Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Kỳ 10

Ngày 19 tháng 5-1953 trung tướng Henri Navarre đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất trên cùng chuyến phi cơ trắng bạc của đại tướng Jean de Lattre ba năm trước. Trong ký sự Phiêu lưu, Nhục nhã và Sa lầy, Lucien Bodard ghi lại giây phút de Lattre xuất hiện: “Tôi chưa thấy một diễn viên nào bước ra sân khấu thành công như de Lattre ở Đông Dương. Lập tức sắm vai chính trong tấn tuồng bi kịch của Corneille – một Horace chưa luống tuổi và một đại tướng cũng đầy tàn khốc. De Lattre không diễn vai thù hận nhưng của kiêu ngạo. Giây khắc đầu tiên dẫm chân lên Đông Dương, de Lattre giành cho khinh bỉ, để chặt đứt hoàn toàn một quá khứ thảm bại, nhục nhã và tội tệ. Chưa ai biết, như de Lattre, biến nỗi yếm thế thành sức áp đảo. Khi ấy, “vua Jean” sở hữu sự oai vệ ngạo mạn của một vương quyền.” Đại tá Jules Roy, một nhà văn quân đội, ghi cảnh Navarre xuống máy bay: “Xuất hiện trước ngưỡng cửa của chiếc Constellation, Navarre không chỉ ngộp vì sức nóng tương tự như ở Calcutta. Một tướng lĩnh khác cũng sẽ khó khăn cưỡng lại nghi lễ nghênh tiếp. Dĩ nhiên Navarre biết rõ các nghi thức từ thời xách cặp cho các đại tướng và các thống chế. Nhưng lần này, Navarre là vị vương tử mà mọi người chờ đợi, và dưới mũi, đã dậy vang kèn trống cũng những lời xiểm nịnh.” Hai văn phong, hai cung cách, một ca tụng còn một miệt thị. Vì sao Jules Roy cay nghiệt với Navarre? Vì Navarre gần như trải suốt binh nghiệp trong lĩnh vực quân báo, trưởng phòng nghiên cứu lục quân Đức năm 1939, trưởng phòng Nhì tại Bắc Phi năm 1940, giám đốc An ninh quân đội rồi chánh văn phòng của đại tướng Koenig sau thế chiến, rồi làm tham mưu trưởng cho thống chế Juin tại Trung-Âu. Với một danh thiếp như thế, Navarre bị xem thiếu nhạy bén trận địa, thiếu linh cảm chiến trường vì chưa hề trận mạc. Với các quân nhân tác chiến, sự thiếu kinh nghiệm cầm quân của tân tổng chỉ huy là một khiếm khuyết khó tha thứ.

Chính vì chưa từng chỉ huy ngoài mặt trận đã khiến Navarre chọn sai tư lệnh Bắc phần René Cogny và cả hai sẽ cùng chọn lầm tư lệnh Biên Biên Phủ Christian de Castries, rồi đến lược de Castries chọn nhầm chỉ huy trưởng pháo binh Charles Piroth quá tự tin đến mức không thiết lập công sự bảo vệ vị trí pháo. Jules Roy còn ghi lại mẩu đối thoại tàn nhẫn xảy ra buổi chiều ngày 2 tháng 4-1954 sau khi các cứ điểm Béatrice, Gabrielle, Anne-Marie, Dominique đã rơi vào tay Việt Minh:

“- Nếu ông không phải là tướng 4 sao, Cogny gầm lên, tôi đã tát vào mặt ông. Navarre tím tái. Bên kia bức vách, cô thư ký đã nghe những to tiếng, chỉ có hai tướng lĩnh trong phòng. Cogny lấy lại bình tĩnh và bước ra.

– Tôi yêu cầu anh giữ kín chuyện này giữa chúng ta. Navarre nói.

– Tôi xem đây là bổn phận trước nhất của mình. Cogny trả lời khi chập gót giày.”

[La Bataille de Dien Bine Phu, Jules Roy, trang 257, Nxb Julliard, 1963]

Không phải một đối đáp giữa cấp trên và cấp dưới. Hơn một chửi bới, một thù hận. Navarre bước ra sân khấu Đông Dương đã phải sắm vai ác của một tướng cướp sớm bị lâu la nguyền rủa. Sự thiếu uy quyền sẽ khiến Navarre khó khăn điều động thuộc cấp trong trận chiến. Thiếu tướng Cogny chống đối hành binh Atlante tái chiếm Phú Yên. Chuẩn tướng Dechaux chỉ huy Không đoàn Chiến thuật Bắc phần GATAC-Nord và đại tá Nicot chỉ huy phi đoàn vận tải cải vả với Navarre qua thư. Điện Biên Phủ nhìn từ phía Pháp, là một thảm kịch nhân sự của các nhân vật sắm vai chánh thiếu chuẩn bị và nhận sai vai thủ diễn.

Còn phía Việt Minh? Tất nhiên là đại thắng vinh quang trên giá máu xương của 25,000 bộ đội thương vong. Nhưng nếu đọc kỹ chương Quyết chiến Điện Biên Phủ của Vũ Hóa Thầm, người đọc không thể không suy nghĩ: Chừng như Hồ Chí Minh không tin tưởng vào khả năng quân sự của Võ Nguyên Giáp, đã phải hỏi Vi Quốc Thanh: “theo đồng chí trước mắt nên nắm những việc nào trước?” Cũng chính Hồ Chí Minh cho Vi Quốc Thanh hay Võ Nguyên Giáp bị chấn động mạnh khi đọc kế hoạch Navarre do tình báo Hoa-Nam đánh cắp. Vì sao một chủ tịch nước không nhìn thấy thiên tài của vị đại tướng đang chỉ huy Quân đội Nhân dân? Là câu hỏi.

[Trần Vũ]

 Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy


Quyết chiến Điện Biên Phủ (thượng)

Hai ngày sau Mao Trạch Đông tiếp kiến, Vi Quốc Thanh cùng mấy cán bộ mới bổ nhiệm cố vấn quân sự đáp tàu hoả đi xuống phía Nam. Trong toa xe ghế mềm thoải mái, đồng chí nhìn thấy cảnh sắc cuối thu trên đồng bằng miền Bắc không ngừng lướt qua ngoài cửa sổ, trong lòng lại nghĩ đến tình hình chiến sự Việt Nam. Trong thời gian hơn ba tháng rời Việt Nam, trong bức điện La Quý Ba gửi Trung ương mà đồng chí Tổng tham mưu trưởng cho đồng chí xem, Vi Quốc Thanh hiểu được sự thay đổi to lớn của hai bên địch – bạn trên chiến trường Việt Nam. Đồng chí cảm thấy thấm thía phương châm chiến lược và mấy biện pháp quan trọng của Mao Trạch Đông nêu ra là rất kịp thời, rất chính xác. Đồng chí trù tính với đầy lòng tin là sau khi đến Việt Nam, triển khai công tác như thế nào, làm cho những kế hoạch, ý tưởng này trở thành hiện thực, mở ra cục diện mới cho cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam.

Sau khi đến Nam Ninh, dừng lại có chút việc, Vi Quốc Thanh và các đồng chí cùng đi lại lên ôtô ra Mục Nam Quan (nay gọi là Hữu Nghị Quan), về nơi ở của Đoàn cố vấn quân sự trong rừng Việt Bắc. Khi đến nơi đã là ngày 25/10. Vi Quốc Thanh lập tức thông qua Võ Nguyên Giáp xin gặp chào Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh nghe nói Vi Quốc Thanh trở lại Việt Nam rất phấn khởi, liền sắp xếp gặp đồng chí vào ngày 27.

Ngày 26/10, trước hết Vi Quốc Thanh truyền đạt chỉ thị của Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài cho La Quý Ba, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, đồng thời nghe các cố vấn báo cáo tình hình. Đồng chí được biết thêm sau khi quân Pháp chủ động rút khỏi Nà Sản ngày 12/8, quân đội Nhân dân từ trên xuống dưới đều thở phào nhẹ nhõm, tưởng rằng không cần lên Tây Bắc tác chiến nữa. Họ nhằm vào tình hình mới vì quân Pháp tập trung binh lực cơ động ở Bắc Bộ, nên họ lại đặt trọng điểm tác chiến vào vùng đồng bằng Bắc Bộ, chủ trương phân tán tập kích, chia quân ứng phó, bố trí phân tán bộ đội chủ lực ở các nơi Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nho Quan, v.v… để đối phó tấn công có thể của quân địch. Do họ bỏ Tây Bắc, nên Ngụy quân, đặc vụ ở đấy thừa cơ phát triển, gây trở ngại cho việc tiến quân trở ại lên Tây Bắc. Cùng với chuyển biến của tư tưởng chiến lược này, vật tư hậu cần bố trí ở Thái Nguyên và tuyến bắc Bắc Giang – Bắc Ninh, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hành động tiếp theo.

Sau hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 ra quyết định không thay đổi phương châm chiến lược tiến quân lên Tây Bắc, bắt đầu công tác chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc lần thứ hai. Nhưng những người lãnh đạo quân đội thiếu thống nhất với chuyển biến nhận thức này, hành động tương đối chậm chạp, công việc tiến triển không nhanh. Tóm lại, việc tiến quân lên Tây Bắc còn rất nhiều vấn đề chờ giải quyết.

Ngày 27, Vi Quốc Thanh được Võ Nguyên Giáp đi cùng, cưỡi ngựa đến “dinh rừng trúc” của Hồ Chí Minh, cách hàng chục dặm. Hồ Chí Minh vừa thấy Vi Quốc Thanh lập tức ôm hôn thắm thiết. Cùng dự có Trường Chinh cũng ôm hôn đồng chí, Vi Quốc Thanh chuyển kiến nghị của Mao Trạch Đông về chiến lược Nam tiến và mấy biện pháp quan trọng và ý kiến của Bành Đức Hoài về phương pháp tác chiến và vấn đề xây dựng quân đội trong tình hình chiến tranh hiện nay, đến Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp và trực tiếp đưa cho Hồ Chí Minh bản tiếng Pháp kế hoạch kế hoạch quân sự Navarre.

Cách một hôm, Hồ Chí Minh hành trang gọn nhẹ, bất ngờ đến thăm Vi Quốc Thanh. Người hồ hởi nói với Vi Quốc Thanh: “Cám ơn đồng chí từ Bắc Kinh mang đến cho chúng tôi hai món quà rất tốt. Một là kiến nghị của Mao Chủ tịch đối với tác chiến về sau, giúp chúng tôi rất lớn. Tôi và các đồng chí Bộ Chính trị đều cho rằng ý kiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là đúng đắn. Thực hành những phương châm và biện pháp đó nhất định có thể đập tan kế hoạch Navarre. Tôi đã gửi điện cho đồng chí Mao Trạch Đông, tỏ rõ thái độ của chúng tôi, kiên quyết làm theo. Hai là bản tiếng Pháp kế hoạch quân sự Navarre, cũng rất giúp ích chúng tôi, làm cho chúng tôi càng hiểu địch hơn trên toàn cục. Đồng chí Võ Nguyên Giáp sau khi xem kế hoạch Navarre bị chấn động mạnh, tỏ ra thông suốt tư tưởng, hoàn toàn ủng hộ phương châm chiến lược giải phóng Tây Bắc, Thượng Lào trước rồi từng bước tiến về phía Nam”. Hồ Chí Minh ngừng một lát rồi nói tiếp: “Đồng chí Vi, theo đồng chí trước mắt nên nắm những việc nào trước?”.

Vi Quốc Thanh trả lời rằng: “Tôi cho rằng điều chủ yếu nhất trước mắt là vạch kế hoạch tác chiến tấn công mùa đông. Dựa vào kế hoạch đó để thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, thì các công việc dễ triển khai”. Hồ Chí Minh nói luôn: “Rất tốt, rất tốt, hoàn toàn nhất trí với suy nghĩ của tôi; đồng chí phải giúp đồng chí Võ Nguyên Giáp vạch ra kế hoạch tác chiến thật nhanh, đưa Bộ chính trị thảo luận thông qua. Việc này giao cho đồng chí ”.

Vi Quốc Thanh nói: “Xin Hồ chủ tịch yên tâm, tôi sẽ cùng đồng chí Võ Nguyên Giáp bàn bạc kỹ lưỡng, vạch ra kế hoạch này nhanh nhất”. Hồ Chí Minh cám ơn và từ chối mời cơm của Vi Quốc Thanh, vội ra về. Với sự giúp đỡ trực tiếp của Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh, kế hoạch tác chiến tấn công mùa đông 1953-1954 của quân đội Việt Nam được vạch ra rất nhanh. Ngày 3/11, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận thông qua kế hoạch này. Vi Quốc Thanh điện báo cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nội dung chủ yếu của kế hoạch này và được đồng ý. Những điểm chủ yếu của kế hoạch tác chiến này là :

  1. Hướng chủ yếu của tác chiến mùa đông là vùng Lai Châu – Tây Bắc. Sử dụng đại đoàn 308, 316 (thiếu 1 trung đoàn) và trung đoàn 148 của vùng Tây Bắc cùng 4 tiểu đoàn pháo binh và 2 tiểu đoàn công binh, tất cả binh lực là 25.000 người, ngày 10/1/1954 bắt đầu tấn công Lai Châu. Sau thắng lợi, dùng binh lực của hai trung đoàn, đầu tháng 2 tiến quân lên Phong Xa Lì – Thượng Lào. Cuối tháng 2, hai đại đoàn này lần lượt tiến sát Luông PraBang và xem tình hình đánh chiếm Huộc Xãi. Một trung đoàn khác cắm giữa Xiêng Khoảng và Luông Prabang triển khai đánh du kích.
  2. Phần lớn binh lực của các đại đoàn 312, 304 lần lượt kín đáo tập kết ở vùng Tây Bắc và Tây Phú Thọ, đại đoàn 320 tập kết giữa phủ Nho Quan và Thanh Hóa chuẩn bị khi bộ đội cơ động của quân Pháp ở đồng bằng sông Hồng, tiến theo hướng Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Thanh Hoá v.v.. dụ địch vào sâu, tiêu diệt một bộ phận của chúng.
  3. Đồng thời với tiến quân lên Tây Bắc, 1 trung đoàn thuộc đại đoàn 304 và 1 trung đoàn thuộc đại đoàn 325 lần lượt tiến quân sang Trung Lào theo quốc lộ 8 và quốc lộ 12. Sau khi hai trung đoàn hợp lại, xem tình hình tấn công chiếm Thà Khẹt, thị trấn quan trọng ở Trung Lào cắt đứt phòng tuyến của địch trên quốc lộ 13 và sông Mêkông.
  4. Đồng thời với tiến quân lên Thượng Lào, cử một tiểu đoàn tăng cường để phối hợp với cán bộ đảng, chính quyền quân đội triển khai công tác ở vùng mới, cắm vào vùng Đông cao nguyên Bô Lô Ven – Hạ Lào. Đồng thời, hai trung đoàn của Liên khu 5 đánh chiếm vùng Bắc cao nguyên Tây Nguyên, sau đó tiến về phía Tây tạo nên thế Nam-Bắc đánh kẹp Hạ Lào.

Kế hoạch tác chiến này thể hiện tương đối đầy đủ kiến nghị của Mao Trạch Đông về kế hoạch chiến lược đặt cơ sở thắng lợi cho toàn bộ tác chiến tấn công mùa đông và trận quyết chiến Điện Biên Phủ về sau :

Để thực hiện thuận lợi kế hoạch tác chiến mùa đông này, từ 19-24 tháng 11, Tổng Quân uỷ QĐNDVN họp hội nghị cán bộ cấp cao. Đây là cuộc hội nghị quân sự quy mô lớn nhất trong chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, đến dự hội nghị không chỉ có cán bộ cao cấp của bộ đội tham gia chiến đấu mà còn có các đồng chí phụ trách các chiến khu Trung Bộ và Nam Bộ. Lãnh đạo và cố vấn của Đoàn cố vấn quân sự cũng dự hội nghị.

Tại hội nghị, Võ Nguyên Giáp trước tiên tuyên bố kế hoạch tác chiến tấn công mùa đông, và động viên ngắn gọn. Sau đó đi vào thảo luận. Trong thảo luận, những người dự hội nghị tuy nhất trí bày tỏ ủng hộ kế hoạch tác chiến này, nhưng vẫn bộc lộ tư tưởng ngại khó của một số người nhận thức mơ hồ và nhấn mạnh khó khăn quá mức. Ngày thứ hai hội nghị, tức 20/11, không quân Pháp thả lính dù chiếm đóng Điện Biên Phủ. Được tin, vấn đề đối xử với tình hình sau đấy như thế nào, trở thành vấn đề được mọi người quan tâm chú ý.

Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh cho rằng, mục đích địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là âm mưu ngăn chặn quân đội Việt Nam giải phóng hoàn toàn Tây Bắc và tiến quân lên Thượng Lào. Đây là một việc tốt, tạo thời cơ có lợi cho quân đội Việt Nam, cũng làm cho lực lượng cơ động của địch càng phân tán hơn. Qua trao đổi với Võ Nguyên Giáp, đi đến nhận thức nhất trí. Ngày 23, Võ Nguyên Giáp phát biểu tổng kết hội nghị. Đồng chí sắp xếp phát biểu hôm kết thúc hội nghị. Vi Quốc Thanh tuân theo chỉ thị của Mao Trạch Đông muốn đồng chí làm nhiều công tác tư tưởng đối với cán bộ cao cấp quân đội Việt Nam, đã chuẩn bị đầy đủ.

 Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Trung tướng Navarre, đại tá de Castries, thiếu tướng Cogny tại Điện Biên Phủ tháng 12-1953.

Hành quân Castor 20 tháng 11-1953: Chiến đoàn Không vận GAP1 và GAP2 chiếm lòng chảo Mường Thanh.

Thiếu tướng René Cogny tư lệnh Bắc phần và chuẩn tướng Jean Gilles,   chỉ huy ban đầu của căn cứ không lục Điện Biên Phủ.

Đại đội 17 Công binh Chiến đấu Nhảy dù tại Hồng Cúm, Mường Thanh.

Binh sĩ VN của tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 Săn Giặc Nhảy Dù (II/1er RCP) tại Dropping zone Simone.

Xác bộ đội Việt Minh của tiểu đoàn 910 trung đoàn 148 ven sông Nậm Rốm sau giao tranh với quân Dù sáng 20 tháng 11-1953.

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Kỳ 9

Từ 1952 Phòng Nhì Pháp xác định quân đoàn tác chiến Việt Minh tăng lên 7 sư đoàn chính quy cùng 13 trung đoàn độc lập:  

  • Sư đoàn 304 (Hoàng Minh Thảo), trung đoàn 9, 57, 66 trách nhiệm ung thối châu thổ sông Hồng, hậu cứ Thanh Hóa.
  • Sư đoàn 308 (Vương Thừa Vũ), trung đoàn 36, 88, 102 nhiệm vụ vận động chiến, hậu cứ Thái Nguyên.
  • Sư đoàn 312 (Lê Trọng Tấn), trung đoàn 141, 165, 209 nhiệm vụ vận động chiến, hậu cứ Yên Bái.
  • Sư đoàn 316 (Lê Quảng Ba), trung đoàn 98, 174, 176 chuyên đánh miền núi, phụ trách thượng du Bắc–Việt và thượng Lào.
  • Sư đoàn 320 (Văn Tiến Dũng), trung đoàn 48, 52, 64 phụ trách ung thối đồng bằng, hậu cứ Phủ Nho Quan.
  • Sư đoàn 325 (Trần Quý Hai), trung đoàn 18, 95, 101 trách nhiệm Liên khu IV (Nghệ Tĩnh,Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên).
  • Sư đoàn 351 Công Pháo (Vũ Hiến), trung đoàn pháo binh 45, 675, Cao xạ 237, 367, Công binh 151.

Các trung đoàn độc lập:

  • Trung đoàn 148: trách nhiệm miền Thái.
  • Trung đoàn 42: trách nhiệm Hưng Yên.
  • Trung đoàn 46: trách nhiệm Thái Bình.
  • Trung đoàn 238, 246: bảo vệ Tổng bộ và an toàn khu Việt-Bắc.
  • Trung đoàn 96, 108, 803: phụ trách Liên khu V (Quảng Nam,Quảng Ngãi,Bình Định, KonTum, Gia Lai).
  • Trung đoàn 950 Đặc công Nội thành: nhiệm vụ khủng bố Sàigòn.
  • Trung đoàn Đồng Nai: tiểu đoàn 301, 302, 303, 304 trách nhiệm Biên Hòa, Trảng Bom, Long Khánh.
  • Trung đoàn Đồng Tháp Mười: tiểu đoàn 307, 309, 311 trách nhiệm Sa–Đéc, Kiến Phong, Đồng Tháp.
  • Trung đoàn Cửu Long: tiểu đoàn 308, 310, 312 trách nhiệm Trà Vinh.
  • Trung đoàn Tây Đô: tiểu đoàn 402, 404, 406 trách nhiệm Cần Thơ, Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện.

Tổng quân số 110,000 cán binh + 200,000 du kích và bộ đội địa phương của chủ lực Miền.

[Jean-Pierre Pissardy, Paras d’Indochine, trang 118, Nxb SPL, 1982]

 Thay thế Raoul Salan, trung tướng Henri Navarre đến Đông Dương tháng 5-1953. Kế hoạch Navarre bao gộp 4 điểm:

1/ Trong năm 1954 lui về thế thủ tại Bắc phần, hành quân biệt kích phá hủy kho tàng đối phương nhưng không chấp nhận giao chiến bên ngoài phòng tuyến de Lattre. Lý do: Tổng trừ bị của quân Liên hiệp Pháp tương đương với 3 sư đoàn (7 Liên đoàn Lưu động, 2 Liên đoàn Không vận, 1 trung đoàn pháo binh Dù) bị Việt Minh áp đảo trên mặt quân số. 

