Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 10 May 2025

8. Bình minh công lý

Không hiểu các dân tộc bạn có vậy không, chớ dân Nga chúng tôi mau quên lắm. Chúng tôi không nhớ nổi chuyện xảy ra mà chỉ nhớ những gì người ta đóng vào đầu óc hoài hoài bắt nhớ. Có thể đức tính mau quên do lòng tốt mà ra nhưng quả dễ bị lừa gạt quá. Nếu người ta muốn chúng tôi quên cả những phiên toà xử công khai thì cũng chẳng nhớ làm chi. Hãy nhớ những gì radio ong óng rót vào tai tối ngày! Tuổi trẻ chưa biết gì không nhớ đã đành, ngay lớp trung niên mắt thấy tai nghe mà hỏi lại về những phiên toà quan trọng quảng cáo rình rang có lẽ họ chỉ nhớ nổi vụ Bukharin, vụ Zinoviev… Nghĩ mãi có thể nhớ ra còn vụ Đảng Kỹ nghệ! Thế là hết, làm như chỉ có bấy nhiêu. 
Sự thật thì biết bao nhiêu phiên toà đã diễn ra từ 1918, từ ngày sau Cách mạng. Hồi đó đã làm gì có Luật? Công nông muốn sao thì Toà xử vậy, làm gì có vấn đề hợp pháp hay không? Đó là buổi BÌNH MINH CỦA CÔNG LÝ mà chương sách này sẽ tìm về, băng qua đống tro tàn của quá khứ. 
Những năm sôi động đó súng dao còn xài nhiều đâu đã nghỉ ngơi. Mãi sau này mới có lối ban đêm xách người xuống hầm, thảy một viên vào sọ khỉ. Cho đến năm 1918 thủ lãnh Cheka ở Ryazan là Stelmakh còn ra lệnh bắn tù giữa sân, ban ngày cho những đứa khác ngó thấy trước mắt. Hồi đó có danh từ trừng trị bên lề toà án. Không phải không có toà án để làm công việc này mà để Cheka trừng trị thuận tiện hơn 1. Toà cứ việc xét xử và tuyên án tử hình. Cheka cứ “làm riêng” và làm ngoài lề mà căn cứ theo tài liệu đích thực và những con số khiêm nhường nhất của chính ông Toà Latsis thì thành tích trừng trị “bên lề” của cơ quan trong 18 tháng (năm 1918 và nửa đầu 1919) như sau đây. Chỉ tính 20 tỉnh Trung nguyên tức phân nửa nước Nga nên dù sao cũng phải hiểu dưới sự thật rất xa! 
• Xử bắn: 8.389 vụ 
• Phá vỡ: 412 tổ chức 
• Tống giam: 87 ngàn phản động 
Xin ghi nhận tám ngàn ba trăm tám chín người bị xử bắn ngoài lề toà án nên quá ít thì bốn trăm mười hai tổ chức lại quá nhiều, xét vì hồi đó dân Nga quen sống riêng rẽ, nghi ngại nhau mà thực sự họ không đủ khả năng để kết hợp ngần ấy phe nhóm! Cũng như số 87 ngàn người bị bắt thì nào phải chỉ có ngần ấy. 
(Theo tài liệu của nhóm Chống lại án tử hình năm 1907 thì suốt 80 năm thời Nga hoàng (1826-1906) tổng cộng có 1.937 án tử hình thì 233 vụ được ân xá, 270 vụ vắng mặt không bắt lại được nên thực tế chỉ có 894 người thực sự chịu án. Nếu kể cả 1906 thì nguyên một năm này đã tuyên 1.310 án tử hình, cộng thêm 950 án mà Toà Quân sự Stolypin tuyên trong 6 tháng hoạt động. Toà Stolypin nổi tiếng sát máu nhất nhưng tính bằng con số còn thua Cheka tới 3 lần, không cần án Toà). 
Ở buổi bình minh của Cách mạng, tính từ tháng 11 năm 1917, Toà án toàn quyền xét xử, tuyên án. Cho đến 1919 mới có “Người ra chỉ đạo của hình luật Liên Sô”, trong đó đặc biệt có điều khoản “câu lưu cho đến khi có lệnh mới”. Có 3 hệ thống Toà án: 
• Toà án Nhân dân 
• Toà án Thông thường các cấp 
• Toà án Cách mạng 
Toà Nhân dân chuyên xử những vi phạm, những hình phạm không có tính cách chính trị. Không có thẩm quyền tuyên án tử hình đã đành, còn không được tuyên quá 2 năm tù. Cho đến tháng 7 năm 1918, nếu có yêu cầu đặc biệt của chính quyền, áp dụng từng cá nhân không thể hối ngộ mới được tuyên án 2 năm. Ngoài ra thẩm quyền tối đa 5 năm. Nhưng năm 1922 hết nguy cơ chiến tranh rồi, Toà án Nhân dân lại được tăng thẩm quyền lên 10 năm, với điều kiện không được kêu án dưới 6 tháng! 
Toà án thông thường cũng như Toà án Cách mạng ngay từ đầu đã có thẩm quyền tuyên án tử hình nhưng bị rút quyền trong một thời gian ngắn. Toà thường năm 1920 và Toà Cách mạng năm 1921. 
Riêng Toà Cách mạng, như tên gọi, đâu chịu ngủ yên. Toà làm việc theo lề lối cách mạng. Mỗi lần một đô thị được giải phóng là một lần khét lẹt mùi khói súng Cheka và duy nhất vì những phiên toà Cách mạng sáng đêm. Đâu phải ít án tử hình. Mà không cần phải Sĩ quan phản động, địa chủ, tu sĩ hay có chân trong các Đảng đối nghịch mới ra Toà Cách mạng. Có bàn tay không có chai cũng đủ chết! 
Đó là thời gian những cuộc nổi dậy và đàn áp bùng nổ tứ tung ở địa phương mà thành phần nông dân còn lãnh nặng hơn nữa. Nhất là từ 1918 đến 1921, dù lịch sử Nội chiến không ghi lại những hình ảnh nông dân hè nhau vác gậy vác cuốc vùng dậy chống đại diện để rồi sắp hàng dài dài, tay trói quặt sau lưng chịu chết. Mười mạng đổi lấy một cũng cam! Có điều những cuộc nổi dậy quá lẻ tẻ, địa phương nào biết địa phương ấy, không đếm được. 
Sau này ông Toà Latsis mới lập bảng thống kê: ít nhất ở 20 tỉnh đồng bằng năm 1918 và 6 tháng đầu 1919 nhà nước cũng phải dẹp tới 344 vụ nông dân khởi loạn. Tuy nhiên quan điểm của nhà nước thì đấy chỉ là bọn kulak làm loạn, chớ nông dân có đời nào chống lại chính quyền công nông? Nhưng làm loạn đâu phải một vài nhà. Cả làng nổi dậy! Họ vác cày vác gậy, không phải để diệt kulak làm loạn mà cùng với kulak xông ào vào các ổ đại liên của chính quyền công nông. Giải thích sự kiện ngược đời ấy, ông Toà Latsis cho rằng nông dân đã bị kulak xách động, hoặc xúi biểu, hứa hẹn hoặc đe doạ bằng mọi cách. Hứa hẹn thì còn gì hứa hẹn bằng các khẩu hiệu nhà nước… mà đe doạ thì có gì dữ dội bằng các ổ đại liên? 
Để hiểu lề lối làm việc của các phiên toà Cách mạng không gì bằng thuật lại vụ án điển hình xử công dân I. Y. ở Ryazan năm 1919. Đó chỉ là một trong 54.697 thằng đào ngũ bị bắt và gởi ra chiến trường Ryazan tháng 9 năm 1919. 
Năm 1919 Hồng quân có lệnh cưỡng bách nhập ngũ dù mới năm trước tung ra nhiều khẩu hiệu phản chiến “Đả đảo chiến tranh…”, “Cho về hết…”, “Lưỡi lê cắm xuống đất”… 
Công dân I. Y. vốn Công giáo thuần thành, chịu ảnh hưởng Tolstoi nặng, bị bắt lính nhưng không chịu vác súng tập luyện để ra trận “bắn vào các anh em”. Bị đưa tới Cheka vì tội “không công nhận chính quyền Sô Viết” và ba thằng dí súng lục Naguan vào hông hét lớn: “À, mày anh hùng hả? Bao nhiêu thằng anh hùng chỉ một phút là phải quỳ lạy tụi tao hết! Không đi chiến đấu là bắn bỏ”. Bắn thì bắn, I. Y. không chịu nên đành phải ra Toà Cách mạng. 
Trước Toà Cách mạng có ông luật sư già biện hộ I. Y. Ủy viên buộc tội (chưa gọi Công tố viện) cũng là một luật sư già. Có gã bồi thẩm cứ sỉ vả bị can: “Thanh niên công nông thứ anh mà lại chịu làm đệ tử của thằng Bá tước già quý tộc Tolstoi sao?”. Chánh thẩm phải gạt đi hắn mới thôi! 
“Anh không được cầm súng giết ngườI, còn hô hào người khác. Bọn phản động gây chiến, anh dám phá hoại cuộc chiến đấu tự vệ của nhà nước! Cho anh đi Kolchek, tha hồ cỗ võ hoà bình.” 
Bị can chấp nhận “Muốn đi đâu cũng được”, nhưng Ủy viên buộc tội nhân danh một luật gia can thiệp: 
“Xin lưu ý Toà Cách mạng chỉ xử những ca phản cách mạng, không phải để xử những vụ đào ngũ như thế này. Trên phương diện luật pháp, đề nghị Toà chuyển sang một Toà án thường cho đúng thủ tục…” 
“Toà Cách mạng đủ thẩm quyền xử. Toà xử heo tinh thần Cách mạng, không xử thủ tục luật pháp.” 
Ủy viên buộc tội yêu cầu chánh thẩm ghi câu đó vào hồ sơ. Luật sư cũng lên tiếng ủng hộ, xin Toà Cách mạng chuyển sang Toà thường thì bị Chánh thẩm nạt: “Mấy anh già rắc rối! Để Toà thường xử thì đến bao giờ?” 
Coi là bị nhục mạ, ông luật sư già cũng yêu cầu ghi hồ sơ thì Chánh thẩm cười hề hề: “Muốn ghi thì ghi! Ghi hồ sơ liền đi”. Cả phòng xử cười rầm thì Chánh thẩm tuyên đình xử để Toà Cách mạng vô nghị án! Sau một hồi nghị án kín ồn ào như mổ bò, Toà tái nhóm để nghe ông Chánh thẩm tuyên án: Tử hình, xử bắn. 
Phòng xử xôn xao, Ủy viên buộc tội la lên: “Tôi chống án! Tôi sẽ thượng tố lên Bộ Tư pháp”. Luật sư hùa theo “Chống án” thì ông Chánh thẩm Toà Cách mạng xua tay tuyên bố: 
“Toà bãi xử. Truyền giải tán.” 
Áp giải “tử tội” I. Y. về khám, trưởng toán hộ tống còn khen ngợi: 
“Nếu mọi người đều dám như chú mày thì khá quá! Hết chiến tranh, không có đỏ mà cũng chẳng có trắng.” 
Vì bản án quá vô lý nên đơn vị Hồng quân ở Ryazan nhóm ban đêm để sáng mai đánh kiến nghị phản đối về Mạc Tư Khoa. 
“Tử tội” I. Y. nằm khám đợi kết quả 37 ngày. Qua cửa sổ nhìn xuống ngày nào chẳng thấy hành hình. Nhưng rốt cuộc bản án tử hình bị bác, chỉ phải chịu án 15 năm cấm cố. 
Đó là một vụ án điển hình nhưng đặc biệt. Có mấy người tranh đấu lì được như I. Y.? Ủy viên buộc tội có đồng ý với luật sư biện hộ bao giờ? Không phải trách nhiệm, toán lính áp giải còn uất ức, nhất định có thái độ là một điều hiếm có! Bản án chứng tỏ không phải Công nông và Toà Cách mạng muốn gì được nấy dễ dàng. Cũng gay go lắm! 
Bây giờ lần giở lại những phiên toà của thời kỳ Bình minh Công lý quả là gian nan. Người viết sử biết căn cứ vào đâu? Kẻ chết ngậm miệng, kẻ đi đày mỗi người một phương, bị cáo, chứng nhân, luật gia hay lính áp giải chẳng ai dám nói sự thật. Chỉ có một nguồn gốc có thể đào lên được là núi hồ sơ Công tố. 
Hồ sơ quý nhất tôi được hân hạnh tiếp nhận là tập tài liệu in nguyên văn những bản cáo trạng nảy lửa trong những vụ án lớn nhất mà tác giả không ai ngoài chiến sĩ Cách mạng Krylenko. Đừng quên Krylenko từng nắm chức Bộ trưởng Binh vụ đầu tiên của chính phủ Công nông, từng là Tổng Tư lệnh và từng lãnh trọng trách tổ chức những Toà án Đặc biệt của Bộ Tư pháp. Kể như lãnh tụ cốt cán cho đến khi bị chính Lenin gạch bỏ và từ cương vị Chưởng lý buộc tội biến thành kẻ thù lớn của nhân dân! Để hiểu rõ không khí những phiên toà những ngày đầu tiên sau Cách mạng (1918 – 1922) thì hồ sơ Krylenko quả là tài liệu giá trị số một. 
Phải chi còn giữ lại được những biên bản tốc ký ghi không sót một lời đối đáp của nạn nhân, lời chất vấn hay buộc tội của những ông Toà đầu tiên giờ đã ra người thiên cổ, ở vào một giai đoạn bất trắc, không ai dám ngờ sẽ đốt cháy không tha một ai, kể cả những ông Toà Cách mạng! 
Chưởng lý Krylenko giải thích vì rất nhiều lý do trở ngại kỹ thuật không thể công bố toàn bộ biên bản. Chỉ cần đăng cáo trạng buộc tội và bản án là đủ. Ông Chưởng lý còn chê tất cả biên bản tốc ký giữ trong Văn khố Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa và Toà Cách mạng Tối cao cho đến 1922 đều ghi vô trật tự đọc lại không hiểu nổi, đoán không ra! Có những vụ án quan trọng như xử đảng viên Xã hội Cách mạng, xử Đô đốc Schhastny hoàn toàn không có biên bản tốc ký. 
Sau Cách mạng tháng 2, Cách mạng tháng 10, thì vụ trừng phạt đảng viên Xã hội Cách mạng kể như khúc quanh quan trọng thứ ba trong lịch sử Nga, đánh dấu sự chuyển hướng sang độc đảng, số tử hình khá cao. Vậy mà Toà không giữ lại biên bản, hay không làm biên bản? 
Năm 1919, Cheka phát giác và dập tắt âm mưu khuynh đảo của nhóm tướng lãnh, sĩ quan. Theo Krylenko thì bắt được trên một ngàn phản động hiển nhiên phải có âm mưu thật, do đó Cheka phải xử chúng “bên lề Toà án”. Số phản động đông như vậy Toà xử sao cho xuể? 
Cũng nhờ tài liệu Krylenko mới hay thời đó Ủy ban Hành pháp Trung ương có quyền can thiệp vào bất cứ vụ án nào, có thói quen ân xá hay tăng án vô hạn định. Gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương nhưng thực tế chỉ một mình Chủ tịch Sevrdlov quyết định nên ông Chủ tịch cũng đồng ý với ông Chưởng lý là “Hành pháp và Lập pháp của chúng ta không mắc bức tường giả dối thẩm quyền như Âu Mỹ nên chúng ta làm hữu hiệu hơn, giải quyết công việc cấp kỳ”. Nghĩa là việc gì cũng giải quyết gấp bằng điện thoại được, ngồi văn phòng ông Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, vẫn có thể tăng án từ 6 tháng lên 10 năm. 
Thảo nào trong các cáo trạng, Chưởng lý Krylenko từng vạch rõ nhiệm vụ của Toà án Liên Sô vừa đẻ ra luật và là võ khí chính trị. Dù đẻ ra luật mà cầm quyền được 4 năm, vứt hết những bộ luật cũ của thời quân chủ, chế độ mới vẫn chưa có luật, xét vì “Toà Cách mạng thời đại Cách mạng không bó buộc phải dựa hoàn toàn vào những đạo luật có sẵn, mà cũng chẳng phải nơi khoe luật, đấu luật. Chúng ta tạo luật mới, đặt bình diện luân lý mới… không câu nệ ý thức nào công lý, nào sự thật mà vì nó chúng ta suýt phải trả giá đắt. 
Quan điểm Krylenko là Toà Cách mạng không phải Toà mà là bộ phận tranh đấu của Công nông chống thù địch, đặt quyền lợi Cách mạng lên trên hết và phục vụ Công nông trước hết cho nên Toà không đặt vấn đề bị can có tội hay không theo quan niệm trưởng giả lỗi thời. Yếu tố quyết định duy nhất phải là giai cấp. Toà Cách mạng không khoe luật, đấu luật, bao nhiêu lý luận pháp lý đều vô dụng một khi Toà không xử theo tinh thần một đạo luật, không đặt vấn đề giảm khinh mà căn bản là phải tiêu diệt kẻ thù giai cấp, không phải vì tội mà nó đã phạm nhưng có thể phạm sau này, nếu không tiêu diệt bây giờ. 
Vậy thì tìm hiểu thêm làm gì buổi bình minh của Công lý khi quan điểm Krylenko đã rõ ràng như vậy và tự nó đã nói lên đầy đủ vai trò và công dụng của Toà án những năm đầu tiên sau Cách mạng? Hãy nhắm mắt một phút để tưởng tượng một phiên toà có ông Chưởng lý Krylenko ngồi buộc tội, chiếc áo vét lao động mở cổ để lộ áo lót kẻ sọc kiểu thủy thủ. Ngôn ngữ Krylenko thì điển hình ưa chơi chữ, lâu lâu xài điển tích Latinh (một nhà cách mạng có học, có chuyên môn mà). “Đặt vấn đề sự kiện đi”, “Yếu tố khuynh hướng cần định rõ trong trường hợp này”. Tuy nhiên, ông Chưởng lý cũng có thể có phản ứng rất bình dị để bật ra trước mặt bị can: “Quân vô loại chuyên nghiệp!” 
Krylenko cũng chẳng phải giới thâm trầm, đạo đức giả. Trường hợp bắt gặp một bị can dám mỉm cười, người không ngần ngại dằn mặt thẳng thừng, không quanh co úp mở ngay trước khi buộc tội: 
“Công dân Ivanova, chị sẽ trả giá nụ cười bằng thân phận của chị. Cố nhiên chúng tôi sẽ có cách để chị không bao giờ cười được nữa!” 
Ở buổi bình minh của Công lý có nhiều bản án có thể gọi là điển hình của thời đại mà nhân vật chính là ông Chưởng lý Cách mạng Krylenko. Xin kể qua một vài vụ: 
Vụ báo Russkiye Vedomosti 
Đây là vụ án tự do báo chí đầu tiên, một thử thách của chế độ vừa làm xong Cách mạng. Nhật báo Russkiye Vedomosti nổi danh “chuyên nghiệp” ngày 28-3-1918 đăng bài “Lên đường” của Savinkov. Báo vừa ra là nhà nước muốn vồ tác giả gấp, nhưng không nổi vì Savinkov đã “lên đường” đúng lúc. Không có tác giả thì báo bị đóng cửa và ông Chủ nhiệm Yegorov ra toà để trả lời tại sao dám đăng bài ấy. Vì chế độ MỚI vừa vặn có 4 tháng nên ông chủ báo còn ngây thơ giải thích: “Bài do một cây viết lỗi lạc viết, nói lên một ý kiến mà toà soạn không nhất thiết phải đồng quan điểm”. Theo Yegorov thì “Lên đường” không hề mạ lỵ, xuyên tạc mà chỉ nói lên một sự thật là “nhóm Lenin, Natanson đã về nước qua ngã Bá Linh” nghĩa là nước Đức của Hoàng đế Wilhelm đã đưa giùm đồng chí Lenin về Mạc Tư Khoa làm cách mạng vô sản. 
Chưởng lý Krylenko gạt bỏ, nói rõ là báo Vedomosti không bị truy tố về tội “mạ lỵ, xuyên tạc” mà vì “âm mưu gieo ảnh hưởng trong quần chúng”. Vì dám phạm tội ấy, tờ báo nhà nghề xuất bản từ 1864 trải qua bao giai đoạn khó khăn nhất đã bị Cách mạng đóng cửa vĩnh viễn. Chủ nhiệm Yegorov bị án biệt giam 3 tháng và ở tù như đi du lịch Hy Lạp vậy! 
Nếu ông Chủ nhiệm còn sống lâu chút nữa chắc chắn sẽ còn vào tù ra khám hoài. Dầu sao cũng mới năm 1918 và dầu sao cũng có tiền! 
Vì dù Cách mạng có bùng nổ ghê gớm thật thì hối lộ vẫn là “nếp sống” Nga từ thượng cổ thời đại. Như bây giờ và mãi mãi, người đưa vẫn đưa, người nhận vẫn nhận nhẹ nhàng. Lo lót nhiều nhất vẫn là ngành Tư pháp và Cheka! Sách sử vàng son cố nhiên không có ghi nhưng ông già bà cả sẵn sàng làm chứng rằng những năm đầu của chế độ Cách mạng vận mệnh tù chính trị nằm gọn trong một chữ tiền. Tiền đưa ra là người về một cách tự nhiên, vô tội! Giai đoạn 1919 – 1924, Krylenko xác nhận có khoảng 10 vụ, nhưng chỉ kể ra 2. Thực tế là ngay cả Toà Mạc Tư Khoa lẫn Tối cao Pháp viện cũng trưởng thành chật vật trên ngả đường quanh co của hơi đồng. 
Vụ 3 thẩm vấn viên Tòa Cách mạng Mạc Tư Khoa 
Tháng 3-1918 nhà buôn vàng khối Beridge bị bắt. Bà vợ chạy đi lo chuộc chồng, móc nối được một ông thẩm vấn viên Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa và kéo thêm 2 ông đồng nghiệp. Họ ra giá 250 ngàn đồng rúp nhưng kéo nài mãi thành giá 60 ngàn, đặt cọc ½ trước, tiền sẽ trao ở Văn phòng luật sư Grin. Thu xếp kín đáo vậy là xong, có đời nào vụ chuộc người lọt vào hồ sơ Krylenko và để Quốc hội bận tâm? Bao nhiêu vụ khác êm đẹp cả chứ? Nhưng phút chót mụ vợ chỉ mang tới 15 ngàn rúp tiền cọc cho luật sư Grin, đã vậy đêm về suy tính lại không chịu ông luật sư này. Sáng mai tới lo ông Yakulov. Cố nhiên ông đồng nghiệp này đầu cáo gấp. 
Ngay tháng 4 nội vụ ra Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa. Nhân chứng chưa giác ngộ, cứ lo che giấu cho bị cáo làm Công tố viện khó xử. Họ bị Chưởng lý Krylenko cảnh cáo đầu óc chất hẹp, hủ bại với con buôn. (Nhưng họ đã dám đụng đến các thẩm vấn viên Toà Cách mạng quả đã liều lắm lắm!). 
Điều đáng kể là cả 3 ông thẩm vấn vừa là cộng sự viên thân thiết của Toà Cách mạng, đồng chí và giúp việc đắc lực cho Công tố viện (như ông Leist từng nổi tiếng thẩm vấn quá gắt) nhưng vừa phạm tội là bị quật thẳng tay. Không phải vì tội tham nhũng, làm mất mặt Toà Cách mạng! Họ bị đào bới quá khứ, tới gốc gác nghĩa là vấn đề giai cấp được đặt ra. 
Thẩm vấn viên Leist bị moi gốc tích: nguồn gốc trí thức thụ động, cha là giáo sư đại học Mạc Tư Khoa, nổi tiếng phản động từ 20 năm, không chịu sinh hoạt chính trị! Sự thối nát, tham nhũng đã bị bới tận gốc. 
Thẩm vấn viên Podgaisky bị moi gốc con công chức cao cấp Toà án chế độ cũ, có ông cha phản động từng cộng tác với chế độ bảo hoàng 20 năm và điều nổi bật là bị cáo đang học Luật đã vận động, luồn lọt vào được Toà Cách mạng với dụng tâm phá hoại. 
Bị truy gốc nặng hơn cả là Gugel trước khi lọt vô Toà Cách mạng đã làm nghề xuất bản. Hắn làm sách không phục vụ cho Công nông, không in tác phẩm Marx mà chỉ chuyên cho ra những thứ văn chương đồi bại của bọn trưởng giả có đầu óc thân Tây phương, cố tình đầu độc tinh thần quần chúng. 
Theo Krylenko, cả 3 tên Leist, Podgaisky, Gugel đều không phải cán bộ tốt mà là phường sâu bọ trí thức, chui vô cơ sở để bôi bẩn Toà Cách mạng. Trong khi đó, luật sư Grin nổi tiếng có gốc lớn, bồ bịch ăn có với giới chức cao cấp Công tố – một chuyên viên vớt người ra khỏi tù đày – thì bị Krylenko liệt vào hạng “trí thức hoạt đầu, một con đỉa sống bám vào cơ cấu tư bản chủ nghĩa”. 
Do đó, Chưởng lý Krylenko yêu cầu Toà Cách mạng trừng trị gắt các bị can, không phải chỉ vì tội nhận hối lộ, tham nhũng mà thôi! Vậy mà Toà Cách mạng chỉ chịu tuyên án quá nhẹ: các thẩm vấn viên mỗi người 6 tháng tù còn ông luật sư “móc nối” chỉ phạt vạ. Lập tức Krylenko chạy lên ông Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương để xin can thiệp mạnh. Bản án tức thì được đổi: 3 ông thẩm vấn viên bị tăng án – theo thẩm quyền của Ủy ban Hành pháp Trung ương – lên mỗi người 10 năm tù. Luật sư Grin chỉ bị 5 năm nhưng tịch thu toàn bộ gia sản. 
Vụ án 3 ông thẩm vấn viên Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa cho thấy 2 điều: 
“Lập trường Công tố căn cứ thuần túy ở “giai cấp tính”. 
“Bản án Toà đã tuyên xử không có nghĩa gì trước quyết định “thẩm quyền” của Ủy ban Hành pháp Trung ương. 
Vụ thanh tra đoàn Cheka hủ hóa, tham nhũng 
Kosyrev và ba bồ bịch Libert, Rothenberg, Solovyev, là cán bộ Ủy ban Cung cấp Thực vật liệu chiến trường miền Đông. Trước Toà Cách mạng ngày 15-2-1919 cả bọn nhìn nhận đã lợi dụng chức vụ, nuốt nhiều số tiền từ 70 ngàn đến 1 triệu đồng rúp tậu nhà, sắm xe hơi, tiệc tùng xa xỉ, chơi ngựa đua và giải trí bằng đàn bà đẹp! Toà Cách mạng không truy cứu tội tham nhũng đó, dù Ủy ban bị giải tán tức thời. Cả ba từ mặt trận miền Đông về, không bị hạ công tác mà còn được cử vô Thanh tra đoàn của Cheka cùng với Nazacenko, cựu tù nhân khổ sai, từng đi đày Tây Bá Lợi Á cùng Kosyrev. 
Điều làm mọi người kinh ngạc là không hiểu sao thành tích như vậy mà cả năm người lại được cử vào một chỗ quá nhiều quyền hành? Trong nội bộ Cheka Thanh tra đoàn đứng cao hơn hết, chỉ đứng dưới có Chủ tịch đoàn gồm 5 ông lớn: Dzerhinsky,Urilsky, Peters, Latsis, Menzhinsky và Yagoda. Có quyền điều tra, giám sát tất cả các Nha Sở trừ Chủ tịch đoàn. Bất cứ lúc nào cũng có thể mở hồ sơ công tác kiểm soát, toàn quyền bác bỏ mọi quyết định của các cấp kia mà. 
