Hồi Ký Chí Hòa

Vĩnh Khanh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on April 28 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 7 Jun 2024

Google photos

Chương 3
Làm Việc Lần Đầu Với Chấp Pháp

Ở biệt giam 2 được khoảng 2 tuần lễ thì một buổi sáng, một tên công an mở cửa biệt giam bảo tôi:

– Anh K. mặc quần áo chỉnh tề đi làm việc. Nhanh lên.

Nói xong hắn đứng đợi bên ngoài. Tôi lấy quần dài và áo sơ mi trong sắc tay ra mặc vào, mới hay chỉ mới gần 2 tuần mà tôi đã ốm đi khá nhiều. Cái quần xỏ vào rộng rinh.

Tên công an dẫn tôi đi xuống từng dưới, len lõi qua dãy hành lang đến một khu có nhiều phòng nhỏ sát nhau. Hắn mở cửa một phòng ra dấu cho tôi bước vào. Trong phòng tôi thấy hai thanh niên mặc thường phục đang chờ sẵn. Đây chính là hai tên đã đến lục xét nhà và bắt tôi lúc trước. Tên công an dẫn tôi vào nói với hai thanh niên này:

– Bao giờ xong thì cho tôi biết. Tôi ở trong phòng trực ban.

Tôi còn đang đứng xớ rớ nơi cửa, thì một tên chỉ vào cái ghế trước bàn bảo tôi ngồi xuống rồi với một nụ cười, hắn lịch sự hỏi tôi:

– Mấy ngày nay nằm đây anh vẫn khoẻ chứ?

– Làm sao mà khoẻ được? Khi không vô cớ bị bắt vào đây, các anh phải cho tôi biết tôi bị tội gì chứ?

– Được rồi, anh đừng lo. Từ từ rồi anh sẽ biết thôi, bây giờ mời anh dùng cái này trước đã.

Hắn lấy trong một túi nylon ra ổ bánh mì thịt, một bọc nước mía có cả ống hút sẵn và một gói thuốc lá Hoa Mai với hộp diêm quẹt.

– Anh cứ tự nhiên ăn uống và hút thuốc thoải mái đi. Chúng tôi biết mấy hôm nay anh thiếu thốn nhiều, nên có nhã ý mời anh ăn uống trước rồi chúng ta làm việc sau cũng không muộn.

Tôi còn đang lúng túng với sự việc khá đột ngột này, thì tên thanh niên thứ hai nói:

– Anh cứ ăn uống tự nhiên đi, chúng tôi cũng có chút việc phải làm nên anh không có gì phải ngại.

Nói xong hai tên ngồi lật mấy xấp hồ sơ ra đọc và không chú ý gì tới tôi. Tôi cũng không khách sáo gì nữa, nghĩ thầm trong bụng: “Đã vậy thì tới đâu thì tới, cứ ăn uống đi đã”

Tôi cầm ổ bánh mì thịt lên ăn, xong uống nước mía… Hai tên thanh niên kiên nhẫn chờ tôi ăn uống xong, hắn mở gói thuốc Hoa Mai ra và mồi cho tôi một điếu thuốc, rồi hỏi:

– Anh đã sẵn sàng làm việc chưa?

Tôi trả lời:

– Tôi sẵn sàng rồi.

Lúc bấy giờ hai thanh niên này ngồi cùng phía bên kia bàn viết đối diện tôi. Một tên hỏi tôi câu đầu tiên:

– Anh có biết một người tên là Nguyễn Sĩ Trí không?

Người tôi bỗng nhiên lạnh toát, một tia sáng chợt loé ngang qua đầu, tôi lờ mờ đoán ra vụ gì rồi:

– Có, tôi có biết anh này.

– Anh quan hệ như thế nào với anh này?

– Anh ta không phải là bạn tôi. Tôi biết anh ta qua một người bạn khác trong một dịp tình cờ.

– Dịp tình cờ đó xảy ra như thế nào?

– Tôi có một người bạn sửa xe đạp ven đường và thỉnh thoảng có ghé sửa xe hoặc đi ngang ghé thăm hỏi anh ta. Một hôm tôi tôi mang xe đạp ra nhờ anh bạn sửa hộ, thì anh Nguyễn Sĩ Trí này đã ở đó trước rồi. Sau đó chỉ là sự giới thiệu xã giao bình thường rồi biết nhau thế thôi.

Tôi đã linh cảm ra tại sao tôi bị bắt rồi. Ôi! Cái thằng quỷ sứ Nguyễn Sĩ Trí đã làm gì mà lôi tôi liên luỵ vào vụ này. Tôi hỏi dò:

– Bộ tôi có chuyện gì dính líu tới anh Nguyễn Sĩ Trí này sao?

Tay thanh niên ngồi bên tay phải không trả lời câu hỏi của tôi, mà tiếp tục thẩm vấn:

– Anh nói chỉ là xã giao bình thường nhưng chúng tôi được biết anh và anh Nguyễn Sĩ Trí này vẫn gặp nhau thường xuyên sau đó phải không?

Lần này thì tôi cảm thấy lo lắng trong bụng thật. Qua mấy câu hỏi vừa rồi, tôi có thể nói là hai tên này chắc chắn có theo dõi, hoặc ít ra cũng nắm được nhiều điều về tôi hoặc Nguyễn Sĩ Trí rồi chứ không phải chỉ dò hỏi suông. Tôi trả lời, cố chống chế một cách thụ động:

– Tôi sinh sống bằng việc bơm quẹt gas lề đường, cho nên không riêng gì anh Nguyễn Sĩ Trí mà còn nhiều bạn bè, bà con mỗi khi đi ngang qua chỗ tôi làm, đều ghé lại thăm hỏi nói chuyện chơi khi thấy tôi rảnh việc…

– Vậy hả? Vậy thì ngoài chuyện anh ta ghé lại thăm hỏi và nói chuyện chơi các anh còn còn có sinh hoạt gì khác không?

– Không có gì đặc biệt, ngoài một vài lần có uống cà phê hoặc cùng uống với nhau xị rượu như những người bình thường khác. Chỉ thế thôi.

– Ban đầu anh nói là anh gặp anh Nguyễn Sĩ Trí này ở chỗ sửa xe đạp của một người bạn, chỉ là xã giao thôi… Nay anh lại cho biết là sau đó anh ta còn ghé lại chỗ anh làm việc… và sau đó thì lại còn rủ nhau uống cà phê… rồi nhậu nhẹt với nhau nữa… vậy thì theo chúng tôi nhận xét, quan hệ của anh với anh Nguyễn Sĩ Trí này cũng đâu phải tầm thường như anh đã nói lúc đầu? Không thân thì đâu có rủ nhau đi uống cà phê, nhậu nhẹt… nhiều lần như vậy. Có phải không?

Tôi cảm thấy hơi lúng túng với lời nói của tên này nhưng vẫn cố chống chế:

– Thỉnh thoảng chúng tôi mới có cơ hội đi uống rượu với nhau thôi, chúng tôi đi chung với những người khác chứ đâu phải tôi đi riêng với anh Nguyễn Sĩ Trí này đâu. Tôi quan niệm đó cũng là một việc xã giao bình thường thôi. Ngoài ra chúng tôi không làm gì khác cả.

– Thôi được rồi, chúng tôi cũng cho đó là chuyện xã giao thường tình đi. Nhưng anh nói anh và anh Nguyễn Sĩ Trí không có làm gì khác phải không? Anh nhớ kỹ lại đi.

– Tôi có làm gì đâu mà nhớ với không nhớ? Quả thật liên hệ của tôi và anh Nguyễn Sĩ Trí này chỉ có thế.

– Vậy anh ta có rủ rê, xách động anh làm chuyện gì phản động đối nghịch lại với Nhân Dân, với đường lối Đảng và Nhà Nước không?

– Chuyện này thì hoàn toàn không có. Riêng tôi thì tôi chỉ biết lo làm ăn nuôi sống gia đình vợ con thôi. Có lẽ anh đã biết gia đình tôi khó khăn lắm, lo kiếm sống hằng ngày đã mệt rồi, còn thì giờ và đầu óc ở đâu mà nghĩ tới chuyện gì khác.

– Được rồi. Vậy thì để tôi đưa cho anh xem cái này xem anh có nhớ nó là cái gì không?

Một tên trong bọn lấy từ trong cái túi xách của hắn một cuộn giấy tròn nhỏ, loại giấy quyến người ta dùng để vấn thuốc rê, anh ta mở cuộn giấy ra, chữ viết chi chít đầy trên mặt tờ giấy. Hắn trải cuộn giấy dài ra, rồi hỏi tôi:

– Anh có thấy cái này bao giờ chưa?

Thoáng nhìn cuộn giấy quyến trải dài ra trước mặt. Tôi điếng cả người. Như vầy thì quả thực là chết tôi rồi. Đúng! Tôi đã từng thấy qua cuộn giấy đó và đã từng đọc nó nữa. Nhưng không thể được! Nếu tôi trả lời là tôi đã từng biết và đọc qua nó… hậu quả sẽ không biết sao mà lường được. Vì từng câu trong đó đủ để Nhà Nước CS khép tội chết cho tôi liền. Mà cũng quả thật là OAN cho tôi quá. Tôi “BỊ” đọc nó chứ đâu phải tự ý kiếm nó đọc đâu. Thế này thì giá nào tôi cũng phải chối. Tới đâu thì tới, chứ nhận có đọc nó là chết ngay. Dưới chế độ CS và với mấy năm tù cải tạo, tôi đã hiểu CS là gì rồi, với bất kỳ hình thức nào, dù OAN hay KHÔNG OAN, hễ dính vào những gì đối nghịch với Nhà Nước, với lãnh tụ CS hoặc với Đảng CS là chỉ có nước chết thôi. Còn ai lạ gì với chính sách “Thà giết lầm còn hơn bỏ sót” của CS. Những ý nghĩ đó loé trong đầu tôi rất nhanh.

Google photos

Tôi đã có chủ ý rồi nên vừa trả lời vừa cố giữ vẻ mặt ngơ ngác:

– Không. Tôi không biết nó là cái gì và không hề thấy nó trước đây.

Hai tên thanh niên nhìn tôi chăm chăm một lúc rồi một tên hỏi gằn tôi:

– Anh nói là anh không biết cái này là cái gì hả? Anh chưa đọc qua nó sao?

– Tôi không biết hai anh đang nói gì. Quả thật tôi chưa bao giờ thấy qua cuộn giấy này.

– Anh nói thiệt chứ? Chúng tôi để anh suy nghĩ kỹ một lúc nữa rồi trả lời tôi cũng không sao?

Tôi cương quyết chối tới cùng:

– Tôi đâu có gì cần phải suy nghĩ. Tôi chưa thấy nó bao giờ và không biết nó là cái gì thì tôi đâu thể trả lời khác hơn được.

– Anh không nhớ là anh Nguyễn Sĩ Trí đã đưa cho anh đọc cái này sao. Tôi mong anh thành thật khai báo thì Đảng và Nhà Nước sẽ khoan hồng. Còn nếu anh cứ ngoan cố như vậy thì chỉ thiệt thân anh thôi. Trước khi đến đây làm việc với anh, chúng tôi đã có đầy đủ dữ kiện, biết anh chẳng những biết rõ cuộn giấy này là cái gì, mà anh cũng đã từng đọc qua nội dung trong đó nữa. Chẳng qua chúng tôi muốn anh thành thực khai báo để xem mức độ thành khẩn của anh như thế nào, từ đó Đảng và Nhà Nước sẽ cứu xét và khoan hồng cho anh sớm về đoàn tụ với gia đình – Rồi hắn chồm tới trước, gằn mạnh từng chữ như để hù tôi thêm – Bộ anh muốn ở trong đây suốt đời, không muốn về sum họp với vợ con gia đình hả?

Trong lòng tôi có một thoáng đau nhói lên khi tên này nhắc đến gia đình tôi, nhưng tôi đã biết nội dung trong cuộn giấy quyến đó viết những gì, nên tới đâu thì tới tôi phải cương quyết phủ nhận nó, vả lại đã lỡ phóng lao đi rồi, phải theo lao luôn. Tôi trả lời, ngoài mặt tỉnh bơ mà trong lòng thì rối loạn vô cùng:

– Dĩ nhiên tôi rất muốn về đoàn tụ cùng gia đình. Nhưng các anh bắt buộc tôi phải khai là có, trong khi tôi lại không biết gì về cuộn giấy này, cũng chưa hề thấy nó bao giờ thì tôi làm sao khai như vậy cho được.

Hai tên thanh niên nhìn nhau một lúc, hình như hai tên này không ngờ tôi cương quyết chối như vậy, nên có vẻ hơi khựng lại chưa biết phải làm sao. Không khí trong phòng đột nhiên im lặng, ngột ngạt đến độ khó chịu vô cùng. Chúng chỉ nhìn nhau khoảng một phút rồi cúi xuống tập hồ sơ đọc lại những gì trong đó, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn tôi một cái như để dò xét phản ứng của tôi. Ngồi đối diện với bọn chúng, ngoài mặt cố làm ra vẻ tỉnh táo, nhưng thật sự trong lòng tôi bấn loạn cả lên với nỗi lo sợ hồi hộp không tả được. Được một lúc lâu, một tên ngước lên nhìn tôi, nói:

– Anh ngồi chờ chúng tôi một chút. Không được đi đâu hết. Anh có thể hút thuốc nhưng không được đi đâu hết.

Nói xong hắn đứng dậy kéo tay tên kia, lấy hết tất cả hồ sơ giấy tờ trên bàn rồi cả hai bước ra đứng ở bên ngoài cửa bàn tán nho nhỏ với nhau. Khoảng mấy phút sau cả hai bước trở vào, tên thanh niên có vẻ là cấp chỉ huy hỏi tôi lần nữa:

– Anh nhớ lại đã có đọc nội dung trong cuộn giấy hồi nãy rồi chưa?

– Như tôi đã trình bày với anh là tôi không biết nó là gì và chưa thấy nó bao giờ thì làm sao mà đọc nó cho được.

– Vậy cũng được, anh chờ tôi một chút.

Nói xong hắn lấy ra một mẫu giấy đã in sẵn, viết gì trên đó rồi đẩy tới tôi với cây viết bảo tôi đọc rồi ký tên vào đó.

Tôi cầm tờ giấy lên đọc, đại khái đó là một mẫu in sẵn cho việc lấy khẩu cung, điều tra. Trong đó có những câu hỏi tương tự như những câu hỏi hai tên này đã hỏi tôi vừa rồi.

Tôi đọc kỹ rồi ghi vào bên dưới phần trả lời cho những câu hỏi là đại khái là tôi không biết gì… chưa từng thấy qua…, chưa từng đọc qua cuộn giấy đó… Rồi ký tên phía dưới phần đã dành sẵn cho tôi.

Xong xuôi tên đó nói với tôi như sau:

– Được rồi, buổi làm việc hôm nay như vậy đủ rồi. Cám ơn anh. Vì trí nhớ anh kém và mau quên quá, nên chúng tôi sẽ để anh lên phòng nằm suy nghĩ lại cho kỹ, 1 tháng sau chúng tôi sẽ đến làm việc với anh nữa. Trong thời gian nằm suy nghĩ, nếu bất cứ lúc nào anh nhớ lại và muốn chúng tôi đến làm việc thì cứ nói cán bộ trực ở đây, cho họ biết là anh đã nhớ lại và muốn khai báo thật thà với chúng tôi. Bất kể lúc đó là ngày hay đêm, bất kể lúc đó mấy giờ, chúng tôi cũng sẽ đến làm việc lại với anh, để cho anh có cơ hội chuộc lỗi lầm để mà sớm được khoan hồng về đoàn tụ với vợ con gia đình.

Tôi nghe nói hắn vậy mà chết điếng trong lòng, mới nằm có gần 2 tuần mà tôi đã tưởng chừng như bất tận, mong cơ hội đi thẩm vấn để có dịp thanh minh là mình vô tội, nhưng với tình hình này thì quả là bất lợi cho tôi quá. Không biết hai tên này đang tính cái gì với tôi, nhưng bắt tôi lên nằm lại biệt giam thêm 1 tháng nữa mới được điều tra trở lại thì quả thật không còn gì thê thảm cho tôi hơn. Khắp người tôi như tê dại hết, đầu óc suy nghĩ lung tung nên vẫn ngồi yên trên ghế. Những mâu thuẫn trong tôi nổi lên cuồn cuộn:

“Nói thật ra hay cứ giữ quyết tâm chối tới cùng… Liệu khi nói thật ra là mình đã có đọc và sự thật chỉ là tình cờ “BỊ ĐỌC” thôi, thì liệu hai tên này có tin không và mình có được cứu xét thả về với gia đình hay không? Hay là chúng sẽ căn cứ vào sự thành thật của tôi để dễ dàng khép tội tôi”.

“Không. Không thể tin được CS! Lịch sử đã chứng minh quá nhiều cho những gì CS đã nói và làm… Gần đây nhất trong tù cải tạo, tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu là trường hợp “Thật thà khai báo” của các bạn tù với kết quả thê thảm vô cùng. Trong trường hợp này, nội dung lời lẽ trong tờ giấy quyến đó là cả một sự chống đối các Lãnh Tụ và Nhà Nước CS, “Thành Thật Khai Báo” lúc này chắc chắn là chết ngay…”.

Những ý nghĩ mâu thuẫn này loé lên rất nhanh trong đầu óc tôi và cuối cùng tôi đã cương quyết không để bị mắc bẫy vào những lời lẽ dụ ngọt của hai tên này. Cho dù hậu quả tới đâu tôi cũng sẽ chối tới cùng, chúng sẽ không có bằng chứng gì buộc tội tôi được và SỰ THẬT LÀ TÔI KHÔNG CÓ TỘI, TÔI HOÀN TOÀN BỊ OAN thì không thể để chúng có bằng cớ buộc tội tôi. Tôi nhắm mắt lại, lòng hướng về hình ảnh vợ con mà đau xót vô cùng, vì biết rằng ngày về đoàn tụ với gia đình chắc chắn là còn xa vời lắm.

Một trong hai tên lúc đó đã đi báo cho tên công an cán bộ trực tại Chí Hòa dẫn tôi xuống hồi nãy hay rồi, tên còn lại hỏi tôi:

– Thôi anh lên nằm nghĩ đi. Chúng tôi sẽ trở lại sau 1 tháng. Anh có cần gì không?

– Không, tôi không cần gì cả. Tôi chỉ muốn các anh điều tra cho rõ vụ này, chứ như vầy là oan cho tôi quá. Tôi đâu có làm gì đâu sao các anh lại bắt nhốt tôi vô cớ như vậy?

Tên đó trả lời tôi:

– Nói thật với anh chúng tôi đã biết hết rồi, nhưng anh ngoan cố quá nên chúng tôi không thể làm việc với anh lúc này được. Khi nào anh thành khẩn khai báo thì lúc đó chúng ta sẽ làm việc tốt hơn. Thôi bây giờ anh cứ lên nghĩ đi. Chúng tôi phải đi đây. Nhớ là bất cứ khi nào anh cảm thấy thành thật khai báo, hoặc nhớ lại điều gì mà anh đã quên, thì cứ báo cho cán bộ ở đây để chúng tôi đến làm việc với anh…

Nói xong hắn xách cái xách tay lên, sửa soạn ra cửa với tên còn lại đang đứng chờ phía trước. Biết không còn gì có thể nói thêm trong lúc này về việc điều tra nữa. Tôi đứng lên, cố hỏi hắn một câu chót:

– Anh có biết gia đình tôi thế nào không? Tôi có thể nhắn về gia đình tôi không? Chừng nào thì gia đình tôi mới vào thăm tôi được?

– Gia đình vợ con anh vẫn khoẻ, anh an tâm. Vợ anh có đến tìm gặp chúng tôi và chúng tôi có cho biết anh đang ở đây. Có lẽ không bao lâu anh sẽ được thăm nuôi gởi quà. Về phần gặp mặt thì vì chúng tôi còn đang làm việc với anh, nên anh chưa được gặp mặt. Ngoại trừ…

Hắn dừng lại ở đó hình như muốn tạo ấn tượng với tôi rồi nói thật chậm từng chữ:

– Ngoại trừ nếu anh thành khẩn khai báo thì tôi có thể ký giấy cho anh gặp mặt vợ con anh ngay.

Tôi nhìn thẳng vào mặt hắn ta, nói với giọng thật cương quyết:

– Nếu tôi biết thì đã nói với anh rồi.Tôi thật sự không biết nó là cái gì cả.

Hắn ta không thèm nói với tôi thêm lời nào nữa, lách mình bước ra cùng với tên bên ngoài đi mất. Công an trực Chí Hòa dẫn tôi lên lại biệt giam 2 nhốt tôi trở lại.

Google photos

Vừa bước vào lại biệt giam 2, tôi rũ người xuống như một thân chuối bị đốn gục. Bao nhiêu sức đề kháng trong người hình như không còn nữa. Bây giờ thì tôi lo sợ thật sự vì tôi đã biết tôi bị bắt về vụ gì rồi. Nhưng chuyện này quả thật oan cho tôi quá. Cái thằng quỷ Nguyễn Sĩ Trí này nó hại gia đình tôi rồi. Những lời khai trong khi làm việc lúc nãy, ngoại trừ việc tôi chối không nhận đã thấy, đã đọc cuộn giấy đó, tất cả lời khai đều là sự thật. Chuyện này đúng là tai bay vạ gió đến với gia đình và bản thân tôi. Câu chuyện đã xảy ra khá lâu rồi, lâu đến độ tôi cũng không nhớ rõ vào lúc nào và nghĩ là không có gì nên không để ý tới nó trong đầu nữa. Câu chuyện như sau:

Như tôi đã kể, sau khi gia đình tôi từ rẫy bỏ về Saigon sinh sống vì cuộc sống trồng trọt nương rẫy quá khó khăn, lợi tức không đủ nuôi sống cả gia đình, sau khi về Saigon không có chuyện gì làm, tôi ngồi trước nhà bơm quẹt gas sinh sống qua ngày. Các bạn bè tôi đa số là dân đi tù cải tạo về như tôi và cùng một cảnh ngộ, gần như không thằng nào có việc làm nào ra hồn cả. Đứa thì đạp xích lô, đứa mua bán chợ trời, đứa thì vá xe đạp ở lề đường… Đứa may mắn nhất vì gia đình có chỗ buôn bán từ trước, khi nó ra khỏi trại về thì cũng chỉ làm tài xế không công chở vợ đi buôn bán chứ cũng chẳng biết làm gì hơn. Mỗi ngày cả đám tứ tán mọi nơi kiếm sống, chiều chiều đi về ngang qua chỗ tôi ngồi bơm quẹt gas tụi nó thường hay ghé lại hỏi thăm hoặc tán dóc lẫn nhau một hồi rồi mới chịu về nhà. Đôi khi rảnh rỗi cả bọn lại rủ nhau đi uống vài xị rượu thuốc với nhau.

Thằng Nguyễn Sĩ Trí này đi tù cải tạo chung trại với một người bạn thân của tôi từ nhỏ và tôi quen nó qua anh bạn thân này. Sau đó thì Nguyễn Sĩ Trí thỉnh thoảng cũng ghé qua chỗ tôi ngồi bơm gas quẹt nói chuyện vãn chơi như các người bạn khác. Tính tình vui vẻ cởi mở và những cá tính văn nghệ của nó cũng hợp với tôi, nên hai đứa dễ dàng làm thân với nhau. Một hôm nó ghé qua chỗ tôi làm như mọi hôm, chúng tôi vẫn đùa giỡn chuyện vãn như trước, bỗng nó nói với tôi:

– Tao có cái này hay lắm cho mày coi nè.

Nói xong nó lấy từ trong túi ra cuộn giấy quyến loại người ta dùng vấn thuốc rê, đưa cho tôi. Tôi không biết đó là cái gì nên mở từ từ ra và thấy trên đó viết đầy những chữ. Tôi vô tình đọc, té ra trên đó là một bài thơ rất dài, nội dung phải nói là “cực kỳ phản động”. Đầy những ngôn từ chống đối CS. Phải thành thật nói rằng tâm trạng của anh em sĩ quan chế độ trước của chúng tôi và ngay cả đa số dân chúng miền Nam… dù ít dù nhiều đều có mầm mống bất mãn chế độ và đường lối của chính quyền CS hiện tại, dù ít dù nhiều đều có những ức chế mà bình thường không nói ra được… Cho nên khi đọc những câu thơ “cực kỳ phản động” như vậy, tôi cảm thấy có một cái gì biểu đồng tình. Hình như người viết bài thơ đó đã phần nào nói lên được những nỗi ẩn ức, bất mãn của chúng tôi. Nên mặc dù biết đó là một loại thơ “phản động”… nhưng tôi vẫn đọc. Sự việc chỉ có thế, không hơn không kém! Thằng Nguyễn Sĩ Trí có nói cho tôi biết tác giả bài thơ này là một sĩ quan Nhảy Dù, tác giả viết ra trong tù cải tạo và sau đó khi có anh em về trước, mới viết vào trong cuộn giấy quyến và bọc lại bằng nhiều lớp nylon, sau đó dấu trong một ống thuốc lào mang về. Do đó mà không bị xét hỏi và mang trót lọt được ra ngoài. Tôi nghe Nguyễn Sĩ Trí nói thì cũng chỉ biết thế thôi, cũng không thắc mắc hỏi han gì thêm.

Sau đó tôi trả lại bài thơ cho Nguyễn Sĩ Trí, không để ý gì nữa. Câu chuyện chỉ có thế, tôi tình cờ đọc bài thơ này trong trường hợp như thế. Thời gian trôi qua, tôi cũng đã quên bẵng chuyện đó rồi. Không ngờ thằng Nguyễn Sĩ Trí này làm những gì sau đó tôi không được biết mà lại bị bắt, rồi lại khai dính líu tới tôi trong vụ này. Tôi nghĩ có lẽ nó đã bị bắt và cuộn giấy đó bị tịch thu, sau đó nó khai ra đã cho tôi đọc… Nếu quả đúng như vậy thì thằng này quá sức ngu xuẩn, nó ở tù cải tạo còn lâu hơn tôi nữa mà sao đầu óc nó lại ngu đến thế không biết nữa?

Đối với CS hễ khai ra ai là người đó chết ngay, không cần biết người đó oan hay ưng: Thà bắt lầm còn hơn bỏ sót. Huống chi mấy cái vụ có dính líu tới chống đối Đảng, Nhà Nước, chống đối lãnh tụ CS… Vì vậy mà mặc dù không có chứng cớ gì, chúng cũng vẫn ngang nhiên xét nhà và bắt tôi. Trong chế độ CS này, tiếng nói và Nhân Quyền của người dân đâu có được tôn trọng gì đâu. Ngay cả việc không khai thác được gì ở tôi, chúng ngang nhiên nhốt tôi lại thêm một tháng nữa mà không cần một lời giải thích nào cả, thì đủ biết chúng làm việc đâu cần tới luật lệ gì đâu!!

Lần này thằng Nguyễn Sĩ Trí khai ra tôi thì chắc chắn là tôi bị kẹt rồi. Nội dung trong bài thơ đó lời lẽ quả thật toàn là “đao to búa lớn”. Bài thơ này thật là dài, tôi chỉ nhớ lang mang mấy câu, nhưng bây giờ nhớ lại mỗi câu đó, nếu đọc lên tôi nghĩ đủ để Công An CS khép vào tội chết rồi, cho nên đã tới nước này thì giá nào tôi cũng chối phăng, tới đâu thì tới.

Tuy nghĩ như vậy nhưng trong bụng tôi quả thiệt là lo âu lắm, tôi chắc chắn đám công an thẩm vấn tôi cũng đâu chịu bỏ qua cho tôi một cách dễ dàng khi tôi cứ khăng khăng chối như vậy. Đầu óc cứ nghĩ tới lo lui như vậy hoài cho đến giờ phát cơm, tôi cũng không màng đi ra lãnh cơm. Cả ngày hôm đó tôi cứ nằm dài, không lãnh phần cơm nào. Bụng dạ nào mà ăn uống cho nổi nữa!

Hai láng giềng của tôi ở biệt giam 1 và biệt giam 3 hình như cảm nhận được nỗi lo lắng của tôi nên ngay sau khi công an đóng cửa nhốt các tù lao động vào lại khu tập thể, chị Nguyệt và Thủ Thiêm lên tiếng hỏi thăm tôi ngay:

– Sáu Khổ, anh ngủ hay thức vậy. Có khoẻ không?

Tôi trả lời:

– Cám ơn, tôi cũng khoẻ.

– Hôm nay sao không lãnh cơm. Ráng ăn một chút chứ. Ở trong đây đã thiếu dinh dưỡng rồi mà anh còn không ăn thì làm sao được? – Chị Nguyệt nói:

Cảm động trước sự ân cần của hai người bạn tù, tôi trả lời:

– Tại tôi không thấy đói thôi. Không sao đâu. Cám ơn chị và Thủ Thiêm đã thăm hỏi.

– Hôm nay đi làm việc với chấp pháp, có gì vui không?

– Đâu có gì vui đâu, buồn thì có. Họ không khép được tội tôi nên ngâm lại và bảo một tháng nữa sẽ lên làm việc trở lại.

