Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Phần 17

Sợi Dây Ngũ Sắc

Thật khó mà diễn tả cho hết được cái vẻ đẹp của mùa Thu trên đất Bắc, nó mong manh như sương khói, yểu điệu như nàng thục nữ ngồi ngắm bóng mình bên hồ Sen, nó bàng bạc như quyện vào từng chiếc là vàng rơi rơi bay bay theo từng cơn gió chiều nhè nhẹ đìu hiu trên con đường làng quê nghèo và mộc mạc.

Bởi thế mà mùa Thu đã tạo nên bao nhiêu nguồn cảm hứng cho bao nhiêu là văn sĩ và thi nhân và bao nhiêu là áng thơ tuyệt tác cùng những truyện tình lãng mạn đã làm cho lòng chúng ta không khỏi thổn thức mỗi độ Thu về.

Đúng vậy mùa Thu đã về rồi đó, riêng đối với những người tù thì mùa Thu là một mùa không phải là đẹp nhất trong năm nhưng là một khoảng thời gian mà thời tiết mát mẻ dễ chịu nhất sau ba tháng Hè nóng như nung người trong lò lửa.

Đây cũng là thời gian mà anh em chúng tôi lấy lại được một phần sức khỏe để dự trữ và chuẩn bị chống đỡ lại sự tấn công đáng sợ của cái lạnh kinh người khi mùa Đông lại đến.

Thời gian này chúng tôi thích nhất vì như được tắm mình trong một vùng không gian bao la mát rượi xen lẫn ít cái se se lạnh báo hiệu của một mùa Đông nữa sắp tới. Ban đêm cũng chỉ cần đắp cái chăn ngang bụng và dễ đi vào giấc ngủ sau một ngày mệt nhọc.

Mùa Xuân cũng đem đến cho người tù một khoảng thời gian ấm áp sau những đêm Đông lạnh giá, nhưng có lẽ không có mùa nào trong năm lại gây nhiều nhung nhớ sâu đậm như mùa Thu nơi xứ Bắc, nhất là khi khoác trên người bộ áo tù nhưng mắt thì vẫn dõi theo những cụm mây trôi dần trôi dần về phía chân trời vô định.

Chúng tôi đang chia ra thành từng toán nhỏ năm bẩy người để cùng đạp đất và sau đó khi đất sét đã nhuyễn thì sang mai từng lớp đất sét một cho tới khi nó chồng lên thành từng khối bánh.

Những tảng đất sét như cứng đầu nên vẫn chưa chịu mềm đi dưới những đôi chân trần của những người tù. Tôi vào cùng nhóm với các anh cấp đại úy như anh Trung pháo binh, anh Thế, Cảnh, Tâm, Châu vừa đạp đất vừa kể lại chuyện ngày xưa để giết thời gian và cũng để quên đi cái hiện tại nhọc nhằn.

Mỗi người một câu, chuyện trò rôm rả và chúng tôi như tìm được những nụ cười hiếm hoi lẫn trong những giọt mồ hôi vất vả, dù là trời đã sang Thu. Tôi nhìn các anh và chợt có ý kiến là mỗi người sẽ kể về mình một câu chuyện tình.

Mỗi ngày một người được làm “máy” tức là đóng vai máy quay phim “chiếu” lại một khúc phim tình nào đó mà mình từng đóng vai chính.

Thế là tôi được nghe những câu chuyện tình thật đẹp hay thật ngộ nghĩnh của các bạn mình và được dịp thả hồn mình đi mơ mộng theo từng tình tiết của câu chuyện hay bật ra những tràng cười thoải mái về những sự ngây ngô của mình khi mới bước chân vào tình yêu của thời sinh viên mới lớn lên tại Sài Gòn hay trong quân ngũ.

Qua đi gần hết một vòng thì người cuối là anh Trung, dáng anh nhỏ người da ngăm đen, tính tình thật hiền lành và dễ mến của người miền Nam, nhưng cười rất có duyên và cách kể chuyện của anh thì lại hấp dẫn nhất trong nhóm.

Anh Trung nhìn tụi tôi rồi nói hơi tếu một chút:

-“Tui chẳng có chuyện gì để kể hết à! Đi lính rôi quen bà xã rồi lấy nhau vậy thôi, hổng có gì nữa để kể, vậy là hết.”

Dĩ nhiên là mọi người đều không chịu một câu chuyện quá ngắn và có vẻ chạy làng như vậy cho nên anh Trung đề nghị là để đền bù, anh sẽ kể một câu chuyện có thật nhưng rất kỳ lạ và đầy bí ẩn của một người bạn của anh vừa mới xẩy ra trước khi anh chuyển trại về đây, mà chính anh cũng không biết đoạn kết của câu chuyện tình này sẽ ra sao nữa.

Giọng anh trầm trầm hẳn xuống và ngay lập tức tụi tôi bị cuốn hút vào câu truyện đầy tính liêu trai này.

Buổi sáng hôm ấy sương mù dày đặc trắng xóa cả bầu trời và hình như mây mù từ những nơi khác trong lòng thung lũng đều kéo nhau tụ cả về đây. Những ngọn núi chung quanh trại giam khu vực Hoàng Liên Sơn này cũng chỉ ẩn hiện mờ mờ trong một mầu trắng đục.

Cách xa chỉ năm thước cũng không nhìn thấy được mặt người. Cảnh vật nhạt nhòa trong sương khói như làm cho bầu không khí thêm phần ảm đạm và làm tăng thêm cái rét căm căm của mùa Đông miền Bắc. Cái lạnh thì xuyên thấu qua từng chiếc áo rằn ri mầu hoa rừng, qua luôn lớp áo lót bên trong và thấm vào từng sớ thịt của những sĩ quan tù binh – người tù chính trị chế độ cũ.

Vì sương mù và sở dĩ nếu xuất trại ra lao động có thể tù dễ trốn trại chonên tất cả chúng tôi được lệnh ở lại trong trại sáng hôm đó.

Chẳng ai bảo ai chúng tôi đều vào buồng, leo lên chỗ nằm ngả lưng xuống nghỉ ngơi cho khỏe hoặc nấu ít trà nóng uống cho đỡ lạnh. Mỗi khi mà được nghỉ lao động là đều có lý do nếu không vì sương mù như hôm nay thì hoặc là mưa quá lớn, hay có thể là chuẩn bị di chuyển trại giam, hay là cái gì nữa không đoán trước được.

Bởi vậy người tù lúc nào cũng phải chuẩn bị tinh thần cho những gì xấu nhất có thể xẩy tới cho mình bất kỳ lúc nào, tuy trong lòng luôn cầu nguyện những gì tốt đẹp nhất sẽ đến.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau bỗng có hàng loạt bộ đội vào sân trại và ra lệnh cho tất cả tù nhân đem hết tư trang ra ngoài sân để khám xét. Cái điều khó chịu ấy cứ sáu tháng lại tái diễn một lần và họ lựa đúng vào những dịp tù được nghỉ lao động để khám xét mục đích là không cho chúng tôi được nhiều thời gian riêng cho mình và đưa chúng tôi vào tình thế luôn bị động.

Mục đích của khám xét là để xem tù nhân có tàng trữ những gì trái với nội quy của trại không như vật nhọn, muối, tiền mặt, kinh sách tôn giáo, “nhạc vàng”, quần áo chưa đóng dấu “cải tạo”?

Trung và các bạn trong buồng lần lượt khuân hết các ba lô hay túi xách, các thứ linh tinh và chiếc chiếu cá nhân ra ngoài sân.

Mỗi lần như vậy thì Trung nhận thấy mình lại mất đi một vài thứ, lúc thì cái muỗng bằng bạc dùng để ăn cơm, lúc thì con dao cùn dùng để cạo râu, v.v.. Còn thì những thứ thực sự có giá trị như đồng hồ, nhẫn vàng, tiền mặt thì ngay từ lúc đầu bước chân vào trại giam thì họ đã tịch thu dưới danh nghĩa là trại “quản lý” dùm cho các anh khi nào được tha về sẽ trả lại.

Và mỗi lần như vậy là đám cán binh và đám bộ đội trực trại lại khám thật kỹ từng người một, từ cái lai quần đến ve áo trên người cho đến chăn mền quần áo, từng chỗ nằm của mỗi người và vết nứt trên tường.

Trung khoanh tay đứng nhìn một cách hờ hững vì anh chẳng còn gì để chúng nó tịch thu nữa mà phải lo nghĩ, và bên cạnh anh các bạn cũng từ từ cuốn chiếc chiếu lại đem vào buồng giam.

Chợt anh nhìn thấy Tuấn, người bạn bên cạnh anh đang bị tên trực trại hạch hỏi về chiếc dây chuyền kết bằng những sợi chỉ lấp lánh ngũ sắc bện với nhau rất đẹp mà anh đang đeo trên cổ.

Tuấn cố giải thích là kỷ vật của gia đình nhưng tên bộ đội còn trẻ măng vẫn không nghe và vẫn tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc ấy của anh. Có thể rằng mỗi đợt kiểm tra như thế này xong thì bọn chúng phải tìm nộp cho cấp trên một số tang vật bất cứ thứ gì của người tù để lập công cho nên chúng cố tịch thu càng nhiều càng tốt.

Ngày hôm sau trên đường đi lao động vào rừng đốn gỗ cho trại Trung thấy Tuấn lộ vẻ đăm chiêu và lo lắng không yên nên anh hỏi:

-“Sao thấy cậu có vẻ lo lắng chuyện gì thì phải?”

-“Ừ! Đêm qua mình lại nằm mơ thấy bà xã của mình, bà ấy khóc quá nói là mấy năm nay đi tìm kiếm mình khắp nơi mà không gặp.”

-“Ủa! mình tưởng là cậu còn độc thân chứ? Nhưng như vậy cũng là vui rồi, không gặp được người thực ở ngoài đời thì gặp người trong mộng cũng là vui và an ủi rồi còn gì?”

-“Không phải vậy đâu! Mình vẫn còn độc thân nhưng mà bà ấy là bà xã trong mộng của mình mà thôi nhưng mà câu chuyện dài lắm để mình kể cho cậu nghe…”

Thế rồi Tuấn từ từ kể lại cho Trung nghe về cuộc đời và mối tình kỳ lạ của mình ngày còn trong quân ngũ.

Thời gian ấy vào khoảng năm 1971 sau cuộc tổng tấn công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua Campuchia phá hủy hầu hết các căn cứ hậu cần của Việt Cộng và quân Bắc Việt tại Kompong Cham, Kompong Sap, Kratie, đơn vị của Tuấn tháp tùng sư đoàn trở về vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam trong chiến thắng oai hùng và Tuấn được thăng cấp Trung Úy.

Sau đó đơn vị của Tuấn được lệnh đi hành quân tảo thanh diệt địch và tạm thời trú đóng bên cạnh một giòng sông nước trong vắt với hàng dừa xanh thật là thơ mộng.

Rồi một hôm, một biến cố đã xảy ra trong một ngày định mệnh đã làm đảo lộn hết cả cuộc đời binh nghiệp của anh.

Hôm đó, Tuấn theo đơn vị dừng lại đóng quân trong một làng nhỏ nằm ven sông thì binh lính dưới quyền báo tin là có một xác thiếu nữ trôi sông vừa dạt vào bờ. Tuấn vội chạy ra xem thì thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười tám hai mươi trong chiếc áo dài màu trắng nữ sinh tuyệt đẹp, làn tóc thề lòa xòa che mất một phần của khuôn mặt trái xoan, nằm mấp mé bờ sông, nàng chết mà như đang trong giấc ngủ và có vẻ đẹp quí phái của con người tỉnh thành chứ không phải thôn dã.

Anh bèn ra lệnh cho binh sỹ khiêng nàng lên bờ và cho lính vào trong làng hỏi thăm xem có ai biết tông tích ra sao để báo tin cho gia đình nạn nhân đem về mai táng. Anh buột miệng khen một câu:

“Người đẹp như vậy mà chết uổng quá! Giá mà còn sống lấy mình thì thật là đẹp đôi.”

Thế rồi không biết có phải vào giờ linh hay là nàng sống khôn chết thiêng hay sao mà ngay tối hôm đó Tuấn nằm mơ thấy nàng hiện về và hai người bắt đầu quen nhau.

Kể từ hôm đó, hễ đặt lưng nằm xuống là Tuấn lại thấy nàng hiện ra ngay trong giấc mộng trong suốt chặng đường hành quân của anh hay là khi về phép y như một đôi tình nhân vừa quen nhau trong một khung cảnh hệt như thương xá Tax và hàng quán phố phường trên đường Lê Lợi tại Sàigòn vậy. Giấc mơ này nói tiếp giấc mơ kia y như những chương trong một cuốn tiểu thuyết lồng trong một mối tình lãng mạn.

Từ đó anh đặt tên cho nàng là Mộng Điệp và anh mơ thấy mình mặc quân phục về phép Sàigòn và tình cờ gặp nàng và làm quen trên đường nàng đi học về trong tà áo nữ sinh tha thướt. Ai đi ngang qua cũng trầm trồ là hai người thật đẹp đôi.

Những ngày sau đó, anh lái xe gắn máy đến trường đón nàng tan học vềvà hai người chở nhau đi chơi, đi xem xi nê, ăn uống và chở nàng về nhà của mẹ nàng bên cầu Thị Nghè.

Tình yêu nảy nở lúc nào không hay giữa trai tài gái sắc, hai người trao nhau nụ hôn đầu tiên trong vườn Bách Thảo và bàn tính chuyện hôn nhân. Anh rất mừng là mẹ nàng cũng tán thành và tác hợp cho đôi lứa.

Anh bèn xin đơn vị nghỉ phép nói là về thăm gia đình nhưng chính là về để tổ chức đám cưới với Mộng Điệp. Đám cưới thật là vui với đầy đủ lễ nghi đón dâu và đãi tiệc tại nhà hàng và có cả xác pháo hồng và áo cưới cho cô dâu e thẹn về nhà chồng.

Lúc đó tại thị xã nơi đơn vị Tuấn đóng quân, các cô bán hàng mỹ phẩm và quần áo phụ nữ thường rất ngạc nhiên khi thấy Trung Úy Tuấn thường đến cửa hiệu của họ và mua những quần áo kể cả đồ lót cho phụ nữ và đồ trang sức nữa. Ở cái thị xã nhỏ như vậy thì ai cũng biết chàng Trung Úy đẹp trai anh hùng này vẫn còn độc thân nhưng mỗi khi các cô hỏi chàng mua tặng cho ai thì Tuấn chỉ cười lắc đầu chứ không trả lời cô nào cả.

Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng Tuấn và Mộng Điệp kéo dài thật là êm đêm trong những giấc mộng nối tiếp nhau suốt một năm trời như vậy trong từng giấc ngủ cho đến một hôm

Một nhân vật huyền bí khác lại xuất hiện và lại làm thay đổi hẳn đời sống của chàng sỹ quan trẻ.

Thế rồi chiến trận lan tràn khắp nơi trên quê hương miền Nam và Tuấn bị cuốn hút vào cuộc chiến không có thì giờ để nghĩ đến một chuyện gì khác nữa ngoài những cuộc hành quân liên miên diệt trừ Cộng Phỉ. Nhìn những xóm làng nằm trong vùng “xôi đậu” với những xác người dân lành vô tội bị Việt Cộng thiêu rụi vì đã không theo chúng, hay những cây cầu đoạn đường bị VC phá hoại mà Tuấn không khỏi uất hận bọn Cộng Nô và bùi ngùi cho đất nước đau thương của mình.

Một hôm hành quân qua một vùng “xôi đậu” là những xóm làng mà ban ngày thì do Quốc Gia kiểm soát và ban đêm thì VC mò về và khuấy rối và bắt dân của xóm làng nghèo nàn này phải đóng góp gạo thóc gia súc cho chúng anh mới biết là Cộng Sản tuyên truyền rằng dân chúng đừng có theo Quốc Gia vì xe tăng của họ toàn là giấy các tông và máy bay trực thăng cũng vậy.Anh bèn gọi dân làng lại và cho họ đích thân đến cạnh một chiếc xe tăng tháp tùng cuộc hành quân để họ được tự tay mình sờ mó và đập tay vào xe tăng xem có phải bằng các tông hay không thì dân làng mới tin. Từ đó thì dân chúng trong làng ngả hẳn về phe Quốc Gia và mỗi khi có VC mò về là họ thông báo ngay cho các lực lượng đồn trú tại địa phương.Một ngày thật đặc biệt trong đời Tuấn, sau một cuộc hành quân lùng và diệt địch thật là vất vả và gian nguy trong vùng sình lầy của đồng bằng Cửu Long, đơn vị của Tuấn di chuyển ngang qua một ngôi làng rất là nhỏ có lẽ chỉ vài chục nóc nhà tranh thì anh thấy một cụ già chống gậy đang đứng trước cái ngõ dẫn vào ngôi làng như đang chờ đợi ai. Khi anh đi tới đâu ngõ thì bất ngờ cụ chống gậy bước ra và nói với các binh sĩ là muốn gặp anh.

Tuấn bèn cho đại đội dừng quân lại và phát cho dân làng một số thực phẩm khô và đồ hộp Quân Tiếp Vụ mà đơn vị anh mang theo để đi theo bà cụ vào trong làng.

Vừa bước chân vào ngôi nhà tranh của bà cụ thì Tuấn rất là sửng sốt vì hình như bà cụ đã biết anh từ trước. Cụ bà tuy đã luống tuổi nhưng trông còn tinh anh và nhanh nhẹn, cụ nói rất là từ tốn rằng tối hôm qua cụ nằm mộng thấy một ông già râu tóc bạc phơ báo tin cho cụ ngày hôm nay phải đón anh sẽ hành quân qua làng này để chữa bệnh cho anh.

Bà cụ nói rằng anh đang bị ám khí rất là nặng và nếu không chữa trị kịp thời thì không thể cứu được tính mạng. Vì anh thường hay làm những điều phước thiện giúp đỡ binh lính và dân chúng cho nên cụ được lệnh là phải cứu giúp anh. Mới đầu thì Tuấn không hiểu nhưng sau thì anh chợt nhớ ra người vợ Mộng Điệp của mình và kể cho bà cụ nghe từ đầu đến cuối câu chuyện.

Bà cụ trầm ngâm một lúc và nói rằng rất may mà anh gặp được cụ và cụ có thể chữa bệnh ma ám cho anh được vì cụ cao tay hơn con ma đang ám ảnh anh suốt hơn năm qua.

Lúc này thì Tuấn mới hiểu rằng tại sao sức khỏe của anh bị sa sút và damặt thì xanh hẳn đi như người bị mất máu mà trước kia anh cứ nghĩ là vì các cuộc hành quân gian khổ. Hóa ra là cuộc tình giống như những truyện trong Liêu Trai Chí Dị mà anh đã đọc hồi xưa đã tàn phá sức khỏe của anh trông thấy.

Bà cụ bèn lấy một chén nước sắc bằng những lá rừng và làm phép trên đó, để lên một cái bàn thờ nhỏ trong nhà thắp một nén nhang xong và bảo anh uống chén nước đó. Xong rồi, cụ cho anh một cái sợi dây chuyền bện bằng những sợi chỉ ngũ sắc rất đẹp và bảo anh là luôn luôn phải đeo trên cổ không được xa rời thì cái người vợ ma kia sẽ không còn hại anh được nữa.

Và cái điều lạ lùng là kể từ ngày ấy khi anh đeo sợi dây chuyền ngũ sắc trên cổ thì anh không còn gặp lại người vợ trong mộng nữa, không những thế hình như sợi dây chuyền này cũng che chở và đem may mắn cho anh trước lằn tên mũi đạn của quân thù.

Thời gian thấm thoát trôi qua cho đến một hôm anh chợt nhớ đến vị ân nhân của mình khi hành quân gần ngôi làng cũ và ghé vào thăm bà cụ ngày trước đã cứu mạng cho anh.

Khi gặp lại thì cụ rất là vui mừng y như người mẹ gặp lại đứa con còn an lành sau những ngày tháng hành quân gian khổ.

Cụ bèn kể cho anh nghe một câu chuyện và anh cũng không tin vào tai mình nữa. Khi đó khoảng vài tuần trước, cụ có đi qua chợ phiên của làng bên và bất thình lình có một người đàn bà mặt mày đỏ gay lên và xông lại xỉa xói chỉ tay lung tung vào mặt cụ và còn xấn xổ tính hành hung cụ nữa, và bảo rằng cụ đã cướp người chồng của chị ta. Cụ đã biết người phụ nữ bị ma nhập đó là ai rồi nên cụ bèn rút cái cây roi mây trong giỏ ra và bảo chị ta không được hỗn nếu không thì cụ sẽ bắt bỏ vào trong cái giỏ này. Nghe thấy vậy, người đàn bà kia chợt thụt lui lại, không còn la hét và cúi đầu cum cúp rảo bước đi mất ra khỏi chợ.

Cụ hỏi anh có biết người phụ nữ đó là ai không và nói ngay với anh rằng chính cái người vợ trong mộng của anh đã nhập vào người đàn bà đó để làm dữ với cụ vì cụ đã làm phép cho anh không còn bị ma ám nữa.

Những năm tháng sau đó, khói lửa bốc lên khắp nơi và người Sàigòn bắt đầu làm quen với những địa danh như Tống Lê Chân, Khe Sanh, Mùa Hè Đỏ Lửa tại Quảng Trị, Đông Hà, An Lộc Tử Thủ, Đại Lộ Kinh Hoàng với pháo kích của VC và quân Bắc Việt dọc theo Quốc Lộ 1 đã tàn sát hàng chục ngàn thường dân vô tội và gia đình của họ khi di tản từ miền Trung vào miền Nam lánh nạn.

Đơn vị của Tuấn đã liên tiếp chiến thắng lẫy lừng đem lại niềm hãnh diện cho Trung Đoàn và được Trung Đoàn khao quân và tưởng thưởng nhiều huy chương cao quí của quân đội.

Một điều bất hạnh cho người Quốc Gia là đồng minh Hoa Kỳ đã quyết định bỏ rơi họ đơn độc chiến đấu trong tình trạng thiếu súng đạn nhiên liệu trước một kẻ thù hung hãn và khát máu đang được yểm trợ đắc lực bởi Nga Sô, Trung Cộng và khối Đông Âu.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một quân đội anh hùng đã vì thế mà mất đi dần ưu thế trên chiến trường và lui dần vào thế thụ động và phòng thủ. Chiến đấu cơ không còn đủ xăng nhớt để hoàn thành những phi vụ và pháo binh cũng không còn đạn pháo để yểm trợ cho quân bạn như xưa nữa và điều gì phải đến đã đến.

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Miền Nam sụp đổ và rơi vào tay Cộng Sản và Tuấn cũng như hàng triệu quân dân cán chính khác của chế độ VNCH sa chân vào chốn lao tù.

Sau những lần chuyển trại trên đất Bắc, tình cờ Tuấn gặp lại người bạn thân năm xưa cũng sư đoàn là Trung Úy Trung pháo binh. Tuấn ngừng lại một chút rồi tâm sự:” Kể từ ngày họ tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc của mình thì ngay ngày hôm sau lên rừng đốn củi tự dưng mình thấy buồn ngủ ríu cả mắt lại và ngồi tựa gốc cây ngủ lúc nào không hay. Chỉ một lát sau thì thấy ngay người vợ trong mộng hiện ra và nàng khóc lóc ôm lấy mình và nói rằng mấy năm nay nàng đã đi tìm mình khắp nơi mà không gặp và điều bất ngờ nàng nói rằng đã có một đứa con hai tuổi với mình và ôm con sống trong cô đơn suốt mấy năm nay.”

Trung nhìn sững bạn anh, nếu không phải là người bạn thân đích thực kể cho nghe thì chắc anh sẽ không tin là câu chuyện này là có thực của một người cõi âm đã đem lòng yêu thương một người trên dương thế là bạn của anh và đã lặn lội từ Nam ra Bắc để ôm con đi tìm chồng.

