Minh tinh

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 21/01/2019 
Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Sau khi tốn tiền trả cho việc điều nghiên phong thuỷ. Huỳnh Thị Mười vét sạch tờ bạc cuối để thuê được căn nhà nằm đúng trên long mạch (?). Mười đi tắm bùn gọi là tẩy trần, tắm suối nước nóng những mong trôi chảy bao vẩn đục tù đọng trong tâm. Mỗi khi nhắm mắt chuẩn bị ngủ ngáy, Mười cắt hai lát dưa leo đắp lên, dăm bữa nửa tháng lại dùng chanh tươi thay chỗ. Sáng đầu ngày điểm tâm nước trà xanh sản xuất tại Đài Loan, ngoài có hàng chữ quảng cáo đọt ngắt tận trên núi cao cô quạnh, lá tinh khiết chỉ biết ngậm giọt sương giăng. Pha trà chớ nên hãm lâu, nước đừng sôi gắt. Bưng tách lên chưa vội uống ngay mà chậm rãi nâng sát mắt cho hơi ấm bốc vào con ngươi trân tráo soi mặt để đồng tử trôi đi ghèn làm màu mắt trông ma mị long lanh sương khói tạo ra biệt nhãn.

Huỳnh Thị Mười tuổi nay đã vừa đụng trần chạm số bốn mươi. Ngần ấy tuổi đời chưa hề biết nắm tay kẻ khác phái, da thịt trinh nguyên chẳng có luồng điện nào tiếp cận làm dựng đứng lông măng gây râm ran nổi hột một rung động tình ái. Những tên đàn ông đó đây có chung lời bình chùng vụng: Thật phí của giời! Thị sống vậy nào khác gì tiên nữ bị vướng phải một lời nguyền, đày đoạ xuống trần lắm oan nghiệt, đè nén ba đào để trôi qua cơn hạn tự mình hành hạ, ngó lơ niềm vui nỗi sướng mà tạo hoá từng gia ơn. Thị là ni cô ôm vung một ngực chật lá bồ đề sáng loà chánh quả chay tịnh, là bà sơ chỉ biết nhắm mắt hôn vào chân chúa rỉ máu trên cây thập tự nặng nề những trang kinh không ngớt mụ mị xiển dương nỗi bình an dưới thế, hiển linh ngay cả người chả thiện tâm.

Căn tu tích luỹ từ đâu nào ai hay, hơi bị hoang đường để dần dà tựu thành cho riêng Mười một ngoại hiệu Cô Mười Không Bù. Canh bạc bày ra, ví như bài cào cộng ba lá lại thành số 10 thì xong om, bù, cháy túi. Chín nút mới hốt bạc. Nhưng ván bài mà Huỳnh Thị Mười khởi xướng làm cái thì tháng ngày cứ việc thu tiền của bá tánh nhẹ dạ liền tay chung, nghiêm cẩn dâng lên vượt mức quy định. Mong nhìn ra sắc diện Mười còn khó hơn gặp mặt nhà quan chuyên tồn đọng đơn trương kiện tụng, bởi cơ quan từ địa phương đến trung ương làm việc thứ Hai đến thứ Sáu trong khi muốn cậy nhờ tới Cô Mười Không Bù giải quyết giúp thì chẳng vin vào thứ nội quy ngày giờ nào sất. Nói tuỳ tiện thì không hẳn, nói do buồn vui xui khiến cũng sai. Chỉ nên vin vào nguồn cơn là Cô Mười nghe theo sự chỉ bày của người khuất mặt nào đó khiến xui. Chưa kể một tháng, vấn nạn kinh nguyệt hành khiến Mười phải bế môn mươi ngày hoặc tuần lễ, thân không sạch thì mất linh vì sự ô uế là thứ mà người cõi âm tối kị. Những đứa học bùa luyện ngãi cũng thế, chúng mà sơ ý lòn cúi băng qua dây phơi áo quần nội y đồ lót của đờn bà con gái thì sẽ bị “bà vật” ngay. Thế mới khiếp vía. Vậy mới đắc địa, ngôn từ cô đã phán ra, lời lẽ đó mang đủ uy lực. Thiên cơ bất khả lậu nhưng Cô Mười đã thế thiên hành đạo, rộng lòng vén mở, lộ hàng, bày đường chỉ lối.

Thời gian đầu khởi nghiệp, người ta chùng lén trông trước ngó sau khi đến gõ cửa Huỳnh Thị Mười chỉ nhắm tới chuyện gỡ rối tơ lòng tình duyên gia đạo, hoặc xem chuyện hùn hạp làm ăn có thành đạt; hoặc chuyến vượt biên sắp tới có êm thắm, có bị sa cơ lỡ vận chịu kiếp tù đày thiên thu giở lịch? Dần dà tiếng thơm lây lan để bây chừ đâm rậm rật, thân chủ đều là người “ngoài ta” nghe danh vang dội lặn lội vào “miền Nam luôn ở trong trái tim” dâng lễ vật lên Cô Mười những mong nhờ cô độ trì chỉ ra nắm xương tàn bị vùi dập khuất nẻo chốn rừng thiêng nước độc trong giai đoạn trường kỳ chống Mỹ “sinh Bắc tử Nam” ra đi chẳng hẹn ngày về.

Lạ, máy dò mìn cần mẫn rà soát khắp cánh đồng hoang dại đôi lúc cũng bỏ sót một vài vị thần chết đang say ngủ chờ cù lét đặng kích hoả máu đổ thịt rơi, chó đặc nhiệm có biệt tài đánh hơi hàng ma tuý dàn đội hình cả bầy ở phi cảng lắm khi cũng le lưỡi ra ngửi không xong một kiện hàng giá nửa triệu đô vừa ung dung lọt vào tay người nhận ở sân bay Nội Bài. Vậy chớ Cô Mười Không Bù mỗi khi đã xăm xăm đi vào rừng rậm hổng ke cọp beo rắn rít mai phục, cô dong tay chỉ tới đâu trúng ngay chóc chỗ đấy. Phu phen được thuê cứ thế mà đào xới liên hồi kỳ trận. Hoạt cảnh tiếp theo là nhang đốt từng bó mù trời, râm ran điệp khúc Nam mô quán thế âm bồ tát; bà con tháp tùng trải tấm ny-lông ra đặng liền tay hốt lấy hốt để một bộ xương trắng hếu thôi cách trí vùi sâu dưới ba tấc đất, lạnh tê sự biểu cảm.

Xương chất thành núi máu chảy thành sông là chuyện ngày trước, bây chừ đất nước đã im tiếng súng, bá tánh một mực cắm đầu tìm đủ mọi cách để gom tiền thành núi cho dù mồ hôi xuất hạn có chảy thành sông. Thiên hạ ra sao thì Cô Mười cũng theo nguyên bổn, cái khác biệt là Mười Không Bù không đời nào phải đổ mồ hôi trộm, thân thể mãi khô queo, thích rịn ướt cũng khó. Việc di chuyển vào rừng luôn có võng lọng chầu chực khiêng đi chỉ thiếu ngựa anh đi trước võng nàng theo sau. Đi như nhàn cư vi có việc, dời thân như làm cuộc dã ngoại, như thoải mái lên rừng đếm lá. Về lại nơi xuất phát thì lá kia biến đổi thành bạc giấy xanh, là đồng cứng, nôm na là đô la Mỹ, khúc ruột của kẻ cựu thù. Lạ, Việt Nam đồng thì chỉ được tiêu pha ngay trên cuộc đất hình chữ S thôi, sẽ ma chê quỷ hờn nếu giả bộ lấn sang khu vực bạn láng giềng tìm cách cả vú lấp miệng em; nhưng nhét được bạc của thằng Mỹ một cục sau đít thì “đồng chí” có thể chu du khắp cõi địa cầu để làm mưa làm gió, thứ thông hành mà hang cùng ngỏ hẹp nào cũng hơi bị hoan nghênh. Tóm tắt là trần gian này chưa hề lãnh cảm với thứ bùa chú kia. Câu thoại “bộ có đô la rồi ưa làm cha thiên hạ hả?” chưa hề sai trật. Cha mà nói làm gì, làm ông cố nội cũng được nữa là!

Điều mà Mười vấp sai lầm trong lúc mần ăn là sự cả tin, không dè tới giá trị của câu “hữu xạ tự nhiên hương”, do thế ong ve tha hồ vần vũ bu vào đòi chấm mút. Không dưng mà rẻo đất Mười sống thay phiên đẻ ra lắm ngài Thổ địa, mặt mày ông nào ông nấy thảy chằm dằm như kiểu suốt đời bị vợ rầy rà. Tuy xót ruột chút đỉnh nhưng Mười sẵn lòng sắm đủ 10 cái phong bì để đút lót bôi trơn cho êm cuộc lữ, nghiệt một nỗi là Thổ địa số 11 vẫn nhắm mắt làm ngơ. Ai bảo giấy bạc thơm tho? Ta đây không thích rớ tay vào cái tanh tưởi của đồng tiền. Vậy bác muốn Mười này dâng lễ vật gì ạ? Lòng ta những muốn liếm láp thử ăn tươi nuốt sống thân xác của em. Bình thường ta vẫn vui vầy với các cháu độ tuổi 13, 14; nhưng 40 mà vẫn còn trinh như em thì thật là một kho báu thu giữ nhiều quyến rũ hấp lực. Ta không tiên hạ thủ vi cường nhằm đóng mộc lên con tem lạ thì uổng phí một đời theo cách mạng lắm thay!

Đờn bà con gái mỗi khi chẳng may bị lọt vào tay của hung thần thì chỉ biết thở dài đánh sượt: Tui như con cá quằn quại trên thớt, muốn chém muốn giết tuỳ ý, muốn làm tình làm tội thì làm hối đi cho tui nhờ. Riêng Mười là ngoại lệ, chữ trinh đáng giá hơn cả ngàn vàng, bởi Mười từng khấn nguyện cùng thần linh, con sẽ giải nghệ hoặc lãnh chịu nhiều đớn đau nếu để cho thằng đàn ông quỉ tha ma bắt nào đó xâm phạm bờ cõi, cưỡng hiếp nhầy nhụa đi vào người con.

Mười sửa giọng với quan mang ám số 11: Lạ ghê nơi, năm trăm đô mà bác cũng chê ỏng chê ẹo. Vậy thì để con thưa như này, phàm làm việc gì mà đột xuất quá e sẽ mang lại cái không ra đầu ra đũa chẳng tới bến. Muốn đạt hiệu quả phải nương nhờ vào lắm phụ kiện… Ý của em muốn nhắc khéo ta? Khỏi lo xa, khi rắp tâm tới chốn vui vầy loan phụng ta đã thủ sẵn trong túi gói nhân sâm bổ thận hoàn, chỉ cần nửa canh giờ hẵng sẽ phổng phao rồng vén mây phun nước đề huề gia ơn. Mười cười: Í, ngộ hén, để con đi thắp cây nhang thế giờ giấc hành sự đồng thời tranh thủ lui nhà sau dội qua miếng nước mần vệ sinh cho mát mái chèo phục vụ dê chúa. Lời em nói thiệt hợp bụng ta, sẵn bưng ra cho ta chén trà để nuốt trôi phương thuốc gia truyền nhất dạ lục giao sanh ngũ tử.

Mười vén tấm màn nhựa vẽ cảnh chùa Một Cột ngăn chia hai địa phận, lui nhà sau cởi quần bức đúng 9 cọng lông đốt cháy cùng 2 trái bồ kết đã giòn khô, xong đem nghiền vụn trong tô, nhỏ vào đó 10 giọt mật ong, 1 thìa bột tofu rồi khuấy tan cùng 8 muỗng canh rượu đế ngâm nguyên con rắn hổ mang quán nhậu nào cũng có bán hàng đặc sản. Đi kiểu mình xà bưng ra mà xiêm y cố tình lơi lỏng việc đậy đằng chưa tiện lộ hàng. Mời ngài nhấp chén ly bôi. Ngài đón nhận: Thức gì đây cưng? Cái này sẽ giao duyên cùng thuốc ngài uống, huyệt đan điền sẽ nóng giúp ngài vận đủ mười hai thành công lực. Đã không chơi thì thôi, chơi phải không sợ mưa rơi. Đối tượng chả cần lả lơi, thuốc hiếm giúp người giỏi bơi, nhìn đời hết chơi vơi, chiếu giường tơi bời nóng lòng xơi.

Ông quan thanh liêm chả thích ăn hối lộ quyết không mờ mắt trước mãnh lực đồng tiền chiêu cạn chén thuốc đắng. Em nói đúng, thần diệu thay ta đang nghe rạo rực chuyển biến trong người, tim co thắt quá xá quà xa. Em giỏi việc liên hệ thắm thiết với người cõi âm vậy chớ em biết học thuật phân thân không? Sao dáng em thoạt gần thoạt xa sương khói rất mực. Em đứng đó mà ta đếm ra hai ba bốn, toàn cả ảo ảnh ma mị quay mòng. Đến gần cho ta ôm cái nào, để biết chắc là đang sở hữu lấy em…

Bác í lảm nhảm, khói thôi vương trên đầu cây nhang tàn rụi thì miệng bác sùi bọt mép, hộc ra một búng máu bầm đen. Trước khi đớn đau dẫy dụa trên nền đất chuẩn bị đi gặp Các-mác Lê-nin, lùng bùng con ráy hứng lời cô Mười nghe tợ gió thoảng: Hừ, rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt!

Huyện đường xôn xao vì sự vắng mặt dài ngày khuất tất mờ ám không chịu báo cáo cơ quan của người từng hét ra lửa. Nếu chục năm sau đẻ ra một nhà ngoại cảm mới, e vị tài ba nọ sẽ xẳng xái tới gõ cửa địa bàn ngày trước có cô Mười từng thuê ngụ, chỉ tay vào vuông đất nhà bếp phán: Ảnh lạnh lùng dơ xương nằm ở dưới. Không tin hả, nói sai thì chặt đầu con này đi. Đồ một bọn người trần mắt thịt luôn cà chớn, giỏi cà lăm, ưa cà khịa, thích ăn mắm cà, chẳng ngán cà chua có bôi hoá chất, chỉ giỏi cà gật cà tàng.

Mười năm trồng cây trăm năm trồng người thì hơi bị lâu. Dù gì công an xứ này nổi tiếng thế giới về việc phá án, chỉ cần mất có bốn hôm tổ trọng án đã vói tay tới sờ gáy cô Mười. Thêm hai bữa kiên trì đấu tranh trong phòng biệt giam, thần linh đã trả Mười về lại đời thường, chữ đương đại kêu bằng thành tâm hối cải khai nhận, bắt đúng người đúng tội. Giết người cấp độ một, Mười sẽ nhập kho ngồi giở lịch 10 niên, nhưng toà bảo kẻ bị hại vốn là con cưng của chế độ ưu việt nên ta phải chồng cho sát thủ thêm một chục nữa, vị chi là đủ số hai mươi. Dị là khoan hồng lắm rùi, chớ bùn nha, hổng có la chít mịa, nhớ?

Mười lẳng lặng leo vào xe bít bùng để cho họ tha tới một trại tù khuất nẻo cô quạnh hằng hà nào đó. Cánh cửa tăm tối đầu tiên đóng lại kêu cái rầm. Xe gầm rú lắc lư quẹo trái xiêu người quẹo phải ngã chúi lệch thân. Mười rưng rức hát thầm: Khi anh hai mươi em mới sinh ra đời, ngày anh bốn mươi em cũng vừa đù má…

***

Trần Trang Trọng thoát cũi sổ lồng vào buổi trưa. Thằng này đi tù chắc vì mang tội lường gạt hay sao á mà khi hắn kể “chuyện đời cô Mười” nghe trơn tru ngọt như mía lùi, miệng lưỡi hắn có quen thói bịa đặt, có thêm mắm dặm muối không ta? Lôi cuốn lắm nha! Quán cà phê bụi giấc trưa thường vắng, vì vậy cả cô chủ lẫn em phục vụ đang quỡn cứ ngồi bó gối há miệng ra mà nghe, say sưa hơn cả ai kia tám chuyện “Con ma vú dài” hoặc “Con ma nhà họ Hứa” hoặc “Đồi thông hai mộ trinh nữ”. Uống cà phê đi anh, cho thông cần cổ, tụi này hổng lấy tiền đâu. Hút thuốc đi anh, xem như của chùa, bà con mình từng đổi lời: trầu cau mần chi, để cà phê thuốc lá làm đầu câu chuyện. Mà chiện anh kể coi bộ tới hồi mặt trời đi ngủ mới chịu hạ màn lun.

Cạn giọt cà phê cuối thì còn cục đá vụn, Trang Trọng nhai nó rau ráu rồi mồi lửa điếu thuốc thứ hai, phun khói mờ mịt che lấp biển nội quy “muốn rít tóp má tự sướng yêu cầu ra đứng ngoài hiên cho bà con thôi nhiễm độc”. Ông nội này mà kể chuyện đời xưa cho bọn nhóc tì lên giường nằm đắp chăn thì e rằng chúng thức suốt năm canh, hồi hộp quá mà, mắt trao tráo, ngủ nghê cho thét cho muồi mần chi được với tuồng tích kia. Ngay cả “Công chúa ngủ trong rừng” cũng lồm cồm bò dậy dỏng tai lên bị hoàng tử còn lâu mới phi ngựa chạy vô đánh thức cho xong duyên nợ.

