cho hắn ta một lá bùa linh nghiệm, ông ấy chủ động đi bắt tay cám ơn từng người, không quên chúc mừng năm mới. Ông gọi taxi và không ngại ra thềm lạnh đứng chờ với một bầu trời vần vũ bông tuyết. Mặt ông nhiều thần sắc, hồng hào như thể vừa giã từ một lò sưởi có lửa reo quây quần tí tách. Có nghĩa là ông ấy tuyệt không thấy lạnh khi đứng đơn lẻ giữa cái hàn khí sâu dưới 10 âm độ. Khi một kẻ vừa tìm ra lẽ sống đích thực, e rằng kẻ đó cũng mang đủ thứ bộ tịch coi trời bằng vung tựa thế. Ông bác sĩ nói với cô trợ tá: Tôi cá cược với cô, nếu bất đắc dĩ phải vào nhìn lại mặt chúng ta, ông ấy phải tiêu vung tay suốt năm dài không ngần ngại rồi hẵn tính. Tôi ngờ rằng ông ta đang hồi xuân.
M hỏi tôi. Bức tường vôi trước mặt đang đổi màu. Mưa tí tách, sợi nhỏ và chúng tỏ ra kiên trì dệt kín tấm màn xám. Đầu óc tôi như có gió lùa, mọi ý nghĩ không bám được. Chỉ một dấu hỏi trơn trợt: Bao giờ trời ngưng mưa? Chữ “xếch” mà M nói khiến tôi hoang mang. Chúng tôi đang ở Q. Thành phố này nói tiếng Pháp và họ buộc di dân phải học hỏi thứ ngôn ngữ ấy. M nói ngoại ngữ trật vuột như con két lột lưỡi và tôi là con nhồng bị bắt ăn ớt cay. Bọn tôi như có thần giao cách cảm. Muốn hiểu, người nghe phải sử dụng nhiều giác quan. Có khi, M làm cho những giác quan ấy mất đi sự bén nhạy để thế vào một nỗi thèm muốn không thốt nên lời. Tôi từng ray rức.
– Đưa hai đồng nếu mày muốn chơi.
Sau cùng thì tôi hiểu. Xếch là số bảy theo miệng lưỡi của M. Super Sept là một thứ lotto mà lô độc đắc có khi lên tới 45 triệu đồng. Lãnh cú một, nguyên con. Và khi ấy, chẳng biết điều gì sẽ xảy tới. Đứng tim? Tai biến mạch máu não? Hoặc bình tĩnh ngồi viết chúc thư, chia gia tài cho ai đó? Tôi moi túi quần. Luôn luôn, có trong đó là những đồng xu lẻ, hoặc tiếng kêu của chùm chìa khóa khiến mình lầm tưởng ta là kẻ rủng rỉnh tiền bạc.
– Mày ưa những số nào? Lựa đi.
– Hãy để cho máy định đoạt số phận.
– Được.
M cất tiền vào túi quần. Chúng tôi đều mặc jeans xanh. Thụng thịnh, dơ bẩn. Đầu gối dính đất, lai rách toe. Nó chứng minh cho người mặc nó: Thành phần lao động lam lũ. Và hạng người đó thì chẳng bao giờ dìm chết sự ước mơ. Mơ ước là cái phao, bấu chặt nó để trôi qua bể khổ. Liệu người ta có thể sống được không, nếu thiếu nó?
– Tin khí tượng đã đoán sai. Đêm qua, trước khi ngủ tao có xem TV.
M nói. Cô khởi sự thắp điếu thuốc thứ hai. Tôi mở túi vải, lôi ra cái Thermos lớn óc ách lít cà phê pha sữa đậm đặc. Cà phê nóng và nỗi lạnh ẩm đang lùa qua hàng hiên hà tiện mái che đầu. M nhăn mặt khi uống. “Cà phê này luôn mang đến nguồn sáng tạo”. Họ in hàng chữ ấy ngoài bao và đó là hình thức của sự lừa bịp. Cà phê đến từ Việt-nam, hàng chữ viết tiếng mẹ đẻ và sau hết, tôi là một đứa nhẹ dạ. M nhăn mặt, chứng tỏ vị giác tôi chưa hư hỏng. Dở, không ngon, đã có thêm người cầu chứng.
Chiếc xe bus màu vàng không ghé ngang. Chúng tôi tự hiểu, cánh đồng dâu chín đỏ những trái mọng sẽ được an thân dầm mình trong mưa, thôi bị những bàn tay tàn bạo bức hái. Muốn hái bức bạn phải bò lê bò càng. Lưng, đầu gối là hai nơi “phát biểu cảm tưởng” sớm sủa nhất cho cái ê ẩm đến cuối ngày. Nắng đổ xuống, hoa cả mắt. Và khi ấy tự dưng trong đầu nhớ lại chữ strawberry sea mà ai đó dùng để dịch câu thơ Kiều: “Trải qua một cuộc bể dâu”. Một thứ khôi hài đen làm mình phải đau đớn lòng.
Nông trại có một thông cáo ngầm, bất thành văn tự: “Mưa, đóng cửa”. Chúng tôi đứng đợi xe đón đã hơn nửa giờ bởi tưởng mưa đám mây, như mèo đái. Nắng sẽ lên, những hình nhân đen đúa như lính tác chiến sẽ dàn đội hình hàng ngang, mũ mão chỉnh tề đi chinh phục và thu hoạch mùa màng. Hoặc không thì hình ảnh ấy tựa như đám lao công đào binh bị lùa ra gỡ những trái mìn giăng đầy trên cánh đồng choáng váng nắng và gió.
– Làm gì bây giờ?
M hỏi. Tôi tạt chút cà phê còn sót nơi nắp nhựa, vặn úp nó lại vào vị trí cũ. Bỏ vào xách và đeo quai vải lên vai. Trong ấy có chứa hộp cơm, một trái chuối, hai mẩu bánh ngọt, kẹo cao su, chai nước suối và cả tăm xỉa răng. Một người chồng đi tới bảo sanh viện thăm nuôi vợ cũng không thể trang bị đủ đầy, chu đáo được thế.
– Có đẻ ra sáng kiến gì không?
– Trước tiên, chúng ta tìm nơi để chơi vé số. Còn quá sớm để nghĩ tới những địa điểm khác.
– Đi trong mưa?
– Hề gì. Nô-brồ-lem-mồ.
M nhún vai sau câu nói. Cô dạn dĩ đi mở đường. Da đỏ au, bóng láng. Cơ thể nẩy nở ngang lằn mức cuối, sang một bước nữa là trở thành xồ xề. Có thể dùng chữ rắn chắc, hoặc dáng dấp ấy trời sinh ra cốt để lao động chân tay, chẳng ke việc khó và có mệt mỏi thì biết dấu nhẹm, không kêu ca. Đi bên M tôi cảm thấy an tâm. Một nỗi an tâm rất đáng hổ thẹn. Cô tựa một con gà mái quyết sống chết với chim ưng để bảo vệ những gì có dưới đôi cánh xoè ra che chở. Nếu M sinh nở, có thể cô đẻ cả chục đứa cũng không ngán. Lưng ong, mình dây, hồng diện… Gì nữa? Những chữ mà ông bà mình tự đặt ra để rồi coi đó là tiêu chuẩn nhằm phê bình hoặc tán dương đứa con dâu. Tóc M dầy, rậm rạp, sợi to, quắn, rối, bện lại từng lọn một cách tự nhiên. Có lẽ đó là một mái đầu tự tấm bé đến lớn khôn đã chẳng hề biết mặt ngang mặt dọc một cái lược với răng dày răng thưa. Vợ tôi khác hẳn, da trắng xanh, gầy người, tóc mượt mà đổ xuống ngang eo. Eo nhỏ, da mỏng, thấy được những đường gân máu mờ chìm chạy khuất xuống mông. Hình ảnh luôn hiện ra ở mỗi một hồi ức là khuôn mặt nhăn nhó không có máu. Máu thoát giữa đôi chân run rẩy bước. Hành lang đen, bóng điện vàng đục treo trên cao như con mắt của một hung thần độc nhãn ngó xuống đám đàn bà đi quờ quạng tựa những oan hồn. Y tá bắt đi lui tới để dễ dàng cho việc sinh nở. Cắn răng mà đi. Đồng ý. Nhưng người làm vệ sinh, họ nín thở lau chùi đoạn xi măng trơn láng đó với cái ý nghĩ máu lầy lội này giống như có ở tầng đầu địa ngục. Hãy húp chén cháo lú đi em, anh nguyện sẽ đi biển cùng em tới cuối cơn đau vợ chồng. Đứa con so ra đời. Đem lên bàn cân, rỏ nước, kim chỉ hai kí lô tám. Đóng cho nhà thương ba kí gạo, một nạm tiền và sản phụ được ăn cơm trắng với canh rau muống. Nước lợn cợn nồng mùi ruốc. Những cọng rau như tóc của một kẻ chết trôi. Khi xuất viện chẳng tìm được xích lô, họ sợ điều xui xẻo gì đó ám vào xe nên thẳng thừng từ chối. Mẹ bồng con ba ngày tuổi ngồi không vững phía sau và chiếc xe đạp lạng quạng đi qua những con phố mất điện lúc nhúc người ngợm mộng du tuá ra đường. Chúng tôi như diễn viên trong đoàn xiệc biểu diễn trò ú tim. Ý chí của mỗi người đã giúp cho lần vượt cạn ấy không xảy ra tai nạn. Thời điểm đó chỉ có vú của mấy con mẹ Liên-xô mới chứa nhiều sữa, như ai đó chua chát nhận xét. Tôi bán chiếc nhẫn vàng, mua lon sữa bò đầu tiên mang về nhà khui ra để thấy cát mịn long lanh đùa cợt chảy. Có lẽ dã tràng sẽ chết nếu nó ẩn trốn trong đó. Phố trưa hầm hập nín thở dưới nắng. Loa phát thanh treo ở góc phố rỉ rả chảy ra bài hát lạ lùng: “Cuộc đời vẫn đẹp sao…” Vợ con tôi vẫn còn cặm cụi với cuộc đời đẹp đẽ chốn ấy. Đứa bé đã bỏ học, sáng suốt tự quyết định thôi đến trường. Nó viết thư gửi sang, có những chữ làm tôi ngờ nghệch: “…Nhất cự ly nhì cường độ… Xin Ba một cái váy siêu ngắn, đồ xịn để khỏi đụng hàng, bạn gái con cũng đủ đầy điện nước như ai…” Tôi thực sự không hiểu, và muốn chận đứng nỗi đau tôi chỉ biết la lên một chữ: Fuck! Tôi đi hái dâu, hai ngày cuối tuần, lãnh tiền mặt. Tôi dành dụm cho viễn ảnh đoàn viên. Mai này, nếu gặp điều bất ưng, con tôi cũng sẽ chửi: Merde! Nhưng được như vậy nghe sướng tai hơn thứ ngôn ngữ đương đại ở quê nhà. Đương đại? Nó có bà con xa gần với chữ hiện nay không? Ông Trung quốc như Thái sơn, bóng dáng bề trên phủ chụp xuống hình hài eo xèo của một vùng đất nhược tiểu. Muốn phản kháng, người ta phải biết tự đặt điều, và như thế, sử sách đẻ ra nhân vật Thánh Gióng đầy hoang tưởng. Nhiều đêm tôi nằm mơ, thấy Tôn sĩ Nghị cùng Thoát Hoan thay phiên xé nát áo quần, hiếp dâm tơi tả Trưng Trắc Trưng Nhị. Nhân sâm, xam xập dị, lẩu dái dê làm những thằng người ấy sung như mưa dầm lâu tạnh. Con rồng cháu tiên đành phải dạng chân ra hứng chịu ơn mưa móc trút xuống. Khóc than trong tủi hờn và rên rỉ trong nỗi thống khoái đầy thỏa hiệp.
Cánh cửa có gắn chùm kim loại ở trên kêu rộn ràng khi cửa mở. Nó giúp người bán hàng phải chú ý kẻ vô người ra. Có tấm gương tròn gắn ở góc, nhìn vào tôi thấy M và tôi dị dạng như hai đứa đến từ một hành tinh xa lạ. Cơ thể lùn tịt, anatomie gãy đổ, trong khi cái đầu thì bề thế một cách quá lố. Tai mắt mũi họng đều dị hợm như kết quả ắt có và đủ do một vị bác sĩ nóng tay ở thẩm mỹ viện tạo nên. Nếu tôi dí súng vào người đàn ông Đại-hàn đứng sau quầy trong khi M nhanh tay vét hết những ô đựng tiền. Cảnh sát đến lập biên bản và nếu họ căn cứ tấm hình chụp trung thực từ tấm gương chiếu yêu này, họ không tài nào bắt giữ được bọn tôi. Không. Nó đã phản bội chủ, nó phản ảnh một dung nhan sai sự thật, chẳng hiện hữu ở cuộc đời này.
– Siêu xếch. Bốn đồng.
M dóng tiếng. Người Đại-hàn dòm chúng tôi. Đôi mắt nhỏ, mí sưng húp nhưng tia nhìn tựa mũi phi tiêu bén nhọn, lạnh lẽo. Soi mói như tự đặt dấu hỏi: Chúng người gì? Hàn quốc ta quyết không có màu da cháy nắng như bọn khốn đốn ấy. Chúng biết thưởng thức thịt chó không? Mai này bọn tớ có xuất khẩu thịt chó đóng hộp đấy. Ngon, thơm, thượng hảo hạng. Made in Korea. Tôi từng kể cho M nghe dân tộc hùng mạnh nước tôi siêu đẳng trong vấn đề ẩm thực. Bò cạp châu chấu dế giun cóc nhái chuột rắn thảy đều xơi ráo. Và lần đó M phun cả đống mì sợi xuống vạt đất tương đối có bóng mát nơi cánh đồng dâu hoang dã. M là một người nhạy cảm. Cô sẽ mửa mật nếu tôi đưa tiếp bảng thực đơn dài lê thê trên từng cây số. Tôi biết thẹn thùng dấu nhẹm không lôi thịt chó vào. Con vật tượng trưng cho lòng trung thành đối với loài người. Người ta đã bạc tình phụ rẫy nó. Ánh đao loang loáng tàn nhẫn chặt xuống. Nó chảy những giọt lệ trước khi nhắm mắt. Cầy ơi, nhân tính là gì? Là một vật mơ hồ đã bị trôi sông!
Đồng hồ ở tiệm tạp hoá chỉ số tám. Nó eo hẹp cho kẻ này và rộng rãi đối với kẻ khác. Sự khó hiểu về chuyện sớm muộn vẫn ẩn chứa ở trong vòng quay từ tốn ấy. Thời giờ là vàng bạc, một thứ định nghĩa rất hàm hồ. Hãy đốt cháy ngọn nến khi bình minh và thổi tắt đốm lửa đó khi chiều tàn. Tôi mua một gói thuốc, cọng với hai vé đi xe bus. Tiếng lanh canh của cái phong linh reo trên đầu. Mưa nặng hạt hơn trước, tôi che gió để tìm chút hơi ấm nơi khói thuốc. Có thể nó xua tan nổi buồn ẩm ướt đang giăng đầy ngoại vật, đang đọng vũng trong người tôi. Tờ hai mươi đồng đưa ra. Bàn tay trăn trở dưới ánh mắt đặc thù Đại-hàn, sau cùng ông ta đưa vào máy để kiểm tra thật, giả. Tờ bạc đó có giá trị ngang với một thùng dâu lớn mà bạn phải nhanh tay hái trong ba bốn tiếng liên tục. Nỡ lòng nào người ta trả công sức ấy bằng một tờ bạc giả? M dành điếu thuốc từ tay tôi.
– Từ đây về nhà moa mất nửa giờ. Tám giờ rưỡi, có lẽ nó đã ra khỏi cái tổ ấm ấy.
Đề nghị thoát cùng khói thuốc, nghe có vẻ hợp lý. Bởi muốn đến chỗ tôi trú ngụ phải sang xe đổi métro hai ba bận. M ở chung với cô bạn gái và họ có giao ước với nhau, tuyệt đối không dẫn kẻ lạ vào nhà. Điều ấy cũng dể hiểu. Tổ của đôi chim sẻ thì quạ hay diều hâu lai vãng tới là chuyện nguy hiểm, nếu trong mắt bọn họ đàn ông là loài chim khó thương kia. Trong mắt M tôi là con cu cườm hiền lành, rụt rè. Chim xa cành thương cây nhớ cội. Chúng mình đều là hạng người đắp chung một tấm chăn và trong ấy có rất nhiều rận. Đúng không? Có lần M đã nói thế. M không đẹp. Và tôi hiểu, đôi khi nhan sắc của một người đàn bà chẳng là gì cả. Có những giá trị tiềm ẩn, rạng ngời nằm đàng sau nét thô kệch nặng nề kia. M đi may ở hãng Wonderbra chuyên sản xuất đồ lót phụ nữ. Bị sa thải và chúng tôi đã gặp nhau trên cánh đồng dâu ở cao điểm những vụ muà sai trái.
Xe buýt mang chúng tôi đi qua những con đường dằn xóc. Cửa kính mờ mịt, nước mưa vẽ run rẩy trên đó, khuất lấp chân dung sầu muộn của khu phố dở dang công trình xây cất, ngỗn ngang gạch đá như nỗi lòng của một đứa vô gia cư.
– Nếu trúng số tao sẽ mua một cái condo ở đây. Tao thích những con số chẵn, đại loại như 2, 4, 6, 8… Khi ấy mày sẽ ở căn đối diện 3, 5, 7, 9. Ô kê?
M có cặp mắt to, long lanh khi nói câu đó. Giống như trẻ con, tôi hưởng ứng nhiệt tình trò chơi mộng mị kia. Mình sẽ mua đứt cánh đồng dâu và trả cho nhân công một số lương hợp lý hơn. M cầm tay tôi, đan ngón. Tôi nhìn xuống để không nhận ra đâu là ngón của tôi đâu là ngón tay M. Chúng hoà đồng trong màu da, kích thước và kể cả vết trầy trụa hằn dấu. Nhám nhưng ẩm, nóng; và sự bồi hồi bị chộp bắt, nhốt kín trong đôi bàn tay.
Xe vòng qua một ngã rẽ chật chội, độ nghiêng gắt gao của nó khiến M rơi vào lòng tôi và M lười biếng để mặc cho tôi ôm giữ bờ vai tròn đầy của cô. Hương từ thân thể M hắt vào mũi, nửa nồng cay nửa dịu ngọt. Hai thứ đó đánh thức ở tôi một nỗi khát khao, như bạn xa quê đã lâu, miệng thèm nhai lại một món ăn mà tuổi trẻ vẫn ao ước. Nước bọt ứa ra trong miệng. Tôi nuốt nước miếng, nhìn đôi mắt M nhắm kín. Một bờ môi dầy, một đường khe chia lià đôi vú đầy đặn và đều đặn nhịp thở. Xuống khỏi nhấp nhô là lỗ rốn sâu, cái nút đồng nơi lưng quần jeans sáng chấp chới, những sứa vải bạc màu hằn thành nếp hình chữ V. Một mẫu tự bất biến từ ngàn đời có khả năng gieo cho con người tất cả những bất hạnh cũng như vô vàn những sướng sung. Nó là cửa mình mà bạn và tôi lòi đầu ra chào cuộc đời bằng khởi thủy là tiếng khóc định mệnh.
– Đến rồi.
M nói khi mở mắt. Tựa kẻ mù loà nhận biết nơi mình an dưỡng bằng những tín hiệu riêng. Tôi là đứa sáng mắt, phút giây đó tôi nhận ra ở cử chỉ M biểu lộ những vụng về đáng yêu. Cô tìm chià khoá có hơi lâu. Cô ngó ngược trông xuôi và nét mặt thì dường như che phủ điều gì đó. Gượng gạo, mất tự nhiên, đánh rơi tự chủ.
– Vào đi.
M nói trong hơi thở đứt đoạn. Tiếng nói yếu, mường tượng như một kẻ vừa bơi qua khúc sông rộng. Hơi thở M làm tim tôi đập vội. Mình có thể chết đuối không? Vọp bẻ, buông xuôi mọi kháng cự, mặc cho cơn lũ cuốn đi? Cánh cửa đóng lại gây một tiếng động không nhỏ. Nó lớn, đủ để đánh thức ai đó đang say giấc nồng. Không còn ai trong nhà, đúng như dự đoán của M. Mưa dính ướt áo quần làm cơ thể chúng tôi bốc mùi. Mỗi đứa có riêng một thứ. Mùi cái và mùi đực. Cái mở TV. Đực đứng ngó quanh căn phòng ủ đầy bóng tối. Giọng tường thuật của xướng ngôn viên trên màn hình như một nhân vật thứ ba chợt hiện ra giữa hai đứa. M đã tìm được sự quân bình, cô tỏ ra nhanh nhẹn trong việc thu nhặt những đồ vật bày biện không đúng chỗ.
