This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khi nhận được mật báo Heskow muốn hội kiến Astorre lập tức đề phòng. Luôn luôn có nguy cơ y sẽ chống lại chàng. Vì vậy thay cho việc trả lời chàng đến nhà Heskow ở Brightwaters ngay lúc nửa đêm. Chàng mang theo Aldo Monza và điều thêm một xe cùng bốn người nữa. Chàng còn mặc cả áo chống đạn. Khi cho xe vào con đường dẫn chàng gọi Heskow để y ra mở cửa. Heskow không hề tỏ vẻ ngạc nhiên. Y pha cà phê cho mình và Astorre. Sau đó y mỉm cười và nói – Tôi có cả tin lành và tin dữ. Cậu muốn nghe cái nào trước? – Anh cứ nói, Astorre đáp. – Tin dữ là tôi phải rời khỏi đất nước này vĩnh viễn. Tôi muôn đề nghị cậu giữ lời hứa. Sẽ không có chuyện gì xảy ra cho con tôi ngay cả khi tôi không còn làm cho cậu nữa. – Anh có lời hứa ấy, Astorre nói. Mà tại sao anh phải rời khỏi đây chứ? Heskow lắc đầu trong một cử chỉ buồn rầu hài hước. Y nói. – Vì cái thằng ngu Portella càng ngày càng quá đáng. Hắn sẽ hạ Cilke, một thằng bên FBI. Và hắn muốn tôi phụ trách vụ này. – Thế thì chỉ việc từ chối, Astorre nói. – Tôi không thể. Việc này được cả nghiệp đoàn của hắn thông qua. Nếu từ chối tôi sẽ mất mạng và có lẽ cả thằng con tôi cũng vậy. Vì vậy tôi vẫn sẽ tổ chức vụ giết người, nhưng tôi sẽ không tham gia vào nhóm hành quyết. Tôi sẽ cao chạy xa bay. Và khi Cilke bị hạ, bọn FBI sẽ đổ cả trăm thằng vào thành phố để tìm thủ phạm. Tôi đã cảnh báo với chúng điều đó nhưng chúng không thèm nghe. Cilke đã lừa chúng hay có chuyện gì đó. Chúng nghĩ rằng chúng có thể giải quyết ổn thoả vụ này. Astorre cố không để lộ vẻ thoả mãn của mình. Cilke sẽ chết mà không hề gây nguy hiểm cho chàng. Và chỉ cần một chút may mắn FBI sẽ loại bỏ được Portella. Chàng bảo Heskow, – Anh muón để lại địa chỉ cho tôi? – Tôi không nghĩ vậy, y nói. Không phải là tôi không tin cậu. Nhưng lúc nào tôi cũng có thể liên lạc với cậu. – Cũng được, cảm ơn vì đã báo tin cho tôi, Astorre nói. Nhưng thực sự ai đã đưa ra quyết định này? – Timmona Portella. Nhưng Inzio Tulippa và thằng cha tổng lãnh sự cũng đồng tình. Grazziella của băng Corleone từ chối tam gia. Tôi nghĩ lão sẽ chuồn về Sicily. Thật tức cười, ở bên đó lão có tha ai đâu. – Và anh sẽ chỉ huy đội hành quyết chứ? Astorre hỏi. Việc đó cũng không khôn ngoan đâu. – Không, Tôi đã nói với cậu khi chúng tập kích ngôi nhà thì tôi đã cao chạy xa bay rồi mà. – Đánh vào nhà ư? Astorre hỏi và ngay lúc đó chàng cảm thấy sợ hãi về những gì chàng sắp được nghe. – Ừ, Heskow nói. Đội biệt kích sẽ bay về Nam Mỹ rồi biến mất. – Rất chuyên nghiệp, Astorre nhận xét. Khi nào toàn bộ chuyện này xảy ra? – Đêm ngày kia. Tất cả những gì cậu phải làm là đứng sang một bên, và chúng sẽ giải quyết toàn bộ những vấn đề của cậu. Đó là tin lành. – Đúng thế, Astorre nói, cố giữ vẻ lạnh lùng nhưng trong đầu chàng hiện lên hình ảnh Georgette Cilke, vẻ đẹp và tấm lòng nhân hậu của chị. – Tôi cho rằng cậu nên biết chuyện này để có chứng cứ ngoại phạm, Heskow nói tiếp. Như vậy cậu nợ tôi một thứ, hãy chăm nom dùm con tôi. – Đúng là tôi nợ anh, Astorre nói. Đừng lo lắng về thằng nhỏ. Chàng bắt tay Heskow trước khi ra về. Tôi nghĩ anh rời khỏi đất nước này là khôn ngoan. Rồi sẽ ầm ỹ lên cho mà xem. – Phải, Heskow đồng tình. Trong chốc lát Astorre tự hỏi chàng sẽ làm gì với Heskow. Suy cho cùng, y là kẻ lái xe trong vụ giết ông Trùm. Bất chấp tất cả những nỗ lực giúp đỡ này, y vẫn phải trả giá cho hành động đó. Nhưng chàng hoàn toàn mất hết nghị lực khi nghe tin vợ con Cilke cũng sẽ bị giết. Cứ để cho y đi, chàng nghĩ. Y có thể còn có ích sau này. Rồi sẽ có dịp để giết y. Chàng nhìn vào khuôn mặt đang tươi cười của Heskow và mỉm cười đáp lại. – Anh quả là một người thông minh, chàng bảo Heskow. Heskow đỏ mặt vì sung sướng. – Tôi biết, y nói. Chính vì thế mà tôi sống sót. 11 giờ trưa hôm sau Astorre đến tổng hành dinh của FBI cùng Nicole Aprile, người đã đứng ra thu xếp cuộc hẹn. Chàng đã mất một đêm dài cân nhắc phương hướng hành động của mình. Chàng đã hoạch định toàn bộ việc này để mượn tay Portella khử Cilke. Nhưng chàng biết rằng chàng không thể để mặc Georgette và con gái bị giết. Tuy nhiên sau đó chàng nhớ tời một câu chuyện về ông Trùm. Câu chuyện này làm chàng phân vân. Một đêm, khi Astorre mới mười hai tuổi và cùng ông Trum đến Sicily trong chuyến thăm hàng năm của lão, hai bác cháu được bà Cateria đãi bữa tối tại nhà thuỷ tạ ở trong vườn. Astorre với vẻ ngây thơ kỳ lạ của trẻ con, đột ngột hỏi họ, – Hai bác làm thế nào mà quen nhau? Hai bác có lớn lên cùng nhau không? Ông Trùm và Cateria liếc nhìn nhau rồi phá lên cười sự hiếu kỳ của cậu. Ông Trùm đặt những ngón tay của lão lên môi rồi thì thầm chế nhạo, “Omertà. Bí mật”. Bà Caterina gõ chiếc thìa gỗ vào tay Astorre. – Đấy không phải là việc của cậu, tiểu yêu ạ, bà nói. Vả lại, cũng chẳng có gì. Bác tự hào về điều đó. Trùm Aprle nhìn Astorre âu yếm. – Tại sao nó lại không được biết? Nó là một người Sicily chính cống mà. Cứ nói cho nó nghe. – Không, bà Caterine từ chối. Nhưng ông có thể kể cho cậu ấy nếu ông muốn. Sau bữa tối ông Trùm đốt một điếu xì gà, rót đầy ly rượu của mình và kể cho Astorre nghe toàn bộ câu chuyện. – Mười năm trước người đàn ông quan trọng nhất trong thành phố là một Đức cha Singusmudo nào đó, một người rất nguy hiểm nhưng vui tính. Khi bác đến Sicily ông ấy thường tới nhà bác và đánh bài cùng bạn bè của bác. Lúc đó bác có một người trông nhà khác. Cha Sigusmundo rất mộ đạo và là một cha xứ cần mẫn. Ông khiển trách mọi người luôn và thậm chí có lần còn tham gia choảng nhau vói một kẻ vô thần. Ông nổi tiếng vì đứng ra làm những nghi lễ cuối cùng cho những nạ nhân của Mafia khi họ đang hấp hối, ông rửa tội cho linh hồn họ và làm họ trở nên tinh khiét cho cuộc hành trình lên Thiên Đàng. Ông được tôn kính vì điều đó. Nhưng việc này xảy ra quá thường xuyên và một số người bắt đầu rỉ tai nhau rằng lý do làm ông cần mẫn như thế là bởi vì ông là một trong số những đao phủ – ông tiết lộ bí mật của phòng xưng tội vì những mục đích riêng của mình. – Lúc đó chồng bác Caterina là một cảnh sát chống Mafia mạnh mẽ. Ông thậm chí vẫn theo đuổi một vụ giết người sau khi đã được trùm Mafia trong tỉnh cảnh cáo, một hành động thách thức chưa từng có lúc bấy giờ. Một tuần sau lời hăm doạ đó, chồng bác Caterina bị mai phục và nằm chết trong một con hẻm ở Palermo. Và cũng vẫn Cha Sigusmundo có mặt làm lễ rửa tội. Tội phạm không tìm ra được. – Bác Caterina, một quả phụ đau khổ, để tang chồng một năm và hiến mình cho nhà thờ. Rồi một ngày chủ nhật bác đến phòng xưng tội cùng Cha Sigusmundo. Khi cha xứ bước ra khỏi phòng xưng tội, ngay trước mắt mọi người, bác đâm vào tim ông ta bằng con dao găm của chồng mình. – Cảnh sát ném bác vào nhà giam. Trùm Mafia kết án bác tội chết. Astorre tròn xoe mắt nhìn Caterina. – Bác làm thế thật sao hả bác Caterina? Caterina nhìn cậu thích thú. Cậu tò mò và không hề tỏ ra sợ hãi. – Nhưng cậu phải hiểu tại sao. Không phải vì ông ta giết chồng bác. Người ta vẫn chém giết lẫn nhau ở xứ Sicily này. Tuy nhiên Đức cha Sigusmundo là một cha xứ giả dối, một kẻ giết người không được giải tội. Ông ta không đủ tư cách làm lễ rửa tội. Chúa nào thèm nghe hả? Vì vậy chồng bác không chỉ bị giết mà còn không được lên Thiên Đường, phải chịu cảnh đoạ dày dưới Địa Ngục. Con người phải dừng lại ở chỗ nào. Có những việc ta không được phép làm. Đó là lý do tại sao bác giết ông cha xứ. – Thế rồi làm cách nào bác đến đây được? – Vì Don Aprile quan tâm đến toàn bộ sự việc, Caterina nói. Do đó, một cách tự nhiên, mọi thứ được an bài. Ông Trùm nghiêm nghị nói với Astorre – Bác có địa vị chắc chắn trong thành phố, được nể trọng. Nhà chức trách được thuyết phục một cách dễ dàng, và giáo hội không muốn công chúng chú ý đên smột cha xứ hủ bại. Trùm Mafia không được nhạy cảm như vậy và đã từ chối huỷ bỏ án tử hình. Lão ta được tìm thấy ở bãi tha ma nơi chôn cất chồng bác Caterina. Cổ lão bị cắt đứt và cosca của lão bị huỷ diệt mất hết quyền lực. Lúc đó bác thấy mến Caterina và mời bác ấy về trông nom nhà cửa. Rồi suốt chín năm qua những tháng hè của bác ở Sicily đã trở thành ngọt ngào nhất trong đời bác. Với Astorre tất cả thật tuyệt vời. Cậu ăn một nhúm quả ô liu rồi phun hột ra. – Bác Caterina là bạn gái của bác phải không? – Tất nhiên, bà Caterina đáp. Cậu đã mười hai tuổi cậu có thể hiểu được rồi. Bác sống dưới sự che chở của ông ấy như thể bác là vợ ông ấy, và bác thực hiện nghĩa vụ làm vợ của bác. Trùm Aprile hơi bối rối, lần duy nhất Astorre thấy lão như vậy. Cậu hỏi – Tại sao hai bác không làm đám cưới? Caterian nói – Bác không thể rời Sicily. Ở đây bác sống như một bà hoàng, và bác cháu là một người rộng rãi. Ở đây bác có bạn bè, có gia đình của bác, các anh chị em và bà con họ hàng. Còn bác của cháu lại không thể sống ở Sicily. Vì thế các bác làm những gì tốt nhất có thể làm được. Astorre nói với bác Aprile – Bác ơi, bác có thể cưới bác Caterina rồi sống ở đây mà. Cháu sẽ sống với bác. Cháu không muốn rời Sicily. Đến đây cả hai người cùng phá lên cười. – Nghe bác đây, ông Trùm nói. Đã phải tốn rất nhiều công sức để chấm dứt mối thù chống lại bác ấy. Nếu hai bác làm đám cưới, sẽ phát sinh những âm mưu và những điều phiền toái. Người ta có thể chấp nhận nhân tình của bác chứ không chấp nhận bác ấy là vợ bác. Vì vậy, với việc xếp đặt này hai bác đều hạnh phúc, đều tự do. Hơn nữa, bác không muốn có một người vợ từ chối chấp nhận những quyết định của bác, và khi bác ấy từ chối rời bỏ Sicily thì bác đâu còn là một đức ông chồng. – Và đó sẽ là một điều ô nhục, Caterina nói. Đầu bà hơi gục xuống, rồi bà ngước mắt lên bầu trời Sicily đen ngòm và bắt đầu thổn thức. Astorre hoang mang. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì đối với một đứa bé như cậu. – Đúng thế, nhưng tại sao? Tại sao? cậu hỏi. Ông Trùm thở dài. Lão rít một hơi xì gà và tợp một ngụm rượu. – Cháu phải hiểu, lão nói. Cha Sigusmundo là em trai bác.
Google photos
Bây giờ Astorre còn nhớ, lời giải thích của họ đã không thuyết phục được cậu. Với tính ương ngạnh của một đứa trẻ mơ mộng cậu tin rằng hai người yêu nhau phải được sống cùng nhau trên thế gian này. Chỉ đến bây giờ chàng mới hiểu hai người đã có một quyết định khủng khiếp. Nếu ông Trùm lấy Caterina, tất cả họ hàng sẽ trở thành kẻ thù của lão. Không phải họ không hiểu Cha Sigusmundo là một kẻ đểu cáng. Nhưng ông ta là em trai lão và một người như ông Trùm Aprile không thể nào cưới người đã giết em trai mình. Bà Caterina không thể đòi hỏi một sự hy sinh như vậy. Và rồi sẽ ra sao nếu bà Caterina tin rằng vì một lý do nào đó ông Trùm cũng liên quan đến cái chết của chồng mình? Nhưng đây là nước Mỹ chứ không phải sicily. Suốt đêm Astorre suy nghĩ. Đến sáng chàng gọi cho Nicole. – Tôi sẽ đếm đón chị đi ăn sáng. Sau đó chúng mình sẽ tới thăm Cilke tại tổng hành dinh của FBI. Nicole hỏi – Việc này quan trọng lắm phải không? – Vâng. Tôi sẽ nói với chị trong bữa sáng. – Anh đã hẹn với ông ta chưa? – Chưa, đấy là việc của chị. Một tiếng sau họ đã ăn sáng với nhau tại một nàh hàng sang trọng có những chiếc bàn rộng được kê riêng rẽ vì đây là nơi gặp gỡ những tay mối lái đầy quyền lực trong thành phố. Nicole tin rằng một bữa sáng thịnh soạn sẽ cung cấp đủ năng lượng cho một ngày làm việc mười hai tiếng của nàng. Astorre gọi nước cam và cà phê với một giỏ bánh mỳ ăn sáng tốn mất hai mươi đô la của chàng. Nicole không còn kiên nhẫn được nữa – Có cái quái gì không ổn hả. – Tôi sẽ thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, Astorre nói. Tôi nhận được thông tin từ một nguồn tin đáng tin cậy. Kurt Cilke và gia đình của ông ta sẽ bị giết vào đêm mai. Tôi muốn cảnh báo ông ta. Tôi muốn được khen ngợi vì đã báo trước cho ông ta. Ông ta sẽ muốn biết nguồn thông tin của tôi, và tôi không thể nói cho ông ta biết được. Nicole đẩy đĩa ăn của mình sang bên và ngả người ra lưng ghế. – Thằng chó chết nào lại ngu vậy chứ? Chúa ơi, tôi hy vọng anh không liên quan đến vụ này. – Sao chị lại nghĩ thế? Astorre hỏi. – Tôi không biết nữa. Ý nghĩ chợt đến. Tại sao không bắn tin nặc danh cho ông ta? – Tôi muốn được khen thưởng vì đã làm một việc tốt. Tôi có cảm giác những ngày này chẳng có ai yêu thương tôi. Chàng mỉm cười. – Tôi yêu anh, Nicole nói. Thôi được, đây là chuyện xẩy ra. Khi bước vào khách sạn, một người lạ mặt chặn chúng mình lại và thì thầm thông báo cho anh. Y mặc bộ vét kẻ sọc màu xám, sơ mi trắng và đeo cà vạt đen. Y cao trung bình, da ngăm đen, có thẻ là người Italy hay Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Sau đó chúng mình có thể thêm bớt. Tôi sẽ là người làm chứng cho anh, và Cilke hiểu ông ta không thể bắt bẻ tôi được. Astorre phì cười. Tiếng cười của chàng luôn luôn có tác dụng xoa dịu, nó chứa đựng niềm hân hoan hồn nhiên của một đứa trẻ. – Thế thì ông ta sẽ sợ chị hơn là sợ tôi, chàng nói. Nicole mỉm cười – Tôi cũng biết giám đốc FBI. Một chính khách đầy thú tính. Tối sẽ gọi cho Cilke và yêu cầu ông ta đợi chúng mình. Nàng lấy điện thoại ra khỏi bóp và thực hiện cuộc gọi. – Thưa ngài Cilke, nàng nói vào điện thoại, Nicole đây. Tôi đang ngồi cùng Astorre Viola, anh ấy có một tin quan trọng muốn báo cho ngài. Sau một lát tạm ngừng nàng nói tiếp, – Thế thì quá trễ. Chúng tôi sẽ đến đó trong vòng một tiếng đồng hồ. Nàng cúp máy trước khi Cilke có thể nói thêm bất kỳ điều gì. Một tiếng sau Astorre và Nicole được dẫn tới phòng làm việc của Cilke. Đó là một căn phòng hình vuông với những cửa sổ lắp kính chống đạn. Cike đang đứng sau một chiếc bàn làm việc của ông. Sau bàn, khá kỳ quặc, là một tấm bảng đen loại vẫn dùng trong lớp học. Bill Boxton ngồi trên một chiếc ghế không hề có ý bắt tay. – Các ngài sẽ ghi âm chứ? Nicole hỏi. – Tất nhiên rồi, Cilke đáp. Boxton trấn an – Chúng tôi ghi âm mọi thứ, kể cả việc gọi cà phê và bánh cam vòng. Chúng tôi cũng ghi âm bất kỳ ai chúng tôi cho rằng có thể tống vào nhà đá. – Ngài đúng là một thằng chó chết, Nicole nói tỉnh queo. Vào cái ngày đẹp nhất của đời ngài ngài cũng không thể tống tôi vào nhà đá được. Hãy nghĩ lại đi. Khách hàng của tôi Astorre Viola tình nguyện đến gặp các ngài để báo cho các ngài một tin quan trọng. Tôi đến đây để bảo vệ khách hàng của tôi khỏi bất kỳ sự lạm dụng nào sau khi anh ấy đã hoàn thành công việc. Kurt Cilke không còn vẻ quyến rũ như lần gặp trước. Ông ra hiệu cho họ ngồi, – OK, ông nói. Nào chúng ta bắt đầu. Astorre nhìn thẳng vào mắt Cilke và nói – Tôi nhận được nguồn tin sẽ có một toán biệt kích vũ trang đầy đủ tấn công nhà ngài vào đêm mai. Mục đích là giết ngài vì nguyên nhân nào đó. Cilke không phản ứng lại. Ông ngồi chết lặng, nhưng Boxton bật dậy và đứng sau Astorre. Quay lại phía Cilke anh nói – Kurt, cứ bình tỉnh. Cilke đứng dậy. Cả thân hình ông dường như sắp nổ tung cùng cơn thịnh nộ. – Đây là thủ đoạn cũ của Mafia, ông nói. Cậu dựng lên chiến dịch này rồi lại ngầm phá hoại nó. Và cậu nghĩ tôi sẽ phải mang ơn cơ đấy. Này, làm thế quái nào mà cậu có được thông tin ấy hả? Astorre kể cho ông nghe câu chuyện mà chàng và Cicole đã chuẩn bị. Cilke quay sang Nicole và hỏi, – Cô đã chứng kiến sự kiện này? – Vâng, Nicole trả lời. Nhưng tôi không nghe được ông ta nói gì? Cilke nói với Astorre, – Kể từ lúc này cậu đã bị bắt. – Vì lý do gì? – Vì đe doạ một sỹ quan Cục điều tra Liên Bang, Cilke đáp. Tôi cho rằng tốt hơn ngài nên gọi điện cho ngài giám đốc của ngài. Nicole nói. – Đây là quyết định của tôi, Cilke đáp lại Nicole. Nicole nhìn đông fhồ. Cilke dịu giọng, – Thừa hành lệnh của tổng thống, tôi có quyền giữ cô và khách hàng của cô trong vòng bốn tám tiếng đồng hồ không cần tham khảo ý kiến, như một sự đe doạ an nình quốc gia. Astorre giật mình. Chàng nói – Đúng thế ư? Ngài có thể làm việc đó được sao? Chàng thực sự bị gây ấn tượng. Chàng quay sang Nicole và vui vẻ nói – Này, ở đây giống hệt Sicily vậy. – Nếu ngài làm như vậy thì FBI sẽ phải ra toà và ngài sẽ trở thành đồ bỏ. Nicole nói. Ngài có thể đủ thời gian để đưa gia đình tạm lánh và phục kích những kẻ đột kích. Chúng không biết chúng đã bị lộ. Nếu ngài bắt được tù binh, ngài có thể tra hỏi chúng. Chúng tôi sẽ không nói hoặc cảnh báo chúng. Cilke dường như đang cân nhắc. Ông nói với Astorre vẻ khinh thường. – Ít nhất tôi cũng đã kính trọng bác cậu. Ông ấy chẳng bao giờ bép xép cả. Astorre nở nụ cười bối rối. – Đó là ngày xưa. Chàng tự hỏi Cilke sẽ nói gì nếu chàng nói cho ông biết nguyên nhân đích thực, rằng chàng đã bảo vệ ông đơn giản vì chàng đã gặp vợ ông và đã thầm yêu chị trong vô vọng. – Tôi không tin câu chuyện nhảm nhí của cậu nhưng chúng tôi sẽ điều tra kỹ lưỡng vụ này xem thực sự có trận đột kích nào vào đêm mai hay không. Nếu có gì xảy ra thì tôi sẽ nhốt cậu lại, và có lẽ cả cô nữa, bà luật sư ạ. Nhưng tại sao cậu lại báo cho tôi biết? – Vì tôi thích ngài, Astorre trả lời. – Xéo khỏi đây ngay, Cilke quát lớn. Ông quay sang Boxton. Gọi ngay chỉ huy lực lượng tác chiến đặc biệt vào đây, và bảo thư ký của tôi chuẩn bị một cuộc gọi cho ngài giám đốc. Họ bị giữ lại hai tiếng nữa để bộ tham mưu của Cilke thẩm vấn. Trong khi đó, Cilke có cuộc điện đàm tới Washington cho giám đốc qua máy điện thoại chống nghe trộm. – Không được bắt họ trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Giám đốc dặn ông. Mọi chuyện sẽ lọt ra ngoài đến với giới truyền thông và chúng ta sẽ làm trò cười cho thiên hạ. Giữ tuyệt đối bí mật, rồi chúng ta sẽ biết chuyện gì xảy ra đêm mai. Những người bảo vệ ở nhà cậu phải cảnh giác, và gia đình cậu phải được di tản. Bây giờ hãy đưa ông nghe cho Bill. Cậu ấy sẽ chỉ huy chiến dịch phục kích. – Thưa ngài, đấy phải là việc của tôi. Cilke phản đối. – Cậu sẽ giúp vạch kế hoạch, giám đốc nói. Nhưng cậu không được tham gia tác chiến. Cục hành binh theo những chỉ thị giao chiến nghiêm ngặt để tránh sử dụng bạo lực không cần thiết. Cậu có thể sẽ bị nghi ngờ nếu mọi chuyện diễn ra tồi tệ. Cậu hiểu tôi chứ? – Vâng, thưa ngài. Cilke hoàn toàn hiểu rõ.
Thường lệ, Đội trưởng bị kỷ-luật thì được biên-chế sang đội khác. Tôi vẫn ở Đội 17 rau xanh làm tù-nhân bình thường. Đội trưởng của tôi là anh Trạng, từ đội của Đằng Giao qua. Anh Trạng, dân Bình Chánh. Quản-giáo Vinh xếp tôi vào Tổ tưới rau. Lúc này, Ngô Đình Hoa, Nguyễn văn Bình đã về với đội Long Thành. Quản- giáo Vinh bị Ban giám-thị phê-bình gay gắt vì đội của ông thầy cầm cờ trắng. Cờ đỏ do đội rau Long Thành đoạt. Cờ xanh nằm trong tay Đội 3 hình-sự. Ông thầy bực tức, Ông thầy phấn-đấu vượt chỉ-tiêu. Ông thầy…tăng phân tươi và tăng nước tưới. Mỗi tù-nhân phụ-trách gánh nước phải gánh đủ 100 đôi 1 ngày. Năm 1979 hạn hán. Tháng 6 mà vẫn chưa có trận mưa nào ngoạn-mục kéo dài vài hôm. Ở trại cải-tạo, mưa là hạnh-phúc. Tù-nhân bình-bầu mức ăn cho ông Trời như sau: – Đêm tạnh, bắt đầu kẻng báo thức mới mưa. Mưa trút nước qua giờ tập họp lao-động. Cả trại nằm nhà nghỉ-ngơi: Trời hưởng mức ăn 18 ký. – Ngủ trưa dậy, kẻng tập họp lao-động mưa tầm-tã, cả trại nằm nhà nghỉ-ngơi, Trời hưởng mức ăn 15 ký. – Đang lao-động, trời mưa, thu-hồi dụng-cụ về trại, Trời hưởng mức ăn 13 ký 50. – Mưa sớm, mưa đã đời, lúc tập họp lao-động lại tạnh, Trời bị kỷ-luật còng chân 15 ngày, cúp thăm nuôi 1 kỳ. Mưa không những tù sướng, quản-giáo, vệ-binh cũng sướng. Ban giám-thị không sướng tí nào. Nhưng bắt tù đi lao-động, mưa to sẽ xẩy ra nhiều vụ trốn trại thành-công. Trại mà đề nhiều tù trốn trại, Ban giám-thị sẽ bị kiềm điểm, sẽ khó leo lên địa-vị cao trong ngành quản-lý các nhà tù. Do đó, trốn trại là quan-trọng, tiến-bộ tư- tưởng của tù-nhân là thứ yếu. Mục-đích chính-yếu của chính-sách lao-động cải-tạo tư-tưởng của cộng-sản là gì? Thế-giới, cho đến hôm nay, vẫn bị huyễn-hoặc bởi cách chơi chữ của cộng-sản. Người cộng-sản lúc nào cũng có thể to miệng nói với thế-giới rằng họ không hề bắt nhốt sĩ-quan quân-đội, sĩ-quan cảnh-sát, công- chức cao cấp, dân-biểu, nghị-sĩ, nghị-viên, đảng-phái đối nghịch đảng cộng-sản của và trong chế-độ Việt Nam cộng-hòa. Những thành-phần này, họ gọi chung là “ngụy quân, ngụy quyền”. Rõ-rệt và chính-xác, những thành-phần này đã đi trình-diện học tập cải-tạo. Thế-giới không cần biết cái thông-cáo cưỡng-bức và đe-dọa “ngụy quân, ngụy quyền”. Và cộng-sản phủ-nhận con số tù-nhân chính-trị mà họ giam giữ. Với cộng-sản, không có tù-nhân chính-trị. Các tổ-chức chống cộng-sản sau 30-4-75, những thanh-niên, sinh-viên, học-sinh chiến-đấu cho tự-do, dân-chủ của dân-tộc; những nhà trí-thức đòi hỏi nhân-quyền, bị cộng-sản xếp vào thành-phần “phản-động” can tội phá-hoại an-ninh của “tổ-quốc” và bị bắt bỏ tù không cần xét xử, không có án-tích. Tất cả những nơi giam nhốt, đầy đọa tù-nhân, cộng- sản đều gọi là Trại học tập cải-tạo và thế-giới đều gọi là Camp de ré-éducation. Cộng-sản không gọi là Nhà tù hay Trại tập-trung khổ-sai lao-động. Thế-giới không gọi thế và báo-chí Việt Nam hải-ngoại cũng không gọi thế. Cho nên ý-nghĩa của tù-nhân chính-trị Việt Nam nó phôi-pha dần theo tháng năm. Như tị-nạn chính-trị bước sang giai đoạn tị-nạn kinh-tế! Sự can-thiệp của các hội-đoàn nhân-đạo quôc-tế chỉ nhằm cá-nhân, không nhằm tập-thể. Mọi lên tiếng về tù-nhân chính-trị ở Việt Nam mang tính chất làm cảnh theo cảm-hứng mùa màng. Cộng-sản cấm-chỉ báo-chí thế-giới thăm viếng nhà tù và trại tập-trung của họ. Cả miền Nam, có một trại kiểu mẫu để tiếp phái-đoàn Amnesty International (vì AI trung lập với tất cả các chế-độ chính-trị) và các hội-đoàn quốc-tế thân cộng-sản*. Thế-giới chỉ hiểu lơ-mơ về nhà tù và trại tập-trung khổ-sai lao-động của cộng-sản qua sự tường-trình của những ông Việt Nam cư-ngụ tại Pháp từ 30 năm. Và những ông này đều gọi những địa-ngục từ Việt Nam là Trại học tập cải-tạo! Thủ-đoạn bắt nhốt hàng mấy trăm ngàn tù-nhân của cộng-sản nó siêu-việt thế đấy. Đi học- tập, không đi khổ-sai lao-động. Tình nguyện trình diện học tập cải-tạo, không hề bị bắt giam nhốt. Phải công-nhận cộng-sản chơi chữ rất giỏi. Ở nhà tù ra sao, bạn đã đọc Nhà tù rồi. Còn ở trại tập-trung ra sao, tôi sẽ cố-gắng viết trung-thực với nhận-xét và kinh-nghiệm của tôi. Cộng-sản không thích cải-tạo tư tưởng tù-nhân. Hiển nhiên, họ không thể chơi trò “brain washing” theo phương-pháp Pavlov cho hàng trăm ngàn tù-nhân. Họ thừa hiểu, tù-nhân lao-cải biết cách nín thở qua cầu. Vậy chỉ cần bắt tù-nhân tê-liệt tâm-hồn, rã-rời thể-xác. Cách thực hiện hữu-hiệu nhất là làm cho tù-nhân đói khổ, làm cho tù-nhân mất phẩm-cách, làm cho tù-nhân sợ hãi. Làm cho tù-nhân đói khổ nằm trong chính-sách làm cho toàn dân đói khổ. Sự tiến-bộ của chế-độ cộng-sản ở Việt Nam là không còn ai chết đói nữa nhưng thường xuyên đói và triền-miên ăn độn. Chủ-tịch Hồ Chí Minh, ở bức chân dung vẽ ông ta đứng dơ bàn tay xòe đủ năm ngón, được dân-gian “học tập” như vầy: 5 ngón tay Bác, 5 đồng bạc “ngụy” ăn 1 đồng bạc cách-mạng. 5 ngón tay Bác, 5 năm tù tối-thiểu cho ngụy-quân, ngụy-quyền, phản-động. 5 ngón tay Bác, 5 lạng thực-phẩm cho một người dân một ngày. Tù và dân đồng đều tiêu-chuẩn 15 ký lô thực-phẩm mỗi tháng. Thực-phẩm không phải là gạo. Thực-phẩm, có thể, là gạo hẩm cộng với khoai, sắn, ngô hay chỉ riêng rẽ khoai, sắn, ngô, bo bo… Gạo là xa-xỉ-phẩm như nước mắm trên đất khách miền Bắc có lăng Bác. Cách-mạng vô-sản đã đổi đời cho nước mắm. Nước mắm cũng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững-chắc lên xã-hội chủ-nghĩa thành nước chấm. Muối + nước + kẹo đắng : Nước chấm! Ấm no, hai tiếng này vẫn nằm trong hứa hẹn. Bài ca Tự Túc phổ-biến sâu rộng khắp nước từ năm 1946. Hai câu cuối rực-rỡ tương-lai: Anh em ơi góp công muôn bàn tay Đất nước ta ấmno đi đây có ngày Năm 1976, đài phát-thanh Giải-phóng, chương-trình Nông-nghiệp vẫn hát bài Tự Túc. Tự Túc là nhạc mở đầu và kết-thúc chương-trình. Ba mươi năm sau cách-mạng đất nước ta vẫn đói rét, “đất nước ta ấm no rồi đây có ngày”. Chưa biết ngày nào? Năm nay, 1986, đất nước ta chắc vẫn còn đói rét. Dân chúng đói vì Đảng muốn dân chúng đói. Đói có nghĩa là bao-tử lưng-lửng. Bao-tử lưng-lửng có nghĩa là không thể chết đói. Không thể chết đói nhưng mà rất thèm ăn no. Thèm ăn no thì chỉ nghĩ đến miếng ăn, không thiết nghĩ đến tự-do dân-chủ. Càng không muốn nghĩ đến tranh-đấu cho ấm no, tự-do, dân-chủ. Con người khó lòng vùng dậy khi nó đói mà nó biết nó không bị chết đói. Cái roi gạo của cộng-sản nó nhiệm-mầu thế đấy. Nó phũ-phàng hơn roi điện của thực-dân phát-xít đế-quốc tra-tấn con người. Nó làm hao mòn thịt xương và tiêu diệt ý-chí chống đối. Ngày xưa roi điện thì còn Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương Cái cung-cách cai-trị nhân-dân bằng roi gạo ngoài đời giống hệt cái cung-cách quản-lý tù-nhân trong trại tập-trung khổ-sai lao-động. Ăn ít, làm nhiều. Làm không đem lại kết-quả, vẫn làm. Làm cho đói. Đói bị ăn ít. Ăn ít thèm ăn. Tù-nhân vẫn lại chỉ loay-hoay miếng ăn. Chung quanh miếng ăn là thảm cảnh dẫn tới sa-đọa và mất phẩm-cách. Bất cứ một tù-nhân lao-cải nào cũng có thể nói câu này với bất cứ ai, ở bất cứ đâu mà không sợ mang tiếng bịa đặt: Mọi sinh vật bị tiêu-diệt gọn quanh khu-vực tù-nhân cải-tạo. Thằn lằn, rắn, kỳ-nhông, kỳ-đà, mối chúa, cào-cào, dế, chuột, cua, cá, tôm tép, cóc nhái… Cái gì có thể ăn và có chút chất đạm là tù cải-tạo ăn. Trừ giun ra. Tôi chưa thấy ai ăn giun. Có lẽ, ông nhà báo nào thương tù cải-tạo quá đã cho tù ăn giun thay bo-bo! Mà ăn cả bát giun mới là giầu óc tưởng-tượng. Rất tiếc, ông nhà báo này không được làm đại-diện tù chính-trị Việt Nam để “bốc xê la bút” tại quốc-hội Hoa-kỳ hay là đi kiện Việt cộng. Tù-nhân lao-cải còn ăn rau độn bo-bo cho căng bao-tử. Rau tầu bay, rau cải trời, rau dền dại, rau sam… Có người dám ăn cỏ non. Lý-luận: Dê ăn cỏ, trâu bò ăn cỏ có chết đâu. Trâu ăn cỏ lao-động vô-địch. Bò ăn cỏ sinh bê còn ra sữa. Sữa bò chế thành bơ, thành phó-mát… Cỏ nhất định dồi dào sinh tố. Nhưng cỏ chỉ bổ khi được… nhai lại. Mà người không thuộc loài nhai lại, trừ cộng-sản là loài nhai lại những giáo-điều lạc-hậu, những nghị-quyết mốc thếch, những chiến-thắng chẳng ăn cái giải gì, những khẩu-hiệu gian-dối, những danh-từ rỗng tuếch. Cũng còn có một loài nhai lại. Đó là bọn nhà văn Hamburger, xuân hạ thu đông nhai lại những câu chửi rủa người vắng mặt. Thêm loài nhai lại hiệp định Paris 1973, nhai lại tiền lạc-quyên kháng-chiến, nhai lại tiền ăn cắp di-tản đem theo, nhai lại dĩ-vãng bệ-rạc. Vân vân… Đất nước khốn-khổ của chúng ta hơi nhiều cách-mạng nên khá đông thú vật hai chân nhai lại. Thú vật nhai lại cỏ kháng-chiến bền-bỉ và quang-vinh nhất chỉ có hai tên cùng viết tắt HCM. Một tên đã nằm trong hòm kính. Một tên đang nằm trong thùng nước lèo phở Hòa. Tù-nhân cải-tạo là nạn-nhân của thú vật hai chân nhai lại. Tù-nhân cải-tạo là CON NGUỜI bị thú vật hai chân bắt đồng-hóa với chúng nó. Và đã thử ăn cỏ non. Khi người ta đói, người ta ăn cả thịt người. Đã có trường-hợp thuyền-nhân ăn thịt kẻ đồng-hành chết đói. Tháng 3 năm Ất Dậu, người sắp chết đói ăn thịt người vừa chết đói là thường. Ăn bất cứ cái gì có thể nuốt. Để chết. Người đói vô tội. Kẻ làm cho con người đói đến mất nhân-tính, mất phẩm-cách mới có tội. Tù-nhân lao-cải không có ai chết đói nhưng “quanh năm tích-cực đói, bốn mùa khẩn-trương đói”. Đói thì “mưu sinh” riêng cho no. Rau cải trời dễ kiếm dễ hái, ăn nhiều mất máu. Cóc nấu cháo ngon lắm, bổ lắm, ăn trúng nọc “cậu trời” là đau quặn bụng, ói mửa ra mật xanh mật vàng. Bạ cái gì cũng ăn thì dễ sinh bệnh. Bệnh thiếu thuốc thì “về sum họp với cha ta”. Đa-số tù-nhân lao-cải chết bệnh là do ngoài đời ăn khỏe quá. Ông tướng Nguyễn Đức Thắng đi lao-cải sẽ kềnh trước tiên. Đói đâm ra lẩn-thẩn, kèn-cựa nhau từ miếng thịt đến muỗng cơm trắng “những ngày lễ lớn”. Chia sắn lát, chia khoai luộc, chia nước muối, chẳng ai thèm nhòm ngó. Chia thịt, chia canh, bắp cải nấu xương heo, chia cơm trắng, một đội 50 tù-nhân 100 con mắt theo dõi người chia cơm, chia thịt, chia canh. Sự thèm ăn làm đầu óc bé lại, tâm-hồn kẹo đi. Thêm cái tiêu-chuẩn thực-phẩm hàng tháng gây đủ mọi chia rẽ, gấu-ó, đấm đá. Đó là Sa Ác B của tôi, một trại đủ thành-phần xã-hội. Những trại khác tôi không biết tù-nhân lao-cải có còn thủ nổi tác-phong “giấy rách phải giữ lấy lề”? Chế độ thăm gặp ở trại lao-cải chẳng nhân-đạo gì. Nó nhắm ba mục-đích: 1/ Ăn ngon, ăn no thì phải “triệt-để tuân-hành nội-quy và mệnh-lệnh của cán-bộ”. Kinh-tế… cái bị quà luôn luôn bị đe-dọa bởi cái quyết-định thi-hành kỷ-luật. Tù-nhân bướng-bỉnh, “tư-tưởng nấn cấn, nao động nề mề” khó cải-tạo, đa số là tù-nhân “con bà phước”. Kỷ-luật cúp thăm gặp kinh-hoàng nhất, “con bà phước” không ai nuôi, không ai gặp, không sợ hãi cái thứ kỷ-luật răn đe bao-tử. 2/ Ăn ngon, ăn no thì lao-động tích-cực, hết lấy cớ trây lười. 3/ Thăm gặp tạo mâu-thuẫn giai-cấp giữa các tù-nhân. Thằng không có thăm gặp ghét thằng có thăm gặp. Thằng thăm gặp ít ghét thằng thăm gặp nhiều. Giá-trị và cả lòng thù-hận đánh giá bằng cái bị căng phồng quà cáp hay cái bị xẹp lép. Nếu không có chế-độ thăm gặp, tù-nhân bình-đẳng kinh-tế. Như thế tù-nhân yêu thương nhau đoàn-kết thắm-thiết và sẽ gây ra nhũng tai-hại khó lường cho sự quản-lý tù-nhân ở các trại lao-cải. Đó, ba mục-đích chính của chế-độ thăm gặp nằm trong chính-sách cải-tạo tư-tưởng khoan-hồng và nhân-đạo của Đảng và Nhà nước cộng-sản. Con người chưa bao giờ khổ vì miếng ăn và hèn vì miếng ăn như con người tù-nhân ở trại tập-trung khổ-sai lao-động của cộng-sản. Tuy khổ và hèn nhưng là khổ và hèn bị cưỡng-bức. Tỷ-lệ những người vì khổ mà tình-nguyện xếp mình dưới mức hèn, xếp mình ngang hàng súc-vật hơi khan hiếm. Có lẽ duy nhất một “nhà văn” Tạ Tỵ. Ông này không lao-động vất-vả gì cả. Như ông ta muộn-màng thú nhận, ông ta được “anh em” của ông ta giới-thiệu vẽ chân dung Hồ Chi Minh giữa trại cải-tạo . Và ông ta bảo “Sống trong trại tù thì vẽ HCM hay đi hót cứt, bổ củi, vác gạo, trồng mì cũng như nhaư” . Bị cưỡng-bức vẽ tranh Hồ Chí Minh và được giới thiệu vẽ khác nhau. Ở tù trăm sự đều cay đắng. Hồ Chí Minh đã thở than vậy. “Bác” còn ngậm-ngùi: “Mỗi lời mỗi việc không tự-chủ. Đề chúng dắt đi tựa trâu bò”. Chúng không dắt đi tựa trâu bò mà mình tình-nguyện làm trâu bò thì kẻ vẽ “Bác” không giống tâm-sự “Bác”. Thì bị giới-thiệu cũng là một cưỡng-bức đi, ngồi vẽ “Bác” vẫn nhàn, bao-tử đỡ đói hơn bao-tử bổ củi, vác gạo. Đỡ đói hơn “anh em” mà “ăn cắp khoai mì, ăn vụng thịt dưới nhà bếp, ăn tranh phần khoai và cơm cháy của heo vân vân…” , tôi nghĩ đây là thành-tích rực-rỡ nhất xứng-đáng ghi đậm nét trong L’Arbre de vie của gia-đình ông nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp”. Thời-đại của chúng ta rất ly kỳ. Rõ đúng…đổi đời. Những thằng mạt rệp tự nhận mình ăn cắp, ăn vụng, ăn tranh phần súc-vật, vẫn trơ-trẽn phỉ-báng người khác những tội mơ-hồ, bịa đặt. Cái trường-hợp no mà vẫn ăn cắp, ăn vụng chính là biểu-tượng của đám quốc-gia bẩn vậy.
