This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đúng 3 tháng sau, quả nhiên tôi lại được gọi lên làm việc với chấp pháp lần nữa. Lại cũng hai tên thanh niên trước đây và cũng y một bổn cũ soạn lại… Hình như đây là một tiêu chuẩn của tù khi đi làm việc hay sao đó, bởi vì tôi cũng được ăn một ổ bánh mì thịt, uống một bịch nước mía, hút phì phà thuốc Hoa Mai trước khi một trong hai tên hỏi tôi một câu cũ mèm:
– Sao? Anh đã nhớ lại và thành thật khai báo với chúng tôi chưa. Anh đã nhận biết và có đọc qua bài thơ đó chưa?
Tôi cũng trả lời với hắn một lời cũ rích:
– Tôi đã nói với hai anh mấy lần rồi là tôi không hề biết nó là cái gì và không hề thấy nó trước đây đây thì làm sao đọc nó được.
Buổi “làm việc” cũng kết thúc nhanh gọn tại chỗ đó. Lần này tên thanh niên chỉ huy buông ra một câu thật gọn:
-Xong. Anh lại ngoan cố nữa rồi. Vậy thì anh hãy lên nằm suy nghĩ nữa đi, 6 tháng sau chúng tôi sẽ lên làm việc với anh lại.
Tôi cũng không nói thêm lời nào. Ký vào tờ giấy như những lần trước rồi đứng dậy đi theo tên công an trực ở Chí Hòa ra ngoài phòng làm việc mà không hề nhìn thêm hai tên thanh niên đó một lần nào nữa, vì tôi biết cũng chỉ là vô ích thôi. Tôi đã chọn con đường cương quyết chối, thì phải cương quyết đến cùng, không thể đi lùi lại được nữa. Mặc cho kết quả thế nào tôi cũng chấp nhận hết. Trước khi quẹo vào khu hành lang để đi lên lầu, tôi kín đáo liếc nhanh về phía phòng làm việc lúc nãy, thì thấy hai tên công an chấp pháp đang đứng trước cửa nhìn theo với vẻ mặt hình như tức tối lắm.
Tôi bước vào lại biệt giam 2, lòng thoáng ngạc nhiên khi thấy sao lần này tâm trạng của tôi lại dửng dưng vô cùng? Có phải tôi đã quen với trò chơi ép cung của hai tên cán bộ chấp pháp CS này rồi hay sao? Một trò chơi hoàn toàn không công bình và càng chơi tôi là người càng bị thua thiệt nhiều nhất. Một trò chơi mà càng chơi tôi càng thấy số phận mình mịt mờ thêm… nhưng không hiểu tại sao lần này tôi không thấy đau buồn như những lần trước, quả thật lòng tôi thanh thản và bình tĩnh một cách kỳ lạ.
Tôi ở thêm khoảng hơn một tháng nữa thì Thủ Thiêm cũng bị chuyển đi nơi khác, tôi không biết anh có được ra toà xét xử hay không và họ đã chuyển anh đi đâu. Tôi có hỏi anh chàng lao động Xáng, nhưng có lẽ anh ta không dám nói. Anh ta chỉ trả lời tôi là không biết. Hoặc giả anh ta không biết thật cũng không chừng.
Còn lại một mình ở biệt giam 2, hai phòng bên trống rỗng. Ban đêm tôi thấy nhớ Thủ Thiêm và chị Nguyệt thật sự. Thèm được nói chuyện với bất cứ một người nào đó vô cùng. Mọi hôm tôi vẫn có cái cảm giác cô đơn, nhưng kế 2 phòng bên vẫn còn có hai người bạn tù láng giềng. Mỗi tối chúng tôi còn gọi hỏi thăm qua lại, còn “đi xe” chuyền cho nhau những điếu thuốc tình nghĩa, hoặc những món quà nhỏ trong ngày được gia đình tiếp tế… Bây giờ hai người bạn tù đã bị chuyển đi rồi, cảm giác cô đơn hình như tăng lên gấp bội… Mỗi ngày bây giờ tôi chỉ có thể nói một, hai câu khi được mở cửa đi làm vệ sinh hoặc đi nhận cơm canh, mồi thuốc… Đôi khi tôi tìm cách gợi chuyện với lao động Xáng nhưng anh chàng này nhát quá không dám trả lời… nên cũng như không.
Nỗi cô đơn làm tôi sinh ra tật nói chuyện với những con kiến trong lúc chơi đùa với chúng như là nói với những con người thật hồi nào không biết. Hoặc đêm tối đôi khi nằm nghêu nghao hát cho đỡ buồn, tôi đột nhiên phát hiện ra mình đang lảm nhảm nói chuyện một mình… Tôi bỗng thấy lo sợ là mình sẽ bị bệnh tâm thần, dù biết rằng đây chỉ là hậu quả của sự ức chế tâm sinh lý mà ra. Tôi đã phải dành thêm nhiều thì giờ ngồi cầu nguyện hoặc đi đếm bước 1,2,3,4 hoặc tập Dịch Cân Kinh để đầu óc tránh khỏi nghĩ ngợi lung tung… Cái tật nói chuyện một mình mà tôi mắc phải mãi đến thật lâu sau này mới hết…
Hôm ấy quả là một ngày xui xẻo cho tôi. Buổi sáng đi “làm việc” với chấp pháp không có gì tiến triển tốt, đêm đến trong khi nói chuyện với Thủ Thiêm thì tôi bị công an trực lên bắt gặp. Hôm đó cửa gió của chúng tôi bị đóng chặt nên không ai canh chừng được. Đang nằm nói chuyện qua biệt giam 1 với Thủ Thiêm thì tên công an trực đi lên hồi nào tôi không hay. Hắn mở cửa lỗ gió nhìn vào phòng tôi quát lớn:
– Có im đi không thì bảo. Các anh đã biết nội qui cấm quan hệ lẫn nhau mà các anh còn vi phạm phải không? Muốn chết hả?
Hắn cũng đập mạnh lên cửa phòng biệt giam 1 và quát tháo với Thủ Thiêm câu tương tự.
Như một phản xạ tự nhiên, tôi im bặt ngay lập tức, giương mắt nhìn tên cán bộ công an bên ngoài qua lỗ gió và sẵn sàng chờ hắn mở cửa lôi tôi đi cùm giò… nhưng hắn không thèm mở cửa phòng hai chúng tôi, chỉ đứng ngoài quát tháo thêm vài câu răn đe tôi và Thủ Thiêm rồi bỏ đi. Đợi một lúc thật lâu cho chắc chắn rằng tên công an đã bỏ đi, chị Nguyệt lên tiếng hỏi thăm và khuyên chúng tôi:
– Sáu Khổ và Thủ Thiêm có sao không?? May mà cán bộ không phạt hai anh, thôi cố gắng ngủ đi, đừng nói chuyện nữa. Rủi bị phạt thì khổ lắm.
Chúng tôi cám ơn chị Nguyệt và thôi không nói chuyện nữa. Tôi tưởng rằng sự việc đó qua đi, nhưng sáng hôm sau, tôi chờ hoài không thấy anh Tiến lao động mở cửa cho tôi đi đổ bô và làm vệ sinh cá nhân như mọi hôm. Phòng biệt giam 3 của chị Nguyệt đã được mở cửa cho đi ra ngoài làm vệ sinh từ lâu, nhưng biệt giam 2 của tôi và biệt giam 1 của Thủ Thiêm chờ mãi vẫn không được mở cửa cho ra ngoài. Tôi tưởng anh Tiến lao động bận rộn gì nên mở cửa trễ cho chúng tôi. Nhưng chờ đến trưa cũng không thấy ai mở cửa cho tôi ra ngoài. Đến giờ phát cơm, tôi đi ra nhận cơm, có một tên công an trực đứng gần đó. Trong khi anh Tiến lao động xúc cơm canh vào hai ca cho tôi, tôi quay lại nói với tên công an rằng hôm nay tôi chưa được ra ngoài đổ bô…
Tên công an quay lại quát vào mặt tôi:
– Không có đổ bô đổ biếc gì cả. Đêm hôm qua anh nói chuyện với biệt giam 1, phạm nội qui trại. Cán bộ trực đêm qua đề nghị phạt hai anh không được đổ bô 1 tuần lễ Chưa cùm giò các anh đã là may cho các anh rồi. Còn ở đó mà khiếu với nại gì nữa.
À thì ra là thế! Vậy mà tôi tưởng tên cán bộ trực đêm qua tha cho chúng tôi chứ. Thôi thì đành chịu vậy. Tôi lẵng lặng mang cơm canh đi lên lại biệt giam. Anh Tiến nhìn theo tôi ái ngại, nhưng dĩ nhiên là không dám nói câu nào.
Một tuần lễ không được đổ bô! Câu nói buông ra có vẻ đơn giản, nhưng trên thực tế đó là một cực hình lớn đối với tôi. Tôi có thể nhịn ăn mấy ngày, nhưng không thể nhịn uống. Còn những sự bài tiết, con người chỉ có thể nín đến một mức độ nào đó thì không thể nín nhịn được nữa. Với cái bô nhỏ xíu, đi tiểu thì còn đỡ, nhưng nếu không muốn bị nước tiểu văng ra ngoài, tôi phải bê cái bô trên tay trong khi tiểu. Đó là khi cái bô còn trống, nếu cái bô bắt đầu đầy, bê trên tay khi đi tiểu cũng không phải dễ dàng gì, nên tôi phải quỳ xuống tiểu từ từ vào bô cho khỏi văng ra nền. Còn nói đến việc đi tiêu thì đúng là chuyện này làm khó tôi thật chứ không phải đùa. Khi cái bô còn trống, tôi đã phải ngồi lom khom, hai tay chống dưới đất, người hơi chồm về phía trước cho đỡ mỏi, đít kê vào bô và đi tiêu với tư thế đó… huống hồ gì khi cái bô đã đầy, có cố gắng cách mấy, không nhiều thì ít khi đi tiêu vẫn có nước tiểu trộn phân văng ra ngoài nền. Dù có một miếng carton dầy đậy trên cái bô, nhưng mùi hôi thối trong biệt giam 2 khỏi phải nói cũng “ghê gớm” đến như thế nào, nhất là trong một không gian nhỏ hẹp như vậy. Tuy nhiên tôi cũng chịu đựng được mùi hôi thối đó, chỉ có điều là cái bô nhỏ quá, không chứa được hết tất cả sự bài tiết của tôi trong một tuần, đến ngày thứ năm thì cái bô đã đầy ắp lên rồi… Tôi thật khổ sở vô cùng trong trường hợp này.
Bên biệt giam 1, Thủ Thiêm cũng không sung sướng gì hơn tôi. Chúng tôi nói chuyện và tìm cách giải quyết tình trạng bài tiết nguy ngập này. Còn hai ngày nữa mới hết hạn bị phạt, phải làm sao đây? Ban đêm chúng tôi bàn bạc với nhau và thấy chỉ còn cách dùng bao nylon thay thế cho cái bô đựng nước tiểu và sẽ cố gắng ăn thật ít để tránh đi tiêu trong hai ngày sắp tới.
Tôi lục trong giỏ quà thì chỉ có hai bịch nylon: Một bịch đựng muối mè đậu phộng. Một bịch đựng mắm ruốc xào thịt. Nếu lấy bao nylon thì thực phẩm sẽ để đâu? Cuối cùng tôi phải trút muối mè đậu phộng vào bịt mắm ruốc, tất cả đựng chung trong một bao nylon mà thôi, để lấy dư ra một cái bao nylon sử dụng cho việc bài tiết. Khổ nổi sau khi dư ra được một bao nylon, thì tôi phát giác cái bao nylon dư đó có một vài lỗ mọt nhỏ xíu mà trước đó khi còn đựng muối mè đậu phộng tôi không nhìn thấy được…
Đúng là hoạ vô đơn chí! Cũng may bên biệt giam 3 chị Nguyệt sau khi biết vậy, cũng ráng thu xếp thực phẩm bên đó và đi “xe” qua tiếp tế cho một bao nylon tương đối còn tốt để tôi tròng vào nhau 2 cái làm một cho chắc ăn. Hai ngày kế tiếp, tôi giải quyết mọi bài tiết vào ngay trong bao nylon đó. Bên Biệt Giam 1, Thủ Thiêm cũng tìm được cách giải quyết tương tự.
Hãy thử tưởng tượng một con người ở trong một cái phòng nhỏ bằng hộp diêm quẹt như thế, ngoài mùi hôi thúi ra, tối ngủ cũng nơm nớp lo sợ vô tình duỗi chân đụng phải cái bô làm đổ chất thừa thãi hôi thúi đó ra ngoài thì mới hiểu được tôi đã chịu đựng như thế nào trong suốt một tuần lễ đó?
Cuối cùng chúng tôi cũng qua đi tuần lễ kinh khủng này! Tôi nghĩ thà là tôi bị còng giò còn đỡ hơn là bị phạt không cho đi đổ bô như thế này. Đúng là tàn nhẫn thật! Một tuần lễ bị phạt không được ra ngoài làm vệ sinh và đi đổ bô tại biệt giam 2 trại giam Chí Hòa này là một kỷ niệm trong đời không bao giờ tôi có thể quên nổi.
Tuần lễ sau đó anh Tiến lao động hết hạn tù được thả về. Khu tôi có một lao động mới người Việt gốc Hoa tên Xáng cũng bị tội vượt biên, ra làm lao động thế anh Tiến. Trước hôm anh Tiến về một ngày, trong giờ phát cơm nhân không có cán bộ công an ở đó anh cho biết là ngày mai anh được thả. Tôi bắt tay chúc mừng anh đã thoát được kiếp lao tù này, anh cũng chúc tôi ở lại gặp nhiều sức khoẻ và may mắn… sớm về đoàn tụ với gia đình. Cũng ngay bữa đó, anh cho biết thằng Hồng bạn tôi cũng đã hết hạn và đã được thả về hai ngày trước đó rồi. Nó nhắn cho tôi biết là nó sẽ báo cho gia đình tôi hay rằng tôi cũng khoẻ mạnh để cho nhà yên tâm… Nghe tin này tôi thật mừng cho bạn tôi. Tuy nhiên liên tưởng tới chuyện của mình chưa ngã ngũ vào đâu và ngày về thì còn mịt mờ, xa lắc xa lơ mà không khỏi bùi ngùi cho thân phận.
Cũng vẫn những sinh hoạt và thời khoá biểu đều đặn hàng ngày: Sáng sớm dậy cầu nguyện, tập Dịch Cân Kinh… Chờ lao động mở cửa đi đổ bô và làm vệ sinh cá nhân… Xong vào chơi đùa với mấy con kiến cho đến giờ phát cơm trưa. Buổi trưa nếu nói chuyện với phòng bên mấy câu rồi cố gắng ngủ một chút. Buổi chiều đi đếm bước 1,2,3,4 rồi chơi với mấy con kiến cho đến giờ phát cơm chiều. Buổi tối thì nói chuyện với 2 phòng bên, hôm nào cửa gió mở, có người canh chừng thì nghêu ngao hát mấy bài cho đỡ buồn. Sau đó lại đi đếm bước 1,2,3,4 khoảng một tiếng rồi cầu nguyện trước khi ngủ…
Thuật lại một chuyến đi săn đồ cổ ở huế. Đi tìm tô tế khí đặng huy trứ, chế tạo năm mậu thìn đời tự đức (1868)
A. Mấy lời biện minh trước khi vào đề.
1. Đồ cổ xứ Huế, tôi mua khá nhiều và mua hoài vẫn còn. Thuật chuyện lại không bao giờ hết. Nay xin đơn cử một cổ vật tôi mua để chấm dứt tật ghiền đồ cổ: các bạn lấy đó làm gương cũng đủ. Không chơi thì miễn luận, chớ bước vào nghề chơi đồ sứ cổ, không khác ôm bịnh ghiền nha phiến: không hút thì khó chịu bứt rứt; tôi cũng vậy, không mua đồ cổ cũng bứt rứt khó chịu y như ghiền chị phù dung. Tôi đã suy nghĩ nhiều trước khi mua cái tô nầy, gọi tô Đặng Huy Trứ.
2. Bình sinh tôi mê thích đồ xưa còn hơn khách hào hoa mê gái, hơn xa người đánh bạc mê bài. Mua được một món lạ, tôi đắc ý gặp ai đến nhà cũng lấy ra khoe, quên rằng ép người ta nghe mình nói chuyện Tam Hoàng Quốc Chí, người ta mau chán ngán.
Chỉ riêng tôi, với món đồ mới sắm, tôi có thể mân mê suốt ngày, không ăn cũng đủ no. Nói không sợ ai cười, tôi có thể trở nên một thằng điên khúc khích mình cười chuyện một mình, rồi tôi sung sướng khoan khoái trong lòng, khi ấy tự mình thấy trẻ trung, nhỏ xuống mấy tuổi, vì lẽ ấy không trách vì sao tôi cứ mua đồ xưa. Vả chăng quan niệm “sống” là gì? Mỗi người hiểu mỗi khác. Chung qui phải có vui mới đáng sống. Có kẻ muốn được sống nhẹ nhàng lành mạnh, phải cần đánh bạc đến thua sạch túi, cần mua rượu về uống cho thật say, còn những người cần cho gái nhiều tiền, tôi sợ nên không dám nói. Vì suy nghĩ làm vậy, nên tôi đành cứ việc mua đồ cổ.
3. Tiền mua đồ cổ, dẫu tốn bao nhiêu, tôi không sợ. Tìm cho ra manh mối một nước men đồ sứ cổ, tìm cho được một lời đáp đúng của một bài toán khó, sửa một chiếc xe nằm vạ làm cho xe chạy bon bon, đem thằng con sa ngã vào đường ngay, một tỷ dụ nầy tôi không dám nhấn mạnh, nhưng cứ nói ra đây còn bàng quan phán đoán, mở nẻo cho một gái ăn sương bỏ nghề, cứu vớt một món đồ cổ ra khỏi chốn vô danh, mấy cái khoái ấy như nhau, khác nào ông tướng xuất binh, giờ chót mới hô thắng trận, nỗi mừng càng lớn.
Ở đời thấy nên mà ra hư, và đã thấy hư bỗng lại hoá nên. Có con làm tá, làm ông quận nầy quan kia, là con nên. Đùng một cái, tá đi cải tạo, quan đi học tập, quận đi hốt phân, nhà cửa bị tịch, cái hư từ ngoài cổng hư vô. Tôi nói “đa thọ tất đa nhục”, bạn tôi, ông Vi Huyền Đắc, ra Bắc chết năm ngoái, cãi lại là “đa nghiệp” chớ chưa phải đa nhục. Tôi nói: “Đa nam tất đa ưu”, ông không trả lời và hẹn sẽ gặp nhau dưới ấy. Trở lại cái tô xưa, tôi đã trút cạn nỗi lòng là để cầu người tri kỷ ban cho một tiếng: “Ừ! Anh nói cái đó, tôi nghe được, có lý lẽ vững”. Nghe được bao nhiêu đó sá chi kẻ ngoài cuộc cười chê là gàn. Tóm lại, sở dĩ tôi cạn bày ý nghĩ vụng về là muốn được người có mắt xanh chú ý đến ba cái đồ cổ đang lạc loài nó đang bị nạn như mình, nếu không lo cứu vớt tự bây giờ thì một ngày kia hối tiếc e không kịp.
4. Đời đang chuyển mình, trong cảnh dầu sôi lửa bỏng như hiện nay, những chuyện phiếm đáng nên gác bỏ. Nhưng đây là một sự tìm tòi đánh dấu một bước đi chập chững, chậm lụt của khoa nghiên cứu đồ sứ men lam xứ Huế, tôi không hư và chỉ muốn nên. Tài liệu có trước mắt, thiết tưởng nên xuất ra một số tiền để mua cái tô rồi sẽ hay. Phải khai thác nó khi còn bốc hơi còn nóng chờ đến mai, rủi có sự gì xảy đến, cái tô nát đi hay thất lạc rồi, khi ấy có bao nhiêu tiền cũng vô ích, có bao nhiêu nhơn tài và thiện chí cũng trễ mất, người ta làm lớn lo việc đại sự, mình ở trong kẹt ra công lượm mót đồ xưa để bảo tồn cái gì đáng gọi là quốc tuý quốc hồn, nên hay hư, xin hỏi.
B. Kể lại sự tích một chuyên di săn một cái tô xưa
Dùng để chấm dứt một thiên khảo cứu hay nói một cách khách tự mình kể nỗi gàn ương của mình, của một nhà chơi cồ ngoạn “già kén chẹn hom”.
Từ năm 1965 đến năm 1967, mỗi năm tôi đều có dịp ra Huế bốn kỳ, mỗi kỳ tôi ở lại Huế đô suốt tuần có khi đến mươi bữa, tiếng rằng đi dạy học, kỳ trung tôi thừa dịp nầy để thoả thích tánh ham đi săn cổ ngoạn. Tiền tôi lãnh được bao nhiêu ở Đại học Văn khoa, tôi đều cúng trum vào đó. Có khi không đủ còn lén châm thêm liền nhà. Đừng nói lớn, vợ con nghe, nhưng tôi không tiếc. Mua được thì mừng vui, không mua được thì bứt rứt xốn xang, nên thà mua như ai kia mua sâm nhung, hoặc thuốc an thần. Tôi có thể kể ra đây, đóng thành tập sách dày những món quý đã mua được trong mấy kỳ ra Huế, nhưng trong buổi nầy ai còn đầu óc rảnh rang để nghe mình thuật chuyện trồng xoài, vậy để tôi lựa nhón và đơn cử ra một thí dụ nhỏ, đó là chuyện cái tô chế tạo năm Mậu Thìn (1868) đời vua Tự Đức, cũng gọi tô Đặng Huy Trứ.
Thứ ba 5 tháng 10 năm 1965 Ra Huế, ghé nhà ông Khoá Ổi trong Thành Nội. Gặp cái tô nầy lần thứ nhứt. Mãi đến 31 tháng 3 dương lịch 1968, tức trên hai năm trường tôi mới mua tô được.
Mà sự mua chác nầy, theo tôi là do một tiền định, một duyên kiếp, một phần may rất lớn, tuỳ người ngoài hơn là tuỳ ở nơi tôi.
Khoá Ổi lấy cái tô ra cho tôi xem. Ông ra giá sáu ngàn đồng (6000S00). Tôi chê mắc, nhưng không nói, và tôi chê thầm nước men còn mới quá. Lại nữa, mấy lúc gần đây, tôi xét lại tôi mua đã nhiều, nên tốp bớt và nên dành tiền dùng khi bóng xế về chiều không lột da sống đời và cũng không chắc sống thêm bao lâu nữa hòng tham lam chất chứa của nợ. Con gà ăn no thì bươi; người chơi đồ cổ đã nhiều thì hay kén chọn. Tôi trả bốn ngàn. Khoá Ổi bao giờ chịu bán… Tôi ra về, mà lòng nửa tiếc, nửa làm gan: cắn răng thi đua, xem ông bán trước hay tôi mua trước.
Thứ bảy 16 tháng 10 năm I965 – Về Sài Gòn nhớ tới cái tô, khó chịu. Viết thơ cho một bạn lão thành cố tri là ông ấm Tư, cậy bạn hỏi thăm dò xét về cái tô, điều tra lý lịch… Trong thơ tôi nhấn mạnh: “Tô đẹp thì có đẹp, nhưng tựa hồ còn mới, ấm huynh là người cao kiến, xin xem lại kỹ giùm”.
Thứ năm 4 tháng 11 năm 1965 – Được thơ cụ Ấm trả lời.
Từ bữa được thơ không ngày nào tôi không nhớ cái tô, nhớ và bứt rứt, giận lấy mình sao không mua quách, từ đó tôi trở nên quạu quọ trong nhà không ai chịu nổi. Tôi vừa ăn năn vừa hối tiếc nhưng làm gan cố lỳ, cố lỳ rồi quạu. Sở dĩ tôi không mua với giá 6000 đồng, vì theo tôi: 1) Giá 4000 là vừa; 2) Nếu mua cao hơn không khác nào bắc cầu cho lão Ổi, sau nầy vịn theo đó và leo thang mãi thì ai chịu được; 3) Lại nữa nếu mua giá 6000, lại e cụ Ấm khi hay tin nầy sẽ phiền chăng. Rồi sau nầy, nếu ra Huế, còậii làm bạn với mình trong những buổi đi săn cổ vật. Còn đang phân vân bất nhứt, đấu trí với một người bán đồ cổ bản lĩnh cao, trong cuộc thi đua, tôi cũng cố lý, cho nên mấy tháng sau, nhiều dịp ra Huế, tôi đều đến chào Khoá Ổi, không khác chàng rể ra mắt ông bô mà chưa nhứt định rước “bô-tê” kia đem về. Không thấy Khoá Ổi bớt giá, tôi cứng đầu cũng không ưng trả thêm, cũng vì một chút ỷ y, nhấm không ai biết nhà Khoá Ổi, có tô cổ quý mà đến mua giành. Bỗng một kỳ nọ ra Huế, nghe tin sét đánh: bác sĩ Hà, bạn thân của cụ Ấm và của tôi, mách rằng có con cháu gái Khoá Ổi đến khám bịnh, cho hay cái tô, dường như đã bán về tay một người Pháp chơi đồ cổ, làm chức đại diện (délégué ) gì đó, ông nầy từ Đà Nẵng được một người dẫn mối đến mua và Khoá Ổi đã bán rồi. Giá sáu ngàn đồng không bớt một xu. Nghe tin nầy rồi, đầu xây bồ bồ, choáng váng mặt mày y như lúc bị chúng giựt mất vợ đẹp. Không dám lại nhà Khoá Ổi nữa, trong bụng tức giận mà không biết giận ai. Trông mau về Sài Gòn để gởi thơ cho cụ Ấm nhờ dò lại đích xác xem có quả Khoá Ổi đã bán cái tô thật hay không, hay đây là một tin bịa để thúc hối mình sớm mua. Vài ngày sau quả tôi nuôi hy vọng trở lại, vì thơ trả lời cụ Ấm nói “Khoá Ổi trả lời với cụ, rằng lô kia còn đó chưa bán cho ai”. Được tin như vậy, mừng khấp khởi, tôi vui lại như cũ và rất trông mau mau tới kỳ ra Huế để xem cho hản sự tình.
Thứ ba 4 tháng giêng năm 1966 – Tôi ra Huế dạy được hai ngày.
