Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 17 Nov 2024

  1. Chương 5
    Tôi không thích dấn thân nữa. Mà chỉ khoái viễn mơ. Khi yêu, người ta chẳng muốn làm việc gì ngoài công việc nghĩ tới tình yêu. Tôi chán ngồi dưới mái nhà lợp bằng Fibro ciment, thấp lè tè ở Phủ Đặc Ủy Di Cư ghi những tên Nguyễn thị Mít, Lê văn Ổi vào phiếu lý lịch. Chán quá rồi. Tôi không thiết cái khoản lương chấm công năm chục bạc mỗi ngày, trừ chủ nhật. Câu hát vọng cổ diển tả tâm sự nát bời của Trương Quân Thụy bên mồ Thôi Oanh Oanh mà ông bố giang hồ của tôi thường tay đàn, miệng ca vào những buổi chiều tương tư Nam Kỳ như vầy : Ôi, hạnh phúc con người ta đâu phải ngựa xe áo mão mà chỉ tìm thấy trong cặp mắt giai nhân.Tôi cho là đúng. Tôi vốn chiêm ngưỡng sự nghiệp cách mạng toàn diện của Nguyễn Huệ, đọc Tiêu Sơn Tráng Sĩ tôi thù ghét anh sư giả hình Phạm Thái thậm tệ. Anh này phản cách mạng dân tộc, đồ hủ nho. Nhưng tôi rất bằng lòng khi Phạm Thái thất tình. Anh ta bỏ giấc mộng phò Lê Chiêu Thống, bỏ đảng Tiêu Sơn, bỏ lớp áo sư giả hình, ngồi câu cá bên bờ sông với hồ rượu đầy, say say tỉnh tỉnh, bắt chước người si tình thời Tam Quốc, nốc rượu suy tôn tình yêu: Chí lớn trong thiên hạ không đầy mắt mỹ nhân. Người đời xưa bỏ rơi chí lớn để đi mê gái. Người đời sau há không biết bỏ đồng lương chấm công?
    Và tôi nằm ì trên ghế bố ở Nhà Hát Tây, nằm ì trong vùng mộng tưởng của tôi. Chỉ vì yêu em Ngọc. Khi yêu, người ta lười biếng và không sợ đói rách. Hai chúng ta nhìn nhau suốt ngày. Xa nhau một phút tưởng chừng thương nhớ một giờ. Em là tháng giêng của xuân hồng đời anh. Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần. Xuân Diệp bảo thế. Tôi sung sướng như vội vàng một nữa. Vội vàng thế nào, chắc chả thể giống vội vàng trong ca dao, “Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp phải đá mà quàng phải dây. Thủng thỉnh như chúng anh đây. Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng”, trong tục ngữ “nhanh nhảu đoảng, thực thà hư”. Tôi nghĩ mình không nên vội vàng. Vì mình đã được yêu. Mình đã gặm cỏ non tháng giêng mình cứ nhẩn nha nhai lại như con trâu, con bò.
    Chị Phượng bảo tôi cần tập nói chuyện với người yêu. Tôi thèm nói chuyện với Ngọc lắm chưa. Nhưng ông cụ thân sinh ra nàng là thầy giáo già, hiệu trưởng một trường tiểu học công lập ở Hải Phòng. Nội cặp kính trắng của ông, tôi phát ớn.Ông cụ, chắc chắn, không có tâm hồn nghệ sĩ. Và Ngọc sợ bố vô cùng. Tôi đã thấy cụ cốc đầu người yêu của tôi lia lịa. Nàng nhăn nhó. Khiến tôi đau nhói. Những cái cốc ( miền Nam gọi là kí ) méo mó nghề nghiệp của ông cụ, nhất định, đã làm phơi xác vài con chấy, nếu mái tóc người yêu của tôi nhiều chấy. Cái giậu mồng tơi của thi sĩ Nguyễn Bính chính là ông cụ giáo già. Ôi, nàng yêu tôi, nàng bị khép trong vòng lễ giáo ! Trương Quỳnh Như không thể lấy anh sư giả, sư “phiến loạn” Phạm Thái. Mỵ Nương không thể lấy anh Trương Chi răng vồ, mắt toét. Dễ gì Ngọc lấy được Long, nhà văn nghệ dấn thân… chấm công năm chục bạc mỗi ngày.
    Tôi bỗng tự ti mặc cảm. Tôi mắc bệnh mới lớn rồi. Mười chín tuổi của mười bẩy năm trước là tuổi vừa lớn đó. Nhiều người đã lớn, lúc bấy giờ, thèm cái tuổi vừa lớn của tôi ghê lắm. Chả thế mà cụ Quang, người hướng dẫn văn nghệ dấn thân… chấm công cho tôi đã chấm công đều đều dù tôi không chịu dấn thân dưới mái nhà lợp fibro ciment mà chỉ viễn mơ trên ghế bố. Cụ Quang cũng là công dân Nhà Hát Tây. . Cụ biết tôi “có gì” với Ngọc, cụ âu yếm bảo tôi: “Cháu cứ ở nhà tán gái, bác vẫn chấm công giùm cháu, ký tên thay cháu ” Một đôi lần, anh Tiên, anh Xuân gặp tôi lẽo đẽo theosau chị em Phượng, hai anh đã cười:
  • Trông hai đứa mày như đôi nhân tình chim di ấy. Loắt choắt và thẹn thùng…
    Đi với nhau chỉ để nhìn nhau. Không nói. Không biết nói gì. Cho nên, ông cụ giáo già là cái cớ cho tôi… sợ hãi nói với người yêu dấu. Chẳng phải Ngọc là bông hồng tình đầu của đời tôi. Nếu bông hồng tình đầu là người con gái thứ nhất ta đã gặp, ta xao xuyến, ta thương nhớ, ta buồn phiền thì tôi đã buồn phiền, thương nhớ, xao xuyến nhiều lần trước khi gặp Ngọc. Lần nào gặp một người con gái làm tôi xao xuyến tôi cũng thẹn thùng, xấu hổ. Bây giờ, già rồi, gần bốn mươi tuổi rồi, có vợ từ mười năm nay, con trai đầu lòng đã học lớp nhì mà cầm tay vợ rước đèn trên hè phố, tôi vẫn thẹn thùng, xấu hỗ. Đôi bận, cãi nhau với vợ, muốn giản hòa bằng câu xin lổi ngắn ngủi, tôi cũng cứ ấp úng, ngẩn ngơ. Tôi không hiểu nổi tôi. Có nghĩa là tôi không hiểu nỗi tình yêu.
    Em nên hiểu như thế. Rằng, nếu anh xin lỗi em dễ dàng như cãi nhau với em, nếu anh vồ vập bày tỏ lòng thương nhớ em những thuở chúng mình xa cách hàng tháng, hàng tuần thì anh đã mất hết sao xuyến, nhớ thương, buồn phiền với em và anh đâu còn yêu em như dạo xoay tiền mua vé xe đò về Long Xuyên thăm em một lát rồi lại ngược Sàigòn để thương nhớ em nhiều hơn và muốn có nhiều tiền mua vé xe đò.
    Tôi nhắc lại: Ngọc không phải là người con gái đầu tiên làm tôi xao xuyến. Nhưng chuyện tình giữa tôi và Ngọc vẫn đẹp, vẫn thơ, vẫn là… “bông hồng cho tình đầu”. Khi nào trong đời mình biết yêu ấy là lúc mình đã định cư ở trong trái tim một người con gái. Và người con gái ấy bắt buộc phải là vợ mình. Trước đó, mình chỉ yêu. Yêu, yêu, yêu. Thế thôi. Yêu và biết yêu khác nhau vời vợi. Biết yêu là biết khóc, biết khổ. Vũ Hoàng Chương đó, mới yêu, tâm hồn phơi phới, hồn nhiên. Nghe chàng kể Màu say, màu của cậu học trò vừa yêu:
    Mợ bảo:”Cuối thu lạnh đấy,
    Hàng len về đã nhiều rồi;
    Con liệu đi cùng anh ấy,
    Xem màu cắt áo đi thôi”

Em nhìn anh, cười bỉu môi.
Giống hệt ba năm về trước
Ngắm gương rẽ thử đường ngôi
Chỉ sợ anh nhìn thấy được…

Anh bước chiều nay sánh bước,
Hàng Ngang, Hàng Trống, Hàng Khay!
Cả một trời anh anh mơ ước,
Ở trong tà áo em bay.

Anh và em cùng nắm tay.
Hà Nội lên đèn sáng rực.
Má hồng như có men say,
Ủ một mùa hoa thơm phức.

Mỗi bước em càng nao nức
Nhủ anh: “Màu đỏ rượu vang
Là màu em mê hết sức”
Anh cười: “Chính đó thời trang”

Đủ màu len đẹp huy hoàng
Nhưng hết màu em khao khát…
Anh khuyên: “Hàng mới sắp sang;
Chớ gượng vơ màu Rượu chát”

Đã chọn, lòng say chẳng nhạt,
Em cùng một ý với anh.
Và chỉ buồn trong giây lát,
Tuần sau giấc mộng sẽ thành.

Ôi tuần sau! Đã mong manh,
Ủ một chiều say nữa đó!
Gần nhau say mộng say tình,
Chẳng cứ Rượu vang màu đỏ.

Rồi cậu học trò Vũ Hoàng Chương biết yêu. Trời yêu đương Hà Nội mất hẳn hai người
Đi chung một quãng chiều tan học,
Chẳng nói yêu mà yêu thiết tha.
Cậu trai vừa lớn Vũ Hoàng Chương biết yêu và đã biết khổ. Cậu Gọi lòng kiêu ầm ỹ:
Tự nhủ sống là quên, anh vẫn muốn
Đem tháng ngày khâu kín vết chia ly
Nhưng mỗi phút thời gian đưa thép nhọn
Máu thầm rơi mỗi phút đáy tim si

Anh cũng muốn thiêu hồn trong lửa đỏ
Lượm tàn tro vang bóng gửi xa đem
Nhưng mỗi lúc buông tay liều mặc gió
Anh nhớ ngày thơ mộng sống bên em

Anh lại muốn đắm trong đời trác táng
Giữa mê ly đầy xác thịt kiêu sa
Nhưng mỗi lúc đêm tan trời hửng sáng
Anh khóc mùa trinh bạch sớm tiêu ma

Nếu anh đến xin em lời hắt hủi
Để chiều nay khi gió gọi trăng lên
Anh sẽ với rừng khuya sang nổi tủi
Gọi lòng kiêu mau tới giúp anh quên.
Quả thực, tôi chưa biết yêu. Dĩ nhiên, tôi chưa biết yêu hồi tôi quen Ngọc. Và đó, mối tình của hai người yêu nhau mà chưa biết yêu gọi là bông hồng của tình đầu. Tôi hơi lẩm cẩm. Nhưng ai yêu cũng lẩm cẩm, cũng suy nghĩ vẩn vơ. Tôi đã suy nghĩ về thân phận tôi. Suy nghĩ về ông giáo già đeo kính trắng khuôn mặt luôn luôn nhăn nhó. Ông giáo già, thân phụ của Ngọc, chắc chắn, không thể… yêu nổi tôi. Nếu ông biết Mỵ Nương, ái nữ của ông, yêu nhà văn nghệ dấn thân chấm công năm chục bạc một ngày, ông sẽ điên lên, sẽ gọi phú lít tới bắt Trương Chi bỏ bót. Thế là Trương Chi đâm ra tự ti mặc cảm. Trương Chi làm sao gọi được lòng kiêu? Trương Chi thật sự buồn. Chàng viễn mơ trên ghế bố. Chàng lôi thơ Nguyễn Bính, gửi chút tâm sự còm:
Buồn đến lòng tôi rồi hạ trại
Đốt đường sạn đạo ở luôn đây

Ở luôn đây, ở lòng tôi, ở trên cái ghế bố, ở gác ba Nhà hát Tây. Làm sao tôi nói được với Ngọc là tôi buồn? Làm sao tôi nói được với Ngọc là tôi chẳng biết tương lai tôi mịt mù hay tươi sáng ? Vậy thì tôi chỉ nhìn nàng bằng đôi mắt khốn khổ. Tưởng tượng hôm nào đó, ông giáo già dẫn về những cậu trai học giỏi, con nhà giàu, tôi cảm khái ngâm khẽ:
Nàng thì kẽ đón người đưa
Tôi chờ gì nữa mà chưa giang hồ
Tôi rất muốn giang hồ Hớn Quản. Đời tôi, làm cu ly đồn điền cao su mới hợp. Anh Trương Chi ngày xưa thật ngu dại. Nếu anh từ chối gặp Mỵ Nương có phải anh đỡ buồn , đỡ cái cảnh ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta. Trương Chi ngày nay cũng ngu dại. Nếu đưa bài thơ Thôi nàng ở lại, anh phú lỉnh gấp, đừng lưu tâm cái va ly quần áo cũmèm, anh đỡ tủi thân phận con dế mèn phiêu lưu. Chung quy bởi mù quáng và bởi chị Phượng. Chị Phượng thích làm cành cây cho đôi chim nhỏ bé đậu lên mà ca hát ái tình. Chị là cây cầu tình yêu. Nghĩ tới chị, tôi yên lòng. Tôi tạm quên nổi buồn hạ trại ở giữa trái tim tôi. Chẳng cần nói với Ngọc. Nói với Ngọc qua chị Phượng.
Một hôm, nhân lúc ông giáo già đi vắng, chị Phượng ghé “nhà tôi”, báo tin rằng gia đình chị dọn về cư xá công chức ở đường Faucon. Chị hỏi:

  • Cậu Trương Chi
    Tôi cắt ngang:
  • Thưa chị, Long. Vũ văn Long ạ!
    Chị Phượng cười, luôn luôn, chị cười
  • Cậu Long, cậu chớ buồn
  • Dạ
  • Cậu đừng giang hồ rày đây mai đó, Trương Chi nhé Rồi mai mốt khai trường, con Ngọc đi học sẽ đi học sớm, lên đây thăm cậu.
    Tôi xuất thần thốt một câu anh dũng:
  • Thưa chị, yêu là chấp nhận đau khổ.
    Chị Phượng nhăn mặt:
  • Sai lại khổ?
    Và chị nhìn thẳng vào mắt tôi:
  • Hay Trương Chi không yêu con Ngọc nữa?
    Tôi lắc đầu:
  • Chị đừng hiểu lầm em. Em yêu Ngọc lắm nhưng em không biết nói với Ngọc thế nào để Ngọc hiểu là vì yêu Ngọc, em đã chán dấn thân chấm công!
    Chị Phượng nói:
  • Trương Chi, con Ngọc hiểu cậu rồi. Nó yêu cậu và muốn cậu đừng bỏ nó giang hồ đây đó. Giang hồ lắm, đôi chân chỉ tổ rỗ huê!
    Tôi hỏi:
  • Thưa chị, hình như tình yêu của em và Ngọc sắp bị trục trặc kỹ thuật?
  • Sao, Trương Chi nói sao?
  • Trục trặc kỹ thuật!
  • Là gì?
  • Ông cụ có vẻ thiếu… tâm hồn nghệ sĩ.Em chắc ông cụ không biết kéo nhị cầm.
  • Ngày xưa bố chị khẩy đàn bầu!
  • Cụ đã quên rồi. Cụ sẽ khinh bỉ em nếu cụ biết em là nhà văn nghệ dấn thân chấm công và viễn mơ trên ghế bố. Ôi, lại thêm một tiểu thuyết Lá ngọc cành vàng 1.
    Chị Phượng đã đọc tiểu thuyết Lá ngọc cành vàng, chị an ủi tôi:
  • Thời bây giờ khác, Trương Chi. Với lại bố chị sắp nhận chức hiệu trưởng ở mãi lục tỉnh.
    Đôi mắt tôi sáng rực:
  • Còn chị và Ngọc ở Sài gòn?
  • Ừ.
  • Còn bà cụ?
  • Vợ kế của bố chị đó, bố chị mới cưới vài tháng nay ngoài Hải Phòng. Mẹ chị mất lâu rồi. Chị đứng về phe cậu, Trương Chi ạ! Cậu không sợ trục trặc kỹ thuật nữa chứ.
  • Vâng.
    Chị Phượng về “nhà ” chị. Tôi nằm dài trên ghế bố” nhà ” tôi. Tôi không còn cô độc 2. Tôi lẩm nhẩm đọc tên tôi cho nó hách:
    Trương Chi, Trương Chi! Hoa khuê các và bướm giang hồ vẫn có thễ gặp nhau như bến mộng vẫn có thể gặp con đò rách tã. ông giáo già sắp ca bài hát của danh tài Y Vân: Về miền Tây có ai về miền Tây. Cái chậu mồng tơi trở ngại của hai người vừa lớn yêu nhau sắp bị phá bỏ. Và những câu thơ:
    Giá đừng có chậu mồng tơi
    Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
    Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
    Có con bướm trắng thường sang bên này
    Bướm ơi bướm hãy vào đây
    Cho ta hỏi nhỏ câu này chút thôi
    Chả bao giờ thấy nàng cười
    Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên
    Mắt nàng đăm đắm trông lên
    Con bươm bướm trắng vền bên ấy rồi
    Bỗng nhiên tôi thấy bồi hồi
    Tôi buồn tự hỏi hay tôi yêu nàng
    Của thần tượng Nguyễn Bính của tôi trở thành… vô nghĩa. Tôi đã thấy nàng nhai thịt bò vẹo quai hàm, nàng xỉa răng, nàng cắt móng tay, nàng chải đầu, nàng đậpmuỗi Sài gòn, nàng gãi, nàng đứng trong chiếc chiếu quây tròn. Vân vân. Nếu cái giậu mồng tơi sụp đổ, tôi sẽ được nhảy vèo sang nhà nàng ngồi cạnh nàng lúc nàng đang thêu tên tôi quấn quýt lấy tên nàng trên chiếc mù xoa.
    Ôi, cảnh mộng đó y hệt thơ Nắng Đào 3 của Nguyễn Xuân Huy:
    Em đang thêu bên cửa
    Mơn mởn trăm vẻ đẹp
    Anh ghé đến ngồi cạnh
    Vuốt ghẹo làn tóc xanh.
    Vuốt ghẹo làn tóc nàng chưa đủ, tôi còn bắt chấy cho nàng nữa. Tôi sẽ bắt chước các bà nhà quê Bắc kỳ, bỏ con chấy vào miệng, cắn cái đốp. Tôi không nhả ra đâu. Tôi nuốt con chấy. Vì con chấy đã hạ trại trên đầu nàng và da thịt của nó thơm tho mùi da thịt tình yêu. Tôi không buồn tủi thân phận chấm công năm chục bạc một ngày và rất hứa hẹn thất nghiệp khi đồng bào di cư đã định cư hết ráo. Tôi mong mỏi nàng sớm về đường Faucon. Nàng xa tôi, tôi sẽ nhớ nàng. Và tình yêu mà lên màu nhớ thì nó đẹp không sao diễn tả nỗi. Xa nhau gió ít lạnh nhiều. Tôi sẽ yêu những buổi chiều mưa Sài Gòn. Nàng sẽ trốn học,đội mưa lên Nhà Hát Tây thăm tôi. Tôi sẽ ôm cây đàn hát nhẹ bên tai nàng: Ta ước mơ một chiều thêu nắng, Em đến chơi quên niềm cay đắng, và quên đường về…Vậy thì tôi phải dành dụm tiền mua một cây đàn.