Cuộc đời vẫn luôn xoay vần và Trung những tưởng là mình sẽ chết và chôn vùi trong xó rừng miền Bắc nhưng vì quân Bắc Việt tấn công qua Campuchia và Trung Cộng đánh qua sáu tỉnh miền Bắc nên anh và những bạn tù được di chuyển từ Hoàng Liên Sơn về các trại giam khác ở miền trung du vào năm 1978.

Nhưng Trung và Tuấn sau lần chuyển trại thì bị tách ra về hai nơi khác nhau và không còn gặp lại nhau nữa.

Những năm sau nầy Trung không được tin tức gì nữa về Tuấn và khôngbiết bạn mình lưu lạc phương nào và có được trả tự do chưa hay đã vì mất sợi dây chuyền hộ mạng nên cũng đã chết theo người vợ cõi âm nặng lòng với mối tình yêu người dương thế?

Trung kể chuyện một cách say sưa và tình tiết suốt hai ngày mới xong. Khi anh kết thúc rồi tôi vẫn còn ngẩn ngơ và bàng hoàng vì một mối tình liêu trai đầy lãng mạn xen lẫn nét huyền bí của bà cụ đã cho Tuấn sợi dây ngũ sắc và giải bệnh ma ám cho anh.

Năm 1983, anh Trung cùng một số lớn tù nhân được di chuyển vào trong Nam và tôi cùng với số tù nhân còn lại trong đó có các thầy và các vị mục sư, linh mục di chuyển về trại Ba Sao Nam Hà.

Từ đó tôi mất liên lạc với anh Trung pháo binh và không biết khi vào trong Nam anh có gặp lại nhân vật chính trong truyện hay không, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được câu chuyện đầy kỳ bí và huyền hoặc của sợi dây ngũ sắc này.

Chuyện không người lái

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 20/07/2015 

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Mùa hè không thấy phượng đỏ ve kêu, tuy vậy chúng tôi có được hai tuần nghỉ, dưỡng sức. Hai tuần tạm quên mặt mũi đồng hồ, tha hồ làm trái với quy định mà trước đây luôn nghe thần thời gian bảo ban, buộc cơ thể phải lên dây thiều cót két. “You were not born to just go to work, pay bills and die”. Hai tuần xài “đồng hồ không người lái”, sáng trưa chiều tối thì mặc xác mày, xin cho chúng tớ được nhàn cư vi có việc.

Việc gì cơ? Có bất thiện không? Ồ, chỉ mỗi chuyện đầu bù tóc rối ngập mặt vào bao lưới mạng giăng bủa của internet để quên trời đất mưa dầm nắng hạn bên ngoài cảnh giới. Chây lười lao động, ăn qua loa, tắm qua quít, ngủ lai rai và chuyện trò chả có gì xôm tụ. Bạn than cô đơn bên kia đường giây điện thoại, ậm ừ cắt sóng rồi bạn vác bầu tâm sự tới gõ cửa. Bắt ghế ra ngồi trên vuông sân lộ thiên, cỏ ở đó vàng cháy trùng với dự báo thời tiết thành phố rướn thân dưới nắng lửa 30 độ C. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, chúng tớ từng chảy mỡ dưới nắng Lào bỏng rát, người miền Trung mà, chó ăn đá gà ăn muối, và con người ăn thức gì mà phát âm nghe nặng như đá tảng. Bà con cô bác xứ khác ưa làm tài khôn, chửi cha không bằng pha tiếng, Huế không nói lại nói là Huệ. Chả nhẽ tỏ tình thì thỏ thẻ: Ạnh yệu ẹm. Mỗi chữ đều phang cái dấu nặng bên dưới. Mẹ! Vừa phải thôi! Chắc bà con xa láng giềng gần chưa đọc qua câu thơ: “Em ơi giọng Huế có chi, mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”. Bạn từng bất mãn để chính bạn diễu nhại ra yêu sách: Uộng cạ phệ đạ. Chuyện nhỏ. Xong ngay. Hai cái nồi ngồi trên hai cái cốc, và rõ là cà phê có người nái. Phải có sức người cà phê mới giải thuỷ được. Nước đen mun rơi tí tách nhằm giải hạn một thứ gì. Ông bà nói: Miếng trầu làm đầu câu chuyện. Con cháu thưa: Cà phê bón, mất ngủ, nổi mụn, chứa chất gây nghiện, nhưng thiếu nó, ôn mệ ơi, làm sao để mở miệng hến?

Bạn hỏi, có mở bờ lốc bờ leo không? Thành thực khai báo: Không. Bạn hỏi, rứa thì phây bút phây beo? Dạ thưa, no way. Nói chung tôi hổng có thứ để tự sướng. Bạn tỏ vẻ ngờ vực, như đứa ngồi trong bóng im trông ra thằng người dang nắng: E ông là đứa lạc hậu chăng? Việt Nam hả, hiện có 20 triệu người dùng Facebook mỗi ngày, tính riêng ở hạng tuổi từ 18 đến 34. Tôi nghe, bán tín bán nghi, tôi chỉ biết Bill Gates có lần nói: “Tất cả thông tin lẩn trốn dưới đầu ngón tay bạn”. Tôi đã đêm bảy ngày ba lùng sục vào cõi ta bà internet mà cũng bị mang tiếng lạc hậu sao cà? Chậm lụt đến thế thì thôi!

Bạn nói, tui mở facebook và tui đã lỡ nghiện nó, ông tin không? Tôi lắc ly cà phê đen đá và đắng: Vậy là thuộc diện xì-ke ma tuý, sao ông còn xúi dại vẽ đường cho hươu chạy? Tôi đi nhổ răng sâu nghe một thân chủ hỏi vị nha sĩ: Bàn chải đánh răng có gắn động cơ có tốt hơn bàn chải mình thường dùng? Nha sĩ không trả lời trực tiếp, ông chỉ nói: Sắm thêm một thứ dụng cụ có khác gì bác đèo vào thân một sự rắc rối? Hề, tôi rất chịu đèn thằng cha nha sĩ ấy. Sống, ta nên buông bỏ, nên tập đơn giản hoá mọi chuyện. Chữ phủi tay của người quân tử xét thấy nên đáng học ông ạ. Khoan, bạn nói, đi đâu mà vội, ông nghĩ sao về chữ vạn năng? Tui kể ông nghe lời ông Khổng Tử nói mà tui nhặt ra từ facebook: “Một thiếu phụ hỏi: Vì sao khi tôi ăn nằm với 3 gã đàn ông thì người ta kết án tôi là mất nết, lăng loàn, hư hỏng, xấu xa… trong khi một thằng đàn ông ngủ với 10 người đàn bà thì kẻ ấy chẳng bị lên án gắt gao gì sất? Khổng Tử đáp: Đơn giản thôi, một ổ khoá mà có đến ba cái chìa đều mở được thì rõ là ổ khoá ấy không tốt. Còn nếu chỉ 1 chìa mà mở được tới 10 ổ khoá khác nhau, vậy chìa khoá ấy phải gọi là… vạn năng”.

Chuyện ấy ông thu lượm từ phây bút, chuyện này thì tôi vừa xem từ nét, chụp lại từ trang nhật báo phát hành ở Đài Loan: “Mua một cô vợ VN bạn chỉ tốn 6000 Mỹ kim. 1/ Bảo đảm còn trinh. 2/ Bảo đảm giao hàng trong vòng 90 ngày. 3/ Không tính thêm lệ phí. 4/ Trong vòng một năm nếu “vợ” bỏ trốn, bạn sẽ nhận được một cô khác, hoàn toàn miễn phí.”

Thiệt là ngao ngán. Y như mua bán nô lệ. Cô vợ VN kia sẽ là cái ổ khoá không tốt để cho cả chục cái chìa tự tung tự tác mở banh ra. Khi nói, mặt bạn lộ vẻ buồn. Đời sống vợ chồng bạn từng trải qua sóng gió không vui. Bạn vô phúc có khi nhìn thấy một bức tranh khoả thân mà người trong tranh chính là vợ mình. Về nhà gọi vợ hỏi cho rõ trắng đen. Đời nào, anh xem thường em thế, cỡ em mà phải đi làm người mẫu à. Chắc tay hoạ sĩ kia đã vẽ theo trí nhớ. Y như một mẩu chuyện tếu, để chấm dứt khôi hài đen hai người đi đến giải pháp ly dị. Hiện tại, gia cảnh bạn: Độc thân tại chỗ. Bạn ghiền facebook, nói tội trời, để mong tìm một nữ lưu để điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa. Bạn cho hay, một cách chẳng nghi ngại, đã có lắm người nên duyên vợ chồng qua thế giới ảo. Vậy đó, mơ hồ, mông lung, không sờ nắm được, xa mặt cách lòng mà có khi lại biến thành hiện thực trần trụi, hoang đường hơn cả liêu trai chí dị. Sợ gây “nản lòng chiến sĩ” tôi chẳng dám làm bình loạn viên. Tôi chỉ kể cho bạn nghe một chuyện vui lượm được trên nét: “Cô con gái: Bố à, con yêu một người con trai đang sống xa con. Con ở Ấn-độ và anh ta thì sống tận Anh quốc. Chúng con gặp gỡ qua mạng, thành bạn nhờ facebook, nói dông dài không chán mỗi bận dùng skype. Và hiện tại, sau hai tháng chúng con đã thắt chặt mối quan hệ bằng những phương tiện thông tin điện tử. Con rất mong bố có lời chúc lành cho tụi con. Người cha đáp: Ôi! Thật hả con! Vậy thì hãy làm đám cưới trên Twiter, vui vẻ qua đường truyền của sóng. Mua con cái thông qua e-bay, gửi chúng nó qua g-mail và nếu con ngao ngán thằng chồng ấy thì cứ việc bán nó qua Amazon”.

Tôi mượn lời cổ nhân để thưa với bạn: “Lập thân tối hạ thị văn chương” khi bạn hỏi lóng rày tôi có gì phấn khởi cả tin về sạn đạo tôi dò dẫm bước. Hiểu ở khía cạnh nào đó, tôi luôn đón nhận niềm cô đơn khi đối mặt với khung hình trắng xoá. Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ xin ly dị. Bạn nhìn, lại là ánh mắt của kẻ ngồi trong bóng dâm nhìn ra sân nắng. Và bạn kể chuyện tếu: Hai người bạn thân nói chuyện với nhau: Có lẽ mình phải ly dị mất. Sao vậy? Vì nửa năm nay người vợ chả nói với mình câu nào cả. Cậu điên à! Biết tìm đâu ra người vợ tuyệt vời như thế?

Ừ, viết văn là cách độc thoại, nói thầm cho mình nghe. Biết tìm đâu ra cái câm lặng vô bờ tuyệt vời đến thế? Tựa như vạch đầu gối ra mà tỉ tê. Tại cuộc đời giờ đây nó khiến xui vậy, đã biết bao kẻ tự rửa tay gát kiếm. Họ xuống núi đi giang hồ và họ tuyệt chẳng nhìn thấy bạn tâm giao. Hiền hữu ơi, nhà ngươi quả là thứ hàng hiếm. Có giao lưu qua lại e chỉ cực lòng khi đụng phải hàng nhái, khi ấy ta làm sao bày tỏ tấc lòng? Ông biết chuyện mới về Soan chưa? Bạn hỏi, rồi nói tiếp. Cô ta thật sáng suốt khi bỏ tui, bởi giờ này cô ở chung với một tay rất bộn bạc. Cà phê đã hết, tôi nghĩ giờ này nên cho bạn uống bia. Kể về người phụ bạc mình, rượu bia sẽ là chất giải khát trơn tru, khỏi đắng miệng. Và thuốc lá nữa chứ. Thuốc ba điếu, bia ba chai; ngày làm đêm nghỉ thầy lang khỏi mời. Kẻ chất chứa bao nỗi lòng vẫn thuộc câu ca dao cải biên nọ.

Bia mang ra khỏi tủ lạnh, bia đổ mồ hôi vì trời nắng nóng. Tê tái đổ xuống cổ họng, chảy tới đâu sảng khoái biết ngay khúc đó, hơn cả uống sâm nhung cao cổ cốt. Em giờ này trau chuốc tới diêm dúa, nhận không ra, em luôn ăn vận xiêm áo ơ hờ chễnh mảng khi đăng ảnh tạo dáng trên facebook như dem thèm bá tánh. Bạn tả tình tả cảnh, vòng vo tam quốc chơi xong khúc dạo đầu rồi tợp hết ngụm bia cuối. Em khoe mới được người bạn đời mua cho cái nhẫn hột xoàn to khủng tròng vào một ngón búp măng mà ở cổ tay đã đeo sẵn đồng hồ Cartier hoành tráng lấp lánh ánh hào quang. Hiện giờ hai cấy dôn nọ đang về quê hương giàu mạnh thăm thú, trú thân toàn ở những khách sạn cực choáng. Em cho hay “ảnh” là Việt kiều yêu nước, ký hợp đồng kinh doanh đầu tư về địa ốc và công ty trách nhiệm hữu hạn kia sẽ mang tên “ẻm”.

Một ngày kia, có lẽ tôi sẽ xiêu lòng đăng ký một tấm vé để rộng cẳng đi vào chốn giang hồ kia, facebook là gì mà nó lợi hại quá, y như thập diện mai phục. Sao nhất nhất cử động của người dưng mình đều rành rọt thế kia? Hơn cả trò chơi bịt mắt bắt dê. Hơn cả trốn tìm, đạp mạng. Song hành với ý định tìm vợ, bạn còn bỏ công dõi trông đường đi nước bước của người vừa vất bạn đứng bên đời lẻ loi. Nếu ở Việt Nam, có thể bạn mặc đồ dạ hành đêm hôm phi thân vào nhà đối tượng, trói lấy hai đứa kia, tra khảo nơi chôn cất tiền bạc, xong thì cắt cổ cả vợ lẫn chồng. Trước: Thù này phải trả. Sau: Cột được một cục tiền cho ấm đít. Thay đổi y phục, phi tang hung khí, đợi trời sáng ra bến xe đò trốn khỏi thành phố, đi càng xa càng tốt và đi tới một nơi mà suốt đời bạn chưa hề đặt chân tới. Vinh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nội hoặc Hải Phòng. Giả dụ thế. Đừng dại lảng vảng ở những địa danh quen thuộc tựa Đà Nẵng Nha Trang Đà Lạt Sài Gòn Cần Thơ. Trước mắt là thế, công an nó có lần ra dấu vết hay không thì hạ hồi phân giải. Ở lãnh thổ hình chữ S, một ngày trung bình có tới 10 vụ giết người dã man, con người bạn thì ngó ngon cơm, có tư cách, có ăn học tử tế, rất uy tín thế kia thì e là bạn ung dung không sa lưới đâu. Phàm bọn tội phạm đều có nhân thân xấu, dân nghiện hoặc liên hệ tới xã hội đen. Bạn rung đùi đứng ngoài tầm ngắm của tổ nghiệp vụ chuyên án. Ối, chỉ là đứa bị vợ bỏ thôi mà, nó có nghiện ngập thì chỉ nghiện duy một thứ: Facebook.

Nói nghe kinh. Ông không CIA thì cũng tầm cỡ như CIB. Bạn phán, lời lẽ như cán bộ. Cán bộ mà khi truyền đạt tình hình thế giới đã nói tới phun nước miếng: “Chiến tranh trường kỳ giữa hai nước Một-răng Một rắc vẫn chưa tới hồi kết thúc”. Sau một tuần đả thông, dân ngu khu đen mới ngộ ra đó là Iran, Iraq. Chắc ông cán bộ nọ chả biết còm píu tờ, ổng hổng xài in tờ nét, ổng chả mặn phây bút. Và chắc ổng hiện đang nắm giữ một bộ phận không nhỏ trong tập đoàn lãnh đạo để vừa ký sắc lệnh, sẽ kiểm soát gắt gao và bỏ tù những đứa lợi dụng mạng lưới thông tin điện toán để nói xấu nhà nước. Lạ nhỉ, bạn nói, cô vợ cũ của tui ắt phải tin vào sắc đẹp chim sa cá lặn của mình mới liên tục mang ra khoe, thiệt vàng không sợ lửa. Còn ông nhà nước, chắc ổng toàn cả bê tông cốt tre nên ổng có tật giật mình, ổng sợ từ a tới z, ổng chẳng điện nước đầy đủ nên ông tìm đủ mọi cách che chắn đậy đằng thân phận. Hèn gì khi ngó lên bản đồ thế giới, Việt Nam là một chữ S đỏ lòm lòm vì mang chứng bịnh bóp nghẹt tiếng nói của dân. Sắc màu, bản thân chúng cũng mang sự khó hiểu. Đèn báo giao thông chuyển đỏ, bạn buộc phải ngừng lại. Thầy cô khi chấm bài phê điểm cho học sinh cũng dùng tới bút đỏ. Đỏ, tượng trưng cho khối cộng sản. Đỏ cũng ám chỉ cho những quốc gia lạc hậu. Ông có sướng không, khi được định cư trên lãnh thổ này? Một xứ sở mênh mông toàn cả màu xanh. Xanh không tượng trưng cho hy vọng. Xanh biểu tượng cho bảo vệ môi sinh. Xanh khẳng định rõ một điều, đó là thứ sắc màu của loài người văn minh tiến bộ. Quen sống thở cùng xanh, làm sao anh tiếp cận được với đỏ, ngoại trừ anh giả dại qua ải, nín thở qua sông bởi ải kia, sông nọ luôn bày biện bao oan ức tức tối, bao ngậm đắng nuốt cay, hằng hà những chuyện chướng tai gai mắt, bạo lực trên từng cây số.

Hết cà phê, cạn bia. Bây chừ biết uống gì hở ông? Chẳng lẽ đi ngược trình tự uống nước trà xong tới uống nước lạnh? Cả hai đều thuộc diện nhác chơi, nếu không e mang thân đi ký gửi một chỗ ngồi ở hàng quán thì tha hồ ăn nhậu. Thực tâm mà nói, phở riết cũng ngán, bún riết cũng oải, chè cháo thì ích gì cho buổi ấy! Bác sĩ luôn can ngăn, cai được thì nên cai, chứ xơi ba thứ mỡ màng ấy nó hại tim mạch máu me của ông lắm, nhớ? Cao huyết áp, tiểu đường, nhồi máu cơ tim. Tự dưng tai ù luôn nghe thứ gì như dế nỉ non. Khi không mắt mờ, trông chim hoá bướm. Bệnh tật định cư vào thân thể, y như đấy là tấm thực đơn in rõ bao món ăn đặc sản, may mà tấm thực đơn bèo nhèo kia không liệt kê thêm món Xi-đa, giang mai, lậu mủ. Ừ, biết đâu được. Có sao người ta mới nói: Ở đời có ai biết được chữ ngờ!

Tôi ngó bạn, nửa thân đang bị nắng liếm. Nói thật đi cha nội, khoảng đó ông ngon lành không? Ông liệt dương hay sao mà bị ẻm bỏ? Như bị dội một xô nước lạnh, bạn vùng bật dậy khỏi ghế. Bạn xổ tiếng Đan-mạch rồi than thở. Số ta không có cung thê tử, không luôn cả cung bằng hữu. Ta cô đơn và ta bất mãn, ngay cả nhà ngươi cũng nghi ngờ chuyện gối chăn phòng the phòng thiếc của ta chăng? Thôi ta thăng, chuyện trò nhiêu đó cũng đủ.

Bạn giũ áo ra về, những chai bia lăn đổ dưới sân cỏ. Có những biểu hiện cảnh báo về tuổi già, trong muôn một, đó là sự dỗi hờn giống như con trẻ. Và tôi, tôi biết mình già vì tôi thôi khôn ngoan, tôi vụng về lời ăn tiếng nói. Tôi không kiếm đâu ra mỡ để bôi lên miệng lưỡi. Căng thế! Tôi dọn dẹp vuông sân, trả lại cho nó cái yên bình như cũ. Tôi vào nhà kiếm thứ giải khát. Tủ lạnh trống trơn. Không biết hôm nay thứ mấy, lại phải đóng bộ vác thân đi siêu thị thôi. Chây lười lao động là thứ mà ai cũng lên án. Thêm nữa, muốn ăn phải lăn vô bếp. Ta không năng nổ lao động, ta không đổ thân vào bếp thì còn ai trồng khoai đất này!

Ngang qua quán phở Nhớ Quê tôi thấy bạn ngồi ở dãy bàn lộ thiên, bạn gục mặt vào tô xe lửa và ly chè ba màu đứng kề đợi bạn xơi tái. Bằng động thái của một kẻ trộm cướp, tôi lẻn vào nhưng bị cô chạy bàn phát hiện: Chú đi một mình hay sao ạ? Tôi chỉ tay tới chỗ bạn ngồi: Tôi sẽ trở lại, cô chịu khó trao cho bạn tôi một thông tin kẻo nó đợi chờ. Tôi mượn đỡ giấy bút của cô, hí hoáy viết: “Tuần sau đến chỗ tôi nói chuyện tiếp, nhé. Những chuyện không đầu không đuôi, chín bỏ làm mười mà luôn luôn chúng ta vụng dại gánh chịu dở dang không đi hết đường. Chúc ăn ngon miệng”.

Hồ Đình Nghiêm

Chuyện Cuối Năm

gio-o.com

Hồ Đình Nghiêm

tản mạn-2008

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Tuần rồi, một người con gái, chẳng hiểu do đâu cô biết được địa chỉ e-mail của tôi. Bức điện thư ngắn nhưng làm lòng tôi dấy lên nhiều cảm xúc. Đại diện cô, tôi xin thêm dấu sắc huyền hỏi ngã nặng và, đây là nguyên văn: “Xin chào chú, cháu là Trần Quỳnh Hoa, thầm lặng làm thơ đã sáu năm, nay gom nhiều bài ưa thích và có tham vọng in nó thành một tập. Đường đột xin chú một điều: Vui lòng viết cho cháu một cái tựa. Chúng ta sẽ nói nhiều hơn nếu chú bỏ công đến quán Starbucks gặp gỡ. Chủ nhật, một giờ trưa, métro Côte des neiges. Cháu sẽ mặc áo ấm màu đỏ cho chú dễ nhận. Hy vọng sẽ được gặp nhà văn mà cháu từng mến.

Quỳnh Hoa.

P.S: Cháu sẽ mang theo bản thảo và dĩ nhiên sẽ “hối lộ” chú bằng cách dành trả tiền cà-phê.”

Trong inbox, có lẽ đây là bức thư dễ thương nhất mà tôi có được. Tôi tắt computer, ngồi tưởng tượng ra một nhân dáng dịu hiền (đã làm thơ ắt hẳn cô phải hiền dịu!). Tên cô là Quỳnh Hoa, chắc tôi phải dẹp bỏ hết mọi thứ để mang tơi đội nón đi gặp cô. Trịnh Công Sơn từng viết: “Em mang cho ta một đóa quỳnh. Quỳnh thơm hay môi em thơm…” 

Đồng hồ lúc đó, với tôi, là cái gì đồng nghĩa với lười biếng. Hai cây kim của nó tuồng như đóng băng theo thời tiết giá lạnh bên ngoài. Nhưng dẫu sao, theo định luật của tự nhiên, đôi chân nó cũng phải cất bước (thuận theo chiều quay của kim đồng hồ!) Và sau chót, tôi đã nhìn thấy màu áo đỏ. Giữa con dốc nhiểu gió nó tựa một đốm lửa bùng cháy. Tôi rất ấm. Tôi nhủ thầm. Đó là phút giây tôi bắt gặp nụ cười long lanh sáng trong đôi mắt cô. Cái tinh anh của nó dường như biết xuyên thâu qua khoảng cách của mười mét đang nát vụn bởi bông tuyết vần vũ đầy trời Montréal. Thơ Haiku của Basho có bài:

“Tuyết

mà chúng ta cùng

ngắm năm xưa

Bây giờ đã

rơi chưa

ngàn trùng.”