Google photos
Đã biết cái thủ thuật cộng-sản đánh vào bao tử tù-nhân làm cho tù-nhân khốn-khổ và hèn-hạ vì miếng ăn, nên biết thêm cái thủ-thuật cộng-sản đánh vào đầu óc khiến tù-nhân tê-liệt tư-tưởng rồi biến thành âm-binh cho phù-thủy sai phái. Bí-kíp nằm giữa thủ-thuật này là phê-bình và tự phê-bình. Một học-giả Trung Hoa nói: “Kẻ sĩ một ngày không đọc sách thánh-hiền, soi gương thấy mình xấu-hổ”. Hồ chủ-tịch vĩ-đại nói: “Một ngày không tự phê-bình, soi gương thấy mình chưa rửa mặt”. Hồ Chí Minh có tài đạo văn. Bác Hồ rất nhiều tài, tài nào cũng có thể suy tôn, vì khó kiểm-chứng. Riêng tài đạo văn, Bác bị lòi tẩy . Bác cứ thuổng tư-tưởng của thiên hạ, “sáng-tạo” ra cái của Bác. Trong Lời khuyên học trò, Nguyễn Bá Học viết: “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông”. Bác vi-vút lời Bác “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền thôi. Đào núi và lấp biển là khó mà quyết-chí thì cũng làm nên”. Bác thuổng lu-bù…Câu thuổng xây-dựng nên tư-tưởng Hồ Chí Minh về cái “dịch-vụ” phê-bình và tự phê-bình đã phá vỡ sự gần-gũi, sự thân-thiết dân-tộc. Nó là thủ-đoạn chia tình người đề quản-lý con người, xẻ tâm-hồn con người để kiểm-soát linh-hồn con người. Nó phát-triển mạnh-mẽ từ sau 1956, khi cộng-sản Hà nội đã đưa nông-dân vào Nông-hội, Hợp-tác-xã. Từ đây, nông-dân được giao quyền làm chủ tập-thể dưới quyền điều-hành của bọn đảng-viên Chủ-nhiệm, Bí-thư Nông-hội, Hợp-tác-xã. Nông-dân bận-bịu họp-hành, bình-bầu xã-viên xuất-sắc, phê-bình xã-viên thiếu tích-cực và tự phê-bình mình. Vân vân. Nông-dân vốn hiền lành, ghét họp-hành và tối-kỵ phê-bình họ-hàng, láng-giềng, chòm-xóm công-khai. Những buổi họp đầu tiên không được khuyến-khích phê-bình và tự phê-bình. Dần dần, phê-bình và tự phê-bình được khuyến-khích. Rồi lời Hồ chủ-tịch đem ra học tập. Rồi Chủ-nhiệm Hợp-tác-xã chủ-trì các buổi họp phê-bình các buổi họp thiểu phẩm-chất. Vì thiếu phê-bình và tự phê-bình. Người ta cố kéo dài phiên họp đến nửa đêm. Nông-dân ngáp vặt. Nông-dân thèm về ngủ mai sớm còn thay trâu kéo cầy “xây-dựng tổ-quốc”. Bắt đầu tự phê-bình những khuyết-điểm lặt-vặt vô-tội-vạ. Cộng-sản rất kiên-trì trong công-tác “giáo-dục” nhân-dân. Cái lặt-vặt sơ-hở sẽ là cái rắc-rối cuối đường. Nông-dân “làm quen” với phê-bình. Từ làm quen thành thói quen. Thói quen dễ-dãi: Phê-bình cho xong chuyện, cho chóng giải-tán buổi họp về ngủ. Vậy thì nông-dân phê-bình lẫn nhau những chuyện đến muộn vài phút, nghỉ sớm vài phút, bệnh nhẹ không khắc phục, không chấm công công-bình, không tích-cực bảo-vệ tài-sản tập-tục… Nông-dân lại “com bin” với nhau. Tôi phê-bình bác như thế này, bác phê-bình tôi như thế này. Cho xong chuyện. Cộng-sản nó nghiên-cứu kỹ-lưỡng, nó phá chiến-thuật phê-bình của nông-dân. Thủ đoạn cầy-cáo của cộng-sản là rỉ tai, xuyên-tạc, gây thù-hận. Cộng-sản: – Bác thân với bác A lắm nhỉ? Nông-dân B: – Thân lắm. Cộng-sản: – Tôi không tin. Nông-dân B: – Đồng-chí không tin cái gì? Cộng-sản: – Bác A nói với tôi rằng bác cứ hậm-hực cái ao cá của bác bị vào Hợp-tác-xã. Nông-dân B: – Tôi nói với ai bao giờ? Cộng-sản: – Tôi không nghĩ bác nói đâu. Bác tiến-bộ, xã-viên lý-tưởng. Nhưng ở đời nó có hai chữ ai ngờ, bác ạ! Cộng-sản đến thăm nông-dân B, bỏ nhỏ tí ti rồi về. Thay vì đi tìm sự thật ở nông-dân A, nông-dân B nghiến răng thề sẽ “chơi” nông-dân A một vố. Cộng-sản tạo cơ-hội để nông-dân B thấy rõ nông-dân A hay gặp riêng đồng-chí Chủ-nhiệm. Vậy là buổi họp, nông-dân B phê-bình nông-dân A theo cung cách…tố cáo. Bao nhiêu lời tâm sự uất ức Đảng của nông-dân A được khai vanh vách. Phê-bình thành tố cáo. Tố-cáo thành phong-trào. Cộng-sản biết hết thâm ý của nông-dân mà cai-trị. Nông-dân thù ghét nhau, sợ hãi nhau, không dám gần-gũi nhau tâm-sự thân-mật. Nhà nào nhà nấy đóng cửa. Gặp nhau ở Hợp-tác-xã thôi. Mọi người đề-phòng lẫn nhau. Thủ-đoạn cộng-sản trả lời câu hỏi tại sao không có cuộc nổi dậy nào của nông-dân miền Bắc. Phê bình và tự phê-bình vào quân-đội, vào công-an, vào khắp các cơ-quan, các ngành. Vào nhà máy, bắt buộc. Vào cả đoàn-thể nhi-đồng. Vào nhà tù và trại lao-cải thì tinh-vi hơn. “Ăng-ten” nằm ở biên-bản các buổi họp của đội cuối tuần, ở tự kiểm. . . “Ăng-ten” ở sự tố-cáo lẫn nhau bởi thủ-thuật chia rẽ, gây thù-hận của cai tù. Một thí dụ điển-hình nhất cho tất cả các trại lao-cải: Tù-nhân X là người có địa-vị xã-hội, có uy-tín ở xã-hội cũ, có uy-tín trong đội, trong trại được các tù-nhân yêu mến và coi như lãnh-đạo tinh-thần của tù-nhân. Phải hạ gục tù-nhân X. Dễ-dàng lắm. Cả đội đang cuốc đất dưới nắng chang-chang, mồ-hôi tầm-tã, thầy quản-giáo ra bãi gọi tù-nhân X vào nhà lô 1). Nội-dung cuộc “làm việc” giữa quản-giáo và tù-nhân X sẽ như thế này: Quản-giáo: – Anh cải-tạo mấy năm rồi,anh X? Tù-nhân X: – Thưa cán-bộ, 5 năm. Quản-giáo:
– Năm năm thì cũng sắp về rồi đấy. Tù-nhân X: – Tôi hy-vọng thế. Quản-giáo: – Vợ con anh thăm gặp anh đều chứ? Tù-nhân X: – Thưa cán-bộ, đều. Quản-giáo: -Anh cần gửi thêm thư cho gia-đình không? Tù-nhân X: – Cám ơn cán-bộ, một tháng một lần đủ rồi. Quản-giáo: – Anh nhận-xét về đội ra sao? Tù-nhân X: – Tất cả tích cực lao-động, cải-tạo tư-tưởng tốt. Quản-giáo: – Không hơn thế đâu. Chuyện sang vụ thu-hoạch sắp tới. Rồi làm gì, nghĩ gì khi về sum-họp gia-đình. Rồi uống nước rễ tranh, hút thuốc lào. Quản-giáo kéo dài giờ giải-lao của tù-nhân X. Khi tù-nhân X trở lại bãi, anh em xúm lại hỏi. Tù-nhân X tường-thuật trung-thực cuộc mạn-đàm. Anh em tin. Hôm sau xẩy ra như vậy. Anh em tin. Hôm sau nữa cũng vậy. Anh em vẫn tin. Rồi mạn-đàm hoài, anh em “lạ quá”. Từ lạ quá đến ngờ vực. Cho đến một hôm, buổi sáng tù-nhân X mạn-đàm với quản-giáo thì buổi chiều tù-nhân Y được gọi sỉ-vả và bị kỷ-luật. Quản-giáo tập họp đội, tuyên-bố quyết-định kỷ-luật tù-nhân Y thòng thêm câu: – Cán-bộ có bị che mắt, còn mắt khác nhìn giúp. Tù-nhân X trở thành nạn-nhân của quản-giáo, của trò chơi triệt-hạ uy-tín cá-nhân. Ông bị gán ghép tội “Ăng-ten”. Đội khinh-bỉ ông. Trại khinh-bỉ ông. Tiếng xấu lan đi khi có tù-nhân chuyển trại. Đây chỉ một thí-dụ điển-hình. Còn hàng trăm thủ-đoạn tạo ngờ-vực, thù-hận giữa các tù-nhân, chủ-đích làm các tù-nhân không thể hội họp, bàn-tán âm-mưu chống đối và trốn trại. Ngu-xuẩn nhất vẫn là kẻ tin vào lời cai tù rỉ tai tù về chuyện tù-nhân khác. Mà kẻ tin lời cai tù lại thêu dệt thêm giúp cai tù. Và không còn là một kẻ. Mà đa-số mê sảng trong thủ-thuật cộng-sản. Trong tù mê sảng chưa đủ, ngoài tù cũng mê sảng. Mê sảng cả ở hải-ngoại. Rốt cuộc, con người tù-nhân cộng-sản ngoài nỗi khổ, nỗi hèn vì roi gạo quất vào bao-tử, còn thêm nỗi khổ, nỗi hèn vì roi phê-bình, tự phê-bình và tin đồn phun ra thì lưỡi rắn quất vào đầu óc, vào trái tim, vào thân-phận. Đau-đớn cả thể-xác lẫn linh-hồn mà, ngay cả tù-nhân, đa-số vẫn chẳng khôn lớn tí nào. Roi gạo và roi phê-bình cộng với lao-động quần-quật, với vô-vọng ngày tha của án phạt đê-tiện Tập-Trung Cải-Tạo, tù-nhân tê-liệt tư-tưởng, rã-rượi thể-xác. Cộng-sản chỉ muốn giáo-dục con người trở thành con người khiếp-nhược, cam đành và gian-dối. Bởi thế,tù-nhân lao-cải khi được thả ra thì sợ-hãi tất cả. Trại lao-cải là cơn ác-mộng ám-ảnh thường xuyên. Có người đã trốn thoát ra ngoại-quốc vẫn ngẩn-ngơ như bị hớp hồn. Có người hấp-thụ nền giáo-dục gian-dối, mở miệng là phì nọc điêu-ngoa. Nhiều người học tập thụ-hưởng vật-chất đề quên học tập cải-tạo. Cộng-sản đã thành-công rực-rỡ với chính-sách học tập cải-tạo của họ. Hình như, chúng ta và tế-giới còn rất mù-mờ về sự thành-công chó đẻ này. Tháng 6, trời nắng bạo, rau xanh cần tưới nước. Tôi phải gánh nước oằn vai. Đức-méo kéo xe cải-tiến lấy cát ở đoạn sông khu vườn rau của tôi, thấy tôi cởi trần gánh nước, đã chớp mắt thương-hại. Tôi đã cười nhìn Đức-méo, ông Phó-quận hành-chính Xuyên Mộc cũ. Tôi rất tự-hào tôi gánh nước giỏi, gánh đủ 100 đôi một ngày mà mỗi đôi, quản-giáo Vinh đều gạch dấu trong cuốn sổ kiểm-soát của hắn. Tôi tự-hào vì cáì gì cộng-sản làm được, tôi làm được; cái gì tôi làm được, Cộng-sản không làrn được. Và bất cứ cái gì đã gọi là công việc, tôi đều làm đến nơi đến chốn, làm hay và làm giỏi hơn người khác. Tôi sẽ hãnh-diện nếu ai bảo tôi gánh nước biểu-diễn ở Paris hay ở California.
Gánh nước được hơn một tháng, tôi bị chuyển sang Tổ phân tiểu như một Tổ trừng-giới và có biệt-danh Long-ếch-mù. Quản-giáo Vinh yêu cầu tôi “ủng hộ” cái gà-mèn Mỹ đã bị tịch-thu quai đề hắn sai anh Nại làm plaque gửi về Bắc tặng đào, tôi từ chối. Ông thầy ghét tôi sẵn càng ghét thêm. Anh Mẫm ở đội tôi là người vừa ngọng vừa khù-khờ. Buổi chiều gánh nước ở cái vũng chứa nước nhà bếp cán-bộ chảy ra, Mẫm vồ được con ếch. Mẫm khoe ầm-ỹ. Tôi cao hứng hỏi: – Con ếch có mù không? – Không. – Tưởng nó mù chú mày mới vồ được chứ. Quản-giáo Vinh gọi tôi tới “làm việc”: – Anh Nong, anh vi phạm kỷ nuật. Tôi cãi: – Tôi làm gì đâu? – Anh ám chỉ ai mù, cách-mạng mù à? – Cán-bộ đừng nâng cao quan-điểm. – Cách-mạng không mù, cán-bộ mù à? – Tôi chỉ hỏi xem con ếch có mù. – Con ếch không mù. Anh mù. Anh nà hình-nhân được gắn hai con mắt giả. – Vâng, con ếch không mù. – Anh phải nhận anh mù. – Tôi mù, cũng được. Tôi mù, tôi không nhìn thấy gì cả. – Náo. Anh nhìn thấy một thứ. – Cán-bộ muốn tôi nhìn thấy cái gì? – Anh nói đi, tự-giác nói đi! – Tôi nhìn thấy sự sáng-suốt của cách-mạng. – Nại xỏ-xiên. Anh phải nhìn rõ bản-chất phản-động cộng nưu- manh của anh và đồng bọn. Mai anh phục-vụ Tổ phân tiểu. Rõ chưa? – Rõ. Đội gọi tôi tên mới: Long-ếch-mù. Vui thật. Tổ phân tiểu của tôi gồm 6 người. Đặng Hoàng Hà (không vồ đủ chỉ-tiêu cào-cào nuôi chích-chòe), Phạm Kim Sơn (dám nói không trốn trại mà ra về đường-đường chính-chính), Nguyễn Sắc (dám nói ông thầy không có kinh-nghiệm trồng mướp), Nguyễn văn Lợi (dám từ-chối leo cây cao bắt tổ chim cho ông thầy), Trần văn Tư (dám hát “đi trồng rau nhớ thăm nuôi xà bông”) và tôi (dám bảo con ếch mù). Tổ phân tiểu của tôi có nhiệm-vụ cung-cấp phân và nước tiểu cho hai Tổ bón rau và Tưới rau. Cầu-tiêu cơ-quan, nơi dành riêng cho Ban giám-thị và cán-bộ đi cầu, nằm trong khu-vực vườn rau của tôi. Thầy quản-giáo Vinh giáo-dục tù-nhân rằng: “Hễ Ban giám-thị ngang qua. Đội trưởng phải hô nghiêm, báo-cáo quân-số. Mọi người đang và nàm gì thì vất bỏ, đứng nghiêm”. Đội trưởng cứ nhìn anh Việt cộng nào già là. . . cho làm Ban giám-thị. Xẩy ra một hôm, có anh Việt cộng già ngoài khu A vô chơi. Anh này Ban giám-thị thật. Anh đi ngang qua vườn rau. Đội trưởng Trạng hét bự: – Nghiêm! Ban giám-thị giật mình. – Báo-cáo Ban giám-thị. Đội 17 rau xanh… Ban giám-thị vẫy tay: – Thôi, đi ỉa miễn báo-cáo! Lại một hôm, có anh Việt cộng trung niên qua vườn rau, Đội trưởng không hô nghiêm và báo-cáo. Không sao cả. Hôm khác, tưởng bở, Đội trưởng lờ tít một anh Ban giám-thị. Bị dũa. Từ đó, Việt cộng cỡ 30 tuổi đi ỉa, Đội trưởng Trạng đều phong chức Ban giám-thị, hô nghiêm và báo cáo. Như vậy chắc ăn, phản-ánh đúng tinh-thần “giết oan hơn tha lầm” của Đảng. Chuyện này gợi nhớ anh hề Văn Chung. Trong các hề Việt Nam, tôi khoái nhất hề Văn Chung. Anh ta đóng vai hàn-sĩ nhà quê lên kinh-đô chờ lọt mắt xanh của vương-tôn công-tử. Bạn anh ta dặn cứ ngồi góc phố, gặp ai đi qua có quân lính hộ-vệ thì “vạn-tuế thiên-tử”. Có vị nguyên-soái ngang qua, anh hàn-sĩ tung hô: – Vạn-tuế thiên-tử!
Bị đá đít và nhắc nhở: – Tao là nguyên-soái, mày muốn tao đảo-chính vua à? Vị thái-tử đi qua, anh hàn-sĩ tung hô: – Vạn-tuế nguyên-soái.! Bị bợp tai và nhắc nhở: – Tao là vua con, sắp là vua cha, mày muốn cách chức tao à? Từ đó, bất cứ anh nào ngang qua, hàn-sĩ đều nhẩy lòng-vòng, miệng tung hô…trung-lập: – Vạn-tuế anh nào đi qua đếch biết! Vạn-tuế anh nào đi qua đếch biết! Ngày mới vào Sa Ác A, Đằng Giao đã vẽ một giấc mơ đổ thùng. Bây giờ, hơn cả đổ thùng mỗi hôm một tiếng nhàn-hạ, thảnh-thơi, tôi phải xuống hầm phân múc phân đầy xô xách lên. Tôi không được hân-hạnh đổ thùng quét rửa cầu-tiêu. Công việc “cao quý” này của Tổ vệ-sinh trại. Sa Ác B không tin tù chính-trị. Trật-tự là tù hình-sự; Thông-tin văn-hóa là tù hình-sự. Thăm gặp là tù hình-sự. Vệ-sinh, cấp-dưỡng là tù hình-sự. Lâm-sản là tù hình-sự. . . Cảm giác đầu tiên của tôi khi xuống hầm phân nhung-nhúc hàng tỉ con ròi, tôi đã ghi lại trong tiểu thuyết Đồi Fanta, nhân-vật chính là thằng nhãi bị đầy-đọa như tôi. “Tôi đang xuống hầm phân thối um và hàng tỉ con ròi bò lúc-nhúc ghê gớm. Tôi muốn ói. Nhưng cố nín. Rồi cũng phải ói. Tôi không kịp bước lên, ói tại chỗ, ói trên những con ròi, ói trên lớp phân có mùi thối không tên gọi, không so-sánh. Tôi ói hết phần sắn điểm-tâm, ói đền phần sắn chiều qua chưa kịp tiêu hóa, ói ra mật xanh, ói ra mật vàng, ói toàn nước bọt, ói khan quặn bụng. Thằng nhãi khiêng chung xô phân với tôi dục nhắng. Nó sợ chậm-chạp cán-bộ đinh nó. Nó vục xô thứ nhất, tôi và nó khiêng. Nó cho tôi đi trước cầm đầu khúc cây dài. Chuyến thứ hai, thấy tôi vẫn ói khan, nó bảo để nó vục. Tôi cám ơn nó, tự tay cầm xô vục. Bắt chước nó, tôi đưa hai tay xuống phân dưới hầm lùa vào cho đầy xô. Những con ròi bò bên cánh tay tôi . Tôi ngẩng mặt nhìn lên. Mặt trời nhìn tôi … Thằng Tổ trưởng nói đúng. “Xuống hầm vài lần là quen, hết sợ hãi”. Tôi muốn nói: Đã đến cái nước xuống hầm phân nhung nhúc ròi vục cả phân lẫn ròi bằng tay thì trên đời không có gì đáng sợ nữa, thì sẽ dám làm bất cứ việc gì. Tổ phân khen tôi xứng đáng dân xiện. Chúng nó bầy tôi rửa tay sạch rồi lấy lá cải chà nát thay xà-phòng. Quả nhiên mùi hôi bay biến. Tuy thế, buổi trưa tôi không ăn nổi, nghĩ tới hầm phân. Tôi nổi da gà”… Có lẽ, tôi hạnh phúc hơn thẳng nhãi nhân-vật Đồi Fanta. Là, tôi có xà-phòng rửa sạch tay trước khi chà lá cải, lá húng chó. Sự chấp nhận xuống hầm phân của tôi được giải-thích trong Sỏi đá ngậm ngùi. “Bây giờ, hầm đã cạn, không thể đứng trên bờ ròng cái xô xuống múc mà kéo lên. Do đó, đội trưởng Jacqueline đã cho làm cái đường thang thoai-thoải xuống hầm. Nhưng lom-khom trên bực thang đất dễ té nhào nên tù-nhân đành phải lội hẳn xuống phân bầy-nhầy, hôi thối, hàng tỉ con ròi, vục xô múc đầy để bên trên kéo lên. Tôi đứng sát miệng hầm, nhìn xuống. Sự ưu-việt của chủ-nghĩa cộng-sản ở dưới ấy. Đầy-đọa con người tới mức đó là hết. Chị Jacqueline hỏi tôi: – Liệu chị kham nổi không? – Tôi cố gắng. Tôi đáp. – Nếu không kham nổi, cứ ỳ ra. Nó kỷ-luật mình tống vô cachot còn sướng, khỏi lao-động. – Tôi kham nổi. Chị Thanh cũng chạy lại, khuyên tôi: – Chị không xuống hầm phân nó cũng không dám giết chị đâu. Chúng tôi đều chê hầm phân. Để bọn ngu sợ-hãi. Chúng tưởng lao-động tích-cực thì sớm được tha. Còn lâu. Tôi nói: – Nó hỏi tôi trí-thức làm được những việc gì. Tôi trả lời trí-thức làm được tất cả. Tôi cần chứng-tỏ với chúng nó rằng, việc của chúng nó, người trí-thức làm được còn việc của trí-thức, chúng nó không làm được. Tôi còn muốn chứng-tỏ với chị và với chính bản thân tôi. Chị Thanh lắc đầu: – Chị khó hiểu nhưng tôi yêu chị. Tôi cầm tay chị Thanh: – Đừng ví tôi với bọn ngu chỉ biết sợ hãi và ham được tha, chị nhé! Tôi tích-cực làm việc vì đó là công việc. Công việc đó đem lại kết quả gì, không cần đếm xỉa. Tôi tập làm việc nào đến nơi đến chốn việc đó…” Công việc xuống hầm vục phân đem lên ngào chung với tro và mạt cưa bón rau như vậy. Còn vào các cầu-tiêu của trại gánh nước tiểu thì nhẹ-nhàng, tuy mùi khai xông lên làm cay xè mắt. Tôi đã xuống hầm phân, gánh nước tiểu “nguyên chất” liên tiếp hai tháng.
Chưa có gì mới lạ ở Sa Ác B. Ăn Tết xong là đã bước sang năm 1979. Đội xây cất đã hoàn-thành ba căn nhà. Và tù hình-sự đổ đến 200 mạng, trong số đó có Nguyễn Đăng Viên, anh ruột nhà văn Mai Thảo. Trại nhộn-nhịp hẳn lên. Thêm các đội phát quang, nông-nghiệp. Đội 17 rau xanh đã lên một số luống, bắt đầu gieo hạt rau cải củ. Mầm chưa kịp nhú thì thầy Để chuyển công-tác giao cho thầy Vinh, một ông nhóc 21 tuổi, ngọng líu lưỡi và quan-trọng hoá mọi việc. Thầy Để ít soi-mói đội. Giao việc xong, thầy đi chơi hay đi ngủ. Thầy Vinh nhòm ngó từng tù-nhân. Trại nổi lên phong-trào chơi dao găm. Mỗi thầy một con dao. Bèn có màn gà-men inốc Mỹ bị tịch-thu cái cán cầm. Cán này sẽ làm lưỡi dao găm. Bắt buộc phải giữ lại ba chữ USA. Đội của tôi, anh Nại được thầy Vinh chiếu-cố “sáng-chế” một con dao găm. Thầy Vinh “lạc-quyên” lon guigoz của tù-nhân nào có hai lon. Để đúc cái chuôi dao. Con dao của thầy Vinh vừa xong thì Trung-quốc xua quân xâm-lăng Việt Nam. Chiến-trận do Đài Hà-nội tường-thuật được phát-thanh mỗi tối cho tù-nhân theo dõi. Tù-nhân Việt gốc Hoa bị gom chung thành một đội riêng và bi canh-chừng nghiêm-mật. Chiến-tranh biên-giới Hoa – Việt tạo ra hai phe nhóm chống đối suýt đập lộn giữa các tù-nhân chính-trị ham bầy tỏ quan-điểm. Một phe hí-hửng câu tuyên-bố xấc-xược “Dạy Việt Nam một bài học” của Đặng Tiểu Bình. Phe này hy-vọng chứa-chan câu nói xấc-xược thứ hai “Ăn điểm-tâm ở Hà-nội, ăn trưa ở Huế và ăn tối ở Sàigòn”, vẫn của Đặng Tiểu Bình. Người ta chờ Đặng Tiều Bình giải-phóng các trại tập-trung. Phe thứ hai không tin Trung-quốc dám tiến sâu xuống lãnh-thổ Việt Nam. Phe này dứt-khoát lập-trường, nếu Tầu xâm-lăng Việt Nam, họ sẽ đứng chung với Việt cộng đánh kẻ thù truyền-kiếp của dân-tộc. Tôi đồng quan-điểm phe thứ hai. Nhưng cả hai phe đều nín thinh khi chính-ủy của trại cảnh cáo: – Bọn Trung-quốc cách các anh 500 thước, chúng tôi sẽ tiêu-diệt các anh toàn bộ. Các anh đừng hòng có cơ-hội chào đón chúng nó. Đặng Tiểu Bình chỉ nói phét. Quân Trung-quốc ôm đầu máu chạy về. Nhiều tù-nhân thất-vọng. Càng thất-vọng hơn với khẩu-hiệu “Đem thù-hận vào sản-xuất”. Chúng tôi phải lao-động thêm giờ, lao-động cả chủ-nhật. Ngày chủ-nhật lao-động gọi là ngày xã-hội chủ-nghĩa. Trại phát-động thi đua…khổ-sai lao-động giữa các đội. Tù-nhân làm hộc máu mồm. 9 tiếng đồng-hồ quần-quật một ngày đổi lấy hai ca bo-bo và dúm muối cục. Ông chủ cộng-sản bóc lột công-nhân tàn-bạo gấp triệu lần ông chủ tư-bản. Mỗi tù-nhân, tính đủ mọi khoản, một tháng nhà nước cộng-sản tốn có 11 đồng 5 hào! Cứ coi ngày lao-động trong tháng là 8 tiếng, nghỉ 4 chủ- nhật thì 11 đồng 5 hào chia cho 208 giờ không ai dám ghi con số thành. Đặng Tiểu Bình đúng là thằng chọc phân chẳng nên lổ, khiến tù-nhân bị…thi-đua lao-động! Không còn gì thê-thảm bằng tù-nhân khổ-sai lao-động trong quỹ-đạo cộng-sản. Đã là tù, bị cưỡng-bức làm việc còn bị thi-đua…ăn giải. Lại còn phải họp-hành, bình-bầu cá-nhân xuất-sắc, bình-bầu mức ăn. Có ba tiêu-chuẩn ăn
18 ký-lô thực-phẩm một tháng cho một tù-nhân xuất-sắc
15 ký-lô cho một tù-nhân trung-bình.