1 Lá ngọc cành vàng, Một tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan
2 Tôi không cô độc là tên một tập thơ của Thanh Tâm Tuyền
3 Tên tập thơ của Nguyễn Xuân Huy

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 17 Nov 2024

  1. Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền trong biển lửa
    Thời xưa, ở các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long, giao thông vận tải đường bộ chưa được mở mang nhiều, các gánh hát phải dùng ghe chài, ghe bầu để di chuyển đến các bãi hát. Đó là sự bình thường. Trong các thập niên 1960, 1970, đường sá mở mang, xe đò, xe tải rất nhiều, các “Ghe Hát” được cải danh là “Đoàn Hát” vì giới nghệ thuật sân khấu đã dùng xe hơi, xe tải, xe nhà, để di chuyển từ tỉnh nầy đến tỉnh khác và thường đi thành từng đoàn xe, vừa tiện lợi, vừa nhanh chóng.
    Sau năm 1975 (từ 1975 đến 1990) các đoàn hát ở miền Tây lại phải di chuyển bằng ghe. Không phải vì đường sá hư, mà chính vì thời kỳ đó, các chủ xe đò, xe tải, phải vô “hợp tác xã”; xe hơi hư thì người chủ phải bỏ tiền ra sửa chữa. Tiền xăng nhớt, tiền công tài xế, chủ nhơn chiếc xe phải trả, nhưng khi có thu nhập thì chủ xe phải giao nạp hết cho trưởng ban hợp tác xã để trưởng ban phân chia.
    Làm ăn lỗ lã như vậy, xe hư, chủ nhơn không bỏ tiền ra sửa nữa. Tài xế có đòi tăng lương hay làm khó dễ thì chủ xe bỏ cho xe nằm “ga ra” luôn, không cho xe chạy nữa.
    Trong tình trạng đó, khó có thể mướn xe đò và xe tải nên các đoàn hát phải dùng ghe để di chuyển như xưa. Có điều kém hơn xưa vì chỉ mướn được ghe nhỏ, khoan ghe khoảng hơn hai thước bề ngang và bề dài, khoảng hơn mười thước. Trên mui không để thoáng trống như xưa mà dùng để chất phông cảnh, màn, cánh gà…
    Vận chuyển trên sông thật vất vả, nhất là lên xuống đồ đạc thì anh em dàn cảnh rất cực. Có những bến từ bãi diễn đến bến sông ghe đậu cách cả vài trăm thước. Có những đêm hát xong, gặp lúc nước sông ròng cạn, đưa đồ đạc xuống là cả vấn đề khó khăn, có khi đến 3, 4 giờ sáng ghe mới nhổ neo rời bến.
    Đến bến mới có khi tới trưa, tới chiều, anh em dàn cảnh, hậu đài vì quá mệt mỏi sau đêm diễn và chuyển bến nên chưa đến nơi họ đã ngủ vùi trên ghe.
    Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền, nghệ sĩ Hoàng Liêm, Tấn An, Xuân Lan đi hát cho đoàn Tiếng Ca Sông Cửu (năm 1980) Đoàn diễn ở xã Vĩnh Trạch (Cà Mau) dời bến vô huyện Năm Căn, cách xa một ngày đường ghe. Trên đường di chuyển, đoàn cho ghe ghé lại một bến, tạm nghỉ vì toàn đoàn đã mệt lả sau đêm diễn mà phải chuyển bến khó khăn như đã kể trên.
    Đào kép ngủ trong khoan ghe. Diệu Hiền là đào chánh nên được xếp nằm ở giữa ghe. Anh em công nhân dàn cảnh và các em phụ diễn chia nhau ngủ ở mũi ghe và lái ghe.
    Trời tối đần, mọi người đều ngủ mê man, tài công để trên mui ghe một ngọn đèn dầu để làm hiệu cho những ghe tàu khác thấy để tránh nạn va chạm nhau. Sóng nước làm chiếc ghe tròng trành, đèn đổ dầu phựt cháy. Dầu cháy lan tới khoang máy, làm cho thùng phuy đựng dầu cũng cháy luôn. Khi mọi người hay được thì mạnh ai nấy tìm cách thoát thân. Tiếng la kêu cứu hỗn loạn. Mấy người ngủ khoang ngoài, gần mũi ghe và lái ghe đều phóng xuống sông lội vô bờ.
    Tội nghiệp Diệu Hiền, ngủ giữa khoang ghe, khi hay lửa cháy thì thùng dầu nổ, văng dầu ướt lưng cô, lửa cháy bùng trên lưng, cháy dài theo cánh tay trái và một phần cổ. Cô dẫy dụa kêu cứu, nhưng mọi người đang kinh hoảng, không ai nghe được tiếng kêu la thất thanh của Diệu Hiền.
    Hoàng Liêm đã nhảy xuống sông, vì ghe cột gần bờ nên anh lội vô, leo lên bờ và lớn tiếng kêu la để những người nhảy xuống sông biết hướng mà lội vô bờ thay vì lội ra giữa sông hay thả xuôi theo dòng nước. Hoàng Liêm nhìn vô khoang ghe, thấy có bóng người trong biển lửa, liền nhớ đến Diệu Hiền. Anh nhảy xuống sông, lội ra và leo lên ghe mặc dầu lửa đang cháy dữ dội. Anh thấy Diệu Hiền đã bất tỉnh, lấy mền dập tắt lửa trên mình Diệu Hiền rồi bồng cô ra trước mũi ghe. Lúc nầy nhiều anh em dàn cảnh đã bình tĩnh trở lại, thấy có ghe thương hồ đi ngang liền nhờ ghe tới chở Diệu Hiền vô phòng y tế huyện Năm Căn để cấp cứu.
    Ngọn lửa cháy mạnh, ghe chìm dần dưới đáy sông. Tài sản của đoàn, của anh em nghệ sĩ bị thiệt hại hết, nhưng thiệt hại lớn nhất là tình trạng bị phỏng nặng của nữ diễn viên chánh của đoàn: cô Diệu Hiền. Y tế huyện Năm Căn thoa dầu cá thu những nơi bị phỏng của cô, cho uống thuốc giảm đau rồi nhờ tàu máy chở cô ra tỉnh gấp. Hoàng Liêm và anh Trưởng đoàn đi theo lo lắng giúp đỡ cho cô.
    Bệnh viện Cà Mau lại chở Diệu Hiền cấp tốc tới bệnh viện đa khoa Cần Thơ. Tại đây cô được điều trị suốt ba tháng, hai lần phải mổ chỉnh hình, tách rời mấy ngón tay ra vì tay trái bị cháy nặng, khi ở Năm Căn băng bó, vô tình làm cho da các ngón tay dính với nhau.
    Lúc đó tôi giúp việc cho đoàn Phước Chung, hát ở Cần Thơ.
    Chúng tôi có đến thăm Diệu Hiền, được Hoàng Liêm kể cho nghe chuyện ghe bị cháy, bị chìm và tai nạn của Diệu Hiền. Khi chúng tôi đến thăm thì Diệu Hiền đã khỏe lại nhiều rồi, tôi hỏi Diệu Hiền sức mạnh nào giúp cho cô giữ vững tinh thần trước tai nạn thảm khốc nầy?
    Diệu Hiền cười buồn, nói với chúng tôi:
    – Đời em khổ quá nhiều rồi, khổ vì dang dở nợ duyên, khổ vì không gặp may mắn trên đường sự nghiệp như bao bạn bè trang lứa, em còn phải bám vào sân khấu để kiếm sống và nuôi dạy hai con… Nói tóm lại số phận em không được tốt, em không chịu thua số phận. Có vậy thôi! Em phải phấn đấu tới cùng để đạt được những gì mà em thua sút bạn bè trang lứa. Em sẽ làm cho các con của em không phải chịu thiệt thòi như đời em đã chịu.
    DIỆU HIỀN đã trở lại sàn diễn và nổi danh trong vai “Nhụy Kiều Tướng quân” tuồng Bùi Thị Xuân, nhận nhiều huy chương vàng hội diễn ở Sài gòn và các tỉnh miền Tây.
    Con gái lớn của cô là Diệu Thanh, nối nghiệp mẹ, là diễn viên chánh của đoàn Bông Hồng Vàng. Con trai thứ là Quang Bình nhạc sĩ tân nhạc, thu thanh ra được nhiều album nhạc trẻ nổi tiếng.
    Bạn bè trong giới sân khấu và khán giả quen gọi Diệu Hiền là “Nhụy Kiều Tướng quân” và ở các tụ điểm ca nhạc cổ, khán giả ái mộ yêu cầu cô ca lại câu vọng cổ mà họ ưa thích:
    Nhạc:

Nầy lửa hỡi … Hãy nghe đây,
Lời trăn trối của hôm nay,
Có nghe không ? Hỡi lửa hồng,
Hãy thay ta, ngăn bước quân thù,
Giữ vững yên lành, cho quê hương
Mãi mãi đẹp xinh!
(Tiếng hát hậu trường)
Người con gái hỡi ! Hãy nghe đây,
Lời thương xót của quê hương,
Hỡi em ơi, khi lửa hồng kia vẫn còn
Thiêu đốt thân nàng,
Đôi tay đành – sắp bỏ thanh gươm.
Nhụy Kiều ca vọng cổ:
2# – Thanh gươm nầy sẽ nằm trong tay ta mãi mãi dù thân xác ta sắp từ giã cõi dương trần… Máu hồng ơi ! chầm chậm khoan tuôn đổ phút giây nầy, Cho ta hướng mắt nhìn về đất mẹ một lần sau cùng rồi nhắm mắt xuôi tay. Chút hơi tàn xin dâng trọn quê hương. Cha mẹ hỡi! Thôi từ nay xin vĩnh biệt.. . Thanh kiếm hỡi … Hãy giúp ta lần sau cuối, đánh đuổi quân thù để giành lại quê hương.
Giọng ca của cô rất mạnh mẽ, cao vút như đang xung trận, khung cảnh sân khấu bừng bừng lửa đỏ, cộng với tiếng reo hò tở mở của quân binh tướng sĩ, dường như là cảnh tượng nầy đã gợi lại cảnh cô suýt bị chết cháy trên sông nên cô diễn xuất thần, biểu lộ cái dũng mãnh của người quyết tâm giành sự sống, giành lấy cái chiến thắng sau cùng..
Diệu Hiền là một diễn viên thanh sắc lưỡng toàn, nổi danh từ đầu năm 1960. Đáng lẽ cô được dự tuyển chọn diễn viên triển vọng Huy Chương Vàng Giải Thanh Tâm như các cô Thanh Nga, Bích Sơn, Thanh Thanh Hoa …, nhưng chuyện gia đình rối rắm của cô đã ngăn bước tiến triển của cô trên đường sự nghiệp sân khấu.
Khán giả mộ điệu sân khấu cải lương trong những thập niên 1950, 1960, 1970, không thể nào quên vợ chồng nghệ sĩ tài danh Út Hậu và Diệu Hiền.
Út Hậu, tên thật là Trần Quảng Hậu, sanh năm 1939, được cha mẹ gởi đi tu ở chùa Thiên Phước Tự ở Trà Ôn từ năm lên 7 tuổi.
Trong chùa, Tiểu Hậu lễ Phật, đọc kinh, giọng trong, sang sảng như tiếng chuông ngân. Năm 12 tuổi, vì có giọng tốt, Tiểu Hậu được Ban nhạc lễ cúng đình nhờ đứng xướng danh các chức sắc trong Ban cúng tế.
Nhạc sĩ Mười Kiên trưởng Ban nhạc lễ nhận Tiểu Hậu làm đệ tử, dạy ca cổ nhạc (vọng cổ và các bài bản nhỏ). Tiếng đàn kìm, câu ca vọng cổ của ông Mười Kiên đã khơi dậy trong anh cái hồn nghệ sĩ và làm sôi lên dòng máu giang hồ mà câu kinh tiếng kệ không thể làm cho lãng quên được.

Năm 16 tuổi Tiểu Hậu quyết định rời chùa, đi tìm gánh hát để thỏa mơ ước trở thành một diễn viên sân khấu. Đến Sàigòn, may mắn đầu tiên là anh được nhận vào đoàn Kim Thanh của anh Út Trà Ôn do bốn tài danh sân khấu đương thời chung vốn thành lập (Kim Chưởng, Thanh Tao, Út Trà Ôn và vợ chồng Thúy Nga – Phước Trọng)
Đoàn Kim Thanh lúc đó (1955) đang tập tuồng để chuẩn bị khai trương gánh hát tại rạp Aristo tức là Trung Uơng Hí Viện ở đường Lê Lai, cạnh ga xe lửa Sàigòn.
Trần Quảng Hậu được Út Trà Ôn thu làm đệ tử và đặt cho nghệ danh là Út Hậu.
Út Hậu chỉ xuất hiện trong một vai khiêm tốn, nhưng có ca hai câu vọng cổ do soạn giả Thu An sáng tác thêm cho anh theo yêu cầu của anh Út Trà Ôn. Báo chí kịch trường thời đó phê bình buổi diễn khai trương của Đoàn Kim Thanh, ngoài việc khen tuồng hay, đào kép ca diễn giỏi, có đặc biệt lưu ý về sự xuất hiện của một kép ca: Út Hậu mà ký giả Hoài Ngọc tiên đoán là Út Hậu sẽ là một danh ca vọng cổ như Út Trà Ôn.
Một năm sau, Đoàn Kim Thanh giải tán.
Út Hậu gia nhập Đoàn Thanh Minh (Bầu Nghĩa), đã thành công trong vai Phù Đổng, vở Phù Đổng Thiên Vương của soạn giả Ngọc Huyền Lan (tức ký giả Nguyễn Ang Ca) và đã đóng chung với Thanh Nga trong vở tuồng Phận Trẻ Lạc Loài của soạn giả Lê Khanh.
Năm 18 tuổi, anh được soạn giả Bạch Vân mời về, chung vốn thành lập đoàn Mai Hoa – Út Hậu.
Út Hậu hùn vốn có nghĩa là tiền contrat anh ký với Bầu Mai Hoa được bỏ vô làm vốn chung của gánh hát; tuy có danh nghĩa là bầu nhưng mọi việc chi xuất tài chánh là đều thuộc quyền của ông Bầu Bạch Vân, chồng của cô đào Mai Hoa. Út Hậu chỉ lãnh lương đêm như bao nhiêu nghệ sĩ khác trong đoàn. Năm nầy Út Hậu được nhiều người biết tới, nhứt là giới bầu gánh, soạn giả và khán giả các tỉnh miền Tây vì báo chí kịch trường rất khen anh qua các vai diễn trong tuồng “Nửa mảnh tim”, “Mái tóc người vợ trẻ”
Cũng tại sân khấu nầy anh thành hôn với nữ nghệ sĩ Diệu Hiền, một tài danh vừa chớm nở trên vòm trời nghệ thuật cải lương ở miền Tây. Út Hậu và Diệu Hiền chung sống, có được hai con tên là Diệu Thanh và Quang Bình.
Hai năm sau, Đoàn Mai Hoa – Út Hậu giải tán.
Út Hậu trở về hát cho đoàn Thống Nhất của anh Út Trà Ôn.
Và năm sau nữa, anh rời đoàn Thống Nhất của Út Trà Ôn, về hát cho đoàn Kim Chung của Bầu Long.
Vì liên tục thay đổi đoàn hát, nghề nghiệp của Út Hậu không tiến triển được. Các ký giả kịch trường cũng bớt khen ngợi hay phê bình anh, mặc dầu trong thời gian đầu khi anh về cộng tác với đoàn Kim Chung, anh rất thành công qua các vai Lữ An Tùng trong vở “Nhạn Về Xóm Liễu”, vai Tường Vi trong vở “Bên Cầu Vọng Thê “.
Năm 1965, Út Hậu muốn về đoàn Kim Chung 6 đang lưu diễn miền Trung để nắm vai chánh các vở tuồng của đoàn nầy thay vì lẩn quẩn ở các đoàn Kim Chung 1 ,2,3 nơi mà Út Hậu không thể hát hay hơn Hùng Cường, Minh Phụng, Minh Vương.
Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền, vợ anh khuyên anh cùng về hát cho đoàn Tấn Tài, trước nhứt là vợ chồng con cái được đoàn tụ bên nhau, lo liệu chăm sóc lẫn nhau, sau nữa là đoàn Tấn Tài chuyên lưu diễn ở các tỉnh miền Tây, nơi mà khán giả còn dành nhiều cảm tình ưu ái cho cặp nghệ sĩ danh ca Út Hậu – Diệu Hiền, như vậy thì dễ thành đạt trên con đường sự nghiệp sân khấu hơn.
Vì không đồng ý nhau về việc chọn đoàn hát để cộng tác mà hai vợ chồng Út Hậu – Diệu Hiền to tiếng cãi vã nhau, kết quả là hai vợ chồng thôi nhau, kẻ đi theo đoàn Kim Chung 6 ở miền Trung, người theo đoàn Tấn Tài ở miền Tây.
Cho đến 10 năm sau, Út Hậu mới rời đoàn Kim Chung để về cộng tác với đoàn Thủ Đô – Tấn Tài thì Diệu Hiền bỏ đi cộng tác với đoàn khác. Hạnh phúc gia đình đổ vỡ không thể nào hàn gắn được.
Sau năm 1975 đến năm 1996, Út Hậu theo các đoàn hát hát ở miền Trung (đoàn Sông Hàn, đoàn Hoa Biển)
Cuối năm 1999, Út Hậu bị tai biến mạch máu não, bị bán thân bất toại ở Tuy Hòa.
Diệu Hiền đưa tiền cho con gái lớn là Diệu Thanh ra Tuy Hòa đưa Út Hậu về Sàigòn để điều trị.
Hiện nay Út Hậu tá túc trong nhà dưỡng lão của Nghệ sĩ ở quận 8. Tôi có đến thăm anh một lần, anh nói:
– Tiểu Hậu đã bỏ chùa, bỏ Phật để chạy đuổi theo hư vinh, quên cả vợ con vì tham vọng cá nhân, bây giờ khi hiểu được câu kinh kệ “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” thì không còn có thể trở lại chùa được nữa.
Tôi cười, nói: “Phật tại tâm. Anh muốn tu thì ở nhà dưỡng lão cũng là tu rồi.”
Phần của Diệu Hiền thì phải nói là cô hy sinh tất cả để chăm sóc nuôi dưỡng hai con Diệu Thanh và Quang Bình. Mặc dầu đang là một nữ diễn viên thanh sắc vẹn toàn, có thu nhập cao trong một đoàn hát tỉnh, nhiều người ngấm nghé muốn kết hôn với cô, nhưng cô không muốn bước thêm bước nữa. Sự đổ vỡ của mối tình đầu, cũng là mối tình cuối của cô, làm cho cô nghi ngờ tất cả những lời nói yêu đương của nam giới. Cô chỉ muốn được yên tâm theo đuổi nghề hát để lấy đó làm kế mưu sinh và có phương tiện để nuôi dạy hai con của cô.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 17 Nov 2024

  1. 60 năm trước nghệ sĩ sân khấu học hát như thế nào?
    Đầu thế kỷ 21 nầy, muốn học ngành nghề nào thì cũng có trường lớp, sách vở, tài liệu dạy về ngành nghề đó. Có khi không cần phải cặp sách đến trường học mà ngồi nhà, học theo cách hàm thụ thì giáo sư và tài liệu giáo khoa cũng theo máy computeur vô đến nhà mình, tới phòng riêng của mình và theo giờ giấc quy định của mình để việc học hành được thoải mái. Đời sống trong thời đại văn minh cơ học, vi tính học thiệt là vô cùng tiện lợi.
    Hơn 60 năm trước đây thì lại khác. Nước Việt Nam hồi đó còn là thuộc địa của Pháp, mà nước Pháp lại là một nước bị bại trận ở phương trời Âu trong những năm đầu Đại chiến thế giới lần thứ hai. Ở Đông Dương, quân Nhựt Bổn cũng đã có mặt trên nhiều tỉnh thành lớn của cả ba miền đất nước. Mọi mặt đời sống tình thần, văn học và vật chất đều bị khó khăn, bị hạn chế, thiếu thốn và lai tạp. Trong bối cảnh lịch sử của xã hội ta lúc đó, nghệ thuật sân khấu cải lương phải chật vật lắm mới phấn đấu để tồn tại và phát triển được.
    Tôi nhắc lại việc học nghề hát của hơn 60 năm trước đây, có bạn sẽ nghĩ là chuyện đó xưa quá rồi, hoặc là so với học thuật bây giờ thì thiệt là kém khuyết. Các bạn có lý của các bạn. Tôi viết lại những gì mình đã trải qua hơn nửa đời người trên sân khấu, mong các nhà học giả để tâm nghiên cứu nghệ thuật, đúc kết lại những điểm nào đó có ích, bồi bổ cho học thuật cải lương sau nầy. Và chót hết, ý nghĩ khiêm tốn của tôi là các bạn đọc lại những trang hồi ký nầy, mong các bạn giải trí như được coi chuyện đời xưa, nhớ lại Sàigòn và những tỉnh thành với bao kỷ niệm thân thương mà mình đã sống và hiện nay đã biền biệt xa xôi.
    Hồi đó… khoảng năm 1940, lúc thời trung tá Ducouroy tổ chức phong trào thể dục thể thao, sau cuộc đua xe đạp Đông Dương, từ Bắc vào Sàigòn, tôi vừa mê thể thao vừa mê xem hát cải lương. Số là thời đó cua-rơ Lê Thành Các, vua leo núi, mặc áo vàng khi thắng các cuộc đua leo đèo Hải Vân, Đèo Cả… anh Lê Thành Các, được báo chí phong cho danh hiệu Phượng Hoàng Lê Thành Các, là thần tượng của tôi, lại chính là bầu gánh hát cải lương, cha của nữ nghệ sĩ Bo Bo Hoàng. Ngoài gánh hát của bầu Các đóng đô thường xuyên ở đình Tân Kiểng, tôi còn mê gánh hát của ông bầu Đỗ Xuân Ứng, người Bắc, đã đưa đoàn hát Ứng Lập Ban từ Hà Nội theo đoàn cua-rơ xe đạp chạy vào Nam. Gánh Ứng Lập Ban hát tại mỗi chặng dừng của đoàn cua-rơ xe đạp, hát dài từ Hà Nội đến Phủ Lý, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết và đêm phát giải thưởng Cuộc đua xe đạp Đông Dương tại nhà hát Tây Sàigòn. Sau đó ông bầu Đỗ Xuân Ứng tách đoàn cua-rơ xe đạp để đưa gánh hát lưu diễn Sàigòn và Lục Tỉnh. Ứng Lập Ban hát thêm nhiều xuất ở rạp Modeme đường Espagne trước khi đoàn trở về Hà Nội, (bây giờ là rạp Long Phụng, dành riêng cho đoàn Hát Bội Thành Phố). Lúc đó tôi còn đi học, nhà ở đường Espagne, góc chợ Bến Thành, nên khi có thì giờ là tôi loanh quanh trước rạp Moderne coi các panneaux quảng cáo, có khi vô rạp coi tập tuồng, tập hát.
    Còn nhớ hồi đó, gánh Ứng Lập Ban có các nam nghệ: Đào Mộng Long, Huỳnh Thái, Anh Đệ, Sỹ Tiến, Paul Bách, và nữ diễn viên: Ái Liên, Bích Hợp, Bích Thuận, Kim Chung, Khánh Hội, Túy Định, Thu Nhi… Ái Liên có giọng ca tân nhạc như Tây như đầm, Ái Liên được Đài Pháp Á thâu thanh và phát thanh các bài ca J’ai deux amours, C’est à Capri, Marinella, Tango chinois… Bọn học sinh chúng tôi rất mê nên lân la tới rạp coi Ái Liên học ca như thế nào, tập tuồng ra sao, nhưng thường thì chỉ thấy các nghệ sĩ học đánh võ, ráp tuồng và học ca vọng cổ điệu Sàigòn. Tôi mê coi cải lương, mê coi tập tuồng, tập hát có lẽ là từ lúc nầy, tôi mê Ái Liên, Kim Chung, Bích Thuận như mê Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Châu…tôi sưu tập hình ảnh các nghệ sĩ thần tượng của tôi dán vô sổ lưu niệm. Cứ như vậy, từng bước, từng bước…tôi bước vào lãnh vực sân khấu cải lương!
    Năm 1948, theo lời rủ rê của nghệ sĩ Tám Cao, Trường Xuân, Tuấn Sĩ, tôi theo đoàn hát cải lương Tiếng Chuông, rày đây mai đó. Lúc đó trong gánh hát, phần lớn ít học, dốt chữ, tôi biết chút đỉnh tiếng Tây nên tôi được ông Bầu Cang cho làm quản lý, để đi tới các đồn bót Pháp xin giấy phép hát, giao thiệp với Cò bót khi có liên quan tới trật tự an ninh của đoàn và đi xin kiểm duyệt tuồng ở Bộ Thông Tin. Việc Quản Lý gánh hát đối với tôi tuy dễ dàng và thuận lợi, có nhiều lợi nhuận, nhưng tôi theo đoàn hát chính là vì mê tiếng đờn, giọng hát chớ không phải vì kiếm tiền để sinh sống; vì vậy tôi bắt đầu học hát để mong một ngày nào đó, tôi sẽ trở thành nghệ sĩ, làm vua làm chúa, làm kép mùi như Tuấn Sĩ, Thanh Cao hay kép độc như Trường Xuân. Ý muốn nhỏ nhoi đó coi vậy mà khó thực hiện vì tôi tự khám phá ra rằng tôi không có “duyên sân khấu”, tôi bèn xoay qua việc học hát, học ca, học tất cả các ngành nghệ thuật nào có liên quan tới sân khấu cải lương để chuyên hẳn vô nghề sáng tác tuồng cải lương.