Nếp sống của 5 ông Thanh tra Cheka được mô tả cực kỳ hào hoa. Cùng với một nhóm bà hủ hoá không phải đảng viên, họ lập nhiều “Câu lạc bộ du hí” có rượu, có đàn bà và có sòng bài ăn thua hàng ngàn đồng rúp. Ông Kosyrev còn có “tổ quỹ” riêng, trị giá 70 ngàn rúp, mỗi lần tiệc tùng bày toàn muỗng nỉa bạc, ly pha lê. Không lẽ ý thức hệ, biện chứng hay cơ quan đã cung phụng ngần ấy thứ? Không, ông Thanh tra được hưởng phần gia tài, cỡ 200 ngàn rúp để trương mục nhà hàng Chicago! 
Cấp “thẩm quyền” Thanh tra đoàn như Kosyrev thì thiếu gì cơ hội can thiệp ra tiền. Buổi giao thời Cách mạng bọn có tiền của vòng vàng, châu báu bị cơ quan chiếu cố quá nhiều. Thân nhân muốn chuộc mạng chỉ cần tìm cho đúng trung gian. Còn tay trung gian nào “dẫn mời” đắc lực bằng người đẹp Uspenskaya, hai mươi hai tuổi… nữ sinh tốt nghiệp trung học, mật báo viên tình nguyện của Cheka? 2. Người đẹp xác nhận trước Toà làm mật báo viên chỉ để lấy tiền thưởng nhiều ít tùy từng vụ và có áp phe còn được “chia hai”. Chia với ai Toà không bắt khai (để bảo vệ bí mật công tác!). Nhưng Krylenko vạch rõ nữ mật báo viên Uspenskaya có lãnh tiền Cheka là lãnh tiền thưởng chứ không phải lương vì không phải nhân viên chính thức 3. Số lương tháng 500 rúp của Hội đồng Kinh tế Tối cao nào có nghĩa gì so với số tiền áp phe 5 ngàn đồng (xin cho một nhà buôn một con dấu của Hội đồng Kinh tế Tối cao thôi!) và 17 ngàn rúp do vợ tù nhân Meschherskaya Grevs “đền ơn”! 
Vụ Thanh tra đoàn Cheka tham nhũng đổ bể cũng vì mật báo viên Uspenskaya hướng dẫn mụ Grevs đi gặp Godelyuk, bồ bịch tin cậy của Thanh tra Kosyrev để xin hạ bớt số tiền chuộc 600 ngàn đồng rúp chạy không nổi! Móc nối bí mật thế nào mà bị ông luật sư Yakulov đánh hơi ra và đầu cáo tức khắc 4 với Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa. Chánh thẩm Toà Cách mạng cũng đang bận vì Cơ quan can thiệp với Ủy ban Hành pháp Trung ương quất 3 thẩm vấn viên bản án quá nặng nên mượn dịp này chơi lại Cheka. Nên thay vì gác hồ sơ, thông báo thân thiện cho xếp lớn Dzerhinsky để “giải quyết êm đẹp nội bộ” thì hắn quyết làm lớn chuyện. 
Ông Chánh thẩm bèn đích thân thẩm cung Godelyuk, có tốc ký viên núp sau màn ghi lại đầy đủ chi tiết những lời khai của trung gian Godelyuk về vụ móc nối ăn chia với Thanh tra Kosyrev, thanh tra Solovyev. Biên bản ghi rõ trong Cheka những ông nào ăn, ăn bao nhiêu và sau khi lãnh tiền cọc 12 ngàn rúp hắn đã đưa mụ Grevs vô trong Cơ quan “nhờ vả” Libert và Rottenberg như thế nào. Phiếu nhập sở của mụ Grevs còn rành rành chữ ký của hai ông Thanh tra nằm ở Phòng Điều tra vừa được Thanh tra đoàn buộc chuyển gấp lên kiểm chứng lại. 
Chứng cớ phạm pháp rành rành vậy, cả 5 ông Thanh tra cao cấp nhất cơ quan dính một lượt, nội vụ lại diễn tiến ngay trong sở và đang bị Toà Cách mạng lập biên bản chi tiết do chính kẻ móc nối phun ra thì còn gì là thanh danh, còn gì màu áo xanh da trời cao đẹp của Cheka? Đồng ý lâu nay vẫn có “xúc động công vụ” dài dài giữa Cơ quan và Toà án Cách mạng, nhưng không lẽ cùng phục vụ Cách mạng vô sản mà cán bộ cao cấp hai bên cứ rình từng cơ hội để gài chơi nhau sát ván? Gã chánh thẩm chỉ vì ganh tức, bực bội mà dám quất một lượt 5 cán bộ Thanh tra đoàn hay chính hắn cũng có liên hệ gì đó trong vụ này? 
Những vụ lẻ tẻ đó khỏi bàn. Vấn đề lớn là thể diện, uy tín của Cheka. Không thể để Cheka mất mặt nặng như vậy! 
Không hiểu cố ý hay tình cờ mà Toà Cách mạng gởi phạm nhân Godelyuk vô khám Taganka thay vì Lubyanka, nhà giam “ruột” của Cơ quan. Nhưng Thanh tra Solovyev vẫn xin phép Toà cho vô thăm Godelyuk. Toà khước từ. Với tài nghệ cá nhân, Solovyev vẫn lọt vô được xà lim của hắn để “nói chút chuyện”, Không cần phép Toà. Sau đó phạm nhân Godeyuk bỗng lâm bệnh, bệnh nặng. Trước khi hấp hối, biết khó sống hắn đã thành tâm phản tỉnh, rất lấy làm hối hận đã vu cáo Cơ quan nên năn nỉ xin mảnh giấy để tự tay viết bản tự thú. Hắn đã bôi nhọ cán bộ Cơ quan nhất là Kosyrev và biên bản tốc ký ghi sau màn hoàn toàn không có thật. 
Còn tấm giấy nhập sở có chữ ký Libert và Rottenberg cho mụ Grevs vô thì sao? Thì bỏ! Có ai đưa, ai tổ chức đưa Solovyev vô khám Taganka để có chút chuyện nói với Godelyuk? Ông Chưởng lý Krylenko cho rằng thiếu bằng chứng phạm tội, cũng như Solovyev có thể được đưa vô bởi nhóm người nào đó có liên hệ và còn tại đào. 
Dĩ nhiên Toà Cách mạng phải cho đòi 2 Thanh tra Libert, Rottenberg. Có trát bắt buộc nhưng họ không ra. Họ lánh mặt. Đòi đến mụ Grevs thì đến mụ cũng không thèm ra mà Toà Cách mạng cũng chẳng có cách nào dẫn giải! Gốc trưởng giả phản động mà dám coi thường cả trát Toà Cách mạng thì lạ quá. Nhân chứng kiêm phạm nhân Godelyuk chết dở thì phản cung. Chánh phạm Kosyrev không chịu nhận bất cứ một tội gì. Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa còn ai nữa mà xét xử? 
Ngay lúc đó có 2 nhân chứng không được Toà vời ra cũng “tình nguyện” làm chứng cho Kosyrev! Một là đồng chí Phó Tổng giám đốc Peters. Hai là đích thân đồng chí Tổng Giám đốc Feliks E. Dzerdzinsky. Nội sự hiến dâng của đồng chí Tổng Giám đốc Cheka bằng xương bằng thịt trước Toà cũng làm mấy ông Toà Cách mạng rầu quá! Ông Tổng Giám đốc quả quyết Thanh tra Kosyrev vô tội. Một đồng chí trung kiên, tinh thần phục vụ cao, chuyên môn lỗi lạc. Cố nhiên đây là một vụ vu cáo. 
Vu cáo thật, nếu giở lại tiểu sử của đồng chí Thanh tra Kosyrev lỗi lạc, trung kiên của Cheka! Thành tích ở tù trước Cách mạng của Kosyrev lẫy lừng đô thị Kostroma với mấy bản án sát nhân: bẻ cổ giết bà già Smirnova, toan giết cha, sát hại một đồng đội để đoạt giấy thông hành. Số còn lại toàn án lừa đảo. Nhờ lệnh đại xá của Nga hoàng hắn mới được phóng thích chớ Kosyrev thì hết đi đày đến chịu án khổ sai. (Có dịp ăn chơi là ông Thanh tra chơi bằng thích cũng phải!). 
Đặc biệt trong vụ án này Chưởng lý Krylenko nghiêng hẳn về phía chống tham nhũng, thối nát, dù được nghe ông Tổng Giám đốc Cheka doạ dẫm: “Kosyrev có thể là nạn nhân oan uổng của sự tranh chấp quyền hành giữa các Cơ quan“. Nhưng dù sao cũng xác định thái độ để tránh mọi hậu quả vì phải có lý do gì tay tổ Cheka mới hối hả ra toà làm một nhân chứng tầm thường chứ? Nên nhất quyết buộc tội sau khi rào đón: 
“Tôi không bao giờ muốn và cũng không đủ thẩm quyền để muốn biến vụ án Thanh tra đoàn này thành vụ án xét xử Cheka. Hãy quan niệm giản dị rằng chỉ kẻ nào có tội là kẻ ấy sẽ bị trừng phạt đích đáng và để làm công việc ấy, Công tố viện cương quyết làm cho ra lẽ”. 
Có lẽ không dám phiêu lưu quá xa để bênh vực bọn thuộc cấp phạm pháp quả tang quá rõ nên Dzerdzinsky rút lui ngay để vận động ngả khác. Toà đình xử. Mấy ngày liền sóng gió tơi bời trong nội bộ Cheka. Phải chi cứ đà đó mà tiến thì ngày giờ này đâu còn Lubyanka? Chắc là ông Tổng Giám đốc Cheka đã phải xin gặp Lãnh tụ để “giải thích” không xong nên ngày 17 tháng 2 năm 1919 Lenin mới có lệnh đặc biệt tạm bãi bỏ quyền xét xử bên lề Toà án của Cheka. 
Như vậy phải hiểu là Toà Cách mạng đã được bật đèn xanh, với điều kiện giới hạn. Tai hại là sau khi Toà tái nhóm có mật báo viên ngày nào và bây giờ là nhân viên Cheka đã phun bậy nhiều quá. Uspenskaya đã lồng lộn tố cáo giới thẩm quyền Cơ quan, kể cả đồng chí Phó Tổng Giám đốc Peters mà người đẹp đã mượn tên để hù ra tiền và từng nhiều lần ngồi vắt vẻo trên buya-rô trước mặt nhân viên dưới quyền! Lại còn tố cáo quá khứ Peters hồi ở Riga. 
Mới có 8 tháng trời làm cho Cheka mà người đẹp đã nguy hiểm vậy! Đó là lý do Chưởng lý Krylenko lên tiếng trừ khử giùm một tai hoạ cho Cơ quan: 
“Cho đến ngày chế độ ta vững mạnh, thì để bảo vệ cách mạng thiết tưởng không bản án nào thích hợp với nữ công dân Uspenskaya cho bằng bản án tối đa. Một bản án 10, 25 năm chắc chắn không đem lại kết quả nào hết. Một người như thế giam giữ không được!” 
Đúng, Uspenskaya không phải là người giam giữ được. Một người biết quá nhiều nên quá nguy hiểm. Một người dám nói bừa. 
Một người như vậy không để sống được. Phải thủ tiêu luôn cùng một lúc với bản án xử bắn Kosyrev. Phải hy sinh một ông Thanh tra để cứu gỡ những ông Thanh tra khác, cả thể diện Cơ quan chứ. 
Sự thật bề trong của bản án như thế nào sau này chỉ có thể tìm trong Tổng văn khố Lubyanka. Nhưng cả núi tài liệu, hồ sơ đã ra tro trong lò lửa từ lâu. 
Vụ án các hàng giáo phẩm Mạc Tư Khoa 
Theo Chưởng lý Krylenko, đây là một vụ án sẽ ghi lại trong lịch sử án lệ Cách mạng Sô Viết. Nếu vụ Thanh tra đoàn Cheka tham nhũng chỉ cần 1 ngày để xin cái đầu Kosyrev thì vụ án tôn giáo kéo dài từ 11-1 đến 16-1 năm 1920 trước Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa. 
Bị cáo chính là 4 cấp lãnh đạo Giáo hội: 
• A.D. Samarin, chức sắc cao cấp của Giáo hội Nga, từng chống lại giáo gian Rasputin, cứu Giáo hội khỏi ách thống thuộc của Nga hoàng, nguyên Chánh đại diện Đại hội Tôn giáo toàn quốc 
• Kuznetsov, học giả, Giáo sư Giáo luật Trường Đại học Mạc Tư Khoa 
• Uspensky và Tsvetkov, hai vị Giám mục địa phận Mạc Tư Khoa (Giám mục Tsvetkov được Krylenko công nhận là một nhà đại hiền, chức sắc Công giáo thuần túy nhất trong hàng giáo phẩm Nga) 
Tội danh thứ nhất của các bị cáo là thành lập “Hội đồng liên giáo khu” nhằm kết hợp một số giáo dân từ 40 đến 80 tuổi tình nguyện chia phiên nhau thường xuyên canh chừng (không võ trang) tư dinh Giáo chủ Tikhon để phòng trường hợp những người bị nhà nước làm khó dễ. Nếu có động họ sẽ giật chuông nhà thờ cấp báo hay điện thoại tập hợp một số đông giáo đồ để cùng đi theo Giáo chủ và sẽ thỉnh cầu Hội đồng nhân dân Trung ương can thiệp, không cho bắt giữ Người. 
Quan điểm công tố viện là Giáo chủ Tikhon có bị đe doạ gì đâu mà phải đề phòng sẵn để tập họp giáo chúng bảo vệ? Công tố viện không cần biết ngoài những vụ xử án bên lề Toà án của Cheka từ 2 năm nay, mới đây Đức Tổng Giám mục địa phận Kiev bị 4 Hồng quân hạ sát và “hồ sơ giáo chủ Tikhon” đã hoàn tất chỉ chờ ngày đưa ra Toà Cách mạng vì không thể để kẻ thù của quần chúng Công nông ung dung tự do mãi. Hai năm liền Giáo chủ gởi nhiều thông điệp cho Hội đồng Nhân dân, cho các hàng giáo phẩm và giáo dân, vạch rõ sự khủng bố, tàn sát người vô tội và hiểm hoạ đất nước lâm nguy. Thông điệp của người không nhà in nào dám đánh máy từng tờ gửi đi). 
Tội danh thứ hai là Hội đồng Liên giáo khu đã phổ biến lời kêu gọi giáo dân chống lại sự kiểm soát, xung công tài sản Giáo hội sử dụng chuông nhà thờ để cấp báo. Sau khi đóng cửa các tu viện, truất hữu tài sản (kể cả những đồ thờ tự chứ không phải ruộng đất, nhà cửa mà thôi) đến lượt giáo đường toàn quốc phải kê khai tài sản để nhà nước kiểm soát. 
Tội danh thứ ba là họ đã liên tiếp gởi nhiều thỉnh nguyện thư đến Hội đồng Nhân dân Trung ương yêu cầu can thiệp để chấm dứt nạn chính quyền địa phương miệt thị, vu cáo các cấp giáo quyền xúc phạm giáo đường, công nhiên xâm phạm tự do tín ngưỡng. (Theo hồi ký của Bronch Bruyevich, quản trị viên Hội đồng Nhân dân Trung ương thì Hội đồng đã gạt bỏ tất cả thỉnh nguyện thư, miễn cứu xét.) 
Với ba tội danh lớn như vậy thì cố nhiên ông Chưởng lý Krylenko phải xin mấy cái đầu, ít nhất toà Cách mạng cũng phải xử bắn Samarin và Kuznetsov để triệt hạ bằng hết mầm mống phá hoại, nhân danh nhu cầu cách mạng. Krylenko nhấn mạnh: “Đồng ý là đồng chí Dzerdzinsky đã áp dụng sắc lệnh, thông tư cho các cấp Cheka hủy bỏ án tử hình – một vinh hạnh của chế độ ta – nhưng không phải bản án tối đa đã được quyết định hủy bỏ vĩnh viễn. Còn Toà án Cách mạng, còn thẩm quyền của Hội đồng Nhân dân Trung ương. Bản án tử hình vẫn còn duy trì ở đây!”. 
Quả nhiên án tử hình được duy trì thật, để triệt hạ bằng hết mầm mống phá hoại! Gậy ông lại đập lưng ông – nên bản thân ông Chưởng lý cũng sắp có một “bản án tối đa” cùng với một số dấu chỉ. Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa đã kéo dài năm ngày để nghe các bị cáo chối tội và luật sư biện hộ trổ tài hùng biện. Kết quả Chưởng lý đã xin hai cái dầu “phản động và cần thanh trừng”, Samarin Kuznetsov thì Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa cũng thể theo… nhưng thòng thêm một ân xá: cho họ đi đày cho đến khi Cách mạng toàn thắng đế quốc. Giờ đây Cách mạng thế giới chưa hoàn thành mục tiêu thì hai người nếu sống sót hẳn còn nằm trong một trại cải tạo nào đó! Riêng Giám mục Tsvetkov, “vị đại hiền, chức sắc Công giáo thuần túy nhất trong hàng giáo phẩm Nga” thì lãnh án 15 năm, cho hưởng ân huệ còn 5 năm. 
Cũng lồng trong một vụ án “các hàng giáo phẩm Mạc Tư Khoa” còn một số bị can được kể như những vai trò phụ, tiện việc mang ra xử luôn cho rồi. Vụ tu viện Zvengiorod xảy ra từ mùa hè 1918, tính ra các bị can đã bị giam cứu chờ xử trên 18 tháng chớ đâu có ít? 
Nguyên một hôm các viên chức địa phương đột nhập Tu viện Zvengiorod, cho đòi Cha Bề trên Ion. Ông này nổi danh trong Giáo hội Nga, nguyên là Firguf, sĩ quan Kỵ binh trong đội Ngự lâm quân Nga hoàng được ơn trên kêu gọi nên bỏ địa vị, phân phát hết của cải cho dân nghèo rồi xin vô nhà tu kín. Họ bảo: “Mời quá bộ ra đây có chút việc” và yêu cầu ông Cha Bề trên giao nạp cho họ bộ hài cốt của Thánh tử đạo Savva. Mấy người nhà nước vô giáo đường vẫn phì phèo hút thuốc, ngay cả trước bàn thờ Chúa. Dĩ nhiên họ vẫn đội nón và một ông còn nhấc xương sọ của ông thánh lên, thử nhổ bãi nước bọt để coi Thánh có làm gì nổi. Họ còn xúc phạm nhiều nữa khiến các tu sĩ phải kéo chuông báo động. Giáo dân đổ xô tới và sau một chầu xung sát có 1 hay 2 ông thiệt mạng. 
Trước Toà Cách mạng, các viên chức nhà nước không nhìn nhận có hành động xúc phạm tôn giáo. Họ khai như vậy và Công tố viện chấp nhận, chớ họ đâu phải ra toà? Chỉ có mấy ông tu sĩ bị áp giải. 
Thông thường hồi đó Toà trung ương xử thế nào thì các Toà địa phương chỉ việc đúng tiêu chuẩn trung ương mà tuyên án cho thống nhất lề lối làm việc. Kể như một bản án mẫu. Sau “vụ án các hàng giáo phẩm” của Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa thì các toà án tỉnh bắt đầu xử dồn dập như sóng trào, đúng danh từ của Chưởng lý Krylenko. Không địa phương nào không có một vụ án tôn giáo để “triệt hạ bằng hết phản động”, nghĩa là tu sĩ, linh mục, con chiên hàng loạt bị đưa ra toà. Trước vụ tu viện Zvengiorod bị xâm nhập, Đức Giáo chủ Tikhon từng nhiều lần phản kháng nhà nước cấm giảng đạo, bắt bớ tu sĩ hoàn toàn với tội danh mơ hồ “phản Cách mạng”. Chỉ có một thời gian công tác triệt hạ Giáo hội tạm lơi vì nhà nước còn lo lấy lòng tín đồ Chính thống giáo để rảnh tay thanh toán nội chiến. Dẹp xong Denikin và Kolchak là những phiên toà lại dồn dập như sóng trào. 
Ngọn sóng cao nhất có lẽ là vụ lục soát Đại tu viện Ba Ngôi Thánh Sergius ở Radonezh năm 1920. Ngay hài cốt của Đức Thánh Sergius cũng bị nhà nước tịch thu để đưa về trưng bày ở Bảo tàng viện Mạc Tư Khoa. Đây là đòn nặng cuối cùng của nhà nước giáng lên bộ phận đầu não tượng trưng của Giáo hội Nga, dù Bộ Tư pháp đã có thông tư từ ngày 25-8-1920 về việc thanh toán, triệt hạ bằng hết di tích cũ, những chướng ngại vật cản đường tiến tới một xã hội mới cao đẹp. Xưa nay, Đại tu viện St. Sergius vẫn là di tích gợi nhớ công cuộc dựng nước hào hùng của nhà Đại ái quốc Sergius, vẫn được toàn dân ngưỡng mộ, thờ kính. Theo Klyuchevsky thì cửa lớn tu viện chỉ có thể bị đóng, đèn thờ trên phần mộ của Sergius chỉ có thể tắt khi nước Nga mất hết sức mạnh tinh thần, đạo đức. Nào ngờ, chính Giáo chủ Tikhon đã thân hành xin yết kiến ông Chủ tịch Hội đồng Nhân dân để xin can thiệp đừng đụng chạm đến di tích lịch sử của Giáo hội và mớ xương tàn của Thánh Sergius nhưng vô hiệu, chỉ vì ông Chủ tịch Hội đồng Nhân dân bận công tác, chưa thể tiếp kiến ngay. 
Vụ án trí thức khuynh hữu phản động 
Tháng 8 năm 1920, một vụ án đặc biệt lại xảy ra trước Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa, lần này 28 người có mặt nhưng vắng mặt thì rất nhiều và Toà cũng phải xử từ ngày 16 đến ngày 20-8. Vụ án mệnh danh “Trí thức phản động”, một thành phần Cách mạng đã lưu ý từ lâu nay đã tới lúc phải thanh toán sau khi đã thanh toán xong tư bản, địa chủ. 
Ngay từ ngày 15-9-1919, trả lời thư của Maxim Gorky xin can thiệp cho một số trí thức bị bắt giữ, Chủ tịch Lenin đã thẳng thắn liệt họ vào hạng người bỏ đi, thay vì là tinh hoa của xã hội, một bọn cận thị phóng túng, thối nát phản lại quyền lợi Công Nông. Vì ông chủ tịch đã đánh giá trí thức không hơn một bọn vị kỷ, không xương sống, luôn luôn đi lùi lại sau thế hệ nên các nhà báo lập tức nhao nhao chĩa mũi dùi vào giai cấp trí thức. Ông Chưởng lý Krylenko dĩ nhiên còn đi mạnh hơn, vạch rõ Cách mạng là một dịp lớn để định lại giá trị xã hội và trí thức Nga đã chạy theo một số tướng lãnh phản động làm công cụ và đi ở mướn cho đế quốc Âu châu nên tự đánh mất giá trị, vùi sâu tên tuổi xuống đám bùn nhơ. 
Quan điểm của Krylenko là xã hội không cần phải khai tử từng phần tử một trong hàng ngũ trí thức nữa vì cả giai cấp đã bị vượt qua, không bắt kịp đà tiến của xã hội. Lần này sở dĩ xã hội phải đụng đến họ vì họ đã kết hợp thành một khối, ít nhất cũng có 28 người (như những khối đã bị triệt hạ là khối Menshevik, khối Trostky, khối Zinoviev, khối Bukharinc). Đã lập khối là hiển nhiên có tư tưởng phản bội hay chạy theo làm công cụ đế quốc, một tổ chức hữu khuynh. 
Nhóm 28 trí thức bị đưa ra Toà Cách mạng có phải một tổ chức không? Họ đâu có quy chế, đâu có chương trình hành động, đâu có thu tiền nguyệt liễm, niên liễm? Nhưng vẫn bị coi như tổ chức vì nhiều người hay tụ họp và cùng nhau trao đổi quan điểm, thế thôi! Tội danh của họ được trình trước toà: một bọn phản động chống chế độ mà bằng chứng cụ thể là hai bức thư của Myakotin và Fyodorov. Đồng ý là hai người này đã ra khỏi nước Nga, họ chỉ có thể tuyên xử căn cứ theo 2 bức thư đó, xét vì hồi trước Cách mạng họ cùng một nhóm, cùng sinh hoạt với Myakotin và Fyadorov. 
Điều nguy hiểm cho 28 người hiện diện là vì hai bức thư ấy đã được gởi cho tướng phiến loạn Denikin từ thời nội chiến để bài bác một số vấn đề căn bản, chẳng hạn như vấn đề nông dân, vấn đề Do Thái, vấn đề quốc tịch của các nước liên bang, vấn đề cơ cấu Chính quyền. 
Toà không xét nội dung những lá thư đó mà chỉ kết tội 28 trí thức hiện diện đã có liên hệ và liên lạc thư từ với Denikin, như vậy là rõ ràng là có tội rồi. Ngoài ra chính họ cũng có liên lạc thư từ với những người bạn ở Kiev (tuy vẫn ở trong nước Nga nhưng quân Cách mạng chưa chiếm được thì cũng kể như ở ngoại quốc). Đối với Toà Cách mạng, những lá thư đó là những tang chứng buộc tội phản bội. 
Ấy là chưa kể tới những bài báo, những tác phẩm họ đã sáng tác trong thời kỳ nội chiến. Dĩ nhiên chẳng phải những sáng tác căn cứ theo Lenin, Trotsky, Bukharin! Giáo sư Xã hội học Kotlyarevsky viết về cơ cấu tổ chức liên bang, Stempkovsky viết về vấn đề cải cách ruộng đất, Muralevich viết về tổ chức giáo dục tương lai ở Nga Sô. Nhà sinh vật học Koltsov còn bị lên án nặng hơn là đã cho mượn cơ sở để cả nhóm lấy chỗ hội họp. 
Nói chung, cả nhóm 28 người bị kết tội “dám tụ họp nhau lại, bàn bạc, thảo luận những cơ chế tổ chức chính quyền trong tương lai, trường hợp chế độ Xô Viết sụp đổ” thay vì ngồi một chỗ gậm khúc bánh mì. Ngồi một chỗ không hoạt động là đã có tội huống hồ có liên lạc với phản loạn Denikin? 
Đó là lý do sau khi nhóm họp, đình nghị án 5 ngày liên tiếp Công tố viện yêu cầu xử tử các chính phạm về tội phản loạn và Toà Cách mạng cũng đồng quan điểm, tuy nhiên sau này ân xá cho đi đày trại cải tạo cho đến dứt nội chiến. 
Cũng ngồi trên băng bị cáo còn có 3 nhân vật đặc biệt, không hề có hoạt động chính trị gì nhưng suýt bị treo trên cổ một bản án tử hình vì chỉ tham gia sinh hoạt chung với nhóm. 
Hoạt động xã hội thuần túy, tổ chức Hội Hồng thập tự để trợ giúp những phạm nhân chính trị như Khruscheva cũng lãnh đủ: tại sao dám đi quyên tiền, gởi phẩm vật vào khám Byturky giúp tù? 
Alexandra, cô con gái của đại văn hào Tolstoi trước toà khai không làm gì hơn là lo phụ trách cơm nước, tiếp khách cũng bị nằm trại cải tạo 3 năm trời. 
Nhân vật được ưu đãi nhất trong bọn là Savva Morozov, một Mạnh Thường Quân từng tán gia bại sản vì ủng hộ cách mạng Bolsêvich. Riêng với nhóm trí thức hữu khuynh, Morozov cũng có đóng góp ít tiền. Do đó cũng lãnh 3 năm đi đày, coi như một cảnh cáo nên được hưởng án treo. Tuy nhiên ông Mạnh Thường Quân lại là người chịu án nặng hơn cả: về đến nhà Morozov đã tự lấy lưỡi lam cắt đứt cuống họng để giã từ cuộc đời vĩnh viễn. 
Bản án 28 trí thức hữu khuynh có thể coi như chấm dứt ở đây.