13 ký-lô 50 cho một tù-nhân lao-động kém.
Một đội có 4 tù-nhân được ăn tiêu chuẩn 18 ký lô. Một tù-nhân ăn 18 ký thì 2 tù-nhân bị ăn 13 ký 50. Tù-nhân xuất-sắc ăn bớt phần của tù-nhân kém. Bình quân, mỗi tù nhân 15 ký. Sự ghét bỏ nhau, khích-bác nhau, thù ghét nhau, tố-cáo nhau do ba tiêu-chuẩn ăn này. Xin giới -thiệu một cảnh bình-bầu mức ăn ở đội của tôi. – Tôi, Phạm Kim Sơn, tháng này tôi tự thấy tôi lao-động tích-cực, an-tâm cải-tạo, không hề có tư-tưởng trốn trại. Vậy tôi xin ăn mức 15 ký. – Tôi, Đặng Hoàng Hà, lao-động tốt, tư-tưởng tốt. Tháng này tôi xin ăn mức 15 ký. Vân vân…Cả đội lần-lượt phát-biểu câu tương-tự và cho xin ăn mức trung bình. Tôi nghĩ các đội ở các trại từ miền Bắc vào miền Nam đều giống đội tôi. Sổ bình-bầu mức ăn đưa cho quản-giáo. Ông thầy chê bình-bầu thiếu chất lượng. Ông thầy bắt họp tại bãi. Kết-quả vẫn thế, vì không ai xin ăn 18 ký cả. Thầy Vinh cáu tiết chỉ-định 4 tù-nhân hưởng tiêu-chuẩn 18 ký. Thầy chọn luôn 8 tù-nhân thầy ghét, cho ăn 13 ký 50. Từ đó, quản-giáo định mức ăn. Đội có ba thau bo-bo. Thau 18 ký. Thau 15 ký. Thau 13 ký 50. Chia rẽ khởi-sự từ miếng bo bo. Thoạt đầu, đội của tôi đồng-ý chia phần bo-bo đồng đều. Mọi người vui vẻ. Quản-giáo Vinh lộn- xộn, đột-xuất thăm đội lúc chia bo-bo. Ông thầy dũa tôi và bắt chia riêng theo đúng mức ông thầy đã quyết-định. Rõ ràng, không ai thích ăn 18 ký. Bị ăn thì sớt trả người 13 ký 50. Nhưng 18 ký là bị chửi. Đội trưởng cắt việc, anh em nhao-nhao “sai thằng xuất-sắc 18 ký làm đi”. Thằng 18 ký dần-dần bị cách-ly, bị coi là chân tay của quản-giáo, bị gán tội “ăng ten”! Nó bực, nó chửi lại. Đấm đá. Ra tòa án…trực trại. Lý do đấm đá? Những thằng sỉ-nhục nó làm “ăng ten” bị kỷ-luật. 18 ký càng bị chửi thêm. Nó tức quá, làm “ăng ten” luôn. Gọi là tù chính-trị, thực ra kiến-thức và tư-cách của đa-số tù chính-trị ở các trại cải-tạo thua bọn trộm cắp. Thủ-đoạn vặt của cộng-sản mà cũng sa bẫy để thù hận nhau. Phải sống chung với bọn này, thật xấu hổ. Tháng 3-1979, Sa Ác B nhận thêm 2 đội cảnh-sát đặc-biệt và 5 đội chính-trị khu A vào. Tôi gặp lại Dương Đức Dũng. Người mới đối với tôi là Phạm Long, em của Phạm Huấn, Phạm Hậu, Đậu Phi Lục, báo Chính Luận, Bùi Hoàng Thư, tác giả tiểu thuyết Nàng, Trần Thanh Liêm, không quân vân vân… Chúng tôi đổi nhà, không ở với Đội 3 rau xanh nữa. Tuy không ăn chung với anh Nguyễn Mạnh Côn, chiều nào chúng tôi cũng biếu anh bát mì hay bát hủ-tíu nấu tôm khô. Tôi nấu bếp. Đằng Giao nhóm bếp và bưng đồ. Chúng tôi thổi cơm ăn buổi tối. Có Dương Đức Dũng, Đỗ Ngọc Quỳnh, chúng tôi họp thành tổ ăn bốn người. Mưa to cách mấy, chúng tôi vẫn có nồi cơm, nồi canh. Tôi nấu hai bếp, Đằng Giao, Dũng và Quỳnh căng ni-lông che mưa. Anh Côn được miễn lao-động từ Tết. Ngày 2-4-1979, bất thần, anh cao-hứng đi lao-động. Đằng Giao có giác quan thứ sáu. Anh ta nói nhỏ: – Sắp nổ lớn. Tôi cười: – Ở nhà buồn, anh ấy đi cho khuây khỏa. Nổ lớn thật. Các đội tập họp chờ báo-cáo xuất trại. Trực trại vừa mở sổ, anh Côn đứng dậy: – Báo-cáo cán-bộ, tôi Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt ngày 2-4-1976. Hôm nay là 2-4-1979 vừa đủ 3 năm học-tập cải-tạo đúng chỉ-tiêu Đảng đề ra, tôi xin gặp Ban giám-thị lấy giấy trại về sum-họp gia-đình. Trực trại Hưng trả lời: – Anh Côn ở nhà gặp Ban giám-thị. Các đội đi lao-động. Đội 21! Đằng Giao báo-cáo quân-số rồi xuất trại. Không biết chuyện gì sẽ xẩy ra cho tác giả Cộng sản là gì? Ngoài hiện-trường lao-động tôi phải tiếp sức anh em gánh nước tưới…..cứu rau. Lứa rau cải đầu tiên của đội tôi bị rầy tàn-phá. Thay vì nhổ mẹ nó hết đi, phát cho tù cải-thiện bữa ăn, thầy Vinh bắt cả đội. . . cứu rau. Rầy nó không sợ kiểm-điểm, không sợ kỷ-luật thì sợ gì nước sông Ray. Nhưng vẫn gánh nước tưới tối-đa. Tôi mệt phờ quên anh Côn. Buổi trưa, đội về, anh Côn đã có mặt ở nhà. Anh có vẻ buồn-bã. Anh không nhận phần cơm trưa. Đằng Giao: – Anh không ăn, anh có cho người nào không? Anh Côn:
– Không ăn, không cho là quyền của tôi. Đằng Giao: – Anh không thương em tí nào cả. Anh Côn: – Cậu bảo nhà bếp tôi trả lại phần cơm. Đằng Giao: – Vâng. Anh Nguyễn Mạnh Côn là người thông-minh, đọc nhiều, hiểu rộng. Cái kiến-thức uyên-bác về cộng-sản của anh đã không giúp anh điều gì khi anh đương đầu với bọn chăn trâu cắt cỏ. Anh đã sáng-suốt nhờ thuốc phiện và anh đã u-tối vì thuốc phiện. Thiếu thuốc phiện, anh Côn như xe cạn xăng. Đầu óc anh tê-liệt. Anh nói toàn chuyện nhảm, nghĩ toàn điều nhảm. Buổi chiều lao-động về, chúng tôi thấy anh bị nhốt riêng ở căn nhà cuối dẫy đối diện căn nhà của chúng tôi. Căn nhà này vừa xây cất xong, chưa nhốt tù-nhân. Anh cởi trần, mặc quần dài xắn cao, bám chấn song cửa sổ nhìn ra ngoài. Trong hoàng-hôn vàng vọt của Sa Ác, hình ảnh anh cơ-hồ một vạt nắng sắp lóe bừng soi sáng một định-nghĩa nào đó. Chúng tôi nhìn anh, cùng chung một ý-nghĩ: – Anh Côn, chúng em sẽ nhận tội sai lầm phán xét anh vội-vã. Với chúng em, anh là hôm nay. Dĩ-vãng anh, tương-lai anh, cái vừa qua của anh là hôm nay. Anh sẽ chết thật đẹp. Anh dám chết thật đẹp. Anh là đại-thụ, tất cả là cỏ hèn. Hôm sau, chủ-nhật chúng tôi nằm nhà. Anh Côn chỉ bám chấn song cửa sổ vào buổi chiều. Lúc ấy, tôi thấy anh lừng-lững Đem tâm-tình viết lịch-sử, Ký hoa tử, Mối tình mầu hoa đào, Lạc đường vào lịch-sử…. Buổi trưa ngày thứ hai anh Côn tuyệt-thực, trật-tự-viên Hoa-nẫu vào Nhà chúng tôi bi-bô: – Tưởng tuyệt thực lâu, vừa cúp nước uống đã xin ăn. Xin ăn thì phải làm đơn đàng-hoàng, viết lạ đời: Tôi xin ăn ăn ăn ăn ăn ăn ăn..! Trật-tự Hoa-nẫu còn nói nhiều điều xấu về diễn-biến tuyệt-thực của anh Côn. Chúng tôi không tin nó. Và khẳng-định nó là “phát-ngôn-viên” của Ban giám-thị. Buổi trưa thứ ba Hoa-nẫu hân-hoan loan tin khắp trại: – Nguyễn Mạnh Côn làm đơn xin ăn nghiêm-chỉnh rồi! Chúng tôi vẫn không tin. Nhưng mà anh Côn làm đơn xin ăn thật. Anh được đưa về nhà cũ, sống với chúng tôi, miễn lao-động song phải “làm việc” đều đều với Ban giám-thị. Cho đến một buổi sáng, Anh Côn bị đưa qua một Nhà chỉ có các đội hình-sự. Tù-nhân trong Nhà bị cấm liên-hệ với anh. Sa Ác B chưa có cachot, cũng chưa có hầm nhốt người vi-phạm kỷ-luật.
Tháng 4-1979, tù-nhân chính-trị ở trại Long Thành vào Sa Ác B. Thành-phần này gồm các vị Phó quận-trưởng hành-chánh, Chánh-sự-vụ, Chủ-sự, Giám-đốc xuất thân từ Viện quốc-gia hành-chánh, Thẩm-phán, Dự-thẩm, Nghị-viên, Dân-biểu… Tất cả đều may-mắn không bị ra Bắc. Chủ-tịch Hạ-viện Nguyễn Bá Lương, nghị-viên Nguyễn Thanh Liêm có mặt. Bác-sĩ Hạnh của Viện Pasteur, bác-sĩ Nguyễn Ngọc Tùng, Trưởng-ty Y-tế Phú Yên kiêm Chủ-tịch Đảng Dân-chủ Nguyễn văn Thiệu có mặt. Thẩm-phán Đào Minh Lượng, thẩm-phán Hương (tòa-án Gia Định rồi Biên Hoà) có mặt. Các chuyên-viên, cố-vấn Phủ tổng-thống có mặt. Nhóm Long Thành được biên-chế thành hai đội: Đội rau xanh và Đội vận-chuyển. Đức méo nằm trong Đội vận-chuyển (nhờ vậy sang Mỹ chàng lái xe vận-tải xuyên bang). Đội vận-chuyển có 10 người. Đội rau xanh trên 50 người. Một số Long Thành nhập các đội cũ của trại. Đằng Giao nhận Đào Minh Lượng, Nguyễn Ngọc Tùng… Tôi nhận Ngô Đình Hoa, Nguyễn văn Bình. Lúc này bác-sĩ Thạch của đội tôi đã ra coi phòng Y-tế. Lúc này, quản-giáo Vinh ưa cự-nự tôi, chụp lên đầu tôi cái mũ “bao che” cho tù-nhân “thiếu thiện-chí cải-tạo” trong đội. Nguyên-do: Quản-giáo Vinh cấm dùng “đũa”‘ gắp phân bón rau, cấm dùng “găng tay” bao ni-lông. Ông thầy vĩ-đại này bắt tù-nhân bốc cứt bằng tay trần nhét tận gốc rau. Và không cho tắm buổi trưa! Tôi xin cho đội tắm gội, quản-giáo Vinh cho cho rửa chân tay. Và tôi bị viết kiểm-điểm vì tội “yêu-sách cách-mạng”! Tôi đã phải đứng nghiêm trước mặt ông thầy hàng giờ nhiều lần để nghe ông phê-bình văn-chương tự kiểm của tôi.
Google photo – Văn của anh là văn lá cải. Truyện của anh là truyện ba xu. Anh tưởng lắt-léo qua mặt cách-mạng à? – Tôi viết rõ-ràng, thưa cán-bộ. – Anh Đặng Hoàng Hà chửi xéo cán bộ. – Anh ấy chửi cào-cào. Ông thầy nuôi con chích-chòe lửa. Ông ghét Đặng Hoàng Hà tình nguyện vào Đội văn-nghệ làm nhạc trưởng bỏ Đội rau xanh của ông. Đội văn-nghệ rã đám. Đặng Hoàng Hà trở về “đơn vị cũ”, bị ông thầy đì tới chỉ, bắt kiếm cào-cào nuôi chích-chòe và cho ăn 13 ký 50. Đặng Hoàng Hà vồ cào-cào hụt, bị té, chửi cào-cào. Ông thầy nghe được, bèn nâng quan-điềm Đặng Hoàng Hà chửi cách mạng, chửi Đảng… Cuối cùng, ông yêu-cầu tôi xác-nhận trong tự kiểm là Hà chửi cán-bộ. – Anh bao che anh Hà. – Tôi cam-kết anh Hà chửi cào-cào chứ không dám chửi cán-bộ. – Anh Nong! – Dạ. – Anh đừng giả vờ nín thở qua cầu. Cách-mạng biết các anh giả-vờ cải-tạo hết. Mặt xun-xoe nhưng nòng dạ chống đối cách-mạng. Cái mặt anh, đi tù còn ra cái đíều chê-bai ân-huệ của cán-bộ. – Tôi chê gì đâu? – Cho anh rau bồi dưỡng anh chê. – Cán bộ cho hết cả đội, tôi sẽ nhận. Một mình tôi ăn rau, cả đội chửi tôi. Đội lao-động tích-cực, tôi đóng góp chút đỉnh. – Nuận điệu của anh gian dối. Quản-giáo Vinh ghét tôi từ hôm ông thầy hỏi tôi về quản-giáo Để đối xử với đội ra sao. Tôi đã đáp thầy Để đề mặc đội tự-giác lao-động. Ông thầy nghĩ rằng tôi xỏ-xiên ông, ông dở trò tự kiểm hành tôi tơi-bời. – Nếu anh Hà thú nhận đã chửi cán bộ, anh biết tay tôi. May-mắn, Đặng Hoàng Hà chối dài. Đội 17 rau xanh của tôi là đội rau xanh bết nhất trại. Anh em Bình Chánh ù-lỳ sáng-tạo lao-động, chỉ-thị quản-giáo ra sao, anh em làm vậy. Quản-giáo Vinh có uy với phân tươi! Phân không cần ủ, không cần ngấu, cứ nóng hổi ngào tro mà bón. Và phân sợ tự kiểm ngoan-ngoãn xui rau …vàng khè. Đội rau xanh Long Thành rất cừ. Các ông thư-lại ăn đứt nông-dân. Các ông trồng mướp, trồng bầu, trồng rau muống đều vượt chỉ-tiêu. Đội trưởng Quả, anh của Miên Đức Thắng, tháo-vát vô cùng. Vườn rau của đội Long Thành xứng đáng đoạt giải thi đua. Giữa tháng 4-1979, trại bầy hương án. Tù-nhân tập họp đợi nghe “lên lớp”. Không, người ta dẫn anh Nguyễn Mạnh Côn ra đứng trước các tù-nhân đọc tờ kiểm-điểm của anh. Tờ kiểm-điểm của anh Côn, hồi chuông báo tử của niềm tin, vạt nắng thoi thóp của hoàng-hôn sầu tủi. Anh Côn viết: “Tôi thù ghét vợ con tôi đã không thăm nuôi tôi mấy tháng nay”. Anh Côn viết đúng. Chị Côn không bao giờ đi thăm nuôi anh cả. Ở đề-lao Gia Định, Chí Hòa, hai đứa con anh thay phiên nhau nuôi anh. Ở Sa Ác B. chỉ một lần duy nhất cháu Nguyễn Kiên Trung theo vợ Đằng Giao và vợ tôi vào thăm anh. Tôi chẳng hiểu nghĩ gì mà chị Côn đã gửi mía khúc tiếp-tế cho chồng tù rụng hết răng? Bài kiểm-điểm của anh Côn khiến chúng tôi cúi gầm mặt. Đằng Giao khóc. Tại sao phải lôi vợ con ra nguyền-rủa? Thằng tù nào làm tự kiềm, tự khai mà không dối-trá, điêu-ngoa, hèn-hạ? Thằng tù nào làm tự kiểm, tự khai mà không nhận tội sai lầm với cách-mạng và hứa-hẹn khắc-phục để tiến-bộ? Trong hàng rào giây kẽm gai cộng-sản, ngang họng súng đen ngòm, chỉ có vài vị anh-hùng ngục-sĩ dám chấp-nhận cái chết, dẫu biết mình chết lãng nhách. Còn đa-số, cái đa-số tuyệt-đối, đều ngoan-ngoãn nín thở qua cầu. Những tự kiểm, tự khai trong tù, ngoài trại tập- trung chỉ có tù-nhân và cai tù biết, trừ trường-hợp anh Nguyễn Mạnh Côn bị cộng-sản bêu nhục mới đọc công khai. Tự khai của anh Nguyễn Mạnh Côn thuộc loại tự khai mê-sảng vì thiếu thuốc phiện. Chắc chắn, lúc đứng giữa sân trại nghe đọc tự khai của mình, anh Côn đã quên Cộng sản là gì. Tội nghiệp anh. Cộng sản bố ở Hà-nội đã chỉ-thị cộng-sản con ở Sa Ác triệt-để khai thác sự mê-sảng thiếu thuốc phiện của anh Côn mà đánh gục anh, đánh gục lý-thuyết-gia chống cộng lỗi-lạc của miền Nam. Tên chính-ủy đắc-chí: – Mỹ Ngụy đã tước đoạt hết lương-tri của anh Nguyễn Mạnh Côn. Rất may, phẩm-cách làm người của anh còn sót lại đôi chút trong hai câu thơ của anh: hoan-hô cán bộ Để, Đương, Từ nay phản-động hết đường nữa nao! Trong cơn mê sảng, anh Côn còn làm vè nữa! Anh được dẫn về Nhà của các đội hình-sự. Chúng tôi đi lao-động. “Vĩ-nhân thường chết bởi cái gai!” Hemingway viết thế. Tôi chợt nhớ Sợi tóc của Thạch Lam. Nhưng đời sống đầy rẫy những kẻ giả-dối, ích-kỷ, chỉ thích người khác chết đẹp để vinh tôn bằng miệng. Đứng giữa sợi tóc quyết-định sống và chết, nhân-loại đều lưỡng-lự, đều sợ chết hùng và chấp nhận sống hèn. Chúng tôi đã là những kẻ giả-dối, ích-kỷ ấy. Không có gì để trách-móc anh Nguyễn Mạnh Côn. Nếu phải trách, chỉ là thuốc phiện. Thuốc phiện đã hại anh Côn. Cuối tháng 5-1979, ông Nguyễn Bá Lương chết. Ông chết rất êm-ái. Cựu chủ-tịch Hạ-viện của nền đệ nhị cộng-hòa nham-nhở không để lại một lời giăng giối nào. Ông chết nửa khuya, gần sáng anh em cùng Nhà mới phát-hiện. Ngọn đèn tập-thể được mang tới kê cao sát đầu ông. Chúng tôi biết tin nhờ anh em thông-báo. Nhà ông Nguyễn Bá Lương cạnh Nhà chúng tôi. Ngọn đèn leo-lét cháy. Nhà-trưởng đợi kẻng báo thức mới báo-cáo. Người ta chở một cái quan-tài mộc- mạc từ khu A vào. Xác ông Nguyễn Bá Lương do mấy tù-nhân Đội lâm-sản tẩm-liệm. Người ta bỏ vô hòm bộ quần áo tù mới tinh chưa đóng dấu rồi đậy nắp, đóng đinh. Quan- tài đặt lên xe cải-tiến cùng với cuốc, xẻng. Tù-nhân Đội lâm-sản kéo đẩy quan-tài. Đám tang đi vội-vã. Không ai được phép đưa tiễn linh-hồn người quá-cố, dù một quãng sân trại. Một cai tù theo sau xe. Hắn sẽ đọc lệnh tha ông Nguyễn Bá Lương khi hạ huyệt. Cựu chủ-tịch Hạ-viện đã về sum-họp gia-đình! Sinh-hoạt ở trại vẫn thế. Hai hôm sau, tù-nhân hình-sự Quản Quang Ninh chết vì bệnh kiết-lỵ kinh-niên! Đám ma gã tù hình-sự can tội trộm cắp cũng đầy đủ “lễ-nghi” như đám ma tù-nhân chính-trị Nguyễn Bá Lương. Nghĩa-trang Sa Ác B đã có hai nấm mộ không mộ bia và không hứa-hẹn không bị san bằng bởi mưa rừng tầm-tã. Mồng 1 tháng 6 năm 1979, sau cơn sốt nặng, anh Nguyễn Mạnh Côn qua đời. Anh chết ở Nhà 1. Anh không hề bị ném vào hầm giam, không hề bị bỏ đói. Anh già, đuối sức, không thuốc phiện cầm cự. Và anh chết. Anh Nguyễn Mạnh Côn công-khai “Báo-cáo cán bộ, tôi Nguyễn Mạnh Côn, bị bắt ngày 2-4-1976. Hôm nay là 2-4-1979 vừa đủ 3 năm học-tập cải-tạo đúng chỉ-tiêu Đảng đề ra, tôi xin gặp Ban giám-thị lấy giấy ra trại về sum họp gia đình”. Anh đã gặp Ban giám-thị. Chắc chắn, anh bị chúng nó sỉ-vả tội sách-động tù-nhân. Anh uất-ức tuyệt-thực. Chúng nó dồn anh vào đường chết nhục, chết thảm. Người “anh em” của ông Tạ Tỵ đã chết như thế. Không ai “bán anh em” của ông ta đâu. Cho đến khi tôi rời Sa Ác B chỉ có ba người chết: Nguyễn Bá Lương, Quản Quang Ninh, Nguyễn Mạnh Côn.. Cái chết của anh Nguyễn Mạnh Côn không đúng ý mọi người nên chẳng ai xúc động. Đời vốn chó đẻ mà! Sinh-hoạt của trại bình-thường. Đội của tôi nhận anh Phạm Thái Ất từ đội của Đằng Giao qua. Nhà gián-điệp này dấu nửa lạng vàng nhét ở đế giép, định ra gặp thân-nhân thăm nuôi sẽ gửi về, ai dè bị trật-tự Hoa-nẫu phát-hiện. Thế là vàng bị tịch thu, thân bị kỷ luật 15 ngày. Kỷ-luật Sa Ác B rất nhẹ cả với những tù-nhân trốn trại. Vì chưa kịp xây cất cachot, tù-nhân vi phạm kỷ luật thường bị còng chân vào cột nhà mới xây xong hoặc Nhà của các đội hình-sự. Tù-nhân vi-phạm các tội như trây lười lao-động, nói xấu cán-bộ, xâm-phạm tài-sản xã-hội chủ-nghĩa, đánh nhau, dấu tiền bạc (dù bị “ăng ten” báo cáo) chỉ bị còng một chân 15 ngày, ăn cơm tiêu-chuẩn 13 ký 50, bị cúp viết thư , nhận thư và nhận quà thăm nuôi trong vòng 2 tháng. Tù-nhân trốn trại bị bắt lại thì bị vệ-binh đánh thê-thảm từ lúc bị bắt đến lúc dẫn về trại. Kỷ-luật cũng 15 ngày còng. Nặng hơn như đánh giết vệ-binh, quản-giáo thì bị đưa ra khu A. Suốt thời gian tôi ở khu B, chưa có vụ trốn trại nào đánh giết vệ-binh, cướp súng. Đang bị còng chân kỷ-luật mà có lệnh tha của Bộ nội-vụ, vẫn ra về. Chẳng phải bị kỷ-luật, bị “ăng ten” tố-cáo mà kéo dài hạn tù. Chẳng phải tố-cáo người khác mà chóng được tha về. Khả-năng gian ác của “ăng ten” chỉ làm kẻ bị nó hãm hại 15 ngày kỷ-luật, một lần cúp thăm nuôi. Nó không thể “bán xác” ai cả. Khả-năng gian-ác của “nhà văn” gian-dối, điêu-ngoa ghê-gớm hơn “ăng ten”. Khả-năng toa-rập của bọn vừa dốt vừa ngu ngang mức khả-năng gian-ác của “nhà văn” gian dối. Khả-năng thư luân-lưu độc-địa nhất, bần-tiện nhất, hôi-hám nhất về thủ -thuật rỉ tai bêu xấu vẫn là ông “nhà văn-hóa” Trần Tam Tiện. Tôi là kẻ bình-thản nghe tin một người nào đó bảo một người nào đó làm “ăng ten” gian-ác đến nỗi “bán xác” tù-nhân khác. Gặp ông cựu dân-biểu Nguyễn Minh Đăng ở trại Sungai Be si, một bạn tị nạn kéo tôi ra: – Anh thân với Nguyễn Minh Đăng không? – Vừa vừa. – Hắn làm “ăng-ten” giết chết một vị đại-tá cải-tạo ngoài Bắc đấy. – Ghê nhỉ? – Ghê lắm. – Trại nào? – Tôi không rõ. – Anh có ở trại ấy với Nguyễn Minh Đăng không? – Không. – Anh có bị tù không? – Không. – Ai nói với anh Nguyễn Minh Đăng giết vị đại-tá? – Người ta. – Người ta tên gì? – Tôi không rõ. – Anh nên về Việt Nam ngay đi. – Làm gì? Vào tù à? – Phải, anh nên nằm tù cộng-sản. Nằm tù cộng-sản với người quốc-gia cao-cả của anh đi, anh sẽ thấm tình đời, thói đời. Một cục đường thôi, anh từ-chối cho “anh em” của anh, anh sẽ mang tội “ăng-ten” gớm ghiếc, anh sẽ bị “anh em” của anh viết báo bêu nhục nếu “anh em” của anh trốn thoát sang Mỹ. Tôi muốn xử-dụng hợp-âm Do Majeur cho tất cả những tên khốn kiếp bêu nhục người khác bằng tin đồn. Phạm Thái Ất chưa hết ba-hoa. Anh ta không ưa tôi vì anh ta không thể nói phét với tôi. Một lần, anh ta kể Tam-quốc-chí, tôi hỏi anh ta: – Anh thấy Mã Tốc thế nào? – Thằng xạo. – Nhưng Mã Tốc có tài thật. Những anh bất-tài vô-tướng mà xạo mới đáng ghét. Chưa đủ độ ghét tôi, phải đợi hôm anh ta tâm-sự: – Tôi và anh giống nhau. – Anh lầm rồi, anh Ất ạ! Tôi và anh không bao giờ giống nhau. – Chúng ta cùng tù. – Cùng tù thôi. – Cùng tù là giống nhau. – Anh và tôi không thể giống nhau. – Tại sao? – Vì anh là anh, tôi là tôi. Có những thứ không thể đồng dạng, đồng tính. Từ đó, anh ta ghét tôi ra mặt. Chẳng phải riêng anh Ất ghét tôi, còn một số thư-lại Long Thành ghét tôi nữa. Sự ghét bỏ xuất-phát từ lòng mặc-cảm. Thẩm-phán Đào Minh Lượng nói: – Tụi nó ngại anh vì ngày trước anh chửi tụi nó là gia-nô của Thiệu.
Google photos
Chắc chắn vậy. Cái số thư lại Long Thành cặn-bã của xã-hội cũ toàn những thằng già, sống tập-thể mà chỉ lo quyền-lợi cá nhân. Bị thăm nuôi của anh nào anh ấy buộc thật chặt. Điều này thuộc tự-do của họ, xin miễn phê-bình. Nói riêng hai điểm nhỏ thôi: Buổi chiều ca-cóng xong phải tưới nước cho tắt than lửa. Trực trại kiểm-soát trước khi điểm danh vào phòng. Nếu bếp còn than cháy và bừa-bãi, trực trại sẽ cấm ca-cóng một tuần. Mấy ông thư-lại già chuyên gây rắc-rối. Trực trại “lên lớp”, các ông ấy khúm núm “tiếp thu”. Nhà trưởng van nài các ông ấy thi-hành quy-định. các ông ấy nhởn-nhơ, chửi thầm. Đã bị cấm ca-cóng vài lần, rồi đâu vẫn hoàn đó. Một ông thư-lại vi-phạm quy-định, cả Nhà treo ca-cóng. Đấy là điểm thứ nhất. Trời mưa được nghỉ lao-động vì sợ tù-nhân trốn trại. Cửa Nhà mở rộng với điều-kiện tù-nhân đừng ra hứng nước hay tắm giặt. Tù-nhân vi-phạm, cửa sẽ bị đóng kín. Tất cả tuân lệnh, trừ mấy ông thư-lại. Nhà trưởng nói nhẹ, mấy ông ấy tỉnh bơ, nói nặng, mấy ông ấy sửng cồ. Nhưng trực trại hay trật-tự Hoa-nẫu “giáo-dục”, mấy ông ấy nín khe. Tôi không chịu nổi thái-độ sống của mấy ông thư-lại, thường xuyên công-kích mấy ông vì quyền-lợi chung của cả Nhà. Thư-lại cấu-kết với nhau kết án tôi “ký-giả ăn mày làm mất nước”! May cho tôi là bị kỷ-luật, mất chức Đội trưởng, mất luôn chức Nhà trưởng. Vì Đội 17 rau xanh không đạt đúng năng-suất lao-động, người ta lôi cái vụ tôi gửi tiền lâm-sản mua thuốc lá, mua bột sữa hồi tôi mới vào Sa Ác B ra xử tội. Tôi bị đứng nghiêm trước tù-nhân cả trại nghe đọc quyết-định thi-hành kỷ-luật.
Cộng-hoà xã-hội chủ-nghĩa Việt Nam Độc-lập – Tự-do – Hạnh-phúc Bộ Nội-vụ Trại Cải-tạo Xuyên Mộc TH6 B
QUYẾT-ĐỊNH THI-HÀNH KỶ-LUẬT Ban Giám thi trại cải tạo TH6 quyết-đinh thi-hành kỷ-luật trại viên: Vũ Mộng Long Sinh ngày 16-8-1935 Tại Thái Bình Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú 225 Bis Nam-kỳ Khởi-nghĩa tp Hồ Chí Minh Can tội nhà văn phản-động Bị bắt ngày 8-4-1976 về tội mua bán đổi chác. Trại viên Vũ Mộng Long bị mất chức Đội trưởng, Nhà trưởng. Đồng-chí Nguyễn văn Hưng là cán-bộ trực trại có nhiệm-vụ thi-hành quyết-định này. Ngày 20-6-1979 Phó Giám-thị Nguyễn văn Hiểu
Tội của tôi cũ mèm nên không bị còng chân, bị cúp thăm nuôi. Buổi chiều hôm ấy Đằng Giao gạ tôi nấu chè ăn khao. Anh ta rất thèm được kỷ-luật để thoát cảnh trên đe dưới búa. Tôi thì cảm giác mình tự do làm tù.
Sự thay đổi buồng giam nhất là hoán đổi các xà lim bao giờ cũng tạo cho những tù nhân biệt giam như chúng tôi nhiều phấn khích. Trước hết, ở một hai năm trong một xà lim cá nhân chắc chắn tạo cho chúng tôi sự nhàm chán và ảnh hưởng đến tâm lý không ít thì nhiều tất phải xảy ra, thường được diễn tả bằng nhóm từ nôm na “cuồng cẳng”. Cho nên chúng tôi coi việc chuyển sang ở chung với một bạn tù khác trong một xà lim khác là một chuyến du lịch thay đổi không khí. Ở một xà lim khác với một bạn tù mới tất sẽ có hàng ngàn chuyện để nói với nhau. Và đây là thứ vũ khí để giết thì giờ rất hữu hiệu. Nhưng đổi lại đời sống, mối liên hệ thường nhật trong khu biệt giam sẽ bị đảo lộn cho tới khi mọi người đều biết rõ và hiểu “những khuôn mặt mới tới”. Gọi là “khuôn mặt mới tới” thực ra đó là những khuôn mặt cũ đã từng chia sẽ với nhau những gian nan ở các trại tù khác nhau. Họ mới vì trong suốt mấy năm qua tuy chỉ sống cách nhau có một vườn rau cải, nhưng thế giới biệt giam của chúng tôi đã là một thế giới cách biệt hẳn với bên ngoài.