2/ Trung phần: Tái chiếm các tỉnh lỵ từ Phú Yên lên đến Quảng Ngãi.

3/ Nam phần: Hoàn tất bình định và kiện toàn quân đội quốc gia.

4/ Bước sang 1955, sau khi hình thành khối cơ động hùng hậu gồm 2 sư đoàn nhảy dù và 7 sư đoàn bộ chiến Pháp-Việt sẽ phản công ra Bắc, đánh giàn trận trực diện với quân đoàn tác chiến Việt Minh.

Thượng Lào, thung lũng Mường Thanh (xứ Thái tự trị) không có trong kế hoạch này. Navarre sẽ bị động vì Vi Quốc Thanh quyết đánh lên miền Thái uy hiếp Luang Prabang khiến chính phủ Pháp phải cam kết bảo vệ Lào, đưa đến trận Điên Biên Phủ. 

Chương Quyết Chiến (thượng) của Vu Hóa Thầm xác nhận kế hoạch Navarre bị gián điệp Trung Cộng đánh cắp và chuyển cho Việt Minh. Biết trước ý định của Navarre, Bắc Kinh đề ra hướng chiến lược thích ứng, là tiếp tục đánh lên Tây Bắc, ngược với phương án của Võ Nguyên Giáp vẫn kiên trì tiến xuống châu thổ sông Hồng. Vu Hóa Thầm ghi rõ: “Lúc này, người lãnh đạo quân đội Việt Nam lại chuyển hướng tấn công chính của tác chiến mùa đông sang vùng đồng bằng sông Hồng [..] Võ Nguyên Giáp phát biểu nghiêng về tác chiến chính diện ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ. [..] Qua hội nghị thảo luận, Hồ Chí Minh rút ra kết luận phương hướng chiến lược không thay đổi, tiếp tục tấn công vùng Tây Bắc và Thượng Lào, phủ định phương án tập trung chủ lực vào tác chiến ở đồng bằng Bắc bộ.” Chính trong năm 1953 thiên tài quân sự của Võ Nguyên Giáp đã bị Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị Đảng Lao động VN (Trường Chinh) gạt đi. Có phải các đồng chí đã không nhận ra thiên tài ở đại tướng? [Trần Vũ] 

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp 

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Quyết chiến Điện Biên Phủ (thượng)

Sau thất bại nặng nề liên tiếp của quân Pháp ở Tây Bắc, Thượng Lào, Tổng chi huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lại thay ngựa. Raoul Salan kế nhiệm Jean de Lattre de Tassigny bị cách chức, thay thế ông ta là tướng Henri Navarre nguyên Tham mưu trưởng bộ đội Pháp đóng ở Trung Âu. Hy vọng của chính phủ Pháp kết thúc một cách “thể diện” chiến tranh Đông Dương gửi gắm vào Navarre.

Sau khi lên nhậm chức, Navarre đã phân tích nghiên cứu tình thế chiến trường Đông Dương, nhanh chóng vạch ra một kế hoạch quân sự hòng thoát khỏi bị động, giành lại chủ động, làm cho chiến tranh xâm lược chuyển bại thành thắng trong vài ba năm. Những điểm chủ yếu của kế hoạch này là: 1. Gấp rút tổ chức và huấn luyện nguỵ quân Bảo Đại (Hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, Việt Nam) chốt giữ cứ điểm để quân Pháp tập trung tổ chức thành tập đoàn chủ lực làm nhiệm vụ tác chiến cơ động; 2. Thực hành phương châm quân sự Nam trước Bắc sau, mưu đồ chiếm đóng toàn bộ vùng giải phóng và vùng du kích Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Trước mùa xuân 1954 nhằm ổn định hậu phương chiến lược của quân Pháp. Mùa đông 1954 đến mùa xuân 1955, trên cơ sở tổ chức xong tập đoàn chủ lực, tập trung toàn bộ binh lực quyết chiến với chủ lực Việt Nam ở Bắc Bộ, giành thắng lợi có tính quyết định.

Để thực hiện kế hoạch Navarre, nước Pháp điều động từ bản quốc, Bắc Phi và Triều Tiên 12 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh tăng viện cho quân viễn chinh xâm lược. Chính quyền bù nhìn Bảo Đại tiến hành tổng động viên, ra sức bắt lính bổ sung cho quân nguỵ, từ tháng 5/1953 đến tháng 3/1954, tổng cộng được 107 tiểu đoàn quân nguỵ. Đến mùa thu 1953 quân Pháp tập trung tổng cộng 84 tiểu đoàn binh lực cơ động tại chiến trường Đông Dương. Tháng 8/1953, quân Pháp điều chỉnh bố trí từ bỏ Nà Sản, không vận toàn bộ binh lực đóng ở Nà Sản về đồng bằng Bắc Bộ, tăng cường lực lượng cơ động. Trong thời gian này quân Pháp ráo riết càn quét vùng địch hậu Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ, hòng tiêu diệt chủ lực quân đội Việt Nam và du kích vũ trang.

Kế hoạch Navarre được đế quốc Mỹ tán thưởng và ủng hộ. Sau đình chiến ở Triều Tiên để thực hiện chiến lược toàn cầu của mình, Mỹ ráo riết can thiệp vào Đông Dương, quyết định tăng 50% viện trợ quân sự cho Pháp, chi 400 triệu USD để xây dựng Ngụy quân Việt Nam và cung cấp số lớn trang bị quân sự, để bổ sung cho quân Pháp và vũ trang quân Ngụy.

Pháp–Mỹ ra sức cấu kết, tích cực thúc đẩy kế hoạch Navarre, làm cho phía Việt Nam cảnh giác và coi trọng. Sau khi quân Pháp rút khỏi Nà Sản vào trung tuần tháng 8, cần phải thay đổi kế hoạch tác chiến mùa đông đã định trước đây mà mục tiêu chính là tấn công Nà Sản. Nhận định, tình hình mới như thế nào, chọn hướng tấn công quan trọng của tác chiến mùa đông ở đâu? Trở thành vấn đề to lớn cần được nghiên cứu giải quyết. Ngày 13/8, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông báo cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tình hình mới quân Pháp rút khỏi Nà Sản và đề nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc “giúp đề xuất ý kiến” đối với vấn đề nhận thức tình hình và phương hướng tác chiến từ nay về sau.

Lúc này, người lãnh đạo quân đội Việt Nam lại chuyển hướng tấn công chính của tác chiến mùa đông sang vùng đồng bằng sông Hồng, từ bỏ kế hoạch đã định đánh lấy Lai Châu, rút bộ đội bao vây Nà Sản về vùng Thanh Hoá, Trung Bộ Việt Nam. Ngày 22/8, Bộ chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp thảo luận vấn đề tác chiến. Trong cuộc họp, Võ Nguyên Giáp phát biểu nghiêng về tác chiến chính diện ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ. Không nhắc đến đánh lấy vùng Lai Châu, cũng không chủ trương mở thêm chiến trường Thượng Lào. Hội nghị không ra được quyết định vấn đề tác chiến mùa đông. La Quý Ba được mời tham gia hội nghị này và báo cáo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tình hình hội nghị này.

Ngày 27, 29 tháng 8, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hai lần điện trả lời La Quý Ba và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, phân tích tình hình sau khi Navarre nhậm chức, nêu ý kiến về biện pháp quân sự cần áp dụng. Nhất là trong điện ngày 29, đã trình bày rõ ràng với phương châm chiến lược cần áp dụng từ nay về sau. Bức điện viết: “Trước hết tiêu diệt địch ở vùng Lai Châu, giải phóng miền Bắc và miền Trung nước Lào, sau đó từng bước đẩy chiến trường sang Nam Lào và Cao Miên, uy hiếp Sài Gòn. Làm như vậy, thì có thể thu hẹp nguồn lính Ngụy, nguồn tài chính, phân tán binh lực quân Pháp, đẩy chúng vào bị động, đồng thời mở rộng bản thân Quân đội Nhân dân, chủ động tiêu diệt địch ở khắp nơi và từng bước làm suy yếu địch. Đó là điều kiện tiên quyết để đánh lấy đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Thực hiện kế hoạch chiến lược này đủ để đánh bại ách thống trị thực dân của đế quốc Pháp ở Việt Nam, Lào, Cao Miên. Nhưng cần phải chuẩn bị khắc phục mọi khó khăn, cần phải tính toán lâu dài ”.

Hồ Chí Minh hoàn toàn tán thành phương châm chiến lược của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu ra. Trong tháng 9, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động VN một lần nữa thảo luận vấn đề tác chiến mùa đông của Quân đội Nhân dân. Tổng Quân uỷ QĐNDVN nêu ra hai phương án; một là đặt hướng chủ công vào vùng Tây Bắc và Thượng Lào, hai là tập trung chủ lực vào tác chiến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Qua hội nghị thảo luận, Hồ Chí Minh rút ra kết luận phương hướng chiến lược không thay đổi tiếp tục tấn công vùng Tây Bắc và Thượng Lào, phủ định phương án tập trung chủ lực vào tác chiến ở đồng bằng Bắc Bộ. Vấn đề hướng tác chiến mùa đông cơ bản đã được giải quyết. Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam căn cứ vào đó một lần nữa nghiên cứu vạch ra kết hoạch tác chiến, nhưng kế hoạch này chần chừ mãi không vạch ra được.

Ngày 10/10/1953, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện cho Trung ương Đảng Lao động Việt Nam: “Năm 1950 chúng tôi đáp ứng đề nghị của các đồng chí lần lượt cử hai đồng chí La Quý Ba, Vi Quốc Thanh dẫn đầu một số cán bộ quân đội và cán bộ đảng địa phương sang Việt Nam làm công tác giúp đỡ có tính chất cố vấn. Về sau đồng chí Vi Quốc Thanh mắc bệnh về nước điều trị, nhất thời không thể trở lại Việt Nam công tác cho nên đồng chí La Quý Ba thống nhất phụ trách giúp các đồng chí tiến hành công tác. Nay sức khoẻ đồng chí Vi Quốc Thanh khá hơn năm ngoái, chúng tôi vẫn cử đồng chí trở lại Việt Nam công tác. Đồng thời quyết định Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự, phụ trách công tác giúp chỉ đạo chiến tranh và xây dựng quân đội. Đồng chí La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị, phụ trách công tác giúp xây dựng đảng, địa phương và chính sách”. Bức điện nói: “Vi Quốc Thanh và 4 cán bộ định trung tuần tháng này lên đường sang Việt Nam, ngày 21/10 có thể đến Bằng Tường, xin cho người đến Bằng Tường liên lạc với đồng chí ”.

Sau khi nhận nhiệm vụ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hai lần tạm thời cử đồng chí sang Việt Nam giúp quân đội VN tổ chức chỉ huy chiến dịch Tây Bắc và chiến dịch Thượng Lào, Vi Quốc Thanh lại được bổ nhiệm làm Tổng cố vấn quân sự, lại gánh vác nhiệm vụ nặng nề, lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự giúp Việt Nam tổ chức chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội. Trước khi sang Việt Nam, đồng chí được Mao Trạch Đông tiếp và truyền đạt trực tiếp đối sách tình huống. Mùa thu Bắc Kinh trời cao lồng lộng, nắng gió chan hoà. Trong Phong Trạch Viên – Trung Nam Hải những cây tùng bách cao vút thẳng tắp xanh tốt um tùm, tràn đầy sức sống. Chiều một ngày trung tuần tháng 10, Mao Trạch Đông đi đi lại lại trong phòng sách của Người, đang suy nghĩ tình hình chiến sự Việt Nam, suy nghĩ tình hình La Quý Ba điện về phản ánh.

Tiếng báo cáo của cán bộ bảo vệ cắt ngang luồng suy nghĩ của Người: “Chủ tịch, Bành tổng và đồng chí Vi Quốc Thanh đến”.

“Mời các đồng chí vào”. Mao Trạch Đông nói.

Vi Quốc Thanh theo sát Bành Đức Hoài bước vào phòng sách cũng là phòng tiếp khách của Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông bắt tay từng đồng chí và mời họ ngồi. Bành Đức Hoài nói: “Chủ tịch, đồng chí Vi Quốc Thanh gần đây sắp trở lại Việt Nam, lần này đến xin Chủ tịch chỉ thị trực tiếp ”.

Mao Trạch Đông: “À! Tôi cũng đang muốn gặp các đồng chí cùng bàn tình hình và chiến sự của Việt Nam”. Sau đó, Người nói với Vi Quốc Thanh: “Đồng chí đã xem kế hoạch quân sự của Navarre chưa? ”. Vi Quốc Thanh trả lời: “Bộ Tổng Tham mưu có cho tôi xem rồi”. Mao Trạch Đông lại hỏi : “Đồng chí có ý kiến gì không?”. Vi Quốc Thanh trả lời: “Đây là sự tiếp tục của kế hoạch de Lattre, tiền nhiệm của ông ta. Điểm chung của họ là ra sức phát triển ngụy quân, thay quân Pháp chốt giữ cứ điểm, dùng người Việt đánh người Việt, làm cho quân Pháp có thể tập trung tổ thành lực lượng đột xuất làm nhiệm vụ tác chiến cơ động, để giành lại quyền chủ động chiến tranh. Ông ta nêu ra, trước hết giành thế thủ ở Bắc Bộ và ráo riết càn quét và tiến công ở Nam Bộ và Trung Bộ, sau khi ổn định hậu phương chiến lược, ông ta sẽ tập trung binh lực quyết chiến với chủ lực quân đội VN ở Bắc Bộ. Phương châm quân sự Nam trước, Bắc sau này là sự phát kiến của Navarre cũng là do tình thế bắt buộc ông ta như vậy”.

Mao Trạch Đông hỏi tiếp: “Cuối tháng 8 Trung ương có điện cho La Quý Ba, đồng chí đã xem chưa?”. Bành Đức Hoài trả lời: “Tôi đã cho người đưa đồng chí xem rồi”. Vi Quốc Thanh nói: “Phương châm chiến lược của Trung ương vạch ra cho Việt Nam mâu thuẫn gay gắt với kế hoạch của Navarre. Thực thi phương châm chiến lược này sẽ hoàn toàn đập tan tính toán chỉ tính đến một phía của Navarre ”.

Mao Trạch Đông nói: “ La Quý Ba điện về nói Hồ Chí Minh tán thành kiến nghị đó, Bộ Chính trị cũng đã ra quyết định, nhưng kế hoạch tác chiến mùa đông của quân đội Việt Nam vẫn chần chừ chưa vạch ra được là sao? ”.

Vi Quốc Thanh nói: “Trước chiến dịch Tây Bắc năm ngoái, trong cán bộ trung, cao cấp quân đội Việt Nam, có thể nói là đa số người không muốn đi Tây Bắc tác chiến. Chủ yếu là sợ gian khổ, sợ khó khăn, thiếu tầm nhìn chiến lược, cho rằng Tây Bắc đất rộng người thưa, là nơi nghèo, có giải phóng cũng không có ý nghĩa lớn bao nhiêu. Người phụ trách chủ yếu Tổng cục hậu cần quân đội VN lại nói Đoàn cố vấn tích cực chủ trương giải phóng Tây Bắc là vì có lợi cho Trung Quốc, có thể tiêu diệt tận sào huyệt tàn quân phỉ Quốc Dân Đảng ở đó, không quấy rối biên giới Vân–Nam Trung Quốc nữa. Họ cho rằng, chỉ có giải phóng đồng bằng sông Hồng thì mới đã nghiện, mới có thể giành được kháng chiến thắng lợi. Qua làm công tác tư tưởng lúc trước, về cơ bản được uốn nắn. Bây giờ quân địch đã rút khỏi Nà Sản, họ lại để mắt chằm chằm vào sông Hồng. Đó là bệnh cũ tái phát”.

Mao Trạch Đông nói: “Chà! Họ muốn đi đường thẳng. Nhưng e rằng đường này không đi nổi. Trước mắt điều kiện đánh đồng bằng sông Hồng chưa chín muồi. Vẫn phải đi một ít đường quanh co khúc khuỷu, mới có thể đến đích. Điều đó đã được thực tiễn mấy chục năm cách mạng của Trung Quốc chứng minh. Tôi thấy cách mạng Việt Nam cũng không thể đi đường thẳng. Sau khi đồng chí trở sang, phải làm nhiều công tác giải thích thuyết phục cán bộ cao cấp của Quân đội Nhân dân”.

Vi Quốc Thanh chú ý lắng nghe mỗi lời nói của Mao Trạch Đông, và ghi lại vào quyển nhật ký bằng những từ ngữ giản đơn mà chỉ có đồng chí mới hiểu hết ý nghĩa. Mao Trạch Đông nói tiếp: “Tôi thấy hướng tác chiến của Việt Nam trong suốt thời kỳ từ nay về sau là nên hướng vào Trung, Nam Bộ”. “Để thực hiện kế hoạch chiến lược này, trước mắt cần áp dụng một số biện pháp thiết thực. Tôi nghĩ đến 3 biện pháp thế này: một là dùng 2 đại đoàn bộ binh và nửa đại đoàn pháo binh, trước tiên giải quyết địch ở Lai Châu, giải phóng toàn bộ vùng Tây Bắc, căn cứ chiến lược quan trọng này. Sau đó chuyển quân sang Thượng Lào, mở thêm chiến trường Thượng Lào. Đồng thời với tiến quân lên Tây Bắc, đưa một bộ phận binh lực xuống Trung Lào và Hạ Lào. Hai là kiên quyết khai thông con đường Nam tiến (con đường từ nam Liên khu 4 Trung bộ lên Trung, Thượng Lào, qua quốc lộ 9 đến Tây Nguyên), đó là đường giao thông huyết mạch của bộ đội, đánh xuống phía Nam sau này, quan hệ rất lớn đến tình hình chiến sự tương lai. Nên đo đạc thật nhanh, xây dựng kế hoạch, chia giai đoạn hoàn thành. Có thể nói với các đồng chí Việt Nam, thái độ đối với làm đường tức là thái độ đối với chiến tranh. Làm đường không tích cực, không nghiêm túc tức là không tích cực, không nghiêm túc giành lấy thắng lợi chiến tranh. Ba là liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, 4 mỗi nơi nên điều động một số cán bộ đảng, chính quyền, quân đội đến Trung, Hạ Lào và Nam Bộ Việt Nam làm công tác mở vùng mới, làm cho bộ đội đánh được nơi nào, thì củng cố nơi ấy. Giống như thời kỳ sau chiến tranh giải phóng, chúng ta điều động cán bộ miền Bắc theo Đại quân xuống miền Nam. Nói tóm lại, ba biện pháp này tức là 12 chữ: hai đại đoàn rưỡi, một đường quốc lộ, ba lớp cán bộ”.

Nói xong Mao Trạch Đông đưa ánh mắt thăm dò nhìn vào hai người Bành Đức Hoài và Vi Quốc Thanh. Vi Quốc Thanh nói: “Chỉ thị của Chủ tịch rất quan trọng. Sau khi tôi sang, sẽ truyền đạt tỉ mỉ cho phía Việt Nam và các đồng chí cố vấn, nghiêm chỉnh quán triệt chấp hành ”. Mao Trạch Đông nói: “Có thể nói với các đồng chí Việt Nam, đó là kiến nghị của tôi ”. Mao Trạch Đông quay sang Bành Đức Hoài nói: “Bành Tổng cũng nói ý kiến đi chứ!”.

Bành Đức Hoài nói: “Tôi đã nói với đồng chí Quốc Thanh ý kiến của tôi về tình hình chiến tranh Việt Nam và tác chiến Tây Bắc rồi. Xin nói thêm một việc. Bản tiếng Pháp kế hoạch quân sự Navarre mà Cục Tình báo Bộ Tổng Tham mưu lấy được, có thể mang sang cho các đồng chí Việt Nam xem, điều đó giúp ích cho các đồng chí ấy tìm hiểu kẻ địch, phân tích tình hình. Có điều phải chú ý bảo mật ”.

 Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Tiểu đoàn 2 Bộ binh Quốc gia (2 e BVN) trang bị súng trường bán tự động  MAS 1949 nặng 5 kg, tầm xa 600 m.

Huy hiệu của Tiểu đoàn 2 VN (2 e BVN)

Bảo Chính Đoàn (Corps de Défense de l’État) với súng tiểu liên MAT49, tầm xa 200 m.

Truyền đơn kêu gọi cán binh Việt Minh chiêu hồi

Áp phích tuyển mộ của binh chủng Nhảy dù

Việt Minh trang bị đại liên đa năng Mauser MG-34 Đức quốc xã do Hồng quân Nga viện trợ. Nhịp bắn 900 viên đạn 7 ly 92 mỗi phút.

Bảo Đại gắn huân chương trên quân kỳ binh chủng Nhảy Dù của quân đội quốc gia.

Chiêm bao

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 15/11/2015  

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Đêm qua tôi mơ thấy John Lennon ngồi bên đàn piano hát bài “Imagine” bất hủ. Đêm qua tôi thấy trong mộng Haruki Murakami đứng ở Chidorigafuchi phía đông bắc hoàng thành ngắm hoa anh đào tuyệt sắc Tokyo. Nhà văn nói: “Tôi mơ mộng. Đôi khi tôi nghĩ, chỉ duy đó là việc làm chính đáng”.