Thủ Thiêm chen vào:

– Cũng là bổn cũ soạn lại. Họ định nhốt để ép cung đó thôi. Anh đã không có gì thì đừng sợ. Tôi cũng bị y chang như vậy. Họ muốn mình chịu đựng không nổi thì sẽ khai ra cho họ đó thôi.

– Sự thật thì tôi không có làm gì nên chẳng sợ gì cả. Có điều mình bị nhốt oan ức như vậy không biết đến bao giờ. Gia đình thì khó khăn ở nhà, mà lại phải lo lắng cho tôi trong này nữa thì thật càng nghĩ càng đau lòng.

Chị Nguyệt và Thủ Thiêm hỏi thăm và an ủi tôi mấy câu, sau đó cảm thấy nhức đầu quá nên tôi xin kiếu từ rồi nằm xuống nghỉ ngơi. Chỉ có thế nhưng tôi thật biết ơn hai người hàng xóm của mình. Trong hoàn cảnh tù đày, tình người chỉ có thể biểu lộ như thế nhưng thật ra rất đáng quý. Những lời an ủi trong lúc này quả thật đã giúp ích cho tinh thần tôi rất nhiều. Tôi tự nghĩ chị Nguyệt chắc chắn cũng đau khổ vô cùng khi bị nhốt ở đây, vậy mà chị ấy chịu được thì không lý gì mình cứ ủ rủ hoài như vậy. Tự khuyến khích tinh thần mình như thế, nên tôi cố gạt hết mọi chuyện, đứng dậy đi đếm bước 1,2,3, 4 trở lại. Đầu óc tập trung vào việc đếm bước và không suy nghĩ gì cả. Tôi đi cho đến khi mệt mới chịu ngồi xuống và cầu nguyện thật lâu. Lòng từ từ thanh thản trở lại. Sau đó mệt quá tôi nằm xuống nhắm mắt lại, tiếp tục cầu nguyện thầm trong bụng liên tục cho đến khi rơi vào giấc ngủ hồi nào không hay.

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 7 Jun 2024

Phần 24 – Viện Bảo Tàng- Ông Diệm Là Người Thông Ngôn

Người quân sĩ, khi ra trận, có khi thắng khi bại. Thành công mới là đáng kể. Người công chức trong chế độ đã qua, nhục vinh lẫn lộn, và không nên quơ đũa cả nắm. Có cái cũ mới có cái mới, vinh là giữ cho đến già được hai chữ “liêm” “cần”; nhục là lén ăn của đút, làm giàu ngang xương, dẫu không ai biết, còn có lương tâm cấn rứt. Công chức ngày xưa, nay nổi mai chìm, nay thơ thới vinh vang, ăn trên ngồi trốc, chẳng may tham nhũng bị bắt tại trận, mất chức ngồi tù, kẻ nào khéo tu, ăn chắc mặc dày là nổi, không khéo tu, thì chìm luôn trong biển ô nhục mạt kiếp cùn căn. Công chức không nên khinh, và đáng thương hơn là đáng ghét.

Làm công chức lớp xưa, khi giữ tròn được bổn phận, gẫm có chỗ sướng: tuy lương ít ỏi, nhưng vẫn có đều đều, nếu biết liệu cơm gắp mắm, thì khỏi lo như bác nhà nông, nai lưng kệch dầm sương dang nắng mà còn lo hạn hán lụt lội nhiều bề; và vẫn sướng nhiều hơn, chú thương gia, mỗi khi tính sai một con toán hay lầm một chuyến bổ hàng, là có thể tán gia bại sản. Người công chức ngày xưa, sống ở giữa chốn thị thành, khi trẩy Bắc ra làm ở Hà Nội, dinh toàn quyền, khi vào Nam tùng sự nơi dinh thống đốc, nếu có lịnh sai xuống tận Cà Mau thì cũng ở chợ làm nơi dinh quận hay toà bố, không sợ muỗi mòng đỉa vắt, và hưởng đủ mọi thứ phong lưu đời trước, tiệc tùng ăn nhậu, và luôn luôn làm việc nơi bàn giấy, có quạt máy mùa hè trong Nam, và có lò hơ mùa giá rét ngoài Bắc, thương gia hạng trung và điền chủ cỡ nhỏ, làm sao sánh bằng anh công chức cỡ lương bảy tám chục đến một trăm đồng mỗi tháng. Không có cảnh “lặn lội eo sèo” như bà Tú năm xưa nuôi chồng cực khổ, và vẫn ung dung với cảnh “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”, nên có nhiều người chỉ trích. Tôi tả oán mấy câu, rao Nam đôi chặp để vào để thuật chuyện hôm nay, tuy vẫn biết “chuyện thằng tôi là đáng ghét” (le moi est haissable).

Tôi hai lần đã “đụng ông Diệm”. Ngày nay nhắc lại ông, nói rằng “tiếc” thì sẽ có người vọt miệng chửi: “tôi phe Tổng Diệm”, bằng nói “ghét” thì thú thật ông không có làm gì cho tôi có ác cảm, và nên ghét là “thằng đã bỏ chạy” ôm mớ tiền vơ vét cạn kho, bay qua Đài Loan, tên ấy tội đáng chết bằng mười bằng trăm. (Nhưng thiên bất dung gian, chuyện còn dài, hạ hồi phân giải).

Nay xin nhắc chuyện cũ về ông Tổng Diệm. Còn ai hách hơn ông, vào khoảng năm 1960? Thời thế đẩy đưa, ông lên như diều gặp gió. Quyền uy suất sá, bạo lực bao trùm từ vĩ tuyến 17 đến tận mũi Cà Mau. Tổng thống đầu tiên của Việt Nam cộng hoà! Câu “hét ra lửa”.., nơi đây nên dùng một nửa, dùng trọn câu, e ông đỏ mặt!

Ấy thế mà bỗng nhiên, một hôm ông làm thông ngôn cho thằng thơ ký quèn ăn lương công nhựt là tôi, vì vậy cho nên tôi đã hạ câu “làm công chức có khi lại sướng hơn ông Tổng thống!”. Câu chuyện đầu đuôi như sau, xin thong thả để tôi tường tận:

Ngày 17-12-1960, Tổng thống Diệm đón tiếp một ông thượng khách Tàu từ Trung Hoa hải đảo trẩy sang. Hai người vốn quen biết nhau từ buổi ông Ngô xách va li lưu vong thiên địa không nhà. Nay vị thượng khách của ông từ ngàn dặm bay qua đất Sài Gòn để mục kích tận mắt cảnh người vong khách không đất cắm dùi nay bỗng nhiên “bì với vua tuy chưa dám xưa “trẫm”, và cả hai đều rạng mặt.

Ông Tổng nhà tôi, bụng phệ, ôm cái thùng nước lèo “hoài bão quốc gia”.

Ông thượng khách, trái hẳn, mình gầy vóc khô, nhưng thanh tân mỹ mạo.

Cắc cớ thay con Tạo, là hai người bất đồng ngôn ngữ, và cây cầu nối tiếp đôi bên là một tuỳ giá quan cao lớn đẫy đà, mỗi lần chủ khách có dịp trao đổi ý kiến, ông nhà tôi nói tiếng Pháp, ông khách sử dụng rặt giọng Bắc Kinh, và cây cầu “thông dịch” phải nghe tiếng Tây, dịch lại tiếng Tàu, giọng Quan thoại, như vậy chủ và khách mới hiểu được nhau, tôi ở giữa bắt buộc làm nhân chứng bất đắc dĩ, và phải nhìn nhận thuở giờ tôi chưa gặp một ông Ba Tàu nào dùng tiếng Pháp đúng giọng Ba-ri-diên (Parisien) và đúng văn phạm như vị tướng quân thòn-xán (Dường sơn) nầy. (Không biết có phải đó là ông Hồ Liên, sau làm đại sứ bên này chăng?).

Còn ai không biết tính ông Diệm, hễ có dịp thì phô trương thanh thế đến tột cùng, cốt cách thượng thơ cũ triều đình Huế, chưa gột sạch: thôi thì tiền hô hậu ủng, nhà có bao nhiêu sai nha nô dịch, ông dắt hết ra đường: đằng đằng sát khí, đứa chó lửa giật lưng, đứa súng sáu treo đùi, mô tô phạch phạch chạy trước, ô tô bóng loáng theo sau, nghe đồn xe nầy ngồi trong không sợ bị ám sát vì kính che gió đạn bắn không lủng, và bánh lốp ổ ong, dẫu nổ không xẹp v.v…

Hôm ấy ông Diệm đưa ông khách đến viếng thảo cầm viên là một nơi thắng cảnh ông ưng ý nhứt trên đất Sài Gòn nầy. Nực cười tuy ông ưng ý, mà có nhiều người không biết ý ông, nên đã làm cho ông nhiều lần bực tức. Nguyên trước cửa vườn thảo cầm, ngay sân tiền của Viện bảo tàng, từ xưa để lại có trồng hai hàng cây “dái ngựa”, tên gọi chướng tai làm vây vì tới mùa trổ trái, trái vẫn tròn tròn mốc mốc y như hai viên hạ đạn của ngựa không khác.

Một hôm ông vào vườn chơi, hỏi tên, ông quản thủ thảo cầm viên tình thật nói ngay, ông đỏ mặt quở rân “tên không thanh” chút nào. Ông quản thủ sợ quá, hội nhân viên chuyên môn và đề nghị đổi lên mới là cây “nhạc ngựa” (nay còn bảng treo), nhưng quên rằng đã xỏ ông Tổng nhà tôi rất nặng, vì bao giờ nhạc ngựa lại treo lủng lẳng dưới đì? Cũng như trong vườn, hoa thơm thú là không thiếu, có cả chim hạc, chim séo biết nhảy múa theo nhạc điệu du dương, nhưng bộ hạ ông đã xỏ ông nữa, khi dâng lên ông một con “bạch tượng” báo điềm lành, mà con tượng bạch nầy da mốc mốc như đau ghẻ lác chớ không bạch chút nào. Và cũng như ở tận mút vườn, gần sở Ba Son, ông ngoại giao khéo lắm mới đổi được với Phi châu hai con giả nhơn, vóc lớn bằng trẻ lên mười, nhưng cớ chi mỗi lần ông mon men đến gần chuồng để viếng thì vẫn làm trò khỉ tục tĩu trước mặt. Nhưng nói sao hết, ông có tánh bẽn lẽn như gái muốn chồng, từ ngày ông ngự trị Miền Nam, ông nghe đầy lỗ tai những danh từ không thanh tỷ dụ như “dây thúi địt” và cây “cặc chó”, v.v. Ông cố tâm đổi ra cho thanh: Blao làm Bảo Lộc, Djiring làm Dĩ Linh, nhưng bộ hạ ông từng đổi “dây thúi địt” làm “dây mơ tam thể” (vì lá nó xanh tím nhiều màu), nhưng đến danh từ “cây cặc chó”, nhân viên đặc trách ăn đã hao mòn mấy quỹ ngân sách tìm chưa ra danh từ thay thế, thì ông đã hồn quy dị lộ.

Nhắc lại, hôm 17-12-1960, ông bổn thân đưa khách quý dạo chơi viện thảo cầm, hai người dạo khắp đó đây mà trời còn sớm quá chưa tới giờ về dinh ngự thiện, ông bỗng nảy ý cùng với khách đến xem một lần cho biết Viện bảo tàng Sài Gòn, mà ông chưa đặt chân đến lần nào. Khổ nỗi ông không cho tôi hay trước mới chết cha một cửa tứ! Thú thật tôi không phải là một nhân viên gương mẫu, và sở trường của tôi, cũng như của bao công chức khác đồng thời là vô làm trễ, đi về sớm, miễn công việc trôi chạy, để bù trừ những lúc làm thêm giờ bất chấp sớm trưa. Cũng may cho tôi bữa đó, dường như linh ứng mách bảo nên vào giờ ấy, hơn mười một giờ rồi, mà tôi vẫn chưa ra về. Như mọi ngày, tôi ăn mặc rất xoàng xĩnh, một bộ xá-xẩu cụt tay bốn túi, và đang cắm cúi viết viết trong văn phòng. Bỗng cửa phòng mở toát nghe một cái rốt. Ông tổng giám đốc cảnh sát, ông Nguyễn Văn Là bằng xương bằng thịt, đứng tần ngần trước mặt, dõng dạc hô to như giữa trận tiền: “Có Tổng thống viếng Viện bảo tàng! Mời giám đốc theo tôi ra rước!”

Thoạt nghe mấy tiếng, tôi quăng viết, ba chân bốn cẳng, vội chạy một hơi bám sát gót ông Là, hồn vía cũng chạy theo. Vả lại Viện bảo tàng vốn rộng thênh thang như nhà lồng chợ, hai tôi bắt từ văn phòng chạy một mạch đến chỗ ông Tổng thống và các quan khách đứng chờ thì đã gần hụt hơi. Lúc ấy đồng hồ điểm mười một giờ rưỡi trưa. Phái đoàn hiện đã qua khỏi cửa đại môn, lướt qua khỏi phòng mỹ thuật Chàm, và đang đứng ngắm nghía chuyện trò nơi phòng mỹ thuật Cơ-me. Ông Diệm vốn có tánh khó, cấm gọi ông bằng Cụ bằng ông, và chỉ ưng gọi ông trống trơ “Tổng thống”. Nhớ được điều đó, tôi đứng thẳng người, ngó ngay mặt ông, cung kính thưa một hơi không kịp thở:

– Kính thưa Tổng thống, Tổng thống đến quá đỗi thình lình, và vì không hay trước nên tôi không kịp mặc đúng lễ, và đã không kịp ra nghinh tiếp Tổng thống tận cửa viện như lòng mong muốn, xin Tổng thống lượng xét cho.

Nói xong câu ấy, biết rằng mình dối lòng mình vì câu nói gượng ép không tự nhiên, tôi đứng trân nín thở, không khác anh binh nhì đứng trước ông tướng ba bốn ngôi sao. Ông Diệm day mặt lại, nhìn tôi từ đầu chí gót, lấy cây ba-ton nhịp nhịp vào sân gạch, tôi lúc ấy cũng trộm nhìn ông, thấy mặt ông tươi rói, hồng hào như bao nhiêu gương mặt kẻ đắc thời ăn no ngủ kỹ, bỗng ông sầm nét mặt lại… Cặp mắt ông dường như muốn xẹt lửa, cặp chân mày đen đậm lông dài và dày khít, bỗng nhíu lại như báo tin một cuộc sấm sét bất ngờ, rồi bỗng tan ra như mây bị gió tạt. Ông day lại ngó vị tân khách, ông nghĩ ngợi về câu tôi tự bào chữa, ông không gật đầu cũng không bắt tay. Ông ngó lại tôi một lần nữa, phen nầy từ gót chi tóc… Tôi đứng thẳng lưng chờ đổ trận lôi đình. Ông không thốt lời nào, thì xin cho tôi suy nghĩ trộm: ông không chào, tôi không lấy làm lạ. Trong bụng tôi xét, giữa ông và tôi, vả chăng giai cấp và quan niệm rất cách biệt. Ông làm Tổng thống, ông nhờ. Tôi sở dĩ vô làm đây là vì vấn đề cơm áo thê nhi, cũng không phải ăn mày của ai mà phải khúm núm. Giữa ông và tôi, xa cách đến quăng mười lăm bã trầu chưa tới, tôi đâu có đèo bòng cái bắt tay chào. Nó có ích lợi no béo gì cho tôi, rủi gặp tay nhớt, tay mồ hôi bịnh phong thấp lại càng thêm gớm. Thà đừng ngoài mặt làm bộ xã giao mơn trớn, rồi lát nữa ông lên mặt chủ, là đủ tôi cám ơn ông nhiều. Tôi đoán chừng ông nhìn thấy tôi ăn mặc quá lèn xèn, ông lấy đó mắc cỡ hộ với ông khách thượng lân: “Nước Việt Nam tiếng rằng giàu có, có một thằng quản thủ Viện bảo tàng quá nghèo hèn!” Hay là đã có người “tâu” lên với ông, lên tôi là thế thế, lỡ Tàu lỡ Việt, rồi không khinh thầm? Ông có tiếng là người thuần tuý, chuộng thích những danh từ cho thật êm tai, những tên ngọt lịm: Chánh Thành hoặc Đình Thuần? Trung Dung? Nhưng Dung lỡ Dung, Thành chẳng Thành, ông giận đứng trước một người có tên xấu xí. Câu tôi vừa thốt là thành thực tạ lỗi, giọng thiết tha thẳng thắn, ông bắt tôi đợi một giây lâu. Sau rốt, cơn chuyển mưa vừa vần vũ kế gió đánh mây bay mất, ông khệ nệ ban cho hai chữ “Thôi được!” rồi ông lê cây gậy cù nèo và nơ cái bụng nước lèo bước tới, hai hàng chân vịt xàng xê, họ Tạ trong tuồng San Hậu! Trong lúc ông xê dịch, sau trước có tiền hô hậu ủng: nào cảnh sát chìm cảnh sát nổi, thám tử, mật quân, chúng bao vây ông chật phòng; trong lúc ấy tôi là quản thủ Viện bảo tàng, đã có mấy ông Phật Miên bằng đá chở che. Nhờ Trời Phật câu nói của tôi ban nãy làm tan cơn sấm sét. Tôi vẫn thấy và phục ông là con người khá, nhơn chi sơ tánh bản thiện; tự nhiên tôi có thiện cảm, càng thương ông sau nầy bị nịnh xỏ mũi mà hư cơ đồ, đến nỗi luỵ thân, (nhưng sau nầy khi đọc công văn thấy anh em ông ẵm bao vàng trên năm chục ký mà ngao ngán bất cứ ai, lòng tham không đáy).

Nhắc lại, hai tiếng ông ban ra “Thôi được!” đã làm cho tôi hoàn hồn, nhưng cũng vì đó, cái tánh châm biếm cũng lót tót trở lại: chứng nào tật nấy! Tôi vừa nối gót theo chân ông, bụng vừa suy nghĩ: “Có đời nào tôi được như hôm nay, đi đứng gần ông chỉ cách không hơn một thước! Mẽ! Lạ nầy? Cớ sao tóc ông để quá dài, không hớt? Ô, tội nghiệp quá, vì ông làm việc quá nhiều, đến không có thì giờ ngồi cho thợ con nó tỉa bớt để tóc tai bùm sùm như đám hippy già. Ủa? Mà ông tuy ăn sung mặc sướng, mà đã có vài sợi tóc bạc mọc dưới gáy đâm lún phún như râu chú giám? Ông đáng thương thật! Thân không vợ không con, sống không đủ thì giờ hớt tóc. Làm Tổng thống coi vậy mà cực quá, có sướng ích gì? Uý nè? Trời hỡi trời? Ông bôn ba hải ngoại mấy năm trời, mà làm sao ai giữ được cho ông, bộ tussor ông mặc, may kiểu áo bốn nút cổ lỗ sĩ, nhưng hàng nầy đúng là tussor đất Nam Định nổi danh. Trời ơi, bộ đồ tussor nầy đã trỗ vàng vì đã quá lâu năm. Cổ vai đã xùi, đúng ông là một người độc thân không ưa đàn bà, thêm thằng đầy tớ quá lập công, không dám giặt thường sợ áo mau mục rách và vì quá o bế, ủi đi ủi lại mãi, ủi thét đến hàng dợn sóng, ủi như vầy giáp sắt cũng tơi sợi bông chỉ, nói gì tussor. Nếu ông hà tiện quá làm vầy, tiền của dư ông làm gì cho hết? Nhưng nói thật, sẽ chết cha hết thảy, chớ bọn công chức chúng tôi làm gì lên lương được với một Tổng thống quá rít róng như ông làm vầy? Tôi mãi theo sau lưng, suy nghĩ lung tung, bỗng ông dừng bước, ngó ngay mặt tôi và chăm bằm nói trống:

– Hãy nói liếng Việt Tôi sẽ dịch lại. Không được dùng ngay tiếng Pháp. Nhớ chứ?

Ông dặn bấy nhiêu lời, tôi dạ một liếng cụt ngủn, nhưng nhỏ nhẹ lễ phép. Trong lòng, tôi mừng còn hơn trúng số độc đắc. Vô tình, ông đưa cán dao cho tôi nắm để ông cầm dao phần lưỡi. Ông giành nghề thông ngôn với tôi, rồi sẽ biết. Thông dịch tiếng Pháp thông thường đã là khó, nay ông sính tài muốn thông dịch danh từ chuyên môn về khoa khảo cổ, tôi sẽ làm cho đổ lửa cho xem. Ông đã khoe tài, tôi chờ dịp trác. Ông là Tổng thống, tôi chẳng qua một thơ ký quèn, ăn lương công nhựt. Ngoài mặt tôi làm tuồng cung cung kính kính, trong thâm tâm tôi trúng tủ, giữ phần ăn chắc như đánh bài cào, ông chín nút, tôi chộ ba Tây? Làm nơi Viện bảo tàng suốt mười mấy năm nay, tôi đã quá cháo chan thông thuộc và biết éo le từng món cổ vật như đồ chơi để trong túi.

Ông Tổng thống đi đến giữa phòng Cổ Cao Miên, đứng lại lấy gậy nhịp nhịp vào một khối đá vuông và to, đầu tròn, đặt ngay trung tâm phòng nầy và hỏi trống:

– Cái chi đây?

– Thưa Tổng thống, viên đá nầy, chữ Phạn gọi linga, tiếng Việt dịch sợ khó nghe.

– Cho phép nói.

– Dạ thưa, đó là cái ngọc hành, đạo Bà-la-môn thờ dương vật làm thần tạo hoá, sanh sanh biến biến, vũ trụ cũng là đó. Phạn tự gọi linga, Pháp giữ y cũng gọi linga, không đổi.

Tôi vừa nói câu nầy, bỗng thấy Tổng thống đỏ mặt nhưng thản nhiên dịch lẹ:

– Đây là hòn đá thiêng của đạo Bà-la-môn, gọi linga, các người biết chứ? (Cesl une pierre sacrée du culte brahmanique, le linga, vous le savez bien?). Rồi ông lật đật xách gậy, lẹ làng bước qua chỗ khác. Tôi chạy theo định giới thiệu ông đứng lại xem một tượng Phật đá ngồi buông thòng hai chân xuống đất theo điệu ngồi Tây phương, không như các tượng Phật khác, ngồi xếp bằng theo điệu tham thiền thường thấy, nhưng ông chưa hết đỏ mặt, giả chước không nghe và vẫn bước tới trước, tự tìm những cổ vật lạ để ngắm xem lấy mình. Tôi thầm phục ông là người có bản lĩnh, không phải bất cứ ai muốn dẫn dắt, “xỏ mũi” ông thế nào ông cũng nghe, đến đây tôi giựt mình, tự xét tốt hơn là phải biết an phận, ông hỏi gì sẽ liệu mà ứng đối, không nên láu táu mà bỏ mạng sa tràng với ông. Nãy giờ tôi mới hiểu thâm ý của Tổng thống, sở dĩ ông bắt buộc tôi nói tiếng Việt cho ông dịch lại tiếng Pháp là đề phòng sợ tôi nói ngay Pháp ngữ rủi có sơ hở lỡ lời, lấy lại không kịp, và như vây là ông cố ý muốn duyệt lại những gì tôi trình bày, liệu cái gì chính đáng ông sẽ dịch, cái gì thừa thãi có hại, ông sẽ bỏ bớt, như vậy ông sẽ làm chủ câu chuyện và giữ được bí mật, quả ông cao thâm lắm và vì tôi còn thấp trí nên khinh thường. Tổng thống thông qua chuyện linga là nhẫn nhịn lắm, xong rồi nu na đi tới trước. Tôi lại có dịp so sánh và cân nhắc các nhân vật hiện diện bữa ấy. Tôi thấy ông khách Tàu, ăn mặc tiêm tất trong một bộ quốc phục vừa sang trọng vừa đúng đắn, mặt mày ông vừa phương phi vừa nghiêm trang, quả ông là một nhân vật phi phàm. Nhưng tôi để ý nhứt là ông tuỳ giá quan, ông nầy mới là một nhân vật đặc biệt. Ông mặc quân phục cấp tướng, rất vừa vặn đúng thời trang, và có lẽ ông ở đất Pháp và học Pháp văn lâu năm lắm cho nên ăn nói văn hoa bóng bảy giọng đúng giọng kinh thành Paris lắm; Còn ông Tổng thống chúng tôi, thật ra tôi không dám khinh thị ông, nhưng nghe ngóng và dò xét buổi tiếp kiến nầy, thì ông sử dụng tiếng Tây cũng không chi đặc sắc, bất quá là bá quốc, ông nói tiếng Pháp y một kiểu với bọn xơ-krê-téc quét bu-rô như tôi, chớ gẫm lại không hơn, và về giọng nói thì Ơ-nam Huế rặt. Hai nhà ngoại giao, kẻ Hoa người Việt, đàm luận cùng nhau coi bộ tương đắc lắm, mà phải cần dùng đến ba cây cầu, cầu Tàu giọng Bắc Kinh, cầu Nam giọng Sài Gòn, (còn chi hân hạnh bằng) và cầu Tây do một ông Huê kiều nối cho liên lạc quả là một buổi tao phùng “ngàn năm một thuở”, và càng nghĩ càng nực cười cho con Tạo khéo trớ trêu. Tôi đang thầm nghĩ tới đó, bỗng ông Tổng thống đứng lại ngay một viên đá dài kê bên vách, hất hàm hỏi:

– Cái gì đây?

– Thưa Tổng thống đó là đặc điểm của tinh thần đạo Phật phái Cổ Cao Miên. Hình đá nầy chạm tích vị thần Indra biến thân hoá làm con voi lớn có ba đầu, hai đầu tả hữu dùng vòi nắm chặt đầu rắn dữ Mãng xà vương, chạm đuôi rắn quấn chắc hai bên đông tây đại hải, rồi dùng phép thần căng thẳng thân con rắn Khổng Lồ ấy hoá ra sợi dây thần thông dài thiên lý, dùng đó toan tát cạn nước biển để tìm cho được vị thuốc trường sanh bất lão, sẽ làm cho con người trắng da dài tóc sống mãi đời đời thiên thu bất diệt. Thưa Tổng thống, Tổng thống để ý xem như viên đá nầy chạm khấc từ thế kỷ thứ X thứ XI, thế mà linh động vô song, và người thợ đá chế tạo, quả tài tình có một. Dưới nét chạm chỗ nầy, thưa đó là mấy con chim ăn bám, bình sanh theo sát người mà đớp bóng bắt mồi, chim no lòng khỏi tốn công tìm bắt, và đây, thưa Tổng thống, đây là thợ đá tạc hình những người còn mê sa vật chất nên phải chết đuối, thân còn lặn hụp giữa khổ ải trầm luân. Như vậy bức đá chạm tuyệt tác nầy tượng trưng xã hội chúng ta, luôn luôn vẫn có bọn ăn bám ở nhờ, luôn luôn có người đắm đuối trong ba đào biển khổ.

Câu viết tuy dài, nhưng lúc nói, tôi nói chậm và rõ ràng từ tiếng, nói tới đâu tôi trộm thấy mặt ông Tổng thống sáng lên, như bao nhiêu bực dọc nãy giờ đã tiêu tan, tôi thấy ông cười cười dường như vui lên, khiến cho tôi thao thao bất tuyệt rán diễn sát nghĩa và giữ đúng tinh thần của người thợ cổ để lại trong phiến đá câm. Sự thật lúc ấy tôi cố đem sở trường học hỏi bấy lâu cố thuyết phục vị tân khách Tàu và ông Tổng thống công giáo nầy rằng đạo giáo miền Nam từ nhiều đời vẫn có truyền thống riêng và vẫn có chứa ẩn nhiều diệu thuật mà những người theo đạo nước khác chưa khám phá được tường tận. Vừa nói tôi vừa nhìn kỹ nét mặt Tổng thống. Tuy lúc ấy ông đang giữa thời kỳ cực thịnh, nhưng mặc dầu tôi không phải nhà tướng gia, nhưng đầu mày cuối mắt, tôi quá thấy dường như có một cái gì đen tối sắp phát hiện. Một, hay là ông đau gan đau thận? Hai, hay là thời vàng son đã xuống dốc lần lần đây? Tôi tự cười thầm không phải thầy coi tướng tại sao vơ vẩn tìm hiểu chuyện đâu đâu. Nhưng tánh tọc mạch khiến tôi nhìn kỹ quả dưới mắt Tổng thống có một nốt ruồi “yểm luỵ” quả trong đời ông luôn luôn có sự lo buồn, nhưng hà cớ mỗi lần chào cờ trong rạp chớp bóng, bác phó nhòm nào đã quá nịnh, nên đã tẩy mất vết ruồi xúi quảy báo điềm nầy.

Tổng thống vui vẻ bước qua phòng Đế Thiên Đế Thích, nhưng đến đây ông khách thân mật lấy tay chỉ một pho tượng Phật bằng gỗ cao trên ba thước dựng sát vách và lấy mắt hỏi Tổng thống.

Ông Tổng thống lấy cây gậy nhịp nhịp dưới sàn gạch hoa, tôi biết ý bước lại gần, ông hất hàm hỏi:

– Phật nầy bằng gỗ gì, làm đời nào?