– Ngồi xuống đi.
Tôi không thích coi TV. Tôi lựa một chỗ quây lưng với màn hình nhỏ. Có vài tấm ảnh đóng khung treo trên tường, mù mờ những nhân dáng. Tôi đặt cái túi vải vào góc phòng, bên chậu cây khá rậm lá. Cây xứ nhiệt đới, trông quen thuộc nhưng tôi không nhớ tên gọi.
– Uống gì không?
– Thôi, mất công. Moa còn cả bình cà phê. Ăn bánh ngọt không?
– Ngồi đợi một lát moa đi thay đồ. Cần khăn lông không?
M đi lui sau. Hành lang nhỏ, ngắn. Cái điện thoại bắt ở đó, máng trên vách, sợi giây xoắn xít của nó rung động khi M đi ngang. Có con số dễ nhớ nhất cho tất cả mọi người: 911. M sẽ bấm số ấy trong hốt hoảng nếu tôi vật cô ta xuống… Ý nghĩ kia chạy vội trong đầu tôi, dẫn theo hình ảnh một M lõa lồ nằm lăn lộn chòi đạp dưới nền thảm màu xám bẩn. Hằng đêm tôi vẫn mơ thấy vợ tôi, những ý tưởng không mấy đẹp về người đàn bà một con đang sống lao lung ở chốn xa. Ám tối của cô đơn, khát khao bình thường của một cơ thể thiếu vắng sự mơn trớn… mọi thứ đâm chồi nẩy lộc vào đầu tôi tạo thành nỗi ngờ vực về lòng thủy chung. Tôi không có kinh nghiệm gì nhiều về thứ biến đổi tâm sinh lý kiểu ấy, nhưng gần M, cái thân thiện cởi mở của cô làm tôi có khi phải bần thần trong hoang mang. Mê muội nghĩ suy, sật sừ một cảnh sắc luôn bị sự hoen ố chắn lối.
– Lau đầu đi.
Chiếc khăn tắm khổ lớn phủ chụp xuống đầu tôi. Trắng tinh, thơm tho. Tôi vo chậm rãi những sợi tóc ướt với cái ý nghĩ mình đang phải chịu tang cho một nỗi mất mát nào đó. Tựu trung thì những đứa tị nạn, có đứa nào lòng được thảnh thơi? Chúng luôn chạm mặt với những hư hao, không hình thức này thì hình thức khác. Khi thôi trùm khăn, tôi thấy M trước mặt đã là một M khác. Áo thun sạch sẽ, quần cụt mát mẻ, da dẻ chẳng có ghẻ.
– Cười chuyện gì?
– Chưa bao giờ moa hình dung ra cái dáng dấp đích thực của toa như giờ này. Áo quần lao động làm giết đi vẻ trẻ đẹp của toa.
– Đừng xạo. Nếu mày mặc trên người bộ áo quần như tao đây, trước sau mày vẫn là thằng người hiền lành mà tao muốn làm bạn.
– Không thay đổi?
– Tại sao lại đổi thay?
– Có người rất đẹp khi trần truồng và ngược lại có kẻ thật xấu xa khi thoát y.
– Đừng làm sai lệch vấn đề.
– Đó là một cái nhìn đúng đắn. Nghiêm chỉnh để nói như vậy.
M giật lấy cái khăn tôi đang nắm chặt. Sự giằng co làm tôi phát hiện đằng sau áo thun của M phơi bày tỏ mờ thứ mà trẻ con vẫn khóc thét đòi được ngậm mút khi đói lòng. Đầu vú nâu, bầu sữa trắng phau vun đầy. Tôi không thấy nó khác biệt mấy so với những thiếu nữ có trong họa phẩm của Gauguin. Nói tóm, đường nét đó gây cho mình sự cảm nhận: Biểu tượng một cơ thể khỏe mạnh, sung mãn. Văm cũng cùng một nghĩa như nhau. Tôi đứng lên ôm lấy cơ thể nọ trong vòng tay siết cứng. Tôi hôn ở cổ M, ở cằm, ở má và ở bờ môi đang hé mở. Tôi nếm được vị ngọt, nhấm nháp chẳng được lâu.
– Đừng làm thế.
– Tại sao đến lúc này toa không nói nô-brồ-lem-mồ?
– Hãy đến đây.
M kéo tay tôi tới đối mặt với những tấm ảnh. Đa phần chúng đều đóng khung một khuôn mặt đàn ông. Tóc ngắn, cằm bạnh, râu ria, mắt linh hoạt, thân thể cường tráng, ở bắp tay trần có xâm một mẫu tự: M. Hoa lá cành quấn quýt.
– Chồng tao đó. Giấy tờ đã hoàn tất năm ngoái, sự đoàn tụ sẽ tới vào cuối hè này. Sẽ chọn một cái nhà thờ nào đó. Và nhất định mày sẽ nắm một cốc rượu sủi tăm trong tay. Ô kê? Nô-brồ-lem-mồ?
– Cuối hè…
– Ừ, mùa thu. Heo may tới cùng lá vàng, a-mi-gồ ạ!
Tôi ngó sâu vào đôi mắt M. Tôi muốn M nhìn rõ nỗi thất vọng của tôi.
– Chuyện gì vậy?
– Chúc mừng.
– Đừng dối lòng nhé. Chúng ta vẫn là bạn tốt với nhau.
M lấy từ đâu ra cây đàn guitar. Cô ngồi xuống sofa, những nốt nhạc từ tốn lan chảy ra, loãng tan. Cô cất giọng hát, hồn nhiên. Ngôn ngữ quê nhà vùng nam Mỹ xa xôi. Bài hát buồn, tôi cảm nhận vậy. Nó tượng trưng cho chia lià hơn là đoàn viên. Mất mát hơn là đón nhận. Âm nhạc không hề là liều thuốc làm dịu thần kinh. “Cuộc đời vẫn đẹp sao” là một thứ khí cụ dùng để tra tấn con người, như một mùa hè nào đã chìm khuất mà tôi muốn vùi quên, chôn sâu.
– Anh ấy cất công dạy moa đàn hát. Bài ca nói về sự gặp gỡ của từng nhánh sông.
– Sông nào cuối cùng cũng trôi thân ra biển rộng. Sự gặp gỡ của tụi mình đã mang sẵn mầm phân ly. Đúng không?
– Đừng dỗi hờn. Mang toa về đây, chừng đó không đủ nói lên cảm tình của moa sao?
– Moa cứ ngỡ chúng mình đánh dấu mối quan hệ này bằng một hình thức khác.
M buông đàn xuống, giã từ đô rê mi fa sol.
– Muốn gì? Lại đây đi. Nằm đè xuống người moa. Hì hục, toát mồ hôi rồi sau đó toa được những gì? Cái mà toa được là mặc cảm phạm tội. Đúng hay sai?
– Hãy tìm một quán ăn, chúng mình đốt nến ngồi thưởng thức món ăn nồng cay lần sau cùng.
– Là sao? Tao không đi. Khi thất vọng tao chỉ muốn ca hát một mình.
Tôi đeo túi vải nặng nề lên vai, bước lại phiá cửa. Cánh cửa đóng kín, lý ra nó nhốt được những cảm xúc tuyệt hảo khi người ta muốn dâng hiến cho nhau. Cuộc đời bên ngoài chẳng là gì cả khi họ đồng thuận nhắm mắt ăn liều một trái cấm.
– Ngày mai? Chỗ cũ? Nếu nắng ráo?
Giọng M đuổi theo sau lưng, khô khan. Tôi chẳng ngoái đầu, hình dung từng luống dâu tơi tả sau ngày mưa. Những trái dâu bầm dập, rơi rụng bầy nhầy như có ai thổ huyết xuống đất đen.
– Tao bỏ việc. Vô bổ. Thà đau lưng mỏi gối cho thứ lao động khác, đích đáng hơn.
– Bao lâu thì vợ toa sang?
Tôi khựng đứng trước cửa. Tai nghe những bước chân M tiến lại gần. Sau đó là cánh tay choàng ra trước ngực tôi, vỗ về.
– Moa hiểu được cái mà toa đang thiếu. Hãy chiến đấu dũng cảm lên, như moa thường tìm cách để trấn áp nó. Tại sao lại phải làm tình với nhau trong khi bọn mình còn cách giải quyết khác.
– Tình bạn. Đúng không? Trong sạch và cao đẹp?
– Mày thật cố chấp! Và chưa trả lời câu tao hỏi. Bao giờ thì hai nhánh sông sẽ hội tụ?
– Làm sao tao biết rõ điều đó? Mày không thấy sao, mọi chuyện được tác thành đều lệ thuộc vô cả ngàn lẻ một yếu tố?
– Khoan đi đã. Tao có món quà mọn… Cứ xem như đánh dấu mấy tháng quen nhau, nếu mày muốn tìm một lối định nghĩa.
M lôi một ngăn kéo ở cái tủ gỗ có đặt máy truyền hình bên trên. TV đang chiếu cảnh tai nạn giao thông. Xa lộ trơn láng đen mun, xe cứu thương màu vàng và những ánh chớp xanh đỏ của xe cảnh sát.
– Tao không biết kích cỡ to nhỏ của vợ mày. Lấy tạm bốn thứ khác size khác kiểu. Tao mua chúng với giá rẻ hồi còn làm ở hãng đó.
M đưa cho tôi xem bốn hộp giấy. Tất cả đều in hình cô thiếu nữ mặc nịt vú khiêu gợi, phiá dưới có hàng chữ Wonderbra. M thảy chúng vào một túi ny lông.
– Rất tiếc không có gì cho mày cả.
Tôi nhìn vào ngực M. Tôi cố nhớ đến vú vợ mình. Làm sao bạn có thể biết chính xác tầm cỡ quan trọng kia qua những bí số A32 B34 C36 D38?
– Cám ơn.
Tôi nói không thật lòng.
– Lúc nào cũng vậy, hãy nhớ lấy, địa chỉ này sẽ rộng cửa đón mày tới báo tin vui.
M ôm tôi, hôn nhẹ vào một bên má. Ở ngực tôi một vật thể mềm mại đang áp chặt vào. Rung động và cuối cùng là nỗi trống lạnh uà tới. Như thủy triều dâng sóng, xoá tan đụn cát ẩm.
Trời mưa lai rai. Tôi che đầu bằng những thứ dùng che vú đàn bà. Bụng đói, tôi tấp vào một công viên vắng lặng rã rượi từng lùm cây bụi cỏ. Tôi ngồi xuống chiếc bàn gỗ bày cơm ra ăn. Nhìn lui phiá M ở, tầm mắt giới hạn bởi bụi nước, nhạt nhoà cảnh sắc hư hao. Cơm cũng thế, hạt ngọc của trời chan đầy nước mưa. Em ơi!
O tròn như quả trứng gà. Không, o không tròn, o mỏng người ốm nhom. Ô thời đội mũ ơ thì thêm râu. O không có râu, dĩ nhiên. O không có mũ, o chỉ đội chiếc nón lá cũ chẳng đọc rõ bài thơ dấu che. O cắp cái bị lát lỏng lẻo, thứ hành trang nhẹ hẫng dù trước đó o run tay nhét vội vào hai bộ áo quần Mạ may cho.
O đi ba bước ra vuông sân ngập nắng, nghĩ sao o quay lui, lạc hồn như để quên bên hiên nhà một vật hệ trọng. O quì gối cho ngang tầm đứng nghệch mặt của thằng người gỗ. Chị đi hí, em ở nhà mạnh giỏi. Mắt o đỏ, lấy tay áo lau vội bên ngoài con ngươi sầu muộn. O có chiếc khăn tay thêu chỉ hồng một cánh én đang bay ở góc, nhưng nó lỡ thế cái bóp để cuốn chặt những tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hoà in hình Lê Văn Duyệt, Quang Trung. O nhét đồng tiền liền khúc ruột ở lưng quần, sợi giây thun luồn vào làm thắt lưng có hơi chặt chịa khiến da quanh bụng o phải chịu hằn dấu, y như có con rết nhiều chân ửng đỏ bám chặt, không rời. O ôm lấy thân tôi phỗng đá dại khờ. Ngực o rung động, chễnh mảng để lộ phần da thịt làm tôn tạo vẻ đẹp nơi sợi giây chuyền bằng vàng có luồn vào miếng ngọc Phật bà Quan Âm mà Mạ tôi dùng làm món quà trao trước phút tiễn biệt. Em đừng buồn nghe. Miếng ngọc xanh lên nước, giọng o cũng úng nước khiến mắt tôi ướt át. Một khúc củi mục vướng mắc bên con nước chảy xiết, xuôi đổ về hạ lưu.
Mạ tôi từng nói: Hắn còn dại ngỗ lắm, tiếng là 16 rồi nhưng thậm thụt có biết chi mô, rứa chơ cũng bày đặt đi lấy chồng như thiên hạ. Ở ngoài làng tình hình loạn lạc bom đạn tơi bời, nói dại miệng điệu ni chẳng chừng hết còn ngó ra nhau. Làng quê o ở xa, o thủ thỉ bên tai tôi: Chị đi đò nửa ngày quá giang rồi lên bờ bắt xe đi tới chạng vạng mới đụng đầu luỹ tre xanh. Tâm tình nhỏ xíu rứa mà Mạ tôi nghe được: Cái con ăn nói mới lạ, ưa nhảy lò cò bỏ băng, mi phải đội nắng đi qua một cánh đồng cát trắng nổ con ngươi, băng ngang một đồi sim, hết một bãi tha ma còi cọc mới đặt chân vô làng. Luỹ tre xanh mọc ở chỗ mô? Được trớn, Mạ tôi vây khốn: Rứa mi đã thấy mặt hắn chưa? Vẫn nắm lấy đôi bàn tay tôi, o ấp úng: Dạ chưa, mặt ngang mặt dọc ra răng con chưa từng chộ qua. Nghe ba con nói anh là địa phương quân, củ mỉ cù mì thiệt thà như đếm, ít ăn ít nói sáng tối chỉ biết súng là vợ đạn là con. Mạ tôi phán: Cả gan! O thưa: Dạ nhờ trời.
O sẽ lấy chồng, o sắp bỏ tôi đi mất biệt. Tôi ghét những chữ như người ở đợ, đầy tớ, con sen, vú nuôi… Trước sau o vẫn là người chị thân thuộc sớm tối kề cận tôi, van lơn tôi ăn cơm lạy lục tôi đi tắm. O biết dấu những món ngon dưới đáy chén cơm để tôi oà vỡ tiếng cười hiếm muộn. O thức canh khuya để kể chuyện đời xưa, o sẵn sàng dẹp hết mọi công chuyện để lấy kim chỉ may vá áo quần tôi lỡ gây tai nạn toạc rách. Và o độ lượng chẳng la hét khi tôi bất chợt ngó ra cảnh o thay đổi xiêm y lụa là da thịt ngời sáng. Sao người o luôn biết thu cất một bí mật để biến nó thành một hấp lực khôn nguôi. Căn bản, đó là những khác biệt rạng rỡ mà con trai tuyệt không sở hữu được. Và tôi đang hụt hẫng ngó dáng o mờ xa. Tôi khóc mà o không nhìn nhận. Tôi buồn chạnh lòng mà chẳng ai hay.
Có dạo anh tôi, người đóng vai gia sư quyền huynh thế phụ đã khiển trách khi nhìn ra bài luận văn “đầy sai lạc” của tôi với bút mực đỏ mà cô giáo khó tính phê: Lạc đề. “Hãy tả một người em thương yêu và trình bày những cảm nhận của em về người đó”. Có buồn cười không khi tôi đã sa đà đem hình bóng o ra để thêu dệt mộng mơ? Dạ thưa cô, dạ thưa anh, rứa em bị lạc đề ở chỗ mô? Một người từng kề cận mình, ăn cùng mâm ngủ cùng chiếu, bất kể người đó đóng vai vế gì, không khiến lòng dạ mình đâm quyến luyến sao? Thương yêu có năm bảy đường và đường nào cũng đáng trân trọng nếu người ta còn biết mang tâm tưởng để nói ra đôi lời ngợi ca chân tình.
Dần dà theo năm tháng lớn khôn tôi đã bội bạc quên bẵng o. Trí nhớ như một bến nước cứ mãi bị phù sa lấp đầy, biến dạng. Sự phủ lấp chẳng cưỡng lại được khiến mỗi hồi ức tựa công dã tràng khi muốn gợn đục khơi trong. Mù mờ một nhân ảnh, một bờ vai gầy, một đầu tóc rối, một đôi vú nhỏ, một tượng ngọc xanh biết nhảy múa, một giọng nói thiết tha, một vỗ về đêm hôm trái gió trở trời, một… cơn gió thoảng. Lau sậy ven sông xao động, xác xơ, ngớ ngẫng trông theo dòng nước đục trôi băng, nhấn chìm một khoảng trời xanh đầy an lành thuở niên thiếu.
Bạn học cùng tôi dạo ấy đa số đều chóng trưởng thành, chúng chai mặt lì lợm đi ve gái, chúng biết nhín tiền quà sáng để mua thuốc hút sành điệu thổi khói vòng tròn xuống mặt bàn thành hình tim vỡ, chúng ưa ngồi ở quán cà phê mặt đăm chiêu suốt buổi. Chúng hát theo bản nhạc phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên vừa trổi lên:..”thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi…”. Chúng lập ngôn một câu nghe chẳng mấy thuyết phục: Học tài thi phận. Và đứa nào cũng rất tin chuyện dị đoan, chúng nhất quyết ngó lơ quán bún bò mụ Rớt để đổ xuôi tìm tới quán mụ Đỏ chuyên trị bánh bèo bánh bột lọc bánh nậm. Chúng không ăn chè nhãn bọc hạt sen, chè bắp mà lựa toàn chè có dính tới chữ đậu. Đậu xanh đậu đỏ đậu ván đậu ngự. Mười thằng như chục sợ thi hỏng tú tài, sợ vào quân trường sợ xa kiếp sách đèn và sợ xa người yêu “đau lòng ta muốn khóc”. Trong mười thằng, có thằng mết tôi nhất để rồi hắn không ngớt nhồi nhét vào đầu tôi một thứ lập luận rất đỗi phản động: Hai đứa mình phải để dành tiền để làm cuộc cách mạng bản thân. Mi biết không, đi chơi đĩ là một cách xả xui linh nghiệm nhất. Sắp tới ngày thi rồi, gạo bài hoài cũng phờ râu, đợi một đêm trăng thanh gió mát tau dắt mi chui vô động hoa, chuẩn bị tinh thần là vừa đó mi. Đôi ba bữa sau, cóp nhặt nguồn tin thất thiệt nào về, hắn to nhỏ: Mi phải mở con mắt ra dòm chừng, con gái mà chỗ chết người kia không có mọc tóc thì liệu kiếm cớ bai bãi khước từ, dính vô là xui tận mạng đó nghe mi. Bao nhiêu kinh sách bài vở mãi tụng tự nhiên mất sạch sành sanh, đã thuộc nhừ như cháo bỗng trở chứng biến thành miếng cơm cháy cạy hoài không ra, thi hỏng là cái chắc, không lôi thôi trời ơi đất hỡi than thân trách phận gì ráo trọi. Hắn không cảnh báo an toàn bệnh tật chấn thương giang mai hoa liễu mà một hai cứ vẽ vời chuyện râu ria trắng da dài tóc.
Đêm nọ, trời chẳng trăng thanh gió mát, nực nội và đen tối là đằng khác, hắn tới trước cổng chỏ mỏ vào hú lên tiếng ám hiệu nghe như mèo gào khẩn thiết. Cơm nước chi chưa, thời cơ đã tới, leo lên yên tau đèo đi. Hắn nói, tau vừa giải một phương trình toán học và kết quả cho ra, đúng ngày tháng này sẽ rất thuận lợi nếu muốn hoán chuyển dạng thức từ con trai ra đàn ông. Đừng lo, chắc chắn tụi mình sẽ thi đậu, cho dù chỉ vừa đủ điểm để đậu vớt. Tuy là xe đạp nhưng vận tốc có thể sánh ngang với xe gắn máy, điều này xác quyết chuyện hệ trọng: hắn phấn chấn đặt để niềm tin vào việc xả xui, sớm mong thoát xác. Hắn quên chuyện hệ trọng khác: dồn hết năng lượng vào cặp giò để đạp toé khói, liệu kẻ đó có bủn rủn tay chân? Trong khi tìm tới động hoa, “sụm bà chè” là chữ tuyệt đố kỵ, chưa đánh đã vội nghe mỏi gối chồn chân e đành kíp cởi giáp quy hàng. Hắn thở hổn hển, giờ ni có hơi sớm, nhưng phàm làm việc vụng trộm chớ nên đợi giờ cao điểm. Đông đúc chộn rộn vốn không thích hợp cho bọn mình.