Giọng Trang Trọng vẫn rề rà: Tội phạm nam cách khu nhốt tù nữ một khoảng đất dùng làm nơi trồng trọt hoa màu sắn khoai rau rác tự biên tự diễn tự thu hoạch. Để phân lô, định vị giữa đôi đàng nam nữ thọ thọ bất tương thân, ban quản ngục “chơi” một cái hàng rào bằng dây kẽm gai kiên cố kiểu mắt cáo, nhỏ cỡ con thỏ chui qua hổng lọt. Chim sẻ thì ô kê chớ bồ câu lạng quạng phá rào đôi cánh cũng bị dính chấu vùng vẫy rụng lông mãi không thôi. Yên vị vô chốn tù đày rồi mà tiếng tăm cô Mười vẫn còn dây dưa, lắm ẻm vây quanh nguyện làm đệ tử một dạ răm rắp nghe lời cổ sai bảo. Trong tù ngay cả tù nữ thì tự hồi nào tới giờ luật bất thành văn vẫn hiện hình một đàn chị rất mực quyền uy máu lửa, rất có số má. Chị Tám Ngầu nọ vô tình mà thấy mình bị làm nhục, gai con mắt khi ngó ra cảnh chộn rộn do Mười gây ra liền ngày một ngày hai chui vào khu Mười “định cư” hạch chuyện. Vắn tắc thì Mười đã lọt vô mắt đểu của chị Tám Ngầu, biết Mười còn trinh đàn chị sinh lòng tương tư tối lửa tắt đèn bèn dùng vũ lực lột truồng bộ đồ sọc đen trắng đặc thù ra đặng hiếp dâm Mười không khoan nhượng. Mười chẳng kháng cự vì bí kíp võ công Mười có trước đây chỉ cảnh báo răn đe là chớ để đàn ông phủ người gây ô uế xác thân, đàn bà cùng chủng loại thì có sao đâu mà sợ mất linh. Tám Ngầu bú mồm Mười, Mười đê mê. Tám Ngầu bóp dú Mười, Mười rên khe khẽ. Tám Ngầu thọc tay mân mê hạ thể Mười, Mười co rúm lại sảng khoái nghe thần hồn phiêu du miền cực lạc. Tuy khung cảnh chẳng thể tạo dựng được phòng the nhưng đàn chị Tám Ngầu dõng dạc tuyên bố: Ta là chồng mà em Mười đích thị là vợ của ta vậy. Ta đợi em từ mười hai năm nay, số kiếp đã vầy nên một cặp đôi hoàn hảo dù số đo ba vòng của em coi bộ nhỉnh hơn ta đôi phần, điện nước ta chẳng đầy đủ bằng em. Từ rày trở về sau, con quỉ cái nào đụng tới em thì hẵng phải bước qua xác con Tám này. Giang hồ trao cho ta chữ ngầu đi theo làm biệt danh thì ta sẽ ngầu cho tới chết, nói thế nghe êm không cưng. Mười nhoẻn miệng cười. Ủa, ai có ngờ đâu đời con Mười này mà có khi cũng nên duyên vợ chồng như thiên hạ, hi hi hi…

Em phục vụ thôi há miệng ra, say sưa ngó Trần Trang Trọng: Vợ chồng kiểu đó coi bộ suốt kiếp hổng có mụn con nào cả, anh hí? Tiện lợi quá, đâu ai quỡn uống thuốc ngừa thai mí lị đi cột buồng trứng. Vậy chớ sinh hoạt bên kia hàng rào kẽm gai ngăn cách đã có khi nào anh trông ra dung mạo cô Mười, vợ của chị Tám?

Trọng dụi điếu thuốc: Như cơm bữa, nào riêng tui cả đám bạn tù nam từ già đến trẻ đều tìm cách lân la tới sát biên giới để rửa mắt cận cảnh.

Chim sa cá lặn không anh? Có trông sao sao mờ?

Ui. Dân mình thì ai cũng buồn nhiều hơn vui nên chi đẹp xấu cũng tuỳ người đối diện.

Trang Trọng vừa nói vừa cởi ba hột nút nơi chiếc sơ-mi in hình chim cò, hắn muốn vạch áo cho hai cô ấy xem thể hình. Ngực hắn có xăm trổ khuôn mặt một thiếu phụ tóc ngắn, mắt bồ câu mũi dọc dừa môi trái tim. Khi hắn gồng tay, cơ bắp chuyển động làm khuôn mặt kia như biết mở miệng cười bên số 10 co giãn.

Í, ngộ hén. Phải bóng cô Mười đó không? Ngó linh động phát khiếp!

Còn ai trồng khoai đất này! Mất cả tháng trời chưa tính quà cáp biếu xén cho thằng nghệ sĩ nhí ngoài đời chuyên xách động chuyện đi biểu tình nọ, hắn mới động lòng gia công vén tay tạo thành tác phẩm độc cô cầu bại này. Bọn tù chúng tui tin rằng xăm ảnh cô Mười trước trái tim mình e cuộc đời sẽ thấy ánh sáng cuối đường hầm, một ngày kia.

Thế bên ngực phải thì sao? Có ghi hàng chữ gì thế?

Ơ, tầm thường thôi. “Xa quê hương nhớ Mẹ hiền”.

Anh còn má không? Bả ở đâu? Làm gì mà phải xa quê hương?

Nếu không có gì đổi thay thì má tui về quê ngoại ở Vĩnh Long để nương thân cửa Phật. Bả cũng từng ngồi tám tháng trong trại phục hồi nhân phẩm mà nhà nước định tội: Tú bà. Chữ này nghe lạ không? Là má mì đó, là chủ chứa đó, dưới trướng má luôn có chừng tiểu đội ma nữ phục vụ tàu nhanh tàu chậm hòng làm vui vẻ cuộc đời.

Qua xong màn phỏng vấn của em phục vụ, tới phiên bà chủ quán cà phê Cô Chủ Mồ Côi:

Tui hỏi anh Trang Trọng câu này nhen, anh mang tội gì mà phải trần thân chui vô trỏng?

Chà, chuyện này dài hơn cả trường thiên tiểu thuyết lắm khúc mắc nhiều chương hồi khó gỡ rối lắm nha.

Sỡ dĩ tui hỏi việc tế nhị nhạy cảm ấy là vì muốn biết trong người anh có tồn đọng đôi phần máu lạnh? Anh từng xuống tay cho người ta vết sẹo mần kỷ niệm nhớ đời chưa? Thấy quan tài mắt anh khô hay đổ lệ?

Hề hề, chị hỏi y như công an hỏi í. Khó giả nhời ghê nơi!

Thưa thiệt là thế này nhớ, chuyện mần ăn ở đây chúng em rất chi là cơ khổ. Bị sách nhiễu trấn lột đủ điều. Mấy chú xe ôm thương tình đưa ra cao kiến, là cô chủ mồ côi nên tìm ra người bảo vệ, người chuyên đi đòi nợ giùm, chốt lại là tuyển người từng dãi nắng dầm mưa quen gió bụi bùn lầy trong giang hồ, vô ngại việc ăn cơm tù mòn tay đếm lịch, có vậy mới an tâm chống đỡ luật trường tồn trong thế giới đảo điên.

Ba mươi giây. Chiện nhỏ. Thằng Trang Trọng này rất ghét những đứa chuyên ăn hiếp kẻ thế cô, thấy người ta đàn bà con gái tay không tấc sắt rồi tìm cách gieo máu lửa. Nhưng hãy hoãn đãi năm bữa nửa tháng, có đặng không? Cho kẻ hèn này xuôi quê tìm ra má mà xuống sáu câu han hỏi. Sinh ra má là bà ngoại mà đẻ ra thằng mang tên chảnh Trang Trọng này chính là má vậy! Cho tui hát một lời: Má ơi, con dìa đây má ơi… Má đã hoàn lương mà thằng con má vẫn sân si bước tiếp. Bảnh như con cá cảnh.

Em chuyên việc rót nước dâng cà phê cho bá tánh thiếu đường chảy nước mắt, trong khi bà sếp thương hiệu “Cô Chủ Mồ Côi” lận lưng quần dây thun ra cọc tiền tơi tả cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam. Cô đếm tới số 500.000 thì trao vào tay Trang Trọng:

Cầm tạm chút bổi này mà đi đường ăn dè ăn xẻn. Cô Mười trên ngực anh có linh thiêng thì giúp anh sớm gặp được má, gặp xong thì nhớ quành trở lui cho bọn mồ côi đủ thứ này được yên tâm mần ăn.

Trần Trang Trọng đứng lên, tay run khi nhận tiền, đôi mắt hắn chừng như sắp ứa lệ. Không hẹn mà cả ba cùng nhóp nhép: Tạm biệt…

Hồ Đình Nghiêm

Lời xin lỗi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 07/08/2018

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

 Tôi xin lỗi cháu, nhân vật chính của bức hình trên. Ảnh đã cũ, hình như đôi ba năm về trước. Tôi lấy xuống từ một trang mạng mà hồ đồ quên chú thích ngày tháng cùng tình huống “lỡ xẩy ra” khiến cháu phải chịu đứng trước vành móng ngựa. Tôi xin lỗi vì không ghi lại tên cháu, để nhớ. Và tôi thành thật xin lỗi không biết cách để xin phép sự thuận lòng của cháu trước khi tự tiện dùng lại tấm ảnh này.

Nguyên cớ khiến tôi táy máy muốn lưu giữ bức ảnh cháu lại có thể vì cháu có nét hao hao giống người bạn gái của đứa con trai út nhà tôi. Nước da, đầu tóc hoặc một “dấu vết dị hình” nào tiềm ẩn làm tôi mãi ngờ ngợ. Phải chăng vì thế, một cách rất ư võ đoán (tôi chẳng biết coi tướng số) tôi không tin cháu có “nhân thân xấu”.

Cháu đã làm hại ai để khiến phải bị điệu ra toà? Toà án bên xứ ấy đã tuyên xử cháu chịu bao năm bó thân trong chốn lao lung, mất toi ngày xanh tuổi trẻ đầy nhựa sống. Hậu cảnh trong tấm ảnh bày rõ người hiếu kỳ coi bộ đến đông, ngồi chen chúc bên dưới. Và hình như đó là phiên xử lưu động, dựng lều bạt nằm ngoài trời mát mẻ chứ không diễn ra trong bức bối của huyện đường kín cổng cao tường? Một vụ lường gạt “tình tiền tù tội”? Một trường hợp đánh ghen, lột bỏ hết áo xống nội y tình địch giữa phố lắm người qua lại cho bỏ ghét? Xin cháu bỏ qua nếu tôi nói điều không phải. Nhưng tôi có thể xác tín một chuyện: Cháu không phải “thuộc diện” âm mưu lật đổ chế độ, kêu gào về vấn đề dân chủ hoặc dụng tâm chống đối “bọn giặc bành trướng”. Bởi với tội “tầy trời” như thế, hẳn quanh cháu đã có lắm nhân viên an ninh hoặc lố nhố mấy chú công an mặt lộ vẻ khẩn trương và sau rốt, người dân nào được phép vào ngồi đông chật hội trường thế kia. Tôi chẳng lạ cách hành xử của họ, chó sủa vu vơ nơi này mà mèo dấu cứt nơi kia. Chuyện không có gì phải ầm ĩ ? Lời cổ nhân từng than: Đừng làm náo động thiên cung bởi trời xanh luôn không có mắt!

Cháu là thợ may lao động ở một xí nghiệp xuất khẩu hàng may mặc toạ lạc ở Bình Dương mà chủ là người Trung quốc hay Hàn quốc gì đó? Hay cháu là học sinh trung học phổ thông lỡ bán dâm, đổi tình lấy điểm với các thầy quyền cao chức trọng hòng được vào đại học cho bố mẹ mát ruột? Tôi lại phải xin lỗi cháu, ở xứ đương đại nước mình mỗi ngày xẩy ra cả ngàn lẻ một tội danh khó lần ra động lực gây án. Cỡ tuổi cháu chắc chưa từng làm việc ở nhà giữ trẻ, và trông mặt mũi cháu ắt không đến nỗi “lạnh lùng” bắt bọn nhỏ uống nước ngâm giẻ trong xô dùng để lau bảng đen phấn trắng? Cháu có giỏi về lãnh vực công nghệ điện toán, lắp ráp cài đặt camera ở nhà nghỉ để quây lén cảnh mây mưa rồi đăng clip đồi truỵ ấy lên mà theo điều 326 bộ luật Hình sự họ có thể giam nhốt cháu tới 15 năm tù với tội danh tuyên truyền và phát tán văn hoá phẩm nhớp nhúa hòng bôi bẩn chế độ. Và ngày này năm xưa đâu đã xẩy ra “sự cố” 16 đĩa CD chứa dữ liệu bài thi gốc bị thiêu huỷ tại nghĩa trang ở Sơn La, nhỉ?

Nhưng nói gần nói xa không bằng nói thật, dứt khoát là cháu từng gieo gió để phải gặt bão, đúng không? Và tiên quyết là cháu không biết cách bôi trơn, chẳng linh động học thuộc để thực hành thứ văn hoá phong bì; là lá bùa rất đỗi hiệu nghiệm thế cho động thái “đi với Phật mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trông mặt cháu lộ vẻ nửa hồn nhiên vô ngại, nửa hoang mang cùng cực. Nửa tin việc mình làm là đúng, nửa hồ nghi tới nền pháp luật vẫn chưa hiểu chữ dân chủ là gì.

Đã lỡ xấu tay “đánh cắp” ảnh cháu từ trang mạng xuống nên tôi cũng được thể để cọp dê luôn mẩu chuyện này, chép lại đây vì trong đầu tôi cứ lợn cợn một ý nghĩ, rằng dung mạo cháu nào khác gì một giáo viên? Chuyện mang tên Tỷ Lệ Nghịch:

Cô giáo bảo học trò: Em hãy lấy một ví dụ về tỷ lệ nghịch.

Trò trả lời: Thưa cô, chống tham nhũng chừng nào thì tham nhũng nhiều chừng đó.

Cô nói: Ví dụ này không tính, em nên đưa ra một ví dụ khác.

Trò: Thưa cô, nhà cán bộ càng giàu thì nhà dân càng nghèo.

Cô: Ví dụ này cũng không được, em lấy ví dụ khác đi.

Trò: Thưa cô, mặt đường càng mỏng thì mặt cán bộ càng dày.

Cô xua tay: Em về chỗ đi, em càng nói càng dài thì sự nghiệp của cô càng lúc càng ngắn.

Chuyện đáng suy ngẫm, đúng không cháu? Mọi việc diễn ra ngoài xã hội, xác thực đến độ đi vào trí óc hồn nhiên của mấy em học sinh, tầng lớp mà bộ giáo dục vẫn xem là rường cột nước nhà.

Ở trên, tôi có thưa rằng khuôn mặt cháu phảng phất có nét giống người thiếu nữ làm “bồ bịch” với thằng con tôi. Cháu ơi, chúng nó vừa chia tay nhau, tôi chỉ biết ngần ấy thôi, vì ở ngoài này bố mẹ không có quyền xía mõm vào đời tư chúng nó, đó là bài công dân giáo dục lớp vỡ lòng, tôn trọng tuyệt đối về căn bản tự do dân chủ mỗi cá nhân. Người vỡ mộng không ai khác là vợ tôi, mẹ nó có nhỏ to han hỏi xa gần và thằng út cưng của bả nói ngắn gọn: Không hợp tính tình, khắc khẩu, xổ tiếng Anh thì fuck, dùng tiếng Pháp thì merde mà nói tiếng nước nhà thì, nói cháu tha lỗi, cứ địt mẹ nhau liên hồi kỳ trận. Mẹ nó cứ y như tranh việc “đạo diễn” thước phim tình lãng mạn, từng viết kịch bản: Đợi con bé ra trường đại học đâu ra đó thì dựng vợ gả chồng cho nó, lương kỹ sư thằng út nhà mình dư sức làm ấm đời vợ nó và sẽ không lâu ông sẽ có đứa cháu nội mặt sáng lạng giống tui mà bế mà bồng. Hai tài tử kháu ó chê bai vở tuồng kia, chẳng muốn làm diễn viên nhưng bà đạo diễn vẫn trì chí: Không ấy con đi với mẹ về Việt Nam một chuyến, lúc đó tha hồ chảnh để kén cá chọn canh. Thằng con sửng cồ: Tại sao mẹ cứ một hai vợ con phải là người mình? Chơi với Tây nó khoẻ trí hơn vạn lần, và nói mẹ đừng giận suốt đời con không về chốn ấy đâu, chướng tai gai mắt lắm!

Vậy đó, nhỡ cháu có cơ hội hoặc cơ duyên đọc phải bài này, xin cháu thông cảm cho cách suy nghĩ “trẻ người non dạ” của thằng con tôi. Nó sinh đẻ bên này, theo học trường ốc bên này, giao tiếp với xã hội bên này nên nó rất ư trực tánh. Mang miệng mồm ấy về bển e sẽ có lúc bị điệu ra đứng trước vành móng ngựa. Và ma đưa lối quỷ dẫn đường, có khi nó chạm mặt cháu chăng? Lạ kỳ là khi thôi còn bồ tèo, chấm dứt tình hảo hữu với nhau, bao nhiêu ảnh chụp của con bé ấy nó mang đi thiêu huỷ cả (không phải ở nghĩa trang tận Sơn La) trong khi ảnh hình cháu lại trốn êm đẹp ở đĩa cứng máy điện toán của tôi, còn thu cất hoài huỷ.