60 năm trước, nghệ sĩ học hát như thế nào?
Có đi sâu vô nghề hát sân khấu mới biết là học nghề hát thiệt là khó, mà học nghề soạn giả lại càng khó hơn. Vì tôi có thời gian làm việc lâu với anh Thành Tôn, anh Hữu Thoại về ngành Hát Bội và Hát Bội pha cải lương, tôi lại cũng học hỏi nơi anh Năm Châu, Năm Nghĩa, Năm Nở về nghệ thuật cải lương nên tôi học được cả hai thứ. Tôi nhận thấy rằng hát và viết tuồng Hát Bội, hát Hồ Quảng, hát cải lương tuồng cổ hoàn toàn khác với phương thức học và hát tuồng cải lương Lịch Sử, tuồng Xã Hội.
Bài học vỡ lòng của nghệ sĩ Hát Bội, nghệ sĩ hát Hồ Quảng và cải lương tuồng cổ:
Tôi theo đoàn Thanh Minh, hát thường trực nơi rạp Thành Xương nên thường qua lại bên nghệ sĩ Hát Bội pha cải lương của gánh Vĩnh Xuân Ban – Bầu Thắng nơi đình Cầu Quan. Tôi có theo dõi, học thầm những khi anh Minh Tơ dạy cho các em nghệ sĩ trong đoàn, nhứt là khi anh đào tạo nhóm nghệ sĩ đồng ấu Minh Tơ. Tuy tôi không phải là học viên chính thức nhưng bài học nào của anh Minh Tơ dạy, tôi cũng có ghi ký chú, có khi chép cả những bài ca, cách múa vào sổ tay. Việc học tập nầy đã giúp tôi rất nhiều trong những buổi đầu khi tôi sáng tác tuồng Tàu, tuồng dã sử.
Nghệ sĩ mới học Hát Bội, học Hát Bội pha Quảng phải học mười bài học vỡ lòng:

Bài 1- Học nói lối, học bẩm, báo:
Thần đẳng lưỡng ban văn võ, (Chúng tôi hai hàng văn võ chầu vua)
Tiến lai hiến thọ ba đăng. (Đến chúc thị bằng bài múa Hoa đăng)

Bài 2- Xem Tam Lang:
Tập cách đi, cách uốn mình cho dẻo như để 3 cái chậu theo hình chữ V, học viên đến chậu phải nghiêng mình lướt qua. Đây là bài tập căn bản về nghệ thuật đi. Lúc mặc giáp trụ hay mãng bào thì nhứt định phải đi kiểu nầy mới đúng điệu.

Bài 3- Múa Yên Lung Bích Thọ.
Điệu múa đơn giản để tập động tác ray chân phối hợp.

Bài 4- Múa Tam Quốc, bài Thời Hồ Huỳnh Cân.
Tập động tác tay chân phức tạp hơn, kết hợp với diễn tả tâm trạng nhơn vật.
Tôi đơn cử một vài ví dụ về cách học hát của nghệ sĩ Hát Bội, Hát Bội pha Quảng để thấy rằng những động tác tay chân, nét mặt, ánh mắt, cách đi đứng đều có quy định đúng trình thức. Người không học nghề căn bản không thể hát chung với những nghệ sĩ khác. Ngay như việc đóng vai quân sĩ trên sân khấu hát tuồng cổ cũng là khó khăn, phải học cho đúng cách. Làm quân, phải học cách cầm cờ chạy hiệu, học bẩm báo, học cách mở then cửa vào nhà, học cách bắt ngựa, dâng ngựa, học cách dâng rượu, học múa đạo cụ, múa kiếm, múa đao, múa kích… v.v… Tất cả các động tác phải rập ràng theo điệu nhạc, theo trống phách.
Ngoài các động tác hình thể phải đúng theo khuôn mẫu, lối hát Nam, hát Khách, lối xướng, điệu tán đều mẫu mực. Lối xướng cũng nhiều cách khác nhau như xướng Lăng, xướng Rượu, xướng Thiền, xướng thường, xướng xuống Nam…Riêng hát Nam, có nam ai, nam biệt, nam chạy, nam hận, nam khòng còn gọi là nam dựng, nam lụy, nam rịn, nam ru, nam thiền, nam thương, nam xuân…Cũng với lời văn lục bát hoặc song thất lục bát, cách hát, cách xướng “chinh” đi nửa giọng, “nâng” lên một chút, “ngân” vang kéo dài…là khác biệt rồi… Khó cho người nghệ sĩ hát mà cũng khó cho khán thính giả, muốn thưởng thức đúng điệu thì khán thính giả cũng phải sành điệu Hát Bội thì mới thấy được hết cái hay của nghệ sĩ.
Nghệ sĩ Hát Bội vì học bài bản như nhau nên người nào tốt giọng, tiếng vang xa với điệu múa đẹp, ánh mắt sắc bén, nụ cười tươi, có duyên sân khấu là chiếm được nhiều cảm tình của khán giả. Soạn giả Hát Bội cũng bị hạn chế khả năng sáng tạo vì phải tuân thủ theo các trình thức hát mẫu mực. Vì vậy, tôi tự thấy mình không đủ sức theo nghề Hát Bội nên tôi học theo hướng cải lương.

Nghệ sĩ cải lương có nhiều cơ hội phát triển bản sắc riêng:
Khác với Hát Bội là loại hình nghệ thuật cổ điển, nghệ thuật hát cải lương sinh sau đẻ muộn, trong quá trình lớn dần lên, hát cải lương tự mày mò một lối hát phù hợp với cách sáng tác mới và phục vụ lớp khán giả mới.
Tác phẩm cải lương chịu ảnh hưởng theo lối viết kịch của Anh, Pháp nên mỗi nhân vật trong tuồng cải lương là có số phận và cá tính riêng. Điều nầy bắt buộc các diễn viên, ngoài khả năng trời cho về Thinh và Sắc, người diễn viên phải nghiên cứu cách thể hiện cá tính của nhân vật một cách đậm nét nhứt, điển hình nhứt, phù hợp với nhơn vật mà tác giả muốn khắc họa trong kịch bản của mình. Chính vì cá tánh khác biệt nhau nên nhân vật không có một mẫu hình chung cho các vai mà phải tìm tòi cho ra cái khác biệt, cái nét riêng, đặc sắc nhứt của nhân vật. Ví dụ Hát Bội có hôn quân thì vua hôn quân tuồng nào cũng giống nhau ở chỗ cùng mê tửu sắc, ngu muội, bị gian thần và ái phi xỏ mũi, bất công với trung thần và cuối cùng là bị soán ngôi.

Trong tuồng cải lương thì người điên, người say, người ghen, người hiền, kẻ ác, nhân vật đó ở tuồng nầy khác với tuồng kia. Tôi còn nhớ anh Ba Vân, được báo chí tặng cho mỹ hiệu là quái kiệt, khi anh đóng vai Phê trong tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu”, anh Ba Vân đã bỏ nhiều ngày vô nhà thương điên Biên Hòa và nhà thương điên Chợ Quán để quan sát nét mặt, cách nhìn, cách nói chuyện hay la hét của người điên. Trở về đoàn hát, anh một mình tập luyện và khi tập tuồng, anh diễn thử nhơn vật Phê điên theo kiểu anh đã nghiên cứu.
Anh Năm Châu, sau khi xem anh Ba Vân diễn thử, góp ý:
– Vai Phê là một nhân vật điên vì tình, yêu Bê, người em gái (con nuôi của cha, nghĩa là giữa Phê và Bê không có quan hệ huyết thống nào cả), nhưng Bê không biết rõ cô là em nuôi, tưởng Phê “điên” mới có thứ tình yêu loạn luân đó. Nên khi Phê (Ba Vân) tỏ tình với Bê, càng tỏ vẻ tha thiết, Bê càng thấy kỳ quái. Bê phản ứng ghê tởm sự loạn luân của anh, Bê né tránh xa ra thì Phê càng xáp vô, vẻ mặt nửa như ngượng ngùng, nửa như chai đá, Phê nói:
“Bê ơi! Em thật là sáng đẹp, thật là tươi đẹp, là chúa của tất cả hoa đẹp trong vườn…Hà..hà…Em nói là anh điên à? Phải, anh điên vì em, anh điên thật Bê à”.
Phê nói năng càng nhừa nhựa, càng làm cho khán giả cảm thấy cái điên của kẻ si tình. Khi đối diện với nhân vật Thi, tình địch thì Phê lồng lộn như con thú dữ bị thương, càng tô đậm cái nét điên của nhân vật nầy. Và khi dằng co với ông Bạch (cha ruột của Phê), lỡ tay làm ông té sấp nhằm ngay lưỡi dao, ông Bạch chết ngay sau đó, Phê thét lên một tiếng thét ghê rợn…Thi và Bê chạy ra thì Phê chỉ vào Thi, đổ trút tội giết ông Bạch vào đầu Thi. Tâm trạng của Phê lúc đó là hoảng loạn, hoảng loạn một cách ghê rợn, gợi lên hình ảnh của một người điên thật sự.
Ý kiến của anh Năm Châu thật rõ ràng: Phê điên cuồng dữ dội khi đối diện với Thi, người tình địch. Phê yêu tha thiết, tỏ tình một cách si mê mà cô em gái Bê cứ tưởng là anh điên. Lúc nầy Phê không dữ dội, không la hét, nhưng anh càng tỏ ra si mê tới điên dại, cộng với diễn xuất ghê tởm của cô em gái, khán giả cảm thấy Phê là hình tượng của một kẻ điên vì tình. Và một tâm trạng nữa, tâm trạng hoảng loạn của kẻ vô tình giết cha và cho là vì Thi mới xảy ra nông nỗi, cái hoảng loạn gần như điên cuồng tô đậm thêm hình tượng Phê điên vì tình.
Anh Ba Vân đã thành công khi bản thân anh đã tập luyện theo sự góp ý của anh Năm Châu, anh đã tạo ra một vai điên không giống những vai điên đã có trước kia trên sân khấu Hát Bội và cải lương.
Qua cách dàn dựng của anh Năm Châu và qua cách tập luyện, nghiên cứu vai tuồng của anh Ba Vân, tôi thấy trong nghệ thuật cải lương, khi sáng tác hay thủ diễn một nhân vật nào thì người nghệ sĩ cũng phải nghiên cứu về hình tượng của nhân vật, cá tính và những hoàn cảnh nào khiến cho phát triển thêm tâm lý của nhân vật. Từ trong sự nghiên cứu tâm lý nhân vật đó mà nẩy sanh ra cách diễn về hình thể, về động tác, nét mặt, cách phát âm, cách ca hát.
Một trường hợp khác được giới nghệ sĩ kể cho nhau nghe là cách học tuồng, học hát của nghệ sĩ tiền phong Tám Danh. Anh có một vai để đời, đó là vai Hà Công Yên trong tuồng Tứ Đổ Tường, vai của một công tử con nhà giàu, ham chơi, trác táng đến ghiền thuốc phiện. Về sau sạt nghiệp vì hút á phiện, anh phải làm phu xe kéo để kiếm tiền mua cơm trắng, cơm đen. Anh kéo xe và sự tình cờ đưa tới là anh phải kéo xe chở vợ anh. Anh xấu hổ, dấu mặt, nhưng người vợ vô tình chưa nhận ra người chồng nghiện ngập của mình.
Trong khi tập tuồng cho đến khi khai trương vở hát, anh Tám Danh lân la các nơi bán thuốc phiện (Régie d’ Opium) để quan sát các ông bạn ghiền. Anh lại mướn xe kéo, tự mình ăn mặc như người phu xe, ngày ngày chạy kéo xe thật sự cho hành khách, để biết cái cảm giác mệt nhọc và bị người ta sai khiến, bị khinh khi, cái cảm giác của một kẻ nghèo, nghiện ngập để tìm cách diễn đạt trên sân khấu. Lúc đầu vợ anh cho là anh tập tuồng, thử một vài ngày là đủ. Nhưng tuồng tập cả tháng chưa khai trương, anh Tám Danh có vẻ như người nghiện thuốc phiện thiệt, lại đi kéo xe kiếm tiền, được hào nào, cắt nào, anh cũng tỏ ra rất quí mến, cắc ca cắc củm lận lưng quần. Vợ anh nghi là anh hút thiệt, theo quan sát, rình anh và trước hình tượng một ông chồng quá bê tha, hèn mọn, chị cương quyết thôi chồng. Chị vô gánh hát, khóc rùm lên và quyết bỏ chồng. Báo hại anh Năm Châu, cô Phùng Há phải hết sức thuyết phục, giải thích.
Anh Tám Danh về rạp, nghe chuyện đó, anh cũng chẳng nói gì, cứ che miệng ngáp dài như là tới cử ghiền mà chưa được hút. Chị Tám Danh càng khóc dữ, đòi tự vận, tới chừng đó anh Tám Danh mới cười xòa. Anh nói: “Má bầy trẻ tin là tui ghiền thì tui thành công rồi đó”
Khi khai trương vở tuồng Tứ Đổ Tường, Tám Danh trong vai Hà Công Yên thành công quá sức, đến nỗi mấy chục năm sau, chưa có một diễn viên nào khác có thể diễn vai Hà Công Yên hay bằng nghệ sĩ Tám Danh.
Một gương học nghề nữa trong giới nghệ sĩ trong những thập niên 50, 60.
Nghệ sĩ Văn Ngà, nổi danh kép độc của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, anh tên thật là Hoàng Đình Ngà, sanh năm 1928 tại Sàigòn. Cha anh là Hoàng Đình Xuân, công nhân khuân vác kho 5 quận tư, mẹ là Bùi thị Hai, mua bán hàng rong. Cha anh là người gốc ở Bắc Ninh nên giọng nói của Văn Ngà nghe như người Bắc ở thôn quê. Ca bài Bắc, bản nhỏ còn nghe được. Vọng cổ, các bài Nam, bản Oán là tối ky đối với anh. Mỗi lần bắt anh ca những bản ca mùi mẫn kiểu Sàigòn, các bạn đang diễn chung với anh phải ngả ra mà cười. Vì vậy anh yêu cầu nếu soạn giả nào bỏ tuồng cho anh, thương anh thì tránh cho anh những bài ca đó. Anh cũng yêu cầu đừng có lời đối thoại dài trong các vai tuồng phát cho anh. Tôi đi đoàn Thanh Minh từ năm 1955, tới cuối năm 1956 thì Văn Ngà về cộng tác với Thanh Minh, Văn Ngà thủ một vai tướng Tàu trong tuồng Biên Thùy Nổi Sóng của tôi khi mới đến Thanh Minh. Do Văn Ngà giỏi võ nên các màn đánh võ trong tuồng của tôi, tôi nhờ Văn Ngà dạy cho các em đóng vai vệ sĩ để diễn các lớp đó. Vì vậy tôi thường đi chơi, nói chuyện tâm sự với Văn Ngà và tôi khám phá ra nhược điểm trong cách phát âm của Văn Ngà.

Văn Ngà hỏi tôi: “Anh Ba có cách nào giúp tôi sửa cách nói còn hơi giọng Bắc Ninh không? Nếu viết vai nào cho tôi diễn thì anh tránh dùm tôi vọng cổ, các bài Nam, bài Oán”.
Tôi sẵn sàng làm theo yêu cầu của anh vì nếu không thì anh hát cứng giọng, ngọng nghịu, nhưng tôi khuyên anh tập nói giọng Nam bằng cách học nói vè, nói thơ Vân Tiên, hò Đồng Tháp. Tôi ghi ra cho anh bài vè “Gái Lỡ thời” để cho anh đọc và dặn anh đọc thường thường cho quen miệng. Bài vè đó như sau:
Gốc tre khô người ta còn chuộng,
bậu lỡ thời như ruộng bỏ hoang,
Ruộng bỏ hoang người ta còn cấy,
bậu lỡ thời như giấy trôi sông,
Giấy trôi sông, người ta còn vớt,
bậu lỡ thời như ớt chín cây.
Ót chín cây người ta còn hái,
bậu lỡ thời như nhái lột da.
Nhái lột da người ta còn bắt,
bậu lỡ thời như giặc Hà Tiên,
Giặc Hà Tiên người ta còn đánh,
bậu lỡ thời như cánh chim bay,
Cánh chim bay người ta còn bắn,
bậu lỡ thời như rắn cụt đuôi,
Rắn cụt đuôi người ta còn sợ,
bậu lỡ thời như nợ kéo lôi,
Nợ kéo lôi người ta còn trả,
bậu lỡ thời như trã nấu ăn,
Trã nấu ăn người ta còn rửa,
bậu lỡ thời như lửa cháy lan,
Lửa cháy lan người ta còn tưới,
bậu lỡ thời như lưới giăng ngang,
Lưới giăng ngang người ta còn cuốn,
bậu lỡ thời ai muốn làm chi.
Anh Văn Ngà học thuộc lòng, đọc đi đọc lại nhiều lần trong ngày, khi cao hứng lại ngâm nga lớn tiếng.
Trong đoàn Thanh Minh có chị Bẻn, người Tiều lai gác cửa và phụ việc trong nhà bà bầu Nghĩa, cứ mỗi lần gặp Văn Ngà, chị nghe Văn Ngà nói Bậu lỡ thời như “Ấy” trôi sông. Chị Bẻn gần ba mươi tuổi, chưa chồng, đinh ninh là Văn Ngà nói móc nói nghéo cô ta lỡ thời nên giận, cự nự: “Ừ! tôi lỡ thời như “ấy” trôi sông, “Ấy” trôi sông “chó” còn muốn táp…”
Văn Ngà đáp lại: “Bẻn lỡ thời như cái khạp mấm nêm!”
Chúng tôi vỗ tay cười, chị Bẻn mắc cỡ, rượt anh đánh, loay hoay sao mà làm rách cái áo mới của Văn Ngà. Anh mắc đền. Chị hẹn tới nhà vá áo cho Văn Ngà..
Vậy là nhờ bài vè “lỡ thời”, Văn Ngà hết nói ngọng mà cũng hết sống “cu ki”, chị Bẻn cũng chấm dứt cái cảnh gái lỡ thời mà chánh thức trở thành bà Văn Ngà.
Hai vợ chồng Văn Ngà chung sống hơn ba mươi năm. Chị mất vào năm 1987.
Văn Ngà trước khi vô đoàn Thanh Minh là một kép ba, chuyên đánh võ. Anh siêng tập nói lối, tập ca, luyện giọng nên sửa được giọng nói cứng của người Bắc Ninh, từ một cậu “chài” học đánh võ trong đoàn Đồng Ấu Tân Việt Ban của ông bầu Trần Quang Cận, Văn Ngà là kép đánh Boa Nha (poignard)) nhảy cửa sổ trong đoàn Mộng Vân (1946). Năm 1957 ở đoàn Thanh Minh, Văn Ngà bắt đầu có nhiều tuồng có ca diễn nhờ vào cách tập nói, luyện giọng. Anh đã đi hát các đoàn Út Bạch Lan – Thành Được (1960 – 1962), đoàn Dạ Lý Hương (1965), đoàn Bạch Tuyết – Hùng Cường (1973), sau 75, đi các đoàn Thanh Nga, Huỳnh Long, Sàigòn 1 và nổi tiếng qua vai Tô Định trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh.
Các nghệ sĩ các thập niên 1960 trở về sau nầy, vô nghề hát bằng cách học ca ba Nam, sáu Bắc rồi chuyên luyện giọng ca vọng cổ, nhứt là cách vô câu đầu vô vọng cổ. Lần khác, tôi sẽ kể kinh nghiệm và các giai thoại vui về học ca giọng cổ của các nghệ sĩ Hữu Phước, Minh Cảnh, Châu Thanh, Phượng Hằng, Giang Châu…

Cua sắt T90 bị Bradley quánh hội đồng

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 21/01/2024

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

Đoạn phim ngắn lan truyền trên truyền thông hai ngày nay quang cảnh hai chiếc thiết vận xa hay xe chiến đấu (Bradley Fighting Vehicle) của Ukraine quánh hội đồng một con cua sắt T90 ở thị trấn Stepove.
T90 được coi là lợi hại nhứt của Liên Bang Nga vĩ đại. Nếu chiếc Bradley mà trúng một phát đại bác 125 mm của T90 thì chắc tan xác pháo quá.
Trong khi đó hỏa lực của Bradley chỉ là đại bác liên thanh 25 mm, không thể xuyên thủng lớp giáp dày của cua sắt T90. Bradley có trang bị hỏa tiễn diệt tăng TOW có thể bắn bay pháo tháp T90. Tuy nhiên trong clip này không thấy Bradley sử dụng TOW, có thể không kịp mở ống phóng và nhắm chăng, hay đã hết hỏa tiễn.
Theo dõi diễn tiến cuộc thư hùng kéo dài 10 phút thì thấy lính thiết giáp Ukraine rất thông minh, biết dùng ưu điểm của chiếc vận xa vốn là một xe chiến đấu chở quân có vận tốc nhanh, chạy lòng vòng qua lại để cua sắt xịn T90 không kịp nhắm bắn Bradley. Trong khi chạy lui chạy tới đó thì khẩu đại bác liên thanh 25 mm bắn dập cua T90 túi bụi, làm hư hết các máy nhắm và hệ thống điện tử nhú ra ngoài lớp giáp T90.
Lính thiết giáp Nga bên trong không chết, nhưng như bị mù lòa hết thấy đường. Pháo tháp T90 bị hư quay mòng mòng, rồi con cua T90 chạy lung tung húc vào một thân cây nằm ụ luôn. Sau đó Ukraine phóng máy bay drone không người lái dứt điểm em T90. Ba lính thiết giáp Nga mở cửa co giò chém vè. May thần hồn là chưa được lên chức liệt sĩ.
Tóm lại chiếc Bradley cổ lỗ sĩ của Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine sẽ hỏng diệt được con cua T90 nếu binh sĩ Ukraine dốt và hèn.
Lính thiết giáp Ukraine cho biết nơi nào xe Bradley xuất hiện thì lính bộ binh Nga rất sợ. Họ nói xe Bradley làm chủ màn đêm, vì hệ thống hồng ngoại tuyến rất tốt, có thể bắn các mục tiêu trong đêm tối chính xác. Bộ giáp hợp chất của xe Bradley đã nhiều lần cứu sống các binh sĩ Ukraine ngồi bên trong.
Ukraine đang bị hao hụt khí giới vì quân viện của Hoa Kỳ không còn dồi dào như trước nữa. Đảng Cộng Hòa lên cầm quyền thì sẽ có vấn đề viện trợ cho Ukraine. Từ 1/4 đến 1/3 đảng Cộng Hòa ở Quốc Hội Mỹ không sốt sắng hay chống viện trợ Ukraine. Nếu viện trợ Ukraine bị cắt giảm trầm trọng thì mấy chiếc Bradley hùng hổ trong đoạn phim này sẽ hết đạn, và chỉ dùng để diễn hành trên đường phố cho đẹp thôi.