Bữa nay náo nức trong lòng không thể chịu được, trưa ăn cơm hối hả, bỏ giấc ngủ ngày, gọi xe kéo tuốt lại nhà Khoá Ổi để mau nhìn mặt cái tô Nhưng khi đến nơi, lão Ổi tỉnh bơ, không đả động gì đến chuyện cái tô, lại còn mở tủ bí mật lôi ra hết món nầy đến món khác, làm tuồng như dỗ trẻ con, hãy quên cái tô đi, đây nầy thiếu gì đồ chơi, không thiếu gì đồ cổ quý và đẹp bằng mười bằng trăm cái tô kia vậy. Thật lão già nầy cầm mình không hơn đứa bé lên ba, hễ khóc thì lấy bánh ra nhem là nín. Kỳ trung cái tô không còn trong nhà nầy nữa, nếu còn thì lão đã lấy ra rồi. Mà nói cho ngay, sự cám dỗ nầy ghê gớm thật. Đồ xưa tại nhà lão, món nào cũng hấp dẫn, vừa thấy là mê ngay. Mỗi lần lão đưa ra một món, là lòng tôi rung lên, mí mắt chớp lia, nhưng tôi cố dằn, một một hai hai đòi thấy cho được cái tô nọ. Sau rốt biết mình bị gạt mớp, không dằn được nữa, tôi xổ hết nư giận, nói thẳngg vài lời từ giã, cho lão Khoá Ổi biết: tô đã bán mà còn đong đưa không nói thật, như vậy là thiếu chữ tín, ăn ở không thật tình, và tự hậu đừng trông mong tôi trở lại cũng không còn muốn mua chác giao thiệp gì với ông. Giận rồi. Tuy sức trói gà không chặt mà nư giận cũng lớn khá. Giận đến muốn chừa, bỏ tật mua đồ cổ cho khỏe thân, và xem có chết ai. Trong tập nhựt ký, nay lấy ra đọc lại, thấy ghi: Tháng giêng 1966, một thất vọng chua chát là mua hụt tô nhà Khoá Ổi có chữ đề “Đông mạch tụ cô tùng”. Nghe đâu tô đã lọt về tay một người Pháp ở Đà Nẵng, y mua với giá 6000 đồng của Khoá Ổi đã đành. Tuy biết mua hụt thì tức và uổng, nhưng đã trễ rồi. Khác nào bị giựt vợ!
Tháng 8 dương lịch 1966, hay tin buồn. Khoá Ổi đã đi bán đồ xưa dưới địa phủ, không ép được tôi mua cái tô theo giá ông định, ngã lòng và thất bại, ông ra đi không trống không kèn, bỏ tôi lại đây bơ vơ mà nào có vui, vì bị chúng hớt tay trên một món thích, vì tánh chần chờ nên lỡ mất cơ hội tốt. Tôi không còn hờn giận ông nữa và xét cho kỹ, lại có chỗ thương tình. Đã buồn sẵn nay lại buồn thêm, nhớ tiếc cái tô hơn lúc nào cả, vì con cá sẩy là con cá lớn. Nhớ giọng Khoá Ổi ngâm câu “Đông mạch tụ cô tùng”, lây cho mình chứng bịnh tiếc nhớ hão. Tự trách hà tiện làm chi năm sáu ngàn bạc, để nay phải khổ tâm sầu nát. Chưa dứt được tánh phàm, lòng dục vọng làm khổ con người không nhỏ. Dứt khoát được sớm chừng nào, là rảnh nợ đời và khỏi đi tu chùa. Lý luận cho đã rồi nai lưng kệch chạy đi tìm tông tích cái tô hòng mua vớt lại như vậy mới phải là cái thú chơi cổ ngoạn. Nghe tin một người Pháp ở Đà Nẵng mua được cái tô, không nhịn được, hèn viết thơ ngay ra Đà Nẵng, gởi khống nguyền cho ông đại diện lãnh sự Lang-sa vì căn cứ theo lời người mách, chữ delegué rộng nghĩa quá, biết đó là ông đại diện, nhưng đại diện cho ai, cho ông nào, cơ quan hay quốc gia nào? Trong thơ tôi viết gởi đi, cố nhiên là bằng Pháp ngữ, tôi chọn lời khiêm tốn, hết sức yêu cầu, nếu quả có mua, xin bằng lòng nhượng tô ấy lại cho tôi, tôi dùng làm vật nghiên cứu. Xin délégué đến tệ xá, lựa món cổ vật nào vừa ý, thì chúng ta đổi chác với nhau, và trong thâm tâm, sự nhẫn nhượng hy sinh nầy đã là tột bực. Qua ngày 5 tháng 9, quả tôi có nhận của ông lãnh sự Pháp ở Đà Nẵng, một bức thư khá nhã nhặn, nhưng than ôi, ông cho biết ông không bao giờ có mua một cái tô xưa nào ở xứ Huế.
Câu chuyện đi săn mù một cái tô mua hụt, đến đây kể như kết thúc, bài tôi viết hôm nay chỉ làm thất công người đọc, riêng tôi thì hoàn toàn thất vọng, tật buông mồi bắt bóng là tật hư; cũng tại mình, trách ai?
Không khác chuyện một cô gái tân, hồi nó còn ở nhà cha mẹ thì không chịu bỏ trầu cau, mảng chần chờ để nó bị người khác cưới khi ấy nằng nặc xin chuộc, mặc dầu cái tân đã không còn. Quả tôi hư hay không, tôi không cần nói.
Chúa nhựt 24 tháng chạp tây 1967 – Bác sĩ H. từ Huế bay vô Sài Gòn. Ông ghé nhà báo tin mừng đã tìm ra manh mối lão Tây mua cái tô. Có hy vọng nài được duy giá phải cao. Tôi trả lời giá nào bây giờ tôi cũng ưng, miễn đừng lên tới mười hai ngàn đồng, gấp hai giá cũ, thì tôi chịu thua, không với tới.
Tháng hai dương lịch 1968 – Đầu xuân Mậu Thân, thành Huế bị nạn chiến chinh, ngót hai chục ngày, đôi bên đánh nhau, ngày rút lui, thành trì chỗ hư, chỗ đổ nát, cung điện, nóc điện bị bắn bị bom. Rất đỗi thành vua còn bị vạ lây, có ai có lòng dạ nào nhớ đến cái tô quèn. Xin đừng nhắc tới nữa, đau lòng.
Ngày 31 tháng 3 dương lịch 1968 – Buổi chiều, thỉnh lình có bác sĩ H. đến. Ông từ Huế vào, vì máy bay giao thông trở lại. Anh em tay bắt mặt mừng, cả hai nói chuyện không thôi. Bỗng ông rút trong cặp da, cái tô “Đông mạch tụ cô tùng”, ông giao tô cho tôi, nhận đủ mười ngàn bạc, ông ra về, tôi cho giá nầy rẻ hơn giá bán ra của lão Khoá Ổi.
Được tô mừng không chỗ nói; ngâm nho nhỏ đủ nghe: “Rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao”! Cầm cái tô trên tay, vì trong trí đã từng gặp nạn như vầy nhiều phen, khiến tuy chưa làm thân chủ dưỡng trí viện Biên Hoà, nhưng trong trí óc phân vân tự ví cái tô kia không khác con người là mấy. Nếu con người nầy là trai trẻ, là đứa con dại đứa con hoang bỏ nhà đi biệt tích biệt tăm suốt mấy năm nay, nay trở về đó, lòng tôi bỗng quên hết chuyện cũ, để vui câu đoàn tụ, huynh đệ cha con sum họp; hơn nữa, hoặc giả người ấy là phận gái một đứa gái hư, một con vợ hỏng, đi biệt mấy năm mất tin mất dạng, nay tần ngần chường mặt ra đó, mình đã không ngầy ngà lại còn chứa chấp, không dám nặng nhẹ nửa lời tỷ dụ “Há” bó đi đâu khiến người ta thương thương nhớ nhớ. Nay về đó, lại còn nhõng nhẽo làm eo làm xách”. Lòng tưởng vậy, tay rút sổ vừa rung rung vừa ghi số mục lục cái tô là số 891. Cả đêm, mừng không ngủ.
Ông Khoá Ổi – Nhơn nói chuyện cái tô tái ngộ, xin có đôi hàng giới thiệu người chủ trước của nó là một nhân vật lạ lùng đất Huế.
Người mà tôi có can đảm đến viếng và được nhắc hôm nay, vì ông không có thi cử khoa nào, nhưng ông đã mua được chức “khoá” và ông tên Ổi, cho nên tôi gọi ông và viết tắt tên ông là K.O hoặc K. Ô. Nhắc lại, cụ Ấm là con nhà quan. Cụ nghè, cậu khoá, tuy không còn thi cử theo lối xưa, nhưng ai cấm cản mình tự.phong hay mua phứt nếu triều đình bán: để xưng hô mà. Vì vậy mà tại Huế, trong thành nội, có ông Khoá Ổi, cũng như đường Hàng Bè có cụ Nghè Hưng, cả hai đều mua bán đồ sứ cổ. Trước đây, ông Cố Trầu, hễ ai muốn dâng lễ lộc, hễ Cố nghe món ấy vật ấy từ nhà cụ Nghè có chân bước ra, là Cố cười hì hì, hai tay thâu nhận, cũng như sau lưng nhà cụ nghè, trên đường Phan Bội Châu, ở trong một hẻm cùng ở sát bờ thành, có đến hai nhà chuyên bán đồ cổ, hai nhà đâu mặt nhau: người anh mập mạp, tên Nai, thì đã dời sự nghiệp về Sài Gòn, còn người em gái, vẫn còn nhà y chỗ cũ; trước đây, chồng chuyên đi lùng mua từ xóm quê nhưng chưa vội trả tiền, kẻ bán gánh gánh hàng đến nhà người vợ thì bị chê mắc, chê xấu, lỡ đem đến đây không lẽ gánh ngược trở về, thôi thì chịu ép hạ giá, vợ chồng toa rập như thế mà làm giàu rất mau. Nơi đường Võ Tánh (Minh Mạng cũ), mé hữu đầu cầu Đông Ba, từ phía chợ bước qua, có một nhà chuyên bán từ chiếc mề đay cũ bằng đồng, bằng bạc của thời các vua xưa nhà Nguyễn, đến bạc nén bạc thoi, hoặc cổ tiền đủ niên hiệu từ Cảnh Hưng đến Bảo Đại, ở đây thỉnh thoảng còn gặp bán vài món cổ vật có giá trị.
Nhưng đi lên một đỗi nữa, cũng còn trên đường Võ Tánh nhưng mé tả, số nhà 53 có một cụ già, theo tôi, lúc đó tại đất Thần kỉnh, cụ Ấm Tư, mới thật là một tay sành sỏi biết chơi cổ ngoạn. Một nhân vật hiếm có, sót lại của thời đại cũ. Lúc sinh tiền, cụ thường dặn tôi rằng: “Ở đời phải biết đờn cho thật tươi, nhưng nên đờn khi hứng cho mình đủ nghe, và nhứt là không nên làm nghề đờn cho đào nó hát lấy tiền; cũng như nên tập chơi đồ cổ cho thật tinh, nhưng chơi đồ cổ để di dưỡng tỉnh thần, mà không nên và tránh đừng trở nên một con buôn đồ sứ phớm phỉnh”. Nhà cụ rất thanh bạch, nhưng tánh cụ rất hào phóng. Khi cụ thích ai, mến được tánh ý, cụ chơi hết mình: ấm gan gà, ấm Thế Đức, bầu sành be sứ, cụ tặng không, không tiếc, một hai không nhận tiền, ép nài cách mấy, không là không. Giữa nhà, nhà lợp tranh nhưng rất tỉnh khiết, thấy treo một biển son đề ba chữ vàng: “Thừa Thiên Sủng” và hai câu liễn cũng chữ vàng:
Long chương nhựt tuấn tam quân lịnh.
Hổ trướng nhân khâm bát diện tài
Hỏi ra ông thân của cụ trước là võ quan hai đời Thiệu Trị và Tự Đức, tức là thống chế, vốn một tay thiện xạ từng theo vua lên núi nhiều phen đuổi thú, săn hổ, săn nai, nên biển và liễn kia không xấc. Cụ Ấm thường đóng cửa ở nhà không giao thiệp với ai, và tôi nhờ cụ Hường Trung Nguyên Hữu Tiến giới thiệu, nên cụ xem là bạn vong niên, nhưng tôi phải học đi bộ cho giỏi, thì mời theo kíp bước chân của cụ, mỗi lần không biết lướt mấy cây số ngàn mà kể. Người quắc thước, lúc tôi đến nhà là xuýt xoát tám mươi, nhưng trông cụ còn khỏe người lấm. Ngờ đâu cách vài năm sau, bỗng nghe cụ Ấm đã mất, vì bị giết trong một đêm mưa dai. Ô hô! tám mươi chưa khoe mình lành. Khoá Ổi tôn cụ Ấm làm hàng thầy, và thường đến nhà vấn kế.
Còn vài nhà nữa, rải rác trong một thành phố nhỏ, cũ kỹ, chung quanh là núi lấp thấp và một con sông rất làm biếng Sông Hương lờ đờ. Muốn tìm các nhà ấy không khó, nhà trong lỗ miệng. Toàn là các tay tập chơi và học bán, chưa phải lành khoa cổ ngạn, và cả thảy đều thua xa ông Khoá Ổi. Ông khoá biết chữ Nho nhiều để đáng mặt thầy khoá. Nhờ ông sưu tập lâu năm và có học thức khác nên nhà ông có chứa chấp nhiều món cồ vật độc đáo. Khác hơn những hạng kia, Khoá Ổi bán với một giá cắt cổ, người nào không ưng mua. Ông không ép, nhưng dám mua, khi đem về nhà, xem lại thì quả không chỗ chê, và rất đáng tiền. Chính nơi đây, tôi đã đào ra một cái đĩa mà nhiều tay mơ cho rằng không đáng mặt làm nắp hũ dưa chua”! Vì cái đĩa ế độ nên chờ lọt tay tôi. Khi tôi có đĩa rồi tôi cậy người hay chữ đọc hai câu thơ đề trên đĩa, thì tôi mừng như ai cho vàng. Thơ đề:
Mó rận luận chơi thời sự
Ngã lừa, mừng tuổi thái bình
Một cái đĩa thứ hai cũng gặp nơi này, trong một kỳ khác đọc là:
Vắt chân nằm ệch ngáy o o,
Ngẫm xem chẳng khác Đường, Ngu thói thuần
Hai đĩa nầy, với cách trình bày đơn sơ, mộc mạc, ẩn một mỹ thuật kín đáo, mới mẻ, theo tôi, quả là hai vật quý của triều Tây Sơn, người chơi đồ cổ có bản lĩnh, dẫu có duyên phần cách mấy, cũng không chắc gặp lại hai lần. Vàng ròng không đổi. Nhưng tôi đã sa đà, quá trớn.
Trở lại Khoá Ổi, trong khi các tay mơ tập bán đồ xưa, chưng bày đầy nhà để câu khách, trái lại Khoá Ổi, cao tay ấn và theo một phương pháp khác hẳn, đồ cổ của ông, ông giấu ém trong hai cái tủ gỗ kê sát bộ ván gõ là chỗ ông nằm khi trưa cũng như lúc tối, còn món nào xét ra quý hơn nữa, thì ông để trong tủ sắt kiên cố cũng kê khít đó. Khi nào có khách sộp đến nhà, ông chưa vội đem ra bán đâu, ông nói chuyện vòng vo Tam quốc, ông lấy ấm quý trà ngon ra bày, ông pha trà thật ngon, thật khéo để đãi khách, cách ông chuyên trà là cả một nghệ thuật khó bắt chước, thảm một nỗi là người ông khô đét và ông ho sù sụ, người khách phát ngán, vì xã giao, bưng chén trà lên ngửi rồi để xuống, nhưng ông không thèm để ý, vì ông mắc lo lấy từng món lạ ra cho xem, và ngã giá. Khách thích đĩa xưa, thì ông có đến mấy chục bộ khác nhau, và cái nào cũng có điển tích hay và lạ, món nào đĩa nào khách cũng ham muốn. Nhược bằng khách thích tô có thơ nôm, hoặc các món khác hằng cổ ngọc, món chi ông cũng đều có và rất khác, không giống những vật chưng bày nơi mấy nhà kia. Người khách nào ngã giá xong và đang sắp sửa gói đồ ra về, khi ấy, ông thu xếp những vật khách không để mắt xanh, ông cất tiền kỹ càng, ông chờ khách nói câu từ giã, ông mới nói một câu thòng mời khách nán lại đôi giây, rồi ông lôi từ tủ kín lôi ra, ông khoe một món chưa cho xem và ông bán nữa. Khách nào như tôi, không dằn lòng ham muốn được khi ở nhà Khoá Ổi ra về, tuy nặng ba ga, mà túi nhẹ không hay. Còn gì tiền mai nầy mua mè xửng, mua nằm Huế về lo lót má bầy trẻ? Nhà Khoá Ổi ở số 12o đường Nguyễn Thành, trong Thành Nội ngõ Đông Ba đi vô một đỗi. Không biết bây giờ cảnh ấy còn như lúc tôi được biết hay chăng
B. Hình dáng cái tô.
Cái tô nầy tròn và khá rộng lòng tô cạn trẹt trẹt, kiểu chuyên môn quen gọi là kiểu “lòng chảo”. Tô nầy đo:
– Bề ngang trên miệng kinh tâm, đo 215 ly Tây (215 mm);
– Bề cao, từ đáy đo lên miệng: 80 ly Tây (80mm);
– Kinh tâm dưới khu tô: 85 ly Tây (85mm);
– Số vô bộ mục lục: 891.
– Ngày mua: 31-3-1968.
– Giá mua 10.000 bạc năm 1968.
Trong lòng tô, trắng buốt còn bên ngoài, vẽ năm con nai da lốm đốm như bông mai điểm trên mặt đất, chuyên môn gọi kiểu “điểm mai hoa lộc”, năm con lộc nầy đứng dưới gốc một cây cổ tùng, và cảnh trí xơ rơ hiểu ngầm là vào mùa thu, mùa đông lạnh lẽo. Kế bức vẽ, có đề một hàng chữ Hán, đọc là “Đông mạch tụ cô tùng”. Đặc biệt của cái tô nầy là ở dưới đáy, có đề mười sáu chữ vẽ trong một vòng tròn và đọc là: “Tự Đức Mậu thìn trung thu Đặng quý từ đường tế khí đông mạch cô tùng”.
Tôi xin dịch tùng chữ là
– Tự Đức: đời vua Tự Đức (1847-1883);
– Mậu Thìn: năm Mậu Thìn đời Tư Đức là năm 1868 dương lịch;
– Trung thu: tức ngày rằm tháng tám âm lịch;
– Đặng: họ Đặng;
– Quý: nhỏ, bực thứ;
– Từ đường: nhà thờ tổ tiên, phủ thờ của một họ;
– Tế khí: đồ dùng trong việc cúng tế tổ tiên, hoặc thần Phật;
– Đông: mùa đông;
– Mạch: đường huyết chạy trong thân thể;
– Cô: một mình;
– Tùng: cây thông, cây nầy lá được luôn luôn xanh, biểu hiện người quân tử, gặp cảnh ngộ nào cũng không đổi tánh, vẫn giữ y như cũ.
Mười sáu chữ ấy gộp lại có nghĩa chung là: “Làm vào ngày Trung thu năm Mậu Thìn đời vua Tự Đức (1868), vật dùng làm đồ thờ để tại nhà từ đường của họ Đặng, dòng út”. Riêng bốn chữ “đông mạch cô tùng”, viết luôn thêm chữ “tụ” cho đúng câu thi ngũ ngôn “Đông mạch tụ cô tùng” mới xem dường khiêm tốn, nhưng xấc ngầm, ý hiểu: thân tôi khác thể gốc tùng già, trơ trọi lá tuy vào mùa đông, nhưng nhờ đất có phong thuỷ tụ, chứng cớ là có năm con nai (ngũ lộc) tựu hội nằm dưới gốc.
Dựa theo hai chữ “tế khí” thì định chắc tô nầy đặt làm để dùng chứa nước tinh khiết dâng trên bàn thờ, gọi tất là “tô thờ, tô cúng”. Đúng ra phải đủ cặp, vì tục dạy thờ đủ cặp, để kèm hai bên chiếc lư đồng, hai đầu có hai chưa đèn lớn. Vả lại, vì là tế khí, nên lệ đặt làm có một đôi, hoặc làm hai đôi nếu nhà có hai bàn thờ tả hữu, và như vậy không bao giờ đặt làm nhiều hơn, như các vật dụng chén đĩa từ khí khác. Hiểu như vậy rồi, trong trí tôi nảy ra câu hỏi: “Vậy thì còn một cái tô nữa cho đủ cặp, hiện nay ở đâu?”.
a) Nếu có tại nhà họ Đặng, thì cố nhiên người đi tìm mua (có lẽ là ông Khoá Ổi) không dại gì bỏ sót lại, vì bán đủ cặp được tiền hơn bán lẻ, và đã rinh luôn một lượt và đã như cái tô nầy, hiện nay lọt về tay tôi rồi.
b) Theo ý riêng tôi, thì tôi định cái tô thứ hai, nếu có, thì lúc ông Khoá Ổi gặp, đã không còn nữa, hoặc đã bể hoác đã mất, chớ không lý, tôi xin lặp lại, không lý ông Khoá Ổi là người lão luyện trong nghề, lại thiếu tâm lý rứt tô đủ cặp ra bán từng cái một cho mất giá, và tô trở nên vô dụng vì không ai thờ tô lẻ loi trên bàn thờ. Về tục lệ đồ hương hoả, nếu có chia chác, lúc phân chia gia tài, thì đồ tế khí thuộc về người con trưởng thừa hường để tiếp tục việc phụng tự tổ tiên và vẫn được lãnh đủ cặp đủ đôi mới dùng được Như thế thì tô thứ hai kia đã không còn, và cái tô hiện tôi có đây là tô duy nhứt, nói theo chữ là tô “độc nhất vô nhị”. Chính ông Khoá Ổi không nghĩ đến chi tiết nầy, nếu ông biết ắt ông không bán với giá 6.000 đồng mà còn bán mắc nhiều hơn nữa. Đối với gia đình thờ phụng ông bà thì cần dùng tô đủ cặp, còn đối với người chơi đồ cổ như tôi, thì càng hiếm lại càng quý, và tôi có cần dùng làm chi tô đủ cặp, tô lẻ còn một cái một, mới là quý cho chớ!
Mà cũng không phải vì nó có một cái duy nhứt, nên tôi gọi rằng quý, và vì vậy mà tôi tìm mua cho kỳ được. Sở dĩ tôi mua mắc là tôi hiện cần dùng những cổ vật để chứng minh về nước men các đồ sứ gọi bleu de Huế (đồ sứ men lam chế tạo cho Huế), (tôi nhấn mạnh “đồ sứ chế tạo cho Huế”, làm riêng cho Huế dùng, chớ không phải đồ chế tạo tại đất Huế, làm và sản xuất tại Huế. Danh từ Pháp “bleu de Huế” nầy đã làm cho nhiều người chơi đồ cổ hiểu lầm về chi tiết nầy, nay xin đính chính).
Hiện thời, trong nhà tôỉ cũng như suốt một đời tôi, tôi đã hi sinh, nhịn ăn nhịn mặc, nhịn đi ciné, thà để vợ con rách rưới, là vì tôi mê đồ cổ: có bao nhiêu tiền tôi đều cúng cho đĩa sứ men lam.
Kể ra, tôi sưu tập khá nhiều và đã có nhiều món đủ chứng minh những vật chế tạo vào những năm có phái đoàn nước ta đi sứ sang Trung Quốc, tỉ như:
1) Bộ chén trà năm Giáp Tý (1804), tức bộ chén nầy làm để kỷ niệm năm vua Gia Long nhân sắc phong của thanh đế. Đúng ra vua tức vị năm Nhâm Tuất (1802) đã lập đàn lễ cáo trời đất, thiết triều cho các quan lạy mừng, và đặt niên hiệu “Gia Long nguyên niên” vào tháng năm năm Tuất ấy, nhưng thật ra đến năm Giáp Tý (1804), Thanh triều mới sai án sát sứ tỉnh Quảng Tây là Tề Bố Sâm sang Hà Nội tuyên phong, và đến năm Bính Dần (1806), vua mới làm lễ xưng đế hiệu tại điện Thái Hoà (Bao nhiêu chi tiết vặt vãnh nầy đủ chứng minh mấy năm đầu niên hiệu Gia Long, trong nước vẫn chưa đại định).
2) Một bộ chén khác, vẽ tích “ngũ liễu”, làm vào nam đi sứ triều vua Tự Đức, chén trà ngũ liễu có rất nhiều, nhưng đây là bộ chén chế tạo vào năm đi sứ năm Đinh Tỵ (1857), ngụ ý mượn hai chữ “ngũ liễu”, cũng đọc trại trại “ngũ lão” để cầu viện binh, lấy cớ năm ông lão đời cổ rất là thân thiện với nhau. Hai năm sau, năm 1859, thì xảy ra trận giặc Việt đánh với giặc Pháp và I-pha-nho hiệp sức cấu xé nước ta và đoạt đất Nam Kỳ (giặc năm Kỷ Mùi 1859);
3) Tô vẽ tứ thời, để niên hiệu đi sứ năm Gia Long Mậu Thìn (1808);
4) Tô vẽ tích “anh hùng độc lập”, vẽ một con gấu đúng dưới gốc cổ thụ, và một con ó dữ đậu trên cao, kiểu nầy vì vậy cũng gọi kiểu “ngấu ó”. Niên hiệu đề “Canh Thìn” (1820), đây là năm đi sứ triều Minh Mạng sang Trung Quốc cầu tấn phong. Xét theo nước men, bộ chén nầy cổ hơn men bộ “ngũ liễu năm 1857” thì đã đành, nhưng phải cẩn thận và không nên đưa bộ chén lên một con giáp nữa, tức năm đi sứ 1760, Cảnh Hưng năm 21, sứ bộ do ông Lê Quý Đôn cầm đầu. Bộ chén nầy, nước men tuy già dặn, nhưng định năm 1820 là đúng, chớ định năm 1760 là quá hớp.