Tôi không rõ giờ này cháu đã ra tù? Đã về sinh hoạt với nhân gian và cố thích nghi những đau đớn lòng mãi còn tiếp diễn quanh chốn dung thân? Hôm qua vợ chồng chúng tôi có đi vào chợ, tình cờ thấy con bé ngày xưa ấy đẩy xe đi lơ ngơ mặt buồn tựa cháu. Vợ tôi có đến bên vỗ vai cầm lấy tay mà tám chuyện, tôi nghe được mấy chữ là vợ tôi thay mặt cậu út xin được niệm tình thứ tha nếu nó lỡ gây ra lầm lỗi. Hôm nào thuận tiện, có nghĩa là đợi ngày thằng út bận rộn việc làm, tụi mình kéo nhau đi tìm cái quán ngồi chung mâm hàn huyên cho qua ngày đoạn tháng. Nhà toàn đàn ông con trai, thực bụng bác rất mến có người như con để làm đồng minh, đàn bà con gái chung lưng có biết bao điều để tâm sự ỉ ôi. Bác sợ cô đơn, phận liễu yếu đào tơ, con hiểu cho chăng!

Kể chuyện “đời tư thầm kín” này ra chỉ nên xem là một nhập đề liên khởi: Cháu có vui lòng đón nhận lời chúc lành của tôi (lạ nước lạ cái) không? Mong cháu ở phương đó, cho dù nhân thân có xấu tới mức nào đi chăng nữa cũng sớm được tai qua nạn khỏi. Bởi cứ thấy chế độ đó bắt người (nhất là con gái chân yếu tay mềm như cháu) lòng tôi đâm buồn bực không nguôi. Xin thanh minh lần cuối là giữa song phương, chúng ta chả có quan hệ nào cả; kẻo lịch đi tù của cháu bị kéo dài vô thời hạn khi cán bộ ngâm cứu rồi hô hoán lên là cháu có nhận tiền với thế lực thù nghịch ở bên ngoài, xúi bẫy làm chuyện rồ dại hòng bôi nhọ vào đất nước “đáng sống nhất hành tinh”. Than ôi, muôn đời chân vẫn mềm mà đá vẫn cứng! Cháu nên mềm lòng mà nhận lời xin lỗi yếu xìu của đứa ở nơi bơ thừa sữa cặn này nhé. Một lần rồi thôi. Mong cháu nguôi ngoai.

Hồ Đình Nghiêm

Nhà tù hình chữ S

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 3

Phần 7
Nông trường bông vải Sông Lũy

Tôi ngủ một giấc ngon lành cho đến 9 giờ sáng. Tối hôm qua, nhờ ăn tô cơm trên đầy hơn dưới nên đến giờ này tôi vẫn chưa thấy đói. Mãi cho đến gần 10 giờ, gã bộ đội mới đến, ông ta đặt cái điếu cày lên bàn rồi đưa cho tôi hai cái bao cát còn khá tốt. Với tù nhân, bao cát là một tài sản quý hiếm, gã bộ đội cho tôi một lần hai cái bao cát, quả là một chuyện lạ. Bấy lâu nay tôi mong có một cái bao như vậy để cho Sơn Fulro may quần đùi bận đi lao động, nếu chốc nữa Sơn Fulro nhận được hai cái bao này chắc nó mừng lắm. Một cái quần may bằng vải bao cát, có tệ lắm cũng dùng được một năm mới rách. Qua hành động này, tôi vội vàng xét đoán, nhìn gương mặt của gã bộ đội tuy có vẻ dữ dằn thật nhưng biết đâu hắn là một người đầy lòng nhân hậu. Chưa kịp mừng, tôi đã nghe gã bộ đội nói.

-Cái xách tay của anh, tôi phải giữ lại để làm vật chứng trình lên trên, anh tạm dùng mấy cái bao cát này để đựng vật dụng cá nhân.

Tôi chợt hiểu thâm ý của gã bộ đội, vui vẻ nhận lấy cái bao với lý do thật giản dị “Của đi thay người”, tiền bạc và những vật dụng quý giá tôi còn không tiếc, thì sá gì cái xách tay rẻ tiền này.

Gã bộ đội nhìn tôi rồi nói, giọng nói nghe thật êm tai.

-Anh xếp mùng mền cho vào bao, tôi sẽ điều người đưa anh về lại trại.

Dứt lời gã đi ra cửa, vừa đi vừa nói to.

-Cái anh gì đó, nhớ phấn đấu học tập tốt, lao động tốt, nghe chưa?

Tôi về đến trại đúng vào giờ ăn trưa, nếu về trễ chút nữa chắc tôi phải nhịn đói. Tôi nhìn lại chỗ nằm của mình mà lòng buồn rười rượi, cái bao ny lông đựng chút thực phẩm khô của tôi không còn nữa. Hôm qua tôi cứ nghĩ là gã bộ đội chỉ khám xét cái xách tay của tôi thôi, không ngờ có chút thực phẩm vụn vặt như đường với đậu mà tôi dè sẻn dành dụm chỉ còn khoảng năm bảy kí lô cũng bị tước đoạt luôn. Nhìn lại, gia tài vốn liếng của tôi bây giờ chỉ còn có một cái mùng, một cái mền, mà lòng phân vân tự hỏi, không biết mình đã đi xuống ở tầng thứ mấy của địa ngục.

Trung úy Lợi đến bên tôi hỏi nhỏ.

-Mày làm gì mà đứng ngẩn ngơ như ốc mượn hồn vậy? Hôm qua nghe mày bị dẫn lên Ban chỉ huy trại, mấy đứa tao lo gần chết, không biết có chuyện gì không.

Tôi cười.

-Có chớ, mày còn nhớ Long công tử không?

-Tại sao không, nó trốn trại nên mày bị liên lụy chứ gì?

Tôi mừng quá sức hỏi dồn.

-Nó trốn trại bằng cách nào? Có thoát không?

Trung úy Lợi ngập ngừng.

-Tao chỉ nghe tin đồn từ khối Bình Thuận là lợi dụng lúc đi lao động ở bên ngoài, Long công tử trốn mất, đến chiều khi điểm danh vào trại mới biết thiếu hắn. Hơn hai ngày mà không bắt lại được, chắc giờ này Long công tử đã ở Sài Gòn rồi.

Tôi hỏi Lợi.

-Sao mày biết hắn ở Sài Gòn?

-Tao đoán như vậy vì tất cả sĩ quan bên khối Bình Thuận đều là dân Phan Thiết, chỉ có một mình Long công tử là người Sài Gòn nên hắn có biệt danh là Long Sài Gòn. Nó không về Sài Gòn thì đi đâu? Mà nè sao mặt của mày bầm tím vậy?

Tôi vạch áo chỉ thêm vào những vết bầm trên người rồi nói với Lợi.

-Mẹ nó… hôm qua mấy thằng Việt cộng dợt tao một trận nên thân, thừa sống thiếu chết, nhưng mà số tao còn hên, tiền hung hậu kiết nên mọi chuyện đều tốt đẹp, chỉ có ê ẩm, bầm giập trong người chút đỉnh.

Trung úy Lợi nói với tôi.

-Từ ngày vào trại tới hôm nay, tao chưa bao giờ thấy Việt cộng đánh tù, tại sao tụi nó đánh mày?

Tôi trả lời Lợi.

-Trước mặt mọi người thì như vậy, nhưng khi vô phòng hỏi cung, chỉ có tù và cai tù, tụi nó đánh tù không đẹp không ăn tiền. Nếu có dịp được gọi đi làm việc, mày sẽ được thưởng thức mấy món ăn chơi này.

Sau trận đòn ở Bộ chỉ huy trại, thời vàng son của tôi thật sự chấm dứt. Tôi trở thành con người khác, con người chuyên chính vô sản, không một xu dính túi, không một cục đường để khi đói ăn cho đỡ thèm. Tôi và Lợi đói mờ mắt, ngày ngày hai thằng lê tấm thân ốm đói đi lao động.

Được chừng hơn một tuần lễ, đâu khoảng gần giữa tháng 6, sau bữa cơm chiều, tất cả tù nhân trại B trung úy, được lệnh tập họp tại hội trường để nghe biên chế. Hình như Việt cộng dùng từ ngữ này với ý nghĩa là, sắp xếp lại thành phần nhân sự hay là chuyển trại, tôi không hiểu rõ. Một danh sách tù nhân cải tạo dài lê thê, được một anh quản giáo đứng trên bục gỗ đọc thật to và rõ ràng.

-Ba trăm người có tên sau đây, ngày mai sẽ không đi lao động, ở tại trại để nghe lệnh mới.

Gần bảy trăm ông trung úy ngụy ngồi dưới đất, im phăng phắc lắng nghe. Danh sách đã đọc được vài chục người, trong đó chỉ toàn là khối trưởng, tổ trưởng, những người có thân nhân làm Cách mạng. Mọi người đều ngầm hiểu rằng, số phận của mình, đi hay ở, thả hay nhốt đều nằm trong lần thay đổi này. Căn cứ theo đó, ba trăm người có tên trong danh sách này, tương lai sẽ sáng sủa hơn những người khác. Tôi nghe đọc tên mà nhớ lại chuyện đọc kết quả của những kỳ thi Tú tài I và II ngày xưa. Hồi đó tên của những thí sinh trúng tuyển, sẽ được đọc trên đài phát thanh Đà Lạt. Chuyện hồi hộp là số báo danh của mình, được đọc trước tên theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn. Ví dụ như: Số Báo danh 273, Trần văn A Thứ. Số Báo danh 274, Nguyễn văn B Bình thứ. Và tiếp theo đó nếu xướng ngôn viên đọc Số Báo danh 278, Đinh văn C Bình thứ, thì có nghĩa là ba thí sinh mang số báo danh 275, 276, 277 rớt. Hôm nay, tôi ngồi cả nửa giờ để nghe danh sách biên chế, phải hết sức chú tâm, không được xao lảng bởi vì tên của mình có thể được đọc bất cứ lúc nào, không theo một quy luật gì hết. Cho đến khi anh quản giáo đọc xong bảng danh sách biên chế, tên tôi vẫn còn ở tận đâu dưới địa ngục. Buổi tối tôi đi ngủ mang theo trong lòng một nỗi buồn nhè nhẹ và tin rằng mấy trăm người không có tên chuyển trại cũng sẽ mang tâm trạng giống tôi. Ngày mai bảy trăm trung úy sẽ còn lại khoảng bốn trăm ở trong trại này. Tôi nằm trằn trọc, trăn trở với cảnh kẻ ở người đi cho đến khuya mới chợp mắt được.

Hình minh họa

Tôi thức dậy, khi nghe tiếng kẻng báo thức vang lên gần căn nhà của khối trưởng. Lúc chúng tôi đang sẵn sàng chuẩn bị tập thể dục tập thể mười lăm phút, thì nghe anh khối phó yêu cầu mọi người im lặng để nghe bản bổ xung biên chế. Giọng của khối phó vang vang trong bầu không khí tĩnh lặng của buổi sáng.

-Mười bảy anh có tên sau đây, lát nữa sẽ không đi lao động, nhập chung với ba trăm người có tên trong danh sách ngày hôm qua, chuẩn bị chuyển trại. Số một Trần văn Danh, số hai Nguyễn trọng Quân…

Đang lơ mơ, bất chợt nghe tên mình được đọc trong danh sách chuyển trại bổ túc, tôi lặng người đi vì sung sướng, chuyện mà tôi hoàn toàn không ngờ đã xảy ra, giống như một phép lạ. Tai của tôi ù đi không còn nghe tên của mười lăm người còn lại. Cùng lúc ấy một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, khiến tôi suy nghĩ thật nhiều về danh sách bổ túc này. Tôi tự hỏi, có phải trong bản tự khai sau cùng của tôi nộp cho gã bộ đội ở Ban chỉ huy trại, thân nhân Cách mạng của tôi là ông Năm bánh xèo, có cái tên là Trần Chiến Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt, đã được mấy ông trên Ban chỉ huy điều chỉnh xong, cho nên tôi được chuyển trại trong danh sách bổ túc. Nếu đúng như vậy, cái tội khai gian của tôi không chóng thì chày cũng sẽ lộ, khi mà Việt cộng cho người lên Đà Lạt xác minh ông cậu Việt cộng Trần Chiến của tôi. Trời Sông Mao buổi sáng mát lạnh, vậy mà mồ hôi trên trán của tôi đã tuôn ra mỗi lúc một nhiều. Tôi than thầm, tiền của Việt cộng vốn đã không có giá trị, không hiểu tại sao tôi lại ngu xuẩn đến độ tin dùng, mà lại dùng tiền giả mới khốn nạn cho đời mình.

Khi mọi người đã đi lao động, ba trăm mười bảy người được chuyển trại, lúc bấy giờ mới khăn gói lên đường. Tôi nhìn vài người bạn tù đang tay xách, nách mang giống như cảnh mấy chú Ba mua ve chai của vài chục năm về trước, với gánh ve chai chất đầy vật dụng phế thải, rảo bước khắp phố phường tìm mua phế liệu. Hôm nay bọn tù cải tạo chúng tôi, khi chuyển đến chỗ ở mới cũng gồng gánh như mấy chú Ba nhưng lại mang theo những vật dụng còn tệ hơn đồ phế thải, dăm ba miếng vải rách, cái bao cát lủng nhiều lỗ cột túm một đầu, không biết đựng những gì bên trong, cái lon gô nho nhỏ móp méo cháy đen vì khói, thùng đựng nước làm bằng tôn lợp nhà rỉ sét. Tài sản của tôi còn thê thảm hơn nhiều, sau vụ bị điều tra và đổi chát với gã bộ đội trên Bộ chỉ huy, bây giờ tôi chỉ còn lại một cái mùng, một cái mền đựng trong hai bao cát cột dính lại với nhau bằng một sợi dây.Tôi vắt hai cái bao lên vai, theo đám tù nhân đi ra cổng trại. Ngoảnh mặt nhìn lại trại tù, nơi tôi đã ở gần một năm mà thương cho Trung úy Lợi và Sơn Fulro, cả hai đều không được chuyển trại lần này. Chúng tôi được đưa đến một khu rừng thưa, nằm gần Sông Lũy cách trại tù Sông Mao khoảng chừng 10 cây số, nơi đây không nhà, không cửa, không dân cư, không đường sá, hoang vu vắng lặng. Bị đưa đến một nơi hoang dã nhưng không một ai thắc mắc, bởi vì mọi người đều hiểu rõ thân phận tù đày của mình. Một anh bạn tù là dân Phan Thiết, đứng nhìn quanh một hồi rồi nói.

-Ở đằng xa kia là Lương Sơn.

Tôi nghe để mà nghe nhưng hoàn toàn mù tịt không biết mình đang ở đâu. Cán bộ quản giáo chia chúng tôi ra làm ba khối: khối một lo chuyện đốn cây, khối hai lo việc dựng nhà , khối ba cắt và gánh tranh lợp mái nhà. Nguyên cả buổi chiều hôm ấy, chúng tôi được khối trưởng và tổ trưởng phân chia công tác cho hai tuần sắp tới. Tối đến mọi người ngủ ngay tại chỗ, trong cảnh màn trời, chiếu đất. Một vài người gom một ít lá khô, lót xuống đất làm chiếu nằm cho đỡ lạnh. Giữa khuya tôi chợt tỉnh giấc, con trăng mười sáu tròn như một cái dĩa, chiếu ánh sáng vàng nhạt xuyên qua kẽ lá, cả một khu rừng chìm trong không gian lung linh mờ ảo, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mộng. Bọn tù chúng tôi thường gọi những ông Việt cộng canh gác tù là bộ đội, cảnh vệ, bảo vệ hay vệ binh, thứ gì cũng được, không một ai thắc mắc, miễn sao khi nói lên mọi người đều biết đó là lính Việt cộng canh giữ tù. Hơn ba trăm tù nhân nằm la liệt giữa rừng, nhìn quanh tôi, không một cọng kẽm gai làm hàng rào, không một người lính canh. không khối trưởng, không tổ trưởng điểm danh, không ai thắc mắc đến mình, đây là cơ hội tốt nhất cho bất cứ tù nhân nào muốn trốn trại. Biết như  vậy nhưng không một ai dại dột trốn trại vào lúc này, vì mọi người đều biết rằng mình là thành phần tốt, đã được chọn lựa, sàng lọc kỹ càng, và ngày về không còn bao xa.