BÔNG LAU 18.01.2024

Chiến trận của người quân tử

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 28/10/2024

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

Hình một tiểu đội của binh sĩ Anh ở chiến trường Boxtel Hòa Lan, vào ngày 25 tháng 10 năm 1944.
Tiểu đội này thuộc Sư Đoàn 51, do một viên Trung sĩ dẫn đầu cầm súng lục P38 chiến lợi phẩm tịch thu của Đức. Phía sau viên Trung sĩ tiểu đội trưởng là một binh sĩ đeo máy truyền tin có ăng ten chĩa lên trời.
Nếu có một lính bắn tỉa của Đức Quốc Xã trong khu vực thì viên Trung sĩ sẽ là người đầu tiên hy sinh.
Lính bắn tỉa trên thế giới được huấn luyện nhận diện sĩ quan địch như cầm hoặc đeo súng ngắn. Đeo cấp bậc màu mè dễ thấy trên áo. Được binh sĩ thuộc cấp chào kính. Có người mang máy truyền tin lon ton bên cạnh với ăng ten cao ngồng làm dấu lạy ông tui ở bụi này v.v…
Kể từ khi chiến tranh Việt Nam thì cả quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã học được những bài học xương máu với lính bắn tỉa Vi Xi. Binh sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa không được phép chào quân cách sĩ quan ngoài mặt trận vì sợ lính bắn tỉa Việt Cộng nhận diện. Các lon lá được ngụy trang thành màu đen. Người đeo máy truyền tin không đứng gần sĩ quan.
Trong tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa của nhà văn Phan Nhật Nam có miêu tả một trận đánh của lính Nhảy Dù với Vi Xi ở An Lộc. Có một ông Thiếu úy Nhảy Dù mới ra trường chưa có kinh nghiệm. Ông Thiếu úy rất can đảm và anh hùng. Khi binh sĩ Nhảy dù còn đang ẩn núp thì ông Thiếu úy đứng dậy đầu tiên rút súng Colt ra bắn chỉ thiên ba phát làm hiệu hô xung phong và người lính mang máy truyền tin đứng bên cạnh. Ngay tức khắc ông Thiếu uy can đảm kia bị lính bắn tỉa Vi Xi bắn trúng chết liền tại chỗ.
Nhìn tấm hình xưa thời Đệ Nhị Thế Chiến, thấy viên Trung sĩ dẫn đầu toán quân súng lục cầm tay rất oai hùng nhưng cũng rất ngây ngô. Xin thượng đế che chở viên Trung sĩ đó để không ăn kẹo đồng của lính bắn tỉa Đức, vốn là những tay súng huyền thoại.

BÔNG LAU 27.10.2024

Ký của Đinh Quang Anh Thái

vandoanviet.blogspot.com
Đinh Quang Anh Thái
(California, tháng 12, 2001)
Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

Lần đầu tiên tôi được biết đến tên tuổi Như Phong Lê Văn Tiến là năm 1976. Chính anh chị Từ Công Phụng-Từ Dung, nói cho tôi biết về ông. Dạo ấy, Sài Gòn vừa bị “đổi tên,” tôi sống ngoài lề đường, bán sách cũ trước cửa rạp Rex, bán quần áo cũ ngay ga xe lửa đường Lê Lai, bán thuốc tây trên đường Pasteur, bán rau muống ở chợ Hãng Phân bên Vĩnh Hội, và bán cả… súng cho những người đi vượt biên. Nghĩa là kiếm sống bằng đủ mọi cách.

Nghe tiếng ngoài đời
Một buổi sáng tháng Tư, 1976, anh chị Từ Công Phụng ra chỗ tôi bán hàng và kể cho nghe về vụ công an bắt người cậu của chị Từ Dung vào đêm hôm trước. Anh Phụng say sưa nói về ông Tiến: ông Tiến làm báo từ thuở xa xưa, mãi những năm 1940; ông Tiến làm cách mạng, tham gia các hoạt động đấu tranh; ông Tiến quan hệ thân thiết với các đảng cách mạng Việt Nam; ông Tiến làm báo Tự Do; ông Tiến nhà bình luận chuyên về Cộng Sản miền Bắc; ông Tiến người từ chối tham chính nhưng dính dự vào nhiều quyết định liên quan đến việc bổ nhiệm nhân sự của nội các chính phủ Nguyễn Cao Kỳ; ông Tiến tác giả cuốn Khói Sóng để lại dấu ấn nơi nhiều người; ông Tiến nhà sưu tầm hoa lan… Tóm lại, ông Tiến là tất cả trước mắt anh chị Phụng. Càng nghe, tôi càng xuýt xoa với anh Phụng là tại sao tôi không có cơ duyên một lần được gặp con người lẫy lừng như vậy. Hỏi thế, anh Phụng mắng cho cũng phải. Anh bảo thời ông Tiến thành danh, đã bay bổng như một con rồng thiêng thì tôi đã chào đời đâu để mà nói chuyện gặp hay không gặp ông. Rồi khi ông lúc ẩn lúc hiện trong sinh hoạt của xã hội miền Nam thì tôi vẫn còn tắm mưa, đánh đáo…, thì làm sao gặp người cậu kiệt xuất của anh được.
Cứ thế, những ngày sau đó, mỗi khi anh chị Phụng ra chơi với tôi tại các ngã đường tôi kiếm sống, tôi cứ bám riết lấy anh chị để mong được nghe thêm về ông Như Phong. Một lần anh Phụng buột miệng: Em cứ lang thang thế này mà lại còn thập thò chuyện chống đối, thì thế nào cũng có ngày gặp ông Tiến… trong tù.

Gặp mặt trong tù
Tù thì tôi không mong, nhưng được gặp ông Tiến thì lúc nào tôi cũng ước. Mà trong hoàn cảnh ông Tiến đang bị giam, điều tôi mong chỉ thành, một khi tôi bị bắt vào tù thì mới có thể gặp được ông.
Tháng Ba năm 1978, tôi bị bắt vì tham gia Mặt Trận Dân Tộc Tiến Bộ với bác sĩ Nguyễn Đan Quế và bị giam tại trại T 20 Phan Đăng Lưu. Nổi trôi từ biệt giam qua phòng lớn, tháng 11 năm 1978, tôi bị chuyển vào phòng 8 khu C 2. Qua câu chuyện của các bạn tù cùng phòng, tôi được biết phòng 10 bên cạnh hiện đang giam một số nhân vật tên tuổi của miền Nam như bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, nguyên Quốc Vụ Khanh kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục; ông Lê Khải Trạch, nguyên Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin thời Đệ Nhất Cộng Hòa; ông Đinh Xuân Cầu, tác giả cuốn Bên Kia Bến Hải, và nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến.
Ôi! Tôi vui sướng biết bao khi biết rằng cách tôi một tấm vách là con người tôi luôn ấp ủ hy vọng có ngày được gặp mặt. Thế rồi một buổi sáng, tù nhân phòng 10 được phép ra ngoài hiên phơi nắng. Bạn tù cùng phòng với tôi trỏ cho biết: “Ông già Lê Văn Tiến đứng kia kìa.”
Dong dỏng cao, gầy, nhưng da dẻ hồng hào, hai tai dài phúc hậu, mũi hơi quặp xuống một chút, mắt đen pha chút sắc nâu, ông Như Phong đang quơ tay làm vài động tác thể dục. Bất chấp lệnh cấm của trại giam, tôi đánh bạo gọi thật to: “Cậu Tiến.” Tiếng “cậu” bật ra khỏi miệng tôi thật tự nhiên, tựa như tôi đã là người thân của ông vậy. Ông Như Phong nhìn về hướng phòng 8, hỏi lại: “Ai gọi đấy?” Tôi trả lời: “Cháu là anh em kết nghĩa với anh chị Từ Dung, Từ Công Phụng đây.” Và cứ thế, vừa nháo nhác canh chừng công an gác trại, vừa nhát gừng câu được câu mất, hai cậu cháu trao đổi tin tức cho nhau về đời sống ngoài đời khi tôi chưa bị bắt, và đời sống trong tù những tháng qua của ông. Trước khi bị lùa vào phòng vì hết giờ tắm nắng, cậu Tiến bảo sẽ tìm cách gởi cho tôi ít thuốc lào và đường, vì lúc đó tôi chưa được thăm nuôi.
Cứ thế cho tới ngày tôi lại bị chuyển qua các phòng khác, các khu khác, hai cậu cháu vẫn tìm cách liên lạc với nhau. Trong một lần thăm nuôi, cậu Tiến gặp mặt chị Từ Dung. Chắc chị đã nói với cậu về tôi nên cậu tỏ ý tin tôi hơn trước.
Một đêm mưa tháng 12 năm 1978, khoảng 3 giờ sáng, công an vào phòng 10, điệu hai người là ông Lê Khải Trạch và Đinh Xuân Cầu ra khỏi phòng. Kể từ đó, không còn ai biết tin tức về hai ông nữa. Người ta kháo nhau rằng hai ông bị đưa đi thủ tiêu. Sáng ngày hôm sau, tôi bị chuyển qua phòng 5 khu C 1. Sau khi vào phòng này, tôi được biết trước đó ít phút, giáo sư Đoàn Viết Hoạt bị đưa từ phòng ấy qua biệt giam. Từ đó, tôi mất liên lạc với cậu Tiến cho tới mãi tháng Tám năm 1981.

Cùng một phòng giam
Trại giam Chí Hòa có tám cạnh. Người ta bảo Nhật xây theo hình bát giác, ngay giữa là một bồn nước được thiết kế theo hình một lưỡi gươm đâm ngược xuống đất để “yểm không cho tù trốn trại.” Tám cạnh của Chí Hòa chia tù thành từng khu: AH, FG, ED và BC. Tôi bị đưa vào phòng 10 BC, cùng đợt với các ông Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hữu Bính, Tống Đình Bắc… Một thời gian ngắn sau đó, đợt chuyển tù từ trại T 20 Phan Đăng Lưu sang T 30 Chí Hòa mang theo các ông Như Phong Lê Văn Tiến, Thái Lăng Nghiêm, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế…
Ba ngày Tết năm 1981 vừa dứt, sau khi bị kỷ luật, chuyển từ phòng lớn lên biệt giam ở lầu 4, rồi từ biệt giam về lại phòng lớn, tôi được đưa vào phòng 14 khu BC. Tù nhân một số phòng khác cũng được chuyển vào, trong đó có các ông Lê Văn Tiến, Thái Lăng Nghiêm, Đoàn Viết Hoạt, Đào Văn. Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì vẫn nằm lại phòng 9 khu BC. Khó tả nổi tâm trạng của tôi lúc ấy. Buồn lo vì biết chuyển phòng giam chung với những nhân vật lẫy lừng như vậy là ngày về mịt mờ lắm. Còn vui mừng là vì được ở chung với những người xưa nay tôi chỉ nghe danh chứ chưa bao giờ dám mong có cơ may gặp mặt, huống hồ gì lại còn được ở chung, nhất là cậu Tiến.
Những tháng ở cùng cậu Tiến thật khó quên. Biết bao kỷ niệm vui buồn, đói khát, hoang mang, nhưng quan trọng hơn cả, tôi học được ở cậu không biết bao nhiêu điều, từ kiến thức uyên bác cho đến nhân cách sáng ngời của cậu. Tôi quấn lấy cậu như thể cậu sẽ xa tôi ngày mai vậy. Cả ngày, trừ giấc ngủ trưa và giờ ngủ tối, tôi quanh quẩn bên cậu, nghe kể những chuyện cậu dính dự vào giai đoạn lịch sử từ thời 1945 đến khi bị bắt. Chao ôi, sao cậu hiểu biết đến thế, sao cậu lẫy lừng đến thế! Nào là làm báo, nào là dự phần quan trọng vào các quyết định của chính phủ miền Nam, nào là những mối quan hệ với các đảng phái quốc gia, tôn giáo, nào là các mưu tính tìm đường quật khởi sau khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn. Trong các câu chuyện của cậu, không hề nghe cậu đả động gì tới bất cứ một bóng dáng phụ nữ nào trong đời cậu. Có lần tôi nêu thắc mắc, cậu bảo người ta cũng đồn đại rằng cậu có một mối tình lớn với một người đàn bà góa chồng, vợ của một nhân vật cách mạng Việt Nam, nhưng sự thật cậu rất quý trọng người đàn bà ấy và xem bà như người chị. Cậu cho biết tình cảm của cậu trong sáng lắm, không ai có quyền dị nghị.
Đời sống của cậu trong tù là mẫu mực của một người khí phách, tự tại. Không ai có thể bắt gặp nơi cậu một giây phút yếu lòng nào trước kẻ thù. Lúc nào bạn tù cũng thấy ở cậu tinh thần an nhiên, chấp nhận mọi nghịch cảnh và lạc quan, tin vào tương lai. Ngày thăm nuôi, giỏ quà của cậu do người nhà tiếp tế khiêm tốn lắm, nên cậu luôn chia thức ăn rải đều cho một tháng, nhất là món đậu phụng rang. Cậu ăn uống chừng mực, mỗi bữa cơm của trại cậu ăn kèm với trên một chục củ đậu phụng rang, không hơn, không kém. Trông cậu nhai rất kỹ từng và cơm, người ta thấy rõ cậu an bình và tận hưởng từng khoảnh khắc của đời sống, dù trong hoàn cảnh tù đầy, lúc nào cũng bị rình rập bởi nhiều thứ đê hèn, nghiệt ngã. Cậu còn khéo tay vô cùng. Chính cậu dạy anh em trong phòng cách chế tạo một ống vố hút thuốc làm từ vỏ kem đánh răng và bông băng nhúng thuốc đỏ. Cậu thường dành giờ trưa những khi không ngủ để làm vố hút thuốc. Cậu gò lưng xuống sàn phòng giam, say sưa mài ống vố cho đến khi màu đỏ nổi vân lên xen với màu đen của bao ni lông đã đốt thành than, làm cho ống vố đẹp không khác gì loại đắt tiền bán ngoài đời. Ống vố này còn giúp tù nhân dấu thư bên trong, chuyền qua từng phòng hoặc chuyền ra ngoài đời cho gia đình. Có lần tôi nói: Công an mà bắt được lối đưa tin này thì chúng lột da cậu. Cậu cười xòa, thân mật mày tao với tôi: Da tao khô đét như các phù thủy Ấn Độ. Da mày còn trẻ thì chúng lột mới thích chứ. Nói đến Ấn độ mới nhớ, gương mặt cậu Tiến trông khá giống nhà hiền triết Ấn Độ, Jiddu Krishnamurti.
Miên man chuyện này sang chuyện nọ, có lần cậu nhận xét rằng tôi chỉ thích hợp với thời loạn, và nếu có cơ hội trở lại, cậu sẽ giao cho tôi việc vận động quần chúng. Khoảng đầu năm 1982, tin đồn sắp có chuyển trại lan trong các phòng giam. Sợ đến ngày phải chia tay, tôi hỏi cậu, “nếu cháu được thả và tìm cách vượt biên, cháu nên làm gì để góp phần cho việc chung, và xin cậu đặt cho cháu một bí danh.”

Sao cậu lại đặt bí danh Cao Hòa?
Câu này vần điệu nghe cứ như thơ, nhưng thực ra chỉ là câu tôi hỏi khi cậu Tiến đặt bí danh cho tôi. Cậu giải thích: Cao là Cao Đài, Hòa là Hòa Hảo. Vả lại “cao” còn chỉ tầm vóc của tôi, còn “hòa” là do cậu muốn tâm tôi dịu đi, đừng lúc nào cũng xấn xổ như “con gà chọi.” Cậu nói thêm: hai lực lượng quan trọng cần liên lạc chặt chẽ là Cao Đài và Hòa Hảo, và việc cần làm khi ra được nước ngoài là vận động tiền để lập một đài phát thanh, lấy tên Cao Hòa, phát về các tỉnh miền Nam. Tôi hỏi cậu: Thế còn miền Bắc thì sao? Cậu bảo địa bàn đó phải đợi cậu thoát ra ngoài thì mới tính được vì đó là đất sở trường của cậu. Về nhân sự, cậu còn dặn: qua Mỹ nhớ tìm bằng được ba người là cựu Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, cựu Đại Tá Phạm Văn Liễu và cựu Đề Đốc Hoàng Cơ Minh. Cậu nói ba người đó tâm huyết lắm, trong sáng lắm, họ sẽ không quên chuyện non nước đâu. Sau này cậu Tiến qua Mỹ, không bao giờ thấy cậu có ý định đi tìm gặp hai ông Nguyễn Chánh Thi và Phạm Văn Liễu (ông Hoàng Cơ Minh đã mất trước khi cậu tới Mỹ). Cả việc lập đài phát thanh Cao Hòa cũng không nghe cậu nhắc đến nữa. Tôi không hỏi, nhưng tin chắc cậu phải có lý do.

Chia tay bên hàng song sắt
Tôi không nhớ chắc, nhưng khoảng tháng Ba năm 1982, các phòng giam tù chính trị tại Chí Hòa ồn lên vì đợt “bắt gà” vĩ đại, phòng nào cũng có “gà” bị bắt. “Bắt gà” là từ ngữ chúng tôi dùng để mô tả những đợt tập trung tù đi lao động hoặc chuyển qua trại khác. Chúng tôi không biết từ này do ai đặt ra và có từ bao giờ, nhưng không có từ nào chính xác hơn để tả cảnh xớn xác, lo âu, hốt hoảng của tù nhân khi nghe đọc tên để rồi khăn gói ra khỏi phòng, không biết rồi tương lai sẽ về những đâu. Đợt “bắt gà” lần đó hốt mất tất cả những nhân vật bị chế độ xem là nguy hiểm. Từ một ông giám đốc cỡ trung cho đến người cầm đầu một bộ trong chính phủ; từ một sĩ quan tình báo cấp úy cho đến người phụ trách tình báo cấp quân khu; từ một đảng viên cấp thấp cho đến lãnh tụ một đảng …, nghĩa là tất tật, hầu như không sót một người nào.
Những người bị gọi tập trung trước cửa từng phòng, ngồi thành hàng một, rồi bị chuyển qua khu AH. Nhìn cậu Tiến khuất dần ở cuối hành lang, lòng tôi đau xót vô cùng, không biết đường trường sông núi liệu có ngày cậu cháu gặp lại nhau hay không.

Gặp lại trên đất Mỹ
Ra khỏi tù cuối tháng Hai 1984, gần ba tháng sau tôi vượt biên, và sau đó định cư tại Mỹ. Năm 1994, lúc đang kiếm sống bằng nghề lái taxi bên Hawaii thì cậu Tiến tới California theo diện đoàn tụ gia đình do người em bảo lãnh. Tôi hộc tốc từ Hawaii về kiếm cậu. Mừng mừng tủi tủi. Trông cậu vẫn vậy, vẫn tinh anh, vẫn an nhiên, duy mái tóc bạc đi nhiều. Cậu vẫn lạc quan như độ nào, thậm chí đôi khi lạc quan thái quá. Với tôi, đây là đức tính biểu lộ tinh thần trẻ trung của cậu. Mới chân ướt chân ráo tới Mỹ, cậu đã say sưa viết một dự án làm báo mang tầm vóc toàn cầu. Cậu bảo: “Phải chuẩn bị ngay từ bây giờ để đến thời hậu Cộng Sản không bị ngỡ ngàng.” Cậu còn nói, mai sau cậu sẽ trở thành một tài phiệt trong ngành truyền thông tại Việt Nam. Tài phiệt hiểu theo nghĩa nắm trong tay một hệ thống báo chí, truyền thanh, truyền hình rộng khắp lãnh thổ.
Những người bạn trạc lứa tuổi tôi do tôi đưa đến thăm, khi nghe cậu say sưa như thế chỉ cung kính chứ không tán thành, vì ước mơ của cậu to lớn quá, không dễ gì thực hiện nổi.
Có lần khi chỉ có hai cậu cháu, tôi nói với cậu Tiến về suy nghĩ của tôi. Cậu tặc lưỡi rồi nói: Thì “ba tốc” tí chơi ấy mà. Ba Tốc là biệt danh cậu tự đặt cho mình. Cậu giải thích: “Ba là lối gọi theo thứ tự người miền Nam, còn Tốc là cà tửng, cà giỡn, là xem nhẹ mọi thứ trên đời này, là đùa tí chơi với đời.”
Hôm gặp lại cậu, hai cậu cháu đi ăn cơm trưa, có cả ông V., một người thuộc thế hệ đàn em của cậu từ thời còn ở Việt Nam trước 1975. Tôi cũng biết ông V. vì ông rất hăng hái trong các sinh hoạt cộng đồng. Trên đường chở cậu về nhà người em của cậu, ông V. buột miệng hỏi: “Anh Tiến biết nhiều về các đảng phái quốc gia, theo anh thì ông Lý Đông A còn sống không?” Xe đang chạy, cậu bảo tôi dừng lại bên lề, rồi xoay ra băng sau, với cách nói tôi hay đùa là “vừa lạnh lùng vừa quyến rũ,” cậu nói với ông V.: “Ông Lý Đông A còn sống, và hiện sống ngay tại quận Cam trên đất Mỹ.” Nhìn mắt ông V., tôi biết ông phân vân lắm. Khi tôi chở ông V. đến chỗ đậu xe, ông ngập ngừng một lúc rồi hỏi: “Thái cận kề với anh Tiến lâu năm, vậy Thái nghĩ điều anh Tiến nói có đúng không?” Tôi đột nhiên nổi tính nghịch ngợm, bèn “ba tốc” giống cậu Tiến, trả lời: “Cậu Tiến nghiêm trang như thế thì chắc là đúng rồi.” Xin quý vị Duy Dân thứ lỗi cho, vì ai cũng biết ông Lý thất tung từ năm 1947. “Thất tung” là cách nói của các chiến sĩ Duy Dân, chứ thực ra phải nói rằng ông Lý không còn nữa, vì không ai thấy ông nữa từ đó đến nay.