——————————–

1Cheka hồi đó mới ra đời, chưa được “bén nhọn” nhưng là võ khí ruột của Cách mạng mà chính Trotsky cũng tuyên dương: “Khủng bố là một biện pháp mạnh của chính trị mà chỉ những thằng không tưởng mới phủ nhận”. Sau đó Zinoviev cũng ca ngợi hậu thuẫn của họ là GPU như một danh từ đặc biệt, cả thế giới phải biết đến”. Zinoviev đâu có ngờ sau này cũng bị hại vì “danh từ đặc biệt”.
2Nghề mật báo viên được ông Chưởng lý Krylenko bênh vực trước Toà như một nghề không có gì xấu xa tồi bại và nếu nhằm phục vụ Cách mạng thì còn là một cần thiết.
3Sự thật thì Krylenko chẳng phải cải chính! Nhờ tài dắt mối và có chút ít nhan sắc, cô mật báo viên đã được nâng đỡ vào làm nhân viên chính thức Cơ quan. Lại còn vô Đảng và làm thẩm vấn viên nữa!
4Cũng ông luật sư Yakulov này từng tố giác vụ ba ông thẩm vấn viên Toà Cách mạng Mạc Tư Khoa tham nhũng. Người tuyên bố làm cho bõ ghét vì hận thù lề lối làm việc vô sản của Toà án chế độ mới! Nhưng người tố ra vụ Thanh tra đoàn thì lập tức cũng bị Cheka vồ gấp: đang nằm khám Yakulov được lính hộ tống ra Toà Cách mạng để làm nhân chứng vụ Krylenko. Đã bị Cơ quan gài bắt bằng được để trả thù thì “con đỉa sống bám vào Toà” chắc khó lòng thoát khỏi xử bắn.

Chuyện Người Mỹ Không Biết Tiếng Mỹ

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Nguyễn Hoàn

Post by Sơn râu 9 May 2025

Ông Nguyễn Hoàn 59 tuổi, hiện cùng gia đình cư trú tại Seattle, tiểu bang Washington.

Gia đình tôi đứng xếp hàng một, người nọ nắm áo người kia, như kiểu “đi xuyên rừng sợ lạc”. Bà vợ tôi, đứng đầu của toán 3 người. Tôi bao chót, lâu lâu quay đầu trở sau, làm như phải kiểm soát cái gì. Thật ra, thì chả có gì vì phía sau tôi trống bóc.

Tụi tôi là những người chót, của dòng người, chờ để được vào, phía trong tòa nhà uy nghi và đồ sộ: Sở Di Trú Seattle. Chả là hôm nay, gia đình tôi được gọi lên “Thi nhập Mỹ Tịch” theo lối gọi của bà con.

Trấn ngay cửa vào là 2 ông an ninh, mặc đồng phục: áo màu đất thó, quần xanh lá cây sậm. Mỗi ông, một khẩu súng sệ sệ bên hông. Ông nào cũng to lớn dềnh dàng. Một ông để râu chữ O quanh mép. Một ông mặt mày trụi lơ. Ngoài khẩu súng lục, mỗi ông còn cầm thêm một cây gậy ngắn, tựa như cây dùi cui của mấy thầy cảnh sát, bên Việt Nam ngày xưa. Lâu lâu, lại thấy một ông, cầm gậy huơ huơ xung quanh người khách nào đó, chắc là để dò tìm vũ khí hay cái chi chi bất hợp pháp. Mặt ông nào ông nấy giống hệt nhau: “nghiêm và buồn”. Liếc nhìn mấy ông, tôi sực nhớ hồi còn bé, thỉnh thoảng ra chùa làng, thấy mấy pho tượng ông Thiện, ông Ác trấn trước lối vào mà sởn tóc gáy.

Trời tháng giêng xứ này, lạnh muốn nổ lỗ nhĩ lại thêm mưa, nên bà con đứng ngoài trời, tha hồ run lẩy bẩy dù rằng đã mặc 3,4 lần áo.

– Sáng ra kêu năm lần bảy lượt mà bố con không chịu dậy. Đi trễ quá, xếp hàng “chót bẹc” lạnh chết cha!

Bà xã nhà tôi nhỏ con mà lớn tiếng. Cự nự về việc tôi lười dậy sớm, kề rề cà rà nên mới xảy ra cớ sự này đây. Tôi làm bộ đả đớt:

– Rồi cũng tới phiên mình. Lo gì.

– Xí! Ông thì lúc nào cũng vậy. Trễ là do ông không!

Sự cằn nhằn của bà xã xét ra cũng có lý. Bả luôn luôn là người mau mắn. một người được bạn bè tặng cho mỹ từ “uy tín số 1.” Uy tín gì không biết, chứ bả hẹn ai, hay ai hẹn bả, thì bả luôn luôn đến trước giờ hẹn, tối thiểu 10 phút.

Chả thế, mà hồi tôi mới quen bả, lần đầu hẹn “nàng” đi chơi. Theo kinh nghiệm học được từ những bậc lão luyện về “Tâm lý bạn gái” truyền lại, tôi tính toán kỹ lưỡng rồi tà tà đến sau giờ hẹn 5 phút thì đã thấy “nàng” đứng “thù lù” chỗ hẹn hồi nào, mà mặt mày bí rị. Tôi vội vàng giục chiếc xe đạp lên lề đường chạy nà lại, rối rít xin tha lỗi.

Bản tính của tôi hay nhường nhịn, nên mỗi khi vợ con rầy rà, tôi chỉ việc để hồn bay đi…chỗ khác, mặc ai muốn nói gì thì nói. Mà kể cũng lạ, thấy tôi làm thinh, không trả lời, trả vốn gì, thì bả cũng êm không khi nào lằng nhằng tiếp.

Dòng người xếp hàng một, dài như một con trùng đất. Tôi chợt nhớ đến những con trùng dài lòng thòng ở Phú-Sơn 4 Thái Nguyên Bắc Việt Nam, có lắm con đo được gần thước! Lâu thiệt lâu, cái đầu nhích lên một chút rồi, cả…tháng sau mới thấy cái đuôi động đậy! Nói cho cùng, chuyện xếp hàng ở xứ này bình thường như trăm, ngàn sinh hoạt bình thường khác. Chẳng thấy ai “cùn len, cùn nỉ” gì cả. Vậy mà, lác đác có vài trự, chém vè ăn gian, lấn lên trước vài chỗ. Đâu thì cũng thế, tôi nghĩ vậy. Chả bù hồi năm 78, 79. Ở Việt Nam, mỗi lần đi lãnh quà khu Tân-Sơn-Nhứt hay Cô Giang. Dành chỗ từ 3,4 giờ sáng, đứng rạc cả chân, chờ dài cả cổ, để 1,2 giờ chiều mới lãnh được 1 gói quà, của thân nhân từ ngoại quốc gửi về. Có những người từ dưới tỉnh lên trễ, còn phải “mua chỗ”. Mỗi chỗ, tùy theo gần, xa cổng vào mà thỏa thuận giá cả. Thiệt hết chỗ nói.

– Gô!

Tôi giật mình đánh thót vì tiếng gọi oang oang ngay tai. Tiếp theo, là lời thông dịch, không ai khác hơn là bà xã nhà tôi.

– Đi lẹ lên, ông!

May mắn gia đình tôi vào hết. Tôi hít hà:

– May quá, nhà mình vào đủ chẳng lọt ai

– Còn ai đâu mà không lọt, ông này!

– Hề! hề!

Ông Mỹ an ninh đứng chống nạnh, chờn vờn như ông thần nước mặn, sì sồ sì xào một lúc, rồi đưa cánh tay như cái dùi chuông Đại Hồng của chùa Vĩnh Nghiêm, ra dấu cho tôi đi qua cái khung dựng khơi khơi ngay lối đi, sau khi đã lột bỏ đồng hồ, chìa khóa, bóp vào rổ, cho ông an ninh kia kiểm soát.

– È…È…È!

Cái máy đột nhiên phát ra tiếng kêu. Vậy là có chuyện ông an ninh cầm gậy chỉ tôi lùi lại phía sau khung kiểm soát, rồi làm dấu bảo tôi móc hết túi áo, túi quần xem có gì còn sót không”

Tôi lính quính soát lại tất cả các túi: không, sạch trơn. Không có gì. Ông Mỹ lại ra dấu cho tôi đi qua cái khung quái ác như lần trước:

– È…è…è…

Quái lạ. Cái đó là cái gì” Hai bàn tay tôi múa loạn lên, móc hết túi quần, túi áo. Ông an ninh bảo tôi cởi áo lạnh. Tôi cầm chiếc áo dơ cao, thì cũng là lúc, ông ta thò tay vào cái túi nhỏ. Cái túi bé xíu, nằm trong túi quần “jean” của tôi, để móc ra 1 cái muỗng xinh xinh bằng ngón tay, đưa trả lại tôi và ra dấu cho vào. Tôi đỏ mặt trong khi bà xã tôi nhăn nhó:

– Mang cái muỗng đi làm chi vậy”

– Hôm qua đi “good will”, thấy cái muỗng xinh xinh mua về múc tương ớt. Lu bu nên quên mang đi luôn.

Bà xã tôi toan mở “vô lim” thì con Loan, con gái tôi cắt ngang:

– Thôi mẹ. Mẹ thông cảm cho bố đi, lúc con “chưa có” thì mẹ cự mấy, con cũng không dám cản. Bây giờ bố già rồi, lâu lâu lẩm cẩm một chút mà mẹ.

Bà vợ tôi nguýt con gái một cái thật dài:

– Thì mày đã có đâu, mà nói là không cản.

Tiếng ông an ninh vang lên như gió mùa Đông Bắc, cắt ngang cuộc đấu khẩu. Tôi nghe cái gì như “sích..sich”

Bà xã tôi nhanh nhẩu:

– Mình vào phòng số 6. Phòng số 6 ở đâu hả ông”

Cha mẹ ơi, tôi đã đến đây lần nào đâu, nhưng cũng mau mắn cốt làm vừa lòng “bu nó”.

– Nó ở kế phòng số 5.

– Thế phòng số 5 ở đâu”

Tôi bị cà lăm.

– Ờ…ờ …để đi kiếm coi. Chắc nó đâu trong này thôi.

– Chứ không lẽ nó ở ngoài đường.

Nói là nói thế, chứ tụi tôi cứ theo người đi trước, dần dà rồi cũng gặp. Đó là căn phòng lớn người ngồi chật ních, đủ mọi sắc dân Âu, Á, đen, trắng, nhờ nhờ. Già, trẻ, trai, gái lớn bé. Kẻ cao, người thấp nhấp nhô, lố nhố xì xào như chợ bán đồ lậu.

Tôi đương dáo dác kiếm chỗ ngồi, thì nghe tiếng gọi giật giọng:

– Ê. Bốp. Lại đây nè.

Tôi không phải tên Bốp nhưng cũng toét miệng cười:

– Chà đến sớm thế. Còn chỗ không”

– Còn thì mới gọi chớ. Vớ vẩn! Trông ông mãi. Bộ ngủ trễ hả”

– Xuỵt! Đừng có la. Bả mới cự nự nãy giờ cha nội. Đêm qua làm “gây síp” dậy không nổi.

– Hèn chi. Vậy còn cự nự cái gì” Bộ không thuộc hả”

– Còn hơn kéo cưa chứ không thuộc.

Tôi quay sang bà vợ:

– Em này. Anh Tư dành chỗ cho mình…

Nhưng vợ tôi và con gái tôi còn nhanh hơn nữa. Họ đang xúm vào rù rì với vợ của Tư.

Tôi hỏi Tư:

– “Nó” hẹn ông mấy giờ”

– 11 giờ. Giờ mới hơn 7 giờ, sớm chán. Còn ông”

Tôi đáp:

– Sau ông nửa tiếng. Có ai “vào”chưa”

– Lai rai. Người Việt mình coi bộ ít quá. Không thấy ai quen để mà hỏi thăm. Ông chuẩn bị xong chưa”

Trong bụng tôi nóng ran như lửa đốt song vẫn làm ra vẻ bình tĩnh:

– Có gì đâu mà phải chuẩn bị. Tới đâu thì tới. Lo cũng vậy thôi.

Tư gật gật:

– Lo thì lo trước chứ đâu đến đây mà lo cái nỗi gì!

Tôi thăm dò:

– Có nghe “nó” hay hỏi cái gì không”

Tư tặc lưỡi ra mòi thông thạo:

– Đại khái “ai là Tổng Thống đầu tiên” Có bao nhiêu Tiểu Bang. Cờ có bao nhiêu sao, bao nhiêu vạch. Sao tượng trương cho cái gì, vạch tượng trưng cho cái gì vân vân và vân vân”.

Nghe Tư làm một hồi, tôi phục lăn:

– Chà! rành dữ! ông có mang mấy câu “Tư” đi không”

Tư cự nự:

– Giờ mà còn học cái gì”

Tôi cười cười:

– Tranh thủ trong khi chờ đợi. Được chứ nào hay chữ nấy, có còn hơn không…có còn hơn không.

Tôi nhại theo 1 bài hát Tư cũng bật cười, lục trong túi sách, đưa cho tôi xấp giấy:

– Đây “ông cố”. Đừng có lo. Họ hỏi theo nghề. Thế nào cũng “bát”

Tôi chụp liền:

– Hỏi theo nghề là sao”

Tư nghiêm ngặt trịnh trọng:

– Hỏi theo nghề là, nếu ông làm Bác Sĩ, luật sư hỏi khéo, hơi nhiều. Nếu ông đi rửa chén, rửa cầu tiêu, thì nó hỏi dễ và hỏi ít. Cỡ mình 10 phút là xong. Họ cũng biết mình tiếng Anh tiếng “em” tào lao nên, cũng hỏi tào lao luôn.

Tôi bắt chước giọng nói trong phim Hồng Kông chuyển âm:

– Có chuyện đó sao”

Tư bồi thêm:

– May rủi là ông gặp Tây thiệt hay Tây “giả cầy” nữa.

– Ờ há! Giả cầy thì chỉ có nước “xào lăn”!

Bây giờ đã hơn 8 giờ. Trong phòng đợi, tiếng nói chuyện nho nhỏ rì rầm. Thỉnh thoảng, lại thấy một ông, một bà cầm giấy đi ngang gọi tên. Phỏng vấn viên không hoàn toàn là Mỹ. Có người da nâu, tóc đen râu rậm chắc thuộc xứ Mỹ La Tinh. Có người để râu mép, mũi cao giống Sadam Husein chắc thuộc gốc Ả Rập và có cả 1,2 người Á Châu Triều tiên hay Trung hoa vì sở này nghe nói không có Việt Nam hay Nhật Bổn.

Người Việt Nam khi nào phỏng vấn sợ nhất gặp phải ông Mỹ gốc Hàn. Ông này rất khắc nghiệt với người Việt Nam nếu không nói là ác cảm. Vô phúc tiểu hồng đức người Việt Nam nào gặp ổng thì không rắc rối này cũng trở ngại khác xảy ra. Ông nổi tiếng là đã để mộc hồ sợ đóng băng gần 8 tháng mới cho tuyên thệ. Cứ tưởng tượng đến lúc phải đối diện với ông Triều Tiên mà tôi run. Tuy có sẵn “tư” trong tay, nhưng chữ nghĩa lúc này sao mờ mịt quá. Nó y như là những trái “ping-pông” nẩy ra còn xa hơn lúc đập vào”. Tôi vốn là người tối dạ, không “khứng” với văn chương sách vở cho lắm.

Bốn, năm chục năm trước, tôi cũng được đi học đi hành như ai, nhưng văn bài là một cực hình đối với tôi. Trong lúc các bạn chăm chỉ nghe bài và làm bài, thì tôi đọc tiểu thuyết trinh thám, võ hiệp, tôi khoái chuyện “Bàn tay máu” của Phi Long. Các môn Toán, Lý, Hóa và sinh ngữ là những liều thuốc đắng nghét nuốt không vô. Thế nên, người ta đi thi 1,2 lần là đậu. Tôi thi cả chục lần mà vẫn “xôi hỏng, bỏng không”.

Những ngày trước khi đi Mỹ, bạn bè đua nhau đi học Anh Văn. Tôi cũng theo trào lưu, cắp sách đi học nhưng rồi, đâu cũng vào đó “chữ thầy lại trả cho thầy, bút trả hàng xén giấy nay phết điều”. Và tiếng Anh giờ này, tôi mù tịt.

Dường như, trời đất cũng không nỡ tuyệt người nào vì thế mới có câu “Trời sinh voi thì sinh cỏ”. Tôi may mắn có được bà vợ- Chắc kiếp trước bả nợ tôi cái gì đó, nên kiếp này kiếm tôi để trả. Tôi tin thế. Mọi chuyện giấy tờ “đi, đứng” từ lúc còn ở quê nhà cho đến khi qua đây một tay “bả” lo ráo! Tôi chỉ vác cái “mạng mộc” cho có vị thôi. Cũng vì vậy, đôi lúc bả có “lên” một chút thì tôi cũng không lấy gì làm khó chịu cho lắm.

– “Nàm” cái gì mà mặt cứ “đực” ra vậy “Bốp” Tư chọc.

– Ậy! Ậy! đặt tên là phải mất nồi chè, nghe bạn

– Thì người ta tặng cho cái tên, trước khi vô “tét”, lấy hên mà

– Hổng biết có “bát” không đây chứ chả “Bốp” với “chát”

– Không “bát” thì “pheo”. 6 tháng nữa xào bài làm lại, lo “đếch” gì cho tổn thọ.

– Mất thì giờ, mất công, mất tiền nữa chứ bộ.

Tư trấn an:

– Cậu coi mấy cái mặt vừa “ra” kìa. Mặt nào, mặt nấy tươi rói. Chắc không đến nỗi nào. Mà mày, nói chuyện khác đi.

– Ừ. Chuyện gì bây giờ” Tôi ngớ ngẩn hỏi:

Tư chậm rãi:

– Lẹ thật. Mới ngày nào tôi với ông “lóng cóng” đứng làm “ai nai ti pho” ở phi trường “Si-tắc” thế mà đã 6 năm 8 tháng rồi. Mau thật mau.

Tự dưng máu hề hạ hoắc ở đâu chạy lạc vào tim. Tôi bắt chước Vũ Khanh, đâm hơi “Thời gian trôi đi mau quá. Tiếng Anh tôi chưa kịp đánh vần…Một đường binh mậu thầu mậu lúi…”

Đang luống cúi, chân mình bị ai đạp một cái:

– Này, già rồi chứ không phải lên năm, lên ba gì nghe ông, nó mà đuổi ra ngoài thì ê mặt cả lũ.

– Bà này! hay xen vào “công việc nội bộ” của người ta.

Tư khoái chí bưng miệng cười. Tôi nháy mắt bà xã nhà tôi và tiếp tục “Sự nghiệp còn dang dỡ”.

Dường như trong óc tôi, không có loại tế bào bút-mực nên mỗi khi đụng đến bài vỡ, là tôi bị phản ứng mạnh. Thôi cũng đành phó thác cho số mệnh “chuyện gì tới sẽ tới”. Tôi không muốn tự an ủi, nhưng cũng chẳng biết làm sao hơn.