Phàm chơi đồ cổ có chân tâm, phải dè dặt, phải cẩn thận, thà định tuổi thấp, cho người thức giả kéo lên là vừa, chớ định cho cao để sau nầy có người bác bỏ thì còn gì uy tín;
5) Lại có một bình tích sứ thật to còn đời nắp vòi, vẽ tứ linh và mỗi con long lân qui phụng, đều có kèm một bài thơ kế bên. Hiệu đề “Thạnh tường thuỵ chế”. Bình tích nầy, do vóc thật to, làm cho tôi suy nghĩ, trong Nội phủ, thuở xưa đã chế tạo vật nầy để dùng chung trong phủ, trong nhóm cung nữ phi tần, khác với ấm con dùng riêng vua chúa. Ban đầu, tôi định vật nầy làm để dâng cho chúa Trịnh Sâm (1767- 1782). Vì Tĩnh Đô Vương, lấy hiệu là thánh Tổ Thạnh Vương. Nhưng xét một lẽ khác thì bình tích nầy khéo quá, độc đáo quá, nên sắp vào hạng “quân diêu” (kuan-yao) mới vừa. Phải cũ kỹ hơn men Kiền Long (1736-1796) là vua đồng thời chúa Sâm. Nhưng năm Canh Tý (1780), chúa ăn lộc tứ tuần; qua năm 1782 (Nhâm Dần) chúa mất (chúa sanh năm 1739, Kỷ Mùi): còn nước men nầy già giặn hơn nhiều, thì phái làm sao Vì lẽ ấy sau tôi định lại, rằng bình tích nầy chế tạo vào đời vua Khang Hy (1662-1722), và vì xét theo bốn chừ “Thạnh tường thuỵ chế”, tôi định chục lại là làm vào năm ăn mừng Khang Hy trị vì đúng mười con giáp (sáu chục năm), như ấy là năm Nhâm Dần 1722. Thuyết nầy thêm vững, vì sau nầy tôi cậy người dịch kỹ những bài thi trên bình thì đều ca tụng một buổi thạnh triều thạnh trị, ám đời chỉ Khang Hy mới đúng, việc nầy tôi có nói rõ trong tập số 9 bộ Hiếu cổ đặc san, nên ở đây tôi không lặp lại. Còn cái thuyết trước định chế tạo cho chúa Sâm, tôi xin nói, vẫn chưa sai, vì bình nầy gặp tại Huế, tức trên đất Việt Nam và có lẽ do một sứ bộ Việt thỉnh về từ trước, để dâng chúa Sâm vào dịp lễ tứ tuần: rồi sau đó, bình theo gót lưu vong, lạc loài mãi, vô Huế, sau rốt lọt về tay lão Vương già. Việc tuần hườn trời đất nói không cùng: riêng về khoa giảo nghiệm đồ sứ cổ phải cho phép bàn đi cãi lại, và không nên quyết đoán lắm, e sai với thực tế, còn hấp tấp quá, vội vàng quá, cũng không xong. Sức bực các nhà thông thái giỏi hơn bá bội còn lầm; duy có người chê đè, ghét triều Nguyễn, rồi ghét luôn đồ sứ Nguyễn, thì cho tôi can. Mẹ cú đẻ con tiên; thằng an ninh, thằng công an, ghét đã đành, nhưng con nó có tội tình gì, thêm thật đẹp, thì mới làm sao? Tôi đã quá tuổi tôi không dám thêm thắt lời nào, duy sẵn tánh khoan dung, nếu không ai thâu nạp thì tôi sẵn lòng chấp chứa, dẫu có tội cũng chịu.
Tóm lại, tôi có đủ dùng để nghiên cứu, duy thiếu một vài món để chứng minh giai đoạn gần đây, khoảng một trăm năm làm hạn.
Ban sơ tôi gặp được cái tô Đặng Huy Trứ nầy, để rõ làm vào năm Mậu Thìn đời Tự Đức (1868), tức được một trăm năm, đáng lẽ tôi mua liền đó, nhưng tôi đã dại dột bỏ mất cơ hội nào chê men mới, nào chê giá mục, đến khi giựt mình hồi tâm, biết rõ “nó mới”, chính vì nó chỉ có một trăm tuổi (1868- 1968), và nước men đồ sứ làm năm 1868 là dường thế, cái tô nầy đã có niên hiệu Mậu Thìn (1868) làm chứng, mà tại sao lúc gặp tôi còn chần chừ?
Trở lại thiên khảo luận của tôi, “Tìm hiểu men lam xứ Huế” thì được cái tô nầy, không khác ai cho một trang kết luận lý lẽ xác đáng, tôi không mừng sao được. Một điều nên tha thứ và thông cảm cho nhau, là trên đời không ai dám khoe trọn lành và lành nghề. Dẫu kinh nghiệm có thừa mà trong túi anh Hai đi vắng thì người đó cũng hoá dở, vì mảng do dự làm mất cơ hội như tôi là thường thấy. Nếu phải được chánh phủ viện trợ, tài trợ, tiếp tay chút ít, thì đâu có xảy ra việc lôi thôi, nhưng nếu được cung cấp dồi dào quá, nhiều khi cũng không hay, vì bạ đâu cũng mua, gặp đâu cũng gọi là quý, cho nên tôi nói: thiếu hay thừa đều có sở trường sở đoản. Dám khuyên ai muốn bước chân vào nghề hãy có đủ can đảm chịu nghèo, thà mua lầm, nhưng cũng cần xem đi xem lại, cho kỹ trước khi mua một món đồ, miễn đừng quá chần chờ như tôi, không khéo sẽ bỏ qua nhiều dịp tốt.
b) Để hiểu biết thêm về chuyện cái tô, tôi xin trích ra đây hai tài liệu về tiểu sử ông Đặng Huy Trứ, là người đã đặt lò sứ bên Trung Quốc làm cái tô và vốn là người chủ trước nhứt của cái tô nây:
1) Tài liệu dựa theo bản dịch ra quốc ngữ của bộ Văn hoá Sài Gòn:
Lúc ấy có lời ca dao rằng:
Thế gian Đặng Trứ là đầu,
Chiếc thuyền thương mại sang Tầu, sang Tây.
2) Và sau đây là tài liệu theo bản dịch của NXB Văn hoá, Hà Nội, sao lục từ Paris gởi về:
511 – Đặng Huy Trứ (thế kỷ XIX):
Đặng Huy Trứ, tên tự là Hoàng Trung, người tỉnh Thừa Thiên.
Không rõ ông sinh và mất năm nào. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thần đồng. Niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843), ông đậu cử nhân, rồi thi hội trúng cách, nhưng bị phạm trường quy, thành ra hỏng tuột.
Niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), ông thi lại đậu thủ khoa. Niên hiệu Tự Đức (1848-1883), ông làm tri huyện, thường dâng sớ điều trần về những điều ích nước lợi dân. Tự Đức cho làm Bình chuẩn sứ, trông nom việc buôn bán ở các cửa biển và tàu thuyền xuất nhập.
Tác phẩm có:
– Hoàng Trung thi sao (thơ), VHV. 83, VHV.294;
– Tứ thư văn tuyển (văn), VHV. 341;
– Tân niên Thanh Khang Hy ngự đề canh chức đồ phó bản (nghệ thuật) VHV. 823;
Nhị vị toàn tập (văn), VHV. 942;
– Việt sử thánh huấn diễn nôm (sử, văn);
– Nhị Hoàng di ái tập (văn);
– Bách duyệt tập (văn);
– Tòng chính di quy (văn);
– Sách học vấn tân (giáo dục);
– Đông nam tân mỹ lục (văn);
– Tứ thập bát hiệu ký sự (sử, văn)
Ngoài ra ông còn san khắc nhiều sách, như Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái.
(Lược truyện các tác giả Việt nam (tập 1): tác giả các sách Hán, Nôm. Trần Văn Giáp chủ biên. Tạ phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện, trang 408-409), căn cứ theo tài liệu xuất bán ở Hà Nội, thì Đặng Huy Trứ thi đậu thủ khoa năm Thiệu Trị thứ 7 (1847). Còn xem lại tài liệu Sài Gòn thì ông đậu giải nguyên năm Tự Đức thứ 7 (1854). Không biết bên nào nói đúng? Muốn tra cứu bộ Đại Nam chính biên liệt truyện, thì bộ nầy chưa dịch ra quốc ngữ, đành chịu thôi.
Khi tôi ra Huế, về tiểu sử Đặng Huy Trứ, tôi nghe thuạt lại ông có một tiểu thơ gả cho một người Pháp, sanh được hai trai đều làm giáo sư, một ông dạy ở Huế, một ông dạy ở Sài Gòn, đều tên có chữ C. đứng đầu, tin nầy xin cho hậu cứu.
Năm 1955, ở Viện bảo tàng Khải Định (Huế), tôi có chụp được ảnh một đĩa cổ, tuy đĩa đã nứt làm đôi, nhưng nếu tàng trữ tại viện thì rõ là đĩa hiếm lạ: đĩa nầy vẽ hình cá lội giữa đám rong, và sau đáy có đề một vòng tròn Hán tự, đọc là: Tự Đức Mậu Thìn, Trung thu, Đụng quý từ đường tê khí ngư tạo” cả thảy mười bốn chữ, và xin đọc kỹ “ngư” là cá, đừng lầm “ngự tạo” là đồ ngự chế cho vua dùng.
Ngoài ra, cũng đồ từ khí tìm được tại nhà thờ họ Đặng, nhưng thuộc dòng cả, tôi may mắn gặp lại hai cái tô chấm san thuỷ giống nhau và da rạn, đáy ký hiệu chữ “nhựt” (đời Tự Đức). Nơi đáy có chạm thêm rất sâu, bốn chữ đọc là “Đặng bá từ khí”. Như vậy đây quả là tô chứa nước cúng trên bàn thờ nhà họ Đặng và thuộc dòng lớn. Nhưng đây không phải là tô đặt làm riêng, vì ký hiệu “Nhựt” chớ không phải hiệu “Đặng quý tế khí” v.v… Sau nầy, tôi từng gặp lại nhiều tô ký hiệu Nhựt và cũng chấm san thuỷ y như tô nầy, khi ấy tôi khám phá ra tô san thuỷ Nhựt cũng là tô do Nam triều đời vua Tự Đức phái cho ông Đặng Huy Trứ, chức dinh điền sứ đặt lò Trung Quốc làm, và có lẽ ông Trứ, nhơn thấy kiểu tô khéo, nên có lấy lên vài cái chạm thêm bốn chữ “Đặng bá từ khí” và dùng làm tô cúng nước nơi nhà riêng chăng, và đây cũng là lập luận phóng ước của tôi mà thôi. Như đã nói, tôi gặp lô kiểu “san thuý hiệu đề chữ Nhựt” nầy nhiều lắm, gặp trong Nội phủ và rải rác gặp nơi các hiệu buôn đồ cổ Huế và ở Sài Gòn đâu có, nhưng tôi dám quả quyết đây là loại tô đặt riêng cho triều đình Huế dùng, một là vì có bài thi nôm hai là nét chấm phá nùi non đều đặc biệt là núi non vùng Huế. Nội cái bài thơ chữ Nôm nầy, cũng đủ gọi tô quý. Trong giới chuyên môn chơi đồ cổ, thường đặt nhiều danh từ chuyên môn riêng để dùng, tỉ dụ những đồ đặt chế tạo trong năm đi sứ thì gọi “đô sứ”, hoặc giả đó là đồ vẽ theo ý thức riêng của mình thì gọi “đồ ký kiểu”, và cặp tô nhà họ Đặng nói đây, đều thuộc hai loại nầy. Bài thi nôm là bài ngũ ngôn bát cú nhưng không viết làm tám hàng:
Một thức nước in trời,
Đò ai chiếc lá khơi (hay là “lửng lơ khơi “)
Non xanh xem vọi vọi,
Dòng biếc thấy vơi vơi,
Mắng khúc Thương Lang khảy
(có người đọc: “Hò khúc Thương Lang gởi”)
Ưa tình lữ khách chơi;
Mong chờ yên sóng gió
Qua lại mặc người đời.
Chớ chi người chế tạo cái tô nầy, ưng viết bài thi nôm ra tám câu như trên đây thì không có chuyện. Đằng nầy, nhơn khúc san thuỷ choán gần hết chỗ là một lẽ, còn một lẽ khác là người Trung Quốc họ thích trớ trêu đấu trí, cho nên bài ngũ ngôn bát cú nầy, họ ghi trên tô làm sáu hàng, mối hàng bảy chữ y như sau đây:
Một thức nước in trời đò ai
Lửng lơ khơi non xanh xem vọi
Vọi dòng biếc thấy vơi vơi mắng
Khúc Thương Lang khảy ưa tình lữ
Khách chơi mong chờ yên sóng gió
Qua lại mặc người đời CẨN BÁI
Đã là thơ ngũ ngôn bái cú có bốn chục chữ, mà không viết làm tám hàng theo cổ lệ, mà nhè viết làm sáu hàng bảy chữ, vị chi là bốn mươi hai chữ, thiếu đi hai chữ, ông thợ Tàu ta bèn thêm đại hai chữ “cẩn bái” vào, khiến nhà văn Tàu “lạc ông Bổn”, và nhà nho Việt cũng lạc lối, không ai đọc cho ra nghĩa, thiệt là rắc rối và thú vị. Vả chăng chữ nôm đã là mắc mỏ, thêm người viết không thành thạo lối chữ nầy, khiến cho nhiều chữ hoặc thiếu nét hoặc dư nét, và sắp đặt bay bướm theo kiểu “Ba Tàu” nầy, thì quả là một bài toán đố hay một lối phát toa kiểu Cống Quỳnh? Cái thú bất ngờ của khoa chơi cổ ngoạn là vậy.
Việc đâu còn đó, nay dựa theo câu “Mong chờ yên sóng gió, Qua lại mặc người đời”, nhắc lại năm tôi còn làm nơi Viện bảo tàng Sài Gòn, tôi có viết đăng báo Việt và báo Pháp, trong bài tôi đưa ra lập luận định chừng:
1) Tô làm vào những năm đại loạn sau khi vua Dục Tôn (Tự Đức) thăng hà (1883),
2) hoặc làm vào năm vua Hàm Nghi mông trần (1885);
3) Hoặc giả làm lúc vua Tự Đức còn tại vị (1847-1883).
Tôi đã nói từng gặp tô nầy ngót mấy trăm cái, chứa nơi kho của Viện bảo tàng trong Nội ở Huế, vả chăng đức Dục Tôn, tên huý là Nguyễn Phước Thời, (chữ Thời, cung đọc Thì, thuộc bộ Nhựt), cho nên ngài lựa chữ “Nhựt” làm hiệu đồ sứ. Có lẽ tô nầy đặt làm cả lố bên Trung Quốc khi đem về tới Huế thì rủi vua băng, chưa kịp phân phát trong hoàng thân hoàng tộc, cho nên còn rất nhiều như tôi đã thấy.
4) Một thuyết khác nữa, và chỉ định chừng, không bằng cớ nào chứng minh, là tô nầy cũng có thể do một ông hoàng nào đó ra kiểu. Ông hoàng nầy có lẽ được triều đình rước lên ngôi báu thay vua Dực Tôn, nhưng ông hoàng ấy ngao ngán thế sự thấy toàn những gương không tốt đẹp, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phước, đều bất đắc kỳ tử, làm vua chưa nóng ngôi tôn, nên ngài nhượng bộ cho ông khác, và thổ lộ can tràng trong bài thi có nhiều ý nghĩa nầy, thà làm ông hoàng nghèo mà sạch, thà làm ông thi sĩ được danh lưu hậu thế, còn sướng hơn làm vua trong ba hồi trống giục.
Ông hoàng phi-lô-sốp nầy là ai, cũng như trong bốn thuyết, thuyết nào là đúng? Tôi nêu câu hỏi đã nhiều năm mà chưa thấy trả lời. Kỳ tháng chín năm 1967, tôi ra dạy ở Huế là kỳ chót, tự tôi xin rút lui, vì linh tính bảo không nên kéo nhây ra ngoài ấy mãi.
Kỳ đó, tôi ngỏ ý muốn đến tận nhà cụ Đặng Huy Trứ để xem cho hản. Nhưng tất cả anh em đều khuyên tôi bỏ ý định lãng mạn ấy vì vùng Bao Vinh lúc đó kém an ninh. Vả lại nhà ấy đã bán đến đồ tế khí, thì liệu nầy còn giữ được chi nữa mà hòng đi.
Xét lại theo câu vè và câu ca dao để lại, và tin đồn “con ông lấy chồng Tây”.
Trong bài thơ, câu nhì có “thuở nào”, xuống câu năm có “thuở trước”, chữ trong bản Lê Quang Chiểu làm sao, tôi chép ra làm vậy, cũng như câu tám “liều khuây” hay “liền khuây”, tôi không dám động tới và xin chừa các nhà sành điệu dạy cho. Sau đây, xin ghi lại một giai thoại: Có một đôi thơ cũ là “Vi thuý đầu can nhựt, Kỳ sơn nhập mộng thần”. Hai câu nầy ghi trên một món đồ cổ, ông Trứ đã đổi lại làm hai câu thất ngôn như vầy: “Trước anh Vị thuỷ đầu can nhựt, Đại thánh Kỳ Sơn nhập mộng thần”. Một ông đồ nho đọc giùm tôi hai câu nầy và chép cho tôi “Trước anh vị thuỷ”, nhưng mặc dầu tôi dốt chữ, nhưng tôi tò mò mãi và khám phá ra, nên đọc “Trứ anh Vi thuý đầu can nhựt”, đọc “Trứ” chớ không phải “Trước”, và “Trứ anh” tức là “Anh Trứ”, tức Bố Đặng Huy Trứ chớ không ai dám làm như vầy. Ông đặt làm bình vôi có ghi câu Trứ Anh, ông bán bình vôi được nhiều tiền, ông sửa câu thi cũ, ông là người dám ăn dám làm, cho nên việc gả con cho Tây, tôi tin rằng có. Sanh tiền ông quá quắt không vừa: đạp đổ nề nếp xưa nên gả con cho dị quốc, giao thiệp rộng, nghe thấy xa, đi Tàu, đi Tây, những việc ấy, đã có người bàn nhiều, tôi không dự, duy tôi xin đồng bào ngày nay nhìn nhận: dừng về phương diện mỹ thuật và văn hoá, phải ghi công lớn cho ông, như vậy mới công bằng. Chính nhà vua rất hiểu, nên tuy “làm hao hụt công quỹ”, nhưng vua không làm tội nặng, chỉ giáng chức. Những tác phẩm ông để lại, nay còn giữ được chăng. Có phải vì mắc tội không đáng, nên ông soạn bộ “Nhị độ mai” mà không đề tên tác giả, và mượn nhân vật trong truyện, kể nỗi oan của mình?
Kết luận. Về cái tô “Đông mạch tụ cô tùng “, chuyện có ông Tây nào đó mua cái tô rồi nhượng lại mắc tiền, theo tôi, ắt là chuyện bịa của một người tập buôn đồ cổ, tôi không muốn nói nhiều, e mếch lòng một người bạn đất Thần kinh, dầu chi nay thảy đều là nạn nhơn của thời cuộc. Duy cho phép tôi nói, tôi chơi đồ cổ đã gần suốt một đời dài, mà chưa thấy nên thân chút nào. Nay đã gần xuống lỗ, tôi lại muốn chỉ cái “hư” đáng trách cho hết thảy mọi người thấy hòng lánh xa, vậy những lời tôi nói đây, đều thiết yếu và chân thật. Tôi dám khuyên các bạn, nếu còn đủ sức, nếu có phương thế, cũng nên tập chơi đồ cổ, mặc dầu đất đứng một ngày mỗi eo hẹp, nhưng theo tôi, cũng vì vậy, mà nên chơi để giết thì giờ. Lúc trước, có người giỡn tiền, vãi bạc cho gái, hết triệu nầy qua triệu kia, lại sao? Nếu lúc nhỏ, tôi học nghề thợ bạc theo gương ông bà, thì nay đã sạt nghiệp, treo giò. Nếu tôi bỏ nghề cạo giấy, xin môn bài buôn cổ vật, thì nay đã không còn mà chớ, thêm con cháu ắt đi vùng kinh tế mới (viết câu nầy năm 1978). Có dè đâu, đeo đuổi nghiên cứu ba cái lọ cổ ba cái đĩa xưa mà được an thân? Đố ai biết trước mà đi con đường đúng?
Trở lại nghề chơi đồ cổ, tôi xin nhắc không phải đụng giống gì cũng mua, mua của bá láp, đã tốn tiền thêm chật nhà, con cháu rủa cũng phải. Mua lếu mau sạt nghiệp, thêm không sắm được món gì bổ ích. Đó là phí công đi quét lá rừng, lá còn mãi, biết bao giờ rừng sạch? Phải lập chí và tìm bộ môn nào hạp với ý mình, như vậy mới thấy thích thú. Sơ lược tôi có mấy tỷ dụ nầy, mặc ý chọn lựa:
a) Đồ sứ có thơ nôm – Sắm nó, vừa có món lạ, vừa học nhom nhem chữ nôm chơi. Đây là môn tôi ưa thích, và khi tôi chỉ cho bạn, vô tình tôi kiếm thêm cho tôi nhiều địch thủ lợi hại, vì có nhiều tiền, nhưng vì là môn sở trường nên tôi không sợ. Đã là người Việt thì phải lo cứu vớt đồ sứ nôm, kẻo kíp chầy, đồ sứ nôm, tuy không chân, nhưng biết chạy.
b) Đồ sứ ký niên hiệu những năm đi sứ: Giáp Tý (1804) v.v… Phần nhiều, đây là những bộ chén trà độc đáo, của ông Tiên Điền, của ông Nghè Chu Mạnh Trinh, nói tỷ dụ, vân vân vừa chơi đồ đi sứ đem về, vừa chơi đồ của các nhà văn thời cổ? Bộ chén trà Mai Hạc (năm Quý Dậu 1813, có lẽ năm nầy cụ Tiên Điền đem về bộ sách Hán đẻ ra bộ nôm Kiều), một bộ nữa không đề thơ nôm, nhưng vẽ tích “tỵ dực điểu “, dưới đáy ký một niên hiệu đi sứ, trên mặt vẽ tích chim liền cánh, cây liền cành, đúng là của ông cha ta ký kiểu cho thợ Trung Hoa vẽ. Một bộ chén khác vẽ tích Trương Lương lượm dép cho Hoàng Thạch Công, sau trở nên thầy của vua, có thi câu: “Vĩ kiều trích ly trương, Trương Hoàng chuyển đạo thông”, ký hiệu “nhã ngoạn lưu phương” nhưng rõ là đồ đi sứ mua về, nhưng bộ nầy làm sao bì một bộ khác cũng vẽ một tích lượm giày, nhưng câu thi vẫn đổi ít chữ: “Trích lý yên hà ngoại, ân cần cố quốc tâm”. Câu nầy tôi hiểu nghĩa mập mờ thì đã thích thú rồi, nhưng một hôm, có một bạn đưa tôi đi tìm thăm chị Phù Dung trên một động cao, dưới thang ông bạn bắt tôi tuột đôi giày Ba ta, và khi leo lên lầu, tôi gặp yên hà đủ mặt, chợt nhớ câu thi, tôi tỉnh giấc, rõ ràng “trích lý” và “ân cần cố quốc tâm” của tôi là như vậy,
c) Đồ đá, đồ đàn, chén trà, đĩa trà, tô uống nước trà Huế… Đừng chê đó là vật xấu xí, vì vật khinh hình trọng. Đồ da đá, đồ đàn là vật dụng của bình dân, của người củi lụt tay làm hàm nhai. Nếu có một bộ gồm chén bát đĩa tô của người khám phá khai khẩn ruộng vùng Hậu Giang, của đời Tây Sơn, của đời Lê Văn Khôi, Mai Xuân Thưởng, thì hay biết mấy. Trong khi có nhiều nhà quý phái sưu tập đồ ngự đồ quan, mình có đồ bình dân, mới là lạ mắt. Sách kể năm làm cách mạng bên Pháp, có một anh trốn trên gác sàn với một đồng chí phái đẹp, giặc lụt soát dưới nhà nhột quát chị nín không được, gởi bầu tâm sự vào cái mũ của anh chàng cùng trốn, ấy đừng chê dơ bỏ uổng, sau bọn ăng lê đầu sói nài cái nón làm cò-lét-xông, đội trên đầu tóc biết mọc ra?
d) Đồ gốm Bát Tràng là đồ da sành, sản xuất riêng biệt của làng Bát Tràng, nhưng đồ nầy, mình mua không lại anh em ngoài Bắc và trong Nam, đã có đồ gốm Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) chơi tạm đỡ, và cả hai đều là đồ nội hoá quý.
e) Đồ sứ ngự chế – Toàn là của quý, gọi ngoạn hảo, của vua chúa khi xưa dùng. Có một món, vẽ trong lòng, còn chữ thì đề dưới đáy, làm như vậy cho bức tranh vẽ thêm lộng lạc. Và để phá một dị đoan, đĩa làm vào một ngày mười bốn âm lịch là ngày hộ, nên đề dưới đáy thế cho hiệu ký: “Trung thu tiền nhứt nhựt”, (làm trước trung thu một ngày, tức tránh được ngày mười bốn?), (hiện tôi có đĩa mà không có chén, ai có xin cho tôi biết).
f) Đồ gốm Thanh Hoá – (xin đừng lầm với đồ Thành Hoá là đồ bên Tàu).