Chao ôi! Đơn giản dường ấy, ngắn ngủi là thế, mà sao đọc lên lòng những luống ngậm ngùi. Chữ ngậm ngùi không đúng. Hụt hẫng cũng sai nốt. Đọng lại trong lòng là thứ nỗi niểm khó cắt nghĩa. Mất bao nhiêu năm người ta mới có thể làm nên một bài thơ có thần tựa thế, hở Quỳnh Hoa? Trong lãnh vực hội họa có một thứ gọi là Tỷ lệ vàng. Cái ấy nên hiểu là nó hoàn chỉnh tới độ không thể thêm thắt hoặc gạt bỏ một phân ly nào cả. Tựa như số đo vòng một vòng hai vòng ba trên cơ thể một cô người mẫu tuyệt sắc. Với thi ca thì sao? Bốn câu của Thâm Tâm có thể mang ra làm ví dụ? 

“Đưa người ta không đưa sang sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong…” 

Tuyệt! Tôi uống Expresso, và uống no đủ những điệu bộ, những biểu tỏ, những lời nói của Quỳnh Hoa. Cô gần như làm chủ buổi trò chuyện bởi tôi chỉ khoanh tay ngồi nghe, lòng đầy nghi hoặc: Tại sao lại gọi chú và xưng cháu? Bất quá tôi chỉ lớn hơn cô chừng mười lăm tuổi chứ mấy. Thôi Hiệu từng ta thán: “Mười lăm năm tựa một chợp mắt giữa cơn mộng dài!” Mười lăm năm. Khi Quỳnh Hoa cất tiếng khóc chào đời tôi vẫn ngu ngơ cười, chưa hề nếm qua khổ lụy của tình yêu; vẫn ngắm nhìn cuộc sống trôi qua bằng thứ nhãn quang đầy hồn nhiên của con trẻ. Tôi tin là sự ngờ vực, nỗi hoài nghi chỉ có thể đến sau khi Adam lỡ cắn vào trái táo trên khu vườn địa đàng. Sự mâu thuẫn hiện hữu: Trẻ con chẳng thể làm thơ, nếu có hẳn rất vụng. Và thi sĩ thì luôn ước ao mình có được chất hồn nhiên của chúng. Nguyễn Trãi hạ bút: 

 “Tam thập dư niên trần thế mộng,

Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi!” 

Tạm hiểu: “Hơn ba mươi năm mãi đắm chìm giữa cuộc đời nhiều huyễn mộng, tình cờ nghe chim hót, lòng những muốn sống lại thuở thơ ngây!” 

Bao nhiêu năm làm phận di dân sao trong đầu tôi thỉnh thoảng vẫn hiện về những câu, lẫn lộn trong ba bài thơ luôn có sức ám ảnh. Nó ám ảnh bởi nó hay. Nó hay bởi đọc nhiều lần vẫn bắt gặp nguyên dạng sự bồi hồi lẫn trốn đâu đó, dẫu đọc ở những thời điểm khác nhau, ở trạng thái tâm lý khác nhau, ở địa lý mỗi nơi mỗi khác. 

Đáy năm (chữ của Mai Thảo) bắt chước tiền nhân, gọi là ôn cố tri tân tôi xin cẩn trọng ghi lại đầy đủ ra đây, thế trầm hương, tỏa thơm những tâm hồn đồng điệu.

Bài 1 của Tuệ Sỹ: THƠ VÔ ĐỀ

“Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn”.

Bài 2 của Bùi Giáng: KHÔNG ĐỦ GỌI MỘT LẦN

“Mây đứng lại chân trời phủ khói

Dòng sông đi đò bến đợi ngu ngơ

Chiều trời đẹp tâm tình em không nói

Đất với trời chung một nghĩa bơ vơ

Chiều thổi đẹp gió về em không nói

Anh không chờ không biết đợi từ bao

Từ xuống mưa không biết tự phương nào

Dòng sông chảy ai người xin níu lại

Mưa có tạnh nhưng chân trời còn mãi

Những giọt sương là lệ ở trong mây

Dòng sông đi cho nước nói ngàn ngày

Rằng bề rộng không bến bờ em ạ

Anh đợi xuống đêm về đầu phủ toả

Mịt mờ xanh bù xõa ánh tơ giăng

Cười môi em duyên dáng như chị Hằng

Và lấp lánh mắt là sương trong lệ

Anh sẽ hỏi gió đêm về mở hé

Mở muộn màng là một chút mơ hoa

Mở ngàn sau hoài vọng chút phai nhòa

Và mất hút ở cuối trời nín lặng

Rồi từ đó về sau mang trái đắng

Bàng hoàng đi theo gió thổi thu bay

Anh chờ em không biết tự bao ngày

Đề thấy mãi rằng thơ không thể gọi

Sầu một thuở đất mòn không tiếng nói

Một ngàn năm trăng dãi tuyết băng buông

Anh gửi đi ngàn sóng cuộn thác nguồn

Để thấy mãi rằng thơ không thể gọi

Mùa xuân lại với chim về đã mỏi

Với cá về mây nước cũng lang thang

Anh nằm im nhắm con mắt mơ màng

Mở con mắt cũng mơ màng cỏ lá

Hờn phố thị để lạc hồn cõi lạ

Sầu phố xanh từ bữa nọ em đi

Tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì

(trích từ Mưa Nguồn. 1973)

Bài 3 của Tô Thùy Yên: TƯỞNG TƯỢNG TA VỀ NƠI BẢN TRẠCH

“Đào Tử sắp lìa bỏ nơi nghịch lữ

trở về nơi bản trạch. Than ôi, thương thay!”

Đào Tiềm

*

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Gió đưa nhớ rải dọc trần gian

Trên đồng ngọn cỏ tranh khom mỏi

Đời nặng cơn bi lụy dịu dàng

Rồi thôi, im mãi, im vô vọng

Ta tiếc dài sao đã đến đây

Lờn rờn bóng lá đong đưa nắng

Thảm thiết giây leo quấn quít cây

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Ơn dày chôn trả đất bao dung

Cụm mây trôi rã trong trời lớn

Như giấc chiêm bao thấy giữa chừng

Con đường đi mỏi mà không tận

Lượn sóng trên ghềnh nhọn rách tơi

Ai thở dài chi cho não ruột?

Cơn mưa hư tưởng mơ màng rơi

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Về luôn như một tiếng kêu khơi

Đã buông trong bạt ngàn xanh ngắt…

Biển cử ai rần bãi rã rời

Chuồn chuồn vui đậu trên nhành lúa

Để lại bay đi lúc kịp buồn

Điệu hát nào lan man vướng vất

Như hơi ẩm mục mặt hồ sương

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Đóa hoa buông cánh khi tàn hương

Tiếng rụng tuyệt âm rền tịch mịch

Dòng sông tới biển nức tuôn, tuôn…

Các mùa chuyển động trong trời trống

Di điểu qua sông xẻ luống sầu

Ly biệt chẳng từ hạt cát ngọc

Tuần hoàn đến cả giọt sương châu

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Là rồi một chuyện kể chưa xong

Mùa hè cọ xát điên kim loại

Con qụa kêu ran giữa quãng không

Tàu chuối xác xơ reo ngất ngất

Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa

Hòn ngói lia bay bay mặt nước

Chìm sâu dĩ vãng đục không dò

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui

Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn

Càng nhẹ tênh trên cõi ngậm ngùi

Ta bằng lòng phận que diêm tắt

Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông

Thôi nói, bởi còn chi để nói

Núi xa, chim giục giã hoàng hôn

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Áo phơi xanh phới nhánh đào hồng

Mùa xuân bay múa bên trời biếc

Ta búng văng tàn thuốc xuống sông.

Nếu Quỳnh Hoa đọc được ba bài thơ trên, hẳn Quỳnh Hoa sẽ hiểu do đâu tôi im tiếng; tôi trốn tránh cô thì đúng hơn. Tôi chẳng đủ can đảm để thốt lời gay cấn: Đừng in thơ nữa. Để hai ngàn đô ấy mà đầu tư vào những cuộc chơi khác, thực tiễn hơn, khỏe trí hơn. Đi du lịch để mở rộng tầm nhìn chẳng hạn. Em thấy không? (Chẳng chú cháu gì ráo!) Bản thân anh luôn nghiệm ra rằng làm thi sĩ là thứ đại khó (chuyện dễ nhất là chọc cho đàn bà giận hờn). Phải trải nghiệm, phải hy sinh đánh đổi- kể cả hạnh phúc- để cất công sàng lọc lúa, trấu, mọt, sạn thành những hạt gạo trắng ngần, tinh ròng. Ta đón nhận, hân hoan. Và dĩ nhiên, ta mang lòng tri ân về thứ tặng phẩm ngát hương kia. Xin hãy luôn ca tụng họ, nếu có thể. 

Nhà văn Lỗ Tấn viết: “Con đường, tự nó không hiện hữu mà do những dấu chân người tạo nên”. Ông còn nói một câu mà tôi luôn tâm đắc: “Đừng sợ người ta không biết tới mình, cái đáng sợ là khi biết, họ sẽ nghĩ gì về mình!” Xin gửi đến Quỳnh Hoa câu nói trên để thế một lời chào đầy thân ái. 

Em ơi, ngày mai trời lại tối! 

* Bên lề (phải):

Trên Gío-o có đăng tải những bài thơ độc đáo của Ngu Yên và Hoàng Xuân Sơn. Tôi là kẻ ngoại đạo. Hai thi sĩ kia mới đủ nội lực để tản mạn về thi ca. Biết đâu bài viết này lọt được vào mắt hai “chàng”. Và đâu biết, mai này chúng ta đọc thấy “Chuyện đầu năm”: Nhà thơ cất tiếng, đưa ý kiến, nhằm can ngăn hoặc xúi dục những người can đảm tựa Quỳnh Hoa. (Em đừng mang tới hoa quỳnh, môi thơm dẫu đợi ta nào biết hôn!) 

* Bên lề (trái):

Bài này chỉ xin được xếp vào hạng mục (mới thấy trên Gió-o): Thư  tín với tiểu tựa “LÂU LÂU MỘT LẦN” (Ôi, cái tựa thật gợi cảm!). Người Bắc có chữ “Ăn giả bữa”. Là ăn bù đắp, ăn over-time, ăn thế cho những lúc ốm đau nhác chơi liệt giường. Hàn Mặc Tử nói: Lâu quá sao anh không về chơi thôn Vĩ? Lâu-lâu-một-lần. Lạ thật! Sao không cho hai lần, ba lần? Lâu quá rồi, còn nhớ chăng? Để trả thù, để “tính tiền lời” cho những hôm “ngồi trên giếng mà khát nước!” 

Cám ơn nhà văn Lê thị Huệ đã vui lòng chuyển tải “lời quê góp nhặt dông dài” này. Cũng xin cám ơn ai đó đã góp ý về vấn nạn con dao Thái-lan trong chuyện ngắn “Mày biết đời là gì”. Viết văn và làm thơ, khi nghe được tiếng vọng từ phía người đọc cũng là một cách biết-đời-là-gì. Phải thế không Quỳnh Hoa? 

Lành thay! Lành thay! 

Hẹn gặp một lần khác. Lâu lâu một lần hay hai ba lần, thú thật cái đó tùy thuộc nhiều vào sức khỏe. Chốn tôi ở hàn khí dâng đầy, giá rét từ muôn hướng thổi về, cơ thể nghe hao gầy sa sút, co ro. 

 Buồn thay! Buồn thay!

Hồ Đình Nghiêm

© gio-o.com 2008

Bức ảnh “Nỗi Đau Không Thể Xóa Nhòa”

baotreonline.com

Phương Tôn

Post on June 1st, 2024

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Bức ảnh “Nỗi đau không thể xóa nhòa” vừa được chọn là bức ảnh báo chí của năm 2024 của Mohammed Salem đã gây xúc động mạnh mẽ và đoạt giải thưởng danh giá World Press Photo Award của năm 2024.

Vào ngày 17.5. 2023, nhiếp ảnh gia Mohammed Salem đã chụp được hình ảnh người phụ nữ Palestine Inas Abu Maamar, 36 tuổi, đang ôm chặt xác của cháu gái Saly, 5 tuổi, đã thiệt mạng trong một cuộc không kích của Israel tại bệnh viện Nasser ở Chan Yunis, thuộc miền Nam Dải Gaza.

Bức ảnh của Mohammed Salem đã khắc họa một cách chân thực nỗi đau vô bờ bến mà người dân Gaza phải gánh chịu do cuộc xung đột giữa Israel và quân khủng bố Hamas. Đây là một hình ảnh làm lay động lòng người, minh họa một cách sinh động cho thảm họa nhân đạo ở Dải Gaza. Ban giám khảo của World Press Photo đã ca ngợi bức ảnh là “cái nhìn sâu sắc đầy cảm động về nỗi đau vô bờ bến” và đánh giá cao khả năng của Salem trong việc “bắt trọn cảm xúc mãnh liệt của khoảnh khắc này.”

Bức ảnh của Mohammed Salem, đoạt giải World Press Photo Award 2024, là một tác phẩm đầy sức mạnh và cảm xúc. Bức ảnh này không chỉ là một cách thể hiện nghệ thuật tuyệt vời, nhưng thật ra, nó là một lời nhắc nhở cay đắng, đau đớn và chân thật vào cảnh tàn khốc của chiến tranh, về những hậu quả của chiến tranh và bạo lực đối với những người vô tội, gợi lại nỗi đau không thể diễn tả của một phụ nữ đang ôm xác một đứa bé, được bọc kín toàn thân trong một tấm khăn trắng.

Người phụ nữ trong bức ảnh che mặt mình, nhưng vẫn không che được nỗi đau trong lòng. Cánh tay của cô ôm chặt xác của đứa bé như là một hành động, tuyệt vọng và đau buồn.

Tấm khăn trắng vừa bọc kín toàn bộ cơ thể của đứa bé, như một lời giãi bày sự vô vọng và vô dụng. Không chỉ là một cảnh tượng, bức ảnh này là một lời nhắc nhở về sự đau khổ của hàng triệu người phụ nữ và trẻ em trên khắp thế giới, những người chịu đựng nhiều năm chiến tranh, bạo lực và khủng bố.

Bức ảnh “Nỗi đau không thể xóa nhòa” của Mohammed Salem là một lời cảnh báo, một lời kêu gọi về sự nhân ái và sự hiểu biết. Nó gợi lên sự đau khổ mà con người gánh chịu và hy vọng sẽ làm dậy sóng ý thức cộng đồng về tình trạng khủng hoảng nhân đạo đang diễn ra khắp nơi.

Bức ảnh của Mohammed Salem đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, gây ra những cảm xúc mạnh mẽ, đã khơi dậy những cuộc thảo luận và tranh luận về xung đột Gaza. Đây là chứng minh quan trọng cho thảm kịch nhân đạo đang diễn ra ở Dải Gaza và là lời nhắc nhở về sự cần thiết cấp bách của một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột. Nó là một lời nhắc nhở cay đắng về sự vô nghĩa của chiến tranh và bạo lực. Bức ảnh này không chỉ là nghệ thuật mà còn là một lời kêu gọi hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau trong thế giới đầy xung đột ngày nay.

PT

Tôi đi để lại trường xưa!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

“Ôi! Trường ta tang thương! Theo vận nước nhiễu nhương! Bạn bè năm cũ giờ đâu cả? Ðã dạt về đâu mấy nẻo đường?”

Mới đây ông Chủ bút kêu réo um sùm: “Anh Thu ơi! Có bạn học của anh kiếm kìa!” “Ðứa nào vậy cà?” Thì ra Bùi Quang Long, đã đi Mỹ du học từ năm 1970, lúc mới vừa đậu Tú tài hai, tìm lại tui, là thằng bạn đồng song của nó. Ðã 53 năm! Thiệt là chớp mắt! Thiệt là bóng câu qua cửa sổ! Vậy mà bạn học cũ vẫn còn tìm! Thiệt là bùi ngùi cảm động à nhe!

Ôi nhớ xưa! Muốn vào học trường Petrus Ký là đám học trò phải qua một kỳ thi tuyển cũng lắm gian nan! Bốn, năm ngàn sĩ tử, chưa tới 500 đứa còn sống sót.

Bài thi gồm 3 môn: Toán quan trọng nhất, hệ số 3, Văn hệ số 2 và Câu hỏi Thường thức hệ số 1. Bài tủ về môn Toán thường là động tử. Nghĩa là xe chạy. Xe chạy phải hai chiếc, chạy cùng chiều, hoặc chạy ngược chiều. Cho vận tốc mỗi xe rồi tính thời điểm gặp nhau, tính quãng đường hai xe chạy được… đại khái là thế. Cùng chiều, rượt đuổi nhau thì đường dài chia hiệu số hai vận tốc. Còn chạy ngược chiều thì lấy đường dài chia cho tổng số hai vận tốc là ra thời gian hè!

Ðứa nào thông minh giỏi toán, làm trúng hết hai bài, là phẻ re như con bò kéo xe, chỉ có việc ngồi rung đùi, đậu chắc trăm phần trăm. Còn nếu trúng chỉ một bài, còn bài thứ hai trúng lớt lớt như phớt thuốc đỏ thì phải nhờ bài Luận văn hoặc Câu hỏi Thường thức kéo lên cho khỏi xệ. Bài Luận văn thì khó dàng trời mây đi. Mới 11, 12 tuổi đầu mà quý Thầy ra đề thi kêu tụi em bình luận lời của Ngô Tổng thống là mấy em chết cửa tứ (?!)

Năm đó, thằng đậu hạng bét là được 45 điểm cho ba môn. Ðứa đậu hạng nhứt, tức Thủ khoa, được tới 81 điểm, gần gấp đôi thằng đậu hạng bét. Tên nó là Âu Dương Khoát, (không có bà con gạy mơ rể má gì với Tây Độc Âu Dương Phong trong truyện chưởng của Kim Dung hết ráo) sau được xếp vào chung lớp Ðệ thất 5, niên khóa 1963 với tui đó nha!

Nhớ ngày đi dò kết quả, tui và thằng anh chen vào cái bảng điểm, che bằng mắt cáo, đề phòng đứa nào rớt, quạu, xé, là hết coi luôn! Bên trong mắt cáo dán chừng 10 tờ giấy đánh máy danh sách thí sinh trúng tuyển, gồm số ký danh, họ tên, ngày tháng năm sanh, điểm, và thứ hạng của thí sinh.

Biết thân mình học dở ẹc nên tui cắm đầu dò từ dưới dò lên! Chớ đời em nào dám mơ mộng gì đâu?! Dò lần lần lên hoài mà hổng thấy tên mình. Chắc tui trợt vỏ chuối rồi quá? Ai dè thằng anh tui la lên: “Tên mầy nè, 56 điểm, đậu hạng 176! Má mình mừng lắm đó! Mầy mà rớt, Má hổng có tiền cho mầy đi học trường tư đâu!”

Bữa đó, Tía tui dắt hai anh em tui vinh quy bái tổ ở cái xe bán bò vò viên trước rạp hát Ðại Ðồng! Tía móc túi cho năm chục đồng để ‘tân khoa’ ngồi xơi ‘đại yến’!

Mỗi đứa một chén bò vò viên, mỗi chén 5 đồng. Số tiền còn lại, hai anh em dung dăng, dung dẻ, dắt nhau ngược đường Cao Thắng, lên gần tới đường Trần Quý Cáp, rạp Việt Long, để coi phim ‘Ò e Ro Be đánh đu, Tazan nhảy dù, Zoro bắn súng’

Gần tới ngày tựu trường còn được Má dắt ra ông thợ may trong xóm chợ Hai Mươi, góc ngã tư đường Phan Thanh Giản và Cao Thắng, may cho hai cái áo sơ mi tay ngắn và hai cái quần ka ki xanh, và mua cho một đôi dép da của hãng Bata. (Ba Ta chớ hổng phải Ba Tây)  (Vì trường Petrus Ký không cho học trò mang dép Nhựt lẹp xẹp, coi nó hổng có oai!). Ðóng bộ vô trông  rất oách! Vậy là giã từ cái quần xà lỏn, có mang theo ‘hai quả lắc đồng hồ’ bé tí teo, đi học trường Tiểu học Bàn Cờ trong Cư xá Ðô Thành rồi đó nhe. Vô Đệ Thất, là hết bị Má tui cầm chỗi lông gà kêu cúi xuống vì tội để em té u đầu nữa rồi. Tui chuẩn bị làm người lớn!

Và 9, 10 năm sau đó, từ khi tui thôi học, từ khi tui khoác áo trây-di (treillis), lạc về vùng quê Hốc Bà Tó, rồi thiên duyên tiền định gặp em yêu, tức má đám con tui bây giờ, tui từng ‘nổ’ tơi bời với em là: “Ðừng thấy anh dở mà rầu! Ðã từng đi học trường (đứng) đầu Miền Nam đó nhe!” Làm con vợ tui nó há hốc mồm kinh ngạc: vì lẽ tại sao anh yêu trông lù khù mà lại hổng có ngu… như em hằng tưởng?!

Rồi mấy hôm nay, mấy đứa cùng lớp năm xưa, kêu gào bay về họp mặt lớp cũ trường xưa bên Mỹ (chớ hổng phải Mỹ Tho!). Có đứa đề nghị ‘sảng’ là bay về họp mặt ngay tại trường xưa ở đường Cộng Hòa đối diện thành Ô Ma mới được.

Thì đứa khác hổng chịu nói: “Khi nào cái trường mình lấy lại tên P. Trương Vĩnh Ký thì tao về. Bằng không? ‘Nô quê!’ (No way!)!”

Ngô Văn Trí, Liên toán trưởng ngày xưa, chắc khoái chơi và sưu tầm đồ cổ, gởi cho toàn thể đám học trò danh sách lớp Tứ 5, niên khóa1966, bị gián cắn rìa giấy lổm nhổm hết trơn, cộng với hơi ẩm trong không khí làm chữ bằng viết Bic, bút nguyên tử, cũng tèm lem tuốt luốt, nhưng may mắn thay, đeo kiếng lão vô, vẫn còn đọc được! Mai mốt mình lấy lại được tên cái trường xưa, tui sẽ đem cái danh sách nầy lộng kiếng (chớ không phải liệng cống), chưng trong phòng Truyền thống của Trường P. Trương Vĩnh Ký để nhát mấy đứa con nít học sau mình chừng một thế kỷ chơi!

Bồi hồi đọc cái danh sách mà đầu têu là tên Liên toán trưởng Ngô Văn Trí nầy, thì ký ức như một cuồn phim cũ, tưởng đã mờ phai theo năm tháng, lại hiện về khiến tui cũng rưng rưng nước mắt. Nhớ thầy Chung Hữu Thế, dạy Anh văn, lớp Ðệ thất 5, định cư ở Canada, vừa quá vãng! Nhớ Thầy rầy (sau khi mấy ‘thằng’ Mỹ, bên USAID, đến dự giờ dạy Anh Văn của Thầy ra về rồi): “Cái thằng Thu nầy… có chữ ‘young’ mà đọc năm lần bảy lượt cũng không xong!” Em xin cám ơn Thầy đã tế nhị, không nỡ làm quê mặt em với khách đến viếng lớp mình!

Tui nhớ trò châu Minh Nhạn đã bỏ mình trong cuộc chiến khi tuổi mới thanh xuân trong đợt tổng động viên mùa hè đỏ lửa năm 72. Châu Minh Nhạn là người lạc quan, yêu đời, thường ca, nhạc chế, bài “Where do I begin do” của Andy Williams hát trong phim Love Story do Erich Segal viết kịch bản. “Where do I begin. To tell the story of how great a love can be” “Bởi bà già rắc rối, cuộc tình rối rắm, ôi biết nói gì, thì đành nói dối”.