Xe chui vô động hoa, hắn run tay khoá chiếc xe đạp đang muốn trật cóc sút dây sên bên giàn hoa thiên lý. Khung cửa hắt ra sân đất một hình khối xanh lét ánh điện néon. Tuy được đèo chở chẳng nhọc sức nhưng tôi nghe rõ vía mình đang yếu, hoang mang lo ngại. Mùi hoa thiên lý nồng nàn quá chừng, sao xông hương mùi ma quái liêu trai? Rụt rè bước qua khỏi ngạch cửa thì đụng đầu một người đàn bà, chắc đúng là bà Tám chủ động như lời thằng bạn sớm thông tin. Đứa vẽ đường cho hươu chạy thì thầm trình bày lý do sự hiện diện và tôi hoàn toàn xuội lơ giao trứng cho ác. Đã trót leo lên lưng cọp thì việc duy nhất cần tuân thủ là ngồi im re chớ vọng động. Hãy nhủ thầm, qua khỏi cánh rừng hoang dại cọp sẽ vất ta xuống, chẳng đoái hoài xơi mạng con cáy đang niệm thầm tội lỗi tội lỗi.
Sau cùng thì nghe giọng bà Tám trầm bổng: Có hai em ni dáng người thanh cảnh tuổi đời chưa trải e hợp tạng với hai cậu nho sinh. Bước vô mà chẳng hùng hổ bặm trợn thì tui cũng biết lựa ra đối tượng nhu mì đặng vui vầy cho êm thắm canh khuya. Phàm việc đời bất luận nói tới việc mua sắm thì nên đặt tiêu chí tiền trao cháo múc để sau đó được thuận buồm xuôi gió. Học trò học bè tiền bạc không có mấy hột, tui quyết công bằng chẳng đành tâm chặt chém. Con Mộng con Tiên mô rồi, đi ra cho hai cậu coi mặt. Tấm màn vải được vén lên, giống như trên sân khấu từ cánh gà bất thần vụt hiện hai nhân vật chính chuẩn bị diễn tuồng. Thằng bạn dạn dĩ nắm tay lôi đi cô gái vóc vạc đẫy đà, kẻ còn lại mình hạc xương mai ít thịt thà đưa mắt ngó chăm tôi. Đôi mắt buồn, đôi mắt của kẻ luôn chịu thiệt thòi, đôi mắt của kẻ đầu hàng số phận. Đôi mắt biết nói thầm: Cha mẹ sanh em trời bắt xấu. Đôi mắt không biết nhắm trong phút giây, cô mãi nhìn tôi như thể kiếm xem trên dung mạo kia ẩn chứa chút gì quen thuộc. Cô cười với tôi, không cứ là môi, hai mắt cũng biết cười. Đã tới đây sao còn làm bộ làm tịch, vô trong này đi, có ai ăn thịt anh đâu mà phải điếng hồn. Coi cái mặt kìa. Lần đầu tiên hả? Không biết là Mộng hay Tiên? Tiên hay Mộng đã nắm tay dìu tôi vào một địa phận của trần gian tù mù, và chật hẹp. Chỉ có chiếc giường nhỏ nằm cô quạnh, duy mình nó bị vây khốn giữa bốn bức vách gỗ, ngạt thở.
Như một người luôn thực thi đúng với châm ngôn “thời giờ là vàng bạc”, chẳng nói chẳng rằng cô trút bỏ toàn bộ áo quần chỉ trong một sát na. Sát na sau là Tiên là Mộng nằm xuống giường với một chân duỗi một chân co. Không cứ là môi là mắt, toàn thân trần của cô dường cũng biết cười vào sự lúng túng vây bọc lấy tôi. Thôi được rồi, để em giúp cho một tay, anh cởi áo em phụ cởi quần. Vạn sự khởi đầu nan, nếu đã ăn quen bén mùi thì vận sự lại đổi khác, chẳng chừng chính tay anh lột truồng em ra bất kể van lơn. Nói rứa nghe có lọt lỗ tai không? Người chi mà hiền lành, thương hết biết! Đêm hè nhưng tôi nghe lạnh, mát mẻ thì đúng hơn. Như mang vào người thứ võ công cái thế, thoắt cái, cô ảo thuật gia đã thổi biến y phục tôi bay đi. Cô dìu tôi nằm xuống. Thuỷ chung tôi vẫn là hiệp sĩ mù, nhớ lời thằng bạn từng ra thông cáo quan trọng: Hãy tập trung nhãn tuyến vào chỗ ấy, nếu nó không có tóc thì nghỉ chơi. Tôi mở lớn đồng tử, như quang khẩu có trên máy chụp hình, tự điều chỉnh khoảng cách trông sao cho rõ mười mươi vật thể được nhắm tới. Tôi thấy rõ nét vật chẳng muốn thấy: Sợi dây chuyền vàng có móc tượng Phật ngọc đong đưa tòn ten giữa trũng ngực. Quen thuộc quá. Lạ lùng quá. Đúng rồi, là của o. O, giờ này o ở đâu? Tôi nói: Tui hỏi chuyện ni chút? Người bán hoa đáp: Nếu anh ngại, em sẽ cho anh cái áo mưa. Tôi thưa: Tui muốn biết vì răng mà cô có được sợi dây chuyền ni? Cô gái áng chừng nhỏ thua tôi năm bảy tuổi nói giọng đàn chị: Cắc cớ, lộn xộn, nhiều chuyện, không lo nhúc nhích cho sướng thân mà đè chuyện tào lao ra hỏi. Nếu tui muốn mua thì cô tính răng? Tầm bậy, nó vô giá, không đủ tiền mua đâu. Vật gia bảo à? Ừ, của mạ tui cho, đã thoả mãn chưa?
Tôi ngó sâu vào mặt đứa con o để mong thấy lại o ngày cũ. Tôi dùng tay vuốt lại những sợi tóc rối vướng che và với tất cả những động thái nhằm biểu lộ lòng thương yêu, tôi kể cho cô ấy nghe chuyện ngày cũ, về xuất xứ sợi dây chuyền, về nguyên cớ o bỏ căn nhà tôi ở để về làng lập thân. Mạ em chết như rứa là đã bốn năm rồi, nhà cửa sa sút lắm… Tôi ngó giọt nước mắt chẳng tượng hình nằm lấp ló bên khoé, chẳng cầm lòng tôi ôm siết lấy thân cô.
Năm đó, cả hai đứa chúng tôi đều thi đậu, dò thấy tên họ in trên tờ giấy niêm yết trước cổng trường có lắm đứa chen chân. Phải đi ăn mừng, hắn nói. Đã qua truông lọt thì thôi kiêng cử, tà tà tấp vô quán mụ Rớt quất hai tô bún bò danh trấn giang hồ, nhớ bỏ ớt cho nhiều vào, cay thấu trời cho nước mắt trào đi bao dòng lệ cảm xúc. Tôi nói cho hắn nghe, chỉ với một hậu ý, những gì người ta thêu dệt đều xằng bậy cả: Nguyễn thị Tiên, chỗ ấy không mọc tóc. Sau khi nghe hết ngọn ngành, hắn đi tới kết luận: Do đâu mà mi thi đậu? Ấy là do bởi linh hồn O nớ đã về gần, phù hộ độ trì cho mi đó thôi. Ở cuộc đời khó hiểu này, mi nên tin tới một thứ gì siêu nhiên xa ngái chẳng thể giải thích được để an lòng khi gặp vấn nạn. Nhưng mà hiện tại, thi đậu rồi chừ mi tính đơm mộng ước ngày mai ra sao? Tôi nói, tôi chỉ có duy một cơn mộng rồ dại, là làm thế nào có thật nhiều tiền để làm thay đổi cuộc sống của Tiên, mang Tiên ra khỏi vòng vây của chiếu giường. Chỉ ngần ấy thôi. Nói tôi yêu Tiên thì nghe có điên không?
Thằng bạn nhìn tôi trân tráo, có phải là hắn đang đối mặt với kẻ sống ngoài hành tinh? Cận kề, thân thiết mà cũng quá đỗi xa ngái khó hiểu. Hắn hỏi: Ăn xong mi làm chi? Tôi nhai một trái ớt hiểm, rau ráu: Tau tới động mụ Tám, tau có trình bày lý do và được mụ ấy đồng ý cho phép Tiên dắt tau đi thăm mộ O. Chỉ nhổ cỏ chỉ thắp nhang chỉ khấn vái sơ sài vậy thôi, mai hậu mới tính chuyện cúng kiến hậu tạ tri ân tưởng nhớ. Ừ, nói cũng đúng, sẵn, thưa với mụ ấy: Học trò học bè tiền bạc mô có mấy hột mà sớm tối nướng thân vào động hoa. Cái chi cũng rứa cả, tập đều đặn thì luôn tốt cho sức khoẻ: Cơm ba bát thuốc ba thang, ngày làm đêm nghỉ thầy lang khỏi mời.
Tôi vẫn nuôi mộng cuồng cho tới mùa xuân năm ấy, Tiên đổ bệnh, mời thầy lang nhưng ổng lắc đầu. Phút giây bàn giao cho tử thần, Tiên trao vào tay tôi sợi dây chuyền, Phật bà Quan Âm xanh mét màu ngọc. Ngọc mát, chừng như đá quý biết rịn nước. Tiên muốn được tôi hôn cô lần cuối, được tôi vuốt mắt cô, được chính tay tôi lấy khăn đắp mặt. Tôi ngoan dại nghe lời, mừng thầm là Tiên ra đi nhẹ nhàng, thoát khỏi cái thế giới ám chướng trì nặng. Tôi cũng nhẹ người, thoát khỏi ám ảnh đội đá vá trời quyết giúp Tiên hoàn lương.
Tết run sụt sùi, mưa suốt trên thành phố xám đục. Hai hàng cây dẫn về nghĩa trang câm lặng gục đầu rơi rụng những cánh hoa tím, nhỏ li ti. Mưa rải đều hạt xuống ngày tháng chẳng còn vẹn toàn, ngày ngắn lại đêm dài hơn hoặc đêm ngày đồng loã hoá thân thành mũi tên, cắm sâu từ O, xuyên thâu lút cán tới Tiên, đứa con gái bị đày ải xuống trần gian vắn số. Trời buồn, trời khóc? Tôi ướt nghe ngói, rùng mình.
Phần 32 Tin thăm nuôi đợt đầu vào tháng Mười lan truyền khắp các trại. Cùng với tin thăm nuôi ấy, trại 1 chuyển công tác. Những phần đất mà trại 1 phụ trách lên luống giờ đây đã biến thành một cánh đồng trồng toàn khoai mì dài hút chân trời. Hàng ngày, những đội phụ trách cắm mì vẫn liên tục nhận từng chuyến Molotova đổ xuống sân những thân cây mì già. Anh em ngồi chặt thành từng khúc, cứ ba đốt một. Những khúc mì này sẽ được chuyển sang cho các đội phụ trách cắm mì. Bọn Vĩnh ngồi tính quẩn với nhau. Với số mì một ngày kia thu hoạch được nuôi tù hai năm không hết! Và nếu năm nào An Dưỡng cũng chơi một vụ khoai mì như thế, đời bọn cải tạo coi như Amen. Dù sao mì đã cắm, khoai đã trồng và công tác mới đã đến; bọn Vĩnh dù muốn dù không lại phải lao vào “Mặt trận cải tạo doanh trại mới”, hoặc đểu cáng hơn “Các anh làm các anh hưởng” nói theo ngôn ngữ của bọn cai tù. Công tác hiện tại của B2 là kéo cột đèn. B2 cũng như nhiều B khác, kéo cột đèn dưới sự điều động của hai quản giáo mới. Quản giáo chính mang cấp bậc trung úy, dân miền Nam tập kết tên Hồng. Quản giáo phụ mang cấp bậc thiếu úy, loại răng đen mã tấu nhưng tính tình cũng tương đối hiền hòa hơn bọn răng đen mã tấu trước đây. Tay Hồng có thân nhân ngoài Biên Hòa. Hắn có lẽ là người duy nhất làm chủ cả một cái Suzuki. Hồng chiều nào cũng lái xe gắn máy Suzuki ra Biên Hòa khi giờ lao động hết trước những đôi mắt thèm thuồng của bọn quản giáo và vệ binh cùng trại. Khuya lắm hắn mới trở về trại. Người ta đồn rằng Hồng khoái nhậu nhẹt. Nếu lời đồn ấy đúng thì Vĩnh cũng không lấy làm lạ. Sống trong thế giới Cộng sản Việt Nam, chỉ cần quan sát một chút, người ta sẽ rất dễ dàng nhận ra một điều: Dù cũng là Cộng sản, cũng chịu chung một giáo điều do Hà Nội chỉ đạo và giáo dục; bản chất của một thằng Cộng sản miền Nam vẫn khác xa bản chất của một thằng Cộng sản miền Bắc. Nói một cách khác, chúng vẫn không thể thoát khỏi ảnh hưởng của đất lề quê thói, của địa dư, của mức sống… là những cái có tham dự tích cực trong việc cấu thành bản chất của con người. Đặc tính của người miền Bắc thế nào? Phổi bò nhưng thích… lòe! Anh miền Trung tấm ngẩm tầm ngầm đấm chết voi. Còn anh miền Nam? Có lẽ khó tìm được chữ nào chính cho bằng chữ… phè văn nghệ! Thế nên, ta sẽ không ngạc nhiên thấy rằng thằng Cộng sản miền Bắc chúng cũng mê rượu như ai, cũng uống rượu như ai; nhưng khi uống xong rồi, nó xúc miệng thật sạch, hà cho hết hơi rượu rồi ra đứng trước quần chúng giảng đạo đức Cách mạng và hiên ngang khẳng định rằng: Ai uống rượu là uống máu nhân dân! Còn thằng Cộng sản miền Nam thì ngược hẳn lại. Hắn sẵn sàng giảng đạo đức Cách mạng ở bất cứ đâu, kể cả trên bàn nhậu và trong ổ điếm. Hai quản giáo của đội 5, Hồng thuộc loại sẵn sàng giảng đạo đức Cách mạng trên bàn nhậu vì hắn gốc miền Nam. Còn tay kia, dù gốc miền Bắc nhưng hắn không gian ngoa lắm. Có thể hắn đã thấm mệt chăng? Không thể cả quyết được, dù đã có lần Vĩnh và bạn bè từng nghe hắn tâm sự: Các anh ráng cải tạo tốt mà về với vợ con. Tôi thua các anh là chẳng có vợ cũng như chẳng có con! Một tay tù khẽ nói.
– Anh lấy vợ mấy hồi.
Hắn thở dài.
– Tôi chán không muốn lấy vợ nữa.
– Sao vậy?
– Tôi có vợ rồi, nói thế mới đúng. Nhưng nó đã bỏ tôi và tôi quyết không bao giờ lấy vợ nữa.
Cuối cùng hắn kể câu chuyện của đời hắn.
Trong một trận B.52 trải thảm Dakto, đơn vị của hắn dù may mắn không rơi vào trung tâm địa bàn trải thảm, nhưng chiếc đuôi của cái thảm ác ôn ấy cũng khiến cả đơn vị hắn tan nát quá nửa. Hai ngày hai đêm chạy trối chết về hậu cứ vùng tam biên, từ quan tới quân chỉ còn một mảnh quần đùi trên người. Sau đó, chả hiểu bọn Tâm Lý Chiến ngụy chúng tìm được ở đâu ra, chúng đem tất cả giấy tờ lý lịch của hắn và của nhiều tay khác nữa lên cái đài Mẹ Việt Nam hay Mẹ Mìn gì đó, phát ra Bắc tất cả tên tuổi của những cán binh Cộng sản tử trận trong giờ Sinh Bắc Tử Nam! Thế có hại nhau không chứ!?
Khi giải phóng xong được về phép, hắn mới biết vợ hắn đã lấy chồng khác từ hơn 6 năm qua chỉ vì mụ ta không thể có can đảm ngồi chờ mãi một người chồng… đã chết!
Đội 5 đi kéo cột đèn dưới sự điều động của hai quản giáo có những cá tính và tâm tình như vậy.
Trong khi vừa bắt tay vào công tác thì một biến cố nhỏ xảy ra. Huỳnh Công Cẩn bay chức nhà phó B2 biên chế sang đội khác cùng với ba tay nữa. Chuyện thực tế không có gì, chỉ vì đội 5 có quản giáo dễ tính với tiếng đồn lan rộng cả trại, các quản giáo của đội khác chú ý và có ý trù ẻo cái đội mà theo chúng “rất chậm tiến” này. Sự trù ẻo theo dõi đội 5, từ B1 đến B5 không ai cẩn thận lưu ý, nên đã có nhiều tay bị vồ nhốt connex toàn những chuyện không đáng. Riêng Huỳnh Công Cẩn bị vồ vì một chuyện tương đối nặng, nếu xét trên lập luận của Việt Cộng.
Cẩn vốn giỏi nhu đạo. Tùy viên của ông số 2 An Ninh Quân Đội dĩ nhiên đâu có xoàng chuyện võ nghệ. Một đêm trăng thanh vắng khó ngủ, chả hiểu ngứa nghề ra sao, Cẩn rủ hai ba thằng bạn đồng điệu ra phía sau một đống củi cao ngất phía bếp đội để… múa võ tiêu sầu. Kẻ thiếu lâm, người nhu đạo, kẻ quyền Hồng Mao, người cước Đại Hàn. Bốn tay quyền cước vù vù qua lại mà không ngờ rằng họ đang có những khán giả rình xem một cách say sưa. Bọn khán giả ấy là mấy thằng quản giáo của các đội khác, trong đó có thằng quản giáo Dương, mặt rỗ chằng rỗ chịt và ác có lông bụng của đội 6. Thẳng quản giáo này dù trùng tên và trùng bệnh rỗ với Vũ Duy Dương, nhưng thân hình thì xanh mét của một kẻ đã phải uống Ký ninh nhiều năm. Dương quản giáo người gốc Bạc Liêu, tuy cũng miền Nam như Hồng quản giáo nhưng hắn ta thù “ngụy” khủng khiếp lắm. Theo như anh em bên đội 6 điều tra cho biết, Dương trước đây mất vợ vào tay một anh trung sỹ Địa Phương Quân ở Bạc Liêu lúc hắn vào bưng theo Việt cộng. Khi về thành, biết mình mất vợ vào tay “ngụy”, mối thù hằn của hắn có cớ để dâng lên gấp mười lần mối thù hằn chính trị. Đầu tiên hắn ra tay bên đội C của hắn, chẳng hạn vụ Lê Văn Quy, trung úy không quân bên nhà C3. Quy đi lao động, chui vào một giàn bầu đứng đái. Quản giáo Dương đi qua trông thấy và lôi Quy ra chửi rủa.
– Anh có hai tội, anh có biết không?
Dĩ nhiên Quy chỉ có thể kêu ca.
– Thưa anh tôi chỉ đi tiểu.
Quản giáo Dương trợn mắt méo mồm.
– Anh đừng ngoan cố. Nhân danh Cách mạng tôi cùm anh vì hai tội.Thứ nhất, thấy quản giáo đi tới, anh lôi c… ra đái. Hành động hỗn xược ấy không thể tha thứ. Thứ hai, một gốc bầu đang xanh tươi thế này, anh đái vào gốc, dây bầu sống sao nổi với cái nước đái nồng nặc ấy? Điều ấy chứng tỏ anh có ý đồ phá hoại sản xuất.
Quản giáo Dương tính nói thêm thì bỗng dưng hắn há hốc miệng, mắt trợn trắng như nhìn thấy quỷ xuất hiện giữa ban ngày. Hắn vừa đọc ra một hàng chữ viết trên một quả bầu lủng lẳng trước mặt: Đả đảo Hồ Chí Minh! Hắn vừa ngạc nhiên vừa giận sùi bọt mép. Hắn rống lên. Ý thiên địa ơi! Mày phản động đến thế kia à?
Tội nghiệp cho Lê Văn Quy, tình ngay mà lý gian! chỉ vì chui vào một gốc bầu xả cho nhẹ bụng, đã bị nâng cao quan điểm khinh Cách mạng, phá hoại sản xuất, lại lãnh luôn cái trách nhiệm vì một câu văn không mấy tử tế viết trên một quả bầu mà chẳng rõ tác giả là ai. Quy nằm connex hai tháng trời chỉ vì một vụ đứng đái.