Đinh Quang Anh Thái và Lê Văn Tiến

Chung một mái nhà
Năm 1996, cậu Tiến và tôi mướn chung một căn mobile home trên đường Bolsa. Hai năm sống với cậu thật êm đềm. Căn nhà trở thành nơi lui tới của bạn bè cậu, bạn bè tôi. Những người bạn tôi thuộc thế hệ con cháu cậu Tiến, ai cũng yêu kính cậu. Họ tìm thấy nơi cậu tâm hồn trẻ trung, sống động, bao dung, hài hòa, một con người uyên bác sẵn sàng trao truyền không hề dấu diếm kiến thức và kinh nghiệm. Quý nhất là tinh thần dân chủ nơi cậu; không bảo thủ, không hẹp hòi, không hợm mình, lúc nào cũng mở lòng với tuổi trẻ. Nhiều người bạn tôi quen cậu sau này gắn bó với cậu có phần hơn cả tôi. Với tôi, cậu vẫn thường mắng yêu rằng tôi hung hăng, xấn xổ quá, lúc nào cũng chực ăn tươi nuốt sống người khác. Cậu bảo tôi là “ngựa non háu đá”, cần phải sửa đổi nhiều thì mới khá được. Tôi trân quý những lời cậu dạy, dù đôi lúc cũng gân cổ cãi lại.
Cuối năm 1997, tôi qua Washington, D.C. làm việc cho đài Á Châu Tự Do. Tôi mời cậu cùng qua ở với tôi. Thế là tôi lại có thêm một thời gian gần gũi cậu. Không có dịp sống với gia đình ruột thịt từ 20 năm, tôi xem cậu như bố ruột. Tôi biết nhiều lần làm cậu buồn vì tính ngang ngạnh, cục súc của tôi. Nhưng tôi tin cậu biết là tôi yêu kính cậu đến mực nào.
Sống với cậu như thế cho đến khi tôi lấy vợ vào tháng Tám 1998. Lấy vợ rồi tôi không còn dịp ở chung với cậu nữa. Hai vợ chồng rất thiết tha mời nhưng cậu bảo để chúng tôi tự do. Những năm tháng sau đó tôi ít gặp cậu. Vả lại, tôi cũng có một số lỗi lầm khiến cậu buồn.

Vĩnh biệt cậu Tiến
Cậu Tiến mất tại Virginia lúc 9 giờ 40 phút chiều thứ Ba, ngày 18 tháng 12, 2001. Tin buồn đến khi tôi vừa rời sở làm. Trên đường về nhà, tôi nức nở như một đứa con nít. Hai lần tôi khóc nhiều như vậy. Một lần là lúc mẹ tôi mất cách đây trên 10 năm, và lần này. Điện thoại cho Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng đang sống tại Virginia. Đầu giây bên kia, ông Hùng cũng buồn lắm. Ông cho biết suốt mấy ngày nay ông không làm được gì cả, vì cứ nghĩ đến cậu Tiến đang hấp hối trong bệnh viện.
Những ngày cuối của cậu Tiến, tôi không về được để gặp mặt cậu, chỉ biết tin về cậu qua hai anh bạn là Đặng Đình Khiết và Lâm Ngọc Chiêu. Cả hai anh mới quen cậu sau này, nhưng đã túc trực bên giường bệnh trong suốt thời gian cậu đau ốm ở nhà thương. Anh Khiết sống tại Virginia, còn anh Chiêu thì bỏ cả vợ con và việc làm ở California để qua săn sóc cậu Tiến. Điều này cho thấy hai anh yêu thương cậu mức nào. Mà không chỉ riêng hai anh Khiết và Chiêu, biết bao nhiêu anh em khác cũng yêu thương cậu như vậy. Cháu Tâm, con gái một người bạn tôi hiện đang sống bên Úc, khi nghe tin cậu Tiến mất, khóc nhiều lắm và ngẩn ngơ cả tuần. Cháu chỉ được gặp cậu Tiến một lần, và rất ngắn ngủi, thế mà cháu thương yêu cậu đến thế!
Bây giờ thì cậu không còn nữa, nhưng đó chỉ là phần xác thôi, chứ tinh anh của cậu, TIẾN như GIÓ, TRỤ như NÚI, vẫn còn và sẽ còn mãi trong lòng nhiều người, nhiều thế hệ.

Và trong lòng cháu, cậu Tiến ạ./.

Ký của Đinh Quang Anh Thái

vandoanviet.blogspot.com
Đinh Quang Anh Thái
Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018
Post by Sơn râu 16 Nov 2024

(Kỳ 1)
Văn Việt xin cảm ơn nhà báo Đinh Quang Anh Thái đã cho Văn Việt đăng một số chân dung nhân vật qua ký ức của ông, đã in trong sách “Ký, Đinh Quang Anh Thái” (Người Việt Books 2018) và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. Thành công của những chân dung này chính là ở “cái thần” mà ngòi bút tác giả đã truyền tải được, như nhận xét của nhà văn Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng:
“Trong những cuộc rượu vừa kể lại với bạn, dẫu chỉ là kẻ chầu rìa, người đọc phải nắm bắt cái thần của nhân vật trong Ký. Cái thần đó là do người viết truyền tải bằng những con chữ. Công việc đó chẳng khác gì việc người họa sĩ vẽ chân dung, người tạc tượng chạm khắc tạo hình nhân vật. Chất liệu nghệ thuật có khác nhưng tinh thần vẫn chỉ một, là khám phá cái ẩn ở chiều sâu một con người. Vẽ truyền thần, không hơn một bức ảnh. Tạc một bức tượng nhìn như thật, nhưng đó chỉ là cái thật nhìn bằng mắt, và nó có thể vô hồn, trơ trơ tĩnh vật. Bắt được cái thần của nhân vật là tìm ra phần hồn, và tìm được hay không đến từ sự tương cảm, mối thân tình của người viết với nhân vật. Viết về nhân vật, người viết ký cũng đồng thời bày tỏ chính mình, nhưng với liều lượng vi tế, tránh lộ liễu kiểu tự đánh bóng chiếm chỗ nhân vật. Người đọc Ký tiếp cận cả hai, nhân vật và người viết.
Đinh Quang Anh Thái viết về 10 nhân vật. Anh chấm phá, nhưng rất thành công vẽ lại những con người trong tù đày tao loạn nhưng vẫn vượt lên để làm người một cách đích thực”.

VĂN VIỆT

Nguyễn Tất Nhiên, chiếc quần mới và bữa thịt chó cuối năm cũ
Đinh Quang Anh Thái

(California, cuối năm 2017)
Nguyễn Tất Nhiên

Sài Gòn năm 1976, khu vực chung quanh bùng binh chợ Bến Thành là một trong những nơi tập trung đông đảo dân buôn bán chợ trời.
Người ta bán không thiếu thứ gì: thức ăn, thuốc Tây, quần áo cũ, cá thịt ướp sẵn từng nồi, sách báo “đồi trụy”, “nhạc vàng”… và cả súng.
Nguyễn Tất Nhiên thường leo xe lửa từ Biên Hòa và xuống ga Sài Gòn vào giờ trưa. Chúng tôi gặp nhau ở đó, bữa đói bữa no ở đó và nhận ra nhau rõ hơn cũng ở đó.

Chúng tôi quen nhau năm 1973, trong đêm sinh hoạt do Phong Trào Du Ca tổ chức tại hội trường quân đội trên đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn, để tưởng niệm Giang Châu, huynh trưởng của Phong Trào vừa qua đời vì bạo bệnh.
Buổi sinh hoạt sắp bắt đầu, tôi đang đứng xớ rớ thì Chủ Tịch Phong Trào, nhà báo Đỗ Ngọc Yến, giới thiệu tôi với một chàng cao lêu nghêu, “mặt vác lên trời”: Nguyễn Tất Nhiên.
“Nghe đại danh, hôm nay mới hân hạnh gặp mặt”, tôi nói thế. Nhiên nhếch mép, nụ cười “kẻ cả” lắm. Thấy cử chỉ đó của Nhiên, anh Yến chỉ nhỏ nhẹ, đêm nay Thái sẽ giới thiệu Nhiên lên đọc thơ nhé.
Hai đứa tôi quen nhau như thế đó.

Nhiên kiêu lắm. Nhiều khi đến ngông cuồng.
Nhiều đêm, Nhiên ngủ lại nhà tôi, chàng “ngôn” rằng, 20 tuổi sẽ đoạt giải Nobel Văn Chương.
Hiểu được.
Vì mới 16 tuổi, Nhiên đã lừng danh với những bài thơ do “phù thủy âm nhạc” Phạm Duy phổ thành ca khúc. Điều đáng tiếc là Nhiên chưa hề đọc một tác phẩm nào đoạt giải Nobel. Tôi mua tặng bạn hai cuốn: Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse và Lời Dâng của Rabindranath Tagore.
Nhiên thông minh lắm. Chàng thấy ngay và buông một câu chen tiếng “Đan Mạch”: “Đ.M, họ viết hay thiệt”. Từ đó, không thấy Nhiên nhắc lại mộng Nobel Văn Chương nữa.

Nhiên hiền, ít nói, khi cười, mặt hếch cao, nhe hàm răng lởm chởm.
Không biết nói Nhiên mang “lời nguyền truyền kiếp” là mê say con gái Bắc có đúng không? Vì trong thơ và trong đời thường, con gái Bắc làm khổ Nhiên lắm:
“Em nhớ giữ tánh tình con gái bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt.”
Trong đám bạn chung thời sau 1975, H. tóc dài, giọng Bắc nhẹ “như thơ”. H. đã có bạn trai, Nhiên biết, nhưng vẫn công khai nói, “tớ chết đi được mỗi khi nghe H. buột miệng hai tiếng ‘Trời ơi’”. Và Nhiên cứ lặng lẽ với chính cái bóng của cuộc tình “con gái Bắc” này.
Lần đầu Nhiên gặp H., nụ cười “chết khiếp” của Nhiên đã đẩy H. ra xa. Hôm đó, cả bọn rủ nhau đi ăn cơm thịt kho hột vịt. Đang ăn, Nhiên ngẩng mặt rú lên cười, hai hàm răng bệt lòng đỏ trứng. “Trời ạ”, có Thánh mới chịu nổi. Nhưng đó là Nhiên, cho tới tận ngày bỏ lại mọi muộn phiền sau lưng ra đi vĩnh viễn, vẫn nụ cười đó, vẫn hàm răng đó.
Thân nhau, tôi có cảm tưởng Nhiên không sống ở cõi này. Nhiều lần, đang nói chuyện, Nhiên chợt trôi vào im lặng. Và nhiều lần, Nhiên nói, chắc có ngày tui tự tử quá ông ơi! Nghe lần đầu, còn lo lắng cho Nhiên, nhưng nghe mãi thì biết, bạn mình nói thế để xả một nỗi đau, mối sầu nào trong lòng mà thôi.
Nhiên nghèo, có sao sống vậy, quần ống thấp ống cao, đi chơi với nhau, bạn rủ gì ăn nấy, không đủ tiền thì nhịn.
Một buổi chiều đi ngang một quán cóc ở đường Lê Thánh Tôn, thấy Nhiên ngồi một mình, trước mặt là ly cà phê đã cạn đến giọt chót. Thấy tôi, Nhiên bảo, có tiền trả giùm ly cà phê; ngồi từ sáng đến giờ không đủ tiền trả, chủ quán nhắc khéo nhiều lần mà chịu, cứ phải ngồi lỳ thôi.

Thương Nhiên ở cái tính đó.

Tết 1976, cái đói hành hạ. Đói đến độ có lần đi ngang hàng phở, phải quay mặt đi, vậy mà nước bọt cứ tứa ra, đau quặn cả ruột. Đói, cả cái chuông cái mõ trên bàn thờ Phật trong nhà, tôi đem ra bán ở chợ trời để đổi lấy cái ăn.
Nhiên biết gia đình tôi đói; và Nhiên cũng đói.
Một hôm, đang đứng bán thuốc Tây ở sân ga Sài Gòn, thấy Nhiên dắt cái xe đạp cũ kỹ, tài sản duy nhất của chàng, lững thững đi tới. Yên ghế ngồi phía sau là một bọc ni lông. Nhiên bảo, ông già vừa mua cho cái quần, tui bán đi, bọn mình ăn bữa … thịt chó.
Nhìn thằng bạn mặc chiếc quần cũ mèm ống bên trái “chửi bố” ống bên phải, thương bạn, xúc động vì tấm lòng của bạn, tôi không biết nên cười hay nên khóc.
Bữa thịt chó hôm đó, ăn xong vẫn còn thòm thèm. Cái quần mới của Nhiên quy thành tiền, nếu gọi thêm một xị đế và món rựa mận khoái khẩu thì không đủ trả.
Sau bữa thịt chó cuối năm đó, tôi bị bắt, không biết Nhiên ra sao.

Ra khỏi tù năm 84, nghe bạn bè nói Nhiên đi Pháp rồi.
Nhiên đi là phải. Chế độ đang cai trị đất nước này coi dân như kẻ thù, ai đi được cũng phải đi thôi. Nhớ có đêm lang thang với Nhiên trên đường Duy Tân, phố vắng dần, chỉ có từng toán công an võ trang đi tuần tra, Nhiên đọc cho nghe hai câu thơ:
“Chúa Phật còn lui chân trước gông cùm chế độ
Huống hồ chút thanh danh Nguyễn Tất Nhiên thống khổ.”
Đây không phải lần đầu Nhiên làm thơ với khẩu khí như thế. Trong bài “Hai Năm Tình Lận Đận”, Nhiên viết:

“Em bây giờ có lẽ
toan tính chuyện lọc lừa
anh bây giờ có lẽ
xin làm người tình thua
chuông nhà thờ đổ vội
tượng Chúa gầy hơn xưa
Chúa bây giờ có lẽ
xuống trần gian trong mưa
(dù sao thì Chúa cũng
một thời làm trai tơ
dù sao thì Chúa cũng
là đàn ông… dại khờ)”

Nhiên bảo tôi, đúng ra Nhiên muốn viết “Chúa có gầy hơn ta chăng mà đòi khoe xương sườn trên Thánh Giá” nhưng lại thôi, vì ngại làm phật lòng người theo đạo.

Gặp lại nhau tại California năm 1985. Nhiên từ Pháp đã qua Mỹ vài năm trước đó, còn tôi vừa từ trại tỵ nạn chân ướt chân ráo đến sau.
Thăm Nhiên tại căn nhà trọ ở Quận Cam, bạn mình gầy hơn, nói chuyện có lúc như đang trôi vào cơn mê sảng. Nhiên nói đi nói lại nhiều lần, ông đuổi bà bán hàng rong giùm tôi, mới sáng bảnh mắt mà bả rao hàng ồn quá.
Tôi hoảng! Nhiên “hỏng” rồi.
Nhưng rồi Nhiên trở lại Nhiên của khổ đau dai dẳng. Nhiên đọc tôi nghe đoạn thơ:
đời chia muôn nhánh khổ
anh tận gốc gian nan
cửa chùa tuy rộng mở
tà đạo khó nương thân
anh đành xưng quỉ sứ
lãnh đủ ngọn dao trần!
qua giáo đường kiếm Chúa
xin được làm chiên ngoan
Chúa cười run thánh giá
bảo: đầu ngươi có sừng!

Nhiên hiền, nhưng lúc sửng cồ, cũng ác miệng lắm.
Một hôm trong buổi họp mặt tại nhà Nhà văn Nhật Tiến ở đường King, thành phố Santa Ana, Nhiên kể tôi nghe vụ lời qua tiếng lại giữa Nhiên và Nhà văn Mai Thảo liên quan đến thơ văn. Nhiên hỏi anh Mai Thảo, “nếu anh viết về thảm kịch của các cô gái vượt biên bị hải tặc hiếp, anh có đặt tựa bài là ‘Mười Đêm Ngà Ngọc Không?’
Nhiên không nói, nhưng tôi đoán, anh Mai Thảo chắc không giận Nhiên. Vì anh chủ trương chữ nghĩa không thể dùng để cãi cọ chửi mắng nhau.
Một lần khác, khi Nhiên nói sẽ viết nhạc, Nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang nói đùa, coi chừng cậu đi lộn giầy đó nhé. Nhiên sững cồ với anh Quang. Nhiên nói, size giầy của anh Quang nhỏ lắm, không đủ cho Nhiên xỏ chân vào.

Một chiều chớm Thu năm 1992, hai đứa ngồi bên lề đường trước trụ sở báo Người Việt trên đường Moran. Tôi rủ Nhiên vào tòa soạn kiếm chút gì ăn, Nhiên bảo “thằng sắp chết không ăn.” Biết Nhiên hay nói như thế từ thủa còn ở quê nhà, tôi không ngạc nhiên, chỉ bảo, “ừ, không ăn thì hút điếu thuốc.” Nhiên bảo, “thằng sắp chết không hút thuốc.”
Một tuần sau, Nhiên tự chọn cho mình cái chết. Năm ấy, Nhiên tròn 40 tuổi.
Anh Mai Văn Hiền báo cho tôi biết tin. Lúc đó, tôi đang chạy chiếc máy in Imperial của nhà in ABC vừa mua chưa được một tuần với giá hơn 20 ngàn. Nghe anh Hiền nói Nhiên chết trong một chiếc xe cũ, đậu ở sân một ngôi chùa, để không làm phiền đến ai. Tôi lên cơn điên bất ngờ, cầm cây búa đập thủng một lỗ lớn ngay trục quay chiếc máy.

Chắc lúc đó tôi khóc!

Hôm đi bên quan tài Nhiên ra huyệt mộ, nghe tiếng kèn trumpet của một người bạn chung thổi bài “Thà Như Giọt Mưa”, tôi ý thức rõ rằng, Nhiên “BIẾN” rồi. Biến như trong một bài thơ Nhiên đọc cho tôi nghe vào một lúc tôi đoán Nhiên sầu hận nhất (tôi đã cố tìm mà không còn ai nhớ nguyên văn cả bài):
“Tôi hô BIẾN cái tôi buồn,
Tôi hô BIẾN nỗi thuồng luồng đời tôi
Tôi hô BIẾN VỢ
Tôi hô BIẾN CON
Tôi HÔ BIẾN CÁI NÀO NÓ HIỆN RA CÁI NẤY”
Với hoàn cảnh của Nhiên, ít nhất trên một lần, tôi nghĩ, BIẾN như thế hóa ra hay cho Nhiên!