– Thưa Tổng thống, vị Phật nầy, trước năm đảo chánh 1945 nhà học giả Malleret đem về từ ruộng sâu làng Phong Mỹ ở Đồng Tháp Mười. Phật làm bằng gỗ mù u và có lẽ đã có từ đời Tiền Đế Thiên Tiền Đế Thích, tức đã lâu đời lắm. Gỗ mù u, danh từ chuyên môn La tinh gọi gỗ “Calophyllum inophyllum”.

– Gỗ chi? – Tổng thống cắt ngang lời tôi nói, vì có lẽ ông không biết nên dịch ra làm sao danh từ lạ tai “Calophyllum inophyllum” nầy.

– Dạ thưa, gỗ mù u. – Và để ông dễ hiểu, tôi lật đật nói trớ lại – Thứ gỗ nầy, ở miền Nam mọc nhiều, quả nó tròn làm gáo múc dầu, mủ nó xức ghẻ mau lành lắm.

– Đây là Phật bằng gỗ, – Tổng thống nương lời tôi nói mà dịch lại – Phật bằng gỗ tìm gặp ở Đồng Tháp Mười, xưa gần ngàn năm làm bằng gỗ mù u, thứ gỗ nầy mủ nó dùng trị ghẻ chốc. (Voici un bouddha en bois, trouvé au Tháp Mười, de près de mille ans d’âge, fait dans un bois qui s’appelle “mù-u”, et dont la résine sert à guérir la gale, là?)

Tổng thống dịch và đưa mắt liếc tôi, tựa hồ nói: “Ta dịch sao, mi không cần biết”.

Thú thật tôi đâu dám bất kính tìm hiểu Tổng thống dịch sát nghĩa hay dịch không sát nghĩa. Tôi cần ông đừng la lối rầy rà tôi là quý, và tôi nói thầm trong bụng: “Ai nói sao, theo mình “ông già nầy” quả là người khá xài được, có thiện chí, nói phải biết nghe, hiềm vì lũ nịnh sàm ngôn quá nhiều nên hư việc”.

Tổng thống và vị tân khách bước qua phòng mỹ thuật Trung Hoa, đến đây tôi mừng được thoát nạn như kẻ tắm sông sắp lội vào bờ, vì đối với một ông Tàu và một ông cựu quan Thượng triều đình Huế, trước mỹ thuật Trung Hoa, tôi nào dám “Ban môn lộng phủ”. Qua tới phòng mỹ thuật Việt Nam, hai ông dừng lại trước một tủ kính, trong có chưng một bức bình phong Pháp lam (cloisonné) xinh xinh, đế làm bằng gỗ trắc quý trổ ra hình chữ “Vương” có vân mây bao trùm, xem khéo lắm.

– Cái ni là cái chi? – Tổng thống hỏi.

– Dạ thưa, đây là bức bình phong Pháp lam của vua Minh Mạng, có bài thi ngự chế.

Ông chống gậy cúi xuống xem, hai người cùng đọc bài thi chữ Hán. Bỗng ông Tổng thống dõng dạc nói:

– Mấy người biết chứ! Các vị tiên vương nước Đại Nam đều là thi sĩ. Đây là một bài ngự chế của ngài Minh Mạng đó. (Vous savez que les anciens Empereurs du Đại Nam étaient tous des poètes. Voici une poésie écrite de la min de lempereur Minh Mạng.Voi là).

Cắt nghĩa xong, Tổng thống đưa khách qua phòng mỹ thuật Ốc Eo, không ngó vật nào, và ông bước đi thoăn thoắt, không cần biết đến ai, tay xách gậy ngoe nguẩy bước ra Đại môn, bọn tuỳ tùng ráp lại tiền hô hậu ủng và tôi thoát nạn. Vị tân khách Tàu nán lại day qua tôi, nói một tràng tiếng Quan thoại, trong xâu dài dọc tôi chỉ hiểu được hai tiếng “tố chè” (đa tạ). Ông tướng quân to lớn xiết tay từ giã, niềm nở như bạn quen từ thuở nào.

Tôi tiễn ra cửa, đứng nhìn, khỏe trong lòng như có uống sâm nhung. Phái đoàn lên xe đi mất dạng, tôi còn tần ngần đứng đó suy nghĩ viễn vông. Nhớ lại lúc chín giờ ban mai, có lão Ngô Quang Huy lại kéo đi ăn hủ tíu cá khu Canh Nông, nếu ăn rồi ăn quen như mọi ngày, cút về nhà luôn, không trở vô sớ để tiếp Tổng thống thì ắt là mất chức. Thiệt là phước ông phước cha để lại? Ủa? Mà sao ông Tổng thống ra về, không bắt tay mà cũng không một liếc mắt chào? Á! Mà thôi! Hơi nào phiền trách. Tội nghiệp bây giờ ông đã chết, nhớ ông, vừa có người hù, ông đã bỏ ngôi chạy mất. Chớ chi lão kia sớm biết thân như ông, thì đỡ khổ cho dân biết mấy?

Trở vô lấy xe đạp, đạp về nhà, kim đồng hồ chỉ đúng mười hai giờ rưỡi.

Vừa đạp xe, vừa suy nghĩ: “Cũng chưa phải là thần thánh gì. Vậy mà có đứa vào chầu, khi trở ra, đi thụt lùi làm chi đến bể chậu quý? Lại có thằng nào đó, nịnh thôi là nịnh, bỏ cả cha mẹ ông bà, để xin rửa tội nhập đạo Thiên chúa, rốt cuộc rồi cũng bị cho ra rìa. Còn mình, biết chừng nào được thảnh thơi, khỏi kiếp làm công chức tạm, khỏi chào cờ, khỏi chầu hầu phiền phức? Lại khỏi mỗi thứ hai hát bài “suy tôn”. Ông không nắm tay tôi, mà ông tự làm thông ngôn cho tôi. Còn khoái gì bằng, rán nhớ để viết bài trước khi đậy nắp quan”.

Cuối tháng chạp, y như lệ, xin điện thoại lên phủ Tổng thống, muốn biết quý danh hai vị tân khách viếng Viện bảo tàng để làm tờ phúc trình hằng tháng, trên phủ trả lời “khỏi hài tên làm gì”.

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 7 Jun 2024

Phần 23 – Buổi Tiếp Xúc Với Ông Ngô Đình Cẩn

Ngày 6 tháng 4. Bữa nay chúa nhật, phái đoàn được thong thả trọn buổi sáng. Tôi rủ giáo sư Hoạch và Thẩm qua phố Gia Hội. Ông Hoạch gặp gánh bún riêu bán dạo, thèm món nầy từ lâu nên gọi một tô và đứng ăn ngoài đường bất chấp người thấy. Trong khi ấy tôi ghé nhà buôn đồ đồng góc đường nơi đầu cầu và trả mua được một lò hương (hương lô) có quai xách và một siêu đồng để nấu nước pha trà, hai món nầy giá 350$ và 90$, cả thảy là 440$, sau có người ở Sài Gòn nài mãi nên tôi đã bán. Buổi trưa, Hoạch và Thẩm, và tôi, bỏ bữa cơm của ông viện trưởng, nhảy dù đi ăn bánh khoái khỏi cầu Đông Ba đường Võ Tánh, đúng là ngon và lạ miệng. Nhưng khi trở về chỗ trọ thì hết khoái, vì có lịnh dặn chiều nầy không được đi đâu, và phải túc trực vào 17 giờ, y phục phải cho đúng đắn và phải cho đủ mặt để đi chào ông Cố! Cố đây là cố vấn Ngô Đình Cẩn, Cậu út Trầu xứ Huế, cục cưng của triều đình nhà Ngô danh gọi cố Trầu. Và bữa ra mắt ông Cố vấn nầy mới là đáng kể, mấy trang viết từ trước chỉ là để có món tiền nhuận bút của tạp chí Bách Khoa của anh Lê Ngộ Châu. Tuy nói rằng đủ mặt, nhưng trong phái đoàn có hai linh mục dòng Tên và một bà đầm gốc Nga, lẽ đáng phải có mặt, nhưng đoàn viện cớ xin ba người ở lại nhà đừng đi. “Chúng tôi không chừng có bàn đến quốc sự cơ mật” – kỳ trung, ông cố vấn ghét Tây và không biết tiếng Tây, nên không khứng tiếp, và báo hại ông viện trưởng phải một phen nói láo. Trước tiên, ghé nhà ông viện trưởng, ba đứa tôi cám ơn người đã tất tình và đã lo lắng cho cả đoàn mọi việc từ miếng ăn đến chốn ngủ. Ngồi nơi xa-lông của ông Cao Văn Luận, anh Doãn Quốc Sỹ ham làm tàng, xin hút nhờ một điếu thuốc lào, vì thấy bình điếu tuy bằng gốc tre nhưng có viền bạc khéo xem rất mỹ thuật không dè tuổi trẻ láu táu, vừa kéo một hơi là sặc sụa, ho có dây, ai nấy đều cười lên ruột.

Cặp mắt viện trưởng long lanh dưới đôi nhỡn kính trắng. Ông Lâm dường rất thân với viện trường và xưng hô “con” ngọt. Đồng hồ điểm quá 17 giờ, xe ca-miông chúng tôi mới đến trước cổng nhà ông Cố vấn ở Phú Cam, nguyên là nhà cũ của cụ cố Ngô Đình Khả để lại. Ông Cẩn rất có hiếu với mẹ, nên mặc dầu thay bực đổi ngôi, nhưng mẹ ở đâu con ở đó. Vả lại tánh bà cụ cưng con út nhiều cho nên nay giang san trong tay, “phú hữu tứ hải”, bà cụ và cố vấn, ưng thủ cựu thành Phú Cam hơn là điện ngọc lầu son chốn khác. Xe ngừng cửa ngoài, có người vào báo. Ông Cẩn mở hé cửa hông ló đầu ra, liếc thấy chúng tôi độ mười lăm mười sáu người, vội ập cửa lại, miệng la lớn: “Chu choa! Đi đâu mà đông rứa! Ai có đủ cho mà ăn?”. Đoạn ông mời riêng ông viện trường bước vào sân trong, hai người to nhỏ với nhau, kế ông viện trưởng bước ra, dặn khéo chúng tôi hãy đi bách bộ giây lát để ông cố vấn có thì giờ xếp đặt cuộc tiếp kiến. Lối nửa giờ sau, ông cố bổn thân ra mời, và khi cho khách vào, không hiểu vì ý gì, ông không mở cửa cái và chỉ mở cửa hông và cho chúng tôi lách mình vào từng người một. Trong khi chúng tôi đều mặc đại lễ đại phục, nơ, cà-ra-oách đàng hoàng, chính tôi chật vật lắm mới mượn được một cà-vẹt đen dư dùng của lão Thẩm, trong khi ấy ông Cẩn mặc một bộ đồ lụa lèo, kiểu “xá-xẩu” cắt may như kiểu áo bọn lính mật thám thời Pháp thuộc, chưn mang đôi giày da láng đen kiểu đi ban (escarpin).

Ông đứng hiêu hiêu tự đắc chờ ông Cao Văn Luận, giới thiệu từng người, rồi ông mới bắt tay chào. Nói thật, tôi lúc ấy chưa biết cái oai của ông cố vấn. Tôi thuở nay vẫn tôi là tôi, tôi kiếm chuyện cũng không hề bợ đỡ ai. Tôi lại có cái tật lấc khấc, cứ tưởng người ta cũng như mình, tóm lại tuy có tuổi nhưng tôi vẫn làm như “ngựa con chưa từng gặp khái”. Tuy ông Cẩn, năm 1958, đã ở ngôi cố vấn của anh mình từ bốn năm nay, từ 1954, nhưng nói chí tình, ông chưa hách lắm như mấy năm sau nầy. Ông Cẩn vừa bắt tay mọi người, vừa nói chuyện không thôi với ông Cao Văn Luận. Tôi mới là dại cho chớ! Đến phiên tôi chào, tôi vừa bắt tay ông Cẩn, miệng vừa dứt một câu chuyện kháo với một sinh viên. Tôi bước tới nắm tay ông và gặc thật mạnh, bất ngờ tay áo của ông bật lên và lòi ra một chiếc vòng bằng vàng thật lớn lủng lẳng khuất trong tay áo, nên nãy giờ không ai thấy. Tôi giựt mình và thầm tự trách mình đã quá trớn, cũng may ông Cẩn không nói gì, duy tôi còn nhớ tay ông mềm mại khác thường và no tròn như bàn tay một người đàn bà ăn không ngồi rồi, hoặc nói theo giọng thầy tướng, như bàn tay một người phúc hậu, giàu sang sung sướng mãn đời khỏi lo. Chiếc vòng ông đeo đang làm cho tôi lưỡng lự phân vân, thì ông đã buông tay tôi để bắt qua lay người kế tiếp. Cùng một lúc tôi bước vô trong và cũng vừa lấy tay gãi mũi, thoạt nghe thoảng qua tĩ quan rõ ràng là một mùi “nị”, một mùi Chà, một mùi hương lâng lâng nửa như trầm hương, nửa như nước hoa của bọn thầy phù thuỷ Xiêm-Miên, hay Ấn Độ quen dùng. Lạ quá! Người gì đeo vàng như gái, lại xức dầu thơm!

Bàn tiệc vẫn đặt chưa xong, khách vào trong vẫn đứng tần ngần lóng ngóng. Ông Cẩn mời chúng tôi đi một vòng với ông trong vườn, để tiệc được sắp xếp an bài. Nhà họ Ngô Đình, lớp xưa như thế nào, chưa biết được. Chớ cảnh Ngô gia trang (nên gọi đây là Vương phủ chưa), năm 1958, lúc tôi được biết, cũng là lạ lùng lắm: Vuông nhà chính, mái lợp tranh, có lẽ là nhà tổ phụ từ ông Khả để lại sao thì nay giữ y không đổi. Đứng ngoài sân dòm theo cửa sổ, thấy bên trong lót nhiều bộ ván gỗ, và sao nhiều thế? Thứ ván hai, tức hai tấm cỡ chín tấc bề ngang, ba thước, ba thước hai bề dài và hơn một tấc bề dày, lót làm một bộ ván mỗi bộ, mặt bóng lưỡng, dường như mỗi ngày mỗi đánh bóng lau giồi nên lên nước đỏ au láng trơn thấy mặt. Ván nầy do ông bà để lại hay vừa sung công đây đó đem về và để chật nhà làm vầy? Tôi lại thấy rất nhiều người chạy lăn xăn trong nhà, mặc áo dài xanh, chân đi đất không guốc dép, vì đứng xa nên không rõ những người nầy nam hay nữ, đàn bà hay nội thị không râu nay lạc mất vua theo chầu ông cố, hoặc nữa đây là hầu thiếp tôi tớ tay sai. Thảy đều sồn sồn, không người nào trẻ. Chung quanh bốn góc nhà nầy có dựng bốn cái nhà canh lô-cốt cao cẳng, đây có lẽ là bốn tháp canh mới xây cất gần đây, kiên cố lấm vì làm bằng bê tông cốt sắt, nhưng ông cố Trầu mới vọc vạch học chơi đồ cổ mà không có chút hiểu biết gì về chiến thuật học, nên bốn cái tháp canh nầy, phần trên giống giống cái bồn chứa nước của các xi-tẹt nhà Tây miền Nam, có thang sắt leo lên, còn khúc giữa biến thành lồng lớn, ông nuôi một con thượng cầm, và sát dưới đất có một chuồng khác, ông nuôi một con hạ thú. Ông Cẩn không nói ra nhưng muốn địch thể với Sài Gòn, lập riêng một vườn bách thú, vừa nuôi chim lạ thú lạ, như voi có, cọp có, ngựa có mà cũng có chim lớn con như nhan sen, già đãy v.v… Một điều đến nay tôi không cắt nghĩa được là hôm ấy chính mắt tôi thấy ông Cẩn gọi một con hổ con lại gần lưới chuồng, ông đưa mồi cho hổ ăn, một tay ông vuốt đầu nó như ta vuốt đầu mèo. Ông có ma lực gì? Trong buổi chiều hôm ấy, Hoạch và tôi bị ông sửa lưng nặng. Trong khi ông mắc bận cho cọp ăn mồi, bỗng giáo sư Hoạch đưa vài cô nữ sinh đến gần và cắt nghĩa: “Đây là hổ, hổ ăn thịt”. Nói chưa hết câu, bỗng nghe có tiếng Cố gắt thật lớn: “Hừ? Hổ nào ăn thịt? Người ta đâu có tiền nhiều mà mua thịt cho hổ ăn? Hổ nó ăn cơm!”. Chúng tôi ai nấy đều nghẹt thở khi nghe Cố giải thích làm vậy riêng tôi rất khoái thầm khi thấy một ông giáo sư đi học bên Tây về, bị Cố dạy đời, Hoạch thấy tôi che miệng cười, Hoạch oán tôi mà tôi không hay biết và lát nữa anh em cô bác sẽ biết cách trả thù của Hoạch. Nghe Cố giảng bài bác vật học xong, mỗi người tản lạc đi xem chỗ nào mình thích. Bỗng một nữ sinh kêu gọi tôi giựt dội: “Thầy ơi thầy? Lại đây thà xem con chim gì dữ quá, nó mới nuốt sống một con chim bồ câu đây nè?”. Tôi bước đến gần lồng, nhìn kỹ con chim và làm tàng, nói lớn, cắt nghĩa vừa cho cô nữ sinh và cả nhóm nghe: “Đó là con chim Pháp gọi marabout. Trong Nam, thấy nó có cái đãy dưới cổ để đựng cá tép đem về cho con, nên gọi con già đáy, nơi khác thấy nó đầu trụi lủi không còn một sợi lông nào nên đặt tên nó là “con già sói”. Vừa đến đó bỗng nghe sau lưng có tiếng “Hừ! Hừ” y như lúc nãy, vừa day lại thì thấy Cố Trầu. Ông hừ tôi rồi nói: “Nói tầm bậy! Đó là chim ông Lão, biết chưa?”. Tôi nín thinh chịu trận, nhưng trong bụng thấy tức mà không dám phản đối. Tôi đưa cô nữ sinh qua chỗ khác và để gỡ xấu, tôi nói nho nhỏ đủ cho cháu ấy nghe: “Cố nói khi nãy thầy không dám cãi. Vì ở Huế gần vua chúa, nên dân ở đây lễ phép quá độ, như vậy mà còn nay rầy mai phạt. Thấy già mà không dám dùng chữ già và bởi huý nên dùng chữ lão. Lão hay già cũng vậy. Một đàng thích nói chữ, một đàng ưa dùng nôm. Bọn ta, người trong Nam, không có vua từ lâu, nên mạnh miệng: hễ chim sói và già thì gọi chim già sói, thấy nó có đeo cái đãy thì gọi con già đãy cho vui vui, kỳ trung không có ý gì thất lễ. Nhưng cháu giữ đấy, Cố nghe e khó cho thầy”.

Quan khách đi một vòng giáp khu vườn và đang đứng xem một con voi nhỏ ăn mía cây thì có người lại báo tin tiệc dọn đã xong, nên Cố mời chúng tôi trở lại nhập tiệc. Nghĩ cho ông Cố nầy cũng thường thật. Mời chúng tôi tới nhà mà không cho chúng tôi vào nhà. Bàn tiệc đặt trước đại môn, nơi sân rộng có trồng lan chậu và lan treo (phong lan), lúc ấy đang trổ bông, hương đưa phảng phất.

Trong lúc các anh em đưa nhau tìm chỗ ngồi, thì cái tật tôi không chừa và tôi còn lục đục mảng nhìn một con cọp từ xa đứng trấn góc vườn, trong cảnh nhá nhem gần tối. Mới thoạt trông thấy hình dáng một con cọp to lớn đen đen, ngồi chồm chỗm hai tay trước chống xuống đất, xấu xí và không được khéo lấm, không ra vẻ cọp thiệt, cũng không oai nghi mỹ thuật chút nào trong bụng có ý khinh thầm và nói trong bụng: “Cọp dồn trấu xứ nầy làm dở quá, chưa được tinh xảo như trong Sài Gòn? Đến chừng tôi lại gần xem kỹ, tôi hết sức kinh ngạc, vì không phải cọp dồn trấu mà kỳ thật đó là một hòn đá cuội kinh niên hình dáng rõ ràng là một con hổ chực mồi, và như thế đây là một vật thiên tạo kỳ quái không đâu có. Hổ đá nầy, nghe đâu, Cố đã chọt trong Đại Nội nhà vua, Cố ưng ý từ thuở nào nên xúi bọn nịnh nhắm mắt cho tụi nó rinh về đây, biến vườn cố làm ngự viên, và báo hại thạch hổ thôi chầu vua về chầu Cố vấn! May thay khách ngồi bàn còn chừa cho tôi một ghế đặc biệt, là để tôi ngồi cách Cố ba ghế khác đều có giáo sư ngồi. Cố ngồi đầu bàn đưa lưng vào nhà, đầu kia ông viện trưởng Cao Văn Luận ngồi, mặt ngó vô nhà. Tôi ngồi bên phải của Cố, tức ngồi bên tay trái ông viện trưởng; và như vậy tôi ngồi ở khóm giữa, và bao nhiêu sinh viên nam và nữ, chia nhau ngồi các ghế còn lại. Tôi sẵn đói và khát từ ban chiều nay thấy trước mặt một ly bia lạnh mát là tôi không nhịn được, cứ việc hớp và ngà ngà lúc nào không hay? Trong nhà dọn ra để trước mặt mỗi vị quan khách một chén lớn bánh canh tôm, thịt và cua. Tôi sớn sác lấy muỗng múc một muỗng đầy đưa vào miệng, nhưng mùi tanh của tôm không mấy được tươi và mùi bánh canh nửa lạnh nửa nong nóng bắt tôi rùng mình, muốn ói ra. Tôi cúi gầm đầu xuống bên tay phải, định lén nhổ xuống đất giống gì nhờn nhờn ngậm lo trong miệng, bỗng tôi đánh thót giựt mình vì sát bên tôi có một con chó bẹt-rê a-lơ-măng (chó ngao Đức) to lớn, lưng đen hông vàng, cặp mắt sáng quắc, le lưỡi thè lè canh tôi nãy giờ. Tôi lật đật day đầu qua tay trái, cũng định nhả phứt cái gì đang ngậm xuống đất, nhưng chưa kịp nhả thì tôi thấy một con chó danois ngồi chồm hổm cách tôi không xa, và con chó nầy đầu chần vần trông còn dữ tợn bằng mấy con bẹt-rê kia nữa. Nguy quá tôi không còn dám nhúc nhích cụ cựa gì được. Triết lý thầy Tàu đã dạy, phải biết “tiên bảo kỳ thân”. Thôi thì, nay nhổ bên ni không được mà nhổ bên tê cũng không xong, bên nào cũng có tài cẩu (đại cẩu) chực hờ ra tay, không nhổ ra được thì chỉ còn một cách an toàn hơn cả là đừng cần biết vật kia tanh hôi đến bực nào và cứ nhắm mắt thủ tiêu nó vào bao tử! Đó là thượng sách! Nếu ực một cái chưa trôi, thì rán ực hai ba cái, chừng nào thứ kia nằm trong bụng thì tức là tai qua nạn khỏi, chớ lúc ấy còn kén lừa còn chê tanh chê hôi, người ngoài biết được thì e khốn khó đến mình! Triết lý là đó! Ngẫm nghĩ tới đó, tôi buông cái muỗng bỏ mứa tô bánh canh và chụp lẹ ly bia thứ nhì, nuốt ực ực một hơi cho sạch miệng. Tôi đang bực mình, bỗng nghe một nữ sinh mời tôi xơi hột vịt lộn:

– Thầy ơi thầy, hột vịt lộn úp mề, ngon quá, thầy! Mời thầy xơi với chúng con?

– Hứ! – tôi trả lời – Ai đời ra đây mà ăn hột vịt lộn bao giờ? Muốn ăn hãy đợi về trong mình mà ăn. Trong Chợ Lớn bán rẻ rề, lại thêm được ở tại nhà, dẫu có chột bụng phá bụng thì cũng ít bần tiện như ở đây. Tuy vậy, lúc ấy tôi đã say nên không giữ lời và nói tiếp, nếu cháu ăn không hết thì cứ dời mấy đĩa hột vịt lại gần đây thầy thủ tiêu cho mà xem!

Lời nói là lời nói chơi, pha lửng với mấy cháu nữ sinh, không dè lọt vào tai ông cố vấn. Ông nghe được, nói tỉnh bơ: “Ăn hết cho về ăn còn ỏ lại!”. Thế là kẹt! Ai biểu? Tôi ngồi làm tỉnh, nhưng trong bụng đánh lô tô từng hồi. Tôi phải nói nhỏ năn nỉ các cô nữ sinh, tội nghiệp thầy, lén dời mấy đĩa hột vịt ra xa, không thì thầy sẽ tử trận hôm nay tại Huế.

Tôi đang ngồi, trong ruột bào chọt vì hai ly bia uống khi bụng trống, tôi liếc thấy mấy đĩa nem ngon lành sắp bên cạnh, tôi vội gắp một chiếc cho vào mồm nhai trệu trạo, bỗng nghe dường như nem nầy khác lạ, sao lại nong nóng.

– Thưa ông, tôi hỏi nhỏ viện trưởng, nem ở đây như vầy hay sao? Tại sao nem lại ấm ấm nóng nóng như vầy?

– À, nem Huế thường người ta phải để cũ thì mới dai giòn, viện trưởng Luận đáp. Nay nem nầy chưa kịp cũ, còn mới quá. Muốn cho nó cũ đi, phải luộc sơ nên nóng.

Bỗng tôi thấy một chàng trai vạm vỡ ra đứng hầu cạnh ông Cố: người nầy mặc bộ âu phục kiểu sọt (short), áo ngắn tay, quần cụt trên gối, để lộ hai nắp tay gân guốc hai vế đùi thịt no tròn cứng rắn, lạ nhứt là khuôn mặt người nầy vuông vuông, xương cằm lớn, chân mày liên mi, dưới cằm tuy cạo nhẵn nhưng còn ló râu mới mọc xanh xanh bó hàm giáp mí, chạy từ quai hàm nầy liền qua mí hàm kia, nhìn lâu quả không phải người Việt chính cống. Sẵn ông viện trưởng nãy giờ tỏ ra có cảm tình với mình, nên tôi đánh bạo hỏi nhỏ ông một câu tiếng Pháp:

– Thưa, hết thảy người ở Huế đều một típ như người nầy hả?

– Không! – Ông đáp nhỏ – Đó là một tên Nhựt!

– Thưa, nếu là Nhựt, sao lại ở trong nhà nầy?

– Vâng, đó là một tên hộ vệ riêng của Cố vấn. Ông dùng tiếng “gác-đờ-co” (garde corps).

Tôi nhìn kỹ lại một lần nữa, quả thấy anh nầy bộ tịch vạm vỡ, xứng đáng là một vệ sĩ đủ sức chống đỡ cho một người sẵn tánh sợ ám sát như Cố Trầu. Kế đó, tôi nghe tiếng ông dõng dạc hô to lên như trên sân khấu hát bội:

– Trẻ tớ! Đem trầu cho ta!

Tôi nghe tiếng dạ rân và tức thì anh hộ vệ Nhựt ban nãy chạy vô nhà trong bưng ra một ô trầu, hai tay dâng lên Cố một cách rất lễ phép, và rất có điệu bộ. Cố thò tay lấy ra một lá trầu, vừa têm vừa cuốn lại gọn gàng, bỏ vào miệng nhai bỏm bẻm rất thành thạo như người quen ăn trầu xỉa thuốc theo lối xưa. Bỗng chút có một anh hộ vệ khác cũng bặm trợn như anh hộ vệ Nhựt nãy giờ, bưng từ trong nhà ra một cái ống phóng thau, chùi bóng thấy mặt, dâng lên cho Cố nhổ trầu. Dâng rồi đứng hầu, uy nghiêm như đứa tớ trung thành thuở vua chúa còn trị vì. Bất giác tôi suy nghĩ thầm: “Mẽ? Lạ quá? Lão nầy là ai? Đực rựa hay bán nam bán nữ, tức là lại cái? Mà lại cái sao được, vì vừa rồi có người nói với mình, lão có tánh ưa ăn vụng, thỉnh thoảng lén lút lão ưa mượn vợ đám nịnh thần chầu rìa. Mỗi lần có mụ nào đến nhà trêu bẹo, dâng cơm sát giường, lão bất dung tha “đá chẳng theo!” Nghe nói tánh lão không thích con gái tân, thiếu chi người muốn gả con cho lão, còn nheo nhẻo mà lão không ưng, dẫu tiên sa phụng lộn, lão cũng không đàng, lão chỉ khoái mượn xài đỡ đàn bà của bọn nịnh thần, vừa tiện lợi khỏi tốn tiền nuôi cơm, vừa là “đất có cày rồi” dễ khai phá! Kiếp trước lão là chim cu, hay tu hú, thích đẻ trứng cho chim khác ấp. Ổ sẵn! Nhưng nghe đâu vỏ quít dày, có móng tay nhọn! Bọn quỷ cái cũng khôn không vừa, được nằm với Cậu thì tha hồ mượn tiền cậu làm vốn, triệu nầy qua triệu kia, (nhưng đó là việc khác). Nghe nói lão con đùm con đề với mụ Luyến. Nhưng tại sao đàn ông đực rựa gì mà tay đeo vòng vàng, thêm xức dầu thơm có mùi thầy Ba Chà, lại biết nhai trầu xỉa thuốc, thật là lạ! Tôi trông mau mãn tiệc về sớm cho khỏe, nào ngờ đại hoạ sắp đến mà không hay. Bỗng không, Hoạch lão giáo sư chưa vợ, ngủ chung hổm rày một phòng với Thẩm và mình, có lẽ lão oán mình dám cười khi Cố dạy “cọp ăn cơm”, nên gây chuyện:

– Thưa Cố vấn, đây là cụ Sển, làm quản thủ Viện bảo tàng ở Sài Gòn. Cụ rất sành về đồ cổ. Như Cố vấn có cần dùng hỏi điều gì thì sẵn sàng đây xin Cố vấn hỏi cho chúng tôi nghe với cho vui.