Có thứ Tiền Tống, có thứ Hậu Đường, có thứ đời Nguyên (1279-1368). Đồ đời Đường, xưng Đường Ngọc, gốm đời Tống tặng là Tông Ngọc, mỗi món giá bằng một gia tài lớn, trên triệu, nhiều triệu. Đồ gốm đời Nguyên, cũng gọi Quan, đã là rất khó kiếm trên nước ta. Trên đồng bào Thượng thỉnh thoảng lại có, và đó là những chóe rượu cần đời Cố Hỷ lưu lai lại đến nay. Họ quý trọng lẩm, không bán đâu. Tôi dặn riêng coi chừng giả hiệu, vì bán được giá, nên con buôn thường giả mạo. Phải lão luyện sành sỏi lấm mới nên chơi các vật nầy. Nếu mua lầm, tốn nhiều tiền, rồi mau thất vọng, bỏ nghề chơi. Ngày xưa, khi làm đường xe hoả xuyên Đông Dương, phu đào đất gặp một vùng cổ mộ đời Tống tại Thanh Hoá, moi ra vô số đồ gốm cổ. Buổi sáng mỗi món thằng Passignat, chuyên bán đồ cổ ở Hà Nội, nó đến đây mua mỗi món một cắc bạc, tức một hào-chỉ (0$10). Đến buổi chiều, vẫn còn đem lại nườm nượp. Tây làm eo, trả năm xu mỗi món lành, có nứt một chút cũng không được. Ngày nay, những món sót lại, giá trên bạc triệu. Nhưng thủ lợi không phải là phu khai thông đường xuyên Đông Dương,
g) Đồ xưa da kiểu, đời Minh Thanh – Bộ môn nầy rộng lớn vô cùng, nếu bắt từ Đại Minh vua Hồng Võ, khởi sự năm 1368, đến vua chót Sùng Trinh (1643), nối qua đời Thanh từ Thuận Trị lập quốc (1644), đến Tây Thái Hậu Từ Hy (1911), giàu địch chánh phủ cũng chưa chắc đủ tiền để mua đủ bộ và đủ hiệu. Biết như vậy rồi, thì nên sắm chơi vừa phải, mua món nào thích, để cho có với người là được rồi. Nhưng bụng tham không đáy, và người chơi cổ ngoạn như bợm say rượu, như gái sai con, hứa với hẹn và thực hành, khó đi đôi. Người nầy vẫn đẻ, người kia vẫn say, còn tên chơi cổ ngoạn vẫn bòn rút vợ con để mua để sắm.
h) Đồ men lam xứ Huế – Tôi còn nhớ năm xưa, tôi viết làm vầy, nhưng có một anh ngồi ty kiểm duyệt, làm tài khôn, cho tôi viết sai, và sửa lại: “Đồ men làm ở xứ Huế”? Rõ ra anh chưa biết men lam là gì. Nay nói bleu de Huế, thì bị bắt lỗi là còn nói tiếng Tây? Tuy gọi làm vậy, nhưng vẫn là đồ Tàu, nguyên đồ các chú đem qua. Ngoại quốc mua tại đây, đem ra gần hết. Khi mua phải dè dặt. Mua vật ăn cắp chỉ nối giáo cho giặc. Bọn trộm biết bán có người mua, bắt bén ăn quen càng trộm già, và bán theo kiểu bán chạy: tiền trao cháo múc, nó bán được rồi rút lui, mình mua lầm, ráng chịu. Vả chăng mua lén đồ gian, tỷ như gặp đồ gốc của viện Huế bỉ mất cắp, những vật ấy đã có đánh số vô bộ kỹ càng, vốn là của công, sau truy ra, đã mất tiền mất của, lại thêm lôi thôi khổ thân bị đòi hỏi, đi chầu chực lòng thòng, nên đừng mua là hay hơn. Một điều dặn riêng, nói chung về mua đồ cổ, là cũng không nên quá nhát, không dám mua thì làm sao có của quý. Luận cho xác đáng, đồ gì lâu đời làm gì cũng đổi chủ, cho nên miễn mua chánh thức lại nhà buôn có môn bài thì khỏi lo, và chẳng nên mua vật nào của trẻ vị thành niên của bọn tôi tớ đánh cắp, của bọn bán dạo vô căn cứ, của bọn mua bán ve chai, những người ấy tình nghi là buôn đồ lậu, không nên rớ đến. Đại phàm, đồ xưa không khác tờ giấy bạc nhà băng, vốn là vật lưu động, hễ vào tay ai là người đó làm chủ. Đã có câu chữ Pháp “povsesion vaut titre” làm thông lệ rồi. Sở dĩ tôi dám khuyên mua sắm thêm, là vì tôi ước ao những người dư ăn dư để, nên tìm cách nâng cao mỹ thuật bằng cách tìm mua cổ vật, trước bày chơi cho vui cửa vui nhà, sau nữa hiểu biết thêm về cổ tích và lịch sử. Cũng là một lối vừa chơi vừa trau giồi văn hoá. Có người có tánh gian và chỉ muốn một mình mình có của lạ, nên xúi quân gian trộm của người khác bán lại cho mình. Đó là một mánh khóe của giới chơi cổ ngoạn, nên tránh. Bài nầy vì tôi muốn dẫn nhiều chi tiết nện đã quá rườm rà, đến lẩn thẩn. Về khoa chơi đồ cổ, không biết nói làm sao cho tường tận. Trở lại đất Huế, tuy vua chúa đã không còn, nhưng cổ tục nếp xưa vẫn còn. Nhơn vật ngoài ấy, quả rất nhiều tự ái. Không nên sớn sác khi ra ngoài nớ, rồi làm như còn ở đất Sài Gòn, xông đại vào nhà lạ rồi xin coi hoặc hỏi mua đồ cổ. Bị mắng cho biết chừng và mang xấu. Trừ những nhà buôn tôi không kể, các nhà khác đều còn giữ vật kỷ niệm, vật lưu lại của ông bà dòng họ để lại. Những nhà nầy, khi nào họ muốn bán ra, thì thường họ nhắn một người quen, làm môi giới, cho biết trước, rồi thương lượng với nhau. Giấy rách giữ lề mà. Nhứt là nhà mấy ông lớn, mặc dầu túng tiền, nhưng thể diện họ vẫn rất lo. Đừng hỏi đến, chạm lòng… Khi cần dùng tiền, các cụ sai tôi tớ ruột thịt đem ra mãi mại giùm. “Mi làm cho ta cái nầy một nghìn!” Đứa ở dạ một tiếng ba làng cũng nghe, ôm món ấy ra, bán được hai nghìn, đem về cho chủ đúng một ghim, và cả hai đều bằng lòng. Nếu bán cho người lạ mặt, sẽ được nhiều hơn gấp mấy, nhưng các cụ sẽ đỏ mặt, chửi đổng: “Quân bây vô lễ? Sao dám nhè nhà ta như vầy mà hỏi? Hói cái gì hừ? Đi ra!” Lật đật ngơ ngác rút lui, ấy là chưa hiểu tâm địa của người đất Huế.
Ngày 15-1-1963 (ngày thứ ba 15 tháng giêng dương lịch, là ngày 20 tháng chạp Nhâm Dần). Vào lúc tám giờ sáng, tôi đang ngồi làm việc trong văn phòng Viện bảo tàng thì có chuông điện thoại reo. Nơi đầu dây, ông Giá, chủ sự phòng vật liệu phủ Tống thống gọi tôi và mời lên trên đó để giảo nghiệm một mớ đồ sứ cổ.
Khi tôi giáp mặt thì ông nói Tổng thống muốn biết ý kiến của tôi về những cổ vật do Tổng thống đã lựa nơi phòng triển lãm báo chí đô thành và do hai nhà buôn Chánh và Trọng trưng bày từ 16-12-1962 đến 12-1-1963 và hiện đã đem về để tạm nơi tầng dưới trong phủ. Ông Giá liền đó đưa tôi vào phòng xem, khi về sở là hết trọn buổi sáng.
Qua buổi chiều, đồng hồ chỉ mười lăm giờ thì có tiếng điện thoại gọi nữa. Chuyến nầy, tôi lên phủ tổng thống là lần thứ hai trong một ngày, gặp lại ông Giá, ông đưa tôi giới thiệu với chánh văn phòng là ông Võ Văn Hải. Tôi được hai người dắt tôi lên phòng tiếp khách rằng hãy chờ khi nào Tổng thống rảnh việc, sẽ cho vào yết kiến. Phòng nầy rất rộng, nguyên là phòng họp của hội đồng tư vấn (conseil privé) của trào Pháp cũ, và với tôi không lạ vì trước kia tôi từng làm việc nơi toà lâu đài nầy, thuở ông Rivoal làm thống đốc Nam Kỳ. Tôi ngồi chưa nóng ghế: thì thấy một người sĩ quan bưng ra để trước mặt tôi một mâm gỗ, trên mâm có bày một hộp thuốc lá 555 vừa khui (vừa mở), chưa dùng điếu nào, kế bên có để sẵn một hộp diêm quẹt cũng mới, thêm có một tách trà thơm khói bốc ngát và một tách cà phê sữa xem ngon mắt lắm.Vị sĩ quan ấy cúi đầu mời tôi “Xin cứ tự tiện” rồi lui ra bỏ tôi lại bơ vơ với bao nhiêu món cám dỗ ấy. Tôi làm cao không động rớ món nào, ngực thì nhảy thình thịch, mắt vẫn liếc, nhìn từ cái bàn cái ghế sang trọng đến màu sơn trên vách, quả không thấy thay đổi nhiều sau cuộc đảo chánh vừa rồi năm 1945. Quả thật không có chi nặng lòng bằng sự chờ đợi. Tôi khó chịu vì ngồi đã lâu mà không ai nói đến mình, trong khi ấy tôi cố nhìn những vật trước mắt đã biến thành cố tri, từ cây đinh cũ nơi chưn bàn, và thấy tiếc tiếc cho tách cà phê, cho tách trà, ở nhà mình không có để uống, mà ở đây đành để cho nguội không người dùng, thiệt là phí phạm. Đôi giày vẹc-ni đen mới; tôi lấy ra “khai trương” bữa nay nhơn dịp ra mắt ông Tổng thống đã bắt đầu làm tê tê mấy đầu ngón chân, nay khởi sự ngứa rần rần mà ở đây là chốn tôn nghiêm làm sao dám cởi giày ra để gãi cho sướng! Chờ mãi đến mười tám giờ, ngồi nhớ tiếc cái cảnh làm việc ở Viện bảo tàng, tuy ăn lương ít, nhưng cũng “làm vua một cõi” và cũng vì ham chút bã vinh hoa ấy mà nay bị hành phạt như vầy.
Bỗng ông Giá mở cửa phòng bước vô nói năm điều bảy chuyện, cho hay Tổng thống quá bận khách có lẽ không liếp được, thôi thì hãy về nhà và dặn kỹ đêm nay đừng đĩ đâu hãy túc trực sẵn, phòng hờ Tổng thống rảnh sẽ cho xe đến rước! Nghe mà chết được trong lòng, không lẽ kêu mình ban đêm để ngủ chung? Huống hồ gì, đêm nay lại được lần thứ nhứt, vợ mua vé tặng xem cải lương gánh Năm Châu, diễn tại rạp Thống Nhứt tuồng “Tây Thi gái nước Việt” mà mình ao ước muốn xem diễn lại. Thôi thì trối kệ, cứ đi xem hát cái đã, rủi mất chức thì cũng đành, chớ không lý bỏ vé vợ mua sẵn để bận đồ lớn ngồi nhà chờ xe Tổng thống. Tuy vậy, ngồi xem diễn tuồng mà lòng đã thất hứng, lát lát liếc ngó chừng phía cửa rạp, chỉ sơ có lịnh đòi.
Nhớ buổi chiều tài xế trên phủ lái xe đưa về, nay thấy ai bước vào bận áo bâu cứng cao cổ cũng tưởng đó là bác tài xế Hiệp. Vãn hát về không ngủ được vì vẫn hồi hộp.
Ngày 16-1-1963 – Buổi sáng đi làm, vô sự. Buổi chiều vững bụng, nên ăn quen vẫn mặc bộ đồ “xườn xám” cho gọn. Dè đâu vừa vô sở, thì điện thoại gọi.., lật đật đạp xe về nhà (lúc ấy nhà ở Vườn Dâu bộ Canh nông, đường Hồng Thập Tự) hối hả thay bộ đồ lớn, trở lại Viện bảo tàng thì vừa kịp có xe lại rước đưa lên phủ.
Phen nầy, trong lúc ngồi chờ, ông Giá đưa một xấp giấy trắng và mời viết vào đó những ý kiến của mình đối với từng món cổ vật bày trong phòng mật viện cũ. Viết thẳng thét trong hai tiếng đồng hồ, được bảy trang chữ bút atomic xanh. Thấy thấm mệt, nên tự thưởng một tách cà phê sữa ngon lành và nốc luôn một tách nước trà. Không làm kiêu nữa, và dại gì của sẵn không dùng? Đúng mười tám giờ, có xe đưa về, không quên dặn đừng ra cửa, e có lịnh đòi, nhưng trọn đêm vô sự, ngủ bằng an.
Ngày 17-1-1963 Nghe theo lời ông Giá dặn hôm qua, nên sáng nầy vận đại phục vô sở, ngồi chờ tới trưa không việc gì. Buổi chiều có giờ dạy nơi Đại Học văn khoa, vừa dạy từ mười bốn giờ rưỡi, đang ngon trớn, kế có lịnh đòi. Lật đật từ giã sinh viên xách cặp bước mau qua phủ, cũng may ở gần cùng một khu. Chưa đi bươn bả theo ngõ tắt, lính kêu mặc lính, vừa đến kịp gặp ông Giá, ông đưa qua phủ, đến ngay phủ nơi phòng có trưng bày cổ vật, chưa kịp mở cửa vào phòng thì có điện thoại gọi giựt dội từ trên lầu ra chỉ thị xuống, dạy ông Giá phải đưa tôi thẳng lên từng thượng, để yết kiến ông Tổng thống, vì ông vừa rảnh tay và hiện chờ tôi tại văn phòng của người. Xin nhắc lại dinh Gia Long, nay Tổng thống lấy đó làm phủ từ ngày ở “điện Toàn quyền cũ” về đây, nguyên là dinh cũ Phó Soái Nam Kỳ và từ năm 1935 đến 1942, tôi từng làm việc ở đây, nên vốn không xa lạ đối với tôi. Chân tôi bước theo bén gót ông Giá, mỗi lần gót giày nện mạnh lên thang gỗ lòng thấy nao nao nhớ lại buổi thanh xuân còn ghi dấu đâu đây. Lên đến từng lầu trên, thì phong cảnh dấu vết cũ không thay đổi chi nhiều, nền gạch bông vẫn bóng láng như xưa, duy trên vách gạch, tấm tranh sơn dầu “cảnh vẽ cột cờ thủ ngữ và cầu tàu tán dóc” (Pháp gọi “poinle des blagueurs”) vì có tánh cách thực dân, nên đã bôi mất dấu, cũng như cảnh vẽ “vườn cao su” nơi sau chỗ ngồi của hai ông Rivoal và Weber độ nào, nay cũng bị tẩy đi cho sạch vết tích chế độ Pháp cũ. Bức vách nầy, như các bức vách khác, nay sơn dầu một màu vàng trứng gà, xem vừa sạch vừa nhã và trang trọng tinh khiết hơn xưa. Tôi bước tới trước cửa văn phòng, dòm vô trong thấy ông Ngô Đình Diệm, mặc bộ u-oe túc xo, ngồi chễm chệ trong một chiếc ghế bành bọc da thật lớn và mới toanh, hai tay ông đặt ngay thẳng trên chỗ dựa y như một tượng gỗ, còn hai mắt ông thì ngó thẳng vào cửa chỗ tôi đang đứng. Tôi thủ lễ, đứng thẳng người, đầu cúi miệng thưa lễ phép “Kính chào Tổng thống”. Ông gật đầu, xem bộ hiền lành, tôi nghe ông thốt hai tiếng “Mời ngồi” mà không nghe rõ mời ai, cụ, ông hay là mấy. Tôi lúc ấy vẫn cứ đứng, y như điệu chàng rể tiếp xúc lần đầu tiên với nhà gái. Kế tôi nghe ông ban thêm ba tiếng “Ngồi đi mà!” nghe êm ái hơn hai tiếng “mời ngồi” ban nãy. Rồi tôi bước tới, đặt bàn toạ vào ghế, nhưng chỉ ngồi ghé nơi bìa cạnh, y một kiểu với cách mấy chục năm xưa tôi ra mắt nhạc gia tôi khi đi xem mất vợ. Cái ghế của tôi ngồi, vẫn đặt mé bên tả của ghế ông và vẫn giống y cái ghế đặt bên hữu, hai ghế nầy thấy đều cũ kỹ, đã “xập kỷ nình” (cũ thập dư niên); vì tôi ngồi ghé nên thấy dường như ngồi trên khúc củi, vừa ê vừa thốn, thật không êm ái đỡ mỏi chút nào. Tôi vừa an toạ, kế có điện thoại reo. Tổng thống với tay chụp ống nghe, và trong khi ông bận lo trả lời, tôi thừa dịp lấy mắt quan sát kỹ vuông phòng nầy mà những năm xưa kia, vào dịp đầu xuân hay khánh hạ, tôi đã từng ra vào, tôi thấy trong phòng, những đồ tư khí cũ thời Pháp, hoặc dã di chuyển một nơi khác, hoặc đã biến mất từ năm đảo chánh 1945, hoặc vì ngày nay không vừa ý nên đã dời chỗ nào tôi chưa biết, tức là không mất.
Tóm lại những lời đã nghe có sự mất mát nơi nầy, chỉ là lời đồn đãi thất thiệt. Tôi chú ý nhứt là chiếc ghế bành của ông Tổng thống ngồi, bọc da màu vàng, xám nâu (beige) xem bề thế và rất mềm, rất êm ái. Đây là chỗ ông ngồi làm việc thường ngày, vừa khỏe lưng trong lúc tỷ như duyệt khán công văn, và cũng tiện lợi vì có thể nằm nghỉ lưng đỡ mỏi trong chốc lát. Kế bên chiếc ghế bành nầy, nơi mé tay mặt, có đặt một hộp lớn làm bằng gỗ trắng đánh vẹt-ni, trong chứa đựng cả xấp hồ sơ và công văn đang nghiên cứu hay còn xem xét. Hộp gỗ nầy có gắn một hàng nút điện sành trắng và nhỏ bằng cỡ đầu ngón tay út khi Tổng thống bấm vào là để gọi từng bộ hạ cộng tác, khi gọi ông chánh văn phòng hay chánh võ phòng, hoặc bí thơ hay tuỳ giá quan,.., khỏi nhọc công sai người đi mời. Trước mặt ghế ông ngồi và đôi bên tả hữu của chiếc ghế nầy, như đã có nói rồi, là hai chiếc ghế dạ đỏ đã phai màu, góc cạnh đã sù sì vì đã quá thâm niên, quá tuổi lưu dụng.
Một chiếc tôi đang ngồi, và vì không dám ngồi ngay giữa ghế nên không rõ bộ lò-xo có còn êm ái không, duy chiếc để trước mặt tôi, vốn là một cặp với chiếc kia, không nữa cũng đồng niên đồng tuế năm mua năm sẩm, hai chiếc ghế dành cho khách ngồi nầy, tại sao quá khác biệt với chiếc của Tổng thống ngồi, chiếc ghế của chủ thì vừa đẹp vừa êm, thêm vừa mới, còn hai chiếc nọ lại cũ kỹ và hư tệ đến thế. Xem ghế biết tánh chủ nhà, cực chẳng đã ông mới dám sài chớ bình sanh để làm theo ý ông, thì ông là người hà tiện nhứt trên đời, vì tiếng còn để lại, gia đình ông thuở ông Khả còn sanh tiền, thì đất Huế còn nhắc danh nhà nầy lấy tôn chỉ là “tề gia chi bổn thượng sách”. Có một chiếc ghế khác, kiểu xích đu loại Rocking chair hiệu Thonet thứ thiệt, thì chắc là không mấy năng đùng, nên tôi thấy trên mặt ghế chồng chất một đống hồ sơ cao nghệu, thấy mà ngán. Xem kỹ lại đâu đâu cũng thấy toàn là hồ sơ cái bìa xanh cái lại bìa đỏ, trước mặt Tổng thống, hai bên Tổng thống, bên vách tả cũng có một hàng dài dài trừ bên vách hữu, thấy một dãy ba chiếc tủ gỗ to tướng, choán gần trọn mặt vách trên sáu thước chiều dài, những tủ nầy do trào Pháp còn sót lại, mặt gỗ liền màu đỏ kiến gián làm bằng gỗ danh mộc đắt tiền. Trong tủ không biết có chứa đựng giấy má hồ sơ tối mật chi không, nhưng độ chừng ông Tổng thống là một thầy tu lỡ mùa, thuở nay quen sống độc thân, cho nên y phục tế nhuyễn vật cần thiết của người, người đều dồn hết vào đây, là một văn phòng mà cũng một tư phòng bất khả xâm phạm, và bấy lâu vì thiếu bàn tay bà nội tướng, nên tha hồ người để bừa bãi, thậm chí tôi liếc thấy chiếc gậy tuỳ thân ông thường cầm trên tay mỗi khi đi kinh lý “làng chiến lược” và chiếc nón nỉ lịch sử ông thường đội đầu, nay cũng ngự chễm chệ, nón thì đặt trên một hồ sơ một nơi nầy, gậy thì dựng nơi kẹt một góc nọ, mãi xa mút sau chót ba chiếc tủ gỗ kia. Trong khi Tổng thống mãi bận trả lời trong điện thoại, tôi chợt đưa mắt lên đầu chiếc tủ giữa bỗng thấy một khuôn hình lớn vẽ dầu màu, hoạ chân dung cụ cố Ngô Đình Khả, mình mặc sắc phục võ tướng, hai tay giụm lại đứng chống gươm xem rất oai nghi, nhưng cớ sao trong mắt tôi lúc ấy lại thấy dường như bơ vơ trơ trọi trên đầu loại tủ đựng áo quen mặt bằng gỗ liền nầy. Trong bụng tôi suy nghĩ bâng quơ: Hỡi trời? Đã tột bực đỉnh chung, lên ngồi trên cả thiên hạ, thế mà tìm không được một chỗ thờ cha cho xứng đáng. Hãy chừa cho bọn thơ ký nghèo như chúng tôi thờ cách ấy! Nếu ông là người công giáo thuần tuý không nhìn nhận sự thờ phượng ông bà, không muốn bắt chước bọn bên lương lập bàn thờ thờ cúng tổ tiên, thì cứ việc “làm theo Tây u”, tốn một cây đính đóng lên vách như treo hình đức Chúa hay hình ký kiểu La Joconde chẳng hạn, bằng không nữa thì thà đừng thờ và chỉ “tâm thờ”, thờ trong lòng, trong tư tâm cũng được đi, chứ thờ làm chi trên đầu tủ bọn tiểu công chức nhà như ổ chuột, trong nhà chỉ có cái tủ áo là cao, cũng không đành thờ cha mẹ ông bà như thế. Đang trí còn nghĩ ngợi viển vông, thoạt nghe Tổng thống đặt máy nói vào móc tôi vừa day lại thì nghe ông nói chậm rãi nửa thân nửa chí tình: “Cách nay mấy mươi năm, tôi cũng từng làm một nghề tương tợ như nghề ông (tiếng ông gọi tôi lần thứ nhứt), nhưng vẫn không phải nơi chốn nầy đâu!”.
– Dạ thưa Tổng thống, – tôi thầm phục và thầm khen ông khéo lựa mấy lời quá êm cởi mở – Dạ thưa Tổng thống, tôi đã từng đọc bài nghiên cứu của Tổng thống viết về chiếc nghiên mực “Tức mặc hầu” đăng năm xưa trong tập san Đô thành hiếu cổ.
– Ờ! Phải đấy. Bài ấy tôi viết đã lâu lắm rồi. Có đọc hỉ!
Nói đến đó rồi ông chăm chỉ lật lật xấp bản thảo tôi đã viết, vừa đọc vừa hỏi trống lỗng:
– Chữ ai viết mấy trang nầy vậy?
– Dạ, chữ cụ Sển viết! – Ông Giá khoanh tay đứng gần tôi trả lời.
– Già mà chữ viết còn hay hỉ! – Tổng thống ngó tôi mà khen.
Tôi cúi đầu nói nhỏ câu “Tôi không dám!” nhưng trong bụng, tật cũ không chừa, vẫn cãi:
– Trong Nam, chúng tôi nói chữ viết “cứng”? Viết hay là khác!
Rồi lại nghe Tổng thống hỏi tiếp:
– Hiệu “Ngoạn Ngọc” dùng được chớ hỉ?
– Dạ thưa, Ngoạn Ngọc là quý, là cổ lắm vậy.
– Ờ, ờ! Xưa tại nhà, có khá nhiều đồ hiệu Ngoạn Ngọc.
– Dạ thưa, – Tôi bất trớn nói tiếp – Đồ cổ đề hiệu Ngoạn Ngọc là nên dùng lắm. Người châu Âu, châu Mỹ, rất chuộng, và gọi theo Pháp là “Bibelot de jade”. Dạ, nhưng nó chưa quý bằng đồ cổ kiểu ký hiệu chữ “Nhựt”.
– Vì sao vậy? Tổng thống hỏi.
– Dạ, theo tôi hiểu, thưa Tổng thống. Hiệu “nhựt” là đồ sứ “Quân dụng”, chế tạo riêng cho quân vương dùng, khác với Ngoạn Ngọc là hiệu thường, ký trên đồ sành sứ từ nhà quan quyền đến nhà lê thứ đều dùng được cả, tức cũng như đồ thông thường, “quan đụng”, “dân dụng”.
Nói đến đây, tôi nhìn trộm, thấy mặt Tổng thống vui lên, cười cười rồi với tay bấm một nút chi nhỏ nhỏ gắn nơi hộp gỗ đã tả, tức thì hiện ra một tuỳ giá quan mặc một bộ quân phục bén ngót, vừa mở cửa vào, vừa chào và đứng thẳng mình.
– Cho ở dưới lầu hay tôi xuống xem các vật vừa sắm đó.
Ông Tổng thống đứng dậy, tôi cũng lật đật đứng theo. Tôi bước trái qua một bên, nhường chỗ cho ông bước ra khỏi ghế, rồi chờ ông bước được vài bước, tôi khi ấy mới nối gót theo sau. Bỗng cửa phòng mở toác, tôi giựt mình khi thấy ngoài cửa có hai ông cao cấp quen mặt, tay ôm hồ sơ chực sẵn từ lúc nào, đầu cúi ngó mũi giày, áo gài nút kín, mỗi ông đứng một bên cửa, không khác ông Thiện và ông Ác vẽ trên cửa chùa, nói làm vậy chớ vẫn mong hai ông đều hiền và không có ông nào xứng danh là ông Ác. Một ông, bấy lâu tôi nghe tiếng đồn là thanh liêm “tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, nhưng nay thấy tận mắt vì ông có xương sống gắn bản lề khá dẻo cho nên người ta mới còn dùng đến nay, trong bụng thầm tiếc một người có Đức như ông, nấm nuối làm chi chốn nầy, ham quyền chức e có ngày vướng bùn mất chữ thanh cao, hay là cũng vì ông đã trót lựa chữ lót là “Tòng”.
Ông kia tôi gặp một lần trong một buổi đi nghe diễn thuyết nay cũng không nhớ tên, khi tôi đi ngang chỗ ông đứng, tôi ễnh ngực, nện mạnh gót giày, ý chừng muốn cho ông thấy tên ăn lương công nhựt nầy, cũng có lúc đi gần chủ của ông để được ông cúi chào, sướng quá. Buổi ấy, Tổng thống dẫn đầu đi trước, thứ đến là tôi kế nữa là một cận vệ quan, và sau rốt là ông Giá, chức coi về từ khí thập vật trong phủ, Pháp gọi “garde-meuble du palais”, tạm dịch nội phu quan chớ không lý dùng chữ “nội dịch” nghe tệ quá
Xuống đến phòng tạm chứa đồ sứ, một phòng rộng lớn thênh thênh thuộc mé hữu của toà lâu đài nầy, tôi thấy các cổ vát, cổ ngoạn đã được dọn bày sẵn làm ba hàng dài: chóe sành, bầu hồ lô tô kiểu, bình phong nạm ngọc, vân vân, đủ thứ, nhưng thứ thật tốt, đẹp và cổ thì ít, thứ xoàng xoàng không xưa không nay thì nhiều, theo ý riêng tôi, sở dĩ họ đem đến đây, cốt bán cho được nhiều tiền, kiếm đồng lãi và không sợ sự bình luận mai sau. Gẫm lại nguy hiểm thay cho cái nghề “chuyên viên khảo về cổ vật” như mình, có tiếng mà không có miếng, nay được đòi đến đây để giảo nghiệm, nhưng xét ra từ ông Tổng thống cho đến mình, còn cách xa biết bao nhiêu độ, mấy lời mình trực ngôn còn bị nhiều ý kiến tay ngang của các “cục cưng giỏi sàm tấu” xuyên lạc, không khéo “chơi dao có ngày đứt tay”, mình nói trắng, họ thay đen, mình nói “nay” họ đổi ra xưa”, – mình sẽ bị “bán đứng” bị lợi dụng, bị mang tai tiếng, từ đó đi đến sự “ủ-tờ” cũng chưa biết chừng. Ôi! Cái nghề làm quản thủ Viện bảo tàng ăn lương công nhựt!