Đêm qua trong giấc ngủ tôi thấy con rùa già xanh rêu dưới hồ Hoàn Kiếm ngậm cây violin gãy gập nổi lên “giao hàng” cho khổ chủ. Ông cụ 70 tuổi cổ lai hy râu tóc bạc phơ hằn vẻ chịu đựng câm nín với ngón tay bị bẻ gãy run thân bên hồ nhiều gió chướng. Cụ Tạ Trí Hải ơi, nếu không góp tiếng đàn nghẹn ứ trong cuộc biểu tình thì e tiền không mất tật không mang, cụ nhỉ? Rùa xúc cảm thương ông, lịch sử không tái diễn lần thứ hai nên ta đặt tên giờ này: Hồ Hoàn Nhạc. Hay hồ Hoàn Đàn? Có thơ mộng chăng? Nhạc cụ kia có khi mà biến thân thành súng AK-47 chứ kiếm cung mà thấm béo gì, cụ nhỉ? Xưa rồi Diễm!
Một ông luật sư cũng mang tên Hải, non tuổi hơn, độ chừng nghi bất hoặc hay tri thiên mệnh gì đó đã trần tình: “Công an đối xử với các luật sư như chó như mèo như lợn như súc vật”. Ôi chao, tiếng nói của con người cất lên sao nghe luống những ngậm ngùi! Trước đây sơ ý để xe cọ quẹt vào nhau đã mang hung khí ra chơi nhau, huyết lệ tuôn tràn. Giờ này “nái xe” mà để khoắn bụi đường lên thì ông đấm cho vỡ mặt, nhớ? Chả lôi thôi gì cả!

Vụ việc mang vào cuộc họp báo mổ xẻ hòng làm cho ra nhẽ, công an bảo: Cái này do bọn côn đồ hành xử, chúng tớ đéo biết. Mơ thấy bên phía côn đồ các đàn anh giang hồ cũng nhóm họp điều trần: Oan cho bọn ta quá, bao thói hư tật xấu đều đổ riết lên đầu bọn có số má như chúng ta cả, chịu đời chi thấu. Vậy thì thù này phải trả, hãy xuống núi phen này, đè bọn chuyên ngậm máu phun người mà đánh trả chúng nó một trận cho thật đường hoàng để lấy lại công đạo. Hỡi giai cấp bị bóc lột, hãy đoàn kết lại.

Ở đâu có áp bức ở đấy có đấu tranh. Mẹ rượt. Lê Nin từng ngôn thế.

Gần về sáng tôi thấy chập choạng khuôn mặt cương nghị của bà Aung San Suu Kyi và câu nói của người đầy bản lãnh: “Nhà tù thực sự là nỗi sợ hãi, tự do chỉ thực sự có khi thoát khỏi nỗi sợ kia”. Ôi ngọn gió lành đã vừa thổi qua ở Miến Điện, nực nội kéo dài tới 53 năm bị xoá tan thôi bao trùm. Loài người tiến bộ trên trái đất chia sẻ nỗi hân hoan cùng họ khi nền tự do dân chủ vừa thành tựu trên xứ sở ấy. Và cộng đồng văn minh không quên ngó về Việt Nam để nói một câu nghe xé lòng: Phải tới năm 2069 xứ sở đầy huyền thoại con rồng cháu tiên mới đuổi kịp Thái Lan. Hiện tại thì bằng với Cam-bốt và thua anh Lào một ngấc. Một khu vực đìu hiu nhược tiểu quanh vùng thôi còn anh láng giềng nào mà mang ra so sánh được mất hơn thua? Này các anh đầu xỏ quốc tế, các anh vin vào cớ gì để xếp chúng tôi đứng gần cuối bảng sắp hạng trên thế giới? Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép Việt Nam?

“Chiêm bao thấy gái về nằm
Tỉnh ra thấy gái không nằm nữa ru
”.

Không. Tôi chẳng chiêm bao mơ mòng thấy gái như nhà thơ Bùi Giáng. Tôi chỉ thấy máu me bạo lực du côn mất dạy ngược ngạo vô đạo tiểu nhân. Những bạc ác vẫn luân phiên tiếp diễn lộng hành trên xứ sở có lắm tiến sĩ. Học cho lắm tắm cũng ở truồng! Anh dùng học vị ấy để gióng lên một tiếng nói, có đặng chăng? Hay bằng cấp kia là lãnh đạo họ ban cho và chúng tớ phải biết ngậm bồ hòn làm ngọt? Chúng tớ đã quen tất tần tật những dối trá giả mạo. Không sao đâu, chuyện nhỏ thôi mà!

Không rùm beng, tôi mơ mộng về một bình minh có chuông đồng hồ réo gọi thức tỉnh, để mấy chục triệu con dân bừng con mắt đồng loạt cùng xuống đường. Trộm vía John Lennon tôi đạo một đoạn ca từ trong Imagine: Hãy thử tưởng tượng đất nước thôi còn đảng Cộng sản ngự trị, những cột điện sẽ vui chân về lại đất cũ sáng soi ở mọi nẻo đường. “Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa*”. Bạn có thể nói tôi mơ mộng, nhưng tôi chẳng hề đơn côi khi thêu dệt. I’m not the only one.

Hồ Đình Nghiêm

(*) Thơ Quang Dũng trong bài Đôi Mắt Người Sơn Tây:

… bao giờ tôi gặp em lần nữa
ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
đã hết sắc mầu chinh chiến cũ
còn có bao giờ em nhớ ta.

49

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted: 20/02/2016 

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Từ trái: Tô Thùy Yên, Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

bảy. bảy. bốn chín
giản lược chữ nhân
bỏ mất chữ lần
bảy lần bảy tuần
thất tuần đã tới
bốn chín ngày rồi sao
bài thơ ngủ giấc sâu
thôi còn được hiển thị

khi david bowie mất
chỉ vào tuổi 69
vợ ông viết trên instagram:
“đôi khi ta không biết
giá trị thực thụ của một thời khắc
cho tới khi nó trở thành quá khứ”.
abbé pierre nói:
“un sourire coute moins cher
que l’electricité mais donne
autant de lumière”.
một nụ cười
mắc mỏ có bao lăm
trong khi muốn thắp sáng
những bóng đèn
bạn phải tốn tiền điện

hèn gì khi khóc
ta thường cúi đầu trong bóng tối
hoặc bên ánh nến nhỏ
tim bấc thổn thức cùng
những giọt lệ ứa
ướt chăng câu thơ:
“vẫn sông, vẫn bãi bốn bề,
sang đêm, ai nữa đi về, gặp ai
”
có gặp lại anh đinh cường?
người từng đóng triện lòng tôi:
“mùa hạ nghiêm xuôi dòng ngọc bích”
và người đã bốn chín ngày
thôi còn nhìn lên kệ sách

có nhớ không trang phạm cao hoàng
có trống vắng chăng diễn đàn sáng tạo
chữ đinh cường giờ đã nằm im
trong bộ nhớ của đĩa cứng
nhờ google chỉ
tự điển về thơ ca hội hoạ:
“đom đóm loé sáng đêm mùa hạ
vườn xưa thành nội đốm nhang tàn
ta về nhặt trái mù u rụng
ngang cửa tam toà rẽ kiệt hai
”.

đã tuần thứ bảy rồi
anh đinh cường ơi
thơ mộng đã chết một hôm nào
“ôi đá địa đầu vần vụ mộng
ai xưa qua yểm lại tình sầu
thời gian rũ trắng xương làm nhớ
gió cát không nguôi khóc dãi dầu
”

ở đây có lotto 6/49
từ một tới bốn chín
lựa nhặt chỉ sáu con
giá hai đồng cho mỗi hàng may rủi
xổ số hàng tuần vào chiều thứ bảy
“kiến thiết quốc gia giúp đồng bào ta…”
để có kẻ trở thành đại gia
khi mà cao xanh vô tình chợt gọi
nào ai học được chữ ngờ
bị số phần khiến xui thế
đời có khi không đến hẹn
mà người vui chân lại lên
giúp tôi bay qua vùng trời ấm
phi trường dulles có trường giang đứng đợi
căn nhà ấy giờ giam giữ tịch lặng
con chim đỏ vẫn siêng về hót vu vơ
động tiếng còi tàu buồn
khuất mặt chạy những đâu
“cụm mây trôi rã trong trời lớn
như giấc chiêm bao thấy giữa chừng…
ai thở dài chi cho não ruột
cơn mưa hư tưởng mơ màng rơi
”.

lại lặng lẽ qua ngồi
starbucks quán cũ hư hao
cà phê đen đừng thêm nhiều đường có hại
sao ngọt ngào lại chẳng bằng đắng cay?
bốn chín ngày rồi sao?
vó câu trôi bên ngoài cửa
tiếng than van chừng
không kịp đuổi theo
“ly biệt chẳng từ hạt cát ngọc,
tuần hoàn đến cả giọt sương châu…
tưởng tượng ta về nơi bản trạch
là rồi một chuyện kể chưa xong
”.
ly cà phê vô vị vô lai
hừ bởi tại ngươi đang độc ẩm
thây kệ, anh đinh cường nhỉ
“thôi thì cho biết mưa và nắng
mới đó mà xa, ôi rất xa
”.

Hồ Đình Nghiêm

Mượn thơ anh Đinh Cường và thơ anh Tô Thuỳ Yên (chữ nghiêng).

Con Chuột Túi!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Năm 2020, Tết Âm lịch, năm Canh Tý, năm nay rơi ngay chóc vào ngày 25, tháng Giêng. So với năm rồi, 2019 mùng Một Tết rơi vào ngày mùng 5, tháng Hai, năm 2019. Như vậy Tết âm lịch năm nay đến sớm hơn cả chục ngày. Chính vì vậy, mới cuối tháng Chín, dẫu còn 3 tháng nữa mới tới Tết, mà mấy ông Chủ bút đã thúc vô ‘đít’ tụi tui rồi hè.
Năm Canh Tý là năm của con Chuột, là con giáp đứng đầu trong 12 con giáp. Và theo thông lệ năm Tý nói chuyện Chuột thì các ông nhà văn nhà báo khác chắc viết hay, hấp dẩn độc giả hơn tui nhiều.
Biết cái thân bèo bọt nên tui rót ra ly rượu đỏ, ngồi vò đầu bứt tóc mà ráng tìm ra một đề tài vừa truyền thống ‘Chuột’ mà vừa cách tân nữa để không đụng hàng.
Và tui đã tìm ra: đó là ‘Con Chuột Túi!’

Luận rằng: Mỗi quốc gia đều có khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau nên động vật tất phải khác nhau. Như nước Tàu của mấy chú, thím Ba có con Gấu Trúc, vì nó chuyên môn ăn cây trúc.
Gấu Trúc, tức Panda mập ục ịch như con vịt, như Tập Chủ tịch. Lông trắng như tuyết nhưng hai con mắt đen thùi lùi giống mấy ông chồng trốn đi nhậu về bị con vợ nhà thoi vô mắt vậy.
Cái mình có mà thiên hạ không có thì đem đi khoe! Chú Ba tặng cho mấy Sở Thú ở Úc Châu một cặp Gấu Trúc.
Úc vốn là một dân tộc đầy lòng thương yêu thú vật nên cưng mấy con Gấu Trúc nầy thôi hết biết hè!
Bù lại, Úc cũng tặng cho Sở thú của chú Ba mấy con ‘Kangaroo’ trước là để khoe ‘ngộ có mà nị không có!’
Nhưng mấy con ‘Kangaroo’ nầy phần số xui xẻo quá vì trao duyên nhầm tướng cướp.
Mới đây nè ở Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, miền Đông Nam Trung Quốc, chú, thím Ba đi Sở thú chơi cho vui mà nỡ lòng nào dùng gạch đá để chọi mấy con ‘Kangaroo’ hầu bắt mấy con Chuột Túi nầy phải nhảy lên để coi chơi.
Hành động tàn ác đó làm là một con ‘Kangaroo’ cái, 12 tuổi, bị què giò rồi từ giã cõi đời vài ngày sau sau đó.
Dân Úc đọc tin, xem cái ‘video clip’ đối xử tàn ác với súc vật nầy xong, giận lắm: Thề từ rày về sau không cho Tàu Cộng một con ‘Kangaroo’ nào nữa cả.

***

Rồi dân Úc còn đặt chuyện xỏ xiên chú Ba do chưa hết giận và cũng để trả hận cho con ‘Kangaroo’, đang tuổi xuân thì mà phải tiêu diêu mìền cực lạc.
Chuyện rằng: “Một du khách từ Trung Quốc đến cửa sông ở lãnh thổ Bắc Úc, mướn thuyền đi câu cá! Chẳng may thuyền bị lật. Biết lội, nhưng sợ Cá Sấu, nên chú Ba cứ bám riết vào chiếc thuyền đã bị lật chổng khu lên, đang bập bềnh theo sóng nước.
Thấy một ông già thổ dân đi dạo trên bờ, chú Ba hét lên: “Có Cá Sấu ở đây không ông già?” “Hồi xưa có nhiều lắm; giờ không có được một con!”
Nghe vậy, chú Ba an tâm, thong thả lội vào bờ. Được nửa chừng, thấy ông lão thổ dân trố mắt nhìn mình có vẻ kinh hoàng. Chú Ba hỏi: “Mấy ông đã làm gì với bầy Cá Sấu đó vậy?”
Ông già thổ dân trả lời: “Tụi tao đâu có làm gì đám Cá Sấu. Tụi Cá Mập đó!”

Qua câu chuyện trên đây cho thấy: Úc Châu dẫu là một đại lục khổng lồ nhưng rất còn hoang dã, thưa thớt dân cư. Một cây số vuông chỉ có 2 người. Trên cái đất nước rộng gần bằng Hoa Kỳ, mà dân Úc chỉ có vỏn vẹn 24 triệu nam phụ lảo ấu mà thôi. Ít đến nỗi số ‘Kangaroo’ còn nhiều gấp đôi dân số Úc nữa đó! Xác xuất bà con mình từ xa qua Úc gặp được con ‘Kangaroo’ nhiều gấp đôi là gặp dân Úc!
Cách đây gần 250 năm, những nhà thám hiểm từ Âu Châu xa xôi lần đầu tiên giong thuyền đến Australia, và cũng lần đầu tiên trong đời họ thấy những con vật rất lạ lùng, nhảy choi choi trên trảng cỏ. Bèn hỏi thổ dân đó là con gì? Những người dân bản địa trả lời là: ‘Kangaroo’ có nghĩa là “Tui không biết ông hỏi cái giống gì?”
Nhưng nhà thám hiểm cực kỳ thông minh nầy lại tưởng con đó tên là ‘Kangaroo’.
Riêng mấy chú Ba từ đại lục, vốn xài chữ Hán, thì gọi con ‘Kangaroo’ là ‘Đại thử’ tức con chuột lớn; vì nhìn mặt nó quả giống y chang như con chuột nhưng bự con hơn gấp cả ngàn nhiều lần. Còn người Việt mình thì gọi ‘Kangaroo’ là Chuột Túi vì trước ngực nó có cái túi để địu con.
‘Kangaroo’ còn bé thì gọi là ‘Joey’, nằm trong túi suốt gần cả năm, cái túi đó gọi là ‘Pouch’.
Thế nên một tay Úc tò mò bắt con ‘Joey’, Chuột Túi con từ trong túi một con ‘Kangaroo’ cái ra để xem thì bị Cảnh sát bắt rồi truy tố ra Tòa về tội móc túi.
Bà con mình có ra ‘city’ chơi hay thấy mấy ông chồng Úc bị vợ nó bắt địu con mình trước bụng trong cái ‘Pouch’ thấy thương người sợ vợ.
Chớ thực ra chỉ con ‘Kangaroo’ cái mới có cái túi còn con ‘Kangaroo’ đực thì không. Thế mới biết làm chồng ‘Kangaroo’ đôi khi sướng hơn là làm chồng em Úc!

Rồi cách đây hơn một thế kỷ, nước Úc được thành lập, tất phải có quốc kỳ, quốc ca và quốc huy.
Quốc huy là huy hiệu, là biểu tượng của nước Úc được chọn năm 1912 là con ‘Kangaroo’ và con ‘Emu’ tức là Đà Điểu.
Muốn hiểu dân tộc tính của người Úc nó ra làm sao; bà con mình chỉ cần tìm hiếu về cái tánh cách của con Đà Điểu và con Chuột Túi là đã đủ.
Đà Điểu mỗi lần gặp rắc rối là nó vùi đầu trong cát; chừng nào êm êm mới ló đầu lên.
Chồng Úc cũng vậy, lúc nào thấy em yêu dằn mâm xáng chén là vọt ra sau nhà để xe với một xâu ‘beer’. Để không nghe, không thấy, không biết, không dám cãi lại em yêu một tiếng (4 không) thì chẳng bao lâu sau sóng yên bể lặn! Quất sụm một xâu ‘beer’, sừng sừng, đã đã thì mình lại chui vô nhà, leo lên lầu quánh cho mầy một giấc cho nó ‘phẻ’!
Nhưng với đối thủ, Úc không bao giờ chạy xịt; mà cứ tiến lên về phía trước như con ‘Kangaroo’ không biết hề ‘de’, thụt lùi bao giờ!
Nịnh Úc, ca tụng lòng thà chết không lui của tụi nó cho vui thôi! Chớ thực ra ‘Kangaroo’ không bao giờ đi thụt lùi vì hai chân sau của nó rất dài, không duỗi thẳng được, phải gấp lại để bò hay để nhảy.

***

Cách đây đúng 20 năm nè! Năm 2000, bắt đầu thiên kỷ mới, Thế vận hội tổ chức tại thủ phủ Sydney, tiểu bang NSW, Úc Châu bà con mình quá khoái khi thấy em Cathy Freeman đoạt huy chương vàng môn chạy 400 mét.
Nhìn em lực sĩ thổ dân nầy phóng, phóng tới đích giống hệt như con ‘Kangaroo’ đó bà con ơi!

‘Kangaroo’ là con vật độc nhất vô nhị chỉ Úc mới có, nên rất ăn khách, rất thu hút bà con trên toàn thế giới đến Úc du lịch, một nền kỷ nghệ không khói, giúp ngân sách Úc bớt thâm thủng rất nhiều.
Cũng chính vì vậy mà hãng hàng không Qantas của Úc dùng cái huy hiệu con ‘Kangaroo’ cách điệu, màu trắng nền đỏ sơn trên đuôi máy bay để quảng cáo cho mình.
Để chiêu dụ và giựt khách của hãng không Singapore của Lý Hiển Long, Qantas vừa mới bay thử nghiệm một chuyến ‘non-stop flight’, bay không ngừng suốt 19 tiếng đồng hồ, hơn 10 ngàn dặm, từ thành phố New York, USA tới thủ phủ Sydney, tiểu bang NSW của Australia.
Bà con độc giả thân mến của tui bên Mỹ sẽ tha hồ leo lên máy bay, ngủ một giấc, thức dậy là tới Úc để xem con ‘Kangaroo’ nhé!

***

Chuột Túi, ‘Kangaroo’ có mặt ở Úc hơn trăm triệu năm, từ khi địa cầu mới được hình thành. ‘Kangaroo’ đỏ, và ‘Kangaroo’ xám có con cao tới 2 mét và nặng tới 85 kí lô.
‘Kangaroo’ bàn chân dài và hẹp, bắp chân rất khỏe. Hai chân trước ngắn ngủn, hai chân sau dài. Bò tà tà thì ‘Kangaroo’ dùng cả bốn chân. Còn gặp chuyện dầu sôi lửa bỏng, phải vọt cho nhanh thì ‘Kangaroo’ dùng hai chân sau búng lên để nhẩy. Đuôi ‘Kangaroo’cứng có tác dụng như cái bánh lái để giữ thăng bằng.
Khi đánh nhau với những con ‘Kangaroo’ đực khác để giành gái, nó đứng trên cái đuôi, hai tay ngắn kẹp lấy cổ đối thủ và chơi ‘kick boxing’ giống như võ ‘Muay’ của Thái Lan, để đá tình địch.
Mới đây nè, một tay kiểm lâm người Úc thấy con chó cưng của mình thập phần nguy cấp vì bị một con ‘Kangaroo’ dùng hai chân trước kẹp chặt cổ con chó làm nó vô phương nhúc nhích.
Sợ người bạn thân nhứt của mình nghẹt thở, đi chầu ông bà ông vải nên chàng kiểm lâm nầy phải xài tới võ quyền Anh, thoi vô mặt con ‘Kangaroo’ một cái. Con chó thoát ra được, chạy cong đuôi, kêu ‘cẳng cẳng’; hình như để nhắc ông chủ của mình coi chừng cái ‘cẳng’ của nó; nó đá vô mặt là không còn một cái răng mà ăn cá lăn bột chiên với khoai tây chiên (tức ‘fish and chip’ kiểu Úc).
Chớ thực ra ‘Kangaroo’ vốn ăn chay, chỉ ăn cỏ, cây lá cây, nấm…và nhai lại giống như Bò, nên tánh nó cũng hiền. Hiền và lè phè như Úc vậy.
Trời mát, ban đêm hoặc ban ngày thì ‘Kangaroo’ mò vòng vòng kiếm ăn. Trời nóng thì kiếm bóng râm nào đó mà phè cánh nhạn.

***

Chuyện rằng: Một chú Sam, Cao bồi, dân miền Viễn Tây Hoa Kỳ, từ tiểu bang Texas đến Úc đi chơi ở miền quê . Chú Aussie khoe với đại ca ‘Donald Trump’ cánh đồng lúa mì của mình chạy dài, mút mắt tới tận chân trời.
“Bên Texas, tụi tao có những cánh đồng lúa mì lớn ít nhất gấp hai lần của chú mầy”.