– Được lắm! – Cố đáp – Trẻ tớ! Đâu nà, vô khênh cái khuông tiền cổ ra đây cho ta nào.

Tôi ngồi chết điếng mà không biết làm sao thoát, vì mình dốt, chữ không đầy lá mít, làm sao đọc chữ trên các tiền cổ cho rành, nói bậy anh em ở đây cười chịu sao nổi. Cũng may, có cô hồn độ mạng. Khi khuông tiền được đưa ra, tôi làm gan bước tới xem, trong lòng mừng khấp khởi, vì đã tìm được lối thoát. Quá trên khuông, tiền sắp không có thứ lớp, thay vì sắp theo niên hiệu các đời vua lại sấp theo cỡ lớn nhỏ, thành thử tuy xem đẹp mắt nhưng lộn xộn năm trước năm sau. Tôi bình tĩnh nói:

– Thưa Cố vấn, khuông nầy có nhiều đồng có giá trị lắm. Tiếc một chút là người sắp tiền chưa rành về sử học, nên sắp chưa được đúng chỗ. Tường nên cho gỡ ra và sắp lại cho có thứ tự thì hay hơn nhiều.

Ngờ đâu nói làm vậy, là tôi tự chôn sống lấy tôi. Cố vấn nhổ cổ trầu và hỏi:

– Sao vậy?

– Vì đây, thưa Cố vấn, đồng tiền nầy – Vừa nói tôi vừa lấy tay chỉ lên khuông tiền – đồng tiền nầy niên hiệu đề Thiệu Trị (1841- 1847) lại nhè sắp lên trên tiền nầy, niên hiệu Minh Mạng (1820-1840). Trái lại, tiền nầy, hiệu Tự Đức (1847-1883) lại sấp trên đồng Gia Long (1802- 1819), con đứng trước cha, cháu trước cố nội, kỳ quá.

Đến đây, giáo sư Hoạch, có lẽ chưa hết hận nên chưa chịu buông tha tôi, Hoạch hỏi tiếp:

– Nãy giờ cụ Sển cắt nghĩa nghe thông quá. Tưởng Cố vấn nên cầm cụ ở lại đây vài ngày, sắp đặt bộ tiền cho có thứ tự rồi sẽ về. Cụ Sển bằng lòng ở lại giúp Cố vấn chứ?

– Thưa Cố vấn – tôi làm tỉnh đáp – đó là lời ông bạn giáo sư muốn nói chơi vậy thôi. Tôi mà chữ nghĩa bao nhiêu. Việc ở lại Huế sấp tiền là việc mọn, tôi rất vui lòng ở lại nếu Cố vấn cần dùng. Nhưng làm như vậy có khác nào ở Cố đô nầy hết nhơn tài, hết người lỗi lạc hơn tôi hay sao? Có lý nào.

Quả thật, câu nói êm xuôi chạm ngay lòng tự ái của Cố. Ông nói lớn:

– Thôi được! Tôi không cần người nào ở lại cả. Ở Huế nầy thiếu chi người hay giỏi. Dẹp tiền vô bây!

Thế là tôi thoát nạn. Hú hồn! Câu chuyện đến đây bắt đầu thấy nguôi, người nào cũng muốn rút lui. Ông trưởng đoàn T.B.L ra dấu hiệu. Một cô nữ sinh, gốc miền Nam, vừa xinh vừa bặt thiệp nhứt trong đoàn, đứng dậy lễ phép nói mấy câu vừa gọn vừa đầy đủ trước cảm tạ lòng chiếu cố của Cố vấn, nhờ đó phái đoàn hưởng được mấy ngày vui chơi học hỏi rất nhiều về Huế đô, sau rốt vừa từ giã để mai nầy lên đường trở về Sài Gòn. Cả bàn tiệc khi ấy đều đứng dậy và tựu lại gần Cố vấn để nghe ban huấn từ. Nhưng tôi nào có nghe được gì ngoài mấy tiếng Cố đô, Cố đô, lặp đi lặp lại không biết đến lần thử mấy. Ông nói không đầu không đuôi rời rạc như bã trầu ông đang nhai, nhưng thật tình, lúc ấy ông tỏ ra rất hảo tâm, vì hứa hẹn phen sau, nếu chúng tôi ra Huế đô, sẽ được dùng xe nhà đi đó đi đây, khỏi nạn “u mê” vì ngồi trên sạp chiếc xe mười bánh. Một lần nữa, và đây là lần chót, chúng tôi bắt tay từ giã Cố vấn, bàn tay mềm mại tốt phúc của một người có một thuở làm lãnh chúa ngoài nầy, hét ra lửa, địt ra khói. Anh em không giận lâu, tôi và Hoạch làm lành, ngủ sớm để mai lên đường về xứ.

Ngày 7 tháng 4 – Sáng bốn giờ đã thức. Năm giờ rưỡi, xe mười bánh nhà binh đến rước, muốn u mê cho u mê luôn. Cũng một lần nầy rồi về đến nhà. Xe cây, không nệm, mỗi lần đường xấu xe dằn, ngó mặt các cô nhứt là bà L., tội nghiệp và quên đau. Lót mấy cái khăn lông lau mặt cũng không thấm tháp. Xe leo lên đỉnh đèo Hải Vân, ngừng lại dòm trời, mây, nước. Lòng thấy lâng lâng ngặt nỗi không biết làm thi. Xe đến Đà Nẵng, trời còn sớm chán.

Trước vào xem Viện bảo tàng đồ cổ tích Chiêm Thành (musée parmentier), rồi lên xe dạo khắp Ngũ Hành Sơn, trở lại Đà Nẵng dùng cơm Tây nơi một tiệm Hải Nam rất vui và ngon miệng. Mười bốn giờ rưỡi, ra phi trường, bay được nửa giờ, máy bay bị gió hút lọt vào một lỗ giữa trời thiếu không khí gọi là trou d’ air, đang bay bỗng rơi tọt xuống thật thấp, tưởng đà bỏ mạng không còn thấy mặt vợ con. Cánh quạt vẫn quay mà máy cứ rơi, vì thiếu gió. Nào bùn rền lật tốc, nào kiếng đen đeo mắt, nào nón cát hai lão linh mục luôn và người bị hốt lên rồi quăng mạnh xuống nền tàu. May sao máy bay kềm lại vững, và bay tiếp tục, nhưng phải một phen lên ruột. Mười sáu giờ rưỡi, đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhứt.

Về đến nhà, không lo cho thân, lật đật lấy mấy món cổ ngoạn ra xem, mừng quá, không có món nào hầy hấn. Có mấy chiếc nem mỏng như lá lúa và mấy gói mè xửng làm quà cho mẹ con nó mừng. Chuyện ông Cẩn, gói kín, để hôm nay mới thuật (1968). Tuy đó là câu chuyện khảo, như món thịt nguội, nhưng hâm lại vẫn nóng. Năm nay viết lại nữa, cũng còn được ăn, và thì giờ qua mau quá.

“Thuật một chuyện đi săn đồ cổ Huế” đã đăng lần đầu trong Bách Khoa số 275 (15-6-1968) và số 276 (1-7-1968), cũng như bài “Nghiên mực Tức Mặc Hầu của vua Tự Đức” (Bách Khoa 290 -291 số xuân Kỷ dậu 1969) và cũng như bài “Chuyện bảy cây ngọc Như Ý tại Viện bảo tàng Đài Bắc (Bách Khoa số 292 ngày 1-3 -1969) tôi đã viết lại các bài nầy trong ba tập “Khảo về đồ sứ men lam Huế”, nên nay xin miễn chép lại trong tập Hồi ký nầy. Rủi cho ba tập nói trên, tôi viết xong từ năm 1972 nhưng không có người chịu xuất bản. Sau tôi xin được Bộ Giáo dục ưng xuất bản (Nghị định số 223/VHGDTN/VH/KT/NĐ ngày 25-7-1974, tiền nhuận bút 250.000 đồng tôi đã lãnh và ăn tiêu rồi; nhưng về xuất bản cứ diên trì mãi, đầu năm 1975, ba tập bản thảo chạy đến cơ quan Văn hoá và Trung tâm Học liệu (số 240 đường Trần Bình Trọng) rồi kẹt luôn ở đây luôn về gần 200 bức ảnh tài liệu cho đến ngày được giải phóng. Tôi không lãnh ra và vái được thấy xuất bản trước khi tôi lìa đời.

Ngày 21-5-1975

Vương Hồng Sển

Sài Gòn năm xưa

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Phần 1

Nhắc lại cuộc Nam tiến vĩ đại của dân Việt

Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại

Đến bây giờ, còn phân phân bất nhứt: các học giả vẫn bàn cãi không thôi chung quanh hai tiếng “Sài” “Gòn”, chẳng biết từ đâu, bởi đâu mà có. Kẻ nói vầy, người nói khác, không ai chịu ai. Tranh luận mãi càng thêm rối trí, không bổ ích vào đâu. Một điều an ủi chung cho hạng gàn như tôi là chính trong tập khảo cứu năm 1885, nhà bác học uyên thâm trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, cũng tỏ ra bối rối như ai!

Để dọn đường tìm hiểu thêm về nguồn gốc “Sài Gòn” của người Việt, chúng tôi trước tiên, xin tóm tắt cuộc Nam tiến như sau:

Căn cứ theo tài liệu lịch sử để lại, đại cương cuộc Nam tiến không ngừng của dân tộc Việt Nam gồm có những năm nầy, quan trọng nhứt:

– 939, tổ tiên Việt còn ở vùng Thanh Hoá, và nhờ có ông Ngô Quyền, cởi được ách Bắc thuộc, mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau được tự chủ ở cõi Nam.

– 1069, xuống đến Quảng Bình, Quảng Trị;

– 1307, nhà Trần gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chàm, mở rộng cõi bờ thêm hai châu Ô Lý (Thừa Thiên);

– 1425, đến Thuận Hoá;

– 1471, đến Quy Nhơn;

– 1611, đến Phú Yên;

– 1653, đến Nha Trang;

– 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn, nhìn nhận quyền của triều đình Huế;

– 1680, Nguyễn chúa cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng Đồng Nai;

– 1693, đến Phan Thiết;

– 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn);

– 1708, MẠC CỬU dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên;

– 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang, dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn hiến một thời:

– 1780, MẠC THIÊN TỨ (con MẠC CỬU) mất, không con nối hậu. Từ đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, đến đây đã hoàn thành.

Bản đại lược tóm tắt như trên, gọn thì có gọn, nhưng quá vắn tắt nên khó tránh sự tối nghĩa, và kém sáng suốt, nhứt là đối với những người không nằm lòng lịch sử nước nhà.

Về tổ chức đồn điền, xét ra đã có từ đời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn), từ ngày vua Lê Lợi đuổi được quân Tàu, thế nước rất mạnh, hiềm vì đất đai chật hẹp không đủ cho dân cày cấy, nên Lê Thánh Tôn thi hành chánh sách bành trướng vào Nam, lập kế đồn điền. Tổ chức nầy có hai phương lợi: một là trấn an biên thuỳ, hai là mở rộng bờ cõi một cách hoà bình. Nhơn thế, một chức quan được đặt ra, gọi quan Thu ngự kinh lược sứ, với nhiệm vụ chiêu tập những lưu dân (gồm những dân tình nguyện, những người phải tội lưu trú ngoài biên cương, hoặc những người bỏ làng để trốn lính và tránh sưu thuế…). Những người ấy được đưa đi khai khẩn đất hoang, và được quan kinh lược giúp đỡ và ủng hộ. Họ lấn sang đất Chiêm Thành rồi sau này đất Thuỷ Chân Lạp và vẫn yên tâm mở rộng khu vực vì sẵn bên có quân đội bảo vệ an ninh.

Sau một hai đời, thì những hạt mới được sung nhập lãnh thổ Việt. Lần lần, những lưu dân miền Bắc, miền Trung, dùng phương pháp “tàm thực” ấy mà mở rộng đất đai bờ cõi Việt từ sông Cả đến tận mũi Cà Mau. Sự bành trướng nầy đến ngày chạm súng với Lang Sa mới ngưng.

Nhơn đây là bài khảo cứu về căn cội đất Sài Gòn, và muốn cho đầy đủ, chúng tôi không sợ lẩn thẩn, mà thuật lại có đầu có đuôi “công cuộc mở mang bờ cõi” của tổ tiên ta trong cuộc Nam tiến, tính ra kéo dài trên tám trăm năm (từ năm 939 đến năm 1780) mới hoàn thành. Có một khoảng trên dưới một trăm năm, cần phải nhấn mạnh nhứt là khoảng từ năm 1658 đến năm 1759, tức đoạn tổ tiên ta chung đụng với người Cam Bốt, trên cõi Nam nầy. Ngày nay nước Cao Miên và nước Việt Nam là hai người bạn thân, lẽ đáng không nên khơi lại chuyện cũ. Nhưng nghĩ vì đây là lịch sử nên chúng tôi xin hết sức thận trọng, vô tư và khách quan, thuật lại như sau để đánh tan những hiểu lầm. 1. Cõi Nam từ năm 1658 đến năm 1753

Đường Đồn Đất

Lúc ấy đã có người Cam Bốt ở trên đất Nam nầy rồi. Nói chính đáng mà nghe, từ Huế, Chúa Hiền Vương đã từng cắt quân đi chinh phục miền Nam. Quân ta cả thắng Chàm và sau những chiến công rực rỡ, dân Việt đã có dịp chen vai thích cánh với người Khơ me, nơi những vùng biên giới cũ Chàm, kể từ năm 1658.

Một điều nên nhớ kỹ, là vào thời buổi ấy, DÂN THƯA ĐẤT RỘNG, DÂN LÀM ĂN KHÔNG HẾT, việc đi khai khẩn đất hoang là thường sự và không hề sanh ra việc gì rắc rối. Tục thường ví “CHIM TRỜI CÁ NƯỚC”, ai bắt được nấy nhờ.

Một điều khác cần nói rõ thêm là đất miền Nam của bán đảo Ấn Độ – Chi Na cũng không phải thiệt thọ “phần đất phụ ấm” của Khơ me. Sự thật thì dòng thổ dân tiên chiếm vùng nầy là giống Phù Nam đã bị tiêu diệt từ thế kỷ thứ VII, và có thể người Khơ Me chiếm thay người Phù Nam từ thế kỷ thứ VII, lại mấy có sự đòi hỏi tranh tụng gì? Tha hồ lúc ấy ai khai phá được khoảnh nào thì nấy làm chủ ăn hoa lợi. Và như đã nói “đất ở không hết”, tội gì tranh giành cho nhọc lòng lo, cho mệt xác. Sợ nhứt là làm như vậy, chỉ sanh oán thù, ích gì?

Gương xưa tích cũ còn trước mắt sờ sờ:

– Pháp quốc đã giàu mạnh, nhưng còn nhà đất Gia Nã Đại, chẳng qua lúc ấy vừa chê xa xôi, vừa chê ít hoa lợi…

– Trung quốc là nước lớn, thế mà cắt đất Mã Cao để làm nhượng địa cho Bồ Đào Nha, rồi cũng cắt đứt Hương Cảng làm nhượng địa cho Anh Quốc, chung quy cũng vì thời buổi ấy hai chỗ nầy chỉ núi đá trơ trơ, toàn đất hoang vu không sanh hoa lợi, “mất” hay “bỏ” vẫn không tiếc… Nhắc lại, sau khi nhà Minh bên Trung Quốc bị nhà Mãn Châu thay thế, thì năm 1680, bọn di thần Minh triều như Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn, Trần Thắng Tài, v.v… tự xưng người “Trường Phát” (tóc dài) không khứng đầu hàng Thanh triều, vì họ ghét tục dân Mãn Châu cạo đầu gióc bín (để đuôi sam như đuôi lừa). Bởi rứa, theo sử chép lại, các tướng ấy dìu dắt độ ba ngàn tinh binh trung thành với cựu trào, lướt sóng trên năm mươi, sáu mươi chiến thuyền vượt trùng dương tìm xuống miền Nam, xin đầu hàng chúa Nguyễn, vì dân Nam cũng để tóc dài và trung thành với đạo Khổng Mạnh như họ. Đứng trước tình trạng khó xử này, chúa Hiền Vương trong lòng bối rối không vừa, vì kỳ trung chúa chẳng muốn gần gụi đám vong thần bất trị ấy; nhưng với trí tinh khôn có thừa, ngoài mặt chúa giả cách niềm nở tận tình. Chúa bày tiệc khoản đãi quân sĩ nhà Minh rồi “tống khứ” họ xuống miền Đông Phố, cho họ được phép chiếm cứ vùng Đồng Nai thưở đó tuy thuộc lãnh thổ Khơ Me, nhưng Miên Vương tỏ ra không bận tâm nhiều đến vùng hoang địa ranh mức tầm ruồng nầy. Như thế, nhơn một mũi tên, chúa Nguyễn bắn được hai chim; một đàng, được lòng người Tàu vì làm cho họ có chỗ dung thân, đàng khác nhơn cơ hội, mượn tay tha nhơn, mở rộng bờ cõi một cách hoà bình, không tốn hao binh sĩ; thật là ngón ngoại giao sắc cạnh khôn bì.

Cầu Khánh Hội (cầu cũ gọi là cầu Quay, có từ đầu thế kỷ 20) – Ảnh: sưu tập của Tam Thái

Nhắc lại, được lịnh Chúa Nguyễn, tướng Dương Ngạn Địch kéo quân xuống chiếm đóng vùng Mỹ Tho trên sông Tiền Giang (Mékong); còn Trần Thắng Tài, Huỳnh Tấn, và Trần An Bình thì đem bổn bộ binh mã đến chiếm cứ vùng Biên Hoà, trên con sông Đồng Nai. Vì không nói được chữ “đ” nên họ vẫn gọi “Đồng Nai” ra “Nồng Nại”.

Khi người Khơ Me đụng độ với người Tàu thì đã lấy làm bực mình vì phong tục khác xa, không dè đến khi ăn chung ở lộn với dân “duồng”, họ lại càng thêm khó chịu. Họ ngầm ghét đám dân “Đồn điền” mới.

Lần hồi, không cử động binh đao, mà người Cam Bốt (Campuchia) tự rút lui về miền thượng Lục Chân Lạp (Haut Cambodge) bỏ đất hoang Thuỷ Chân Lạp (Basse Cochinchine) cho mặc tình người Trung Quốc và Việt Nam tha hồ khai phá. (Cái nghiệp “hay hờn mát” và “ưa giận quàng xiên” của người Miên đến nay vẫn chưa bỏ. Tỷ dụ như lối năm 1920, dân Miên và dân Việt đua nhau khai thác xin khẩn đất hoang dọc theo kinh xáng mới đào vùng Phước Long và Vĩnh Qưới (Rạch Giá) để làm ruộng. Mỗi khi đôi bên không thuận nhau về quyền tiên chủ sở đất nào, thì người Miên thường thách đố người Việt hãy đồng lòng đem sở đất tranh chấp “hiến nạp” ngon lành cho viên chức sở tại, như vậy thì họ sẽ hết giận, báo hại quan thinh không phát tài ngang! Nhưng người Việt đâu chịu làm vậy và thường có cách khéo giải hoà với bạn Miên khỏi “làm giàu vô cớ” cho quan! Duy ngày nay, còn giận ai nữa mà Miên vẫn cất nhà xây mặt tiền vào vườn, ít chịu xây mặt ra đường cái hay ngó ra con sông tấp nập?

Nhắc lại năm Giáp Dần (1674), Chúa Hiền đã tầng sai binh xuống can thiệp vào việc nội bộ nước Miên do Nặc Ông Non cầu cứu dẹp hộ binh Xiêm. Đến khi vua Miên thấy cảnh ở Sài Gòn bị kẹp giữa hai gọng kềm “Chệc”, bèn cầu cứu với triều Huế, Chúa Hiền nhân cơ hội ấy để sai nha trảo xuống dàn xếp… Thêm một cơ hội may mắn đến cho triều Huế là vào năm 1688 giữa người Tàu Mỹ Tho và người Tàu Cù Lao Phố sanh ra sự bất hoà lớn. Chúa Hiền khi ấy đã mất, nhưng Ngãi vương nối ngôi không kém sự trí mưu. Huỳnh Tấn giết Dương Ngạn Địch, binh chưa lại nghỉn thì kế bị Chúa Ngãi ra tay trước, giết Huỳnh Tấn, dẹp tan đám giặc khách sót lại ở Mỹ Tho mà làm chủ tình thế hai thị trấn tân tạo Mỹ Tho và Cù Lao Phố (Biên Hoà).

Chúa thừa thắng cho binh tướng kéo rốc lên Cam Bốt tới trước thành Gò Bích, Miên Vương một mặt dẫn phi tần về thành U Đông, mặt khác sai sứ nạp biểu. Chúa Ngãi cho dân, quân về an dinh lập trại Bến Nghé. Công việc ấy gọi là “đồn dinh”.

Thuở đó, xứ Cam Bốt có đến hai vua:

– Vua Nhứt, Chánh Vương, ngự tại thành Lo Vek (sách sử Việt âm là “La Bích” hoặc “Gò Bích” (Trương Vĩnh Ký); (trong Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, trang 329, ghi “thành Long Úc”, phải Lo Vek này chăng?!)

– Vua Nhì, tức Phó Vương, đóng đo tại Prei Norkor, sau này Sài Gòn.

Một nước hai vua, một xứ hai mặt trời, đây là một tình thế lưỡng lập vạn bất đắc dĩ, không bao giờ tồn tại được lâu. Về sau, nếu có xảy ra sự di dân Khmer tự mình bỏ Thuỷ Chân Lạp rút lui về Lục Chân Lạp, âu cũng vì một lẽ Chánh Vương ngầm muốn để còn một vua đặng dứt hậu hoạn về sau, một lẽ nữa, cũng tại lòng dân Miên mà cũng có tay Trời già ở trong!

Prei Norkor vào thời bấy giờ, là một thôn nhỏ trong rừng già dựa kề một đồn kiên cố, dân cư thưa thớt, nhà cửa lèo tèo, cột cây nóc lá, tập trung trên các gò nổng cao ráo, chung quanh là ao sình nước đọng quanh năm, sâu vô trong nữa thì toàn là rừng rú thiên nhiên đã có từ tạo thiên lập địa, không ai khai phá, đầy rẫy muỗi mòng, đỉa vắt và thú dữ: tây, tượng, hùm beo, khỉ, sấu… Prei Norkor dùng làm nơi đồn trú của Phó Vương Cao Miên (một cái gai trong mắt Chánh Vương).

Việt Sử Trần Trọng Kim nói:

“Năm Mậu Tuất (1658), vua nước Chân Lạp mất, chú cháu tranh nhau, sang cầu cứu bên chúa Nguyễn, chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai quan đem ba ngàn quân sang đánh ở Mỗi Xuy (nay thuộc Phúc Chánh, Biên Hoà) bắt được vua là Nặc Ông Chân đem về giam ở Quảng Bình một độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều cống và phải bênh vực người An Nam sang làm ăn ở bên ấy.

“Năm Giáp Dần (1674), nước Chân Lạp có người Nặc Ông Đài đi cầu viện nước Xiêm La để đánh Nặc Ông Nộn.

“Nặc Ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh Hoà). Chúa Hiền bèn sai cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra làm hai đạo sang đánh Nặc Ông Đài, phá được đồn Sài Gòn rồi tiến quân lên vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào chết ở trong rừng. Nặc Ông Thu ra hàng. Nặc Ông Thu chính là dòng con trưởng nên lại lập làm chánh quốc vương đóng ở Long Úc, để Nặc Ông Nộn đóng ở Sài Gòn, bắt hàng năm phải triều cống.

“Năm Mậu Thìn (1688), Hoàng Tiến giết Dương Ngạn Địch, rồi đem chúng đóng đồn ở Nam Khê, làm tàu, đúc súng để chống nhau với người Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Thu cũng đào hào đắp luỹ làm kế cố thủ và bỏ không chịu thần phục chúa Nguyễn nữa.

“Bấy giờ chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Trăn sai quan đem quân đi đánh dẹp, dùng mưu giết được Hoàng Tiến và bắt vua Chân Lạp phải theo lệ triều cống.

Năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Kính làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố (Giản Phố) ra làm dinh, làm huyện, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình.Đặt Trấn Biên dinh (tức Biên Hoà) và Phiên Trấn dinh (tức Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hoà) thì lập làm xã Thanh Hà: những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm xã Minh Hương. Những người ấy đều thuộc về sổ bộ nước ta”.

(Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, trương 329-330)

Sài Gòn năm xưa

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Tựa

Kính Dâng Ba

Tập biên khảo thường đàm nầy để tưởng niệm những phút êm đềm đã qua:

Năm 1919, Ba đưa con lên Sài Gòn vô trường lớn.

Con bắt đầu nếm mùi cháo cá Chợ Cũ, hủ tíu Chợ Mới, xem hát thì Chùa Bà Chợ Lớn, nhai thịt bò kho thằng Lù, có năm cắc leo chuồng gà ngồi coi hát Tây, và cảnh không còn gặp nữa là: bữa bữa hai cha con thượng cao lâu ăn cơm xá xíu.

Năm 1927, Ba lên thăm, con mua bánh Catinat, lòng mừng dâng Ba món lạ. Ba không dùng, hỏi con: “Chữ Hiếu” sao có đắt tiền?

Năm nay 1960, đầu con bạc mà túi vẫn nhẹ, muốn mua bánh, Ba không lên: xe giằn, đường xa, hai con đò Cái Vồn và Mỹ Thuận vẫn có tiếng không lịch sự đối với hành khách “bát thập lão ông” như Ba vậy!

Những ký ức bấy lâu, con viết gởi về:

“Vương Trạch Nhựt, cháu hãy đọc lớn cho Nội nghe”.

Gia Định, đường Rừng Sác, số 5,

Ngày 26 tháng 5 năm 1960

SẾN

TỰA

Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về:

“Gốc tích hai chữ “SÀI GÒN”.

Nói ư? – Chỉ bày cái dốt của mình ra!

Nín ư? – Người cười, càng thêm khó chịu!

Thôi thì còn một cách: ôm mớ tài liệu thâu thập bấy lâu – dù hay dù dở, dù chưa bằng bụng, mình biết lấy mình – bày hết, trình hết ra đây – mặc tình các vị xa gần tuỳ thích lựa chọn: “tóc tơ cặn kẽ đuôi đầu,” dù chẳng làm nên cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng!

Đối với các bạn nhỏ hiếu học, tôi xin nói lớn:

1) – Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ: ấy tôi đã cân nhắc kỹ càng, cứ tin cứ dùng: “coi vậy mà xài được!”

2) – Chỗ nào chưa “êm”, nhờ các bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết càng tốt, gọi giúp lẫn nhau: già thua trẻ không xấu, mắc cở bậy, hay gì?

Đối với các học giả, các bậc lão thành, các vị cố cựu đất Sài Gòn, tôi xin “nghiêng tai nghe dạy, chắp tay đứng hầu”.

Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, trong “Excursions et Reconnaissances” (tạp chí về du lãm và thám hiểm), tập số 23. tháng Năm và Sáu năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn “Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs” (ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cân). Bài này viết hai mươi lăm năm sau năm Nam Kỳ thất thủ (1859-1885).

Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thưở đó cho đến ngày Sài Gòn trở về với dân Việt, ngót một trăm năm.

Bắt tay vào việc, cốt ý của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn. Cũng nghĩ nếu mãi sụt sè, đến ngày xuống lỗ, chắc gì ôm theo được? (mà chừng đó ôm theo ích gì cho ai?) – Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử buổi giao thời: Pháp – Nam – Chà – Chệc chung đụng, những chuyện “Tây đến Tây đi”, những việc chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả, nhưng “ăn trầu gẫm mà nghe” bây giờ chưa nói còn đợi lúc nào? Có nói có cãi, lần hồi mới phăng ra sự thật.

Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ Lớn, đã dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ nầy.