Trong số cả 3 khuôn mặt mới tới ngoại trừ cựu dân biểu K.T.V., hồi chánh viên Huỳnh Cự, anh L.Q.M. vẫn là những khuôn mặt mà anh em trong biệt giam cũng như trong nhà giam tập thể bên ngoài thường nghi kỵ, dù sự nghi kỵ ấy chẳng dựa trện một bằng chứng nào rõ rệt cả. M. là đội trưởng một đội lao cải từ trại Hàm Tân Z-30C lại không thân thiện với anh em, thường thực hiện lệnh lạc của cán bộ quản giáo khit khao đến mực nghiêm khắc khiên cho anh em không ưa. Tại Hàm Tân, khi linh mục N.V.B. của nhà thờ Fatima bị đưa vào biệt giam vì thường tổ chức lễ sáng Chủ Nhật cho những bạn đồng tù nào là tín đồ Công Giáo. Mọi người đều đồn là do đội trưởng L.Q.M. báo cáo, nhưng cũng không ai đưa ra được bằng chứng nào chứng tỏ rằng chỉ vì bị L.Q.M. báo cáo mà vị tu sĩ Công Giáo kiên cường của nhà thờ Fatima bị đưa vào biệt giam. Hơn nữa, vị linh mục này làm lễ công khai vào mỗi sáng Chủ Nhật chứ có che dấu gì đâu và ngài chấp nhận những hình phạt, không bao giờ than van. Khi bị đưa lên Thung Lũng Tử Thần cùng với chúng tôi, L.Q.M. không làm đội trưởng nữa mà lại được cử vào chức vụ Thi Đua-Thống Kê điều này lại càng khiến cho anh em xây một bức tường cô lập dày chung quanh anh. Một số tù cải tạo vốn là tín đồ Công Giáo đã gọi L.Q.M. là tên “Juda ghê tởm” cũng chỉ vì những ưu quyền mà anh nhận từ đám cán bộ trại giam. Vào suốt thời gian đó và cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ rằng do thái độ và hành động của L.Q.M. anh em có thể không kính trọng anh ấy nữa, nhưng nếu bảo anh là ăng-ten hay Juda thì lời lẽ đó quá đáng. Sự ngộ nhận và dư luận trong trại giam hay trại lao cải thường là vu vơ không kiểm chứng được. Hoàn cảnh bị đày đọa và lòng hận thù đã làm cho những tin đồn không tốt về một người nào đó càng dậm nét thêm mà thực ra đó chỉ là chuyện vẽ rắn thêm chân mà thôi. Khi sang tới hải ngoại, tôi vẫn nghĩ rằng lòng hoài nghi theo sát cuộc sống của một số người tù cải tạo khi họ ra khỏi trại và trong nhiều trường hợp ra tận hải ngoại. Nhưng cá nhân, tôi cho rằng trong bất cứ một trường hợp nào khi nghe một lời đồn như vậy chúng ta cũng nên thận trọng. Đành rằng chỉ người tù nào là nạn nhân của một vụ báo cáo thì may ra mới có thể biết hay đoán biết người nào là tác giả của những mật báo này khiến mình bị lôi thôi. Nhưng trong một số trường hợp chính viên cán bộ thẩm cung đã “nửa kín nửa hở” để cho người bị thẩm cung thấy một vài tờ giấy mà hắn ta gọi là bản tố cáo để đánh lừa đối tượng mà anh ta cần điều tra mà thôi. Ở một số trại giam có khi ban quản trại sử dụng một số người làm ăng-ten công khai, mà khi làm mật báo viên mà lại để cho người khác thấy hay nghi ngờ thì công tác đó chỉ có mục đích răn đe để ai trong chúng tôi nếu sợ thì bớt những hành động chống đối đi mà thôi.
Cho nên tôi cho rằng dư luận cáo buộc người tù này hay người tù kia làm tay sai cho cộng sản nhiều khi cũng phải xét lại và tốt nhất nếu không có bằng chứng vững chắc thì không nên tin. Trong suốt thời gian dài tù đày chưa bao giờ tôi đến một trại mới mà không có những anh em đến lưu ý và điểm danh một danh sách những khuôn mặt mà tôi cần quan tâm, không nên giao du thân mật. Nhưng qua vài chục lần bị thẩm cung tại các trại lao cải tôi nhận ra một điều chỉ cần bọn cán bộ giáo dục và an ninh trại thấy bất cứ một người tù nào không liên lạc thư từ gì với gia đình và từ chối bất cứ một điều nào mà trại giam coi là ân huệ cho tù cũng đã đủ để đám cai tù thường xuyên “thăm hỏi” mình rồi và qua một thời gian lâu dài, nếu chúng không hiểu thêm được điều gì ở những đối tượng nghi ngờ thì sự đánh giá và quyết định của bọn an ninh trại là cô lập người tù ấy trong biệt giam lâu dài. Như thế cho chắc ăn, chúng nghĩ là bắt lầm còn hơn để sót. Hơn nửa, ý nghĩ thông thường của người tù cải tạo là khi bị gọi thẩm cung trong trại lao cải là phải do ăng-ten báo cáo chứ làm sao chuyện của mình đâu có người nào khác biết được “ngoài nó ra”. Cho nên bọn an ninh trại giam tìm hiểu qua những đội trưởng để biết trong đội lao động anh em tù cải tạo “ghim” người nào hay thù người nào. Xong bọn chúng liền kêu những tù nhân cải tạo nào bị anh em không ưa ra làm việc. Nhưng sau buổi làm việc đối tượng này vẫn sống bình thường không bị nhốt biệt giam lại còn được ưu đãi về thực phẩm. Thế là chỉ ít lâu sau lời đồn bay đi khắp trại. Đi tới trại nào, đội nào, lời đồn càng bị thêm thắt, bị bóp méo thêm và đến người cuối cùng nhận tin này, hình ảnh người tù bị ngộ nhận trở thành một bộ mặt gớm ghiếc.
Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Tại sao đa số tù cải tạo lại phải quan trọng hóa vấn đề mật báo viên tức ăng-ten trong số các bạn đồng tù như vậy? Mật báo viên có tố cáo tội tày trời của chúng ta đi nửa thì bất quá cũng chỉ vô chường cọp nằm là hết mức. Vậy thì tại sao không gọi mấy anh ăng-ten lại đưa giấy bút cho họ và bảo: “Chúng mày viết sao cho bọn tao phải vào nhà kỷ luật thì viết chứ nếu viết báo cáo mà chúng tao không vào được nhà kỷ luật thì chúng mày sẽ bị ăn đòn và chỉ có nước mang chăn chiếu ra ngoài trại ngủ thì mới an toàn tính mệnh đấy nhé”. Còn sợ ăng-ten báo cáo, còn sợ bị ghi điểm xấu vào hồ sơ, còn sợ vì vi phạm kỷ luật trại giam và sẽ tù lâu hơn người khác tức là còn an tâm tin tưởng vào chính sách cải tạo của nhà nước cộng sản. Chính phản ứng tâm lý sợ bị ăng-ten báo cáo đã khuyến khích cho nhân số ăng-ten trong một đội lao cải chỉ có tăng chứ không giảm. Tôi có một câu chuyện khá lý thú về việc trừ khử ăng-ten.: “Sau năm 1985 chúng tôi lại được tuyển lựa để chuyển về một trại gần Saigon hơn đó là trại Z30-A mà anh em chúng tôi thường gọi là “Đồi Phượng Vỹ” vì trại này được thiết lập sát một ngọn đồi mà thời gian trước 30 tháng 4, 1975 trước là nơi đặt Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 54 thuộc Sư Đoàn 18. Khi về tới Z30-A chúng tôi gặp lại tất cả những sĩ quan cao cấp nhất trong QLVNCH từ các trại tù miền Bắc tập trung về đây từ cấp thiếu tá đến đại tá từng giữ những trọng trách trong QLVNCH, rất nhiều những tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng, sư đoàn, các lữ đoàn trưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng và một cựu tướng lãnh đó là Thiếu Tướng Lê Văn Tất (từ lực lượng võ trang Cao Đài chuyển sang QLVNCH, các ông tướng khác từ Sơn Tây về được tập trung tại Z30-D). Về hàng ngũ chính phủ VNCH ở trại này bao gồm các chánh sự vụ, trưởng ty, giám đốc, tổng giám đốc, phó quận, phó tỉnh trưởng hành chánh, nội an. Cho đến các tổng trưởng trong nội các Nguyễn Văn Thiệu (các ông Ngô Khắc Tỉnh, Ngô Khắc Tịnh, Hồ Văn Châm). Thế nhưng cách nhốt tù ở trại này cũng giống như nhiều trại khác. Cục trại giam vẫn đưa một số tù hình sự vào nhốt chung với chúng tôi với nhiệm vụ làm ăng-ten công khai, một trò răn đe mà tôi đã trình bày ở các phần trước. Trong số những tù hình sự này có một tên vốn là cựu du đãng đâm thuê chém mướn ở Saigon trước 30 thãng, 1975, đó là Lâm “chín ngón”. Tay này là tay anh chị “giết người có máu lạnh” đã bị ngành an ninh VNCH đưa ra tòa kết án chung thân và đày ra nhà tù Côn Sơn. Sau 30 tháng 4, 1975 “cách mạng” đưa anh ta trở lại đất liền và khép vào tội “nợ máu với nhân dân” vì thời gian ở Côn Sơn được các giám thị cho ra làm trật tự tại một khu nhốt tù binh Việt Cộng. Khi chính quyền cộng sản tiếp thu Côn Sơn, một số tù binh việt cộng nhận ra Lâm “chín ngón” nên mới khép anh ta vào tội vừa kể.
Chỉ một tháng sau khi được giải giao đến Z30-A và được biên chế vào một trong những đội lao cải gồm những người được chuyển từ A-20 về. Lâm “chín ngón” đã giở trò cướp bóc ngay. Hắn bắt đầu lấy “xâu” từ những tù cải tạo có thăm nuôi nhất là đối với những tù nhân gốc tu sĩ Công Giáo. Lúc nào trong người Lâm “chín ngón” cũng có lận một con dao tự chế bằng thép lấy ra từ khung ba lô. Nhà trưởng cũng như đội trưởng báo cáo cán bộ an ninh rất nhiều lần nhưng đám này lờ đi để Lâm “chín ngón” tha hồ hoành hành. Thấy một anh du đãng nhúng tay vào máu của nhiều bạn đồng tù thời trước nay lại được nhà tù cộng sản biến thành tay anh chị sống đế vương bằng quà thăm nuôi mồ hôi nước mắt của gia đình những tù cải tạo, một số sĩ quan trẻ họp lại bàn nhau phải khử Lâm “chín ngón” và quyết định đưa ra là đánh tên này phải đánh cho chết luôn. “Sát thủ” được phân công vẫn là những cựu sĩ quan đã từng đánh trọng thương trật tự “Quí đen” ở A-20.
Hôm đó là vào sáng Chủ Nhật khoảng sau Tết Nguyên Đán 1986, các sĩ quan trẻ này dùng cây gỗ then cửa 4 phân vuông làm vũ khí. Lâm Chín Ngón lúc đó sửa soạn bữa ăn trưa tại nhà ăn. Những “sát thủ” canh gác tất cả những đường thoát của Lâm “chín ngón”. Người ra đòn đầu tiên nếu tôi nhớ không lầm là T.C. Anh đập một cây vào đầu tên cựu du đãng, máu chảy ướt chiếc áo hắn đang mặc. Lâm “chín ngón” định rút con dao phía sau lưng thì bị đập tiếp một gậy thứ hai. Tên cựu du đãng này đã lảo đảo gần ngã sấp xuống thì dường như do bản năng hắn nhảy vụt qua cửa sổ. Người bạn tù đứng chặn ở cửa sổ đánh một gậy thứ ba nhưng do vội vã anh không đánh trúng đầu mà chỉ trúng vai khiến hắn ngã sấp xuống mặt thềm nhà ăn nhưng vùng dậy ngay được và chạy ra cổng khu nhà giam, chạy qua sân banh xuống nhà bếp trại. Trực trại được báo đã gọi bác sĩ và y tá xuống cấp cứu cho Lâm “chín ngón”. Sau đó limh mục Đinh Xuân Hải được anh em đề cử ra gặp trực trại đưa tối hậu thư “Phải chuyển tên này đi trại khác nếu không chúng tôi sẽ nổi loạn và cuối cùng hắn cũng không thoát chết đâu”. Trực trại quyết định đưa Lâm “chín ngón’ vào dưỡng thương trong nhà kỷ luật khoảng một tuần. Sau đó trại trưởng Thích quyết định giải giao Lâm “chín ngón” về K-3 tức là trại tù hình sự của tỉnh Long Khánh.
Cách đây khá lâu khi vụ Năm Cam bùng nổ, tôi đọc trên tờ Thanh Niên thấy một tin ngắn cho biết ngày nay Lâm “chín ngón” trở thành thân tàn ma dại vì bị chính đàn em Năm Cam trừng phạt bằng acid vì tôi mưu phản đàn anh. Hình chụp trên tờ Thanh Niên cho thấy khuôn mặt Lâm “chín ngón” trở thành dị dạng, hai tay co rút và ngồi trên xe lăn. Đây là hình chụp trước khi Lâm “chín ngón” vào tù lại vì dính dấp với băng đảng Năm Cam.
Điều khó khăn trong việc tiếp tế thuốc kiết lỵ cho linh mục Nguyễn Luân là do sức khỏe của ngài đã rất mong manh. Tuy chỉ bị cùm bên phải ở bàn chân phải của xà lim số 4, có nghĩa là nếu còn sức và đầu gối còn chắc, ngài có thể lựa thế đứng bằng chân trái và chân phải bị cùm bị xoải ra tối đa và từ thế đứng như thế ngài có thể nhìn ra ngoài qua lổ tò vò trên cửa biệt giam để ném ra một sợi dây có buộc một vật đủ nặng để kéo “hàng” lên cửa tò vò. Chờ đến đêm, tôi gõ tường và lên tiếng để nói với Linh Mục Luân và đặt danh hiệu truyền tin cho ngài là Lima. Ngài cho biết không thể đứng lên lâu được, tối đa là 5 phút theo ước lượng và đồng thời vị tu sĩ cũng bào đảm là có thể se được một sợi dây dài vài thước từ một bao cát bằng nylon đang được xử dụng để nhồi tất cả tư trang vào làm gối sẽ được nối một đầu với một chiếc trong đôi dép Nhật bằng cao su ngài được mang vào biệt giam.
Như vậy nếu bạn tù Đ.B.P. ở xà lim số 9 chuyển cho xà lim số 7 và người từ xà lim 7 chuyển cho tôi, tôi chuyển cho Lima ở xà lim số 4 là có thể an toàn hơn. Tôi liên lạc với số 9 dễ dàng, nhưng số 7 nhất định không lên tiếng. Nhưng có lẽ nằm im nghe câu chuyện liên lạc tương trợ giữa chúng tôi với nhau khá cảm động nên khoảng 5 giờ sáng thì người ở xà lim 7 lên tiếng cho biết có thể giúp đỡ chúng tôi. Anh tự chọn danh hiệu là Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt, là tù hình sự làm việc trong tổ chăn bò và trâu bị đưa vào biệt giam vì liên hệ linh tinh với dân khu kinh tế mới để gởi thư chui ra ngoài cho các bạn đồng tù. Giải quyết xong trạm chuyển tiếp này thì sáng hôm sau tôi cũng phải làm gấp một sợi dây bằng cách se lại những sợi dây rút ra từ bộ quần áo may bằng bao cát của tôi và nối nó vào một chiếc dép trong đôi dép lốp do tôi tự làm và mang nó từ trại Hàm Tân Z-30C lên.
(Ghi chú: Dép lốp còn gọi là dép râu, một loại dép mà bộ đội Việt Cộng hay mang. Năm đầu, khi được trại cấp phát loại dép râu nội địa (có loại do Trung Cộng chế tạo) anh em nào cũng vất đi không chịu mang. Mà nếu có một bạn tù nào mang chúng thì lập tức sẽ bị chế diễu: Mày coi chừng ra ngoài bị bắn lầm đấy! Ý muốn nói rằng bên ngoài phe ta đang trường kỳ kháng chiến, anh nào đi dép râu ra ngoài họ tưởng mình là bộ đội cộng sản thì sẽ lãnh đủ, ráng chịu. Nhưng chỉ bước vào năm thứ 3 của đời tù đày, một số anh em đã bỏ những tự ái này vì nó không thực tế. Làm lao động ở ngoài nương rẫy trong rừng sâu, không đôi giày nhà binh nào, kể cả giày map của Mỹ là còn nguyên vẹn. Chúng rách nát cũng như thân thể bị lưu đầy của người tù cải tạo vậy. Nhiều gia đình cũng tiếp tế cho chồng con đủ thứ giày vãi, nhưng nếu chỉ từ 3 đến 6 tháng là cần một đôi khác không phải gia đình nào cũng chịu nổi. Cuối cùng dép râu phổ biến trong số những người tù khổ sai như chúng tôi. Nhà văn Đổ Tấn Xuyên, một bạn vong niên trong ngành truyền thanh cho tôi hai miếng đế dép râu cũ khi còn ở Z-C và tôi nhờ các anh em tù hình sự kiếm cho mấy đôi quai dép bằng lốp xe máy cài hay xe tải cho bền. Nó thay thế cho đôi giày vải bằng bố đen của tôi rách không còn cách nào vá lại).
Khoảng 5 giờ sáng hôm sau trước giờ điểm số biệt giam một giờ tôi liên lạc với 9, 7 và 4 để xem mọi thứ đã sẳn sàng chưa. Nhưng Đ.B.P. không biết lấy gì làm vật năng (chúng tôi gọi đùa là warhead = đầu đạn hạt nhân). Tôi hỏi 9: “Phú Quốc Hồng Hà có ca đựng nước không. Lấy ra làm tạm warhead vậy, nhưng nhẹ nhàng thôi, bể ca nước là Phú Quốc Hồng Hà nhịn uống luôn đấy”. Chúng tôi quyết định chuyển thuốc cho vị tu sĩ công giáo trẻ tuổi này vào sau giờ phát cơm trưa là an toàn. Vì giờ trưa sau khi phát cơm tù là từ trực trại cho đến vệ binh cũng phải kéo nhau lên nhà ăn. Chúng tôi có một giờ đồng hồ để “phóng đầu đạn”. Và như thế Đ.B.P. hay Phú Quốc-Hồng Hà phải uống phần nước ít ỏi của mình ngay sau giờ phát cơm trước khi dùng ca nhựa làm “đầu đạn” chuyển hàng. Phú Quốc Hồng Hà cho biết không cần bàn cãi về chuyện ấy vì chuyển chuyển thuốc cho Lima không thể chậm trễ. Nói thì dễ, nhưng khi khởi sự thì mới thấy khó khăn chừng nào. Phải mất đến hơn 10 lần Phú Quốc Hồng Hà mới quăng được chiếc ca nhựa có mang theo những viên bông tẩm Streptomycine vào ngay trước cửa xà lim 7. Người tù hình sự Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt tỏ ra rất thông thạo trong việc chuyển hàng trong xà lim nên việc anh lấy hàng lên để chuyển cho tôi không có gì khó khăn và chỉ mất không đầy 2 phút. Tôi nhận hàng từ xà lim 7 chỉ vài phút sau đó. Cái “đầu đạn” của Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt là chiếc muỗng đẽo bằng gổ Cẩm Lai nên có sức nặng vừa đủ để có thể rơi chính xác trước cửa xà lim 5 của tôi, nhưng nó lại nằm quá sát cửa nên khó dùng sợi dây có buộc chiếc dép râu của tôi để trục hàng lên được. Tôi thử vài lần đều thất bại thì chợt nghĩ đến chiếc quai xách của thùng nước tiểu. Việc tách chiếc quai ra khỏi miệng thùng không có gì khó khăn. Tôi uốn chiếc quai thành cái móc để có thể đưa nó qua khe hở giữa cánh cửa và mặt sàn để kéo hàng vào được. Vấn đề là phải chùn người xuống, đầu gối trái quỳ xuống mặt sàn và như thế chiếc cùm ở chân phải xiết vào cổ chân có thể khiến tôi rất đau, có thể trầy da và nhiễm trùng. Tuy nhiên tình thế đòi hỏi và tôi cũng phải cố gắng hết sức mới có thể quỳ bằng đầu gối trái xuống mặt sàn, còn chân phải cố chịu cơn đau thấu xương ở mắt cá chân. Trong vòng 30 giây tôi phải quơ chiếc quai thùng làm sao cho sợi dây gởi hàng của Non Nước-Hồng Hà-Oanh Liệt lọt vào phần uốn cong của chiếc quai và kéo vào ngay vì không thể chịu đau quá nửa phút. May mắn đã đến với tôi vì chỉ hai lần quơ chiếc quai thùng là tôi đả móc được sợi dây nối chiếc muỗng gỗ. Kéo vào thấy hơi nặng tôi biết mình đã thành công. Tiếng chiếc muỗng gỗ chà xuống thềm xi măng nghe như lời reo vui chiến thắng. Nhìn thấy bọc nhựa nhỏ bằng đầu đũa, tôi kéo vào và lấy hàng ra khỏi sợi dây rồi cố hết sức mình đứng dậy nói qua cửa tò vò: “Nhận 5”. Nghỉ một lát tôi gọi cho Lima để ngài chuẩn bị nhận hàng: “Lima phải cố gắng hết sức, phi vụ không thể kéo dài vì vệ binh có thể đi tuần trở lại”. Lima trả lời bằng cách gõ vào tường 3 tiếng. Lập tức tôi đưa chiếc dép râu có buộc hàng bằng một sợi dây bằng vải bao bố ra ngoài cửa tò vò và ném nhẹ sang cửa xà lim 4. Lima gõ 3 tiếng có nghĩa là ngài đã nhìn thấy hàng. Một lát sau nghe Lima gõ vào tường 3 tiếng thay cho tiếng “Nhận 5” tôi kéo chiếc dép về và trên quai dép râu không còn bọc nylon nửa. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi kể từ tuổi mới lớn cho đến giai đoạn tù đầy vào lúc đó có một niềm vui nào lớn hơn niềm vui tôi có vào buổi trưa hôm ấy. Buổi tối khi bóng đêm đen bao trùm trong xà lim, khi các đàn muỗi bắt đầu tấn công chúng tôi, tiếng linh mục Vàng (trong xà lim chúng tôi đặt danh hiệu truyền tin cho ngàu là Vẽ Vang-Anh Dũng-Non Nước Gio Linh, muốn ngắn gọn hơn chúng tôi gọi ngài là Vẽ Vang-Anh Dũng) từ xà lim 10 vang lên: “Các bạn ơi, tôi đã khóc nhiều khi thấy các bạn chia sẽ và tương trợ nhau như vậy. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện tùy theo tôn giáo của mình giúp Lima them sức vượt qua căn bịnh hiểm nghèo”. Suốt đêm ấy tôi cầu nguyện cho tới 4 giờ sáng. Tôi là phật tử nhưng lại chỉ có thuộc mấy câu đầu của Chú Lăng Nghiêm: “A Na Lệ, Tỳ Xá Đề, Bệ Ra, Bạt Xa Ra, Đà Rị” và niệm Hồng Danh Phật A Di Đà, nhưng cứ như thế tôi đọc hàng ngàn lần. Một giờ đồng hồ trước khi cửa các xà lim mở để điểm số, định nằm xuống nghỉ lưng thì tôi nghe tiếng Lima vang lên chậm rải thông báo:
(Ghi chú: Tôi ghi nguyên văn cách loan báo tin mừng rất mộc mạc của vị tu sĩ trẻ tuổi nhưng đáng kính để cho thấy rõ sự vui mừng như thế nào trước dấu hiệu vi trùng kiết lỵ bị đẩy lui)
Hai ngày sau đó Lima loan báo không còn đi tiêu ra máu và đờm.Trong hoàn cảnh đó chúng tôi chỉ còn tin vào một phép lạ đã cứu giúp chúng tôi. Khi được thả ra khỏi nhà tù vào năm 1988 tôi gặp lại một bạn tù vốn là một cựu thiếu tá quân y, anh L.N.A, một bác sĩ giải phẫu phục vụ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa vào đầu thập niên 1990 và trong câu chuyện tôi có hỏi anh ấy về mấy viên bông tẩm nước cặn của Streptomycine. Anh cười và giải thích: “Trong đời, tôi chưa từng nghe thấy ai trị kiết lỵ kiểu này. Chỉ còn cách giải thích là lúc bí, bản năng sinh tồn giúp cho chúng ta bấu víu vào tất cả nhưng gì mà mì nh tin nó là cái phao cứu mạng. Streptomycine chế từ một loại nấm và có thể là nó có một tác dụng nào đó với vi trùng kiết lỵ không chừng . Tôi không nghiên cứu nên không biết được. Vấn đề như các cậu nói ít ra nó đã có tác dụng đối với một người là vị li nh mục trẻ ấy. Nhưng tôi khuyên các cậu là sống ngoài xã hội này rồi, thuốc cũng còn hiếm, nhưng cậu nào có dính kiết lỵ thì cũng đừng tự chữa như thế. Không đủ tiền đi bác sĩ thì chịu khó đến tôi, chẳng tiền bạc gì đâu.” Giữa năm 1982 tôi lại phải trãi qua một thời gian nhục hình khác sau khi có một cuộc hoán chuyển (mà anh em chúng tôi thường gọi là xóa bài làm lại) nhân số trong khu biệt giam. Đợt hoán chuyển này là đợt lớn nhất so với thời gian khi linh mục Nguyễn Luân bị chuyển từ xà lim 7 sang xà lim 4 lúc tôi bị đưa vào xà lim số 5. Tôi lại quay về xà lim 3 cùng với T.D.S. Sau đó N.Đ.Q. cùng với T.C.L. cũng từ 1 và 2 chuyển sang 3 và như thế xà lim 3 phải chứa tới 4 người. Tình trạng dồn phòng và nằm cá hộp như thế này dĩ nhiên tạo khó khăn cho việc đi tiêu, đi tiểu của những người bị cùm cùng bệ nằm, nhưng lại bị cùm vào nằm sát tường. Đ.B.P. bị chuyển từ xà lim 9 về xà lim 5 ở chung với bạn tù hình sự từ xà lim 7 chuyển sang. Như thế các xà lim 1,2,7,9 còn trống. Hai linh mục N.Q.M. và N.D.C. được chuyển vào bệnh xá trong Phân trại B. Và đúng như suy nghĩ của tôi, một ngày sau đã có 3 tù cải tạo mới bị đưa vào biệt giam vì những vụ việc khác nhau: Cựu dân biểu vốn là bí thư tỉnh ủy Việt Nam Quốc Dân Đảng tỉnh Quảng Nam là K.T.V. và một trong những thủ lãnh chính trị trong vụ nhà thờ Vinh Sơn là L.Q.M. Đến nửa khuya cựu hồi chánh viên Huỳnh Cự bị đưa vào xà lim 2. Cựu dân biểu K.T.V. nằm xà lim 7 và L.Q.M. vào “trấn” ở xà lim số 1 ngay đầu dãy.
Để bổ túc bài “cây trồng hai bên đường” (viết ngày 9-1-1989)
Tháng rồi, gần lễ Giáng sinh, tôi cỏ dịp xuống thành phố, nhơn đi ngang Hai học viện cũ, đường Nguyễn Đình Chiểu nay, tôi thấy đang đốn hạ hai cây cổ thụ cao ngất trời, tỏi dòm không có lá gì, sau sến hay dầu lông, duy bấy lâu thầm kính hai đại thọ là hai vật sống sót gần như duy nhứt của cái gọi là “Rừng già tồn tại” của Sài gòn năm xưa, mỗi cây, gốc lớn đến ba người trộng tuổi, ôm không giáp chung quanh thân cây, và tôi thường lấy cây gậy cầm đo thử, ước lượng bề trục kính, có lẽ gần gần một thước rưỡi tây (1 mét 50 hay 1 mét 60 chớ không ít). Bỗng bữa ấy sớm còn thấy hai cây sừng sựng bên lề đường, cũng không choán chỗ, cũng không làm trở ngại sự lưu thông trên đường phố, có thể nói hai gốc cây cố thụ ấy là một tràng sức còn lại của di tích Sài gòn năm xưa nhưng chiều lại thì hai cây đã bị hạ, không rõ duyên cớ, có người đổ thừa: “Cây đang chết khô”, kẻ khác lại nói “người ta cần dùng gỗ của nó để làm từ khí ghế bàn, tú kệ…”, như vậy là hữu ích hơn. Tôi không càn biết những chi tiết lý luận ấy đứng bề mặt thẩm mỹ, tôi chỉ biết “hai cây nầy” đã bị hạ, tôi thương tiếc cũng vô ích, chi nên hiểu đời nầy: đừng tưởng mình có tài thì được trọng dụng, vì rõ ràng sách xưa nói không lâm, tôi nay chi nhớ đại ý cố nhơn đã dạy: “Cây trực, cây cẩm lại là danh mộc, vì gỗ có nước bóng xinh và cây để trong mát, vẫn bền bĩ không hư không mục, và vì vậy nên người ta vẫn tìm, dẫu trốn mọc trên non cao rừng rậm cũng có nguôi vác búa vác rìu lên kiếm đốn đem về và cây tạo cây vô dụng như cây vông đồng, cây loại dây leo, như cây “bông giấy”, cây điệp, cây bả đậu, thuộc loại cây tạp, vô dụng thì được tồn tại, nhưng rồi cũng không được sống bền lâu khi thiếu củi chụm, thiếu gỗ đóng thùng bộng chứa vật dụng gởi ra nước ngoài, chung qui theo tôi hiểu, hữu dụng thì chết với lưỡi búa vô tình, mà vô dụng cũng tử nghèo với lưỡi rìu hữu ý, y như câu sấm truyền: “Khôn lắm cũng chết, dại lắm cũng không còn, và chỉ còn hay chăng là giống biết tuỳ thời, nắng bề nào che theo bề nấy, cũng đừng ló mặt bợ đợ chỉ thêm hèn, thà trốn trong nhà, đưa võng ru con ngủ thay vợ mà được chữ “nhàn”, dầu bị chê khiếp nhược cũng mặc.
Theo tôi biết, phương pháp trồng cây theo lề đường thì theo ý kiến nhà thảo mộc học Pierre là hay hơn cả. Tóm tắt lại, đời đàng cựu quê mùa, đường nhỏ, ít xe, kẻ bộ hành cần nhiều bóng mát, cho nên ngày xưa trông cây dọc lộ nhỏ, lộ trải đá ong, vì chỉ có xe kiếng, xe song mã là cùng. Lại có ý trồng cây ăn trái xoài, me…) đến mùa hái trái, thêm hoa lợi cho công nho làng. Đến khi Pháp đến, và khi có xe ô tô, thì lộ đá đỏ hoá chật hẹp, phải nới rộng đường và đốn xoài đốn me, thay vào là trồng cây sao, cây dầu, cho lá xanh và hoa có cánh, đến mùa, rơi rụng rất nên thơ (đường hàng sao, đường hàng thị, hàng điệp, vân vân), những cây vừa cao lớn xinh tốt, cho bóng mát đường, thì Mỹ mẽo đến, xe ô tô của họ to lớn như một căn nhà, thêm xe buýt dài thậm thước, day trở kềnh càng, lại một phen nới rộng đường thành phố cũ hoá ra “xa lộ” thông cù, cây sao, cây me, rễ mọc xỉa ra lộ, bị cắt xén, chặt bớt rể, tỉa bớt nhánh, cây trở nên đứng không vững, mất thăng bằng, khi có dông to gió lớn, thường gãy nhánh hay ngã luôn tai hại cho ai rui ro đứng hay đi ngang dưới gốc… Cây me, lá đọng nước, trời dứt mưa mà đường vẫn ướt lâu, trào Pháp thuộc phân vân đang lo thay thế và chưa lựa được cây gì cho ổn thoả, vì kinh nghiệm cho biết cây ăn trái, khi ô tô đang chạy, trẻ con ra lượm trái, xe tránh không kịp, một độ vài mươi năm trước đây, trồng cây cao su (tỷ như khúc đường Hiền vương cũ, khúc gần ngã sáu, nhưng cây hévas, lâu ngày không rút mủ, mủ ứ đọng hoá ra u nầng xấu xí, trông như bị ung bướu, mụn nhọt thừa ghê tởm…
Sau ngày Giải phóng 30-4-1975, Nhà nước có sáng kiến trồng nhiều cây dầu gió (eucalyptol), cây nầy tiết ra chất dầu thơm nhẹ, lọc khí trời ô nhiễm trở nên thanh lọc nhẹ nhàng, thảm nỗi những cây trồng dưới lằn dây cao điện, khi cao lởn, lá nhánh quét đụng dây điện, rất là tai hại, rồi thì cây bị tề nhánh, hoặc có chỗ bị lột vỏ chung quanh gốc, làm cho mủ cây không lên tiếp dưỡng nhánh lá được và cây phải chết, và sau khi khuynh diệp tử ngủm, thấy trồng cây “bất cứ thứ gì cũng xong”, như bã đậu, cây dầu, cây sao, chi chi cũng mặc, hoá ra cuốn sách khảo về thảo mộc học của ông Pierre, đã mất nghĩa “herbier” của nó. Và như vậy, thành phố mất thẩm mỹ, đáng tiếc.
Từ ngày có nhiều trận dông to thổi qua thành phố, lại là một dịp cho sở trồng tỉa của đô thành, viện cớ, cho đốn và cắt xén cây trong thành phố gần như trụi lủi, gốc me đại thụ nay trơ trơ như cột nhà cháy, riêng đường Đinh Tiên Hoàng, khúc Văn khoa đại học cũ, hai hàng cây tự biết thân nên đã chết khô, sở trồng tỉa sai búa rìu đến chặt hạ và chửa vài cây bị nóc nhà chứa xe làm trở ngại chưa đốn được, lại hoá ra cánh hoang vu bơ phờ y như có một luồng gió bão thổi qua, tàn tạ.
Việc rời nhắc lại nghe chơi, tỷ như đại lộ nay mang tên ông Tôn Đức Thắng, trước đây không rõ vô tình hay có thâm ý riêng, cây hai bên lề vẫn trồng điệp ta xen kẽ với điệp Tây, qua mùa trổ hoa, bông trổ nhúm đỏ liên kề nhúm vàng, và khi có gió dậy, nhánh cây múa nhảy giao liên, ba đào sóng bổ, khiến bắt nhớ câu hát bất hủ tuồng “Tiết Cương chống búa” của cụ Đào Tấn, “lao xao sóng bổ ngọn tùng gian nan là nợ anh hùng phải vay”, đó là cảnh ngọn tùng xứ Huế khi có gió lớn, và nay để nhại thơ xưa xuất thần ấy hay là ở thành phố Miền Nam ngày nay: “lao xao sóng bổ ngọn cây trồng, gian nan đành chịu, anh hùng chớ than! Rồi cảnh ấy đã mất phần nên thơ, khi có cây nào chết, nay thay thế, hấy cây dái ngựa, cây hàm bà lằng bất chấp “mọc thế nào, cũng xong”. Cây dái ngựa, gốc to, mau lớn, lá xanh tươi tối, như sao sến, là cây nên trồng theo lề đường vậy. Mấy hàng lỗ mỗ không cần lưu tâm đến.
Thuật lại trận 1861, Tây đánh chiếm thành Mỹ Tho
Ông Phù Lang Trương Bá Phát, trong tạp san số 1 năm 196S Sử Địa, do nhờ sách Khai Trí xuất bản, dưới nhan là “Tỉnh Định Tường ngay xưa”; đã láy tài liệu trong quyển Histoire de l’Expédition de Cochinchine en 1861 của Léopold Pallt de la Barriere (Berger Levralllt, Paris, 1888) ra viết, tạp san nầy nay đã trở nên hiếm cỏ ít nhà còn tàng trữ, nơi bài nầy, tôi viết lại cách khác, theo cách cú tôi, – nhà văn với nhau, cãi và chỉ trích với nhau, có ích lợi gì, vả lại tôi đây chưa dám xưng nhà văn đâu, vậy xin biết và thông cảm cho tôi.