Hình minh họa

Ngày đầu tiên đi gánh tranh, bảy giờ sáng gần một trăm tù nhân do hai vệ binh canh gác dẫn đường. Mỗi tù nhân tự mình đốn một khúc cây rừng to bằng cổ tay, hai đầu được vót nhọn dài hơn một sải tay, dùng làm đòn gánh. Chúng tôi di chuyển trong khu rừng thưa độ hơn bốn cây số, dọc theo con Sông Lũy với đội hình hàng một, người này cách người kia từ năm tới mười mét. Đến một khúc sông cạn, mực nước chỉ tới thắt lưng, đáy sông chỉ toàn cát và cát, chúng tôi vượt qua sông, đi thêm một đoạn khoảng một cây số là đến Quốc lộ 1. Từ đây chúng tôi rẽ phải, đi cặp theo lề quốc lộ một đoạn chừng ba cây số hướng về phía thành phố Phan Thiết. Sau đó băng ngang quốc lộ, rồi theo con đường mòn nhỏ, đi thêm khoảng sáu cây số nữa đến một cái trảng trống. Trước mắt tôi nguyên cả một ngọn đồi cỏ tranh xanh mướt hiện ra. Những thảm cỏ tranh theo từng cơn gió nhẹ nghiêng qua rồi ngả lại, giống như chúng đang rượt bắt đùa giỡn với nhau. Tôi biết mình đã tới nơi sau khi vượt qua một chặng đường dài ước chừng mười lăm cây số. Một anh bạn nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói “Lội bộ bốn tiếng đồng hồ rồi đó quý vị”. Cỏ tranh đã sẵn sàng do nhóm cắt tranh đến đây từ hôm qua, chúng tôi chỉ có việc cột lại thành bó. Mỗi bó tranh to khoảng một vòng tay ôm, xỏ cây đòn qua hai bó tranh rồi gánh về. Cũng may là gánh tranh không nặng lắm, vừa sức với đám tù ốm đói, cho nên chúng tôi không một ai kêu ca phàn nàn gì cả, trên đoạn đường dài mười lăm cây số trở về trại. Những ngày kế tiếp, hình như dân chúng biết tù cải tạo hay đi gánh tranh, ngang qua đoạn đường trên Quốc lộ 1. Thỉnh thoảng bọn tù chúng tôi lại nhặt được khi thì xâu bánh ú, lúc thì nải chuối sứ, cục đường, củ khoai, trái bắp từ trên  những chiếc xe đò chạy từ Phan Rang ra Phan Thiết, Sài Gòn liệng xuống. Tuy không nhiều nhưng những món thực phẩm phụ trội trời cho được tù nhân chia nhau, người củ khoai, kẻ trái bắp. Chút thực phẩm dôi ra như vậy, tính thêm cho phần ăn hôm đó của tù, đã vượt chỉ tiêu, quá tiêu chuẩn rồi. Sau một năm ăn uống thiếu thốn, bao tử của người tù đã tự động điều chỉnh, thu nhỏ lại để thích ứng với hoàn cảnh, nếu tù nhân bất ngờ ăn quá nhiều thực phẩm cho một bữa ăn, họ có thể bị trúng thực hay bội thực. Một anh bạn tù, sau hai ngày gánh tranh đi trên con đường xuyên Việt này, khi thì lượm được củ khoai, lúc thì trái chuối do dân chúng từ xe đò ném xuống bèn nảy ra quyết định đổi tên Quốc lộ 1, với lý luận rất đơn giản, anh ta nói .

-Các bạn thử tưởng tượng cái cảnh một tù nhân di chuyển hàng chục cây số, mỏi mệt khờ người, đói rã ruột vớ được trái chuối thơm lừng, chỉ mới ngửi mùi thôi đã thấy sung sướng tràn đầy hạnh phúc. Quý vị còn chần chờ gì nữa mà không gọi con đường này là “Quốc lộ huy hoàng”.

Riêng cá nhân tôi, một lần tôi lượm được cái bánh ú, lần khác được ổ bánh mì nhỏ, dài cỡ gang tay, tuy có hơi mềm nhưng khi ăn thì vừa thơm vừa ngọt, có thể tại cả năm rồi mới được ăn khúc bánh mì đúng nghĩa nên tôi mới có cảm giác như vậy. Nội quy của trại là cấm tù nhân liên hệ với dân chúng, nhưng bọn tôi cả trăm người đi gánh tranh mà chỉ có hai cảnh vệ đi canh giữ, chúng tôi biết chẳng có anh cảnh vệ nào đi theo 30 cây số để giữ chúng tôi. Không chừng họ đã tìm một gốc cây hoặc vào nhà dân ngủ một giấc, chờ đến chiều theo chúng tôi về trại. Họ cũng biết rằng, chúng tôi là những tù nhân sắp được thả về nên không một ai muốn trốn trại cả, dại gì mà trốn, trong khi chỉ cần đợi một thời gian ngắn nữa sẽ được cầm giấy phóng thích mà ra về. Trong hai tuần lễ đi gánh tranh, có một chuyện mà tôi nhớ mãi không bao giờ quên, là khi tôi và hai người bạn tù băng qua “Quốc lộ huy hoàng” theo con đường mòn đi đến đồi tranh, lúc bấy giờ mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng gay gắt xuống đỉnh đầu, mồ hôi đã bắt đầu thấm ướt áo. Từ xa chúng tôi thấy một căn nhà gạch sạch sẽ, khang trang, nằm bên tay phải của đường mòn, cả ba bàn với nhau vào xin ly nước lạnh. Một bé gái khoảng chừng 8 tuổi, dẫn chúng tôi ra sau nhà, chỉ vào cái lu nước trong góc bếp. Khi cả ba đứa đang bu quanh cái lu để uống nước, bất ngờ có giọng nói của một người đàn bà vang lên.

-Các ông ở đâu đến? Tại sao ngang nhiên vào nhà tôi uống nước?

Không ai bảo ai cả ba cùng quay lại, trước mặt chúng tôi là một người đàn bà, ước chừng trên năm mươi tuổi một chút với mái tóc muối tiêu, trong bộ bà ba nâu đã bạc màu. Nhìn đôi mắt đầy ngạc nhiên của bà, tôi vội trả lời.

Hình minh họa

-Thưa bác, tụi con có xin phép cô bé này và được dẫn ra đây để uống nước.

Có thể người đàn bà thấy tụi tôi ăn mặc không giống ai, dơ dáy bẩn thỉu lại thêm chuyện mỗi người vác theo một cây gậy vót nhọn, cho nên bà ta hỏi chúng tôi với một giọng nói như là đe dọa.

-Các ông là ai? Đi đâu mà mang theo gậy gộc như thế này? Tôi kêu công an bây giờ.

Qua cách hỏi, tôi biết là bọn tôi sẽ bị rắc rối to nếu ăn nói không được rõ ràng. Tôi nhỏ giọng.

-Thưa bác, tụi con là tù cải tạo ở Sông Mao, đi gánh tranh về làm nhà, vì khát quá nên vào đây xin nước uống. Tụi con có làm điều gì không phải, xin bác tha tội cho.

Ánh mắt người đàn bà bỗng dịu lại.

-Tù cải tạo?

-Dạ phải.

-Vậy mà tôi cứ nghĩ là các ông muốn vào cướp nhà tôi. Nếu cướp vào đây thì họ đã chọn lầm chỗ vì đồ đạc trong nhà tôi đã bán sạch sẽ rồi. Các ông thử nhìn xem, bàn ghế, giường tủ, có còn cái nào đâu.

Người đàn bà miệng nói, tay ngoắt con bé lại.

-Trong nhà chỉ có tôi và nó, “Cháu bà nội, tội bà ngoại” ba nó cũng đang cải tạo ở ngoài Bắc, mai mốt thằng rể của tôi được tha, nó lại dẫn con bé về nội. Nói thì nói vậy chớ tôi ngờ rằng, đã ra tới Bắc thì làm gì có đường về, phải không các anh?

Nói xong bà nhìn chúng tôi.

-Như mấy anh đây còn có hy vọng.

Tôi để ý thấy người đàn bà đã đổi cách xưng hô, bà không gọi chúng tôi bằng ông mà gọi chúng tôi bằng anh, nghe bớt xa lạ đi nhiều. Thấy tình hình đã êm xuôi vì gặp được phe mình, tôi bạo dạn hỏi.

-Thưa bác, anh con rể của bác mang cấp bậc gì mà phải ra Bắc.

-Tôi nhớ, in hình như là thiếu tá thì phải.

-Bác có ra thăm nuôi anh ấy chưa?

-Tôi chỉ nghe nói là nó bị đưa ra Bắc, còn chuyện ở trại tù nào thì tôi cũng không biết, nói  gì đến chuyện thăm nuôi.

Tôi nhìn con bé có gương mặt buồn buồn, rồi hỏi.

-Thưa bác, mẹ của cháu đâu rồi?

-Con gái tôi đã mất cũng được nửa năm rồi, tội nghiệp cháu tôi, mới có mấy tuổi đã mồ côi mẹ, còn cha thì có cũng như không, ông bà nội thì già yếu ở mãi tận đâu ngoài Quảng Trị, mất liên lạc từ tháng 4 năm 75, chỉ có tôi là ngoại của nó nên phải đem cháu về đây nuôi thôi.

Nói đến đây người đàn bà đi lại góc bếp, bưng một cái nồi đến đặt trước mặt chúng tôi.

-Nhà chẳng có gì, còn chút cơm nguội, các anh có đói thì cứ tự nhiên ăn.

Anh bạn tôi mở nắp vung, nhìn vào bên trong rồi đề nghị.

-Không còn nhiều cơm lắm đâu, mỗi đứa được chỉ non một chén, lúc này hãy còn sớm, tụi mình chia làm ba phần, bỏ vào lon gô cơm trưa riêng của mỗi đứa, sau đó ai muốn ăn lúc nào thì tùy ý.

Hình minh họa

Từ nãy đến giờ con bé không nói gì chỉ đưa mắt nhìn chúng tôi, bất chợt nó lên tiếng.

-Sao bà ngoại đem phần cơm của mình cho mấy ổng vậy? Chiều nay mình lấy gì ăn?

Người đàn bà vuốt tóc con bé, nhỏ nhẹ nói.

-Bà sẽ nấu cơm mới cho con ăn.

Sau khi nhận phần cơm của mình xong. Tôi nhìn những hột cơm còn sót lại bám quanh nồi, tiếc của trời, tôi nhấc cái nồi cơm lên, nói với người đàn bà.

-Thưa bác, để con rửa nồi cho.

Người đàn bà nói.

-Không cần đâu, anh cứ để đó, lát nữa tôi sẽ rửa sau.

Đến đây, tôi đành phải nói với bà.

-Thưa thật với bác, khi rửa nồi, con sẽ chắt nước, lóng cặn, có thêm được muỗng cơm.

Người đàn bà nhìn tôi múc nước rửa nồi, bà đưa tay lên giụi mắt.

-Đói lắm hả con?

Nói xong bà đi lại góc bếp, bưng đến một cái nồi nhỏ. Bà gắp cho mỗi đứa một con cá nục kho to bằng hai ngón tay, cho vào từng lon gô rồi nói.

-Phần còn lại của bà cháu tôi.

Sau khi nói lời cảm ơn và cúi chào người đàn bà, cả ba đứa rút lui mà lòng đầy vui mừng hớn hở, biết rằng sẽ có được một bữa cơm trưa chắc chắn là no nê và ngon miệng. Khi đã ra đến cổng tôi ngoái đầu nhìn lại, người đàn bà đứng trước nhà, tay vịn vào khung cửa, khiến tôi nhớ lại, ngày xưa khi tiễn tôi lên đường nhập ngũ, má tôi cũng đã làm y như vậy.

Cây cồi Kauai

baotreonline.com

Ian Bùi

July 6th, 2023

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Kauai nổi tiếng có những con đường người dân gọi là “tree tunnel” – đường hầm bằng cây. Là một hòn đảo nhỏ, hầu hết các con đường ở đây chỉ có một làn đường mỗi bên, và vận tốc tối đa thường chỉ khoảng 25-35mph. Và vì địa hình toàn đồi núi nên đường ở đây rất ngoằn ngoèo; năm thì mười hoạ mới có những đoạn thẳng tắp như trong hình mà ta có thể tống ga lên tới… 50mph!

Ảnh: IANBUI/TRẺ       

Một trong những cái thú ở Kauai là đi bộ trong rừng, tiếng Anh là hiking, mà ta có thể tạm dịch là cước du. Kauai có vô số những con đường mòn cho ta chọn. Rừng Kauai rậm rạp, nhiều cây cao to, bán kính cỡ vài mét là chuyện thường, với những bộ rễ khổng lồ trông rất đẹp mắt. Nhưng trước khi vào rừng nhớ mang theo thuốc chống bọ và dầu chống ngứa nhé!

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Hiking là một trong những sinh hoạt thể thao giải trí mà ai đến đây cũng phải thử. Tuy nhiên, ta cần biết lượng sức mình và chọn những đường mòn không quá nguy hiểm. Mùa hè mưa thường xuyên nên đất ở đây trơn trợt, dễ sẩy chân. Không biết mỗi năm có bao nhiêu du khách đến Kauai bị thương vì trợt té, nhưng chắc chắn con số đó không phải ít. Trong ảnh là một triền dốc gần như thẳng đứng, phía trên cùng là một gia đình có con nhỏ đang cố gắng trèo xuống. Dân phố thị có khác!

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Cây bồ-đề này được trồng trong vườn nhà nhạc sĩ Todd Rundgren. Vợ của Todd là Michele kể cách đây hai mươi mấy năm bà tình cờ viếng thăm một ngôi chùa ở vùng San Francisco. Vị sư trụ trì tặng cho bà một nhánh và bảo rằng nó đến từ cây bồ-đề ở Ấn-Độ nơi Đức Phật ngồi thiền định và giác ngộ. Tuy không biết bà sống ở Kauai nhưng vị sư nói ông tin rằng nó sẽ rất hạp với hai vợ chồng bà. Đúng là câu chuyện nhân duyên. Todd, như nhiều người biết, từng chơi nhạc gây quỹ cho thuyền nhân Việt Nam hồi năm 1979.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Rainbow Eucalyptus là một loại cây khuynh diệp. Đến mùa hè cây thay lớp vỏ bên ngoài, để lộ ra lớp vỏ mới nhiều màu trông rất đẹp mắt. Giống cây này cao to, được trồng để giữ cho đất khỏi bị sạt lở. Nó có nguồn gốc từ đảo Mindanao ở Phi Luật Tân, được mang đến khi người Phi sang đây để làm việc trong các đồn điền mía vài thế kỷ trước. Kauai có một cộng đồng người Phi khá lớn. Ngày nay họ chủ yếu làm trong các vườn cây trái; phụ nữ Phi làm công việc dọn dẹp tại các khu resort và khách sạn rất nhiều.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Kauai có khí hậu ôn hoà, không quá nóng, mưa nhiều. Đất ở đây có màu đỏ đặc trưng, rất tốt để trồng cà-phê. Kona Coffee là một trong những đặc sản nổi tiếng của Kauai. Dân ghiền cà-phê mà đến đây bảo đảm sẽ rất ưng bụng vì ngày nào cũng có cà-phê ngon để thưởng thức. Kauai Coffee Company là một trong những vườn cà phê xưa và lớn nhất thế giới, mỗi ngày họ sản xuất cả vài chục ngàn ký cà-phê nguyên chất. Vừa để bán cho các thương hiệu khác khắp nơi, vừa để rang lấy dùng cho thương hiệu của mình.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Vào mùa Hè, hầu như ngày nào cũng có chợ phiên mọc lên tại các khu làng để bán rau quả, trái cây. Thậm chí dọc bên đường thỉnh thoảng lại thấy một chiếc sạp đơn lẻ đề bảng bán cây nhà lá vườn. Người Việt đến đây chắc chắn sẽ thích những loại trái như nhãn, đu đủ, xoài, mãng cầu v.v. Kauai còn có một loại trái cây tên Rolinia, cùng một họ với mãng cầu (Soursop) nhưng vỏ hơi gai hơn và thịt không chua bằng. Trong các bữa ăn sáng tại đây không bao giờ thiếu những thứ như khóm, dưa hấu, đu đủ và trái vải.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Lạ một chỗ là dân Kauai lại không thích ăn mận. Những cây mận trên đảo rất to lớn, cao cả chục thước. Đến mùa chúng trổ trái rụng đầy trên mặt đất không ai thèm lượm. Đi ngang những cây này mà không để ý có khi bị mận rơi trúng đầu! Khác với mận Việt Nam, mận ở đây hơi có vị chát, thịt không ngọt và thơm bằng. Có lẽ di dân ngày xưa mang mận qua đây trồng thử nhưng vì thổ nhưỡng không hạp nên nó không phát triển thành kỹ nghệ như những loại trái khác. Dẫu sao chăng nữa, nhìn những cành mận trĩu nặng trái vẫn thấy vui mắt lắm.

Ảnh: IANBUI/TRẺ

Biển mặn! vì sao?

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Khuấy một vầng trăng lạnh!
Thuyền đôi ta…ra giáp nước;
Nơi cuối một dòng sông mở ra trời biển mặn!
Nơi giáp nước, cuối dòng sông, chạm biển;
Biển đã mang anh đi! Em vẫn đợi người về?

Nhánh sông quê vẫn ngọt ngào như thuở ấy!
Biển ngoài kia vẫn mặn chát muôn đời?

Mang câu hỏi vì sao biển mặn?
anh đi cuối đất cùng trời!
Bao năm rồi… về lại nhánh sông quê!
Em hóa đá vẫn chờ như năm cũ;

Chờ anh về để hỏi vì sao biển mặn?
Anh không biết! Chỉ có mình em biết!
Vì nhớ thương anh: biển mặn nhiều hơn;
Biển mặn nhiều hơn vì muôn nghìn giọt lệ!
Em khóc cho quê mình và em khóc tình ta!

đoàn xuân thu
melbourne.