Cũng như tôi không dám quên ơn tất cả các bạn xa gần đã góp sức cùng tôi, trong số, điển hình nhứt, có anh Mười Minh Tải Đặng Văn Ký, người đồng cảnh ngộ với cụ Trần Trọng Kim Tân Gia Ba thưở nọ. Nay Anh Mười nằm khoảnh làm ẩn sĩ, ấp Đông Nhì, Gò Vấp. Anh không làm gì hết, nhưng anh dày công ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp thêm ý kiến, và đã đổ nhiều bọt oáp trong khi cùng tôi tìm hiểu địa điểm “Mả Nguỵ” ngày nay nằm nơi đâu!

Còn một người nữa, bạn già với nhau, ông Hoàng Xuân Lợi, hoạ sĩ Viện Bảo Tàng. Mấy ảnh chụp khéo, mấy bức địa đồ công phu không có, làm sao tập nhỏ này thành hình?

– Bác Lợi, cảm tình chất chứa tận đáy lòng, tôi vội gói làm một gói “tri ân nồng hậu”, xin Bác vui nhận.

Xuân Mậu Tuất (1958)

Xuân Canh Tý (1960)

VƯƠNG HỒNG SỂN

Một góc miền quê Texas với nghề tay trái

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

Post on December 16th, 2021

Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Khi định cư ở Hoa Kỳ, rất ít ai nghĩ đến chuyện sẽ sống ở miền quê, cho dù đã là nông dân nhiều đời lúc ở quê nhà. Nhưng vẫn có một số người, vì hoàn cảnh ban đầu khi mới đến, hay họ có tầm nhìn xa, nên đã chọn nghề làm vườn hay trang trại chăn nuôi. Nhờ đức tính cần cù, chịu khó, đa số họ thành công.

Nhà và trại gà với đàn bò  (Ảnh SĐ) 

Tùy thuộc vào khí hậu của mỗi tiểu bang, cuộc sống miền quê của người Việt có nhiều ngành nghề khác nhau. Chẳng hạn, tiểu bang Floria có nhiều vườn trồng các loại cây ăn trái của người Việt. Còn ở Texas, đa số người Việt ở miền quê, sống bằng nghề nuôi gà công nghiệp và nuôi bò. Vào hai thập niên gần đây, rất nhiều trang trại gà của Người Việt phát triển mạnh, nhất là vùng Texas và vài tiểu bang lân cận, tạo uy tín với 3 hãng gà lớn là Tyson, Pilgrim và Sanderson. Do đó, khi người Việt mua trang trại gà cũ hoặc xây trại mới, rất dễ được hợp đồng từ hãng gà. Chúng tôi có vài lần đến thăm các vùng nông thôn Texas, tìm hiểu về cuộc sống để thử lập kế hoạch về sống nơi đây trong tuổi hưu dưỡng, hợp với mức tiền hưu khiêm nhường và khám phá rất nhiều điều thú vị.

Cách thành phố Dallas khoảng 2 tiếng lái xe, có những “làng Việt Nam”, nơi đó người dân sinh sống bằng nghề nuôi gà. Tuy không đông đúc nhưng họ sống rất vui vẻ, gần gũi, thân thiện với nhau. Giá nhà và sinh hoạt rất rẻ. Vấn đề an ninh cũng rất tốt, có nhà không bao giờ khóa cửa và xe đậu ở trước nhà cũng không khóa, trong khi chìa khóa vẫn để trong xe. Trước đại dịch Covid, chúng tôi đến thăm anh bạn ở thành phố Winnsboro, TX, nghe kể có người quen bán căn “mobile home” tính luôn cả khu đất rộng, ngay bờ hồ, chỉ có 50,000 USD. Nếu ra khỏi khu thị trấn không xa lắm, có thể tìm mua căn nhà trên khu đất chừng một mẫu, với số tiền khoảng 100,000 USD không khó lắm. Ở đó, có đất trồng rau, cây ăn trái, nuôi gà đi bộ, câu cá, đi săn hoặc bẫy heo rừng. Nếu ai nghỉ hưu non hoặc đúng tuổi, sức khỏe còn khá tốt, con cái đã trưởng thành, muốn chọn một cuộc sống gần thiên nhiên và an nhàn, thì về những thị trấn nhỏ, không xa thành phố lớn, là một chọn lựa không tệ. Nhờ mọi chi phí thấp, người ta có thể để dành tiền cho những cuộc du lịch mình yêu thích.

Chỗ nhử heo đến  (Ảnh Thuận Ng.)

Nhân tiện nhắc việc săn heo rừng, chúng tôi cũng tò mò muốn biết việc săn bẫy và làm heo ra sao, nên căn dặn người bạn ở Marquez City, Texas, khi nào có ai bắt được heo rừng về xẻ thịt, xin báo tin để chúng tôi đến tận nơi quan sát và cũng giải đáp thắc mắc cho đám bạn nhậu, rất mê món heo rừng xào lăn, heo rừng nấu rựa mận, đang thập thò muốn làm thợ săn và chính tay mình làm thợ mổ.

Theo chuyên mục Kiến Thức Trẻ của Ðinh Yên Thảo thì “Số lượng heo rừng tại Texas có đến 2.6 triệu con. Các cánh đồng bắp, lúa mì, đậu, khoai tây, cà chua bắp cải …là thức ăn khoái khẩu của chúng. Do đó, chúng gây thiệt hại mùa màng lên đến 500 triệu hằng năm và còn cao hơn nữa”. Vì thế, việc bắt heo rừng bằng cách săn bắn, đặt bẫy, được khuyến khích để diệt bớt chúng. Thợ săn thường bày một khu có đặt nước và thức ăn để dụ heo đến và họ ẩn núp trên một chòi cây cao, dùng súng bắn. Người ở “farm” thì đặt bẫy để bắt sống.

Một ngày giữa tuần, người bạn báo cho biết có heo mắc bẫy và vợ chồng anh chị bạn ở gần đó sẽ xẻ thịt trong ngày. Thế là chúng tôi vội phóng xe đi ngay. Ðến nơi, lần đầu tiên mới thấy tận mắt cái bẫy và con heo khoảng 50 “pounds” đang bị nhốt trong đó. Anh chị T, người đã làm heo rừng nhiều năm chia sẻ:

Bẫy heo rừng là một lồng vuông bằng sắt rất chắc, được đặt ở bìa rừng, cánh cửa mở rộng, bên trong, để thức ăn heo thích như bắp. Khi heo lao vào ăn thì cửa đóng lại. (Ảnh SĐ)

Chị T: Tôi qua Mỹ được 12 năm. Mới đầu sống ở Houston. Hồi ở Việt Nam nhà làm biển, nên giúp con làm biển một thời gian, sau đó lên đây mua trại gà. Vừa chăm lo trại gà, vừa làm heo rừng. Thật ra, tôi chỉ mới bắt đầu làm heo khoảng 3, 4 năm thôi, chứ trước đó, con gái săn được heo, đem về cứ để đó, không biết làm gì.

SĐ: Chị có học nghề làm thịt heo không? Tôi thấy làm một con heo, cạo lông, xẻ thịt, không phải dễ nếu không có tay nghề. Trước đây, tôi có theo bạn bè đi săn, đem được một con heo về nhà, bốn người đàn ông ráp lại, loay hoay bốn tiếng đồng hồ mới xong. Nhưng nhìn những miếng thị đã xẻ ra lổn ngổn, lụn vụn, chẳng ngon lành gì cả.

Anh T: Chúng tôi chẳng học nghề với ai, nhưng nhà tôi được cái vừa khỏe, vừa nhanh nhẹn, mỗi lần làm cải tiến một chút, làm mãi rồi quen. Có khi nửa ngày làm 20 con heo. Chủ yếu là bà nhà tôi, còn tôi chỉ phụ khiêng, cạo và khò lửa thôi.

SĐ: Chị cạo lông heo vừa nhanh, vừa trắng trơn, sạch sẽ. Thấy rất dễ dàng. Lần trước tôi làm, cũng nhúng nước sôi, không phải một lần mà đến hai lần, vẫn cạo không sạch là tại sao?

Chị T: Lúc nhúng nước để cạo lông, thì chỉ cần nước nóng 117 độ F. Mới đầu chỉ nhúng sơ con heo trong thùng nước cho ấm da, sau đó từ từ xối nước thêm. Làm heo mà nhúng nước đúng độ còn nhanh hơn gà, vì gà có lông tơ, nhổ rất lâu.

Cạo lông heo với nước ấm khoảng 170 độ F. (Ảnh SĐ)

SĐ: Nguồn heo là do anh chị  bẫy được hay có ai cung cấp thêm và giá cả ra sao?

Chị T: Có một người Mỹ tại vùng nầy chuyên nghề săn heo cung cấp. Giá tiền tính theo con tùy lớn hay bé. Mới đầu giá rất rẻ, chỉ $5 hay $10 một con. Nhưng sau này có nhiều chỗ khác đặt hàng, nên ông ta tăng giá.

SĐ: Anh chị có làm heo to cỡ 100 lbs không?

Anh T: Không, chúng tôi chỉ lấy heo khoảng 50lbs trở lại. Heo từ 80 lbs trở lên, thì ông ta bán cho chỗ làm “sausage”, cả heo cái lẫn heo đực.

SĐ: Anh chị làm nhiều heo như vậy rồi tiêu thụ ở đâu?

Anh T: Chúng tôi có hệ thống “Freeze” để giữ cho heo tươi, rồi báo cho mối quen ở California sang lấy. Mỗi tháng hai lần, mỗi lần khoảng 2,500 lbs. Ở Houston, họ mua về bán lẻ, chỉ khoảng 500, 600 lbs. Năm nay, không có heo nhiều.

Khò lửa cho da vàng căng  (Ảnh SĐ)

SĐ: Heo rừng có dữ dằn lắm không?

Anh T: Heo này phá lắm. Cái chuồng phải chắc chắn, không thì nó ủi sập, có khi nó leo lên cả mái nhà để thoát ra. Heo rất khỏe và rất khôn, nó biết lùi lại, lấy thế để ủi. Nếu để tự nhiên, khi nó rượt, mình chạy không kịp. Báo, sư tử,  nếu có một mình thì cũng chỉ bắt được heo con, chứ không bắt được heo lớn. Anh thấy cái chuồng tôi nhốt đó, có lần con heo tông phá muốn sập song sắt và leo lên rồi kẹt ở trên, phải dùng súng bắn chết.

SĐ: Với cuộc sống ở đây, nếu làm heo như vậy, lợi tức có đủ sống không?

Chị T: Nếu có heo đều đều mỗi ngày thì cũng sống được. Nhu cầu sinh hoạt ở đây cũng thấp, chỗ ở rẻ, có gà, có heo rừng, thịt nai, có cá câu, có rau trồng để ăn. Còn chúng tôi thì chỉ là nghề tay trái, vừa làm trại gà, vừa làm thêm heo rừng.

Lột da con nai tơ chỉ trong 10 phút (Ảnh SĐ)

oOo

Cuộc trò chuyện chấm dứt khi nắng chiều sắp tắt và ngay lúc chúng tôi sửa soạn ra về thì có một thanh niên mang đến con nai vừa săn được, nhờ chị T. làm thịt. Chị vui vẻ nhận lời. Chúng tôi lại có dịp xem chị xẻ thịt nai. Không thể ngờ, chưa đầy một tiếng, con nai đã được ra thịt thật nhanh, thật gọn. Người thanh niên trở lại chỉ lấy một cái đùi nhỏ, phần còn lại anh tặng chị để làm khô nai.

Một ngày ở miền quê thật êm ả, không vội vàng, thật đơn sơ, giản dị. Người ta có thể cho nhau một con nai tơ, một con heo rừng, một thùng cá ngon vừa câu được một cách thoải mái, thân tình, rồi khi chiều về, dăm ba cặp vợ chồng ngồi lại nhâm nhi vài lon bia, với cá nướng, khô nai, cùng nhau ôn lại chuyện đời buồn vui. Bình an và thanh thản biết dường nào.

Vườn rau quanh nhà (Ảnh SĐ)

SD

Trường phái Ấn Tượng

baotreonline.com

Andy Nguyễn

October 13th, 2023
Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Phần 1

Nhiếp ảnh gia mỹ thuật người Pháp Réhahn nổi tiếng với những bức ảnh tài liệu và du lịch xuất sắc. Tuy nhiên, anh đã bắt tay vào một dự án mới với phong cách đáng kinh ngạc, Nhiếp ảnh theo trường phái Ấn tượng.

“Ốc đảo” của Réhahn   

Bắt đầu một dự án mới

Réhahn đã đi tới hơn 30 quốc gia và hiện sống ở Việt Nam. Tuy nhiên, dù gọi Việt Nam là xứ nhà nhưng gần đây anh đã quay trở lại Pháp để kết nối lại cội nguồn của mình ở vùng Honfleur của Pháp, nơi được biết đến là nơi khai sinh ra phong trào nghệ thuật Ấn tượng vào thế kỷ 19.

Vào năm 2020 và 2021, Réhahn đang gấp rút hoàn thành một dự án kéo dài gần một thập kỷ, Bảo tàng Di sản Quý giá. Trong dự án đó, anh kể những câu chuyện của 54 dân tộc Việt Nam thông qua nhiếp ảnh mỹ thuật.

Tuy nhiên, khi đang tìm kiếm dự án lớn tiếp theo, đại dịch ập đến khiến việc đi lại của Réhahn bị hạn chế. Không nản lòng, anh bắt đầu tìm hiểu lịch sử nghệ thuật của xứ mình và nhận thấy rằng mình có mối liên hệ sâu sắc với Chủ nghĩa Ấn tượng và triết lý của nó.

Sáng chói” của Réhahn

Nguồn gốc của trường phái Ấn tượng và phong cách của Réhahn

Ấn tượng là một phong trào nghệ thuật thế kỷ 19 được phát triển ở Pháp, đặc trưng bởi những nét vẽ mỏng và rõ ràng, đồng thời nhấn mạnh vào việc khắc họa chính xác ánh sáng tự nhiên.

Vì sự nổi tiếng hiện đại của họ, thật dễ dàng để xem những người theo trường phái Ấn tượng như Claude Monet, Camille Passarro, Edgar Degas, và nhiều người khác, là những người đã vẽ theo một truyền thống nghệ thuật phong phú. Tuy nhiên, đó không phải là trường hợp. Những người theo trường phái Ấn tượng đã đấu tranh cật lực – bằng cọ vẽ – chống lại nghệ thuật theo phong cách hàn lâm nghiêm ngặt và cứng nhắc.

Ngay cả cái tên “Ấn tượng” ban đầu cũng phản ảnh vị trí dự kiến và thiếu tôn trọng của phong trào trong thế giới nghệ thuật. Thuật ngữ “Chủ nghĩa Ấn tượng” được rút ra từ một bài phê bình tác phẩm năm 1872 của Monet, Ấn tượng, Mặt trời mọc, trong đó nhà phê bình nghệ thuật người Pháp Louis Leroy đã viết, “Một bản vẽ sơ bộ cho một mẫu giấy dán tường còn hoàn thiện hơn cảnh biển này.”

“Ấn tượng” của Réhahn

Phong trào Ấn tượng ban đầu gắn liền với vùng nông thôn nước Pháp và cách ánh sáng mặt trời tương tác với những ngọn đồi, cánh đồng và bờ sông nhấp nhô.

“Réhahn đã tìm cách hình dung lại những ảnh hưởng ban đầu của những người theo trường phái Ấn tượng, nhưng theo một cách hiện đại. Ánh sáng là một công cụ thiết yếu đối với tất cả các nhiếp ảnh gia, việc tìm ra cách sử dụng nó theo phong cách hoàn toàn nguyên bản là một thách thức,” Trang web của Réhahn giải thích: “Từ chối sử dụng các bộ lọc hoặc bất kỳ kỹ xảo nào khác để chỉnh sửa hình ảnh của mình, anh ấy quyết định sử dụng chính thiên nhiên để tạo cho tác phẩm của mình một khía cạnh ấn tượng mà trong những điều kiện thích hợp, gần như có thể có kết cấu của sơn. Việc sử dụng các hình ảnh phản chiếu (nguồn cảm hứng thường xuyên của Monet), sự biến dạng của khung cảnh do sức nóng của ngọn lửa, hoặc thậm chí qua những giọt mưa rơi, là những hiệu ứng cần thiết để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật này. Họ cũng sử dụng những màu sắc bổ sung tươi sáng và khung cảnh đồng quê tràn ngập tác phẩm của các họa sĩ như Van Gogh và Passaro” Như Réhahn đã kể lại, Van Gogh là một họa sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng, nhưng vẫn là một tác phẩm đáng đưa vào nhờ ảnh hưởng đáng kể của Van Gogh.

“Ngọn lửa II” của Réhahn | “Tôi thấy rằng lửa là chất dẫn tốt nhất cho hiện tượng ‘bẻ cong ánh sáng’, đó là lý do tại sao những bức ảnh này đều được chụp khi nông dân đang đốt ruộng để làm tươi đất. Tôi không thể kiểm soát sự biến dạng nhiệt,” Réhahn giải thích.

Những hình thắng giải 2022 – Bird Photographer of the Year

baotreonline.com

Andy Nguyễn

September 30th, 2022

Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Cuộc thi Nhiếp ảnh gia về Chim chóc của năm 2022 đã được công bố, với các danh hiệu cao nhất được trao cho nhiếp ảnh gia người Na Uy Erlend Haarberg cho bức ảnh chụp một chú chim Ptarmigan đá trong bộ lông mùa đông đang bay trên những ngọn núi phủ đầy tuyết.

Rock Ptarmigan Bay | Erlend Haarberg, Na Uy | Giải thưởng Vàng và Bird Photographer of the Year.      

Tổ chức Nhiếp ảnh gia về Chim chóc của năm cho biết họ có trọng tâm là bảo tồn. Năm nay, cuộc thi đã quyên góp hơn 5,000 bảng Anh cho tổ chức từ thiện Birds on the Brink của đối tác, tổ chức cung cấp nguồn tài chính quan trọng cho các dự án bảo tồn các loài chim trên toàn thế giới.

Cuộc thi có các hình nộp thi từ khắp nơi trên thế giới và năm nay hơn 20,000 hình ảnh đã được gởi để có cơ hội giành danh hiệu Nhiếp ảnh gia về Chim chóc của năm và mang về giải thưởng lớn 5,000 bảng Anh (khoảng 5,789 Mỹ kim).

Bức ảnh của nhiếp ảnh gia người Na Uy Erlend Haarberg (ảnh trên) mô tả một con ptarmigan đá bay trên khung cảnh mùa đông miền núi ở Tysforden, Na Uy đã được tuyên bố là hình thắng giải lớn nhất. Bức ảnh cũng giành giải Vàng ở hạng mục Chim trong môi trường.

“Ở trên núi cao, gió, tuyết và cái lạnh khủng khiếp của mùa đông trong nhiều tháng liên tục. Ðây là nơi Rock Ptarmigan phát triển mạnh trong một khung cảnh trắng vô tận,” Haarberg nói. “Vào một ngày đặc biệt của mùa đông này, tôi đang trên đường đến một đỉnh núi. Tôi gần như đã lên đến đỉnh khi phát hiện một số dấu chân của chim ptarmigan trên tuyết. Chẳng bao lâu một con chim đã bay, với bối cảnh ấn tượng cho thấy môi trường khắc nghiệt mà loài chim này gọi là nhà”.

Giải Nhiếp ảnh gia về Chim chóc trẻ tuổi của năm 2022 đã được trao cho nhiếp ảnh gia 17 tuổi người Thụy Sĩ, Levi Fitze vì hình ảnh một con Dunlin đang vật lộn với bão cát.

Đối phó với cơn bão | Levi Fitze, Thụy Sĩ | Giải thưởng Vàng và Young Bird Photographer of the Year.

Dưới đây là các hình ảnh đoạt giải ở 8 hạng mục: Chân dung đẹp nhất, Chim trong môi trường, Chú ý đến chi tiết, Hành vi của chim, Chim đang bay, Trắng đen, Chim thành thị và Hình ảnh sáng tạo.

Chân dung đẹp nhất

Dáng kênh | Ly Dang, Hoa Kỳ | Giải thưởng Vàng.

Chim trong môi trường

Kính vạn hoa | Paul Mckenzie, Ái Nhĩ Lan | Giải thưởng Bạc.

Sự chú ý đến chi tiết

Người đẹp đang ngủ | Andy Pollard, Quần đảo Falkland | Giải thưởng Vàng.

Hành vi của chim

Trận tay đôi trên Lek | Peter Ismert, Hoa Kỳ | Giải thưởng Vàng.

Chim đang bay

Bích họa hầm chứa | Raoul Slater, Úc | Giải thưởng Vàng.

Schalow’s Turaco | Aaron Baggenstos, Hoa Kỳ | Giải thưởng Đồng.

Trắng đen

Giữa hai thế giới | Henley Spiers, Anh Quốc | Giải thưởng Vàng.

Chim thành thị

Quán Thành phố | Ammar Alsayed Ahmed, Ả Rập Thống nhất | Giải thưởng Vàng.

Hình ảnh sáng tạo

Chim thành thị

Nghề bắt cá | Janine Lee, Anh Quốc | Giải thưởng Đồng.

Ðể xem tất cả các mục và đọc lời mô tả về các bức ảnh, hãy nhớ xem trang web của cuộc thi.

AN

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Phần 22 – Tôi Nhớ Huế- Chuyến Đi Năm 1958.

Tôi lên đường đi Huế hôm nay, 2-4-1958, là lần thứ nhì, vì tháng 3 năm 1955, tôi đã ra đó một lần rồi. Buổi sáng 2-4, tôi vô sở là Viện bảo tàng, lóng nhóng chờ lãnh lương. Được 7.790 đồng, để lại nhà 2.790 đồng, bụng bảo dạ khi trở về sẽ châm vô cho đủ 3.000 xài trọn tháng tiền chợ. Nay đem theo 5.000 bỏ túi, ân hận thấy ít, vì không mấy thuở được công du ra đất đế đô, cũng, nên thừa dịp mua sắm vài món Nội phủ sở thích, máy bay khứ hồi, đã có chánh phủ cho không, lại nữa cơm nước và chỗ trọ, đã có ông Viện trưởng viện Đại học ngoài ấy bao bọc.

Theo lời dặn thì 14 giờ khởi hành, còn lâu hoắc. Đợi mãn giờ làm, đạp xe về nhà ăn qua loa ba chén dằn bụng, nằm nghỉ lưng được một chút, kế soạn kỹ hành lý đem theo cho vào túi xách, pha một bình trà ngon ngồi nốc cạn bình, xong đâu đó rồi, lật đật lên xe xích lô mượn đưa lên địa chỉ 294 Phan Thanh Giản. Nơi đây phái đoàn tề tựu gần đủ mặt, chỉ còn chờ ông và bà trưởng đoàn đến là khởi hành. Trong lúc chờ, tôi ngồi đếm, về nữ sinh có năm sáu cô, về nam sinh có trên mươi người, nay cũng không nhớ tên, duy nhớ một anh Doãn Quốc Sỹ. Đây là các cô cử cậu cử tân khoa vừa thi đậu, được chánh phủ biệt đãi cho đi “bêu ngựa” Huế đô, ngắm gái đẹp trai xinh và phong cảnh đất Thần kinh và bổ túc sự nghe sự thấy. Ông Trương Bửu Lâm, giám đốc viện khảo cổ, làm trưởng đoàn. Nếu có nên cám ơn, thì cám ơn ông có lòng tốt để cho tháp tùng đi chơi không tốn tiền, chớ lão Nguyễn Khắc Hoạch và Nghiêm Thẩm, đều là bọn “đi cọp” như mình, không nói hai linh mục dòng Tên, Larre và Gélinas, và một sư huynh đồng hành thì cũng là “cọp”. Còn nói gì bà T.B.L., vốn là Bạch Nga xuất ngoại, theo chồng cho biết Huế, thì cũng là “cọp” cần gì cám ơn. “Phi thuyền” nầy là một chiếc máy bay quân sự, của lính dù dùng ra trận mạc, tiện nghi không có, từ trước tàu ra sau có hai hàng ghế băng dài bằng gỗ ngồi “u mê” thấy mẹ, khách ngồi đâu mặt nhau, có mấy sợi dây treo lòng thòng, phải nắm cho chắc, kẻo máy bay đảo thì té lăn cù, bà lật bùn rền, hai ông cha văng kiếng, văng nón, lối tóc hớt trọc có chừa một lỏm tròn giữa óc o. Ngồi một chỗ cả giờ, ngó mặt nhau mãi chán quá. Không biết bụng ai thế nào, chớ bụng tôi được đi cọp, vẫn suy nghĩ lung tung, tự hỏi thầm: chớ chi bà L, mập thêm một chút, dễ coi hơn, chớ ốm và giẹp như khô mực, thì bên Việt Nam phụ nữ đẹp hơn nhiều; còn tại sao cha L., tu hành giống gì mà béo trục béo tròn, trái lại cũng thì tu mà cha G, lại ốm tong teo, nội cái mặt chỉ thấy sống mũi cao và cúp vọp, hay lão ta dòng Do Thái? Một cô cử gốc gác miền Nam, mới gần nửa giờ đã tâm sự và thổ lộ can tràng: “Gái đời nay, không tiền không sắc như tôi, nên phải đi học làm vốn. Bọn có chút sắc, nhất là có tiền, trai nó cưới từ hồi mười bảy”.

Mảng nghe đến đó, máy bay đáp xuống sân Phú Bài mà không hay. Khởi hành 14 giờ, đến Huế 16g30, cũng mau khá đến. Có xe camiông nhà binh đến rước đưa đến toà viện trưởng, chào linh mục Cao Văn Luận, để ông dạy cho biết ăn đâu ở đâu. Các cô có nhà cha mẹ tại đây thì cứ về nhà, mấy cô khác gởi vô nhà kín ở tạm chớ không phải đi tu mà sợ. Mấy anh sinh viên trai ở chung một chỗ với nhau càng được thêm vui. Ông và bà L., biệt đãi, ở một phòng riêng, còn cha L, cha G, chực về tạm nơi tu viện ở đây, duy ba đứa tôi, Hoạch, Thẩm, và tôi, một già hai trẻ, được cắt cho một phòng rộng trên lầu thư viện Đại học, trước đây là trụ sở Ngân hàng Đông Dương, một toà nhà đồ sộ ngó ra mặt sông Hương.

Sấp xếp hành lý xong mà giờ cơm chưa đến, phái đoàn rủ nhau qua sông ra phố, thả xích phê dọc đường ngấm sơ cách bán buôn sinh hoạt Huế đô. Vả chăng tôi biết Huế từ 1955, năm nay 1958, tôi thấy Huế đã tiến bộ nhiều. Năm trước dạo phố thấy trong một hiệu bán kiếng đeo mắt, có một cái máy nhỏ dùng mài cạnh kiếng, thế mà cũng có kèm một mảnh giấy trắng viết đại tự quốc ngữ: “máy mài kính” dán lên trên, tôi nghĩ thầm xứ nầy là xứ văn chương, ông chủ nhà nầy quả là xứng đáng con cháu quan viên xưa, thích đề thi viết liễn và mỗi mỗi đều trông có dịp khoe chữ tốt văn kêu. Năm nay trở lại chỗ cũ không thấy cái máy ấy nữa, hiệu buôn kính đã biến thành một quán buôn sách, và từ buồng trong, nghe lảnh lót vọng ra, tiếng trong trẻo, có lẽ là của tiểu thơ con gái ông chủ nhà, nếu cô bán hàng làm công không lý tự do đến thế, hay đây là một Ngọc Cẩm, một Thanh Thuý tương lai Bà Lâm thấy gánh chè đậu ngự, gọi lại và đãi hết phái đoàn. Mụ bán chè còn mặc chiếc áo dài vá quàng, thân trên mới tinh, nửa thân dưới, vạt trước vạt sau là vạt áo cũ nhục nhục phai màu. Chiếc áo nên thơ, cần gì phải nón bài thơ, đây bắt nhớ lại câu hát cũ: “Áo vá vai, vợ ai không biết? Áo vá quàng chí quyết vợ đây!” đây hay là tôi, cũng vậy). Và một câu nữa: “thương em thuở áo mới may, Bây giờ áo đã thay tay vá quàng”? Vá quàng là áo vá nửa thân, trên mới dưới cũ, cũng là một cách tiết kiệm mót máy lớp trước, dè đâu phong trào tân tiến xằng theo Mỹ Thiệu, trước kia là Diệm Nhu, đã đánh chết khỏi từ đây, và đây là lần chót tôi còn thấy chiếc áo vá quàng nầy, và những lần sau ra Huế chỉ gặp bùn rền váy đầm, áo tân thời eo thắt ngang lưng, hoặc áo thun bó sát thân ngực chớ áo vá quàng hoàn toàn không thấy nữa. Ăn một chén chè khỏi trả tiền, mà nghĩ bao nhiêu chuyện. Đường Chi Lăng, phố Gia Hội, hai bên bờ con kinh đào từ đời vua Minh Mạng, gọi là phố Hàng Bè, trừ những nhà xây cất theo lối cổ nay không thể sửa đổi canh tân được, còn sót nhiều ngôi nhà đã có từ đời Thiệu Trị, Tự Đức, những nhà nầy để y như xưa, luôn cả táng đá đã lỳ mòn, có táng kiểu trái bí, có táng kiểu cánh sen lật úp, rất ngộ nghĩnh, thấy một nhà đang phá ra cất lại mới, bỏ cù bơ cù bất những tảng đá Thanh kiểu cái trống, giá thử không nặng lắm và nếu cho mình, mình sẽ rinh về làm kỷ niệm thì hay ho quá! Đâu là nhà Trần Tiễn Thành, thuở bị ám sát? Và Chợ Dinh ở đâu, có phải là khu khi xưa có dinh quan Thượng, Phụ Chánh nầy không? Có một mớ nhà khác đã thay kiểu mới, có kê thêm lầu lẹt đẹt, rộng rãi hơn thì có, nhưng kể về tồn cổ thì hỏng rồi. Những dãy khang trang tân thời, chiều chiều ngợp khách du, là dãy Trần Hưng Đạo dọc bờ sông Hương, tấp nập trai thanh gái lịch. Dầu sao và đi đến đâu, thành phố Huế còn lưu lại nét cổ kính và nhà nào ít nữa cũng còn sót một vài cổ vật: chiếc lư đồng cổ, cái khán thờ cũ, bộ chén trà xưa hay đôi chậu kiểng đời trước, còn luôn cả chưn chậu gọi là đôn, làm bằng đá Thanh đã meo mốc lang thương nhiều thế hệ. Đi ngang nhà cụ Nguyễn Đình Hòe, thấy trong thiên tỉnh có mấy chậu lan và một bể cạn có kiểu xinh xinh cổ kính.