Thế nhưng những vụ như thế trong đội 6 không đủ thỏa mãn quản giáo Dương. Nói theo kiểu Cộng sản, quản giáo Dương đang nỗ lực “vói cái vòi” sang đội khác để quấy nhiễu các đấng quan quyền của chế độ cũ! Huỳnh Công Cẩn và vài anh bạn nữa lãnh búa kỳ này.
Trong lúc bốn tay đang say sưa múa võ thì một tiếng thét chợt vang lên, tiếp theo là tiếng súng lên đạn.
– Bốn thằng gian nhân hiệp đảng kia đứng yên, giơ tay lên đầu!
Bốn võ sư nghe thấy tiếng lên đạn, đành giơ tay lên đầu cho xong chuyện.
Quản giáo Dương đã xuất hiện. Hắn hùng hổ, chỉ Cẩn hỏi lớn. Thằng kia, mày tên gì, đội nào?
Cẩn trả lời.
– Tôi tên Cẩn, đội 5 nhà B2.
Quản giáo Dương chỉ tiếp ba tay còn lại.
– Ba thằng kia đội nào?
Sau khi biết rõ toàn dân đội 5, Dương nổi giận hầm hầm. Hắn vẩy vẩy khẩu K.54 về phía Cẩn. Mày đứng cách tao 5 thước, hai tay vẫn để trên đầu. Quay sang ba người kia, hắn ra lệnh tiếp. Còn ba thằng kia đứng cách tao ba bước, ngồi xuống đất và hai tay vẫn để trên đầu!
Trong các dãy nhà của đội 5 đã nghe thấy tiếng lên đạn và tiếng quát tháo, có kẻ lẻn bước vào những vùng bóng tối bên hiên nhà rình xem. Rõ ràng quản giáo Dương dù có súng trên tay nhưng có vẻ rất sợ hãi và thủ thế đối với 4 tên “ngụy” mà theo hắn, chúng có khả năng tung mình đá hắn dập mặt nếu không bắt đứng cách xa hắn một khoảng cách cần thiết!
Đêm hôm ấy, không may cho Cẩn và ba anh bạn khác, quản giáo Hồng đi nhậu chưa về. Còn quản giáo Kình – tay quản giáo mất vợ vì đài Mẹ Việt Nam – lại quá hiền không can thiệp được gì. Cuối cùng cả bốn thằng tù của đội 5 bị lũ quản giáo của đội 6 giam hết vào connex! Sau này quản giáo Hồng biết chuyện nổi giận đùng đùng, và bọn tù nghe đồn Hồng suýt quại mấy thằng quản giáo của đội 6 để trừng trị cái tội dẫm chân nhau. Nhưng vì áp lực của ban chỉ huy trại, bọn Cẩn vẫn bị tống vào connex và biên chế sang đội khác với lý do: Tụ tập học võ với ý đồ phản động đen tối!
Có lẽ vì uất ức với cái chuyển cỏn con ấy, Hồng bất mãn ra mặt với ban chỉ huy trại. Bọn tù, đặc biệt B2, đâu thiếu những tay có đòn tâm lý chiến đầy mình; thế nên khi đi kéo cột đèn, nhiều tay khích tướng Hồng, Hồng càng điên tiết và tự động cho B2 bớt chỉ tiêu.
Từ cổng trại An Dưỡng dẫn vào bên trong trại là một con đường nhựa dài khoảng trên 2 cây số. Con đường này chạy dọc theo phi trường Biên Hòa nhưng cách vùng phi trường một cánh rừng và đầm lầy đầy mìn bẫy, rắn rít và những cây cỏ mọc hỗn loạn dầy đặc. Trên con đường nhựa ấy, bọn tù của đội 5 mỗi ngày phải đào xới và hạ nhiều chục cây cột đèn chạy dọc hai bên đường, đồng thời kéo vào những vị trí quy định nằm sâu trong trại.
Việc ha cột đèn tuy có nguy hiểm nhưng dù sao không quá cực nhọc. Dĩ nhiên tất cả đều dùng cuốc xẻng để vật ngã những cây cột đèn nặng nề do Mỹ thiết lập trước đây. Đầu tiên đào chung quanh chân cột đèn sâu tới đáy cột. Khi cột lung lay, đào tiếp bên hông đáy cột một độ vát chừng 60 độ. Khi cho cột đèn đổ xuống là cả một sự gay go. Một sợi dây buộc từ ngọn cột do mười người ghì một bên, bên đối diện chêm dần những khúc gỗ từ dài đến ngắn cho đến lúc cây cột nằm dài an toàn trên lề đường. Khi cột đèn hạ xuống, toán kéo cột đèn nhào đến làm việc. Nếu là cột đèn gỗ ngâm dầu thì 12 người một cây. Nếu là cột đèn đúc loại tròn có lỗ thì phải 18 người mới có thể kéo nổi một cây.
Trời trưa nắng, 18 người luồn những sợi dây thừng qua các lỗ trên thân cột đèn, hai bên cột mỗi bên 9 người lấy hết sức lực kéo lê cây cột đèn đi. Nặng lắm, nặng lè lưỡi! Và khi cây cột đèn đã có trớn, phải cố mà kéo thẳng một hơi về đến nơi quy định cách đó cũng trên một cây số. Nếu tự dưng có vài tay quá mệt buông lỏng tay kéo, những người còn lại không đủ lực kéo cây cột đèn chạy tới nữa, cây cột sẽ nằm chình ình trên đường nhựa. Đây là một điều rất tai hại vì cây cột quá nặng, sẽ lún xuống đường trải nhựa dưới trời nắng. Muốn cho cây cột nhúc nhích để có đà kéo trở lại, 18 thằng tù không hòng gì làm nổi. Và như thế, lại phải nhờ đến sự tiếp tay của ít nhất 10 người khác nữa mới có thể kéo cây cột đèn nặng nề khỏi chỗ lún, và tạo một cái trớn mới cho việc di chuyển cây cột đèn trên đường.
Mặc dù hai quản giáo đội dễ dãi tí chút, nhưng quản giáo không đi theo những toán kéo cột đèn. Chúng chỉ đứng chỉ huy những toán hạ cột. Đi theo các toán kéo là những thằng vệ binh oắt con nhưng mất dạy vô kể. Vì một cớ gì đấy, cây cột đèn lại nằm chình ình trên đường khiến thằng vệ binh phải đứng một chỗ dưới trời nắng, hoặc phải tìm cách tuyển mộ vài tay lao động gần đó chạy đến tiếp sức, thì thế nào bọn tù kéo cột đèn cũng bị chửi bới đến mức.
Tổ 1, tổ 2 của nhà B2 đa số yếu sức và bệnh hoạn. Và như thế có nghĩa là bị chửi dài dài.
Dẫu sao công tác cực khổ và bị chửi không làm giảm đi sự thích thú của bọn tù, vì công tác này đã đem bọn tù ngày mỗi xa hơn cổng trại, nơi đây, tù được nhìn thấy con người, được nhìn thấy nhà cửa, được nhìn thấy tí quang cảnh của thế giới bên ngoài.
Một hôm quản giáo Hồng động lòng trắc ẩn cho lũ tù “ngụy” quá cực khổ, lên tiếng hỏi.
– Các anh có thèm rượu không?
Lũ tù hơi ngẩn ngơ nhưng rồi cũng có một tay cười cười trả lời.
– Thèm quá anh!
– Vậy có anh nào đem theo tiền không?
Vài ba tay mừng rỡ đáp.
– Có, có thưa anh.
Quản giáo Hồng cười cười, nhưng nụ cười quả thật không có nét nham hiểm như nhiều tên quản giáo khác. Hắn nói.
– Đấy, các anh thấy không. Ban chỉ huy trại luôn luôn đánh giá các anh chậm tiến bộ là phải quá. Nội quy đã cấm ngặt không cho đem tiền theo khi đi lao động, phòng những kẻ xấu có phương tiện âm mưu trốn trại. Anh nào cũng hạ quyết tâm học tập tốt, lao động tốt, cải tạo tốt, chấp hành nội quy tốt. Hỏi ra thì chả tốt tí nào. Nửa đùa nửa thật lên lớp một lúc, quản giáo Hồng trở lại giọng thân mật. Tôi bảo thật các anh. Ai không biết chứ cá nhân tôi, tôi thừa biết chẳng cách gì cải tạo các anh được. Ngay bà con tôi sống ngoài Biên Hòa cũng vậy. Cách mạng giải phóng đã năm rưỡi trời, ấy thế mà vẫn phát ngôn linh tinh rất là phản động. Tôi nhắc nhở mãi cũng đâm chán, giờ ra chơi ngoài ấy mạnh ai nấy nói, tôi không thèm lưu tâm nữa. Nhưng riêng với các anh, vì tôi có trách nhiệm với Đảng cải tạo các anh, tôi khuyên các anh một điều, đừng làm gì sai trái để bị tập thể phát hiện và lên án là đủ. Còn trong đầu các anh muốn nghĩ gì thì nghĩ. Nhưng hãy nhớ trong đầu thôi, đừng bao giờ biến những ý nghĩ phản động trong đầu thành hành động cụ thể trong xã hội này. Không lợi lộc gì mà chỉ mang đại họa chẳng những cho mình mà còn cho cả họ hàng nhà mình nữa. Nói xong quản giáo Hồng ngó trời ngó đất, rồi ngó về một chỗ mà đám tù kéo cột đèn mấy ngày nay ai cũng thèm thuồng…
Cách chỗ đứng không bao xa là một quán cóc bên đường. Mấy ngày nay kéo cột đèn, bọn Vĩnh đã chú ý rất nhiều đến cái quán ấy. Kẻ thì bàn rằng cái quán ấy dứt khoát là của vợ con một thằng bộ đội nào đó. Kẻ thì cho rằng có thể là của dân địa phương. Dù sao cái quán cóc trông thê thảm không thể tưởng tượng được. Nó là tổng hợp của mọi nghèo nàn trong xã hội này. Vá víu, rách rưới, dơ bẩn… Nếu không có những cây chanh, cây na, cây bưởi um tùm vây phủ chung quanh, cái quán ấy khó mà đứng vững được trước một cơn gió lớn. Sườn là những cây tre khô khẳng khiu, bên trên lợp vài miếng ván ép mục nát vì mưa nắng. Bên trong để một cái bàn bẩn thỉu sứt sẹo và đôi ba cái ghế đẩu cao thấp không đều. Trên một cái bàn thứ hai nhỏ hơn, đặt trước quán cóc, để vài cái lọ bên trong vàng ạch mấy quả cóc quả me. Một lít rượu đế đứng bơ vơ bên cạnh mấy cái chung đã sứt mẻ lởm chởm. Cũng có ngày bọn Vĩnh nhìn thấy trên mặt bàn ấy một hai ổ bánh mì khô queo, vài ba cái bánh ú mà ruồi bu như rải đậu đen… Nhưng thế nào thì những thứ ấy vẫn là những thứ có hấp lực kinh khủng với bọn tù đói hiện nay. Nhất là bên trong quán, ngồi ngay thềm trước có một cụ bà tuổi độ 60 vừa vuốt nan đan giỏ, vừa thỉnh thoảng nhìn ra bọn Vĩnh với hai ánh mắt thật khó cắt nghĩa… Nó nửa trách móc nửa mến thương.
Quản giáo Hồng chợt nhìn vào đám tù. Hình như hắn đếm. Hiện tại chỉ có hai toán. Một toán đào gốc cột đèn của nhà B4 và toán kéo cột đèn của nhà B2 trong đó có Vĩnh đang đợi cây cột đèn sau cùng cho lần kéo cuối cùng của một ngày. Tất cả chừng hai mươi người. Quản giáo Hồng nhìn đồng hồ. Giờ này có thể cũng đã gần năm giờ chiều, nắng đã bớt gắt. Bọn tù đã có anh liều lĩnh kiếm một gốc cây ngồi phe phẩy vạt áo cho mát mặt. Quản giáo Hồng bỗng lên tiếng trở lại.
– Sao, bây giờ cho nghỉ lao động vào thăm cái quán kia một lúc có kêu ca gì không?
Bọn tù sướng như lên thiên đàng, chỉ gật gù và không ai nói được lời nào. Quản giáo Hồng nói tiếp. Ai có tiền thì cho các bạn chia chác với, miễn sao đừng náo động và êm đẹp. Về nhà rồi tính toán lại với nhau. Nhất trí chứ? Để các anh thoải mái, tôi ghé lại các đồng chí vệ binh ngoài kia tí. Cũng dặn các anh, hai mươi người chỉ nhấp chơi một lít thôi đấy nhé. Các anh mà say sưa, tôi là người đầu tiên cùm các anh đấy.
Nói rồi quản giáo Hồng bỏ đi. Bọn Vĩnh lầm lũi kéo vào quán. Bà cụ mấy hôm nay chỉ ngồi nhìn bọn tù kéo cột đèn qua lại, bỗng ngạc nhiên thấy cả đám kéo vào.
Đám tù chưa biết ngỏ lời ra sao, bà cụ đã đon đả với giọng Bắc rành rẽ.
– Anh quản giáo cho mấy cháu vào xin nước uống phải không?
Hóa mau miệng.
– Dạ kính chào bác, tụi cháu được phép vào mua tí gì uống.
Hóa vừa dứt lời thì bà cụ đã quay phắt vào bên trong gọi lớn.
– Bố thằng cu ơi!
Bây giờ Vĩnh mới được dịp quan sát sâu bên trong khu vườn. Bên trong ấy còn có một căn nhà xây đàng hoàng, tuy nhiên vôi đã tróc lở và một phần mái tôn đã bị tháo gỡ khiến căn nhà trông như một căn nhà bỏ hoang. Tiếng gọi của bà cụ đã kéo được một người đàn ông trong căn nhà đó ra. Anh ta tuổi chừng 35, chột một mắt và hình như có thương tật một bên chân. Anh khập khễnh bước ra khỏi căn nhà và e dè cất tiếng chào đám Vĩnh.
– Các anh ngồi chơi. Các anh cần nước uống hả?
Vì chưa nắm vững tình hình, bọn Vĩnh cũng phải thủ từng lời nói. Lỡ ra, họ đều là thân nhân của một thằng quản giáo trong trại, nói hoảng nói tiều có mà vỡ mặt! Thế nên đám Vĩnh cũng chỉ nhỏ nhẹ.
– Chúng tôi lao động bên ngoài, quản giáo cho phép vào mua tí… rượu uống tại chỗ.
Bà cụ nghe thấy lộ rõ nét ngạc nhiên.
– Cho mấy cháu mua rượu à? Cho uống rượu à?
Một tay trong bọn lên tiếng.
– Dạ anh quản giáo này tương đối dễ tính. Anh ấy cho mua uống chút đỉnh…
Bà cụ không đợi ai nói gì thêm, bà vơ ngay chai rượu trên chiếc bàn, đưa đại cho một người.
– Đây, mời… mời các cháu. Các cháu cứ uống đi. Để tôi bảo con tôi nó lấy ra thêm vài lít nữa.
Nói rồi bà cụ quầy quả đi vào nhà trong, miệng lẩm bẩm. Lạ nhỉ, lạ nhỉ? Lần đầu tiên…
Bọn Vĩnh thực sự đâu phải ai cũng thèm rượu. Thèm là thèm quả cóc quả ổi, thèm ổ bánh mì và mấy đòn bánh tét. Tuy nhiên có rượu nhấp chơi tí đỉnh cũng không nên từ chối. Vĩnh là một trong những người đầu tiên cầm chai rượu rót ra một chung và uống cái ực. Trời nóng, lâu không uống, chơi một chung muốn khạc ra lửa!
Vừa lúc ấy bà cụ đi ra, trên tay cầm thêm một chai đế và mấy con khô mực sống. Một người vội nói.
– Thôi cụ ơi, tụi cháu không uống rượu đâu. Chút xíu cho đỡ nhớ thôi. Cụ có cái gì ăn được bán cho chúng cháu một ít thì quý hóa lắm. Bánh tét chẳng hạn…
Bà cụ ngó nhanh ra phía ngoài đường, đoạn trả lời.
– Mấy cháu đừng ngại. Đã vào tới đây thì đừng nghi kỵ cái gì. Bác dân Hố Nai mà. Anh con của bác đây trước cũng là trung sỹ sư đoàn 5. Nó bị thương giải ngũ từ hồi 70. Nói đoạn bà cụ quay sang anh con trai bị chột một mắt còn đứng xớ rớ gần đấy. Này Tịnh, con chạy vào nhà xem còn bao nhiêu bánh mì bánh ú lấy hết ra đây. Mấy bịch bánh men lấy ra luôn. Lấy ra cho mấy anh đây ăn một bữa.
Một thoáng sau bọn Vĩnh được chén một chầu bánh ú. Rượu chẳng mấy người uống. Bà cụ lại chạy vào nhà trong, một lúc trở ra than thở nho nhỏ một điều gì đó với anh con trai. Anh con trai chỉ đáp khẽ.
– Giờ này lội ra tới ngoài đó cũng mất cả nửa tiếng. Về nửa tiếng nữa làm sao kịp.
Một người trong đám đoán biết ý bà cụ vội ngăn lại.
– Thôi bác ơi! Bác cho chúng cháu ăn thế này là quá rồi. Bác đừng bận tâm gì nữa…
Bà cụ vội ngắt lời. Bà chìa ra một gói lớn bọc giấy dầu trên tay, nói như phân trần.
– Nghìn năm một thủa họ mới cho các cháu vào đây. Quả thực tôi còn nhà ngoài Biên Hòa nữa. Cũng còn khấm khá. Cái nhà và khu vườn này chỉ là một phần. Phải vào đây ở vá ở víu cho có hộ không nhà nước tịch thu mất. Tính sai em nó ra Biên Hòa…
Một người khác lại lên tiếng can ngăn.
– Thôi bác, tụi cháu được bác cho ăn thế này là quý lắm rồi. Bác cho bất cứ thứ gì đem vào trại chúng cháu cũng không dám nhận đâu. Nội quy đâu cho phép. Có gì phiền phức ghê lắm! Bà cụ nghe đến chữ nội quy cũng có vẻ hơi sợ. Tuy nhiên, bà vẫn dúi cái gói giấy dầu lớn tướng vào tay một người.
– Hôm nay mời các cháu, nói trước không tính một đồng nào. Còn cái bịch này là bịch đường thẻ và trà. Vào trong ấy nhớ chia nhau mà dùng.
Anh chàng cải tạo ôm bịch trà đường trong tay với đầy nét băn khoăn. Cuối cùng anh nói như phân trần với tất cả mọi người.
– Bác cho thế này thật quý vô cùng, nhưng thú thật một mình tôi không cách gì đem cái này vào lọt trong trại được. Bị bắt giữ ngay cổng là cái chắc. Bà cụ tình ngay cũng không biết giải quyết ra sao. Mà đám tù cũng không tiện nêu ý kiến. Cuối cùng anh con trai nhỏ nhẹ lên tiếng.
– Tôi đề nghị các anh chia ra từng phần nhỏ. Mỗi người cầm một ít chắc chắn êm xuôi.
Câu đề nghị như mở cờ cho bọn tù. Thế là rất nhanh và rất lịch sự, bọn tù chia đều mỗi người một nắm trà và dăm cục đường thẻ.
Bà cụ trông vui vẻ vô cùng. Anh con trai đã rút vào nhà trong ngồi đan giỏ. Bà cụ ngó trời ngó đất rồi nói nho nhỏ.
– Các cháu chắc khổ lắm!? Nói đoạn bà cụ sắp xếp lại mấy chai rượu trên bàn, nói như an ủi. Mấy ông lớn bậy quá, làm cả nước khổ! Một anh tù cảm khái, đáp.
– Thôi bác ạ, nếu nói bậy thì chính cháu cũng bậy, cũng có lỗi với dân chúng và đất nước rất nhiều…
Câu nói bỗng bị bỏ lửng khi mọi người nhác thấy quản giáo Hồng đã xuất hiện phía ngoài đường. Cả bọn đứng lên. Vài người cám ơn bà cụ. Riêng Hóa từ lúc nãy đã quyên góp được gần hai chục bạc, anh bước lại lễ phép đưa cho bà cụ số tiền. Bà cụ giẫy nẩy không nhận. Bà nói.
– Không, bác đã bảo rồi. Đây là lần đầu tiên từ ngày trại này biến thành trại cải tạo, các anh cải tạo được ghé vào đây ăn uống. Tiếc là bác chẳng có gì đãi. Bác không nhận tiền của các cháu đâu.
Hóa cố nhét vào túi bà cụ nhưng bà cụ không lấy. Vừa lúc ấy quản giáo Hồng bước vào. Hắn hỏi khơi khơi.