Quán nhậu!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on October 15th, 2020

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Hồi chiến tranh Việt Nam, ở bến xe mới Cần Thơ có chỗ đèn xanh đèn đỏ chớp nháy đề là ‘Snack Bar’. Ðọc là ‘sờ nách ba’ nên tui cứ tưởng thiên hạ vô đó để ‘sờ nách nhau’ chớ? Sau nầy mới biết ‘Snack bar’ không có ‘sờ nách’ gì nhau hết ráo mà là nơi bán những thức ăn dặm thêm như bánh mì kẹp xúc xích, khoai tây chiên và nước ngọt Coca Cola hay Pepsi Cola.

Còn những chàng lính Mỹ (G.I) xa nhà, nhớ em yêu bên Cali (hổng biết đang đi nhảy đầm với thằng khốn trốn lính nào) đến để giải sầu trong giây lát thì phải đến ‘night club’ tức hộp đêm.

Còn quán nhậu bên Úc đây gọi là ‘Pub’ viết tắt chữ ‘Public House’, nơi công cộng cho bà con mình đến nhậu.

Ngoài city, bên bờ Nam sông Yarra của thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu, có cái quán tên là P. J. O’Brien’s của mấy thằng Irish  làm chủ. Chiều Thứ Sáu, bắt đầu cuối tuần, Úc sắp hàng dài thườn thượt để chờ tới phiên mình vô nhậu. Làm tui lại nhớ những ngày ở quê nhà sau 75 xếp hàng cả ngày để mua được 100 ‘cà ram’ thịt lợn vậy!

Những quán nhậu kiểu nầy thực ra là nó có truyền thống khá lâu đời, từ hồi dân Irish, dân Anh nhậu quỵt, bị mẫu quốc đày qua đây hồi thế kỷ thứ 19 lận.

Rồi cơn sốt đào vàng ập tới vào những năm 1850 tại tiểu bang Victoria làm anh nhậu, tui nhậu, chúng ta cùng nhậu. Nhậu tràn lan như con COVID-19 hiện nay vậy.

Cách đây khá là lâu, quán nhậu ở Úc chỉ được phép mở từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều, từ Thứ Hai đến Thứ Bảy. Thế là ‘long weekend’ ngày lễ  được nghỉ bù thêm một ngày, những Lưu Linh Úc chạy việt dã,  (marathon) từ quán nhậu này sang quán nhậu khác uống cho đã điếu trước giờ quán đóng cửa.

Nhậu xong, thách nhau ra ngoài đánh lộn. Vì đánh lộn trong quán nhân viên bảo vệ quán rượu (gọi là bouncer), đứa nào đứa nấy to như con bò mộng, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, nó nắm đầu ném ra khỏi quán té u đầu đau lắm đó!

o O o

Hồi đầu những năm 1970, chỉ có đàn ông Úc mới được phép đi nhậu. Còn đàn bà Úc phải ở nhà, vò võ trông chồng say xỉn, lè nhè bò về. Thằng chả, đàn ông đi nhậu được mấy chị em mình là phụ nữ tại sao không? Cứ nói nam nữ bình quyền hoài hè!

Tháng Giêng, năm 1973, quán nhậu Manly ở Sydney từ chối phục vụ mấy em; với lý do là quán chỉ có phòng vệ sinh nam cho mấy anh đứng tè không hè. Hổng lẽ để mấy em phải ra ngoài hè?

Lời từ chối ‘cà chớn, cà cháo, cà pháo’ nầy mấy em nghe không lọt lỗ tai; nên mấy em tự xích tay chưn mình quanh quán nhậu để phản kháng. Truyền thông, báo chí, truyền hình nhào vô đưa tin ào ào.

Chánh phủ phải đầu hàng trước áp lực dữ dội ‘đòi quyền nhậu’ của chị em ta.

Ngoài ra Chánh phủ Úc còn lo lắng cho việc ăn nhậu cho những người dân Úc không phải là anh, mà cũng không phải là em, tức những người đồng tính! Cấm những người không thuộc thành phần thứ ba léo hánh đến quán nhậu nầy. Nhờ vậy giới đồng tính rất thoải mái với người cùng một giuộc. Mà không bị thằng cha nào trông thấy hai ông hun nhau, hai bà hun nhau rồi le lưỡi lắc đầu.

Cái quán nhậu ‘Blue Train’ ở ngoài city Melbourne, dành riêng cho người đồng tính. Ôi nó đắt hết biết! Ì xèo ngày lẫn đêm, lúc nào cũng vui như Tết tới.

Tranh Bảo Huân

o O o

Nói nào ngay, quán nhậu Úc là nơi tụ tập dân chơi trên chốn giang hồ, là siêu thị bán cần sa, thuốc lắc, heroin và cocain. Vậy là mấy ‘cớm chìm’ được cấp cho cái thẻ ngân hàng được chánh phủ trả tiền để thi hành công vụ. Miệng uống, tai nghe lóm tin tức mật của các băng nhóm bán xì ke, ma tuý.

Mặt khác quán nhậu của Úc, từ thế kỷ 19, cũng là cần câu cơm cho mấy chị em mình kiếm sống nuôi con khi chồng chết hay bị chồng bỏ hoặc ở tù mới được thả ra. Lúc đó, Úc đâu có chế độ an sinh xã hội trợ cấp nuôi con như bây giờ đâu.

Vậy mà mấy nhà đạo đức (họng) lại vu oan giá họa cho mấy em mình phục vụ trong quán nhậu là mấy đứa hư thân mất nết, sống buông thả, chuyên dụ khị đàn ông đến nhậu rồi moi tiền của họ.

(Tui e cái phong trào nầy do mấy bà Cố Nội, Cố Ngoại của Úc cầm đầu vì không muốn thằng chồng mình đi nhậu đó thôi!).

o O o

Ðời mà! Dẫu mồ côi cha lẫn mẹ, ta vẫn sống. Bị vợ bỏ ta vẫn sống. Nhưng sống không thể nào thiếu bạn nhậu cho được. Xưa giờ từ bên Tàu tới bên Tây rồi tới bên Ta đều là như vậy cả.

Làm đàn ông, dù ghiền rượu hay chỉ uống để xã giao, chúng ta đều có một kỷ niệm, không dễ gì quên, về quán nhậu đã đi qua đời ta.

Nên có chuyện rằng: “Một ông Mít và một ông Úc tình cờ gặp nhau ở Little Saigon, Hoa Kỳ cùng ngồi nhậu và tán phét về những quán rượu phục vụ hết sẩy, được tụi nó rất là ưa thích.

“Quán rượu này phục vụ tốt như vậy; nhưng tao vẫn thích quán rượu ở quê nhà tao hơn. Ở Cần Thơ, quê em yêu của tao, có một quán rất nhỏ. Chủ quán chịu chơi hết mình! Khi chú mầy uống bốn ly, thằng cha chủ quán sẽ không tính tiền ly thứ năm.”

“Phục vụ như vậy thì nhằm nhè gì?”  ông Úc nói:

“Ở quê tao, Melbourne nè, có một quán rượu rất đã! Ngay khi mới đặt chân đến, họ sẽ mua rượu cho uống, rồi đồ nhắm nữa. Hoàn toàn miễn phí, không tốn một cắc nào hết! Uống đã điếu, ngà ngà say, họ sẽ đưa lên một căn phòng ở trên lầu để nằm phè cánh nhạn!

Ông Mít lè nhè nhướng mắt nhìn ông Úc, vẻ nghi ngờ: “Xạo vừa vừa thôi cha Nội! Làm gì có quán rượu nào phục vụ tốt như thế trên thế giới nầy chớ?”

Ông Úc thề bán mạng rằng mọi lời nó nói đều là sự thật.

“Ðiều này có thực sự xảy ra với chú mầy không?”

“Cá nhân tao thì không!” Ông Úc thừa nhận “Nhưng nó đã xảy ra với con vợ tao khá nhiều lần. Nó đi nhậu một mình về rồi nó kể cho chính tai tao nghe mà!”

DXT

Quà Giáng Sinh

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

December 22nd, 2023

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Bà con mình ai cũng biết Hoa Kỳ ở Bắc bán cầu. Úc ở Nam bán cầu, hai đứa cách nhau hàng vạn dặm. Mấy em Mỹ gốc ‘Mít’ phải ục ịch bay gần 20 tiếng đồng hồ mới tới được Úc để thăm lại người xưa; để hâm nóng lại tình ta như trà thiu bấy lâu nay không nhẩm xà đà nguội ngắt.

Mùa lễ Giáng Sinh, mới đầu tháng Chạp, các đài truyền hình đều đồng ca: “We wish you a Merry Christmas and Happy Ney Year”. Còn bà con người Việt mình ly hương, dù chia đàn sẻ nghé, lạc bầy lan ra toàn thế giới như dân Do Thái, cũng đồng ca: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm!”

Người Mỹ rất có thiện tâm. Nên có chuyện rằng: Đó là năm 1935, khi tôi 10 tuổi, chúng tôi sống ở tầng một của một căn hộ không cửa ngăn trên đường 43, Brooklyn, thành phố New York. Ở đỉnh điểm của cuộc Đại suy thoái, Cha Mẹ tôi buộc phải nhận trợ cấp, ngày nay được gọi là phúc lợi xã hội. Vài ngày trước lễ Giáng Sinh, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ nhà bếp thấy Cha tôi đang ngồi trên bệ cửa, vẻ chán nản, nước mắt lưng tròng. Người đưa thư đang đến gần tòa nhà của chúng tôi và hỏi Cha tôi có chuyện gì vậy? Tôi nghe Cha tôi nói Cha ráng tìm, nhưng việc làm không có. Tôi nghe Cha tôi nói rằng ông đã dùng hết phiếu ăn và tiền thuê nhà đã quá hạn. Cha rất sợ khi nhìn thấy những bức ảnh trên báo chụp người dân với tất cả đồ đạc của mình bị chủ nhà vứt ra đường”

Người đưa thư – nguồn kindnessblog.com 

“Ike, ông cần bao nhiêu?” người đưa thư hỏi. Cha tôi nói ông cần 33 đô la để trả tiền thuê nhà. Và không chút do dự, người đưa thư lấy 50 đô la từ ví của ông ấy và đưa cho Cha tôi. Cha tôi nói: “Không biết khi nào tôi mới có thể trả lại cho ông”. Người đưa thư quàng tay qua vai Cha tôi và nói rằng: “ông có trả lại tiền hay không trả tiền cũng không sao.” Thấy tôi đang nhìn qua cửa sổ, người đưa thư nói: “Isaac, mọi chuyện sẽ không như vậy mãi đâu. Nếu bạn hoặc con trai bạn ghi nhớ ngày này thì trong tương lai sẽ có lúc ai đó cần sự giúp đỡ của bạn. Hãy giúp đỡ họ trong khả năng của bạn và kể cho họ nghe chuyện gì đã xảy ra ngày hôm nay. Đây sẽ là sự hoàn vốn lại cho tôi. Chúc Giáng Sinh vui vẻ và hạnh phúc.” Người Úc cũng thiện tâm vậy. Giúp được mình cái gì là nó giúp hè. Nhưng mượn tiền nhậu nó không cho, kêu ra ngân hàng đi cha nội!

Tui nhớ hồi năm ngoái, sau ‘shift’ làm, mấy thằng Úc chung sở rủ tui đi Pub P. J O. Brien của Irish nhậu mừng Giáng Sinh. Mãi vui tui quên hết lời em dặn dò; tui say quắc cần câu! Chỉ nhớ mang máng là về nhà tui đã gấu ó gì đó với em yêu. Chết cha! Sáng nay thức dậy ắt có chuyện lớn rồi! Khi mở mắt ra, tui khát nước như đã lạc trong sa mạc hằng thế kỷ! Kỳ diệu thay trên cái bàn, cạnh giường ngủ là một ly nước chanh đường. Tình tứ hơn là có một đóa hồng tươi thắm nằm kế bên nữa. Lọ mọ vô phòng tắm, tui thấy có sẵn một bộ quần áo ủi phẳng phiu sạch sẽ và tinh tươm. Nhìn vô gương soi, tui kinh hoàng khi thấy hai con mắt của mình bầm tím như con gấu trúc ‘Panda’ của mấy chú Ba. Ở góc gương có dán một tờ giấy viết rằng: “Anh yêu! Bữa ăn sáng của anh đã nằm trên chiếc bàn trong bếp. Trứng chiên với ‘ham’ là món anh ưa thích. Ly cà phê ‘cappuccino’ kiểu Ý rắc đầy ‘chocolate’ còn nóng hổi. Em đi chợ mua đồ về nấu cho anh một bữa canh chua cá hú mà lâu lắm anh không có dịp ăn! Hôn anh say đắm. Em yêu của anh!

Tui xuống bếp! Quả y như kinh! Thằng Cu Tí cũng đang ngồi ăn sáng! Tui hỏi: “Cu! Chuyện gì đã xảy ra vào tối đêm qua?”

Tranh Bảo Huân

“À! Tối qua 3 giờ sáng tía mới bò về! Tía say hết biết! Miệng mồm nhểu nhão nước miếng tùm lum! Tía ngã xuống sàn. Lúc đứng lên, tía đụng vào ngạch cửa làm hai con mắt của tía bầm tím!” “Rồi sao nữa Cu?” “À! khi Má lôi tía vô phòng ngủ, cố cởi quần tía ra thì con chỉ nghe tiếng tía la hét là: “Đừng! Đừng đụng tới tui! Tui đã có vợ rồi!”

Vỡ kịch do tui làm soạn giả kiêm đạo diễn kiêm kép chánh hay quá là hay, đã qua mặt bà Hoạn Thư nghe cái vù. Nhưng vốn là một người chồng yêu vợ thương con, tui sống công bằng: em bánh ít đi; tui bánh quy lại. Mùa Giáng Sinh năm nay, tui bắt chước Úc mua quà Giáng Sinh cho em. Mua món gì không biết nên tui đi hỏi con nhỏ Cyprus, dân đảo Síp, làm chung. Nó kêu tui nên mua cho vợ anh cái váy. Tui ngu, nghe lời nó nên hư bột hư đường hết ráo. Vì em Penny nầy không tâm lý để biết: “Thế giới sợ đàn bà Mỹ, vì đàn bà Mỹ nói là làm. Đàn bà Mỹ sợ đàn bà Nhật, vì đàn bà Nhật làm xong mới nói. Đàn bà Nhật lại sợ đàn bà Trung Quốc, vì đàn bà Trung Quốc không nói mà làm. Nhưng đàn bà Trung Quốc lại sợ đàn bà Việt Nam, vì đàn bà Việt Nam nói một đàng làm một nẻo.

Đem cái hộp gói giấy màu sặc sỡ có gắn nơ về, tui bắt chước như Tây quỳ xuống dâng lên. Con vợ tui háo hức mở ra coi, xong nói: “Cảm ơn, cái này thật là tuyệt!” Sau đó là một nụ cười khẩy. Suốt cả năm sau, tui không thấy nó mặc lần nào. Từ đó, tui không thèm tặng quà gì cho con vợ tui nữa. Tui chọn cách đơn giản nhưng hiệu nghiệm là móc xỉa cho em chục con bò xanh 100 đô là em cười nụ nhưng rộng tới mang tai.

Còn mấy anh mình trong nước, cứ cho em một cây vàng 3 số 9 thì em cười híp mắt, bảo đảm em nào cũng khoái, cũng mê tít thò lò. Nắm tiền, nắm vàng trong tay, em muốn sắm cái gì thì sắm. Muốn mua cái gì thì mua. Phần mình đã cày sâu cuốc bẫm mới có tiền móc xỉa (coi chừng mạt) mà còn bị nhức cả cái đầu thì ai mà chịu cho thấu chớ?

ĐXT

Linh hồn lạc lối

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 13/11/2017 

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi. Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoảng tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.

Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắt thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.

Về tới nhà đã ba giờ sáng, hôm nào nóng nực thì siêng vào phòng tắm bằng không thì vệ sinh qua loa rồi lăn đùng ra giường hú ba hồn bảy vía trở lui, trưa mai hẳn tính. Vì công việc nên tay chân nghe nhừ mỏi, nằm lơ mơ có cảm giác như có cái gì đè nặng xuống người. Đầu óc mụ mị chẳng biết trăng cuội, mình đang tỉnh hay đang chìm sâu vào mộng mị? Sáng, tối. Hư, thực. Bần thần, hay nghĩ vẩn vơ về những điều không tượng hình, vô căn cớ. Cảm giác bất an sau cùng đã có đáp số, ông người Miên gốc Việt đóng vai tài xế đã không tới đón tôi đi làm, điện thoại hỏi thăm người bạn, hắn cho hay ông ấy tối qua trúng gió, cảm nặng, già đầu rồi mà cứ kêu than má ơi má hỡi. Ê kíp chỉ còn mình tao phải xin lão sếp sắp đặt tăng viện nhân lực. Bùa chú đầy người có khi cũng phải nhác chơi!