Ngày 3 tháng 4 – Sáng điểm tâm rồi dắt nhau dạo xem trong Đại Nội. Nơi góc hướng nam, chỗ trước đây bà Từ Cung ngự, vẫn còn xưa sao nay vậy. Đồ sứ Pháp, đồ sành do Tây cống sứ và chế tạo tại các lò Sèvres, Limoges, còn giữ được rất nhiều, mỗi chưa cột đều có chưng một chiếc lục bình cao hơn thước, cái vẽ màu xanh đỏ, cái phết men thiên thanh, sau đây thấy bày trong vài phòng triển lãm Sài Gòn, khen cho vật không chân mà biết chạy, hay là vì túi tham không đáy, bất kể vật cổ tích quốc gia? Và nhám tay, ăn cắp là tội nặng.

Trước mặt tiền nam cung, có một sân rộng tường bao chung quanh, giữa sân có hai cây vải (lệ chi) do bàn tay ai trồng, lá xanh om, tàn tròn vịn, gốc lớn một người ôm không giáp: đang trưa đứng bóng, tuy nghe tiếng chim trong lá kêu lảnh lót mà gió lặng yên lá không lay động, khách như tôi đứng tần ngần lòng xúc cảm vô hạn, tưởng tượng chốn nầy ngày xưa náo nhiệt oai nghiêm bao nhiêu mà ngày nay thê lương, lạnh lùng bấy nhiêu nhưng xưa nay gì cảnh vẫn kín cổng cao tường và vẫn chứa ẩn ruột bí sử khó tả.

Buổi chiều đến cung chiêm lăng Vua Minh Mạng và chuyến về còn dư giờ ghé triện lại xem vị trí Hòn Chén và điện thờ bà Thánh mẫu Thiên Y A Na linh thính. Trong các lăng tẩm những vua nhà Nguyễn, không kể lăng đức Thiệu Trị bị hư hại vì bão lụt nhiều lần chưa tu bổ, so sánh lại, lăng Gia Long hùng tráng đơn sơ ẩn tàng nét hùng của một người dám chỉ ngay chỗ nằm, ngoài ra lăng Minh Mạng, quả là lăng tẩm một ông vua hưởng lâu cảnh thái bình và ăn ở theo sách, mỗi mỗi đều đối chiếu, đình tạ nguy nga, phảng phất một nét buồn rất nên thơ, xứng với một ông vua kiêm thi sĩ, một môn đệ trung thành với triết lý Khổng Mạnh. Tương truyền miếng thịt phải xắt thật tròn thật vuông, ngài mới bằng lòng.

Bữa cơm tối xong, chia tay ra về. Ba chúng tôi, Hoạch, Thẩm, và kẻ nầy, rủ nhau ra ngồi lan can cầu Trường Tiền xem kẻ qua người lại và xem cảnh sông Hương và thành phố Huế dưới ánh đèn. Lúc ấy chưa có lệ đuổi không cho dụm ba dụm bảy trên cầu.

Ngày 4 tháng 4 Hôm nay xem lăng Khải Định và lăng Tự Đức, có ông Bửu Kế, giám đốc thư viện hướng dẫn. Lăng vua Tự Đức rộng lớn và còn kiên cố nguyên vẹn. Nhìn kỹ lại đây quả là một “tiểu giang san” dành cho một ông vua đã quá mệt mỏi vì việc nước quá rối ren và đã có ý định rút lui về đây đóng vai thái thượng hoàng. Ai trách ông bao nhiêu, tôi lại thương và kính ông bấy nhiêu.Tôi kính ông là người con chí hiếu, tôi thương ông là người chung quanh bị bao vây bởi một bầy tôi bất tài, buổi tàn niên của ông còn thêm một số ăn hại, phá nát cơ nghiệp, chuyên ám sát người ngay, và ép vua nhỏ tuổi chạy theo dài dài.

Ở tôn lăng nầy mỗi đình mỗi tạ, mỗi cây cầu, đều có đặt chữ “khiêm” đứng trước. Đức Dực Tôn rất biết xét mình và trên các tờ “châu bản” để lại chữ son vua phê có khi còn dài hơn, nhứt là lời ngự phê còn văn chương lưu loát hơn văn các đài quan cử nghiệp Tôi đã nói ông vua nầy rất hiếu với mẹ, nay đọc lại bài Ngẫu cảm của ông (xem Nam thi hợp tuvển quyển 1 Nguyễn Văn Ngọc, bản năm 1927, trương 248):

Sự đời ngẫm nghĩ, nghĩ mà ghê!

Sống gởi, rồi ra lại thác về.

Khôn dại cùng chung ba thước đất.

Giàu sang chưa chín một nồi kê.

Tranh giành trước mắt mây tan tác,

Đày đoạ sau thân núi nặng nề.

Muốn để hỏi tiên, tiên chằng bảo,

Gượng làm chút nữa đế mà nghe!

Ông biết như vậy mà cũng không tránh được lời gièm pha của hậu thế, nào bất tài, nào để cho mất nước. Trách vua Tự Đức rồi thì còn lời nào để trách cứ cha ông vua vừa bị truất phế gần đây?

Nội cái việc truất phế, chung quy chúng ta vẫn lầm mưu một bọn ỷ đông làm cái việc thường thấy giữa đám dân làm ruộng trong Nam: một ông chủ điền vì ham mê bài bạc tửu sắc, bỏ ruộng lên chợ, giao sở đất cho tên “tằng khạo” coi sóc, rồi tên tằng khạo gian hùng ấy lập mưu hất cẳng, đoạt mất sở ruộng của ông ta; kế đó, trời bất dung gian, tằng khạo hưởng chưa được mấy năm, bỗng bị người khác hù làm cho hết hồn, chạy mất dạng rồi về chầu âm phủ luôn, thật là đúng như câu 3 bài nầy: khôn dại cùng chung ba thước đất.

Xem hai lăng về, cùng phái đoàn dùng cơm chung của ông viện trường đãi. Mãn tiệc. Thẩm, lui về phòng nghỉ ngơi, tôi rủ giáo sư Hoạch cùng đi với tôi ra bến xe, ngồi ô-tô buýt qua Kim Long, mò đường lần đến nhà ông Nguyễn Hứa Huệ, định đến đây tìm mua đồ cồ ngoạn. Ông Huệ là một y tá từng đi chích thuốc và trồng trái dạo khắp đó đây và châu lưu khắp các nơi hiểm hóc miền Trung, cho nên khi về hưu, ông góp nhóp đầy nhà những đủ thứ đồ cổ từ cái hũ đời Đường, Tống, qua cái chén sứ đời chúa Trịnh đến cái tô đá đời Tây Sơn. Một kỳ trước ông đề nghị bán trọn nhà cho tôi với một giá rất hời, nhưng tôi đã bỏ ra dịp tốt vì lúc ấy tôi quyết dành tiền cất nhà để ở, hơn sắm đồ cổ mà tôi đã có nhiều. Kỳ nầy tôi lại thì ông đã bán tất cả cho ông Hoàng Nai, những món còn lại đều xoàng xĩnh, tôi mượn của Hoạch một ngàn bạc để mua một chậu sành, gọi quán tẩy, nhưng khi về đến Sài Gòn tôi bán lại cho ông Nai, lỗ mất mấy trăm bạc, vì xem kỹ, cái quán tẩy tầm thường quá tôi đã mua lầm. Và tánh tôi không thích giữ gì trong lòng đã hết ưa. Sở dĩ tôi rủ được lão Hoạch đến Kìm Long, vì tôi khoe nhà ông Huệ, kiến trúc lạ lắm: Và nhà nầy quả rất đáng bỏ giấc nghỉ trưa để lặn lội đi tìm. Tôi chỉ cho Hoạch những nét đặc sắc của ngôi nhà lợp tranh nầy. Bề ngoài, nhà xem rất đơn sơ tầm thường, nhưng khi bước vào trong rồi, mới thấy cái vẻ đẹp khó kiếm của nó. Nhà chạm trổ thật khéo, dẫu nhà lợp ngói cũng không khéo bằng. Mấy hàng cột đều nhỏ chột thôi, độ một tấc ngoài trực kính, nhưng trơn láng bóng thấy mặt, nhẵn nhụi như có đánh một lớp sơn, sau rõ lại đây là loại cây lọ nghe, một loại gỗ mun là giống gỗ rất hiếm, và ít khi được ngay ngắn suôn đuột hầu làm cột nhà. Đặc điểm của ngôi nhà nhỏ bé nầy là có chưng mấy tấm “liên ba ngứa” tức những phiến gỗ chạm hoa sen (liên hoa, đọc trại “ba” vì cữ tên một bà hậu đời Nguyễn). Mấy tấm liên ba ngửa nầy chạm trổ rất công phu, có dây, có lá, có hoa sen đại hoá, có ngó sen bỏ vòi tinh xảo như một bức tranh thêu và vì lâu đời quá nên đã lên nước đen thui bóng ngời. Theo tôi, đây là một lối làm thêm đẹp một ngôi nhà tranh, tức chạm những phiến gỗ nầy đúng ni tấc lòng căn rồi đóng đinh bắt ốc miếng chạm lên mái để che bớt lá tranh lợp không đều; tôi chưa thấy một kiểu nhà nào như vầy và chưa vội kết luận nhà ngói nơi địa phương khác có nên dùng liên ba ngửa nầy không. Dầu sao, nhà tranh Kim Long của ông Nguyễn Hứa Huê có qua khỏi nạn hoả tai năm Mậu Thân chăng? Ở Sóc Trăng, năm xưa tôi có gặp nơi làng Thạnh Thới An, một nhà lá cột tre, mà tôi xin đổi với một vuông nhà ba căn vách gạch lợp ngói, nhưng ông chú nhà lá không khứng đổi. Về sau nhà này gặp nạn thổ đốt và đã không còn, thật đáng tiếc. Theo tôi, trường kiến trúc nếu biết lo xa, nên tìm những kiểu nhà nầy lấy kiểu để dạy hoặc mua về dựng lại cho trẻ đàn em học thêm thì hay biết mấy.

Ngày 4 tháng 4 là ngày lễ đạo kỷ niệm ngày Chúa thăng thiên, nên phái đoàn không dẫn dắt sinh viên đi dạo, Hoạch, Thẩm, và tôi, nhảy rào, không đến quán ăn chung với phái đoàn. Chẳng những vậy, thay vì thăng thiên, chúng tôi kiếm chỗ nhậu và ác ôn thay quán nhậu bán thức ăn rất ngon lại có tên rất chướng: “Quán cơm âm Phủ”!

Ngày 5 tháng 4 – Ngày nay là 17 tháng hai âm lịch, đúng ngày giỗ mẹ, thế mà mảng ham rong chơi ngoài nầy khiến lỗi đạo làm con. Tuy có nhớ ngày và căn dặn ở nhà phải nấu mâm cơm đạm bạc miễn thật lòng thành, dầu vậy cũng không khỏi thắc thỏm chốn tha phương. Sáng hôm sau, còn nằm trên giường nghe bầy sẻ trên ngay cửa sổ kêu rân, khiến nhớ nhà ghê. Chim sẻ bất cứ ở đâu cũng chót chét một giọng, không giọng Huế giọng Sài Gòn gì cả. Ngày thường không để ý. Nay vừa xa nhà mấy hôm đã khắc hoải và phân biệt nọ kia. Đi ra ngoài lạ mắt lạ tai, vui lên nên quên hết. Nay giựt mình không có mặt ở nhà để dâng nén hương trên bàn thờ mẹ, tui hỏi tủi, buôn huyền buồn. Người sao quá giàu nghị lực, lưu vong bình bồng đâu cũng là nhà, như vậy mới làm quốc sự và làm chuyện lớn được. Tâm trí như mình, không hơn đàn bà. Theo chương trình, hôm nay phải dậy thật sớm để đi lên lăng Thiên Thọ là lăng đức Gia Long. Đường vẫn xa hơn các lãng khác, lại rất vắng vẻ; biết đâu không gặp người lạ mặt làm khó dễ lại cũng phải đề phòng rủi ro việc khác. May sao, nhờ tàu máy và xe đưa mau lẹ, nên tiết kiệm được thì giờ quý báu. Lên đến chốn lại bất được một tin mừng khác là sẽ mục kiến tại chỗ một buổi lễ tế chư vị tiên đế, vì bữa nay đúng là ngày thanh minh. Lễ do chánh phủ ra lịnh tổ chức và do phủ Tôn nhơn cử hành. Đây là một dịp hiếm có, mừng thầm để xem ngoài này tế lễ ra thế nào, chắc là trịnh trọng lắm; ngờ đâu xem được rồi lại càng thất vọng, buồn tủi cho các liệt thánh, các vua cũ nhà Nguyễn.

Theo tôi, thà chánh phủ nhà Ngô nên bỏ qua đừng nhắc đến, còn hơn là sai làm lấy có. Khéo bày đặt một lễ tạm bợ, thiếu nhiệt tâm nhiệt thành. Đám cúng giỗ các vua trước, từ Gia Long đến Tự Đức, thế mà lộn xộn còn thua đám ma nhà héo trong Nam. Chúng tôi đang đi và nói cười dưới núi, vừa bước chân lên vòng lăng. Tôi đang đứng than thở trước cảnh voi đá gãy vòi, ngựa đá sứt tai, con nầy mất đầu, ngựa kia gãy đuôi, và hình đá các công thần, ông mất gươm, ông khác đầu lìa khỏi cổ lăn nằm dưới chân bên đôi hia gãy mũi, có vài ông còn nguyên vẹn thì chạm trổ không cân xứng, phần nhiều thân hình nhỏ bé, còn đầu thì quá to, tỏ ra nghệ thuật đời Cao hoàng kém thua nghệ thuật Chiêm Thành và Cao Miên, duy không hiểu có phải vì ẩn ý tạc tượng nhỏ để ngụ ý chỉ có ông vua nằm đó là lớn? Vì câu nệ nghi thức cổ hủ, nên mỹ thuật đi đời nhà ma, thuở nay mả vôi hạng nhà giàu trong Nam đến thằng lùn chun qua không lọt cái cửa thấp lè tè, cũng là vì bởi!

Nếu có được một chút đắc thể là trải bao tuế nguyệt nay tượng đã rêu phong meo mốc và tuy bằng đá nhưng vẻ mặt ông nào cũng có dáng tiều tuỵ rầu rầu phải chăng đá cũng biết buồn cho cuộc phế hưng thời đại. Đang đứng nghĩ ngợi, bỗng nghe tiếng chuông tiếng trống đánh dồn: tiếng kèn, tiếng thanh la inh ỏi tôi lật đật bước săn lên chánh điện để kịp xem hành lễ cúng Thanh Minh. Từ dưới dốc leo lên, ngước mặt thấy trước tiên bốn cái lọng vàng gió đưa và cờ xí tung bay phấp phới, lòng tôi rộn rực và khiếp phục, nhưng khi đến gần thì đây là một cảnh xốn mắt làm sao. Thuở nay lư hương thờ các tiên đế, lại lấy tô rồng năng móng cắm nhang vào, thôi cũng châm chế được đi. Nhưng tại sao nơi bàn hương án, tấm quân bàn và tấm lá chấn thêu vẫn không có và thay vào đó, là mấy tấm vải Tây đỏ tạm bợ, “chửi” mấy tô Nội Phủ lư nhang, và cảnh xem tang thương não lòng làm sao.

Tội nghiệp hơn nữa, là năm ấy vừa xảy ra một trận bão lụt lớn, và để tránh ngập nước, các chưa bàn đều kê gạch vụn, vừa xấu xí, vừa không xứng nghi thức tế thờ vua chúa chút nào.

Nghĩ cho các vua là vua mất nước, đây là lễ của người ta gắng gượng “thí” cho, nên có khác. Nhưng vong hồn các vua hưởng sao vô? Chủ đứng tế, là tộc trưởng trong tôn nhơn phủ. Như vậy cách lựa người đã xứng đáng lắm. Ngặt thay người ấy lại là người theo Jésus. Vì đã theo đạo Gia-tô, nên ông nầy, tuy cháu mấy đổi của đức cao hoàng, lại từ chối không chịu lạy trước bàn thờ tổ tiên theo lễ Khổng Mạnh dạy. Người ta đón tiếp phái đoàn văn khoa Sài Gòn, niềm nở đưa chúng tôi vào chỗ tế, rồi nghĩ sao ông dạy qua nói tiếng bơ với cha L, và G. “Lát nữa hai cha xem, tôi không lạy đâu! Lạy người chết trái với đạo của mình mà!”.

Tội nghiệp hai ông linh mục L, và G, khuyên giải cách mấy ông cũng nằng nặc không nghe, bởi ông là người triệt để theo thiên chúa giáo.

Hôm ấy tôi lại thấy trên bàn lễ có để thờ nhiều bài vị, thảy đều sơn son mạ vàng. Đây là ông tộc trưởng nghĩ ra cách dồn các vong linh các tiên đế vào một chỗ để tế cho gọn, quên rằng xưa kia, thể thống nhà vua, không khi nào ngồi ăn chung với một ai. Trong gia đình nghèo cũng vậy, bao giờ cháu con ngồi ăn chung với ông bà? Vả chăng mỗi vua có mỗi lăng, và mỗi chỗ nên có một cuộc tế khác biệt, nay tế một chỗ, các hồn vua cháu vua con nào dám cùng mâm đối toạ với vua tổ vua cha, rắc rối vậy thay, và các vong tiên đế phải một bữa nghẹn ngào tụ hội hưởng nhậm ăn nuốt sao vô? Nghĩ mà xót xa giùm. Tội lắm, ngheo ông tộc trưởng Tôn nhơn phủ?

Tôi thấy có tất cả ba bàn thờ, trên mỗi bàn cồ đặt nhiều bài vị. Ông tộc trưởng đã không khứng ra đứng lạy hành lễ, các chi nhánh khác vẫn luân phiên thay nhau ra quỳ lạy đúng phép. Nhưng các người ấy, khi thì rất đông, đến trên chục người xúm xít đứng chật một chiếu lễ, khi thì lải rải chỉ có năm ba ngoe, lạy lưa thưa trên một chiếc chiếu trải bên tả hoặc bên hữu chiếu giữa. Tôi không hiểu rành, nên hỏi nhờ một cụ Ưng…, đứng bên cạnh tôi (cụ làm việc nơi viện Văn hoá Huế). Cụ dạy nhỏ: “Đông người hay ít là tuỳ theo dòng lớn nhỏ, tuỳ thế hệ, tỷ dụ thế hệ “Ưng” nay đã ít ỏi nên lưa thưa, thế hệ “Bửu” còn trẻ tuổi nên nhiều và đông hơn. Vả lại khi tốp nầy lạy bên tả, tốp khác lạy bên hữu, là tuỳ theo chi nhánh, lạy ông bà của dòng mình, còn ông bà dòng khác thì đã có dòng khác lạy”.

Đến lượt một nhóm ra đứng hành lễ, thấy có một vị chít khăn chữ “Nhứt”, mặc áo dài rộng kết nút ngà, xem phải thế lắm, nhưng nhìn kỹ thấy ông vận quần “bi-ra-ma” (pyjama) sọc dưa lằn xanh lằn trắng là thứ y phục vận khi ngủ khi ở tư thất của Tây u, tôi không nhịn được, day qua hỏi cụ Ưng, cụ lấy cùi chỏ thúc tôi và đáp giọng bực tức: “Hỏi làm chi? Cái quần cúng lễ, nó đã bán ăn rồi!”.

Nhờ dự lễ nầy, lần thứ nhứt trong đời tôi, tôi có dịp hớp một chung trà “ngự tứ ướp sen”, nhưng vua chúa đâu còn? Hương trà vẫn thơm hơn các thứ trà đã nếm, nhưng hưởng chốn nầy, khi ngôi vua đã sụp đổ từ lâu, dẫu thơm cách mấy, hương trà không còn ngon như chầu trước. Dòm lại mình, thấy ăn vận lủn củn trong bộ áo ngắn cụt tay, lại tự hổ thầm, ngày xưa được uống trà vua, phải quỳ lạ y và áo khăn chỉnh tề đâu có như vầy? Và sự đổi đời, giá trị chữ Tự do, là như thế hay sao? Được cái nầy mất cái kia là vậy.

Nghe nói giống sen nầy lấy giống tự bên Trung Quốc, và khi xưa, hột sen hái nơi hồ lăng Thiên Thọ, luôn luôn phải dành cung tiến nội cung. Bông sen cũng lớn đoá và hương thơm hơn các giống sen khác. Và cũng nhờ có mặt hôm nay tại buổi lễ nầy mà tôi hiểu lễ xưa nhà vua “ban thịt tợ” ra sao. Nhơn buổi lễ tế, tôi để ý nơi gian nhà sau chỗ tế, thấy đang đứng ngồi lóng nhóng từ buổi sáng sớm một nhóm rất đông, có người sồn sồn, có kẻ đã già sụm, nhưng toàn nhẵn nhụi ông nào như ông nấy cằm mép không một sợi râu, và thảy đều mắc áo dài rộng màu lam dợt, da trời. Đó là mấy quan thị xưa, các vị thái giám, nội giám của triều đại cũ nay còn sống sót. Một lát nữa, khi lễ tất, các vị nầy sẽ khiêng ba con tam sênh (tam sanh) vào đây, rồi sả nó ra từng miếng lớn miếng nhỏ và tuỳ phẩm trật, tuỳ địa vị, sẽ phân phát chia sớt, trước cho các ông các cụ dòng hoàng tộc, sau cho các ông giám nầy cùng hưởng “Miếng thịt làng hơn sàng thịt chợ”. Không chi đó cũng là bổng lộc hoàng ân, và ban thịt tợ chầu xưa làm tạm ắt như thế nầy. Đây là thịt kiếng các tiên đế trước. Nhưng nói ra thì thẹn, và xin nói nhỏ đủ nghe:

– Con heo quay, đã nhỏ vóc lại ốm tong, da lợt lạt vàng mét, thật không bằng con heo hàng, con heo quay treo nơi sạp một anh Chệc Chợ Cũ Sài Gòn.

– Con dê luộc, da tải mét, có chỗ cạo chưa sạch lông, không ngon mắt chút nào!

– Con bê thui, vì làm hối hả, từ lúc nào, để đến hôm nay, đã có mùi. Bê thui trở mùi, ăn nín thở, thì ăn sao vô?

Ngó kỹ ba bàn thờ, thì than ôi ông trưởng tộc Tôn Nhơn Phủ đã quên mất bổn phận. Bổn phận của ông, do chánh phủ cắt sai, là đến đây hành lễ dâng hương cúng ông bà ông vải của ông, và cúng theo đạo Nho do ông bà để lại. Như ông muốn giữ chính đạo Giatô và vì ông là công giáo, thì ông nên từ khước. Bằng ông đã đại diện chánh phủ, thì đến đây lễ buộc ông phải khấn vái và lạy theo cổ tục ông đã không làm như vậy, tức ông mang tội với vong linh người chết và cũng mang tội với người sống. Nếu ông a dua tân trào, ông hành lễ miễn cương, gắng gượng, không ai khen ông đâu, lương tâm ông sẽ xét xử và sau nầy lịch sử sẽ phê phán ông.

Vua khi xưa, ăn mâm lớn cỗ đầy và ăn một mình một mâm. Không ăn thì hồn có đói chăng? Chớ ăn như vậy thì tủi. Người sống thấy còn khó chịu thay. Tôi không trả lời được. Ông sẽ đọc mấy hàng nầy không? Ông là dòng dõi vua, cháu chắt đức Gia Long, không thì cũng xa gần cháu con các vua khác. Nay ông dồn bài vị các vua cũ làm một chỗ, ông không lạy, theo tôi, ông có lỗi lớn với tổ tiên ông.

Ngó lại các hoàng hàng phái có mặt tại buổi lễ. Nhớ lại, vị nào có danh phận lớn, địa vị cao, bề thế rộng, hoặc có tiền trong túi, thì đã cao chạy xa bay, hoặc ở Paris, hay nơi ngoại quốc khác, không nữa cũng đã vào Sài Gòn. Còn lại ở Huế đô, người có máu mặt thì viện cớ nầy cớ khác, ở lại nhà hành lễ tại gia. Những người hiện diện hôm nay ở đây, hoặc vì phận sự bắt buộc, hoặc vì không nỡ bỏ ông bà nên phải đến dự, kỳ dư, như tôi thấy, bây giờ tôi mới hiểu vì sao các ông hoàng có mặt, không ông nào giống ông nào, như đã nói nơi đoạn trước.

Ở lăng Gia Long về, nhờ xuôi con nước nên tàu chạy mau, tới viện Đại Học, trời còn sớm chán. Ngó đồng hồ thấy điểm mười lăm giờ. Tôi lật đật gọi xích lô nhờ đạp lên hồ ông Hoàng Mười, đường Võ Tánh, tìm thăm Cụ ấm Tư Lưu Đình Tiễn. Để tỏ tình sơ giao. Cụ ấm biếu tôi một ấm Mạnh Thần, nhỏ và đẹp như loại ấm Cổ Nguyệt Hiên. Từ chối cách nào cũng không được. Té ra lòng tốt của tôi, đổ đường thăm bạn cố tri, lại hoá ra vì bụng tham vì ích kỷ. Đến để xin ấm trà, một ấm trà quý không dễ gì tìm! Lòng tham chỉ biết nhận, mới là xấu hổ hơn nữa?

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 6 Jun 2024

Phần 21 – Từ 1948 Đến 1963

Dẫn – Tôi định việt tập Hồi ký nầy đến năm 1947 là năm chạy lên Sài Gòn xây dựng lại đời mới, và lựa nhan sách là “HƠN NỬA ĐỜI HƯ”. Nhưng từ ngày được giải phóng, tôi thấy còn không mấy ngày, nhiều lắm là một đôi năm nữa tôi cũng nằm ngay cán cuốc, nên tôi có ý đổi tựa sách lại là “SUỐT CẢ ĐỜI HƯ”, và định chấm dứt hồi ký với năm 1974.

Hôm nay tái hồi như con ngựa chạy đã mỏi chân, tôi thấy đời của tôi cũng không đến nỗi “buôn huyền buồn” và khóc gió thương mây cho lắm lại càng vô bổ nếu không nói là lẩm cẩm.

Cũng là tiền định và rất toại nguyện, như:

1) Của tổ phụ, ông bà cha mẹ để lại, vốn là con đầu lòng, nhưng nay để lại cho hai em Quan và Cảnh, hưởng trọn, âu cũng chưa phải là con bất hiếu;

2) Năm 1943, mua được của ông Trần Thanh một sở đất rất là vừa ý, tưởng xây dựng nơi đây một vuông nhà theo ý tưởng, đất diện tích 5 mẫu 16.00, toạ lạc tại ấp Hoà Đức làng Hoà Thuận, tổng Nhiêu Khánh, tỉnh Sốc Trăng (tờ đoạn mãi để ngày 2-7-1943, đăng bộ ngày 17-7-1943, quyển Q.78 số 14 và Quyển 36 số 592). Đào mương đắp liếp tính việc nuôi cá trồng cây móc một ao sâu rộng 30 x 40m. Lấy đất đổ làm nền cao 30m x 40m rồi năm 1947, bán đổ bán tháo bỏ chạy lên Sài Gòn, ấy cũng may nền cao nhờ đó ngày nay trở nên nền chùa và thánh thất, và ao nước vẫn tứ mùa có nước ngọt để cung cấp cho đồng bào ăn và uống, ai nói việc làm không có âm đức? Có lẽ âm đức ấy, nhờ đó mà trời nhỏ phước cho có sự nghiệp ngày nay; âu cũng là tiền định.