Chỉ đến ngày nay, tôi thấy nhiều tác giả viết về giặc Tây đánh chết Nam kỳ, ông thì tuy sanh đẻ tại chỗ mà chưa biết “Thang trông” ở Mỹ Tho là cái thang bắc lên cao để dòm bên nầy và bên kia, khi giặc Thổ còn trộm lúa khi lúa ở Tân An, khi khác lúa chín trước. Ở hướng Mỹ Tho, Thang trông mà ông lầm lạc và viết: Thân trong (tức là khúc thân phía trong sâu, tỷ dụ vậy) nhưng tôi làm sao dám nói tên ông ra, ông bỏ tù thấy cha thấy mẹ, còn một ông nữa, người Miền Trung, ăn học trong Nam, viết sử và lầm Biển Tranh ở Mỹ Tho, ông đã viết “Đồng Tranh” làm cho tôi tưởng chúa Nguyễn Ánh thư hùng với chúa Tây sơn ở tuốt Biên Hoà (Biên Hoà mới thật có Đồng Tranh), kỳ thật hai ông chúa nầy quần thảo với nhau, gần nát bét vùng Ba Giồng (Tam Phụ), khoảng Bến Tranh, ở giữa Vàm Cỏ và Sông Tiền đây thôi (vùng nầy nay còn đông con cháu Tây Sơn và quân sĩ chúa Nguyễn giải giáp lập nghiệp tại đây, nhà tối hạ phên xuống thay vì đóng cửa, và cháu chắt pha trộn nhau nhiều đời, nên kẻ theo cách mạng, người theo kháng chiến, và máu anh hùng nào phân biệt giai cấp thấp cao.
Tôi nhờ ham mê sách vở và sưu tập sách cũ, nên tôi có tìm thấy ba địa đồ cũ; ai cắt cổ, tôi không sợ bằng đến mượn hay bắt tội để đoạt của tôi ba địa đồ này:
1) một bức do ông Hoàng Xuân Lợi, nay đã mất bên Pháp, phóng y bức của G. Aubaret để lại trong sách “Histoire ét desoription de la Basse-cochinchine; là bản dịch ra Pháp văn của bộ “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức địa đồ nầy nay rất hiếm, và vẫn do ba ông Nanan, Vídal và Hérald, vẽ từ năm 1883, do định dạy của thuỷ sư đô đốc Charner và Bonard trước 1862 và in vào sách năm 1863, quyển Aubaret nầy tôi mua từ lúc nhỏ, còn đi học trường trung học Pháp Chaseloup;
2) một địa đồ của quyển là Paulin Via dẫn thượng, sách mua giá 20 đồng, chứa một tài liệu liệu vô giá, địa đồ nầy do ông Charpentier hoạ từ năm 1868, quý báu vô song;
3) bức địa đồ thứ 3 nầy, vẫn nằm trong quyển đã kể của Palu de la Barrière và do ông Dutreuil de Rhins sáng tác và in lại năm 1881 cho bộ Thuỷ binh Pháp sử dụng…
Ba địa đồ nầy đối chiếu và bổ túc lấy nhau, nhờ nó mà tôi múa mép như vầy chớ chính tôi cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, ngặt nỗi cái già đã theo bén gót, và cho đến nay, thú thật tôi biết không đầy lá mít tỷ như tôi là người nhau rún ở Sốc Trăng, mả tỉnh nầy mà tỉnh này xưa có một làng thổ tên gọi “Oi lôi”, xin ai đừng hỏi tôi Oi lô nghĩa là gì. Tôi không trả lời được…
Về Bảo Đinh hà (rạch Vũng gù) và Đăng giang (rạch Chanh), tôi hiểu như sau: (nay cải chính lại đây những gì tôi đã biết lở và viết từ trước).
1) Lật địa đồ cũ ra, vào những năm 1861, khi Tây ỷ mạnh, kéo binh qua ăn cướp nước ta để làm thuộc địa, Tây nhờ có tay trong mách đường đi nước bước, nên trận đánh chiếm Mỹ Tho, họ làm như vào chỗ không người, vả lại bên ta khí giới thô sơ, bọn họ súng mạnh bắn xa, để đợi trận Điện Biên Phủ gần đây, mới rõ tài cao hạ và đó mới là Kỳ phùng địch thủ” tay ngang mà đại thắng mấy ông những bốn ngôi sao xuất thân trường võ bị trứ danh Saint-cyr mới là sướng cho, nhắc lại về đường liên lạc giữa Sài Gòn và Mỹ Tho đời ấy, vẫn có:
1) trên bộ, nơi đất liền, vẫn có một đường lộ duy nhứt, sáu Tay o bế lại làm thành con quốc lộ quản hạt số 4 (route cloniale numéro 4) kèm thêm một thiết lộ gọi đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, dài độ 80 ki lô mét, đường lộ nầy chạy uốn vòng như cây cung, mà con đường thuỷ Vũng Gù là sợi dây cung nối liền đầu vàm “Vàm Cỏ Tây” phía Tân An qua vàm sông Tiền (Mê kông) phía Mỹ Tho (theo địa đồ của Paul Alinot in năm 1916 để lại thì đường thuỷ “sợi dây cung nầy” đo 28 ki lô mét, nhưng có lý do nào cung cong 80 km, mà dây đo 28 km cho được, nên tôi định đường thuỷ lộ nầy mặc dầu ngay bon, nhưng vẫn dài hơn số của Alinot đã ghi. Tây họ chọn con đường Vũng Gù nầy để độ binh đi đánh Mỹ Tho – một là vì con đường lộ đất liền, thì bị bên ta phá cầu, cắt đứt sáu bảy chỗ, khó thể làm cầu tạm cho binh, ngựa, súng ống qua dễ dàng, hai nữa là đường thuỷ nầy tuy bên ta có đắp đập và cố thủ khá kiên cố, đi ngỏ nầy ắt bị phục kích và cự đương dữ dội, nhưng người Tây vẫn khinh địch, ỷ mình súng mạnh hơn và tầm bắn đi xa hơn nhiều, và có lẽ thứ ba là tay trong mách lẻo, tuy đi đường nầy, theo chiến lược là thất sách, và tuy hiểm, nhưng cũng vì con đường thuỷ số 2 là Rạch Chanh, ở ném hướng Bắc, vừa xa đường, dễ phòng thủ, nếu noi theo thì ít hiểm trở về chiến lược hơn, ngặt nỗi Rạch Chanh, vào những năm 1861 đã cạn nhiều, cỏ lác mọc lềnh khênh, ghe cạn lườn còn có thể qua được chớ tàu chiến của Tây, lườn sâu đáy nhọn, qua đó gặp nước cạn, bị mắc kẹt, phải chờ con nước lớn hoạ may mới trẩy được rủi thời binh địch nghinh chiến thì không khác kình nghê mắc lấy, chết cha cửa Tứ, theo tôi định chừng, có lẽ bọn tay sai đã mách nước cho Tây rồi, cho nên Tây chọn đi theo rạch Vũng Gù như đã nói.
Ngày nay bình tĩnh lấy địa đồ ra xem mà đoán việc ngày xưa, thảm nỗi dầu muốn đến tại chỗ mục kích cho vững chắc, cũng không thể được, vì đi lớ quớ người địa phương bắt tội tìm “đường trốn ra nước ngoài”, thì khác nào thằng câm ăn ớt, miệng nào cắt nghĩa cho xuôi, còn sách vở để lại, ôi thôi, nó rối như tơ vò, không biết đường đâu mà gỡ. Sách Việt sách cổ của ta, thì tôi chưa từng gặp, lại nữa dẫu may gặp được cũng vô phương đọc và khai thác, vì tôi là thằng dốt, cha mẹ tôi xưa không cho tôi học chữ hán, chữ nôm vì cho rằng đó là chữ của người “nước mất”, học để làm gì, thêm một tệ đoan khác là sách ta rất mơ hồ, nội mấy sách phiên âm để lại đủ điên đầu vì dịch sai bét, hại nhiều hơn giúp ích. Nội tài liệu về dịa danh trong Nam đã làm cho tôi sớm bạc đầu, không kể nội hai con rạch cũ ở Tân An, Mỹ Tho nầy đủ thấy rắc rối nhứt; không nước nào học khó hơn nước Việt ta. Cái cam go của người hiếu học là thiếu sách hay dẫn đắt. Sách Pháp nói về địa danh ở Nam kỳ, tôi cho cuốn Abrégé de l’Histoire d’Annam (Đại lược sử An nam) của Alfred Schreiner, tự tác giả xuất bản ở Sài Gòn năm 1906, tôi cho cuốn nầy là sơ sài nhứt, khen cho tác giả khéo lựa nhan đề. Sách gì nói về Nam kỳ mà không có vẽ một địa đồ nào, tuy tác giả, nghề chánh là trắc địa sư (gọi ông hoạ đồ) (ingénieur géomètre), còn tài liệu về sử ký thì mơ hồ, nếu không gọi là không đúng chánh sử. Tôi xin trích ra đây đoạn nầy rút trong tập Sử Địa số 1 năm 1966 đã nói nơi trước và đây là lời của ông Trương Bá Phát: “Ngả thứ ba cũng vào sông Vũng Gù qua khỏi hợp lưu Bảo Định Hà và Vũng Gù đến ngả ba sông nầy và kinh Thương Mãi (không biết hồi 1861 gọi là kinh gì nhưng từng chặng tôi thấy sách Abrégé de l’histoire d’Annam tác giả Schreiner, trang 184, gọi là Rạch Chanh, kinh Bà Bèo, Rạch Cua và Rạch Bà Rài, tới đây lại lòng sông cạn vì bùn lầy, cỏ lác, chỉ có ghe nhỏ lưu thông được mà thôi). Vị trí chỗ hợp lưu kinh nầy và sông Cửa Tiểu là ở trên thượng lưu Mỹ Tho (tập san Sử Địa số 1 năm 1966 do nhà sách Khai Trí xuất bản, trang 76)”.
Nhưng chi tiết của Schreiner trên đây đều đúng, ngặt không rành, và ông Trương Bá Phát quả dè dặt trong lúc dùng, khi ông kể một dọc nhưng tên Rạch Chanh (Schreiner viết Rạch Chánh), kinh Bà Bèo, Rạch Cua vả Rạch Bà Rài, ông kể ra như vậy có ý tránh trách nhiệm và tôi cho cả hai đều lúng túng.
Bỏ qua việc ấy, để nói về cuốn sách của Schreiner nghe chơi cho vui vấn đề. Cuốn nầy, cỡ format 24×16, dày 588 trang, tôi giựt giải thưởng năm 2è année trường Chasseloup với câu Pháp văn của thầy đề tặng: “Souvenir à l’elève Vương Hồng Sển en ré compense de son application au cours dannamite que je professe au collège Chasseloup Laubat”. Sài gòn le 22 février 1921. Signé: Nguyễn Văn Mai.
Ấy tôi được cuốn sách thầy thưởng, tâng tiu như con đẻ bọc điều ngờ đâu cách vài tuần nhứt sau, tôi gặp sách nơi dãy lạc son ngang nhà ga xe lửa Mỹ Tho, các chú bày bán ê hề, trên vài trăm cuốn mỗi cuốn giá 0$50. Hoá ra, không phải phụ ơn thầy dạy dỗ, nhưng quả thầy thưởng cho con năm hào chỉ. Nói vậy, chớ giá thứ tôi lúc ấy sẵn tiền và đã biết chơi sách như nay, tôi mua lên và thử nay đem ra giữa chợ trời sách, đường Cá Hấp, hô bán 1.000 đồng, ắt giây lát sách không còn một cuốn, tôi sẽ có tiền nặng túi, vì người chơi sách vẫn còn, và sách cũ, dầu hay dầu dỡ, vẫn còn người mua sắm.
Đó là nói sa đà về thú chơi sách cho đỡ cồn cồn trong trí, nay tít lại sách Pháp cũ và tài liệu về địa danh trong Nam, tôi thấy quả phải có duyên may mới gặp sách hay, và muốn có tài liệu đích xác người mình chưa thế nào rời sách của Tây viết ngày xưa được. Đừng nói chi xa, có sẵn tài liệu trong tay mà vẫn phải năm chầy tháng lụn mới hiểu thâm và biết được chút ít những gì trong ấy, chứ đừng tưởng trong chốc lát, đến thư viện xem sách rồi viết được một bài súc tích hay ho. Người nào làm được việc ấy, thì quả là một bực thiên tài, chớ như tôi rị mọ đã già đời mới học được đôi tài liệu nầy, xin trình bày hôm nay nhờ bực cao tài chỉ giáo:
1) Tôi phải trình bày lại như vầy có lẽ dễ hiểu hơn chăng:
– Nhắc lại khoảng 1861, kể về đường thuỷ dẫn từ Tân An xuống Mỹ Tho, gồm có hai rạch đã nói nơi trước và nay xin giải thích rộng như vầy:
Trước khi Tây qua đây, thì ngày xưa chỉ gọi tên như sau:
a) Một con rạch gọi Rạch Chanh, như đã nói nơi trước, chữ gọi Đăng Giang, rạch nầy đã được ghi vào sách sử vì chúa Nguyễn Ánh đã từng lội ngang đầu vàm rạch nầy để tránh tay địch thủ lợi hại là Tây Sơn, truy nã ông cấp bách. Sử không chỉ rành chõ nào, định chừng lối những năm nguy nan nhứt, của chúa Nguyễn, con trai cả đã gởi qua Pháp theo chơi Bá Đa Lộc để xin cầu viện, thân vua bấp bênh chạy không kể chết, vàng lượng chặt đôi chia cho bà hậu, đủ thấy sức nghèo, đó là lối một mất một còn với Tây Sơn thì năm 1774 chạy vào Nam đến năm 1789 là năm thắng được Tây Sơn, năm 1982 tôi có dịp quan sát khúc đầu vàm rạch Chanh, tôi định chừng và đã viết, hoặc chúa Nguyễn lội ngang sông Vàm Cỏ cũng gọi sông Vũng Gù, thì sông nầy rộng lớn quá, ắt phải nhờ cỡi trâu quen đường (mà trong sử thi vị hoá hay thần vị hoá đổi ra cỡi lưng cá sấu), hoặc nữa lội ngang vàm rạch Vũng Gù, thì sức người trai tơ lội qua được vàm nầy cũng đủ hãnh diện tài cao, khỏi nhờ lưng trâu, lưng sấu. Khúc sông và con rạch đều mang một tên Vũng Gù là lấy tẽn của Miên “kompong ku”, còn rạch Chanh là lấy tên khác cũng của Miên: prek krauch (krauch là trái chanh), Ngô Tất Tố viết “rạch Chênh” (chênh chênh bóng nguyệt) là sai rất xa, con rạch nầy, phải cắt nghĩa và dẫn người đọc từ mé Tân An dẫn qua thì mới dễ hiểu, vì đầu Vàm là rạch Chanh, vì có bèo nhiều nên eo khúc lại gọi “kinh Bà Bèo” (kinh, rạch lẫn lộn), đi tới nữa lại gọi “Rạch Cua”, tôi chưa gặp điển tích nào, nhưng cho phép tôi định chừng đó là lối giáp nước, cạn, cỏ lác mọc nhiều, cố nhiên có cua sanh đẻ nơi đây nhiều, nên lấy đó đặt tên chăng, rồi tới chỗ rạch trổ ra sông Tiền (trước khi có đi ngang Cai Lậy), đầu vàm Rạch Chanh, nơi mé Mỹ Tho nầy, nước minh mông lai láng rộng lớn quá, nên gọi rạch Ba Rài, lại cũng đạp cứt Thổ nữa, và “ba rai” là ao vũng đào tay (lac artificiel), bởi vì vàm trổ ra sông Cửu Long của Rạch Chanh nầy, ở đây minh mông hà lãng, nghe cho tân kỳ, và tân kỳ hơn nữa là ta đã biến tiếng Barai của Thổ ra tiếng Việt, hoá ra “buông Ba lai”, là một địa danh ở nơi khác của cửa Mékong nầy. Và sông Ba lai, nay đã lấp gần cạn, đi không được cũng may đời cho học trò lớp sau nầy, chớ hục trò cỡ bọn tôi, tên địa danh, mỗi khi đổi đời hay đổi vua đổi chủ, văn thay đổi theo, học hoài không nhớ nỗi cho tận cùng được, tôi nói học khó là vì vậy. Riêng về cái tên “Arroyo Commercial”, rồi dịch ra là “rạch Thương mãi”, đó là theo Tây. chớ thuở 1861, chưa có hai địa danh như vậy đối với người Việt phe vua Tự Đức.
Google photos
b) Qua một đường thuỷ nữa, nối liền hai tỉnh Tân An qua Mỹ Tho, rắc rối vẫn không ít, và tôi lại đổi phương pháp và bắt đầu từ Mỹ Tho kể qua Tân An, như vậy hoạ may độc giả mới mau lĩnh hội, vì con rạch nầy có rất nhiều tên gọi. Bắt từ Mỹ Tho, rạch lấy tên là Hưng Hoà giang, vì chảy ngang hai huyện Kiến Hưng và Kiến Hoà. Đến năm 1819, vua Gia Long sai đào mở rộng thêm khúc nối Hưng Hoà giang, và ngự tứ khúc rạch nầy gọi “Bảo Định Hà” (rạch vả hà, lẫn lộn). Cũng nơi khúc nầy có giáp nước (dos d’aire), trước kia chỗ này là ruộng lầy, nhờ đào sâu biển ruộng thành rạch có nước chảy lưu thông qua lại, chỗ ruộng trước đó có đặt một vọng lâu (mirador, nôm na là một chòi canh khá cao để ờ trên ấy dòm bên ni, dòm bên kia) và cái thang ấy đặt tên là “Thang Trông” (lâu ngày chính người bổn xứ vẫn lầm lạc như ai kia và viết “Thân trong” (nghĩa đã khác nhiều) và qua rằng Thang Trông, dịch ra Hán tự là Vọng Thê (Thê là cái thang), khiến mấy ông lem nhem làm tàn, lại dịch là Vọng Thê: Nhớ vợ. Vì vậy một lần nữa, tôi xin lặp lại sanh ra làm con nhà học trò Việt nam, lắm mệt vì phải nhớ cho nhiều các tên vặt vãnh của con rạch đào tay mà quá nhiều tên như vầy. (Tôi nói thêm lúc nhỏ, tôi có ngủ một đêm nơi chỗ nầy, nhớ tên làng Phú Kiết, và một người cố lão ở đây đã dạy tôi rằng ngày xưa ông Thủ Khoa Huân thọ hình nơi nầy, ông bị Tây xử chém tại Phú Kiết nầy, và bài thơ khóc ông, chỗ khác gọi “thơ ông tuyệt mạng”, có hai câu chót: “Đương niên Tho thuỷ ba lưu huyết, Long Đảo thu phong khởi mộ sâu” (Phan Bội Châu dịch: “Tho thuỷ ngày rày pha máu đỏ. Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong”, và nhiều tác giả khác dịch “Sông Tho, Cồn Rồng (Thượng Tân Thị), và còn nữa nữa, mấy địa danh nầy làm cho tôi phân vân và hiểu ông “qui thần” ở mé sông Mỹ Tho, cồn Rồng hay cù lao Rồng, vậy thật sự “ông Thủ khoa thành danh nơi nào”, xin hỏi người cố cựu còn sanh tiền, nếu hiểu ranh, xin dạy lại.
Tham nói và quá già hàm, xuýt lạc đề, trở lại Hưng Hoà giang, chảy luôn ra Vàm Cỏ Tây, khi ấy mới lấy tên là kinh Bá Bèo; – thật sự là “bàu bèo”, vì nơi vàm tích tụ rất nhiều bèo, và thêm lấy tên là rạch Vũng Gù, vì trổ ra sông Vàm Cỏ, nầy cũng có tên là Vũng Gù, do tên Thổ “Kompong ku” khi âm Vũng Gù (giọng Nam ), khi khác nữa lại âm “Vũng Ngù” cũng viết theo Tây là Run Ngu (có lẽ do người Miền Ngoài, cho nên vần “V” biến ra vần “R” làm vậy. Và phải hiểu nên bắt từ Mỹ Tho kể qua, để đến đây giải nghĩa Vũng Gù vừa dành đặt tên cho sông lớn Vàm Cỏ (sông vũng Gù) và dành đặt tên luôn khúc rạch trổ ra đây là rạch Vũng Gù, khi hiểu như vậy rồi, khi ấy sẽ đay qua thích nghĩa: rạch nầy xưa dùng chạy trạm chở thơ từ, mau hơn và gần hơn rạch Chanh (đã bắt đầu cạn), cho nên người Pháp mới đặt tên là “arroyo de la Poste”, còn thằng cha tỉnh trưởng gọi đó là Kinh Bót, thiệt là bậy bạ hết sức, không rõ y ta đã đi học tập hay là khỏi đi hoặc đã về chưa?
Của nước người ta, địa danh rất ít đổi dời, tỷ như nhắc “le Danube bleu” là biết ngay sông nầy ở đâu, còn Hoàng hà, Dương Tử giang, vừa rộng vừa dài, và tên ấy nào có đổi thay, trái lại nơi xứ ta, Sông, rạch, kinh, giang, hà lẫn lộn, đủ điên đầu, đầu thai làm học trò Việt tử đây hết ham. Tại sao: mua một thiên lá mà đếm có một trăm tờ, vay lúa một thiên mà đong có một trăm giạ? Khi khác, lầu chọc trời, Tây gọi “gratte ciel”, đời vua Trụ có “trích tinh lầu”, xin cắt nghĩa giùm cho với.
Tôi xin hỏi: phải chăng ngày xưa, ông bá hộ là ông nhà giàu cung cấp cho nhà nước được một trăm người lính hay là chỉ có mười người? Còn “thiên hộ” là gì, “Vạn hộ hầu” là cái khi? Bá huê tôn sao gọi vase “mille fleurs”? Và những địa danh rất kêu trong truyện Tàu như “Lộ huê vương” có phải là ông hoàng, khi ra đường có hoa trải lót đường đi? Và “Thiên Ba Lầu, vô nịnh phủ”‘ phải chăng là lầu có chưng một ngàn thứ hoa, và lầu ấy toàn là trung thần hiếu tử, tịch không chứa một thằng nịnh nào?
Văn hoá xưa nay còn lại bao nhiêu đó, nay không còn sách cắt nghĩa cho thông, ấy là thụt lùi chớ phải đâu tiến bộ, chuyện xưa nên học, khách ngoại quốc đến đây rủi họ hỏi, mình không cắt nghĩa được hoặc lớn họng già hàm cắt nghĩa sai bét, như vậy có nên chăng?
Tại sao ngày xưa, không dịch “Bến” là “Chử” là “Tân” lại dịch “Giang”, (tỷ dụ Bến Tre, Hán tự là Trúc giang, Bến Tranh, Hán tự là Tranh Giang? Lại nữa chữ nôm viết chữ “tranh” là “tranh” tố nữ chớ không phải cỏ tranh), khiến cho một ông đồ hay chữ, viết “chênh” như trong câu “chênh chênh bóng nguyệt”? Một ông cử tân khoa khác viết sách lẫn lộn Bến Tranh ở Mỹ tho, lầm với Đồng Tranh vẫn xa lắc tí tè trên Biên Hoà rừng núi? Một ông nữa viết: “đất Tầm phong long (Châu Đốc và Sa Đéc) (Sử Địa số 1 năm 1966 trang 72). Theo tôi, viết làm vậy, chưa phải là sai, nhưng quả “bắn chưa trúng đích”, tôi không giỏi gì hơn, nhưng nhờ biết quẹt quẹt tiếng Thổ, và đọc trong sách Trương Vĩnh Ký, theo tôi hiểu, có đến hai chỗ đều gọi “kompong Luông”, dịch hay âm là “Tầm phong long”, và đó là:
– thứ nhứt, Kompong Luông vùng Sài Gòn, là chỗ mũi tán dóc (pointe des blagueurs) ngày nay ngó qua Sở Nhà Rồng, bến tàu đi biển. Ngày trước, phó vương Đàn Thổ, ngự tại Sài Gòn, thường ra tắm sông nơi nầy, nên đặt tên kompong Luông, như đã biết: kompong là “vũng”, Hán tự là “úc”, còn “luông” là vua, nay còn Luông Pra bang). Nghĩa rộng kompong luông ăn trùm tới Tân An, nên có sông Vũng Gù và rạch Vũng Gù, lại vẫn có “Cù úc” là ruộng tốt châu phê (Mỹ Tho ngày nay), v.v…
– thứ nhì, kompong luông vùng Vĩnh Long, vì sau khi người Việt ta chiếm Sài Gòn, thì phó vương Đàn Thổ chạy xuống đất Vĩnh Long, lập một khu “Bến Ngự khác”, vua Miên vẫn thích tắm sông, và đất Vĩnh Long là tên Hán tự còn lại của cuộc địa còn lại danh tử đất Vãng, (đi Vãng là đi Vĩnh Long) và “vãng” là do tiếng nôm “Vũng” trong “Vũng Luông”) Tôi không viết được gọn, và phải viết tầm ruồng làm vầy cho cạn tàu ráo máng, nói phải nói cho toạc móng heo, mặc dầu phạm tội thích lải nhải, kỳ trung là nói cố ý, vì có nhát búa đập đầu nhiều lần thì cây đinh mới lút ngập sâu.
Đến đây, tôi đi đã quá xa đường, nay xin dẫn độc giả trở lại xem theo tác giả Pháp Pallu de ba Barrière cuộc “đánh chiếm năm 1861 thành Mỹ Tho”, theo sách in năm 1888, mà họ đánh phách gọi là cuộc tuần tiễu, sự tế sát (reconnaissance) và chỉ dùng chữ “expédition de Mytho” (cuộc chinh phạt) nơi đầu trang 119, chương 7:
“Sông Cửu long” (Cambodge) được dò xét thám hiểm tung phút từng giờ qua các cơ quan thuỷ binh, công binh, pháo thủ và bộ tham mưu.
Có hai đường thuỷ từ sông Vàm Cỏ Tây (Vaico occidental) đưa đường qua Mỹ Tho: Một thuỷ lộ chạy thẳng, là arroyo de la Poste, gọi theo Việt, là Rạch Run Ngu. Thuỷ lộ thứ hai là arroyo commercial, chảy vòng tròn, trổ ra sông Cửu Long cách thành trì Mỹ Tho tám dặm, nối thẳng arroyo chinois là đường nước giao thông từ vùng Sài Gòn đến vùng Mỹ Tho nầy. Kể về chiến lược, nên dùng arroyo commercial là đắc sách hơn là noi theo ngả arroyo de la Poste, vì ngả de la Poste, mặc dầu đưa thẳng vào thành, nhưng đó là một con tiểu lộ chật hẹp, dễ bị đối phương dùng hoả công lúc chặn đánh. Nếu dùng chiếc tàu nhẹ lướt trên arroyo commercial, dụ chọc cho phe địch chống cự nơi đó, rồi ta noi theo arroyo de la Poste đoạt thành dễ như chơi, vả lại arroyo commercial cỏ mọc tùm lum, tuy không phòng bị, nhưng chớ ham đi ngả nầy, lòng sông rất cạn, tàu ta đi không tiện đây. Arroyo de la Poste, địch dự bị và cố thủ kiên cố, đủ biết đường nước nầy là lợi hại, quân do thám cho hay địch đắp đập làm nhiều chỗ và đặt đồn thủ rất nhiều nơi, và tàu bên ta phải đề phòng có sự chống trả kịch liệt. Ngoài ra, nẻo quan lộ trên bộ thì cầu kỳ đã bị phá hư trên bảy chỗ, thế là vô dụng cho bên ta rồi. Con lộ đất nầy không khác một cây cung, mà dây cung là arroyo de la Poste vậy.
“Trận quyết chiến nầy đã khó lại hiểm, trên đất liền cũng như trên sông nước; nhưng nếu trì công phá đập diệt đồn thì việc dọn đường cho tàu ta xông lướt trên arroyo de la Poste kể như mỹ mãn, rồi cứ để cho bên ta, súng có lòng xoay (pièces rayées) làm phận sự hai bên có lính bộ bắn tiếp, thì ắt dễ thành công, huống hồ theo dự định, khi binh ta kéo đến gần thành trì Mỹ Tho thì vừa có một thuỷ triều thuận tiện giúp ta đắc thắng dễ dàng”.
Trên đây là bản sách lược do thuỷ sư đề đốc Charner hoạch định mật và giao cho hải quân trung tá Bourdais thi hành, và ngày 26-3-1861, Bourdais được lịnh khởi binh (sau khi tàu của y bị kẹt, đóng ở đầu vàm altoyo de la Poste chờ lịnh đã ngót mươi lăm ngày). Các tàu Mitraille (Dubal cầm đầu), chiếc pháo hạm số 18 (cò tàu Peyron), chiếc số 31 (Mauduit Duples8s điều khiển), chiếc Monge (cò de la Motte Rouge), thêm hai trăm lính thuỷ (trung đội 2è và 5è do hai đại uý Prouhet và Hanès cầm đầu), thêm ba chục lính I-pha-nho do thiếu uý Maolini dẫn dắt, lại có một ổ tạc đạn mười người của chiếc Impératrice Eugénie hỗ trợ và đặt dưới quyền điều khiển của trung tá Bourdais. Bộ tham mưu thêm biệt phái đại uý công binh Mallet và đại uý Haillot theo hỗ trợ đội tiểu binh nầy. Đề đốc Charner lại dặn riêng Bourdais hãy mật báo cho tổng trấn Việt ở Mỹ Tho nên để cho quân Pháp chiếm trọn khu tứ giác là Vàm Cỏ Tây (Vaico), Run Ngu (arroyo de la Poste), rạch Chanh (arroy commercial) và Cửu Long (le Cambodge) (sic), và nếu ông (tổng trấn) nầy muốn về Sài Gòn, thì Bourdais hãy cấp giấy đi đường cho ông ta, (hãy nói rõ ông ta sẽ được nghinh tiếp trọng vọng, nếu ông ta muốn qui hàng, thì sẽ được giữ y chức cũ, nhưng buộc phải về hưu, làm dân thường, bằng như ông ấy muốn lui về lãnh thổ Nam, thì sẽ giúp ông đủ mọi phương tiện, cho ông toại nguyện.
Nhưng xin dặn Bollrdais chớ quên cuộc tiễu chinh phải cho thận trọng và thật phải cho dè dặt, lỡ để cho địch bắt sống một tên quân, dầu chết dầu còn, cũng là thất sách, phải nên tránh việc ấy, và cần nhứt là liên lạc khéo với ông tổng trấn nọ để đi đến kết quả là thâu được thành Mỹ Tho” (thư Charner 27-3-1861).
Suốt những ngày 27 cho đến 30-3-1861 (dương lịch), trung tá Bourdais toan dẫn bổn bộ tàu chiến định dùng ngả arroyo Commercial mà tiến tới, nhưng phần thì sình lầy, phần thì cỏ mọc dày chận lại, sau rốt Bourdais, ngày 1-4-1861, mới dùng ngả arrovo de la Poste.
Chiếc Mitraille phá được hai đập đầu, nhưng cách hai hôm trước, hải quân trung uý Gardoni đã qua lọt đi tới đập số 3 và báo tin có hai đồn cố thủ hai bên bờ rạch và phải đề phòng.
Ngày 1-4-1861, binh Tây trên bờ tìm ra vị trí hai đồn nói đây và cách 1.200 thước, đã dùng súng lớn phá tan. Ngày 2-4, chiếc Mitraille dắt theo sau là chiếc Alanne, tiến tới, nhưng tàu Mitraille bị mắc kẹt khi cách đồn Việt bốn trăm thước và chận đường, chiếc Alanne không qua được. Duy ba chiếc pháo hạm số 18, số 31 và số 20, nhờ vóc ốm, lách qua được và phá tan đồn bên ta (Việt).
Nên nói lại đây, đồn 1 và 2 của Việt, thiết lập trên sình non, ngoài có hào sâu cỡ hai thước Tây bao bọc, cũng hiểm trở lắm, nhưng vẫn không địch lại súng mạnh của Tây, và binh Pháp đã khởi sự bắn vả phá sập hai đập Việt số 3 và 4. Tnmg tá Bourdais treo cờ lịnh của mình trên chiếc pháo hạm số 18. Chiếc Mitraille, mặc dầu bị kẹt, và chiếc Alanne, bị cản trở, hai chiếc vẫn dùng súng trợ lực trong chiến công ngày 1-4-1861.
Ngày 2 và 3-4-1861, Tây dùng phá rốc các chướng ngại vật lối đó, gồm thúng đựng đá, đá cục to, cứ làm bằng cây cau xóc dưới sình, vì lính Tây phải lặn lội móc moi dưới nước bùn lầy, nửa thân trên và đầu cổ phơi dưới ánh nắng nóng như thiêu, nên dịch khí và kiết lỵ hoành hành, bọn nào mắc bịnh thì có tàu nhỏ đưa qua hai chiếc Mitraille và Alarme làm tàu cứu thương.