Như vậy, tôi làm nhân viên vệ sinh công sở chỉ đúng một tháng. Mười ngày sau, trên tờ giấy èo uột dán trước cửa chợ Á châu, tôi đọc thấy hàng chữ cần người. Không nhanh tay lẹ mắt ắt sẽ vuột mất cơ hội. Thời cơ lại đến, khỏi sợ đói người, lần này thì làm đứa đội nắng mưa đi thu hoạch hoa màu ở một nông trại nằm chốn đồng không mông quạnh. Trái cây, rau rác, bầu bí, hành ngò, xà-lách, cà chua, cà-rốt… có gì chơi nấy. Họ chỉ định một địa điểm thuận lợi nhất để tập trung nhân công, điểm danh xong chất có thứ lớp lên chiếc xe trước đây dùng để đưa đón học sinh, hoặc na ná như xe thùng 6 bánh chuyên thồ bọn người tội phạm từ trại giam ra pháp đình luận tội. Gầm rú, dằn xóc cả tiếng đồng hồ thì thả người xuống một bình nguyên xanh mơn mởn, xanh tận chân trời. Phút đầu ai cũng lộ vẻ hân hoan vì được dầm thân trong môi trường thoáng đãng khí trời lồng lộng, chỉ có quý vị phụ nữ là mặt ủ mày chau và sĩ số họ đông gấp ba lần phái nam. Chi cũng được nhưng nắng kiểu đó thì tui ngán lắm, rồi sẽ đen như con mọi. Họ phát biểu cảm tưởng. Đã rất lâu, giờ đây tôi mới nhìn lại hình thể một chiếc nón lá hình chóp đặc thù của quê cũ. Chẳng biết có ai ép trong đó một bài thơ? Anh về xin nhớ mua quà, mang qua một vật che loà nắng mưa.

Vì lính mới, tôi được một chị tên Sương kèm sát bày đường chỉ lối. “Lom khom dưới núi tiều vài chú”. Ừ, tiều phu thì chỉ một vài, chớ bọn tui đây e tới cả trăm không chừng, lúc nhúc, chổng mông, còng lưng, tay khoan tay nhặt, mồ hôi mồ kê ràn rụa chảy. Chẳng nói chẳng rằng, hôm sau chị Sương trao cho tôi một chiếc nón vải rộng vành. Không sao đâu mà, đội đi, tui mua ở chợ trời giá rẻ như cho, chớ ngại. Giờ giải lao, chị mời ăn củ khoai mì hấp chín với nước dừa. Ở đây không có đâu, chỉ riêng chợ Mễ mới bán nó. Chị cho hay khi đưa thêm gói mè rang. Tôi nghe họ nói ăn củ này trong lúc bụng đói sẽ dễ bị say. Bụng tôi no cũng muốn chóng mặt, dung mạo chị Sương tầm tầm nằm giữa mức xấu đẹp nhưng lòng dạ ấy thì quá mỹ lệ, ưa giúp đỡ kẻ khác. Chị ở một mình nuôi con ăn học, chị tâm sự: Cháu nó được tám tuổi rồi, sợ nó quên tiếng mẹ đẻ nên cuối tuần tui chịu khó dắt nó tới chùa, những người tốt bụng thành tâm có ngăn ra một gian sau hậu liêu để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ, khi chúng ê a thì ngoài sân tui phụ giúp nấu các món ăn chay để thiện nam tín nữ lót lòng. Chủ nhật mà, người vào ra đông vô số kể. Anh có từng lên chùa thắp nhang?

Nếu có thể xem là nghề thứ ba, thì do chị Sương giới thiệu, tôi được làm “ông thầy” thiện nguyện dạy các em nhỏ tập viết tập đọc chữ quốc ngữ ở sau ngôi chùa to ngất độc tôn trong vùng. Trước chỉ có lớp học vào ngày thứ bảy, sau này do đông học viên nên sinh thêm một lớp tụ bầy vào hôm chủ nhật. Và tôi phụ trách làm đứa “gõ đầu trẻ” vào ngày thảnh thơi ấy..Việc đó là hậu sự, tiên khởi chị Sương kể là tui từng chứng kiến có đôi ba cặp đã nên duyên vợ chồng nhờ gặp nhau ở ngôi chùa đó, sao anh không thử một phen, biết đâu lòng thành được chốn khói nhang chứng giám, kinh kệ độ trì. Tôi nghe, bụng thấy chút khó chịu. Đã vác thân tới chốn trang nghiêm mà sao còn mang theo một đống bụi trần thất tình lục dục chất chứa trong lòng? Đã không buông bỏ lại muốn trói buộc thêm vô. Việc tôi tự nguyện dạy dỗ các em tuổi hồn nhiên rạng ngời kia có phải là một trong muôn ngàn cách buông? Chị Sương làm “tài xế”, ông thầy ngồi bên cạnh và cô học trò tám tuổi khép nép lễ phép ngồi băng sau, chẳng mè nheo, chẳng sinh sự, không có ý kiến. Dễ thương hết biết. Má của con lòng tốt bao la như vậy thì mai này con sẽ hưởng lấy phúc lộc, hổng thèm tới chùa cũng gặp được kẻ xứng đôi, vinh hiển ấm đời.

Bức tường vôi vàng ngăn hai gian nhà, bên kia lớp học là nơi đặt di ảnh, hủ tro của các người vắn số được thân nhân mang gửi vào những mong vui vầy phần nào khi lìa xa nhân thế. Ngoài lời kinh tiếng mõ, tôi mong là tiếng đọc bài ê a “công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của các em nhỏ sẽ làm “họ” vui tai, mĩm nụ cười độ lượng. Chị Sương có tài nấu nướng, chị mua rau quả ngoài nông trường với giá rẻ và thường mang đến chùa từng túi lớn chất đầy các loại xanh tươi. Chị mặc chiếc áo lam, mặt đỏ hồng khi gia công với củi lửa, có vẻ vui thú khi nghĩ thành quả mình làm ra sẽ giúp mọi người có bữa ăn no nê trong thanh đạm. Nhìn chị, tôi luôn mọc ra ý nghĩ về người chồng khiếm diện, anh ấy đang ở đâu? Có được một người vợ tựa thế phải dày công tu mới nên duyên chứ? Chị chưa một lần tâm sự và tôi luôn tôn trọng cái im lặng của chị. Hẳn đó là vết thương lòng, khi đã biết thế mình không nên khơi mở nó ra. Cách chị siêng năng đến chùa mỗi cuối tuần hầu như là phương thức nhằm cố vơi bớt nghiệp chướng?

Thời gian này tôi đã quen lại với giấc ngủ bình thường giống mọi người, đã đoạn tuyệt với thời khoá biểu lấy đêm làm ngày như trước đây. Có khi soi gương, đọng trong ấy phản chiếu một khuôn mặt lạ lẫm, đen đúa vì mãi một sương hai nắng. Hai bàn tay thì biến dạng thấy rõ dù có mang găng bảo vệ khi lao động. Và lao động thì mãi chẳng vinh quanh. Làm việc chỉ đủ sống. Sống chỉ để ăn, ngủ rồi vận hành theo một lập trình cũ, không biết cách hoán đổi. Miếng ăn tôi không lo toan, vì chị Sương bao giờ cũng nấu thừa ra, bới xách cho tôi. Chu đáo đến cả thức uống hoặc món tráng miệng. Ăn cho có sức mà làm việc. Chớ so đo, đồng tiền mình làm ra đều lương thiện, không có gì đáng để tủi thân. Chị thường uỷ lạo, an ủi tôi.

Ở nông trường bắt đầu phát tiếng nhỏ to ong ve xì xầm. Cộng đồng người Việt, dù chỉ một nhóm người, họ có khối chuyện để bàn tán, dị nghị, cả tin, nghi ngờ và ưa làm tài khôn. Đại để như: Bà Sương nên đi bước nữa, cũng lớn tuổi rồi đâu thể ở không. Mình chẳng nói gì nhưng nghĩ tới đứa con còn nhỏ dại, hơn ai cả nó cần một người cha… Ngay chính miệng người mẹ cũng có lần nói với tôi, con bé nó đặc biệt có cảm tình với anh, việc học tiếng Việt xem chừng nó tiến bộ làu thông, đôi lúc hỏi nhiều câu bất ngờ, không biết đường mà trả lời, cứ ấp a ấp úng!

Tôi tập thói quen đi ngủ vào lúc mười giờ, để đồng hồ báo thức vào sáu giờ sáng. Thời gian đầu không sao, gần đây thỉnh thoảng tôi bị đánh thức bằng thứ tiếng động lạ như kiểu ngoài tôi đã có ai khác cùng trú trong cái ấp hai phòng rưỡi nhỏ nhắn này. Tôi ngồi dậy, cảm nhận rõ có luồng gió lạnh vừa vụt qua, y như đêm hôm nào làm việc quét dọn trong cao ốc vắng lặng. Cái địa điểm mà sau cùng người bạn tôi cũng đã bỏ việc, hắn chỉ nói mơ hồ bằng mấy chữ “chịu đời không thấu”. Tôi mở sáng đèn đi thăm dò cửa nẻo vốn đã khoá chặt cài then. Heo may ngoài trời như biết thẩm thấu qua vách ngăn, lạnh trong người lạnh ra.

Chứng mất ngủ bắt đầu hiện tới, trùm chăn nằm đếm số, cố nhớ ra những đoạn văn thật thơ mộng thật giản dị của tiền nhân để truyền lại cho bọn trẻ luôn háo hức, luôn thân tình với người thầy bất đắc dĩ. Một con nước trôi dịu dàng ra cửa biển? Một đám mây bay nhẹ nhàng sang bên kia núi? Một cánh chim cô quạnh vụt qua trời chiều nhá nhem? Một tình yêu cao cả có thể chuyển hoá sự xấu xa? Tôi mê thiếp một hồi thì nghe tiếng réo liên tu bất tận có ở đồng hồ báo thức. Chồm người dậy tắt, con số 3:00 xanh lè ở đó cháy tỏ. Kỳ khôi chưa? Phải là số 6:00 mới đúng chứ! Một lần không nói, đêm sau cũng giở chứng y hệt. Đã có bàn tay thần bí nào nhúng vào?

Tôi bắt xe buýt đi tới chùa. Không nhằm cuối tuần, chùa vắng. Một chú sãi, hay chú tiểu đang quét lá ngoài sân bị tôi nắm chéo áo cậy nhờ, làm ơn dắt tôi vào chỗ thờ phụng người khuất mặt. Tôi nào lạ gì khi chỗ ấy nằm sát vách nơi tôi đạo mạo làm giáo viên hàng tuần. Tôi muốn chú ấy đi theo bởi bóng chiều tà vừa bao phủ khiến tôi ngán khi đơn thân phải vào nơi thâm u. Tôi muốn tự mình xác tín một chuyện. Trước đây, trong giờ tập viết, tôi đã ra đầu đề, các em hãy nắn nót tên người cha của mình trên trang giấy xem có được không, có sai lỗi chính tả thầy sẽ sửa giúp. Đứa con của chị Sương viết, chẳng sai một mảy may: Trần Văn Như Gia. Chú tiểu nhắc: Thầy nên thắp cho các vị ấy ba cây nhang. Tôi nghe lời cùng lần với dãy bóng đèn néon đồng loạt cháy sáng. Tôi cúi đầu, chẳng biết khấn nguyện điều gì. Tôi vái và tôi cắm run rẩy vào bát tro. Bức tường trước mặt tôi, nằm sau lưng bàn thờ đầy hoa trái treo đầy những tấm ảnh vàng vọt của kẻ gửi thân về cát bụi. Mất chừng năm phút, tôi đọc thấy bốn chữ Trần Văn Như Gia nằm dưới một gương mặt có vẻ nghiêm khắc, có vẻ khó tính, có vẻ cộc cằn, có vẻ không hoà thuận với cuộc sống, hoặc ít ra anh ta chẳng ưa chụp ảnh, bộc lộ cái bất bình, kháu ó.

Tôi xin chú tiểu một cuốn kinh, bất kể là loại gì, in một vài câu cũng được nhằm khấn đọc thầm, tụng chú trong canh khuya. Rồi chia tay. Rồi gửi lui lời hẹn gặp vào chủ nhật. Tôi bước tới trạm đợi chuyến buýt, thay vì về nơi cư ngụ tôi đứng bên kia đường để ngược hướng tới nhà chị Sương. Tôi sẽ nói cùng chị những hoạn nạn mà tôi đang gặp phải. Và rất khó khăn, tôi buộc lòng thưa thật, tôi sẽ kiếm việc làm khác. Tôi vắng mặt một thời gian. Và rồi tôi sẽ ngồi yên chờ nghe từ chị một cao kiến, một kế sách vẹn toàn. Bóng tối chan đầy lòng đường, chỉ có vũng sáng từ cổng chùa tạt hắt ra vuông màu vàng nhạt. Chuyến buýt sật sừ đi tới, thắng đứng lại, cửa mở. Tôi bước vào lòng xe, băng ghế cuối có bóng đen vừa ngẫng đầu lên. Ông ta mang bộ mặt lãnh cảm giống hệt người chồng chị Sương. Cuốn kinh trong tay tôi đẫm ướt.

Hồ Đình Nghiêm

Kỵ ô tô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/01/2019 

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Ở trong nước, mỗi năm, bộ hành, người dùng xe đạp, người cỡi xe gắn máy từ chết đến bị thương đếm không xuể, nguyên nhân do đang lưu thông chẳng may có ô tô điên từ đâu láng cháng rồ tới, tông, đụng, húc, cán không khoan nhượng. Thường dân than: Khi khổng khi không cái phủi chân lên bàn thờ đi gặp mặt ông bà; mà đảng viên thì báo cáo: nó vừa đi thăm Các-mác Lê-nin.

Chết, có trăm phương nghìn cách, kể cả khi nghĩ là an toàn leo được, ngồi vào lòng ô tô, mua vé xe đò có giường nằm bon bon trên quốc lộ Một. Xe đổ đèo xe đứt thắng, bác tài ngủ gật lạc tay lái. Đại lộ không chạy lại nhắm tiểu lộ mà cày xới bao vật ngáng đường, trầy trụa khi rơi “êm” xuống vực, “một bộ phận không nhỏ” liền khuất núi, hồn du địa phủ.

Dù tin rằng số trời đã định, tới ngang tuổi đó phải chết đi, nhưng bá tánh vẫn có lắm kẻ xem ô tô là con quái vật, tâm bất an đem lòng ngờ vực, kỵ ô tô, thấy từ xa đã cẩn tắc lo nhảy, trước khi nước tới chân.

Hài kịch rẻ tiền thường phát sóng trên truyền hình, muốn chọc cười bà con diễn viên thường dặm pha giọng Quảng Nam mà đa phần thích chơi khăm tới dân Huế bằng cách tự tung tự tác chêm thêm dấu nặng vào mỗi chữ trong lời thoại. Tự ái địa phương đem bắt bẻ thì nghe họ nói: Hổng phải sao? Người Bắc chửi đéo mẹ, Nam kêu đù má mà các anh hô đụ mạ. Hai dấu nặng sờ sờ ra đó. Nặng chết tía luôn, nói nhanh nói nhiều tui hổng hiểu đâu nghen. Đừng có ở đó mà răng ri rứa!

Oan cho người mềnh quá! Dẫn chứng có bi nhiêu thì mần răng thuyết phục hở eng? Bồ tèo ưa nghe thêm hả? Đầu niên học, thầy cô trong Nam hỏi học trò: Các em đã đủ vở chưa? Trong khi ngoài anh thì nghe sang sảng: Cạc em đạ đụ vợ chưa? Dạ thưa cô, đụ rồi.

Mặt đỏ rần. Đỏ vì tức giận một phần. Thù oán gì nhau mà ăn nói mất vẻ thanh lịch thế kia. Người Huế kêu bằng: Con nhà ai mà chơi kiểu ba de rứa bây! Thiệt là đồ mất dạy! Giả như đọc tên thành phố cổ xưa Kyoto bên Nhật thì thằng cha căng chú kiết nào lại đi phát âm là Kỵoto? Hết chữ rồi hay răng mà mang Kyoto ra ví von? Đừng nóng, vì vừa nghe “ngài” thủ tướng phán: “Huế là một Kyoto của Việt Nam, phải tận dụng vẻ đẹp chẳng nơi nào có được”. Ai nói thì nên nghe theo nhưng “lời hay ý đẹp” của bề trên thì lâu nay vẫn khiến bá tánh ma-dzê-in hoang mang trộn lẫn hoài nghi nói dzậy mà hổng phải dzậy. Noại rựa mà khung phại rựa. Ngày xưa thủ tướng có cắp sách đến trường không? Có nghe thầy hỏi “em đạ đờ vờ chưa?”

Người Huế trong nước nghe rứa có sướng hung khôn? Có tự hào khi xứ mềnh tự nhiên một sớm một chiều được “vẽ râu ông nọ cắm cằm bà kia”? Từ một rẻo đất mãi hứng chịu lắm thương đau tăm tối bầm dập nay được ví ngang với thành phố dân chủ văn minh hiện đại, đến ngay cả con cá con chim con mèo con chó bên ấy cũng được người dân coi trọng, bảo bọc nâng niu. Dân chưa lên tiếng, lãnh đạo đã lo cúi gập người xuống mà nhận lỗi lầm. Thậm chí họ sẵn lòng từ chức, tự nhận mình là kẻ bất tài, xin khoan thứ cho tài sức hạn hẹp của tôi đã chẳng đáp ứng bao kỳ vọng mà quý vị tin tưởng trao cho.