Thầy Chung Hữu Thế

Ôi những người bạn học của một thời niên thiếu, đẹp như hoa mộng đó và sau một cuộc biển dâu nầy mà giờ đứa nào may mắn còn sống sót thì cũng  đều già cả hết rồi. Thế nên dẫu chân Trời góc biển nào đó thì tụi tui cũng phải ráng lò dò hay lò cò bay về mà tề tựu một lần sau chót chớ! Tui sẽ mang theo một chai rượu “ông già chống gậy” (Vì tui cũng đã quá già rồi dù gậy chưa có chống!).

Tranh Bảo Huân

Trước là tế tửu quý Thầy Cô ngày cũ, đã quá vãng, sau để rót xuống cho bạn hiền Châu Minh Nhạn, người đã ngã xuống khi tuổi đời vừa mới chớm đôi mươi. “Cụng với tao một ly đi mậy!”

Ôi Trường xưa! Cho tui xin chịu lỗi nhe! Tui nỡ bỏ ra đi cũng vì phần số thế thôi!

Dẫu vậy, trong trái tim nầy, ở phần sâu thẳm nhất, vẫn còn những hình ảnh cũ của trường xưa, của bạn bè năm cũ, từ giờ tới chết, cũng không thể nào quên!

DXT – Melbourne

Bánh cống ơi!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on May 17th, 2024

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Cống có hình trụ làm bằng xi măng có trộn sỏi, đúc cho chắc, đặt âm dưới mặt đường lộ. Cống dẫn nước từ Kinh Bảo Định vô đồng, dẫn thủy nhập điền cho ông bà mình làm ruộng. Qua cầu sắt xã Lương Hòa Lạc, quận Bến Tranh, khỏi luôn chợ Phú Kiết, hồi xưa, VC đặt mìn dưới cái cống nầy giết chết Trung tá Trần Hoàng Quân, Tỉnh trưởng tỉnh Định Tường. Được truy thăng lên đại tá, Trần Hoàng Quân là tên đường dọc theo Giếng nước, bắt đầu từ đường Nguyễn Tri Phương chạy tới đường Ngô Tùng Châu gần cầu bắc Bến Tre. Sau VC vô đổi thành đường Tết Mậu Thân để tưởng nhớ cả đống VC chết trên con đường nầy khi chúng đụng độ với Thiết đoàn 6 Kỵ binh Thiết giáp và lính Sư đoàn 7 vào Tết Mậu Thân.

Miệt Lộ Dừa còn gọi là Lộ Vòng Lớn. Đầu lộ phía cầu sắt Trung An có cái chợ quê chỉ họp buổi sáng. Chợ gần cái cống nên bà con mình gọi là Chợ Cầu Cống. Lộ Dừa là con đường năm 1960, lúc Ba làm Trưởng ty Bưu điện, Má từ Rạch Giá dắt con về chịu tang bà Ngoại lúc con còn thơ ấu!

Ngoài ra, cống làm bằng thiếc có tay cầm, là dụng cụ đo lường mà chú Ba, thiếm Xẩm tiệm hàng xén trong xóm dùng để đong rượu, giấm, nước mắm, dầu hôi. Cái cống còn làm khuôn để chiên bánh cống ngập trong chảo nóng đầy nước mỡ heo.

Ca dao miệt Sóc Trăng cũng có câu: “Hỏi anh có nhớ Bãi Xàu. Bánh xầy chiên mỡ, bánh bao thịt bằm” Thuộc quận Mỹ Xuyên, tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng), Bãi Xàu có bánh pía, mè láo, lạp xưởng, bún nước lèo. Người Tiều ở Sóc Trăng kêu bánh xầy nó chính là bánh cống.

Học giả Vương Hồng Sển trong “Sài Gòn tạp pín lù”

“…Bánh nhưn đậu xanh, chiên mỡ heo, trên mặt có kèm một con tép vàng cháy ngọt bùi, tép nhỏ thì mỗi bánh có hai con tép.”

Bánh cống Sóc Trăng – nguồn wordpress.com

Qua Châu Đốc, Tri Tôn, gọi “bánh xà cón”. Khi lên Chợ Lớn, Sài Gòn thì gọi bánh “giá”, nhân giá đậu xanh, hoặc “bánh tôm khô chiên” Ông Vương Hồng Sển nói vậy không hợp lý. Miệt Hoà Đồng, Gò Công cho thêm vài nhúm giá vô bánh, thế là có tên bánh giá (?!) ư? Giá đâu phải là cái chánh trong nhưn bánh đâu mà gọi là bánh giá? Đóng vai phụ mà tên nguyên bảng hiệu nghe sao lọt cái lỗ tai? Giống như bánh cống chiên bằng cống; gọi bánh vá vì nó chiên bằng cái vá để múc canh, múc cháo.

Theo ông Vương Hồng Sển, bánh xầy bán tại chợ làng Đại Tâm (Xoài-Cả-Nả), là ngon nhứt hạng không nơi nào bằng. Bánh xầy ngon, khi cắn, miếng bánh trong miệng, nhai vừa giòn khướu vừa thơm thơm mùi tép và thơm mùi mỡ mới. Khi nuốt khỏi cần cổ, bánh còn để lại một dư vị mặn mặn cay cay của chén nước mắm ớt rẻ tiền. Bánh đã nuốt vô tới bụng tới bao tử mà chưa thấy no và còn muốn ăn nữa vì dư vị kia thật là thần sầu quỷ khốc”.

Đọc bài bánh cống của tui, một người đẹp ‘post comments’ lên như vầy: “Dạ ngày xưa ở Ngã tư quốc tế Sài Gòn, giấc chừng 3, 4 giờ chiều có bán bánh cống ăn với rau sống, rau thơm chấm nước mắm chua ngọt. Ngon tới nỗi nhớ mấy chục năm rồi em còn nhớ”.

Lời em nói làm tui nhớ ca từ của nhạc sĩ Hoài Linh có câu: “Cầu Chữ Y, Lộ Hàng Xanh, lửa bạo thiêu tám nẻo đường thành” lúc VC tổng công kích Tết Mậu Thân. Tui bèn trả lời người đẹp là quê mình có nhiều ‘Ngã tư quốc tế’ lắm. Như ở Mỹ Tho, chạy xe qua cầu nhớ lời thề năm cũ: “Chừng nào cầu quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường” một khúc trên đường Đinh Bộ Lĩnh qua khỏi nhà Đông y sĩ Hồ Duy Thiệt.

Ngã tư Quốc Tế Sài Gòn xưa – nguồn Flickr

Còn Ngã tư quốc tế ở Sài Gòn mà người em sầu mộng nầy nói, vốn dĩ không có tên trên bản đồ. Nó gồm 4 con đường: Bùi Viện (tên xưa là Bảo Hộ Thoại). Đề Thám (Dixmude). Trần Hưng Đạo (Galliéni). Đỗ Quang Đẩu sau rạp hát Nguyễn Văn Hảo.

Đào kép cải lương trước giờ tập tuồng thường ra đây cà phê, sau khi vãn hát rồi thì nhậu nhẹt bánh cống, cóc, ổi khô mực. Đời nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Ba ngày đêm nổi lên sình chương (sình trương) là vậy đó.

Góc Đề Thám – Bùi Viện có một quán cà phê, trước cửa chủ quán treo tấm bảng viết hai câu thơ lục bát: “Uống đâu cũng phải trả tiền. Uống đây giúp đỡ bạn hiền – cám ơn”

Còn Ngã tư quốc tế trên đường Bùi Viện sau này? Tui chỉ nhớ năm 1987, có nhà may âu phục Sỹ Tân. Là người Bắc 54, ông chủ gọi là nhà may chớ không phải là tiệm may. Ông tên Sỹ Tân. Sỹ viết ‘y’ dài chớ không viết ‘I’ ngắn như dân Nam Kỳ. Tui nhớ tiệm may Sỹ Tân là vì lúc đó CS cho quảng cáo trên đài phát thanh giống chương trình thương mại quảng cáo trên Đài phát thanh Sài Gòn trước 1975. Đối với CSBV đổi mới là lẳng lặng ‘cóp’ lại cái cũ của thời VNCH tư bản. Im lặng, nín khe ‘cóp’; vì nói ra sợ quê. Cóp còn làm chẳng nên thân, làm dở hơn xưa?!

Còn bây giờ, phố Tây Bùi Viện, còn gọi là Phố đi bộ Bùi Viện hoặc Ngã tư quốc tế nơi tập trung của nhiều du khách từ khắp nơi trên thế giới, đa phần đều là Tây ba lô.

Ngày từ mẫu năm nay rơi vào Chủ Nhựt, tuần thứ hai của tháng Năm, tui lại nhớ về đất mẹ, tui nhớ Sài Gòn. Tui cũng nhớ đất Cần Thơ của tui thời lưu lạc khi CSBV cướp được đất Sài Gòn.

Vượt biển ra đi; trong cái chết tìm ra cái sống tự do, tui trở thành con người quốc tế. Tui nhớ Ngã tư quốc tế Sài Gòn, nhớ bánh cống cuốn với cải xà lách, rau thơm chấm nước mắm ớt.

Tui nhớ đèn Ba Ngọn, ngã ba Ngô Quyền Hai Bà Trưng, Bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Ngày ấy, 11 giờ khuya, em Nguyễn Hoàng Dũng còn nghĩ tình nghĩa thầy trò; dù tui đã ‘mất dạy’ lâu rồi, nên xách xe Honda 67 chở tui ra để hai thầy trò ngồi cuốn bánh cống, uống rượu nếp than.

Xa quê đã 30 năm, Footscray quê người, tui không còn dịp nào ăn bánh cống nữa. Đêm mơ, tui lần mò về quê cũ! Em yêu bán bánh cống ơi!

ĐXT

Bộ đội gái

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 22/03/2015 

Post by Sơn râu 2 Jun 2024

Là học trò miền Nam, mình không thông hiểu chữ bộ đội. Lẽ nào ám chỉ thành phần chuyên lội bộ và đội đồ? Nghe chẳng ổn, nhỉ? Nhưng cứ mường tượng ra một kẻ chuyên trị đi bộ và đội đồ, nhìn mặt rồi bắt hình dong thì trông chừng dáng vẻ ấy nó rập khuôn với mấy o bộ đội. Như hai giọt nước.

Sau năm Một Chín Bẩy Nhăm, khi san bằng vĩ tuyến 17 hai miền thông thương, chúng sinh miền Nam đã tập làm quen con mắt dần dà thôi dị ứng với những nhân dạng quê mùa, cục mịch chốn nào cũng hiện diện có chung tên gọi: Bộ đội gái. Lỡ ăn dầm ở dề với da thịt lụa là, với thanh cảnh, với mình hạc xương mai, với yểu điệu thục nữ, với xô động hương mùi, với đài các khói sương, với beauté, với “em là con gái trời bắt đẹp”… cho nên lỡ bị ngó ra mấy o trách sao người ta không choáng, không sốc. Người ta giật thót mình mẫy và xằng bậy thay, người ta đã “cười trên nỗi đau của kẻ khác”. Trời ơi! Lính cụ Hồ ngó quê một cục. Người ngợm ngó bắt nản. Đờn ông con trai miền “được” giải phóng có đối diện cũng xin bất tương phùng tựa phỏng dái. Thanh niên gãi đầu: Dạ, bị trên bảo mà dưới không nghe. Cứ xìu xìu ển ển miết, chừ em biết tính làm răng hở chị! Cái sự cố này hổng có liên hệ tới nhất trung ương nhì địa phương đâu nhé. Cũng chả dính dáng tới thơ thẩn: “Bề trên ở chẳng chính ngôi, để cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào”. Ngộ nhỡ thằng cu đen nó hỗn hào đột xuất thì chị bộ đội mừng húm. Chị nhớ ông Bút Tre: Má kề nòng súng thẳng đơ, tay suông chị cứ bóp cò sướng chưa. Có vậy chứ, công trình chị xẻ dọc Trường sơn vào đây lôi em ra khỏi bàn tay lông lá của bọn Mỹ Nguỵ, em tha hồ hỗn láo đêm bảy ngày ba vào ra không kể để giải hạn cho chị, cứ bắn trực xạ vào mình chị, cho chị bỏ những ngày cơ cực.
Trong khi mà lắm kẻ mãi hoang mang ngờ vực: Cớ sao mình lại cháy túi trong canh bạc xui tận mạng này, trước một đối tượng ngô không ra ngô khoai chẳng ra khoai kia, thì Dương Thu Hương, đại diện cho bộ đội gái đã thổn thức không kềm lòng cho nước mắt tuôn, khóc ròng khi dẫm được bàn chân lên bờ cõi nọ: Than ôi, ta đã bị lừa bịp quá đỗi trắng trợn. Chú phỉnh ta rồi chính phủ ơi! Chốn này hơn cả vạn lần chốn kia. Hơn con người, hơn văn hoá, hơn cảnh vật, hơn luôn cả bầu khí quyển đang bắt đầu tan tác mây trôi. Ta khóc chính vì sự ngược ngạo trái khuấy ấy. Bi kịch nằm ở trường hợp khóc lẻ tẻ nọ, phía thắng cuộc, tuyệt đại bộ phận đều hồ hỡi phấn khởi “em về điểm phấn tô son lại, ngạo với phương Bắc một nụ cười”. Từ đi bộ đội đồ họ biến đổi thân phận đi xe thồ đồ, đi tầu vác đồ, dùng đủ mọi phương tiên để khuân của cải “phồn vinh giả tạo” của miền Nam trực chỉ Bắc tiến. “Chúng nó ăn không từ một cái gì”, từ một vùng đất mầu mỡ rừng vàng biển bạc, phút chốc miền Nam bị giải phóng thành một bãi tha ma. Công trạng này một phần có sự tiếp tay của bộ đội gái, của những “người mẹ anh hùng”. Người ta không quên ơn, đã tạc nên bức tượng thật hoành tráng, cực choáng, cực kỳ vĩ, siêu khủng và cũng… mất mỹ thuật.

Hình minh hoạ ở đầu bài thì khác, đây là bộ đội Trung quốc. Mấy o này chẳng biết đóng quân ở đâu? Căn hộ tập thể với tường vôi sứt mẻ gạch đá e không khéo cắm dùi tận chốn hiu quạnh xa đất liền? Hoàng Sa Trường Sa chăng? Họ cố làm vơi nỗi nhớ nhà bằng cách tụ tập hát hò, đèn thắp sáng, đèn cháy bỏng niềm thương về hậu phương dạt dào cách trở thiên dặm hải lý. Chắc hẳn họ không biết bài ca của bọn phương Nam thù địch “đường ra trận mùa này đẹp lắm” ?. Đẹp cái khỉ mốc, bản cô nương đang lậm nhớ thằng người yêu bé bỏng ở hậu phương đây, nhớ đến thắt cửa mình. Mình mà đi công tác dằng dặc lâu, tiền đồn trấn nhậm nơi lạ nước lạ cái, bọn người iu ở nhà không khéo mà sanh bạc lòng, chúng xuôi Nam, chúng tuyển vợ Duỵt-nàm-dành thì bỏ mẹ! Nghe nói ở xứ ấy, chúng nó lựa gái giống như đi chợ lựa cá tôm. Xem con nào ương con nào tươi, mặc cả rồi bê về bắt phục dịch. Ngôn ngữ bất đồng? Thì cứ ú ớ chơi chị năm. Có sao đâu? Cờ nó chỉ một sao, cờ ta thì cả nạm sao chư hầu. Nó lấy tư cách gì đàm phán với ta, thằng đàn em hỗn láo.

Tranh vẽ của một hoạ sĩ nhân dân nào đó, thấy trên mạng, chẳng nhớ tên. Hoạ sĩ này chắc sanh sau đẻ muộn, thôi ám ảnh thời cách mạng văn hoá, đã vung tay quá trán cho mấy cô bộ đội ăn vận hơi bị mất tác phong quân đội. Tranh của vị xếnh xáng này so ra không hơn được hoạ sĩ Vi Vi của phương Nam ngày nọ. Không màng tới đội ngũ bộ đội, chứ nếu vọc tay vào, Vi Vi sẽ vẽ “tới” hơn. Liên tưởng tới người hoạ sĩ từng một thời phiêu bạt ở Montréal vì chợt nghĩ, nếu dưới bức tranh này ký tên Vi Vi thì cũng rứa, ngó xêm xêm chẳng ai thét mét, bởi chàng rất giỏi ở lãnh vực cơ thể học, dessin vững, dựng hình khối rất chuẩn và thiếu nữ trong tranh chàng… bộ đội gái ngó phải chảy nước miếng. Anh ơi, em lột truồng ra nhé, để mong anh vẽ cho em một tấm tranh nuy. Đừng run tay cầm cọ, xin hãy nghía em một lần cho thoả. “Bây giờ em đối diện anh, cỏ trên mình mẩy em sầu như ri đây!”

Đã là bộ đội e thắp đuốc tìm chẳng ra gái đẹp, hoạ sĩ nhân dân này khi lao động buộc lòng phải đánh tráo sự thật, hòng ca ngợi và cổ động binh lực của họ. Một gã bất hạnh bị đắm tàu lạc vào hoang đảo, trời xui khiến bắt gặp bầy “ma nữ” này thì lo kiếm cách mà tìm đường vượt biển kẻo chết không toàn thây. Họ xa luân chiến, họ dụng binh, mang chiến thuật lấy thịt đè người thì còn gì tính mạng nam tử hán mí lị đại trượng phu. Phải ngửa mặt lên trời mà ta thán, thống thiết kiểu Chu Du: Trời sinh ta sao còn sinh một tiểu đội gái sung! Một khẩu K-59 hèn mọn lủng lẳng dấu trong quần mần sao đương cự nổi với ngần ấy B-40 với cối to đùng! Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cọng thêm giờ nghỉ là lao động tắt quạt kiểu như nối lại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, chứ sức nghỉn đâu mà phục vụ hết Triệu Minh lại tới phiên Chu Chỉ Nhược, Tiểu Long Nữ vừa nhào vô đã thoáng thấy Hoàng Dung trút bỏ xiêm y đợi chờ. Than ôi! Biết vậy trước đây ta nên tu luyện Tịch Tà kiếm phổ để triệt tiêu chim cò thì giờ này khiến cho đối tượng tức ói máu. Cứ xìu xìu ển ển thì làm gì nhau, binh pháp gọi bất chiến tự nhiên thành là vin vào lẽ ấy. Có ưa thì ngủ chay thôi, nhớ? Ôm ấp hôn hít bậy bạ vậy thôi cho qua đêm dài lắm mộng, chứ tại hạ không thể thân này ví xẻ làm năm được, các hạ có OK?

Bộ đội phương Nam có còn ngon cơm như thuở nọ? Cái thời mà “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Cái thời mà lắng lòng nghe dân anh chị phương Bắc rót mật: Sông liền sông núi liền núi, chớ hở môi mà răng lạnh, hử? Giờ này hoà bình đã bốn mươi năm e cơm cháo thảy nguội lạnh mất rồi. Văn không ôn võ nhác luyện đã đành, quan trọng hơn, lòng dạ lỡ nhuốm bệnh hoài nghi ngờ vực mất rồi. Ta vắt kiệt tuổi xanh cũng giống như lãnh đạo vắt chanh bỏ vỏ. Đời ta trước sau vẫn vậy, đi từ nghèo đói tới giáp vòng đói nghèo chẳng sanh đột biến; nhưng thượng tầng kiến trúc thì dinh thự nguy nga xe cộ bóng lộn lon lá đầy mình không-phong-tướng-anh-em-họ-tâm-tư. Hoá ra ta dâng trọn sức lực mình để cho ai kia thụ hưởng thành quả. Lịch sử sang trang, giờ đây ta còn nhuệ khí nào để ra tuyến đầu mà làm vật cản, mà đánh đấm người anh em, người đồng chí ngày cũ? Phương chi súng ống này, đạn dược này thảy đều do họ chi viện cho ta. Thua, thua tứ tung bát giác thù trong giặc ngoài. Tình ngay ta cũng biết ngậm đắng nuốt cay, một liều ba bảy cũng liều, có điều mấy vị đại ca ở trên e lòng dạ cũng ngổn ngang trăm mối nên cứ thầm thà thậm thụt tịnh khẩu như bình. Mấy ảnh im re nên ngày 14 tháng 3 năm 1988 mới xẩy ra sự cố là 64 chiến sĩ hải quân ở Gạc Ma đứng như phổng đá để làm bia cho chúng bắn trực xạ vào người oan ôi ông địa. Thù này phải trả! Có ai thốt nên lời ấy chưa? Đụng trận, tả xung hữu đột, đứng trước ba quân mà thề nguyền, tự cổ chí kim chuyện gay cấn nọ tuồng không mắc mớ chi tới phận đàn bà. Nhi nữ thường tình xứ An Nam chỉ nổi trội duy trong lĩnh vực nội trợ hoặc trèo đèo lội suối lặn lội bới xách đi thăm nuôi chồng học tập rừng sâu. Chung thuỷ giỏi dang chỉ ngần ấy thôi đã sớm tàn lụn một kiếp nhân sinh bọt bèo hồng nhan đa truân. Sau lưng một người đàn ông tiếng tăm luôn có bóng dáng của phụ nữ. Ẩn mặt trong bóng tối cuộc đời Tú Xương vẫn hiện hữu một người tự nguyện làm thân cò lặn lội bờ ao nuôi chồng nuôi con không quản ngại giông bão, kìm hãm được tiếng than van. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh! Vừa dứt câu thì hiện ngay ra công án với dấu hỏi to đùng: Vậy chứ đàn ông trốn biệt đi đâu?

“Chiếc gạt nước như xua tan nỗi nhớ, ở Trường Sa em lại tương tư Hoàng Sa”. Bài hát mùi boléro nọ e bất khả sáng tác tự biên tự diễn. Mới rục rịch xuống đường đi biểu tình thôi đã bị tó, cho nhập kho thì sức nghỉn đâu mà đòi chủ quyền này nọ. Về nhà đi nhớ, chuyện nước non đại sự thì trên, lãnh đạo họ có cách giải quyết, họ sẵn phương án hành động rồi. Ưa uýnh nhau hở? Haizz, nếu gây ra chiến tranh một mất một còn thì tự thuở nào tới giờ chỉ có dân ngu khu đen mới thiệt thòi lãnh đủ thôi bà con ạ. Lời thật thường mất lòng, lãnh đạo mới tậu cái ghế xịn nom như ngai vàng, chắc như kiềng ba chân, ngự lên trên thì y như rằng một sợi lông cũng chẳng rụng, để yên cho mấy người ra yêu sách đá đảo này nọ thì có khác gì vẽ đường cho hươu chạy. Ốm o xo bại là thế mà sao ưa tơ tưởng được voi đòi hai bà Trưng, hử! Nghe đây này, đã có vị tướng mần cuộc so sánh: Nói về sự đối đầu giữa bộ binh thì chưa rõ mèo nào cắn miêu nào, nhưng xét về lực lượng hải quân thì ta phải nhìn nhận điều không thể chối cãi, ta không cách gì so bì với Trung Quốc được. Họ hiện đại lắm cơ!

Bạc nhược chăng? Thức thời chăng? Khiếp vía chăng? Hay thuộc làu binh pháp “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Quan võ đã nói thì chí ít cũng có chút cơ sở do kinh nghiệm tích luỹ. Nhưng mà tướng, sao trong thời chiến quân đội ta chỉ có 56 ôn mà giai đoạn hoà bình này lại có tới 1000 ôn? Lon lá đeo kín ngực để làm gì nhỉ, ăn không ngồi rồi thì hơi bị lãng phí nhỉ? Dân số 90 triệu mà có 1000 vị tướng, bà con nên xem đó là một tỉ lệ khiêm nhường chứ lị. Và cơ bản, hệ trọng nhất, bà con chớ dại mồm dóng hỏi, 1000 vị thì có mấy trăm vị lỡ móc ngoặc mần ăn chia chác với Trung Quốc?