Sau đó, họ đi dạo quanh trang trại, chú Aussie lại khoe đàn bò của mình mập ú nu có tới cả chục ngàn con.
“Bên Texas, tụi tao có những con bò nặng gấp đôi, sừng dài gấp đôi. cái gì cũng gấp đôi của chú mầy!”
Đột nhiên chú Sam nhìn thấy một bầy ‘Kangaroo’ có tới cả trăm con, nối đuôi nhau phóng ào ào trên trảng cỏ: “Úy con gì vậy chú em?!”
Chú Aussie chụp ngay cơ hội chơi lại đại ca Donald Trump, bèn cười khè khè nghe rất đểu, hỏi: “Bộ bên Texas, đại ca hổng có con ‘Cào Cào’ hay sao?”.
Bài học rút ra là; Khi không có gì để khoe với đời thì mình đặt dóc!

***

Thưa Bà con! Năm nay là năm Canh Tý, năm Chuột!
Tác giả cũng xin kêu ‘chút chít’ như Chuột túi mà kính chúc quý độc giả tình thương mến thương, năm mới ăn nên làm ra, có đủ tiền mua được chừng vài trăm con Chuột Túi bằng vàng ròng, 24 cara!
Để Tết năm sau, rủng rỉnh tiền đầy túi, xin bà con nhớ ‘hú’ người viết đi nhậu Tết Tân Sửu với nhe!
“Cung Chúc Tân Xuân!”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Chuyện ruồi bu!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Tập Cận Bình là đương kim Tổng Bí thư Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Tập một đít ngồi ba ghế và ngồi cho tới chết. Tập không phải mắc công tuột xuống rồi lại leo lên như Vladimir Putin của nước Nga.

Bố Tập là Tập Trọng Huân. Huân từng là đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, bị Mao Trạch Ðông thanh trừng trong thời Ðại Cách mạng văn hóa vô sản.

Cũng như các lãnh tụ Cộng sản khác, cá nhân Tập rất khoái được dân Tàu sùng bái. Tập khoái nổ, nổ ‘banh ta lông’, nổ mát trời ông Ðịa. Lúc tuyên bố linh tinh, Tập trích dẫn loạn xạ; vì không đủ sức hiểu ý nghĩa thâm sâu của lời trích dẫn.

Một lần đi Tây, tới thủ đô Paris, để kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập bang giao giữa Trung cộng và Pháp, Tập Cận Bình nổ rân trời: “Napoléon Bonaparte từng nói rằng: Trung Quốc là một con sư tử đang ngủ và khi Trung Quốc thức giấc, thế giới sẽ rung chuyển! Thực tế, sư tử Trung Quốc đã thức giấc, nhưng những gì thế giới nhìn thấy bây giờ, là một con sư tử hòa bình, hòa nhã, văn minh.” (?!)

Ý Napoléon Bonaparte nói: Trung Quốc là một con sư tử, là một loài thú hoang cực kỳ nguy hiểm. Nó đang ngủ. Ðừng có ngu (như Nixon và Kissinger làm sau nầy) đánh thức nó dậy. Nó dậy, nó ăn thịt cha con tụi bây hết ráo.

Tập bẻ cong cái ý của Napoléon Bonaparte theo ý mình! Con sư tử Trung Quốc đã thức dậy; nhưng hiền khô hè. Nó hòa nhã. Nó văn minh lắm! Nó không hại tới ai đâu. Thiệt là tào lao! Một con thú hoang mà bảo là văn minh? Một loài ăn thịt sống mà bảo là hòa nhã?

Hòa bình, hòa nhã, văn minh đâu không thấy? Mà chỉ thấy suốt năm rưỡi nay, con ‘coronavirus’ từ thủ phủ Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc lan ra giết hơn 4,691,376 người trên toàn thế giới

Cũng chính con COVID-19 nầy làm nhiều chánh trị gia phải xất bất xang bang: “Tổ cha con ‘virus’ Vũ Hán! Nó làm cái ghế của tui rung rinh, rung lắc dữ quá! Hổng biết lúc nào nó sụm bà chè?”

Và cũng có người sắp té ghế rồi. Chẳng qua khi đại dịch đang hoành hành thì Yoshihide Suga, Thủ tướng Nhựt Bổn (chỉ một năm ngồi chưa ấm chỗ) kêu dân Nhựt cứ đi chơi thả ga. Ngoài ra, còn tổ chức Thế vận hội Tokyo nữa chớ. Dân Nhựt nó hỏi: “Bịnh quá trời mà đi chơi cái giống gì? Bịnh quá trời thì xí quách đâu mà thi đấu thể thao?”

Không chịu nghe dân càm ràm, ông cứ cắm đầu làm. Thì dân Nhựt không nghe ông. Dân Nhựt sẽ kêu cái đảng Liberal Democratic Party (LDP) của ông đi chỗ khác chơi là bỏ bu cả lũ. Vậy là dù muốn hay không, cuối tháng Chín nầy, Yoshihide Suga phải về quê chăn vịt.

o O o

Ngay cả nước Úc nầy đây, cơn đại dịch đã và đang làm các ông bà Thủ hiến tiểu bang, kể cả Thủ tướng Liên bang lo sốt vó.

Dù cao lương mỹ vị, ăn không còn cảm thấy ngon. Rượu xịn, uống không còn cảm thấy đã. Ðêm ngủ không yên giấc. Cứ trằn trọc hoài vì sợ mất chức. Ai nấy sụt chừng chục ký! Má hóp da nhăn, già đi trông thấy hàng chục tuổi! Thiệt là tội nghiệp quá!

Như tiểu bang Victoria, thủ phủ Melbourne bị đóng cửa triền miên, đóng liên miên, đóng lưu niên. Ðóng rồi mở he hé. Rồi lại đóng. Ðóng cà lăm tới lần thứ năm. Ðóng từ mùng 5, tháng Tám tới nay.

Bị cùm chưn, không làm ăn được gì ráo, không có tiền vô tiền ra nên dân nó quạu. Cứ mỗi cuối tuần, Úc trắng, đỏ, vàng, đen xúm nhau một bầy ra ngoài ‘city’ la lối om sòm. La văng nước miếng bay tùm lum ngay tới mặt mấy thầy đội. Trong những hạt nước miếng đó, có con ‘virus’ nào không chỉ trời mới biết!

Vậy là chánh phủ tiểu bang Victoria hiện nguyên hình là một nhà nước ‘vú em’ (nanny state); một nhà nước Cảnh sát (Police state). Cảnh sát đình chỉ giao thông công cộng ngày thứ Bảy, ngăn người dân vào khu trung tâm Melbourne để biểu tình.

Ðứa nào cứng đầu, cứ tụ tập bất hợp pháp, làm lây lan dịch bịnh thì sẽ bị phạt tới $ 5,452.

Ðôi khi chánh phủ làm quá như: cấm không cho dân ngu khu đen Úc được bay đi tiểu bang khác để lần cuối cùng gặp mặt người thân đang hấp hối. Hoặc cấm thằng ‘cu’, 3 tuổi, đi thăm ông bà Ngoại rồi bị kẹt cả tháng ở cái trang trại bên cầu biên giới mà không được trở về nhà bên kia chỉ cách một dòng sông nhỏ xíu để bú tí mẹ!

Trong khi đó, Thủ tướng Úc Scott Morrison tà tà trên chiếc máy bay phản lực của Lực lượng Không quân Hoàng gia Úc từ thủ đô Canberra bay về Sydney rồi bay trở lại.

Giới truyền thông Úc thắc mắc:“Ai cho phép ông Thủ tướng bay tới bay lui như chuồn chuồn về nhà ăn Father’s Day (mùng 5, tháng Chín) ngay trong thời đại dịch (phải cô lập) khi ra khỏi địa phận của thủ đô rồi quay trở lại mà không phải bị cách ly? Làm như thế có công bằng với dân Úc ngu khu đen hay không?”

Ối đó là: chuyện ruồi bu! Bà con trong nước gọi là chuyện nhỏ như con thỏ. Tây gọi là: cơn bão trong tách trà (a storm in a teacup).

Xưa giờ, bà con mình ai cũng biết luật lệ do chánh phủ đưa ra chỉ để áp dụng cho dân ngu khu đen mà thôi. Quan thì khỏi. Nhứt là quan lớn cỡ Thủ tướng thì cứ vô tư. Họ muốn bay tới Mặt Trăng thăm Hằng Nga xong; bay trở lại Trái đất còn được. Sá gì cái chuyện nhỏ như con thỏ là bay về Sydney thăm Má sắp nhỏ chớ?

Là dân ngu khu đen, trên răng dưới ‘dế’ thì gối rơm an phận gối rơm đi! Càm ràm mà chi? Hổng ăn thua gì đâu! Xưa giờ nó vậy rồi mà!

Tranh Bảo Huân

Ai cũng biết: con người có sức khỏe về thể chất và sức khỏe về tâm thần. Cứ xúm vô lo sức khỏe về thể chất. Coi bao nhiêu người mới nhiễm mỗi ngày? Ai đi nằm nhà thương? Ai chết? Mà bỏ quên sức khỏe về tâm thần.

Bị nhốt hoài, người ta cũng bị khủng hoảng tâm thần chớ! Nổi khùng lên, đi vô đá con mèo, đi ra đá con chó một cái. Chắc hết mùa dịch, Tòa án gia đình xử chia của, chia con mệt nghỉ!

Nhưng vô ra không biết làm gì để giết thời gian, đôi ta xúm nhau sản xuất con nít!

“Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc. Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người.…Khi vui nước nước non non, Khi buồn lại giở bàn son quân ngà”

Nói chung là tại huỡn quá! Không đi ăn phở được thì ở nhà lục cơm nguội vậy. “Chàng ơi giận thiếp làm chi? Thiếp như cơm nguội phòng khi đói lòng”

Kết quả là tiểu bang NSW thêm 19 ngàn tiếng khóc chào đời, cao hơn 9% so với cùng kỳ trong năm ngoái.

Ôi nhớ xưa, cách đây chừng 20 năm, mà thương cho ông Peter Costello, Bộ trưởng Ngân khố. Ổng đã từng thảm thiết kêu gào mấy em Úc ráng chịu đau bụng đẻ 3 lần để tọt ra 3 đứa. Một cho Má. Một cho Ba. Một cho Chánh phủ. Mỗi ‘bế bi’ (baby) được 5 ngàn tiền tã.

Mấy em Úc bĩu môi tiền nhiêu đó nhằm nhò gì? Nuôi một đứa  cho lúc nó tới 18 tuổi phải móc xỉa tới $284,570. Ông có ngon thì ông đẻ đi! Hi hi!

o O o

Bấy lâu, tui hằng nghe mấy ông Mít mình chê Úc nó khùng. Tui không đồng ý! Úc nó sống lè phè, cày 5 ngày; nghỉ 2 ngày nhậu, khôn thấy mẹ!

Nhưng chú em Jon-Bernard Kairouz, 24 tuổi ở Sydney thì tui thấy khùng thiệt. Cái khùng thứ nhứt là: xúi giục và tham gia biểu tình chống lại lệnh bắt buộc dân chúng ở nhà của chánh phủ NSW. Ðúng ra là chú phải xách chiếu ra Tòa rồi. Nhưng vì chú mới nhiễm COVID-19, nên ông Tòa chưa dám xử vì ông Tòa cũng sợ bị lây.

Cái khùng thứ hai là: trên mạng TikTok, chú bố láo là nhờ giải được những con toán rất phức tạp, chú đã tìm ra số người bị nhiễm ‘Coronavirus’ mỗi ngày. Trong 5 ngày liên tiếp, chú đoán đúng ngay chóc; vì chú có tay trong Bộ Y tế tuồn số liệu ra.

Ối cái trò ‘láu cá vặt’ (dodgy) nầy thì chú Úc khùng nầy chỉ đáng xách dép cho các quan lớn nhà ta ở Sài Gòn, Bình Dương và Hà Nội biết con số thiệt nhưng cũng biết phù phép biến nhiều thành ít nữa kìa.

ĐXT

“Con Thiên Nga ‘dấu’…yêu!”

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Tranh Bảo Huân

Thưa quý độc giả thân mến.

Mấy bữa nay trời bớt lạnh, đêm ấm dần lên, những hàng cây ven đường tuần qua còn trụi lủi mà bữa nay đã nhú những chồi xanh. Cây mai làm kiểng trước sân nhà người viết đã lác đác trổ mấy nụ mai vàng. Nếu chúng ta đừng căn theo lịch mà căn theo thời tiết thì xuân tới phải là Tết tới. Mà Tết là khoảng thời gian đoàn tụ gia đình! Trăm núi ngàn đèo cũng lặn lội về thăm! Chắc quý độc giả thân mến hỏi: mùa xuân đến rồi; tui có bay về Việt Nam du xuân và du hí không? Làm sao khỏi! Nhưng hồi năm ngoái về, chẳng có gì vui!

Sài Gòn bây giờ bin-đinh vài ba chục tầng được cất lên nườm nượp vì người ta sợ mỗi lần mưa là ngập; mỗi lần mưa là phố bỗng thành dòng sông uốn quanh. Người Sài Gòn bây giờ rất giỏi; ai cũng biết lội hết ráo mà tui lại không biết nên ra đường trời mưa sợ sụp ống cống ngỏm củ từ bỏ vợ con lại hổng ai nuôi!

Nhưng điều làm tui thất vọng nhứt là những điều tưởng tượng, mơ ước trong lòng đột nhiên trước thực tế phũ phàng phang cho một cái quá đau nên tui quyết không thèm về nữa!

Về Việt Nam, em yêu (dù ghen thầy chạy đi) cũng thử cho tui về một mình, một lần xem sao? (Em nói tình ta là vàng thiệt, vàng 24 cara, nên không sợ lửa? Mà lửa có đốt anh cháy thì anh sẽ cháy đứt một nửa cái nhà, một nửa chiếc xe, một nửa chiếc tàu câu cá, luôn một nửa tiền hưu trí… nên em nghĩ dù anh có thèm chảy nước miếng tới rún cũng không dám manh động mà ra tay động thủ! Kẻo mất tiền!)

Không có con vợ kè kè theo kiểm soát 24/7 nên tui lén kiếm tìm, thăm lại người xưa. Quán hủ tiếu của em yêu một thời dang dở tình ta vẫn còn đó, dù hơi tiêu điều hoang phế, rêu mọc tùm lum! Bước vô, ngồi xuống cái bàn sát bên chỗ tính tiền, tui kêu một tô hủ tiếu mì hoành thánh có thêm cái đuôi heo… ăn cho nó lên mỡ máu, để hồi ức về yêu thương ngày tháng cũ!

Em thâu ngân là một em tóc dài, em cài hoa thiên lý, miệng em cười anh để ý… nhớ giống ghê nha! Nhưng em không nhìn ra tui. Hơn 40 năm rồi, vật đổi sao dời! Chắc có lẽ tui đã già quá đi rồi! Thời gian đã hủy hoại tất cả hồi ức và cái nhan sắc của tui! Quất sạch tô hủ tiếu mì hoành thánh, cạp hết cái đuôi heo, cạn hết mấy chai bia, móc túi trả tiền, tui lấy hết can đảm hỏi em: “Anh tên Tèo ở Melbourne, Úc Châu về; xin hỏi em có phải là em Đẹt của ngày xưa? Nàng nhìn tui trân trân một hồi không chớp mắt; rồi kêu vọng vô phía trong: “Ngoại ơi! Có ai kiếm ngoại kìa!” Nghe vậy tui quày quả bước ra khỏi cửa quán như bị ma đuổi.

Bay trở qua bên nầy, tui giấu biệt chuyện đó… Sợ con vợ tui buồn vì trước khi về Việt Nam, em yêu cũng có lên một lớp ‘moral’ cho tui rồi. Em nói: “Con cá làm ra con mắm! Vợ chồng già thương lắm mình ơi!” Anh có về Việt Nam đừng bày đặt như người ta, bia ôm bia iếc, rồi cặp bồ cặp bịch, kiếm mấy ‘con gà móng đỏ’ làm tan nát tình ta!” Vì: “Gà tơ xào với mướp già! Vợ hai mươi mốt chồng đà sáu mươi. Ra đường, chị giễu em cười. Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng. Đêm nằm tưởng cái gối bông. Giật mình gối phải râu chồng nằm bên. Sụt sùi tủi phận hờn duyên. Oán cha trách mẹ tham tiền bán con!”

Mấy em bên đó đẹp thì chắc phải có người yêu rồi chớ! Anh rước về; chẳng qua là anh xài đồ ‘second-hand’; có gì đâu mà hãnh diện? Em tuy già nhưng lúc anh cưới, em là hàng hiệu, hàng ‘brand- new’, sau về nâng khăn móc túi anh rồi chỉ một đời chủ, chung thủy với anh. Còn tụi nó là lũ bạc tình, nó dám bỏ tất cả kép già, kép nhí, dù hẹn thề bán mạng…để theo anh…vì anh có tiền, có cái mác Việt Kiều thôi! Chớ chừng tuổi nầy còn cơm cháo gì nữa mà ham. Anh không có nghe chuyện: Một ông Việt Nam mình, mùa hè xứ Úc lên tới 42 độ C, tắm xong, trần truồng bước ra nói với con vợ: “Nóng quá mặc quần áo làm gì!” Nhưng nếu anh để vậy mà ra trước sân cắt cỏ hổng biết con nhỏ Úc hàng xóm nó sẽ nghĩ ra sao?” “À! Nó nghĩ là em lấy anh chỉ vì tiền mà thôi!”

Đang tán dóc với vợ nhà thì anh bạn văn gọi điện bảo tới nhậu chơi! Bèn lễ phép xin em cho anh đi chơi một chút. Em yêu miễn cưỡng gật đầu!

Anh bạn văn già của người viết là một người có máu tiếu lâm! Tán dóc với ảnh mình cứ ôm bụng cười bò lăn bò càng; nên người viết rất lấy làm ái mộ. Anh đã 71 nhưng cười hoài nên trông giống như 17. Nếu là phụ nữ, chắc người viết đã ‘ưng’ ảnh lâu rồi!

Không những có máu tiếu lâm mà ảnh còn là một con người khéo ăn, khéo nói. Anh gọi bà xã ảnh là ‘thiên thần’; gọi mấy thằng con là ‘thiên tử’; gọi gia đình bên vợ là ‘thiên triều’. Tự xưng mình là ‘phò mã’ nghĩa là thằng giữ ngựa!

Tuần rồi đích thân anh bạn văn nầy đưa ‘thiên thần’ ra phi trường để chắc là em yêu đã bước chân lên máy bay về bệ kiến thiên triều; để vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!

“Nhưng vợ vắng nhà cũng buồn lắm nha anh. Tui lại đang nghỉ phép thường niên một mình! Trong vòng vài tiếng đồng hồ mà tui đã mở tủ lạnh tới hơn một trăm lần rồi đó. Ăn nhiều mà không uống sợ lên cân nên bữa nay mời anh tới nhà tui, hai đứa mình lai rai một trời tâm sự!”

“Hỏi sao anh không đi với chị cho vui? Cho ‘chỉ’ đi một mình bộ anh không sợ bọn đạo tặc hay sao? Tốn tiền lắm nên năm rồi tui đi, năm nay bả đi… thay phiên nhau đi; để có đứa coi nhà… không thôi đạo chích đến dọn là không còn một cái chén ăn cơm!”

Anh nói: “Thiên thần của tui năm nay về bệ kiến thiên triều nhưng em vốn là người lo xa lắm, biết trước sau gì đồ ăn trong tủ lạnh tui sẽ rủ bạn bè đến quất sạch sành sanh nên em có để lại cuốn thiên thư nầy đây. Để tui mở ra coi em nói cái gì?” Mở thiên thư ra có vài chữ chỉ cách nấu mì gói. Nước sôi, bỏ bột nêm, bỏ mì vào bắc xuống rồi ăn. Hết!

Căn vào thiên thư của thiên thần để lại, anh lui cui nấu hai tô mì gói hiệu con Ngỗng!

Anh nói khi em đáng yêu thì tui âu yếm gọi em là ‘thiên thần’; nhưng khi em quạu, thì tui âu yếm gọi em là ‘thiên lôi!’

Vợ thì thay đổi xoành xoạch vậy đó nhưng em gái vợ, Dì Út, thì chẳng bao giờ. Mãi mãi trong lòng anh, em là con Thiên Nga, đẹp hết biết!

Ảnh nói có lần tui hỏi em yêu: “Nếu anh chết trước, em có đi thêm bước nữa không?” “Dĩ nhiên là không! Vì em ngán tới cần cổ rồi!” (Dì Út mấy bữa trước có gởi qua cái học bạ hồi còn học mẫu giáo của anh, lúc vượt biên mình không thể đem theo được. Trong đó cô giáo phê anh là ham chơi, khoái ăn, mê ngủ; và không chịu làm gì hết. Bốn chục năm nay từ khi anh cưới em về…. cũng đâu có thay đổi gì đâu!) Nên nếu lỡ anh chết trước em, em không lấy chồng, ngu gì cơm bưng nước rót, hầu hạ như một kiếp tôi đòi nữa, em sẽ về ở với em gái của em!”

“Còn nếu lỡ em chết trước anh… thì sao?” “Thì anh cũng vậy. Anh sẽ về ở với em gái của em!” Hi hi! (Chết cha tui lỡ miệng) Con vợ tui trừng mắt. “Ê nói chơi hè!” Cho qua chuyện nhưng trong lòng tui nghĩ y vậy đó anh ơi!”