“Huế thơ Huế mộng” thì răng? Năm 1970 nhà thơ Phạm Nhuận có thơ:

Nhớ những chiều ngồi bên này sông
Cây cầu thân yêu gãy xuống giữa giòng
Tà áo em bay trắng màu goá bụa
Như tang tóc về giữa phố người đông.

Có Trịnh Công Sơn từng “hát trên những xác người”. Chuyện chi rứa? Dạ thưa, Tết Mậu Thân 1968 vẫn còn đó là vết cắt sâu, xương chất thành núi máu chảy thành sông. Mấy mươi năm qua vẫn bặt câm một tiếng xin lỗi từ guồng máy bạo liệt tạo ra trận thảm sát chưa từng có trong lịch sử “dựng nước và giữ nước”. Chỉ có lời thở than của nạn nhân, nỗi đau vô chừng vô đỗi đến độ nó chui vào ngay cả món giải trí, vẽ nên con Nghèo trong bộ bài Tới:

Chồng em chết bữa ba mươi Tết
Không biết mượn cuốc nơi mô
Đưa hai tay bụm cát lấp mồ
Tình sâu nổi thảm biết chừng mô hỡi trời!

Sắp tết rồi ông thủ tướng ui. Dù nghèo đói tới cỡ nào đi chăng nữa hạng thứ dân bần cùng cũng cố thu vén chắt chiu bóp họng bóp hầu để bày lên bàn thờ một mâm cơm hòng cúng dâng những người khuất mặt. Trong khi những kẻ đè đầu cỡi cổ vẫn có biệt tài tạo ra bánh vẽ, hết món này tới món kia rất mực thịnh soạn. Chỗ này thì ví ngang với Mút-cu, chỗ kia thì nào khác Cu-ba. Hà Nội thì chính hiệu là Paris. Đà Lạt nào khác chi Ba Lê thu nhỏ. Sài Gòn tợ thung lũng điện tử bên Cali, mà bây chừ Huế đích thị là Kyoto vậy. Huế có em bé 12 tuổi nghe lời dụ “em đi với chị một chút thì được 10 triệu”. Chị dắt em vô chợ Đông Ba ăn sương sa hột lựu xong giao vào tay một thằng đàn ông chở xe qua cầu Trường Tiền 6 vài 12 nhịp, vô nhà nghỉ kịp, liền lột đồ bé ra mạnh tay mạnh chân cho xong dịp phá trinh. Huế có cậu thanh niên tuổi trẻ tài cao đi xe máy vô ngân hàng sát cửa Đông Ba, với khẩu súng giả hăm he, đã cướp lấy một bao bố tiền bác Hồ nhìn thẳng trong vòng 45 giây, nhanh tới mức chàng bảo vệ chẳng kịp phản ứng. Huế có chán vạn nhân vật “đình đám” khác mãi lưu danh thiên cổ (viết ra làm chi những Nguyễn Đắc Hoàng Phủ cho tốn giấy). Hiểu một mặt khác, Kyoto tuồng vẫn còn thấp kém lắm, so bì chi được với đất Thần Kinh, đẻ ra ông Trần Vàng Sao:

mả cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất.

Tui cũng rứa, tui chẳng biết thù ai mặc dù tui không là múi chanh bị vất vỏ đến độ phải chửi mả cha cuộc đời. Tui cũng người Huế nhưng Huế ba rọi, Huế trên giấy khai sinh mà khai sinh thì đã nổi trôi chìm đắm trên chuyến vượt biển một đêm tối trời ở biển Thuận An lắm hồn oan. Giờ ni tui làm dân Canadien, ở ngay trên đất Montréal sử dụng tiếng Pháp. Tiếng Pháp họ nói thì dân bên Paris qua thăm thú cũng ngẫn tò te đực mặt như ngỗng ỉa. Một thứ ngôn ngữ cổ xưa như biết thêm dấu nặng. Vô tình, vì rứa mà tui có cảm tình, họ chửi thề và tui yêu thứ ẩn ngữ khó hiểu “hậu hiện đại” kia: Tabarnak là một, Calisse là hai. Độc cô cầu bại chẳng sợ đụng hàng.

Chôn chân ở đây, tui không trông mong chi ngày hoà bình để về nhìn lại mặt Huế xưa. Mỗi khi nghe tin (toàn cả tin khó tin) bên xứ cũ vọng qua (xứ có hơn mấy chục ngàn ông bà tiến sĩ chịu cúi đầu nghe sai bảo dưới các đồng chí học lực chỉ xong bậc tiểu học) tui đều phát âm Tabarnak. Calisse.

Học vị tui cũng thường thường bậc trung, chỉ biết cày sâu cuốc bẩm trên những “mặt trận lao động chân tay”. Tuy thất học nhưng tui chưa từng bội bạc tình nghĩa mà dân bản xứ rộng lòng trao cho. Không có thứ thước đo nào để bạn mang ra nhằm đối chiếu, so sánh được. Đừng ví Montréal này là đất lạnh tình nồng, giả dụ thế. Đừng hoán đổi nó với một thiên đường hạ giới nào cả. Đừng thấy nhà sang rồi bắt quàng làm họ. Chỉ tổ làm rõ thêm sự xuẩn động, mưu hồ khẩu yếu kém mình mang.

Thành phố này cũng là nơi có nhà thơ Luân Hoán định cư. Năm mới, ông có làm lắm bài thơ nhẫm tính thời gian trước khi lìa bỏ cuộc chơi ký gửi nỗi lòng lên facebook. Trái với sự tỉnh táo đi gần tới mức yếm thế của Luân Hoán, nhà thơ Hồ Chí Bửu đùa nghịch:

Về trời đâu có quai phai (wifi)
Đây có phây bút mà nhai nỗi sầu
Thôi thì ta chẳng về đâu
Trần gian chơi tiếp mặc dầu… hết pin.

Khi đã hết pin, lãnh đạo xứ ấy dùng chữ thậm ấn tượng: “Thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên”. Rất dễ nể, dễ dằn mặt các thi sĩ khi họ muốn cách tân thi ca. Tui người Huế lưu vong từ muôn kiếp trước, Huế ba rọi nên chi cũng cọp dê một chút thơ cho ra vẻ mình biết tí ti tiếng Pháp:

Chiều chiều dạo phố la rue
Bỗng thấy đằng xa một jeunne fille
Tuổi tác xuân xanh còn petite
Hình dung mặt ngọc cũng jolie.

Khà khà. Lỡ mang tội đạo thơ của ai kia thì e cũng dễ thứ tha lỗi lầm. Còn hơn bạn mắng tui: Thằng người Huệ kia, tao biết gia đình dòng họ ba đời nhà mày chính chuyên vô sản nổi tiếng ở thành phố Kỵoto. Cớ sao mày không chịu nói tiếng Nhật: Tao đi ga ni, mi đi ga mô… Tabarnak!

Hồ Đình Nghiêm

Nhà tù hình chữ S

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 3

Phần 6
Thằng Bờm có cái quạt mo.

Đúng như lời quản giáo Thành nói với tôi và Sơn Fulro ở hội trường. Ba ngày sau, toàn trại B trung úy được tập họp theo từng khối để nghe thông báo quan trọng. Anh quản giáo với vẻ mặt nghiêm nghị nói.

-Tôi xin báo cáo với các anh một tin đầy hồ hởi phấn khởi, về lịch trình học tập trong hơn hai tháng sắp tới.

Đây là một tin vui khiến mọi người nghe qua đều hớn hở ra mặt, vì nghĩ rằng có học thì sẽ có thả về. Những chữ mới của Việt cộng, như hồ hởi phấn khởi, bọn tù chúng tôi lúc mới nghe lần đầu đều bị dị ứng như phong ngứa nổi lên khắp người. Một anh bạn tính tình xuề xòa nói nhỏ với bạn bè.

-Nghe riết rồi cũng quen thôi mà. Bọn mình đang ở trong rọ, đi với ma thì cứ hồ hởi phấn khởi mặc cái áo giấy. Đợi khi có cơ hội mình cởi bỏ, vứt đi mấy hồi.

Buổi học đầu tiên được tổ chức thật là hoành tráng, hội trường với biểu ngữ do Sơn Fulro và tôi làm được treo cùng khắp, khoảng bảy trăm tù trung úy Ngụy xếp hàng ngay ngắn trong hội trường, khối nào theo khối nấy. Tất cả đều đứng im phăng phắc để chào đón phái đoàn mà tôi đoán là ban giảng huấn.

Sau khi giới thiệu tên của mấy giảng viên và quản giáo. Chỗ này tôi muốn giải thích thêm một chút, tên và việc làm của mấy ông Việt cộng nghe cứ từa tựa như chuyện Phong thần của Tàu. Không Bế văn Đàn lấy thân làm giá súng, thì cũng Phan đình Giót đem thân mình lấp lỗ châu mai, không Lê văn Tám làm ngọn đuốc sống đốt cây xăng của Pháp, thì cũng như Nguyễn thành Trung, ông này làm gì tôi không biết. Những việc làm của họ cũng như những cái tên như vậy, bọn Ngụy chúng tôi nghe xong cứ coi như nghe chú cuội kể chuyện.

Trên bục gỗ một ông Việt cộng tựa như là có cấp bậc cao nhất trong ban giảng huấn, tách khỏi hàng tiến về phía trước, trịnh trọng nói.

-Hôm nay các anh thực sự bắt đầu bước vào học tập để trở thành con người mới, con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Chương trình học gồm có mười bài, mỗi bài sẽ học trong một tuần, bài thứ nhất “Đế quốc Mỹ xâm lược, tên sen đầm quốc tế”, và những tuần lễ kế tiếp sẽ có thêm chín bài nữa. Mỗi bài học các anh sẽ được nghe giảng ở hội trường một ngày, sau đó có hai ngày ở tại tổ viết bài thu hoạch và tự kiểm điểm liên hệ tội lỗi của mình với bài học, ba ngày cuối là tuần tự từng cá nhân đọc bản kiểm điểm của mình trước tổ. Mọi người trong tổ có bổn phận giúp cho người đọc thấu hiểu rõ ràng tội lỗi của mình. Các anh cũng có bổn phận phải vạch rõ những sai trái của bạn mình trong thời gian làm lính Ngụy, đã theo lệnh của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân, phản bội Tổ quốc.

Tôi cùng những ông trung úy Ngụy ngồi trong hội trường, nghe ông cán bộ Việt cộng nói việc chúng tôi cầm súng chống lại đảng Cộng sản cướp nước là “Phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân” nghe cứ ngang như cua. Với tôi, chuyện hai thằng ăn cướp đánh nhau, được làm vua thua phải ở tù điều đó hoàn toàn đúng, thế nhưng chúng tôi là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để bảo vệ quê hương, chống lại cái đảng cướp tên là Cộng sản, câu nói trên không thể áp dụng cho chúng tôi được. Đảng Cộng sản chụp cho chúng tôi cái mũ phản quốc thì đó là hành động của kẻ vừa đánh trống vừa ăn cướp. Biết như vậy nhưng chúng tôi không thể phản đối, vì họng súng AK lúc nào cũng chỉa thẳng vào đầu của chúng tôi. Bao lâu, người dân còn oằn mình mang gông vào cổ thì chuyện bóp méo sự thật, bẽ cong chân lý, vẫn còn trơ ra đó.

Hình minh họa

5 giờ chiều, một ngày nghe giảng ở hội trường chấm dứt, bọn tù chúng tôi lục đục kéo nhau về.

Sang đến ngày học tập thứ hai và thứ ba, chúng tôi được tự do ngồi ngay tại phòng ngủ của mình, khai lại lý lịch ba đời cùng mọi tội lỗi từ lúc bắt đầu cầm súng của đế quốc Mỹ chống phá Cách mạng, cho đến ngày 30 tháng 4. Bọn tù nhân chúng tôi được Cách mạng phát giấy bút và mực cửu long, ngòi bút là ngòi lá tre hay ngòi bắp chuối, mà cách đây khoảng hai chục năm tụi tôi dùng khi còn học lớp năm hoặc lớp tư ở bậc tiểu học. Những ngòi bút ấy tưởng đã biến mất hoặc nằm trong viện bảo tàng, bây giờ không biết tại sao Cách mạng vẫn còn dùng và cấp phát cho chúng tôi. Tôi lặng người nhìn cái ngòi bút lá tre mà lòng đầy thương cảm, nhớ lại cái thuở xa xưa, nhớ ngày đầu tiên cắp sách đến trường rồi bất giác đọc “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều” chưa kịp đọc tiếp thì đã nghe nhiều người trong tổ nối theo “và trên không có những đám mây bàng bạc…” Vì mơ màng như vậy nên khi Việt cộng cho hai ngày để khai lý lịch và tội lỗi, mới nghe qua tưởng là dễ dàng, ngon ăn, thế nhưng khi bắt đầu viết mới thấy khó khăn

Những năm mà chiến tranh Việt Nam leo thang đến tột đỉnh, mùa hè đỏ lửa năm 1972 với những trận đánh hủy diệt kinh hoàng ở An Lộc, Bình Long, Pleiku, Kontum rồi cổ thành Quảng Trị. Với bảy năm lính, tôi chỉ ở một đơn vị và may mắn là lính văn phòng chưa một lần cầm súng bắn nhau với Việt cộng. Cái may mắn này giúp tôi an tâm rất nhiều. Trong khi tôi ung dung nhàn nhã khai báo tội lỗi, thì mấy ông bạn cùng tổ của tôi ở những đơn vị tác chiến phải ngồi cắn bút nhớ lại những chi tiết vụn vặt, nhỏ nhặt, từ ngày vào lính cho đến khi vào tù, đã phục vụ bao nhiêu đơn vị, đụng trận với Việt cộng bao nhiêu lần, tại đâu, có bao nhiêu Việt cộng chết và bị thương.Tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ họ phải ghi vào bản kiểm điểm, và coi đó là phần tội lỗi của mình, khi đã xong phần viết, tiếp đến ba ngày cuối cùng mỗi người có nửa giờ đứng đọc bản thu hoạch của mình trước tổ, và nửa giờ để mọi người góp ý, xây dựng, bổ túc phần thiếu sót dưới sự kiểm soát của quản giáo.

Người đầu tiên đọc kiểm điểm là một trung úy đại đội trưởng thuộc sư đoàn 23, anh ta cầm tờ giấy từ tốn đọc to phần lý lịch, rồi bài học đế quốc Mỹ xâm lược, sau cùng là phần liên hệ tội lỗi của mình. Anh ta đọc kiểm điểm và được mọi người trong tổ giúp đỡ, bài của anh được toàn tổ thông qua với sự đồng ý của quản giáo. Lý do bài viết nhận tội, anh đã khai rõ đụng trận với chiến sĩ Cách mạng mấy chục lần, cùng con số thương vong của cán binh Cộng sản trong những trận ấy.

Người kế tiếp là tôi, sở dĩ tôi được đọc thứ hai, là vì căn cứ theo chỗ ngủ xếp cá hộp trên những tấm vỉ sắt PSP, tính từ cửa trước đi vào. Tờ kiểm điểm của tôi khá đơn giản so với anh bạn đọc trước, trong phần liên hệ tội lỗi tôi ghi ngắn gọn. “Từ ngày ra trường tháng 3 năm 1969, cho đến 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị của tôi là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì là lính văn phòng nên tôi chưa bao giờ bắn một viên đạn, ngoại trừ khi tập bắn ở Quân trường Quang Trung và Trường Bộ Binh Thủ Đức. Chuyện bắn giết chiến sĩ Cách mạng, tôi không có tham dự thậm chí chưa bao giờ thấy mặt chiến sĩ Cách mạng luôn.” Đọc xong tôi đứng chờ đợi phần giúp đỡ của toàn tổ. Trong lòng tôi tin tưởng mình hoàn toàn vô tội, và bài kiểm điểm sẽ được mọi người đồng ý cho qua vì chuyện quá rõ ràng. Đúng như tôi dự đoán, mọi người trong tổ đều đồng ý cho thông qua. Tôi chưa kịp mừng thì quản giáo đã vội lên tiếng.

-Anh Nguyễn trọng Quân chưa thông suốt chủ trương và đường lối của Đảng và nhà nước ta. Một ngày đi lính cho Ngụy, là đã mang tội với nhân dân với Cách mạng rồi. Anh Quân ở trong quân đội Ngụy bảy năm, mang hàm trung úy, lãnh không biết bao nhiêu là bổng lộc của Ngụy quyền. Anh có biết tiền mà bọn Ngụy phát cho anh, ở đâu mà có không? Đó là tiền mà bọn lãnh đạo của Ngụy đã bán đất đai của ông cha để lại cho đế quốc Mỹ, ăn cướp tiền thuế của nhân dân, đem chia cho Ngụy quân các anh.

Tôi nghe quản giáo nói mà chết điếng trong lòng, dù biết rằng, những lời nói của ông ta chỉ là những lời xảo ngôn, thế nhưng bên cạnh những lời nói đó có kèm theo cái án học tập cải tạo mút mùa. Nếu muốn sống để trở về, tôi phải im lặng chấp nhận cái chân lý của kẻ thắng trận.

Hình minh họa

Thấy tôi đứng im lặng, quản giáo nói tiếp.