Xưa kia mình có cô bạn gái, chẳng ngờ gia đình cô có công với cách mạng, anh em bà con giòng họ từ ngoài Bắc vào sum họp rộn ràng đoàn viên. Dĩ nhiên cô được chế độ ưu ái bổ nhiệm cho một công việc có nằm mộng cũng chẳng ngờ. Mình không biết cơ quan cô nhằm điều hành chuyện chi trong cái thành phố bát nháo thuở nọ nên mình liệt kê cô là bộ đội gái cho tiện việc sổ sách. Cô thay đổi tư duy, ban đầu nói cạnh nói khoé, riết được trớn mắng mỏ mình như tát nước. Thời gian như nước chảy chân cầu. Nắng mưa là bệnh của đất trời, mới đây cô viết email xem chừng khuynh đảo đánh mất lập trường. Mình đọc, rất tâm tư. Cô bảo ta hơn Trung Quốc cái gì nào? Nói nghe thử? Văn học ta chưa đạt hoả hầu trong khi bên Trung Quốc vô số kẻ tung chưởng phong đều tích tụ tới 12 thành công lực, chỉ riêng ông nội Kim Dung cũng khiến hắc bạch giang hồ chốn ta xiêu hồn bạc vía, chưa tính tới Mạc Ngôn linh tinh các thứ. Điện ảnh xứ ta phải vòng tay gọi Trương Nghệ Mưu là sư phụ. Thời trang ư? Bọn trẻ xứ ta luôn đi săn hàng hiệu do Trung Quốc nhái. Ẩm thực ư? Biết thức ăn người nước lạ ngâm tẩm độc dược vẫn tranh nhau đớp hít. Cần tiền chăng? Sang xứ ấy bán thận bán gan hoặc bán luôn cả thân thể. Rồi sẵn dịp đi tham quan Vạn lý trường thành, không đặt chân lên đó hổng phải là hảo hán… Cô bạn mình chấm dứt mục bình luận bằng lời than, nghĩ mà tủi cho vong linh của tiền nhân! Chuyện nọ xọ chuyện kia, nói Sở xong quay qua Hán, Lưu Bị xong lại móc ngoặc tới Tào Tháo, tràng giang đại hải cứ y như là Mao Tôn Cương. Ba hồi bảy đỗi, nói qua nói về không bằng nói thiệt, đương sự cho hay là cô rất nhớ mình, cô ước ao có ngày mình khăn gói quả mướp làm diệt kiều về thăm lại chốn xưa chôn gò đống kỷ niệm.

Mình chẳng vắt tay lên trán trằn trọc năm canh, ba mươi giây có ngay đáp án, mình hát: Không, không, trăm lần không vạn lần không. Mình đọc thơ: Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai. Mình chảnh kiểu Kinh Kha một đi không trở lại. Rứa đi nghe, hẳn chờ một ngày trời quang mây tạnh mới tính được. Quê hương mình cực lắm người ơi!

Cả tháng trời công tác địch vận ra sức chiêu hồi cứ nước đổ đầu vịt, sau cùng cô giở hạ sách, theo kiểu trường phái Bút Tre:

email anh viết thật bay
bướm em mong đợi từng ngày từng đêm.

Bộ đội gái vốn không mấy đẹp thời hoàng kim, giờ này bốn bó lẻ ba que thì nhan sắc ắt phải nhạn trốn chiều tà, lấy tư cách gì mà tính kế mỹ nhân!

Em nay về viện bảo tàng
Thực thi công tác cách màng giao cho.

Hồ Đình Nghiêm
20 tháng 3. Lập Xuân

Ảnh Phạm Văn Mùi

sangtao.org

Posted on 2/05/2011   

Post by Sơn râu 2 Jun 2024

Phạm Văn Mùi (1907-1992) là một nhiếp ảnh gia, được xem là một trong những cây đại thụ của nền nhiếp ảnh Việt Nam, chuyên về hình đen trắng và kỹ thuật phòng tối.

Ông sinh ngày 1 tháng 6 năm 1907 tại Nam Định, quê quán làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông. Ông là một trong những nhà nhiếp ảnh sớm nhất của Việt Nam, bắt đầu khởi nghiệp cầm máy từ năm 1923 và từ năm 1932 đã khai trương phòng triển lãm riêng tại Nam Định và gửi ảnh dự thi trong các cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội và nhiều lần đoạt giải. Trong thời gian này, ông cũng chơi thân với nhiếp ảnh gia Võ An Ninh và dạy nhiều học trò.

Di cư vào Nam năm 1954, ông là hội trưởng Hội Nhiếp ảnh Việt Nam từ năm 1958 đến 1971 [4]. Trong thới gian này, ông gửi ảnh tham dự các cuộc Thi Ảnh tổ chức tại các nước Pháp, Hồng Kông, Singapore, Anh, Ý, Tây Ban Nha… và giảng dạy các lớp nhiếp ảnh như tại Hội Việt Mỹ Sài Gòn, Viện Đại học Vạn Hạnh cũng như làm giám khảo những cuộc thi ảnh như bộ môn Nhiếp ảnh giải Văn học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa từ năm 1969 đến 1975.

Ông từ trần vào ngày 25 tháng 11 năm 1992 tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ.

Những tác phẩm ảnh của ông như bộ ảnh Suối tóc, Duyên dáng, Tâm tư, Theo chiều gió, Đôi dòng thác đã góp phần làm ông nổi tiếng. Riêng tác phẩm Duyên dáng đã được chọn trưng bày vĩnh viễn tại Bảo tàng Mỹ thuật Brazil từ năm 1963 và cũng mang lại cho ông nhiều huy chương quốc tế danh giá.

Nguồn: Wikipedia tiếng Việt

Cồn cát

Hoa Thủy Tiên

Nắng soi

Phơi lưới

Tìm sống

Ước mơ hòa bình

Suối tóc 1

Suối tóc 2

Suối tóc 3

Thiếu nữ

Duyên dáng

Đôi dòng thác

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by6 Sơn râu 1 Jun 2024

Phần 14 – Chuyện Cũ “Hai Vua Mất Ngôi”

Dẫn – Tôi còn nhớ có một ông quan thời đàng cựu, nhờ sống dai nên con có bảy đứa và đã phò ba triều vua bốn triều chúa, nên làm thi, hạ câu đầu là “Ba vua bốn chúa, bảy thằng con”. Tôi không làm quan cũng không nói đâu xa, chỉ sống tại Sài Gòn và ở lẩn quẩn dưới gốc dây da to ngang dinh Gia Long ngày nay, nhưng đã thấy “phế hưng mấy lớp”, “Hữu đi Diệm đi” (lúc ấy có một câu đồng dao do một bà đầm thuật “Hũ bể – (Hữu), Vịm tan (Diệm), mần ăn mới khá”. Nhưng sau khi hũ bể Hữu đi, vịm tan Diệm chết, cuộc làm ăn của dân chúng miền Nam có mòi còn vất vả hơn buổi xưa. Kể về vua cận kim, trong buổi sống thừa, tôi thấy đủ mặt: Ông lưu vong trở về ngang tàng hống hách là ông Thành Thái, ông im lìm chờ chết là ông Khải Định, còn hai ông vua nhỏ kế vị, thảy còn sống và lịch sử chưa chấm dứt tôi sẽ nói sau:

Ông thứ nhứt, khi vào Sài Gòn là đã mất quyền vương vị. Đó là ông Thành Thái (Bửu Lân), ông là bóng vang một thời của Sài Gòn còn quê, chưa có đèn điện và chưa có nhà chọc trời. Ông rượt đánh sơn đá như đập chó điên, thét rồi Tây chịu không nổi, dời ông ra vũng Tàu rồi đày ông ra viễn đảo Réunion (13-5-1916).

Thoạt đi một thời gian, sau trận đệ nhị thế chiến, ông được trở về, đã trên bảy mươi tuổi, chỉ còn biết làm thơ và chửi bướng. Dân Sài Gòn thờ ơ, nhắc về ông nhiều huyền thoại. Tôi lúc ấy lại dại dột, nghe lời một bạn khuyên tôi không nên lại gần ông, “vì gần ông xui xẻo lắm, không chết cũng rủi ro, cháy nhà, mất chức hay tàn mạt”. Tôi vẫn biết con người chỉ chết có một lần, và tôi đã thôi quan còn gì mất chức, không nhà sợ gì cháy, và nếu có đi sớm lại càng hay, còn tàn mạt thì khi bỏ xứ bỏ nhà chạy lên đây, chẳng tàn mạt là gì nữa? Sở dĩ tôi không gặp ông là tại tôi quá vất vả chạy gạo không đủ ăn, lấy thì giờ đâu đi yết kiến một ông vua phế đế? Bỗng nghe tin ông mất tại Sài Gòn (20-3-1954) quan tài chở về chôn tại Huế, thì đã muộn, còn gì thấy mặt “long nhan”? Tôi xin ghi lại những gì đã nghe:

Một tin cho rằng khi vô đây, ông có đem theo nhiều trân ngoạn và đã cho chác những bà chung quanh như Cô Ba Ngoạn (chủ gánh hái bội), bà Tám Đội (chủ một gánh hát bội khác) v.v…, sau tôi hỏi thăm lại thì những của ấy cũng không đáng gì là báu và đã quy tụ về nhà một bà sưu tập danh tiếng là bà Đốc phủ Hà Minh Phải.

Một tin nữa đồn rằng khi ông viếng lăng Tả Quân trong Gia Định, ông có nói: “Nó lạy ta chớ ta không lạy nó?’. Đó là ông còn nhớ cảnh vua tôi và cũng là nói gượng. Lạy lục lễ bái không đáng kể, danh còn tồn tại với thời gian mới đáng kể hơn. Nhưng có phải ông đã thốt ra lời nói gàn kia không? Việc chưa chắc không nên vội phê bình.

Một tin đồn cũng vô căn cứ hay là bịa đặt? Rằng có một phu xe kéo, ngày nọ gặp tại trận phế đế đang vạch cu đái bên lề. Anh phu lật đật tìm bọn huyện đề đưa một số tiền “anh biên cho tôi đánh con rồng”. Quả đề xổ rồng và anh trúng lớn. Hỏi duyên do, anh nói: “Thấy đầu rồng hay đầu con c. mấy thứ!” Tôi nghe mà đâm sợ ngay cho những sự nghiệp xây trên huyền hoặc, dị đoan.

Một tin nữa, cũng cần điều tra lại. Đồn rằng lúc ông trớ về ẩn cư tại đất Ô Cấp Vũng Tàu, lối sau năm đảo chánh 1945 và trước năm 1954 ông Diệm về, thuở ấy tại Cấp có một tên cai mã tà dựa hơi Tây rất hống hách, húng hiếp đồng bào như cơm bữa. Việc đến tai, ông quở: “Nó chết có ngày?”. Quở chưa bao lâu, quả một sáng nọ thấy thi thể tên cai nằm sóng sượt, trên đầu có mấy lỗ đạn rỉ máu. Không cần biết lời vua linh ứng, chỉ nên hiểu gieo gió gặt bão, ác lai ác báo, ở chẳng ai thương thì đoản mạng đáng kiếp. “Nó chết có ngày!”. Câu nói như lời thầy bói, rất rộng. Cái chết không ai tránh khỏi, duy sớm hay muộn, đáng tiếc hay đáng khinh. Nhưng cũng vì cái chết bất đắc kỳ tử nầy mà ông bạn nọ khuyên tôi lánh mặt ông và quên rằng nếu không làm gì lỗi thì sẽ là tự nhìn nhận mình không trong sạch.

Có một bài thơ sau đây tôi chép từ lúc còn học trường Chasseloup, không rõ của ông làm hay của người thế gian gán cho ông để thêm oai, cũng xin chép lại làm dấu tích.

Thơ đức Thành Thái ngự du Sài Gòn, khi tàu cặp bến:

Tiếng xa nghe lội tiếng đồn loang,

Tàu ghé gieo neo rổn rổn ran

Trẻ lật rật mang xương vũ trụ,

Già bôn chôn quảy gánh giang san.

Rần rần lên xuống đô vương bá,

Nườm nượp đi về lũ hổ mang.

Còn đó nhộn nhàng dân sáu tỉnh,

Lui rồi sóng lặng cõi bờ an.

(Bài thơ không chỉ là đặc sắc, thêm lộ liễu quá, không lý của ông).

Một ông vua thứ hai tôi được mắt thấy là ông Khái Định. Ông nầy băng hà tại Huế ngày 6-11-1925. Trước đồ ông có vào Sài Gòn để chờ xuống tàu qua Marseille vì lúc ấy muốn sang Pháp, phải dùng đường biển, tàu chạy từ hai mươi bốn đến hai mươi tám ngày mới tới nơi, tuỳ tàu tốc hành hay tàu chở chuyên hàng hoá, gọi tàu chở gạo. Đất Nam Kỳ lúc đó, người Tây có quan niệm là nhượng địa đã cắt đứt cho Pháp, việc ông đật chân lên Sài Gòn là vì quá cấp bách cho kịp chuyến tàu sang Pháp, chớ chuyến về ông sang tàu ngoài Cấp rồi dùng đường biển ra luôn Đà Nẵng, ý người Pháp không muốn cho dân Nam nắm nuối ông vua nầy e động lòng nhớ quê cha đất Tổ mà vùng dậy sanh dị tâm. Khi tôi đứng dưới gốc da ngang cửa lớn dinh Gia Long ngày nay, bữa ông đón chào ra mắt thống đốc Nam kỳ, tôi không dè đã mục kích một buổi yết kiến lịch sử. Khi chiếc xe hơi mui trần, hiệu Delage sáu máy, mang số hiệu C.20 là xe sang nhứt của Phó Soái Nam kỳ thuở ấy, chở ông đến trước đại môn, xe vừa ngừng, thì nhạc nghi lễ trối giọng: bản quốc thiều Pháp, la Marseillaise xổ trước, rồi bản quốc thiều triều đình Huế tấu sau. Kế đó một bác tài xế phụ mặc sức phục tùng kính cẩn xuống mở cửa xe. Tôi thấy bước xuống một ông trạc tứ tuần bước chậm rãi khoan thai, tôi vừa vội khen “tướng rồng” chợt tôi nhìn cách ăn mặc, tiếng khen tắt ngủm! Ông đầu đội nón lông kết ngù bằng vàng thiệt, áo thêu rồng cũng màu vàng, bó sát vóc rồng ốm nhom, quần kiểu quần Tây trắng bó gọn trong đôi hia “ghết” da đen cao tới gối lưng nịt ngọc đái và đeo gươm cán vàng có nạm kim cương, trên ngự bào lóng lánh chói chói rất nhiều hạt kim cương cỡ năm sáu ly, ông đứng vịn cán gượơ một tay đưa lên trán chào theo kiểu nhà binh, mươi ngón tay, trừ hai ngón cái đã đeo tám ngón tám chiếc cà rá nhận hột xoàn thật lớn. Ông người dong dảy dễ coi, muốn khen là bô, duy gương mặt, nếu gọi đó là “long nhan”, tại sao lại một màu với áo và cán gươm vàng khè thấy dễ sợ? Mũi cao mắt sáng, bao nhiêu thông minh của dòng Nguyễn Phước đều đổ dồn vào cặp nhãn nầy, một ông muốn tỏ mình chuộng võ lực, muốn làm “cô-lô-nên” (colonel) nhưng chỉ có hình thù một ông quan ma-tà choàng ngự bào, mặt khác ông muốn khoe sự giàu sang “phú hữu tứ hải”, nhưng xoàn và vàng chỉ làm ra ông một người bán nam bán nữ, ham nữ trang và diện như con đàn bà bóng xế về chiều. Ông hết còn gì là thiên tử”, và lúc ấy tôi thấy chỉ là một con bịnh cầu mong gặp phước chủ may thầy sang Pháp kỳ đó trông gặp Biển Thước, Hoa Đà cứu khỏi bỉnh nan y lao trong cốt tuỷ, nhưng ông chỉ làm trò cười cho dân Paris sẵn tính kiêu ngạo. Nghe nói đốc lý thành phố dâng sổ vàng xin chữ ký, ông cầm bút đứng trên một khắc đồng hồ nghĩ ngợi, sau rốt vỏn vẹn ký hai chữ tên vua. Cái gì của vua cũng đều hoà hoãn! Mấy con đầm nịnh ông lại gần dâng hoa ton hót. Ông ngắt hột xoàn trôn áo đáp lễ, cho như vậy thật là phí phạm và không biết cách ban ân. Hèn chi cụ Phan Châu Trinh chê ông mà không ai bào chữa được. Bữa tôi núp gốc đa xem ông, có mấy chú Tây chà và xầm xì “Vua nước Nam như vậy hay sao?” tôi không biết là lời khen hay chê, mong ngày ông ngự giá hồi loan, ông đem về một tin mừng nào cho nước nhà, bất ngờ tàu ông chạy thẳng ra Đà Nẵng rồi ông lên bộ trực chỉ Huế đô, dân Sài Gòn không thấy mặt ông lại nữa.

Nãy giờ tôi nói dông dài mà chưa đề cập đến chuyện cũ hai vua mất ngôi. Và việc còn mới quá, tôi xin tạm giấu tên để khỏi đụng chạm. Người Pháp khi lập đô hộ, đã biệt đãi hai nước khác nhau bên trọng bên khinh gần thấy rõ. Với nước nầy, tạm gọi Tần Quốc, họ không trả lương và đầu độc mỗi tháng bằng mười kí lô thuốc phiện chia trong giới hoàng thân muốn hút thì ghiền gập hay không cũng mặc, không hút thì bán chác lấy lãi nuôi sống (là việc riêng trong hoàng tộc, họ không cần biết đến). Một nguồn hoa lợi khác nữa là người trong dòng họ vua được phép chứa bài lấy liền hồ. Đem tay bài về sát phạt trong hoàng cung. thì không bị bắt bớ. Đầu độc bằng thuốc phiện và bằng cuộc vui đổ bác, khỏi xuất ngân quỹ, còn mưu nào ác độc hơn? Khi ông vua bù nhìn quá già, phải nghĩ đến việc kế vị, họ cũng tìm ra một kế thâm thuý. Ông vua đã trên sáu bảy mươi tuổi, có một phò mã đã gần ngũ tuần, bà công chúa vợ phò mã vả lại là thân thích hàng con bạc con chú, hoặc giả con cô con cậu, việc không rõ lắm, nước nầy theo chế độ mẫu hệ, và “bà con lấy nhau” là sự thường, việc càng tốt vì gia tài khỏi bị người ngoại tộc vào chia, phò mã và công chúa có một người con trai, tạm gọi là thái tử. Để luyện cho thái tử (hay thế tử) đủ tài nối nghiệp làm vua, thay vì cho sang Pháp, họ gởi vào Sài Gòn, cho học trường Chasseloup và lựa một viên bảo chứng (correspondant) để phụng sự lo lắng mọi sự cần dùng của thái tử, là một cận thần thân tín, một sen đầm (hiến binh) Pháp, tôn lên chức đại diện hoàng gia, và có phận sự làm quản lý coi sóc một biệt thự ở bên hông trường, làm nơi trú ngụ cho thái tử những ngày chúa nhựt và nghỉ lễ có chỗ ra chơi (Ngôi biệt thự nầy ở đường Lê Quý Đôn). Thái tử là người dễ tánh, không cần tỵ hiềm và chỉ lo bề ăn học. Lúc ấy thái tử cũng chưa biết mình sau nầy cầm quyền sinh sát một tay và cầm vận mạng một nước, bắt tay địch thể với nhiều quốc gia trọng đại khác, thái tử rất giản dị, và sau nầy khi lên ngôi thế vua ông, có lần đã đòi xuống Sài Gòn để dự lễ đám tân hôn của một bạn đồng song người Việt, đủ biết thái tử bụng dạ dễ dãi và bình dân thế nào. Cái then chốt của câu chuyện nầy là ngày 19-11-1942, tôi chứng kiến đức Bảo Đại và bà Nam Phương hoàng hậu ngự du Sài Gòn. Phải biết tình hình trong xứ lúc nầy gay cấn lắm. Thái tử đã nghỉ học, tôi không nhớ rõ vì tiên đế giá băng hay vì lẽ bọn quân phiệt lùn lăm le đem mộng Đại Đông Á quyết xây trên bán đảo Đông Dương, nên thái tử phải về nước, bỏ dở việc sách đèn. Cùng ruột lúc: đề đốc Decoux thủ vai tuồng đi dây cho gánh xiếc Pháp của thống chế Pétain, một mặt lo ru ngủ các thần dân Miên – Lào – Việt, một mặt lo đối địch với đạo binh hùm sói viễn chinh Nhật nay đòi trưng thu thóc lúa, mai lăm le cướp chánh quyền. Để đánh lạc hướng dư luận trong xứ, ban đầu đề đốc nghĩ ra một kế và ân cần mời thái tử trở lại Sài Gòn, phen nầy không phải là một học trò trường trung học Chasseloup tầm thường, nhưng nghiễm nhiên là một tiểu quân vương của một nước bạn hết sức trung thành cùng mẫu quốc Pháp, có tiền hô hậu tống. Quả nhiên đề đốc thành công mỹ mãn, vì thái tử chưa đổi tánh, vẫn lịch sự và đối đãi với nước thầy hết sức nhã nhặn và khiêm tốn. Bữa rước thái tử lại dinh thống đốc dự yến, thái tử xuống xe bắt tay từ anh cai kèn đến ông quan soái, và khi về nước không quên gởi kỷ niệm cả vốc mề đay “cốm giẹp”, phân phát không thiếu một người từ trên là quan thống đốc tướng sĩ chưởng lý, xuống đến hạ cấp, anh cai thổi kèn, anh lính đánh trống, luôn cả anh bồng súng gác cửa canh cho thái tử được an toàn. Một cử chỉ nhỏ làm cho các quan Tây cười và lấy đó làm một giai thoại thích thú nhất đời là thái tử tánh còn con nít lắm. Trong chương trình tiếp tân, có dự định mỗi ngày lúc tám giờ khi thái tử thức giấc, là có một giàn nhạc Tây phải chực sẵn dưới bệ cửa sổ để trổi khúc nhạc chào mừng. Vả chăng lúc ấy với quân Nhựt chiếm đóng, họ kéo giờ lại sớm hơn sáu chục phút để phù hợp với giờ bên Đông Kinh, khiến nên tám giờ sáng lúc đó là chỉ có bảy giờ ban mai cũ. Thái tử trai tơ dậy mẩy, không thức sớm được, và khi lính kèn xin tấu nhạc, thái tử đuổi đi và hẹn nán lại một giờ sau (tức tám giờ sáng y như cựu lệ) khi ấy sẽ cử hành nghi lễ hay làm gì thì làm. Báo hại mấy anh lính Tây phải tìm chỗ trốn nắng, chờ cho thái tử dậy và tỉnh minh, thay đại phục ra đứng nơi cửa sổ rồi sẽ thổi kèn. Và vì mấy lính Tây dễ dạy, dễ sai nên sau nầy thái tử về xứ gởi thượng nhiều mề-đay không tiếc.

Công việc tiếp đón ông thái tử da ngăm đen được trôi chảy theo ý định trước, bản phúc trình của viên thống đốc Nam Kỳ (ông Rivoal) gởi ra Hà Nội cho toà quyền Decoux tường lãm, thì có công văn mật của ông nầy chỉ thị cho ông Rivoal phải làm cách nào thỉnh cho được hoàng thượng Bảo Đại ngự du Sài Gòn một chuyến y như gương thái tử Sihanuk, đã vạch sẵn. Nhưng phen nầy không dễ như phen nọ và đúng ra người mũi cao đã nếm mùi thể thức và nghi lễ do người mũ xệp dạy họ biết là một khi muốn vẽ viên thực sự rước một thiên tử ngự du cõi lạ. Trước khi kể sự nầy, xin cho tôi trở lại một thời xa xăm hơn. Như trước đây tôi đã nói, nước thầy đãi hai nước bị đô hộ một khinh một thường khác nhau. Tỷ dụ thái tử đen chỉ cho học trường bản xứ Chasseloup, thì trái lại đối với ông vua nầy, khi còn làm hoàng tử, vẫn được gởi đi học tận bên Pháp, có ký cô thác tử đường hoàng. Và việc ấy cũng có dây mơ rễ má liên lạc với nhau tự thủ chí vĩ. Việc tuy dài dòng, xin cho tôi kể đủ gọi góp tài liệu cho người sau nầy viết lại hay hơn.