Trong buổi ấy, tôi theo sát bên lưng Tổng thống. Ông xem xét từng món, ông hỏi tôi về món nào, tôi cố đem hết sức bình sanh tìm lời giải thích cặn kẽ về gốc tích, điển cố nào tôi biết được. Đi xem được giây lát, định chừng ông hài lòng về mấy lời tôi cắt nghĩa, nên ông “nói chuyện”quên thôi, và lần lần nói giọng rất thân mật, và cố nhiên bầu không khí trong phòng trở nên nhẹ nhàng dễ chịu. Ông Giá lấy mắt nháy lén tôi, hình như muốn nói: “Được lắm! Tiếp như vậy hoài đi”! Mỗi lần tôi cố ý nói giặm nói chêm một đôi chỗ cho thêm vui câu chuyện, tôi lén nhìn thấy hai môi Tổng thống như muốn cười nhưng còn giữ bộ nghiêm. Và khỏi nói khi thấy được cởi mở, mấy ông tuỳ giá lúc ấy cũng tiếp sức tôi vài câu đúng lúc cho không khí được “dễ thở” thêm. Tỷ dụ khi đứng trước một cái tô có đề thi nôm, tôi quên lưng hiện mình đang giỡn với lửa và tôi bỗng đọc đủ giong phù trầm.
– Bộ biết chữ Nho khá lắm hả? – Tổng thống cắt ngang và hỏi tôi như vậy.
– Dạ thưa Tổng thống, đó là tôi thuộc lòng vì quá quen mặt với tô nầy, chớ về chữ Nho, tôi vẫn dốt, vì cha tôi không cho tôi học chữ ấy từ lúc nhỏ.
Qua khỏi truông vấn nạn nầy, tôi lại tiếp tục nối gót theo ông Tổng thống. Bỗng đi đến trước một bộ chén trà cổ. Ông với cầm lên một cái chén “quân” và nói: “Đây chữ gì? Tôi không đọc được?”. Nghe vậy tôi tiếp cầm cái chén, vụt đọc lớn: “Tuyên Hoá”.
Ông Tổng thống chận tôi lại, cười và nói: “Đó! đọc được chữ Nho đó!”
Hồn bất phụ thể, tôi vội nói chữa lời: “Dạ! Cái chén nầy, thưa Tổng thống, nó là chén giả hiệu. Vì chữ viết nhòe nên Tổng thống không đọc được. Tôi quá quen và đã từng thấy nhiều bộ cổ hơn và chánh hiệu, nên mấy chữ nầy dễ nhìn, dễ đọc ra. Vả lại vua đời Minh có hiệu Tuyên Đức và hiệu Thành Hoá mà thôi. Nay chén nầy xưng “Tuyên Hoá” không có trong niên hiệu nhà Minh, cho nên tôi gọi là giả hiệu. Họ lấy chữ Tuyên trong Tuyên Đức và chữ Hoá trong Thành Hoá, hai chữ đều dễ đọc. Tổng thống gật đầu bước qua dãy khác, và tôi thoát nạn. Hú hồn!
Đi được giáp phòng một vòng tròn, đại khái đi đến đâu tôi đều trả lời suôn sẻ, độ chừng nãy giờ Tổng thống bằng lòng lắm. Kế đó bắt qua xem mấy bức bình phong sơn mài có nạm ngọc quý, treo trên vách. Đến đây tôi có dịp dò xét ý ông. Quả ông là người có bản lĩnh, đừng khinh ông mà lầm. Ông là người tự làm lấy mình, tự xem xét và tự quyết định lấy mình, vốn ít nghe lời ai mà cũng không muốn nghe lời ai khuyến biểu. Sở dĩ sau nầy việc đa đoan và bọn gian thần sanh ra quá nhiều và thời đã hết nên phải hư việc. Như hôm nay, ông đang đứng trước một bức bình phong có nạm ngọc nầy. Đó là một bộ tranh sáu bức, dài và hẹp, cỡ 2m x 0,50, cả thảy sáu tấm ráp lại bằng nhiều bản lề, nền tranh là gỗ thông sơn mài màu đen, trên nền sơn, cẩn đủ thứ ngọc quý giá, từ ngọc vân thạch, đến nhiều thứ quý hơn nữa…
– Tranh ngọc nầy, – Tổng thống nói – tại sao lặp đi lặp lại có một kiểu, trông nhàm quá.
– Thưa, tuy vậy mà nay không làm được nữa – Ông Hải nói tiếp – Nếu nhà Thành Lễ làm như vầy được, không biết sẽ tính đến giá nào!
Câu nói là câu có ý tán thành, ý định muốn giúp cho tấm bình phong được Tổng thống chấm mua, không dè đã làm Tổng thống nổi cơn thịnh nộ bất ngờ, như trời không kéo mây bỗng vụt mưa ồ. Ông day lại, nói rất lẹ:
– Mà ai mua làm chi của nhà Thành Lễ. So sánh làm chi vật xưa với vật nầy. Bức tranh nầy, vừa nói ông vừa lấy gậy chỉ, giá sáu chục nghìn (60.000$) kia mà!
– Dạ, hai trăm sáu chục nghìn chứ (260.000$). – Ông bí thư Hải cải chính.
– Ôi cha! Tôi không mua với giá đất đó đâu!
Ông Tổng thống đáp và bước te te đi một nước, làm cho chúng tôi phải bước lẹ mới theo kịp. Rồi liền đó, ông hạ giọng, day lại tôi và chậm rãi nói:
– Với những giá biên ra đây, tôi định sẽ giảm bớt đồng đều hoặc 25 hoặc 30 phần trăm. Nghĩ sao? Nếu họ không bằng lòng bán thì không mua.
– Dạ thưa Tổng thống, nếu cho phép tôi đưa ý kiến. Tôi chuyên xem kỹ về vấn đề tốt hay xấu, giả hay thật, cổ hay không cổ còn về giá cả, tưởng tôi không quyền định đoạt.
– Thôi được! ông Tổng thống nói – Rồi ông bắt qua chuyện khác. Kế ông lại hỏi:
– Đây họ đề “ambre”. Mà “ambre” là gì?
– Dạ thưa Tổng thống, “ambre” là hổ phách.
– Ủa! Lạ nầy! Tổng thống nói. Ambre, không phải là chất nọ tiết ra bởi loài cá ở biển kia sao?
– Thưa Tổng thống, tôi đáp. Nếu “ambre gris” thì đó là chất vôi hay là tinh của loại cá “cachalot”, thường thấy trôi cả giề lên mặt biển và người đánh cá vớt lên đem phơi khô, cân bán với giá rất mắc, gọi là “long diên hương”. Dạ, còn “ambre” nầy là ngọc hổ phách, vốn là mủ, nhựa cây thông bên Tàu, được trên ngàn tuổi, biến thành. Dạ thưa, mủ thông, ta gọi “tòng hương”, Pháp gọi “résine de conịfères”. Tòng hương, ta dùng thoa dây kéo đàn, cũng giống như colophane của Pháp. Và khi nào “tòng hương” để lâu được trăm năm, sẽ biến thành “phục linh”, một vị thuốc Bắc và nếu “tòng hương” ở dưới đất trên ngàn năm, sẽ biến thành hổ phách, như vầy đây. Đó là tôi đọc theo sách Tàu dịch ra, chớ đúng không thì tôi không rõ.
Buổi đặc biệt tôi được tiếp xúc với ông Ngô Đình Diệm, đến đây là chấm dứt. Và đây là lần thứ nhì ông cho tôi yết kiến. Tên tôi viết theo Tàu có lẽ ông không ưa, vì bình sanh ông chỉ thích những người có tên tốt. Cũng vì tên không tốt, nghe không thanh và quá “chệc”, nên ông hành tội bắt chầu hầu suốt mấy hôm liền mới cho ra mắt. Ông đã hiểu lầm và có lẽ hôm nay ông biết rõ tôi hơn chăng?
Nhắc lại, sau khi tôi trả lời đầy đủ như học trò trả bài cho thầy, ông Tổng thống gật đầu, quay lưng lại, và vừa đi vừa nói: “Thôi được? Mời ông lên lầu dùng trà”.
– Đội ơn Tổng thống, tôi đáp. Nhưng tôi không dám làm mất thì giờ quý báu của Tổng thống. Xin cho tôi về.
Ông gật đầu, bước thẳng lên thang. Tôi vừa mừng thoát nạn, bỗng ông chánh văn phòng Võ Văn Hải đến gần khều tôi và nói nhỏ:
– Sao cụ không nhận lời ông Tổng thống mời, ngàn năm một thuở mà?
– Thưa ông, – Tôi đáp lẹ – Cũng biết vậy đó chút, nhưng ông nghĩ lại: phàm một tên học trò đi thi, một khi ứng đáp được trôi chảy, kể chắc có hy vọng thi đậu, là đủ mừng. Há tham làm tàng và đèo bòng, chạy theo chủ khảo, ông chất vấn thêm, rủi bí là bao nhiêu công khó cũng trôi dòng nước, chằng là uổng công tu luyện hay sao?
Ông Hải cười và nói:
– Cụ là người cao kiến.
Giờ tôi bước vào phủ Tổng thống, nhớ lại là mười lăm giờ chiều. Nay bước chân ra khỏi phủ, là đồng hồ đã điểm mười bảy giờ bốn mươi phút. Thế là tôi được hầu ông Tổng thống ngót hai giờ bốn mươi phút. Khi bước vô, lòng nặng như núi đè. Nay bước ra, lòng nhẹ như được đầu thai kiếp mới.
Vài hôm sau, tôi nhận được một bức công văn, xin chép y, để làm kỷ niệm:
Việt Nam Cộng Hoà
Tổng thống phủ
Văn phòng
Số 62-TTP/ĐL
Sài Gòn, ngày 18 tháng 1 năm 1963
Đổng lý Văn Phòng Phủ Tổng thống
Kính gửi ông Bộ trướng Quốc gia Giáo Dục Sài Gòn.
Thưa ông Bộ trướng,
Văn phòng tôi trân trọng kính chuyển quý Bộ, chỉ thị sau đây của Tổng thống. “Có nhiều đồ cổ cần mua cho Viện bảo tàng, xin ngân khoản mà mua thì có khó khăn, cho nên cho phép ông Quán thủ Viện bảo tàng là người rành rỏi và biên khá về đồ cổ, khi nào có gặp đồ cổ thì ông ấy có thể trình gấp, vì theo thú tục giấy tờ mất ngày giờ, trễ ké khác đã mua rồi.
Nếu thiếu ngân sách, thì trình lên Thượng cấp để xin ngân khoản đặc biệt.
Nay kính, Ký tên
Quách Tòng Đức
Dưới bức công văn chánh, do phủ Tổng thống gởi, còn mấy hàng phụ như sau:
Bộ Quốc Gia Giáo Dục
Số 2044 – GD/KTNS/2
Sao y kính gửi.
Ông Giám đốc Viện Khảo cổ, Sài Gòn.
Quản thủ Viện bảo tàng, Sài Gòn.
“để thi hành”.
Sài Gòn ngày 9 tháng 2 năm 1963.
K. T. Tông thơ ký, Phó Tổng Thơ ký
Ký tên: Đỗ Bá Khê
Do công văn chép lại như trên thì từ đây, tôi đã được lọt mắt xanh. Người khác, nếu được như vầy, ắt mừng lắm vì tương lai hy vọng tràn trề.
Nhưng đối với tôi, vốn sẵn tánh bi quan từ thuở nào, tôi chỉ thấy kể từ đây thiếu gì nguy hiểm khó phòng ngừa được: mỗi lần trên Phủ muốn mua đồ cổ, sẵn tôi đang được tin dùng, thiếu chi người, từ bọn buôn đồ cổ, bọn đứng trung gian đến kẻ hám lợi chưa biết được, họ có thể sẽ bán đứng tôi có ngày. Tỷ dụ tôi không thấy món đồ, mà họ hô “tôi xem rồi”, hoặc tôi đã bảo biết là đồ quý.
Nhưng cũng may, cái sợ của tôi chỉ là trong tưởng tượng.
Cách đó không bao lâu, Tổng thống Diệm đột ngột lìa đời, còn tôi cũng bị cho ra rìa, lìa khỏi Viện bảo tàng, trở về kiếp sống “hưu trí non”, và mười mấy năm làm thêm nơi viện nầy, không được kể vào tuổi thâm niên hưu trí, vì trong khế ước, tôi là nhân viên công nhựt.
Nay xin có mấy hàng hồi ký, không phải tiếc ông Diệm, sự thật chỉ ngậm ngùi cho thân. Từng đọc bài thi Lão ky qui y của ông Tôn Thọ Tường, càng thấm thía thấy thân sao giống hệt. Đối với riêng tôi, ông Diệm không có làm điều gì có hại cho cá nhân tôi.
Một phút gặp gỡ cũng là tình, dẫu không phải một bức tình chung, nhưng cũng đủ hư thân trọn đời. Tôi viết mấy trang nầy, chẳng qua để nhắc việc cũ, dẫu có người trách tôi còn tưởng niệm ông, thân nầy có thể ví với gái hư, nay đã già, cho nên thà ở goá ngồi ngoài lần chuỗi cho qua ngày tháng.
Bút danh Andrew Q. Lâm, sinh 1964 Lâm Quang Dũng là con trai của Trung tướng Lâm Quang Thi, từng là chỉ huy trưởng Pháo binh VNCH rồi giám đốc Võ bị Quốc gia Đà Lạt trước khi làm Tư lệnh phó Quân đoàn I.
Gỗ Mun và Hồn Ma Bóng Quế là truyện ma nhưng không rơi vào sự tầm thường của chuyện ma quỷ mà làm bật lên cảnh sống của một gia đình cấp tướng miền Nam. Ưu điểm ở đây, nằm trong tâm tình ngây thơ chân thật của tác giả hãy còn thiếu nhi, với khả năng quan sát của nhà văn tương lai. Khá tỉ mỉ và chi tiết, trong một văn phong đẹp tự nhiên.
Bản dịch của Mai Kim Ngọc tái tạo thành công ngôn ngữ trước 75.
[Trần Vũ]
Kỳ 2
Mai Kim Ngọc dịch
“Hôm sau, hai vợ chồng con trở lại sớm với ít trái cây cúng cô khi Bà chưa về. Con nghĩ có biết chắc Bà cũng không quở trách con. Rồi mấy đêm sau, thằng Hiển này đã tình nguyện gác luôn cả phiên con, nó bảo cô Ngà nay đã được cúng giỗ rồi chắc sẽ không phiền hà gì nó. Nhưng cẩn tắc vô ưu, Bà tin con đi, con không quên căn dặn thằng Hiển mỗi tối phải thắp cho cô nén nhang…”
Chuyện chú Lâu đến đây là hết. Măng gật đầu như ghi nhận chú đã kể xong, và không thấy Măng bảo gì thêm chú quay mặt lại đằng trước. Mùi rượu đế mới đầu thoang thoảng đã tăng theo câu chuyện của chú, bây giờ nghe nồng nặc. Khó chịu, tôi quay sang anh Tuấn ngồi bên phải tôi. Anh đang thổi vào kính xe, biến cửa sổ xe thành một tấm bảng phủ kín hơi nước. Ngón tay anh vẽ những hình tàu bay xe tăng lên mặt kính. Nét vẽ của anh làm kính trong trở lại, bày ra cảnh vật sũng nước bên ngoài với cỏ cây xanh rờn và bầu trời đục xám đang vùn vụt chạy về phía đuôi xe, linh động hóa những hình tượng anh vẽ trong khi chúng sáng lên với màu sắc hiền dịu của tạo vật.
Ngà tuy là chị tôi, nhưng tôi chưa bao giờ biết mặt. Chị chết non vì chứng đau não, một năm trước khi tôi sanh. Vì chị trắng trẻo nên Măng đặt tên chị là Ngà. Khi đẻ ra, tóc chị dài và mượt – Măng cả quyết là nếu sống chị tôi sẽ cao và đẹp lắm. Chị Ngà rất ngoan, Măng vẫn thường nói. Chị không bao giờ khóc nhè hay vòi vĩnh như tôi. Mỗi khi Măng nói vậy, tôi làm bộ nhăn nhó giậm chân cho đến khi Măng phải tức cười và ôm tôi vào lòng, dỗ rằng tôi là đứa con yêu nhất của Măng.
Mỗi năm vào ngày giỗ chị Ngà, Măng thường sắm sửa quần áo, đồ chơi, tiền giấy, tất nhiên là đồ mã, để đốt xuống âm phủ cho chị cũng được thoải mái như mọi người trong nhà. Chúng tôi không phải bao giờ cũng sung túc, Măng vẫn bảo: thuở ấy gia đình tôi nghèo – ba tôi mới là trung tá – và chúng tôi không có tiền, không có tài xế, không có xe hơi. Khi sanh chị, Măng phải một mình đi xích lô vào nhà bảo sanh. Khi chị mất, Măng mua một miếng ngà cho khắc tên chị để cúng. Măng thường nói, chị đã không chết nếu hồi ấy chúng tôi khá giả và quen biết lớn để có thể đưa chị sang Âu Châu điều trị. Nhưng ba tôi lại bảo là thật ra không có cách gì cứu chị, chính các bác sĩ cũng không biết làm sao trị liệu căn bệnh não hiểm nghèo và hiếm thấy của chị.
Khi tôi lên một, ba tôi được thăng Thiếu tướng. Cảnh sống của chúng tôi khá lên khi ba tôi được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 9 đóng tại Sa Ðéc. Ít năm sau, ông thăng lên Trung tướng và được bổ nhiệm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Ðà Lạt. Chúng tôi được cấp một biệt thự kiểu Pháp, mấy con ngựa và một chiếc trực thăng. Nhưng Măng không bao giờ quên chị tôi. Dọn lên Ðà Lạt, vật đầu tiên Măng gói để mang theo là bàn thờ chị tôi, mặc dầu ba tôi phản đối. Ba tôi nghĩ không nên bám víu lấy người chết. Ông bảo tốt nhất là gởi bàn thờ chị tôi vào một tu viện yên tĩnh, vì chúng tôi dời nhà kể như thường xuyên. “Cho con nó yên nghỉ” ba tôi có khi quát lên, nhưng Măng không bao giờ nhượng bộ. Ba Măng cãi nhau liên miên về việc này, nhưng sau cùng bao giờ Măng cũng thắng.
Bây giờ sự việc đã như thế, thật là dễ sợ khi nghĩ hồn ma chị tôi vẫn lẩn quất trong tòa biệt thự, đòi Măng săn sóc như anh em chúng tôi còn sống. Tôi nhắm mắt tưởng tượng chị vẫn ở trên mặt lò sưởi trong cái bàn thờ nhỏ bằng gỗ mun đóng theo kiểu một ngôi chùa tí hon. Chiếc bàn thờ có mái cong với đôi cột bé tí chạm trổ rồng phượng. Giữa hai cột là chiếc bát hương nhỏ đầy chân nhang và tro nhang màu xám. Nhưng trong nội thất linh thiêng của bàn thờ tất cả chỉ có tấm bài vị bằng ngà của chị, đặt đứng như một tấm bia mộ nhỏ. Phải chăng tấm ngà bé này là hiện thân của hồn ma của chị?
“Còn chú, chú Hiển, chú có thấy gì lạ không?” Tiếng Măng làm vỡ bầu không khí yên lặng.
“Bẩm Bà, không”, chú Hiển trả lời mắt vẫn nhìn con lộ trước mặt. Trong tấm gương chiếu hậu, nét mặt chú bình thản như không.
“Chú muốn nói con gái tôi không nắm chân chú kéo hay nhát chú như nhát chú Lâu?” Măng hỏi gặng.
“Bẩm Bà không. Chắc con cứng bóng vía nên ma cỏ không quấy nhiễu”.
“Vậy sao?” Măng nói.
Chú Lâu quay lại xen vào câu chuyện. “Nhưng bẩm Bà, con thấy cô nhà. Chính mắt con trông thấy cô nhà”. Chú lấy ngón tay tự chỉ vào mặt.
“Tôi biết” Măng gật đầu. “Nhưng ai hỏi chú mà chú nói.”
Măng nói tiếp:
“Chú Hiển, chú không có gì để trình lại với tôi?”
“Bẩm Bà không. Chuyện ma cỏ thì lại càng không”. Gọn gàng vượt qua chiếc xe nhà binh chạy chậm đằng trước, chú móc túi lấy ra phong thư. “Tuy nhiên ông Tướng có dặn con trình với Bà là Ông đi Nha Trang họp mấy ngày nữa mới về. Ông dặn con trao Bà lá thư này…”
“Ủa?” Măng hỏi chú Hiển, tay Măng cầm phong thư mà không mở ra. Măng không bao giờ đọc thư ba tôi trước mặt các con.
“Chồng tôi có biết gì về chuyện… ma hiện hồn này không?”
“Bẩm Bà không.”
“Cũng tốt thôi” Măng như tư lự. “Nhưng tại sao chú lại gác thay cho chú Lâu, thay vì ngủ dưới trại?”
“Bẩm Bà tại vì”, chú Hiển dõng dạc, “trại đông, trống gió mà lại ồn quá. Mà cũng tại vì đám sóc đĩa. Con không thể nào ngủ được khi thằng cha Lâu này ngồi sóc đĩa xướng số trúng bằng mấy câu vè của nó.”
“Vậy sao?” Măng vắn tắt, nhưng tôi cười lăn cười bò. Anh Tuấn vỗ đùi và chị Ngọc nói “Xấu hổ, xấu hổ nhé” trong khi chú Lâu trên ghế trên co mình lại như muốn độn thổ. Quả thật chú Lâu rất ồn và rất sính đọc vè khi đánh sóc đĩa. Chú sính vè trong mọi chuyện, nhưng đặc biệt nhất là với sóc đĩa. Chú có thể cất giọng nghêu ngao đọc vè của chú, tựa hồ như mấy con sóc đĩa là những nhân vật mấy tuồng cải lương mà chú đã thuộc lòng.
Lát sau yên lặng lạnh giá lại bao trùm lấy chúng tôi như một chiếc màn vải đục. Trong tay Măng, tôi nghe tay tôi lạnh ngắt như không còn hột máu. Mưa đã nhẹ hạt, máy xe rầm rì, bánh xe lúc lúc chồm qua những ổ gà đầy nước, và tim tôi ghi nhận từng cái dằn của đường. Xe ngang qua hồ Xuân Hương, tôi thấy sương mù lãng đãng như ve vuốt mặt hồ. Ðã xế chiều, bầu trời ảm đạm, và mặt hồ phản chiếu lại một lần nữa cái ảm đạm ấy…
Qua hai cây cần gạt nước, tôi thấy cảnh vật di động với những biệt thự ẩn mình sau những hàng rào gỗ và những rặng thông cao. Xe lên dốc, hai bên đường một vài bàn thờ nhỏ trang trí bằng những vòng hoa hay bó hoa màu sắc lòe loẹt. Dân địa phương đã dựng những bàn thờ này cho linh hồn các nạn nhân xe hơi hay xe gắn máy trên đường trơn dốc này. Chú Lâu có lần giảng cho tôi là nếu người chết được tưởng nhớ tới, vong hồn họ không trở về gây thêm tai nạn cho người sống.
Chúng tôi sắp tới nhà. Mái đỏ của ngôi biệt thự hiện ra sau lùm cây xanh; tiếp theo là mấy cánh cửa chớp bằng gỗ che cửa sổ và sân thượng trên lầu hai; rồi đến thửa vườn với chiếc xích đu hiện ra bên phải. Xe quẹo gắt vào chiếc cổng rào kẽm gai, và một chú lính vui vẻ từ trạm canh nhảy ra, súng và đạn đeo lủng lẳng sau lưng. Anh ta kéo mạnh cổng rồi chào chúng tôi khi xe chạy qua. Chị Ngọc vẫy tay, và Măng gật đầu chào lại. Trên sân lác đác trống vắng, hơi sương trắng cuộn vòng bốc lên như chào đón chúng tôi. Chiếc xe Plymouth chạy tới bên mấy bậc tam cấp phủ rêu rồi dừng lại.
Măng lấy tờ giấy bạc với tới đằng trước vỗ khẽ vào vai chú gia nhân. “Chú Lâu” Măng nói “Chú làm ơn ra chợ mua cho tôi ít hoa quả, đồ mã, và hương đèn. Chút đỉnh để giỗ con gái tôi… dù là giỗ muộn. Và cám ơn chú đã giỗ em hôm trước…”.
Không biết ai đã quên đóng cửa phòng học, hơi lạnh và ẩm của mưa đã lạm vào từ bao giờ. Có mùi gỗ ướt, và khi Măng đóng cửa sổ lại, tôi nghe như một phần của bầu trời sũng nước đã bị giam lại bên trong. Tôi nhìn vào chiếc bàn thờ trên mặt lò sưởi. Bàn thờ vẫn đấy, rờn rợn, trống, sâu, và tối. Hai con rồng vảy xà cừ lóng lánh, hàm há lớn như sẵn sàng táp vào kẻ bất tín. Nhìn bàn thờ, tôi bao giờ cũng cảm thấy lạnh lẽo. Măng thắp mấy nén nhang, và khói nhang cuốn vòng bay lên trần nhà đã ám khói từ lâu. Mùi nhang hăng hắc lẫn với mùi thơm của gỗ lẩn quất nặng nề trong bầu không khí lạnh và ứ hơi nước.
Khi tôi đứng sau Măng nghe Măng khấn, anh Tuấn và chị Ngọc kéo nhau ra bên bảng đen, bộ điệu ranh mãnh tinh nghịch. Hai người vét bụi phấn trong khe bảng bôi lên mặt. Anh chị ra hiệu rủ tôi nhập cuộc, nhưng tôi lắc đầu. Tôi cảm thấy phải đứng bên Măng mới được an toàn. Anh chị tôi đang chờ chú Lâu tới để phục kích, tiếng chân chú bây giờ nghe vang lại từ hành lang.
Lúc chú xách rổ mây đầy hoa quả đồ chơi bằng giấy và quần áo mã bước vào, anh chị tôi nhảy ra hét lớn, mặt mày bôi đầy phấn hai tay giơ lên quơ cào. Như bị điện giật, chú thất thanh hãi hùng nhảy dội ra đằng sau, mắt chú như văng khỏi tròng. Một trái xoài rơi bịch xuống đất.
“Thôi ngay lập tức!” Măng nổi nóng quay lại. Trong mắt Măng tôi thấy có điềm gì bất an, báo hiệu những bất thường đang rình rập xảy ra. Khói nhang vương vất sau lưng Măng. “Có đi rửa mặt đi còn giỗ chị. Tất cả mấy đứa!”