– Sao, má đã cho các anh uống nước rồi chứ? Cám ơn rồi về!
Bà cụ bước tới nói vài câu xã giao với tên quản giáo.
Ít phút sau cả đám đã bước ra đường xếp hàng. Những tay vệ binh áp tải tù cũng vừa tới. Đoàn tù lại cuốc xẻng hăng hái trở về trại. Trong lòng ai cũng thấy vui. Quản giáo Hồng cứ tủm tỉm cười và ngó vào mặt từng người. Có lẽ hắn muốn hỏi một câu gì đó, nhưng ngại tụi vệ binh nên không nói gì. Vĩnh đoán được niềm vui trong lòng hắn. Hắn đã làm được một việc dồn nén từ lâu trong lòng, phát xuất từ bản chất lè phè và ương ngạnh của một người gốc miền Nam – đã dám làm những điều mình thích mà không ai dám làm.
Trên đường về, đám Vĩnh thấy toán mắc dây điện của Lê Văn Tần vẫn làm việc trên những cột điện mới trồng. Đây đó những đội hình xếp hàng hai cũng đang mệt mỏi lê gót về phía các trại tù. Đi qua một dãy nhà thuộc ban chỉ huy trại ba, mọi người nhìn thấy một toán vệ binh đang đánh bóng chuyền trên một vuông sân. Lúa gạo miền Nam gần hai năm qua đã biến những xác chết biết đi thành những thân xác vạm vỡ. Dù sao không ai muốn nhìn lâu hơn, vì trên những thân xác ấy là những biểu lộ sự sỉ nhục lớn lao với đám tù: Mỗi thằng đều mặc một cái quần đùi may bằng cờ quốc gia, cờ vàng ba sọc đỏ; một ngọn cờ đã lồng lộng giữa trời tự do, giữa trái tim mọi người yêu tự đo, và đã được tô thắm bằng bao máu xương của bao thế hệ trai trẻ!
Chẳng ai buồn nói với ai. Đi qua một vài dãy nhà khác của bọn bộ đội, Vĩnh và các bạn thoáng nghe một vài câu vọng cổ quen thuộc vang ra từ một chiếc radio của bọn vệ binh. Rõ ràng là giọng Lệ Thủy. Dù yêu nhạc, nhưng xưa kia Vĩnh không thích cải lương. Bây giờ thì khác. Gần hai năm bặt tiếng người của thế giới bên ngoài, tự dưng được nghe lại một câu vọng cổ, lại được hát bằng giọng của một cô đào nổi tiếng Sài Gòn năm xưa, lòng ai cũng nghẹn ngào thổn thức. Vĩnh chạnh nghĩ tới Trúc, chồng Lệ Thủy từng sống với anh ở Trảng Lớn trước đây… Chả hiểu giờ này nó ở đâu? Anh nhớ đến mấy quả ô mai Trúc cho anh khi anh đau lê lết vì bệnh sạn thận…
Sau gần một tháng cật lực chỉnh trang, tất cả những hàng rào ngăn cách giữa các đội, tất cả những giàn mướp trước mỗi phòng, tất cả những dãy phuy xếp lộn xộn quanh các bờ giếng, tất cả những gian bếp nhỏ sau mỗi dãy nhà ngủ… đều bị dọn sạch. Hệ thống đường mương cũ đã bị lấp lại, thay vào đó là một hệ thống mới “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” nói theo kiểu bác Hồ. Những cột điện trồng lẻ loi đều bị hạ xuống. Những hàng cột điện mới được trồng lên dọc theo những con lộ mới đắp trong trại. Đây cũng là một dịp để cho bọn tù toáy những ống sành cách điện đem về phòng dấu làm ròng rọc kéo nước cho cả tổ.
Sân trại 1 giờ rộng hơn và bằng phẳng hơn. Kết quả ấy có được vì trong tháng qua rất nhiều đội phải lao động cật lực lấy đất chỗ cao đắp xuống chỗ trũng. Tất cả các luống rau, ao rau và hầm cầu trong sân trại đều bị san bằng. Mọi người lầm lũi lao động tuồng như làm với một hy vọng dọn bãi đáp cho những chiếc Chinook bất ngờ.
Đồng lúc ấy, các nhà ăn kiểu Trảng Lớn cũng được thiết lập. Những mảnh bao cát lại được đi thu lượm, tháo ra, giặt sạch và đính vào nhau tạo thành một tấm bạt lớn đủ phủ kín vuông sân, tức khoảng trống giữa hai dãy nhà ngủ. Bên dưới là những dãy bàn làm bằng những tấm gỗ giác xin từ trên trại mộc.
Những bẫy ruồi cũng được thực hiện. Nhưng những bẫy chuột tạo cho bọn tù nhiều thích thú hơn. Tất cả mọi loại chuột, từ những con chuột cống đen xì to tướng đến những con chuột chũi hôi hám, bỗng dưng đều được tù đổi thành một cái tên chung: Chuột đồng! Mà đã là chuột đồng thì có ai lại chê bao giờ! Chiến dịch lùng chuột và xơi chuột bắt đầu phát triển mạnh.
Một món ăn khác được khám phá thêm nữa, mà tác giả của món ăn này có lẽ là trung úy phi công A.37 Trần Trọng Minh tự Tý Quạu 1: Chim én nướng! Nhiều người theo gương Minh, cứ mỗi chiều đi lao động về, họ đem bẫy ra cắm đầy ngoài sân trại để bẫy chim én. Cái bẫy thật giản dị. Chỉ cần một chiếc đũa tre, một đầu đũa được xẻ làm ba nhánh, hai nhánh ngoài bằng nhau và cao hơn nhánh giữa. Một sợi thòng lọng làm bằng sợi bao cát. Cuống dây thòng lọng buộc chặt vào thân đũa, còn thòng lọng giăng trên hai nhánh dài. Nhánh ngắn nằm giữa dùng để móc mồi. Mồi chim én không cần sơn hào hải vị mà chỉ cần một chú ruồi lằng gắn ngay trên đầu nhánh giữa của cái bẫy. Sứ giả của mùa Xuân, những cánh én kia chiều chiều bay lượn trên sân trại tù tìm mồi. Phát hiện một con mồi, chú ta xà qua hớt gọn. Nhưng sợi dây thòng lọng đã chận đôi cánh của chú ta lại! Chú vùng vẫy là chuyện đương nhiên. Và càng vùng vẫy thì cái thòng lọng càng xiết chặt vào cổ chú. Bọn tù ngồi xa xa ngó chừng. Khi thấy bẫy của mình đã “thu hoạch” được một con én dại dột, họ lạnh lùng đứng lên tiếp thu sự thắng lợi với ý nghĩ chiều nay ta có thêm một tí chất thịt, dù rằng đó là tí thịt tanh tưởi của một con chim chỉ đẹp trong sách vở nhưng thực tế chỉ xơi ruồi lằn!
Khi những cánh én lạc loài của mùa Hè không còn thấy bay lượn, tuồng như chúng đã hoảng sợ cho sự rong chơi hoặc kiếm ăn lầm mùa của mình, đã rút về ngủ yên một nơi nào đó trên ngọn núi Bửu Long chờ một mùa Xuân nào thích hợp; thì bọn tù coi như đã hoàn tất xong mọi việc chỉnh trang trại tù mới.
Và khi trời Biên Hòa về chiều bắt đầu có những cơn mưa mù mịt, thì việc lao động sản xuất của tù bắt đầu đi vào quy hoạch.
Trại 1 phụ trách vùng đất phía Bắc của An Dưỡng, một vùng đất toàn đá ong cỏ gai và những ụ mối lâu đời. Không ai có thể ước lượng được nó rộng bao nhiêu mẫu, chỉ biết nó bao la quá, khai quang mãi, cuốc mãi, lên luống mãi mà vẫn không thấy hết!
Sáng sớm lòng không dạ trống, uống vào bụng một lon guigoz nước lạnh cho… nở cứt, nói theo ngôn ngữ của tù cải tạo, rồi xếp hàng đi lao động, đời không còn gì chán nản hơn.
Cào, leng, xẻng, cuốc trên vai; từng đoàn tù xếp hàng dài dài giữa con lộ chờ lệnh cho vượt qua cổng tiến về phía hiện trường lao động. Ở ngay nơi tập họp này, sự kiểm tra và điểm danh nhân số thật gắt gao. Không cán binh nào có quyền cho tù cải tạo xuất trại, kể cả quản giáo và vệ binh, một khi chưa được sự chấp thuận của tay an ninh ngồi trong phòng kiểm soát ngay bên cổng trại. Khi nhà trưởng đã báo cáo nhân số đi lao động cho quản giáo, đích thân quản giáo phải đến đăng ký nhân số đó với cán bộ an ninh nơi cổng trại. Nhân số sẽ được nhập sổ. Sau khi được chấp thuận cho rời trại, tù lần lượt bước qua cổng trại dưới nhiều con mắt quan sát và đếm số của bọn phụ trách an ninh.
Về phía bọn tù đi lao động cũng phải chấp hành thật nghiêm những nội quy dành cho người đi lao động ngoài trại. Chẳng hạn ngoài những dụng cụ đi lao động, tù chỉ được đem theo người một miếng nylon che mưa (nếu là mùa mưa) và một lon guigoz đựng nước uống mà thôi. Biện pháp này chẳng ngoài mục đích ngăn ngừa việc vượt ngục. Lận trong người tí muối, tí đường hay tí mì gói bị khám phá sẽ gặp rất nhiều vất vả; và điều vất vả đầu tiên là phải chui vào nằm trong một cái connex tối như Lâm bô, nóng như Hỏa ngục! Từ ngày chuyển trại về đây, đám Vĩnh đói dài vì đợt gửi quà về Trảng Lớn đã thất lạc hầu hết. Mặc dù tất cả đều được bọn khung hứa hẹn sẽ can thiệp để lần lượt được nhận lại đủ những món quà gia đình gửi vào cho, nhưng đã hai tháng qua chẳng mấy người nhận được. Ngược lại, bọn cán binh Cộng sản ở An Dưỡng đã thật sự biết làm ăn kiếm tiền. Sự kiếm tiền bỏ túi của chúng trọng tâm là bán khoai lang cho tù. Khoai mình trồng chúng bắt mình thu hoạch rồi tính cân bán cho mình ăn. Dù biết hành động đó thật đểu giả, nhưng tù không thể làm cái gì khác hơn là vẫn hăng hái ghi tên đăng ký mua khoai. Đa số ai cũng có 20 đồng tiền mới còn giữ được từ dạo gửi quà đợt trước, vì luật cho gia đình gửi kèm trong thùng qua 20 đồng để các tù cải tạo có tiền chi dụng như mua giấy, bao thư và tem viết thư. Số tiền ấy cuối cùng cũng chui hết vào túi bọn cai tù để có thêm những phần khoai do chính mồ hôi nước mắt mình trồng lên.
Hiện tại nhà B2 do Bính làm nhà trưởng đang phụ trách việc lên luống. Ngày hai buổi, đám Vĩnh lê thê lết thết trên một đoàn đường gần 5 cây số tiến đến hiện trường lao động. Biên Hòa đất đỏ, chuyện ấy chẳng lạ; nhưng ở cái xó xỉnh của tỉnh Biên Hòa này không có đất đỏ mà chỉ có đá đỏ. Mỗi ngày trầm mình dưới nắng, hết nắng lại mưa, đám Vĩnh phải vừa khai quang vừa lên luống. Cỏ gai tây cắt da cắt thịt những người có nhiệm vụ khai quang. Hai tổ đi trước khai quang tới đâu thì ba tổ kế tiếp ra công lên luống tới đó. Tổ 1 do Hóa làm tổ trưởng. Tổ 2 do Nhan Quang Minh, một guitarist cự phách, làm tổ trưởng. Tổ 3 do Âu Dương Lân làm tổ trưởng. Tổ 4 do Bính kiêm nhiệm chức tổ trưởng và tổ 5 do Bùi Vịnh làm tổ trưởng. Hóa thì không nói thêm. Riêng Nhan Quang Minh có thằng em ruột là Nhan Quang Phước ở cùng khối với Vĩnh trước đây trên Trảng Lớn. Phước có biệt hiệu là Phước trợn, vì hắn ghiền nặng thuốc lào; nhưng mười lần đủ chục, sau khi kéo xong một hơi thuốc, hắn luôn luôn ngã ngửa, mắt trợn trắng và miệng sùi bọt mép như ngựa chạy đường dài, người run lên như bị kinh phong giật. Bác sỹ Tuyên thời đó đã can ngăn Phước nhiều lần. Ông bỏ thuốc lào đi! Tiếp tục hút có ngày ông chết! Nhưng mặc lời can gián, Phước vẫn tiếp tục hút, tiếp tục lăn đùng, trợn mắt méo mồm và sùi bọt mép. Còn anh chàng Âu Dương Lân luôn luôn than thở về một ông chú ruột của anh ta thời còn sống chung trên L1. Các ông xem, anh nói. Tôi ăn cơm chung với ông ấy, ông ấy cứ lấy quyền chú ép tôi. Lắm bữa tôi ăn chưa hết nửa sét cơm thì mọi cái trong lon cóng đựng đồ ăn chung của hai người đã không còn một cái gì. Ông ấy lùa như máy!… Nhưng bây giờ chú cháu xa nhau, không lúc nào anh ta không nhắc nhở đến ông chú với tất cả nhớ thương! Riêng cái anh chàng Bùi Vịnh mới là kinh khủng. Hắn trung úy phi công, con trai của chủ hãng mền Sakimen (Sài Gòn kỹ nghệ mền len) nổi tiếng. Hắn gọi ông cựu đại sứ Bùi Diễn bằng bác. Còn nhớ thủa mới biên chế về đây, Vịnh lè phè không thua gì Kim. Hắn vụng về đến độ một đôi guốc tự làm lấy mà đi cũng không xong. Chuyện lớn chuyện nhỏ đều nhờ vả bạn bè, kể cả việc vuốt một đôi đũa tre lấy cái ăn cơm! Cả gia tộc nhà hắn đã đi Tây, trong đó có cả vợ con hắn. Chẳng ai biết rõ vì sao cu cậu kẹt lại. Những kỳ quà cáp gửi vào đều do mẹ vợ và em vợ lo. Riêng ông già vợ của Vịnh cũng là một đại tá đang bị cải tạo ngoài Bắc. Một kẻ lè phè như thế mà anh em nỡ đẩy ra làm tổ trưởng kể cũng tội. Vì “trách nhiệm”, lắm lúc Vĩnh không nhịn được cười thấy Bùi Vịnh cuống cuồng, hoặc đôi khi năn nỉ anh em lao động giùm để đạt được chỉ tiêu tối thiểu mà bọn quản giáo đã đề ra.
Dù sao, Vĩnh phải thú nhận từ ngày đi tù đến nay, B2 là nơi có không khí thoải mái nhất. Khác với các nhà “lối xóm”, nhà B2 phè tối đa. Trong những giờ lao động, dĩ nhiên ai cũng phải làm cho xong chỉ tiêu, nhưng vì không khí thoải mái, gần như chẳng ai dòm ngó ai, và việc mỉa mai chế độ, ăn tục nói phét được phát huy tối đa; những giờ lao động như thế qua đi một cách tương đối nhẹ nhàng. Quả thực lao động khổ sai giảm đi sự cực nhọc của nó rất nhiều khi một anh cuốc nhằm một tảng đá ong cứng như thép, hai tay tê dại và mắt nổ đom đóm; nhưng anh ta hết mệt ngay lúc được quăng cái cuốc cong vòng sang một bên, nói khơi khơi giữa trời giữa đất: Đéo mẹ cái đầu Bác nó sao cứng thế!? Hoặc giả: Tao vừa cuốc đúng cái mả họ Hồ!
Chỉ tiêu trong ngày thời gian này tương đối nặng. Mỗi người mỗi ngày phải lên một dãy luống có chiều dài từ 18 đến 20 thước, chiều ngang 2 thước và đắp luống cao từ 80 phân đến 1 thước. So với đất bên ngoài căn cứ Trảng Lớn thì cực nhọc hơn nhiều, bởi như đã nói, đất ở đây là đất đỏ, một loại đất dễ dàng hóa đá ong dưới tác dụng của nước mưa.
Vì chỉ tiêu như thế, với tác phong lao động của B2, nhà trưởng Bính phải báo cáo láo dài dài. Điều ấy dầu sao cũng không làm Bính vui vẻ. Cũng đã lắm lúc Bính nổi cáu với anh em, nhưng rồi đâu cũng vào đó. Đặc biệt vào mỗi cuối tuần, khi cả trại tiến hành buổi thảo luận rút ưu khuyết điểm các mặt trong tuần, có quản giáo trụ trì để bàn thảo, chấm công và bình bầu những người xuất sắc, Bính điên đầu không ít. Biết bầu ai xuất sắc bây giờ? Và có ai ham cái xuất sắc ấy không? Chẳng lẽ tuần nào danh sách những cải tạo viên lao động xuất sắc báo cáo lên Trên cũng toàn là nhà trưởng nhà phó, tổ trưởng tổ phó!? Bính lâm tình trạng khó khăn đến độ phải họp kín các tổ trưởng và yêu cầu điều đình với tổ viên chịu giùm cho một kỳ… xuất sắc. Mặc kệ trong tuần anh làm sao thì làm, tới lượt anh được bình bầu xuất sắc, anh cứ việc ngồi yên để nghe anh em ca tụng trước mặt quan quản giáo là đủ, xin đừng khiêm nhường, đừng từ khước ngang xương mà kẹt chung cho hệ thống xuất sắc luân phiên của cả nhà!
Buổi chiều sau khi lao động về, nhà B2 cũng lè phè hơn ai hết. Những cái bếp con kê san sát nhau ngay bên hiên nhà. Từng toán xúm lại nấu nướng đủ thứ rau cỏ họ kiếm được trong ngày để ăn với nhau. Chỉ có một nhân vật duy nhất “solo” về mọi mặt là anh chàng Nguyễn Văn Đáp. Hắn gốc L4T2. Đáp tuổi đã trung niên và theo lời khai báo trước tập thể của đương sự, anh em biết rằng Đáp bị bệnh đau lưng quanh năm do một tai nạn gây thương tích ở xương sống trước kia. Dầu sao ưu điểm nổi bật nhất của Đáp là, bằng mọi cách, từ khước lao động. Trên một căn bản nào đó phải công nhận Đáp can đảm. Sống trong trại tù Cộng sản, từ chối lao động là một hành động cực kỳ liều lĩnh, nó sẽ gây cho người đó đủ thứ khó khăn dây chuyền. Đầu tiên bị kiểm thảo, bị đấu tranh, bị tự kiểm dài dài cho đến khi phải công nhận châm ngôn “Lao Động Là Vinh Quang” của nhà nước đúng tuyệt đối. Người từ chối lao động còn có thể bị nhốt connex không ngày ra, ấy là chưa kể Đáp từng thủ thỉ với một vài người nằm cạnh rằng: Thứ nhất tôi đau thật, đau có đầy đủ giấy tờ y chứng mà gia đình đã gửi vào. Thứ hai quy chế tù binh không thể buộc các sỹ quan đối phương làm công tác khổ dịch.
Một người đã tích cực thực thi cái đức tính gan lỳ ỳ ẩu với anh em thì dĩ nhiên anh em phải.. thua! Chả nhẽ đem anh ta ra đấu? Điểm này không hề nằm trong truyền thống bao che lẫn nhau của B2. Cuối cùng giải pháp của tập thể đưa ra là chấp thuận cho Nguyễn Văn Đáp làm người thường xuyên trực phòng. Làm sao giữ cho phòng được “đẹp như công viên, sạch như bệnh viện” là đủ. Thế nhưng không phải không có người bực mình khi Đáp thẳng thắn từ chối nhiệm vụ thứ hai được tập thể giao phó, ấy là ngày hai buổi còn phải xuống bếp nhận phần cơm rau về cho cả nhà.
Đáp nói.
– Chuyện này dứt khoát tôi không thể làm được. Năm mươi phần cơm không phải là một việc nhẹ. Tôi không đủ sức khênh cái máng cơm ấy về cho cả nhà.
Nhà trưởng Bính nổi cáu.
– Nếu vậy chắc nhà này phải đóng một cái bàn thờ rồi mời anh lên ngồi. Mỗi buổi đi lao động về, anh em chúng tôi quỳ lạy sống anh một cái!
Phản ứng của Đáp khiến mọi người chưng hửng. Anh lập tức bù lâm bù loa.
– Các ông luôn luôn tỏ ra đoàn kết, luôn luôn nói đến tình chiến hữu, mà các ông lại nỡ trù ẻo một thằng bạn già như tôi! Các ông chỉ muốn tôi chết bỏ vợ bỏ con.