Sơ khởi, tôi xin nhắc thầy dạy vua Đồng Khánh trước tiên là ông Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký. Khi nhà học giả nầy biết mình không làm gì được sau khi người tri ngộ là toàn quyền Paul Bert từ trần nhà học giả nầy xin rút lui, nhường vai tuồng sư phó cho một nầy sanh tại An Nhơn (Gia Định) nên lấy biệt hiệu là Yên Sa. Sau ông vốn hàn vi xuất thân, nhờ học giỏi xuất chúng nên Tây gởi qua học bên Alger, vì cho rằng người Nam, sanh nơi xứ nóng, học bên Pháp sẽ bị bất phục thuỷ thổ. Học thành tài. Ông đỗ bằng lú tài đôi gọi theo Pháp thời đó là double bacheher. Ông đã có sẵn một học lực vững chắc về Hán học, nên được bổ nhiệm như đà nói, làm thầy dạy vua Đồng Khánh thay ông Trương Vĩnh Ký.

Khi tôi ra Huế làm giảng viên Đại học Văn Khoa lối năm 1964-1967, có người chỉ cho tôi biết rằng bức vách trấn phong meo mốc nay còn lại trước dinh ông quận công (Vĩnh quốc công), nhạc trưởng đức Khải Định, nơi góc đường Nguyễn Du và Võ Tánh (Huế) là di tích nền xưa nhà ông Yên Sa khi còn làm quan ở đế đô.

Xin nhắc lại đời ông Yên Sa, ít có người chịu đi học trường Pháp lập ra và muốn có học trò theo học, Pháp phải ép buộc các hương chức làng và con người có gia tư điền sản, phải cho con đi học, thì khỏi đi làm xâu, đi lính, lại được cấp học bổng và phát áo quần và xà bông để giặt giậm cùng gội đầu hớt tóc. Đời đó, người nào hớt tóc cụt thì dân chúng ghét lắm tuy không dám nói ra.

Người dân mặc toàn vải đen (sau nầy thành ngữ “đầu đen máu đỏ” ý nói đầu có tóc đen, máu huyết vẫn màu đỏ lại hiểu rộng thêm là “dân đen” vì thường mặc y phục đen), và người nào mặc y phục màu trắng thì ố lắm, vì “thằng đó đã theo Tây”, bất chấp màu trắng là màu tang tóc. Lớp trước tôi thì lãnh học bổng mỗi tháng năm đồng bạc (5$00) gọi boursier (học trò có học bổng), số tiền nầy do công nho địa hạt cấp, và phần nhiều đều lọt về tay mấy thầy giáo có nhà rộng rãi đem học trò về nuôi và gọi “nấu cơm tháng”, và “ăn cơm tháng”. Khoảng năm 1915-1925, mỗi tỉnh ở Nam kỳ đều dự định bốn hay năm học bổng mười đồng mỗi tháng mỗi trò để gởi lên học trường sư phạm Sở Thú (Ecole Normale d’inslituteurs), nay lấy trụ sở làm trường Võ Trường Toàn.

Học sinh nào khi thi ra trường, chịu làm giáo viên trong mười năm thì miễn, người nào thi đậu diplôme mà hành nghề khác như thơ ký toà bố hay thơ ký sở khác như tạo tác hay ngân khố, thì phải đền tiền, tính bốn trăm đồng (400$00) cho bốn năm học bổng, nhưng người nào có khả năng và có mánh lới thì giả chước thi rớt năm ra trường, và cố nhiên bị sa thải, miễn đền tiền, sau đó học đăng tên thi tuyển vào kho bạc, vào sở dây thép, vào sở trường tiền nghiễm nhiên trở nên công chức mà khỏi bị bắt buộc đền tiền mà thuở ấy cho rằng nhục nhã. Học trường Normale, mỗi năm có hai bộ quần áo vải trắng và hai quần Tây cùng một áo bằng nỉ tím, sau đổi ra đen, có sáu nút xi vàng có chừ nổi “E. N”, sau bớt lần hai năm phát một áo nỉ rồi nín luôn tuốt luốt không cho một cấp áo nào mà vẫn học trò vô xin học càng đông đến nỗi phải bày ra các cuộc thi nhập học lần thét đến lo lót hối lộ để vô trường.

Vào đời ông Yên Sa, nghe đâu ông là con của người ở mướn, chăn trâu hay ở bạn gì đó, thấy mặt mày sáng láng, nên chủ nhà ép đi học thế cho con ở nhà làm cậu ấm công tử, được tiếng là trung thành với Nam triều. Ngờ đâu chánh phủ Pháp củng cố địa vị được hơn tám chục năm, trải bốn thế hệ (mỗi thế hệ trung bình hai mươi đến hai mươi lăm năm), và lần hồi người rừng Nam, phần đông đều chịu thua ngả nón chạy theo Pháp và ít có nhà thủ tiết cực đoan được. Ông Yên Sa ra Huế, làm tay mặt, đứng thông ngôn cho chánh phủ Pháp và Nam triều lấy vợ là một bà công chúa, em ngài Dục Đức. Trên là khâm sứ “Sạc” (Charles), dưới là ông. Khi đức Đồng Khánh băng, tưởng rằng đem cháu vợ vào nối ngôi sẽ nhờ cậy nhiều, sau ông Thành Thái được tôn làm vua rồi.

Năm 1919, tôi còn gặp ông Yên Sa vào dạy học Việt Văn (lúc ấy gọi môn “annamite”) nơi trường Chasseloup, tôi tiếc không được làm môn sanh của ông, tôi chỉ học nhín, ngồi bên nầy lớp gởi tai nghe lén ông dạy lớp kế bên, thật là lưu loát và dồi dào phong phú. Ông là cha của Diệp Văn Kỳ, chủ bút tờ Đông Pháp thời báo (con do bà công chúa sanh), nhưng tiếc cho ông Yên Sa, học lực hơn người mà sự nghiệp văn chương chỉ để lại một bổn Phong hoá viết bằng Pháp văn: Recuetl de morale annamite, Imprimerie de l’Union Sài Gòn 1917; – một quyển “Việt nam luân lý tập thành” Imprimerie de l’union, Sài Gòn, 1917; một quyển “Sách vần quốc ngữ” nhà in Phát Toán, Sài Gòn, năm 1909.

Tôi còn nhớ hình dạng ông Diệp Văn Cương, người nấm thấp, có hơi mập, thường mặc âu phục trắng, đội nón cát cô-lô-ni-anh (casque colonial), đặc biệt là mặt ông đỏ hồng chừa râu ngạch trê kiểu Clémenceau (râu hùm rất dày và quặp xuống như sừng trái ấu), tiếng ông rốn ráng như chuông hay như sấm, ông nói tiếng Pháp rất trôi chảy và y như Tây, thêm tánh ông nóng nảy, khi ông làm giám khảo hạch miệng khoa thành chung, học trò trường khác goi ông bằng ông, ông quở: “Cha mi gọi ta bằng ông cũng chưa được!”, vì ông vẫn nhớ ngoài kia ông vẫn là “quan lớn”, muôn được gọi như vậy (quan lớn Cương, là tiếng quen gọi ông thuở ấy), nhưng bình tâm mà xét, ông khá tốt với học sinh, duy thích nạt nộ là hỏi cho tột cùng, cho đến bí, nhưng vẫn cho điếm trung bình chứ không đánh rớt. Sở trường của ông là môn hát bội. Ông rất rành từ câu hát đến điệu bộ, ông dạy trong trường về Kim Vân Kiều, ông ngâm Kiều nghe sang sảng. Ông thích xem hát bội, khi vãn hát ông ngồi xe song mã chở cô đào để nguyên áo mão về nhà, khi Phàn Lê Huê, khi Thoại Ba công chúa, ông ngạo tất cả giáo sư Việt, chê chẳng bằng ông (khi nghe tin ông đốc Nguyễn Văn Mai thay ông dạy Việt văn, ông trề môi: “Thằng Mai mà dạy cái gì?”, câu nầy rồi ông đốc Mai trả lại cho người kế vị là ông Dương Minh Thới: “Thằng Thới mà dạy cái gì?”, thật là người lớn tuổi thường giống nhau một chỗ ấy).

Đối với ông Yên Sa, có tiếng là danh sĩ miền Nam, uyên thâm Hán và Tây học, thế mà khi mất, chỉ để lại cho đoàn hậu sanh ba bốn cuốn sách mỏng dành, bé tý teo, đáng gọi “trái núi đẻ ra ba chuột nhắt”.

Thuở ông Thành Thái còn tại vị, có một ông hoàng dòng vua Đồng Khánh, nhưng không, được phong thái tử, vì nếu phong, Tây sợ không đủ tiền trả cấp bổng vì đông quá. Bởi thế, ông nghèo xơ xác, nghèo rớt mồng tơi, và ông ăn chơi rất có mực, nổi tiếng là có đủ bịnh tật trong mình, thậm chí con ruột của ông, giống ông như khuôn đúc, mà miệng thế gian ăn thắm ăn muối vẫn đồn không phải thật con.

Theo quyển “Giai thoại văn chương Việt Nam” của nhà văn Thái Bạch (bản Sống Mới năm 1972, trường 193), ông hoàng nầy có biệt tài, sửa một chữ trong một câu đối mà chuyển được vận mạng tác giả câu nầy từ bế tắc ra hanh thông.

Một hôm ông vào xóm tìm hoa, bỗng thấy một câu đối dán trước cửa nhà nọ:

“Chữ nghĩa có là bao, học ừ bảo dậy, chi hồ giả dã lăng nhăng, đất có học tài sao chẳng đỗ”.

“Thuốc men nào mấy hột, lấy cũng bốc cho, lá cỏ cành cây láo nháo, trời cho bịnh khỏi ấy là may”.

Nhìn câu đối, ông biết chủ nhân là nhà nho vừa dạy học vừa làm thuốc, ông ghé vào làm quen. Thấy chủ nhân than cảnh nghèo túng, ông bàn: “Nghèo là tại câu đối kia, nếu cho ông đổi một chữ, một chữ thôi, có lẽ làm ăn khá giả”.

Chủ nhà bằng lòng, ông đề nghị đổi câu “trời cho bịnh khỏi ấy là may” đổi lại là “trời cho bịnh khỏi ấy là HAY”.

Như vậy, đâu phải là ông không có học. Còn hay nữa là khác. Nhưng nếu câu sau nầy mà thật của ông, theo lời Thái Bạch nói, thì ông thật là người đáng kính, một bậc thi bá tài tình chớ không chơi. Câu ấy như vầy:

“Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chợt đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngôi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tàu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoanh ra dáng rạng ra rồng. ngông ra phết cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng.

Quốc gia lịch tứ thiên dư, do truyền nhân vật, như Tô như Duật, như Phật Tứ Quân, như Trần Quốc Tuấn, như Phạm Công Thượng tướng quân, như Bạch Vân phu tử, như ngự sử Lê Cảnh Tuân, như công thần Nguyễn Công Trứ, tài chi tuấn thời chi thế, thế chi sử, khỉ nhưng nhiên phủ, thần long đắc vũ tiện vân đằng”.

Vế trước rặt nôm, vế sau ròng chữ vừa duyên dáng vừa tài tình, vừa có một khiếu trào lộng không ai hơn nếu phải đó là của ngài Bửu Đảo, sau nầy là Hoàng Tôn Tuyên Hoàng đế, trong Nam thường biết là ông vua Khải Định, thì đáng phục biết mấy, nhưng tại sao khi trên đất Pháp, khi đốc lý Paris xin một câu ghi trong quyển sổ vàng, ông đứng cả canh mà rặn không ra?

Nhắc lại khi ông nghèo sát chiếu và năng bị vua anh là Thành Thái húng hiếp, gặp mặt là rượt đánh là xỉ mạ lắm điều, mỗi lần gặp vận quá đen, ông hoàng nầy thường đến nhà ông Sạc (Charles) nhờ tiếp vận khi ít khi nhiều để vượt qua cơn túng ngặt. Việc làm cầu may cho qua cơn khó, ngờ đâu khi vận đỏ lại biến thành phúc tinh. Ông Sạc, lúc làm khâm sứ và khi lựa người thay thế ông vua có cơn điên Thành Thái, bỗng sực nhớ lại ông hoàng khả ái (le prince charmant), năng tới lui mượn tiền mình xài, nay tại sao mình không nhớ lại và tôn lên làm hoàng đế? Và ân báo ân, oán báo oán, khi ông Sạc sắp về hưu, cũng vừa lúc ông vua nầy lựa người gởi gắm con cô. Như đã nói bên trọng bên khinh, khi đào tạo một ông con trời cho xứ Việt giống rồng, người thầy cũ đã nhớ một công hai việc, vừa có dịp tài trợ thêm phụ cấp cho một công thần là Sạc tiên sinh, vừa giúp vua kiếm người thái phó tin cậy và gởi đi Pháp một lần hai hoàng tử mạnh khỏe, phòng hờ sơ sẩy là ông Vĩnh Cẩn và thái tử Vĩnh Thuỵ.

Vợ chồng ông Sạc dạy ông Vĩnh Thuỵ rất kỹ, trông nom từ cách cầm nĩa muỗng, khi cắt thịt cây dao phải cầm tay nào, nĩa muỗng cầm tay nào, nếp na cử chỉ một ông hoàng sau nầy sẽ làm vua phải ra sao, dạy thể thao từ chơi banh tơ-nít, trượt tuyết bay tàu trên ngọn sóng, lái phi cơ đi săn thú rừng, thêm học văn chương, kinh tế có giáo sư riêng đến nhà cho cua, mỗi mỗi tiêm tất hết lòng như con đẻ không bằng. Ông Sạc từ khâm sứ, được tấn phong hàm toàn quyền danh dự, và hoàng tử Vĩnh thuỵ xứng đáng là một hoàng tử hoàn toàn lịch sự, không thua kém các ông hoàng tân thời của các nước Tây phương. Pháp trọng vọng ông, đến nỗi một năm nọ nhơn dịp lễ quốc khánh kỷ niệm cách mạng Pháp, tức lễ 14-7 (cát-to dui-dết) lúc tổng thống Paul Doumtr còn sanh tiền, chánh phủ Pháp mời ông ngự kiến trên đài danh dự cuộc diễu binh vĩ đại ở Paris, cùng một lúc với hoàng tử nước Anh, chức phong Prince de Galles. Nhưng oái oăm thay, trước một ngày hành lễ mới sực nhớ lại và lính quýnh không biết ông nào lớn ông nào nhỏ, ông nào nên sắp ngồi bên tay mặt tổng thống Pháp… Nhưng đã nói Pháp là một nước khéo về ngoại giao, để giải nan, Pháp vội gởi thơ hỏi ngay thái tử Anh chọn ngồi bên nào, và lịch sự nhã nhặn không kém, Anh quốc thái tử trả lời lập tức: một phen nầy và phen thứ nhất, chỗ ngồi danh dự ấy, xin kiềng nhường hoàng huynh ta, Việt Nam thái tử, vốn chi cũng là “tứ hải giai huynh đệ”, Và trong tờ Đại Hoạ Báo (Illustration) năm đó còn ghi lại ảnh tam vương đồng tịch, ông Doumer ngồi giữa, Vĩnh Thuỵ, ngồi bên mặt và bên trái tổng thống Pháp là hoàng tử Prince de Galles – ông hoàng chính cống nước Anh, một người có tiếng là phong lưu đệ nhất và là cây kim chỉ nam về mốt thời trang của khắp hoàn cầu. Viết đến đây, nhớ lại tôi cũng lé mắt và phồng hai lỗ mũi với cái bóng vang một thuở cho nước ta buổi đó.

Về sau, khi ông về lên ngôi kế vị cho cha, lúc tuyển chánh cung, bà Nam Phương đem tiền hồi môn về là một triệu đồng bạc mặt, do cậu ruột là ông Lê Phát An dâng tặng cho cháu gái. Số tiền ấy thuở đó là khổng lồ, nếu so sánh với bạc hiện nay, thì số tỷ vẫn chưa vừa, vì tỷ phú ngày nay có hiếu chớ như lối năm một ngàn chín trăm hai mươi ngoài, đầu thế kỷ hai mươi, tờ giấy xăng (100$00) có người trọn đời chưa từng thấy, và giàu hạc muôn, tức trong nhà có được mười ngàn, đã là giàu bạc nứt đố đổ vách.

Đến đây tôi mới trở lại việc ông Decoux sau khí sai mời được thái tử Tần quốc ngự du Sài Gòn để làm tàng, dưới mắt quân phiệt Nhựt, giá trị của đế quốc Pháp, nay ông ăn quen, nên hạ chi sai ông Rivoal, thống đốc Nam Kỳ, phải tìm cách mời cho đức hoàng đế Nam triều ngự du Sài Gòn một chuyến. Lúc ấy tôi còn làm thơ ký nơi dinh thống đốc và được coi về công văn mật. Tôi không có ý khoe khoang, nhưng cũng phải có hạnh kiểm thế nào, mới được ngồi chỗ tín nhiệm ấy. Lúc đó tôi đã có ý nghĩ viết bút ký về sau, nên những gì tôi cho là thuộc về lịch sử, tôi đều có sao chép lại làm tài liệu riêng. Tiếc thay mớ tài liệu ấy, năm 1946 tôi tản cư vô Hoà Tú và mang kè kè sau lưng trong một chiếc nóp “bất ly thân”, vì vậy quân gian đã để ý và cho rằng nóp chứa nhiều giấy “bộ lư” (giấy một trăm đồng có cái hình lư đồng), khiến cho một đêm tối lính viễn chinh Pháp đổ bộ Hoà Tú, bắn súng đùng đùng, tôi hoảng chạy bỏ quên chiếc nóp trên giường nhà Chú Lý, quân gian đột nhập thộp nóp mở ra xem thấy toàn giấy má chớ không có bạc, chúng thất vọng bèn đốt nóp làm đuốc để rọi nhà hôi của quý, thành thử các tài liệu đáng giá đều làm mồi cho lửa, uổng quá, và hôm nay khi thuật chuyện nầy, tôi đành tóm tắt theo trí nhớ. Vả lại các công văn thuở ấy đều viết bằng pháp văn, và dẫu cho còn, vì bí mật nghề nghiệp, tôi cũng không có quyền công bố. Duy việc xảy ra đã trên ba chục năm, nhắm nói ra cũng vô tai hại.’

Ấy đúng ngày 19-11-1942, vua Bảo Đại và bà Nam Phương ngự du Sài Gòn, và chính bữa trưa ngày thứ sáu 20-11-1942, tôi đứng dưới gốc đa trước dinh Gia Long và đã diện kiến long nhan đức Bảo Đại như thế nầy:

a) Độ chừng một tháng trước ngày ngự du, thống đốc Nam Kỳ gởì ra Huế một công văn, mời hoàng thượng ngự du Sài Gòn và nhắc lại rằng ông thái tử nước bạn, vừa rồi, đã có ngự hành như vậy, và thần dân trong Nam, Tây như Việt, ngưỡng mộ ngài lắm.

b) Bức chiếu văn từ Huế trả lời rất gãy gọn: “Bằng lòng Nam du, nhưng sẽ dùng làm hành cung, đại dinh Toàn quyền đường Norodom.

Được bức thơ nầy, nội các thống đốc đều kinh sợ, hội nghị mật bàn kế, một mặt đánh mật mã khẩn mời Đờ Ku bay vô chiếm trước dinh Toàn quyền, một mặt trả lời hoàng thượng viện cớ dinh đã có quan đầu xứ Đông Dương đến ở, và ân cần xin hoàng thượng đoái tình, tạm nhận lưu trú nơi dinh đường Lê Quý Đôn ngày nay, là dinh đầy đủ tiện nghi và trước đây đã làm chỗ ngự cho Tân vương thái tử.

Hoàng thượng trả lời vắn tắt: “Không có dinh Toàn quyền thì ta ngự dinh Mont-Joye ở Hanh Thông Tây là dinh của quốc cựu Lê Phát An”.

Phải nói câu trả lời vừa đúng lễ ngoại giao và thật khéo, vì vừa giúp biệt thự nầy trang bị điện lực để hoàng thượng khỏi cảnh thấp đèn dầu, thêm giữ được thể thống nhà vua, chớ không chịu lép vế đãi như hàng tiểu chư hầu.

Thế là phải làm đêm làm ngày, dựng cột đá và gần dây cáp đem điện lên nhà ông tỷ phú Lê Phát An, không tốn một xu trả cho hãng đèn. Một đắc thắng theo kiểu trong Tam quốc, Khổng Minh mượn tên giúp Ngô chống Nguỵ.

Và cái ngày kiến nhựt “tiếp kiến hoàng thượng” đã đến: 20-11-1942. Ăn quen theo thói trước, các quan viên và mạng phụ Pháp tề tựu đông đủ tại mặt tiền dinh thống đốc (nay là dinh Gia Long), để y như tiền lệ sẽ bắt tay (ngang hàng) vua ta cũng như đã bắt tay mấy tháng trước đây, vị thái tử nọ. Trong chương trình ghi là đúng ngọ đãi tiệc ra mắt vua Nam.

Tôi làm việc trong toà dinh nầy, và trông mau tới ngọ, hết giờ làm việc, còi điện nhà dây thép chánh vừa hù, là tôi thu xếp giấy má và ra chực nơi dưới gốc cây đa quen thuộc, để phen nầy coi lén “long nhan đức hoàng thượng”.

Tôi thấy đủ mặt, các bà đầm vợ công chức cao cấp Pháp đứng theo một bên, bà tay cầm quạt quạt phạch phạch, bà che dù như sợ nắng ăn da, bà hỉnh mùi “ta đây là mạng phụ triều đình”, bà bên Pháp vừa qua chưa quen thói thuộc địa, vẫn dễ thương như người dân thành phố văn minh, dĩ hà nhứt thể, ở đâu cũng là tự do (liberté), bình đẳng (égalité), bác ái (fraternité).

Đúng ngọ, chiếc xe Delage C.20 có hai tài xế mặc sắc phục ngồi trước, đưa hoàng thượng từ Hanh Thông Tây đến. Xe ngừng, nhạc trổi quốc thiều y như lần trước rước Tần vương thái tử. Trước cử quốc thiều Pháp La Marseillaise, tiếp theo, đổi lại thay vì quốc thiều Miên là bản quốc thiều của triều đình Huế. Chiếc xe Delage bóng loáng, một người cao lớn dình giàng (ông cao 1m80) đứng giữa xe tay giơ lên ngang rán chào theo điệu nhà binh Tây phương, bình vận một bộ y phục tùng hết sức đúng thời trang, trán rộng mũi cao, cặp mắt có diễn, và toàn thân chiếu ra một nghi biểu khác phàm. Tiếng nhạc chót vừa dứt, người tài xế phụ y như cái máy, chạy xuống khép nép mở cửa xe. Ông bước xuống. Các bà đầm chạy lại, miệng người nào người nấy như hoa nở, hí hửng toan bắt tay vua. Vua làm như không thấy, ngực ông đã cao, ông ễnh càng cao thêm, mắt chăm chỉ ngó ngay, chơn ông cứ bước tới trước. Khiếp quá, các bà mạng phụ lật đật cúi đầu, và quên hết lời dặn của các đấng phu quân, đã khép nép tay nắm vạt áo đại trào (phần nhiều mặc bùn rền) đầu cúi móp trước đức vua Việt y như các tổ tiên họ đã triều bái vua Louis XIV hay vua Louis XV đời trước. Không như thái tử da đen phen trước, phen nầy đứng trước một ông vua oai nghi quá, mấy bà đã mất hết bình tĩnh, nên đã có cử chỉ như đã kể, làm cho các đấng phu quân cũng khớp luôn và mạnh ai nấy chào theo nghi lễ đối với quân vương; ông thống đốc đứng đầu hàng, nghiêng mình kính cẩn, ông chưởng lý toà thượng thẩm cũng bắt chước theo, trung tướng bộ binh và hải quân đại tá chào theo nhà binh, kỳ dư chủ tịch viện cơ mật, viện quản hạt, lòng thương mãi và các quan viên Tây có mặt tại đó đều răm rắp cúi chào theo nghi lễ và khi ông qua khỏi rồi, đều ngó nhau trơ trẽn, quả ông đi đứng “long hành hổ bộ” rõ ràng. Khi ông bước đến bệ trên của điện, ông cũng không ngó lại chào và vẫn tiếp tục bước ngay vô trong. Thống đốc Rivoal mất hết bình tĩnh, không đợi tuỳ giá quan làm việc nầy, và đã chạy theo vua, kéo ghế danh dự ra cho vua ngự. Bữa tiệc dùng trong một sự lặng lẽ kính cẩn chưa từng có và mãn tiệc rồi, tại phòng khách vua mới dạy thống đốc trình diện quan khách và khi ấy vua mới có câu cởi mở đối với mọi người.