“Thưa Măng vâng” anh Tuấn và chị Ngọc lí nhí, cúi đầu như biết lỗi. Bỏ lại Măng với chiếc bàn thờ gỗ mun, tôi theo chân anh chị. Ngang qua chú Lâu, tôi thấy chú đang cúi nhặt quả xoài miệng lẩm nhẩm than thở về quả tim yếu của chú.
Khi chúng tôi trở lại, hai ngọn nến đang bập bùng cháy trên hai cây đèn hoa sen đặt hai bên bàn thờ. Bóng tối và ánh sáng chập chờn trên những đường chạm cong của gỗ mun. Bên ngoài trời đã sẩm tối, một ánh sáng hồng dịu sáng lên nơi cửa sổ. Măng mặc áo dài trắng và chú Lâu giúp Măng sửa soạn vụ giỗ trễ. Trên mặt bàn trải khăn trắng, mấy trái xoài và vài bông sen bày trong chiếc bát sứ lớn. Anh em chúng tôi, tắm rửa sạch sẽ, đầu tóc chải ngay ngắn, đã thắng bộ. Chị Ngọc mặc chiếc váy màu xanh nhạt, anh Tuấn và tôi đánh bộ com-lê đen, cà vạt đen, thứ cà vạt có kẹp móc không cần thắt. Chúng tôi sắp hàng sau lưng Măng, theo thứ tự lớn nhỏ, mặt quay về phía bàn thờ. Sau cùng đến lượt tôi, Măng đưa cho tôi cây nhang đã thắp sẵn, bảo tôi khấn ‘Chị Ngà, em xin chị tha thứ cho cả nhà. Xin chị phù hộ cho mọi người được may mắn’, tôi nhắm mắt khấn, tay cầm chặt cây nhang như chiếc đũa thần của chuyện cổ tích. Rồi tôi khấn thêm, “Nếu chị thành ma, em xin chị đừng về kéo chân Măng, chị nhé”. Tôi vái chị ba vái. Tôi tưởng tượng từ chiếc bài vị bằng ngà lờ mờ trong khoảng tối thần bí của bàn thờ, chị đang ghi nhận lời khấn của tôi.
Măng đứng lặng trước lò sưởi, mắt Măng xa vời như nhìn xuyên qua khói nhang đang cuốn vòng bốc lên. Khi đốt mã cho chị trong lò sưởi – phần quan trọng nhất của giỗ – Măng khóc. Mấy chiếc áo dài giấy màu, mấy con búp bê đội nón và mớ tiền âm phủ bốc cháy, tỏa ra một thứ ánh sáng vàng như hoàng kim pha chút màu lục. Khuôn mặt hiền dịu của Măng ấm lên, và nước mắt lấp lánh trong mắt Măng. Cuối hành lang, gió đập từng hồi chiếc cánh cửa chớp lỏng bản lề vào mặt tường bên ngoài.
Lát sau có tiếng gõ cửa. Chúng tôi quay lại thấy chú Hiển đứng như pho tượng, tay cầm cây búa. “Vào đi chú” Măng ra lệnh. “Chúng tôi cũng gần xong rồi. Chút nữa là chú có thể bắt đầu.”
Khi chú bước tới, tôi chăm chăm ngắm khuôn mặt như tạc bằng gỗ của chú, tò mò xem chú sắp làm gì. Chú không chào ai, chỉ lẳng lặng đến đứng bên chú Lâu. Khi nhang tàn, Măng quay sang chú Hiển, vẫy tay ra hiệu, “Chú bắt đầu được rồi”.
Chú Hiển gật đầu, rồi sau khi chuyển nến đèn cũng như bát nhang sang bên, chú đưa bàn tay chai sần vuốt dọc theo bàn thờ. Rồi lấy búa, chú bắt đầu nhổ mấy chiếc đinh gắn bàn thờ vào tường.
“Măng ơi, chú ấy làm gì thế?” anh Tuấn đánh bạo hỏi câu hỏi chính tôi cũng muốn hỏi.
“Chú ấy dời bàn thờ đi nơi khác” Măng trả lời gọn lỏn. “Dời về chùa Sư Nữ trên núi.”
“Tại sao vậy Măng?” tôi buột miệng.
“Chúng mình sắp dọn ra Ðà Nẵng. Ba nhận được lệnh từ Tổng tham mưu. Ba sắp làm Tư lệnh Sư Ðoàn Một… Xem ra gần đây lại đánh nhau to. Khổ quá…”. Giọng Măng mệt mỏi khi Măng lấy ra lá thơ của ba tôi. “Và lần này, Măng sẽ không đưa chị Ngà theo. Măng nghĩ thật ra Ba có lý. Chúng mình không nên níu mãi lấy người chết”.
Chú Hiển bắt đầu lấy búa gõ lỏng hai bên bàn thờ. Tiếng búa chát chúa vang lên trong căn phòng, và trong ngôi nhà tí hon chiếc bài vị nhỏ bằng ngà ngã xuống. Chú Lâu sau giây lát ngần ngại, bắt đầu giúp chú Hiển. Chiếc đinh cuối cùng được nhổ ra với tiếng rít nhỏ. Phút chốc hai người lính đã khuân chiếc bàn thờ cồng kềnh xuống nhà dưới. Nơi khoảng tường cũ chỉ còn lại một ô trắng.
Bàn thờ đã dọn đi, tôi bỗng không còn sợ hãi về hồn ma chị Ngà. Và nhìn khoảng màu trắng trên tường, tôi nghĩ đến Ba tôi. Tôi nghĩ tới một vùng sương mù trắng đục nơi ông đang lái chiếc trực thăng của ông. Và dưới vùng sương mù ấy, nơi lúc trước là chiếc lò sưởi, bây giờ là một đô thị đang cháy, tro than hừng hực.
Còn Măng tôi, khi quay gót bước ra khỏi phòng học, bà vo viên lá thơ của Ba tôi và quẳng nó vào cái đô thị đang bị hỏa thiêu. Tôi cúi nhìn mẩu giấy, tim tôi bỗng đổ hồi. Trên tờ thư nhăn nhúm đang vặn mình dưới sức nóng, đôi ba chữ từ thủ bút của Ba tôi hiện ra rành mạch, trở thành đậm hơn đậm hơn nữa trong một luồng khói đen. Dường như có chữ hình bóng… dường như có chữ chiến tranh… Nhưng tôi không kịp vỡ nghĩa những chữ ấy, một ngọn lửa sáng chói hung bạo phật lên thiêu hủy tờ giấy đang quằn quại, biến nó thành một mảng đen mỏng manh sẵn sàng tan vỡ thành tro bụi./.
Adrew Q. Lâm
Mai Kim Ngọc dịch từ bản Anh văn “Dark Wood and Shadows” trong tập Perfume Dreams
Trần Vũ đánh máy lại tháng 5-2022 từ bản in trên tạp chí Văn Học số 117 & 118 Xuân Bính Tý phát hành tháng 1-1996, trang 47-57.
Andrew Lâm Quang Dũng là con trai của Trung tướng Lâm Quang Thi, từng là Tư lệnh binh chủng Pháo binh VNCH rồi Chỉ huy trưởng trường Võ bị Quốc gia trước khi làm Tư lệnh phó Quân đoàn I. Chính trong thời gian này Andrew Lâm theo học trường Yersin tại Đà Lạt và những năm tùng sự trên cao nguyên của phụ thân đã khảm vào ký ức anh nhiều hình ảnh.
Đêm 29 tháng 4-75, tướng Thi đem gia đình xuống khu trục hạm HQ-1 Trần Hưng Đạo để vĩnh viễn rời quê hương. Cậu bé Lâm Quang Dũng lên 11 tuổi lớn lên trên đất Mỹ, lấy thêm tên Andrew và theo học Berkeley. Thời sinh viên Andrew Lâm đã viết báo cho Pacific News và vào năm 1993 nhận giải thưởng phóng viên trẻ xuất sắc nhất (The Outstanding Young Journalist Award của Society of Professional Journalists). Andrew Lâm bỏ học y khoa và quay sang viết văn, cùng lúc làm phóng viên. Hiện anh làm chủ bút New America Media.
Đã xuất bản:
Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora, Heyday Books 2005
East Eats West: Writing in Two Hemispheres, Heyday Books 2010
Birds of Paradise Lost, Red Hen Press 2013
Slingshot in Zyzzyva, Winter 1998
Letter to a young refugee from another, 1999
Andrew Lâm viết nhiều cho các báo nổi tiếng The New York Times, The San Francisco Chronicle, The International Herald Tribune, The Chicago Tribune, Los Angeles Times và đã nhận các giải thưởng Media Alliance Meritorious Award, World Affairs Council Excellence in International Journalism, American Journalist Association National Award.
Gỗ Mun và Hồn Ma Bóng Quế, do Mai Kim Ngọc dịch từ nguyên tác Dark Wood and Shadows trong tập Perfume Dreams, là một tự truyện với khí hậu âm u. Cách cấu tạo nhân vật cho đến đối thoại đều rất tinh tế. Giữa những chuyến phi cơ đi về, xuất hiện một linh hồn bé nhỏ… Đặc điểm khác, là mặt phía bên trong một gia đình cấp tướng VNCH.
Andrew Lâm đoạt giải Pen Open Book Award vào năm 2006 cho tập sách này. Đánh máy lại vì rất ít bạn đọc tiếng Việt biết đến. [Trần Vũ]
Trung Tướng Lâm Quang Thi
Sau chuyến bay giông tố chở chúng tôi từ Sàigòn thăm thân nhân đau nặng trở về, chiếc Cessna nặng nề đáp xuống phi đạo bùn lầy của sân bay Cam Ly. Bên ngoài, màn mưa nhẹ trên nền trời màu xám khói đón chúng tôi trở lại vùng cao nguyên của sương mù vạn niên và rừng thông vi vút. Phi cơ nhẹ nhàng tiến về phía đài kiểm soát, nước bùn tung tóe văng lên đôi cánh sắt trắng. Phi cơ chậm lại, gầm lên dữ dội như con vật bị thương, rồi dừng hẳn trong cơn rung chấn động toàn thân con tàu.
Hạ cánh an toàn, Măng thở phào ngả người ra sau ghế. Bàn tay lẹ làng bật khóa chiếc ví da sấu, Măng lấy ra phong bao đựng tiền trao cho người phi công. Tôi nhìn ra kính trước phi cơ, thấy bóng dáng quen thuộc của chú Lâu và chú Hiển bên chiếc Plymouth của gia đình đỗ gần hai xe tải nhà binh han rỉ. Ô đen cầm tay, hai chú gia nhân vội vã chạy tới trong khi cánh quạt phi cơ quay nốt vòng cuối cùng rồi dừng lại.
Cánh cửa chiếc Cessna mở tung. Gió lạnh ùa vào mang theo mùi đất bùn và mùi nhựa thông. Tôi nghe tiếng thác Cam Ly vọng lại từ sau mấy ngọn đồi xanh. Chú Lâu tới trước. Bàn tay nhợt nhạt xám ngắt vì lạnh, chú giương ô che khung cửa phi cơ đã mở. Rồi đôi môi tái thâm run rẩy, chú ú ớ thưa với Măng những gì không ai hiểu nổi. Măng vừa bước xuống phi cơ vừa hỏi, hoảng sợ vì thái độ của chú:
“Chuyện gì vậy chú? Ở nhà vẫn thường chứ?”
“Bẩm Bà, dạ bẩm Bà…” chú lí nhí, miệng chú phả ra làn hơi thở đã đong thành hơi nước. “Bẩm Bà cô ấy mặc chiếc duýp đỏ. Con thề chính mắt con trông thấy”.
Chú Hiển khẽ lắc đầu khi bước ngang mặt chú Lâu, kịp thời đỡ anh Tuấn tôi từ phía sau Măng đang nhảy đại xuống đất, một chân đã đạp ngay vũng bùn. Bây giờ thì viên phi công đã chất xong đống hành lý của chúng tôi vào thùng xe hơi và đang rảo bước lại phía gian hàng PX. Măng hỏi:
“Ai mặc duýp đỏ?” Giọng Măng bực bội, tựa hồ như sau một chuyến bay nhồi xóc lại phải xử thêm chuyện tầm xàm này. Thật ra chú Lâu vốn hơi man mát, thường khi hay nói lẩn thẩn một mình. Nhưng thái độ chú hôm nay quá bất thường làm mọi người phải thắc mắc.
“Ba tôi vẫn mạnh chứ chú?” chị Ngọc hỏi. Chị ngồi trên khung cửa máy bay, ngần ngại chưa muốn nhảy xuống sợ hỏng chiếc áo dài màu hồng chị rất thích mà Măng đã tự tay may cho chị.
“Suỵt” Măng đặt tay lên chị. Rồi đôi mắt sắc của Măng quay sang chú Lâu:
“Nào chú nói đi. Cô nào mặc duýp đỏ? Lại con bồ mới của Ông nhà chú phải không? Con nào nào?”
Chú Lâu co dúm người dưới cái nhìn của bà chủ. Chiếc ô chú đang cầm lảo đảo trong tay.
“Bẩm bà không, không phải vậy. Không phải cô bồ nào của ông… Cô ấy là…” Chú ngập ngừng, mắt chú lấm lét.
“Con nào, chú phải nói ngay”. Măng ra lệnh. Bây giờ thì Măng đã nổi nóng, giọng Măng cao hẳn lên một bậc. Vuốt mấy sợi tóc trên trán, Măng nhìn thẳng mặt chú, đợi chú trả lời. Vạt áo dài của Măng phần phật trong gió như cánh con bươm bướm trong cơn kinh hoàng…
“Dạ là cô… chính là cô nhà, bẩm Bà” chú nói, mếu máo như muốn khóc. Chị Ngọc và tôi nhìn nhau, không hiểu chú muốn nói gì, ngày nào mà chú chả thấy chị từ khi gia đình tôi dọn lên Ðà Lạt. Hai đứa chúng tôi bắt đầu cười ngặt nghẽo, trong khi anh tôi từ bên trong chiếc Plymouth giục giã mọi người lên xe. Chú Hiển bây giờ đã mang ô quay lại đón chị tôi và tôi. Hai chị em chúng tôi bèn bày trò chơi, giả vờ làm nông dân bị lạc trong cơn lụt sông Cửu Long và đang chờ người đến cứu.
“Bẩm Bà, Bà đừng bận tâm”, chú Hiển nói, chiếc ô đen của chú che mất bầu trời. “Thằng Lâu cứ cái tật nói bóng nói gió, Bà hơi đâu mà nghe…”
Măng như không lưu tâm đến lời chú Hiển, gạn hỏi chú Lâu cho bằng được. “Cô nhà… con gái tôi… chú muốn nói con Ngọc?” Giọng nay bình tĩnh hơn, Măng chỉ tay về phía chị tôi đang ngồi trên thềm cửa máy bay, đôi bàn chân dép đong đưa trên mặt nước bùn.
“Không, bẩm Bà không phải cô Ngọc”, chú Lâu lắc đầu quầy quậy. “Con muốn nói cô kia cơ, cái cô đã mất rồi ấy…”
Ðang đùa nghịch, chị Ngọc và tôi sững lại. Chân chị đang đu đưa ngoài cửa máy bay bỗng co lại trong vòng ôm che chở của đôi cánh tay mặc áo len của chị. Tôi muốn kêu mà không ra tiếng, người tôi ớn lạnh, tôi ngồi sát lại chị. Chú Lâu không còn làm tôi tức cười nữa. Tất cả nhà im lặng, và tôi lại nghe thấy tiếng thác đổ rì rào xa xa nơi mấy xóm nhà tranh và mấy rặng đồi. Măng hơi lảo đảo bước tới một bước nhỏ, mặt bà xám ngắt như bầu trời nặng mây trên đầu.
“Nói láo!” Măng lớn tiếng. “Chú nói láo”. Chú Lâu không cãi nhưng vẫn lắc đầu.
Một giây sau, mắt xa vắng nhìn sườn đồi rậm cây trước mặt. Măng khẽ lẩm nhẩm một mình. “Con gái vắn số của Măng…” Rồi bất thần Măng hốt hoảng. “Chiếc váy đỏ, trời ơi! Tôi đốt mã chiếc váy ấy cho con tôi năm ngoái”.
Măng vụt quay sang chú Hiển, nắm lấy cánh tay chú. “Chú Hiển, hôm nay là mùng mấy?”
“Bẩm Bà, mười tám tháng tám” vừa trả lời Măng chú Hiển bế chúng tôi ra khỏi máy bay.
“Khốn khổ khốn nạn!” Măng khẽ than. Mái tóc đen uốn thành lọn cong của Măng phủ dầy những hạt mưa bụi lấm tấm. “Tôi quên khuấy đi mất ngày giỗ con Ngà. Tôi quá bận săn sóc mấy người em họ đau… Chú Lâu, chú thấy… chú thấy em nó về bao giờ?”
“Bẩm Bà bốn hôm trước”, chú Lâu nói.
“Vị chi là hôm mười bốn, một ngày sau ngày giỗ con bé”. Măng khẽ nói, giọng như không còn ngạc nhiên nữa. Măng lặng lẽ khóc dưới mưa.
Vào trong xe, chúng tôi yên lặng. Chú Lâu thần thái như chưa hoàn hồn, ngồi trước với chú Hiển, giữa hai chú là hai khẩu M-16. Măng ngồi băng sau, anh tôi và tôi bên phải, chị tôi bên trái. Mưa nặng hạt hơn, lộp bộp trên nóc xe. Chiếc Plymouth đổ xuống con dốc thoai thoải, đằng sau chúng tôi phi trường quân sự với những trại lính bằng gỗ chìm dần trong mưa.
“Chú Lâu”, Măng ra lệnh, “chú kể đầu đuôi cho tôi nghe… Mà chú phải kể hết, dù một chi tiết nhỏ cũng không được quên”.
“Bẩm Bà vâng”. Giọng chú lạc đi trong khi chú quay lại băng sau thưa chuyện với Măng. Bán diện xương xẩu của chú với cái cổ dài làm tôi nhớ đến con gà trống ngộ nghĩnh chị Ngọc và tôi có lần nuôi. Một người tài xế của ba tôi đã chận chết nó mùa hè năm trước – Măng cho là anh ta chủ tâm, vì con gà gáy quá to lại gáy quá sớm đã phá giấc ngủ mọi người trong doanh trại, tôi tớ cũng như lính tráng. Chú Lâu hắng giọng, lưỡng quyền chú rung rung. Chú thường làm như vậy. Khi giặt giũ quần áo cho chúng tôi, chú hay hát cải lương, món tiêu khiển chú ham thích nhất. Khi trình diễn môn hát này, chú có thể thao thao bất tuyệt. Bộ điệu chú làm tôi tức cười, nhưng bàn tay Măng đặt lên tay tôi làm tôi tức thì yên lặng.
Giọng trầm xuống, nghiêm túc chú bắt đầu. “Sự việc là như thế này… Bẩm Bà, Bà còn nhớ tuần trước nữa, khi Bà và các cô cậu sửa soạn lên Sàigòn, Bà dặn Hiển và con canh nhà, lo mà bảo vệ ông Tướng cho chu toàn. Bẩm Bà, hai anh em con đã làm y lời Bà dạy. Chúng con thay phiên ngủ trong phòng học cuối hành lang. Chúng con đặt ghế bố ngay dưới bàn thờ cô Ngà, gần bên lò sưởi.
“Các cô các cậu hay dùng phấn viết bảng, nên chi chỗ nào cũng đầy bụi phấn – từ bàn học cho đến sách vở hay tủ sách nền nhà, chỗ nào cũng phấn là phấn. Tất nhiên là ngay hôm đầu vào ngủ trong đó, con đã lau chùi sạch sẽ từng li từng tí. Vậy mà tối hôm sau đến phiên thằng Hiển ngủ, nó lại than là sàn đầy bụi phấn. Ghế bố cũng vậy.
“Thật ra con biết không ai dám vào viết phấn lên bảng, đám con nít nhà con nếu không có phép Bà đâu dám đặt chân lên nhà trên. Vậy thì bụi phấn ở đâu ra?
“Nhưng phấn là phấn, nhiệm vụ là nhiệm vụ, nên ngay sáng hôm sau con vác giẻ lau với chổi lông gà trở lại phòng học lau chùi sạch sẽ. Ðêm hôm đó, chính cái đêm lạnh cắt da cắt thịt đó, chuyện lạ, rất lạ, đã xảy ra. Bẩm Bà, bây giờ nghĩ lại con còn chết khiếp… Bẩm Bà, sự việc nó là nó như thế này…” Kể tới đây chú tặc lưỡi. Tiếng mưa trên nóc xe như bắt nhịp theo, chú kể:
“Tối hôm ấy sương mù dày như cháo đặc. Còn gió thì ở đâu mà nhiều thế, rít miết trên ngọn thông. Bỏ mẹ con sắp nhỏ ở lại nhà dưới, con xách khẩu M-16 lên phòng học ngủ. Khi con ra khỏi cửa, mẹ sắp nhỏ như có linh tính, can con. “Anh ơi, anh đừng có đi, anh đừng có đi”.
Chú bắt chước cái giọng vừa chua vừa xẵng của thím Lâu. Chú bắt chước thật giống làm mọi người, kể cả Măng, đều phải tức cười. Chú nói tiếp “Con vợ con nó bảo ‘ông Tướng đâu có ở nhà cho anh bảo vệ, anh hãy bảo vệ lấy thân anh, ở nhà với vợ, đi làm gì anh ơi. Nhà trên có ma nào mà lên. Ở đây với em đi’
“Bẩm Bà, ai mà thèm nghe con đàn bà nôm na mách qué. Phiên con gác là con đi gác. Con băng qua sương mù, mặc gió buốt, lên tam cấp, qua nhà bếp, qua phòng khách vắng, leo lên cái cầu thang gác cót két, đẩy cái cánh cửa rít bản lề, vào thẳng phòng học. Quả như rằng, ghế bố lại đầy bụi phấn nhưng con chỉ lấy tay phủi sạch, tắt đèn rồi ôm súng ngả lưng xuống trùm mền ngủ. Bên ngoài gió vẫn hú nhưng chẳng sao, lính mà, bẩm Bà.
“Thế là xong, mọi chuyện xem ra bình thường và con ngủ thiếp đi ngon lành. Rồi bất thần, có cái gì – không biết là cái gì – đánh thức con dậy. Tựa hồ như ai đó nói thầm vào tai con, và con khấn Trời khấn Phật là tai con lầm, chẳng qua chỉ là tiếng gió. Con không rõ lúc ấy là mấy giờ, chỉ biết trời còn khuya lắm và bên ngoài cửa sổ tối thui, ngoại trừ ngọn đèn vàng sau lùm cây bên khu trại lính. Ðợi lát lâu không thấy gì khác, con toan ngủ lại thì… có cái gì lạnh ghê gớm kéo cổ chân con. Tựa hồ như một bàn tay con nít, nhưng lạnh buốt như nước đá. Con như tê dại. Con chỉ còn biết nghểnh đầu ra khỏi chăn, ráng mắt ra nhìn.
“Trời Phật ơi, chính lúc ấy con thấy cô nhà, bẩm Bà. Cô bé hiện ra trong một vùng ánh sáng lờ mờ, kỳ dị. Cô khoảng sáu bảy tuổi, nhìn kỹ mới nhận ra chiếc duýp đỏ cô mặc. Con sợ mất hồn mất vía, bẩm Bà tha lỗi cho con, miệng con há hốc, nước dãi chảy ròng hai bên mép. Cô bé cứ đứng như vậy ở cuối ghế bố mà khóc, tay cổ nắm chân con… Tóc cổ dài mềm mại như tơ, da cổ trắng như ngà.
Con biết ngay là cô nhà, là cô con gái bà đã mất. Cô hiện ra mảnh dẻ xinh đẹp như con búp bê. Nhưng con sợ đến nỗi không nhúc nhích nổi. Miệng con há hốc, máu con đông lại, và con nghĩ chắc lúc ấy tóc con dựng đứng trên đầu. Con nằm bất động như một khúc gỗ, trân trân nhìn cô khóc. Cô khóc mải miết, không biết bao lâu, sau cùng cô nín và ngẩng lên nhìn con”. Kể đến đây, giọng chú Lâu như trầm xuống, như thì thầm. Tôi nghe bàn tay Măng bóp chặt lấy tay tôi.
“Cô nói, ‘Chú Lâu ơi, em lạnh quááá… Mọi người quên em rồi… Chú Lâu ơi, Măng quên em rồi. Chú làm ơn thắp cho em cây nhang, cho nhà em ấm một chút. Chú nhớ nghe chú, em lạnh quááá…’
“Bẩm Bà, nói xong cô buông chân con ra. Rồi quay mình, cô chập chờn bay về phía lò sưởi nơi bàn thờ gỗ mun của cô. Như một đám mây lạnh mùa đông, cô biến đi mất. Bẩm Bà, con ráng thu hồn thu vía, bình tĩnh, hy vọng cô không trở lại nhát con đến chết. Sau cùng cục cựa được, con đứng dậy bật nút đèn. Thu hết can đảm, con bước lại bàn thờ rút ba cây nhang ra thắp. Con khấn cô. ‘Cô Ngà ơi, tôi thắp nhang cho cô rồi. Tôi van cô đừng nhát tôi nữa, tôi yếu bóng vía không kham nổi đâu. Tôi thờ Phật, còn vợ và ba con nhỏ phải nuôi. Van cô đừng cướp hồn tôi. Sáng ra tôi xin đem đồ cúng cô. Cô Ngà ơi, tôi van cô’. Khấn xong, con vái cô ba vái, và cắm nhang vào bát nhang nhỏ trước bàn thờ. Bẩm Bà, thật ra thì vợ con cũng có lý, mà ông Tướng cũng không có nhà… Dông dài, con muốn thưa là không có ai ở nhà nên con cũng tự tiện xuống lại nhà dưới với má con bầy trẻ…”
Mai Kim Ngọc dịch từ bản Anh văn “Dark Wood and Shadows” trong tập Perfume Dreams
Trần Vũ đánh máy lại tháng 5-2022 từ bản in trên tạp chí Văn Học số 117 & 118 Xuân Bính Tý phát hành tháng 1-1996, trang 47-57.
Cuộc mở mang bờ cõi giải quyết xong, nay bắt qua tìm hiểu về lai lịch đất Sài Gòn.
Về danh từ “SÀI GÒN”
Đại Nam Quốc Âm Tự vịcủa Huỳnh Tịnh Của viết:
:Sài tức là củi thổi.
:Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi làcây bông gạo (kapok, kapokier).