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

  1. Chương 4
    Tôi biết chắc nàng đã yêu tôi. Nàng chỉ mỉm cười những lúc có tôi và nhìn tôi trong lúc tôi ghi tên đồng bào di cư vào phiếu lý lịch ở Phủ Đặc Ủy Di Cư! Mỗi buổi trưa, mỗi buổi chiều, tôi anh dũng trở về. Trên chiếc ghế bố không còn bóng dáng những thằng ngồi cởi trần khoe bắp thịt tay và ngực Tôi chắc tình địch cùa tôi nản chí. Và, vì chuyên lo bắp thịt, chúng nó không thể về yêu hoa cúc khi thấy nàng mặc áo vàng. Tôi quả quyết chúng nó đã về yêu tạ tám mươi ký, trăm ký. Để mình tôi nằm thơ thới suy nghĩ hai câu thơ Nguyễn Bính: Em nghe họ nói mong manh, Hình như họ biết chúng mình với nhau. Không đâu chưa ai biết nàng và tôi đã” với nhau ” trừ chị phượng. Còn nàng, nàng cũng không thể đoán nổi tôi đã yêu nàng chưa, dù nàng đã làm tôi tự đày đọa cái thân tôi. Ngày mai không có đò ngược sớm và tôi trót hứa thêm với chị Phượng là tôi ở lại, tôi chẳng nở bắt tội nàng khóc. Thì hẳn nàng phải hiểu tôi đã yêu nàng.
    Con đường văn nghệ dấn thân của tôi rất nhiều chất viễn mơ. Nói theo thi sĩ Đinh Hùng, tác giả Ngày đó có em, viết về những hình bóng đàn bà quấn quít lấy sự nghiệp thi ca của thi sĩ Bích Khê, vô phúc, thiếu âm đức, tôi mà dấn thân vào văn học sử, em Ngọc yêu dấu sẽ vào luôn. Em vào văn học sử bằng chiếc xích lô đạp của tôi, tức là những “đại tác phẫm” do chính tôi sáng tác và chép bản thảo. Em vào với huyền thoại người con gái đêm ngáy pho pho, nghiến răng ken két; nhai thịt bò sái cả quai hàm và thay quần áo xuống phố trong chiếc chiếu quây tròn. Văn học sử sẽ chú thích rõ ràng ngày tháng ở Nhà Hát Tây. Nhưng một hôm, nhà văn nghệ vừa viễn mơ, vừa dấn thân Trương Chi gặp trục trặc kỹ thuật…tình yêu ! Chàng lãnh lương cuối tuần được sáu trăm đồng bạc, hí hửng viễn mơ tắc xi. Dấn thân là đói rách, đi xe nhân dân, tục gọi xe ô tô buýt. Viễn mơ là no lành, ăn cơm tiệm và đáp tắc xi. Chàng bảo tắc xi dừng lại bên đây đường, trả tiền cuốc xe, tặng thêm ông tài mười phần trăm “puộc – boa” và hai tay thọc túi quần, Trương Chi thổi sáo điệu nhạc Tô Vũ Mộc Dương. Tô Vũ chăn dê – mà lời ca như vậy.
    Qua bến đò ngày năm xưa. Anh với em chung một con thuyền. Đôi môi thắm tươi như một bông hồng. Đôi mắt mơ màng như ngất núi sông…
    Điệu nhạc “tiền chiến” cổ lổ xỉ rất hợp với tâm hồn viễn mơ của Trương Chi. Chàng cao hứng chuyển qua điệu “tăng gô si noa” mà lời ca ‘tiền chiến’ như vầy:
    Ngọn gió chiều lung lay khóm trúc
    Gợi nhớ thương dào dạt trong lòng
    Lại khiến lòng anh đây nhớ
    Khi tựa bên nàng vai lại kề vai
    Trông bướm bay theo làn gió thu
    Mà khi nay còn đâu thấy chàng
    Để chúng ta cùng say sưa dưới nắng chiều cùng trông
    Bướm bay, bướm bay nô đùa với hoa…
    Rồi chàng sang bên kia đường, ghé vô nhà sách Khai trí, mua cuốn tiểu thuyết Tây, nhan đề Les Moustiques của một tác giả tên thật khó đọc nên không thể viết ra đây. Sở dỉ, chàng chọn cuốn Les Moutiques vì chàng hiểu nghĩa tên truyện. Chàng đoán tác giả đã diễn tả những con muỗi có vòi khủng khiếp như muỗi Nhà Hát Tây Sàigòn. Muỗi truyền nhiều bệnh. Thí dụ bệnh sốt rét. Chàng sẽ ba hoa về loài muỗi, so sánh muỗi Tây với nuỗi Mỹ, muỗi Ý Đại Lợi, muỗi Ấn Độ? muỗi Ba Tư, muỗi tư bản, muỗi cộng sản. Và em Ngọc sẽ phục chàng “kền ” Pháp văn. Ôi, một nhà văn nghệ chứa trong lòng cả bồ tiếng Tây thì rất nên kiêu hãnh ! Trương Chi hiểu chàng hơn ai hết. Chàng đã học Corneille, Racine, Molière song chàng chĩ đủ khả năng đứng trên vỉa hè thành phố Paris vẫy tay, hét loạn xạ “taxi, taxi” và tài xế hỏi bất cứ câu gì, chàng vẩn khăng khăng” Victor Hugo ” có nghĩa là ” Bạn tài xế Tây thân mến, bạn cứ đưa tôi về phố Victor Hugo cho được việc” Nếu một mai, chàng qua Tây lãnh giải thưởng văn chương của Hàn Lâm Viện Pháp Quốc. Trương Chi đã hơn một lần chỉ tay vào trái quít, thông ngôn giùm một anh lính Tây “C’est un mandarin” Trái quít biến thành ông quan. Đó, thực chất tiếng tiếngTây của nhà văn nghệ Trương Chi. Ai mà biết, em Ngọc nào biết? Chàng sẽ viết về André Gide, Albert Camus, Jean Paul Sartre, André Malraux mặc dù, đọc truyện thần tiên của Perrault, của Grimm, chàng phải đánh vật với tự điển Pháp Việt Phổ Thông của Đào văn Tập. Tội nghiệp Trương Chi! Tại sao chàng cứ hì hục khuân tảng đá? Ấy là vì kỹ thuật tình yêu.
    Yêu là giả dối, phù phiếm, màu mè, riêu cua, hoa hoè hoa sói. Nhưng Trương Chi không luận bàn về tình yêu vì chàng đang được yêu, đang yêu. Chàng hí hửng cầm cuốn Les Moustiques, anh dũng tháo giấy bao ngoài vất đi và phăng phăng bước về phía Nhá hát Tây. Chàng hồi hả leo cầu thang. Chàng hy vọng tràn trề là em Ngọc sẽ nhìn thấy cuốn tiểu thuyết Tây trên tay chàng. Không có em Ngọc ở nhà. Em đi đâu? Mỵ nương đi đâu ? Trương Chi dấn thân quăng lưới suốt ngày, về nhà mong gặp Mỵ nương để khoe… sự nghiệp chài lưới thì nàng lại bỏ đi. Chị Phượng xuất hiện, khuôn mặt hầm hầm. Trương Chi cụt hứng. Chị Phượng bước nhanh tới ghế bố:
  • Cậu Long
  • Bút hiệu…
    Chị Phượng gạt phắt:
  • Không bút hiệu bút tiệm gì cả. Cậu tệ quá. Cậu bội bạc, thiếu chung tình.
    Tôi ngẩn ngơ giây lát. Rồi ấp úng:
  • Em đã làm gì?
    Chị Phượng hạch tội:
  • Cậu đa tình, lông bông như con chuồn chuồn. Cậu đã bắt tội con Ngọc khóc sưng mắt chiều nay.
    Tôi thộn mặt ra, chẳng hiểu mình đã gây nên tội lỗi gì. Chị Phượng nói tiếp:
  • Nó bảo trưa nay nó gặp cậu đi với cô nào, hai người chia nhau từng múi mít cười cười, nói nói say sưa lắm.
    Chết tôi rồi. Tôi hàm oan rồi. Tôi là Thị Kính. Trên bước đường văn nghệ dấn thân ghi tên đồng bào di cư vào phiếu lý lịch, thỉnh thoảng, có hôm tôi sóng vai với đứa con gái đầy nam tính. Nàng tên Bảo, hơn tôi ba tuổi và là người cùng quê hương tôi. Những buổi sáng đói rách, không tiền đi xe nhân dân, tôi thường tập thể thao chân trên những vỉa hè từ Nhà Hát Tây tới Phủ Đặc Ủy Di Cư. Một sớm mai, đen ngòm, có tiếng gọi ơi ới:
  • Long, Long.
    Người gọi tên tôi, tên cúng cơm của tôi là Bảo. Nàng cũng dấn thân như tôi. Vì không có tâm hồn nghệ sĩ nên không thể cho nàng đứng chung hàng ngũ văn nghệ dấn thân. Nàng hỏi:
    -Đi đâu sớm thế?
  • Đi làm.
  • Tôi đi với anh.
    Và nàng đi cạnh tôi. Nàng thấp và dáng đi lạch bạch y hệt con vịt bầu. Hể mở miệng là ngôn ngữ phóng ra oang oang phố xá. Ngày còn đi học một lớp, ở trường xưa, tôi đã tưởng nàng là trai giả gái, Bởi vì, có lần nàng vật nhau với một bạn trai, chiến thắng oanh liệt chỉ tại thằng bạn trai rắc hoa ngâu lên mái tóc lơ thơ tơ liễu buông mành của nàng. Nàng nổi giận, cho thằng bạn tỏ tình yêu bằng một keo vật. Nàng đấm, đá, và “đệm chân” khiến anh trai vừa lớn ngã lăn cu chiên. Từ đó, nàng không được coi là con gái thuần túy nữa. Tôi sợ nàng thoi vài trái nếu từ chối “đi với” nàng, thành thử, đành im lặng chấp nhận. Nàng gạ leo xe buýt, tôi lắc đầu. Nàng gạ kêu tắc xi, tôi xua tay. Hai đứa cuốc bộ. đang đi, gặp hàng ngô luộc, nàng kêu ầm ỷ:
  • Bắp, bắp, bắp!
    Nàng mua bắp, lột vỏ, mời tôi ăn. Tôi xấu hổ quá, vội nhét cái ác mô ni ca vào túi. Để mình nàng độc tẩu khẩu cầm tức là thổi ác mô ni ca. Nàng gặm lia lịa, nhai nhồm nhòam. Thiên hạ ngó nàng, cứ tưỡng nàng là nhân tình của tôi! Gặm ngô chán, nàng bắt tôi dừng lại uống nước rau má. Nàng bảo “Tốt lắm, uống nước rau má hết táo bón”! Uống nước rau má xong, gặp hàng mít, nàng lại mua mít. Nàng ăn quà vặt như con cò con trong ca dao:
    Con cò là cái cò con
    Chửa đi đến chợ đã lon ton ăn quà
    Ăn từ bánh đúc, bánh đa
    Bánh chưng, bánh cuốn, cháo hoa, bánh đề
    Ăn xong vỗ đít ra về
    Thấy hàng chả chó lại lê đít vào.
    Tôi đã đau khổ vì nàng, người đi cạnh đời tôi đầy mùi hương hôi nách. Chắc em Ngọc yêu dấu bắt gặp tôi đi với nàng. Và ghen quá, em tưởng tôi sung sướng, say sưa. Tôi đã thề không yêu con gái nếu con gái trên đời này giống Nguyễn thị Mộng Bảo. Tôi mỉm cười, nhìn chị Phượng:
  • Để mai em mời chị đi với “cậu con trai” ấy
  • Ai?
  • Cô con gái mà chị tưởng lầm em mê nàng.
  • Chị đâu có tưởng. Con Ngọc đã tưởng thế. Vậy cậu không ” có gì ” với cô ta à?
    Tôi kể vài nét đan thanh về Mộng Bảo. Chị Phượng cười khúc khích. Chị vỗ vai tôi:
  • Long…
  • Bút hiệu Trương Chi!
  • Cậu Trương Chi, chị bảo với con Ngọc là chị không lầm. Cậu chung tình mà!
    Tôi hỏi – lần đầu tiên tôi hỏi câu này – về Ngọc:
  • Thưa chị, Ngọc đi đâu?
    Chị Phượng đáp:
  • Con bé đi trốn nỗi buồn. Nó xuống nhà chú chị ở Tân Định. Để chị đi kiếm nó gấp.
    Chị Phượng ngó tôi:
  • Cậu đi với chị không? Cậu phải xin lỗi nó. Cậu phải thề từ mai, không được ăn mít của cô Bảo gì đó nữa.
    Tôi nói:
  • Thưa chị, em…
    Và thay đổi lập trường rất lẹ:
  • Dạ, dạ… Vâng… Em sẽ xin lỗi Ngọc. Em có tội. Em sẽ mua thuốc đau mắt nhờ chị nhỏ giùm vào đôi mắt sưng vù của Ngọc.
    Chị Phượng vỗ vai tôi, thân yêu hơn cả bao giờ:
  • Nói lời phải giữ lấy lời.
    Tôi hứa:
  • Em xin thề.
    Và tôi hỏi:
  • Thưa chị, Ngọc đau mắt thật à?
    Chị Phượng bĩu môi:
  • Khóc cả buổi không đau mắt sao? Cậu Long?
  • Bút hiệu Trương Chi!
  • Cậu Trương Chi…
  • Dạ, đau mắt nặng, thưa chị, có thể có màng, sinh lông nheo quặn và nếu không chửa, còn có thể viền vải tây điều.
    Thuở đó, bầu trời văn nghệ Việt Nam chưa được thắp sáng bởi thi tài Trần Đồng Vọng nên những kẽ nặng tâm hồn nghệ sĩ như tôi rất sợ người yêu của mình bị toét mắt. Thứ thuốc trị đủ các bệnh đau mắt chỉ mới phát minh gần đây. Tức là những bài thơ của thi sĩ Trần Đồng Vọng tác dụng ngang hàng kẹo kéo.
    Con mắt kẻm nhẻm kèm nhèm
    Ăn đồng kẹo kéo sáng hơn đèn ô tô.
    Mắt có màng hay mắt thông minh, mua thơ Trần Đồng Vọng về đọc hoặc nhờ người đọc giùm sẽ khỏi ngay, không cần ăn kẹo kéo. Bởi vì thi sĩ Trần Đồng Vọng là đông y sĩ chuyên trị bệnh con mắt. Người Apollinaire Giao Chỉ 1 đã hòa hợp thuốc đau mắt vào thi ca một cách thần sầu. Văn nghệ phục vụ nhân sinh đó, dấn thân ra phết! Giá tuổi vừa lớn của tôi đúng vào thời này, tôi nào sợ hãi người yêu của mình mắc bệnh đau mắt. Nhưng thuở đó, cái thuở Thế Lữ diễn tả…nhiệm mầu sương gió lạnh, Trời mây huyền ảo đắm hồn thơ, vì sao Trần Đồng Vọng còn núp trong mây u ám, thành thử, tôi vội trình bày:
  • Thưa chị, em nghĩ ra rồi, chả cần nhỏ thuốc đau mắt, chị ạ! Mai em mua biếu Ngọc vài đồng kẹo kéo, Ngọc ăn xong, đôi mắt sẽ sáng rực, long lanh tình yêu.
    Chị Phương bẹo tai tôi:
  • Trương Chi khéo khôi hài.
    Thưa chị, thưa chị kính mến, người chị dắt em lên lầu gặp Mỵ Nương, người chị đẩy cánh cửa cho em bước vào đường tình sử, em đâu dám khôi hài. Tại em vui quá. Ở trái tim em, niềm vui đang mở hội, đang họp chợ. Em biết chắc Ngọc đã yêu em, đã vì em khóc sưng mắt. Cám ơn con vịt bầu lạch bạch Nguyễn thị Mộng Bảo. Cám ơn những múi mít, những ly rau má, những cây… ác mô ni ca ngô luộc. Nhờ vịt bầu, tôi mới biết Ngọc đã ghen như tôi. Mỵ Nương ghen thì khóc, Trương Chi ghen thì hận tuổi nhỏ không chịu mua tạ, mua sách Bắp thịt trước đã của Phạm văn Tươi về tập phương pháp Thụy Điển. Trương Chi đã chiến thắng Mỵ Nương. Chàng giấu biến cuốn tiểu thuyết Les Moustiques. Chị Phượng giục:
  • Chị em mình xuống Tân Định nhé!
    Tôi đáp rất khẻ:
  • Dạ.
    Chị Phượng nói:
  • Trương Chi đợi chị về thay quần áo.
    Chị cũng đứng trong chiếc chiếu quay tròn. Tôi không hồi hộp, lo lắng. Rút điếu thuốc lá Ruby Queen, mấy hôm nọ viển mơ, hút thuốc lá lẽ ; dấn thân hạ viển mơ một keo – Tôi quẹt diêm mồi thuốc. Nhả khói và nhìn khói bay, tôi thấy Ngọc đang nhìn tôi mĩm cười. Nàng chưa bị toét mắt. Mắt nàng vẫn như dáng thuyền soi nước. Thuyền nghe, em yêu dấu. Đừng là ghe. Ghe kỳ lắm. Mắt em như dáng thuyền soi nước. Mắt em đẹp tuyệt vời.
    Mắt em là một giòng sông.
    Thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em.
    Cảm khoái, tôi liệng cuốn Les Moustiques đi. Không nên để loài muỗi đốt người yêu. Chị Phượng đã sửa soạn xong. Chị bảo tôi:
  • Mình đi!
    Đôi tai tôi nóng bừng. Tôi không thể khôi hài, không thể anh dũng được nữa. Bây giờ, tôi thật là tôi, là Vũ Văn Long không bút hiệu, chẳng bút tiệm. Là tôi khờ khạo, ngu ngơ, đần độn và… mơ mộng. Tôi lắc đầu:
  • Thôi chị ạ, em ở nhà.
  • Giận rồi, hả?
  • Không.
  • Thế sao không đi đón Ngọc?
  • Em… em… sẽ chả biết nói gì…
    Chị Phượng cười. Nụ cười thật đôn hậu. Chị nói:
    -Xấu hổ à? Đừng sợ, Trương Chi!
  • Long, Vũ văn Long.
  • Đừng sợ, Long! Con Ngọc thích cậu nói chuyện với nó. Cậu phải tập nói rồi mới biết nói.
  • Vâng, em sẽ tập.
    Và tôi nhất định ở nhà. Chị Phượng không trách móc. Buổi tối hôm ấy, tôi nằm sấp trên ghế bố hướng tầm mắt sang Ngọc. Nàng cũng nằm sấp trên ghế bố hướng tầm mắt sang tôi. Chúng tôi nhìn nhau qua lớp vải màn. Nói với nhau bằng những cái chớp mắt; Tôi tưởng tượng vải màn là lớp sương hồng tình ái. Tôi thức trong chiêm bao. Cuộc đời đấy, cuộc đời thần tiên và mộng mị. Một giây trỡ giấc, tôi thấy phãng phất mùi da thịt người yêu trong vùng mộng của cậu con trai vừa mới lớn. Tôi nhắm mắt. Ngủ ngoan.

1 Ông Tam Tích đề tựa một pho thơ của thi sĩ Trần Đồng Vọng đã ví Vọng như thi sĩ Apollinaire. Tội nghiệp Alpollinaire!

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

  1. Chương 3
    Tôi đã trở thành công dân thực thụ của xã hội Nhá Hát Tây, Chị Phượng săn sóc tôi chí tình. Em bé Ngọc; thỉnh thỏang, hỏi tôi vài câu chuyện bâng quơ. Tôi mê giọng nói cũa Ngọc, mê nụ cười của Ngọc, Tôi yêu Ngọc rồi. Tình yêu làm con người thay đổi. Riêng tôi, tôi không ham làm cu ly đồn điền cao su nữa. Dẫu đói rách, tôi vẫn cố bám lấy Sài Gòn. Tôi sẽ đạp xích lô vậy. Tại sao tôi mơ mộng khiếp thế? Hồi còn là cậu học trò tỉnh lỵ lên Hà Nội trọ học, tôi đã noi gương thi sĩ Đinh Hùng:
    Làm học trò nhưng không sách cầm tay. Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ. Và tôi mơ mộng làm chú nhỏ sửa xe đạp trước cổng trường Trưng Vương. Tôi sẽ leo cổng vào sân trường, tìm chiếc xe đạp của những em đẹp nhất, lấy kim chọc thủng lốp. Vậy là các em phải dắt xe nhờ tôi vá sống, vá chín. Tôi sẽ vá thật lâu để ngắm các em no mắt. Tôi thề không lấy tiền của các em đẹp. Chỉ nhận thù lao của các em xấu thôi, tôi mong gặp sự may mắn như ông bạn Chử Đồng Tử. Hỡi các em nữ sinh hoa mộng của trường Trưng Vương năm xưa, chẳng bao giờ các em là Tiên Dung công chúa nên con đường vào tình sử của tôi toàn ổ gà bánh xe khấp khểnh, vó câu gập ghềnh. Tôi thấy tôi gần gủi anh Trương Chi hơn. Mỵ Nương mê tiếng hát Trương Chi, gặp chàng mắt toét, răng vồ nàng tuyệt vọng là đúng. Là rất người. Rất tác phẩm.
    Giấc mộng mở hiệu sửa xe đạp ở gốc cây trước cổng trường Trưng Vương của tôi đã tàn úa. Tôi dệt liền giấc mộng bán ô mai, sầu dầm, mận dầm cho các em nữ sinh áo hồ thủy. Không thành. Tôi bèn nằn nì ông Tàu già bán lạc rang bên hồ Gươm, xin ông nhận làm môn đệ để ông truyền ngón rang lạc. Tôi hứa chỉ bán cho các cô học Trưng Vương thôi, Người Tàu ưa giấu nghề, tôi đã không toại nguyện. Do đó, những ngày vừa lớn của tôi, tôi chả tán được em gái Trưng Vương nào. Chỉ đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư. Nhưng giấc mộng đạp xích lô phải thành nếu một mai, tôi rơi xuống cái hố đói rách. Em Ngọc hết mê tôi. Ai dại gì yêu một nghệ sĩ xích lô đạp ? Tôi sẽ giả vờ thất tình nặng, sẽ bắt chước thi sĩ thần tượng Nguyễn Bính cùa tôi, chua chát nói:
    Một trăm con gái thời nay ấy
    Đừng nói ân tình với thủy chung;
    Và ra cái điều phẫn chí:
    Rồi một ngày kia em lấy chồng
    Anh về lấy vợ thế là xong
    Vợ anh không đẹp bằng em mấy
    Anh lấy cho anh bớt lạnh lùng
    Rất có thể, tôi sẽ còn ghếch xích lô bên hè phố, nằm dài nghêu ngao bài Tình nghệ sĩ của Đoàn Chuẫn. Khoan đã, chớ tuyệt vọng.Người nghệ sĩ xích lô đạp sẽ có mối tháng. Tôi được hân hạnh chở một em nữ sinh tuyệt đẹp. Sáng sáng, tôi neo xe đợi em. Trưa trưa, tôi neo xe chờ em. Cuộc đời chỉ cần đủ thuế nộp chủ và hai dĩa cơm, vài ly cà phê với gói Ruby Queen. Đưa em đi học. Đón em về học. Hôm nào đó, kiếm cuốn tiểu thuyết Tây, Les misérables chẳng hạn, vất đại trên đệm. em sẽ hỏi: “Ê, anh phu xích lô, có khách bỏ quên cuốn này? ” Tôi anh dũng đáp: “Của tôi đó, thằng cha Victor Hugor viết hay ghê!” Em mà học đệ tứ chương trình Việt là em sẽ “chết” với tôi. Tôi đã học “récitation” bài Après la bataille của Hugo, tôi hạ giọng câu cuối: Donne – lui à boire, dit mon grand – père như thầy Lâm Hữu Bàng của tôi, là em phải làm một cuộc xét lại ngay. Và em yêu tôi. Tôi sẽ đưa em vào tình sử bằng xích lô.
    Đấy là lối thoát cuối cùng của kẻ mơ mộng mà người làm chính trị gọi là hạ sách. Tôi chưa thể đạp xích lô được. Trông dánh dấp của tôi, khách sẽ tuỡng tôi giả dạng “cớm” và “cớm” thì tưởng tôi giả dạng điệp viên. Thôi, ngày mai ra sao rồi hãy hay. Cứ biết mình còn tiền ăn cơm đĩa ở hẻm Casino, một khoảng quê hương Bắc Kỳ. Mỗi ngày, chính phủ phát trợ cấp mười mấy đồng bạc, khúc bánh mì, vài muỗng đường, hoặc hộp cá mòi. Tôi chê bánh mì, đường, cá mòi. Chê luôn cả tiền trợ cấp. Cả ngày tôi nằm sắp trên ghế bố – y hệt em Ngọc thân mến – chép những bài thơ tôi thuộc lòng vào cuốn vở dầy, thỉnh thoảng , gạch xoá hay xoay thế nằm, ngửa, hút Ruby Queen nhả khói, nhìn khói mộng mơ. Em Ngọc sẽ tưởng tôi sáng tác vất vả, lao tâm khổ trí lắm đấy. Em đâu biết tôi chép thơ thiên hạ. Nếu em hỏi tôi về thơ, tôi sẽ lôi “tủ” Nguyễn Bính của tôi, não nùng và kênh kiệu than vãn:
    Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên
    Đêm đêm quán trọ thức thi đèn
    Làm thơ đem bán cho thiên hạ
    Thiên hạ đem thơ đọ với tiền
    Tôi chắc em không hỏi. Vì không ai hỏi người đạp xích lô cái nghề đạp xích lô. Tôi yêu em Ngọc quá thể. Làm sao nói với em là tôi yêu em thì tôi chịu. Khó lắm. Tình yêu, ở tuổi vừa lớn của tôi, nặng phần trình diễn ghê gớm. Phần trình diễn kéo dài. Và đó là sự thơ mộng. Là vẻ thơ mộng. Là cõi thơ mộng. Chỉ cách nhau cái giậu mồng tơi mà ngỡ cách nhau ngàn dặm. Nàng có nỗi buồn, chàng Nguyễn Bính không biết rõ. Chàng chỉ lẫm nhẫm Hình như nàng có nỗi buồn hơn tôi. Và ao ước Giá đừng có giậu mồng tơi, Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng. Em Ngọc của tôi cách tôi gang tấc. Không có giậu mồng tơi. Tôi thấy em buồn, vui, ăn, uống; xỉa răng. Và phải ở xã hội Nhà Hát Tây mới tin lời tôi, tôi còn thấy em dùng cái chiếu dựng đứng quây tròn, che kín thân thể em khi em thay quần áo để xuống phố. Em ngậm chặt hai hàm ở chổ hai mép chiếu gặp nhau cho cái chiếu khỏi tung ra. Mỗi lần em thu mình trong chiếu, tôi hồi hộp khôn tả. Chỉ sợ cái chiếu tung ra. Nếu cái chiếu tung, tôi sẽ bưng mặt khóc. Tôi không yêu em Ngọc nữa. Em đã chết rồi. Giấc mộng của tôi đã ứa máu. Tôi yêu em Ngọc, Em là giấc chiêm bao.
    Như một chiêm bao rất mộng thơ
    Bâng khuâng tôi nghĩ chuyện tình cờ
    Cả hai thuyền lạ phiêu trên biển
    Bổng một lần kia đỗ một bờ.
    Xuân Diệu đã chiêm bao thế đó. Tôi sẽ chiêm bao thuyền lạ chở Ngọc và tôi bị trận gió tình yêu thổi dạt tới một bến bờ xa tắp. Tình yêu phải thơ mộng và đẹp như chiêm bao. Tôi không có tài làm thơ tình hay như Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Anh Tuấn, Nguyên Sa… Trời sinh ra những thi sĩ tuyệt vời là để làm thơ cho chúng ta tỏ tình. Cậu học trò nào mới lớn cũng phải thuộc ít nhất hai chục bài thơ. Nhất định tôi sẽ chép bài Dâng của Xuân Diệu gởi em Ngọc. Tôi mưọn thơ Xuân Diệu làm thông điệp gữi cho tình nhân. Con gái thông minh vô cùng. Đọc xong những vần thơ bồng bế, ngỏ yêu:
    Đây chùm thương nhớ, khóm yêu đương
    Đây nụ mơ màng đợi ánh sương
    Đây lá bâng khuâng rung trước gió
    Đây em, cành thẹn lẫn cành thương