Anh đừng vội rầy tui là thằng anh rể lựu đạn. Kim Trọng cũng vậy mà có ai đàm tiếu gì đâu?! Thúy Kiều và Thúy Vân, Trọng ta đòi quằm hết ráo! Dì Út của tui đây cũng đẹp như là Thúy Vân vậy đó! Tại sao anh thắc mắc là tui không để ý ai khác mà lại để ý đến Dì Út, em vợ mình. Để tui cắt nghĩa cho anh nghe! Thứ nhứt là hồi tui mới tính cưới vợ; bà già vợ chơi khăm, bày trò thử lòng tui, coi tui có háo sắc, quơ quào tầm bậy tầm bạ không? Gần ngày cưới, Dì Út mới thỏ thẻ với tui là: (tui nghi đó là kịch do bà già vợ tui làm đạo diễn) “Em muốn tặng anh món quà đặc biệt trước khi anh nên duyên giai ngẫu với chị em. Em lên lầu nằm đợi. Rượu nằm trong nhạo chờ nem. Em nằm phòng vắng chờ anh một mình!” Tui suy nghĩ nhanh như máy tính! Bắt cá hai tay là xôi hỏng bỏng không…coi chừng vuột hết! Bèn dứt khoát bước đi cái rột ra cửa… (kẻo mình lại đổi ý!). Sau đó tui nghe phong phanh bà nhạc của tui khen rằng tui là thằng anh rể tốt. Chớ bả đâu biết rằng ở đâu thì còn ở đó. Mất mát, hao mòn gì đâu mà sợ… thì việc gì phải gấp gáp chớ?!

Phần Dì Út cũng kén lắm nha. Nên tui hổng sợ có trự nào quỡn đến hớt tay trên. Muốn lọt vào mắt xanh của em là phải có vô số điều kiện. Dì Út muốn tìm một người chồng đẹp trai, lễ độ, có óc hài hước, ưa chuộng thể thao, có kiến thức sâu rộng, hát hay, khiêu vũ giỏi và biết nấu ăn! Anh ấy phải luôn bên em, cùng vui vẻ với em khi em ở nhà. Anh ấy phải kể cho em nghe những câu chuyện thú vị và biết im lặng khi em cần phải nghỉ ngơi.

Tui đã trả lời Dì Út là: “Giờ thì anh hiểu Dì Út muốn gì rồi. Để anh mua cho em một cái máy truyền hình!”

Cục mỡ vẫn còn đó, vẫn còn lủng lẳng trước miệng mèo bao năm nay. Meo meo!

Tui có thằng bạn, con vợ nó có đứa em gái sanh đôi, giống hịt nhau như hai điếu thuốc. Có lần vợ nó sanh em bé. Bà già vợ thương con gái nằm cữ, gởi đứa em lên chăm sóc cho chị… và nó cứ lộn hoài không phân biệt ai là ai… Thiệt là cái thằng có phước hết biết?!

Dì Út là em ruột của vợ mình, ít nhiều cũng giống con vợ mình. Phận làm chồng, ai mà không thương yêu con vợ? Không thương, mình cưới nó làm chi? Vì thương em như Biển Hồ lai láng, không tính tháng tính ngày như thế nên thấy Dì Út hao hao là tui thương luôn… là hợp lẽ, hợp tình thì có gì đáng phải phàn nàn dị nghị phải không?  À anh hỏi tui sao chị vợ cả bầy cũng giống hao hao… sao tui hổng chịu thương? Hỏi anh nè! Bác sĩ có cho anh xài thuốc quá ‘đát’ hông?

Phần tui chấm Dì Út, vì tui không muốn mình có tới hai bà già vợ chi cho nó mệt. Một bà là đủ nhức đầu lắm rồi!

Tôi chắc như bắp, Dì Út đối với đám con của tui cũng là bà con; hổng lẽ em nỡ lòng nào đanh đá, chơi trò mẹ ghẻ con chồng, hát tuồng Phạm Công Cúc Hoa và Nghi Xuân Tấn Lực.

Anh còn cẩn thận dặn người viết rằng: “Ê! Cái vụ tui chấm Dì Út nó được mười điểm trên mười; anh nhớ đừng thày lay nói ai hay nhen. Chờ thời cơ, mai phục! Thiên cơ bất khả lậu!” Kẻo tui lại quỵ chết trước cổng Khải hoàn môn thì uổng lắm nhe anh bạn!

đoàn xuân thu.

melbourne.

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post bby Sơn râu 1 Jun 2024

Phần 12 – Cánh Buồm Bể Hoạn

Thức khuya mới biết đêm dài. Sống đến hôm nay 12-1-1975, bảy mươi ba tuổi, còn hơn một tháng nữa tới tết Ất Mão, là đã bảy mươi tư. Kiếp già, sống thừa, sao chưa chết để tránh thấy những bài dám chê ông Trương Vĩnh Ký. Đọc Bách Khoa III XVII “Trương Vĩnh Ký trong quỹ đạo xâm lăng văn hoá Pháp”. Rồi đọc Bách Khoa R. IV-XVIII “Trương Vĩnh Ký, bài học cho kẻ hợp tác”.

Đọc suốt hai bài, lấy làm tội nghiệp cho nhà học giả tiền bối miền Nam. Cũng may nhớ lại để an ủi, vừa đọc nơi chương 46, trong quyển quý giá “Tiếng hát sông Hương” của cụ Ung Bình Thúc Giạ Thị, do bà Tôn Nữ Hỷ Chương xuất bản năm 1972, nay mới gởi biếu. Đọc thấy hai bài như vầy:

1) Văn hào Trương Vĩnh Ký:

“Đạo đức văn chương là ông Trương Vĩnh Ký

Có tân thơ, có báo chí, có tự vị rõ ràng.

Thanh danh rạng giữa dinh hoàn.

Học xưa biết trước chỉ đàng cho hậu sinh”

2) Thi gia Tôn Thọ Tường:

“Nhả ngọc phun châu, có nhiều câu kiệt tác,

Hào đoan lỗi lạc, có nhiều đoạn danh ngôn.

Một tay thi sĩ tiếng đồn,

Cuối đời vua Tự Đức là ông Tôn Thọ Tường”.

Thì ra kẻ khen người chê đều có, và gẫm lại không lý cụ Ưng Bình là con dòng cháu giống, học lực uyên thâm, cụ thấy xa hiểu rộng hơn nhiều và kể về thuật xét đời cụ há đi thua nhà hậu sanh dám đại ngôn kia? Lại cười cho mình đứng giữa hai thế kẹt: kẹt giữa thế hệ trên như cụ Ưng Bình uyên bác một lòng kính trọng người xưa, kẹt giữa thế hệ dưới ngựa con háu đá, té ra chê khen là quyền thiên hạ, chỉ nực cười cho mình là thế hệ hèn, sợ mãi: lúc nhỏ sợ cha mẹ, sợ thầy, trông về già được hết sợ, nay tuổi gần xuống lỗ, cái sợ cũng chưa tha: sợ đám trực chửi thầy. Hai ông Trương Vĩnh Ký và Tôn Thọ Tường mà có người đòi hạ bệ, thì mình là cái thá gì? Nhưng xét lại trong đời cạo giấy của mình đã trải., tôi chưa đánh đĩ kiếp người tuy trót đã làm tôi mọi ăn cơm chánh phủ Tây ngót hai chục năm dư, – nên tôi thẳng thắn tiếp tục chép ra đây khoảng đời tôi, nạp tài liệu sẵn cho người kia, muốn chửi tôi thì chửi.

Nhắc lại khi còn thuộc Pháp, kể về công chức cao cấp làm việc ở Toà Bố (nay đổi gọi toà hành chánh, và công chức đổi gọi cán bộ, chung qui danh từ tuy đổi chớ cũng một kiếp người cạo giấy kiếm cơm), lúc ấy cũng như bao nhiêu người đi trước và bao nhiêu kẻ đồng thời, tôi nào phân biệt thế nào là thương nước, và tự xét chánh phủ nào trên mảnh đất nầy, cũng vẫn cai trị và mình vẫn phải phục tùng, vẫn cho mình cơm ăn áo mặc. Duy mấy cậu sanh sau khỏi kiếp đô hộ, không thương bọn già nặng lời chỉ trích, chứ thuở ấy muốn làm Di Tề thấy hơi khó, bất thọ phạn Châu, nhưng rau Vi lại cũng mọc trên đất nhà Châu chớ mấy thứ? Thuở ấy trong hàng bồi Tây, mỗi thư ký chánh ngạch đều nuôi hy vọng trở thành huyện phủ, mỗi lính quèn đều ấp ủ trong túi cây gậy lính nhà đại tướng (chaque soldal loe danh sa giberne le bâton de maréchai). Ai đâu tôi không rõ, nuôi ác tâm thi đậu làm quan lớn, dễ hách dịch bóc lột, “làm dân chi phụ mẫu”, nhưng đối với tôi, nói ra nay chẳng hổ lòng, tôi chỉ mong lên ngạch cao ăn lương lớn, dễ bề ăn xài, nhứt là mua sắm đồ xưa cho phỉ chí. Những năm khoảng trước 1925, trường cao đẳng dạy luật và hành chánh ở Hà Nội (école supcrieure de droỉt ét d’administration) chưa đào tạo và cung cấp đủ người dùng, thì chức huyện cũng được tuyển chọn trong hàng thơ ký soái phủ lâu năng, nhưng bắt buộc những người nầy phải qua hai kỳ thi đổ lửa:

a) Khoa nhứt gọi “examen de culture générale”, khảo về học lực phổ thông, tương đối dễ mà khó, vì phải có thực tài, viết và nói tiếng Pháp thật cứng mới mong trói lọt. Tuy vậy vì là khoa khảo khí thường (examen), nên không nghe nói cần đánh phép. Khoa nầy năm 1927, tôi thi có một keo, may thời được chấm đậu đầu. Không biết nên gọi may hay là rủi, vì ngựa mơ háu đá, tôi ỷ tài phách lối, sau vì tiếc đeo đuổi theo hoài, quả tôi chưa từng thấy biển nên lội trong rạch ngòi mà tưởng mình là thợ giỏi,

b) Khoa kế, gọi “concours professionnel”, (khảo về chuyên nghiệp và khả năng) khoa nầy thật gắt mấu, số thí sinh càng ngày càng nhiều, số lấy đỗ càng ngày càng sụt, vì vậy từ năm 1929 về sau, có nạn đánh phép, nay gọi phải nhờ đức Thánh Trần hộ mạng, thì mới mong thoát khỏi búa rìu giám khảo được, làm ngư vượt võ môn, cá chép biến thành rồng. Nói chí đáng không nên quơ đũa cả nắm phao cho hết thảy đều vậy, và cũng có nhiều bạn công phu nhiều, học tận tuỵ và thi với thực tài, vẫn đậu tự nhiên, nhưng số nầy rất ít. Nay việc cũ đã qua, bàn lại vô ích nhưng thiết tưởng đời nào cũng thế, vả lại tôi có chủ tâm muốn vạch những lỗi cũ của mình, dầu có người chửi, tôi cũng xin cúi đầu nhận tội và sám hối, nghĩ như vậy nên tôi vẫn phép ra đây, cho đúng câu: “Hơn nửa đời hư“. Tại sao tôi mù quáng, không bỏ cuộc tìm con đường khác xuất thân. Rõ là hư, còn chối cãi gì nữa được. Nhưng trong thâm tâm, lúc ấy tương lai vận mạng nước nhà còn mịt mù, việc lấy lại độc lập như nay chưa thành vấn đề, đường công danh các bạn đồng bối và tôi đều nghĩ như nhau, làm việc kiếm cơm độ thê nhi, với nghề cạo giấy, thì chánh phủ nào cũng vậy, cũng đều một thế.

Trước năm 1926, người đậu khoa phổ thông thuộc số ít, nên ai đậu khoa nầy thì kể như chắc nắm chức huyện trong tay. Ngờ đâu, đến lượt tôi, đậu rồi năm 1927, bị bắt chờ đến năm 1929, đúng bốn năm trong chức vụ mới được thi và cũng từ năm 1929, gặp nạn kinh tế khủng hoảng mà chớ, thêm sĩ tử có bằng tú tài được thi chung với bọn tôi gốc thư ký và xui xẻo nhất là số tuyển chọn hạn chế có bốn người. Quả tôi đã quá ngây thơ và ngu muội, mãi tin nơi sự công bằng của giới quan trường thời đó. Kỳ thi tuyển khả năng từ 1929, tiếng rằng thi để chọn người rành việc hành chánh, kỳ trung đó là cửa mở rộng cho sự hối lộ, quan trên ăn theo đàng quan, bóp cổ bọn cò ke lục chốt lấy lại phần nào, và quan dưới tức thơ ký và tú tài, muốn đậu được bổ huyện hạng ba thì phải có lễ mễ, mặc sức vơ vét và tom góp lại sau. Những con gà không của và đá đòn trơn như tôi, sức mấy mà thi đỗ, tức ăn độ bao giờ?

Năm 1929, bài tôi là ai khá lắm, nếu tôi làm như người ta, nghĩa là nếu tôi chịu tốn một số tiền như người ta đòi hỏi nói sau đây, thì có lẽ tôi có hy vọng được chấm đậu cũng chưa biết chừng. Nguyên lai số điểm đậu, theo nguyên tắc, ít nhứt là phải trên số 412 điểm. Thế thì số điểm của tôi, lên đến 460 điểm tức dư chưng đậu. Nhưng vì số tuyển hạn chế chỉ lấy chỉ cỏ bốn người, phần kỳ thi nầy như đã nói là thi con cua (concours), nên mấy anh Tô Văn Qua, Trần Văn Chi, Thái Ngươi Xàng và tôi có tên trong bảng vi bằng năm 1929, hiện tôi còn giữ được. Nói thiết tỷ, nếu một trong bốn đứa chúng tôi, có dư tiền đánh phép cho thật đúng chỗ, thì cũng dám “soán ngôi” của anh số 4 Ngô Văn Hoá nào đây, được lắm chớ chẳng không. Nhưng nói mà chơi vậy thôi, chớ tài nào cải số, với ban giám khảo lang-sa năm ấy (1929) mà chánh chủ khảo là tham biện Bussière tỉnh Thủ Dầu Một.

Tôi còn nhớ rõ, năm đó, sau khi thi xong các bài viết, buổi chiều tôi đưa vợ tôi lúc đó là Tuyết, đến ăn cơm Tây nhà hàng Yeng-Yeng, cơm rồi đưa nhau về phòng trọ ở khách sạn Tân Hoà đường Bonard (nay là Lê Lợi). Vừa nhắm mắt dưỡng sức, vì mai nầy còn chịu một trận thử lửa hạch miệng, bỗng nghe có tiếng gõ cửa. Đó là bác Năm Mỹ, người ân nhân năm xưa cho tôi ở trọ ăn cơm tháng, nay đến thăm hỏi han vụ thi cử… Bỗng bác bảo tôi hãy đưa cho bác bốn ngàn đồng (4.000$00), thì sẽ đậu. Ông đốc phủ chủ quận Bến Cát (N.X.H) – bác Năm nói – ổng thấy danh sách có thể chấm đậu (admissible) có tên mầy, nay tao lãnh lịnh đi kiếm mầy, mầy đưa bốn ngàn cho ổng thì ổng nói một tiếng với chủ khảo là quan thầy của ổng, tức mầy được đậu tức thì.

Lúc ấy, tôi còn trẻ, sẵn tánh bộc trực và háo thắng, tôi khinh bỉ cười mà đáp rằng: “Thưa bác, bốn ngàn không dễ gì kiếm. Nếu tôi có, tôi sẽ mua một chiếc xe Citroen ba đầu nặng (ba chỗ ngồi), tôi và vợ tôi chiều chiều hóng gió chẳng là khoái hơn. Tôi không lo lót, vì hối lộ rồi ăn lại nhà nghèo, xấu hổ và thẹn với lương tâm.

Bác Năm khuyên tôi không được nên giận bỏ ra về, nhưng chưa đầy một giờ sau thì quay lại, dịu giọng cất nghĩa cho tôi nghe dịp may ngàn năm một thuở, phen nầy ông đốc phủ vì thua bài quá (ông đánh me), chịu bớt còn hai ngàn thôi, và cam đoan khi nào tôi thấy có tên trong bảng hổ, sẽ chi tiền. “Đ.m, như vậy là tốt quá bực, anh Năm hãy nói với nó, thuở nay các bác đàn anh đều dùng cây cầu ấy, khuyên nó đừng tưởng giỏi dùng cách khác, uổng công!”. Đó là mấy lời nói nặng của ông N.X.H, nói với bác Năm và bảo bác nói nhắn lại cho tôi nghe. Nhưng nói và khuyên cách mấy cũng không đặng, nên bác bỏ ra về và không đến thăm tôi cho đến ngày thi rồi tôi trở về Sa Đéc.

Sáng bữa sau tôi vào phòng thi hạch miệng, tôi có cảm giác không khí ngột ngạt nặng nề. Tôi đang ngồi chùm nhúm với các bạn sĩ tử, thuật lại câu chuyện xảy ra đêm rồi, anh em bàn ra tán vào đứa thì không tin, đứa thì khen nhẹ giá sao tôi không y theo cho an phận, bỗng đến phiên ông chủ khảo bất tay làm việc và trước tiên ông gọi tên tôi lên cho dự thi. Nhưng thay vì hạch hỏi trong phạm vi khả năng, ông mời tôi trình giấy thuế thân cho ông khám. Đó là một việc bất thường và ngoại lệ, vì sĩ tử chỉ có hai mươi ba người, và thảy đều biết mặt nhau, đâu có sự trồng tréo giả mạo gì được. Chủ khảo đọc trên tờ thuế thân (như tờ căn cước ngày nay), thấy tôi sanh năm 1904, vào năm 1929 đúng hai mươi lăm tuổi, ông bầu môi nhưng không nói gì, trả lại giấy thuế và mời tôi bắt thăm chọn đề tài. Tôi quên nói kỳ thi nầy rất quan trọng, sĩ tử có 23 người nên đề tài câu hỏi được viết sẵn trên giấy rời, cuốn tròn lại và đặt trong lòng ruột chiếc đỉnh đồng, lá thăm nào bóc rồi là loại luôn, không dùng lại nữa, để lãnh sự trùng điệp. Đề tài tôi chọn được là “Le budget régional” (sổ công nho địa hạt). Tôi đang đứng diễn giải nghe giòn giã, bỗng ông chủ khảo ngắt ngang và hỏi tôi một cách bất ngờ: “Xin vui lòng cho biết thầy giữ chức việc gì tại toà bố và ở tỉnh nào?”. Tôi thành thật thưa: “Dạ, tôi hiện làm việc ở toà bố tỉnh Sa Đéc và có phận sự trông nom về công nho địa hạt”. Ông vụt vỗ bàn cười lớn và phân bua: “Hèn chi anh nói nghe suôn sẻ và rành mạch quá! Như vậy là trúng tủ anh rồi. Nhưng đây là kỳ thi về khả năng công chức cao cấp và Uỷ ban chúng tôi có trách nhiệm tuyển chọn người xứng đáng, nhứt là tránh sự may rủi. Vậy thì anh hãy nói qua “công nho tài chính nhượng địa Quảng Châu Loan” để xem thực tài của anh ra thế nào, như anh nói được tôi sẽ cho điểm cao”.

Và tức nhiên vì tôi khinh thường không nghiên cứu vấn đề “Le budget du Kouang-tchéou-wan” và không trả lời ổn thoả. (Mà tôi dám chắc trong đám sĩ tử kỳ thi đó cũng đều bí lối như tôi). Và kết quả là tôi thi rớt.

Năm ấy thi rồi về tỉnh Sa Đéc, trong tai tôi còn văng vẳng câu khuyên nhiều ý nghĩa của vị chủ khảo là tham biện Thủ Dầu Một Bussière: “Thầy còn trẻ quá, mới hai mươi lăm tuổi đầu, còn đủ thì giờ để già dặn thêm. Đường công danh thầy còn dài, và tương lai hy vọng thầy còn tràn trề. Thầy nên nhẫn nại… Hãy xem mấy bạn đồng khoa với thầy ngồi dưới kia, người nào cũng đầu hai thứ tóc, mà còn lận đận nơi trường ốc. Kẻ trước tới người sau cũng tới, lo gì? Theo tôi, thầy nên nhường chỗ cho họ, qua sang năm tôi sẽ nhớ đến thầy nếu tôi còn được cử làm chủ khảo như năm nay. Hề hề! Phàm trái cây, phải đợi chín muồi mới là trái ngon?”

Như vậy, thử hỏi nếu đêm rồi tôi ưng thuận chịu lo hối lộ cho chim mồi là ông Phủ Bến Cát, thì bữa nay tôi có hy vọng gì khỏi bị tham biện Thủ Dầu Một Bussière hỏi câu hóc búa và cứu độ cho tôi đậu không?

Tại sao tôi không sớm tỉnh ngộ và chịu hiểu câu nói đầy ý nghĩa của chủ khảo, nửa đùa nửa thật, nửa khuyên tôi nên biết điều, nửa dạy tôi ẩn nhẫn đợi thời. Nhưng nay việc rồi tôi xét lại, chẳng qua đó là luật nhơn quả, đó là then chốt. Không có vậy, làm sao có chuyện viết thành sách “Hơn nửa đời hư“.

Đại phàm rượu phải uống cho đến cặn, và tôi xin thuật lại đây tường tận nỗi mờ ám của tôi xin chớ trách tôi dài dòng và như vậy mới thấy những hư hèn của tôi, và ai là khách đã qua cầu mới biết.

Suốt mười bốn năm bất tận, tôi ngu muội đeo đuổi theo nghiệp khoa cử hư danh, từ năm 1929 đến năm 1942, mà chưa tỉnh mộng, cứ tin thi mãi có ngày đậu. Ngờ đâu ngày nay nghiệm ra và giác ngộ đã trễ, thi concours professionnel, tiếng rằng thi chọn người có khả năng chức nghiệp, kỳ trung là thi mánh khóe, ai giỏi chạy chọt là có phần may “tới nơi tới chốn”, chớ dễ gì lấy tài “trơn” ra ứng cử, khác nào con gà đá độ không cựa mà dám so tài với gà “cựa chuối bén ngót như dao”, mình thi tài mà họ thi tiền thì mình thua là cái chắc.