Nhớ lại một lần, cách đây 4 năm, tôi đi California ăn cưới con của thằng bạn thân. Tôi nói thân, là vì tụi tôi chơi với nhau từ hồi còn học tiểu học, rồi Trung học. Đi lính cùng đơn vị, rồi đi tù cũng cùng một trại từ Bắc vô Nam. Chỉ đến khi đi Mỹ thì nó một nơi, tôi một ngả. Nó có 1 con trai duy nhất lấy vợ, nên nằn nì vợ chồng tôi dự đám cưới, nhân thể bạn bè có dịp gặp gỡ, tán dóc. Kẹt một cái, nhà tôi cũng chỉ có 3 người, Kéo nhau đi hết thì không được, vì con gái tôi đương học thi “phai-nô”. Để nó ở nhà một mình, lại càng không ổn, nên bà xã tôi quyết định, cho phép tôi đi một mình. Ngàn năm một thuở, vỗ cánh chim bay, tôi khấp khởi mừng thầm, nhưng ngoài mặt vẫn làm ra vẻ rầu rĩ. Tôi tả oán với vợ tôi, nào là “lên máy bay, Mỹ nói, anh không hiểu sợ lạc” nào là lúc mắc tiêu, mắc tiểu, ói mửa thì nói làm sao…”

Bà xã nhà tôi, tuy là đàn bà nhưng mạng hỏa, lại sinh vào đầu ông Hoàng Đế, nên tính tình cương quyết như một tướng lãnh:

– Anh không nhớ anh Thành kể chuyện, một bà già đi diện ODP, không biết một chữ tiếng Việt, thế mà vẫn phom phom một mình, lên máy bay từ Tân-Sơn-Nhứt, xuống phi trường San Francisco, đúng phóc, không sai một giờ!

Tôi gân cổ:

– Bà ấy là bà già.

Bà vợ tôi cũng không vừa.

– Thì bà già. Còn anh cũng là ông già chứ là cái gì” Anh cứ cầm cái vé ở tay. Gặp mấy “con” tiếp viên thì chìa ra. Không cần nói gì cả. Tức nhiên nó sẽ chỉ đường cho đi.

Tôi đành riu ríu theo vợ con ra phi trường “Si-Tắc” để đi California. Vì là mùa hè, khách đi lại nhiều,nên các hãng hàng không đều tăng thêm các chuyến bay. Có 2 máy bay cùng cất cánh một giờ, để đi về California. Một chiếc bay thẳng về miền Nam California đáp phi trường Ontario rồi đi Mexico. Chiếc thứ hai ghé Porland – rồi đi Los Angeles và đi đâu nữa, tôi không biết. Tôi mua vé đi chuyến sau vì thằng bạn tôi nó hiện ở “Lốt”.

Đúng lẽ cất cánh lúc 12:00 giờ trưa, không hiểu sao chuyến bay cứ bị hoãn lại. Đến gần 6 giờ chiều, chờ không được vợ tôi phải đi về, nhưng không quên dặn:

– Ghế của anh là “Tu-i” tiếng Việt là 2 e. Cầm vé ở tay. Có gì người ta chỉ cho Vợ chồng anh Năm đương ở phi trường đón anh. thôi em về. Chiều mai em ra đón anh.

Tôi mạnh dạn:

– OK em về nhà trông nhà. Chiều mai mẹ con ra đón anh

Vợ tôi về được mộc đỗi, thì tôi nghe trên loa phóng thanh tiếng môt cô gái Mỹ như chim hót mùa Xuân thao thao tràng giang đại hải, rồi thì mọi người đứng lên, chia làm 2 dãy, xếp hàng, đi vào 2 cửa. Tôi phân vân không biết cửa nào đi “lốt” bạo dạn lủi mộc ông Mỹ ngồi bên:

– Sơ! California”

Ông Mỹ gật đầu. Tôi muốn chắc cú, hỏi thêm:

– Sơ! Lốt ăng lết” Vừa nói, tôi vừa lấy ngón tay chỉ vào chữ Los Angeles in trên vé. (Sở dĩ tôi phải làm thế là vì tôi phát âm không được). Rồi chỉ vào ông ta. Ông Mỹ nhìn ngón tay tôi chỉ lại gật gật:

– Yes! Yes!

Vậy là được, tôi nghĩ, mình theo ổng là chắc ăn như bắp. Vì tôi vừa hỏi, có phải ổng cũng đi “lốt” hay không” Tôi hiên ngang sách vali lên tàu. Cô tiếp viên thấy tôi ung dung cầm vé trên tay ngon lành lại là người ngoại quốc nên rất lịch sự nhoẻn một nụ cười dơ tay vào trong.

Tôi cũng lịch sự cười đáp lại, đi tiếp vào trong thâu tàu.

– Where do you go, Sir”

Một cô tiếp viên khác đến gần tôi. Tôi bắt được chữ “Go” nên đáp không cần suy nghĩ:

– “Tu-i”

Và thế là tôi yên vị. Nai nịt xong xuôi. Rồi phi cơ nổ máy. Thân tàu rung chuyển và con tàu rời mặt đất…

Tôi nhắm mắt lơ mơ, nghĩ đến cuộc gặp gỡ thằng bạn thân, sau nhiều năm xa cách. Hồn đang bay bổng theo chiếc phản lực cơ, thì một bàn tay đập nhẹ vào vai tôi. Cô tiếp viên mở to cặp mắt xanh như màu mây trời nhìn tôi.

– Do you speak English”

Tôi bắt được chữ “English” nên lắc đầu:

– Can you speak Chinese, Japanese, Vietnamese”

Tôi mau mắn:

– Vietnamese.

– Ticket! Cô gái vừa nói, vừa lấy tay làm dấu. Tôi đoán rất nhanh, nên móc túi đưa vé cho cô ta. Cô Mỹ liếc nhanh tấm vé nhìn tôi 1 lần nữa, rồi lúc lắc cái mông vừa gọn vừa tròn quay đi. Một khoảnh khắc cô đi trở lại, dẫn theo một thanh niên Á-Châu:

– Chú Việt Nam hả”

– Vâng, tôi Việt Nam.

Anh chàng nhăn mặt:

– Chú đi lộn tàu rồi!

Tôi nhảy nhổm:

– Chết cha! Rồi làm sao”

– Chú đi “lốt” đúng ra phải đi cửa A. Chú đi lộn sang cửa B tức là đi Ontario. Phi cơ này không ghé “lốt”.

Sao lúc lên tàu, chú không hỏi rõ. Lỡ rồi. Lát nữa xuống phi trường Ontario, chú phải chờ 6 tiếng mới có 1 chuyến đưa chú về “lốt”!!

Tai hại bạc triệu chứ không ít. Từ đó, tôi cạch không bao giờ dám đi một mình. Hôm nay, chuyến đi này mới thật gay go. Tôi ước gì, mình có được phép lạ học đâu nhớ đấy…Trong thoáng chốc tôi nói tiếng Anh văn chương hơn cả tiếng mẹ đẻ. Với bản lĩnh và kiến thức sâu rộng, tôi bước vào phòng phỏng vấn bình thản như đi “shopping”. Phỏng vấn viên của tôi là một kiều nữ Mỹ tóc vàng như tơ nõn. Đôi mắt xanh màu ngọc bích với hai hàng mi cong vút chân mày:

– Good morning, Sir, how are you today”

– Good morning, Miss! I am great and how about you”

– Excuse me sir, Excuse me Sir, do you hear me”

Tôi giật mình trở về thực tại. Một cái mông như loại mông của đô vật “Sumô” lù lù đưa ngay trước mặt. Người đàn bà thuộc sắc dân nào không rõ, được gọi lên, đã hối hả, băng qua tôi lách ra ngoài. Cái khối thịt, không có tí ti thẩm mỹ nào, đã đè bẹp tất cả hình ảnh xinh đẹp của tôi, vừa có trong mơ. Tôi còn đang sững sờ thì vợ tôi và con gái tôi hớn hở từ 2 phòng phỏng vấn khác nhau bước ra:

– Anh ơi, em “bát” rồi. Chiều nay 3 giờ tuyên thệ.

– Con cũng thế. Bố chưa được kêu à”

– Chúc mừng mẹ con mày. Bố đương chờ đây.

Vợ tôi tíu tít:

– Cô Mỹ phỏng vấn em tử tế lắm…

Chưa dứt lời thì tôi nghe tên được gọi. Tôi lật đật đứng dậy theo ông Mỹ vào phòng.

– Good morning, how are you doing”

Tôi lóng cóng đáp lại:

– Good morning. I am fine.

Ông Mỹ có mái tóc bạc. Cái kính trắng gọng vàng chảy dài xuống sống mũi. Ổng nhìn tôi:

– Mời ông ngồi, Sao, ông có khỏe không”

Ông ta nói tiếng Việt. Tôi hết sức ngạc nhiên đáp:

– Dạ, cám ơn ông, tôi khỏe. Còn ông”

– Tôi ấy à” Tôi bận lắm. Ông đến Mỹ lâu chưa” À xin lỗi, tôi quên. Ông ở Mỹ gần 7 năm. Ông thấy đời sống ở đây thế nào”

Tôi như trên trời rơi xuống:

– Dạ, tuyệt vời. Tuyệt vời như giọng nói tiếng Việt của ông vậy.

– Ông quá khen. Tôi đang học thêm tiếng Việt và tiếng Tàu vì tôi nghĩ 2 thứ tiếng đó gần gũi nhau. Chắc ông có đọc lịch sử và địa lý Mỹ”

– Thưa có, nhưng không nhớ được nhiều.

– Thế là tốt, miễn là có đọc. Ông nói lên vài điều ông biết về một quốc gia mà ông sẽ là một trong những công dân của nước đó.

Có phải vì tôi không dám làm những việc dữ” Có phải vì tôi thường hay không cầu nguyện Trời Phật phù hộ. Hay cũng có phải vì “Trời sinh voi thì sinh cỏ” cho nên, những kẻ kém thông minh như tôi may mắn được hưởng một chút “thái bình””

Rồi như diễn tiến của sự việc, tôi đã gặp phỏng vấn viên là một người Mỹ từng sống ở Việt Nam nhiều năm, nói tiếng Việt rất sõi – sõi như Delena khi hát nhạc Việt Nam- phỏng vấn trong lần thi nhập Mỹ tịch và thế là tôi cũng “bát”.

Từ bấy giờ, tôi nghiễm nhiên trở thành công dân Mỹ. Công dân Mỹ trên hình thức giấy tờ hộ tịch nhưng khuôn dáng vẫn thuần túy là một người Việt Nam mũi tẹt, da vàng và đặc biệt không biết nói tiếng Mỹ dù mang Mỹ tịch: Robert Nguyễn.

Seattle tháng sáu, hai ngàn

NGUYỄN HOÀN

Chuyện Giấy Tờ Đi Mỹ

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Tôn Thất Bình

Post by Sơn râu 9 May 2025

Ông Bình sinh năm 1930, hiện cư trú tại Honolulu, HI.

Vợ tôi bén nhạy và chịu khó săn tin. Một hôm bà nói: em nghe phong phanh sẽ có diện con lai được đi Mỹ. Chúng tôi bàn nhau, nếu Mỹ đã không bỏ những đứa con rơi lai Mỹ thì họ cũng không bỏ những người làm việc cho họ và đồng minh của họ. Thế nào rồi cũng có diện “nhân viên sở Mỹ” và diện “quân cán chính VNCH”. Mộng đẹp lại vương vấn trong trí óc tôi.

Một thời gian sau, quả thật có diện con lai. Nghe đâu phái đoàn Mỹ phỏng vấn trong phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi bàn phải trực tiếp gặp người Mỹ và trao tận tay lý lịch của mình mới chắc ăn.

Tôi điều nghiên cách xâm nhập Tân Sơn Nhất. Không có giấy tờ thật khó lọt vào được. Cuối cùng, cũng kiếm được kẽ hở. Đó là trạm gác cổng vào phi trường ở Hạnh Thông Tây. Người làm việc trong phi trường sáng sớm vào cổng này. Hai anh lính ngồi trên ụ gác đấu láo chứ không soát giấy tờ. Tốt quá! Tôi viết tóm lược lý lịch của hai vợ chồng vào tấm giấy nhỏ bằng hai ngón tay để chuẩn bị ngày mai trao cho người Mỹ.

Sáng hôm sau tôi đã lọt vào được Tân Sơn Nhất nhưng không biết phải đi đường nào và nơi phỏng vấn ở đâu. Hỏi ai đây” Hỏi sai người có khi họa vào thân. Vừa đạp xe, vừa quan sát. Xa xa thấy chỗ nào có bóng người là tôi đạp xe tới. Tình cờ gặp một thanh niên mặt lai Mỹ thấy rõ. Mừng quá, tôi hỏi anh ta chỗ phỏng vấn ở đâu. Anh ta nói: “Cháu cũng đi đây. Bác theo cháu.” Hóa ra chỗ phỏng vấn là phi cảng.

Tôi vào phòng kiếm chỗ ngồi ở mép đường đi lên xuống. Khi phái đoàn Mỹ ra về ngang chỗ tôi, lập tức tôi đưa tay ra dúi mảnh giấy vào lòng bàn tay ông Mỹ. Một số người cũng có ý định như tôi nhưng chưa dám hành động, nay thấy vậy vội đưa bao thư ra tới tấp. Lòng mừng hớn hở, tôi theo gót phái đoàn Mỹ xuống lầu ra về. Tai họa bất ngờ xẩy đến! Một tên công an thình lình xông đến giựt xấp bì thư nơi tay ông Mỹ. Tôi điếng người! Không hiểu tấm giấy nhỏ xíu của mình có lọt vào tay tên công an không.

Về nhà kể cho vợ nghe, cả đêm không sao ngủ được. Cứ chổng tai lắng nghe, chờ công an kêu cửa…

Mấy ngày liền trôi qua bình yên, tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi nghĩ rằng có thể giấy ấy còn lại trên tay ông Mỹ hay rơi dưới sân, nhưng quá nhỏ không ai để ý. Dù sao, vẫn phải làm lại từ đầu. Tôi ngồi viết lại một tờ giấy khác. Lần này vào TSN thành thạo nhưng không vào phòng đợi phỏng vấn được. Phải trình giấy mời mới được vào phòng.

Tôi kiên trì ngồi nơi bậc cấp đợi thời cơ. May quá có hai cô ở phòng hấp tấp đi ra và nhờ tên công an (CA) chỉ chỗ đặt điện thoại để liên lạc gì đó. Tên công an có thể đã được lì xì nên nhanh nhẹn đưa hai cô đi. Cơ hội may mắn đã đến, tôi lẻn vào phòng và tìm chỗ ngồi phía giữa để khỏi bị lộ dạng.

Đến trưa tên công an trực đi ăn cơm, tên thay thế chưa đến, tôi vội đi đến hàng lang trước các phòng phỏng vấn và tựa người vào cửa sổ. Xoay lưng lại, mặt nhìn ra phi đạo, tôi đợi thời cơ để gặp đại diện Mỹ.

Breaktime, một ông Mỹ ra khỏi phòng. Tôi vội đến trước mặt ông, lưng xoay về hướng tên CA ngồi đàng xa để che khuất hành động của tôi. Tôi dúi vào tay ông tờ lý lịch nói trên. Tôi tự giới thiệu sơ lược và hỏi ông là gia đình tôi có thể đi Mỹ được không. Ông nói: “sure”. Chữ “sure” vừa lọt vào tai tôi, tôi cảm thấy như mình vừa trúng số độc đắc.

Thấy mắt ông Mỹ nhìn hướng sau lưng tôi nên tôi nghi có chuyện chi đây. Ngay khi đó tên CA đến. Hắn trợn mắt nhìn tôi, hỏi: “Anh phỏng vấn xong chưa” Tôi trả lời xong. Hắn nói xong rồi thì về, sao còn đứng đây. Không đợi hắn nhắc lại, tôi đi liền để khỏi bị rắc rối.

Vậy là nhiệm vụ hoàn tất. Sau đó ít lâu vợ tôi dò hỏi và kiếm đâu ra được tên và địa chỉ của ông đại tá trưởng phòng nhân viên Pentagon. Chúng tôi viết thư kèm lý lịch và chuẩn bị gởi đi. Nhưng làm sao gởi đây” Ai đi bưu điện đóng dấu thư đây” Bị phát hiện là kể như ra đi mà không hẹn ngày về. Biết vậy, vẫn phải liều đi.

Đến bưu điện, tôi quan sát kỹ mặt mày mấy bà ngồi đóng dấu vào thư. Bà nào mặt xanh xao thì tôi tránh vì có thể là dân “dép râu” ở rừng về. Không cảnh giác là họa vào thân. Tôi chọn được một bà mập mạp, mặt mày phương phi, phấn son dễ coi. Tôi đưa xấp thư cho bà đóng dấu, trong đó có bức thư gởi cho Pentagon. Khi đóng dấu đến bức thư Pentagon, bà khựng lại và nhìn tôi. Tôi đứng chịu trận, im lặng. Bà ta do dự. Cuối cùng bà đóng dấu và trao xấp thư cho tôi. Tôi lấy lại bình tĩnh và bỏ xấp thư vào giỏ nhưng để riêng thư Pentagon một bên.

Để đánh lạc hướng công an chìm có thể ở trong đám đông, tôi đến thùng thư bỏ các thư vừa đóng dấu nhưng giữ lại bức thư gởi cho Pentagon. Bà xã tôi thật tài tình. Bà biết đường giây để chuyển thư kín đáo. Thư gởi cho Pentagon được bỏ vào ở khâu chót, nghĩa là bỏ thư vào lúc bao bố sắp được khâu lại để chuyển lên phi cơ. Do đó không sợ bị lộ. Thế là hoàn tất công tác một cách xuất sắc.

Tháng giêng năm 1984 chúng tôi nhận được giấy “LOI”. Người ta gọi tên như vậy nhưng tôi không hiểu LOI là viết tắc của các danh từ gì. Tờ giấy này của Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok cho phép gia đình chúng tôi được nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Mừng ơi là mừng! LOI ơi, mày là vị cứu tinh của chúng tao. Nhờ mày chúng tao sẽ thóat được gông cùm. Ôi tờ LOI nó thân thương làm sao!

Đó chỉ là giai đoạn đầu. Còn khâu giấy tờ xuất cảnh nữa.

Hồ sơ của chúng tôi nạp ở quận và chuyển lên thành phố để cấp xuất cảnh đã lâu nhưng chưa được sở xuất cảnh kêu làm thủ tục.

Một anh bạn mắng yêu: Sao mà ngơ thế! Phải có thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) mới xong việc. À ra thế. Chúng tôi đến gặp cán bộ sở Xuất cảnh để hỏi thăm về hồ sơ của chúng tôi đã đến đâu rồi. Miệng thì hỏi, tay thì chìa bao thuốc lá 555. Mấy tờ giấy bạc nằm dưới bao thuốc lá lòi ra. Cán bộ liếc mắt nhìn và vói tay cầm nhanh bỏ vào hộc bàn. Thế là được hẹn làm thủ tục xuất cảnh. Chỉ còn chờ phái đoàn Mỹ kêu phỏng vấn là xong.

Người ta kể bao câu chuyện bị đánh rớt khi đến phỏng vấn làm chúng tôi lo lắng. Trả lời không đúng. Rớt! Ăn mặc lôi thôi. Rớt! Nghe kể có bà nọ nhắc nhở các con rằng: Vào phỏng vấn chớ ồn ào. Thằng Mỹ đó khó tính lắm. Xui xẻo cho bà này là ông Mỹ biết tiếng Việt nên nói: “Bà là người thiếu lịch sự. Tại sao gọi tôi bằng thằng.” Rớt!

Cũng có chuyện kể chẳng hiểu đúng hay sai: Một tài tử màn ảnh đến phỏng vấn. Ông Mỹ bắt tay và nói: “Chào đại tá Nguyễn…”. Anh này giựt mình vì anh đóng vai một đại tá VC tên là Nguyễn trong một phim gián điệp tuyên truyền cho Cộng sản. Anh này vội thanh minh: “Thưa ông, đó là chuyện phim.” Ông Mỹ nói: “Anh đóng phim hay lắm. Thôi anh ở lại VN để tiếp tục đóng phim đi”.

Bởi thế khi ngồi đợi kêu tên để vào phỏng vấn, chúng tôi hơi lo. Nhìn nét mặt của người được phỏng vấn lúc ra về là biết kết quả ngay. Vừa đi ra,vừa cười toe toét thì OK là cái chắc. Đi ra mà mặt mày như đưa đám thì dù không phải là thầy bói cũng biết người đó bị Sao Quả Tạ đè rồi.

Khi được gọi vào phỏng vấn, chúng tôi hồi hộp. Thần kinh căng vì quyết định được đi hay không là lúc này. Vợ tôi mất bình tỉnh nên trả lời thiếu chính xác. Ông Mỹ nói: “Bà nói gia đình bà vào Saigon sau 30/4. Bà cũng nói gia đình di tản vào Saigon để lánh nạn VC nhưng lúc đó Saigon mất rồi thì lánh nạn VC ra làm sao”” Tôi thầm nghĩ, mình vất vả bấy lâu nay mới có được ngày hôm nay, thế mà bây giờ nó tan thành mây khói! Tôi nhớ đến một câu mà các cụ thường nói “Uổng công đan gỉo bỏ cà, gỉo thưa cà lọt công đà uổng công!” May thay tuy hỏi vặn vẹo nhưng ông Mỹ vẫn OK cho đi Mỹ vói ghi chú: vợ tôi phải khám nghiệm tâm thần trong đợt khám sức khoẻ để xuất cảnh. Thật hú vía!

Trong ngày khám sức khỏe, vợ tôi ngậm kẹo để có chất đường bổ dưỡng khỏe người. Bác sĩ phụ trách khâu tâm thần nạt vợ tôi và bảo phải khạc nhổ kẹo ra. Ông ta để hồ sơ của bà xuống cuối cùng. Có thể ông nghĩ là bà xã tôi thiếu lịch sự với ông chăng” Mãi sau đó một cô y tá đến xin hồ sơ của vợ tôi để đưa qua khâu khác khám. Bác sĩ vẫn còn bực bội và nói: không đi được năm nay thì sang năm đi. Sang năm không đi được thì sang năm nữa. Rồi bác sĩ cũng khám. Vợ tôi thì OK không bị tâm thần.

Sau đợt khám sức khỏe, chúng tôi vui mừng vì ngày vượt qua “cửa ải gìa Hồ” không còn xa nữa. Bạn bè đến thăm tấp nập. Họ nói, qua Mỹ sung sướng lắm. Mới đặt chân xuống phi trường là có người ra đón và trao cho chìa khóa căn nhà đầy đủ tiện nghi. Nghe chuyện họ tưởng tượng thấy như mình sắp được vào tiên cảnh.

Hôm trước ngày chúng tôi sẽ đáp phi cơ đi Bangkok, cháu gái của vợ tôi đến thăm và nói: “Chiều nay dì đi khám bệnh lần chót. Dì phải bồi dưỡng sức khỏe. Cháu biết ông bác sĩ quân y này hay lắm. Dì nên đến đó mà tiêm thuốc cho khỏe trong người.”

Không hiểu bác sĩ tiêm liều lượng ra thế nào mà vợ tôi bị shock! Về đến nhà, bà than mệt và nằm mê man. Giờ hẹn khám là hai giờ chiều mà giờ đó bà chưa ngồi dậy nổi. Bà nói: Thôi anh và các con đi khám kẻo kẹt ngày mai đi không được. Em ở lại không sao. Tôi nói: đi thì đi cả nhà, không có người đi kẻ ở lại.

Đến gần 4 giờ chiều, vợ tôi mới ngồi dậy được. Tôi nói: Cứ đi cầu may chớ biết sao bây giờ. Đến nơi hẹn chúng tôi bị mấy cô y tá trách là may mắn được đi mà không chịu lo để đến trễ. Bà bác sĩ Mỹ về rồi! Chúng tôi tiếc ngẩn ngơ và ngồi lì tại đó. Đầu óc trống rỗng, không có ý kiến.

Mãi sau, tình cờ một cô y tá đi ngang hỏi chúng tôi ngồi làm gì đây. Nghe trình bày sự việc, cô nói: “Anh chị thật là may mắn. Hôm nay bà bác sĩ Mỹ ở lại họp với mấy ông bác sĩ Việt gì đó, chưa thấy ra. Anh chị ngồi đợi bà Mỹ ra, tới năn nỉ với bà cầu may.”

Thật là ơn trên phù hộ. Chúng tôi vừa hồi hộp vừa vui mừng. Một đám người từ phòng đàng xa đi ra. Tôi nhận thấy có một bà Mỹ đi giữa. Chúng tôi đến trình bày sự việc. Mấy bác sĩ VN khó chịu và trách chúng tôi. Bà Mỹ nhìn chúng tôi và yêu cầu mấy bác sĩ VN vui lòng đưa dụng cụ để bà khám. Chúng tôi được đi trong đường tơ kẻ tóc. Thật là câu chuyện hy hữu. Không biết tên bà bác sĩ Mỹ là gì nhưng chúng tôi vẫn nhớ mãi con người phúc hậu ấy.