Tất cả vườn anh rất đợi chờ
Bời vì em có ngón tay thơ
Đến đây em hái giùm đôi lộc
Kẻo tội lòng anh tủi ước mơ

Bước đẹp em vừa ngự tới đây
Chim hòa ríu rít, liễu vui vầy
Hãy làm dáng điệu xuân ôm ấp
Ánh sáng ban từ một nét tay

Em Ngọc sẽ xốn xang tâm hồn. Và nếu em thuộc thơ T.T.Kh, em trả lời tôi ngắn ngủi:
Thuở trước lòng tôi phơi phới quá
Hồn trinh nguyên vẹn một làn hương
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu tới
Êm ái trao cho một vết thương
Nhà nghệ sĩ là tôi. Chỉ là tôi. Tôi đã bắn vào trái tim em Ngọc mũi tên tẫm hương yêu. Đó, thi sĩ đã làm tròn bổn phận cao quý của họ. Nhân danh tình yêu, tôi ngợi ca thi sĩ, trừ thi sĩ làm thơ tự do! Ôi, bằng cách nào tôi có thể thuộc những bài thơ dài lê thê toàn công viên,ghế đá, cửa sổ, rong rêu, con nước, đại lộ, phiến buồn, cục vui, đi chân trên tay, ngục tù, bóng tối, khều mặt trời, chọc mặt trăng? Để tán gái. Những bài thơ tự do, siêu thực, siêu hình hãy đi vào văn học sử và ở nguyên trong đó cùng quý vị Lục vân Tiên, Kim Trọng, Từ Hải, An Tiêm…Và những bài thơ yêu hãy lan tỏa trong không gian thơ mộng. Tôi là kẻ viễn mơ. Nếu tôi biết làm văn nghệ, tôi sẽ là nhà văn nghệ viễn mơ. Tôi không dấn thân. Dấn thân mệt mỏi và đói rách. Mà văn nghệ dấn thân thì, đi đến đâu, dấn thân vào chỗ nào? Âm nhạc và thi ca chỉ để ngợi ca tình yêu. Tôi rất ghét những bản nhạc, những bài thơ… “chiến dịch”.
Thí dụ chiến tranh chiêu hồi hay chiến dịch tranh cử! Tôi mà có làm văn nghệ, anh nào bắt tôi phải dấn thân, tranh đấu, cách mạng, tôi gang họng cãi tới cùng. Ông Mai thảo nói nhà văn là kẻ rong chơi. Tôi muốn nói nhà văn nghệ là kẻ phiêu du trên mọi nỗi vui buồn. Thế Lữ đó, văn nghệ viễn mơ đó:
Tôi là người bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi
Tìm cảm giác trong tiếng khóc câu cười
Trong phút gian lao trong giờ vui sướng
Khi phấn đấu cũng nhgư hồi mơ tưỡng
Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm than
Cảnh thương tâm đau đớn hay dịu dàng
Cảnh rực rỡ ái ân hay dữ dội
Anh dù bảo tính tình hay thay đổi
Không chuyên tâm không chũ nghĩa nhưng cần chi.
Phải, cần chi nhỉ. Phạm Duy cứ phiêu lãng trong tình yêu. Nguyên Sa và Hoàng anh Tuấn cứ phiêu lãng trong tình yêu. Cần chi đếm xỉa bọn kên kên văn nghệ, bọn kên kên bị ruồng rẫy, thờ ơ. Cần chi nhỉ, cần chi bọn cầm dao cùn dọa giết tinh hoa của dân tộc. Hàng triệu tuổi trẻ đã nghe nhạc Phạm Duy, đã thuộc thơ Hoàng anh Tuấn, Nguyên Sa. Và tôi, tôi cũng cần chi nhỉ, tôi chỉ cần làm văn nghệ viễn mơ cho một người con gái. Cho em Ngọc yêu dấu. Em ơi, em hãy tin đi, anh sẽ có một bài thơ viễn mơ hay hơn bài Còn lại của Hoàng Anh Tuấn hay hơn bài Tuổi mười ba của Nguyên Sa. Và chắc chắn, anh sẽ viết nổi cái truyện ngắn đăng trên nhật báo Tiếng Chuông.
Nhưng nền văn nghệ viễn mơ của tôi không được rong chơi trên cái ghế bố để hì hục chép thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, không được nhìn khói thuốc Ruby Queen để nhớ nhà; không được ngắm em Ngọc yêu dấu nhai thịt bò xào dai xuýt gãy răng ; không được chiêm ngưỡng em xỉa răng và tuyệt diệu nhất; không được hồi hộp đứng tim khi gặp em thay quần áo trong chiếc chiếu quay tròn. Tôi phải dấn thân vào con đường cán bộ ăn lương chấm công mỗi ngày năm chục bạc cho Phủ Đặc Ủy Di Cư ; Thế là tôi vừa văn nghệ viễn mơ, vừa văn nghệ dấn thân. Viễn mơ trên ghế bố chênh vênh. Gác ba Nhà hát Tây và dấn thân dưới mái nhà frib, thấp lè tè của Phủ Đặc Ủy Di Cư ở tận cuối đường Galliéni, đối diện Nha Cảnh Sát Đô Thành. Tôi là Trương Chi, nghệ sĩ Trương Chi. Trương Chi thuở xưa phải quăng lưới bắt cá, mới có cơm ăn, áo mặc rồi mới neo thuyền hát tình ca làm nứt rạn trái tim Mỵ Nương. Ôi nếu thuở xưa đã có những đốc tờ chuyên khoa thẩm mỹ như đốc tờ Hiếu, đốc tờ Viên và Trương Chi thừa tiền gửi nhà băng chàng đã sửa sắc đẹp rồi. Và như thế, không có chuyện: Ngày xa có anh Trương Chi, người thì thậm xấu, hát thì thậm hay. Trương Chi, nhà văn nghệ dấn thân… quăng lưới. Hậu thân của chàng là tôi, nhà văn nghệ dấn thân… chấm công. Tôi dấn thân cùng nhà văn nghệ Y Vân. Nhà văn nghệ dấn thân ở bến tàu Sài gòn đón tiếp đồng bào di cư, làm cách mạng tranh đấu chống độc tài bằng cách tay đờn miệng ca: Ngày trở về có trâu xanh… Còn tôi, nhà văn nghệ Trương Chi dấn thân bằng cách ghi tên đồng bào di cư vào phiếu lý lịch. Tôi đã phục vụ cách mạng, phản kháng, chiến đấu. Tôi dấn thân. Tôi hết viễn mơ rồi. Dấn thân cũng có nỗi buồn của nó. Nỗi buồn dấn thân. Buổi trưa đáp xe buýt tới bùng binh chợ Bến Thành, tập thể thao chân trên vỉa hè Bonard đúng lời dạy của con ông Alexandre Dumas: “Marche deux heures tous les jours” Về Nhà Hát Tây, thấy mấy thằng ngự ở ghế bố mình, say sưa ngắm em, ức hộc máu mồm. Và buổi chiều, sau khi dời hẻm Casino với cái bụng căng đầy cơm sườn nướng, cà phê đá, tôi lủi thủi cuốc bộ khắp vỉa hè, miệng phì phèo Ruby Queen như một kẻ thất tình nặng.
Tôi ghen rồi. Khói tình đã vướng vào mắt tôi làm tôi ứa lệ. Giá tôi to con, có tí vỏ nghệ, tôi đã khiện mấy thằng tình địch của tôi. Bỗng tôi hối hận đã tiếc tiền mua cuốn Bắp thịt trước đã của ông Phạm Văn Tươi. Muốn độc quyền yêu một em nào, mình cần bắp thịt lớn, rắn chắc.Nếu tôi tập tạ, đánh ba, tôi sẽ cởi áo, gồng mình, mấy thằng ngự ở ghế bố của tôi chắc là cút hết. Văn nghệ đi liền với bắp thịt mới hoàn thành xứ mạng thiêng liêng của nó. Tôi thường lang thang quá nữa đêm. Và, dù chưa gởi em Ngọc bài thơ Dâng cuả Xuân Diệu, dù em chưa trả lời tôi bằng bốn câu thơ của T.T.Kh, tôi vẫn muốn chuyển tới em những lời hờn nghen của Nguyễn Bính:
Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi
Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
Mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẩu chỉ qua đường khách lại qua

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai
Đừng hôn dù thấy đoá hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người
Tôi không thể đoán nổi tâm trạng của em Ngọc. Mà chỉ mong ước em cũng thuộc lòng cuốn Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính như tôi. Và em sẽ đọc đoạn cuối bài Ghen:
Thế là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi
Để hiểu rằng tôi đã yêu em. tôi đoán chắc nếu em yêu tôi, em sẽ nằm đắp chăn trùm kín cho mấy thằng tình địch của tôi chán chường, phú lỉnh hết. Em cứ giả vờ cảm em nhé ! Em hãy uống viên aspérine tình yêu và mặc kệ mồ hôi chảy tầm tã, mặc kệ nắng cháy miền Nam. Yêu em, anh đã dấn thân làm văn nghệ… cán bộ chấm công. Yêu anh, chẳng lẽ em không dám giả vờ dấn thân cảm cúm. Đó là một hình thức phản kháng, em yêu dấu. Tôi nghĩ ngợi thì anh dũng khôn tả nhưng thực hiện ý nghĩ anh dũng đó, tôi đành thôi. Vào một buổi chiều buồn nhất quãng đời vừa lớn, tôi lầm lũi bước lên ngót một trăm bậc thang, mặt mũi thật cô hồn. Nghĩa là nghệ sĩ ghê lắm. Túi quần thủ sẳn bài Thôi nàng ở lại của thần tượng Nguyễn Bính chép nghiêng ngã, vò nát. Gặp chị Phượng, tôi móc túi đưa bài thơ cho chị và xoay lưng, chạy vội xuống dưới nhà. Bài thơ như sau:
Nàng đến thăm tôi một buổi chiều
Những mong chắp nối lại thương yêu
Nhưng tôi không dám, tôi không thể
Chắp nối bao nhiêu khổ bấy nhiêu

Nàng hãy cùng tôi đoan một lời
Từ nay nàng đã hết yêu tôi
Từ nay ta sẽ xa nhau mãi
Và sẽ quên nhau để trọn đời

Ai đi chắp lại cánh hoa rơi
Bắt bóng chim xa ở cuối trời
Có lẽ ngày mai đò ngược sớm
Thôi nàng ở lại để quên tôi
Đứng ngẩn ngơ dưới nhà một lát, tôi toát mồ hôi. Tôi nguyền rủa tôi là một thằng khờ khạo, ngu ngơ. Tôi đã làm trò cười cho em Ngọc. Tôi đúng là tên ăn mày đòi xôi gấc, đôi đũa rếch đòi chòi mâm son. Nuốt bẩy miếng nước bọt, thu hết can đảm, tôi lên gác ba. Giá không vướng hành lý gửi chị Phượng, tôi đã giả từ Nhá Hát Tây ” hai bàn tay trắng, đi vào cuộc đời trắng hai bàn tay ” rồi. Chỉ vì cái va ly quần áo và cuốn sách dạy khẩy đàn lục huyền Y Pha Nho của Carulli! Tôi gặp liền chị Phượng. Chị đon đả tiếp tôi và vỗ vai tôi:

  • Cậu Long.
  • Bút hiệu Trương Chi.
  • Cậu Trương Chi.
  • Dạ.
  • Cậu định đi đâu thế?
    Tôi sắp sửa nói ” Thưa chị, em đưa nhầm lá thư cho chị. Em không dám hỏi, sợ ngượng, cuối tuần em mới lĩnh lương, em viết thư vây chị vài trăm tiêu đỡ, ai dè thư vay tiềnlộn thành bài thư tình biệt.Tại em cuống quýt, thì chị Phượng đã phân trần:
  • Cậu đừng đi đâu nhé, cậu Trương Chi! Cậu chưa hiểu lòng con Ngọc.
    Chị Phượng nhìn tôi cười hóm hỉnh:
  • Nó đã yêu cậu rồi đó. Nó vừa khóc thút thít đấy. Trương Chi ạ!
    Nàng đã yêu tôi, Mỵ Nương đã yêu Trương Chi. Ngọc đã yêu Long. Tôi muốn quỳ xuống hướng về phía nào đó Nguyễn Bính đang phiêu lãng, cám ơn thi sĩ, bao nhiêu kẻ trên đời này không cần nói ” Anh yêu em, em yêu anh ” mà đã yêu nhau. Nhờ Nguyễn Bính, tôi đã tán được em Ngọc. Cuộc tình của tôi thơ mộng đến thế là cùng.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

  1. Nhập gia tùy tục nhập giang tùy khúc
    Trước khi kể chuyện “cô đào hát có phép thần thông”, tôi xin giới thiệu bối cảnh lịch sử của câu chuyện.
    Nghệ sĩ cải lương theo đoàn hát đi lưu diễn khắp các miền đất nước, luôn luôn ghi nhớ câu tục ngữ: “Nhập gia tùy tục, Nhập giang tùy khúc”. Ghe chài của đoàn hát lúc di chuyển được tàu máy dầu kéo nhưng người tài công của ghe chài bao giờ cũng phải túc trực bên bánh lái ghe để có thể lái ghe chài theo luồng nước, tránh các đụn cát, các gò cát dưới lòng sông. Phải biết chỗ nông hay sâu, chỗ nào ghe chài của đoàn hát cập bến được. Về từng địa phương nơi đoàn hát đến, nghệ sĩ phải được ông quản lý của đoàn hát cho biết luật lệ của địa phương. Nơi nào cấm đến, cấm chụp ảnh, những điều cấm kỵ không được nói đến. Các anh Hề diễu thì phải tránh nói những gì mà các nhà chức trách ở địa phương có thể ngộ nhận là đoàn hát nói xiêng nói xỏ họ. Vì vậy, trong những năm 1946 đến năm 1954, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, các gánh hát có hai người chịu trách nhiệm quản lý: một chánh và một phó. Người chánh đi xin phép, mướn rạp, mướn phòng ngủ hay nhà nghỉ cho đào kép, mướn xe tải hay tàu kéo thì người phó lo công việc quản lý, giao thiệp với nhà chức trách địa phương, nơi đoàn hát đang trình diễn. Hoặc ngược lại, người phó quản lý đi lo bến mới, bãi diễn hay mướn rạp hát thì người quản lý chánh lo thủ trại. Và lần nào đi xin phép hát, mướn rạp, dán những tờ áp phích quảng cáo trước và dò hỏi tình hình của địa phương, ý thích của khán giả, người quản lý của đoàn hát đi trước có quyền chi tiêu rộng rãi và được ở lại tại địa phương mới đó vài ngày. Đoàn hát doanh thu thành hay bại, được an ninh hay không là nhờ ở tài ngoại giao của ông Quản lý.
    Ngày nay, các bạn trẻ nghĩ là luật lệ trong một nước, một tỉnh thành hay quận ly thì đã được nhà cầm quyền ban bố bằng Hiến Pháp hoặc bằng các sắc luật; bất cứ địa phương nào trong một nước cũng đều phải áp dụng luật pháp đó giống như nhau, người Quản lý của gánh hát đâu có cần phải dọ biết những luật lệ, tập tục riêng của từng địa phương.
    Sự thật thì không phải vậy! Từ năm 1946 đến năm 1954, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, mỗi địa phương có một lãnh chúa, mỗi ông lãnh chúa có quyền lực riêng mà chánh quyền trung ương cũng phải vị nễ, không can thiệp được dù cho quyền địa phương đó trái với những gì đã được quy định bằng sắc luật hoặc nghị định của chánh quyền trung ương.
    Có những vùng của Việt Minh kiểm soát, có những vùng “xôi đậu”, ban ngày của Quốc Gia, ban đêm của V.M. Có những vùng do quân đội Pháp chiếm đóng, và ngay trong các vùng nầy lại có các bót do lính của các Giáo Phái trấn giữ với sự cho phép của nhà cầm quyền Pháp.
    Đoàn hát cải lương của chúng tôi khi lưu diễn ở các tỉnh miền Đông thì đã phải chịu điêu đứng khi đến Tây Ninh vì gặp các “ngài” chỉ huy của các bót Cao Đài ở các xã Cẩm Giang, Bến Xúc, Suối Đá… Chúng tôi về miền Tây hát, tuy được doanh thu cao vì dân miền Tây rất thích coi hát cải lương, nhưng đoàn hát cũng “trầy vi tróc vãy” với những bót do lính Hòa Hảo trú đóng. Những vùng Hòa Hảo lại do nhiều ông Tướng chỉ huy khác nhau nên cũng có nhiều luật lệ khác nhau.
    Còn nhớ… những năm 1950 đến năm 1954… các đơn vị lính Hòa Hảo do ông Lâm Thành Nguyên thống lãnh, chiếm đóng từ Châu Đốc dài tới biên giới Cao Miên. Các đơn vị do ông Nguyễn Trung Trực chỉ huy thì đóng các bót ở các xã thuộc tỉnh Long Xuyên chạy dài tới chợ mới Long Xuyên. Xuống khỏi Long Xuyên một chút là Vàm Cống, chạy dài tới ngã ba Rạch Giá – Cần Thơ – Long Xuyên thì thuộc về phạm vi thế lực của các đơn vị Hòa Hảo dưới quyền chỉ huy của ông Lê Quang Liêm. Vùng Thốt Nốt – Ô Môn thuộc quyền ông Ba Cụt. Vùng Bình Thũy – Cái Vồn đi Cần Thơ thuộc quyền của ông thiếu tướng Năm Lửa. Lúc đó còn có những đơn vị lớn mang danh là bộ đội 40, 41, 42 Hòa Hảo… và ở vùng Cai Lậy – Chùa Phật Đá, Thủ Thừa có đơn vị quân lính của Hòa Hảo 12 phái…
    Sau năm 1954, 1955, bộ đội Quốc Gia chỉ có tiểu đoàn 15 trú đóng tại Long Xuyên. Trước đó thì ngoài quân đội của Pháp (lính Lê Dương, Maroc, Senégalais, lính Việt Partisan, lính 11 Ric…) chánh quyền địa phương còn có các Ban Hội Tề, sau gọi là Hội đồng xã nắm quyền hành chánh ở các vùng nầy cũng phải là người thuộc Giáo Phái. Vì vậy các gánh hát cải lương sau khi xin phép hát ở tòa Hành Chánh cấp Tỉnh, cấp Quận, phải trình giấy tờ, sổ ghi tên tuổi các diễn viên và công nhân sân khấu cho sở Cảnh Sát rồi còn phải tới trình giấy tờ với các bót Hòa Hảo trú đóng trong vùng, sau đó mới tới trình với hành chánh xã.
    Mỗi lần đi xin phép hát, trình sổ nhân sự của đoàn hát thì người Quản Lý đoàn hát luôn luôn phải biếu nhiều thiệp mời xem hát. Đoàn hát phải để dành ra ít nhứt là 4 hàng ghế thương hạng, 4 hàng ghế đầu, sát với mặt tiền sân khấu cho các vị quan quyền và gia đình xem hát.
    Năam 1951, tôi đang đi gánh hát Tiếng Chuông của ông Bầu Cang. Anh Ba Tẹt, bầu gánh hát Ánh Sáng thương lượng với ông Bầu Cang, mượn tôi qua gánh Ánh Sáng giúp việc Quản Lý khi đoàn nầy hát các vùng Ô Môn, Bình Thủy, Cái Vồn ở Cần Thơ. Tôi gia nhập vô làng hia mão mới có ba năm, chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghề hát và nghề quản lý gánh hát, nhưng tôi biết tiếng Tây và có học thức chút đỉnh nên việc giao thiệp với đồn bót, xin phép hát, kiểm duyệt tuồng tôi làm việc có phần dễ dàng hơn những anh em khác.
    Gánh Ánh Sáng – Bầu Tập chuyên hát cương, hát tuồng Tàu, tuồng kiếm hiệp của soạn giả Mộng Vân, nhưng khi hát ở các bến Ô Môn, Bình Thủy, bắc Vàm Cống thì Anh Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến bày thêm hát tuồng Phong Thần, Bàng Quyên – Tôn Tẩn, Trụ Vương – Đắc Kỷ, Hỏa thiêu Bá Lạc Đài. Chị Nguyệt Yến nói lớp tuồng, phân vai, hát và ca cương các đoạn tuồng chính yếu, tôi ghi chép và đưa cho anh em học hát. Buổi sáng đọc tuồng, ráp sơ sịa, tối hát. Vậy mà khán giả khen tuồng hay, nghệ sĩ đẹp và hát giỏi.
    Khi sắp qua hát ở quận Cái Vồn, tôi biết bà Năm (vợ ông tướng Năm Lửa) sùng bái nhân vật Phàn Lê Huê nên tôi nói với anh Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến chuẫn bị các tuồng theo truyện Tàu: Tiết Đinh San chinh tây, gồm có các lớp tuồng hay nhất như Thần Nữ dâng Ngũ Linh Kỳ, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy Trận, Phàn Lê Huê phá Âm Dương trận. Tuồng diễn cương thì dễ dàng đối với các nghệ sĩ đoàn Ánh Sáng – Bầu Tập, có khó chăng là phải làm sao cho các nhân vật như Lê Sơn Thánh Mẩu, Phàn Lê Huê, Tần Hớn bay được trên sân khấu. Ngoài ra, việc các vì tiên phe Triệt Giáo và Phàn Lê Huê đấu phép, phá trận Hồng Thủy phải hấp dẫn như đấu phép thật, hô phong hoán vũ phải có mưa gió ào ào như bão tố, phải có sét giăng, sấm nổ, lửa cháy rần rần…
    Đoàn Ánh Sáng – Bầu Tập chuyên hát tuồng kiếm hiệp, đấu boa nha (poignard) nhảy cửa sổ, ca vọng cổ, phựt đèn màu, nên phong cảnh vẻ các ngôi nhà đều có cửa sổ thật rộng, để khi kép hát phóng mình bay qua cửa sổ thì bên trong có bốn anh dàn cảnh, cầm bốn góc mền căng ra hứng để cho anh kép không té xuống sàn sân khấu, dập mũi, bể đầu. Những màn đấu súng thì dùng pháo châm điện cho nổ, nhưng khi hát có các màn đấu phép thì phải cho nổ trên sân khấu, khi liệng phép ra thì phép nổ, nháng lửa hoặc xẹt xẹt như sét đánh những khi có mưa giông. Phàn Lê Huê bay thì phải bay từ góc sân khấu nầy xẹt lên nóc sân khấu phía bên kia, bay một đường dài mới thật là hấp dẫn. Vì những kỹ thuật, xảo thuật mới đó đoàn hát không có nên ông bầu Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến nhờ tôi đứng ra lo liệu các phương tiện xảo thuật cho tuồng hát vì chị Nguyệt Yến sẽ vào vai Phàn Lê Huê.
    Tôi có người anh bà con làm đại úy an ninh phi trường Tân Sơn Nhứt nên tôi về Saigon nhờ anh mua dùm tôi giây cáp máy bay, thứ giây bằng thép, nhỏ như đầu đủa ăn nhưng có thể treo một vật nặng hằng mấy trăm ký lô. Với loại giây cáp bằng thép nầy thì khi người nghệ sĩ được kéo lên cho bay thì không sợ bị đứt giây té xuống, và nhất là vì nó làm bằng thép, giây nhỏ nên dù khán giả ngồi sát gần sân khấu, với đèn đuốc đủ màu xanh, đỏ, khi chớp khi tắt, khán giả không thể nào thấy sợi giây kéo nên cứ tưởng là người bay thật. Tôi lại đến các tiệm thuốc Bắc mua diêm trắng và hồng hoàng để về chế pháo đập. Diêm trắng thay cho chất Chlorate de potasse, cà nhuyễn, hồng hoàng cũng cà nhuyễn, trộn với bột than, ba thứ trộn đều, gói trong một lớp giấy với vài viên đá sỏi khi liệng xuống đất, ba chất thuốc cọ xát nhau, phát hỏa, nổ một tiếng thật lớn với ánh sáng xanh lè lóe mắt. Tuồng tích và mọi phương tiện xảo thuật được chuẩn bị đầy đủ thì đoàn hát được Ban Trị Sự Hòa Hảo ở Cái Vồn mua dàn, đưa đoàn về hát ở chợ quận.