Tại sao lúc đó tôi không bỏ nghề cạo giấy, sang qua nghề khác ít cạnh tranh như nghề làm báo hay viết lách chẳng là hơn. Nhưng như đã nói, tôi ngu tối, vẫn ngây thơ hiểu rằng nghề làm thơ ký cho chánh phủ vẫn là nghề trong sạch như muôn nghề khác, miễn mình ở giữa đám bùn lầy mà không nhiễm tật xấu, hối lộ ăn của đút, thì lương tâm vững vàng.

– Kỳ thi thứ 2: mở ngày 1-12-1931. Sĩ từ 27 người. Chủ khảo là ông Estèbe, tham biện chủ tỉnh Tân An, phụ tá chủ khảo là ông Bunou, đầu Phòng Nhứt dinh Thượng Thơ (Nội vụ) và giám thị kỳ thi viết là ông Đốc phủ Ngô Văn Chiêu, người đầu tiên từ Hà tiên đem về Sài Gòn thuyết xây ghế cầu cơ, tức nguồn gốc của đạo Cao Đài sau nầy. Kết quả có năm người đậu.

Năm nay tôi thi rớt là đáng kiếp vì suốt năm 1931, tôi mảng lo việc gia tài cho Tư là người vợ nay đã ly dị. Năm nầy có một sĩ tử gặp dịp may hiếm có là bài viết kỳ 3, thảo lại bức thư trả lời một vấn đề nào đó, thì ông T, gặp bản giáp (minute de lettre) bỏ quên sót lại trong hồ sơ, ông đánh liều chép y rồi thủ tiêu bản giáp, bài được chấm nhứt hạng. Mãi lâu sau ông Võ Văn Nhiều mới thuật lại.

Kỳ thi thứ 3: Mở ngày 1-3- 1933 – Số sĩ tử quên ghi. Có ba người đậu.

Năm nầy, thi rồi hồ sơ đều niêm lại không cho ai biết, kết quả tuyên bố rất trễ. Có một người chỉ có công dò giấy số cho bà thống đốc Krautheimer mà nên công danh. Riêng tôi, công đăng hoả mấy tháng trời, học đến xếp ve mà vẫn phủi tay không, tuy chủ khảo là tham biện Le Strat trước nhậm ở Sa Đéc, có biết học lực và tánh tình tôi, nhưng không giúp ích được gì.

Kỳ thi thứ 4: Mở ngày 16-12-1935 – Chủ khảo, gặp Bussière lại nữa, và kỳ nầy ông cũng xét giấy thuế thân tôi mà không xét người nào khác: tại sao?

Phụ khảo: Ông Nay de Touris, sở kho bạc và ông Monvoisin, dinh Thượng Thơ.

Giám thị kỳ thi viết: Ông đốc phủ Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung).

Kỳ nầy, chua cay là rớt số Một, khít nút với người đội sổ. Gặp thầy bói tên Trần Thúc Sanh, coi tay và coi tướng, nói mình về già tốt phúc, năm nay không đậu vì tiểu nhơn ám hại, muốn đậu phải liều như đánh bài thua. Nhưng mình vẫn nhứt quyết không “liều như đánh bài”, chỉ tự trách còn óc mê tín, tin dị đoan và vẫn đi xem bói.

Kỳ thi thứ 5 – Mở ngày 24-8- 1937 – Chủ khảo: Ông Roger.

Phụ tá giám khảo: Ông Nadal đầu phòng Ba và ông Josa đầu phòng Tư, dinh Thượng Thơ.

Cử tử có hai mươi tám người, mình rớt số 28 vì tội dám cãi lý với giám khảo. Số lấy đậu là bốn người, cũng quên biên danh tỉnh để lại, vì buồn tủi. Từ năm nầy, vẫn thi đi cho lấy có, nhưng đã thất niềm tin và tự chủ. Lại nữa, bề thế đã đổi thay, gia tư khá hơn.trước, nhờ ăn gia tài của Bà Phủ An Sốc Trăng là nội tổ người bạn nay đã ly dị. Tình thế nay đổi đời, nhưng không dám quên tri ân người đã khuất. Cũng từ đây, say mê đồ cổ, mỗi lần thi rớt là an ủi mua về một cổ ngoạn đáng giá, bất ngờ nay trở nên một thành công lớn, còn lớn hơn buổi xưa thớt đậu. Ô hô! Thời da? Mệnh da? Chẳng qua vì vận thời, không nên trách cứ vào số mạng và nên tự tin vào sức của mình tự tạo là hơn.

Kỳ thi thứ 6 – Mở liền năm sau, ngày 1-6-1938, nên các cử từ đều không dự bị kịp. Ông Larivière, tham biện tỉnh Bạc Liêu làm chủ khảo. Phụ tá giám khảo gồm ông Nadal đầu phòng Ba và ông Kresser, đầu phòng Tư, dinh Thượng Thơ. Kỳ nầy đăng cáo thị lấy sáu người đậu, nhưng ông Larivère do có cảm tình và từng thấy cách tôi làm việc tại toà bố Cần Thơ, nên sau khi thi, ông không tuyên bố kết quả mà lập biên bản đề nghị lên quan thống đốc xin tuyển thêm ba người đậu số 7 là tôi, số 8 là Trang và số 9 là ông Hải, viện cớ cả ba đều có số điểm trên trung bình và đáng được chấm đậu. Rủi cho tôi, lúc đó lại có thơ rơi tố cáo tôi: a) Lo lót tiền bạc (năm trăm đồng) cho một cò-mi làm việc tại phòng nhơn ty và biết đầu đề bài thi viết, b) Tôi có hạnh kiểm xấu, bỏ vợ nghèo cưới vợ giàu, c) Đã mua chuộc tham biện Le Strat kỳ thi năm 1933 v.v…

Vì vậy, ông Larivière nổi giận, thay tờ vi bằng khác, lại bỏ tôi ra và chấm đậu tám người. Đây là một bài học đau thương, vì tôi giàu có nên có người ganh ghét ám hại, khi tôi kêu oan thì sự đã trễ, nên xử chìm xuống, hứa lại kỳ sau.

Kỳ thứ 7: Mở ngày 19-2-1941. Kỳ nầy có đến hai ban giám khảo: a) Ban giám thị gồm ba ông: Kerjean, Le Pellisier và Trịnh Đình Quý, coi thi, b) Ban giám khảo thi và chấm bài, gồm ba ông: Goutcs, tranh biện Chợ Lớn; Rolland, ngạch điền thổ và Mialin, đầu phòng Nhứt, dinh Thượng Thơ.

Kỳ thi nầy có một cải cách là cho thi ứng đáp trước khi thi ám tả. Cử tử cả thảy là hai mươi người nhưng qua kỳ hạch miệng chỉ còn lại có tám người, trong số ấy có tôi. Nhưng khi thi xong ba bài viết đến chiều ngày 22-2-1941, ông Rebouillat, chủ sự phòng Nhơn ty, đã quen với tôi lúc ở Cần Thơ, nay ông cho hay tôi rớt nữa, và các số điểm của tôi là:

Kỳ ứng đáp, nôm na gọi thi hạch miệng.

Hành chánh (d’aministralion générale) 10

Tài chính (régime financier) 15

Luật (d’roit) 16

Sử địa (géographie) 18

Hành chánh địa phương

(administration provinciale) 12

____

71

Thi viết Bài thứ nhứt, số điểm và hệ số 11 x 5 = 55

Bài thứ hai 11 x 3 = 33

Bài thứ ba 8 x 5 = 40

Bài thứ tư 11 x 5 = 55

Bài thứ năm 11 x 3 = 33

___________

216

Cộng: 287

Theo nguyên tắc phải có 312 điểm là bực trung mới đậu, và tôi thiêu 25 điểm, trong số đó có ba người đậu.

Hôm biết được kết quả, tôi phải gọi xe kéo đưa về nhà vì quá buồn. Hôm sau không còn lòng nào làm việc, định xin thôi về nhà vui thú điền viên nhưng ông Rebouillat cho hay lúc nầy tình hình nghiêm trọng, chánh phủ không chấp nhận cho tôi đâu mà hòng làm đơn vô ích. Ông lại cho hay trong một bài viết tôi có dùng một câu chữ la-tinh mà ban giám khảo nghi là “không tự nhiên ắt có tá tha nhơn làm bải giùm” nên cho điểm nhỏ (8 x 5), vì vậy mà rớt.

– Kỳ thi thứ 8 và kỳ chót – Mở hội thi ngày 21-7-1942. Ban giám khảo gồm có: Wolf, tham biện chủ tỉnh Thủ Dầu Một, chánh chủ khảo và Freyssenge và Bealvais, đầu phòng nơi dinh Thượng Thơ, giáp ất phó chủ khảo.

Cử tử 24 người gồm bốn tú tài và 20 thơ ký đã đậu khoa phổ thông (culture générale), trong số có các bạn quen cũ là Nguyễn Đình Hào, Dương Văn Hưng, Hồ Văn Mạnh, Nguyễn Văn Vạng, Dương Văn Ký, Trần Văn Hưng, v.v…

Năm nay tôi rớt đau nhứt và nhục nhã nhứt vì bị loại vòng đầu trong kỳ hạch miệng. Và kỳ thi chấm đậu có ba người cũng quen biết và không nhớ rõ là ai, nhưng trong số đó có anh Dương Văn Ký. Một anh nữa là Nguyễn Văn Giáo nhưng sau cuộc đảo chính dưới trào thủ tướng Nguyễn Văn Thinh, anh được bổ nhiệm làm huyện và lần lên đốc phủ đó là việc khác.

Riêng tôi, thất bại về thi cử, kể bảy lần trước thì lòng có buồn tức thật vì có thể đậu nhưng bị ganh tị hoặc bị nghi ngờ việc nầy việc nọ mà rớt. Duy đến kỳ thứ tám nầy, rớt rồi lòng không buồn ức nữa mà chỉ chán chê cho cử nghiệp lao đao lận đận, khi biết mình luôn luôn bị dìm, bị đè đầu xuống thì mong gì đâu? Việc làm đầu tiên là ngày 25-7-1942 ôm mớ sách học thi cả thảy tám cuốn, đem lại hiệu Tín Mỹ đường La Grandière bán được hai mươi bảy đồng, chiều lại đem tiêu vèo trong một bữa cơm Chợ Lớn, tống khứ cái giấc mê đồ ham làm huyện làm phủ, trong khi tài không có mà miệng thế gièm pha thì nhiều. Cái nghề làm huyện để cai tri dân, đâu phải để dành cho những kẻ dại dột như tôi muốn trong sạch và không chịu đi theo con đường vạch sẵn, là phải lo lót để thi đậu rồi vơ vét mót máy gỡ vốn lại sau. Tôi nói đây không có ý quơ đũa cả nắm và xin chừa những anh có thực tài, đi thi và đậu do sức riêng, tức không cậy thần cậy thế. Lúc đó tôi rất tự tin nơi tuổi trẻ và nơi công lao ăn học, tưởng rằng “có công mài sắt có ngày nên kim”, nhưng nói mãi nhàm tai, tôi xin chịu tội lúc nhỏ duy có một chữ xứng đáng đánh dấu cuộc đời “phân nứa kiếp” của tôi, đó là chữ “Hư” to tướng.

Và cuốn sách nầy, lấy nhan là “Hơn nửa đời hư” là vì vậy.

Viết đến đây, miệng đắng lưới khô, lỡ khóc lỡ cười, vừa nhớ vừa thấm thía câu bất hủ trong Cung Oán:

Cánh buồm bể hoạn mênh mang,

Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh!

Còn nhiều câu nữa đều hay và dạy đời, nhưng mình không nên ngâm, vì dẫu cho giọng tốt cũng nên câm miệng lại, vì rõ là “thằng Hư!”.

Cám ơn đã được thi rớt!

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Phần 11 – Năm 1930

Nhớ ông Cai tổng Lê Đình Quảng – Mò ốc gạo sông Tiền Giang và bữa rượu cô-nhắc Robin tại nhà ông Cai Quảng.

Với chức công táp toà bố, tôi coi về phát lương bổng cho công chức trong tỉnh, nếu tôi có tiền sẵn, nghề nầy cho vay đặt nợ là tuyệt vì mỗi đầu tháng chân lương khi phát, không ai khất hay giựt của mình được xu nào. Nhưng lúc ấy có bao nhiêu tiền tôi mua đồ cổ hết, và tuy tôi không ưa giữ bạc sợ thất thoát, sợ bị ám ảnh lấy tiền tủ là có ngày vào tù, nhưng cũng nhờ nghề nầy tôi biết nhiều về nhân vật và địa dư tỉnh Sa Đéc đáng yêu nầy. Tôi kiêm nhiệm luôn chức đi thâu thuế và đóng dấu cân lường trong tỉnh, mỗi năm mỗi thay con dấu, tỉ dụ năm 1929 con dấu khắc chữ L thì năm 1939 là chữ M, cứ thế chuyển đến hết chữ thì trở lại chữ A v.v…; sau khi đóng dấu rồi thì giao cho cò bót đi xét và phạt nhưng nhà buôn mà cân hay lít chưa có đóng dấu chịu thuế.

Trước khi thừa hành phận sự, theo luật tôi phải xuống toà án Vĩnh Long tuyên thệ vì Sa Đéc lúc đó chưa có toà, nhưng toà đã giản dị hoá cho phép tôi gởi lời thề viết, thay vì hiện diện đi hầu, và sau khi nhận giấy toà án nhìn nhận tôi trở nên chánh thức thay mặt luật đi xét cân lường và được tịch thâu nhưng lít non, cân thiếu, giúp đỡ cho người dân quê khỏi bị gian thương bóc lột lường thăng, tráo đấu, đong giạ nhỏ dùng cân non.

Kể ra mỗi khi đi như vậy, tốn công linh và mất nhiều thì giờ, công việc trong sở bị bê trễ; nhưng bù lại mấy khi được ngao du làng nầy qua làng nọ, lục lạo tìm món đồ xưa trong giờ làm việc khỏi bị quở trách?

Đường gần, như tổng Châu Thành thì gởi trát cho cai tổng chi thị các nhà buôn trong tổng nạp cân, giạ, lít tựu tại công sở sở tại cho chúng tôi đến đó kiểm xét, đóng dấu chứng nhận và thâu thuế. Mấy lúc ấy chúng tôi làm việc không hở tay vì sợ con mắt tọc mạch của cò bót dòm ngó và tâu lại chủ tỉnh. Gặp đường xa như lên Cao Lãnh hay qua Lai Vung thì phải dùng xe hơi hoặc tàu máy, khi lấy xe sở công chánh chạy cà rịch cà tang khi nào ông chánh vui lòng cho mượn xe tàu của chủ tỉnh thì đi mau về lẹ và khỏi sợ ăn banh dọc đường.

Thuế cân lường thâu vô không có là bao, mỗi lít thâu một cắc mốt (0$11) mỗi cây cân tạ cân lúa gọi cân bùn còn miễn cưỡng thâu hai đồng ngoài bạc, vị chi mỗi làng thâu độ hai chục đến hai trăm bạc thuế, nhưng có lẽ phải ép nhà buôn đóng dấu cân lường để tránh nạn cân thiếu lít non và tệ đoan làm giạ nhỏ không đủ ni tấc để gạt dân quê trong việc mua bán lúa, kỳ thật tiền thâu vô trừ ra tiền xăng nhớt và tiền vãng phản của chúng tôi, gọi tiền xúp (supplément) thì không còn lại bao nhiêu. Về cơm nước dọc đường, khi thì chúng tôi bốn người: một anh cai phu thuyền, anh đội Lê Kim Đơn trước học trường máy, tài công tàu, thầy ký Lê Văn Tốt và tôi, hùn nhau lại mua thức ăn, khi gà rô-ti khi vịt quay, xá xíu, rượu chát trà ngon, đánh chén dưới tàu trên sông cái dưới bóng mát cây bần, cây ngừa, những lúc ấy mới thấy đời công chức lớp đó có nhiều thú vị, nên nay bị chỉ trích cũng vừa, và cũng đáng. Nhưng phần nhiều, dọc đường vẫn có tay nghĩa hiệp, thầy cai tổng hay thầy bang biện đưa chúng tôi về nhà thết đãi, tôi riêng không chú trọng việc ăn nhưng có ý đi tìm đồ cổ và tìm hiểu phong tục mỗi nơi nên ít chối từ. Lúc ấy ông chánh Esquivillon vừa bị công táp ở Cần Thơ thụt két rồi tự vận, khiến ông bị vạ lây nay đổi về Sa Đéc thấy tôi có bộ ngay thẳng nên có cảm tình, ông duyệt sổ xăng nhớt thấy tốn kém quá vì đường gần mà trưa nào chúng tôi cũng đều về nhà ăn cơm nước rồi mới ra đi nữa, bởi thế muốn cho đỡ tốn và đo nhọc, ông ra chỉ thị dạy tôi khi đi xa đường cứ neo xe hay tàu lại đó chờ chiều xong việc hãy về cho đỡ tốn xăng, được lịnh ấy không khác nào ông cho phép chúng tôi cứng hư và bắt đầu cho chúng tôi lợi dụng dùng tàu đi chơi tuỳ thích lại được tiếng là biết tiết kiệm của công nho!

Năm 1930 chúng tôi dùng trọn tháng năm đi xét cân lường, mỗi ngày đi vài ba làng, như hôm 22-5-1930 chúng tôi xét làng Mỹ An Bình, đến trưa ở lại dùng cơm nhà ông xã trưởng vì ông mời mọc quá, nay quên mất tên ông để mà tưởng niệm, âu cũng là một phần sơ sót. Chiều xét cân làng Mỹ Trà cho đến năm giờ xuống tàu ra về, tới giữa sông lấy cơm nguội và mắm sống ra tự tay xé mắm và bốc cơm ăn, bất giác tự hỏi cái kiểu ăn cơm “xi đay” nầy của ông bà ta truyền lại hay hễ ăn mắm sống thì phải dùng cơm nguội mới thấy ngon và phải bốc tay mới thấy thú, và cái mốt nầy thịnh hành nhứt là ở Cao Miên, Thái Lan và Ấn Độ, tức một văn minh “ăn bốc” khác hẳn với văn minh Trung Hoa, Việt Nam và Nhựt Bản là văn minh “ăn đũa”.

Bữa sau là 23-5- 1930, tiếp tục dùng canot quan chánh cho mượn đi xét cân lường ở Mỹ Xương. Chúng tôi khởi hành thật sớm, mua theo bánh mì nóng và xá xíu mới ra lò, tàu vừa chạy chúng tôi lấy ra dùng điểm tâm, uống cà phê phin, cười giỡn dưới làn gió mát sông cái quên hết nỗi cực nhọc hằng ngày, rõ lại cái hạnh phúc thường theo bén bên mình chỉ tại mình không đủ thông minh để mà tận hưởng. Ở Mỹ Xương chợ búa lèo tèo, nên xét rất mau, có một mụ xẩm trình một cây cân và mười mấy trái cân, có một cái không đúng cân lượng, tôi đã có ý định tịch thâu, nhưng mụ nói một câu ngây thơ với cô gái xinh xinh đi theo: “Tại thằng cha mày, động chút cũng lấy “trứng dái cân” làm búa, đóng đinh cũng nó, đóng guốc cũng nó, báo hại cục chì văng mất, kiếm không ra nay ông nầy đòi xiết cái trứng dái nầy đi, về nhà tao làm sao có mà dùng?”. Tôi không nhịn cười được và không đành tịch thu “của quí” của bà, nên nhờ anh em thay cục chì, cân xét lại kỹ càng đóng dấu chứng nhận và trả trái cân lại cho mụ, xem mụ bằng lòng lắm, chỉ nhìn cặp mắt long lanh của cô gái tuỳ tùng cũng đủ biết hai mẹ con mừng rỡ đến bực nào, và cái làm phúc làm đoan không phải duy cho tiền nhiều là được. Vừa chín giờ sáng, công việc đã xong xuôi, chúng tôi xuống tàu trực chỉ ra sông cái, mười giờ chúng tôi đậu tàu lại giữa sông nơi đuôi cồn, chỉ giữ mỗi người một y phục ngắn gọn để tầm và mò ốc gạo. Đây là một cuộc vui khó tả, biết bao giờ trở lại?