Đến ngày 3-4-1861, ba chiếc pháo hạm lại kéo tới trước và chỉ trong vòng hai mươi phút đã hạ xong cái đồn thứ 3 bên tả ngạn. Dường như trong trận nầy, đầu lãnh bên Việt bị trúng thương, sứt mất một. cánh vai, vì vậy cuộc chống trả thấy dứt ngang, đồn bị phá và bị binh Tây chiếm đoạt. Lại phải dẹp trừ các chướng ngại vật (số 5 và số 6) cũng y như đoạn trước, thêm có một chiếc thuyền quan to lớn, nhận chìm, chứa đầy đất. Khoảng giữa hai chướng ngại 5 và 6, có sắp 25 bè chứa đấy đồ dẫn hoả diêm sanh và bùi nhùi. Nơi nhận thuyền to, là giáp nước, chỗ hai sông: Vàm cỏ và Tiền giang đụng đầu nhau, khi nước lớn, chỉ sâu một thước rưỡi,… Đến chốn nầy, Bourdais ra lệnh cho Duval cò tàu Mitraille, báo tin thắng và đã chiếm được ba đồn, phá được năm đập và trễ lắm là ngày 5-4-1861, sẽ đoạt thâu đập số 6, tức là đi đã được nửa độ đường, nhưng tin nầy về tới Sài Gòn cũng cam go không ít, vì có nhiều lối đi bị cạn vì con nước thuỷ triều lớn nhỏ không chừng. Xét ra nếu cho đến nay, ba pháo hạm lướt xông dễ dàng, chớ vẫn sơ hở thiếu bộ binh yểm trợ hai bên sườn, nếu bên Việt rõ được thì nguy to vả lại nhiều lần tàu Tây đụng chạm hai bên bờ bụi rậm, cuộc độ binh đã bắt đầu gay cấn, Tây đã gần đi đến thành luỹ Mỹ Tho, binh Việt lực lượng càng đông, cho nên đến ngày 4-4-1861, bên Pháp thêm binh tiếp viện, gồm chiếc tuần dương hạm nhỏ do đại uý Vautré điều khiển, đem theo 200 lạp binh (chasseur) đặt dưới quyền hai đại uý Lafouge và Azières, thêm 100 lính thuỷ, hai trung đội thuỷ quân lục chiến, kèm hai súng lòng xoáy, hai súng tạc đạn sơn phòng, lòng xoáy, do đại uý Amandric du Chaffaut cầm đầu, lại có thêm 50 công binh đặt dưới quyền đại uý Bovet, tuỳ tướng là hải quân trung uý Amirault, một đội cứu thương, còn đạn dược gồm 20.000 các tút giao cho thiếu uý pháo thủ Mathieu trông nom. Đến đây, đoàn chinh tiễu đã trở nên hùng hậu, cho nên giao cho hải quân đại tá Le Couriault du Quilio làm trưởng đoàn phụ tá có thêm quan bốn lon công binh Allizé de Matignicourt theo hỗ trợ và hai ngày sau là ngày 6-4-1861, thêm có hải quân trung tá Desvaux từ Sài Gòn dẫn binh thêm xuống đóng nơi Rạch Run Ngu, và thiếu uý pháo thủ Guilhoust từ Fou ven mot (Thủ Dầu Một) dắt ba khẩu súng sơn pháo đến thủ trước tại Mỹ Tho (Đoạn nầy tôi dịch đầy dủ theo sách cho thấy lực lượng Tây hùng hậu)
Ngày 4-4-1861, đề đốc Chamer còn gởi cho trưởng đoàn chinh tiễu một mật lịnh dạy phải gia tăng cẩn thận, phải xem trước xem sau, tàu vào sông rạch, trưởng đoàn có trọn quyền sai cắt, nếu xét binh quân chưa đủ sức đánh vào thành Mỹ Tho, thì hãy cứ xin binh thêm, nhứt là không nên liều lĩnh vả lại theo đám An Nam chỉ dẫn thì trong thành vẫn có sẵn người yểm trợ nội công về hào thành hãy liệu lấy và nên tháo nước cho rút cạn vào ban đêm là thuận tiện nhứt. Vả lại đó là một việc tuỳ nơi người trưởng đoàn xem xét và tự liệu tại chỗ”.
Trong thơ, lại có gạch một câu hờ, dặn nếu “ông tổng trấn có điều đình lời nào, thì cứ trả lời ông ta hãy để cho bên mình (Pháp binh) chiếm cứ thành trì trước đã rồi sẽ thương nghị sau, và cần nhứt là nên nhớ “ông ấy là một chồn cáo xảo quyệt” có thể đánh lừa mình đó” (ne perdez pas de vue, un instant, que vous avez affaire à un renard qui veut vous tromper”. Qua ngày 6-4-1861, Charner lại bồi tiếp một bức thơ như vầy: “Ông (trưởng đoàn) ông ở tại chỗ, nên nghiên cứu xem có thể cho các pháo hạm sắt nhỏ chạy ra sông Cửu long (Cambodge) và còn phải diệt trừ hết các chướng ngại và ghe thuyền nhận chìm tại chỗ; về các pháo hạm, ắt có thể bị sình bùn ngăn chận, nhưng vì đó là chất mềm, nên lườn tàu có thể “cày” sâu cỡ ba tấc Tây và lướt tới vô sự”
Charner lại nghe dường như tại Mỹ Tho, có nhiều chiếc thuyền của quan quyền người Việt, tưởng cũng nên huỷ diệt hoặc thâu đoạt thì càng tốt, vì như vậy phe địch sẽ không có cách để tẩu thoát. Charner viết: “Hai chiếc Lily và Sham Rhoch, tôi chưa có tin tức đã tám hôm rồi, nhưng tôi sẽ cung cấp vật liệu, lương thực và cho hai pháo hạm hỗ trợ để nghinh địch nơi đầu vàm sông lớn. Phải nghiên cứu cách thức cho hai chiếc Mitraille và Lalarme đi tới Tiền Giang (Cambodge) và cho hai ghe cạn lườn theo hộ tống”. Nhưng vào ngày 5-4-1861, đoàn tàu của trung tá Bourdais cầm đầu, trong số có thêm chiếc pháo hạm số 16 đo đại uý Béhic điều khiên, đoàn tàu nầy đã phá hai đập số 5 và 6 (các ngày 3 đến 5-4-1861) và đã lướt đến đập số 7 chỉ còn cách xa độ 1.000 mét.
Và đây là lần thứ nhứt, nơi hông đoàn tàu lộ rẽ, địch có kháng cự. Bên Tây đổ bộ lên bờ thấy một xác tử thương và dấu vết máu đổ. Cho lính thuỷ lên lục soát nơi chỗ gọi “giáp nước”, nơi quân Việt đóng ở đó đề phòng ban đêm bên địch đánh lén. Cho đến giờ phút nầy, đoàn bộ binh mãi lo gỡ các chướng ngại vật cực khổ và vẫn bị dịch khí và bịnh kiết ly hoành hành, cho nên không ủng hộ gì được nơi hông các pháo hạm. Nhưng việc ủng hộ ấy thuộc về phận sự của đoàn hỗ trợ phái từ Sài Gòn xuống, và vẫn gặp trắc trở cam go vì quân thám tử thường cho tin láo khoét, việc ngôn ngữ cũng bất đồng, lại nữa địa thế tứ bề đều là mới lạ. Duy tin tức nầy, chúng thám tử nói đúng, là bên tả ngạn, chỉ có một xẻo nước ngăn trở, còn bên hữu ngạn, vẫn có đến năm đường nước, vừa lớn vừa bé, chảy xuống Rạch Run Ngu. Gần đó, cách độ 2.000 mét, thì là con đường cái quan thuận tiện, vậy thì cắt bộ binh cứ theo tả ngạn mà đi tới và khi đến gần đích là Mỹ Tho, thì sẽ sang qua hữu ngạn mà đi.
Google photos
Ngày 5-4-1861, mấy đội hỗ trợ từ Sài Gòn, đã theo tàu Echo tựu lại vào buổi sáng nơi đầu vàm Run Ngu gặp Vaico occidental, nơi đây có chiếc Rhin thủ sẵn. Qua hôm sau, có chiếc pháo hạm số 22 đưa trung đội 2è lạp bộ binh và đội thuỷ quân lục chiến đến nữa, nhưng đoàn binh nầy và tàu của Pháp, đều bị chỗ giáp nước chân lại vì nước ròng sát, không qua được. Mãi đến ba giờ chiều, binh lính mới đi tới đập số 8 của địch. Họ bèn lên bờ và theo gót quan bốn lon Alizé. Một đội 10è thuỷ quân và 50 tên quân I-pha-nho do thiếu uý Maolini cầm đầu cũng tháp theo đội nói trên. Bọn chúng gặp đất mềm, chông cứng đầy gai cắm sâu dưới lầy, bầy ngựa chiến và con la (mulet) và súng sơn phòng đều phải bỏ lại đây hoặc vác trên vai nặng nhọc. Phải có bốn cu li khiêng súng cối bốn đứa nữa khiêng giá sủng, và mỗi thùng đạn dược thì phải hai người khiêng, nhưng phái đoàn nầy xê dịch cũng khá mau lẹ. Bên Việt cố thủ kiên cố tại đây. Dưới rạch thì có chướng ngại vật to lớn, còn trên bờ, thì lính Việt bày ra hàng dài cách xa 1 ki lô mét, súng ống chĩnh chàng.
Bên Pháp lạp binh, thuỷ quân, lính I-pha-nho, thuỷ quân lục chiến dàn xếp trên bờ chỉnh tề. Hai bên xạ chiến, nhưng thiếu uý Maolini đưa súng lớn và mạnh vào trợ lực, và bên Việt núng thế nên tháo lui, phen nầy họ bỏ lại xác tử thi của họ; đồn Việt bị phá, và binh Tây dừng chơn nghỉ ngơi tại một làng gần bên đồn nầy.
Qua ngày 7-4-1861, lại tiếp tục…, chờ nước ròng, vét sạch bùn trong mấy thuyền bị nhận chìm, và khi mét sạch, thuyền trôi lềnh bềnh theo dòng nước chảy. Công việc như vậy mà khó nhọc vô ngần, vì quân Pháp phải loi ngoi làm dưới nước, đưa đầu cổ cho nắng táp. Ban đầu dịch tả phát nơi đám lạp binh rồi chuyền lây qua bọn lính thuỷ và các đốc tờ Champenois và Azais và Dugé de Bernonville phải tận lực săn sóc: Khi đánh đến đập số 7 của ta, thì số binh ngã bịnh lên đến một trăm năm chục, số y tá không đủ, và phải dùng lao công Tầu đế đấm bóp tay chân cho kẻ đau dịch tả. Trong lúc ấy, ngựa giậm chân làm lủng ván lót trên tàu và ghe thuyền của bên Việt tịch thu được, lại vẫn tháo nước, và nguy thay, các xác bịnh nhơn từ trần, để dưới ghe thấp lại bị sóng nhồi lăn đưa qua người sống nằm hay ngủ gần đó. Quả các trại bịnh viện tình cảnh lúc nầy bi đát làm sao, và trung uý hải quân Vicaire, thuyền trưởng chiếc Loire, đã từng thấy năm người chết trước mắt chỉ nội khoảng khắc vài giờ. Lính trên tàu Monge, vì tham gia trong trận nầy, đều ngả chết lần hồi, vả bọn còn sót lại, vẫn chưa lại nghỉn (chưa hồi phục). Trung tá Bourdais bắt đầu mắc chứng rét, tinh thần va giảm sút lần…, va thường ngồi trên tàu nhẹ, mỗi lần va thấy quân sĩ mất nghị lực, va bên ngó ngay mặt viên tài công thốt câu như vầy: “Việc đầu tên là ta sẽ gắn huy chương cho mi!” và chính câu nói ấy đã làm hăng hái lòng quân trở lại. Tuy nói làm vậy chớ sau trận nay, cả Bourdais chủ đoàn, tên tài công và năm tên thuỷ thủ đồng bọn, đều chết, không còn một mống.
Đánh đến đập thứ 9 của ta, thì lính Pháp và vài tên linh Phi Luật Tân bắt đầu ta nha thiết xỉ… Mặc dầu vậy, trải hai ngày rối đến ngày 8-4-1861, vẫn các pháo hạm qua lọt khúc quanh nầy, thật là thiên nan vạn nan, và qua khỏi khúc quẹo gãy 90 độ như thước nách ấy thì rạch Run Ngu trở lại ngay dòng trực chỉ từ Bắc quay mũi về Nam. Bọn quân báo, hỏi chúng, vẫn mách rằng từ đó xuống Mỹ Tho, còn một đồn lợi hại trên Arroyo de la Poste. Bên chúng, bèn truyền lịnh để công kích đồn nầy, thì một mặt sẽ dùng súng từ xa do các cu-li vác hay vận tải đến đây cứ bắn mà tới, mặt khác thì các tàu chiến sẽ hãm địch trận tiền…
Ngày 9-4-1861, đội binh hỗ trợ đã đến, các pháo hạm số 18, 31, 16 và chiếc số 20 do đại uý Gougeard điều khiển đều được lịnh tiến tới. Đoàn bộ binh thì đi dọc theo Arroyo de la Poste, cùng hẹn kéo tới một ngọn xảo nhỏ trên rạch Run Ngu làm trung tâm điểm, phối hiệp. Các pháo hạm đều đến y hẹn, duy đội binh chánh thức lại đi lầm đường, không rõ tên hướng đạo lộn đường hay đã phỉnh gạt bọn Pháp, chúng quân sĩ phải lội và giậm đạp trên đất ướt, nước lớn ngập vừa rút, đạp sình non trên ruộng cỏ rồi lội qua mương cau rễ cau dày đặc… Đến đây đội lính bộ bên Pháp vừa đụng đầu với một tốp dịch, vừa toan xáp trận thì họ đã rút lui không nghinh chiến. Quân Pháp bèn chiếm làng nhỏ này, có một xẻo nước chảy ngang không rõ đầu xẻo ở bên nào, duy bất chợt thấy nhiều súng, giáo và y phục quân lính, họ bỏ lại đó, éo le vậy thay. Chốn nầy, không biết cách nơi định gặp nhau là bao xa, tên dẫn đường vô tình hay cố ý đã lạc lối, trước mặt là ruộng có lầy lội khả nghi, nên tốt hơn là Pháp thối bộ trở về đóng binh nơi làng đã chiếm, ít nữa ở đó có xẻo nước, dễ liên lạc với đoàn tàu bên mình, nào ngờ chỗ bỏ đi khi nãy, theo chỉ huy Alizé và theo lời thám tử Việt, thì chỗ đó rất gần đồn Việt mà Pháp đang kiếm dấu vết…
Ngày 9-4-1861, giữa khoảng 11 giờ khuya, có thiếu uý hải quân Joucla, cầm đầu chiếc Echo, đã sang khinh thuyền baileinière, đến báo động và dặn cả đoàn dự bị nghinh chiến… Rồi Joucla cùng với thiếu uý Besnard, dẫn được hai thuyền phóng hoả của địch đem vào một xẻo nhỏ gần đó và đốt tiêu, cả hai lập được công lớn. Qua ngày 10-4-1861, sáng sớm lại tiếp tục truy tìm vị trí đồn của địch…
Bên Pháp bèn sai đại uý pháo thủ du Chauffaut đi dọ đường, tên thám tử dẫn đi quanh quẩn, hết bên tá, qua bên hữu, rốt lại nó đưa binh Pháp đi ngay tới trước là gặp ngay cái đồn Mỹ Theo mà Pháp đang tìm. Giữa lúc ấy, có tiếng ồ ạt, linh tagal, Ma ní (Phi Luật Tân) bắn qua bắn lại với một thuyền lớn Việt. Kế có đội tuần thám trở về, cho hay bị Việt bắn bằng súng lớn, mà không rõ xuất phát từ đau (sau nầy mới biết được là do nơi một ụ sửa chữa ghe thuyền ở Mỹ Tho). Bàn tới tính lủi, kẻ nầy định từ từng đồn bắn ra, người khác cho rằng không phải vậy. Trung uý Amirault xin cho ông ta lấy ghe thả kiếm trên Rạch Run Ngu. Ông ta làm như lời và lãnh đủ một loạt súng bắn ra, thấy rõ đồn luỹ của Việt và rút binh về. Có dân quê cho hay đồn không còn binh trấn giữ, nghe vậy hay vậy, bán tín bán nghi, cho nên trung tá Du Quilio, trưởng đoàn bèn ra lịnh cho trung tá Bourdais hãm thành. Nhơn hồi sáng có nghe tiếng súng đồng cà nông bên Việt, gồm lính thuỷ, lạp binh, thuỷ quân lục chiến, cả thảy độ ba trăm người. Lối ba giờ chiều, cả đoàn xuống xà lúp và pháo hạm kéo ra, chiếc pháo hạm số 18 dẫn đầu, có Bourdais điều khiển, theo sau là các pháo hạm số ra 31, 22 và 16, còn chiếc số 20 thì đậu tại chỗ. Bỗng có tiếng súng bắn ra từ đồn luỹ số 5 mà Pháp tầm kiếm đã hai ngày rày… Bên các pháo hạm Tây bắn trả lại và tiếp tục cứ tiến tới. Đồn đâu chả thấy, bỗng cách độ 400 mét ngay trước mặt, tàu vừa quay mình thì thấy đồn ngay trước mắt. Bên pháo hạm 18, một phát súng bắn ra, bên đồn Việt bắn trả lại ba phát, hại thay, một phát trúng ngay pháo hạm nầy, phát thứ 2 trúng một người trọng thương, còn phát thứ 3, nhè trúng Bourdais, bay luôn cánh tay tả và quả tim viên trung tá. Tiếp theo liền đó, cả bốn chiếm hạm 18, 31, 16 và 22 đồng nổ súng, bắn sập đồn Việt, binh sĩ Tây chiếm được đồn và khai thông từ đây khúc arroyo de la Poste.
Tuy thành Mỹ Tho binh Pháp chiếm được, nhưng đã hao hết một hải quân trung tá Bourdais. Trong lòng binh sĩ cả hai việc nầy xảy ra một lúc, có người quả quyết có nghe Boandais la lên một tiếng kêu trời rồi ngã gục (il eut la force de prononcer le nom de Dieu, puis il tom ba). Thây Bourdais được phủ lên một lá quốc kỳ cho bớt tồi tàn lộ liễu, về sau tìm được cánh tay của hắn. Bourdais chết rồi, hải quân trung tá Desvaul lên thay, để điều khiến các pháo hạm. Ngày 11-4-1861, binh Pháp đến trước đồn số 5 của Việt, sai hai đội đi do đường vừa bẩng tưng sáng, lìa mé tả, dời quân qua mé hữu kéo đi dọc theo lộ cái chạy dài theo Rạch Run Ngu, nhắm Mỹ Tho trực chỉ. Một phái đoàn do thám báo tin đồn 6 địch đã rút lui bỏ trống và đó là đồn Tam léon (Trung Lương). Tam léon nầy là một làng cách Mỹ Tho độ ba ki lô mét, Pháp cho hai đội thuỷ quân lục chiến đến trấn giữ. Còn lại phái đoàn do thám thứ 2, do đại uý Bovet cầm đầu, kéo theo lính tagal và lạp binh đi qua khỏi ba xẻo nước chảy ngang quan lộ đến ngày 10-4-1861 thì tới thành Mỹ Tho giữa một, cảnh náo nhiệt ổn ào gần như thiếu trật tự.
Ngày 11-4-1861 dành hết cho việc tang lễ những người tử trận (sau nầy xác của Bourdais được đưa về quàn tạm ở Mỹ Tho và chỗ của va tử trận được đặt tên là “đồn Bourdais”).
Trong lúc ấy đạo binh tiếp trợ từ Sài Gòn kéo xuống do phó đề đốc Page điều khiển, cũng vừa xuống tới, gồm một cà nông 12, luôn và ngựa kéo, người khiêng, và đạn được, nhưng vậy Pháp cũng vẫn chưa biết sẽ bao vây thành luỹ Mỹ Tho nầy hay sẽ công hãm và đoạt thâu cấp kỳ.
Ngày 12-4-1861, binh sĩ dàn ra nơi Tam Léon, cách thành độ 1.500 mét, 50 lạp binh do thiếu uý Aigueparses dẫn đầu, núp dài theo lùm cây cau cây dứa gần lộ, dưới rạch thì pháo hạm bắn vào thành bảy đạn trái phá (obus). Vào 11 giờ trưa thì thấy khói bốc, cửa thành Mỹ Tho cháy dữ và đã bị Pháp đoạt thâu. Đếm ra lực lượng bên quân đội Pháp lên đến 900 người, không kể súng dưới tàu, súng đoàn bộ binh gồm 18 súng đại bác (trong số có 6 cây ngắn).
Qua ngày 13-4-1861, binh Pháp kéo lên: đạo công binh với thang leo sẵn sàng, rồi nào súng sơn phòng, nào hoả tiễn, và bốn đại đội thuỷ quân lục chiến, cả thảy đều các qui kỳ phận, chờ địch thủ tranh nhau cao hạ giữa đồng bằng. Khi đạo binh do tư lệnh du Quilio kéo đến gần thành, thì đã thấy lá cờ tam sắc Pháp bay phấp phới trên cao, tuy vậy đạo binh Pháp vẫn chờ qua ngày 14-4-1861, mới nhập thành.
Trong khi ấy, ngày 12-4-1861, đoàn tàu chiến của phó đề đốc Page theo sông Cambodge (Cửu long), lối 2 giờ chiêu đã kéo tới trước mặt thành, không tốn một viên đạn, vì thành bỏ trống.
Nhắc lại việc đã qua, ngày 10-4-1861, đạo tuần thám của Pháp tới gần thành Mỹ Tho, bắn lên dữ dội, qua bữa 11-4, vào xế chiều, một đoàn tuần thám khác kéo tới nữa cách thành chỉ 200 mét, thì binh sĩ bên Việt đã rút lui đi rồi. Và nhắc chuyện cũ hơn nữa thì đề đốc Charner đã dự bị từ 6-4-1861, vả lại hai chiếc Lily và Sham Rock biệt vô tin tức đã tám ngày, thì đề đốc đã cho hai chiếc khác thay thế và có lịnh đoạt thâu vàm sông Cửu Long (Cambodge). Tuy vậy, phải đợi đến ngày 8-4-1861 đề đốc Charner mới quyết định cho tàu nhập Cứu Long, vì người muốn độ binh thế nào cho trên bộ (du Quilio) và dưới thuỷ (Page), đôi bên cùng hiệp nhau giáp chiến với địch cùng một lượt. Ngày 8-4-1861, Charner gởi cho Page (tàu còn đậu ở Biên Hoà), bức thơ như sau:
“Chiếc Lily và chiếc Sham Roch đi thám tuần trên sông Cửu Long (Cambodge) và về Sài Gòn lấy thêm lương thực đạn dược, đã được lệnh của tôi đến cho tướng quân (Page) sai cắt. Ông chọn chiếc nào cũng được, chiếc Fusée, Lily, Sham Roch hay Dragonne, tuỳ ý để treo cờ lịnh của ông. Ông phải gia tâm và cẩn thận làm thế nào để đoàn tàu của ông sẽ giao chiến với địch cùng một lượt với đoàn binh bộ do ngả Rạch Run Ngu kéo tới và đánh trên đất liền. Mặc dầu số binh giao cho ông không được nhiều, nhưng với khả năng của các người, việc chiếm thâu thành trì Mỹ Tho chắc là không khó…”
Được thơ ấy, ngày 10-4-1861, phó đề đốc Page ra lịnh xuất binh, rời Biên Hoà, trên chiếc Fusée do đại uý Bailly điều khiếu. Đi theo sau là hai chiếc Lily và Sham Roch. Đoàn tàu qua khỏi đám đá ngầm dưới sông Cứu Long, chiếc Dragonne dưới quyền đại uý Galey dẫn đầu, vào khoảng 2 giờ xế, thì tàu bỏ neo đậu lại, cách đập thủ của Việt độ 400 mét. Cũng may, đêm ấy, tối trời không ngôi sao nào ló ra, nên thừa cơ hội ấy, bên Pháp, vừa bắn dữ dội, vừa xoi được một lối kín vào chướng ngại vật của Việt. Sáng bữa 11-4-1861, đoàn tàu vô được Cửu Long theo cửa Nam, đến đây gặp một đập chận lại nơi đầu một cù lao chia sông Cứu Long ra làm hai ngả (Bắc và Nam), mỗi ngả có bố trí 18 khẩu đại bác chận lại. Qua ngày 12-4-1861, đoàn tàu bắn nà và quạ được khúc sông, tiếp tục đi tới trước Vào khoảng một giờ rưỡi xế bữa ấy thì đoàn tàu đậu lại cách thành độ 200 mét, nhưng thành đã bỏ trống trên ba giờ rồi. Binh sĩ dưới tàu, do đại uý hải quân Desaux cầm đầu leo lên treo cờ tam tài trên cao và chiếm thành. Đạn trái phá bắn ngày 12 và 13-4, may không chết một ai. Thành phố Mỹ Tho ở dựa mé Nam sông Cambodge, thuộc mé Tây của arroyo de la Poste, ngó ra Run Ngu, gồm một mớ nhà lúp xúp lợp lá dừa nước mà từ xa trông như lợp bằng tranh. Nhà cửa thành phố nầy có dáng bộ lèo tèo nhưng vườn tược trông sum mậu, dọc theo bờ arroyo de la Poste, liên tiếp có nhà ngói, chung quanh có cây dừa che phủ, cảnh xem thơ thới nếu không nói là dư thừa giàu có. Bờ rạch Run Ngu nầy chỉ có thể so sánh và không kém bở xinh đẹp nơi Chợ Quán, trên arroyo chinois. Nhưng dừa mọc ở đây tốt trái hơn ở vùng Sài Gòn. Thành trì Mỹ Tho (citadelle) vẫn xây cất theo lối Tây, vuông vắn và có trí pháo đài phòng thủ. Hào thành chung quanh bề ngang rộng và chứa nước đầy, cầu vào thành có bao lơn dày và kiên cố lắm. Chung quanh thành, nhiều chỗ có ao lấy bọc theo, nên lối phòng thủ vừa nhơn tạo vừa thiên nhiên, thật là đắc thể. Sự trang trí vũ bị gồm nhiều khẩu súng to lớn, và thành trì Mỹ Tho trấn ngự trên sông Cambodge làm bá chủ luôn các con sông lớn nhỏ trọn vùng và quả là một trí chiến lược rất lợi hại. Mỹ Tho vả chăng có tiếng là kho lẫm to tát của đế quốc An Nam, cuộc bán buôn lúa gạo tấp nập của nước nầy. Nếu ba tỉnh Miền Nam còn trong tay người Việt, thì quả khó khăn cho Pháp lắm vậy.
Quan kinh lược sáu tỉnh 1 khi người bỏ thành lui đi chỗ khác, đã trả tự do cho người theo giáo Cơ đốc, mà rằng: “Các người hãy đi theo người Pháp, bạn của các người” (Allez rejoindre vos amis les Francais). Kinh lược đã dạy phóng hoả đốt kho liệu công cộng luôn và tiền kẽm của nhà nước.
Tiền kẽm, bị cháy chảy đóng cục và khi nào xỏ xâu được thì mới còn giá, nên cũng không thâu lại được là bao. Chiến lợi phẩm thâu được vỏn vẹn là mấy chiếc thuyền bằng gỗ giá ty to rộng của quan lại Việt, Pháp tu bổ và đặt súng vào và cho sung vào đội chiến thuyền của chúng.
– Đường hòe, dặm liễu: theo anh Lê Ngọc Trụ, dặm là một chặng đường xa chừng 576 mét trái lại dặm của Pháp dài đến 4 cây số ngàn; một dặm hú là chặng đường còn nghe tiếng hú tiếng gọi. Cây liễu, ngày nay trẻ em được biết, vì có chỗ, liễu có trồng, duy hoè, theo Hán Việt từ điển là một thứ cây lớn, hoa vàng quả dài mà bẹp, hột dùng làm thuốc, cây hoè ngoài Bắc có nơi dùng đặt tên cho con. Đào Vắn Hoè, Nguyễn Đình Hoè, nghe rất thanh, nhưng trong Nam, có tật nói không sửa, lại tránh tiếng hoè, vì lầm với què, trong Nam, máu què là máu lúc có kinh nguyệt.
Ngày xưa trông cây hoè cây liễu hai bên đường vừa che mát vừa đánh dấu chỗ tiễn đưa nhau, và viết đến đây, tôi nhớ câu: “Một cây cù mộc, một cây quế hoè” (Kiều). Cù lại cũng là một cây to cành cong xuống, để cho dây bìm dây sắn leo, gốc lại thường không thằng, có u có nầng, lấy đó dùng nghĩa bóng, tượng trưng người vợ cả, che chở cho các vợ bé mọn, nhưng che chở làm sao: “Nam khi mười hoạ có khi không” và ráng lắm, nhịn nhục lắm, té ra “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”, phải mà, lựa cây cù tượng trưng biểu hiện bà vợ lớn có u có nầng là thậm phải.
Và đường thông cù lại là đường đi suốt bốn mặt, thấu đến nhiều nơi (Pháp gọi avenue, boulevard, đều được). Ngày xưa, khi Pháp qua đây, dò dẫm đủ cách mà vẫn còn lầm và kết quả là nay về chúng ta gánh chịu. Biết làm đường cho xe chạy, nhưng vì không thấy xa và vì ít tiền, chỉ viết kéo dài, ham con đường chạy xa, nhưng vẫn hẹp bề ngang, ngày nay cây trồng hai bên đường, vừa che mát là chặt bỏ mở đường ra rộng và không còn còn cây che mát. Bên xứ họ, khí tiết mát họ trồng cây lê, cây táo đến mùa trổ hoa, xem rất nên thơ, khi qua đây ban đầu họ trồng xoài, tiện lợi là xoài cho trái sinh ra hoa lợi, đến mùa, đấu giá bán, lấy tiền nộp kho, lúc ấy xe chỉ có xe kiếng, xe tờ ngựa kéo, trẻ nít ra lộ lượm xoài có thể tránh xe dễ, sau nầy xe ô tô thường con trẻ lượm vì xe chạy quá mau, rủi ro khó tránh, nên đốn xoài, trồng me, (vẫn chưa bỏ hoa lợi nhỏ nhặt) nhưng lá me đọng nước, gọi mưa me, tạnh đã lâu mà khách qua đường vẫn ướt đầu ướt áo, bèn thay me và chọn cây dầu, lá lớn, dễ quét hốt, và chọn cây sao, lá bền và gỗ, khi cây lớn nếu đốn sẽ dùng làm ván cầu và sườn rui tiện lợi. Cây điệp, bông đỏ rất đẹp, lá cộng dài tủa ra hai bên như đuôi phụng, nên cũng gọi cây phượng vĩ, điệp gỗ quá giòn, nhánh thường gãy khi có gió lớn, và nay trồng cây điệp Tây, có khi cũng gọi cây ô môi, và vẫn còn trong vòng lẩn quấn, vì lá nhỏ chứa nước mưa như me, thêm nhiều sâu bọ. Cây dương (dương liễu) lá khua xào xạc, chí hợp với bãi biến và chỗ nào có cát nhiều. Cây tòng (cây thông, cây ngo) chỉ hạp với xứ lạnh. Cây dầu gió (camphrier) chỉ thấy ở Huế có trồng hai bên đường, lá to gốc trổ u nầng, và cây lâu lớn. Có nên dịch hoặc sắp một loại với cây “chương” để nhớ câu “Khi về hỏi liễu Chương đài, cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay” và câu dẫn giải: “Chương đài liễu, Chương đài liễu, tích nhật thanh thanh kin tại phủ”, (Liễu Chương đài, liễu Chương đài, ngày nọ xanh xanh nay còn không?) và quả Liều thị bị tướng Phiên cướp và được có người đoạt lại để trả về người tình xưa làm vợ hay sao? Nếu quả có thì quả là duyên nợ.
Cây bàng, lá rất lớn, khi già lá đỏ rụng bắt nhớ câu “trận thu phong của Tản Đà” tôi chỉ thấy trồng dài theo bãi và trên vài đường nơi Vũng Tầu, Ô Cấp..
Cây dừa lá bền, phái nỗi trái rụng xuống, khách sơ ý, tránh không kịp, không đợi chết cha vì chính mình chết trước, thêm rễ lồi lên cao, lớp ăn sâu xuống đất choán và chiếm, không cây nào mọc gần bên được, tuy vậy hay là nhờ đó, dừa gặp bão hay có gió lớn, ít khi trốc gốc, ít khi thấy trồng dừa hai bên lề đường, và ở Gia Định có đường gọi Thốt nốt, vì có trồng cây nầy. Thốt nốt, thân cây to hơn cây dừa, lá khác đôi chút và cây mọc rất cao rất khoẻ, nhưng chỉ hợp đất Cao Miên, và tôi không dám quả quyết những cây nơi đường gần chợ Bà Chiều và cây nơi trước sân miếu Tả quân, có từ đời nào, duy biết trồng thốt nốt chung quanh miếu là một ý kiến hay, vì Tá quân từng nhiều phen che chở bảo hộ vua Miên và biết đất Miên rất nhiều. Thốt nốt làm ra đường ngọt, vì leo cây nguy hiểm nên xưa được miễn thuế.
Một cây nên thơ nhứt, thẳng cao như cột trụ, trên cao có chòm lá xanh tròn xoe tán, như tàn lọn, trái hái xuống ăn chung với lá trầu thêm đó môi gái, và hoa rất thơm, người Cao Miên, dùng quảy hoa trong lễ cưới hỏi, tượng trưng cho sự trinh bạch thơm tho của cô dâu, đó là cây cau. Cây thân ngay, lá lơ thơ trên tàn, tôi tưởng tượng trưng sự che chở cho cây trầu, nghe thi vị hơn cây cù gấp mây. Tôi chép lại đây bài thơ cũ, của ông Đỗ Minh Tâm, cũng gọi “Nhiêu Tâm” là một tay thơ cừ lớp xưa chia đất Nam, nay ít người biết tiếng. Thơ “Ghẹo gái bán cau” như vầy:
Hỡi cau ai bán, tiếng nghe rao
Tốt vóc mà trong biết thế nào
Giấu để trong buồng e đóng đục,
Bày ra trước mặt thấy ngon dao
Quyết mua nên phải coi từ vú
Có bán thì cho thử coi nào!
Chuốt ngót của mình ai dám chắc
Biết lòng, biết ruột xỉa tiền trao!
Ông Đỗ Minh Tâm là người xưa, mà sao ý nghĩa ác ôn đến thế. Đọc thơ ông, nhớ Henri Miller, Baudelairs và bao nhiêu bọn tân thời thiếu đàn bà và ham nói tục. Nói tục như ăn ớt cay, khi xé miệng mới gọi là ngon.
Các nước giàu dầu hôi như Iran, lại không có nước, vì ít có mưa, phải lập bộ trướng chuyên coi về nước, ai xài phí nước bị phạt, không như nước mình, mưa đến không lu không mái để chứa nước và trái lại, không dầu đế đốt đế chạy xe. Iran là nước Y lan trong sách Tàu, và Djibouti là một nơi tàu đi biển ghé để lấy thêm nhiên liệu và lương thực, nhưng Djibouti, nóng cháy da, không cây nào mọc được và phải lấy kẽm giá cây cho ít thấy khô khan, và ngày nào các xứ “vua dầu lửa” (Ả rập, Koweit) một ngày nào đây mỏ dầu cạn, tiền vàng không chỗ để mà không một giọt nước uống.
Giàu như vậy, tưởng không bằng nước ta, nhất là Sài gòn Phật địa, ngày trước, nhà thảo mộc học, ông Pierre, làm chủ vườn bách thảo đầu tiên, ông có sáng kiến trồng trên các con đường trong thành phố, từng dãy cùng một loại cây như nhau, biến thành phố thành một bach thảo tập (herlier) riêng biệt, tiếc thay người kế tiếp nay trồng xen kẽ loạn xị, ra bộ sưu tập hoá ra phức tạp Có một đường trồng toàn cây cao su, và vì không ai lấy mủ, nân cày u nầng xấu xí. Riêng đường Phan Đình Phùng cũ nơi trước cửa hai học viện có hai cây dầu cổ thụ, tôi cho là dấu tích Sài gòn xưa sót lại, và bài nầy tôi vẫn viết rồi nay viết lại cho đỡ buồn (ngày 23-10-1983).