Điều nên nhớ là thuở cựu trào, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy Hán tự làm gốc. Các quan trong Nam thuở ấy, để gọi thành”Sài Gòn” đều viết hai chữ nôm như vầy. Viết làm vậy, nhưng đến khi đọc thì luôn luôn đọc là “Sài Gòn”. Về sau, có nhiều người, đọc “Sài Côn”, tưởng rằng đúng. Ngờ đâu, đọc như thế là phản ý người xưa, tôi muốn nói những người cố cựu miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như có một ông tướng tên làVõ Tánh, vốn người Gò Công, nay rất nhiều người đọc tên ông làVũ Tính. Lại như tên một trái núi trên Biên Hoà, thuở nào đến nay, quen gọi là”núi Châu Thới”. Nay thường nghe nhiều học giả đọc và viết “núi Chu Thái”, chúng tôi không dám nói gì, nhưng thiết tưởng đến ông Trời cũng phải chịu! Còn đến như nguyên do làm sao cổ nhân khi trước ghép chữ Hán “Sài” với một chữ Nôm “Gòn” làm vậy thì thú thật tôi xin chịu bí! Nói nhỏ mà nghe, dốt nát như tôi, tôi hiểu rằng khi ông bà ta thiếu chữ”gòn” không biết phải viết làm sao, thì ông bà cứ mượn chữ”côn” thế tạm, có hại gì đâu, hại chăng là ngày nay con cháu không muốn đọc y như ông bà lại dám chê xưa kia ông bà ta quá dốt!
Cũng trong Tự Vị ông Huỳnh Tịnh Của, còn thấy ghi hai chỗ khác nhau về danh từ Sài Gòn:
Sài Gòn:tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé (trang 280 quyển II).
Sài Gòn:tên xứ ở về tỉnh Gia Định (trang 390 quyển I).
Tôi xin hẹn sau sẽ giải nghĩa việc này. Điều nên chú ý liền đây là bộ Tự vị Huỳnh Tịnh Của in vào năm 1895-1896 cho ta thấy rõ đời ấy đã có sự lẫn lộn về danh từ “Sài Gòn” rồi.
Để tìm hiểu sâu rộng và muốn biết rành rẽ về nguồn gốc tích “SÀI GÒN”, phải dày công phăng từ ngọn ngành, căn cội và chịu khó tra cứu từng các dân tộc một, đã sống qua các thời đại trải không biết mấy ngàn năm và thay nhau khai thác cõi Nam này:
1) người Phù Nam,
2) người Cam Bốt,
3) người Tàu,
4) người Việt.
1. Trước hết, từ giống người Phù Nam
Thời cổ đại, theo sử Trung Quốc ghi lại, thì có giống người Phù Nam chiếm cứ sơ khởi vùng gọi Phù Nam. Đất Phù Nam sau đổi lại là “Thuỷ Chân Lạp” (le Chan-la des eaux ou Basse Cochinchine) để phân biệt với đất Lục Chân Lạp (le Chan-la des montagnes ou Cambodge).
THỜI ĐẠI NÀY, ĐẤT THỦY CHÂN LẠP CÒN LÀ RỪNG RẬM SÌNH LẦY, THÀNH SÀI GÒN CHƯA CÓ.
Khoảng năm 1943 – 1944, nhà học giả Pháp, ông Louis Malleret nhân danh là hội viên trường Viễn Đông Bác cổ và Giám đốc viện Bảo tàng Sài Gòn có thân hành đến chặng giữa đường Long Xuyên đi Rạch Giá, noi dấu bọn thổ dân đã đến chỗ này nhiều tháng trước để bòn vàng… Nơi đây, ông tìm ra di tích một nền cổ Phù Nam bị chôn vùi dưới đất từ ngàn xưa. Ông có đem về Viện Bảo tàng rất nhiều món đồ nữ trang, cổ vật, trang sức phẩm và rất nhiều tài liệu cổ có chơn giá trị về lịch sử (đồ đất nung, dót nấu kim khí, miểng bát chén, phao lưới, trái trì lưới (poids de filet), cục đá căng nặng xe chỉ sợi (fusaiolus), v.v…), hiện các vật này trưng bày làm một gian phòng riêng biệt trong Viện Bảo tàng Sài Gòn. Nhờ đó, ta biết được cội đất nước ta và biết tại đây xưa kia vào thế kỷ thứ hai, người dân La Mã đã tìm theo con đường biển thả tàu buồm đến đây và đã từng đặt chân trên đát này cũng như họ đã từng giao thiệp chặt chẽ cùng thổ dân bản xứ. Họ (người La Mã, Ấn Độ di cư, Mã Lai, Phù Nam, v.v…) qua lại đổi chác với nhau, tỷ như vàng khối xứ Chiêm Thành (l’or du Cathay), lụa Trung Quốc (soie de Chine), hoặc hương liệu (épices): sa nhân, đậu khấu vùng Khmer (núi Cardamomes rất gần). Đặc biệt nhất là có một đồng vàng tìm được tại chỗ và đó là một tài liệu quý hoá nhất chứng minh cho thuyết nói trên. Đồng vàng ấy mang dấu hiệu của vua Antonin le Pieux, sinh năm 86 và trị vì tại La Mã từ năm 138 đến năm 161 Tây lịch kỷ nguyên. Hiện thời, các nhà thông thái tạm lấy chỗ tìm được cổ vật mà đặt tên cho các vật tìm thấy, gọi đồ thuộcvăn minh Óc-Eo. (theo chính tả Việt Ngữ. Nếu viết theo Phạn tự và theo giọng Khmer thì là ÂK EV). Nay Óc-Eo thuộc về làng Mỹ Lâm, tổng Kiên Hảo, giáp ranh hai tỉnh Long xuyên và Rạch Giá. Từ năm 1945 có chiến tranh, sự giao thông bất tiện, thêm thiếu điều kiện bảo thủ canh gác nên người tại chỗ đã đào đã hôi rất nhiều… Khó mà tiếp tục sưu tầm, tiếc thay!
2. Nối chân Phù Nam trên vùng Thuỷ Chân Lạp là người Cam Bốt
Không nói đâu xa, từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Cam Bốt đã có mặt tại vùng Sài Gòn lâu rồị Nhưng họ không khai thác chi cả. Họ chỉ ăn hoa lợi tự nhiên: thú rừng, lâm sản; lá lợp nhà, cây làm củi, v.v… Bằng cớ hiển hiện là khi lọt về tay người Việt, Sài Gòn vẫn là một thôn quê rừng, ruộng, vô danh.
Nghiệm ra rằng người Khmer sanh đẻ tại Nam Việt, phát âm không giống y giọng Khmer trên Nam Vang. Tình trạng này có thể so sánh lại với tình trạng người Việt vùng Cà Mau Bạc Liêu giọng nói vẫn khác giọng Sài Gòn hoặc giọng Hà Nộị Đối với tiếng Khmer, trên Nam Vang, dùng nhiều chữ “r” có thể nói mỗi tiếng nói, gần như mỗi có đánh lưỡị Trái lại miền Nam Lục Tỉnh, dân Khmer nuốt gần mất chữ “r”. Tỷ dụ trên kia nói “Préam riet” (là 5 đồng bạc) thì dưới này họ nói “Péam yiel”, v.v… chưa quen tai, không hiểu họ muốn nói gì.
Bởi rứa, về danh từ “Sài Gòn” đối với người Cam Bốt, khi họ gọi:
a) Prei Kor
(nếu họ là người Nam Vang)
b)Prei Nokor
hoặc
c) Pẹi – ừ – Ko
(nếu họ là người Khmer Lục Tỉnh)
d) Pẹi – ằng – ko
Khiến người Việt ta điếc con ráy và… khó phân biệt được.
Vả trong bốn cách phát âm trên, tưởng cần ghi lại hai cách Nam Vang, có phần khoa học, đáng tin cậy hơn, nhưng trong hai cách ấy cũng chưa phân biệt cách nào đúng nghĩa của người xưa.
Prei, prey: rừng, không còn ai chối cãi.
Kor: Kô, Ku: có hai nghĩa khác hẳn nhau:
Khi “kor” làgòn, Prei-kor là “Rừng gòn”.
Khi khác thì”Kor”:”Kũ”: boeuf, Prei-Kor tức là “Rừng bò”?
Có một tỷ dụ: Bockor: bâuk kũ: boeuf à bosse: bò u. Cố Tandart, sành về Miên ngữ, lại cắt nghĩa: Nokor do “Nagaram” tiếng Nam Phạn (Pâli), đồng nghĩa với chữ “thành” Việt Hán tự trong các danh từ: thành thị, đô thị (cité); thành phố (ville).
Một tự vị Miên Pháp nữa dịch: Nokor: royaume: quốc. Vậy thì: Prei-Nokor là lâm quốc.
Google photos
Các thuyết trên cho phép ta định chừng”Nokor” là giọng kinh chợ, giọng các nhà hay chữ thông thái trên Nam Vang, chớ người Khmer… miền lục tỉnh, nước phèn cứng lưỡi, quen nói trại bẹ, thuở nay, để ám chỉ Sài Gòn, họ dùng một danh từ lơ lớ nghe tương tự “Pei-ừ-ko” hay “Pẹằng-ko” không rõ chắc được.
Bằng như có ai hỏi họ sát đề quá, để tránh cái khó, họ dùng một danh từ khác, rõ rệt không còn chối cãi và lầm lộn nữa, ấy là danh từ “srock yuong” ta âm ra “Sốc Duồng” để chỉ xứ Sài Gòn. Lấy theo điểm này và căn cứ hai chữ nên thơ “Srock yuong”, thì người Cam Bốt tự ngàn xưa đã ngấm ngầm nhìn nhận đất Sài Gòn là lãnh thổ Việt Nam không chối được. Dân Khmer Lục Tỉnh là người trí óc mộc mạc chất phác, người củi lục làm ăn, không biết nói láo và không biết nguỵ biện!
Do các thuyết Lang sa kể trên, ta có thể kết luận:
Dưới thời đại cam-bốt-diên, Sài Gòn là nước, xứ ở giữa rừng (Prei Mokor). Vịn theo thuyết này danh từ “Sài Gòn”, trước định do “Prei Nokor” là “rừng gòn” không vững. Nay nên dịch “lâm quốc” đúng hơn. Tóm lại. danh từ “Sài Gòn” không ắt do điển “Prei Nokor” mà có.
3. Theo dấu người Tàu, năm 1680 đến miền Nam, năm 1778 lập Đề Ngạn
Từ 1680, đã có dấu chân Hán tử trên dãy đất miền Nam nhưng họ lui tới đông đảo trên vùng Sài Gòn nhất là từ năm 1778.
Tài liệu này thấy rõ ràng trong bộ sách “Annuaire de la Cochinchine Francaise pour l’année 1866“. Nơi trang 83 và 84 của quyển sách hiếm có này, mục nói về thành phố “CHỢ LỚN”, tác giả là hải quân Trung uý Francis GARNIER, thanh tra chính trị bản xứ, viết nguyên văn bằng tiếng Pháp, tôi xin sao lục ra đầy đủ sau:
“CHOLEN. Vers la fin du XVIIe siècle, plusuieurs milliers dr Chinois préférant l’exil à la domination tartare, partirent de Canton, pour demander des terres à l’empereur d’Annam. Celui-ci leur désigna la Basse Cochinchine: il se débarassait de la sorte d’une multitude trop hardie pour ne pas devenir bientôt dangereuse, et en faisait, en même temps, l’avantcoureur de ses projets de conquête sur le Cambodge. Les émegrés se dirigèrent donc vers le pays de Gia Dinh, et s’établirent à Mitho et à Bien Hoa. Ce dernier point se développa rapidement sous leur influence, et l’ile Cou-lao-pho devint le pôint fréquenté où chaque année de nombreuses jonques vỉnent entreposer leurs marchandises.
“A partir de ce moment, on voit les Chinois jouer un grand rôle dans toutes les guerres qui eurent une partie de l’Indochine pur théâtre, et, aussi redoutés comme adversaires, imposer parfois des conditions aux diverses parties belligérantes. Ce fut ainsi que, à peu près à la même époque, le Chinois MAC CUU s’empara de Hatien, sur le Cambodge, pour le compte de la cour de Húe, et recut de celle-ci, pour lui et ses descendants, l’investiture de la province dont cette ville est la capitale. Hatien devint bientôt peuplée et florissante et garde encore, aux yeux des Annamites, cette réputation d’élégance et de civilisation dont la colonisation chinoise a toujours eu le prestige pour eux.
“Un siècle plus tard (1773), la révolte des TÁYON qui’ectala tout, d’abord dans les montagnes de la province de Qui-Nhon, et s’étendit repidement dans le sud, chassa de Bien-Hoa le mouvement commercial qu’y avaient attiré les Chinois. Ceux-ci abandonnèrent Cou-lao-pho, remontèrent de fleuve de Tan-Binh, et vinrent choisir la position actuele de CHOLEN. Cette création date d’envinron 1778. Ils appelèrent leur nouvelle résidence TAI-NGON ou TIN-GAN. Le nom transformé par les Annamites en celui de SAIGON fut depuis appliqué à tort, par l’expédition francaise, au SAIGON actuel dont la dénomination locale est BEN-NGHE ou BEN-THANH.
“Mais la rébellion ne s’arrêta pas à la conquête de la province de Bien-Hoa: le chef des TAY-SON Nguyen Van Nhac pénétra peu après dans la province de PHAN-YEN (Gia-Dinh), battit les troupes impériales, et passa au fil de l’épée tous les Chinois établis à Saigon (1782).
“Il en périt plus de dix mille, dit l’auteur du “Gia Dinh Thanh thung chi”, à qui nous empruntons tous ces détails; la terre fut couverte de cadavres depuis Ben-Nghe jusqu’à Saigon, et comme on les jetait dans la rivière, elle en fut réellement arrêtée dans son cours; personne ne voulut manger du poisson pendant un escape de temps qui ne dura pas moins de trois mois. Les marchandises de toutes sortes appartenant aux Chinois telles que thé, étoffes de soie, remèdes, parfums, parpiers, joinchèrent la route pendant longtemps, sans que personne osât y toucher. L’année d’après (année Qui-Meo – 1873), le prix du thé s’élevait jusqu’à 8 ligatures la livre, une aiguille coutait jusqu’à 1 tayen; toutes les marchandises augmentèrent de prix à proportion (Traduction AUBARET).
“On peut juger par ces lignes de l”historien officiel de Gia-Dinh, de l’importance qu’avait déjà à cette époque a colonie chinoise de CHOLEN, et dans quelle dépendance du commerce chinois était tombée la contrée entirère.
“Quand GIA-LONG, maitre enfin de ces états, eut rétabli la paix dans les provinces de la Basse Cochinchine, Cholen recouvra bientôt toute son activité et toute sa richesse, et la persévérance chinoise, triomphant des restrictions commerciales et des vexations de tout genre, en fit bientôt la marché le plus important des six provinces. La défense d’exportation étendue à presque toutes les denrées autres que le riz, l’édit qui limitait le nombre des Chinois, les lois somptuaires qui leur étaient appliquées, ne lassèrent ni leur habileté, ni leur génie commercial. Toutes mesures qui n’etaient, d’ailleur, pour les mandarins que des occasions de corruption de plus, n’empêchèrent pas les Chinois de construire à leurs frais à Cholen des quais en pierre sur une étendue de plusieurs kilomètres, et de contribuer pour une part considérable au creusement de canal destiné à relier le Binh-Duong ou Vam-Ben-Nghe (arroyo Chinois) au Ruot-Ngua qui aboutit au Rach-Cat (1819). Le-Ruot-Ngua avait été lui même canalisé en 1772. En même temps, on acheva les travaux de l’arroyo de la Poste, dont le creusement avait été ébauché des 1755. En 1820, la route commerciale du Cambogde à Saigon par Mitho se trouva complètement terminée, et à partir de ce moment, Cholen redevint l’entrepôt nécessaire de toutes les denrées de cette riche zone” (Annuaire de la cochinchine Francaise pour l’année 1886, pages 83-84).
Cứ theo thuyết này, người Tàu dùng thuyền buồm chuyên chở hàng hoá, tơ lụa, trái cây khô và tươi v.v… của xứ họ qua dự trữ tại Cù lao Phố (Biên Hoà). Vào thời ấy, người Tàu vẫn là những tay lợi hại và đắc lực ám trợ mọi cách và cả hai bên vào các cuộc nội loạn miền Nam. Có thể nói hễ họ dựa vào bên nào là bên ấy có phần chắc thắng địch thủ dễ dàng. Dân chúng nể uy danh họ và kiêng sợ võ lực bạo tàn của họ, thậm chí các tay lãnh tụ đương thời: Nhạc, Huệ, Nguyễn Ánh cũng lợi dụng họ để mượn thế “lấy giáo Tàu đâm Chệc” cho họ sát hại lẫn nhau bớt. Xét ra đời nào cũng có họ ám trợ ta chống lại Trung Quốc với danh nghĩa “di thần Minh Mạt”, họ là người gốc Hán tộc lại “tả” rất sướng tay lính để đuôi sam Mãn Thanh và biết đâu chừng, trong trận Đống Đa, há chẳng có quân sĩ Tàu hươi mã tấu ám trợ vua Quang Trung đánh giặc Chệc!
Google photos
Cũng như dưới danh từ hội kín, như gần đây có “Thiên Địa Hội”, nào “Nghĩa Hoà Đoàn”, nào “Nghĩa Hưng Đoàn”, từ ngàn xưa họ đã từng làm mưa làm gió một thời và đánh giặc mướn cho cả hai phe, khi theo chúa Nguyễn Ánh, khi theo Tây Sơn Nhạc Huệ và về sau cùng, thì có họ núp dưới bóng cờ Đen, trợ giúp triều đình Huế chống quân đội Pháp thời Tự Đức, và núp dưới hiệu lịnh “Tư Mắt, Phan Xích Long” phá khám cũ Sài Gòn và làm phản chống chánh phủ Đô hộ Pháp lối 1914-1915. Anh hùng bất đắc chí, sẵn tánh phiêu lưu, họ cư xử không khác các nhân vật, các “đại ca” trong truyện Tàu bất hủ, khi làm tướng cướp khi lại tế khổn phò nguy! Nhưng cũng bởi tánh ăn ở không minh bạch, nên khi Tây Sơn nổi dậy (1773), kéo cờ bách thắng vào Nam, thuận tay, họ bèn quét đuổi quân Tàu ra khỏi Cù lao Phố (Biên Hoà) là nơi tàn quân Minh đến lập cơ sở từ năm 1680. Khi ấy, những khách thương Tàu mất chỗ bèn rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), họ nhắm xem địa thế, cân nhắc kỹ càng thiên thời địa lợi và sau rốt họ lựa vùng đất ở giữa chẹn đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, tân sở này sau trở nên thành phố Chợ Lớn ngày nay vậy. Tác giả Grancis Garnier, quả quyết: thị trấn Chợ Lớn do người Tàu tạo lập vào năm 1778 đây thôi. Thị trấn này vừa phát đạt chưa được bốn năm năm đến 1782, thì ngộ nạn lớn: năm ấy, chúa Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc đánh lấy được thành Phan Yên (Gia Định), thừa cơ làm cỏ sạch người Tàu một phen nữa (Sở dĩ Tây Sơn giận dai như thế, theo một giả thuyết tôi được nghe gia nghiêm kể lại, có lẽ một phần do hậu quả những cờ gian bạc lận giữa các tay tổ Tàu và Biện Nhạc năm xưa, một phần khác quan trọng hơn, là lại đã không tiếp tay chống Nguyễn Ánh mà còn tiếp tế lương phạn, v.v…). Sau trận giặc 1782, theo Trịnh Hoài Đức thuật lại, thì hàng hoá các tiệm buôn Tàu như trà, vải lụa, thuốc men, hương liệu, giấy má đủ loại bị tuôn ra bỏ bừa bãi lềnh khên ngập đường sá, hèn lâu như vậy mà không ai dám rớ dám mót lượm về xài. Qua năm 1783, giá hàng hoá vụt lên mà ngợp: kim may mỗi cây một lượng bạc, trà Tàu tám quan tiền một cân,… Còn nói chi số binh sĩ và thường dân Tàu bị chết đâm chết lụi kể trên số muôn, thậm chí thây ma lớp nằm chật đất, ngổn ngang từ vàm Bến Nghé đến tận kinh Chợ Lớn, lớp khác bị chuồi xuống nước, xác ma da, thằng chỗng kẹo lềnh một khúc sông, làm cho ngót ba bốn tháng trường, dân nghe nhắc mà ớn xương sống không dám rớ đến miếng thịt xương thịt cá! Nhưng người Tàu quả là giống dân giàu tính nhẫn nại nhất thế giới: tính coi họ thất bại to tát làm vậy mà họ không bỏ cơ sở làm ăn. Ít lâu sau họ gầy dựng lại cơ sở Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn trước bá bội. Họ lấy đất đắp thêm bờ kinh chỗ mới tạo lập, cẩn đá thêm cao ráo và kiên cố. Và có lẽ để ghi nhớ công trạng này họ đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồnn” hay “Thì Ngòn”. Xét theo mặt chữ, thì “Tai-Ngon”, “Tin-Gan”, “Thầy Ngồnn”, “Thì Ngòn” đọc theo giọng Việt là “Đề Ngạn”:
Đề, Đê: là cái bờ, cái đê ngăn nước.
Đề:cũng có nghĩa là nắm lấy (Đề cương khiết lãnhlà nắm lấy cái dây lớn của cái lưới, tức nhiên cả cái lưới sẽ trương ra; kéo cái cổ áo thì cả chiếc áo nhấc lên. Nghĩa bóng:nắm lấy chỗ chủ yếu. Kể ra khi đi lựa địa thế, đã là đặt cả một hy vọng lớn rồi).
Ngạn:bờ sông cao dốc.
Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn cũ ngày nay vậy (truy ra là xóm Quảng Đông Nhai chỗ miếu Quan Đế, miếu Tam Hội).
Còn khi khác nữa, họ dùng danh từ “Tây Cống” mà họ phát âm nghe “Xi-cóon” hoặc “Xây-cóon” (theo giọng Quảng). Theo ý tôi đây là cách phát âm giữa người Tàu với nhau để ám chỉ vùng đất mà người Pháp hiểu là “Sài Gòn” ngày nay, vùng ghi theo tiếng “Sài Gòn” do giọng Tàu, vùng của người Việt ăn và ở, vùng ấy tức là vùng chợ cũ Sài Gòn, ngót trăm năm về trước, xưa kia thuở Nam Triều gọi là “Chợ Vải”, thuộc khu phố lầu chung quanh Tổng Ngân khố ngày nay: đường Nguyễn Huệ, Ngô Đức Kế, Võ Di Nguy, Phủ Kiệt, ăn lan ra phố Kinh lấp (Hàm Nghi), v.v… và đây là cách nhái giọng nói, nhại tiếng “Sài Gòn” của ta, chớ không đúng theo chữ viết sẵn _________. “Xi-cóon” giọng Quảng viết ra Hán tự thành “Tây Cống” như vậy là chắc chắn rồi! Xin đừng hiểu theo một văn sĩ trẻ, giàu óc tưởng tượng nhưng túng đề, ghi trên tạp chí “Phổ thông” độ nọ cắt nghĩa “Tây Cống” là thành trì của vua Tự Đức ngày xưa cống hiến cho Tây!Tôi không theo phái bảo hoàng nhưng tưởng viết làm vậy, nhơ ngòi bút, nhục quốc thể, người nước ngoài cười; thêm đắc tội với tiền nhân.
Tóm lại: Tây Cống, Xi-cóon, là xóm Việt, Sài Gòn của người Nam, không phải xóm Tàu trong Chợ Lớn, tức Thầy-Ngồnn, chữ viết đọc là Đề Ngạn.
Có ý nghe người Tàu khi nói chuyện với nhau, khi rủ đi chơi vùng “Sài Gòn”; họ nói gọn lỏn “hui Cái Xị”, mà “Cái Xị” ở dây là “nhai thị” tức “chợ”, hoặc giả họ nói “xánh cái xị” là “tân nhai thị”, tức là “chợ mới”(chợ Việt mới). Khi nào muốn ám chỉ Chợ Lớn Tàu, họ lại dùng danh từ “Thầy Ngồnn”, là Đề Ngạn vậy.
Việt – ta nói: SÀI GÒN.
Tàu – họ nói: THẦY NGỒỒN, XÌ CỤN.
Ai muốn hiểu thế nào thì hiểu!
Gần đây hơn hết, khi hai đô thị sát nhập làm một “Tây Cống dồn với Đề Ngạn làm một khối duy nhất”, Tàu họ dùng một danh từ hết sức gọn và sáng, ấy là Tây Đề.
Trở lại dấu vết tổ tiên Việt
Cái lộn xộn rắc rối làm cho ngày nay chúng ta điên đầu khó biết địa điểm đâu là Sài Gòn chính thức, truy ra, cũng tại Lang sa mà có!
1. Thành Sài Gòn do Minh Mạng dạy xây năm 1836, vị trí ở gần Ba Son.
2. Chợ Bến Thành (ở gần bến và thành) phân ra hai chợ:
a. Chợ Cũ ở chỗ Tổng Ngân Khố ngày nay, do Chợ Vải ngày xưa Tây cất lại bằng gạch và sườn kèo sắt, phá bỏ năm 1913.
b. Chợ Mới là chợ ngày nay quen gọi Chợ Mới Bến Thành, Tàu gọi “Tân Nhai thị” hay vỏn vẹn “Cái Xị”, khởi công năm 1912, đến tháng 3 năm 1941, chợ cất rồi, ăn lễ lạc thành, tiếng đồn rùm beng có cộ đèn, chưng cộ bảy bang, xe bông, hát ngoài trời v.v…; các bài báo viết mừng bài “mừng lễ khai tân thị” xướng hoạ không dứt.
3. Hai vùng này gộp lại có tên là Bến Nghé.
Trong lúc ấy thì người Tàu dùng danh từ “Thầy Ngồnn” (Đề Ngạn) để gọi vùng buôn bán “Chợ Lớn” và danh từ “Xi-Cóon” (Tây Cống) để ám chỉ xóm Việt tức chợ Bến Thành (từ xưa đến 1919 sự buôn bán vẫn nằm trong tay Hoa kiều, người Việt bắt đầu qua nghề thương mãi chỉ từ 1920 về sau).