Trong đời tôi đã mục kích mấy lần “cồn hoá vực, vực hoá cồn”. Tại chợ Cồn, năm 1930 còn lộ đá và cầu tàu, năm 1974 cầu tàu đã rơi xuống sông và nước đã khoét con lộ lở mất không dùng được nữa, cũng như mới đây (1974) báo chí đăng tin chợ Kế Sách trọn một dãy phố rớt tõm xuống sông không còn thấy vết tích viên gạch nào. Hôm ấy (23-5-1930) tại nơi nầy, tôi lại thấy cảnh “cồn nổi”, tức là cảnh “thương hải biến vi tang điền” như đã đọc trong sách truyện diễn tả. Năm ấy (1930) thuộc địa phận tỉnh Sa Đéc, vừa mọc thêm ngoài sông cái Tiền Giang, hai hòn cù lao nhỏ đứng ra là hai đuôi cồn có tên nhìn nhận là Cồn Cát và Cồn Chà. Mỗi lần có cù lao nổi như vậy, khi nước vừa lấp xấp lội với bụng tới rún (độ sáu bảy tấc bề sâu), đến khi nước ròng giựt uống còn lội tới nửa ống chân, có chỗ tới mắt cá (độ hai, ba tấc sâu) có chỗ khác thấy được đất lé đẻ lên mặt nước, tuy cù lao vừa nổi làm vậy thế mà đã có người đến xin khẩn nơi toà bố rồi, họ là những người có thế lực, hoặc là hội đồng quản hạt hay là tay giàu gộc trong xứ, nghe gia nhơn đi làm ruộng về hay đi thuyền đánh lưới nơi sông cái về đồn có cồn nổi, tức thì họ làm đơn vô quan chánh xin khẩn trước tiên. Cũng có khi chính những người sở tại biết chuyện, giỏi lo lót cùng làng tổng xin được giấy chứng lận đem lên trình quận và quan đầu tỉnh rằng họ là người khai thác từ nhiều năm những cuộc đất mới nầy. Khi ấy tỉnh bộ trát về quận hỏi lại cho có lệ rồi cấp phát một biên lai tạm thế vì bằng khoán để tránh sự tranh giành của kẻ khác. Sau nầy hoặc vài chục năm hoặc lâu hơn nữa cù lao nổi cao thành ruộng tốt, khi ấy sẽ có cuộc phát mãi mà chủ tạm được quyền ưu tiên mua với giá đấu cao nhứt và làm chủ vĩnh viễn. Trong khi lo chạy giấy lờ hợp lệ, thì người chủ tạm lo bồi bổ cuộc đất và giúp một tay với thợ trời bằng cách cấm ranh cho phân biệt “đất cũ đất mới” và trồng cây dừa nước cho đất phù sa có chỗ mau kết tụ thành đất bồi. Những dừa nước nầy họ mua thật rẻ của các thợ làm rừng, bọn nầy ra công đi vớt trái dừa đã mọc mộng trong rừng lá rồi đem về bán lại cho chủ đất, lúc ấy mỗi cây dừa còn nhỏ chỉ độ một xu hai xu một cây là cùng.

Với những trái dừa nước mọc được đôi ba lá ấy, người khẩn đất cù lao mua đem về cấy lưa thưa nơi đất cồn, và độ chừng vài ba năm những cây ấy đã bắt rễ trổ đọt, mọc khỏi mặt nước cao nghêu. Những chỗ đất còn trống, sau đó họ cấy thêm lác và khi lác bén rễ mọc nhiều thì họ cắt lá phơi khô dệt chiếu, tức đã có một hoa lợi nho nhỏ ăn cầm canh chờ vài chục năm sau đất có chưa đứng rồi trở nên ruộng tốt, thêm ít chục năm nữa là trồng cây ăn trái lập vườn dựng nhà trở nên khá giả giàu có được rồi. Tính ra từ cồn nổi đến thành điền, cũng phải một đời người hoặc hai ba đời chớ không chơi. Nhưng người dân lấy củi lục làm ăn, theo luật “trời sanh trời dưỡng” đâu có sợ chuyện thời gian lâu dài, chỉ biết sống vui vui niềm hy vọng có đất tự tay mình đào tạo. Tôi đã nói trong bài về “bò giá tréo”, về bến tàu Chợ Cồn bị nước ăn dưới chưn lo đứt một khúc lộ quan dài hơn ba cây số ngàn, ngày nay con lộ còn lại bị nước khoét dưới chưn trống bộng, xe cộ đều không dám qua lại trên lộ nầy vì sợ rủi ro, còn nhà cửa phố xá hai bên lộ nầy đều không còn cái nào, lớp bị sụp xuống nước, lớp tự chủ nhà dỡ dọn đi xây dựng nơi khác, Chợ Cồn nay cảnh tiêu sơ coi buồn không chỗ nói, trong khi ấy nơi đối diện cù lao ngang Chợ Cồn lại đất bồi ngày càng thêm lớn rộng và dân ta cứ theo câu tục ngữ xưa “đất bồi thì ở, đất lở thì đi”, và câu khác “lúa tới đâu bồ câu tới đó” dân ta nay qua cù lao ở ngày càng đông là vậy.

Nhắc lại ngày 23-5-1930, sau khi làm phận sự xét cân lường tại làng Mỹ Xương xong cả, khi ấy trời còn sớm quá, độ mười giờ sáng, nên chưa tính chuyện cơm nước dằn bụng gì được, vả lại ông cai sở tại có lời dặn trước, nên hôm nay đã cho người thân quyến đón chúng tôi và lên canot của tỉnh dẫn đường đưa chúng tôi chạy trở ra sông cái, đến một nơi gọi là Đuôi Cồn, nhưng đến nay khi thuật lại đây, việc lâu đời quá nên không biết rõ đây là cồn nào; người nầy phát cho mỗi người chúng tôi một cái thùng thiếc cũ và dạy cách vừa tắm sông vừa mò ốc gạo. Y phục chúng tôi cởi trụi và gởi hết lên chiếc tàu neo kề bên, vì người đâu của đó xin chớ quên chúng tôi còn số bạc trót ngàn tiền xét cân Mỹ Xương buổi sớm. Chúng tôi mỗi đứa chỉ còn một mảnh vải che thân, đều nhảy xuống sông cái lặn hụp và tắm mát ngày ấy trên dòng nước Cửu Long giang. Ngày nay ốc gạo ta mua về luộc hay ăn ngoài phố do các người mang trong rổ đi bán dạo, phần nhiều đều là loại ốc gạo nuôi trong hồ đầm, không được mập béo và không ngon bằng ốc gạo thiên nhiên sanh và lớn tại sông cái, nhứt là ở vùng Sa Đéc, Vĩnh Long nầy. Ngày xưa đó là một món ăn lạ, được dâng lên vua ngự thiện và được các quan hộ tống chở ra tận Huế dưới danh từ “cống phẩm của Nam kỳ lục tinh”. Năm tôi còn học tại trường Chasseloup tôi còn giữ được một bài thi xưa về ốc gạo, xin sao lục ra đây, nhưng không biết rõ tác giả là ai, vì bài thi nầy do anh em cho mượn tập thi lục, sao đi chép lại vần công, mà không đề rõ danh tánh người trước tác:

Bãi hạc cồn nhàn thả rạng danh,

Cháu con gò đống nhóm nên thành;

Xa cừ đồng tánh tôn như chú,

Thô mễ trùng danh cứng bẵng anh;

Tây chẳng phải thời nam phải tiết,

Xuân sang vừa nghén hạ vừa sanh;

Hàm rồng ngon ngọt bao là đáng,

Tuy cũng đồng loài khí chẳng tanh.

Khuyết Danh (trước năm 1919)

Năm nay 1930, chính mình là một tên học trò không quen lặn lội thế mà được dự một cuộc bắt ốc giữa sông cái thiện là một chuyện bất ngờ. Tôi chỉ biết vui đùa vô tư lự. Gió thổi vù vù bên tai, mình trần trụi dầm nước mà không thấy lạnh, ngày thường vẫn tắm nước nóng và động động là ho hen sổ mũi nhức đầu. Trời nắng chang chang không thấy nóng, nước xăm xắp tới rún, và cẩn thận không biết lội nên không dại gì ra sâu để chết chìm, chúng tôi chùm nhúm một chỗ, đẩy thùng thiếc tới trước, dùng chân rà rà dưới bùn, khi nào đụng vật gì lạ lạ dưới chân thì cúi xuống thò tay mò và thế nào cũng lượm lên nhưng con ốc no tròn nhưng mình mẩy dính đầy bùn vì chúng sinh sống trong chất ấy. Tuy vậy, ốc nầy không nhiễm vi trùng vì sống giữa sông sâu nước chảy, và sợ nhứt là loại ốc nuôi trong chỗ thiếu vệ sinh, ăn vào thường lây bịnh hiểm nghèo như bịnh thương hàn, trong Nam gọi bịnh ban cua lưới trắng. Theo thủ tục, ốc mồng năm tháng năm là đúng lứa, vừa mập và không có con trong bụng, tức khi ăn không nhai gặp vỏ ốc nhỏ mất ngon. Ăn sái mùa hoặc gặp ốc còn ốm hoặc gặp ốc có con, mất thú, nhứt là gặp ốc chết thì bữa cơm ấy kể như bị phạt.

Vỏ ốc gạo khi được nhiều, ngày xưa đốt lấy vôi dùng têm trầu thì là tuyệt, vừa sang và miếng trầu thêm ngon. Ngày nay tục ăn trầu đã bớt nhiều, vỏ ốc chỉ còn dùng lót đường hoặc để mục làm phân bón cho gốc kiểng. Chúng tôi hôm ấy là tay ngang thế mà mò được khá nhiều, đến trưa gom góp lại cũng được trót nửa thùng thiếc, và người gia nhân ông cai tổng cắt nghĩa là vì sở đất đuôi cồn nầy có chủ, người mò ốc lén không dám lại đây bắt nên ốc có nhiều. Chúng tôi mừng rỡ đem về nhưng ông cai tổng nào cho ăn ốc mới mò được nầy, dạy rằng ốc mới còn ngậm bùn trong miệng, phải ngâm nó một ngày một đêm trong nước sạch cho nó nhả hết chất bùn ra thì ăn mới thú vị. Nói như vậy rồi ông cai lấy ốc cũ ra luộc và bày một tiệc vĩ vèo đãi khách. Ăn uống được nửa chừng, day qua bày cuộc thi uống rượu gọi là đánh tửu. Chủ gia đứng dậy thủ lễ phân trần cùng cử toạ, yêu cầu chúng tôi là người yếu rượu nên bước qua bàn kế, tiếp tục dùng bữa và nhìn xem các tay tửu lượng cao thi nhau đánh tửu. Nói đến đây, dòm lại tiệc giữa, tôi thấy chỉ còn ngồi sáu ông hương chức có tuổi, kể luôn ông chủ nhà là bảy người. Nhưng trong nhóm chúng tôi đại diện cho toà bố, có anh Ký Tốt, vỗ ngực xưng mình biết uống rượu “cũng như ai”, và không chịu lách rời bàn giữa. Chủ gia ân cần nhắc lại một lần nữa rằng bảy người nầy là tay thiện chiến đã quen biết nhau từ lâu nên hôm nay muốn biểu diễn một trận đánh tửu chơi, và thầy ký là khách mời, tốt hơn nên chứng kiến như giám khảo hơn là nhập trận rủi sơ thất thì e “tửu luật bất vị thân”. Nhưng một hai thầy ký không chịu rời chỗ ngồi và quả quyết “các ông đi tới đâu, tôi theo tới đó!” Sau hai lần khuyên và giác đát không nghe, bảy người kia nhập tiệc với thầy ký là tám, đủ bát liên quần tửu. Thế là sau khi an toạ xong, chủ gia đứng dậy giao kết một lần nữa rằng cuộc vui chơi không ai ép buộc ai, nhưng nay tám người nầy đã nhận là mình biết thưởng thức rượu ngon, thế thì phải giữ lời, thứ nhứt là mỗi người phải dĩ hà nhứt thể, uống bằng nhau cạn bôi, thứ nhì là không đặng nửa chừng bỏ cuộc, nếu vi lịnh sẽ chiếu tửu luật trừng phạt không tha. Nói đến đây, chủ gia tươi cười nhắc lại rằng lúc nầy còn dư thì giờ để suy liệu, nếu người nào biết mình bất kham theo dõi thì nên sớm tách ra khỏi bàn nầy để các tiên tử đánh chén. Nhưng sáu vị kia luôn anh ký nhà ta là bảy, không ai chịu mình là yếu rượu. Và cuộc đấu tửu bắt đầu. Trước tiên chủ gia sai triệt hết những ly rượu thừa, chỉ giữ lại một ly độc chiến, loại có chưn, nhưng ông đã cẩn thận bẻ gãy cái chưn bỏ đi, làm cho chỉ còn một cách cầm ly trên tay róc rượu uống và chuyền cho người khác làm y theo mình mà không thể nào đặt cái ly uống bàn được, vì chưn nó đã không còn nữa, đoạn ông mở tủ lấy ra tám chai rượu mới toàn nhãn hiệu “cognac Robin” là thứ đương thời được trọng dụng và thảy đều công nhận rằng ngon. Ông khui chai rượu thứ nhứt, một tay cầm chai một tay cầm ly, tự rót cho mình một ly đầy, kê miệng đánh tróc một cái, hà hơi nghe một tiếng khà sành điệu, gắp một con ốc chấm nước mắm bỏ vào mồm nhai ngon lành, rồi trao chai rượu và ly cho người kế tiếp cũng diễn hành lễ nhấm tửu y như ông ban nãy. Rồi đến lượt người thứ ba, thứ tư, khi đến người thứ tám thì đến phiên ông bắt đầu làm lại luân phiên nữa, và khi chai nầy hết thì khui chai khác tuần tự không cho thiếu rượu cũng không bỏ sót phiên của một người nào. Cuộc thi đua uống rượu tiếp tục vui vẻ và cứ thứ chuyển đệ vừa nói vừa cười, tám người nầy uống rượu cô-nhác cho chúng tôi xem không khác ta uống nước trà. Nhưng đến chai thứ sáu, tức mỗi người đã có hơn nửa phần chai lít rượu mạnh trong dạ dày, tôi ngồi ngoài nhìn kỹ thì người nào như người nấy thảy đều biến sắc, có kẻ mặt xanh như tàu lá, kẻ khác mặt đỏ phừng phừng, duy một ông chủ nhà cười nói hiên ngang đúng là một người tửu lượng phi thường. Bỗng anh ký toà bố nhà ta tuyên bố anh không uống nữa và mặc kệ ai, bỏ đó đi nằm dài trên một bộ ván. Còn lại bảy người kia, họ nào có chịu nghĩ cho. Họ vẫn để Tốt nằm yên trên ván ngựa, nhưng hễ họ uống đủ bảy người và tới lượt của Tốt thì họ kéo nhau lại cạy răng chú chàng và đổ trút ly rượu đầy vào mồm. Tốt không nuối cũng không được vì nếu Tối ngậm miệng khít lại đã có cái phễu thiếc lấy từ nhà bếp, thứ dùng dồn lạp xưởng, họ cạy răng nhét phễu và róc rượu như ta sang nước mắm từ tín nầy qua tín khác.

Uống được năm sáu tuần như vậy, bỗng Tốt vùng ngồi dậy, đỏ mặt như lên đồng, vì đã say quá độ và hết biết nhân sự, Tốt vịn ghế vịn bàn lết lại chỗ ngồi, và nói lớn: “Mấy người chơi không sướng! Tốt đã chịu thua, mà mấy người không dung tha. Nay Tốt làm như vầy đây, xem mấy người có bắt chước được không?”

Vừa nói tới đó, Tốt giựt cái ly không chưn, cắn nghe cái rốp, cái ly bể ra một miếng lớn, Tốt nhai miếng ly như ta nhai bánh tráng nướng, rồi Tốt chụp chai rượu tu một hơi như rồng lấy nước? Cả mấy bàn tiệc đều sợ hoảng xúm nhau kéo tay không cho Tối uống nữa, nhưng Tốt đã nuốt miếng ly vô bụng hồi nào mất đi rồi! Bữa tiệc hào hứng bao nhiêu nay buồn tẻ bấy nhiêu. Đến đây bữa tiệc trở thành một bi hài kịch nửa cười nửa mếu và tự tan rã. Chúng tôi xin nước rửa mặt, chủ nhà lo lấy dầu nóng đánh lưng bắt gió cho Tốt phở lở. Tuy vậy đến mười lăm giờ chiều, qua làng Mỹ Long, Tốt vẫn đóng dấu cân lường y như không có việc gì xảy ra. Đến mười sáu giờ, phận sự chúng tôi làm xong, còn kéo qua nhà ông Xã Chỉnh (không biết nay còn hay mất?) ngồi đánh cắt-tê trâu cho đến mười tám giờ mới chia tay ông xã, xuống tàu trực chỉ Sa Đéc Xuống tàu vẫn chưa thôi, lại lấy ốc gạo của ông Cai biếu, rồi hết chai nầy qua chai khác, chúng tôi sáu người uống thêm hai chai la-ve Larue, một chai rượu chát Médoc, một chai vin du Bourdon… Đến hai mươi mốt giờ tàu cặp bến ngay nhà ông Tư Hanh gần toà bố, thì cả thảy đều say mèm, nương nhau về nhà.

May thời tôi không quên chiếc cạc-táp tiền và khi đến nhà tôi để y bộ y phục bèo nhèo, ngả lên giường đánh một giấc đến sáng, bất chấp tiếng đon ren của ai kia khiển trách bên tai.

Bữa sau tôi vẫn ngây ngất chưa tỉnh, và qua ngày kế vẫn còn lừ đừ hai bữa liên tiếp tôi rán đi làm cho có mặt nhưng cố tránh không dám đem giấy tờ cho quan chánh ký tên, sợ biết mình là bợm say thì không trông gì lên chức!

Từ đó tôi lĩnh hội được một bài học khôn: đấu tửu là giỡn với cái chết. Không tự sát thì cũng tự huỷ hoại sức khỏe của bản thân.

Vừa rồi (năm 1974) tôi đến nhà một ông bạn thân, nghe ông tự khoe lúc thiếu niên, khi còn dạy học tại Tây Ninh, ông đã từng ăn liên tiếp sáu lô mì nước và uống xen kẽ sáu trái dừa Xiêm. Nay ông vẫn còn mạnh, nhưng ông cũng như tôi, sống nhờ thuốc men và sống nhờ có bác sĩ tận tình, ông nghĩ sao tôi không biết, chớ riêng tôi, tôi rất tiếc đã phí phạm lúc nhỏ sức khỏe một cách thật là ngu dại. Chính ngày nay khi tôi thấy chúng bạn tranh nhau cạn ly nầy đến ly khác, và một khi chai rượu đã mở nút thì quyết cho cạn đến giọt cuối cùng, thiệt là một cảnh chẳng đặng đừng đáng tiếc. Nhưng mấy ai khuyên giải được đệ tử của Lý Bạch, Lưu Linh? Rượu uống vừa phải còn thảy ngon, uống quá hớp chỉ làm thân chủ cho bác sĩ và trại hòm.

Riêng anh bạn Tốt, đến nay vẫn mạnh và vẫn ở Sa Đéc, không nghe nói đau bao tử hay rách ruột non ruột già. Một bằng chứng ai ham giảng mo-ranh là bậy.

Cữ cũng chết, kiêng cũng vô hòm, hay là ta ăn uống vừa vừa và nhớ không nên nói thật với bác sĩ!

Tái bút. Ông cai tổng An Tịnh, cố nhân Lê Đình Quảng, sau thăng huyện hàm, ngày 7-4-1932, khi tôi từ giã đổi về Sốc Trăng, có biếu tôi một bình vôi sứ có quai, mục lục số 51, tôi có nói trong tập số 8 “Khảo về đô sứ men lam Huế”‘ tập hạ, chương nói về bình vôi.

Tốt, sau nầy tôi có gặp trên Sài Gòn. Nhắc lại chuyện mò ốc gạo năm xưa, chàng ta cười, thè lưỡi cho xem và khoe không bị miếng chai cắt. Hỏi đã học được phép gì, Tối cười thêm lớn và nói đó là phép say. Hỏi không rách ruột sao? Tốt ngó tôi và nói: “Nếu rách thì nay sao Tốt còn đứng đây. Và bao giờ tiên Lưu Linh vẫn phù hộ bọn đệ tử trung thành như Tốt!”.

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 1 Jun 2024

Kỳ 8

Qua Tiến đánh Sầm Nứa của Vu Hóa Thầm, dân Việt phát hiện: Đảng Lao động VN phải phúc trình tất cả lên Bắc Kinh và đợi “tán thành”. Phải thi hành nghĩa vụ quốc tế “giải phóng” Lào cho khối Cộng sản.
Phải thực thi “đấu tố” theo công thức Mao và chính sách Cải cách ruộng đất là mệnh lệnh của Stalin. Từ 1951 Việt Minh tấn công cấp quân đoàn với tối thiểu 3 sư đoàn trong lúc phía Pháp, tiểu đoàn vẫn còn là đơn vị hành quân căn bản. Là những chi tiết chính trong chương này.

Viện Sử học Hà Nội không đặt câu hỏi vì sao Hồ Chí Minh đã không viễn kiến nhìn thấy tiến trình giải thực đã bắt đầu và không thể đảo hồi? Vì sao không chấp nhận tự trị trong Liên hiệp Pháp với hai miền Trung-Bắc để tránh chiến tranh? Anh, Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Hoa Kỳ lần lượt trao trả độc lập cho Ấn, Phi, Pakistan, Srilanka, Nam Dương, Tân Tây Lan, Úc, Bhoutan, Liban, Jordanie, Miến Điện, Irak, Cao Ly trước 1950. Du nhập chủ nghĩa Mác-Lê, trở thành chư hầu của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa và đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh với hậu quả nội chiến thảm khốc, là một chọn lựa sai lầm. Sau hai năm thương thuyết, qua Thỏa ước Hạ Long rồi Hiệp định Élysée, Bảo Đại đạt được những gì Hồ Chí Minh thất bại sau 9 năm máu xương. Điện Biên Phủ chỉ đem đến cho Hồ Chí Minh một nửa đất nước. Ngày 8 tháng 3-1949 tổng thống Pháp Vincent Auriol chính thức tuyên bố quốc gia Việt Nam độc lập thống nhất 3 kỳ trong Liên hiệp Pháp. Còn trong Liên hiệp Pháp và ngay cả khi Bộ Ngoại giao chỉ mới là những văn phòng đại diện tại ngoại quốc chưa có tòa đại sứ, chưa có Bộ Tài chánh mà còn là Ty Ngân khố, chưa thể có Bộ Quốc phòng, đã là một bước ngoặc: Hòa ước Bảo Hộ Patenôtre Giáp Thân 1884 chấm dứt hiệu lực. Pháp bắt đầu chuyển giao nhân sự hành chánh và đến 1951, Bảo Đại đạt được với tướng de Lattre việc hình thành quân đội quốc gia với cấp số khởi thủy 4 sư đoàn bộ binh, 1 liên đoàn nhảy dù, 1 trung đoàn pháo binh, 1 liên đoàn thám thính xa cùng các trường võ bị Nam Định, Thủ Đức, Đà Lạt. Thành công khác: Hoa Kỳ chuyển giao trực tiếp vũ khí cho quân đội VN không qua Phòng Quân nhu Pháp. Chậm rãi và từng bước, nền độc lập thật sự của quốc gia dần hiện thực. Kể từ đây sự ra đi của quân viễn chinh chỉ còn là thời gian.