Nhà phó Huỳnh Công Cẩn cũng phát nổi sùng.
– Anh im cái họng anh lại. Anh chết không ai ăn thịt anh được. Bệnh hoạn vô địch ở nhà này phải nói là anh Vĩnh tổ 1. Nhưng anh ấy vẫn cứ vui vẻ đi lao động không làm phiền toái tới ai. Sắp xếp cho anh như thế là cha người ta rồi. Hơi động tí việc nặng là giẫy nẩy ai chịu cho thấu!
Cãi qua cãi lại rốt cuộc mọi người đều chịu thua cái liều lĩnh của Đáp. Và nhiệm vụ của anh ta sau cùng vẫn chỉ là quét nhà, lau nền nhà, sắp xếp lại những cái bếp con đặt trước nhà mỗi buổi sáng sau khi anh em đã rời trại đi lao động. Tất cả những nhiệm vụ khác như đi lấy cơm, làm những công tác đột xuất anh em gánh vác hết khi đi lao động về. Riêng việc khênh cơm về phòng, Đáp không phải làm ngoài việc xuống bếp cầm một cái quạt đuổi ruồi chờ anh em lao động về mà thôi!
Nguyễn Văn Đáp, vì những đức tính như thế, được anh em đặt cho cái tên mới: Ông Inoxidable!
B2 cũng có vài trục trặc nho nhỏ trong nội bộ như thế, nhưng B2 chắc chắn sẽ vui vẻ lâu dài nếu không có những vụ bị mất cắp xảy ra sau đó. Nạn mất cắp ngày mỗi trầm trọng. Những người bị mất cắp không thể nín lặng mãi mà không ta thán. Và sự ta thán ấy người đầu tiên điên đầu vẫn là nhà trưởng. Dù gì, Bính cũng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước tập thể.
Có lẽ nhóm Vĩnh là những người bị mất cắp đầu tiên. Chẳng phải nhóm anh giàu có gì, nhưng vì cái cảnh góp lửa nấu khoai chung, nên lúc nào trông cũng có vẻ rổn rảng nhất. Mỗi khi mua được khoai lang, những phần khoai của Vĩnh, Hóa, Kim kể cả Tiến bên B3 đều góp vào đựng chung trong một bao cát móc nơi đầu giường Hóa.
Một buổi chiều lao động về, Kim đã nhóm xong bếp luộc khoai ăn bồi dưỡng thì Hóa phát hiện ra bao khoai không còn nơi đầu giường nữa. Nó đã không cánh mà bay, và có thể nó đã bay vào tối hôm trước. Cả đám chỉ nói nhỏ với Bính, không muốn làm ầm ra, thứ nhất xấu hổ chung, thứ hai kẻ gian sẽ hoảng sợ và khó theo dõi.
Một hai bữa sau đó, tổ trưởng Lân cằn nhằn cả buổi sáng vì mất sét cơm chiều hôm trước anh để dành trong một lon gô đầu giường làm bữa điểm tâm cho sáng hôm sau đi lao động. Mở mắt dậy, đánh răng súc miệng xong, Lân sửa soạn cho giây phút được sung sướng nhai từng thìa cơm để dành của mình với tí muối mè, nhưng anh ta bực dọc biết là bao nhiêu khi thấy lon cơm không còn trên đầu giường nữa. Kẻ lạ mặt đã đánh cắp từ lúc nào.
Việc mất cơm để dành, mất khoai… đáng lý rơi vào quên lãng nếu không có một vụ đánh cắp trầm trọng hơn đã xảy ra sau đợt gửi quà vào đầu tháng 9 năm 76. Cả nhà ai cũng có quà gia đình gửi vào kèm 20 đồng, kẻ có nhiều hơn nhờ gia đình giấu tiền trong lọ mắm ruốc hoặc trong lọ tương chao… Đợt quà ấy người có nhiều tiền nhất có lẽ là tay Đào của tổ 3. Trong gói quà 3 kgs Đào “thu hoạch” được 5 tờ 20 đồng mới toanh của gia đình nhét dấu một cách tài tình trong một cục xà phòng chữa ghẻ màu nâu xậm của Mỹ trước kia.
Buổi chiều hôm lãnh quà, Đào tẩn mẩn ngồi dò chơi những con số trên mặt đồng bạc. Hai ba tay khác cũng xúm lại so sánh những đồng bạc mới với nhau. Sáng hôm sau cái sắc đầu giường của Đào biến mất. Tệ hại hơn trong sắc đó ngoài cái ví đựng 100 đồng của Đào kèm ít giấy tờ quan trọng, còn một cặp kính cận dày cộm và đủ thứ hình ảnh gia đình mà nó nhận được từ những kỳ quà vừa qua! Khi phát hiện ra mình mất đồ, Đào thất kinh la ầm ỹ. Nó muốn khóc lúc ngồi yên ở một góc phòng vì không có cặp kính cho đôi mắt cận nặng. Lúc ấy giờ đi lao động đã đến, Bính cho Đào ở nhà và dặn Đào đừng làm ầm vụ này, để hắn tính khi đi lao động về.
Giờ cuốc đất sáng hôm ấy không ai vui vẻ. Bính đã theo dõi và đã tình nghi một người, đồng thời cũng có nhiều người khác đoán chắc kẻ đánh cắp là ai. Buổi trưa về tới trại, trả cuốc trả xẻng xong, Bính ra lệnh tất cả mọi người không được vào phòng. Hắn nhất định kêu các tổ trưởng vào cùng mở một cuộc lục soát hành trang của tất cả mọi người. Dĩ nhiên có người phản đối, nhưng hầu hết đều muốn Bính làm ngay để kẻ gian không có thì giờ tẩu tán đồ ăn cắp. Quản giáo có lên án tùy tiện không báo cáo trước thì cả tập thể B2 sẽ lãnh trách nhiệm. Bính được hậu thuẫn, hắn lôi ngay cái túi của mình xuống trước mắt mọi người và yêu cầu các tổ trưởng lục soát trước nhất. Kế đó Bính tiếp tục yêu cầu lục thêm sắc của vài người nữa. Vĩnh đứng bên ngoài quan sát thấy rõ mọi người chỉ lục cho có lệ. Và cái sắc đáng lục nhất, theo sự dự đoán của mọi người, đã tới. Đó là cái sắc đồ sộ vào bậc nhất của nhà B2 mà người sỡ hữu là Phạm An Toàn, một tay đã bị nhiều anh em nghi ngờ có máu bất lương từ L4T3 khối 3.
Cái sắc dĩ nhiên được lục tung ra. Thôi thì đủ mọi thứ linh tinh. Thốt nhiên một người đứng bên ngoài kêu lên.
– Ê mấy ông! Mấy ông xem giùm xem cái đồng hồ mấy ông đang cầm đó có phải hiệu Boulevard, mặt đồng hồ có số La Mã không?
Bên trong nghe lời đề nghị, các tổ trưởng xúm lại cùng quan sát cái đồng hồ. Y chang như lời báo động của người đứng ngoài. Ngay sau khi được Bính xác nhận cái đồng hồ có hiệu Boulevard và có những con số La Mã, vài tay thuộc các nhà khác đứng bên ngoài đồng la lớn.
– Đúng là cái đồng hồ của thằng Phước ở khối 3 rồi! Chạy qua C2 báo cho thằng Phước biết đã tìm ra đồng hồ của nó. Thằng Toàn ăn cắp! Thằng Toàn ăn cắp!
Chỉ hai phút sau đó người được gọi là chủ cái đồng hồ bị mất cắp từ Trảng Lớn đã có mặt. Tuy nhiên, Bính yêu cầu mọi người yên lặng và chiếc đồng hồ chưa thể hoàn trả lúc này. Cuộc khám xét tiếp tục. Lê Văn Tần, anh chàng thiếu úy kịch sỹ hiện thuộc tổ 3 nhà B2, nhưng lại có công tác đặc biệt cho tiểu đoàn là làm trưởng toán một nhóm chuyên môn đi mắc dây điện, bỗng nhiên la lớn.
– Ối trời đất ơi, cái ví của tôi đây rồi.
Ba ngày trước đây Tần than thở mất một cái bóp phơi, không có tiền nhưng chỉ có cái hình cô bạn gái của anh ta. Cái bóp phơi giờ này còn nằm nguyên vẹn trong đáy sắc của Phạm An Toàn.
Một tiếng than thở đượm vẻ khôi hài khẽ vang lên trong đám người đứng bên ngoài.
– Tội nghiệp, kẻ gian mắc nạn!
Riêng Phạm An Toàn đã được triệu vào ngồi chứng kiến cuộc lục soát mớ đồ đạc của hắn. Thoạt đầu hắn còn cứng giọng, đòi hỏi phải có quản giáo trực tiếp kiểm tra, đòi hỏi phải có sỹ quan an ninh trại chứng kiến… Nhưng bây giờ hắn đã im lìm như một hòn đá, mắt hốt hoảng và sợ bạc mặt bạc mày.
Những món đồ kế tiếp bị lôi ra. Thỉnh thoảng lại có một tiếng kêu vang lên của một người nào đó nhận diện được món đồ mình đã mất. Một cái quần jean rách, một cái chemise, một bộ Domino, thậm chí có cả một vài cái bao cát mới toanh cũng bị nhận diện. Sau cùng thì đám kiểm soát tìm thấy một gói giấy gói thật kỹ. Mở gói giấy ra, một cái kính cận dầy cộm rơi ngay xuống đống quần áo trên nền nhà.
– Trúng mỏ rồi!
Một tiếng thét lớn từ ngoài vọng vào.
– Đánh bỏ mẹ nó đi!
– Con sâu làm rầu nồi canh!
– Mất mặt chỉ vì thằng ăn cắp! Nhiều tiếng la hét vang lên tiếp đó lúc Bính lôi ra trong gói giấy một xấp tiền còn mới toanh. Bính chưa biết tính sao với đống tiền cầm trên tay, thì ngoài dự đoán của mọi người, Toàn hầm hầm đứng dậy. Hắn cất cái giọng nửa đực nửa cái. – Tôi yêu cầu anh Bính không được lạm quyền. Anh không thể cả quyết tiền này là tiền của anh Đào được…
Những tiếng la cất lên.
– Ngoan cố! Thế những tang vật kia là cái gì?
Toàn quay phắt lại đám đông liều lĩnh nói.
– Những cái đó tao lượm được, còn tiền này là tiền của tao.
Đến lúc này Đào mới lên tiếng sau khi nó đã xin lại được cặp kính cài lên mắt.
– Xin các anh bình tĩnh. Tôi chưa xem những đồng bạc đó nhưng tôi nhớ số, không, nhớ series những đồng bạc của tôi. Hình như anh Bùi Vịnh cũng nhớ vì hôm qua anh có đọ những đồng bạc của anh với của tôi.
Bùi Vịnh là tổ trưởng, đang tham gia vụ xét đồ, anh không muốn mang tiếng thiên vị nên phủ nhận ngay.
– Hôm qua tôi có nhìn chơi mấy đồng bạc mới của anh Đào, nhưng quả thật tôi không nhớ số…
Đào tiếp.
– Vậy cũng không sao. Nó ngẫm nghĩ một chút. Bây giờ có tập thể ở đây làm chứng, nếu tôi đọc đúng series những đồng bạc của tôi, anh Toàn sẽ tính sao?
Toàn thấy mình đã gần đường cùng đành liều kiểu nhất chín nhì bù. Hắn hơi thấp giọng.
– Nếu vậy yêu cầu anh đọc số đi!
Bính cầm trên tay những đồng bạc mới và ra lệnh cho Đào đọc trước mọi người. Đào lớn giọng.
– Tôi không thể nhớ hết bảy tám con số, nhưng tôi có thể khẳng định tiền tôi có series L và khởi đầu bằng những con số 327. Nó lại ngẫm nghĩ một chút nữa. Đúng rồi, nó reo lên. 3279! Đó là 4 con số đầu của những hàng số gồm 9 con số. Có đúng không?
Các tổ trưởng xúm lại xem mấy đồng bạc cùng với Bính. Họ dò từng đồng bạc và khi thấy 5 tờ đều có cùng những con số đầu như vậy, Huỳnh Công Cẩn mới tuyên bố.
– Những lời xác nhận của anh Đào đều đúng!
Toàn vừa tính lên tiếng thì Đào đã lên tiếng trước.
– Tôi cũng xin thưa với anh em, tôi nhớ tôi có viết một chữ rất nhỏ trên một góc đồng bạc.
Nói tới đây Đào ngừng lại với vẻ ngần ngại. Bính hỏi ngay. – Anh viết gì?
Trước đám đông Đào có vẻ ngượng, nhưng nó nghĩ rằng lời khai sau cùng này mới là quan trọng, và nếu như trên đồng bạc có đúng hàng chữ đó, Phạm An Toàn chỉ có chạy lên trời! Đào đằng hắng tí chút, rồi khai.
– Tôi có viết một câu rất nhỏ nơi góc một đồng bạc, đó là hàng chữ “Tôi yêu em”!
Bính tìm ra hàng chữ đó không quá lâu. Nó đem đồng bạc có hàng chữ “Tôi yêu em” trình cho mọi người cùng xem.
Màn khám xét coi như chấm dứt. Thiên hạ lục đục kéo nhau về. Riêng B2 buổi trưa vội vã chia cơm vì giờ ăn đã quá muộn. Dĩ nhiên Phạm An Toàn giờ này có sơn hào hải vị cũng không thể nuốt vô.
Các ông trưởng phó bàn nhau một lúc, và giải pháp sau cùng là đi báo cáo! Cơm nước xong, theo lời khai của Toàn, Đào bước về phía một hầm cầu nằm bên kia con lộ với hai ba người bạn khác. Bằng một cái cây, nó đã khều lên cái túi của nó, trong đó có một bộ quần áo cũ và mớ hình ảnh thân yêu bị phân lẫn dòi bọ bám đầy.
Lúc mọi người sửa soạn đi lao động, Đào vẫn ngồi ôm mớ ảnh đã bị rửa nước ướt mèm và tấm tức khóc. Chẳng ai buồn chia xẻ nỗi hậm hực của nó. Mà chia xẻ được gì bây giờ. Khi số tiền của nó đã vượt quá nội quy bị khung tịch thu. Còn chuyện thằng khốn nạn Phạm An Toàn vứt những hình ảnh thân yêu của nó xuống hầm cầu, có đấm vỡ mặt thằng ấy cũng chưa hả giận, nói chi đến chuyện nó lại được khung cho về nhà đi lao động như thường sau khi làm sơ sài một bản tự kiểm. Điều ấy đã một phần xác nhận câu rỉ tai trước đây của cựu thiếu úy quân y Phạm An Toàn trong anh em: Tao có ông anh làm trung tá Cách mạng ở Mỹ Tho. Ông ấy đã vào thăm tao mấy lần, nhưng phải có anh tổng quản giáo ngồi bên cạnh!
——————————–
1 Trong một dịp ghé thăm tác giả vào tháng 3 năm 84, anh Lý Tống, một cựu sỹ quan KQVN nổi tiếng thế giới vì đã vượt qua 4 quốc gia bằng đường bộ để tìm tự do, đã cho tác giả biết Trần Trọng Minh là bạn của anh thời còn phục vụ trong KQVN và sau này Minh đã bị bọn cai tù đánh đến chết!
Phần 30 Gần một tuần lễ sau bọn Vĩnh đã hoàn toàn làm quen được với nếp sống mới thì một hiện tượng mới lại xảy ra. Từng đợt Molotova lần lượt kéo đến đổ những đám tù mới khác xuống con lộ bên hông trại. Buổi trưa lao động về, Vĩnh cùng các bạn đứng nơi một góc sân quan sát sự việc. Bọn vệ binh và quản giáo cũ mới lồng lộn chạy tới chạy lui để điểm danh và bàn giao cho nhau. Bọn tù thì mệt mỏi, rũ rượi, ngơ ngác và cuống cuồng… Hoạt cảnh này y hệt hoạt cảnh đã xảy ra cho đám Vĩnh một tuần lễ trước đây! Nhẩm đếm, Vĩnh thấy trại 1 ít lắm cũng được bổ sung thêm hai trăm tù mới tới. Anh nói với các bạn đứng bên cạnh.
– Lấy chỗ đâu cho họ ở nhỉ?
Một tay trả lời vu vơ.
– Hội trường nhét 300 thằng vẫn đủ.
– Nhưng chỉ có thể tạm thời thôi chứ!
– Dĩ nhiên. Có gì vĩnh viễn trong các trại cải tạo đâu. Muốn mục xương à?
Một tiếng gọi lớn của Hóa làm Vĩnh ngoái lại.
– Vĩnh!
– Gì thế?
Hóa chìa ra cho anh xem một cái bao cát. Bên trong Vĩnh thấy một đống cỏ xanh xanh.
– Ông dân Hướng Đạo có biết rau này không?
Vĩnh quan sát rồi lắc đầu.
– Chịu!
– Mấy thằng Nam Kỳ gọi là Rau Đắng, xơi được.
Vĩnh cầm lên một chút quan sát. Hình thù của lá rau nhỏ tí ti và có màu xanh đậm. – Ăn được không đấy cha? Chơi vào cứng lưỡi cả đám thì bỏ mẹ!
Hóa nhún vai.
– Đỡ phải phát biểu!
Nói đoạn Hóa lại lôi bên dưới bao cát ra một mớ cỏ khác.
– Gì nữa đây?
– Tụi nó bảo là cải cúc rừng. Nấu lên thơm như mùi cải cúc nhưng ăn nhiều ngứa cổ vì nó có lông. Mấy tay cò quen biết thu hoạch được ngoài bờ suối cho một ít. Cái này có thêm tí tôm khô nữa thì có lý lắm!
Vĩnh đang bận tâm theo dõi đám mới đến xem có ai quen không, nên anh không chú ý lắm đến mớ rau cỏ Hóa thu hoạch được. Anh chỉ trả lời.
– Hình như me xừ Kim còn để dành được tí tôm khô. Ông chạy hỏi nó xem sao.
Nói rồi kệ Hóa muốn đi đâu thì đi, Vĩnh tiếp tục đứng quan sát những người mới đến. Anh đang thất vọng vì chẳng thấy ai quen thì một tiếng reo khẽ cất lên cạnh anh: Ồ! Trảng Lớn lên nữa kìa! Đúng rồi, L4T3 kìa!
Vĩnh chạy lại gần một chiếc Molotova vừa thả một số tù xuống gần cổng nằm phía sau dãy nhà mang chữ D. Vĩnh vừa nhận ra được vài tay ở khối 2 trước đây: Ông già Đang, Huỳnh Công Cẩn, Nguyễn Hồng Bình…
Kim đang đứng gần Vĩnh. Nó cũng vừa nhận ra vài tay trong khối cũ của nó.
– Vĩnh hả? Tụi Trảng Lớn ông ơi. Tôi vừa nhận ra mấy thằng cùng khối. Thằng Toàn, thằng Hỷ… Hình như còn nhiều nữa…
Vậy là chắc chắn Trảng Lớn đã có đợt chuyển trại thứ hai. Và tin đồn sẽ có sự thay đổi toàn diện ở trại này có thể đúng.
Giờ chia cơm đã tới nên Vĩnh và mọi người phải trở về phòng. Hiện tại Vĩnh, Hóa và Kim ăn cơm chung với nhau. Bữa cơm hôm nay được trang trí thêm với lon canh cải cúc rừng nấu tôm khô và một mớ rau đắng chấm với nước muối. Vĩnh vừa ăn vừa suy nghĩ. Chẳng lẽ chúng dẹp căn cứ Trảng Lớn? Vài tháng trước đây Vĩnh từng nghe đồn Cộng Sản sẽ tái xử dụng căn cứ Trảng Lớn như một bộ tư lệnh cho sư đoàn 5 của chúng, nhằm mục đích phòng thủ vùng Tây Ninh vì nơi biên giới Việt Miên đã có một “cái gì đó”. Tin đồn này rất có thể đúng vì những tháng sau cùng ở Trảng Lớn, bọn cai tù đã dồn nhiều phần trăm công tù vào việc khai hoang lên luống khoai lang khoai mì; đồng thời dựng thêm rất nhiều lán mới kiểu nền đất mái tranh trong phạm vi bộ chỉ huy trung đoàn… Ôn lại những việc đã làm, Vĩnh thấy rõ ràng Việt cộng đã bắt tù biến căn cứ Trảng Lớn thành một địa điểm có một căn bản tiếp vận tự túc, mà nói theo ngôn ngữ của chúng là có một cơ sở hậu cần tự cung tự cầu. Khác với mọi lần, bữa cơm chẳng ai nói với ai điều gì. Hóa cố gắng nuốt vào bụng mớ cải cúc rừng của hắn. Lắm khi Vĩnh có cảm tưởng Hóa đang cố nuốt cho trôi xuống bụng từng miếng… da chó còn đầy lông! Vĩnh không thể nuốt nổi thứ rau đầy lông ấy. Anh chan tí nước vào lon cơm độn khoai – thứ cơm tù khốn khổ mà có muốn lùa cho xong bữa cũng không lùa được vì sự lởm chởm của nó! Riêng Kim thay vì ăn cải cúc rừng, nó ngồi nhai ngấu nghiến từng gắp lớn rau đắng chấm nước muối. Lâu lâu nó lại nói: Phải phát huy các ông ạ. Rau đắng chấm nước muối ngon như xà-lát soong trộn dầu dấm vậy!