Ngày mai chúng tôi sẽ rời VN vĩnh viễn không hẹn ngày về. Thế nhưng lòng tôi không thấy bùi ngùi. Thông thường người VN rất gắn bó với quê cha đất tổ nên ít người ly hương xa nhà. Thế mới biết hành động gian ác của cộng sản VN đã làm tê liệt đi nỗi thương nhớ khi rời quê hương.

Ngày lên đường, chúng tôi nhắc nhở nhau phải thận trọng. Nhiều người thường kể câu chuyện sau đây: Một ông nọ được xuất cảnh sang Mỹ. Khi phi cơ cất cánh, ông này xổ nho chưởi VC cho hả uất ức bấy lâu. Cô chiêu đãi viên nghe được. Khi phi cơ đáp xuống Bangkok, ông nói trên bị giữ lại và bị đưa trở lại VN. Bởi vậy leo được lên phi cơ chưa chắc đã là thoát.

Sau cùng, gia đình chúng tôi đã qua được “cửa aỉ già Hồ” và được thở bầu không khí tự do.

TÔN THẤT BÌNH

Chàng Việt Kiều Trong Bệnh Viện Tâm Thần

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Khoa Lê

Post by Sơn râu 9 May 2025

Hình minh họa

Làm việc trên 10 năm trời trong nhà thương điên, thường gọi là bệnh viện tâm thần ở Hoa Kỳ (Mental Healthcare), tôi đã tiếp xúc với những bịnh nhân đồng hương thật đặc biệt, và cười ra nước mắt với những bịnh nhân này. Trong số những bịnh nhân đó có “hắn”.

Hắn được chuyển từ phòng ETS (Evaluation & Treatment Service) gọi là phòng chẩn đoán bệnh trạng- sang khu trị bệnh dãy số 1 (unit 1) từ giữa khuya ngày chủ nhật.

Sáng thứ hai vào nhà thương, tôi tiếp xúc với hắn, và được biết, hắn đang ngủ ngoài vỉa hè khu Little Saigon (homeless) bị cảnh sát bố ráp giữa đêm, hốt hết những ông bà ngủ vỉa hè, Việt có, Mỹ có, đủ các thành phần, màu da.

Mỗi ngày tôi gặp hắn. Hắn rất vui mừng gặp tôi, gặp được người đồng hương, nói lên được hết nỗi lòng của hắn.

Cha sinh mẹ đẻ hắn mới biết mùi cảnh sát đè xuống đất, chiếu đèn pin vào mặt, và còng gập tay ra phía sau. Hắn sợ hãi, hai hàm răng đánh lập cập vào nhau dù rằng đang là tiết mùa hè, trời nóng oi ả như cái nóng vùng núi Châu Đốc, nơi hắn sinh ra và lớn lên.

Xe cảnh sát áp giải hắn, hụ còi ầm ĩ, phóng vun vút, đưa vào trại giam ở Santa Ana. Suốt đêm đó, hắn không thể nào chợp mắt, hết nằm lại ngồi, lo sợ, suy tính, không biết sẽ ra sao” Chung quanh là song sắt, không thể nào vượt thoát!

Hắn nửa mê, nửa tỉnh, chìm vào giấc mộng tưởng ngày nào…

Cha mẹ hắn người Cambodia, không nhà, không cửa, quanh năm đi làm ruộng mướn cho người ta, ngủ ngoài chòi để canh ruộng rẫy. Rồi cha mẹ hắn theo đoàn người tha phương cầu thực đi tới đất người Kinh (người Việt) ở núi Châu Đốc.

Ở đấy, cha mẹ hắn theo chân những người Kinh nghèo, đi dọc lên núi, đập đá, gánh đất duới truồi lên, làm ruộng, làm rẫy… Cha mẹ hắn không tiền, không gạo, mà cũng đẻ ra một dây 10 đứa con. Hắn là đứa thứ ba trong sáu anh em còn sống sót. Có lẽ “trời sinh voi sinh cỏ” anh em hắn cũng lớn theo thời gian. Ngày ngày, chúng theo cha bơi lội ra biển và đánh cá bằng lao nhọn, hoặc theo mẹ đi mót lúa, trồng rẫy cho người ta. Cả làng nghèo chỉ biết gạo đong từng bữa, chẳng đứa nhỏ nào được đến lớp, đến trường.

Thế rồi, năm 1975. Cộng sản từ bắc vào nam, gia đình hắn, làng xã hắn chẳng khá gì hơn, còn nghèo xơ xác thêm, họ bị lùa đi vùng kinh tế mới khác, đất sỏi khô cằn cỗi… Cuối cùng, cha hắn quyết định bỏ đất, trộm gỗ rừng, đóng xuồng đi dọc theo biển núi Châu đốc, bắt tôm cá, tép sống qua ngày.

Sau vài năm, không chịu nổi thống khổ, tù đày của Cộng sản, cả nước, người người, nhà nhà tìm đường đi vượt biển. Dân thành phố đổ về miền Tây, đi theo đường biển ở Châu Đốc. Vận may đã đến với gia đình hắn! Ghe cha con hắn được người ta mướn (gọi là taxi) đưa người ra cá lớn (tàu lớn) hàng tuần. Hắn và gia đình hắn không có ý định đi vượt biển lúc đó, vì cả nhà hắn chỉ nói được tiếng Kampuchia, tiếng Việt chưa được rành rõi lắm! Anh em hắn không được đến trường ngày nào, nói chi tiếng Tây, tiếng Tàu. Cha con hắn sợ tới vùng đất mới, như người điếc, không thể nào sống được!

Dần dà số người đi vượt biển tăng càng nhiều, thư từ, quà cáp ở ngoại quốc gửi về giúp người trong nước ào ạt. Cha mẹ hắn nghe người làng xã kháo nhau, ai đi vượt biển đến Mỹ đều được chính phủ cho cả ngàn đô, tiêu tiêu không hết, chó mèo ăn toàn đồ ăn sang như người, có cả bệnh viện chăm sóc, khách sạn cho chó mèo…

Thế là cha hắn khuyên bảo hắn nên đi (vì hắn là thằng con trai lanh lẹ nhất trong sáu đứa con còn sống). Vì hàng ngày chở ghe làm “taxi” dổ người vượt biên ra tầu lớn, việc đi không có gì khó với gia đình hắn.

Cuối cùng, hắn cũng sang được đất Thailand năm 1989. Tới lúc đó, theo thông báo của Liên Hiệp Quốc, các trại tỵ nạn đều phải đóng cửa, không nhận thuyền nhân Việt Nam nữa!

Thế là hắn như cá nằm trên thớt, đi không xong, về lại quê nhà không đặng. Hắn theo người ta nằm lỳ ở trại tỵ nạn ráp gianh biên giới 2 nước Campuchia và Thái hơn 4 năm. Ngày qua ngày, hắn lội ra biển vui chơi, hay ngồi trên bờ đánh cờ tướng, tới bữa ăn có cao ủy Liên Hiệp Quốc phân phát đồ hộp ăn… Hắn cảm thấy như vậy cuộc đời hắn đã lên cung trăng rồi. Không làm, cũng có ăn!

Sau đó, hắn theo đoàn người hồi hương về nước.

Theo thông báo của Liên Hiệp Quốc, tất cả người dân hồi hương được cứu xét ra đi chính thức tới Mỹ (gọi là diện đi ROVR)! Gia đình hắn mừng lắm, chạy nhờ người trên tỉnh lo giấy tờ cho hắn đi… Họ dàn xếp làm giấy tờ, ghi rằng là hắn làm nhà sư Campuchia, lánh nạn Khờ me đỏ sang Việt Nam và bị Cộng sản đàn áp tôn giáo.

Cuối cùng hắn cũng được gọi đi Mỹ. Thời gian ấy, cha mẹ, anh em, bà con làng xã đều nói hắn đẻ bọc điều, không tiền không bạc, không một chữ trong đầu, phen này được Mỹ tới rước đưa sang xứ cờ Hoa, nuôi sống cả đời!

Hắn đi từ đầu làng đến cuối xã vênh váo mặt lên, và học cái dáng “Việt Kiều” trong đi đứng, nói năng… Bao nhiêu gia đình chòm xóm người Kinh cũng như người Campuchia đều ước muốn được như hắn, và nhất là bao nhiêu cô gái xuân thì ở làng liếc mắt đưa tình với hắn. Trong đầu hắn cũng như gia đình hắn mơ tưởng đến mấy chục ngàn đô mà chính phủ Mỹ cho hắn như những lời dân làng xã rỉ tai đến cha mẹ hắn.

Rồi ngày hắn rời xóm đò chân núi Châu Đốc đi Mỹ cũng đến. Hắn được cha mẹ, anh em đưa tiễn như một vị anh hùng. Cả nhà hắn mong chờ ngày hắn về với mác “Việt Kiều” không xa, và còn căn dặn hắn gửi tiền về để tậu đất, tậu nhà…Hắn rời phi trường Tân Sơn Nhất, ở Thái lan hơn tuần lễ, và được một chùa ở Santa Barbara (Mỹ) đón hắn về. Vị sư trụ trì người Campuchia rất ngạc nhiên khi thấy hắn chẳng biết gì về thuyết pháp, cũng như khuôn phép của người tu hành.

Lúc đó hắn được chính phủ Hoa Kỳ trợ cấp food stamps (phiếu thực phẩm) và hơn ba trăm dollars mỗi tháng. Cả đời hắn có ăn chay, đi tu bao giờ! Hắn chỉ khoác áo cà sa để che mặt mọi người, để được ra đi chính thức (vì trong giấy tờ hắn khai bị đàn áp tôn giáo từ Campuchia tới Việt Nam). Hắn lẻn ra chợ mua các đồ ăn hắn thèm muốn bấy lâu, ăn cho thỏa thích.

Để các vị sư chùa tin hắn, hắn nói chỉ biết tiếng Việt chứ không biết tiếng Cam bốt. Nên không đọc kinh, tu tập như các vị sư khác trong chùa.

Sau 5,6 tháng ở chùa, nhưng chẳng có gì gọi là tu hành tốt, lại lén lút nấu nướng thịt cá trong chùa, vị sư trụ trì đã mời hắn ra khỏi chùa. Thế là bắt đầu cuộc sống không nhà (homeless)!

Hắn chẳng biết đi đâu và cũng chẳng biết một chữ tiếng Anh nào để hỏi những người xung quanh. Hắn ngồi yên trên xe bus chạy từ giờ này sang giờ khác, cho đến chiều tối, xe bus dừng lại tại trạm ở Long Beach. Hắn đi xuống và tấp vào một tiệm thức ăn (food to go) của người Cambot, hắn mua đồ ăn và uống ngấu nghiến sau một ngày đói khát!

Đêm đó hắn ngủ ngoài vỉa hè tiệm ăn. Giữa đêm hắn choàng thức dậy và thấy ai bịt kín mặt hắn bằng một bao vải, miệng hắn cũng bị một bàn tay hộ pháp đè cứng. Chỉ trong thoáng chốc, hắn mất tất cả tiền bạc, giấy tờ, phiếu lương thực hắn có. Hắn tự cởi dây trói, túi vải đen trùm cứng đầu cổ hắn ra, và ngồi ôm mặt khóc giữa đêm khuya. Chẳng ai đến giúp hắn. Mặc khác, hắn cũng chẳng biết kêu cứu bằng cách nào. Một chữ tiếng Mỹ bẻ làm đôi hắn cũng chẳng biết.

Vài ngày sau hắn đi cọp xe bus lúc đông người, hắn ngồi yên trên xe như lần trước, cho đến lúc chiều tối, hắn xuống một trạm xe gần khu tiểu Saigon.

Trong bụng hắn đói cồn cào, không có miếng ăn nào vào bụng hắn từ sáng đến giờ. Cũng may, hắn được vài người đồng hương không nhà như hắn chỉ bảo hắn cách xin tiền người đi chợ, mua sắm hàng, hoặc chạy ra lau chùi kiếng xe những người đi chợ để xin chút tiền cắc. Và đến chiều tối, hắn theo chân những người không nhà khác, xin ăn các tiệm ăn đồ ăn dư thừa.

Tạm ổn vài tuần, bạn bè hắn nói hắn đổi nghề xin tiền bằng cách khoác chiếc áo tăng sư màu vàng hắn còn trong túi vải, và cạo trọc đầu. Hắn đứng ở cửa chợ cho mỗi ngày, tay cũng lần tràng hạt, miệng lẩm nhẩm “Nam mô a di đà phật” liên hồi. Mỗi chiều tối, hắn giở tráp tiền ra đếm được nhiều hơn là xòe tay xin tiền, xin ăn.

Mỗi tối ngủ ngoài vỉa hè, màn trời, chiếu đất, hắn nhớ đến cha mẹ, anh em, làng xóm.

Chắc hẳn mọi người đang chờ tin hắn. Mong chờ “chàng Việt Kiều” gửi bạc vạn, bạc trăm đô về. Hắn thèm khát được trở về sống nơi bến đò chân núi Châu Đốc, nơi có tình cảm người đồng hương, gia đình hắn. Dù rằng ở xóm bến đò ấy, hắn có bữa đói, bữa no, nhưng vẫn vui và không phải lo sợ như cảnh không nhà bên này, nhất là trong túi hắn không có một tí giấy tờ tùy thân nào. Phút chốc hắn trở thành kẻ vô danh tiểu tốt! Đêm đêm hắn vẫn lo sợ, nằm mơ những giấc mộng khiếp sợ, toát mồ hôi từ đầu đến chân, hắn nằm mơ thấy bị người da đen, Mễ, Mỹ trắng trùm bao vải lên mặt hắn và đánh hắn tới tấp vì tranh chỗ xin ăn của chúng.

Và chuyện chẳng lành đó cũng đến với hắn vào một đêm khuya. Cảnh sát tới bố ráp, bắt tất cả những người không nhà, trong đó có hắn.

Tới sáng hôm sau, hai ba ông cảnh sát bự con Mỹ đen có, Mỹ trắng có tới hỏi cung hắn. Hắn chẳng hiểu gì cả, và quá sợ hãi, mắt hắn lạc thần, miệng hắn lảm nhảm “Cam bốt, Việt Nam, Nam mô a di đà Phật”, tay chân hắn vái lia lịa mấy ông cảnh sát, đầu đập xuống đất van lạy mấy ông tha cho… Thế là họ chuyển hắn tới nhà thương điên để chẩn đoán. Tại đây ai hỏi gì hắn cũng gật đầu. Rồi chẳng hiểu tại sao, hắn tự nhận hắn là vua Cam bốt Sihanook!

Ở nhà thương điên, ngày ngày hắn được bệnh viện cho ăn 3 bữa, uống thuốc tâm thần. Hắn than thở ngủ li bì nhiều quá! Cán sự xã hội, bác sĩ hỏi han “có nghe tiếng động gì trong tai không”” “Có còn tin mình là vua Sihanook không”” Hắn vẫn nói hắn là vua Sihanook (qua người thông dịch).

Trong khi hắn tâm sự thật lòng của hắn là vì hắn muốn được yên thân có chỗ ở, chỗ ăn nên hắn phải đóng kịch giả điên như thế.

Hắn còn nói, không phải chỉ mình hắn giả vờ đâu, mà còn nhiều bệnh nhân đồng hương khác vì muốn ăn tiền trợ cấp xã hội (SSI), nên cũng làm như hắn. Hắn nói, được sáu, bảy trăm đô một tháng là khỏe đời, lúc đó hắn sẽ làm “chàng Việt Kiều” về nước, tha hồ kén vợ.

Trời ạ, đến nay tôi cũng chẳng biết là hắn điên thật hay điên giả” Chẳng nhẽ cuộc đời hắn chôn vùi vào căn bệnh mất trí giả để được vài trăm tiền trợ cấp” Xin bạn cho biết ý kiến về những người đồng hương này”

KHOA LÊ

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Mardi 9 Avril 2024

Post by Sơn râu 9 May 2025

(Hồi ức này chỉ là sự nhắc nhở lại những kỷ niệm vui buồn của một phận người sau khi cuộc chiến kết thúc, nó không được sử dụng vào những mục tiêu chính trị và không nhằm nói lên những quan điểm cực đoan trước một quá khứ đã lùi sâu nửa thế kỷ. Tất nhiên, người viết cũng mong mỏi người đọc với một tâm thế như vậy, bình tâm và không cực đoan trong các bình luận của mình…)

6. Một Trường Hợp “Chuyển Đổi Giới Tính” Tại Long Thành

Câu chuyện xảy ra vào những ngày trước cái tết xa nhà đầu tiên của lũ chúng tôi, một cái tết mà ai nấy cũng biết là sẽ rất đau buồn. Bữa nọ, cụ Phạm Trọng Nhân (đã giới thiệu trong một bài trước) lục đâu ra một vở kịch thơ có nhan đề Chiến Sĩ Triều Trần và nuôi ý định tổ chức trình diễn tác phẩm này.

Hai nhân vật chính trong tác phẩm là vị tướng Trần Bình Trọng của nhà Trần bị giặc Nguyên-Mông bắt giữ và cô công chúa Mông Cổ được giao nhiệm vụ dụ hàng ông. Vai cô công chúa phải có mặt xuyên suốt vở kịch và ngâm thơ từ đầu đến cuối. Bên cạnh hai nhân vật chính này còn có nhân vật tướng Mông Cổ, anh lính hầu tướng Mông Cổ và cô a hoàn của công chúa Mông Cổ.

Sau khi tham khảo bạn bè, cụ Nhân nhất trí giao vai Trần Bình Trọng cho anh Dorohiem, người Chăm, em ruột anh Đỗ Hải Minh, học khóa 11 Quốc gia Hành chánh, chức vụ cuối cùng là Giám Đốc tại Bộ Phát triển Sắc tộc. Còn vai công chúa Mông Cổ thì cụ chỉ sang tôi, vì hai lẽ:

– Tôi là 1 trong 5 giọng ngâm thơ của nhà 2. Thành thực mà nói, tôi ngâm thơ … khá dở, song đọc thơ hay ngâm theo kiểu thoại trong kịch thơ thì giọng nhấn nhá của tôi lại khá mượt mà.

– Anh Nguyễn Cao Quyền, nguyên đại tá Nha Quân Pháp, Cố vấn ngoại giao tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp, thành viên cùng tổ ngoại giao với cụ Nhân, người sẽ phụ trách việc tạo trang phục và trang điểm trong vở kịch, cho rằng gương mặt tôi phù hợp với hóa trang nữ, nói vui theo ngôn ngữ hiện đại là “chuyển đổi giới tính”.

Thế rồi, cuối cùng tôi bị ép phải “chuyển đổi giới tính”.

Ngoài đời, tôi vốn thuộc thơ rất nhanh, và nhớ lâu nữa, nên chỉ trong một thời gian ngắn, tôi nhập tâm toàn bộ phần đối thoại bằng thơ của mình trong vở kịch. Chàng Dorohiem Trần Bình Trọng lại khá vất vả với vai của anh, anh bị vấp váp thường xuyên, nên vào các buổi trưa và buổi tối, trong lúc mọi người nghỉ ngơi, anh ra khu vườn vắng ôn tập một mình.

Vai viên tướng Mông Cổ phù hợp với anh Nguyễn Đình Xướng, người cao to, nước da rám nắng.

Trong một status cách đây khá lâu, tôi có bài tường thuật chi tiết về chuyện trình diễn vở kịch này, một vài trang ngoài nước cũng có đăng lại, nay chỉ xin nhắc mấy nét chính. Anh Nguyễn Cao Quyền từng là Chánh thẩm Tòa án quân sự mặt trận (xử bắn Tạ Vinh), nhưng lại là người rất có tư chất nghệ sĩ. Anh không giỏi chữ Hán, song lại viết chữ Hán rất đẹp. Anh tạo cho các bộ trang phục chúng tôi đang mặc những “biến tấu” cho phù hợp với thời xưa, trang điểm cho nhân vật bằng những sáng kiến bất ngờ. Màu hồng là một trong những màu cần thiết, cho son môi, cho má hồng và hàng chục thứ khác, lúc đầu anh lấy gạch xây, mài ra với nước, sau, khi đến gần ngày tết, anh kiếm được nhiều giấy hồng đơn (dùng để viết câu đối), dễ dàng tạo ra màu hồng hơn.

Với bộ nhung phục của nhân vật Trần Bình Trọng, anh có những tờ giấy bạc lót trong bao thuốc lá, tạo những hoa văn có nghệ thuật để không bị lẫn với quần áo của các … đạo tì.Đêm giao thừa, đội kịch diễn trước cho anh em Nhà 2 xem, có thêm sự chứng kiến của gần 10 học viên nữ, ở nhà riêng, nhưng khi sinh hoạt thì các chị được tách ra, bổ sung vào các nhà nam. Vì chúng tôi tập kịch trong lúc các anh đi lao động, nên khi trình diễn, vở kịch cũng trở thành một bất ngờ thích thú đối với mọi người. Ai cũng tiên đoán rằng trong cuộc trình diễn văn nghệ của toàn trường 15 NV vào đêm mùng 3 tết, vở kịch Chiến Sĩ Triều Trần sẽ đoạt giải nhất.

Cuối cùng thì kết quả đêm văn nghệ chung đã diễn ra đúng như tiên đoán, cụ Phạm Trọng Nhân và những người làm nên vở kịch lịch sử nhận được sự ngợi khen nồng nhiệt của mọi người. Với riêng tui, kể từ đêm diễn đó, mình có thêm một cái tên mới được nhiều bạn bè kêu, gọi, đó là tên “công chúa Mông Cổ”. Nó phổ biến đến nổi, sự nghiệp “chuyển đổi giới tính” đeo đẳng mình trong một thời gian dài!Đêm mùng ba tết đó, khi chương trình văn nghệ đã kết thúc, những hoan lạc nhất thời sớm tan biến, trong cái tĩnh lặng của nửa đêm về sáng, nỗi nhớ gia đình nhói lên, mình không ngủ được, lấy giấy viết một bài thơ dài tặng cụ Nhân, đại ý nhắc lại những gì đã diễn ra trong đêm kịch nhiều kỷ niệm, đặc biệt trong đoạn cuối, mình viết:

Mai này mình sẽ về muôn nẻo,

Vút cánh bằng bay khắp mọi miền,

Chắc hẳn lòng mình luôn nhớ mãi,

Ảnh hình vở kịch buổi tàn niên … (tháng 2/1976)

Đến lúc đó, cũng chỉ mới hơn 6 tháng qua đi, tuổi trẻ vẫn còn hy vọng vào một ngày về gần gũi, đâu biết đến ngày mai sẽ dành cho mình những điều gì.

Mấy tháng sau, nghiệp dĩ “chuyển đổi giới tính” lại một lần nữa tìm đến với mình! Anh bạn K.T.H., thẩm phán ở Mỹ Tho, sáng tác một vở kịch không còn nhớ nhan đề, chỉ với hai nhân vật: Cô hàng nước và chàng tráng sĩ qua sông. Anh N.M.Đ., dân biểu, trưởng ban văn nghệ nhà 2, đưa mình xem nội dung, xem xong, mình đề nghị thay vì kịch gồm cả thơ và lời thoại, giờ chuyển hết lời thoại sang thơ, thành một vở kịch thơ hoàn toàn. Tất nhiên là anh Đ. hoan nghênh đề nghị này.

Trưa hôm đó, trong lúc mọi người nghỉ trưa, mình ra vườn rau, làm cái việc “thi hóa” toàn bộ các lời thoại trong vở kịch. Thần may mắn chiếu cố, khi tiếng kẻng báo thức vừa vang lên thì mình cũng vừa viết những dòng thơ cuối cùng.

Xem xong vở kịch, Đ. ngạc nhiên một cách thích thú, mình cũng ngạc nhiên về sự mau mắn của mình.

Vở kịch thơ chỉ diễn cho nội bộ nhà 2 xem, và mình cũng làm tròn vai trò cô hàng nước. Nhưng như thế chưa phải đã xong. Vin vào chuyện mình chuyển thành công lời thoại thành thơ, trưởng ban văn nghệ NMĐ thừa thắng xông lên, nghĩ ra một tiết mục táo bạo trong buổi diễn văn nghệ toàn trường 15 NV sắp tới. Đó là tiết mục toàn nhà 2 gần 300 người sẽ đồng ca ba bản nhạc đỏ: Ca ngợi Hồ chủ tịch, Như có Bác trong ngày đại thắng, và Kết đoàn. Không chỉ có thế, Đ. thuyết phục mình soạn ra ba bài thơ mở đầu cho ba bản nhạc đó.

Mình cũng “thừa thắng xông lên” như Đ., không để anh phải nài nỉ nhiều, hai ngày sau giao cho anh 3 bài thơ, mỗi bài có hai khổ.