Cũng kể từ lúc này, trên lý thuyết Hồ Chí Minh không còn lý do nào tiếp tục chiến tranh khi tất cả yêu sách của Mặt trận Việt Minh, Bảo Đại đều đạt được. Trong thực tế, chiến tranh là phương tiện duy nhất giúp Hồ Chí Minh lên cầm quyền, tóm thâu quyền lực và ngồi vào chiếc ngai trị vì đất Việt của nhà Nguyễn. Là lý do ẩn phía sau cuộc kháng chiến thần thánh.

 [Trần Vũ]

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Tiến đánh Sầm Nứa

Ngày 3/2/1953, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điện cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Vốn định đánh Nà Sản trước mùa mưa, vì chuẩn bị chưa kịp, quyết định đánh sau mùa mưa. Tranh thủ tổ chức chiến dịch Sầm Nứa trong tháng 4, đánh lấy vùng thượng Lào”. Ngày 9, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện trả lời tán thành.

Thỏa ước Hạ Long 8 tháng 3-1949 công nhận nền độc lập Việt Nam với 3 kỳ thống nhất.

Ngày 2/3 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện cho La Quý Ba và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sau khi nêu lên ý kiến cần làm tốt hơn công tác chuẩn bị chiến dịch Thượng Lào, nói: “Đồng chí Vi Quốc Thanh sắp lên đường sang Việt Nam giúp các đồng chí tổ chức chiến dịch Sầm Nứa, ngày 14/3 có thể đến Bằng Tường”.

Ngày 5/3, Vi Quốc Thanh vâng lệnh từ Bắc Kinh lên đường sang Việt Nam. Cùng đi còn có Hồ Chí Minh, đồng chí muốn về nước sau khi chữa bệnh nghỉ ngơi ở Bắc Kinh. Hai người cùng ngồi trong một toa xe công vụ của đoàn tàu từ Bắc Kinh đi Nam Ninh. Hồ Chí Minh rất nhiệt tình hiền hoà với mọi người, coi Vi Quốc Thanh như người bạn tri ân chuyện gì cũng có thể nói với nhau. Trên đường, Hồ Chí Minh nói đến tình hình hiện tại, nói đến chặng đường đã qua, cũng nói đến tình hình đồng chí gặp Stalin ở Moscow. Hồ Chí Minh nói với Vi Quốc Thanh: “Năm nay chúng tôi sẽ triển khai Cải cách ruộng đất quy mô lớn ở căn cứ địa Việt-Bắc, bởi vì ‘‘Người’’ đã nói rồi”. Khi nói tới chữ ‘‘Người’’ đồng chí cố ý kéo dài âm điệu đồng thời đặt hai ngón tay lên miệng thành hình chữ “Bát”. Vi Quốc Thanh hiểu ngay đó là Stalin.

Hồ Chí Minh nói: Khi gặp nhau ở Moscow ông ấy hỏi tôi: “Đồng chí muốn làm lãnh tụ của công nhân nông dân, hay là muốn làm lãnh tụ của địa chủ, nhà tư bản?” Tôi nói: “Tất nhiên tôi làm lãnh tụ của công nhân nông dân”. Ông ấy nói: “Đồng chí muốn làm lãnh tụ của công nhân nông dân thì phải mang lại ruộng đất cho họ, mang lại lợi ích thực tế cho họ”. Ông ấy còn lấy ví dụ nói với tôi: “Ví như một chiếc đòn gánh, một đầu là công nhân, nông dân, một đầu là địa chủ nhà tư bản, đồng chí phải đứng ở một đầu, không thể đứng ở giữa, đứng ở giữa không thể được”. Hồ Chí Minh tiếp tục nói: “Thực ra, được sự giúp đỡ của La Quý Ba, chúng tôi đã làm rất tốt nhiều việc về mặt phát động quần chúng, đã làm giảm tô giảm tức, chuẩn bị tiến hành cải cách ruộng đất. Bây giờ ông ấy đã nói ra, sau khi tôi về nước, phải thống nhất tư tưởng trong đảng chúng tôi hơn nữa, làm cải cách ruộng đất quy mô lớn”.

Vi Quốc Thanh nói: “Thế thì tốt! thời kỳ chiến tranh giải phóng ở Trung Quốc, nhờ có cải cách ruộng đất, nông dân hăng hái tòng quân, chi viện tiền tuyến, cho nên giành được thắng lợi toàn quốc rất nhanh. Việt Nam làm cải cách ruộng đất, quần chúng được phát động hơn nữa, nhất định sẽ thúc đẩy tiến hành kháng chiến toàn quốc thắng lợi”.

Vi Quốc Thanh nói tiếp: “Địa phương làm cải cách ruộng đất, sẽ phản ánh vào trong bộ đội. Ở bộ đội cũng cần phải tiến hành giáo dục và chỉnh đốn”. Hồ Chí Minh nói: “Đồng chí nói đúng, về mặt này còn phải nhờ các cố vấn giúp đỡ cụ thể”.

Sau khi đoàn tàu đến Nam Ninh, Hồ Chí Minh và Vi Quốc Thanh được biết tin Stalin từ trần. Hồ Chí Minh vội về Việt Nam. Trước khi lên đường, Vi Quốc Thanh đã xin Quân uỷ nghỉ phép, dẫn bác sĩ và bảo vệ đi huyện Đông Lan tây bắc Quảng Tây, trở về quê hương 26 năm xa cách, để thăm em trai và bà con họ hàng của mình. Ở nhà hai hôm lập tức quay lại Nam Ninh và trung tuần tháng 3 đến chỗ ở đoàn cố vấn ở Việt-Bắc.

Kể từ 1949 lá cờ quốc gia hiện diện trên tất cả các đồn canh, căn cứ và ở tất cả các đơn vị tham chiến.

Thượng Lào, tức miền bắc nước Lào, là hậu phương chiến lược quan trọng của quân Pháp ở Đông Dương. Sau khi bị thất bại nặng nề ở Tây Bắc Việt Nam, quân Pháp đã tăng cường phòng ngự ở Thượng Lào, xây dựng Sầm Nứa thành cứ điểm có công sự phòng ngự khá mạnh, có 3 tiểu đoàn và 1 đại đội pháo binh đóng giữ, hơn 1500 người. Ở Xiêng Khoảng và Mường Sủi phía nam Sầm Nứa nương tựa vào nhau, cũng có binh lực của 3 tiểu đoàn phòng thủ. Nói chung, phòng ngự của địch tương đối yếu. Sau khi về đến nơi ở của đoàn cố vấn, Vi Quốc Thanh lập tức bàn bạc với Võ Nguyên Giáp về vấn đề liên quan đến chiến dịch Thượng Lào và đi đến nhận thức chung: mục đích mở chiến dịch Thượng Lào là tiêu diệt sinh lực địch ở Thượng Lào, đánh lấy một số vùng ở Thượng Lào, mở căn cứ địa cho chính phủ kháng chiến Lào, củng cố và phát triển thành quả của chiến dịch Tây Bắc. Kế hoạch của chiến dịch là: các đại đoàn 308, 312, 316 tiến vào Lào theo quốc lộ 6, bôn tập từ xa đến Sầm Nứa; đại đoàn 304 từ Nghệ An tiến về phía tây theo quốc lộ 7, tấn công Xiêng Khoảng và chặn đánh quân Pháp nguỵ từ Sầm Nứa có thể chạy về phía nam, 5 đại đội Pháp từ Điện Biên Phủ phát triển sang vùng sông Nậm Hu để phối hợp.

Ngày 23/3, Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy đoàn cố vấn theo Bộ chỉ huy tiền phương

QĐNDVN ra tiền tuyến Thượng Lào. Khi sắp đến biên giới Lào thì gặp Hoàng thân Suphanuvong, lãnh tụ kháng chiến Lào, cùng trên đường đi vào lãnh thổ Lào.

Hoàng thân Suphanuvong, thành viên của vương thất Lào đã sớm tiếp thụ chủ nghĩa Marx, tham gia phong trào độc lập Lào. Năm 1946 sau khi quân Pháp khôi phục lại binh lực, ông tổ chức đấu tranh vũ trang chống Pháp. Mùa hè năm 1950 đứng ra nhận chức Thủ tướng nhiệm kỳ đầu tiên của Chính phủ kháng chiền Lào. Tháng 2/1951, lãnh đạo đảng Lao động Việt Nam và Hoàng thân Suphanuvong và Chêmxamây người phụ trách mặt trận giái phóng Cao Miên họp hội nghị liên tịch, quyết định thành lập Liên minh kháng chiến ba nước, Việt Nam, Lào, Campuchia, cùng nhau chống lại sự cai trị thực dân của Pháp ở Đông Dương. Đến năm 1952 được sự giúp đỡ của Việt Nam, lực lượng vũ trang của Hoàng thân Suphanuvong lãnh đạo phát triển được 1500 người.

Vi Quốc Thanh sớm biết tiếng Hoàng thân Suphanuvong, cũng đại thể biết rõ sự từng trải phi thường của ông. Vị Hoàng thân này người tầm thước, khuôn mặt vuôn tròn, nước da ngăm ngăm, khiêm tốn hoà nhã. Trong mấy ngày tiếp xúc với Suphanuvong Vi Quốc Thanh hiểu được tình hình đấu tranh và phong tục tập quán dân tình của Lào. Để bày tỏ lòng kính trọng và tình bạn đối với Vi Quốc Thanh, Hoàng thân Suphanuvong tặng đồng chí một thanh đoản kiếm có vỏ bọc tinh xảo và chiếc túi vải thêu hoa văn sặc sỡ. Bộ đội chủ lực quân đội Việt Nam bắt đầu ra quân vào hạ tuần tháng 3. Ngày 10/4, đại đoàn 308 và 312 vượt qua sông Mã biên giới Lào, cử một tiểu đoàn trang bị nhẹ tiến lên suốt ngày đêm, chuẩn bị đánh chiếm sân bay Sầm Nứa bằng động tác bất ngờ để cắt đứt đường tháo chạy bằng máy bay của địch. Không ngờ, đêm 11, một trung đội trưởng trinh sát của bộ đội địa phương Việt Nam đầu hàng địch, tiết lộ ý đồ của Quân đội Nhân dân. Quân Pháp nguỵ rạng sáng ngày 13 bỏ chạy về phía nam. Thế là cuộc tập kích biến thành cuộc truy kích.

17g ngày hôm đó, bộ đội đi đầu của đại đoàn 312 đến thị xã Sầm Nứa. Rút bài học trong chiến dịch Tây Bắc, bộ đội vì mang nặng đường xa nên hành động truy kích chậm chạp để cho địch chạy thoát, một tiểu đoàn bộ đội truy kích vứt bỏ ruột tượng gạo, trang bị nhẹ, tiến nhanh, hai tiểu đoàn khác thồ lương thực đuổi theo. Ngày 15, đuổi kịp quân địch ở Na Nong cách Sầm Nứa 30 km về phía nam, tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch. Ngày 18, số địch sống sót chạy đến gần quốc lộ 7, bị bộ đội đại đoàn 304 từ Nghệ An tiến lên phía tây chặn đánh, tiêu diệt phần lớn. Trận này Quân đội Nhân dân chưa tốn một phát đạn pháo, đã bắn chết bắt làm tù binh gần 1000 tên địch. Hơn 200 tên chạy trốn vào rừng, hơn 220 tên chạy về tiểu đoàn địch ở cánh đồng Chum.

Trường Sỉ Quan Nam Định

Ngày 18/4, các đại đoàn 308 và 312 tiến gần tới Luông PraBang, chỗ ở của vương thất Lào; buộc quân Pháp gấp rút đưa ba tiểu đoàn nhảy dù xuống Luông PraBang, tăng cường phòng ngự ở đây. Đồng thời, đại đoàn 316 tiến đến gần bắc Xiêng Khoảng, đại đoàn 304 cũng áp sát Xiêng Khoảng theo quốc lộ 7. Quân Pháp ở Xiêng Khoảng bỏ chạy về cánh đồng Chum, làm cho binh lực ở đây tăng lên đến 5 tiểu đoàn. Ngày 26, quân đội Việt Nam truy đuổi đến cánh đồng Chum, bao vây doanh trại quân Pháp. Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Điện Biên Phủ tiến xuống phía nam tiến

triển cũng rất nhanh, từ 16 đến 23 tháng 4, liên tiếp đánh các nơi Hội Hòn, Toả Thi, Mường U và đều chiến thắng, tiêu diệt một phần quân địch, kiểm soát một số vùng của tỉnh Phong Xalì.

Xét thấy mùa mưa sắp đến, đường cung cấp hậu cần cho bộ đội kéo quá dài, quân Pháp thực thi tập đoàn cứ điểm cố thủ, quân đội Việt Nam khó nắm bắt cơ hội tác chiến ở Thượng Lào, sau khi Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp bàn bạc quyết định kết thúc chiến dịch Thượng Lào ngày 3/5. Chiến dịch này tổng cộng tiêu diệt binh lực của 3 tiểu đoàn và 11 đại đội (tương ứng 1/5 tổng binh lực quân Pháp và ngụy ở Lào) giải phóng toàn tỉnh Sầm Nứa và một số vùng của tỉnh Xiêng Khoảng, Phong Xalì có tất cả hơn 300.000 dân (tương đương 1/5 diện tích của cả nước Lào), làm cho vùng này nối liền thành một dải với Tây Bắc, căn cứ địa Việt-Bắc của Việt Nam. Từ đó, Sầm Nứa trở thành trụ sở của Chỉnh phủ kháng chiến Lào, cuộc kháng chiến của Lào xuất hiện cục diện mới.

Sau khi kết thúc chiến dịch Thượng Lào, Võ Nguyên Giáp và Hoàng thân Suphanuvong mời Vi Quốc Thanh nói chuyện với cán bộ Việt Nam, Lào. Lúc này, Vi Quốc Thanh hiểu được trong số cán bộ Việt Nam cử sang công tác giúp Lào, có hiện tượng coi thường cán bộ Lào và bao biện làm thầy, còn cán bộ Lào có tư tưởng ỷ lại và tâm lý tự ti, ảnh hưởng đến triển khai công tác, Vi Quốc Thanh cho rằng, nhân cơ hội này làm công tác tư tưởng là cần thiết, nên đồng ý.

Hội nghị cán bộ Việt Nam, Lào lần này họp trong rừng gần Sầm Nứa. Cán bộ Lào đến họp nói chung đều biết tiếng Việt. Vi Quốc Thanh nói đến đâu, dịch ra tiếng Việt đến đấy. Chủ đề phát biểu của Vi Quốc Thanh là hợp tác Việt – Lào, đoàn kết chống ngoại xâm. Trong phát biểu, đồng chí điểm từng vấn đề tồn tại tương đối hàm súc, nhưng không phê bình trực diện. Trong phát biểu nói đến vấn đề cán bộ Việt Nam, lại nói đến vấn đề cán bộ Lào. Lời lẽ rất cân nhắc phát biểu tương đối biện chứng, toàn diện, được cán bộ dự hội nghị hoan nghênh và đánh giá tốt. Sau hội nghị, cố vấn chính trị Lý Văn Nhất nói: “Phát biểu lần này của Vi Quốc Thanh thật không dễ dàng! Nói rất hay, sẽ giúp ích cho công tác sau này”.

Sự thực về thời kỳ sau chiến dịch Tây Bắc quân đội Việt Nam tấn công tập đoàn cứ điểm Nà Sản chưa đánh đã bị thương vong nặng làm cho Vi Quốc Thanh nhận thức sắc bén rằng, từ nay về sau, quân Pháp có thể lợi dụng ưu thế không quân của chúng, dùng phương thức tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn tấn công của Quân đội Nhân dân mà Quân đội Nhân dân thì chưa có cách đối phó. Nếu không giải quyết vấn đề này thì chủ lực quân đội Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng không có đất dụng võ, trận lớn không đánh được, trận nhỏ không có để đánh. Vì vậy cần phải giúp quân đội Việt Nam nghiên cứu giải quyết vấn đề này. Vi Quốc Thanh cho rằng, trên vấn đề đối phó với tập đoàn cứ điểm của quân Pháp, quân đội Việt Nam có hai nhược điểm rõ rệt: một là hoả lực pháo binh yếu, thiếu đại bác và cao xạ pháo, không thể kiềm chế hoả pháo của địch và đối phó máy bay địch; hai là tố chất chiến thuật công kiên kém, không biết đánh công kiên chiến quy mô tương đối lớn. Vì vậy sau khi kết thúc chiến dịch thượng Lào đồng chí một mặt kiến nghị Quân uỷ Trung ương, đẩy nhanh trang bị và huấn luyện đối với bộ đội pháo và cao xạ pháo quân đội Việt Nam, chuẩn bị dùng cho tác chiến mùa đông, mặt khác giúp phía Việt Nam nắm chắc huấn luyện chiến thuật công kiên cho bộ đội nâng cao năng lực tác chiến công kiên.

Chi đoàn thám thính xa quân đội Quốc Gia Việt Nam

Hạ tuần tháng 5/1953, Vi Quốc Thanh liên tục triệu tập cố vấn quân sự nghiên cứu vấn đề bố trí huấn luyện quân sự. Đồng chí nêu rõ: “Huấn luyện chiến thuật công kiên của Quân đội Nhân dân phải bắt đầu từ biên soạn giáo trình, thông qua biên soạn giáo trình tăng cường nhận thức thống nhất tư tưởng với đặc điểm phòng ngự của địch, sau đó dùng tài liệu thống nhất, triển khai huấn luyện quân sự cho cán bộ trước, chiến sĩ sau, đặt cơ sở chiến thuật để giành thắng lợi cho chiến dịch Đông Xuân tới”. Đồng chí nêu rõ: Để biên soạn tốt giáo trình, cần thành

lập Ban biên tập giáo trình gồm cán bộ lãnh đạo Việt Nam và cố vấn quân sự, phụ trách công tác biên soạn; biên tập giáo trình và huấn luyện quân sự, cần tốn nhiều thời gian, phải làm chuyển biến tư tưởng của bộ đội không muốn đào công sự, học cách xây dựng công sự và xây dựng trận địa tấn công, học biết xây dựng đường sóc và cất giữ lương thực, đạn dược, học biết dùng hoả pháo khống chế sân bay địch và dập tắt hoả pháo địch.

Những ý kiến này sau khi nêu ra với phía Việt Nam, được phía Việt Nam coi trọng. Đầu tháng 6, Ban biên tập giáo trình được thành lập gồm người phụ trách cơ quan Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân, cán bộ lãnh đạo các đại đoàn và cố vấn quân sự. Tại hội nghị thành lập, Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh đều dự và phát biểu ý kiến. Võ Nguyên Giáp phát biểu nhấn mạnh biên tập giáo trình phải lấy học tập kinh nghiệm Trung Quốc là chính. Vi Quốc Thanh phát biểu nhấn mạnh biên soạn giáo trình chiến thuật công kiên nên bao gồm động tác cá nhân và chiến thuật công kiên hợp đồng từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, phải lấy tập đoàn cứ điểm Nà Sản làm đối tượng chính. Quá trình biên soạn giáo trình tức là quá trình thống nhất tư tưởng chiến thuật.

Sau khi bố trí xong công tác huấn luyện quân sự, Vi Quốc Thanh lại về Bắc Kinh báo cáo công tác. Theo bố trí thống nhất của Tổng quân uỷ quân đội Việt Nam, dưới sự giúp đỡ của cố vấn quân sự, bộ đội chủ lực quân đội Việt Nam tiến hành chỉnh huấn quân sự, chính trị quy mô lớn vào hè thu năm 1953. Trước tiên triển khai chỉnh quân chính trị gần giống phong trào chỉnh quân kiểu mới của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, tiến hành Giáo dục Tố khổ, nâng cao giác ngộ giai cấp, tăng cường ý chí chiến đấu để phối hợp với phong trào cải cách ruộng đất đang tiến hành ở căn cứ địa Việt Bắc. Sau đó, trên cơ sở biên soạn xong giáo trình chiến thuật công kiên triển khai chỉnh huấn quân sự. Khi kết thúc chỉnh huấn quân sự, tổ chức diễn tập quân sự. Thông qua chỉnh huấn trình độ chiến thuật công kiên của bộ đội được nâng cao rõ rệt, đặt cơ sở cho chiến dịch Điện Biên Phủ tiến hành sau đó.

Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục
nhà xuất bản Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Nữ quân nhân cứu thương của quân đội quốc gia Việt Nam

Bảo Đại thị sát Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Việt Nam (1e BPVN) tại mặt trận Hòa Bình tháng 12-1951, tiểu đoàn trưởng từ tháng 2-1952 là đại úy Nguyễn Khánh.

Trung tá Đỗ Cao Trí tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Việt Nam (6e BPVN) thành lập tháng 1-1954, hình chụp 1955, trung tá Trí hãy còn mặc quân phục Nhảy dù cắt may theo kiểu Pháp với cấp bậc là 5 gạch vàng

Phân đội Tân Khóa sinh Hạ Sĩ quan (Peloton d’Élèves gradés )