Kịp đến buổi Tây qua, đứng trước danh từ “Bến Nghé” và “Sài Gòn” thì hai chữ “Bến Nghé” đối với Tây líu lưỡi khó nói quá, nên chỉ sẵn uy lực kẻ chiến thắng trong tay, Tây bèn ép các sắc dân Nam, Chà, Chệc đều phải bỏ danh từ “Bến Nghé”, và để thay vào đó, Tây ép dùng hai tiếng “Sài Gòn”, vừa kêu giòn, vừa dễ đọc (cũng như họ đã đọc và nói “Cholen” thay vì “Chợ Lớn”, rồi đọc và nói “Da Kao” thay vì “Đất Hộ”. Dân ta bắt chứơc theo mà còn ăn nói mạnh dạn hơn nữa, cho đến ngày nay họ đi rồi mà các danh từ ngoại lai này chưa hết hẳn). Một lúc, để chọn tên dặt cho kinh đô Nam Việt, Tây đã nghĩ đến danh từ “Gia Định” nhưng họ lại chê là di tích cựu trào, khêu gợi chuyện xưa nên họ không dùng. Kế đó, họ muốn chọn danh từ “Bà Chiểu”, nhưng họ cũng không thâu nhận vì “Bà Chiểu” như “Gia Định” là tên cũ của trào xưa, họ cố tránh, lại nữa “khi viết lại viết tháu, hoặc dùng gởi điện tín, sợ e có khi đọc hiểu lầm là “Bạc Liêu”thì khốn”.
Tóm lại, danh từ “Sài Gòn” trở nên bất tử vì người Việt, người Tàu trong lúc đàm thoại với Lang sa hoặc viết thơ hay ký giao kèo với họ; một nửa chiều ý người mới, một nửa “nịnh Tây”, bèn dùng luôn danh từ “Sài Gòn” thay thế danh từ “Bến Nghé”, lâu ngày quen tai quen mắt và càng phổ biến rộng thêm mãi, khiến nên “Sài Gòn” đã soán ngôi “Bến Nghé” và “Bến Nghé” thỉnh thoảng chỉ còn nghe nói trong giới người cố cựu đất Gia Định chính cống mà thôi.
Xin kể lại những năm oanh liệt nhất để đánh dấu những kỳ công của tổ tiên ta:
Năm 1753, vua Chân Lạp Nặc Ông Nguyên lấn hiếp người Côn Man ở trong Nam, triều đình Huế bèn cử ông Nguyễn Cư Trinh làm quan tham mưu lo việc đánh dẹp. Ba phen thắng giặc, Cư Trinh bèn hiến kế “tàm thực” làm cho mười năm sau hoàn thành cuộc mở mang: Thuỷ Chân Lạp hoàn toàn về tay chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Bấy giờ miền rừng sác hoang vu, cực nam là vùng Lòi Lạp (Gò Công), Tầm Bôn (Tân An) và vùng các cửa sông Cửu Long (Ba Thắc tức vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu) và Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre), còn thuộc Chân Lạp.
Đồng thời với việc thôn tính nước Chiêm (1611-1692), chúa Nguyễn đã tiến lần xuống miền Đồng Nai phì nhiêu. Hơn một thế kỷ (1623-1739), do việc giành ngôi lẫn nhau của các vua Miên mà chúa Nguyễn lần hồi thâu phục dân Việt dần dần mở mang các đất đai: Mô Xoài (Bà Rịa, Biên Hoà) (1658), Sài Gòn (Gia Định) (1698), Định Tường (Mỹ Tho) và Long Hồ (Vĩnh Long) (1731). Phía vịnh Xiêm La, MẠC CỬU dâng đất Hà Tiên và hòn Phú Quốc cho chúa Nguyễn từ năm 1741, sau đó con là MẠC THIÊN TỨ mở thêm bốn huyện (1739): Long Xuyên (miền Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc Bạc Liêu).
Đến triều Võ Vương, vua Chân Lạp Nặc Ông Thu (Sthea) nhờ chúa Nguyễn mà giữ ngôi báu ở La Bích (Lovek) (1736 – 1748). Sau Nặc Ông Thâm (Thomae), chú của Tha, thua chạy trốn bên Xiêm từ năm 1715, lại trở về đánh đuổi Nặc Ông Tha và cướp ngôi (1748) song chẳng bao lâu thì mất.
Mấy người con của Thâm tranh ngôi. Võ Vương sai Nguyễn Hữu Doãn làm thống suất đánh dẹp và lập Nặc Ông Tha làm vua trở lại. Được vài tháng, Tha bị con của Thâm là Nặc Nguyên (Ang Snguôn) đen quân Xiêm đánh đuổi (1750). Tha thua, chạy sang Gia Định cầu cứu nhưng chết ở đấy.
Nặc Nguyên tranh được ngôi vua lại thường đem binh lấn hiếp người Côn Man là tàn tích dân Chiêm sang trú ngụ từ năm 1693.
Về phía Bắc, Nặc Nguyên lại thông sứ với Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) để lập mưu đánh Chúa Nguyễn quyết giành lại Thuỷ Chân Lạp.
Mùa đông năm Quý Dậu (1753), Võ Vương sai ông Thiện Chính (khuyết tên) làm thống suất và ông Nguyễn Cư Trinh, ký lục Bố Chánh Dinh làm quan tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh đi đánh giặc Nguyên. Quân tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để làm kế khai thác.
Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), ông Cư Trinh với ông Thống suất chia quân tiến lên. Oâng Cư Trinh đi đến đâu, giặc quy phục đến đó; đi qua đất Tần Lê (?) ra đến Sông Lớn cùng hội quân với ông Thiện Chính ở đồn Lôi Lạp (Soi Rạp: Gò Công), phủ Tầm Bôn (Tân An), phủ Cầu Nam (Ba Nam), phủ Nam Vinh (Nam Vang: Phnôm Pênh), bốn phủ hàng cả. Rồi chiêu phục người Côn Man để làm thanh thế.
Nặc Nguyên chạy trốn gần Vĩnh Long; gặp mùa nước nổi, phải ngưng đánh phá.
Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), ông Thống suất về đồn Mỹ Tho, dẫn theo hơn vạn người Côn Man mới chiêu phục. Đến đất Vô Tà Ân (có lẽ là vùng Đồng Tháp Mười) bị quân của Nặc Nguyên đổ ra đánh úp. Quân của thống suất đi tập hậu bị mắc bụi rậm vũng lầy, không thể đến cứu viện. Ông Nguyễn Cư Trinh mới đem quân của ông đến cứu thoát hơn năm người Côn Man, vừa trai vừa gái, rồi đem về trú ở núi Bà Dinh (Bà Đen).
Nhân ông Cư Trinh hạch tấu ông Thiện Chính về tội để mất cơ nghi mà bỏ dân mới phục hàng, vua giáng ông ấy xuống chức cai đội, cho ông Trương Phúc Du thay thế.
Ông Cư Trinh với ông Phúc Du và người Côn Man đi tiên phong đến đánh hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.
Nặc Nguyên thua, chạy trốn sang Hà Tiên nương theo Mạc Thiên Tứ, nhờ Tứ xin hộ với Chúa Nguyễn, hiến hai phủ Tân Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội, và bổ vào lệ triều cống đã bỏ ba năm về trước, cùng để xin cho về nước.
Vua không cho. Ông Cư Trinh mới dâng sớ tâu rằng:
“Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua là muốn giết đứa cừ khôi, mở mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối quá, biết nộp đất hiến của. Nếu không cho y hàng, thì y chạy trốn; mà từ Gia Định đến La Bích, đường sá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cõi, chi bằng hãy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và Trấn Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phúc (Biên Hoà), rồi mới mở đến phủ Lộc Dã (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ, rồi mới mở đất Sài Côn. Đó là cái kế “tằm ăn dâu” đó.
Nay từ Hưng Phúc đến Sài Côn đường đi chỉ hai ngày, mà dân cư còn chưa yên tập, quân giữ cũng có đứa chưa khỏe; phương chi từ Sài Côn đến Tầm Bôn, đường đi trong sáu ngày, thú binh trụ phòng, thực sợ chưa đủ.
Thần thấy rợ Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đã chột dạ. Nếu cho rợ Côn Man ở đấy, sai nó ngăng chống, lấy mọi đánh rợ, cũng là kế hay. Vậy nên xin cho nước Chân Lạp chuộc tội, lấy hai phủ ấy, cho thần xem xét tình thế, đặt luỹ đóng quân, cấp điền sản cho quân dân, chia địa giới, lấy châu Định Viễn để thâu cả toàn bức”.
(Rút trong quyển “Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi” của hai ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật).
Vua theo lời tâu, nhận lấy hai phủ (1756) và cho Nặc Nguyên về nước.
Năm Đinh Sửu (1757), Nặc Nguyên chết, chú họ là Nặc Nhuận (Neac Ang Nhuan) làm gián đốc, xin hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để cầu được chúa Võ Vương phong làm Vua. Song không lâu, Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi (1758).
Cháu của Nặc Nhuận là Nặc Tôn, con của Nặc Nguyên, chạy sang Hà Tiên cầu cứu với Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ dâng sớ tâu qua các việc và xin phong Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Võ Vương thuận cho, sai tướng Ngũ dinh tại Gia Định hợp với Thiên Tứ lo việc ấy. Trương Phúc Du đem binh đánh dẹp, Nặc Hinh thua chạy, bị kẻ thuộc hạ giết. Hoàng tử Nặc Non cùng hoàng gia chạy trốn bên Xiêm.
Nặc Tôn được Mạc Thiên Tứ đưa về nước lập làm vua, và được Võ Vương sắc phong chức Phiên Vương.
Để tạ ơn Võ Vương, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc) (1759). Rồi cắt năm phủ: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Sài Mạt (Cheal Meas), Chưng Rừm, Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ Sré Ambel đến Peam) để riêng tạ ơn Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ đều dâng cả cho chúa Nguyễn. Võ Vương bèn dạy sát nhập vào trấn Hà Tiên.
Thế là vừa trọn một thế kỷ (1658 – 1759), Thuỷ Chân Lạp hoàn toàn thuộc về Việt Nam.
(Tài liệu mượn trong quyển “Nguyễn Cư Trinh” với quyển “Sãi Vãi” của hai ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật, trang 45-49).
Đoạn trên kể lại công ngiệp khai mở bờ cõi của một vị tướng văn võ toàn tài là ông Nguyễn Cư Trinh. Cư Trinh lại rất có công về cuộc phòng thủ lâu dài.
Ông giỏi phương pháp “dĩ địch chế địch” nên đặt người Côn Man thủ Tây Ninh và Hồng Ngự (Châu Đốc), nay hai chỗ này còn di tích người Chàm. Chính ông Cư Trinh xin dời dinh Long Hồ lên xứ Tầm Bào, cũng thuộc tỉnh lỵ Vĩnh Long.
Về mặt thuỷ đạo, ông sai lập đồn hai bên sông Cửu Long gần biên giới:
– Tân Châu đạo (Cù Lao Giêng) ở Tiền Giang.
– Châu Đốc đạo ở Hậu Giang.
– Thêm lậpĐông Khẩu đạo, ở xứ Sa Đéc, để làm hậu thuẫn.
Các đạo ấy dùng binh ở Long Hồ dinh để trấn áp, giữ mặt vịnh Xiêm La, phòng Xiêm làm hỗn, Cư Trinh và Thiên Tứ đặt raKiên Giang đạo ở Rạch Giá và Long Xuyên đạo ở vùng Cà Mau.
Google photos
Ông Cư Trinh lại rất giàu sáng kiến. Ông lo tổ chức sự an ninh vùng đất mới, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên vùng rạch hồ. Như thuở ấy, khúc sông Gia Định còn nhiều chỗ xưng bá, thuyền cướp tụ tập phá khuấy ghe thương hồ (ngày trước còn để lại tàn tích “bối Ba Cụm” thuộc vùng Bình Điền, Tân Bửu, v.v…), Cư Trinh bày ra lệ bắt thuyền các Hạt, bất luận lớn nhỏ, trước mũi phải khắc tên họ, quê quán, chủ thuyền và ghi bộ quan sở tại để tiện tra xét.
Nguyễn Cư Trinh còn là một văn nhơn tài tử, ông thường ngâm vịnh, sang Phương Thành (Hà Tiên) nhập Chiêu Anh Các xướng hoạ cùng Mạc Thiên Tứ. Hai người rất là tương đắc, Thiên Tứ có ra mười bài”Hà Tiên thập cảnh vịnh ” (nay còn truyền tụng). Cư Trinh có hoạ đủ mười bài.
Kể lại trong Nam, đời ấy công nghiệp lớn nhất có hai ông:Nguyễn Cư Trinh vàMạc Thiên Tứ. Ông trước cầm binh ra trận, thi phú tài tình; Ông sau giỏi ngón ngoại giao và văn chương tao nhã. Cả hai mở rộng bờ cõi Miền Nam cho chúng ta được hưởng ngày rày.
Đồng thời tại Gia Định, trong nhóm người Minh Hương, có ba ông:Trịnh Hoài Đức,Ngô Nhơn Tịnh vàLê Quang Định đều là những bực công thần có công xây dựng cõi Nam, đua nhau nâng cao nền văn hiến Việt và tận tâm giúp chúa Nguyễn thâu lại cơ nghiệp tổ tiên thống nhất giang san. Hà Tiên có Chiêu Anh Các, Gia Định có Thi hữu tam gia không kém.
Năm 1780, Mạc Thiên Tứ từ trần, không con nối hậu. Đất Hà Tiên từ đây sát nhập cơ đồ Nguyễn Chúa:
CUỘC MỞ MANG BỜ CÕI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẾN ĐÂY, KỂ NHƯ ĐÃ HOÀN THÀNH.
Đúng một tháng sau ngày làm việc với chấp pháp lần đầu, tôi lại được kêu lên làm việc trở lại. Cũng với hai tên thanh niên đến bắt tôi và hỏi cung tôi lần đầu. Lần này giống y như lần trước chúng cũng mang đến cho tôi một ổ bánh mì thịt, một bịt nước mía và một gói thuốc Hoa Mai. Sau khi đợi tôi ăn uống xong, chúng lịch sự mồi cho tôi một điếu thuốc… Xong xuôi một tên trong bọn hỏi tôi:
– Sao? Một tháng qua anh nằm đây chắc là đã có dịp suy nghĩ và nhớ lại hết tất cả mọi việc rồi phải không?
– Tôi đâu có quên gì đâu mà phải suy nghĩ đến một tháng mới nhớ lại được?
Tên còn lại lôi trong cái xắc tay nhỏ bài thơ viết trên giấy quyến vấn thuốc rê, quăng lên bàn rồi gằn giọng hỏi:
– Anh muốn đùa với chúng tôi nữa hay sao? Trước khi đến làm việc với anh, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ sự vụ và đã biết anh và anh Nguyễn Sĩ Trí có liên hệ đến bài thơ này. Các anh đã tuyên truyền nó và chuyền cho nhau đọc…Vậy mà anh vẫn cứ ngoan cố chối phải không?
– Tôi không có gì phải chối, tôi đã nói rõ ràng với các anh từ lần đầu là tôi ngay cả không biết nó là cái gì, các anh cho hay nó là một bài thơ thì tôi mới biết đây thôi… làm sao đổ tội tôi tuyên truyền nó được.
– Vậy anh có đọc nó không.
– Không. Tôi không biết, không thấy nó thì làm sao đọc nó được. –Tôi trả lời một cách thật cương quyết.
Hai tên thanh niên nhìn nhau khựng lại trong một thoáng. Sau đó một tên nhìn thẳng vào tôi chăm chăm và hỏi gằn từng tiếng một:
– Anh có chắc là không biết, không thấy bài thơ này trước đây phải không?
Tôi thấy rõ hai tên khốn kiếp này không có một bằng chứng nào để buộc tội tôi được cả và chúng cũng không có gì chứng minh là Nguyễn Sĩ Trí đã đưa bài thơ đó cho tôi đọc. Tôi đánh nước liều:
– Tôi lập lại với anh là: Không! Tôi không thấy, không biết gì về nó trước đây hết. Nếu ai nói với các anh là tôi đã đọc bài thơ này hoặc giả nếu ai nói đã đưa cho tôi đọc bài thơ này thì xin các anh cho tôi được đối chất. Việc đối chất sẽ là một chứng minh cho các anh thấy là tôi vô tội.
Hai tên chấp pháp im lặng một lúc như suy nghĩ tìm cách áp đảo tinh thần tôi, sau đó tên trưởng toán nhìn chăm chăm vào mặt tôi cười gằn rồi nói:
– Được rồi. Nếu anh muốn đối chất thì đến lúc thuận tiện chúng tôi sẽ cho anh đối chất ngay. Lúc đó xem anh còn chối đi đường nào nữa không? Còn bây giờ, nếu trí nhớ của anh vẫn còn kém như vậy thì chúng tôi cũng không ép anh. Chúng tôi để anh lên nằm suy nghĩ kỹ lại, 3 tháng sau chúng tôi sẽ đến làm việc với anh nữa. Hy vọng lần tới anh sẽ nhớ lại.
Nói xong hắn đưa cho tôi một tờ giấy mẫu in sẵn giống như lần trước, bảo tôi viết lời khai và ký tên bên dưới. Tôi cũng viết vào lời khai là không biết, không thấy… cuộn giấy quyến đó… rồi ký tên bên dưới.
Tên công an chấp pháp sắp xếp lại giấy tờ bỏ vào túi xách, không thèm nhìn đến tôi nữa. Tên còn lại bước ra phía ngoài gọi tên công an trực ở Chí Hòa vào dẫn tôi lên phòng giam trở lại.
Tôi biết có nói nhiều cũng vô ích, vả lại tôi đã quyết ý và chuẩn bị tinh thần cho mọi tình huống rồi, nên cũng lặng lẽ đi theo tên công an trực ra ngoài, không thèm nói với hai tên chấp pháp thêm tiếng nào, dù lòng buồn vô hạn vì biết rằng tôi còn phải bị kẹt ở đây một thời gian chưa biết đến bao giờ mới được thả.
Lần làm việc thứ hai của tôi chỉ ngắn gọn như thế đấy! Hình như mấy tên chấp pháp này thấy tôi cố tình không nhìn nhận tội mà chúng đã gán ép cho tôi, nên chúng cũng chẳng cần mất nhiều thì giờ với tôi. Tôi không nhận thì chúng cứ chơi trò nhốt ép cung xem coi ai thua thiệt cho biết! Dĩ nhiên tôi và gia đình tôi là người chịu lấy sự thua thiệt này mà thôi! Tuy biết thế nhưng tôi không thể để cho chúng muốn gán ép tôi bất cứ tội trạng nào chúng muốn. Nếu chúng đã biết tôi là người chỉ tình cờ đọc bài thơ đó, như vậy tội tôi có đáng để chúng ngang nhiên đến nhà tôi khám xét, bắt bớ giam cầm như một tên tội phạm nguy hiểm hay không? Rõ ràng chúng đã áp dụng chính sách cố hữu “Thà bắt lầm còn hơn bỏ sót”. Than ôi! Ở một chế độ mà pháp luật đặt ra không phải để bảo vệ cho quyền lợi người dân và vị trí của một luật sư gần như chỉ là một danh xưng vô nghĩa thì chúng còn sợ gì mà không nhốt ép cung tôi mút chỉ để cho tôi cuối cùng chịu không nổi phải van xin và dù không tội cũng phải chấp nhận thành có tội thì chúng mới chịu thôi. Nếu đổi lại tôi đang ở vào một đất nước mà nền Luật Pháp và Nhân Quyền thực sự được tôn trọng thì làm sao có chuyện chúng muốn bắt nhốt ép cung tôi một cách vô lý như vậy khi không có một chứng cớ nào buộc tội được tôi.
Trên đường trở lên lại biệt giam 2, tôi bỗng nhớ tới cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Sau 1975, nhà cầm quyền CS đã bắt giam ông tại nhà tù Chí Hòa này nhằm triệt hạ thành phần văn nghệ chống Cộng có uy tín đối với quần chúng. Với cơ thể ốm yếu sẵn từ trước, khi vào tù lại chịu nhiều thiếu thốn, khổ sở nên thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã ngã bệnh nặng. Khi thấy ông gần chết, nhà cầm quyền CS mới ra lệnh thả ông vì lý do Nhân Đạo đễ tránh tiếng. Quả nhiên khi về nhà ông đã qua đời tại Saigon ngày 6 tây tháng 9 năm 1976 trong cảnh túng thiếu, đói nghèo. Tôi còn nhớ một câu thơ nổi tiếng của ông làm từ rất lâu: “Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ”. Xin vong linh thi sĩ tha thứ cho tôi vì tôi thấy câu này của ông không đúng vào thời điểm này. Ở vào thế kỷ này, biết bao nhiêu con người trên khắp thế giới đang sống một cách ấm no hạnh phúc và quyền làm người của họ được bảo vệ dưới một luật pháp rõ ràng, như vậy thì những người đó đâu có sinh lầm thế kỷ đâu. Và nếu như chúng ta cũng đang ở một đất nước Tự Do Dân Chủ nào khác thì chúng ta chắc cũng như họ mà thôi. Tôi nghĩ nếu ông còn sống vào lúc này chắc ông sẽ không ngần ngại đổi câu này lại là: “Lũ chúng ta đầu thai lầm đất nước” thì chắc có lẽ chính xác hơn!
Tôi ở đó thêm được mấy ngày nữa thì tới kỳ thăm nuôi. Mới sáng sớm, anh Tiến lao động đã mở cửa cho chúng tôi ra đi đổ bô và vệ sinh sớm hơn mọi ngày. Sau đó chúng tôi bị mang trở về biệt giam và lần này lỗ cửa gió bị đóng kín, tôi không thấy được gì cả. Bên phía từng dưới chắc là chộn rộn lắm. Tôi không thấy được gì nhưng nghe tiếng mấy tù lao động và công an gọi nhau hoặc nói chuyện râm rang bên dưới.
Nằm chơi nghêu ngao một hồi, tôi nghe bên biệt giam 3 có tiếng cửa mở rồi tiếng anh Tiến lao động:
– Biệt giam 3 nhận quà.
Sau đó cửa đóng lại. Một lúc lâu sau, Thủ Thiêm bên biệt giam 1 cũng được có quà.
Tuy biết mình chắc là sẽ không có quà, nhưng trong lòng tôi vẫn có một chút gì đó hy vọng. Trong hoàn cảnh hiện tại. Ngoài vấn đề thiếu thốn vật chất ra, sự thiếu thốn tinh thần cũng quan trọng vô cùng. Sự việc nhận được quà thăm nuôi, ngoài vấn đề quà cáp vật chất giúp cho người tù thêm dinh dưỡng trong những bữa ăn hàng ngày, còn nói lên được sự quan tâm lo lắng của thân nhân bên ngoài đối với người tù, cho dù ở trong tình huống nào cũng vẫn lo lắng chăm sóc… Điều này an ủi tinh thần tù nhân bên trong rất nhiều.
Tới giờ cơm trưa, sau khi nhận xong phần cơm vào chưa kịp ăn thì bỗng cửa phòng giam mở, anh Tiến đứng với một giỏ quà trên tay:
– Biệt giam 2, anh K. ra nhận quà.
Tôi khựng lại khoảng mấy giây như không tin, đến nổi anh Tiến lao động cười cười hối tôi:
– Lẹ đi cha nội, có quà tới trước cửa rồi cũng chưa chịu nhận nữa hay sao.
Tôi cám ơn anh ta và mang giỏ quà vào rồi ngồi phệt xuống nền phòng, nhìn giỏ quà mà lòng xúc động không tả được. Thật đúng là tôi đã làm khổ gia đình quá nhiều. Mấy năm trời tù cải tạo vợ tôi lặn lội thăm nuôi tôi tận rừng sâu, những lần chuyển đi trại khác, ở nhà lại phải lần mò hỏi thăm trại mới và lại lặn lội đến tận nơi thăm viếng, đôi khi đi từ mờ sáng đến nơi gặp mặt tôi chỉ độ nữa tiếng lại lủi thủi quay trở về. Bao nhiêu tiền bạc làm lụng vất vả phải nhín nhút để lo cho tôi… Rồi nay lại phải nuôi tôi trong tù Chí Hòa này nữa.
Tôi ngồi giở từng gói quà trong giỏ mà lòng vừa xúc động vừa chua xót khôn cùng. Tất cả các gói quà từ gói thuốc rê, gói muối mè đậu phộng… bánh trái… cho đến ổ bánh mì… mà tôi chắc chắn trước khi được sắp xếp vào trong giỏ, đã được chăm sóc cẩn thận bằng đôi tay tỉ mỉ của vợ tôi với tất cả tình thương của người vợ lo cho chồng… nhưng bây giờ mọi thứ đều bị bẻ nát, xốc xáo tung lên hết để khám xét trước khi đến được tay tôi. Trong giỏ đã trở thành một mớ hỗn độn lung tung cả lên. Một nỗi uất nghẹn xông lên tận cổ, nhưng thử hỏi tôi có thể làm được gì. Chỉ đành ngậm ngùi sắp xếp lại mọi thứ cho gọn gàng trở lại, lòng tự an ủi: “Cố gắng lên K., hãy cố gắng lên. Ai cũng bị như vầy chứ không phải một mình mình, thôi thì ráng chịu đựng. Sẽ còn nhiều cái khó khăn hơn nữa. Phải cố gắng chịu đựng nghịch cảnh. Có tức tối cũng không làm gì được!! Cố gắng lên”. Tôi nhắm mắt lại, đầu óc tập trung đầy ắp hình ảnh người vợ yêu thương của tôi và thấy lòng dịu lại rất nhiều.
Phảng phất nụ cười em đâu đó. Thoáng mơ hồ một nét môi quen. Giữa chốn tận cùng anh vẫn có. Bóng hình em và mây trôi êm.
Tôi ngồi lặng người đi một lúc thật lâu, tay sắp xếp lại các gói quà mà đầu óc tràn ngập hình ảnh người thân. Hai đứa con tôi bây giờ ra sao? Tôi hiểu sự khó khăn của gia đình và biết rằng với số tiền mua quà cho tôi lúc này, chắc là vợ và hai đứa con tôi phải chắt mót, tiết kiệm vào những chi phí khác để dành mua quà cho tôi. Nghĩ tới hình ảnh vợ và hai con phải khó khăn để dành dụm cho tôi, nước mắt tôi trào ra hồi nào không hay.
Ngoài thực phẩm và thuốc rê, xà bông tắm, kem đánh răng… tôi còn nhận được một cái mùng nhỏ. Như vậy là thằng Hồng bạn tôi đã nhắn về nhà dùm tôi như đã hứa.
Tối hôm đó chúng tôi đi “xe” qua lại giữa 3 biệt giam để chia xẻ những món quà ăn liền ngon lành từ gia đình gởi đến. Qua hôm sau tôi biếu một ít bánh trái cho anh Tiến lao động, nhưng anh không nhận, chỉ ăn lấy thảo tại chỗ với tôi một miếng bánh cho tôi vui thôi, viện lý do là anh cũng đã có thăm nuôi rồi, tôi hãy giữ lấy mà dùng. Tôi cũng nhờ anh Tiến nhắn tin dùm đến thằng Hồng bạn tôi là tôi đã nhận được mùng từ nhà gởi đến và gởi lời cám ơn nó.
Giỏ thăm nuôi đó là giỏ thăm nuôi thứ nhất tại Chí Hòa của tôi và cũng đã gây cho tôi nhiều xúc động nhất trong thời gian tù đày tại đây.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.