Đêm văn nghệ toàn trường, mọi người ngạc nhiên trước hơn 200 con người dàn hàng ngang đồng ca 3 bản nhạc dưới bàn tay điều khiển điêu luyện của dân biểu NMĐ, một người có nhạc lý rất vững, và bắt giọng cũng như bắt nhịp rất chuyên nghiệp. Về việc ngâm các bài thơ trước mỗi bản nhạc, nhà trưởng nhà 2 NVNg đảm trách. Anh Ng. là dân biểu, người Huế, và là một trong những người ngâm thơ có giọng Huế hay nhất mà mình từng nghe.

Sau hai sự kiện tạm gọi là thành công, trưởng ban văn nghệ nhà 2 NMĐ cảm thấy “gắn bó” với mình hơn, song không ngờ lần kế tiếp lại đánh dấu một … tan vỡ!

Chiều hôm đó, mình đang ngủ trưa muộn, Đ. bỗng đến lay mình dậy. Ngồi lên, dụi mắt, thấy Đ. dúi cho mình hai trang giấy chi chít những dấu ký âm âm nhạc, nhờ mình viết lời cho bản nhạc anh vừa soạn. Ôi trời, mình có làm việc này bao giờ đâu, vừa bực bội vì bị phá giấc ngủ, mình từ chối một cách khá thẳng thừng. Đ. không ngờ bị phản ứng như vậy, anh quay đầu đi thẳng và giận mình luôn từ hôm ấy. Và cũng không ngờ sự giận dỗi này dẫn đến một bất lợi khá lớn đối với mình, chuyện này sẽ xin kể tiếp ở kỳ sau.

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Jeudi 11 Avril 2024

Post by Sơn râu 9 May 2025

Phần 5

5.2) Những bữa tiệc “hàm thụ” ở trạm xá Long Thành

Vào tháng 9 năm 1975, số bệnh nhân nằm điều trị tại trạm xá Long Thành chỉ vào khoảng 9-10 người, trong đó có hai người cao tuổi.

Người thứ nhất là cụ Nguyễn Văn Tho, Trưởng khối Dân tộc Thượng viện, được hai cán bộ y tế chỉ định làm người trưởng nhóm. Người thứ hai là bác K., sau khi tình cờ biết mình từng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh, bác cho biết bác là bố vợ anh Ngô ĐL, một khóa đàn anh của mình, lúc ấy đã qua đời.

Ở trạm xá, bác K. là người phương phi nhất, vóc dáng khỏe mạnh, da mặt đỏ hồng. Bác lại là người nằm bệnh lâu nhất trong nhóm.

Còn nhớ một sáng nọ, bác hô hoán lên là đêm qua, bác khạc ra mấy … cục máu. Chuyện hơi khó tin với một người có vóc dáng khỏe mạnh như bác K., song ở đời, chuyện gì lại không thể xảy ra, mình thăm hỏi bác với lòng ái ngại thật sự.

Mãi về sau, mình mới biết rằng bác K. có móc nối với “bác sĩ” H., nhờ ông này đến nhà ở Sài Gòn lấy giúp tiền, mang vào để chi xài. Hoa hồng của “thương vụ” trên là bao nhiêu không rõ, song điều khá rõ, là mối quan hệ này giúp một người khỏe mạnh như bác K. được nằm điều trị bệnh ở trạm xá dài dài. Hóa ra, chuyện “khạc ra máu” của bác cũng chỉ là một tình huống được dàn dựng sẵn trong kịch bản để bảo vệ cho kế hoạch nằm bệnh xá lâu dài của bác!

Trong số người nằm bệnh lúc đó, cũng không thể không kể thêm trường hợp anh X (không còn nhớ tên), đồng bệnh (kiết lỵ) với mình, song với một “thành tích” không tiền khoáng hậu. Anh vào trạm sau mình 2 ngày, kể lại rằng, để giải quyết cơn đau quặn ở bụng, tần suất đi ra đi vào của anh là không đếm xuể. Cho đến một hôm, anh vừa giải quyết xong, đi vào tới nhà thì bụng đau quặn trở lại, phải tức tốc quay lại hàng rào. Cuối cùng anh quyết định ngồi lì trên hố xí ở hàng rào, không đi đâu nữa, cho đến khi bạn bè hay tin, chạy ra kéo anh dậy và kè anh đi thẳng lên trạm xá.

Sau hơn tuần lễ điều trị, khi thấy thuốc uống không có tác dụng, các bác sĩ (tù) phải áp dụng liệu pháp tối hậu cho anh X và tui, đó là tiêm thẳng những mũi Emetine vào bắp thịt. Đây là loại thuốc tiêm hữu hiệu nhất để điều trị bệnh kiết lỵ vào thời điểm đó. Bệnh của chúng tôi giảm dần sau những mũi thuốc này.

Nói đến nhân viên trạm xá Long Thành mà không nhắc đến dì Bảy lao công là một thiếu sót lớn. Nhà dì ở gần khu làng cô nhi, nghe đâu chồng dì là một du kích xã bị chết trận, và có lẽ do điều này, dì được nhận làm lao công cho trạm xá. Dì buôn bán hàng lặt vặt tại nhà, và giữa dì với anh em bệnh nhân sớm hình thành một “thỏa hiệp”. Ở trạm xá, ngoài hai người cao tuổi, cứ mỗi buổi trưa, các anh em còn lại xuống căng tin, xếp hàng mua giùm dì Bảy, mỗi người mấy gói thuốc lá Hoa Mai, Vàm Cỏ, Đà Lạt …

Thời đó, giá nhiều mặt hàng tiêu dùng như thuốc lá, bột giặt, bột ngọt, đường … có sự cách biệt khá lớn giữa hàng chợ và hàng bán trong hệ thống cửa hàng quốc doanh. Mỗi ngày, chúng tôi mua giùm cho dì Bảy khoảng vài mươi gói thuốc lá. Dì mang về bán, không rõ lời lóm thêm được bao nhiêu, nhưng sáng sáng, khi đi làm, dì mua cho mỗi đứa chúng tôi một gói xôi đậu xanh. Xôi đậu xanh đối với đời tù là một món ăn có giá trị.

Đó là kỷ niệm khó quên giữa những người tù và một phụ nữ miền Nam nghèo, chất phác.

Những tháng 8, tháng 9 năm 1975 ấy, thời tiết lạnh một cách bất thường, với người nằm bệnh ở trạm xá, xương cốt thiếu calci, cơ thể sụt giảm sức đề kháng, cái lạnh càng dữ dội hơn nữa!

Còn nhớ sáng ngày 16.9, mình ngồi dựa lưng vào tường, nhìn ra khoảng không bên ngoài khung cửa sổ. Một khu vực rộng lớn, hoang tàn trải ra trước mắt, nghe đâu đó là nơi từng đóng quân của Sư đoàn Mãng xà vương thuộc quân đội Thái Lan sang tham chiến tại Việt Nam. Ngày hôm đó, chính trong cái lạnh buốt xương, trời lại mưa lất phất như mưa phùn xứ Bắc, mà bài thơ này ra đời:

MƯA BỆNH XÁ

Nằm đây ngửa mặt lên trần,

Lòng tương tư áng phù vân cuối trời.

Bên ngoài từng hạt mưa rơi,

Từng cơn gió lạnh buốt rời thịt xương.

Nằm đây mà nhớ cố hương,

Đêm đêm làm bạn chiếu giường vô tri,

Xót thân phận chẳng ra gì,

Ba mươi mốt tuổi, hoài đi nửa đời.

Nỗi người thương cảm khôn nguôi,

Nỗi mình âu cũng đầy vơi giọt buồn.

(LN)

Hai câu cuối ứng với thực trạng của những người tù nằm điều trị ở trạm xá Long Thành lúc bấy giờ. Tại đây, ban ngày ồn ào bao nhiêu thì ban đêm hiu quạnh bấy nhiêu. Chín, mười người bệnh nằm thở dài dưới ánh điện tù mù, nhớ nhà cửa, nhớ gia đình. Họ trút bầu tâm sự, kể cho nhau nghe những vui buồn trong quãng đời đã qua, kể để cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi những tâm sự vụn ấy nhận được sự chia sẻ của bạn tù.

Một sự kiện độc đáo của những đêm tù mù đó là những bữa ăn … hàm thụ. Tại miền Nam, vào những thập niên 1950-1960, phong trào học hàm thụ phát triển khá rầm rộ. Đó là một dạng học từ xa, thường là từ nước này qua nước khác. Trong điều kiện lúc bấy giờ, mọi việc chỉ có thể thực hiện qua trung gian của cơ quan bưu chính. Sau thủ tục ghi danh, đóng tiền, trường học ngoài nước (ở Mỹ chẳng hạn) gửi chương trình học, tài liệu học cho học viên ở Việt Nam qua đường bưu điện; học viên học, làm bài gửi trở lại trường học cũng theo con đường như thế.

Tháng 9 năm 1975, chúng tôi áp dụng hình thức “hàm thụ” trong các buổi sinh hoạt ban đêm của mình. Cho dù cách sử dụng từ ngữ này chưa hoàn toàn chính xác, gọi cho vui, vì khó tìm một từ ngữ nào phù hợp hơn. Người bệnh ở chung trong trạm xá phân công nhau, mỗi đêm một người kể về món ăn mình ưa thích, nguyên liệu gồm những gì, cách chế biến ra sao, thành phẩm có hương vị như thế nào …

Còn nhớ là cụ Nguyễn Văn Tho rất điệu nghệ với món “bò nướng ngói” ở quê Long Xuyên của cụ. Tuy chỉ là những món ăn “hàm thụ”, nằm trong trí tưởng tượng của mỗi người, song sự liên tưởng đến chúng cũng mang lại cho chúng tôi nhiều cảm giác có thật, như hiệu ứng Pavlov vậy. Nước miếng cứ tươm ra đầy miệng, mình phải hết sức đè nén, nuốt thật nhẹ xuống cổ, không để người nằm giường bên cạnh nghe được thứ âm thanh đáng xấu hổ đó!

Dạo ấy, trong khi chúng tôi nằm ở trạm xá thì mỗi đêm các nhà ráo riết tập hát những bài nhạc đỏ: Nổi lửa lên em, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Vàm Cỏ Đông …. Giữa đêm đen, bài đồng ca của gần 300 người ở mỗi nhà vang lên với một khí thế hừng hực. Riêng nhà 6 chỉ cách trạm xá của chúng tôi một con đường đất nhỏ thì tập bài “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”.

Những đêm nhạc này tạo một ấn tượng mạnh đến nỗi từ ấy cho đến cả bây giờ, cứ mỗi lần nghe đến câu mở đầu “Đêm nay – trên đường hành – quân – ra – mặt trận…”, là trong ký ức của tui hiện lên rõ mồn một hình ảnh của những đêm trạm xá với món bò nướng ngói thơm phức của cụ nghị sĩ Nguyễn Văn Tho. Với sự nhạy bén đến không ngờ của bác K., biến bác thành bệnh nhân trường kỳ mai phục ở trạm xá, đến cả anh X, người đồng bệnh của tui, nhưng vượt xa tui ở thành tích ngồi luôn ngoài hố xí, không vào nhà nữa ….

Khi tui trải qua gần 30 ngày ở trạm xá, bệnh dứt hẳn trong một cơ thể gần suy kiệt, cụ Tho hành xử quyền trưởng nhóm, hỏi khéo tui là đã dứt bệnh chưa. Mình không thể nói dối, vì còn phải chừa chỗ cho nhiều bệnh nhân khác, nên thu xếp trở về nhà 2.

Ở trạm xá, đời sống thay đổi quá, nhiều thứ cần thiết cũng bị cho qua. Ấy là trong suốt gần 30 ngày đó, mình chưa tắm một lần, đơn giản vì trạm xá không có nhà tắm và nước. Vả lại, nếu có nước, mình cũng không xách nổi, có cảm giác như các xương chân ở trong tình trạng trật khớp bất cứ lúc nào.

Chiều hôm sau, một bạn đồng môn Quốc gia Hành chánh thuộc bậc đàn anh là anh Đỗ Hải Minh (Dohamide) động lòng, tự tay anh đi hứng một xô nước đầy và xách ra đến tận nhà tắm lộ thiên cho mình.

Mình từng có bài tưởng niệm anh Đỗ Hải Minh. Anh là tác giả nhiều đầu sách về nền văn hóa Chăm, chức vụ cuối cùng là Phó Tổng giám đốc Cơ quan Tiếp vận Trung ương. Vào đầu thập niên 1990, Đỗ Hải Minh cùng các chuyên gia kinh tế chế độ cũ như Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Trọng Thức, Trần Bá Tước hình thành “Nhóm thứ Sáu” chuyên tư vấn cho ông Võ Văn Kiệt về nhiều vấn đề quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc thành lập Khu chế xuất Tân Thuận và Khu đô thị Nam Sài Gòn.

Xô nước anh Minh tự tay xách cho là một kỷ niệm nhớ đời của mình.

LÊ NGUYỄN 11.04.2024

Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 9 May 2025

7. Đầu máy kéo vô tù đày

Bên cạnh “nhà ga” Byturki có một phòng đặc biệt. Đó là phòng khám người, tuốt người để thằng nào mới vô là phải chịu lục soát thật kỹ cái đã. Phòng đủ rộng để 5, 6 cán bộ Cơ quan làm 20 thằng ZEK một lúc. Có mấy cái bàn nhưng mặt bàn trơ trụi chẳng có gì. Ở một bàn cuối phòng ngồi sừng sững một ông Thiếu tá NKVD, quân phục chững chạc mớ tóc đen chải đàng hoàng nhưng dưới ánh đèn chụp khuôn mặt hắn mới mệt mỏi, chán chường làm sao! In hình hắn mệt vì có ngần ấy đứa mà cứ phải đưa vô từng đứa một, bắt hắn chờ đợi không đáng. Nếu cần một chữ ký thì bắt chúng ký cả loạt việc và lẹ hơn nhiều. 
Thấy tôi vô, ông Thiếu tá biểu ngồi, hỏi tên họ rồi đưa tay lục kiếm “hồ sơ” của tôi trong chồng giấy phía mặt. Cách cái lọ mực cũng có một chồng in hệt, giấy mỏng như giấy đánh máy nhưng chỉ nhỏ bằng nửa tờ. Kiểu bông lãnh xăng, phiếu phát vật liệu các công sở. Đây rồi, hắn rút đúng tờ giấy của tôi, cao giọng đọc cho biết “bản án”: 8 năm đi đày. Sau đó hắn lật tờ giấy nắn nót vài chữ, ra điều “án được đọc lên cho kẻ chịu án”, đúng ngày giờ đã định. 
8 năm đi đày! Bản án được đọc lên nhưng tôi tuyệt đối không xúc động. Nó thông thường và dễ dàng quá khiến tim tôi cũng chẳng buồn đập mạnh chút xíu. Bộ khúc rẽ của cả một đời tôi chỉ có thế thôi sao? Muốn chuốc lấy ít cảm giác hồi hộp của một thằng bị tuyên án cũng không nổi! Ông Thiếu tá NKVD lẳng lặng chìa mảnh giấy trước mặt tôi, phía để trắng ngửa lên. Cây viết rẻ tiền nằm đó, chờ tôi đặt bút ký, chấp nhận bản án đi đày đây. Tôi không ngần ngại nói luôn:
“Trước khi ký, ít ra tôi cũng phải đọc lại?” 
“Được, muốn đọc thì đọc! Bộ có gì nghi ngờ chắc? Đấy, đọc đi…” 
Hắn đẩy tờ giấy ra một cách ngần ngại, chán chường quá. Tôi vội cầm lấy, cố tình đọc thật chậm rãi. Đọc rề từng nét chữ một chớ không phải từng chữ nữa! Mảnh giấy đánh máy nhưng không phải bản chính, rõ ràng chỉ là một bản sao. 
Tôi nhớ đại khái có hàng chữ tựa như sau: “TRÍCH YẾU, chiếu Sắc lệnh của Hội đồng An ninh, Bộ Nội An, chính phủ Liên bang Xô Viết ngày 7 tháng 7 năm 1945. Số thứ tự…”. 
Phía dưới có hàng dấu chấm đánh máy chia đôi tờ giấy. 
Một bên ghi: “Hồ sơ buộc tội tên… ngày sinh và nơi sinh…”. Phía bên kia là bản án: NGHỊ QUYẾT: Nay quyết định tên… can tội hoạt động phản tuyên truyền với dự mưu thành lập một tổ chức nhằm chống lại chế độ Xô Viết… bị trừng phạt 8 NĂM đi đày trại Lao động Cải tạo. Phía dưới cùng là hàng chữ sao y chính bản, với chữ ký của một ông Bí thư. 
Bản án chỉ giản dị vậy và chờ tôi ký tên chấp nhận thật sao? Tôi ngẩng nhìn coi ông Thiếu tá có ý định giải thích gì thêm. Không, hắn chỉ ngó tôi và đã vẫy tay ra lệnh cho gã giám thị hờm sẵn ở cửa, “sửa soạn đưa thằng này đi…, cho thằng kế tiếp vô”. 
Không thể chấp nhận quá máy móc vậy, tôi bắt buộc phải hỏi lại: “Ủa sao vậy? Tới 8 NĂM ĐI ĐÀY lận? Kinh khủng quá, mà tôi có tội tình gì đâu?”. Tôi nói “kinh khủng” nhưng sự thật giọng nói nghe chẳng có gì “kinh khủng” và chính ông Thiếu tá NKVD cũng biết điều đó. Hắn đưa tay chỉ vào chỗ trống trên tờ giấy, lơ đãng biểu: “Đây, chỗ này! Ký cho rồi đi cha”. 
Tôi ký chớ. Ký liền tức thì. Vì còn làm gì khác được ngoài việc đặt bút ký? Nhưng bề nào cũng phải nói với một câu, chớ cứ lẳng lặng ký ngoan ngoãn vậy sao? 
“Ký thì ký đây! Nhưng phải cho tôi viết thêm vài hàng kháng cáo chớ. Tôi có làm gì đâu mà khi không lãnh tới 8 năm, bất công vậy?” 
Ông Thiếu tá gật gù, với tay lấy một tờ ở chồng giấy bên trái chìa ra trước mặt tôi, nói tỉnh bơ: 
“Đây, kháng cáo. Luật pháp đã dự liệu rồi! Có sẵn mẫu giấy đây…” 
Tất cả đã diễn tiến máy móc. Chưa xong gã Giám thị đã tới sát bên tôi: “Thôi, đi đi…”. 
Tôi đứng dậy đi theo liền, ngoan ngoãn. 
Nhiều người không chịu ngoan như vậy. Như Geogri Tenno lúc cầm bản án 25 năm đã lên tiếng: “Hai mươi lăm năm kể như chung thân còn gì? Thời quân chủ tuyên bản án chung thân là phải đánh cồng tập hợp dân chúng lại, công bố đàng hoàng. Bây giờ chỉ một mảnh giấy như bông lãnh xăng cỡ này là đi!” 
Arnold Rappoport còn hăng hơn. Hắn viết ngay sau lưng bản án: “Tôi cực lực phản đối bản án khuyên bảo, bất hợp pháp này và đòi hỏi phải trả tự do cấp kỳ”. Ông sĩ quan NKVD chờ chữ ký cầm lấy đọc, uất quá xé tan. Nhưng bản án cố nhiên vẫn còn. Đây chỉ bản sao mà. 
Trái lại, Vera Korneyeva hí hửng ký, thiếu điều giật vội lấy mảnh giấy ký lập tức “kẻo họ đổi ý kiến thì khổ”. Đang sợ bị 15 năm mà liếc nhìn chỉ thấy một con số 5 thì mừng quá! Gã sĩ quan ngờ vực hỏi: “Bà có nghe tôi vừa đọc cái gì không?”. Thì Vera cười ha hả: “Nghe chớ. Có 5 năm đi đày Trại Cải tạo chớ gì?”. 
Janos Rozsas người Hung bị 10 năm nhưng bảo ký là ký gấp. Nghe tuyên đọc (bằng tiếng Nga) có hiểu mù tịt gì. Họ lại đọc ngoài hành lang xà lim nên Janos cứ nằm chờ bản án mãi! Đi đày rồi cũng chỉ nhớ mang máng… 
Lúc được trả về nhóm, tôi mỉm cười. Thấy vui vui, rõ ràng nhẹ thở hẳn. Mới có 8 năm mà. Bọn họ lãnh một chục năm chẵn, kể cả “thầy bói sáng” Valentin! Kẻ đau khổ gần chết là gã kế toán 5 năm, nhẹ nhất đám rồi đến tôi. 
Bên ngoài cửa sổ nắng xuân reo vui, gió xuân mơn man, tiếng chim ríu rít, hạnh phúc biết mấy! Bên trong chúng tôi cũng bắt đầu cười vì mọi sự tiến hành tốt đẹp quá, và gã kế toán có 5 năm đã ngất xỉu được! Nực cười cho những niềm hy vọng ngớ ngẩn hồi sáng, bà con “tiễn biệt” lâm ly quá. Cứ tưởng “kẻ ở người về” thật, nhiều thằng đã dặn “mật hiệu” y củ khoai luộc mà. 
Khốn nạn, lúc bấy giờ vẫn còn những thằng tin “Yên chí đi! Vấn đề thủ tục phải tiến hành vậy thôi. Rồi sẽ về hết! Tổng đại xá đến nơi…”. 
“Đúng vậy, Stalin tuyên bố với nhà báo Mỹ, có đăng báo đàng hoàng mà”. 
“Nhà báo Mỹ hả? Nhà báo Mỹ tên gì?” 
“Tên gì tôi quên rồi! Chỉ nhớ sắp tổng đại xá…” 
Tụi tôi cười nói cho đến lúc được lệnh xách khăn gói lên, sắp hàng hai đi ngược trở ra, lại đi ngang mảnh vườn hoa nhỏ. Và lại đi tắm, trời đất! Sáng mới tắm giờ lại tắm nữa. Quần áo lại phải cởi ra, khăn gói lại treo trên mắc. Xà bông hôi khét nhưng vòi nước nóng vẫn dễ chịu lạ. Được đi tắm cả bọn lại xôn xao, cười nói. Vui như học trò đi thi về chớ chẳng phải đám tù sắp đi đày. Cũng may là còn cười được để “bồi dưỡng cơ thể” phần nào! 
Lựa đúng lúc lau khô người, Valentin tới bên tôi rỉ rả: “Thôi vậy, cho nó xong đi! Tụi mình còn trẻ, còn trẻ, còn sống nhiều. Chỉ cần ở Trại phải lo giữ mồm giữ miệng, họ biểu công tác là làm cho đàng hoàng là khỏi sợ lãnh thêm nữa”. 
Thì ra gã “thầy bói sáng” đã có kế hoạch chương trình đi đày rồi. Cứ vậy mà sống thì còn có hy vọng. Niềm hy vọng của hạt lúa nhỏ nhoi mắc kẹt giữa cái cối xay đá Stalin! Ai cũng muốn sống làm việc đàng hoàng ngậm miệng cho xong. Rồi ráng quên hết. 
Nhưng trong tôi một sự thật chợt lóe lên: nếu muốn sống điều thiết yếu là phải không sống thì thử hỏi còn sống để làm gì? 
Chế độ đi đày do quyết định Hội đồng An ninh chẳng phải sáng tác sau Cách mạng. Nữ hoàng Catherine không thích ông nhà báo Novikok nên phạt tù 15 năm có cần đưa ra Toà xử đâu. Hậu duệ của ông bà vua nào chẳng lâu lâu ghét mặt thằng nào hạ gục thằng ấy? 
Từ 1860 mới canh cải chế độ tư pháp, từ vua quan đến dân đều ý thức vai trò tư pháp rõ hơn. Vậy mà Korolenko đào bới lại lịch sử khoảng 1870 – 1880 vẫn vạch ra thiếu gì những “biện pháp hành chính” giẫm lên quyết định của Toà án. Năm 1872 chính đương sự và 2 sinh viên cùng bị ông Thứ trưởng Tài nguyên Quốc gia tống đi đày… khỏi đưa ra Toà. Sau đó 2 anh em Korolenko còn bị đày đi Glazov. Vị “đại diện nông dân” Fyodor Bogdan lên bệ kiến nhà vua đã bị nhà vua cho đi đày, cũng như Pyankov được Toà tha bỗng vẫn có lệnh vua cho đi an trí như thường. Còn Vera Zssulich bỏ trốn ra nước ngoài vẫn có thư về vạch rõ: Không trốn vì sợ Toà tống giam mà không muốn đày đoạ tấm thân vì “biện pháp hành chính”. 
Những “biện pháp hành chính” kiểu bản án đánh máy sẵn chia làm 2 cột đã có từ lâu nhưng hiển nhiên ở một nước Á châu ngái ngủ còn được nhưng ở một xã hội văn minh tiến bộ gương mẫu thì không thể chấp nhận. Ai cho ra “biện pháp hành chính”? Hội đồng An ninh (OSO). Nhưng Hội đồng An ninh là ai? Là Nga hoàng, là ông Thống đốc, ông Thứ trưởng chẳng hạn. Tại sao Hội đồng An ninh lại có đặc quyền ghê gớm đó? 
Danh từ Hội đồng An ninh chính thức xuất hiện khoảng 1920 trở đi với thủ tục tam đầu, công tác thường xuyên. Nghĩa là một bộ ba lập thành Hội đồng, họp kín trong phòng để thường xuyên qua mặt Toà án! Lúc mới đầu còn sử dụng mỹ từ “Ủy ban tay ba của GIẢI PHẪU” sau chẳng cần giấu tên các ông trong Ủy ban! Có thằng nào đi đảo Solovesty mà không nhớ quý danh bộ ba lừng danh của Mạc Tư Khoa? Gleb Boky, Vul và Vasilyev. Nghe chữ troika quả lạ tai. Dường như nó gợi nhớ hình ảnh một cỗ xe trượt tuyết thời cổ, nó tượng trưng cho cả một bí mật. 
Tại sao phải cần bộ ba, troika? Toà án đâu phải Bộ Tư, cần sự thay thế của nó? Vả lại troika đâu thể là Toà án được? 
Bộ ba troika dễ sợ ở chỗ nó chỉ họp kín, chỉ chiếu hồ sơ quyết định, không cần bị can. Bộ ba chỉ cần cho ra quyết định trên mảnh giấy nhỏ để “ký tên vô đó” nên khủng khiếp hơn Toà án Nhân dân nhiều. Tụi tôi hình dung bộ ba như một cơ quan cực kỳ bí mật. Từ ăn ngủ đến làm việc troika giống người khác, chừng bắt tay vô việc là không ai có quyền biết. Bộ ba tự cô lập trong bí mật để cho ra những bản đánh máy mà nạn nhân chỉ có quyền đọc hay nghe đọc rồi ký tên chớ không được giữ. 
Những ủy ban tay ba chỉ xuất hiện trên giấy tờ, không ai biết mặt mũi ra sao, có nhiệm vụ ghê gớm là không trả tự do cho một thằng nào bị câu lưu điều tra. Nếu ngành Kỹ thương có Sở Kiểm soát Phẩm chất hàng hoá để cấm chặn hàng xấu thì người xấu có troika GPU lo liệu! Trường hợp không có tội, không đưa ra Toà xét xử được thì troika vẫn có thẩm quyền cho hưởng thủ tục giảm khinh (thủ tục 32) nghĩa là biệt xứ, không được lai vãng các đô thị lớn hay cho đi an trí vài ba năm để “đẩy ra ngoài lề sinh hoạt xã hội” ở một địa phương nào đó. 
(Kể ra còn nhắc tới danh từ có tội là còn lạc hậu vì nhà nước tống giam kẻ nào chẳng phải vì nó có tội mà vì nó là mầm mống đe doạ an ninh xã hội. Nói cách khác vô tội nhưng bị coi có thể làm hại cho xã hội cũng tù. Ngược lại, có tội nhưng được xã hội chấp nhận ắt sẽ được phóng thích. Ngay Bộ Hình Luật 1926 còn bị ông Chưởng lý Vyshinsky – sau trên ¼ thế kỷ áp dụng – chỉ trích là “nặng tinh thần tư sản không chấp nhận được”, là “thiếu hẳn giai cấp tính” cũng như “quá đặt nặng vấn đề cân nhắc hình phạt căn cứ theo tội trạng”). 
Tôi không có bổn phận viết về lịch sử cái gọi là troika đó cũng như biến nó thành Hội đồng An ninh lúc nào, đổi tên ngày nào hoặc tỉnh nào cũng có Hội đồng An ninh địa phương hay chỉ có ở Trung ương. Tôi cũng không vạch rõ ông lớn nào có tên trong Hội đồng An ninh, Hội đồng họp mấy ngày một lần, mỗi lần bao nhiêu lâu và lúc họp có nước trà giải khát, có chuyện vãn hay các ông Hội đồng chỉ cắm cúi vào hồ sơ. Tôi chẳng phải thứ sử gia ấy. Vả lại có được biết gì đâu mà viết? 
Chỉ được biết Hội đồng An ninh hình thức là tay ba nhưng căn bản công tác thì nhất thể. Nghĩa là tuy ba mà một. Không biết tên từng đơn vị trong Hội đồng An ninh nhưng chắc chắn Hội đồng gồm đại diện thường trực của 3 cơ quan: một đại diện Trung ương Đảng, một đại diện MVD, một đại diện Viện Công tố. 
Tuy nhiên cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu sau này phát giác ra có Hội đồng An ninh nhưng Hội đồng chẳng hề nhóm họp một lần! Tất cả chỉ có một nhóm thư ký đánh máy nhà nghề, chuyên sản xuất những trích lục bản án ma, dưới quyền điều khiển của một cán bộ tổng quản trị. Nhóm thư ký đánh máy hiển nhiên là có và họ có làm việc. Tôi có thể bảo đảm. 
Cho đến 1924 thẩm quyền troika chỉ được quyết định tối đa 3 năm đi đày. Từ 1924 trở đi tăng lên 5 năm đi đày trại Cải tạo. Nhưng từ 1937, Hội đồng An ninh có quyền “ra án” 10 năm và từ 1948 trở đi còn nới rộng thẩm quyền tới 25 năm. Nhiều nhân chứng – trong đó có Chavdarov – còn cả quyết thời chiến Hội đồng An ninh còn tuyên nhiều bản án tử hình. Điều này chẳng có gì lạ. 
Hội đồng An ninh là một cơ quan mà Hiến pháp không đề cập đến, không hề ghi trong Bộ Hình Luật này. Tuy nhiên đó là một guồng máy xay dễ xài nhất, tiện lợi, không đòi hỏi thủ tục rườm rà, không cần “đánh bóng” bằng pháp lý. Hình Luật đi một đường, Hội đồng An ninh đi một đường riêng. Guồng máy xay cứ tiếp tục nghiến người, không cần một điều nào trong số 205 điều của Bộ Hình Luật. Nhắc tới hay viện dẫn Hình Luật cũng khỏi! Dân đi đày ưa hài hước: 
“Có tội gì mà phải cần Toà Án? Đã có Hội đồng An ninh bao hết!” 
Nếu Toà án có những điều luật này, bộ luật kia thì Hội đồng An ninh cũng phải quy định một số tội trạng và cần phải có tên tắt cho dễ nhớ. Con nít cũng không thể quên vì các tội trạng tổng quát của Hội đồng An ninh chỉ gồm 10 chữ tắt. Xin nhắc sơ lại dưới đây: 
• ASA: Tội xách động (nhà nước) Xô Viết 
• KRD: Tội hoạt động phản cách mạng 
• KRTD: Tội hoạt động phản cách mạng theo phe Trotsky (tội này chỉ thêm một chữ T nhưng chịu không biết bao nhiêu hành hạ) 
• PSh: Tội tình nghi gián điệp (trường hợp gián điệp rành rành mới đưa ra Toà xét xử) 
• SVPSh: Tội có những tiếp xúc có thể dẫn tới tội Tình nghi gián điệp 
• KRM: Tội có tư tưởng phản cách mạng 
• VAS: Thành phần nguy hiểm cho xã hội 
• SVE: Thành phần có hại cho xã hội 
• PD: Nó hành động phạm pháp (thường dùng để buộc tội các cựu tù nhân từng bị đi đày về) 
Ngoài 10 tội tên tắt trên còn thêm một tội gần như có thể gán cho mọi người. Đó là tội chắc chắn, tức người cùng gia đình, thân thuộc của một người bị đày vì 1 trong 10 tội nói trên. 
Xin nhớ 11 tội của Hội đồng An ninh không áp dụng nhất loạt, mỗi thời đại mỗi khác. Cũng như các điều luật và Sắc lệnh đặc biệt, có giai đoạn áp dụng ào ào như nạn dịch vậy. Cũng đừng quên Hội đồng An ninh không tuyên án. Hội đồng An ninh chỉ sử dụng biện pháp trừng phạt hành chánh mà thôi nên cố nhiên Hội đồng có quyền độc lập về pháp lý. Không phải một bản án nhưng “biện pháp hành chánh” của Hội đồng An ninh ngoài việc cho đi đày tối đa 25 năm còn thêm những khoản sau: 
• Tước bỏ chức tước, cấp bậc, huy chương 
• Tịch thu tài sản 
• Câu thúc thân thể 
• Cấm chỉ liên lạc thư từ, tiếp xúc 
Một nạn nhân của “biện pháp hành chánh” Hội đồng An ninh bị biến khỏi mặt đất quá dễ dàng, chắc chắn hơn bản án của Toà án rừng nhiều. Độc hại nhất là nạn nhân hoàn toàn không có quyền thượng tố… nghĩa là không có cơ quan nào – hoặc lớn hơn, hoặc ngang hàng – để mà kháng cáo! Hội đồng An ninh chỉ chịu lệnh Bộ trưởng Nội An, Stalin và quỷ Sa-tăng! 
Lại nữa, nhịp quyết định của Hội đồng An ninh vô cùng mau lẹ! Tất cả chỉ là đánh máy, nên chỉ sợ máy chữ đánh không đủ nhanh. 