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Kỳ 2
Là một sĩ quan cấp nhỏ, nhưng vì có cái tật bao sân, bao đồng, nên tôi lo lắng băn khoăn, không biết tương lai của Cao Nguyên sẽ ra sao. Tôi thấy, chỉ vài tháng sau Ngày Ðình Chiến 27 Tháng 1 Năm 1973 do Hiệp Ðịnh Paris được ký kết, trên lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã bắt đầu có những vụ chạm súng nhỏ do lấn đất giành dân.Rồi địch mỗi ngày mỗi đông hơn, mạnh hơn, chiến tranh từ từ leo thang trở lại. Trong các cuộc giao chiến, quân số và hỏa lực yểm trợ của địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Cứ mười đánh một, trận nào địch cũng chiếm thế thượng phong. Một đơn vị cấp tiểu đoàn của ta bị tan tành chỉ sau vài tiếng đồng hồ giao tranh không còn là chuyện hy hữu nữa. Vì lý do đó, chuyện mất tiền đồn đã xảy ra hàng tháng, hàng tuần. Tôi là người đã tận mắt chứng kiến những trận đánh bất cân bằng lực lượng ở Cao Nguyên diễn ra như thế nào, và tôi cũng là người đã từng chiến đấu trong tình trạng một chống mười như thế nào. Chiến tranh qua lâu rồi, giờ đây nhìn lại, bỏ chút thời giờ nghiên cứu và phân tách tình hình, chúng ta sẽ nhận ra ngay lý do vì sao an ninh Cao Nguyên thời gian đó lại suy sụp như vậy.
Chỉ vì, sau đình chiến, viện trợ bị cắt giảm, yểm trợ của Không Lực Ðồng-Minh cũng chấm dứt, do đó, quân ta hoàn toàn ngưng các cuộc hành quân tấn công quy mô tốn kém. Các đại đơn vị thì bị chia nhỏ để phòng thủ thành phố, quận lỵ, hay chốt giữ trục lộ, cầu đường. Quân ta tối ngày cứ phải lo chuyện tiếp tế lương thực, đạn dược, xăng dầu. Trong khi đó thì địch cứ thảnh thơi dưỡng quân, tự do canh tác hoa màu. Ðường tiếp vận của địch không còn bị oanh tạc, đánh phá, nên lương thực, đạn dược thừa mứa khỏi lo. Thêm vào đó, Việt-Cộng còn được Liên-Xô và Trung-Cộng tranh nhau viện trợ để giành ảnh hưởng, nên ta có yếu thế hơn địch cũng là lẽ đương nhiên. Vì không phải phòng thủ, không phải chia quân giữ đất, nên địch có thể tập trung tối đa lực lượng mỗi khi cần. Ðịch ở vào thế hoàn toàn chủ động nên những khi quyết định khai triển một chiến dịch, chúng đều cho trinh sát điều nghiên mục tiêu thật kỹ càng, rồi mới tổ chức lực lượng, phân nhiệm.
Ðợi khi các đơn vị tham chiến đã thực tập thật nhuần nhuyễn, chúng mới định ngày ra quân; ra quân là chắc thắng. Trong hai năm 1973-1974, trước ngày xảy ra cuộc rút lui tự sát của Quân Ðoàn II trên Liên Tỉnh Lộ 7B tháng 3 năm 1975 thì trên chiến trường Cao Nguyên chỉ có duy nhất một lần Việt-Cộng bị thua, đó là trận Pleime 33 ngày đêm diễn ra từ cuối tháng 7 tới đầu tháng 9 năm 1974. Trước Pleime 1974, không có trận nào quân ta trụ được quá một ngày. Nhưng trên thực tế, dù là trận chiến nửa ngày hay trận chiến một ngày thì những trận chiến này cũng là một phần của lịch sử chiến tranh Việt-Nam.
o O o
Trận Lệ Minh 1973…
Lệ Minh là một Căn Cứ Biên Phòng nằm cách thành phố Pleiku hơn 40 cây số về hướng chính Tây. Tên nguyên thủy của căn cứ này là Camp Plei Djereng. Thời kỳ còn sự hiện diện của Quân Ðội Ðồng-Minh thì Camp Plei Djereng được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng lên và giao cho một đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu trấn giữ. Năm 1970, đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu này được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng; Camp Plei Djereng cũng đổi tên thành Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh. Cuối năm 1970 tôi đã từng vào căn cứ này giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biên Phòng, nhưng vì lý do riêng, tôi đã sớm rời khỏi nơi đây. Người kế nhiệm tôi là Ðại úy Khánh.
Sau khi tôi ra đi ít lâu, ông Khánh đã chết trong một vụ pháo kích. Tiếp đó, một vài vị sĩ quan theo chân nhau nhận nhiệm vụ chỉ huy Lệ Minh. Người ở lâu nhất là Thiếu tá Nguyễn Công Thông, với thời gian trên, dưới một năm. Ít lâu sau Hòa Ðàm Paris 1973, Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 giao quyền chỉ huy Tiểu Ðoàn 80 và Căn Cứ Biên Phòng Lệ Minh cho Ðại úy Lê Văn Chương, khóa 19 Võ Bị. Thời gian Lệ Minh nằm dưới quyền của Ðại úy Chương thì quân ta và quân địch không hề có cuộc giao tranh nào xảy ra.
Cơ quan An-Ninh Quân-Ðội của ta được mật báo rằng, sở dĩ tình hình vùng này yên tĩnh là vì hai bên có hiệp ước bất tương xâm, Việt-Cộng sẽ không bắn phá hay pháo kích vào căn cứ, nếu chúng không bị đánh trước. Ðáp lại, nếu ta vi phạm tấn công trước thì ta sẽ bị địch đáp trả gấp 10 lần. Do tin tức này mà một phái đoàn thanh tra đã được gửi vào Lệ Minh để tìm hiểu sự tình.
Biết tin sẽ có thanh tra, Ðại úy Chương đã nhiều lần báo cho Ðại tá Tất biết rằng tình hình Lệ Minh rất nguy hiểm. Nếu phái đoàn bất chấp khuyến cáo của ông Chương thì ông ta sẽ không chịu trách nhiệm đối với những bất trắc sẽ xảy ra. Theo chương trình vạch sẵn, một ngày tháng 8 năm 1973 phái đoàn thanh tra của Quân Ðoàn II có mặt tại sân trực thăng Biệt Ðộng Quân. Trung tá Lương Văn Hơi, sĩ quan phụ tá của chỉ huy trưởng sẽ là người hướng dẫn đoàn thanh tra này. Sáng hôm đó Trung tá Hơi bị bệnh bất ngờ, tôi được lệnh bay theo phái đoàn thay thế ông Hơi. Khi trực thăng sắp cất cánh tôi lại được lệnh lên Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đi bay thám sát vùng Tây Nam Pleime cùng ông sĩ quan chỉ huy Biệt Ðội Tác Chiến Ðiện Tử của Quân Ðoàn II, do đó Trung úy Lập, Sĩ quan Không Trợ Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 sẽ thay thế tôi đi bay.
Ngay giờ phút chiếc trực thăng chở phái đoàn thanh tra quân đoàn hạ cánh trên sân bay Lệ Minh thì hai khẩu đại bác 105 ly Biên Phòng đồng loạt khai hỏa cho bốn viên đạn bay vào trong núi. Vì không có ai đón tiếp nên các vị thanh tra đành tụ họp trước cổng trại Lê Minh để đợi chờ. Nào ngờ, bị 105 ly của quân ta pháo kích, Việt-Cộng bèn đáp lại bằng cối 120 ly. Từ hướng Tây, bốn khẩu cối của địch cứ nhẩn nha gởi đạn đi. Trong thời gian năm phút đồng hồ, 40 viên đạn 120 ly đã nối đuôi nhau xé gió rớt trên căn cứ và trên sân bay. Ðịch quân đã giữ đúng giao ước là bị bắn 1 viên, sẽ đáp trả đúng 10 viên! Kết quả vụ đọ súng hôm đó đã khiến cho vài vị sĩ quan thanh tra quân đoàn đền nợ nước, vài vị khác bị thương, anh Trung úy Lập thoát chết vì kịp thời nhảy xuống núp dưới cái mương thoát nước. Hồi tưởng lại chuyện này, tôi thấy số tôi và số ông Trung tá Lương Văn Hơi quả là rất may mắn! Ngày hôm sau Ðại úy Lê Văn Chương bị triệu hồi về Pleiku để nhận cái giấy phạt 40 Trọng Cấm cùng tờ sự vụ lệnh lên đường xuôi Nam đáo nhậm đơn vị mới.
Tôi hỏi anh Chương rằng cấp trên đã nại lý do gì để phạt anh, thì anh cho tôi hay, trên giấy phạt ghi chú là: “Tắc trách trong công tác bảo vệ an ninh cho phái đoàn thanh tra.” Ðại úy Chương cũng than phiền với tôi và vài bạn khác rằng anh ấy bị phạt oan, sở dĩ anh cho bắn bốn phát đại bác vào núi là để chào mừng phái đoàn thanh tra, chứ không phải để khiêu khích Việt-Cộng. Tôi nghĩ rằng không ai tin lời anh Chương cả.
Sau khi vào Nam, anh Lê Văn Chương được giao cho giữ chức vụ Trưởng ban 3 Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân, và tiếp tục ở vị trí này với cái lon đại úy cho tới ngày chiến tranh chấm dứt. Người thay thế Ðại úy Lê Văn Chương để chỉ huy Lệ Minh là Ðại úy Nguyễn Ngọc Quang, biệt danh là “Quang Con”. Ông đại úy này xuất thân khóa 15 Thủ-Ðức.
Một tuần lễ trước ngày Lê Minh bị tấn công, tôi đã gặp Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II và được Trung tá Tiếu cho hay rằng, theo tin A2 thì trong tương lai gần, địch sẽ tấn công Lệ Minh. Lực lượng địch tham chiến sẽ gồm Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A và một trung đoàn pháo hỗn hợp. Thêm vào đó còn có sự trợ lực của một đơn vị xe tank và Tiểu Ðoàn 631 Pháo của Tỉnh Ðội Gia-Lai Việt-Cộng.
Ông Tiếu dặn dò tôi phải khuyến cáo ông tiểu đoàn trưởng hãy lưu tâm chuẩn bị hầm hào để chống lại một cuộc tấn kích của Tiểu Ðoàn 631 Pháo. Tuyệt nhiên tôi không được hé răng nhắc tới tên Trung Ðoàn E48 và các đơn vị yểm trợ khác của Việt-Cộng như Tiểu Ðoàn D14 súng cối và Tiểu Ðoàn D16 xe tank trang bị súng cao xạ. Sở dĩ có chuyện che giấu này chỉ vì Trung tá Trịnh Tiếu e ngại rằng, nếu biết địch quá đông, quá mạnh, ông tiểu đoàn trưởng sẽ mất tinh thần không dám chiến đấu, sẽ dẫn quân bỏ đồn mà chạy trước khi có tiếp viện.
Thời gian này có một đại úy từ trong Nam thuyên chuyển ra. Ðây là một sĩ quan đàn em của tôi, anh ta tên là Hoàng Nghĩa Hội, dân Bắc Di Cư 1954, tốt nghiệp khóa 21 Võ Bị. Năm 1964 tôi là người huấn luyện anh Hội những ngày đầu quân ngũ. Tôi có ý giới thiệu Hội về Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân giữ chức Tiểu đoàn phó cho Ðại úy Nguyễn Lạn khóa 20 Võ Bị, nhưng Hội lại muốn vào Lệ Minh làm phó cho ông Quang Con vì Hội và Quang là bạn thân ở trong Nam. Dịp này tôi nhận được một chuẩn úy vừa thụ huấn xong lớp Tình Báo Cây Mai. Ông chuẩn úy này tên là Dao, cũng là dân Bắc Di Cư nhưng tuổi còn rất trẻ. Tiểu Ðoàn 80 hiện thời không có sĩ quan Quân Báo nên Chuẩn úy Dao được chỉ định bổ sung làm sĩ quan Ban 2 cho đơn vị này. Ngày 19 tháng 9 tôi đã đích thân đưa Ðại úy Hội và Chuẩn úy Dao vào Lệ Minh.
Vì đã được lệnh giấu kín tin tức địch và tình hình nguy kịch mà Lệ Minh sẽ hứng chịu trong tương lai, nên tôi chỉ còn cách trao cho hai ông Hội và Dao tần số riêng của tôi với lời dặn dò:
“Danh hiệu của tôi là Thái Sơn, nếu có gì thì gọi tôi trên số nhà này.”
Trước khi nhảy xuống phi đạo Lệ Minh, chú Hội bóp chặt bàn tay tôi,
– Danh hiệu của Hội là Hoàng Hoa. Niên trưởng nhớ đấy nhé!
Thế rồi, chuyện gì phải đến, đã đến… địch tấn công Lệ Minh.
Trưa 22 tháng 9 năm 1973 sĩ quan trực Trung Tâm Hành Quân hớt hải tìm gặp tôi,
– Thái Sơn vào máy, có ông phó của Lệ Minh xin gặp.
Tôi xuống hầm cầm ống nghe, qua máy 74, chúng tôi có thể nói chuyện bằng bạch văn,
– Hoàng Hoa có gì thì nói đi! Thái Sơn nghe!
Ðầu máy bên kia, tiếng của Hoàng Nghĩa Hội rất nhỏ, có vẻ như chú ấy đang lo lắng lắm,
– Niên trưởng ơi! Tôi mới nghe tụi lính nói rằng, từ ngày niên trưởng Chương về làm tiểu đoàn trưởng ở đây thì Biệt Ðộng Quân và Việt Cộng vẫn tắm chung một con suối nhưng không bắn nhau. Hôm nay tụi Việt Cộng không xuống suối tắm mà lại bảo mấy thằng lính của mình mau chạy về đồn, chui xuống hầm mà trốn, sắp đánh nhau rồi!
– Ông Quang đâu? Ông Quang có phản ứng ra sao?
– Quang đang cho báo động.
Rời trung tâm hành quân, tôi lên văn phòng chỉ huy trưởng, gặp Ðại tá Tất. Nghe tôi kể chuyện Ðại úy Hội vừa báo cáo, Ðại tá Tất nói,
– Cậu lấy C&C lên vùng, tui sẽ nói chuyện với ông Toàn xin yểm trợ và tăng viện.
Chỉ mười phút sau tôi và toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba đã có mặt trên sân trực thăng.
Ðúng 1 giờ 30 trưa, máy bay của tôi cất cánh.
Trời trong xanh, mây quang nên còn cách Lệ Minh cả chục cây số tôi đã thấy những cột khói đen, khói trắng cao ngút bốc lên từ căn cứ này. Lệ Minh đang bị địch pháo kích! Tôi vào tần số gọi Lệ Minh nhưng chỉ nghe được tiếng trái phá, tiếng lựu đạn và tiếng súng tay nổ giòn, người đầu máy bên kia nói gì tôi không nghe rõ. Cứ nhìn những tia lửa cầu vồng theo đuôi nhau bay vào ngọn đồi chỉ huy của Lệ Minh tôi đã thấy hoa cả mắt. Tôi và Hạ sĩ Ba, trưởng toán viễn thám thay nhau gọi hết hơi mà không nghe được tiếng người dưới đất trả lời. Tôi bay vòng vòng hướng Ðông của Lệ Minh một thời gian chừng nửa tiếng đồng hồ thì thấy máy bay trinh sát của ta xuất hiện.
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Chủ ý của người kể chuyện…
Khi kể lại chuyện đời một người, nếu đã nhắc tới những nụ cười thì đừng quên những lần nước mắt tuôn rơi.Khi kể lại chuyện trận mạc một thời, nếu thấy tự hào vì những chiến thắng lẫy lừng thì cũng đừng quên những chiến bại đắng cay. Trong chiến tranh Việt-Nam năm xưa, chính những chuyện đời thường của những người tham chiến gom góp lại mới đáng tin đó là chuyện thật, không thêu dệt, không trét phấn, không tô son, không đánh bóng, không khoa trương. Ngoài mặt trận, viên đạn vô tình không phân biệt được ai là ông tướng, ông tá, ông úy, hay ông lính trơn. Vì tổ quốc mà chết, thì sự hy sinh của ông đại tướng và sự hy sinh của ông binh nhì phải được đánh giá ngang nhau.
Lịch sử không là vật sở hữu của chính quyền cũ hay chính quyền mới, lịch sử không thuộc về người Quốc-Gia hay người Cộng-Sản, lịch sử không của riêng ai, mà lịch sử là của tất cả mọi người Việt-Nam.
Những gì còn in đậm trong trí nhớ của người kể chuyện dưới đây cũng chỉ là một chút đóng góp nhỏ cho chiến sử.
Phi trường Cù Hanh Pleiku 1970
o O o
Nhớ Xuân xưa…
Tháng Tư Dương Lịch, Bắc Mỹ chuyển mùa sang Xuân…
Trong khuôn viên trường đại học University of Washington (UW) và trên đường phố North Seattle, những đóa hoa anh đào bắt đầu đua nhau nở.
Tôi đã sinh sống ở thành phố Seattle này ba chục năm rồi. Tôi đã thành người tha phương ba chục năm rồi. Hằng năm, cứ tới thời kỳ anh đào ra hoa, lòng tôi lại dấy lên một nỗi buồn. Nỗi buồn này chỉ man mác, nhẹ nhàng thôi, nhưng lại thấm thía vô cùng, nó chính là nỗi nhớ quê hương… Quê hương Việt-Nam của tôi đẹp lắm, nhất là khi thời tiết bắt đầu vào Xuân. Có điều, quê hương tôi mãi chìm trong khói lửa. Quê hương tôi chưa có ngày nào ngưng cảnh đạn bom rơi. Suốt thuở thiếu thời cho tới khi trưởng thành, tôi chưa bao giờ thấy hòa bình.Lớn lên, tôi đã chọn binh nghiệp, rồi thời thế đã biến tôi thành một người của rừng, của núi Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật. Tôi đã yêu Cao Nguyên và đã chọn nơi này làm chốn định cư. Giờ này, gần nửa thế kỷ sau Chiến Tranh Việt-Nam, hình ảnh Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của nước Việt-Nam Cộng – Hòa vẫn chưa mảy may phai mờ trong ký ức của tôi. Vì thế mà, mỗi độ Xuân về, tôi lại nhớ Cao Nguyên…
Hoa đào tháng 4 năm 2023 trong sân trường UW (Seattle)
Mùa Xuân nơi ấy
Nơi này mùa Ðông, nơi ấy là mùa Xuân
Mùa quê hương đi trước mùa tha phương một bước
Xuân Cao Nguyên, làm sao ta quên được?
Một trời hoa, rực rỡ, áo Xuân vàng…
…
Cao Nguyên mùa Xuân nào cũng đầy lửa đỏ
Ðạn pháo ngút trời, nhưng hoa vẫn nở
Những người yêu nhau vẫn tưởng ở bên nhau
Áo trắng sân trường, thương áo trận rừng sâu…
…
Có một vùng trời
Bao lần ta bay qua, bay lại
Những chuyến bay tuần tra biên giới
Những địa danh kiêu dũng dưới chân ta
Dak Pek, Dak Seang, Ðức Cơ, Pleime…
Ðể bao năm sau ngày mất nước
Ta còn gọi tên nhau trong ký ức…
…
Những con dốc hụt hơi chân bước
Leo từ sáng đến chiều chưa tới ngọn, Chư Pa!
Những cái tên nghe đầy đe dọa:
“Thung Lũng Tử Thần”- “Cơn Sốt Vàng Da”
Từng đoàn quân tiến vào vùng đất chết
Cho quê hương những mùa Xuân bất diệt…
…
Nhớ thuở Bình Tây
Ta đóng quân bên dòng Yaly cuồn cuộn chảy
Chợt thấy Chúa Xuân vươn vai một sớm mai
Cùng tiếng chim ca, tiếng đạn réo lưng trời…
…
Nhớ Xuân Pleime mấy độ yêu người
Một nửa mùa Xuân nằm trong lô cốt
Quên cả rừng mai, quên mây trời bay
Một nửa mùa Xuân chìm trong pháo địch
một nửa mùa Xuân mưu chuyện phá vòng vây
Trong giao thông hào, ta như loài chuột bọ
giữ từng thước rào,
canh từng vuông đất nhỏ
cho ngọn cờ vàng ngạo nghễ bay trong gió
cho Em và Con bình an nơi thành phố…
…
Nhớ Xuân Cao Nguyên
Ðoàn quân xa đi ngang qua thị xã
Áo trận hoa rừng phủ đầy đất đỏ
Ta ghé thăm Em và Bé mới ra đời
Em cười, giọt nước mắt trên môi lăn vội
Ta chỉ biết nói lời, “Xin lỗi!”
Ðã để cho em, “Một mình đi biển mồ côi…”
Ta ôm con vào lòng, “Bé bỏng con tôi!”
Ta chỉ bên Em, bên Con vài giờ ngắn ngủi
Chiến trường sục sôi, chiến trường réo gọi
Ðoàn quân xa lại vội vã lên đường
để lại Bé, để lại Em và thị xã sau lưng…
…
Tuổi trẻ, một thời để yêu
Tuổi trẻ, một thời để chết…
Mùa Xuân ra đi biền biệt
Ngày xanh, tuổi trẻ của ta
Ta đã cho quê hương tất cả…
…
Nơi ấy, Cao Nguyên mùa Xuân
Nơi này, Seattle mùa Ðông
Đại úy Vương Mộng Long và phu nhân 1970
Người Biệt Ðộng nhớ Cao Nguyên vô cùng
Còn Cao Nguyên…có nhớ gì ta không?
Vương Mộng Long – Seattle 1996
Ở Việt-Nam, tôi đã là cư dân của núi.
Qua Mỹ rồi, tôi cũng là cư dân của núi. Vùng đất mà tôi đang sinh sống hiện thời là nơi có đủ loại thông xanh, thông xanh bạt ngàn. Người Mỹ gọi đất này là “Evergreen State” còn người Việt ở Seattle thì gọi xứ này là “Cao Nguyên Tình Xanh” Những khi rảnh rỗi, tôi thường lái xe qua núi, qua đèo, dừng chân nơi nào đó, ngắm cảnh trời chiều trong thung lũng để nghe tiếng suối reo, tiếng chim kêu, và tiếng gió rít qua khe. Trong những giờ phút ngây người trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, tôi lại có dịp thả hồn mình phiêu du về Cao Nguyên của Vùng 2 Chiến Thuật Việt-Nam Cộng-Hòa…
Cao Nguyên và tôi…
Thời chiến tranh Việt-Nam trong Thế kỷ 20 đã có rất nhiều người tìm đến Pleiku chỉ với mục đích được sống vài ngày lang thang trên phố núi, ngắm sương mù che ánh đèn đêm, rồi chui vào quán cà phê khuya, ngồi phì phà khói thuốc, cố nặn óc kiếm ý, gieo vần, gắng sức viết cho được một vài bài thơ ca tụng Pleiku, những mong mai này sẽ nổi tiếng với đời. Còn tôi, tháng Mười năm 1966, sau vụ Phật Giáo Miền Trung, mang cái án phạt 90 ngày Trọng Cấm trên vai, tôi tới Pleiku với tâm trạng chán chường của một kẻ bị lưu đày.
Ngày ấy, tôi thấy Pleiku là một thị trấn nhỏ tí teo, chỉ có một con phố chính Hoàng Diệu là nhộn nhịp người qua kẻ lại, vì nơi này có những quán xá chen chúc sát vách nhau trên một đoạn đường dài chưa đầy cây số. Nhà hai bên phố thì toàn lợp tôn, cao, thấp chẳng đều, căn nhô ra, căn thụt vào, chẳng có thứ tự hay hàng lối gì cả! Chỉ qua vài ngày lang thang trong thành phố này, tôi đã nhận ra, người ở đây toàn là dân tứ xứ, đa phần là lính và gia đình của lính. Tóm lại, Pleiku thuở ấy, với tôi chẳng có vẻ gì là nên thơ hay quyến rũ cả.
Thành phố Pleiku là thủ phủ của Cao Nguyên mà còn buồn chán như thế thì nói gì tới những tiền đồn biên giới xa xôi như Dak Pek, Dak Tô, Ðức Cơ, Plei Me…
Gia đình Thiếu tá Vương Mộng Long (1974)
Ấy vậy mà, ngày tháng đong đưa, tôi đã chôn chân ở xứ này tới mười năm, đã say mê rừng núi Cao Nguyên tự lúc nào, tôi cũng chẳng hay. Trong mười năm dài, tôi đã có dịp góp sức, góp máu cùng hàng ngàn người lính vô danh khác đang ngày đêm lặn lội trong rừng sâu, núi thẳm đầy muỗi vắt, trước những họng súng sẵn sàng nhả đạn của quân thù, để bảo vệ quê hương. Gót chân tôi đã in trên từng thước đất dọc biên giới Việt, Miên, Lào, từ Khâm Ðức của Vùng 1 Chiến Thuật, tới Bù Gia Mập của Vùng 3 Chiến Thuật.
Ròng rã mười năm, tôi đã trải qua những trận đánh ác liệt và đẫm máu nhất của Cao Nguyên Vùng 2, những trận chiến mà cái sống và cái chết của người chỉ huy chỉ cách nhau như một đường tơ, kẽ tóc. Máu tôi đã nhiều lần đổ xuống tưới đẫm đất này.
Hiện thời, năm 2023 của Thế kỷ 21, trên người tôi, kỷ niệm chiến tranh vẫn còn đây, với cái vai trái mất một miếng xương, một cái sẹo bên sườn phải, và trong ngực tôi còn nguyên một đầu đạn AK47 nằm cách trái tim tôi chưa tới một centimet.
Bù đắp lại, tôi đã có những tháng, ngày sống thật vô tư, thảnh thơi, buông thả ở đây. Cũng từ Cao Nguyên, tôi đã xây dựng được một gia đình hạnh phúc tuyệt vời.Tôi đã chứng kiến một thời Cao Nguyên huy hoàng, rực sáng. Rồi tôi đã phải gạt lệ chia tay Cao Nguyên vào những ngày Cao Nguyên hấp hối.Vì thế, Cao Nguyên chính là đời tôi, với đầy đủ buồn, vui, vinh, nhục, hạnh phúc, và đau thương.
o O o
Tôi lớn lên trong chiến tranh, dù cho bao năm đã qua đi, những kỷ niệm gì liên quan tới chiến tranh, cứ còn mãi trong đầu. Tôi còn nhớ, cuối năm 1953 kế hoạch Navarre của Quân Ðội Liên Hiệp Pháp ra đời khi tôi vừa qua tuổi lên mười. Kế hoạch Navarre có biểu hiệu là cái nắm đấm. Dấu hiệu này có ý nghĩa là sức mạnh quân sự của Pháp sẽ được tập trung bảo vệ những thành phố lớn vùng Trung Châu Bắc-Việt, những thành phố vùng cao sẽ bị bỏ rơi. Ðầu năm 1954 những bích chương với dấu hiệu cái nắm đấm được dán đầy tường trong phố và trên các gốc cây lớn mọc bên đường. Cùng thời gian này từng đoàn công voa chở quân lính và khí cụ nối đuôi nhau chạy về Hà-Ðông và ngoại ô Hà-Nội. Kết quả là, một năm sau khi kế hoạch Navarre ra đời, nửa nước Việt-Nam rơi vào tay Cộng-Sản. Hai mươi năm sau, cuối 1973 tôi lại nhìn thấy tình trạng Cao Nguyên Việt-Nam Cộng-Hòa cũng không khác gì tình trạng Trung Châu Bắc-Việt trong kế hoạch Navarre năm 1953, quân ta cũng không có cuộc hành quân thế công nào, đâu đâu cũng lo co cụm, phòng thủ thụ động xung quanh những thành phố lớn. Tình hình bi đát tới nỗi, giữa ban ngày mà muốn đi từ Pleiku tới Thanh-An cũng phải mở đường, rà mìn, đóng chốt.
Hào quang chiến thắng của những chiến dịch “Bình Tây 48” – “Bình Tây 3” hay “Lùng và diệt địch” của thời kỳ 1966-1970 ngày xưa đã trở thành kỷ niệm. Chúng tôi mang tiếng là Biệt Ðộng Quân, trên bảng cấp số có ghi rõ ràng là đơn vị trăm phần trăm di động, mà quanh năm cứ đóng đồn, giữ cầu, giữ đường thì “ẹ” quá! Hằng ngày tôi có dịp được tiếp xúc với các giới chức cao cấp của quân đoàn, được tham dự những buổi thuyết trình về tình hình bạn, địch trên toàn Quân Khu 2 nên tôi có thể hình dung ra những gì sẽ diễn ra ở Vùng 2 trong tương lai sắp tới.