Bữa trưa ăn xong thì cũng vừa lúc những anh em mới tới được lùa vào hội trường của trại 1. Vĩnh rửa vội bát đũa cất vào kệ đầu chỗ nằm rồi mò lên hội trường. Đông quá. Ít ra cũng phải 200 mạng. Họ nằm ngồi ngổn ngang trong hội trường. Vĩnh nhìn quanh và nhận ra Cẩn. Anh phóng nhanh về phía bạn. Cả hai thấy nhau mừng ra mặt. Cẩn lên tiếng trước.
– Lại gặp ông nữa rồi.
Vĩnh xà xuống ngồi cạnh bạn.
– Sao? Đám còn lại đi đợt ông nhiều không?
– Nhiều lắm, quá nửa trại. Từ hôm các ông đi có hai đợt khác nữa đi theo rồi mới tới tụi tôi. Họ có về đây không?
– Không. Đợt này là đợt thứ hai từ Trảng Lớn được chuyển về đây.
– Nếu thế chắc chắn có một số đã bị đưa đi Bắc và một số đi Côn Sơn hay Phú Quốc gì đó! Riêng lần chuyển trại này tôi biết còn nhiều L khác nữa cũng được đưa lên đây.
– Tụi thằng Đính ra sao?
– Đi trước tôi một đợt. Đợt ấy nghe đồn đưa về Bình Dương. Có thuốc không cho xin một bi. Trước khi tôi đi có nhiều thằng đã được lãnh quà. Tôi chưa được lãnh. Danh sách những người có quà đọc trước khối có cả tên ông.
Vĩnh không nói gì thêm. Anh chạy trở về nhà kiếm cho Cẩn bi thuốc. Một lúc vĩnh quay trở lại.
Cẩn vừa kéo xong bi thuốc. Hắn ngả lưng xuống nền nhà, thều thào trong hơi khói: Nghe nói quốc tế họ làm dữ lắm, đòi thăm viếng các trại cải tạo, thành thử có thể có một số trại phải đóng cửa để chứng minh nhà tù ở Việt Nam không quá nhiều…
Vĩnh ngẫm nghĩ.
– Cái đó chưa đủ yếu tố khẳng định, tuy nhiên cá thể trên 50 phần trăm Trảng Lớn được giải tán.
Cẩn đã ngồi lên. Lúc này ông già Đang đã nhận ra Vĩnh. Ông ta xáp lại. Vẫn cái giọng chậm rãi hiền lành, ông nói.
– Ông Vĩnh đấy à? Trái đất tròn nhỉ!
Vĩnh cười.
– Nhưng đâu có tròn bằng bi thuốc lào, phải không bác Đang?
Ông già cười thật tươi.
– Ông lúc nào cũng thế!
Nụ cười của ông Đang chợt như tươi hơn nữa khi Vĩnh chìa ra cho ông một bi thuốc sau cùng anh còn để dành trên vành tai.
– Hút đi bác Đang. Hút cho say để thằng Dung…
Ông Đang cầm lấy cái điếu. Ông nhét bi thuốc vào nỏ rồi ngẫm nghĩ.
– Tội nghiệp nó. Kỳ quà vừa rồi nó lại có tên nữa. Như thế là vợ con nó vẫn chưa hề hay biết gì! Cuối cùng chỉ béo mấy thằng bộ đội.
– Bác có tìm cách thông báo cho gia đình nó không?
Ông Đang kéo xong bi thuốc, lùng bùng trả lời.
– Ông cũng rõ tôi rất ngại bị liên lụy. Nhưng kỳ thư trước đây hai tháng tôi có viết xa xôi để gia đình tôi thông báo cho gia đình nó. Kiểu này chắc lũ con tôi chúng đọc thư mà không hiểu ý!
Thốt nhiên Vĩnh thấy thương ông già Đang kinh khủng. Vợ ông chết trước ngày mất nước có mấy tháng. Gà trống nuôi 9 đứa con. Đùng một cái ở tù không biết ngày nào ra! Vĩnh vội tìm lời an ủi ông.
– Thôi thì như thế bác cũng đã cố gắng làm tròn nghĩa vụ với người bạn quá cố. Tụi nhỏ ở nhà chúng đọc mà không hiểu chẳng phải lỗi ở bác. Lần sau biên thư nếu muốn tụi nhỏ chúng hiểu bác hãy mời tôi làm cố vấn. Đánh Morse là nghề của tôi mà!
Chuyện vãn qua lại một lúc Vĩnh lại phải quay về khối vì những tiếng kẻng trưa vừa giục giã vang lên. Mười phút sau đó đội trưởng Chúc từ cổng trại hộc tốc chạy vào các B thông báo: Tất cả ngưng lao động chiều nay. Biên chế toàn trại!
Vào lúc 2 giờ trưa thì bọn quản giáo và vệ binh đã vào đầy trong sân trại. Vĩnh nhìn sang phía hàng rào trại bên cạnh, anh thấy bên đó cũng nhộn nhịp như bên này. Muốn gặp Sanh hết sức mà không thấy nó bén mảng ra hàng rào. Vĩnh nghĩ bụng chắc bên đó và các trại khác cũng cùng tình trạng. Anh tính nhẩm cứ mỗi trại thêm 200 người thì lấy chỗ đâu mà nhét. Chắc chắn sẽ phải có một số lớn lên đường đi về một nơi nào khác nữa. Ai và đi đâu? Câu hỏi ấy vẫn luôn luôn là một câu hỏi vô phương trả lời trong đời tù cải tạo.
Tin chuyển trại vừa tung ra thì tiếp theo đó là một màn khám đồ kiểu mới khiến Vĩnh và các bạn không khỏi hoảng hốt. Ở đây chúng khám đồ độc địa hơn cảnh bày chợ trời trên Trảng Lớn. Đùng một cái, tất cả mọi người bị đuổi ra khỏi phòng xếp hàng ngoài sân. Quản giáo, vệ binh và đội trưởng lần lượt ghé thăm từng nhà. Nhà B1 đã khám xong giờ đến lượt nhà B2. Đội trưởng Chúc thật hăng hái lôi hết đồ đạc của từng người đặt xuống nền nhà. Sau đó hắn bước ra cửa xướng tên người bị khám. Người bị khám bước vào nhà để chứng kiến cảnh khám đồ của mình. Tất cả mọi thứ được lục tung dưới những đôi mắt cú vọ của hai tên vệ binh và tên quản giáo. Những quyển tự điển Anh Pháp, những quyển vở ghi chép, những vật bén nhọn, những ống chích, những lon cóng vượt quá ba cái… đều bị tịch thu và xếp vào một đống. Lần biên chế và khám đồ hôm nay Vĩnh bị tịch thu một cỗ tràng hạt bằng bạc, kỷ vật của người anh cả tặng cho trước khi anh đi tù theo diện cấp tá. Vĩnh cũng mất luôn cây Thánh Giá nhỏ xíu mà Đính gửi theo cho anh trong lần rời khỏi Trảng Lớn. Khi các B đã khám đồ xong, và lúc những đồ đạc bị tịch thu được đội trưởng và vài tay đội viên trực khác dồn hết lên mấy chiếc xe cải tiến đẩy lên khung, thì lệnh nói rõ ai đi ai ở được thực sự ban ra. Những tờ danh sách được đem vào từng nhà đọc lớn. Danh sách cho thấy hầu hết thành phần cảnh sát bị đem đi. Ba giờ rưỡi chiều thì chín mươi phần trăm anh em cảnh sát đã ba lô quả mướp lên đường. Không khí trong trại nháo nhào và vội vã. Vĩnh quan sát thấy ở đây họ chia tay nhau gọn như một nhát kiếm. Không mấy ai tỏ ra ngậm ngùi cho ai, tuồng như họ cũng chán mặt nhau lắm rồi, chỉ mong sao đừng thấy nhau lần nữa! Không có cảnh bịn rịn, không hề thấy ai dấm dúi cho ai cái gì dù một cái ghế gỗ, kể cả những cái bao cát, cái lọ chao không, cái gầu múc nước… đều được gồng gánh mang đi. Bác Tấn cũng ra đi trong chuyến này. Vĩnh mới quen nhưng quý bác thật nhiều. Anh nắm tay bác. Bác Tấn có vẻ ngậm ngùi. Bác nói với giọng Khàn khàn.
– Lạ quá, tôi cũng lính tại sao họ không cho tôi ở với các ông nhỉ? Ở với các ông tôi cảm thấy khỏe khoắn lạ thường.
Vĩnh cười an ủi bác ta.
– Mới một tuần chung đụng bác còn lạc quan đấy. Ở lâu với nhau sợ rồi bác cũng phát điên đầu !
Bác Tấn hơi ngẫm nghĩ.
– Nhưng đỡ hơn chứ. Dù gì các ông cũng thẳng thắn. Máu nhà binh mà! Tôi thích nếp sống bực nhau thì co cẳng chân hạ cẳng tay đàn ông hơn. Nhòm nhòm ngó ngó rồi làm những trò vớ vẩn tôi ghét lắm…
Bác bỏ lửng câu nói nhưng Vĩnh hiểu. Dù sao bác có kinh nghiệm về tập thể nơi đây nhiều hơn Vĩnh, và câu bác nói “dòm dòm ngó ngó rồi làm những chuyện vớ vẩn” Vĩnh hoàn toàn hiểu ý. Vĩnh nắm chặt tay bác lần nữa.
– Thôi chúc bác đi bình yên và sớm được về với lũ cháu nhỏ. Chúng nó chắc nhớ ông nội ghê lắm!
Nước mắt rưng rưng, bác Tấn xốc lại cái túi trên vai. Vĩnh vừa thương vừa buồn cười khi thấy lưng đã vác nặng, tay bác vẫn không quên cầm theo cây chổi được bện bằng cỏ lau thật chặt…
Khi những người được biên chế đã leo hết lên những chiếc Molotova đậu dọc theo con lộ, thì một lớp người khác cũng gồng cũng gánh từ trại 2 tiến sang trại 1. Họ vượt qua một khoảng trống không biết bị cắt từ lúc nào nơi hàng rào ngăn đôi hai trại. Vĩnh đứng đếm. Không nhiều lắm, chừng trên trăm người. Tiến lại gần hơn Vĩnh phát hiện ra họ toàn là dân Trảng Lớn, cùng biên chế lên đây với anh từ đợt trước, trong đó có cả Sanh… Tất cả cũng được dồn vào hội trường. Những cảnh tay bắt mặt mừng lại diễn ra giữa những người từng quen biết nhau. Trong lúc ấy thì mấy tay đội trưởng của các đội A, B, C, D hối hả chạy lên hội trường. Họ hò hét bắt tất cả thu xếp đồ đạc gọn ghẽ thứ tự vì trong vài phút tới sẽ có quản giáo xuống nói chuyện. Ít phút sau quản giáo xuống thật. Dẫn đầu đám quản giáo vẫn là tên quản giáo bị liệt một tay mà gần tuần nay Vĩnh ít khi gặp dù hắn đang xử lý chức vụ quản giáo của cả hai đội A và B. Lũ chúng kéo vào hội trường. Tuồng như không có thì giờ để ý đến quang cảnh bừa bộn trước mặt, tên liệt tay lên ngay sân khấu và tiến tới trước máy vi âm, nói.
– Tôi thay mặt ban chỉ huy trại 1 nhiệt liệt chào mừng các anh cải tạo viên mới nhập trại. Hiện tại trại ta đang có nhiều vấn đề cần giải quyết, thế nên tôi yêu cầu các anh tuyệt đối yên lặng nghe tôi đọc danh sách biên chế các anh về các nhà mới. Các anh đội trưởng cũng lắng nghe cho kỹ để bố trí tốt các đội viên của mình về đúng nhà quy định. Cơ bản là nghe rõ làm nhanh để giải phóng sớm hội trường. Nói đoạn tên quản giáo nâng lên gần mắt một tờ danh sách và đọc lớn. Khi bản phân phối người cho các đội các nhà đã được đọc xong, bọn quản giáo trao quyền lại cho các đội trưởng và quầy quả bỏ đi. Vài cái tên quen thuộc đã lọt vào B2. Vĩnh và các bạn cũ trở về phòng trước. Anh đứng dưới giàn mướp trĩu trái ngó những người mới đến lũ lượt gồng gánh để vào các phòng theo sự hướng dẫn của các đội trưởng. Đến lúc này Vĩnh nhận thêm ra được vài người nữa. Nguyễn Văn Ý, tổ A.5 khối 2 Trảng Lớn. Vũ Duy Dương, anh chàng rỗ chằng rỗ chịt, từng là môn đệ của võ sư Kid Humsey, một trong những đại đội trưởng của sư đoàn 9BB và là người của khối 1 Trảng Lớn. Còn một số nữa nhưng Vĩnh không biết tên. Khi những người mới đến đã vào hết các phòng Vĩnh mới trở về chỗ nằm. Trong phòng anh hiện tại quá bán là người của L4T3 trước đây. Một số khác cũng từ Trảng Lớn lên nhưng họ hoàn toàn lạ mặt đối với Vĩnh. Có lẽ họ từ các L khác như Cẩn đã nói. Các tổ mới được thành lập ngay. Và những người cùng tổ với Vĩnh hiện tại gồm Đặng Xuân Bính, Nguyễn Văn Hóa, Phạm Kim, Nguyễn Văn Ý, Vũ Duy Dương, Trần Văn Hỷ, Võ Hữu Hiệp, Đặng Đình Hồng, Vĩnh và Phạm An Toàn. Anh chàng sau cùng này chính là kẻ ở cùng khối với Hóa và Kim trên Trảng Lớn trước đây, cựu thiếu úy trợ y, có giọng nói nửa đực nửa cái và có lần Nguyễn Thành Đính đã cả quyết hắn ghé thăm bếp khối 2 vào đêm giao thừa năm rồi. Sự ghé thăm ấy đã làm cho khối 2 mất biến hơn hai thau cháo lòng… Bạn cũ chẳng có gì phải thủ thế. Chỉ một lúc sau từng nhóm đã kéo nhau ra giếng tắm ào ào. Đám mới đến có nhiều người đã được nhận quà gia đình từ Trảng Lớn. Đám Vĩnh chẳng có gì nhưng vẫn được ăn ké, hút ké đủ thứ. Trong phòng, nhóm bạn cũ từ Trảng Lớn đều kéo đến chỗ Vĩnh tán gẫu. Tiến, Hóa, Tạc, Kim, Ý… Đủ thứ chuyện được đem ra kể, rồi đối chiếu, rồi suy luận. Nhìn quanh thấy nhóm nào cũng thế. Vĩnh ngó sang một nhóm đối diện với chỗ nằm của anh. Họ toàn dân lạ mặt nhưng ăn nói rất bạo. Một tay ngồi tựa vào vách, tay xoa bàn chân sưng phồng và than thở.
– Mẹ nó! Có đôi dép râu phút cuối lại bị thuổng mất. Đi đôi guốc phồng cha nó cả chân!
Nghe câu than thở Vĩnh chợt nhận ra mặt tay này lúc hắn khập khễnh trên một đôi guốc cao thấp không đều vác đồ từ hội trường về phòng. Có lẽ ngoài Kim, Vĩnh chưa thấy tay nào luộm thuộm hơn hắn.
Người bạn ngồi cạnh tay vừa than thở lên tiếng trách cứ.
– Mày cà chớn! Đôi dép cũng không giữ được. Có đôi sơ-cua cho mày mượn cũng để mất mất một chiếc!
Trong lúc mọi người đang tán gẫu thì đội trưởng Chúc lại xuất hiện. Đội trưởng lúc này trông không còn vẻ hung hăng như thủa bọn Vĩnh mới đến nữa. Có thể hắn đã cảm nhận được một cách đau đớn rằng quyền uy trong tù không phải là thứ vững bền; vả lại giờ đây dù thế nào, Chúc cũng đã rơi vào cái thế thiểu số trong khi bọn mới đến thằng nào trông cũng như gấu…
Chúc dịu giọng thông báo.
– Yêu cầu tất cả các bạn tắm rửa, sắp xếp đồ đạc cho gọn ghẽ. Lệnh quản giáo tất cả các nhà phải tiến hành bầu xong nhà trưởng và các tổ trưởng trước giờ cơm chiều.
Một người lên tiếng hỏi.
– Ủa, có đội trưởng rồi, bầu nhà trưởng làm gì?
Chúc gượng gạo trả lời.
– Trên hủy bỏ chế độ đội trưởng. Các anh cứ biết thế thôi.
Nói đoạn Chúc bỏ sang phòng khác. Dù sao thì việc bầu bán không phải là việc thích thú trong tù, ngoại trừ những tay thực sự có máu bon chen trong người. Nhìn qua phong thái của đám mới lẫn đám cũ trong B2 có thể nói hơi khó tìm ra được một kẻ có máu bon chen “chức sắc” nơi đây. Hơn thế, nếu không có một động lực thúc đẩy, chắc chắn chiều nay B2 không cách gì có được một nhà trưởng. Vĩnh nhìn qua nhân số trong phòng. Tất cả 50 người. L4T3 chiếm đến ba phần năm. Anh nảy ra một ý kiến và nói nhỏ với Hóa.
– Ông lên tiếng bán cái cho mấy tay bên kia đi!
Kim giẫy nẩy khi nghe được lời đề nghị của Vĩnh với Hóa. Nó cằn nhằn.
– Mình chưa biết họ ra sao, trao quyền khơi khơi cho họ khốn nạn cả đám. Moa chỉ khoái các toa làm để moa thoải mái thôi…
Nghe Kim thủ thỉ, Vĩnh cũng thấy thương nó. Trong anh em Kim dĩ nhiên là người bạn tốt. Nhưng với Cộng sản nó sẽ không tốt tí nào. Vóc dáng thì cồng kềnh chậm chạp, lao động thì lơ vơ lờ vờ và làm biếng thuộc loại vô địch. Anh em đã phải đặt cho nó cái tên là “người thợ vịn”. Dựng sườn nhà ư? Nó chỉ đặt tay vào mấy thanh gỗ. Kéo nước tưới cây ư? Nó chỉ níu lấy sợi dây và lết thết đi theo những bước chân nặng nề bấu vào đất của anh em. Hốt cứt ư? Đầu tiên cu cậu lôi ra một cái khăn quấn quanh đầu để bịt mũi bị miệng như một kiếm sỹ bí mật…
Quả thực nếu không có anh em bên cạnh đỡ đần, Kim rất dễ lãnh búa với bọn quản giáo về sự “tiêu cực trong sinh hoạt cải tạo” của nó. Bù lại, Kim tương đối tốt bụng với anh em. Có cái gì ăn được cũng chia chác với các bạn. Mặc dù bản tính hơi… nhát gan nhưng lại rất liều lĩnh trong vấn đề nấu nướng linh tinh. Rảnh lúc nào là nó tìm cách nấu nướng lúc đó, dù rằng nó nấu nướng dở nhất thế giới và chưa bao giờ Vĩnh ăn được một món gì do Kim nấu mà thấy ngon miệng! Không nhạt quá thì cũng mặn quá, không có cát trong mì thì cũng phải có sâu trong rau.
Thế nên nghe Vĩnh đề nghị bán cái chức nhà trưởng cho đám lạ mặt, Kim giẫy nẩy cũng phải.
Đang bàn tính thì tên quản giáo què tay chợt xuất hiện. Hắn nhìn quanh hỏi.
– Ở đây sao? Bầu bán gì chưa?
Vài tiếng đáp lộn xộn.
– Dạ chưa!
Tên quản giáo có vẻ ngạc nhiên.
– Các anh quân sự cả, bầu ra một nhà trưởng và một nhà phó mà suốt lúc đến giờ làm không xong việc!
Nhìn qua một vòng và có lẽ nhận thấy chẳng tên tù nào có vẻ hào hứng với việc bầu bán, nên hắn đề nghị luôn. Ở đây có anh nào tổ trưởng cũ không?