Còn điểm thuận lợi này mới đáng kể: Hội đồng An ninh không xử mà chỉ quyết định kín, căn cứ theo hồ sơ. Đỡ phải thấy mặt nạn nhân, đỡ phí tổn chuyên chở và một bức hình can phạm cũng khỏi tốn. Thời buổi tiết kiệm, nhà tù quá đông, đỡ phải nhốt những cái miệng ăn hại! Chỉ chưa xong hồ sơ còn được thí miếng bánh nhà nước. Hội đồng an ninh có quyết định là tống đi đày tức khắc để “lao động cải tạo”. Nếu cần thì người đi trước, quyết định của Hội đồng sẽ gởi tới trại sau! 
Thông thường bọn tù đi đày đều là “người đi trước”, đi xe lửa. Lúc tới trạm xuống là bị lùa xuống, quỳ ngay ngắn dọc đường rầy để kiểm soát và tránh đào tẩu. Cảnh tượng này trông như họ quỳ gối trước Hội đồng An ninh để lắng nghe tuyên đọc thời hạn đi đày. Có khi tới trại Cải tạo (như trại Perebory 1938) mới có ông thư ký Ban Tiếp nhận cầm danh sách đọc. Chẳng hạn như: Tên X, tội SVE, 5 năm (thì ra công trường đào kênh Volga – Mạc Tư Khoa đang đòi hỏi gấp một số nhân công vĩ đại). 
Nhiều kẻ đến trại, “lao động” mấy tháng vẫn chưa biết Hội đồng An ninh quyết định ra sao về số phận mình. Như trại Stalino, Ban Quản đốc lựa đúng ngày lễ Lao động 1-5-1938, treo cờ tưng bừng để đọc cho nghe quyết định của Hội đồng An ninh (thời gian này vì nhu cầu nhân công quá cao nên Hội đồng An ninh phải tản quyền về địa phương). Mà quyết định của Hội đồng An ninh địa phương đâu phải nhẹ. Từ 10 đến 20 năm. 
Cũng năm đó, một đám Zek được đổi trại từ Chelyabinsk tới Cheropovets, chưa có quyết định. Đợi mấy tháng vẫn chưa có. Một hôm trời giá lạnh quá lại nhằm ngày nghỉ bị kêu tập họp ở sân trại để nghe ông Trung úy vừa tới trại thông báo quyết định của Hội đồng An ninh. Có lẽ ông sĩ quan trẻ còn chút lòng thương mấy thằng tù giày dép không đủ ấm mà phải đứng đợi lâu trên nền đất băng giá nên ra lệnh: 
“Trời giá lạnh cỡ này mà tập họp làm chi cho khổ thân? Giá chung Hội đồng An ninh lần này cho các anh là 10 năm chẵn. Chỉ rất ít, rất ít được 8 năm. Nói vậy hiểu chưa? Thôi, giải tán!” 
Bộ máy Hội đồng An ninh đã làm việc hiệu quả, trơn tru như vậy thì hà tất phải có Toà án? Có xe lửa tối tân, đi êm không tiếng động, tù lại không trốn nổi thì tại sao phải xài xe ngựa? Bộ tính nuôi mấy quan Toà cho mập chắc? 
Nhưng không lẽ một quốc gia dân chủ lại không có Toà án? Năm 1919, một trong những mục tiêu do Đại hội Đảng kỳ thứ 9 đề ra là “tích cực hướng dẫn công nông học tập đường lối tư pháp”. Hướng dẫn công nông sinh hoạt tư pháp thì hơi khó. Việc xử án tế nhị, phức tạp quá mà! Nhưng “bỏ qua” toà án thì không xong! Tuy nhiên toà Chính trị, toà Quân sự, từ cấp dưới đến Tối cao Pháp viện đều noi gương Hội đồng An ninh: làm việc cấp tốc, không mất thời gian xử án lôi thôi, khỏi tranh luận giữa hai bên nguyên bị. Đặc điểm số một của tổ chức tư pháp của chúng ta là tất cả mọi cấp Toà đều giống như ở điểm xử kín. Toà chỉ xử kín dân Nga đâm quen với lề lối xử kín đến độ nghe đòi hỏi “Toà án là phải xử công khai” thì ngay thân nhân những người từng lãnh án cũng cãi lại: “Toà xử mà công khai thế nào được? Địch biết hết còn gì? Phiên xử án cũng là tin tức chớ? 
Khốn nạn, chỉ sợ địch biết hết tin tức mà chấp nhận xử kín? Họ có biết đâu ngay dưới thời quân chủ, phạm tội mưu sát nhà vua bằng súng như Karakozov ra toà vẫn có luật sư biện hộ, án chính trị cũng xử công khai không sợ bọn Thổ biết hết tin, Vera Zasulich mưu sát hụt, bắn qua đầu ông Trưởng ty Mật thám thủ đô đâu có bỏ xác trong hầm tra tấn. Phiên toà xử công khai, tha bổng Vera mà nữ phạm nhân còn được xe ngựa đến rước về nhà nữa! 
Nói vậy không phải tôi có ý ca ngợi chế độ tư pháp thời Nga hoàng toàn hảo, tốt đẹp. Chỉ một xã hội văn minh, trưởng thành mới có nổi một chế độ tư pháp tốt. Và dĩ nhiên người bình dân Nga chẳng ưa gì Toà án, chứng cớ là Vladimir đắc lực nghiên cứu phong tục thời xưa đã xác nhận “trước thời đại giải phóng nông nô, kho tàng ca dao tục nữ Nga không hề có một câu ca ngợi Toà án bao giờ”! Nhưng ít nhất cũng có một cuộc cải tổ chế độ tư pháp năm 1864 để ít nhất xã hội thị dân Nga cũng bắt kịp Anh quốc về tổ chức Toà án. 
Chính nhà vua Dostoievsky từng công kích lối xử án có Bồi thẩm đoàn và có các ông luật sư tranh luận chỉ cốt để trổ tài hùng biện. Theo Dostoievsky thì nhiều khi Bồi thẩm bị quyến rũ theo các cuộc lý sự đó mà quên phứt trách vụ công dân. Đồng ý những cuộc hùng biện quá trớn đó cũng có ảnh hưởng phần nào đến một chế độ tư pháp đang thời kiện toàn. Có thể là một chứng bệnh dân chủ nữa nhưng dù sao không độc hại bằng lối xử kín. Cũng Dostoievsky mơ tưởng đến một lề lối xử án mà tất cả những yếu tố cần yếu cho sự bênh vực can phạm đều được chính Ủy viên Công tố trù liệu hết. Đẹp quá, nhưng bao giờ có nổi, trong khi luật sư biện hộ thời buổi này – nhân danh công dân Xô Viết – buộc tội bị cáo là chuyện thường thấy! 
Toà xử kín thuận lợi cho mấy ông thẩm phán quá. Dễ làm việc, khỏi cần áo thụng mà xắn tay áo lên còn được mà. Không máy phóng thanh, không có nhà báo, không công chúng. Lâu lâu cũng có mấy hàng ghế công chúng nhưng toàn một mặt điều tra viên! Ở Toà Lêningrad nhân viên cơ quan ưa theo dõi tận phiên toà để coi cung khai ra làm sao để nếu cần đêm đến xuống tận xà lim “hỏi thăm”. 
Đặc điểm thứ hai của các phiên toà xử Chính trị của ta là quan toà chỉ ngồi cho có, bản án đã có sẵn từ trước rồi 1. Cấp trên muốn gì, quan Toà phải biết rồi (nếu cần chỉ phải nhấc điện thoại lên!). Nghĩa là bắt chước bên Hội đồng An ninh, Toà cho lập những bản án có sẵn, đánh máy để trống chỗ điền tên họ tù nhân bằng tay. 
Năm 1942 trước phiên toà quân sự quân khu Lêningrad, phạm nhân Strakhovich kêu ầm lên: 
“Xin Toà xét cho, năm ấy tôi đăng lính cho Ginatovsky thế nào được? Tôi mới 10 tuổi mà.” 
Ông Chánh thẩm gạt phăng, nạt lớn hơn: “Coi chừng! Bị can không được phép mạ lỵ Sở Quân báo nghe!” 
Cũng phiên toà đó được lệnh sẵn: đứa nào dính dáng đến Ginatovsky là xử bắn hết. Kẹt một thằng tên Lipov không hiểu sao dính vô vụ này nhưng trước Toà, cả nhóm không biết mặt hắn mà Lipov cũng chẳng biết ai. Vì vậy chỉ bị 10 năm tù! 
Xét cho cùng Toà xử theo lệnh trên càng đỡ khổ cho ông thẩm phán. Chẳng phải thắc mắc, ân hận vì xử oan ức cho một ai! Vì đỡ phải cân nhắc tội trạng nên nghiêm khắc nổi tiếng như Chánh án Ulrikh – chuyên viên tuyên án tử hình – cũng tự cho phép đùa bỡn, vui vẻ một chút. Chính Ulrikh người lùn, mập ngồi Chánh thẩm phiên toà quân sự xử bọn tự trị Estonia năm 1945 đã luôn miệng giễu cợt với các đồng nghiệp và cả tù nhân. Gọi đến tên Susi, biết hắn là luật sư nổi tiếng nên quan toà “chọc quê”: 
“Rồi, nghề của chàng đây! Thử trổ hết tài coi có hơn chút nào không?” 
Làm sao hơn được? Lệnh trên đã quyết định rồi: phiên toà có xử (hay không) thì mỗi người trong nhóm Susi cũng lãnh đều 10 năm! 
Vì lẽ đó phiên Toà diễn ra êm ả, vừa xử vừa hút thuốc cũng còn được, xế trưa tạm ngừng để ăn cơm trưa và tối đến ra lệnh cho tù ngồi đợi suốt đêm, đợi Toà đình nghị án. Đêm hôm mà nghị án gì? Các ông toà về nhà ngơi nghỉ, để 9 giờ sáng hôm sau quần áo tươm tất, râu tóc cạo đàng hoàng… ông Chánh thẩm bước vô oai vệ hết: 
“Mọi người đứng lên! Toà tái nhóm…” 
Toà tái nhóm, Toà nghị xử rồi Toà tuyên án! Vì bản án có sẵn và Toà còn diễn “phường tuồng” như vậy nên nhiều người cho rằng thà trắng trợn như Hội đồng An ninh còn hơn đóng kịch máy móc. 
Đặc điểm thứ ba và cuối cùng của Toà án là xử theo biện chứng. Có điều khoản, có bộ luật rành rành nhưng xét vì “luật pháp không phải là đá tảng chặn đường” nên người ngồi xử án phải áp dụng biện chứng để linh động hoá việc xử án theo chiều hướng tiến bộ, thích nghi với hoàn cảnh. Đúng nghĩa nôm na của câu: “Miệng nhà quan có gang có thép!” 
Ngay bên cạnh mỗi điều khoản của Bộ Hình luật đã có sẵn các hình thức suy diễn, chiều hướng, chỉ thị, để tròng vào cổ bị can. Mà dù hành động của bị can không một điều luật nào dự liệu trừng phạt cũng còn có thể tuyên án căn cứ vào một trong 3 biện chứng: 
Suy diễn để đồng hoá tội trạng (danh từ “suy diễn” tự nó đã rộng nghĩa chán!) 
Xét tới gốc gác, giai cấp. Chẳng hạn xuất thân giai cấp phản động, phản cách mạng 2. 
Xét tới liên hệ, tiếp xúc với những phần tử nguy hiểm 3. Biện chứng thứ ba này vô cùng linh động: biết ai là phần tử nguy hiểm? Định nghĩa thế nào là liên hệ? 
Xin đừng phàn nàn “biện chứng pháp cao su”! Ngay Sắc luật tuyên hủy án tử hình cũng thình lình bị Sắc luật ngày 13 tháng 1 năm 1950 hủy bỏ dễ như chơi. Vả lại trên thực tế có bao giờ án tử hình không tồn tại! Nhân chứng Beris còn đó! Sắc luật mới tròng án tử hình lên những phần tử phá hoại, gây rối trị an. Nhưng thế nào là hành động phá hoại, gây rối thì Sắc luật không quy định rõ. Lửng lơ vậy mới dễ suy diễn! Phải chăng dùng chất nổ TNT phá tung một khúc đường rầy mới là phá hoại? Không phải. Sản xuất hàng xấu, không đúng tiêu chuẩn cũng là phá hoại kinh tế. Còn phá rối thì hai người ngồi xe điện nói chuyện với nhau cũng có thể bị kết tội âm mưu phá rối trị an vậy! Lấy chồng ngoại quốc cũng có thể liệt vào hạng có hành động gây rối dễ như không… 
Thực tế quan toà không xử án. Quan toà chỉ lãnh lương tuyên án. Xử án đã có các chỉ thị. Chỉ thị năm 1937: mười năm, hai mươi năm, xử bắn. Chỉ thị năm 1945: giá chung 10 năm cho tất cả mọi người, cộng thêm 5 năm an trí (vừa vặn 3 đợt nhân công cho 3 kế hoạch ngũ niên). Chỉ thị năm 1949: đồng loạt 25 năm hết 4. 
Cũng như Hội đồng An ninh, Toà án được quan niệm như một thợ máy phát án, một đầu máy xe lửa kéo con người vào tù đày. Ngay lúc đặt chân vô phòng tuốt người của Nội an, từng hàng nút áo bứt ra là tù chắc. Hết cựa quậy mà có bị chồng án, kéo dài ngày ra cũng chẳng đến nỗi. Vì quan niệm chắc chắn và ngấm lâu đến quen quá mất rồi nên năm 1958 những đấng quen ra chỉ thị bị hố một cú quá nặng khi cho ra chỉ thị mới: “Nguyên tắc căn bản về thủ tục hình án Liên Sô”. In trên báo rồi mới quên không chừa chỗ cho một trường hợp miễn nghị nào hết! Nhật báo Izvestiya ngày 10 tháng 9 năm 1958 nhẹ nhàng sửa lưng: “Chỉ thị như vậy dễ khiến người ta có cảm tưởng, các toà án của chúng ta chỉ có trừng phạt mà không có tha”. 
Tuy nhiên có thể đặt vấn đề. Tại sao cứ bắt buộc bản án của toà phải có 2 chiều là tống giam và tha bổng, trong khi tổng tuyển cử chỉ có một chiều độc diễn. Xét về kinh tế thì không thể có vấn đề tha bổng! Tha bổng phạm nhân nào là vô hiệu hoá bao nhiêu công tác, bao nhiêu cán bộ làm việc, kể như không sao. Nào điểm chỉ viên, mật báo, nhân viên đi bắt, điều tra viên thẩm cung. Công tố viên truy tố, thẩm phán ngồi xử đều vô ích. Còn giám thị gác khám, còn công voa đưa đi đày… 
Dưới đây là một trường hợp xét xử điển hình của Toà án Quân sự. Năm 1941 đạo quân trú phòng Mông Cổ nhàn nhã quá nên có chỉ thị An ninh quân đội phải gia tăng hoạt động. Viên trợ y nhà binh Lozovsky biết thóp bèn áp dụng chỉ thị lập tức để quất tình địch là Trung úy Pavel Chupenyev. Lựa lúc rỗi rảnh chỉ có 2 đứa, Lozovsky bèn gợi chuyện “thảo luận thân mật” để cho ông Trung úy vào bẫy. Đề tài thứ nhất: 
“Tại sao quân ta cứ triệt thoái mãi trước quân Đức vậy?” 
“Tại chúng trang bị mạnh hơn, chúng điều động trước nên giành được chủ động.” 
“Đâu phải! Đó là chiến thuật ta triệt thoái để nhử địch vào sâu!” 
Đề tài thứ hai: 
“Anh có tin là Đồng minh sẽ viện trợ chúng ta?” 
“Chắc chắn Đồng minh sẽ viện trợ nhưng chẳng phải giúp chúng ta khơi khơi.” 
“Xin lỗi. Họ cho chúng ta ăn bánh vẽ. Sẽ chẳng viện trợ gì hết!” 
Đề tài thứ ba là: “Theo anh, tại sao Thống chế Voroshilov được gởi qua chỉ huy chiến trường Tây Bắc?”. Sau mục “thảo luận thân mật” tay đôi cố nhiên Trung úy Chulpenyev được Phòng Chính trị Sư đoàn gọi lên, bị Đoàn Thanh niên Cộng sản khai trừ lập tức về 3 tội: (1) tinh thần chủ bại, (2) đề cao giá trị vũ khí địch và (3) đánh giá thấp chiến lược của Bộ Tổng Tư lệnh. 
Trước phiên bình nghị, tố Chulpenyev hăng nhất là Bí thư đoàn Thanh niên Kalyagin. Chẳng là hắn tác phong quá hèn hạ trong trận Khalkhin Gol mà Chupenyev lại biết tẩy nên hắn mượn dịp quật địch thủ trước. Sau khi bị câu lưu, Chupenyev được gặp gã trợ y để đối chất theo thủ tục. Điều tra viên không chờ đối chất về nội dung cuộc thảo luận tay đôi mà chỉ hướng về nhân chứng Lozovsky hỏi một câu duy nhất: “Chulpenyev, anh biết người này không? Có hả? Tốt, cám ơn. Nhân chứng có thể về!” 
Thì ra cuộc đối chất biến thành đối diện! 5 
Đơn vị đóng ở Mông Cổ nên Chulpenyev được nếm mùi “nằm giếng cá nhân”. Một tháng sau mới được đưa ra phiên toà của Sư đoàn 36 cơ giới, hiện diện có Chính ủy Sư đoàn 36 Cơ giới, hiện diện có Chính ủy Sư đoàn Lebedev và Trưởng phòng Chính trị Slesarev. Nhân chứng Lovzovsky không xuất hiện. Sau này chỉ có chữ kỹ trong hồ sơ. Trước Toà bị cật vấn, Chupenyev cứ sự thật khai và còn nhấn mạnh: “Tôi nói vậy có gì hại đâu? Nhiều người cũng nói có sao?”. Toà vặn hỏi: “Ai nói? Cho tên họ đi”. Đời nào chịu khai bậy, bị can bèn chối quanh và xin được nói “lời nói chót” là để chứng minh lòng yêu nước xin Toà cứ gởi đến một chỗ nào chắc chết nhất và nếu có thể xin mời ông bạn đã tố cáo đi cùng! 
Có đời nào Toà quân sự lại trẻ con, chấp nhận đề nghị “anh hùng rơm” đó? Mật báo viên đã làm xong công tác thì Toà cũng phải làm công tác trừng trị để ngăn ngừa những thành phần nguy hiểm, tư tưởng lệch lạc chứ? Toà đình xử để các quan toà hút thuốc lá và nghị án. Sau đó bản án của Trung úy Chulpenyev là 10 năm tù cộng 3 năm an trí. 
Thế chiến II vừa qua mỗi Sư đoàn phải có ít nhất 10 vụ Chulpenyev. Nếu không chẳng hoá ra lập Toà Quân sự cấp Sư đoàn tốn tiền vô ích? Mà chúng ta có bao nhiêu Sư đoàn cả thảy? Đó cũng là lý do những phiên toà quân sự đâm nhàm chán, buồn nản như khuôn mặt quý vị thẩm phán nhà binh. Bản án đã có giá sẵn, thi hành nhất loạt nên quan toà chỉ đóng vai những máy đóng dấu. 
Toà như vậy, tuyên án như vậy nhưng ai ai cũng làm nghiêm trang quan trọng, dù biết là phường tuồng hết ráo! Lính áp giải vẫn gốc nông dân, đụng chạm quá nhiều với thực tế càng biết nhiều hơn hết. Nếu không ở trạm dọc đường Novosibirk năm 1945. Ban Tiếp nhận đâu có lối điểm danh phạm nhân lần lượt theo thứ tự điều khoản trừng phạt? Chẳng hạn như: 
“Nào bạn 58/1A “đi” 25 năm đứng ra đây!” 
Hoặc gã trưởng toán áp giải có thể hỏi một thằng: “Sao, anh làm gì mà bị?” Nghe trả lời: “Tôi có làm gì đâu”, hắn cười gằn: 
“Anh nói láo! Không làm gì đâu thì chỉ 10 năm.” 
Gặp trường hợp khẩn Toà Quân sự ngồi một vụ đâu có đến 1 phút. Đứng lên, ngồi xuống là xong! Những lần phải xử 16 giờ liên tiếp, Toà rút vào trong nghị án thì lúc nhìn vô sẽ thấy một bàn đầy trái cây trải khăn trắng. Lâu lâu rỗi rảnh các quan toà nhà binh mới chơi trò tâm lý, nồ phạm nhân bằng bản án tối đa để cho nó lịm người đi đã. Sau một hồi quan sát, ông Chánh thẩm mới hạ giọng: “Xét vì bị can thành khẩn hối ngộ, Toà truyền…”. 
Có dịp ghé mắt coi phòng xử án Toà Quân sự, để ý chỗ vách tường phòng tù ngồi đợi phiên xử thế nào cũng thấy cả rừng “lưu bút” nguệch ngoạc bằng viết chì hoặc móng tay. “Tử tội X…”. “Kẻ lãnh 25 năm…”. “Tôi 10 năm”. Dĩ nhiên muốn xoá bỏ thì quá dễ nhưng nhà nước có ý để chúng nằm đấy để dằn mặt phạm nhân ngồi đợi xử: 
“Cứ coi đấy! Đừng tưởng trước toà chối tội mà dễ. Muốn giở trò gì thì án vẫn là án!” 
Đúng thế, cho dù có hiền như cừu, có khúm núm cũng một bản án. Dám hùng biện, tranh luận với quan toà hăng cỡ Olga Slioberg trước Tối cao Pháp viện năm 1936 cũng vô ích. Có ai làm cử toạ đâu, ngoài mấy ông Điều tra viên? Chỉ muốn tăng án là dễ ợt: Thay vì 10 năm muốn tử hình cũng được! Đó là trường hợp Nikolai S. Daskal, năm 1937 ra toà đặc biệt ở Maikop đã nổi hung chửi vào mặt phiên toà do Chánh thẩm Kholik chủ toạ: 
“Tụi bay là những quân Phát-xít! Tao lấy làm hổ thẹn mấy năm trời đã hoạt động trong Đảng của chúng bay.” 
Dĩ nhiên bản án Daskal chỉ có thể tử hình. Nó đã dám mạ lỵ Đảng và cán bộ Đảng trước phiên Toà thì xử nó một lượt cho rồi, đỡ phải xử lần nữa. 
Trường hợp bị cáo phản cung trước Toà thì sao? Cũng được, song coi chừng. Cả nhóm phản cung toà vẫn có biện pháp xử trí rất êm. 
Chavdarov kể lại một phiên toà lớn, bao nhiêu bị cáo phản cung hết, chối hết tội. Công tố viên gật đầu đứng dậy, đưa mắt nhìn Toà. Vài giây sau Toà tuyên đình, khỏi nêu lý do. Các bị can được đưa khỏi phòng xử. Một số điều tra viên và “phụ tá” từ khám giam cứu chạy sang gấp. Mỗi điều tra viên lãnh một mạng phản cung đưa ngay vô một phòng nho nhỏ ở gần đó. Những gì hiện ra bên trong ai cũng biết. Chừng điều tra viên xong việc thì Toà tái nhóm và lần này chẳng bị cáo nào phản cung hết (vì Toà mà đình xử lần nữa thì nguy quá! Điều tra viên vừa “dặn” hờ mà!). 
Vụ án rắc rối nhất mà Toà phải xử thực sự có lẽ là vụ của đồng chí Aleksandr G. Karetnikov, Giám đốc Nha Khảo cứu ngành Dệt 6. Trước khi Tối cao Pháp viện, ban Quân sự nhóm xử, Karetnikov “rỉ tai” lính gác. Gã chạy đi ngay và ông Chưởng lý đồng ý cho gặp gấp vì có mấy khi tự ý phạm nhân chịu khai thêm, khai nhiều chi tiết mới? Tưởng gì, phạm nhân chìa một bên xương quai xanh gãy còn chưa lành cho ông Chưởng lý coi và tuyên bố: “Đấy, bản tự thú như vậy đấy”. Ông Chưởng lý “khoái khai thêm” biết mình hố, dính vào vụ rắc rối này dễ kẹt lắm lắm. Vị đại diện Công tố đâm rét, không dám quyết định và đã lỡ cưỡi cọp, Karetnikov đành liều làm tới. Ông Chưởng lý không dám tha, đành để Toà xử. 
Trước toà, Karetnikov vẫn chìa chỗ xương gãy ra. Toà Quân sự chưng hửng đành phải nghị xử thực sự. Toà không thể trơ tráo kết tội mà cũng không dám tha bổng, bèn tuyên bố bế mạc, phạm nhân không có án! 
Tuy nhiên, Karetnikov thay vì tự do thì chỉ được trả về khám giam cứu. Xương gãy chữa 3 tháng vừa hết lại lãnh trát mới, có ông điều tra viên mới. 
Điều tra viên mới hỏi cung rất tử tế khiến Karetnikov tưởng đâu cứ làm tới chắc được tha bổng, làm găng luôn, không nhận bất cứ tội trạng nào. Đúng, hồ sơ không có gì thì Toà xử sao được? Nhưng đã có quyết định của Hội đồng An ninh. Nghĩa là vẫn 8 năm tù! Hội đồng An ninh đã lườm sẵn để làm công việc thay Toà cho tiện, dù Toà án vẫn bị thi sĩ Drezhavin “hạ” bằng mấy vần thơ sau: 
Toà không vô tư là Toà ăn cướp 
Là nơi Pháp luật ngủ yên 
Để dân đen cúi đầu đưa cổ 
Ra Toà, cho ông Toà hỏi tội. 
Bao nhiêu con người như Karetnikov, như A. D. R… từng được dẫn ra trước phiên Toà ấy chịu phán xét. Tối cao Pháp viện, ban Quân sự! Thời cuộc đổi thay, đến lượt tôi cũng được hân hạnh diễn tiến. Đó là tháng Hai năm 1943, tôi cũng leo 4 thang lầu lên Toà nhưng không phải tội nhân vì bên cạnh tôi có ông Đại tá, chuyên viên nghi lễ rất lịch sử, hào hoa của Đảng. Cũng gian phòng mênh mông, hàng cột cao vút, cũng chiếc bàn móng ngựa khổng lồ bên trong có kê bàn nữa, với 7 ghế cho 7 ông Toà Tối cao ngồi xử. Nhưng bữa ấy tôi được dịp hầu chuyện đông đủ 70 ông Tối cao họp khoáng đại. 
Bữa ấy tôi đã nói rằng: 
“Thưa quý Toà, hân hạnh làm sao tôi gặp được quý Toà hội họp và đón tiếp long trọng thế này. Xin thú thật tôi là thằng tù bị đày 8 năm và an trí thì gần như vĩnh viễn… vậy mà chưa được thấy mặt một ông Toà nào!” 
Theo tôi thì lúc bấy giờ các ông Toà Tối cao chắc phải dụi mắt ngó vì họ đã thấy tận mắt một thằng Zek nào đâu? Nhưng họ không phải thành phần tù cũ, họ xác nhận vậy. Những ông cũ, những ông thời đó không còn ngồi đây nữa. Họ một phần về hưu, một phần bị sa thải (như “chuyên viên tử hình” Ulrikh, năm 1950 dưới thời Stalin cũng bị sa thải. Có thể nào giảm khinh ghê gớm thế?). Có một số bị truy tố dưới thời Kruschhev nhưng đã ngồi hàng ghế bị cáo, có ông còn dám nạt lại rằng: 
“Mấy anh coi chừng nghe! Bữa nay tôi đứng ra đây cho mấy anh xử. Nhưng rồi đây chính tôi sẽ xử lại mấy anh!” 
Có điều ngày đó không hề có. “Phong trào” Kruschhev bất quá chỉ là lửa rơm, chỉ ồn ào sửa sai lúc đầu để rồi sau đó tắt ngấm. Chỉ được đến đấy là hết! 
Làm sao tôi quên được buổi họp mặt hôm ấy và những điều tâm sự, những tiết lộ của những ông toà địa vị cao nhất nước? Có ông lên diễn đàn tố cáo những ông toà chế độ trước, trong các phiên họp công tác dám lấy làm vinh dự vỗ ngực khoe đã thành công hoàn toàn trong việc vận động ngưng giảm khinh. Do đó các đồng nghiệp mới có thể tuyên những bản án 25 năm thay vì 10 năm chớ. Có ông kể tội Toà hồi ấy lệ thuộc Cơ quan một cách quá nhục nhã. Phải nhắm mắt xử theo chỉ thị là thường. Biết sao hơn được? (Thì ra thế!). Có lần cơ quan gửi sang một thằng nào ở Mỹ về can tội nói láo rằng: “Đường sá bên Mỹ tốt hơn bên mình nhiều quá!” để yêu cầu Toà trừng trị. Ông Toà thấy vô lý quá, bèn gởi trả hồ sơ và người về “điều tra lại”. 
Kết quả là cơ quan nổi nóng, trừng phạt ngay ông Toà đã dám nghi ngờ việc làm của nhân viên cơ quan. Dĩ nhiên ông Toà ẩu vẫn còn làm Toà như thường, nhưng thuyên chuyển ra làm thư ký Toà Quân sự đảo Sakhlin! 7 
Nói gì ông Toà, Công tố viện cũng còn phải nể Cơ quan nhiều quá! Năm 1942 Ryumin đã gây bao nhiêu tai tiếng trong ban phản gián Hạm đội miền Bắc. Cả nước biết, Công tố viện cũng biết nhưng không dám truy tố mà chỉ thông báo lịch sự cho xếp Abakumov! Quả nhiên Abakumov đã không trừng phạt còn kêu đàn em về để cho lên chứ” và sau này bị hạ bệ cũng vì Ryumin. 
Phải chi bữa đó còn thời giờ thì tôi hẳn còn được nghe nhiều chuyện gấp mười! Nhưng bấy nhiêu đó xét cũng đủ rồi, có điều tôi ngạc nhiên là vì các ông Toà Tối cao vừa nhìn nhau vừa kể cho tôi nghe một cách giản dị quá. Họ cũng quan Toà. Họ cũng là người mà! Sao họ có thể hào hứng tố cáo dễ dàng như vậy? Họ kể có vẻ thiện chí lắm nhưng tôi có cảm tưởng nếu thời cuộc đổi thay, chính những ông này sẽ lại ngồi xử tôi. Có thể chính trong gian phòng Đại hội này. Cố nhiên là tôi sẽ phải có tội, sẽ phải đi tù chắc. 
Như vậy tội ở người hay ở chế độ? 
Ngạn ngữ cổ có câu: “Luật pháp không đáng sợ. Nên sợ quan án”. Nhưng theo tôi thời buổi này phải lật ngược lại mới đúng vì luật pháp dữ dằn, dã man hơn người nhiều. Nhất là luật pháp của Abakumov! 
Bữa hôm đó có ông Toà còn lên diễn đàn ca ngợi cuốn Một ngày của Ivan Denisovich, một cuốn sách đọc xong cảm thấy lương tâm yên ổn. Họ cho rằng những gì tôi nói ra còn quá ít, quá tốt vì thực sự đời sống trong Trại Cải tạo còn thậm tệ hơn nhiều, họ cũng biết như vậy. Trông vị nào cũng trí thức cả, đáng độc giả của Novo Mir cả! Họ hăng hái có ý kiến, nào đòi hỏi cải tổ lại chế độ, nào công kích những ung nhọt xã hội, nhất là ở miền quê. 
Ngồi lặng yên trước mặt 70 ông Toà Tối cao hăng say như vậy tôi còn biết nói gì? Tôi ngồi yên và không thể không có cảm nghĩ cuốn Một ngày trong đời Ivan Denisovich dù sao cũng chỉ là một giọt nho nhỏ của Sự Thật. Một giọt mà đã thế. Nếu bao nhiêu Sự Thật trút xuống ào ào như thác nước trên đất nước này thì thử hỏi còn phản ứng đến đâu? 
Tôi vững tin thế nào cũng có một ngày. Ngày của Sự Thật phải tới.