Lúc ấy tôi làm phụ tá cho một phó tham biện trẻ, tập sự, đã quen thân với tôi lúc còn làm chung ở toà bố Cần Thơ, và buổi ấy, ông làm bí thư cho thống đốc, còn tôi ngoài phận sự giữ công văn mật, còn giúp ông một tay về nội dịch, đi kiếm mua rượu ngon và kiếm thực phẩm âu chân như bơ sữa trong buổi bế quan toả cảng vì chiến tranh khắp trời nầy. Bicail là người tốt, chơi với tôi đãi tôi bực thầy, vì tôi trộng tuổi hơn va và lúc ở Cần Thơ có dạy va mấy tháng Việt ngữ. Trước khi vua vào Nam. Bicail, khoe với tôi rằng vốn cùng vua học chung một thầy, và khoe “nếu vua gặp mặt, ắt niềm nở với va lắm”.

Tôi nghe thì để bụng, cũng không cố tâm lắm. Duy tiện đãy nên kể một tục ngộ trong dinh thống đốc thuở ấy, là mỗi lần thiết tiệc đãi tân khách, không bao giờ để bàn có chỗ trống, rủi có một, vị khách vào giờ chót không đến dự được thì trong hai ông than biện trẻ tuổi trong dinh, là ông Bicail nầy hoặc ông Grange, phụ tá chánh văn phòng (chen de cabinet adjoinl) được dự yến, và trong khi đùa giỡn thân mật chúng tôi gọi hai ông là ông trám lỗ!

Từ bữa có cuộc Nam du, nhứt là sau bữa tiếp tân, tôi biết Bicail vẫn cố làm cho vua thấy mặt, khi thì Bicail đứng lấp ló nơi cửa ra vào khi thì Bicail hiện ra nơi phòng tiếp tân để chạy bận hoặc thay cho bồi phòng làm những việc gì éo le cấp bách, ngờ đâu vua giả lờ không thấy Bicail và không trao đổi một lời nào. Có lẽ Bicail mắc cỡ với tôi nên cố lánh mặt không cho tôi thấy và trái lại tôi thì cố tìm cho gặp Bicail để ghẹo tức va chơi. Thoạt sau hôm đức vua hồi loan về Huế một l ngày, bỗng Bicail miệng cười tích toác, chạy lại bàn chìa tay nắm chặt tay tôi mà rằng. “Tưởng vua quên. Không dè vì nghi lễ, vua không thể tiếp tôi tại điện, nên đã nhắn với quan thống đốc mời tôi lên dinh ngài quốc cựu ở Hanh Thông Tây, và hôm qua này, tôi và vua. Ủa quên, vua và Bicaỉl nầy, đã hàn huyên nói chuyện trời mưa trời nắng y như lúc còn bên Pháp. Mà phải thật ông đã cùng vua chúng tôi cùng một lớp học không? Tôi hỏi. Bicail cười hề hề, đáp: “Nói đúng ra, đức vua học ở nhà ông Sạc, thỉnh thoảng đôi khi chúng tôi gặp nhau và chào nhau, vì ông thầy dạy học là một ông thầy chung. Anh Sển à, vua của anh đàng hoàng lắm, không như ông Sihanuk, tôi phục vua anh sát đất. Vua như vậy mới là vua!”.

Những lời nói trên không phải là nịnh. Tôi chép lại thì cả hai vua đã mất ngôi, nịnh cũng là thừa. Duy lịch sử vẫn còn đó và chưa khoá sổ. Nói bây giờ e còn sớm, hãy chống mắt coi và xin hẹn “hậu nhựt tri”.

Tái bút – Nhắc đến ông Grange, khiến nay tôi xúc tình cảm cựu. Sau đảo chánh năm 1945, thầy trò phân đôi ngả. Bỗng gặp nhau lại khi tôi vào làm việc ở Viện bảo tàng. Ông đến viếng nhà tôi vừa cất được ở Gia Định, và đây là câu ông viết trong tập sổ vàng hiện giữ tại nhà: “”Monsieur Vương Hồng Sển, ami de vieille data, m’a jadis initié au culte des vieilles pierres, des fleurs délicates, des porcelaines précieuses, dont il est un collectionneur ausse fervent qu’érudit Je ne suis hélas, qu’un néophyte indigne, mais cependant je ne puis qu’exprimer à Mr.Sển, toute mon admiration pour la reconstitution pieuse d’une maison vietnamienne qu’il a réalisée avec autant d’amour que de got.

“Avec toute mon amitié,

J. GRANGE 12 Juin 1955

DỊCH THOÁT

Vương Hồng Sển là một bạn cũ lâu dài. Ông đã dẫn dắt tôi vào đạo tôn thờ đá cổ, hoa lạ, sứ quý, mà ông là một sưu tập gia vừa nhiều nhiệt thành cũng như thông thái.

Tiếc thay, tôi chỉ là một tân tín đồ bất xứng: mặc dầu vậy, tôi xin tỏ ra đây, với ông Sển, lòng thán phục của tôi đối với công ông dựng lại ngôi nhà cổ Việt Nam nầy với bao nhiêu nhiệt thành hiệu thượng chân thật của ông.

Với tất cả tình tri kỷ.

Ký tên: J.GRANGE

Ngày 12 tháng 06 năm 1955.

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post bby Sơn râu 1 Jun 2024

Phần 13 – Hạnh Phúc, Mi Trốn Nơi Nào?

Hạnh phúc là cái gì? Hỏi thì dễ mà trả lời không sao cho trôi.

Người bịnh ăn được nửa chén cháo, là thấy hạnh phúc nhóe lên trước mất, kẻ tù nhớ thuốc hút, vớ được đớp được một hơi hít là có thể quên hết nỗi dày vò xác thịt. Và đại phàm hạnh phúc qua rồi mới ước lượng được chân giá trị. Khi ấy thì đã muộn…

Như tôi, giá thử tôi không có dục vọng nhiều lúc bé, và chớ chi tôi sớm biết an phận tuỳ duyên, thì tôi đã thảnh thơi biết mấy? Vợ có vợ đẹp cha mẹ sẵn cưng chiều, tiền của có dư, đến có thừa để mua sắm đồ cổ, đồng lương thơ ký khoảng năm 1930 cho đến 1945, tôi lãnh mỗi tháng có trên một trăm năm chục bạc; thêm vào đó tôi lại có tiền lúa ruộng bên vợ trước, chia mỗi mùa, đổ đồng phần gia tài ruộng Hoà Tú hai ngàn công (200 ha), hoa lợi năm thất cũng như năm trúng, bù qua chế lại, lúa bán ra tiền mặt có trên năm sáu ngàn đồng bạc trắng, khỏi nặng nhọc dan nắng dầm mưa đi góp lúa ruộng, vì đã cô các anh vợ gánh vác việc nầy.

Thế mà lúc ấy tôi lại dại dột chạy theo bả vinh hoa để gặp nhiều nỗi đắng cay, thi rớt lên rớt xuống, càng rớt tôi lại càng say máu ngà định thi mãi cho đến chừng nào đậu cho chúng biết mặt, họ thi mánh lới mình thi “tay không” mà đậu được thì mới khoai. Có ngờ đâu tôi bị lâm trong giấc mê đồ, lúc hăng say tranh đua với chúng bạn thì đều đui mù như nhau cả, nay tỉnh ngộ mới rõ lại cây cầu đã qua nó gồ ghề tức xóc làm sao? Nhưng cũng may!

Tuổi trẻ là tuổi mau quên. Mặc dầu thi rớt, tức là lòng không toại nguyện, nhưng ngủ một đêm sáng ngày thức dậy, vung vai là quên hết sự đời, tôi lúc nhỏ ngây thơ tự ví và thấy mình như một tấm gương còn mới, chưa lắm bụi nhiều. Khi gặp một hoạn nạn ví như tấm gương bị hà hơi, bất quá hoen ố một đôi phút, hơi hà bay đi, tức khắc gương trở lại tỏ rạng như cũ, không hề hấn chút nào.

Chuyện cũ đã qua rồi từ lâu, nay nghiệm ra mới thấy… Những ngày chưa nhiễm bụi của tuổi xuân, đó là nguồn hạnh phúc tràn trề tiếc thay lúc ấy tôi không biết tận hường. Đến nay đã gần đất xa trời, nói theo ngôn ngữ Pháp, “đã có một chân thòng vào huyệt mộ”, đến từng buổi nầy còn nai lưng kệch ngồi đánh máy lóc cóc để ghi chép lại chuyện xưa, khi ấy mới thấm thía hối tiếc xâu chuỗi ngày xanh vô tư lự. Nhưng sự đã rồi và xuân thì luôn luôn là “bất tái lai”. Tỉ như những chuyện xảy ra sau đấy, vốn lẹ như chớp, tuy vậy lần tay tính lại, đã hơn mấy chục năm dài đằng đẵng.

Chuyện Số 1 – Đi Du Lịch Trên Đất Nam Vang, Từ 31-12-1938 Đến 2-1-1939 Ăn Xài Huy Hoắc Trong Ba Ngày, Tổng Cộng Hai Mươi Bảy Đồng Bạc (270$00):

Nhắc lại lúc ấy tôi làm việc tại toà bố Cần Thơ với phận sự là “đứng bàn ông chánh”, tức làm bí thư và thông ngôn cho quan chủ tỉnh (ông Colas). Đây là một chỗ “thét ra lửa, mửa ra khói”, nếu có lòng tham nhũng thì tha hồ làm mưa làm gió, vơ vét của phi ngãi với chuyện không nói có chuyện có nói không. Nhưng ông Colas, phải nhìn nhận là thanh liêm, và riêng tôi, lại sẵn tánh ỷ giậu và muốn được trong sạch, nên thầy trò tôi rất xứng; ông ngay thẳng tuy tánh nóng; tôi thì trực ngôn và mau quạu, nhưng trong tỉnh nói chí đáng đều có cảm tình tốt, quan yêu dân chuộng, anh em bạn kính vì. Trong số anh em đồng liêu, có anh Huỳnh Văn Diêu, làm việc bên sở Tạo tác, là tương đắc lắm. Thứ năm 29 tháng chạp Tây, tôi thảo bức thơ cho chủ tỉnh ký tên gởi đi các quận và ty sở, cho hay dịp Tết dương lịch năm nay, tham biện Colas miễn tiếp tân như hằng năm. Đây là một lệ mới để tránh việc đội mâm và lánh nạn chầu hầu nịnh hót.

Trưa thứ bảy 31-12, dùng cơm vừa xong, có anh Diêu lại rủ vợ chồng tôi cùng đi với anh lên Nam Vang xem hội chợ nhơn dịp lễ tâng tốc Miên, tức là lễ đưa nước về biển sau khi làm mùa đã xong (như lễ kỳ yên bên ta) và để đầu mùa mưa sau sẽ dâng lễ óc bốc là lễ rước nước từ nguồn chảy xuống để khai điền (như phong tục ta đã có), vào dịp đầu năm mở mửa canh tác. Chiếc xe Xi-tô (Citroen) bảy chỗ mà chở đến tám người: hai vợ chồng anh Diêu, bà quản thủ điền địa Guétet và cô ái nữ ngồi đàng trước, phía sau bốn người gồm ba phụ nữ: bà đốc công Bính, cô Hai Cái Răng, và vợ chồng tôi chen nhau ngồi tuy chật nhưng khi xe chạy lại thấy dễ chịu hơn đi xe đò. Lúc ấy giá xăng chỉ có hai cắc ngoài một lít, còn về nhơn vật miễn có giấy căn cước bìa vải đen năm cắc mỗi tấm (titre d’ identité cho toàn Đông Dương) là tha hồ chạy bon bon trên đường tráng nhựa, dẫu lên tới biên giới gần Tàu gần Thái Lan cũng không một ai ngăn trở. Ban đầu hai tôi từ chối, nhưng nói cách mấy cả đoàn không nghe, túng thét hai đứa xách một tay xách nhỏ y phục gọn rồi lên xe chạy thẳng. Xe qua đò Néach Luông rồi tới Nam Vang, thì không còn một phòng trống nơi các khách sạn, quen gọi nhà hàng Tây, buộc lòng phải ở tạm nơi một khách điếm Tàu, chen nhau nằm một giường và một bộ ván ọp ẹp, chung nhau chịu cho muỗi thiêu rệp đối suốt mấy giờ không dám cục cựa, vì ngoài vợ nhàn sát da là hơi thở của bạn vợ, bà đốc công, bà quản thủ, và một cô gái ngây thơ. Nửa đêm, mượn cớ đi đổi gió, anh Diêu và tôi để cho các bà ngon giấc, chúng tôi thay y phục lấy xe chạy qua phòng một cô gái Miên nơi khách sạn Pháp, tưởng rằng gặp của lạ, ít nữa là “con mái hạng sang” trong hoàng gia “nhảy dù”, suốt đêm cô trâm tiếng Miên nghe giòn tai, tiếng được tiếng mất đến sáng ngày trả tiền sòng phẳng, chia tay nhau cô mới thú thật là người Sài Gòn đổ bộ lên Nam Vang kiếm mồi, gọi là “thả cầm thơ, giang hồ lưu lạc cho biết mùi phong lưu”.

Mồng Một Tháng Giêng Tây (1-1-1939) Trên Kim Biên Thành

Vừa lang tảng sáng, chúng tôi lội về chỗ trọ, đánh thức các bà, được tiếng khen hào hiệp nhường giường cho ngủ, mà không biết chúng tôi đi ăn vụng lội lỗi tày trời.

Bảy giờ có người trả phòng, chúng tôi dọn qua và yên trí yên nơi yên chỗ. Trọn buổi sáng, chúng tôi thả xích phê vô tích sự tấp các nơi danh lam thắng cảnh trên Nam Vang từ thành vua ở đến các xóm Việt Nam kiều bào, từ Chợ Mới xây chia ra bốn hình như một ngôi sao bốn kiềng, đến các phố khách buôn bán tấp nập, đường Bon (vì ngay cây cầu “pont”) đến vùng tân lập, xáng vét bùn thổi cát lấp một bãi lầy và tạo lập Xóm Mới Chruoy Chângva (Chui Chần Hoa) đối diện với kinh thàh cũ xứ Miên thơ mộng. Thuở ấy là thuở đại thái bình, huynh đệ nhứt gia, người Tàu là “chênh” (Thanh nhơn) được ban cho mỹ hiệu là “check” (các chú) và Việt kiều ta là “bòn” là “bon” (người anh cả, “đại huynh”, người trên trước, trường thượng).

Để lấy lòng chủ xe, bất đầu sau buổi ăn sáng “hủ tiếu Nam Vang” xóm đường Bon, và “lạp xường” (lạp xưởng, lạp trường nói trại), chúng tôi đến nhà thờ xem lễ, vì anh Diêu và bà Guéret là người ngoan đạo, còn tôi mặc dầu là ngoại đạo, nhưng chỗ nào cũng vụ tất, kính Chúa như kính Phật, kính Lão-trang. Xem lễ xong, chúng tôi thả vô thành vua xem hội chợ (kermesse). Nơi đãy tôi mua được một hũ nhỏ loại đựng ngải, men ngọc céladon Tống, giá một đồng rưỡi (1$50) (Hũ nầy ghi số mục lục 87), sau tôi bán cho anh bạn Nguyễn Văn Minh ngày 29-8-1973 không biết nay anh còn giữ chăng?

2 Tháng Giêng Tây 1939

Sáng trở vô thành vua, viếng chùa Bạc chùa Vàng. Gọi làm vậy vì nền chùa lát bằng bạc nguyên chất, lấy mỗi nén mười lượng, cán mỏng đánh vuông lót nền. Mỗi lần rửa ráy, chỉ dùng toàn nước dừa tươi cho được tinh khiết; tuy vậy khi bước chân lên đó, tiếng nghe lộp xộp y như tiếng chân đi trên mái thiếc, vì bạc không dày và cũng không dính khẳn chắc chắn như gạch đất nung gắn bằng xi măng trên nền đất bằng phẳng.

Nơi chánh điện có thờ một ông Phật đứng, kim thân bằng vàng ròng nguyên chất, bề cao lối một thước, một thước mốt Tây (bằng cỡ một trẻ mười tuổi). (Không biết ngày nay có còn tồn tại?).

Thuở binh Nhựt đổ bộ lên Nam Vang (khoảng năm 1942-1943, trước đảo chánh 1945) không biết Phật ra thế nào? Lúc tôi thấy, thì trên mình Phật có gắn sáu hột kim cương lớn cỡ đầu ngón tay trỏ chói loà đổ hào quang, một hột ngay trán, hai hột nơi linh nhãn, một hột mỗi bàn tay xòe tới trước và một hột lớn nơi ngực chỗ tim. Không kể sáu hột xoàn nầy giá trị ngày nay ước trên bạc tỷ, nếu ta đánh giá thử chơi số vàng một trăm hai chục ký lô tức tính theo lượng (37gr25) là 3221,47 lượng, nếu giá ngày nay mỗi lượng là 170.000 bạc, thì kim thân Phật, (không kể kim cương), trị giá theo hiện tại 5.476.499 đồng (bạc Việt Nam năm 1975).

Các món bảo vật khác trưng bày trong chùa là một ông Phật bằng ngọc thạch ngự trên toà sen đặt trên cao gần tới nóc. Đức Phật nầy, thân bằng ngọc bích màu xanh biếc chói sáng trên đỉnh cao, nhưng nghe nói không quý bằng một cổ Phật khác cũng bằng ngọc bích cao độ sáu bảy tấc và trước kia đã bị Xiêm binh tịch thu làm chiến lợi phẩm và mang về nước họ sau một trận giao binh mà thất bại về phần Cam-pu-chia quốc vào một thời xa xăm không nhớ được. Nghe nói vì mất Phật nầy mà nước Miên suy bại…

Cũng trong chùa còn tàng trữ một báu kiếm đã có từ đời Đế Thiên Đế Thích (nay còn chăng?). Kiếm nầy tượng trưng chợp ngôi báu vĩnh cửu của Miên Hoàng dòng Norodom (ta quen gọi là ông Hoàng Lân). Ngoài ra còn vô số báu vật khác toàn bằng vàng chế tạo ra chén bát, tô mâm, đếm không xiết vì chất chồng lên nhau và bày la liệt trong một tủ gỗ quý rất lớn, mỗi món đều nhuộm “màu vông” là màu ưa thích của dân tộc Miên, tức màu đỏ bầm của hoa vông. Vả chăng người Miên theo cổ tục vẫn ăn bốc bằng tay, cách dùng đũa chén là tiêm nhiễm theo tục Hoa-Việt, người dân thì ăn thúng mủng vùa, chén đất, người sang, vua chúa thì xa xỉ quá lẽ, dùng chén vàng chén bạc, mà mỗi lần có chiến tranh những báu vật ấy đều bị nấu ra kim khí đổi lấy tiền mua sắm khí cụ nuôi binh, mua ngựa, nên đồ từ khí cổ ngày nay không còn lại mấy.

Trên Nam Vang, nơi hoàng cung lúc tôi đi viếng, vẫn bày la liệt đồ vàng đồ bạc mà không sợ mất cắp vì người dân trong nước vẫn xem các món ấy là báu vật chung trong nước, họ không bao giờ có ý nghĩ đánh cắp hay chiếm đoạt làm của riêng. Ngoài ra các Miên vương vẫn rất xa xỉ và để phô trương sự giàu có, các vua nầy thường gắn hay nạm kim cương và châu báu trên các đồ ngự dụng.

Trong chùa còn trưng bày ấy chiếc mũ dạ đen của đức Norodom có gắn một viên kim cương to tướng, thậm chí những vật dùng hằng ngày của đức vua nầy từ cái ống phóng cũng bằng vàng, cây gậy cầm tay cũng bằng đồi mồi gắn hột xoàn chói lọi. Về cà-rá đeo tay, vòng tay, vòng cổ và kiềng cẳng của các bà Miên hậu để lại cũng bằng vàng hoặc ít nữa bằng đồng thoà tức vàng có pha bạc và pha đồng. Đồng thoà vả chăng là một kim khí được người Miên trọng dụng nhiều hơn vàng là khác. Nơi Viện bảo tàng lúc đó còn gọi là Musée Albert Sarraut, tên một toàn quyền Pháp chầu xưa cũng thấy trưng bày các vật dụng như cộ vua, ngự xa, kiệu rước quốc vương, đều chế tạo bằng gỗ quý, kiêu sa không chỗ tả, ví các con lon con tiện trên những vật dụng nầy đều làm bằng ngà, hoặc bằng sừng lên nước vàng lườm hoặc đen mun bóng lộn.

Chúng tôi viếng lần chót các viện nầy thì đồng hồ đã chỉ tám giờ sáng. Chúng tôi lên đường trực chỉ về Cần Thơ, nhưng phen nầy đi ngả Kampot (Cần vọt) để biết thêm một mớ địa danh khác, nhứt là để biết con đường mới khai phóng nối liền Hà Tiên qua Rạch Giá. Dọc đường ghé bãi Kép lắm biển, rồi dùng cơm nằm dưới triền núi, thức ăn đã cụ bị sẵn khi còn ở chợ Nam Vang. Đến Hà Tiên, chúng tôi còn ghé viếng núi Tô Châu, xem Thạch Động, rồi thả vô chợ phố viếng nhà nuôi đồi mồi sống, đoạn chạy một mạch trên đường Hà Tiên-Rạch Giá, vừa ăn lễ khánh thành cách chẳng bao lâu. Đường thẳng như dây thép kéo, cảnh hoang vu không một bóng người và nhà cửa, một bên và con kinh xáng mới múc, khai thông một khu rừng có tiếng là cô quạnh sình lầy vô dụng, một bên là cây cối giăng giăng bất tận, toàn là cây tràm cây giá và cây đước cây vẹt, khu lâm sản vốn ít ai khai phá và vẫn còn đầy huyền bí dưới danh từ “rừng già” đầy muỗi mòng, thú dữ như cọp voi và chim cao lớn như bồ nông thằng bè. Khi ở Rạch Giá chúng tôi còn đủ thì giờ viếng chợ và toà bố tỉnh lỵ, nơi ngày xưa danh nhân Nguyễn Trung Trực thọ hình. Chúng tôi ghé miếu thờ cá ông, mua tại chợ mớ nhấm tỏi ngâm giấm Hạ Châu và khô cá gộc về làm quà biếu bà con, rồi chạy thẳng thét tới Cần Thơ, ai về nhà nấy, thì đồng hồ chưa gõ chín giờ tối.