Người tổ trưởng cũ còn sót lại chỉ có mình Bính. Biết có chạy cũng chẳng thoát, Bính đành phải giơ tay.
– Có tôi!
Tên quản giáo đề nghị luôn.
– Vậy để tranh thủ có người đại diện đi giao ban chiều nay, tôi đề nghị anh Bính làm nhà trưởng luôn. Các anh có nhất trí không?
Dĩ nhiên chẳng ai phản đối. Chức sắc trong tù chỉ có ba loại phải đem lưng ra gánh gồng. Một điên, hai hèn hạ, ba không may. Bính thuộc vào hạng không may. Một tên cao hứng vỗ tay. Những tiếng vỗ tay khác nhảy vào góp vốn. Đặng Xuân Bính ngượng ngịu đứng lên làm lễ… đăng quang. Tên quản giáo trước khi bỏ đi còn nói thêm: Tôi cho nhà trưởng toàn quyền chọn một nhà phó. Sau đó hai anh trụ trì công tác bầu ra 5 tổ trưởng và 5 tổ phó. Trước giờ cơm chiều, khi những chiếc Molotova cuối cùng rời con lộ chạy theo lối cổng trại số 1, để lại những lớp bụi đỏ bám trên những cây gòn khô cằn, bám trên những dàn mướp xanh tươi, bám trên những mái tôn thấp tè của những dãy phòng ngủ chật chội… để đem những anh em Cảnh sát về một nơi không ai biết; thì trại 1, ở tất cả các nhà đã hình thành một cơ cấu mới. Riêng B2 có Đặng Xuân Bính làm nhà trưởng, Huỳnh Công Cẩn làm nhà phó, Nguyễn Văn Hóa tổ trưởng tổ 1 với Hỷ làm tổ phó…
Drone (Máy bay không người lái – MBKNL) ở đây là đồ chơi của học sinh trung học 18 tuổi trở lên, cả đàn ông sồn sồn hoặc lớn tuổi (như tôi, hiện đang bay chiếc Phantom 4). Không biết mấy chị em có chơi không, nhưng mỗi lần đi bay, tôi không hề thấy phụ nữ. Vì vậy, tôi gọi đây là đồ chơi của đàn ông.
Hiện nay rất nhiều công ty và cá nhân sử dụng MBKNL để chụp hình, quay video. Tôi mua cái MBKNL Phantom 4, điều khiển bằng remote, quay video, chụp hình 4 K. Máy hình Phantom 4 có ống kính rộng 360, phẩm chất hình 20 MP, rõ và bén. Những ngày Hè nắng đẹp tôi ra biển, rừng, các vùng hồ chụp hình và bay giải trí.
MBKNL là loại đồ chơi (cho người lớn), nhưng vì có nhiều tác dụng khác hơn, nên FAA (Cục Quản lý Hàng không Liên bang) đã đưa ra những quy tắc sử dụng món đồ chơi này.
Tôi đã dành một buổi sáng học cách sử dụng, điều lệ và đăng bạ em MBKNL Phantom 4 của mình. Sau khi hoàn thành bài trắc nghiệm ngon lành, đóng tiền lệ phí máy bay (hàng năm), FAA sẽ gởi giấy chứng nhận đã học bay và ID của máy bay về tận địa chỉ nhà. Từ đó, bạn có quyền bay tại những vùng được phép bay.
MBKNL DJI Phantom 4 Pro. Nguồn. Digital Trends.
Các quy tắc căn bản về sử dụng MBKNL
– Luôn luôn tránh xa các máy bay thông thường.
– Không bay gần phi trường, hải cảng, căn cứ quân sự, khu làm việc của chính phủ.
– Không bao giờ chơi MBKNL cẩu thả, thiếu thận trọng, hoặc ở trạng thái không bình thường (như say xỉn, bệnh).
– Khi bay, phải luôn nhìn thấy MBKNL trong tầm mắt.
– Không được phép điều khiển 2 MBKNL cùng một lúc.
– Tuyệt đối không bay nơi có nhiều người, trừ khi họ cùng chơi với mình.
– Không được sử dụng MBKNL khi đang lái xe hoặc ngồi trên máy bay.
Bạn có thể chơi MBKNL suốt ngày (30 phút trước khi trời mọc tới 30 phút sau khi trời lặn) và trong thời gian chạng vạng nếu MBKNL của bạn có hệ thống chiếu sáng chống va chạm. Khi chơi, điều kiện thời tiết phải có tầm nhìn rõ 3 miles từ nơi bạn điều khiển. Cao độ hết ga là 400feet, tốc độ hết cỡ là 100 miles/giờ, không được bay khi tuyết rơi, mưa, gió bão.
MBKNL thương mại, dùng quay phim,Yunee. Nguồn.Engadget
Các quy tắc sử dụng MBKNL cho hoạt động thương mại
MBKNL có thể mang hàng hóa bên ngoài nếu được gắn an toàn và không ảnh hưởng tới đặc tính, khả năng kiểm soát máy bay. Bạn có thể dùng MBKNL để vận chuyển hàng hóa, vật dụng trong phạm vi tiểu bang (kể cả hàng hóa gắn thêm vào). Hàng hóa, vật dụng chỉ được nặng dưới 55 pounds; bạn phải tuân theo luật bay của khu vực (có các quy định khác cho Hawaii và Washington D.C).
Ðiều kiện đăng bộ MBKNL:
Bất kỳ ai sử dụng MBKNL theo luật 107, phải đăng bộ Máy bay sử dụng, bằng cách vô faadronezone.faa.gov làm liền, nhanh và dễ dàng, chỉ tốn có $5. Sau khi xong việc này, bạn sẽ nhận (gởi tận nhà), số đăng bộ, bạn nên dán trên thân máy bay, và mang giấy đăng bộ mỗi lần đi bay.
Một điều quan trọng khác bạn nên biết là về các vùng cấm bay (do FAA quy định, có thể vô faadronezone.faa.gov để tìm hiểu) thường là phi trường, hải cảng, khu quân sự, nhà máy, khu công cộng, dân cư, khu đông người, trường học, trong thành phố, trên đường phố, và tối kỵ là bay vô nhà hàng xóm…
Vụ này thì tôi có dịp “thưởng thức” rồi.
Hè năm ngoái, thứ Sáu, K phone tới:
– Chú, cháu mới có cái drone DJI Mavic 2 Pro. Nhà chú có vườn rộng, ít cây, bay dễ.
– Ừa! Chiều bay.
MBKNL vận chuyển hàng. Nguồn. hartzellprop.com
3giờ trưa hôm sau, ngoài vườn, trời nắng gắt, không gió, tôi, K, và em MBKNL mới khui hộp:
– Chú bay trước đi.
Tôi đọc qua loa bảng hướng dẫn, cũng không khác gì nhiều so với phi cơ điều khiển ngày xưa tôi chơi.
Cũng dễ thôi, tắt mở máy bay, remote, đèn hiệu xanh, sẵn sàng bay, bấm nút “Bắt đầu”, cánh quạt quay, máy bay lên 4 feets, đứng yên. Tôi đẩy cần bên trái tới (cần bên trái: đẩy tới, bay lên; kéo lui: bay xuống và đáp; qua phải: máy bay xoay qua phải; qua trái: máy bay quay qua trái. Cần bên phải, đẩy tới: bay tới; kéo lui: bay lui; qua phải: máy bay qua phải, qua trái: máy bay qua trái) máy bay lên từ từ, đẩy tiếp, đẩy tiếp, máy lên thật cao, remote chỉ 300f, trong điện thoại thấy rõ ràng tôi và K đang đứng trong vườn, tay tôi cầm remote.
Tôi thử lên 350f, rồi lên 400f, bấm máy quay video, và cho máy bay tự động về nhà (máy bay sẽ tự động bay theo GPS về đúng nơi bạn đứng) vậy là tôi sẽ có cảnh video từ trên thật cao xuống tới vườn. Nhưng máy bay xuống quá chậm, tôi tài lanh đưa ngón trỏ, kéo cần bên phải xuống, chiếc máy bay bỗng lạng qua một bên.
K la:
– Không, không được! Khi chú bấm về nhà tự động thì không được điều khiển.
– Chú chưa biết chuyện này!
Và “chuyện này” tới ngay.
MBKNL cứu thương. Nguồn. Huffington Post UK
Chiếc máy bay tiếp tục xuống, xuống, xuống nữa và xuống luôn bên kia hàng rào, đáp vô nhà hàng xóm. Tôi nghe tiếng la lớn:
– Ahhhhh!
Tôi và K nhìn nhau:
– Chết!
Chuông phone reo:
– Hello H. Cha qua đây lấy cái máy bay về giùm.
Scott, người bạn hàng xóm gọi. Tôi qua.
Sau vườn nhà Scott, trên bãi cỏ xanh là Olivia, vợ Scott, tóc vàng, quấn khăn tắm quanh người.
Scott:
– Ðây là H, sát bên. Olivia, vợ, cha gặp rồi.
Tôi chào, Scott “mở đài”:
– Chuyện là cái máy bay của cha – Scott chỉ vô chiếc máy bay nằm nghiêng trên cỏ, gần cô vợ – đã đáp xuống sát bên Olivia, làm cô sợ điếng người…
MBKNL làm nông nghiệp. Nguồn. outstandingdrone.com
Scott có vẻ khó chịu:
– … Vì nghĩ rằng bị theo dõi, hoặc có ai muốn tấn công (?)
Tôi phân trần:
– Không, hoàn toàn không! Ðây là tai nạn. Vì tui chưa điều khiển thành thạo …
Tôi bước tới lấy chiếc máy bay (thật ra là sợ Scott lấy làm tang vật)
– … Bấm lộn nút, nên thay vì đáp bên sân tui, nó đáp lộn qua đây.
– Cha có quay video, tôi thấy đèn máy quay chớp chớp.
– Thì có.
Scott hỏi:
– Khi nó bay qua đây, từ trên cho đến khi đáp xuống?
– Chắc rồi!
MBKNL giao hàng. Nguồn. buydronefor.com
Scott cười lạnh ngắt như Hitchcock:
– Và lúc đó, Olivia đang nằm phơi nắng!
Tôi quay qua Olivia, cổ quấn cái khăn to:
– Ðâu sao, cổ có quấn khăn mà!
Scott xuống giọng, nói thật chậm:
– Lúc… đó… bả… đang… ở… truồng!
Trời đang nắng bỗng tuyết mùa Ðông đổ ập xuống.
“Dùng MBKNL quay video vợ hàng xóm đang ở truồng tắm nắng”, tội danh này đủ cho tôi ở với mấy con gián cả năm trong tù, tiền thuê luật sư chạy tội, tệ lắm là $5,000, nhưng khủng hoảng nhất là những người quanh đây nhìn tôi khinh bỉ như một “tội phạm tình dục” thứ thiệt… Mẹ ơi!”
Tôi lắc đầu:
– Tôi không cố ý! Không cố ý! Xin lỗi Olivia, Scott.
Lặng thinh, nghẹt thở.
MBKNL cấp cứu. Nguồn. nurse.org
Tôi gọi K:
– Vô nhà mang cái laptop qua đây gấp.
K mang laptop tới, tôi lấy cái USB trên máy bay, bỏ vô laptop, tìm, bấm, xoay qua Scott.
– Scott, cha coi giùm cảnh quay video lúc nãy, và xóa đi luôn.
Scott coi, xóa. Tôi tắt laptop.
– Tui rất tiếc cho việc này, xin lỗi ông bà một lần nữa.
Cũng may, Scott và Olivia hiểu tôi, cười thông cảm.
Tôi thở một hơi dài, về nhà.
MBKNL phun thuốc rầy. Nguồn. Geeky Gadgets
oOo
Vài loại MBKNL tốt, dễ bay, quay video và chụp hình rất đẹp, đang bán trên thị trường:
* DJI Mavic 2 Pro. Quay video 4k, 20 mp, thời gian bay: 31 phút, phạm vi hoạt động: 8km, nặng 905g, remote.
*DJI Mavic 2 Zoom, nặng 905g, máy hình 12 mp, vùng hoạt động 8km, thời gian bay: 31 phút.
*DJI Phantom 4 Pro, nặng 1,375g, máy hình 20 mp, quay video 4k, thời gian bay: 30 phút, vùng hoạt động 8 km.
Nhiều công ty đã sản xuất MBKNL dành cho các cuộc tranh tài, chắc không bao lâu các cuộc thi vô địch MBKNL sẽ được tổ chức và đây trở thành môn chơi phổ biến như máy bay điều khiển ngày xưa.
Bắn đầu đạn Ramjet 155 với đại bác M777. Nguồn.gagadget.com
Hãng Boeing và Nammo hoàn thành cuộc thử nghiệm đầu đạn đại bác “Phản lực nén” đầu tiên
Hai nhà thầu quốc phòng – một ở Mỹ, một ở Châu Âu – đã hợp tác sản xuất một loại đạn đại bác, có thể khiến pháo binh trở thành một lực lượng mang tính quyết định chiến trường. Ðạn đại bác “Phản lực nén” (Ramjet) 155 không chỉ có tầm bắn xa tới 44 miles mà nó còn có thể theo dõi mục tiêu di động để tiêu diệt. Ðầu đạn hiện đang được thử nghiệm. Cuộc thử nghiệm đầu đạn 155 lần cuối cùng vào 28-6-2022 tại Trung tâm Thử nghiệm Andoya, Na Uy, đã được Boeing và Nammo thông báo vào tháng 8-2022. Ðầu đạn “Phản lực nén” 155 đã khai hỏa thành công và có đường bay ổn định và động cơ được kiểm soát rất tốt.
Đầu đạn đại bác thông thường được bắn đi bằng thuốc bồi, bay như một viên đạn. Còn đầu đạn mới này bay bằng động cơ tới mục tiêu rất xa. Một bài học lớn từ cuộc chiến Ukraine, cho thấy pháo binh phe nào bắn xa nhất sẽ khống chế được chiến trường.
Đầu đạn đại bác mới Ramjet 155. Nguồn. photo credits Nammo
Loại đại bác với đầu đạn bình thường
Ðã hơn 20 năm, kỹ thuật pháo binh của quân đội Mỹ ít được ưu tiên phát triển. Sau vụ 11/9, sự tập trung vô các cuộc chiến du kích và chống lại kẻ thù có khả năng quân sự thấp của nhà nước Hồi Giáo và Taliban đã làm giảm bớt sự cần thiết của những đại bác mạnh và có tầm công phá xa. Quân đội Mỹ và Thủy quân Lục chiến (TQLC) đã không gặp sự đe dọa về pháo binh của quân thù, các cuộc không tập đã thay thế những đại bác công phá mục tiêu tầm xa.
Nhưng sự chuyển hướng, đối đầu với các siêu cường như Nga, Tàu đã làm thay đổi điều này. Bộ binh của Mỹ sẽ phải chiến đấu với địch quân bằng vũ khí với kỹ thuật cao, nên họ cần những khí cụ hàng đầu, có khả năng qua mặt các địch thủ mạnh nhất.
Cuộc chiến pháo binh giữa Ukraine và Nga, cả 2 phía đã chơi nhau hằng ngày bằng cả trăm đại bác Howitzers và những giàn phóng hỏa tiễn, là lời nhắc nhở thật sự thuyết phục về sức mạnh của pháo binh và những gì sẽ xảy ra cho kẻ thua trong một trận đấu pháo tay đôi.
Một bài học lớn từ cuộc chiến Ukraine, cho thấy pháo binh phe nào bắn xa nhất sẽ khống chế chiến trường. Ðại bác tự động 152 li 2S19 Msta-S của Nga có tầm bắn 24.7 km, Ðại bác tự động mới nhất của Moscow 2S35 Koalitsiya có tầm bắn 40 km. Các đại bác này đã vượt xa đại bác tự động 2S3 của Ukraine có tầm bắn 17.3 km. Vì vậy, pháo binh Ukraine nằm trong tầm bắn của Nga. Ðiều này rất nguy hiểm vì họ nằm trong vòng sát thương của đại bác Nga, trong khi pháo thủ Nga lại lọt ra ngoài tầm bắn của pháo binh Ukraine.
Nguyên tắc để bay xa hơn, nhanh hơn của đầu đạn mới
Ðầu đạn mới “Phản lực nén”155 là đầu đạn đại bác đầu tiên dùng sức phản lực nén để đẩy, tạo sức bay. Ðầu đạn này đã phát triển từ năm 2019, khi quân đội tài trợ cho dự án XM1155 đại bác tầm xa. Ðầu đạn “Phản lực nén”155 là động cơ dùng không khí. Nó hút không khí vô với tốc độ nhanh, trộn với khí sinh ra do nhiên liệu bị đốt; không khí và khí thải được tạo lực, đẩy mạnh ra ngoài bằng ống thoát sau đuôi.
Những ưu điểm của đầu đạn đại bác “Phản lực nén”155
Thứ nhất, khi đầu đạn bay, nó sử dụng nhiều ô xy để làm lực đẩy và do có nhiều ô xy trong không gian, đã giúp giảm bớt số nhiên liệu phải chứa trong đầu đạn. Thứ nhì, không giống như các đầu đạn bay khác, đầu đạn này, có thể tăng tốc tới một khoảng xa hơn, nó bay nhanh hơn đến khi trúng mục tiêu. Hệ thống hướng dẫn chính xác của đầu đạn 155 có khả năng bắn rất chính xác mục tiêu, điều này tiết kiệm được chất nổ và số lượng đầu đạn. Các đơn vị pháo binh có thể yểm trợ lực lượng bộ binh, và triệt hạ các mục tiêu di động như các chiến xa và xe tăng của địch khi họ xâm nhập chiến trường
Bộ binh đã có đại bác Howitzer mới toanh, với tầm pháo xa tới 40 km. Vậy, đầu đạn “Phản lực nén” 155 có làm cho các đại bác kia trở nên lỗi thời không? Không phải vậy! Tất cả đại bác tự động M777, M109A7 và cả đại bác ERCA ngoài việc sử dụng đầu đạn bình thường vẫn có thể dùng đầu đạn 155 “phản lực nén” để bắn mục tiêu xa.
Thử nghiệm Ramjet 155 trên đại bác của chiến xa tấn công HeliTank. Nguồn. worldofjaymz.fandom.com
Những chiến lược mới với đầu đạn đại bác này
Ðầu đạn “Phản lực nén” 155 sẽ làm thay đổi cung cách tác chiến của pháo binh khi được kết hợp vào hệ thống trinh sát tấn công với máy bay không người lái và các hệ thống tình báo điện tử khác. Cả nhóm được nối tiếp với hệ thống liên lạc rất an toàn. Ðơn vị pháo tầm xa sẽ có khả năng xạ kích rất xa trong lãnh thổ của phe địch và bắn thả ga mà không cần phải di chuyển vị trí để tránh bị quân địch phản pháo. Ðây là một kết hợp quá tuyệt sẽ khiến mọi địch thủ dội ngược.
Các cuộc thử nghiệm xạ kích tầm xa tiếp tục phát triển công nghệ đầu đạn “Phản lực nén”. Các nhóm chuyên môn đã thử nghiệm trên 450 lần xạ kích tầm ngắn và đầu đạn “Phản lực nén”155 của Boeing đã được phát triển để đáp ứng yêu cầu về xạ kích chính xác tầm xa của quân lực Mỹ.
Giám đốc điều hành của Nammo Morten Brandtzæg nói: “Những kết quả của thử nghiệm đã cho thấy rằng đầu đạn đại bác “Phản lực nén”155 đã hoạt động tốt và có thể thay đổi tương lai của lực lượng pháo binh. Chúng tôi rất tin tưởng vào khả năng của đầu đạn này. Cuộc thử nghiệm đã cho thấy tất cả mọi khía cạnh, từ bắn tới kiểm tra thân đạn và đường bắn đều hoàn hảo, đại diện cho công nghệ đột phá của pháo binh và sự thành công lớn của Boeing, Nammo và quân đội Mỹ”.
Vào tháng 7-2019, Bộ Quốc phòng Na Uy, công ty không gian Nammo và Boeing đã ký một hợp đồng phát triển đầu đạn đại bác “Phản lực nén”155 trong chương trình XM1155 của quân đội Mỹ.
Phó chủ tịch, Giám đốc hãng Boeing, Steve Nordlund đã nói: “Chúng tôi tin tưởng rằng đầu đạn đại bác “Phản lực nén”155, sẽ tiếp tục hoàn thiện về công nghệ và thử nghiệm, có thể giúp quân đội Mỹ đáp ứng được những ưu tiên hiện đại hóa về xạ kích tầm xa chính xác”.
Công ty sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa về công nghệ đại bác “Phản lực nén”155 với các cuộc thử nghiệm dự định vào những tháng tới.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.