3) Năm 1952 mua được đất vừa ý và mua được xác nhà lý tưởng, nhưng không đủ tiền dựng nhà. Khiến đâu nhờ gặp toàn hảo tâm, anh em cho mượn vừa đủ. Cất nhà rồi, lo việc trang trải nợ nần. Lại một dịp may khác: vay được tiền Sở Kiến ốc. Cuộc xin vay nầy lại là một bất ngờ lạ: ban đầu liệu cơm gắp mắm, tôi làm đơn xin vay ba chục ngàn đồng (30.000$00). Nửa tháng sau, viên thơ ký đòi lại, bảo viết đơn đổi lại xin vay năm chục ngàn (50.000$00) thì đơn sẽ được chấp thuận. Tôi vốn có tánh bi quan, nghi cho thấy rấp toan ăn hối lộ, nhưng cũng chiều lòng sửa lá đơn theo ý thầy muốn ngờ đâu nửa tháng sau lãnh được tiền 50.000$00 vốn, trả làm 60 kỳ, mỗi tháng trả 1.186$98 vừa vốn vừa lời trả đến 31-8-1958, dứt nợ. (Chứng chỉ giải trừ thiệt thọ ký ngày 5-12 năm 1958 của trưởng ty bảo thủ để áp quyền). Tôi thắc mắc theo hỏi thầy: “Tại sao vay ít ba chục ngàn, không cho; lại cho vay số nhiều năm chục ngàn?”. Thầy đáp tỉnh bơ: “Thầy không biết làm toán vay 30.000$00 không có biểu thanh toán (barème) vay 50.000 có bài toán làm sẵn, coi theo đó mà đòi, chớ không chi lạ!” Té ra tại mình xấu bụng nghi oan chớ thầy vẫn thanh liêm. Mô Phật!

4) Trả xong mấy mối nợ khuẩn bách, nhưng còn nhiều số nợ khác thiết yếu không thua. Đang cơ bối rối, vô kế khả thi, bỗng đáu mua vé số, trúng được một trăm ngàn đồng (100.000$) (trúng độc đắc thứ nhì, kỳ sổ ngày 10-11-1956, vé mang số 056.609), nhờ đó, có nước đồng nước sông mới đầy, làm nên sự nghiệp như ai. Ai dám nói trời không có con mắt?

Thành thử, vợ bỏ, thấy mất phần ăn gia tài của bà Phủ An để lại, nay đền bù, có hơn. Kết luận tiền của là phù du. Mất đừng buồn, có cũng chẳng nên mừng, cuộc đời như canh bạc, nói cách khác, như một đại mộng, con người như tay bài, khi ăn khi thua, phải biết giữ nét mặt đừng thay đổi, mới xứng ba chữ: gan, tỉnh, dằn.

Nếu để tôi kể như vầy hoài, thì buồn chán lắm và biết bao giờ dứt?

Vậy xin tóm tắt các việc xảy ra từ năm 1948 trong các bài riêng biệt như sau:

a) Với ông Năm Lửa ở Cần Thơ, độ nọ có người gởi thơ lên mời hiệp tác “làm từ điển”, tôi viết giấy trả lời sẵn lòng nhưng xin để cho chạy hiệu và không ra mặt. Té ra sau đó việc chẳng đi tới đâu kế ông Năm từ trần,

b) Dưới trào ông Bảo Đại, bà bá tước D, đến bảo đưa danh thiếp bà lên Đà Lạt tiến dẫn. Nhưng không có danh thiếp sẵn, nên ở đâu hoàn đó. Nhớ lại khi cất nhà, bà có cho mượn số tiền mười lăm ngàn (15.000$00), trả được mười ngàn (10.000$00), còn thiếu năm ngàn (5.000$00). Năm 1963, yết kiến bà tại Paris, bà bằng lòng cho luôn căn dặn tuy rằng không đồng một tôn giáo, khi nào hay tin bà từ trần, xin đốt cho một cặp đèn. Tôi thành tâm van vái Phật Trời, cầu xin ông và bà D, mạnh khỏe lâu dài, và ngày nói tới còn lâu mới đến. Ơn bà một kiếp không quên,

c) Trào ông Trần Văn Hữu, ông Hồ Quang Hoài và các ông thủ hiến kế tiếp, không được như “đầu chim vịt”, không được như hoa sen hay là môn ngứa, nhưng tôi vẫn là tôi, nhớ lại tuy ăn lộc đó nhưng vẫn không thấm nước. Mặc ai bôn chôn mình vẫn an ủi tìm cách hành vi đợi thời.

a) CỐ ĐÔ HUẾ VÀO NĂM 1958 VÀ BUỔI GẶP GỠ NGÔ ĐÌNH CẨN

Bài nầy tôi viết ra làm ba đoạn:

1 – Huế: vấn đề ăn uống.

2. Tôi nhớ Huế – chuyến đi năm 1958.

3. – Buổi tiếp xúc với ông cố vấn Ngô Đình Cẩn.

1. Huế: vấn đề ăn uống – Huế với tôi, quả có nhiều duyên nợ ăn và nợ ham mê đồ sứ cổ. Thuyết tiền định, không biết có nên tin được chăng, nhưng riêng tôi, nếu được ra viếng xứ Huế trước sau mười bốn lần không tốn tiền chuyên chở, không tốn tiền phòng vào thuở Huế còn chút ít hương vị cổ, còn phong gấm rủ là, chưa đến nỗi tan tành xí quách, âu cũng là một diễm phúc lạ. Mỗi lần như vậy, tôi ở chơi một tuần lễ, ít khi tôi kéo dài quá mươi hôm.

Tôi không bao giờ để mất thì giờ và luôn luôn học hỏi được nhiều điều bổ ích. Tuy tôi chưa biết Huế đầy đủ bằng nhiều người, nhưng trong thâm tâm vẫn tự hào, giữa Huế và tôi, mối cảm tình riêng khó diễn ra lời. Một ngày là duyên hai ngày là nợ, nếu vậy ba bốn liên miên ngày đến không nhớ mà đếm, như vậy mối tình Huế và tôi vẫn đậm đà biết mấy? Không kể từ năm 1965 đến năm 1967 tôi ra Huế, lúng túng như gà kẹt sân, quần thảo lân quẩn chung quanh cối xay, đi đi lại lại cũng chợ Đông Ba, mây con đường phố quá quen thuộc, hoặc viếng Viện bảo tàng không biết đến lần thứ mấy, hết Hoàng thành nội ngoại, đến xa nhứt là xóm Tây Lộc chọn lựa mua đồ sứ cổ, chớ hai lần trước kia, một vào năm 1955, một vào năm 1958, lúc ấy còn tự do và an ninh khá nhiều, khi thì tôi thuê thuyền ngao du tận lăng Thiên Thọ của vua Gia Long hoặc hái sen hoặc chụp ảnh cả ngày, khi khác tôi thời: cơm trưa trên bộ ván một, lăng ông Minh Mang, (gớm? Vô lê thật), cơm rồi kéo nhau xuống bến đò gần đó thời thêm món tráng miệng là món bánh bèo mặn, xong rồi nhấp chén trà sen ngự trà, hóng gió nghỉ ngơi đến xế mà mấy gặp ai khuấy rầy? Không như từ những năm 1965-1967, tình hình căng thắng, nói ra xa hơn lăng Tự Đức đôi chút là đã phập phồng sợ bị bắt cóc, sợ bị hớp hồn, vì vậy những năm đó, tôi đành chuyển nghề, không dám du ngoạn và an phận làm tên thợ vô danh đi săn đồ cổ. Nhờ vậy, tôi lục lạo rong chơi gần khắp các xóm thơ mộng gần Thành Nội, khi thì làm quen các nhà đại gia, khi thì viếng nhà các cựu công thần lớp trước, thôn Vỹ Dạ, xóm Kim Long, khu Thiên Mụ… Đến chỗ nào, ban đầu tôi bợ ngợ hít hà liền miệng, lạ mấy lạ tai, chầy ngày bớt thành quen, hạp tình hạp lý cho nên gần đây khi nghe tin Huế bị nạn năm Mậu Thân, tôi bồi hồi xúc cảm tưởng còn hơn khi hay tin chính gia đình Ba tôi và em tôi bị nạn Thổ đốt nhà cướp đoạt tài sản lúc chạy tản cư ở Thạnh Thới An năm 1946. Có thể nói khi Nhựt lật đổ Pháp thực dân, lúc ấy tôi đã về hưu trí non và vẫn bình thản điềm nhiên đi dự kiến đám chủ da trắng lên xe ca-mi-ông riu ríu đầu hàng quân đội Nhựt da vàng và mấy có nghe tiếng súng con súng lớn nào? Đến khi Việt Minh lên nắm chánh quyền, cũng có lộn xộn một thời gian, nhưng những lúc ấy nào biết giặc giã là gì dẫu bọn Thổ nổi dậy đốt phá chém giết thì sự tai hại cũng có chừng mực, và cái khí hào tầm vông vạt nhọn, phảng kép cổ dài đã che lấp những sơ hở buổi giành độc lập. Không như tai hoạ chiến tranh bắt đầu từ năm Mậu thân (1968), nay nhớ lại mới là tởn óc.

Đầu năm Mậu thân, ở đâu mà lại không có cảnh bị bắn giết đốt phá? Chính Gia Định cũng có cảnh nhà cửa tan ra cái bụi, bàn ghế của tiền thập vật cháy ra khói tro, chỉ vì người cầm quyền ngoan cố, bám theo chánh sách Mỹ và Thiệu chúng nó vãi tiền ra lại cho đồng bào ta cùng một giống cầm súng bắn lẫn nhau, là như vậy họ mới có dịp đục nước béo cò, không khác những tên tớ gian tham khi chủ sai đi mua vịt quay gà quay, giả lựa chọn con nầy nắm kéo con kia, liếm mỡ dính tay cho đã rồi đem về chủ một con gà một con vịt chỉ còn bộ xương dưới lớp da khô đét. Mỡ và thịt ai kia đã rút rỉa hết rồi! Nghĩ cũng thẹn cho con nhà văn trói gà không chặt, lúc thế bọn ấy đang mạnh cũng phải giả dại qua ải, và đợi cho đến ngày hôm nay chúng đã cút mất, mới dám nói ngay sự thật.

Chính năm 1968, tuy không làm gì nên tội, nhưng tôi đã “đánh trống chiến trong bụng”, khi hay tin chiến tranh đã lan tràn tới Ngã Năm Bình Hoà, và bót Hàng Xanh (Ngã tư Xa lộ) bị đột nhập, chỉ vì sợ quân lưu manh theo đóm ăn tàn kiểu Mỹ, cướp nhà hôi của. Tuy vậy tôi cũng chưa sợ mấy, và trong bụng một phần lại nghĩ khác, ước mong sớm thấy “đổi đời”, vì đã quá chán chê bọn tham nhũng vơ vét. Khi hay tin nhờ đọc báo và nghe radio, biết Huế đã thất thủ, trong hơn hai mươi ngày bị chiếm, nào thấy mất mát của chìm của nổi nào do bên kia lấy, và chỉ thấy bên nầy thừa dịp vơ vét rồi hô hoảng phi tang. Khi tôi trở ra đó một vài năm sau, chỉ thấy cung điện di tích cựu triều xác xơ điêu tàn, cho hay thành xưa điện cũ phải chịu vạ lây, vì bọn thiếu tài vẫn tham quyền cố vị, quyết ngồi lỳ vơ vét cho đầy túi tham, sống chết mặc bây! Trong khi ấy, đồ sứ cổ trong viện trong cung, chúng hôi giấu bán ra ngoại quốc rồi còn cả gan phao vu mất mát vì nạn chiến tranh. Xét ra lúc ấy “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, có mấy ai vào được trong Đại Nội, nếu không có giấy phép hẳn hoi? Và chính bọn gia nô bên trong mới có bàn tay nham nhúa nhứt. Nga có điện Cẩm Linh, Trung Quốc có cung điện nhà Thanh ở Bắc Kinh, cả hai nơi nầy vẫn bảo tồn nguyên vẹn. Nước Pháp có lâu đài như Versailles, Louvre và Fontainebleau là nơi nô nức khách hoàn cầu đến viếng. Khơme có Đế Thiên, Đế Thích. Chỉ có cố đô Huế ngày nay điêu tàn, chỉ vì ở một lúc dưới tay bọn giỏi chạy theo Mỹ nhát, ăn hại thì có, bảo tồn bảo thủ thì không ngơ. Cửa Thường Tứ, cửa Đông Ba, sau năm Mậu Thân, đổ nát như thành quách Chàm đời trước. Đến khi bày chuyện tu tao tái thiết, lại là một dịp quơ quào thồn nhét cho đầy túi thau. Chữ vàng “Ngọ Môn”, gân guốc sắc bén và làm bằng vàng thật, hai đầu rồng của cái ngai vua cũng làm bằng vàng thật, chúng đã tháo gỡ từ năm nào, cũng không thấy tìm ra thủ phạm. Cửa Đông Sa, nếu kể từ ngoài đi vô thành nội, nhớ mại thuộc mé hữu, có mấy phiến đá Thanh thật to, cẩn sát trong vách thành, trơn tru mòn lì như mặt tấm gương giồi, còn nhớ mỗi lần có dịp đi ngang, dầu gấp cách mấy cũng dừng bước lại rờ rẫm như thăm người bạn. Đã mấy đời, tay người rờ đá, đá cũng mòn. Tôi đâu phải là người tiên phong làm việc nầy? Từ đây không có dịp trở ra thành mấy phiến đá Thanh cửa Đông Ba có còn chăng? Hay trong lúc giận cá chém thớt, đã trầy trụa hay lủng lỗ đi rồi? Mà tiếc làm sao được, khi thân người buổi chiến tranh, còn chẳng ra gì thay, người xưa từng nói: “Nguyện tác thái bình cẩu, mạc tác loạn ly nhơn”. Vẫn xưa nay không đổi. Kỳ đài hùng tráng, Ngọ môn kiên cố, nay ra sao?

Lần đầu tôi ra Huế, chân ướt chân ráo, là năm 1955, ngày 15 tháng ba dương lịch ra đó, ngày 22 trở về. Tuy thì giờ ít, nhưng tôi thâu thập tài liệu khá nhiều. Bộ Giáo Dục chỉ cấp cho tôi bảy ngày phép, nhưng nhờ trường Viễn đông Bác cổ cần dùng tôi giúp chuyên môn và cấp theo tôi anh nhiếp ảnh có thực tài Nguyễn Mạmh Đan, hai tôi lúc ấy còn sỏi dẻo, đã đi khắp chỗ, viếng khắp nơi, từ trên lăng các vị vua triều Nguyễn cho đến trong sâu trong Đại Nội, từ cung điện cấm cho đến Viện bảo tàng, hoa viên tư gia, chùa xưa, phong cảnh đẹp bất cứ chỗ nào tôi ưng ý là anh Mạnh thâu hình vào máy… Mấy bức ảnh ấy, ngày nay tôi còn giữ và xem đi xem lại quả là những tài liệu có giá trị đánh dấu một buổi vàng son của thời Huế đô chưa suy sụp lắm (1955).

Ngày 2-4 dương lịch năm 1958, tôi lại được theo chân phái đoàn viện Đại Học Văn Khoa Sài Gòn viếng cố đô được một tuần lễ. Các sinh viên, chia ra nam và nữ, trên hai mươi người đều được phân ra làm nhiều tốp, gởi đi nhiều nơi có chỗ ăn và ngủ tử tế, chúng tôi, nhóm giáo sư ba người, ông Nguyễn Khắc Hoạch, ông Nghiêm Thẩm và tôi, được tạm trú trên lầu thư viện đại học (trụ sở cũ ngân hàng Đông Dương đời Tây). Ra viếng Huế kỳ nầy, mục đích của tôi là cung chiêm lại kỹ kiến trúc lăng Thiên Thọ (Gia Long) lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng) và lăng Tự Đức (Khiêm Lăng). Nếu còn thì giờ, tôi sẽ liệu tìm cách hiểu qua kiến trúc của hoàng thành. Kỳ dư tôi không tha thiết mấy, nhưng bất ngờ là tôi được tháp tùng phái đoàn vào chào, cho đủ lễ, ông cố vấn Ngô Đình Cẩn, lúc ấy tuy giữ chức cố vấn nhưng còn hiền và chưa lộ vẻ hách như sau nầy (buổi tiếp kiến sẽ thuật trong một bài khác).

Thứ hai 7-4-1958, tôi theo phái đoàn lên xe ca-mi-ông mười bánh đi Đà Nẵng, để có dịp cho sinh viên miền Nam, các cô và các cậu cử tân khoa, được viếng đèo Hải Vân, năm hòn Ngũ Hành và Viện bảo tàng tại đó, tên Pháp gọi Musee Parmentter, là tên của nhà khảo cổ chuyên môn về cổ tích và nghệ thuật Chàm.

Viện nầy xét ra là một nơi duy nhứt liên hoàn cầu, còn tàng trữ được nhiều thạch bi, cổ vật và di tích Hời của nhiều thế kỷ đời trước, không biết nay có còn đủ bộ như lúc tôi được thấy năm đó chăng? Và nhà có công gìn giữ nhiều năm là ông bạn cũ của tôi Nguyễn Xuân Đồng, nay ắt đã về hưu và năm 1975 ông đã chạy về đâu? Nghĩ ra tội nghiệp cho ông: giữ của cho các vua Chiêm Thành, thì các vua đã thăng hà từ lâu, giữ gìn cho viện bác cổ thì viện ở xa không gởi tiền về, giữ cho các trào Diệm và vân vân thì các trào đổ thừa làm tôi cho Pháp thì theo Pháp mà đòi, rốt cuộc ông Đồng nay chạy đi đâu và sức khỏe ra làm sao? Tôi nhớ ông lắm, mà biết làm sao bây chừ?

Xế chiều ngày viếng Đà Nẵng, phái đoàn lên máy bay nhà binh trở về an toàn đáp sân bay Tân Sơn Nhứt, tuy hết ngây ngất vì đứng cả mấy giờ đeo tay trên trần máy bay và vẫn còn” u mê” (xin đừng nói lái) vì mấy ngày ngồi dưới sạp cây của xe nhà binh thì phải biết. Tuy vậy không ân hận chút nào vì thu thập được nhiều sàng khôn.

Nếu có ân hận là thầm tiếc không biết Huế lúc còn vua chúa, nhưng mất cái nầy được cái kia, nhờ vậy tôi biết bộ mặt Huế khi đã sạch son hết phấn. Viếng cố đô, vào tận điện vua mà khỏi mặc đại phục, kể cũng là một cái thú hiếm có! Nhưng viếng chỗ tôn nghiêm mà tự do quá mức độ như mấy kỳ ra Huế từ năm 1965 đến năm 1967, thì thà thủ lễ và còn nhớ chỗ đó đó có ông vua ổng ngồi mà hay hơn và không thầm tủi con cháu nhà học trò biết đọc sách!

Trong ba năm liên tiếp 1965-1966-1967, tôi được trường Đại học Văn khoa Huế mời ra đó dạy về “văn chương quốc âm Miền Nam”. Tôi mà sức mấy? Không một cấp bằng, không một chữ trong bụng, trước học ngoài đường ngoài phố xá. Nôm không thông, Hán dốt đặc, gặp ông Nguyễn Đạm hỏi tôi vua Tự Đức ngồi câu với thị Bằng ngồi nơi thuỷ tạ mà nơi gốc cột nào? Vua Tự Đức, cầu con mà muốn có con với bà nào? Vân vân và vân vân, toàn là những câu tôi không trả lời được, thế mà nhận làm giảng viên đại học văn khoa Huế, hèn chi người Nam có tiếng là “bán trời không cần có nhân chứng”. Nhưng tôi đã nhận lời, vì thuyết của tôi là “biết bao nhiêu nói bấy nhiêu”. Lại nữa đây là một dịp “nhứt cử lưỡng tiện”! Vừa nếm các món ngon kinh thành Huế, vừa đi săn cổ ngoạn cho phỉ tình. Duy từ năm 1967, là kỳ chót, một sinh viên khuyên tôi năm sau không nên ra, tôi nghe lời thưa với ông khoa trưởng cho tôi thôi dạy từ niên khoá 1968, có dè đâu anh sinh viên ấy biết được cơ trời, tiên tri trúng phóc, vì năm 1968 là năm Mậu Thân, biết chưa? Sự thật, tại sao tôi không ra Huế từ năm 1968, một phần là trong thâm tâm tôi tức tối vì sự khám xét phiền phức và sự hách dịch vô lối của nhân viên phi trường cũng như sự làm khó dễ bộ hành về hành lý và giấy tờ tra xét khi ra sân bay và khi rời phi trường. Vả chăng cái xách của tôi là toàn đĩa cổ tô xưa, các bác xóc ra xóc vào mãi thì mẻ sứt hết còn gì?

Ngày nay, ngồi viết hồi ký, còn tiếc vì chưa biết rõ tình hình đất Thần kinh đã biến chuyển ra sao từ hiến cố Mậu Thân.

Tuy vậy cũng an ủi được là biết Huế buổi còn thanh nhàn, ít nào cũng biết vài cổ tích còn sót, vài nhân vật cũ còn sanh tiền và nào phong cảnh cổ, cách thờ phượng, nhân tình ăn ở ra làm sao, chỗ nào làm bánh ngon, chỗ nào nấu ăn khéo. Cho đến nay, tuy không ra được nữa chớ lòng hằng nhớ những chốn đã trải qua.

Nhưng tuổi đã chẳng chờ ta rồi?

Tôi có một phương pháp riêng, chắc chắn giúp tôi biết nhiều về xứ Huế. Cứ mỗi kỳ tôi dự định lên đường ra đó, thì trước nhứt lúc còn ở nhà, tôi ra công nghiên cứu trước, một chỗ nào hữu danh, sau nầy khi ra tới đó, sẽ viếng thăm. Tỷ dụ tôi tra cứu các sách khảo về du lịch, và bộ sách lót đầu nằm vẫn là bộ Đô thành hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế) nói về lăng tẩm, chùa chiền, dinh thự đại gia như phủ Gia Hưng, phủ Vĩnh Lại, dinh ông Thân Trọng Huề, Tôn Thất Hân, v.v…). Xong xuôi rồi, khi ra đến nơi, tôi còn hỏi dò lại các thân hữu cố tri, hoặc nếu cần, sẽ nhờ mấy anh sinh viên thông minh đưa tôi đến chỗ và giãi bày bổ túc tìm hiểu những vấn đề còn thắc mắc; cụ Trần Tiễn Thành năm xưa đã chết cách nào và nhà nơi ông ngộ nạn nay ở đâu, thuộc khu phố nào, bây giờ ra sao? Và chỗ nào đức Duy Tân giả ngồi câu đợi Trần Cao Vân? Bến Ngự là chỗ nào? Và nơi đâu là chỗ “Ông già Bến Ngự” (cụ Phan Bội Châu) đậu thuyền? Cho đến ngày nay, ngồi viết bài nầy, tôi còn luyến tiếc một nhà ẩn dật đã gặp tại nhà cụ ấm Tư nơi đường Võ Tánh và nhớ tiếc không gặp lại để học hỏi thêm. Tiên sinh trước làm việc tại Quốc sử Quán Huế, cùng với ông Ngô Đình Nhu, dưới quyền ông Phạm Quỳnh. Khi tôi gặp tiên sinh; đầu đã bạc xoá như thúng bông, và hai ta trong buổi chiều tàn bóng xế nầy, biết có thuở nào gặp lại? Chu nhân là cụ ấm Tư, có danh là chuyên trà rất khéo, và trong buổi minh đàm (uống trà nói chuyện) tay ba, tiên sinh từng hỏi tôi xưa bà Thị Bằng hoạ thi với đức Dực Tôn tại góc nào nơi thuỷ tạ Khiêm Lăng? Vua Tự Đức cầu cơ cầu tự nơi nào? Và tại sao Ngô Đình Nhu không ưa nếu không nói là đố kỵ Phạm Quỳnh? Toàn là những câu hóc búa, tôi không trả lời được. Tự thấy mình quá dốt và mặc dầu làm giảng viên Đại Học Văn Khoa, tôi bỏ mặc cảm và hạ mình xin thọ giáo. Người ta học trong trường, tôi học ngoài hè ngoài phố là vậy. Tiên sinh có hẹn sẽ vào Sài Gòn thăm con và sẽ gặp lại nhau, nhưng tôi đã biết trước làm gì có cuộc tao phùng Bá Nha, Tử Kỳ. Không gần được người hiền để học thêm những gì hiểu biết sâu xa, tôi đành cam tâm làm con hạ thú vui với vấn đề bao tử. Bởi thế nay tôi rất tiếc quán mụ bán bún bò góc đường Chi Lăng, Nguyễn Du, nghe nói mụ đã xuống bán dưới âm phủ từ Mậu thân, và biết chừng nào lại ăn thứ bún bò của mụ? Cái mụ gì buôn bán lạ kỳ: ăn một tô, chưa thấm tháp vào đâu, vì tô có một chút nhéo. Kêu thêm tô thứ nhì, ăn vừa lưng lửng biết mùi kêu tiếp tô thứ ba, mụ trả lời cộc lốc: “Hết rồi!”. Mụ ơi, mụ chết cũng vì vậy. Tức quá mà! Một người nướng thịt có biệt tài dường thế, chết thật uổng. Đó là ý nghĩ của tôi, một người trọn đời không làm chánh trị, và để thì giờ nghiên cứu vấn đề ẩm thực vui cái dạ dày no bụng hơn! Tóm lại về phương diện “nhứt ẩm nhứt trác” tôi không chịu để thua ai và mỗi lần ra Huế, tôi đều có thảo thực đơn trước còn kỹ hơn nhà tướng vẽ hoạ đồ xuất chinh, hay nói trong nghề nghiệp, kỹ hơn tôi dọn bài cho sinh viên đại học. Khi ở Huế một tuần nhựt thì tôi dọn chương trình đủ một tuần; không kể những ngày gió bắt mưa cầm, mà ai lại không biết, một lần Huế mưa là mưa thúi đất, một cơn mưa hai ba ngày chưa dứt, tuy Huế không phải là quê hương của ả Chức, tội nghiệp nhứt là đám học trò con nhà xa đi học chợ, phải có sẵn một bộ khô để thay khi vào lớp, nhưng Huế đã có một thứ áo tơi chằm bằng lá khô, còn linh nghiệm hơn áo đi mưa của bọn Mèo nhiều. Những ngày mưa như vậy, tôi chỉ có nước ở lại trường. Ăn qua loa cho xong bữa, khi nem bánh mì, khi trở bữa mượn người nhà anh lao công chế biến độc vị “thịt nướng”, không thì gà luộc xé phay. Con gà Huế, nhỏ con, nhưng thơm ngon lạ lùng, hơn xa con gà Nam Vang, thịt nhớt, và hơn xa thật xa, con gà Mỹ, tuy lớn con mà thịt bủn rề như gà mắc toi, duy có rô-ti là ăn đỡ đỡ. Khi tôi tìm được quán của mụ bếp do ông viện trường linh mục họ Cao chạy vô Sài Gòn để lại, thì đà rất trễ, tôi không nếm được đủ món của tay ngự thiện phái nữ Huế đô nầy. Nhưng làm gì thì làm, không làm chánh trị nhưng tôi đồng tình với nhà ái quốc Tôn Trung Sơn, sự ăn sự uống là một “tối đại vấn đề” quan trọng còn hơn chầu xưa chọn ngày tế cờ xuất binh. Cứ mỗi lần ra đó, buổi đầu tiên là tôi rảo một vòng chợ rồi về phòng tả thực đơn, cân nhắc đắn đo để tránh sự bất ngờ và sự sai lệch chương trình hoạch định.

Có người đã trách tôi không thấy nhắc đến chè ngọt. Sự thật, tôi không thích ngọt các món như kem, đậu hủ và chè sen, đều thua ở Sài Gòn nên tôi không kể. Có thứ chè nấu với đậu ngự, tôi nhận là ngon, nhưng ít khi gặp. Tôi ít thức khuya và không tận tuỵ dầm mưa chịu cảm vì một chén chè bán dạo. Sở dĩ ra Huế tôi chú trọng nhiều về vấn đề ăn uống vì muốn thưởng thức cái ngon của xứ lạ Chợ Đông Ba bán nem nướng rất ngon, nem vắt tay chớ không vo tròn như ở Sài Gòn. Nước tương chấm thì không chỗ chê duy khổ một nỗi đang ăn ngon bỗng anh cùi thò tay vào khiến cụt hứng nuốt không vô.