Bây giờ với nhất cử nhất động của mình, Astorre đều hết sức thận trọng. Không chỉ để tránh một vụ mưu sát mà còn không cho phép mình bị bắt vì bất kỳ lý do nào. Chàng ở lỳ trong nhà mình với những đội bảo vệ năm người gác suốt ngày đêm. Chàng cho lắp đặt những thiết bị báo động ở trong rừng và trên mặt đất quanh nhà, sử dụng thiết bị hồng ngoại để giám sát vào ban đêm. Khi chàng liều rời khỏi nhà, luôn luôn có sáu vệ sĩ chia làm ba tổ hai người đi kèm. Việc đánh bom hai thám tử là cần thiết nhưng nó lại làm tăng cường các hoạt động của cảnh sát. Và khi Aspinella Washington bình phục mụ sẽ đoán ra chính Heskow đã phản lại mụ. Nếu Heskow tiết lộ thì mụ sẽ bám theo chính chàng. Cho đến bây giờ chàng đã hiểu tầm vóc lớn lao của vấn đề. Chàng biết tất cả những kẻ dính líu vào cái chết của ông Trùm bác mình và những vấn đề nghiêm trọng đang đợi chàng ở phía trước. Đó là Kurt Cilke, người không được động tới, Timmona Portella, Grazziella, và viên tổng lãnh sự quán Peru. Những kẻ mà chàng đã trừng phạt là anh em Sturzo, song chúng lại chỉ là những con tốt. Tất cả các thông tin đến từ John Heskow, ông Pryor, Trùm Craxxi và Octavious Bianco ở Sicily. Nếu có thể, chàng phải chộp cho được toàn bộ kẻ thù của mình tại một nơi trong cùng một lúc. Hạ chúng từng tên một cách chắc chắn là không thể. Mà Pryor và Craxxi đã cảnh báo chàng không được đụng đến Cilke. Và rồi còn tổng lãnh sự Peru, Mariano Rubio, nhân tình của Nicole nữa. Nàng trung thành với y đến mức độ nào? Nàng đã xoá những gì mà nàng không muốn Astorre thấy trong hồ sơ về ông Trùm của FBI? Nàng còn giấu chàng những gì? Vào những khoảnh khắc thảnh thơi Astorre mơ thấy những người phụ nữ chàng đã yêu. Đầu tiên là Nicole, trẻ trung và thông minh, thân hình mảnh mai thanh nhã của nàng nồng nàn đến nỗi nàng đã buộc được chàng chấp nhận yêu nàng. Bây giờ nàng đã thay đổi quá nhiều. Chính trị và công việc đã cuốn hút niềm đa mê của nàng. Chàng nhớ Buji ở Sicily, không hẳn là gái điếm nhưng cũng gần như thế. Chàng nhớ chiếc giường êm ái của ả trong những đêm yên tĩnh ở Sicily, những lúc họ cùng bơi và ăn quả ôliu lấy từ thùng ngâm. Chàng nhớ ả chẳng bao giờ nói dối; ả hoàn toàn thành thật về cuộc sống của mình, về những người đàn ông khác của ả. Và lòng trung thành của ả khi chàng bị bắn, ả đã kéo chàng vào bờ ra sao, máu từ vết thương trên cổ chàng nhuốm đầy người ả. Rồi quà tặng của ả – cái vòng cổ bằng vàng có mặt dây chuyền để che đi cái vết thương khủng khiếp. Rồi chàng nghĩ đến Rosie, một Rosie phụ bạc, ngọt ngào, xinh xắn và lãng mạn. Người luôn luôn tự cho là thực sự yêu chàng trong khi vẫn liên tục phản bội chàng. Tuy nhiên nàng đã luôn làm chàng vui vẻ khi quấn quýt bên nhau. Chàng đã từng muốn xoá sạch tình cảm của mình đối với nàng bằng việc dùng nàng chống lại anh em Sturzo, và chàng ngạc nhiên thấy nàng thích thú với vai diễn đó. Rồi hình ảnh vợ Cilke, Georgette, thoáng qua tâm trí chàng như một bóng ma. Thật là vớ vẩn. Chàng có một tối ngắm nhìn chị, nghe chị nói những điều nhảm nhí mà chàng chẳng hề tin về những gì quý giá trong tâm hồn con người. Vậy mà chàng không thể nào quên chị. Làm thế quái nào Georgette lại lấy một thằng cha như Kurt Cilke kia chứ? Thỉnh thoảng, vào ban đêm, Astorre đến khu Rosie đang sống và gọi cho nàng bằng điện thoại trên xe. Nàng luôn luôn ở nhà một mình và điều đó làm chàng ngạc nhiên. Nhưng nàng giải thích rằng nàng quá bận học hành không thể đi chơi được. Như thế lại hoá hay vì chàng rất thận trọng không muốn đi ăn hiệu hay đưa nàng đi xem phim. Thay cho những việc đó, chàng ghé vào tiệm Zabar ở khu East Side để mua những món đặc sản đem về. Trong lúc đó Monza vẫn ngồi chờ trên xe. Rosie dọn bàn ăn và mở một chai vang. Trong bữa ăn Rosie gác hai chân lên đùi chàng một cách thân tình và khuôn mặt nàng rạng ngời hạnh phúc vì được bên chàng, đón nhận từng lời nói của chàng với nụ cười tươi tắn. Đấy là phần thưởng của nàng và Astorre thừa biết nàng làm như thế với tất cả đám đàn ông của nàng. Nhưng điều đó có ý nghĩa gì đâu. Rồi khi họ lên giường, nàng không chỉ nồng nàn đắm đuối mà còn ngọt ngào và quấn quýt. Nàng vuốt ve khắp mặt chàng, hôn chàng và nói. – Chúng mình thực sự là chỗ bạn bè chí cốt. Những lời nói đó như một gáo nước lạnh dội xuống người chàng. Astorre không muốn nàng là chí cốt với một kẻ như chàng. Chàng khao khát vẻ trong trắng cổ điển, tuy nhiên lại chẳng thể nào cắt được mối quan hệ với nàng. Chàng ở lại năm hoặc sáu tiếng đồng hồ. Vào ba giờ sáng chàng sẽ ra đi. Thỉnh thoảng khi nàng đang ngủ, chàng lại nhìn nàng đăm đăm và nhận thấy bên trong nàng là trạng thái dễ bị tổn thương và giằng xé cứ như thể lũ quỷ bị nàng nhốt mãi nơi thẳm sâu của tâm hồn đang đòi được tự do. Một đêm chàng sớm chia tay Rosie. Khi lên xe Monza báo với chàng rằng có một lời nhắn phải gọi lại gấp cho một ngài Juice nào đó. Đấy là mật danh chàng và Heskow dùng. Thế là chàng lập tức chụp lấy ống nghe. Giọng Heskow khẩn thiết. – Tôi không thể nói qua điện thoại. Chúng ta phải gặp nhau ngay bây giờ. – Ở đâu? Astorre hỏi. – Tôi sẽ đứng ngay bên ngoài Madison Square Garden, Heskow nói. Hãy bí mật đón tôi sau một giờ nữa. Khi Astorre đến gần Garden, chàng thấy Heskow đang đứng trên vỉa hè. Monza đặt súng lên đùi lúc cho dừng xe trước mặt Heskow. Astorre mở cửa và Heskow nhảy lên băng ghế trước. Cái ghế lạnh để lại những vết lợt trên má y. Y nói với Astorre, – Cậu có rắc rối lớn đấy. Astorre có cảm giác ớn lạnh. – Bắt cóc à? Chàng hỏi. Heskow gật đầu. Portella đã chộp người bà con Marcantonio của cậu và đã cho giam giữ anh ta ở một nơi nào đó. Tôi không biết là nơi nào. Sáng mai hắn sẽ mời cậu tới thương thảo. Hắn muốn trao đổi một thứ gì đó lấy con tin của hắn. Nhưng nếu cậu bất cẩn, hắn sẽ để đội ám sát bốn người của hắn đưa cậu vào vòng ngắm. Hắn sử dụng người của chính hắn. Hắn giao việc này cho tôi nhưng tôi đã từ chối. Họ đang ở trên một đường phố tối tăm. – Cảm ơn, Astorre nói. Tôi để anh xuống chỗ nào đây? – Chỗ này. Xe tôi đậu cách đây một dãy nhà. Astorre hiểu. Heskow lo sợ bị phát hiện cặp kè bên chàng. – Còn một việc nữa, Heskow nói. Cậu biết căn hộ của Portella tại khách sạn của hắn chứ? Em hắn, Bruno, đang sử dụng nó đêm nay để hú hí với một ả đàn bà. Và không hề có vệ sĩ. – Một lần nữa xin cảm ơn anh, Astorre nói. Chàng mở cửa xe và Heskow biến vào bóng đêm. Marcantonio đang dự cuộc họp cuối cùng trong ngày. Gã muốn nó diễn ra ngắn gọn. Lúc này là bảy giờ tối, và gã còn dự tiệc chiêu đãi lúc chín giờ. Cuộc họp diễn ra với một nhà sản xuất có tiếng tăm và cũng là người bạn tốt nhất trong lĩnh vực điện ảnh – Steve Brody, người chẳng bao giờ xem xét kỹ càng kế hoạch chi tiêu, người có tài đánh hơi những sáng tác gây ấn tượng và thường giới thiệu Marcantonio với những diễn viên trẻ có triển vọng đang cần được giúp đỡ ít nhiều trong sự nghiệp. Nhưng tối nay họ là đối thủ của nhau. Brody đến cùng một trong những đại diện quyền lực nhất trên thương trường có tên là Matt Glazzier. Y đến đây, lấy cớ vì một tiểu thuyết gia. Tác phẩm cuối cùng của người này được y chuyển thể thành kịch bản của loạt phim truyền hình dài tám tiếng. Bây giờ Glazier muốn bán tiếp ba cuốn sách trước đó của ông ta. – Marcantonio, Glazier nói, ba cuốn sách này rất khá nhưng không bán được. Cậu biết rõ mấy thằng bên xuất bản mà – chúng không thể bán một lọ trứng cá muối lấy năm đô được. Brody đã sẵn sàng bắt tay vào sản xuất. Cậu đã kiếm được cả một đống tiền nhờ cuốn sách cuối cùng của nó, vì vậy hãy hào phóng một tý để bọn mình còn làm hợp đồng. – Tôi đếch quan tâm, Marcantonio nói. Đấy là những cuốn sách cũ. Chúng chưa bao giờ là sách bán chạy. Và bây giờ chúng cũng không còn được bán nữa. – Chuyện đó thì nhằm nhò gì, Glazier nói với vẻ quả quyết của tất cả các nhà đại diện. Ngay sau khi chúng ta ký kết hợp đồng, bên xuất bản sẽ cho tái bản. Marcantonio đã nghe luận cứ này nhiều lần trước đó. Đúng, bên xuất bản sẽ tái bản, nhưng thực ra việc này chẳng giúp gì nhiều cho truyền hình trong khi truyền hình lại giúp được nhiều hơn cho các nhà xuất bản. Đây đúng là một cuộc tranh cãi vô bổ. – Dẹp cả đi, Marcantonio nói. Tôi đã đọc mấy cuốn đó rồi. Chúng quá văn vẻ. Ngôn ngữ nhiều nhưng không có sự kiện. Tôi không nói là chúng không hay. Tôi chỉ nói không đáng phải liều và cố công với chúng. – Đừng có loè tôi, Glazier nói. Cậu đọc mục ý kiến bạn đọc chứ gì. Cậu lãnh đạo bộ phận lập chương trình thì làm gì có thời gian mà đọc. Marcantonio bật cười. – Cậu nhầm. Tôi thích đọc và tôi thích mấy cuốn đó. Nhưng chúng không hợp với truyền hình. Giọng gã ấm áp, thân tình. – Tôi rất tiếc, nhưng với chúng ta việc này coi như chấm dứt. Tuy nhiên, hãy nhớ đến chúng tôi. Chúng tôi rất muốn hợp tác với cậu. Sau khi hai vị khách ra về, Marcantonio tắm táp, thay đồ đi dự chiêu đãi. Gã chào tạm biệt thư ký của mình – người luôn luôn ở lại cho đến khi gã rời cơ quan, rồi đón thang máy xuống tiền sảnh của toà nhà. Bữa chiêu đãi được tổ chức tại nhà hàng Bốn Mùa, chỉ cách đấy vài dãy nhà. Không giống như hầu hết các tổng giám đốc, anh không dùng xe và lái xe riêng. Khi cần gã sẽ gọi một chiếc. Gã hãnh diện về sự tiết kiệm của mình và biết rằng gã đã học được điều đó từ cha gã, người có thành kiến nặng với việc lãng phí tiền bạc vào những điều ngu xuẩn. Khi bước ra đường, gã cảm thấy một luồng gió lạnh và bỗng rùng mình. Một chiếc xe Limousine màu đen dừng lại, rồi người tài xế bước xuống mở cửa mời gã. Chả lẽ tay thư ký đã gọi xe giúp? Tay lái xe là một người cao lớn và khoẻ mạnh. Chiếc mũ lưỡi trai quá nhỏ so với đầu. Hắn cúi chào và hỏi: – Ngài Aprile phải không ạ? – Tôi đây, Marcantonio trả lời. Đêm nay tôi không cần anh. – Ngài cần đấy, hắn nói và nở một nụ cười vui vẻ. Lên xe, không thì ăn đạn. Ngay lúc đó Marcantonio nhận thấy có ba người đàn ông ở sau lưng mình. Gã do dự. Tên lái xe tiếp tục, – Đừng lo, một người bạn muốn tâm sự với ngài chút đỉnh. Marcantonio lên băng ghế sau của chiếc Limousine, ba người đàn ông vây quanh gã. Họ đi qua một hoặc hai dãy nhà và sau đó một tên đưa cho gã cặp kính đen và yêu cầu gã đeo. Marcantonio lam theo và từ đấy gã như người mù. Hai mắt kính quá đen che hết cả ánh sáng. Thật khôn ngoan, gã nghĩ, và lưu ý trong đầu sẽ sử dụng tình tiết này vào một câu chuyện. Đây cũng là một tia hy vọng. Nếu chúng không muốn gã biết mình đi đâu tức là chúng không có ý định giết gã. Toàn bộ câu chuyện này cứ như bịa giống hệt một trong những vở kịch trên truyền hình của gã. Rồi bỗng nhiên gã nghĩ về cha mình. Cuối cùng gã đã có mặt trong thế giới của người cha, cái thế giới mà gã chưa bao giờ hoàn toàn tin tưởng.
Google photos
Khoảng một tiếng sau chiếc xe dừng lại và gã được hai kẻ áp tải đỡ xuống. Gã có thể cảm thấy con đường mòn lát gạch dưới chân mình. Rồi gã được dẫn vào một ngôi nhà, leo hơn một nhịp cầu thang đến một căn phòng, cánh cửa ra vào đóng lại ở phía sau. Chỉ đến lúc đó cặp kính mới được gỡ ra. Gã đang ở tỏng một phòng ngủ nhỏ có những cửa sổ che rèm kín mít. Một trong những tên gác ngồi xuống chiếc ghế tựa ngay bên cạnh giường. – Nằm xuống ngủ ngáy một chút đi, tên gác nói. Ngài còn cả một ngày vất vả phía trước đấy. Marcantonio nhìn đồng hồ. Đã nửa đêm rồi. Hơn bốn giờ sáng Astorre và Aldo Monza đến trước khách sạn Lyceum, gã lái xe chờ ở mặt tiền. Chùm chìa khoá của Monza kêu lách cách khi họ chạy lên ba nhịp cầu thang tới trước cửa căn phòng bí mật của Portella. Monza dùng chìa khoá của mình để mở cửa, rồi họ vào phòng khách. Họ thấy một chiếc bàn bày bừa la liệt những hộp đồ ăn Tàu, những chiếc ly không, những chai vang và Whiskey. Một chiếc bánh nướng đánh kem rất to đã bị ăn một nửa với một điếu thuốc hút dở cắm lên trên trông như một cây nến sinh nhật. Họ vào phòng ngủ. Astorre bật công tắc đèn gắn trên tường. Ở đó, vận chiếc xà lỏn và nằm dài trên giường là Bruno Portella. Không khí nồng nặc mùi nước hoa nhưng chỉ có một mình Bruno. Trông gã không được đẹp mắt cho lắm. Mặt gã nặng nề, uể oải, bóng loáng mồ hôi. Mùi hải sản tanh nồng bốc ra từ miệng gã. Bộ ngực đồ sộ làm gã giống như một con gấu, và thực tế, gã có cái vẻ dịu dàng của một con gấu nhồi bông. Cạnh chân giường có một chai vang đỏ đã mở. Có lẽ sẽ là bất nhã nếu đánh thức gã, và Astorre làm điều đó một cách nhẹ nhàng bằng cách vỗ vào trán gã. Bruno mở một mắt, rồi mở nốt mắt kia. Gã không có vẻ sợ hãi, thậm chí chẳng hề ngạc nhiên. – Tụi mày làm cái chó chết gì vậy hả? Giọng gã khàn khàn ngái ngủ. – Bruno, chẳng có gì phải lo lắng cả, Astorre nhẹ nhàng nói. Cô gái đâu rồi? Bruno ngồi dậy. Gã cười hềnh hệch. Nó phải về nhà sớm để đưa con đến trường. Tao đã phang nó ba lần trước khi để nó về, gã nói, không che giấu niềm kiêu hãnh về khả năng tình dục mạnh mẽ cũng như hiểu biết của gã về những vấn đề của một gái làng chơi. Một cách ngẫu nhiên gã với tay về phía chiếc bàn kê cạnh giưòng. Astorre nhã nhặn giữ tay gã lại còn Monza mở ngăn kéo và lấy ra khẩu súng. – Nghe đây, Bruno, Astorre vỗ về. Sẽ không có chuyện gì tồi tệ xảy ra cả. Tôi biết anh ngài chẳng hề bàn bạc với ngài, nhưng ông ta đã bắt cóc anh họ tôi đêm hôm qua. Vì thế bây giờ tôi phải đổi ngài lấy anh ấy. Anh ngài yêu thương ngài, Bruno ạ, ông ấy sẽ chấp nhận trao đổi thôi. Ngài tin điều đó chứ? – Tất nhiên rồi, Bruno nói. Trông gã nhẹ nhõm hẳn. – Chỉ không được làm điều gì ngốc nghếch mà thôi. Giờ thì mặc quần áo vào. Mặc đồ xong, Bruno hình như lại gặp rắc rối trong việc buộc dây giầy. – Có chuyện gì vậy? Astorre hỏi. – Đây là lần đầu tao đi đôi giày này, Bruno nói. Tao thường đi giày không dây. – Ngài không biết cột dây giày chứ gì? Astorre hỏi – Đây là đôi giày có dây đầu tiên của tao mà lại. Astorre bật cười – Lạy chúa. Thôi được, tôi sẽ cột hộ. Khi làm xong, Astorre nhấc máy điện thoại ở đầu giường đưa cho Bruno. Hãy gọi cho anh ngài, chàng ra lệnh. – Vào lúc năm giờ sáng ư? Bruno hỏi. Timmona sẽ giết tao mất. Astorre nhận ra rằng không phải việc mất ngủ làm đầu óc Bruno lú lẫn, mà thực sự gã là một kẻ đần độn. – Chỉ nói rằng tôi đã chộp được ngài. Sau đó tôi sẽ nói với ông ấy. Bruno cầm ống nghe và rên rỉ nói, – Timmona, anh đẩy tôi vào những chuyện rắc rối, đấy là lý do tôi gọi cho anh sớm thế này. Astorre có thể nghe thấy tiếng la lối qua điện thoại, rồi Bruno gấp gáp nói – Astorre Viola đang giữ tôi và nó muốn nói chuyện với anh. Gã nhanh chóng chuyển ống nghe cho Astorre. Astorre nói – Thưa ngài Timmona, rất tiếc đã đánh thức ngài. Tôi buộc phải bắt Bruno vì ngài đang giữ anh họ tôi. Giọng Portella giận dữ truyền qua đường dây. – Ta chẳng biết gì về điều đó. Thế mày muốn cái quái gì hả? Bruno nghe được và gã gào lên. – Anh đẩy tôi vào chuyện này, anh thật là ngu ngốc. Hãy đưa tôi ra khỏi đây ngay. Astorre ôn tồn nói, – Thưa ngài Timmona, hãy tiến hành trao đổi rồi chúng ta sẽ bàn về cái hợp đồng ngài đang cần. Tôi biết ngài vẫn nghĩ rằng tôi là một kẻ cứng đầu, nhưng khi gặp nhau tôi sẽ cho ngài biết lý do và ngài sẽ biết tôi vẫn đang giúp ngài đấy. Lúc này giọng Portella đã dịu xuống – OK, hắn nói. Chúng ta tiến hành gặp gỡ ra sao đây. – Tôi sẽ gặp ngài tại nhà hàng Paladin vào buổi trưa, Astorre nói. Ở đó tôi có một phòng riêng. Tôi sẽ mang Bruno đi cùng, còn ngài mang theo Marc. Ngài có thể mang theo vệ sĩ nếu ngài nghi ngờ, nhưng chúng tôi không muốn có một cuộc tắm máu ở nơi công cộng. Chúng ta sẽ thảo luận và tiến hành trao đổi. Một sự im lặng kéo dài, rồi Portella nói – Sau cuộc gặp gỡ này chúng ta sẽ là chỗ bạn bè thân thiết mà. Astorre và Monza kém sát hai bên Bruno, chàng còn khoác vai Bruno một cách thân thiện. Họ đưa gã xuống đường. Ở đó có thêm hai chiếc xe với người của Astorre đang đợi. – Hãy đưa Bruno đi cùng anh trên một xe, Astorre dặn Monza. Đưa hắn đến nhà hàng Paladin vào buổi trưa. Tôi sẽ gặp anh ở đấy. – Tôi phải làm cái chó chết gì với hắn cho đến lúc đó? Monza hỏi. – Đưa hắn đi ăn sáng, Astorre đáp. Hắn háu ăn lắm. Việc đó sẽ tiêu mất vài tiếng đồng hồ. Sau đó đưa đi dạo trong công viên Trung Tâm. Vào sở thú. Tôi sẽ lấy một xe và một tài xế. Nếu hắn cố chạy trốn cũng không được giết, mà phải bắt cho kỳ được. – Cậu sẽ đi một mình? Như vậy có khôn ngoan không đấy? – Tôi không sao đâu. Trên xe Astorre dùng điện thoại gọi về số máy riêng của Nicole. Lúc này đã gần sáu giờ sáng. Giọng Nicole còn ngái ngủ khi trả lời điện thoại. Astorre nhớ nó giống giọng của cô thiếu nữ và người tình của chàng năm xưa. – Nicole, dậy đi. Chị có biết đây là ai không? Câu hỏi rõ ràng làm nàng bực mình. – Tất nhiên tôi biết người ấy là ai rồi. Còn ai có thể gọi vào giờ này chứ? – Nghe cho kỹ đây, Astorre nói. Không được hỏi. Tờ văn bản chị giữ dùm tôi, tờ tôi đã ký cho Cilke còn chị đã bảo tôi đừng ký, chị còn nhớ chứ? – Còn, Nicole trả lời cộc lốc, đương nhiên tôi vẫn nhớ. – Chị để nó ở nhà hay ở tủ bảo mật của văn phòng? – Tại văn phòng của tôi, Nicole đáp. – Tốt. Tôi sẽ đến nhà chị sau ba mươi phút nữa. Tôi sẽ nhấn chuông. Hãy sẵn sàng để đi ngay. Mang theo tất cả chìa khóa. Chúng ta sẽ cùng tới văn phòng của chị. Khi Astorre nhấn chuông, Nicole xuống ngay. Nàng mặc chiếc áo khoác da màu thanh thiên và mang một chiếc bóp lớn. Nàng hôn lên má Astorre nhưng không dám nói một lời cho đến khi họ lên xe và nàng phải hướng dẫn người tài xế. Sau đó nàng tiếp tục im lặng đến khi họ tới văn phòng của nàng. – Nào, hãy nói cho tôi biết tại sao anh cần tờ văn bản đó. – Chị không cần phải biết. Astorre nhận thấy nàng bực tức với câu trả lời, nhưng nàng vẫn bước tới tủ bảo mật, đó là một phần của bàn làm việc và rút ra một cặp hồ sơ. – Đừng đóng cửa tủ, Astorre nói. Tôi cần cuốn băng chị thu cuộc gặp của chúng ta với Cilke. Nicole đưa cho chàng chiếc cặp. – Anh có quyền đối với những văn bản này, nàng nói. Nhưng anh không có quyền đối với bất kỳ cuốn băng nào, cho dù nó có tồn tại đi chăng nữa. – Trước đây chị đã có lần nói với tôi rằng chị ghi âm tất cả các cuộc họp tại văn phòng của chị. Và trong lần gặp đó tôi đã quan sát chị. Chị đã hơi quá thoả mãn với chính mình. Nicole cười khẩy – Anh đã thay đổi, nàng nói. Anh chưa bao giờ là một trong những thằng khoác lác, những kẻ vẫn nghĩ rằng chúng có thể đọc được suy nghĩ của người khác. Astorre toét miệng cười và nói giọng đầy hối tiếc – Tôi nghĩ chị hãy còn quý tôi. Bởi vậy tôi không hề hỏi chị đã xoá cái gì trong hồ sơ của ông già trước khi cho tôi xem. – Tôi không xoá gì hết, Nicole lạnh lùng nói. Và tôi sẽ không đưa cuốn băng chừng nào anh còn chưa cho tôi biết toàn bộ chuyện này là thế nào. Astorre im lặng, sau đó chàng nói – Thôi được, bây giờ chị đã là một người lớn rồi mà. Chàng phì cười khi thấy nàng giận dữ, mắt nàng long lên, nàng bĩu môi khinh bỉ. Nó làm chàng nhớ lại hình ảnh của nàng khi nàng xung đột với chàng và cha nàng nhiều năm trước. – Chị luôn luôn muốn đánh đu với các ông lớn, Astorre nói. Và hiển nhiên chị làm được điều đó. Là một luật sư, chị đã làm nhiều người khiếp sợ cũng như cha chị vậy. – Ông cụ không đến nỗi xấu xa như báo chí và FBI thêu dệt, Nicole giận dữ nói. – Được rồi, Astorre nói giọng vỗ về. Đêm qua Marc đã bị Timmona Portella bắt cóc. Tuy nhiên đừng quá lo lắng. Tôi đã tóm được Bruno, em trai lão. Bây giờ chúng ta có thể thương lượng. – Anh đã thực hiện vụ bắt cóc ư? Nicole nghi hoặc hỏi. – Chúng làm trước như vậy với ta mà, Astorre đáp. Chúng rất muốn ta bán các nhà băng cho chúng. Nicole gần như hét lên – Thế thì cho quách chúng mấy cái nhà băng chết tiệt ấy đi. – Chị không hiểu rồi. Chúng ta chẳng cho chúng bất cứ thứ gì. Chúng ta có Bruno. Nếu chúng hại Marc thì tôi sẽ hại Bruno. Nicole nhìn chàng bằng ánh mắt khiếp đảm. Astorre nhìn nàng bình tĩnh, và một tay đưa lên sờ cái vòng cổ bằng vàng. Phải, chàng nói. Tôi sẽ phải giết hắn. Trên khuôn mặt cứng rắn của Nicole vụt xuất hiện những nếp nhăn đau khổ. – Không phải là anh, Astorre, không phải là anh. – Vậy là chị đã biết, Astorre nói. Tôi không phải là người bán các nhà băng sau khi chúng đã giết cha chị và bác tôi. Nhưng tôi cần cuốn băng và tờ văn bản để làm hợp đồng và đưa Marc trở về mà không phải đổ máu. – Thì cứ bán cái nhà băng cho chúng, Nicole thì thầm. Chúng ta sẽ giầu có. Có gì quan trọng chứ? – Việc này quan trọng đối với tôi, Astorre nói. Việc này cũng đã quan trọng với ông già. Nicole lặng lẽ lấy trong tủ bảo mật ra một gói nhỏ. Nàng dể nó trên cặp hồ sơ. – Cho tôi nghe luôn đi, Astorre đề nghị. Nicole lấy trong ngăn bàn ra một chiếc cát xét nhỏ. Nàng lắp cuốn băng vào máy, rồi họ lắng nghe Cilke tiết lộ kế hoạch gài bẫy Portella. Sau đó Astorre bỏ tất cả vào túi và nói. – Tôi sẽ đem chúng về cho chị trong ngày hôm nay, cả Marc nữa. Đừng lo. Chẳng có gì xảy ra đâu. Mà nếu có, chúng nó sẽ khốn nạn hơn chúng ta. Quá trưa một chút Astorre, Aldo Monza và Bruno Portella đã tề tựu tại phòng ăn riêng của nhà hàng Paladin. Bruno có vẻ chẳng hề lo lắng tí nào. Hắn trò chuyện vui vẻ với Astorre. – Chú mày biết đấy, tao đã sống cả đời ở New York mà không biết trong công viên Trung Tâm lại có vườn bách thú. Còn nhiều người cần phải biết điều đó để mà đến xem.
Google photos
– Vậy là ngài đã có một cuộc dạo chơi thú vị. Astorre vui vẻ nói, đồng thời chàng nghĩ nếu mọi việc diễn ra không suôn sẻ thì ít ra Bruno cũng đã có một kỷ niệm đẹp trước khi chết. Cánh cửa phòng ăn bật mở và chủ nhà hàng xuất hiện cùng Timmona Portella và Marcantonio. Thân hình đồ sộ của Portella cùng bộ vét cắt rất khéo gần như che khuất Marcantonio phía sau hắn. Bruno nhào vào vòng tay Timmona và hôn lên hai má hắn. Astorre vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy vẻ yêu thương trìu mến trên mặt Timmona. Trái ngược với cảnh đó, Astorre và Marcantonio chỉ bắt tay, rồi Astorre nói – Mọi việc ổn cả, Marc ạ… Marcantonio quay lại và ngồi xuống. Hai chân gã run run phần bởi đã an toàn, phần bởi sự xuất hiện của Astorre. Cái gã thanh niên chỉ thích hát hò, lúc nào cũng cuồng nhiệt, vui vẻ và vô tư bây giờ đã lộ nguyên hình là Thiên Sứ của Thần Chết. Dáng vẻ đầy quyền lực của nó có ảnh hưởng lớn tới nỗi sợ hãi và vẻ hùng hổ bề ngoài của Portella. Astorre ngồi xuống bên cạnh Marcantonio và vỗ lên đầu gối gã. Chàng đang nở một nụ cười nhã nhặn như thể đây chỉ là một bữa ăn thân mật. – Anh ổn chứ? Chàng hỏi. Marcantonio nhìn thẳng vào đôi mắt Astorre. Trước đây gã chưa từng thấy chúng thản nhiên và tàn nhẫn như vậy. Gã nhìn Bruno, kẻ lẽ ra đã phải trả giá cho cuộc sống của gã. Hắn đang tiết lộ với anh mình những điều gì đó về sở thú ở công viên Trung Tâm. Astorre nói với Portella, – Chúng ta có những vấn đề cần bàn đấy. – OK, Portella nói. Bruno, xéo khỏi đây ngay. Xe đang đợi ngoài kia. Tôi sẽ nói chuyện với chú khi về nhà. Monza bước vào phòng ăn. – Đưa Marcantonio về nhà anh ấy, Astorre bảo gã. Marc, chờ tôi ở nhà nhé. Lúc này chỉ còn lại Portella và Astorre ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn. Portella mở một chai vang rồi rót đầy ly của mình. Hắn chẳng thèm mời Astorre. Astorre thọc tay vào túi lấy ra chiếc phong bì màu nâu, rồi dốc tất cả những gì chứa bên trong lên mặt bàn. Ở đó có tờ văn bản mật chàng đã ký cho Cilke, trong đó chàng được yêu cầu phản lại Portella. Có cả một máy cát xét nhỏ đã lắp băng. Portella nhìn tờ văn bản có biểu tượng FBI và cắm cúi đọc. Rồi hắn thảy nó sang một bên. – Đây có thể là giấy tờ giả, hắn nói. Và tại sao cậu lại có thể ngớ ngẩn ký vào đó nhỉ? Astorre nhấn nút máy cát xét thay cho câu trả lời. Có thể nghe thấy giọng Cilke đang yêu cầu Astorre cộng tác để bẫy Portella. Portella lắng nghe và cố chế ngự sự ngạc nhiên cùng cơn giận dữ, nhưng mặt hắn đỏ bừng còn đôi môi hắn mấp máy thành những tiếng chửi rủa không lời. Astorre tắt máy. – Tôi biết ngài làm việc với Cilke hơn sáu năm qua. Ngài đã giúp ông ta quét sạch các Đại gia ở New York. Vì việc đó ngài đã được ông ta miễn tội. Nhưng ông ta vẫn không ngừng theo dõi ngài, kể cả lúc này. Những kẻ đeo phù hiệu đó có bao giờ thoả mãn đâu. Ngài đã vì ông ta mà phá vỡ luật im lặng. Ngài đã làm cho ông ta nổi tiếng, và bây giờ ông ta lại muốn tống ngài vào tù. Ông ta không cần đến ngài nữa. Ông ta sẽ tóm ngài ngay sau khi ngài mua các nhà băng. Điều đó giải thích tại sao tôi không thể làm hợp đồng. Portella lặng thinh rồi sau đó có vẻ như đi đến một quyết định. – Nếu ta giải quyết vấn đề thằng Cilke thì cậu sẽ tính sao với các nhà băng? Astorre bỏ mọi thứ vào lại cặp hồ sơ của mình. – Bán ngay, chàng nói. Trừ tôi ra – tôi giữ năm phần trăm cổ phần.
Google photos
Portella dường như đã vượt qua cú sốc. – OK, hắn nói. Chúng ta sẽ tính toán việc này sau khi vấn đề được giải quyết. Họ bắt tay về việc đó rồi Portella rút trước. Astorre nhận thấy chàng đang đói cồn cào. Chàng gọi một miếng bít tết cho bữa trưa. Thế là đã giải quyết được một việc, chàng nghĩ. Nửa đêm Portella họp bàn với Marriano Rubio, Luzio Tulippa và Michael Grazziella tại lãnh sự quán Peru. Rubio là một chủ nhà tuyệt hảo của Tulippa và Grazziella. Y đưa khách đi xem hát, nhạc kịch và ba lê, cung cấp những người đàn bàn trẻ đẹp và kín đáo đã đạt được một số tiếng tăm trong mỹ thuật và âm nhạc. Tulippa và Grazziella đang có một thời gian lưu trú tuyệt vời và tỏ ra miễn cưỡng khi phải quay về với môi trường tự nhiên của mình. Đêm nay viên tổng lãnh sự đã vượt quá khả năng của mình về lòng mến khách. Trên bàn bày la liệt những món ăn hấp dẫn, rồi trái cây, phó mát, những viên kẹo bòn bon sô cô la, bên mỗi chiếc ghế có một chai Chamgagne đặt trong thùng đá. Những chiếc bánh gatô xinh xắn đặt trên những thanh kẹo bông tao nhã. Một bình cà phê cỡ lớn, và những hộp xì gà Havana được rải bừa bãi khắp mặt bàn. Rubio khai mạc buổi họp bằng một câu hỏi dành cho Portella – Nào có chuyện gì quan trọng đến nỗi chúng tôi phải huỷ bỏ các cuộc hẹn để ngồi đây thế hả? Bất chấp vẻ lịch sự của y, trong giọng nói vẫn toát lên cách cư xử hạ cố và điều đó làm Portella tức giận. Hắn biết rằng hắn sẽ trở nên nhỏ bé trong con mắt các chiến hữu của hắn khi chúng biết sự cố ý lừa dối Cilke. Hắn kể cho chúng nghe toàn bộ câu chuyện. Đang ăn viên bòn bon Tulippa lên tiếng – Ngài muốn nói ngài đã bắt thằng Marcantonio Aprile anh họ nó và ngài đã có một thoả thuận để giải thoát em ngài mà không tham khảo ý kiến của chúng tôi. Giọng y đầy vẻ coi thường. – Tôi không thể để em tôi chết được, Portella nói. Ngoài ra, nếu tôi không đạt được một thoả thuận thì chúng ta đã rơi vào bẫy của thằng Cilke rồi. – Đúng thế, Tulippa nói. Nhưng ngài không có quyền quyết định. – Ra thế, Portella nói. Vậy thì ai? – Tất cả chúng ta. Tulippa sủa. Chúng tôi là bạn hàng của ngài. Portella nhìn y và tự hỏi cái gì đã cản hắn không giết cái đồ chó đẻ thớ lợ này. Nhưng rồi hắn nhớ tới năm mươi cái mũ Panama bay vèo lên không trung. Ngài tổng lãnh sự dường như đã đọc được ý nghĩ của hắn. Y nói giọng xoa dịu – Tất cả chúng ta đến đây từ những nền văn hoá khác nhau và có những nguyên tắc khác nhau. Chúng ta phải tự thích nghi với nhau thôi. Ngài Timmona là một người Mỹ, một người đa cảm. – Em hắn chỉ là một cục cứt, Tulippa nói. Rubio nhứ ngón tay ra hiệu cho Tulippa. – Inzio, hãy thôi gây chuyện đi. Chúng ta ai cũng có quyền quyết định những vấn đề riêng tư của mình. Grazziella nhếch mép cười thích thú. – Đúng thế. Ngài Inzio chưa bao giờ thổ lộ với chúng tôi về những phòng thí nghiệm bí mật của ngài. Khát vọng của ngài là sở hữu những vũ khí cá nhân của chính ngài. Đấy là một ý tưởng ngu xuẩn. Ngài có nghĩ rằng chính phủ sẽ khoanh tay ngồi nhìn một mối đe doạ như vậy không? Người ta sẽ thay đổi tất cả các đạo luật đang bảo vệ chúng ta và cho phép chúng ta làm ăn phát đạt. Tulippa cười. Y khoái cuộc họp mặt này. – Tôi là một người yêu nước. Tôi muốn Nam Mỹ có khả năng tự vệ như Israel, Ấn Độ và Irắc. Rubio mỉm cười lịch sự với Tulippa. – Thế mà tôi không biết ngài là một nhà ái quốc. Portella rầu rĩ – Tôi đang có một vấn đề nghiêm trọng. Tôi những tưởng Cilke là bạn. Tôi đã đầu tư rất nhiều tiền vào nó. Và bây giờ nó lại theo dõi tôi và tất cả các ngài. Grazziella nói thẳng thừng và mạnh mẽ. – Chúng ta phải từ bỏ toàn bộ dự án thôi. Chúng ta phải tìm giải pháp khác. Hãy quên Kurt Cilke và Astorre Viola đi. Chúng quá nguy hiểm. Chúng ta không được tiếp tục theo đuổi tiến trình có thể huỷ diệt tất cả chúng ta. – Làm thế sẽ không giải quyết được vấn đề của tôi, Portella nói. Thằng Cilke sẽ tiếp tục truy đuổi tôi. Tulippa quay sang Grazziella. – Việc ngài biện minh cho một giải pháp hoà bình như thế thật khác với những gì chúng tôi biết về ngài. Ngài đã giết cảnh sát và các thẩm phán ở Sicily. Ngài ám sát thị trưởng và vợ lão. Ngài và cái cosca Corleone của ngài đã giết lão đại tướng – kẻ được cử đến để tiêu diệt tổ chức của ngài. Thế mà bây giờ ngài lại đề nghị từ bỏ một dự án sẽ đem về cho chúng ta hàng tỷ đô là và bỏ mặc cả người bạn Portella của chúng ta nữa. – Tôi sẽ loại bỏ thằng Cilke, Portella nói. Các ngài nói sao cũng mặc. – Đó là một hành động nguy hiểm, ngài tổng lãnh sự lên tiếng. Tụi FBI sẽ sử dụng toàn bộ nguồn lực để tìm cho ra kẻ giết người. – Tôi đồng ý với Timmona, Tulippa nói. Tôi sẽ điều đến một đội biệt kích, vài tiếng sau chiến dịch chúng sẽ bay đi Nam Mỹ. Portella nói, – Tôi biết việc này nguy hiểm chứ, nhưng vẫn phải làm. – Tôi nhất trí, Tulippa nói. Vì hàng tỷ đô la người ta phải chấp nhận mạo hiểm. Nếu không thì chúng ta kinh doanh làm gì hả? Rubio bảo Inzio – Ngài và tôi ít rủi ro nhất vì chúng ta có quy chế ngoại giao. Michael, ngài quay lại Sicily tạm lánh một thời gian. Timmona, ngài sẽ là người phải chịu đựng toàn bộ áp lực của những gì xảy ra sau đó. – Nếu mọi việc trở nên tồi tệ, Tulippa nói, tôi có thể giúp ngài trốn tránh ở Nam Mỹ. Portella khoát tay trong một cử chỉ cần được giúp đỡ. – Tôi đã có cách. Nhưng tôi cần sự giúp đỡ của các ngài. Michael, ngài đồng ý chứ? Nét mặt Grazziella vẫn thản nhiên. – Có, tôi đồng ý, lão nói. Nhưng tôi lo lắng về thằng nhãi Astorre Viola nhiều hơn thằng Kurt Cilke.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.