Phàn Lê Huê và đoàn nữ binh trên đường phố
Tôi còn nhớ đoàn hát Ánh Sáng qua Cái Vồn hát vào những ngày đầu tháng 5 năm 1951. Lúc đó ở Cái Vồn đang có lễ lớn:
Lễ kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ tế thiên cáo địa thành lập Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo ngày 18 tháng S năm 1939.
Trên các ngã ba ngã tư các trục lộ chính trong quận đều có đặt bàn thờ với khung ảnh Đức Huỳnh Giáo Chủ. Trên con lộ đất dọc theo bờ sông, cứ cách một cây số, có dựng một cái chòi cao, trên đó có để bức ảnh lớn của Huỳnh Giáo Chủ, mặt hướng ra bờ sông.
Trong phố chợ, trước mỗi nhà, đều có một bàn ông Thiên, có thắp nhang khói ngui ngút. Ông Thiếu Tướng Năm Lửa ngồi trên khán đài, duyệt binh, phía sau lưng ông và ở hai bên tả, hữu, có mấy lớp lính đứng hộ vệ. Lính mặc quân phục đen, đội bê-rê đen, súng có lưỡi lê tuốt trần, khung cảnh coi rất là uy nghi oai dũng. Dân gọi nịnh ông là ông Tướng Soái.
Ba đại đội đi diễn hành trước khán đài, mang súng tiểu liên stell, súng mút và có cả mã tấu. Đoàn quân đi diễn binh tuy bước đi không đều nhưng thái độ rất nghiêm trang. Sau đoàn lính diễn binh là bàn thờ lớn với lư hương, đầy đủ nhang, đèn và khung hình Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ. Theo sau bàn thờ là nữ tướng Phàn Lê Huê (do bà phu nhơn thiếu tướng đảm trách). Bà mặc y phục như trong tuồng hát, trước ngực có một bông hường bằng vải thật lớn, trên mão có hai lông trĩ cao, dài như các viên nữ tướng Đoàn Hồng Ngọc hay Phàn Lê Huê trong tuồng hát. Bà vừa đi diễn binh vừa múa song kiếm. Phía sau bà là một đoàn nữ binh, mặc quần lãnh đen, chân quấn xà cạp sọc đen trắng, mặc áo có in bông hoa thật lớn. Thắt lưng bằng khăn màu nâu sậm, cột hai dãi khăn bỏ thòng phía trái, đầu thì chít khăn võ sinh màu nâu, có gắn một bông hoa vàng phía trái. Các nữ binh cũng cầm song kiếm, bước đi rập ràng, oai dũng.
Khi bàn thờ Đức Huỳnh Giào Chủ được khiêng đi ngang khán đài, ông Tướng Soái đứng lên, đưa tay chào theo kiểu nhà binh Pháp. Lính cận vệ đứng sau lưng cũng bồng súng chào, tay xòe ra ngang ngực, lòng bàn tay úp xuống đất.
Các nghệ sĩ chúng tôi đêm đó sẽ hát tuồng Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy trận, nhưng ngay buổi sáng đi coi lễ, đã được thấy bà thiếu tướng Phàn Lê Huê đi diễn binh, nên ai nấy đều lo sợ, không biết đêm hát tối nay, bà Phàn Lê Huê ngồi xem hát có bằng lòng cô Phàn Lê Huê trên sân khấu hay không?

Đào hát biết phép thần thông.
Bà Tướng Soái phu nhơn đi xem hát cải lương, ngồi ghế bành trên bục cao, kế bên có một cái bàn nhỏ để cái giỏ trầu. Sau lưng của bà có bốn cô nữ vệ binh mang kiếm theo hầu. Hai anh lính mang súng mút đứng gác gần cửa ra vô của rạp hát. Khán giả thì ngồi sau lưng của bà Tướng, đông tới mức là không có ai có thể đi tới hay đi lui gì được.
Ông bầu Ba Tẹt muốn lấy lòng Bà Tướng Soái nên tuồng Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy trận diễn thành ba màn: Màn một hát lớp “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”, Màn hai diễn cảnh “Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng”, Màn ba cảnh “phá trận Hồng Thủy” của nguyên soái Phàn Lê Huê.
Cô Nguyệt Yến, cô đào đẹp nhất, ca hay nhất và bộ múa võ cũng đẹp hạng nhất được chọn đóng vai Nguyên Soái Phàn Lê Huê. Cô Nguyệt Yến có một nước da trắng như bông bưởi, môi đỏ tự nhiên, má hồng, mắt sáng long lanh, tiếng nói nghe thanh tao dịu ngọt. Chỉ cần nói chuyện với cô một lúc là bọn mày râu sẽ mê mẫn tâm thần. Xem cô hát, xem cô múa võ, nghe cô ca thì bọn con trai dám bán nhà bán ruộng để tự nguyện xin theo cô mà hầu hạ.
Kép Thiện Tâm thủ vai Tiết Đinh San. Kép Thiện Tâm cao ráo, đẹp trai, ca vọng cổ rất mùi. Hề Vân Trình đóng vai Tần Hớn (kép bay) và Ba Tẹt vai Đậu Nhứt Hổ, tướng biết độn thổ. Các vai tiên Triệt Giáo thì do các kép Năm Chuồng (kép chuyên môn nhảy cửa sổ), Bảy Quí, Mười Trinh (kép chuyên đánh võ) thủ diễn.
Ngay trong màn đầu, nữ tướng Phàn Lê Huê vâng lời thầy là Lê Sơn Thánh Mẩu, hiến dâng thành Hàn Giang Quận để đầu Đường và kết hôn với Tiết Đinh San, nhưng Tiết Đinh San lầm cho là nữ tướng họ Phàn mê tài sắc của Đường Tướng mới phản chúa và trái ý cha nên sau đêm tân hôn, Tiết Đinh San đuổi Lê Huê đi.
Phàn Lê Huê vì tuân theo lời dạy của ân sư Lê Sơn Thánh Mẩu, đầu Đường trào là thuận theo ý trời nên tuy bị chồng ruồng rẫy, nàng vẫn cam chịu thiệt thòi. Trong lớp tuồng nầy cô Nguyệt Yến đã ca hai câu vọng cổ thật là hay:
(nối lối)
Chăn gối hững hờ chăn gối lẻ
Phấn hương lợt lạt phấn hương tàn, |
Bao nhiêu thương nhớ bao nhiêu lệ,
Mộng ước thôi rồi chịu vỡ tan.
(câu 5 vọng cổ):
Thất thểu lên yên bụi mờ theo vó ngựa, mưa lạnh hoàng hôn ướt đẫm nhung bào, ta chẳng biết giọt mưa rơi hay hay lệ thắm tuôn trào… ôi, “tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, cô chu nhất hệ cố viên tâm”, Gió ngàn ơi hãy dứt tiếng bi than, ta trở lại Hàn Giang với cõi lòng đà tan nát, thân hoa trôi bèo dạt lệ Hàn Giang đượm chảy bao lần.
(câu 6 vọng cổ):
Hàn Giang ôi, ta bỡ ngỡ quay về thăm cảnh cũ sao hoa lá vẫn tiêu điều rũ rượi như chế nhạo kẻ bị chồng phụ bạc đuổi xô, Tim ta đau như cơn gió đầu thu, lệ ta nhỏ như giọt mưa rơi kẻ lá. Hàn Giang ôi, hãy khóc lên đi một cuộc tình tan vỡ cho tim ta nhẹ mối ưu phiền, ta sống giữa Hàn Giang với chuỗi ngày khổ đau câm lặng, để nghiền ngẫm hai chữ ân tình đã khiến cho mình cam chịu cảnh cô đơn.
Dưới khán phòng có nhiều khán giả khóc rấm rức, tôi đứng bên cánh gà nhìn xuống, thấy bà Tướng cũng lấy khăn lau nước mắt, một cô nữ binh têm sẫn trầu dâng cho bả, bà lấy trầu nhai lia như muốn nhai xương tên Tiết Đinh San cho hả dạ. Bà xĩa thuốc thật mạnh như cố nén cái giận trong lòng.
Đến lớp tuồng Tiết Nhơn Quí bị vây khổn trong trận Hồng Thủy, quân sư Từ Mậu Công phái Tiết Đinh San về Hàn Gia Quận, cầu Phàn Lê Huê phát binh đi cứu cha chồng và Hồng Thủy trận, Phàn Lê Huê không nhận lời khiến cho Đinh San phải chịu nhục, tam bộ nhất bái, đi ba bước phải lạy một lạy, lạy dài từ dinh Đường cho tới quận Hàn Giang.
Khi Tiết Đinh San lạy một lạy, ca một câu, bước ba bước, lạy thêm một lạy, khán giả khoái quá, vỗ tay la: “Cho cái thằng chồng ngu lạy cho u đầu sứt trán nó đi, đừng thèm phá trận, đừng thèm cứu cha của cái thằng ngu đó”.
Tôi nghe tiếng tu hít thổi rét… rét và anh lính la: “Mấy người im lặng cho Bà coi hát”.
Bà Tướng cười hề hề:
– Kệ nó. Cho tụi nó chưởi cái thằng chồng ngu.
Phàn Lê Huê chỉ nhận lời phá trận khi được trao binh quyền và làm lễ đăng đàn bái tướng. Màn bỏ xuống trong sự vỗ tay hoan hô nhiệt liệt của khán giả.
Màn Hai lớp “Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng”, là một hoạt cảnh múa kiếm thật đẹp của Phàn Lê Huê, Tiết Đinh San quỳ dâng ấn tín Nguyên soái và Thượng phương bảo kiếm của vua Đường. Phàn Lê Huê bái nhận ấn tín, truyền lịnh cho Tiết Đinh San làm Nhất lộ tiên phuông, Tần Hớn và Đậu Nhứt Hổ: Tả, Hữu Nhị vị tướng quân. Sau đó Nguyên soái Phàn Lê Huê đứng lên, vung cây gươm Thượng phương bảo kiếm hét lớn “Truyền tấn binh”. Trống và phèng la đổ liên hồi, tiếng trống như sấm động, dục tiến quân. Quân sĩ trong đoàn hát múa cờ, múa kiếm chạy ngang qua sân khấu.
Khi Phàn Lê Huê trên sân khấu hô tiến binh, chúng tôi bỗng thấy hàng loạt phụ nữ khán giả phía dưới khán phòng đứng thẳng người, đồng loạt vung tay chỉ về phía trước, hét lớn: “Tiến”… ” Tiến”. Tiếng thét tiến quân đầy khí thế của khán giả làm cho chúng tôi rùng mình, rởn óc!
Anh Ba Tẹt bầu gánh hát chạy kiếm tôi, tôi cũng đang định tìm anh để bàn chuyện hát màn “phá trận”. Trước khí thế hăng say của khán giả, nữ binh của Bà Tướng Soái Năm Lửa, chúng tôi cùng có một ý nghĩ là cái màn “phá trận” phải hát cho thật là “Xôm”, nghĩa là màn đấu phép thì phải cho pháo điện và pháo đập nổ liên hồi, có sét đánh, có chớp giăng như trời long đất lở. Bao nhiêu pháo đập làm sẵn dành cho ba xuất hát được đem ra, phát cho các diễn viên đứng hai bên cánh gà, để nhờ liệng vô “trận” từng chập. Pháo châm ngòi điện cũng được anh thợ đèn gắn thêm sau các bục đá giả trên sân khấu.
Màn ba là Trận Hồng Thủy, ánh sáng một bên đỏ, một bên xanh. Bên đỏ có một dàn quạt máy ba cái, đóng trong thùng cây, bên ngoài vẻ hình một tảng đá, trước quạt máy có dán rất nhiều giấy kiếng màu đỏ, cắt theo chiều dài. Khi không bật điện thì giấy đỏ nằm rạp xuống sàn sân khấu, khán giả không thấy. Khi bật điện, quạt máy chạy càng lúc càng mạnh, giấy kiếng đỏ thổi bay cuồn cuộn tới trước, cộng với ánh sáng sân khấu phía đó đỏ rực lên sẽ tạo ra ảo giác cho khán giả thấy là lửa đang cháy phừng phực. Phía đèn xanh cũng một dàn quạt máy như vậy, có khác là bên thủy trận thì giấy kiếng xanh và đèn xanh. Khi có bật điện lên thì giấy kiếng được thổi ra, bay ào ào như hình ảnh của những ngọn sóng vỗ nước cuốn.
Màn ba, màn nhung vừa kéo lên, chúng tôi đã nghe tiếng vỗ tay thật lớn, thật lâu của khán giả, báo hiệu là họ đang nóng lòng chờ coi Phàn Lê Huê phá trận. Tôi nhìn xuống khán phòng thì thấy bà Tướng Soái Năm Lửa đã hết nhai trầu, bà ngồi thẳng thớm trên ghế bành như hình vẽ của các nữ tướng Trưng, Triệu trên lưng voi, tay bà cầm cây quạt giấy như nắm thanh kiếm…
Tiết Nhơn Quí bị vây trong trận hồng thủy, mỗi khi ông múa phương thiên họa kích xông ra thì lửa cháy, nước cuốn, tên bắn như mưa. Tiết Nhơn Quí bị thương, ca bài xàng xê lớp xề, tự thán e rằng sẽ bỏ mạng sa tràng tại vùng đất Phiên nầy. Bỗng ông nghe tiếng quân reo tở mở, Tiết Đinh San tiên phuông xông vô trận. Cả hai cha con họ Tiết đánh với hai vị địa tiên Triệt Giáo, bị phép tiên đánh té ngồi dưới đất, hai vị tiên biến mất. Trong ánh sáng khi chớp lòa khi mờ sáng, tạo ra ảo giác mơ hồ, Tiết Đinh San ca vọng cổ, báo cho cha biết là hắn đã cầu được Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng, Phàn Lê Huê sẽ phá trận. Đinh San đi tiên phuông, tưởng là sẽ phá được trận cứu cha nhưng không ngờ trận Hồng Thủy quá ác, Đinh San cũng bị vây trong trận như cha.
Lại nghe tiếng reo hò tở mỡ, nguyên soái Phàn Lê Huê múa song kiếm, đánh lui hai vì tiên Triệt Giáo, xông vô trận. Bọn Triệt Giáo hóa phép, lửa cháy đỏ trời, nước dâng sóng vỗ, bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa xông vào đâm chém. Phàn Lê Huê đứng trên tảng đá giữa trận, rút cây cờ Ngũ Linh mang trên lưng ra, vũ lộng thần oai, hô biến, hô giáng. Khi Phàn Lê Huê vung cao Ngũ Linh Kỳ, múa quanh mình thì anh thợ đèn bật contact cho các vĩ pháo điện nổ khi bên đông, khi bên tây, khi sau lưng bọn Triệt Giáo khiến cho chúng nó phải nhảy nai. Lá cờ Ngũ Linh được một ngọn đèn than 1000 watts chiếu, đèn có kiếng màu vàng bên ngoài nên ánh sáng màu vàng chói ngời như ánh hào quang. Ngọn lửa đỏ bên Hỏa trận khi bùng sáng khi chợp tắt, ngọn thủy triều xanh bên Thủy Trận cũng chập chờn như cả hai màu đỏ xanh của Hồng Thủy Trận bị ánh đạo vàng trên Ngũ Linh Kỳ đánh bại.
Bên trong các nghệ sĩ đứng bên cánh gà theo hướng cờ phất, theo giọng biến… biến… của nguyên soái Phàn Lê Huê mà quăng các viên pháo đập xuống sàn sân khấu. Pháo nổ chát chúa kèm theo ánh lửa xanh lè chớp sáng, bọn đầu trâu mặt ngựa xông vô, bị tiếng nổ và lửa phép của Lê Huê, té nhào trở ra, song chúng nó lại nhào vô hò hét. Tiếng trống tiếng nhạc, tiếng nổ chát chúa và ánh điện xẹt xẹt như sấm động sét giăng, tiếng quân la tiến .. .tiến, tiếng hô giáng giáng của Phàn Lê Huê làm cho trận đánh càng thêm gay cấn, hào hùng.
Về phía khán giả, tôi nhìn xuống thấy Bà Tướng cầm cây quạt giấy khi chỉ bên đông, khi múa bên tây, miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. Bà cũng mê say như đang phá trận Hồng Thủy. Bỗng một thanh niên tóc xỏa ngang vai, mặc y phục màu nâu sậm, chạy ra ngoài lấy cây cờ màu già có hình bánh xe tạo hóa và một bông sen ngay chính giữa lá cờ. Anh mang cờ lên sân khấu, qùy một chân dưới bục đá có Phàn Lê Huê đứng phía trên, anh phất phất ngọn cờ Hòa Hảo. Bốn nữ vệ binh của Bà Tướng cũng nhảy lên sân khấu, múa kiếm quanh mình, các cô đứng bảo vệ lá cờ Hòa Hảo. Phàn Lê Huê vẫn múa lá cờ Ngũ Linh Kỳ. Tôi và anh ba Tẹt sợ mấy cây kiếm thiệt của mấy cô nữ vệ binh gây thương tích cho các anh em trong đoàn hát nên hô các anh đứng trong cánh gà liệng hết pháo nổ vô sân khấu, đồng thời hét lớn, nhắc tuồng:
” Tụi bấy chết hết đi.”
Bọn đầu trâu mặt ngựa và hai vị tiên Triệt Giáo ngã ngang ra chết, lui vô hậu trường. Pháo đập nổ liên hồi, khói pháo mịt mù, khét lẹt. Các cô nữ binh và anh cầm cờ Hòa hảo bị cháy xém vài chỗ trên áo quần. Phàn Lê Huê bay cái rẹt lên phía trên nóc sân khấu. Màn bỏ xuống trong tiếng vỗ tay cuồng nhiệt của khán giả.
Chúng tôi vén màn, hộ tống bốn cô và anh chàng dũng sĩ áo lam, cầm cờ Hòa Hảo xuống phía trước sân khấu, gặp Bà Tướng. Bà hài lòng, khen:
“Mấy con giỏi lắm Bà sẽ thưởng cho mấy con”.
Bốn cô và một cậu vừa xông trận, chấp tay cúi đầu cảm tạ.
Bà thấy tôi đứng đó, Bà phán một câu:
– Chú biện tuồng vô kêu cô đào có phép thần thông ra bà bảo.
Tôi dạ một tiếng, chạy bay vô hậu trường.
Cô đào Nguyệt Yến đã được tháo giây bay, đứng giữa sân khấu, thở vì mệt và vì ngộp khói thuốc pháo , chưa thay y phục hát, tôi tới bảo:
– Bà Tướng kêu chị ra gặp bả kìa.
Chị Nguyệt Yến, anh Ba Tẹt còn mặc y phục hát, theo tôi ra khán phòng. Bà Tướng nựng mặt, vuốt bàn tay của Phàn Lê Huê – Nguyệt Yến, bà nói:
– Cô biết phép thần thông, biết múa kiếm, giỏi lắm. Cô ở lại đây dạy cho đám nữ binh của Bà đi. Đừng đi theo ghe hát nữa, cực lắm. Vậy hén? Ngày mai cô vô dinh của Bà ở, Bà lo hết cho cô. Ngày mai nghen.
Bà nói xong rồi, không cần nghe trả lời là cô đào hát có ưng chịu hay không, bà ra cửa, leo lên xe jeep. Xe chạy, Bà còn khoát khoát tay chào Phàn Lê Huê trong rạp hát.
Đêm hát thành công quá sức tưởng tượng. Doanh thu mấy ngày qua cũng rất cao và Bà Tướng còn tặng thêm một số tiền cho cô đào đóng vai Phàn Lê Huê, lẽ ra thì chúng tôi vui mừng, nhưng sau đêm vãn hát đó, chúng tôi không tài nào ngủ được. Bà Tướng muốn Phàn Lê Huê Nguyệt Yến ở lại dạy phép thuật và song kiếm cho đám nữ binh của Bà. Bà cũng muốn học bay như Phàn Lê Huê đã bay trên sân khấu. Chuyện hát giả trên sân khấu mà Bà Tướng tưởng “Cô đào có phép thần thông thiệt”.
Ngay vừa hừng sáng, chúng tôi cùng nhau trốn về Cần Thơ rồi đón xe về Saigon ngay. Đồ đạc và ghe hát để cho anh em dàn cảnh đưa về sau. Bà Tướng thấy chúng tôi không đến trình diện, chắc Bà cũng hiểu ra là lệnh của Bà cũng khó mà thực hiện nên Bà không truy cứu. Riêng đoàn hát Ánh Sáng thì mấy năm sau không dám về miệt Hậu Giang để hát nữa.
Một chuyện nhớ đời của giới nghệ sĩ cải lương trong mấy mùa chinh chiến.