Nạp tiền “mãi lộ” xong, lẩn bẩn giây lát lại thấy bàn tay không ngón chìa nữa. Tôi có tánh ham ca nhạc nhưng nhạc Huế chỉ nghe được một lần nhà cụ ấm Tư với nàng Bô tê từng hầu đức Hoằng Tông, vừa đàn vừa ca bản Huyền Trân ai oán. Muốn nghe dưới đò, ngặt sợ xúc phạm thuần phong mỹ tục, và gái xuống đò không sạch. Với mớ tuổi trên lục tuần, từ rày phải áp dụng lời dạy cổ nhân: “Dạ ngoạ bất phúc thủ” (đêm nằm chẳng úp đầu) và thú vui còn phải tránh “Vãn phạn giảm số khẩu” (cơm chiều bớt và miếng), sợ e trúng thực. Tuy nói vậy chớ tôi không để mất hai bữa bê thui và ca-ri dê là hai món khá đặc biệt của quán đường Phan Bội Châu gần một rạp hát bội lèo hèo. Quán chỉ bán mỗi tuần hai buổi bất di bất dịch: chiều thứ tư nấu ca-ri thịt dê và chiều thứ bảy, trở món bê thui, làm một tuần chỉ hai buổi mà cũng đủ làm giàu. Nếu so sánh với món ăn Sài Gòn, nội bò bảy món Chi Lăng cũng hơn xa. Nhưng ra ngoài lấy gì mà kén? Đại khái và ưng ý nhứt có món cháo lòng đường Phan Bội Châu, nước trong mà ngọt, vừa nhẹ tiêu vừa ngon mát, và khoái khẩu không kém là món cháo gà xôi gà đường Chi Lăng phố Già Hội, rất khổ và rất hạp vệ sinh. Khi nào tỳ vị tốt và lá gan không chứng nhõng nhẽo, thì nếm thử tô tiết canh Phan Bội Châu hoặc ăn bánh khoái Võ Tánh cầu Đông Ba đi xuống. Tôi không ghi trong chương trình những gì không thích như cơm Tây ở Câu Lạc Bộ mé sông Hương, gió mát thật nhưng đắt tiền và lạt phèo, quán Thượng Hải đường Phan Bội Châu bán cơm Tàu, dở như “Hạch” mà mắc không chỗ chê, và có một quán Tàu ở mút đường Chi Lăng, cảnh thật xinh mà nấu ăn thua Chợ Lớn xa quá, duy lúc tính tiền thì hơn Chợ Lớn rất nhiều. Ra Huế là để nếm của ngon vật lạ của người đất Huế, chớ thứ hột vịt lộn úp mề và cơm ăn Hối thèn (cơm Tàu hạng sang) thì thà để dành tiền về Sài Gòn, Chợ Lớn, ăn vừa khoái khẩu vừa khỏi bị cắt cổ. Một món lạ khác là ăn “cơm hến ngoài cồn”, nghe lạ tai, nhưng khi đưa đến chỗ tôi “ăn cơm ngó” chớ không thò đũa vô được, vì bình sanh tôi sợ mắm, lại nữa tôi đau chứng nước tiểu có lòng trắng trứng (albumìnurie). Năm khi mười hoạ, em tôi ở Sốc Trăng gởi mắm ngon lên, thì tôi ăn với điều kiện: ăn mắm phải ăn mình trần vận chăn, ăn trong xó bếp hoặc với vợ con, hoặc ăn không cho ai ngó miệng Ăn mắm không bao giờ nên mặc đồ lớn, như những buổi ra Huế là xứ có nhiều khăn đóng áo dài.

Đất Thần kinh, những món đặc biệt tôi thích là tỷ như trái vả, tròn tựa trái sung, nhưng lớn hơn nhiều, và chỉ mọc trên núi Huế, không thấy ai trồng hay là nó không hạ thuỷ thổ miền Nam. Trái vả xanh tươi, hái từ bụng núi đem về xắt mỏng. ăn kèm với rau ghém, khi ăn bánh khoái, khi kẹp thịt nướng, thì không gì thay thế ngon bì. Trái chuối chát trong Nam, dẫu là chuối non chuối hột, mùi lai cũng kém xa. Trái vả, chát vừa vừa và giòn rụm, có đặc tánh làm cho bao nhiêu chất dầu chất mo trong bữa ăn đều quánh lại và trôi mất, khiến ăn được thêm nhiều không ngán. Không thế nào trái chuối chát non hay miếng mít luộc đất Sài Gòn mà ngon hơn trái vả đất Huế. Và xin hỏi, trái nầy là của ta hay là sản phẩm của người Chàm? Tôi muốn biết đặng trả món nào cho người món ấy. Của Xê-da trả lại cho Xê-da (Rendez à César ce qui appartienl à César). Cho đến một thứ cải con nhổ ăn sống ngoài nớ, cũng khác mùi vị với thứ cải con đất Gia Định, Đồng Nai. Và tại sao cũng thì rau răm, là thứ rau cay cay mọc lẹt đẹt dưới đất thấp, mà rau mọc ở Huế thì thơm ngon lạ lùng, còn rau răm Sài Gòn, vẫn xanh lá tươi tốt không thua, nhưng mùi vị rất kém, không bì rau răm Huế chút nào. Có nhiều thứ rau nữa, ở Sài Gòn đều có mọc đủ giống, nhưng rau Huế cắn vào thơm phức khiến lần đầu ra đất Thần kinh, chuyến về tôi mang trọn một bao lớn đem về cho bà con thưởng thức món lạ đất nhà vua, nhưng một lần sau, nhơn đi ăn với một chị giáo sư người Pháp (chị M. Piat), tôi khen rau thơm ngọt, chị pha lửng một câu nữa khôi hài nửa đúng sự thật, làm tôi cụt hứng không mang rau về nữa. Tôi thì đinh ninh nhờ phong thổ đặc biệt, lạnh nhiều mát mẻ nên rau Huế thơm ngon khó sánh, nhưng chị đầm nầy cãi lại, nói một câu sét đánh: “Ils ne les lavent jamais!”. Tôi xin để nguyên văn và miễn dịch câu nầy ra tiếng Việt, vì không muốn vì một câu nói chơi mà làm mất niềm hoà khí gây hiểu lầm lớn chuyện giữa Việt và Pháp, nhưng suy nghĩ lại, thà dịch rồi bỏ qua: “Chúng nó không bao giờ rửa”. Người đồng bào Huế đô phải nhìn nhận tại sao quán bán bê thui, ngon thì có ngon thật, nhưng bầy hầy thiếu vệ sinh quá, dường như coi rẻ khách hàng: quán thì tum hủm chật hẹp, dọn vài ba cái bàn mà không cái nào sạch, ly chén không bao giờ cho vào nước e nó mòn đi chăng Mỗi lần dọn đũa, thì trao cho khách ba miếng giấy súc cắt vuông để khách tự lau đũa lấy, nói thật, tại vì bụng đói mà có tánh ham nếm món lạ nên mới lết đầu vào, chớ nhớ lại chờm gớm quá! Bưng tô ca-ri, anh dọn bàn nhúng trọn ngón tay cái luôn và móng lay viền lằn đen thui, miệng lại thập thò điếu thuốc Cẩm Lệ, ý chừng muốn khách thấy ca-ri có ngón tay nhúng là hiểu “ăn đi, vừa ăn, không nóng không phỏng miệng đâu!”.

Huế là xứ lạnh, dễ chịu. Đàn bà lớn tuổi, phần nhiều đều hút thuốc. Các cô quý phái ngồi xe nhà, chạy trên cầu Trường Tiền, cô nào như cô nấy thì thòm lo le điếu thuốc vấn trên môi. Các chị bán bún bò, vai gánh nặng trĩu, miệng cũng lấp la lấp ló nửa điếu thuốc tàn. Tôi hiểu vì lạnh điếu thuốc có mãnh lực làm cho ấm lòng, hay là mỗi cô mỗi bà đều có tâm sự buồn lòng nên cậy điếu thuốc giải sầu? Nhưng tôi là dân Miền Nam, chưa quen mất thấy người đẹp hút thuốc. Có một việc tôi công nhận là câu “ớt nào là ớt chẳng cay”, có lẽ câu nầy áp dụng xứ Huế thì chưa được đúng. Chính tại quán cơm Âm Phủ, bữa ăn thịt nướng rau sống, tôi nhai ngon lành ba trái ớt sừng trâu mà không thấy le lưỡi hít hà. Ớt xanh, rau sống, tỏi tươi, nem chua, trẻ, ngồi ăn mà nhớ đàn bà xứ nầy; ngay xưa làm cung phi, làm hầu thiếp nhà quan, vợ bé ông thương, ông hầu tước, đã quá quen cảnh ấy nên không ghen hay không dám ghen, thậm chí trái ớt xanh Huế cũng khác, không như ớt ở đâu đâu nhứt là nhớ ớt nhà, “ớt cay xé miệng mới là ớt ngon?”.

Đường Phan Bội Châu, núp sát hào nước bờ thành, có quán cháo lòng, hiệu đề hai chữ, nhớ chữ đầu là “Vĩnh”, chữ sau mại mại nhớ là “Lợi”, quán hiệu Vĩnh Lợi phải không? Đầu xuân Mậu Thân nghe dường như xóm nầy bom đạn nổ nhiều hơn chỗ khác và nơi thảm cỏ xanh trước quán có nhiều mồ mả mới vùi. Cái quán nầy hiện có còn chăng, hay đất Huế đã mất đi một nơi quan khách? Huế đô có rất nhiều quán bán cháo lòng, nhưng theo tôi, tôi chấm quán nầy là ngon nhứt. Đất Thần kinh, cháo lòng dọn với thịt luộc; trong tô cháo ở Huế, vẫn thiếu miếng dồi nướng đặc biệt của vùng Sài Gòn và của bợm nhậu, dồi dồn huyết tươi và sả ớt bằm, khi nướng mùi thơm bay nhột mũi. Quán Vĩnh Lợi dọn đĩa lòng ra không chỗ chê, nào bao tử, nào phèo non: nào tim gan giòn ngọt, nào dồi trường màu trắng buốt như bông bưởi, món thịt luộc thái mỏng cũng ngon ngọt lạ thường nhưng không một miếng dồi (hay là cháo ngon chấp dồi?). Ngặt chủ quán rất kén khách, dầu có tiền nhiều muốn vô đây phá mồi cũng không được với lão, vì thường ngày lão hay để dành mớ nhắm cho bợm quen; người khách lạ, đang ăn ngon miệng, xin rối thêm, lòng còn trong rổ mà lão dám đáp tỉnh bơ “đã hết”! Chẳng qua lão để dành hoặc cho khách quen chưa đến, hoặc lão nhớ còn một nồi cháo đầy, bán hết đồ lòng đồ bổi, lát nữa lấy gì bán kèm với cháo? Ăn thịt luộc ở Huế, khiến tôi bất nhớ món thịt luộc trong Nam. Tôi định con heo xứ Huế là giống heo nhỏ con, heo bản xứ, không bao giờ lai giống với heo các nước khác. Heo Huế tuy nhỏ con nhưng thịt săn và mềm, thớ mịn, khi luộc phay chấm với nước mắm Hòn thì ngon tuyệt, ngon không chỗ nói. Ở Sài Gòn và những nơi khác quen dùng thịt heo ướp lạnh, từ ngoại quốc đưa vào, còn như heo nuôi thì cũng là giống heo to con ngoại quốc nữa, hoặc heo gây giống ở Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho), loại heo nầy thịt cứng sớ to chỉ dùng làm ram-bông (jambon) theo Tây tà, hoặc nấu nướng món thường thì được được, chớ ăn phay ăn luộc, dùng làm nem thì mất ngon và ăn không thú bằng heo cỏ heo ta: nem kém dai và nhai nghe xam xảm. Miệt Chợ Đệm, trong Chợ Lớn đi vô, mấy năm thái bình trước khi có chiến tranh, cũng có món cháo lòng nổi danh một thuở. Người đất Chợ Đệm, khoe ở đó có nước con sông Ba Cụm chảy ngang, khi luộc thịt lấy nước sông ở đó luộc thì thịt trở nên giòn ngon, vì trong chất nước có một chút phèn làm cho săn thịt. Tôi nghe mà không dám cãi, vì cắt nghĩa thế nầy nghe khoa học quá, đút miệng vào sẽ có người cười rằng mình dốt có tật hay cãi bướng. Nhớ lại lúc nhỏ, ở Chợ Đệm có một ông thợ bạc có con gái đẹp. Ông kén rể, đứa nào có đít lôm, cứ xuống Chợ Đệm coi mắt cô nàng, sẽ có một bữa cháo lòng mát ruột và chuyến về, dầu được dầu không, cũng có một cặp vịt sen đem về nấu cháo ăn thêm. Nhắc Chợ Đệm là phải nhắc “bối Ba Cụm”, ăn trộm có danh ngày xưa trong vùng. Ra Huế ăn cháo để đỡ lòng, dám mơ đâu cầu hôn như Lưu Bị thuở trước, e ngoài kia bị bối Ba Cụm.

Trở lại món ăn xứ Huế, bất nhớ đến tô tiết canh cũng bán tại quán Vĩnh Lợi đường Phan Bội Châu nầy. Tôi không hiểu tại sao tôi ăn được món tiết canh chỉ tại xứ Huế mà thôi, về Sài Gòn, tiết canh đường Hồng Thập Tự, và tiết canh ở Gò Vấp, thiên hạ vào chiều ngồi ăn nượp nượp mà tôi chạy dài không dám rớ; có lẽ tại Sài Gòn, thời tiết nóng bức, và tiết canh, cũng như thịt đông ngoài Bắc, chỉ ăn vào mùa có gió lạnh lạnh mới thấy ngon lành. Tôi lại nghe có lão mặc áo dài đen, trước đây giữ chức trưởng ban văn chương tại trường Văn Khoa, lão có đầu bếp biết làm tiết canh khéo, lão khoe hoài nhưng tôi tuy vẫn muốn nếm mà không muốn chơi với con quạ áo đen nầy. Nói vòng vo bắt nhớ buổi đầu tiên học ăn tiết canh ở Huế.

Tôi, chiều hôm đó bước vào quán Vĩnh Lợi, một mình. Tôi ngồi cùng bàn với một anh quân binh trẻ nói tiếng trọ trẹ. Thấy anh gọi tiết canh, tôi cũng bắt chước gọi theo. Anh đòi một ly rượu trắng, tôi cũng đòi nhưng chủ quán sai người mua cho tôi một ly rượu thuốc, và căn dặn phái mua cho được tại nhà hai cô gái đẹp gần dốc cầu Đông Ba, phía bên ni nè, gần nhà Hồng Thuận, hiệu buôn mè xửng danh tiếng. Rượu mua về, tôi nhâm nhi mấy hớp, ly rượu gần vơi, đầu khởi sự quay, vừa cháng váng tơ lơ mơ thì món ăn dọn ra. Tôi liếc anh quân binh, anh làm sao, tôi làm y như vậy. Anh lấy miếng bánh tráng nướng, bóp nhỏ thả vô tô, tôi làm theo. Anh trút hết chén nước tương thơm phức vào tô, tôi cũng làm theo. Anh nặn chanh, tôi cũng vắt miếng chanh đến không còn một giọt. Anh trút thêm đĩa dưa giá chua, rồi nào tỏi, nào ớt, nào gừng ngâm giấm, nào riềng thơm, anh đều cho hết vào tô: thảy thảy tôi đều làm tên học trò ngoan bắt chước thầy không sai một mảy. Đoạn anh cầm đũa ngó tôi như mời mọc: “Vô ta nè!”. Tôi cũng cầm đũa mời lại: “Anh làm trước đi?”. Câu nầy tôi nói nho nhỏ trong trí, đủ nghe lấy mình. Anh cười. Tôi cũng cười theo.

Anh bưng rượu nốc cạn ly, đánh một cái khà. Tôi cũng cạn nốc ly như anh. Anh kê đũa lùa thật mạnh tay bao nhiêu thứ trong tô vào mồm. Tôi cũng nhắm mắt lùa rau và máu tươi vào miệng.

Ban đầu tôi tưởng không thể nào nuốt trôi những thứ lạ ấy được, nhưng may sao, trước có rượu nóng làm tiên phong dẫn đường, và đây sẵn đạo hậu tập, trong miệng cái gì ngọt ngọt thơm thơm cay cay nồng nồng theo sau, tiết canh lần đầu càng ăn càng thấy hấp dẫn, ngon lạ ngon lùng; khoái khẩu tôi lùa hết tô đầy, dám húp luôn cạn nước chất đỏ đỏ béo béo dưới đáy tôi; đến chừng ngó tấm gương lớn treo trên vách, thấy mồm mép mặt mày tùm lum tề lê những máu và huyết. Khi ấy tôi đứng dậy, quên chào anh quân binh thầy dạy ăn tiết canh, lật đật lại quầy trả liền, ra đường gọi một anh xích lô đưa thẳng về nhà Mo-ranh (Đại học Văn khoa), leo lên giường nằm nhắm mắt, ban đầu ngờ ngợ trông một sự gì xảy ra, hoặc nôn ọe trả lại cho sàn nhà những gì mới nuốt, hoặc sẽ ngây ngất khó chịu với ly rượu thuốc gọi rằng rất bổ, không dè tôi đánh một giấc ngon lành thẳng thét, trời sáng bét hồi nào tôi mới thức. Đã không có bợn dạ, mà dường như trong bụng thấy mát mẻ hơn ngày thường. Từ đó, tôi ghi vào lòng, kỳ tới nếu ra Huế, thế nào cũng nhớ ngày thứ ba phải lại thưởng thức tiết canh của lão già Huế sồn sồn, mặc áo “cháo lòng”, vận quần “huyết heo”, lão không bao giờ biết tắm là gì, nhưng có tài bào chế tiết canh ngon tuyệt!

Vừa bổ vừa ngon, lại có thêm ly rượu “thuốc bổ”, thì nó khoái thế nào?

Quán cháo lòng quán cháo gà xôi gà, thì từ bốn giờ chiều mới mở cửa, và vừa quá bảy giờ tối đã đẹp. Khách hàng vẫn mấy mặt, gặp nhau hoài đến hoá quen. Mỗi quán mỗi ngày mua thịt thà vừa đủ bán, không cần khách ăn khuya, và như vậy không tội nghiệp cho kẻ lỡ đường lỡ một chuyến tàu. Ngày rằm và mồng một âm lịch, càng thêm khổ, vì các quán đều theo Phật giáo cữ sát sinh, thảy đều đóng cửa không bán. Có một kỳ nọ, tôi làm cách, ỷ y có quán, tôi từ chối bữa tiệc đám cưới của một bạn buôn đồ cổ, chồng Mụ Tám cố mời mọc, tôi không nghe. Rồi từ giã, bước đến đâu đều cửa đóng then cài, báo hại hôm ấy về phòng ăn bánh mì nguội với nem chua trừ bữa. Ngươi Huế rất giàu tín ngưỡng rằm ngươn, mồng một, đi đến chỗ nào cũng thơm nghi ngút hương trầm, và đây là thứ trầm thiệt đất Quảng, thơm nhẹ lâng lâng thoát tục.

Nhớ đến buổi chiều ăn cơm quán cóc do người Hải Nam làm chủ và đứng làm đầu bếp. Thú vô cùng. Ngồi cái bàn thấp thấp sát bên đường Trần Hưng Đạo. Ngó tới trước là phố xá đông đúc toàn những mắt nhung tươi cười, tóc cắt ngang lưng, nón bài thơ lơ lửng. Ngó ra sau là con sông Hương lùa gió mát, văng vẳng bên tai tiếng véo von từ đài phát thanh đưa lại, hồn mộng say sưa, con cá béo từ cửa Thuận An tươi rói, con tôm cũng tươi, đĩa gà luộc hay đĩa mì xào, đang đưa hồn tưởng chừng lạc lối Thiên Thai.

Trong Thành Nội, số nhà 70 đường Đinh Bộ Lĩnh, có quán bán cháo lươn và lươn miến, thêm chạo tôm và đồ bổi để nhậu. Vừa lạ miệng vừa ngon thèm. Con lươn đất đế kinh, thịt thơm, mùi vị rất khác con lươn đất sình trong Nam, tuy cùng một giống.

Nơi day phố lầu trước khi vào cửa Thượng Tứ, có một quán Hải Nam, có món mì hoàng thánh tôm xào giòn, thật là hẩu tố (hảo đa, ngon miệng). Con cá bống chiên của quán này cũng ngon quá thể, ăn giòn đến xương xóc cũng giòn và kỳ vi đều giòn, nhất là khúc đuôi vàng cháy, thật là giòn khớp, giòn rụm, hằm bà lằng (hết thảy) đều giòn. Ăn mút từ miệng xương đầu, gặm từ khớp xương đuôi. Ăn rồi bữa cơm thấy xương rải đầy mặt đất, giựt mình thấy mình rất gần thú hơn gần người, hèn chi ở Huế, nơi các nhà vọng tộc có tục ăn riêng không ngồi chung với ai. Ăn chung miệng nhai ngồm ngoàm, e mất thể thống! Làm dân Việt, làm con Lạc cháu Hồng, được ít nữa hai cái tự do mà qua các nước Âu châu phải cữ kiêng mất thú: ăn cho thật kêu, cắn xương rôm rốp và húp canh cho thật kêu, húp nghe sồn sột. Nơi khác gọi như vậy là thất giáo và bất nhã, nhưng nơi đây, như vậy mới là tự do khoái khẩu. Đến như xương xóc thì nên nhớ ba điều: ăn cơm Tây, tập giấu khúc xương, không bao giờ gặm trước mặt khách khứa; xương gà xương cá, phải chừa lại vén khéo sạch sẽ trên đĩa; ăn cơm Tàu tha hồ bỏ vãi vỏ cua và xương thừa trên nấp bàn trắng toanh như vậy mới cho chủ nhà thấy món đãi khách thật là ngon miệng; cháu 72 đời đức Thánh Khổng, năm trước qua Sài Gòn dự tiệc nhà nước, đã ợ một tiếng muốn điếc con ráy ông chủ tiệc là ông bộ trường Quốc gia giáo dục, cả bàn đều nghe, vì ông Khổng-cháu, muốn tỏ được thết bữa tiệc vĩ vèo. Giữa hai ông Tây và Tàu, chỉ có người dân Việt, được gần với tự nhiên, hoàn toàn tự do, không có sự kềm thúc đài các giả, tha hồ mút xương, gặm xí quách (trừ cốt) và cứ bỏ vãi xương dưới đất, dơ dáy ư, ối thứ nhà nghèo, đâu cần lễ phép, đã sẵn con mực, con vện tế độ, tẩy uế!

Đường Chi Lăng, từ cầu Gia Hội đi lên, nơi mé trái, một đổi xa xa nhưng chớ qua khỏi đầu đường Nguyễn Du, có một ngôi nhà trệt rất cũ kỹ, ba căn thấp lè tè, chưn cột đã bị mối nhắm gần đứt tiện, nơi ngoài mái hiên có bày một lồng kiếng rất sạch, trong lồng có treo lủng lẳng mười con gà luộc, da vàng lườm tươm mỡ, xé bán không kịp và phải mau mau vô lãnh phần không kẻo hết, vì độ hơn bảy giờ tối là đã cạn nồi cháo cũng như trong lồng không còn một con gà; Trong quán, gạch lót lâu đời nên đã tróc men, chỗ lồi chỗ lõm, nhưng chớ nên khó tánh câu nệ, chịu khó ngồi chờ phiên, vì cháo ở đây rất ngọt nước và đặc biệt là đĩa gà xé phay, tôi chưa gặp ở đâu ngon hơn. Khách đài các ở đế đô, thời một tô cháo là vừa, vừa cho dạ dày cũng vừa cho túi tiền; nhưng đối với khách hạng Trí Thâm, Bát Giới miền Nam một tô không phỉ. Xin thời thêm một đĩa gà xé phay nữa, và nếu thấy còn lỏng lẻo, hãy chêm thêm và kêu thêm một đĩa nữa, độc vị xé phay.

Tôi ra Huế nhiều lần, và cứ mỗi ngày thứ năm trong tuần, làm sao tôi cũng phải ghé lại đây thưởng thức món cháo gà Gia Hội, không phải quán chỉ bán có ngày thứ năm trong tuần như quán bán bê thui và ca-ri dê đường Phan Bội Châu, nhưng vì tôi dốt thơ, người ta thì thích ngâm thi Đường “lạc diệp tri thu”, tôi lại thích ra Huế nếm món cháo gà Gia Hội; Tôi tọc mạch muốn biết vì sao cháo gà xứ Huế ngon lạ ngon lùng. Tôi định con gà ở đây là gà không lai chạ, không giao thiệp với gà Mỹ và bởi rặc nòi, nên khi nấu nướng theo cách đơn giản địa phương gà luộc, thì đặc điểm gà Huế vừa xương mềm, ngọt thịt, nhất là da rất giòn và không nhớt.

Các bạn muốn cười thì mặc ý, nhưng hãy tin tôi. Có lần về Sài Gòn tôi bắt chước mua gà giò, lựa thứ lông vàng chưn cẳng vàng, đem về luộc xé phay và nấu cháo khi ăn vẫn thua gà Gia Hội.

Một phen sau đó, tôi ra Huế, đi một mình lại quán, gọi một tô cháo đặc biệt và một đĩa thịt xé phay có đủ phao câu, đầu cánh và một đĩa xôi. Tôi để ý mụ chủ quán trộn gà cách nào để ăn cắp nghề và muốn hiểu tại sao nó ngon đến thế. Té ra cái bí quyết chuyên môn chỉ dồn trong hai bàn tay trầu của mụ. Mụ đứng bán từ xế chiều đến xẩm tối, tuy trước bụng mụ có nịt một tấm khăn choàng khá sạch, nhưng miệng vẫn nhai trầu tay vẫn xỉa thuốc, khi khách gọi gà luộc thì cũng bàn tay ấy mụ xé thịt, xé chớ không xắt không chặt, khách gọi xôi thì mụ cũng bốc xôi với bàn tay xỉa thuốc ấy. Đến lượt tôi dặn ba món: cháo gà, gà xé phay và một đĩa xôi, thì mụ vẫn để y tay từ ban nãy, vốc một mớ rau thơm lấy ngón tay ngất vụn bỏ vào đĩa, một tay sửa cục thuốc xỉa cho đừng rớt, quẹt sơ tay vào khăn choàng bụng, xong rồi lấy tay ấy xốc xốc trong tổ gà xé rời, lựa mấy miếng cho vừa giá tiền, xé nhỏ ra vụn, cho vào tô vào đĩa, bốc thêm mỗi món trong rổ lớn nào phao câu nào đùi gà, nào chéo cánh như lời tôi đã dặn, đoạn dùng trọn hai bàn tay còn trầu vừa nhồi vừa trộn xốc xáo, vừa bóp nặn cho đến thịt gà thật nhão mềm, thấm thía chất ngọt, kế đó lanh lẹ bà thò vá múc vào nồi cháo sôi sục, múc một vá nước cốt gà nóng hổi cho vào tô vào đĩa, rắc sơ ba hột tiêu lên mặt rồi sai bưng lạ tôi.

À há! nói có hại bên vai vác chứng miêng, và xin các bạn Huế chớ phiền, sở dĩ tô cháo gà và đĩa gà xé phay Gia Hội ngon không đâu bì, bí quyết là vì nơi xứ khác, làm gì có bàn tay trầu mụ bán cháo Huế?

Cà phê Hải Nam mé sông gần chợ Đông Ba, pha thật ngon thơm, nhứt là khi gặp tiết trời lạnh lẽo buổi sáng tinh sương, mấy lần trước khỉ ra sân bay, đến nhấp tách cà phê phin lúc sương còn mù mù, hớp từ hớp nóng thơm ngát, sông Hương vận khói, núi Ngự tăm tăm, lòng lâng lâng không muốn rời. Cánh tuyệt diệu, mấy giọt cà phê như cam lồ thần tiên…

Chợ Đông Ba, giữa hai quán Hải Nam bán điểm tâm bánh bao và hủ tíu, có một mụ dáng người cao mảnh khảnh, thường mặc áo dài trắng đã xuống màu hoen, sớm nào cũng gánh ra đây một nồi bún to ộc ệt. Tôi đã từng dùng bún riêu do mấy cô mỹ miều bày quán ở Sài Gòn. Mỗi khi ra Huế, mỗi sáng sớm tôi đều chứng kiến mấy chị sồn sồn thi nhau gánh gánh chạy ngang khu Đại học Văn Khoa Mo-ranh cũ, để chạy qua cầu Trường Tiền, qua khỏi cầu sao sao cũng hạ gánh xuống, lấy thuốc Cẩm Lệ ra hút, tán gẫu vài câu cho bớt lạnh, vừa lấy gạch cua gạch cáy ra tán nhỏ, giằm thật nát, cho vào nồi chao qua chao lại cho đều màu, rỗi gánh ra chợ bán. Tôi dám chắc trong các chí, không chị nào có nồi bún riêu ngon bằng chị có gánh đặt ở giữa hai quán cóc Hải Nam chợ Đông Ba nơi mé sông Hương nầy. Tháng chín năm 1967, chị bán mỗi tô là ba chục bạc, thật rẻ không chỗ nói. Chị rất biết chiều lòng từng người khách. Mỗi lần chị múc, chị xem tướng người mua. Chị liếc sơ, độ ý khách rồi mới giạo trong nồi tìm miếng thịt giò cho trúng ý. Chú lính trẻ còn răng, chị lựa khúc xương vừa giòn vừa dai để gặm cho đáng đồng tiền. Đối với tôi, ông già quá tuổi, chị lựa miếng giò để khi ăn còn nhớ đến phen sau. Có người nhớ Huế vì khúc Nam Bình canh khuya nghe giữa sông vắng. Tôi mà có ra Huế biết bao giờ? Một lẽ khó nói, hay là vì khúc xương giò thưởng thức buổi sáng trên bờ sông Hương