-Tội lỗi của anh là đã tiếp tay với bọn lãnh đạo của Ngụy đánh phá Cách mạng, cản bước tiến xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa của Việt Nam, bọn Ngụy các anh đã kéo nước Việt Nam đi thụt lùi hàng thế kỷ. Và còn nhiều tội lỗi nữa mà anh phải tự suy nghĩ. Phải tự nhận biết những sai lầm của mình mới mong học tập tiến bộ được. Tội của Ngụy quân các anh cho dù có lấy trúc ở Nam Sơn cũng ghi không hết tội, lấy nước biển Đông Hải rửa cũng không sạch mùi. Tối nay sau giờ họp tổ, anh ra nhà sau viết lại bản thu hoạch, phải thành khẩn khai báo mọi tội lỗi của mình cho đến khi đạt yêu cầu của Cách mạng đề ra mới thôi. Bản thu hoạch của anh sẽ được đọc sau cùng.

Dứt lời, ông quản giáo nhìn anh tổ trưởng rồi ra lệnh.

-Anh có thể cho tiếp tục buổi sinh hoạt.

Tôi ngồi nghe những anh bạn kế tiếp đọc bản kiểm điểm mà lòng đầy lo âu, không biết phải nhận tội như thế nào mới gọi là đạt yêu cầu. Theo lời quản giáo thì một ngày bận áo lính Ngụy, là đã mang tội với Tổ quốc rồi. Thôi thì cố gắng nghe những anh bạn được thông qua, mình ráng cóp cho giống họ là được. Suốt mười tuần lễ học tập, mỗi bài có một sức ép khác nhau, đè nặng lên đầu tù nhân. Sức ép ngày một tăng, cho đến khi tù nhân có cảm tưởng rằng mình đã thật sự gây nên tội lỗi với nhân dân, với Tổ quốc. Thấy được lỗi lầm rồi ghi vào bản tự khai, đó là mục đích yêu cầu mà tù nhân phải nhớ rõ.

Mười tuần lễ học tập rồi cũng qua đi, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ là khoảng đầu tháng sáu của năm 1976, còn vài tuần lễ nữa là tôi đã ở tù được một năm. Sau đợt học tập, cuộc sống của tù nhân bắt đầu trở lại với những sinh hoạt bình thường, sáng vác cuốc đi tối vác về, cuốc nhiều hay ít, trưa đến cũng chỉ chén rưỡi cơm mà thôi.

Khi lao động ở bên ngoài trại, thường thì mỗi khối có bốn vệ binh đi theo canh gác, những người vệ binh này luôn giữ khoảng cách an toàn rất xa, không để cho tù nhân dễ dàng cướp súng, nhưng lại rất gần trong tầm của súng AK. Buổi trưa, khi tôi đang ngồi thưởng thức nắm cơm nguội, từ xa hai anh vệ binh đi về phía chúng tôi, họ hỏi hết người này đến người nọ rồi theo hướng chỉ dẫn của một anh bạn tù, cả hai đi thẳng đến trước mặt tôi. Một trong hai người nhìn vào tờ giấy đang cầm trên tay rồi hỏi.

-Anh là Nguyễn trọng Quân phải không?

Tôi linh cảm có chuyện không hay, nhưng không kịp có thì giờ suy nghĩ, vội vàng trả lời.

-Phải.

Anh vệ binh đưa tay ra dấu.

-Anh theo chúng tôi.

Tôi nhét vội chút cơm còn lại vô miệng, vừa nhai vừa đứng lên đi theo hai anh vệ binh. Họ dẫn tôi đi quanh co, tạt ngang, chẻ dọc, cuối cùng hướng về doanh trại của bộ đội, bên ngoài của trại tù, tôi hoàn toàn không biết gì huống chi đi vào doanh trại của họ. Từ đây thêm khoảng 5 phút lội bộ, chúng tôi đến một khu nhà nằm cách khá xa doanh trại, hai người vệ binh dẫn tôi vào một căn nhà gỗ mái lợp tôn trông cũng khá khang trang, rồi đóng cửa lại. Vừa mới ở ngoài nắng, bị đưa vào một nơi không có ánh sáng, mắt của tôi chưa quen với bóng tối, phải chừng vài phút sau tôi mới tạm thấy rõ mọi nơi. Căn phòng trống rỗng chỉ có một cái bàn và hai cái ghế, nơi góc phòng có một cái chõng tre, giữa phòng hai ông bộ đội đang ngồi hút thuốc lào. Một ông nhìn tôi rồi hỏi với giọng chắc nịch đầy uy quyền.

Hình minh họa

-Nguyễn trọng Quân phải không?

Tôi hơi chột dạ vội vàng trả lời.

-Thưa phải.

Giọng nói của ông ta gắt lên.

-Mày quen thế nào với thằng Long?

Tôi nghĩ ngay đến Long công tử, và tin rằng bạn mình đã trốn trại nên nói.

-Thưa, anh muốn nói đến Long công tử, phải không?

Tôi vừa dứt lời thì ba, bốn cái đấm liên tục nện vào đầu, mặt, mũi của tôi rồi thì đá đạp liên hồi, tôi té lăn quay, nằm dài dưới đất, tiếp theo là vài cái giậm mạnh lên mình, tôi mơ hồ nghe tiếng chửi thề.

-Mẹ bố mày, tao đâu có hỏi thằng công tử nào đâu mà mày nói công với tử.

Dứt lời, hắn tiếp thêm mấy cú đá vô ba sườn của tôi như muốn trút tất cả giận dữ lên người tôi. Nắm cơm tôi vừa ăn lúc nãy ộc ra khỏi miệng, tạo thành một vũng nhỏ bầy nhầy trên mặt đất, với những hạt cơm chưa được tiêu hóa trộn lẩn với chút nước sền sệt màu vàng, một mùi chua lợm giọng bốc lên. Sức chịu đựng của tôi đến đây là hết, tôi sợ đến vãi đái trong quần, nên tìm cách nói thế nào cho họ đừng đánh. Chút lý trí mù mờ trong đầu nói với tôi, chỉ có một cách là nói láo. Trước khi ngất đi hình ảnh ông bán bánh xèo vụt hiện về trong đầu, tôi cố sức thều thào nói.

-Đừng đánh nữa, tôi là con cháu gia đình Cách mạng. Cậu của tôi hiện là…

Tôi hơi ngập ngừng vì không biết chức vụ của ông Năm bánh xèo, cuối cùng tôi nói đại.

-Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt.

Dứt lời tôi mê đi không còn biết gì nữa. Không biết tôi đã thiếp đi bao lâu, khi tỉnh dậy, mọi người đã đi đâu hết rồi, chỉ còn một người bộ đội đang ngồi bó gối nơi ghế, tay ôm lấy chân, tay gõ nhẹ lên mặt bàn, miệng hát nho nhỏ “Cùng mắc võng trên rừng Trường sơn”.

Thấy tôi cựa quậy, mở mắt nhìn, ông ta hỏi.

-Lúc nãy mày nói cái gì?

Tôi cố nhớ lại tất cả diễn tiến trước khi bị bất tỉnh. Phải rồi nếu muốn không bị đánh, phải nói láo, trót phóng lao thì phải theo lao, tôi mạnh dạn nói.

-Thưa anh, cậu tôi hiện là Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt.

Gã bộ đội đổi thái độ, hỏi lại với giọng bớt vẻ cộc cằn.

-Anh nói gì? Cậu anh là bí thư tỉnh ủy?

-Thưa phải.

-Tên ông ấy là gì?

-Thưa anh, tên là Trần Chiến.

Gã bộ đội nhìn vào tờ giấy để trên bàn.

-Anh khai láo với tôi, phải không? Có thân nhân theo Cách mạng, tại sao trước đây anh không khai trong tờ khai lý lịch.

Lúc bấy giờ tự nhiên đầu óc tôi sáng suốt một cách lạ lùng, tôi thản nhiên nói.

Hình minh họa

-Thưa anh, tôi là trung úy Ngụy quân, tôi sợ rằng khai ra sẽ liên lụy đến sự nghiệp Cách mạng của cậu tôi.

Cuộc đối thoại bây giờ đã trở nên nhẹ nhàng, gã bộ đội nói, giọng nói nhỏ lại.

-Anh quen thế nào với trung úy Long, người Sài Gòn ở khối Bình Thuận.

Tôi trả lời anh ta.

-Thưa anh, tụi tôi là bạn cùng chung một khóa sĩ quan ở Trường Bộ BinhThủ Đức.

-Một khóa có nhiều người, tại sao anh lại quen với hắn?

-Tại vì, chúng tôi cùng chung một trung đội, giường ngủ của tôi và Long kế nhau.

Gã bộ đội đưa tay gãi cằm, mắt nhìn lên trời.

-Thân nhỉ, thế thì anh có biết nhà hắn ở Khánh Hội  không?

Tới đây tôi đã đoán ra mọi chuyện. Long công tử đã trốn trại thành công, cho nên gã cán bộ Việt cộng muốn khai thác thêm nơi tôi về tin tức của Long công tử. Trong lòng mừng cho bạn, tôi nói.

-Tôi chỉ quen Long ở quân trường, không biết nhà của nó ở đâu. Tôi chỉ nhớ, ngày xưa Long có nói với tôi là nhà nó ở Khánh Hội.

Gã bộ đội nói.

-Chuyện tên Long, tôi tạm tin lời anh, còn chuyện cậu của anh là bí thư tỉnh ủy, tôi sẽ cho người lên Đà Lạt xác minh lại, hiện tại anh có gì chứng minh cho lời khai của mình không?

Tôi nói không suy nghĩ.

-Tôi có tấm hình mà tôi chụp chung với ông cậu của tôi, để trong xách tay ở bên trại.

Vừa nghe tôi nó xong, gã bộ đội đứng lên rồi nói.

-Được rồi anh nghỉ đi.

Dứt lời, gã biến mất sau cánh cửa gỗ duy nhất trong phòng. Còn lại một mình, lúc này tôi mới thấy đau nhức cả thân mình, toàn thân của tôi chỗ nào cũng ê ẩm, đụng tới đâu, đau tới đó. Tôi đưa tay sờ nắn khắp mọi nơi với hy vọng là không bị gãy xương, chuyện gì chứ gãy xương ở trong tù thì chỉ có chết. Sau một hồi xoa bóp, cử động chân tay, tất cả đều hoạt động bình thường. Trong lòng mừng thầm, tôi nhắm mắt rồi ngủ quên luôn.

Mãi cho đến khi tôi thức giấc, ngọn đèn điện vàng hoe treo giữa phòng đã bật sáng tự lúc nào, tỏa chút ánh sáng mù mờ yếu ớt lên khắp căn phòng.Tôi biết bây giờ là từ khoảng 7 giờ cho tới 10 giờ đêm, vì đây là giờ mà máy phát điện riêng của trại tù Sông Mao chạy. Trong cái im vắng của đêm đen, tôi chợt nghe vài tiếng động vang lên, rồi cánh cửa của căn phòng bỗng mở rộng, gã bộ đội bước vào, một tay cầm đèn pin, tay kia nắm cái xách tay của tôi, hắn thong thả để xuống bàn rồi nói.

-Cái xách tay này của anh, phải không?

Tôi gật đầu.

-Thưa phải.

Gã bộ đội lục trong xách, lấy ra tấm hình mà tôi chụp chung với ông bánh xèo đưa lên. Gã nhìn tấm hình rồi nói.

Hình minh họa

-Tấm hình màu này cậu cháu nhà anh chụp ở đâu mà đẹp thế, nhất là anh mặc bộ đồ vàng của Ngụy, trông cứ như là ông tướng.

Vì muốn lấy lòng gã bộ đội, tôi tiếp lời.

-Thưa anh, tướng cướp thì có.

Gã bộ đội lật ra mặt sau tấm hình, lẩm bẩm đọc.

-Trần Chiến.

Quay nhìn tôi, ông ta hất hàm.

-Cậu của anh tên là Trần Chiến?

-Dạ phải.

Nói xong tôi mới nhớ lại tấm hình được tôi kẹp vào giữa xấp tiền đô la và tiền mới, thêm cái “đồng hồ hai cửa sổ”, tất cả được gói gọn trong một bao ni lông, nhét ở đáy của túi xách. Gã bộ đội ngồi chống tay lên cằm, vẻ mặt đăm chiêu tư lự.

-Theo tin tức tình báo mà chúng tôi được biết, trước khi bọn Mỹ Ngụy tháo chạy, tình báo CIA của Mỹ có gài lại một số mật báo viên, bọn người phản quốc này làm việc cho CIA được trả lương bằng tiền mới của nhà nước ta, thậm chí còn có cả đô la nữa. Chúng tôi đang điều tra trong trại tù này, nếu tìm ra bọn tình báo làm cho đế quốc Mỹ, hắn sẽ bị Cách mạng thẳng tay trừng trị, khó lòng mà thoát khỏi cái án tử hình.

Nghe gã bộ đội nói tôi chợt hiểu ra, và một nỗi lo sợ bỗng đâu ập đến, càng nghe gã nói mồ hôi của tôi càng đổ ra mỗi lúc một nhiều. Cái án tử hình khiến tôi cảm thấy lạnh cả người. Trên đời không có cái ngu nào giống cái ngu nào. Ngay từ đầu, nếu tôi nói có liên hệ với Long thì mọi chuyện đã êm xuôi.Vì khi Long công tử trốn trại, tôi chỉ bị nhốt conex vài tuần, còn nếu nặng lắm cũng chỉ vài tháng. Khi khai láo là tôi có ông cậu là bí thư tỉnh ủy, tôi quên mất số tiền năm trăm đô la cùng với mấy trăm tiền mới, để chung với tấm hình. Giờ đây số tiền đó là chứng cớ để buộc tội tôi có làm việc cho CIA. Thú thật tôi chỉ muốn van xin gã bộ đội cho tôi khai báo lại cho đúng. Nhưng mà nghĩ cho cùng, nếu khai đúng nguồn gốc của số tiền đô la lại liên hệ tới vợ tôi ở Đà Lạt. Khi nhớ đến vợ, bỗng dưng hai hàng nước mắt của tôi đua nhau lăn dài trên má. Thấy tôi khóc, gã bộ đội đẩy nhẹ cái xách tay về phía tôi. Ông ta nói với giọng nói chắc nịch.

-Anh hãy nghe cho kỹ, tôi đã kiểm soát trong xách tay của anh, chỉ thấy một cái mùng, một cái mền vải mỏng nhẹ và một tấm hình, ngoài những thứ đó ra, không có gì khác, không tiền, không đô la, không đồng hồ. Đúng không?

Nghe gã bộ đội nói mà tôi mừng như vừa chết đi sống lại, người cứ nhẹ như đang đi trên mây. Bị tuyên án tử hình rồi lại được cho trắng án, còn gì mừng hơn. Phải rồi, tôi không có gì cả, không có gì hết cả.

Tôi nói to.

-Thưa cán bộ, trong xách tay của tôi chỉ có một cái mền, một cái mùng, ngoài những thứ đó ra không có gì khác.

Gã bộ đội đưa cho tôi một xấp giấy, với giọng nói hết sức là hiền từ.

-Anh ngồi viết bản tự khai, nhớ viết cho đúng những gì anh vừa nói, vì đây là bằng chứng xác nhận là anh vô tội. Khi xong, anh ký vào và đưa cho tôi.

Tôi run tay nhận xấp giấy với cây bút và bắt đầu viết, gã bộ đội mở cửa đi ra ngoài. Nửa giờ sau, khi tôi viết xong bản tự khai, gã bộ đội cũng trở lại với một tô cơm đầy vun có ngọn. Sau khi đọc xong tờ tự khai của tôi, một nụ cười tươi tắn nở trên môi gã bộ đội.

-Anh đói lắm rồi phải không? Ăn cơm đi, trong cơm có cả cá kho nữa đấy, tối nay anh ngủ tại đây trên cái chõng tre ở góc phòng, ngày mai tôi sẽ cho người đưa anh về trại.

Gần một năm rồi, hôm nay tôi mới được thoải mái ăn một tô cơm đầy vun như ngọn núi. Tôi ăn cơm nhưng mắt liếc nhìn gã bộ đội với gương mặt sáng rỡ, tươi rói, giống hệt như cái lão phú ông trong chuyện thằng bờm, với cái triết lý hiện thực chủ nghĩa mà lòng đầy sung sướng. Đang ở tù mới thoát khỏi án tử hình, lại được ung dung ngồi thưởng thức một tô cơm to bự với cá kho thì còn gì hạnh phúc hơn. Thì ra cái triết lý đơn sơ giản dị như vậy, cho đến hôm nay tôi mới thấm nhuần. Tôi và một miếng cơm đầy miệng, gắp thêm miếng cá nho  nhỏ, rồi chầm chậm nhai, vừa nhai vừa thưởng thức vị ngọt của cơm trắng trộn với chút mằn mặn của cá kho, thêm mùi thơm của nước mắm, của cá, mà cả năm rồi tôi chưa được ngửi. Hạnh phúc là đây, cần gì phải đi tìm ở đâu xa xôi cho mệt. Tôi nhìn gã bộ đội một lần nữa, rồi nghĩ đến câu cuối của bài đồng dao mà trẻ con vẫn thường hay hát khi chơi đùa trên hè phố “Phú ông xin đổi nắm xôi, bờm cười”. Người đời vẫn thường hay thắc mắc về tiếng cười của thằng bờm. Riêng tôi, tôi tin rằng đó là nụ cười vui vẻ chấp thuận, chứ không phải cái cười chê õng chê eo vì một sự trao đổi bất tương xứng.