Ba ngày vui say với xứ lạ, ăn xài không kể, mà khi tính sổ, phần vợ chồng tôi như đã nói nơi đoạn đầu, chỉ tốn có hai mươi bảy đống bạc (27$00), so sánh lại với ngày nay, mới thấy thời buổi ấy, sống như trên thiên đàng mà nào biết đó là chín hạnh phúc.

Nhưng lạc cực sanh ai. Về nhà, tắm rửa thay y phục lên giường nằm, nghe lói lói bên hông, biết đã muộn vì mê ăn nhiều lạp xường và thức ăn nhiều dầu mỡ của xứ Chùa Tháp có nhiều bùa ngải. Kết quả phải nằm nhà thương Cần Thơ nửa tháng (bác sĩ điều trị là Dr. Piloz và ông bạn Nguyễn Duy Chi).

Ngày 20 tháng giêng, thầy thuốc cho ra nhà thương và biên giấy cho nghỉ dương bịnh mười lăm ngày Lúc nằm tại đường đường, cân chỉ còn 48 kí-lô, phương pháp điều trị bịnh gan bằng mười mũi emétine (thổ căn tinh) và ba mũi thuốc 914, làm sụt mất cỡ gần mười ký.

Ngày 21, Ba tôi ở Sốc Trăng lên, cùng đi với vợ chồng tôi ra Cấp đổi gió. Ngày 29, trong mình đã hồi phục, đi xe một ngựa với Ba, một vòng chín núi Gành Rái xem phong cảnh và địa thế Vũng Tàu. Ngày 30, Ba mua thịt quay và bánh mì đem ra bãi vừa ăn vừa xem đánh cá. Ngày 31 là ngày chót, cha con đoàn tụ nơi vùng mát mẻ thảnh thơi nầy. Ngày 1 tháng hai, lên xe đò hãng Pháp gọi Compagnie de tramway, trực chỉ Sài Gòn, đi ngang chợ Biên Hoà ghé mua ba chục bưởi Thanh Trà giá có hai đồng bảy cắc (Năm 1975, khi chép bài nầy, trái bưởi xứ anh Bình Nguyên Lộc đã lên giá trên hai trăm đồng một trái). Có lẽ mắc hơn thì hẳn, nhưng làm sao ngon ngọt bằng thuở thanh xuân, lúc Ba tôi còn sanh tiền. Xe đến bến Sài Gòn là 9 giờ ngày 1 tháng 4. Ba lên xe về luôn Sốc Trăng.

Ngày 2, chúng tôi còn nán lại Sài Gòn để ngày mồng ba dương lịch, tức rằm tháng chạp năm Kỷ Mão, khách trú Trần Tứ, nhà ở số 107 hẻm số 15 đường Chaigneau (nay là đường Tôn Thất Đạm) nài bán một xâu chuỗi ngọc thạch ba chục hội màu xanh biếc trong trẻo không một chút tỳ, giá sáu chục bạc (60$00) xâu chuỗi nầy, giá thử nay còn, giá bán không dưới năm trăm ngàn đồng (500.000$00), khi kể lại làm vầy không phải tôi lẩn thẩn mà tình thiệt muốn đánh dấu sự sai biệt của đồng bạc thời bình ngày xưa và thời bấp bênh hiện tại. Ngày 6 tháng hai, trở vô làm việc lại vì đã mãn phép, con bò kéo xe chưa hết kiếp, biết sao? (Tiền xài ở Cấp từ ngày 21-1 đến mồng một tháng hai thêm tiền xài ở Sốc Trăng từ 1 đến 5 tháng hai, chỉ có 195$00). Thiệt là rẻ mạt!

Chuyện Số 2: Tháng Hai Dương Lịch 1940 (Năm Tân Tỵ) Đi Với Ba Tôi Lên Viếng Cảnh Đế Thiên Đế Thích, Tiền Xe Tiền Cơm Và Tiền Phòng Tính Chung, Hải Ngươi Tổn Phí Là Năm Mươi Hai Đồng (Nhằm Hai Mươi Sáu Đồng Mỗi Người).

Trước khi đọc bài nầy, nên tìm xem lại trong tập “Hồi ký năm mươi năm mê hát”, trang 124 tôi kể về đêm 6-1-1940 đi xem diễn tuồng cải lương “Tơ vương đến thác”, tức tuồng La Dame aux camélias của Pháp và xem luôn trương 139, khi tôi nhắc chuyện ngày chúa nhựt 5-5-1963 tại Paris, tôi viếng mộ người ân nhân trước giúp tiền cho tôi dựng nhà, nhưng hôm ấy không gặp mộ bà lại gặp mộ nàng Kiều của Pháp là nàng Alphonsine Plessis, tức Marie Duplessis, tức Trà hoa nữ “La Dame aux camélias”, mỹ nhân bạc mạng trong Tơ vương đến thác).

Ngày 7-2-1940 đúng là ngày 30 Tết năm Canh Thìn. Ba tôi phá cổ lệ không ở nhà giỗ quải ông bà vì đã giao việc nầy cho em trai tôi ở nhà coi sóc. Ba tội từ Sốc Trăng lên Sài Gòn trước một ngày và khuya rạng ngày 7-2 cùng với tôi ngồi xe kéo chạy lên hẻm Cây Điệp đường Phan Đình Phùng, lúc đó còn gọi là đường Richaud, đến nhà anh bạn quá cố là giáo sư Nguyễn Văn Hanh, biệt hiệu là Đức Lang, để gia nhập phái đoàn du lịch Đế Thiên do anh tổ chức và đài thọ cả tiền ăn tiền phòng và tiền xe phiếm du, cả thảy bốn ngày đi và về mà anh chỉ lấy mỗi người có hai mươi sáu đồng, vị chi Ba tôi và tôi chỉ tốn có năm mươi hai đồng mà biết được xứ Chùa Tháp và cảnh thần tiên Đế Thiên Đế Thích của xứ Căm-pu-chia thơ mộng. Lúc đó nào có vấn đề thiết quân luật du khách và người trong bán đảo Đông Dương muốn xê dịch xứ nầy qua xứ kia chỉ tuỳ thân một thẻ căn cước của tổng nha cảnh sát là đủ và thường lấy đêm làm ngày, xe đò chạy ban đêm cho mát mẻ, đỡ tốn nhiên liệu, rủi ro xe chết máy cũng không sợ nạn cướp đường và “ma cỏ” nhát hù. Tuy có giao hẹn chắc chắn là bốn giờ khuya xe phát chạy cho lợi thì giờ, vì đường Sài Gòn lên đến Xiêm Rệp (Siemréap) là xa không thua Sài Gòn đi Huế, tuy hẹn làm vậy nhưng bộ hành tề tựu đủ mặt mà mãi chờ xe đến đồng hồ nhà thờ Đức Bà đổ năm tiếng, chuông kiểng reo điếc tai mà chiếc xe đò do anh Hanh mướn vẫn chưa thấy dạng. Mãi hơn sáu giờ sáng mới thấy xe ló mũi ở đầu đường, không đợi mời, hành khách tuôn ào lên xe mặc ai nấy tìm chỗ ngồi và xe bắt đầu lăn bánh. Trong số du khách là ba chục người, theo tôi biết nay chỉ còn sót lại không hơn năm ba người, như anh Như Cảnh nhà báo, ông Đỗ Phong Thuần biệt hiệu Long Giang và tôi đây, còn bao nhiêu người khác đã ra người thiên cổ như tiên nghiêm, cố bác sĩ Trần Văn Minh trước có làm chủ một gánh hát cải lương ở Sốc Trăng, Giáo Dùng, Hoá nhiếp ảnh viên ở Đất Hộ, một sinh viên tên là Nhẫn, cô Bảy Quang ở gần ga xe lửa Đất Hộ, không kể bà chủ xe đò và gia đình anh Hanh và mấy cô gái ngây thơ nay đã trở nên mạng phụ con cháu đầy sân.

Xe chạy dọc đàng gặp đủ thứ trở ngại: quẹt vè với xe buýt, gẫy nhíp, bị cò phạt, tuy vậy vẫn cà rịch cà tang chạy không ngừng mỗi khi sửa chữa xong. Xe đến chợ Nam Vang, tuy bụng đói mà không dám khuyên xe đậu lại ăn cơm vì quyết tranh thủ với kim đồng hồ và muốn lên cho kịp đến nơi đến chốn hơn là nằm đường nơi cảnh lạ quê người.

Sáng ngày 8-2, đến bốn giờ rưới sáng thì xe mới lết tới Siem Réap. Mặc dầu khuya khoắt, anh Hanh chạy đi kiếm khách sạn đã dặn chỗ trước, và chia ra bốn người chiếm một phòng. Ba tôi và tôi được sắp ở chung một căn phòng với ông bác sĩ Minh và một người Bắc tên là ông Bùi. Dọn cơm ăn hối hả ngon quá vì nhịn đói trọn ngày, vừa buông đũa là nằm một phút sải tay chân vì ngồi một ngày thẳng thét gần đứt xương sống.

Tuy vậy, không ai nhắm mắt, vì bữa nay là ngày mồng một Tết và ai ai cũng nóng lòng viếng cảnh ước ao hơn là nằm ngủ dưỡng sức… Đồng hồ vừa gõ bảy giờ là anh Hanh đã gõ cửa đánh thức mọi người, mời thay y phục gọn và xuống lầu dùng điểm tâm để còn viếng cho kịp Angkor-thom, tức đền Đế Thiên. Xem xong điện nầy là lật đật chạy xe đến Angkor-wat tức điện Đế Thích, (“wat” có nghĩa là chùa). Đến nơi đây gặp vừa đúng ngọ, sẵn cây cao bóng mát, bèn tổ chức một bữa cơm trại. Bánh mì thịt nguội đã mua sẵn ở Câu lạc bộ, tránh được khỏi mất thì giờ chạy về chợ ăn cơm tiện cao lâu xứ nghèo và quê, bán giá cắt cổ, chỉ đặc biệt không tính tiền mớ ruồi xanh đông vô số kể. Đến ngày nay còn nhớ bữa cơm ngon miệng ngày ấy giữa cảnh rừng già hoang vu và đồ sộ các tượng đá vách đá rêu phong ngàn năm cổ kính. Cơm xong ngả lưng nhìn trời và vòm lá xanh tươi, lòng lâng lâng tưởng chừng như thoát tục, nhưng nhớ lại hết ba ngày viễn du nầy thì kiếp con bò kéo xe, cạo giấy làm mọi Tây vân còn dài dặc. Nhưng tuổi trẻ không nghĩ xa, vui đâu chúc đó, hãy tận hưởng những giờ phút hạnh phúc không tốn tiền nhiều nầy rồi sẽ hay. Tổ chức khá chu đáo mà chi tiết nhỏ lại quên, ra đi trọn ngày mà không nhớ cụ bị nước uống, cả quan khách đều khát và thèm một giọt nước mưa thắm giọng, nhưng đành nhịn uống nước địa phương. Tứ bề vắng teo toàn là rừng xanh với mấy cây dây leo dị tướng thân lớn bằng cột nhà uốn khúc bám sát vào vách đá rêu phong như những con khủng long hay mãng xà trong các truyện truyền kỳ quái lục. Đây là một loại dây rừng, ban đầu là một hột nhỏ lách tử một trái bé đã khô, hột nhỏ chứa trong trái có cánh, bay khắp rừng, thoạt xé bung ra muôn vạn hột nhỏ văng xẹt tứ tung, hột nào rơi rớt nào không trung vô định thì không kể, hội nào tốt phước rơi và o kẹt đá, hố vách thì ở lại đó, hoặc vì nắng cháy sẽ hư đi, hoặc tốt phước hơn nữa rơi trúng địa thế thuận có một chút nước đủ ướt để mọc mộng rồi cái mộng lớn dần, thoại đâm rễ trổ lá, thế là thành công, sẽ đoạt quyền tạo hoá, sẽ thắng những tảng đá khổng lồ do tay thợ lành nghề các đời đế Suryavarman xây dựng, và triền miên bồi đập trong nhiều thế kỷ liên tiếp từ thế kỷ thứ IX đến XII. Hột nhỏ loại cây da cây dừa, cây fromager, cây vông Khơme nếu ta tìm hiểu trong loại sách Mác-xít, Freud, Sartre) là loài cây phá hoại, đã xô ngã đền đài Đế Thiên Đế Thích, báo hiệu cho chế độ tân tiến, những gì tưỏng là lâu bền của thời kỳ đế quốc phong kiến đều không tồn tại với “hột cây bé nhỏ” nhưng có chí kiên gan đoàn kết của nhân lực đợt sống mới ngày nay. Chung qui cũng nhờ nhẫn nại và hơi nước sương mưa nhiều đời tiếp lực.

Nhưng triết lý ở đây là thừa. Chúng tôi la cà dạo chơi ngấm nghía cho đến bốn giờ chiều là lên xe cho chay vòng vòng thường tận cảnh mặt trời vừa mọc, cảnh trời đứng bóng,’cảnh hoàng hôn trời sập tối, cảnh trời vần vũ mưa, quá nhiên phong cảnh những đá lál meo mốc nầy đều thay đổi biến hình mồi giờ mỗi phút như chiếc áo thần muôn màu nghìn sắc và thiên biến vạn hoá. Chúng tôi rất tiếc không mục kích được cảnh Đế Thiên Đế Thích viếng giữa đêm khuya có trăng sáng, hoặc khi đốt đuốc dạo chơi dưới mái điện âm u có bầy dơi quạ bay sát vào mặt sè cánh, vuốt tóc người lữ khách hiếu kỳ như những bàn tay ma của các cung nữ, các vũ nữ có hình chạm trổ trên vách đá. Theo văn hào Pháp Pierre Loti đã tả những khoảnh khắc ấy mới là thần kỳ thoát tục và khêu gợi vô song. Vả chăng nền điện đều bị cạy xeo để tìm châu báu, nay chỉ còn nền đất dưới lớp cứt dơi dày cả tấc, hôi hám nực nồng mùi nước đái quỷ “ammoniaque” nhiều đời tích tụ. Mặc dầu đến đây mến cảnh, mến cổ thời, nhưng anh giáo Hanh dạy chúng tôi thực tế là hơn và để đỡ tốn tiền xăng nhớt, đã hối chúng tôi kíp về phòng trọ, nghỉ ngơi dưỡng sức để ngày mai sẽ hay. Chiều nầy ăn cơm sống và đêm ngủ lạnh rét da, nhưng không ai phàn nàn.

Qua bữa sau 9-2 (mồng hai Tết) theo chương trình là đi xem Angkor Wat (Đế Thích) và xem hai vòng lớn nhỏ cảnh vòng thành hoang tàn, Pháp gọi Grand circuit ét Petit circuit, nhưng xe hư sửa đến trưa mà không chạy. Mất thì giờ vô ích, các du khách cực lực phản đối, bà chủ xe nóng ruột xuất tiền mướn một cỗ xe camiông của người Thổ, chở đi một vòng lớn nhưng không ai còn hứng thú.

Đây cũng vì ít tiền và tổ chức không chu đáo. Nhưng biết trách làm sao, khi anh giáo Hanh phải sống, phải hạn chế để có lời? Buổi trưa nhờ biết tiên liệu nên cụ bị đem theo một con gà rô-ti và mấy ổ bánh mì, chẳng những khỏi vất vả, lại ngon miệng và thêm được xã giao với bạn bè mới quen, nhứt là cô Bảy Quang không bao giờ từ chối. Ít mệt mỏi như ngày hôm qua… Đêm nay về phòng, bàn bạc riêng và tổ chức sáng mai một cuộc thăm đến Banteat Srev với bốn bạn mới kết giao; Cô Bảy, giáo Dùng, anh Như Cảnh, sinh viên Nhẫn, sẽ cùng đi với Ba và mình. Tiền mướn xe mỗi phần không hơn mười đồng bạc, và được ngồi xe Cïtroën bảy chỗ ngồi sướng chán. Thêm được biết một cảnh trí không có ghi trong chương trình tổ chức.

Mông ba Tết (10-2-1940). Vừa bốn giờ sáng, xe đến, vội vã ăn lót lòng hấp tấp rồi lên xe trực chỉ Banteai Srev. Đây là một cổ điện do đức Phật vương trong sử Miên tôn lên hàng guru royal, mỹ hiệu là Yajnavaraha truyền xây dựng từ năm 967 Tây lịch, tính đến nay đã hơn một ngàn năm. Không biết với nạn chiến tranh hiện thời, cổ điện nầy có còn lồn tại hay đã mất mát tang thương nhiều thì đáng tiếc thật, vì Banteai Srey so sánh với Angkor như viên ngọc quý so với đá thường, nói cạch khác Banteai Srey khéo như một món nữ trang đặc chế do người kiến trúc thượng hảo hạng đặt tay vào, còn Angkor mặc dầu là một pho kiến trúc kiệt tác nhưng vẫn do nhiều thợ hiệp công xây dựng, chỗ khéo chỗ vụng không đều, có thể ví Banteai Srey là đồ đặt đối với Angkor là đồ hàng, Banteai Srey là mỹ phẩm ngự chế, Angkor là phẩm vật tầm thường dân dụng và loại đồ đặt đối với đồ ngang đồ đàn, khác biệt rất xa. Tôi không tiếc lời khen ngợi điện Banteai Srey, vì năm tôi viếng 1940, điện còn gần như nguyên vẹn, đứng sừng sững giữa rừng hoang nhưng làu làu như một nàng tiên bất nhiễm hiện hình giữa chốn phàm trần nhưng không vấy chút cái bụi trần ai. Banteai Srey, theo ông Louis Cheminai trong quyển Le Cambodge (Xứ Campuchia, xuất bản ở Sài Gòn năm 1960), được tìm thấy năm 1914 do một thiếu uý Pháp làm cho sở địa dư và nhà khảo cổ Marchai đã bền công tu tạo đúng theo lối anastylose, (tức giữ đúng cổ truyền không được tân tạo chế biến chỗ nào, tỉ dụ cây cột bị mối ăn, có thể đổ xi măng vào cho thêm chắc chắn mà không được thay thế bằng cây cột mới, nhờ vậy mà năm 1940 tôi gặp còn làu làu gần toàn vẹn, mà nhờ kiến trúc bằng đá đỏ lâu ngày xuống sắc đen đen giống như đồng vỏ cua lạc tinh lâu năm không khác.

Tôi còn nhớ bữa đi viếng năm 1940, tuy đã trên ba mươi năm ngoài mà rành rành như ngày hôm qua, điện ở xa trong rừng mai đang trổ, rõ ràng trước mắt cảnh “chim cúng trái”, chỉ vùng náy khô khốc còn thiếu cảnh suối chảy “cá nghe kinh”, xe đang bon bon chạy, thoạt có một bà Ăng lê tóc trắng xoá như thúng bông, thiệt là tiên phong hạc cốt, đang chống gậy đi thoang thoáng nơi đàng xa, rõ lại đây là khách ngoại quốc từ Thái Lan sang viếng đền theo ngả Battambang, nhưng trong trí tôi hôm ấy đinh ninh đó là nữ tiên hiện thân của nàng công chúa Banteai xuất hiện giữa cảnh trời tưng bừng sáng, không một chút bụi trấn (Srey có nghĩa là nàng con gái). Chúng tôi tiếc bữa ấy thì giờ cấp bách quá, không được cung chiêm kỹ lưỡng pho kiến trúc kiệt tác nầy, trong thâm tâm lấy làm lạ, và cho đến nay chưa nhà khảo cổ nào khám phá ra, – là vì sao đền nầy khéo léo thì vô song, nhưng nếu kể về kích thước thì chỗ nào cũng nhỏ bé, cửa thấp vào phải cúi đầu, kho sách thì chật hẹp, duy các pho tượng, thần đầu chim, đầu rồng, giữ hai bên mỗi cung điện đều tạc hình hùng vĩ khéo hơn các tượng từng thấy nơi những cổ điện Angkor và Phnom Bakheng, Kulen chẳng hạn. Vì kích thước hạn chế khiến có nhiều người suy luận phải chăng Banteat Srey là đền thờ hơn là điện ở. Nhưng không một ai cho đến nay dám quyết đoán vấn đề nầy.

Chúng tôi chạy xe xem hối hả không khác người đói nuốt trộng thức ăn cho đầy bao tử, tự nguyện sau nầy sẽ lừa dịp trở lại cung chiêm cho mãn nhãn, nhưng than ôi, tình thế nầy mà với tuổi nầy, ắt đành để câu nguyện kìa bất thành. Xem xong đền Banleai Srey, chúng tôi còn đủ thì giờ cho xe chạy giáp vòng những nơi hôm qua vì xe hư nên bỏ dở, như:

– Vòng nhỏ (petit circuit) gồm Angkor Wat, Phnom Bakheng Baksei – Chamkrong, và nguyên vùng Angkor Thom từ trong đền ra tới thành ngoại.

– Vòng lớn (grand circult) gồm Prah Khan, Neak Pan, Mé hon oreital. Pré Rup, Ta Prhom, Banteai Kdei, Takeo và vùng cận tỉnh Sieam Réap.

Còn một vùng lớn ngoại ô, gồm trừ Banteai Srey ra, còn có Bantéai Samré, Roluos, Ba ray Occỉdental và Phnom Khom, chính bác tài xế vì ham chút lì xì, đề nghị lăng xăng, nhưng chúng tôi tạm cho là mãn nguyện, vì phải trở về trước ngọ, giờ phát hành trở lại Sài Gòn, chớ đi mãi làm vầy chẳng qua là nuốt trộng thức ăn e sẽ trúng thực, chẳng qua là ngắm xem thật nhiều: phong cảnh thiên nhiên đất Nam Vang huyền bí, nào rừng với núi, gió với mây, hang với đèo, lạch với suối, cảnh sạn đạo đường rừng quanh co uốn khúc, nhưng sở du lịch thuở ấy đã cắm sẵn hai bên đường những bảng chỉ lộ hoặc bảng tròn hoặc bảng tam giác báo hiệu chỗ rẽ hiểm trở, nẻo tắt nên dùng để lợi thì giờ, vân vân, và làm sao xem cho hết được. Trên chuyến xe chạy về phòng, chúng tôi để ý đến những guồng tát nước, đem nước sông lên ruộng có vô số gàu nhỏ bằng tre nứa kết thành vòng tròn thật lớn chuyển động bằng sức nước dựng suốt theo bờ sông Xiêm Réap vừa đơn giản vừa tiện lợi và tiết kiệm, thêm rất nên thơ và đẹp mắt, không gàn trở làm hư cảnh thiên nhiên chúi nào. Đến những nhà sàn của thổ dân ở đây cũng rất thơ mộng, cao ráo, sạch sẽ, hạp vệ sinh, mát mẻ, con người ở đây sống như vầy ắt ít bịnh và sống thọ cũng phải. Thêm đất xứ nầy nghiệm ra có nhiều chất vôi, nên thổ nhân người nào răng cũng tết trong và thân người to và cao lớn, xem mạnh mẽ vô cùng.

Chuyến về buồn tẻ, vì người nào cũng mệt mỏi, lên xe ngủ gà ngủ gật quên chuyện trò. Xe tới bến lật đật mạnh ai nấy về, duy kỷ niệm riêng buổi đồng hành, mỗi người lại nhớ một cách khác.

Ba tôi còn ở lại với chúng tôi chơi cho đến ngày 13 tháng hai Tây, mới lên xe đò về Sốc Trăng, cùng đi với em tôi là Vương Minh Cảnh.

Ba ngày tròn ở Đế Thiên Đế Thích, hít thở không khí trong lành của cung điện vĩ đại của các quân vương tài hoa Cao Miên, thêm được vui trong lòng vì đã đưa người sanh thành ra mình viếng một cảnh người hằng ao ước bấy lâu, bao nhiêu hạnh phúc ấy mà hai cha con tốn không hơn một trăm bạc. Cuộc hành trình nầy, nếu ngày nay muốn thực hành, cũng phải cần nhiều trăm ngày bạc mà không dễ gì xong, ôi hạnh phúc, giá trị của mi là bao, đố ai biết được.