——————————–

1Cũng trong tài liệu Chưởng lý Vyshynski, vấn đề bản án có sẵn là chuyện xưa rồi! Khoảng 1924-29 toà án phải chiếu “điều kiện” hành chính và kinh tế nữa”. Từ 1924 vì nạn thất nghiệp lan tràn, Toà bớt tuyên án “cho đi lao động cải tạo” mà chỉ tuyên án ngắn hạn (đối với thường phạm) cho nên tù rặt những thằng cỡ 6 tháng, lỡ dở. Đầu 1929, Bộ Tư pháp Liên Sô có thông cáo số 5 đả kích những án ngắn hạn và ngày 6 tháng 11 năm 1929 – kỷ niệm 12 năm Cách mạng tháng 10, Ủy ban Hành pháp Trung ương có sắc lệnh tuyệt đối cấm chỉ những bản án dưới 1 năm tù.
2Lề lối xử án theo gốc gác, giai cấp đã được tái áp dụng mạnh mẽ ở Nam Phi… lúc tranh chấp kỳ thị màu da nổ dữ dội: bất cứ một dân da đen nào bị liệt vào hạng “nguy hiểm cho xã hội” cũng bị giam 1 tháng. Không cần điều tra, xét xử.
3Đây là một mới lạ… có thể kiểm chứng được trên tờ Izvestia tháng 7 năm 1957.
4Vì chỉ thị xử án đồng loạt 10 năm + 5 năm để cưỡng bức lao động nên tù thường phạm Babayev đã hét lớn: “Có tròng lên đầu thằng này 300 năm cũng khỏi ngán! Nhấc một ngón tay “lao động” cho nhà nước hưởng thì không!” 
Năm 1948 toà quân sự nhóm xử ở Bá Linh tuyên phạt điệp viên thứ thiệt Schultz 10 năm tù. Nhưng Gunther Waschau chưa hề biết gián điệp là gì thì bị quất 25 năm… vì lỡ kẹt đợt 1949, đã có chỉ thị “đồng loạt 25 năm hết”! Năm 1949 khác, năm 1945 khác hẳn chứ?
5Xin ghi nhận là Lovzovsky đã tốt nghiệp y khoa và hành nghề đàng hoàng ở Mạc Tư Khoa, đời sống dễ chịu, Chupenyev vẫn còn sống cũng ở Mạc Tư Khoa. Ngày ngày đi lái xe điện.
6Ban Quân sự của Tối cao Pháp viện có thể xử tối cấp tốc như vụ A. D. R., kỹ sư điện. Bị điệu ra Toà, thang máy nhiều người xài quá nên lính áp giải xách cổ hắn, chạy 4 tầng lầu lên phiên xử. Vừa vặn xử xong một thằng đang đưa ra thì A. D. R. bị lính nhét vô. Toà vừa đứng dậy lại ngồi xuống và hỏi sơ qua thủ tục, các ông Toà nhìn nhau gật gù: Bản án 20 năm được tuyên tức thì: Xét ra Toà quyết định còn lẹ hơn A. D. R. lắp bắp khai tên họ (vừa ở khám ra phải chạy 4 tầng lầu). Nhưng phải vậy mới kịp vì A. D. R. vừa bị tống ra đã có một mạng mới bị thảy vô liền.
7Dưới thời Khruschhev, những ông Toà “lầm lỗi” không đến nỗi bị đi đày như vậy mà chỉ bị nhẹ nhàng đẩy ra khỏi ngành thẩm phán để làm… luật sư! Tờ Izvétiya ngày 9-6-1964 đã đăng tin trên. Thì ra quan điểm luật sư biện hộ là vậy! Dù sao cũng còn hơn dưới thời Lenin nhiều: thời đó ông Toà nào “giảm khinh” nhiều là bị khai trừ ra khỏi Đảng.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Thương Tiếc qua đời.

Post by Sơn râu 8 May 2025

Xin thành kính phân ưu cùng gia đình Ông Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Thương Tiếc đặt tại Ngĩa Trang Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa vừa qua đời ngày 6/5/2025 tại nhà riêng ở Việt Nam. Nguyện cầu cho hương linh Ông được siêu thoát về cõi an lành.

Sơn râu kính điếu.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu giã từ trần thế

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    May 7, 2025

Y Nguyên –6 tháng 5, 2025

Post by Sơn râu 8 May 2025

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu (Hình gia đình cung cấp)

Ngay sau tin qua đời của nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân, tin tức về Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đột ngột ra đi, khiến thêm một nỗi buồn ập đến với những người yêu quý di sản văn hóa của một thời Sài Gòn tự do, cũng như yêu quý cái tên người nghệ sĩ quen thuộc với những tượng đài đô thị Việt Nam Cộng Hòa.

Gia đình của Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu cho biết, ông ra đi yên lặng và thanh thản hơn khi còn sống, vào lúc 13g30 phút ngày 6 Tháng Năm 2025, ngay sân vườn nhà mình. Ông giã từ trần thế ở tuổi 92.

Ông tên thật là Nguyễn Văn Thu, nghệ danh Thanh Thu là tên ghép giữa pháp danh Thanh Quang và tên thật ngoài đời. Vài năm trở lại đây, khi bệnh ngày càng trầm kha, những người thân quen ngỏ ý muốn đưa ông đi nước ngoài chữa bệnh, nhưng ông từ chối vì không muốn rời xa con cái, ngôi nhà và vườn tượng của ông.

Được biết ông từ bệnh viện về nhà cách đây không lâu. Thời tiết ở Việt Nam lúc này rất nóng, nên gia đình để ông nằm phía trong sân nhà cho thoáng mát, đồng thời người nhà dễ qua lại thăm nom ông. Lúc trưa khoảng 11g, có cơn mưa nhỏ đem lại không khí mát dịu, nên ông nằm im như ngủ, nhẹ nhàng. Rồi sau đó lặng lẽ ra đi.

Cách đây không lâu, khi báo Sài Gòn Nhỏ đưa tin ông trở bệnh nặng phải nhập viện, học trò, bạn bè, người hâm mộ đã nhắn tin thăm hỏi, đóng góp viện phí cho ông. Đối với gia đình của Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thì đây là một điều hết sức cảm động. Cứ tưởng vị đại úy Việt Nam Cộng Hòa đã qua thời, sống lặng lẽ ở ngoại ô Sài Gòn và bị quên lãng, nhưng di sản của ông luôn làm người ta nhớ đến và cảm mến.

Ông Nguyễn Thanh Thu cùng cô con gái út (Hình PB)

Sống và ôm giữ trong đời mình những tác phẩm lừng danh của ông, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu lúc nào cũng mơ ước có một ngày dựng lại tượng “Thương Tiếc” vốn từng được đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội, dẫu là dựng lại trong sân nhà mình. Một vài người quen từng được ông tặng những tiêu bản cỡ nhỏ của Thương Tiếc, vẫn được nghe ông day dứt về giấc mộng không thành này.

Giờ đây, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu còn một tượng đài nằm ở Ngã sáu Chợ Lớn, đó là tượng đài An Dương Vương được ông thực hiện năm 1966. Chính quyền hiện tại vẫn để sử dụng, nhưng tránh nhắc tên ông, một Đại úy Việt Nam Cộng Hòa là tác giả.

Những tác phẩm ông lưu giữ trong vườn nhà mình, nhưng khi chính quyền kéo đến dòm ngó, và dù không có gì để bình luận, họ vẫn đập phá một số tượng theo quan điểm “cách mạng.” Từ đó, mới lưu truyền câu nói lừng danh của ông “Đập nát các bức tượng của tôi trong sân nhà, sự trả thù này còn ác hơn nhục hình mà tôi phải chịu đựng suốt 8 năm trời trong ngục tối.”

Không chỉ với tác phẩm, cuộc đời của Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu còn bị trừng phạt, và trả thù vì đã dựng lên những hình tượng đẹp của di sản văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Ông phải trải qua 8 năm giam cầm không tòa án. Ông bị bỏ đói, đánh đập, hành hạ khiến cho hai tai bị điếc, chân đi không vững và tánh mạng gần như bị kiệt quệ. Ông kể, có lúc phía trại tù định đưa ông đi bắn nhưng rồi lại thôi.

Ngay sau khi ông mất, cơn mưa dừng lại. Thời tiết mát dịu. Thiên nhiên cũng như lòng người miền Nam như cùng tiễn ông về những giấc mơ đời mà ông vẫn tha thiết.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu với các tiêu bản Thương Tiếc của mình (Hình gia đình cung cấp)

Vài tượng đài, tác phẩm tiêu biểu

1/ Ngày về (1963) |

2/ Chiến sĩ vô danh, đặt ở Nghĩa trang quân đội VNCH, Gò Vấp (1966)

3/ Trung Liệt (1966)

4/ An Dương Vương, đặt ở ngã sáu Chợ Lớn (1966)

5/ Thương Tiếc đặt ở Nghĩa trang quân đội VNCH, Biên Hoà (1966)

Tượng Thương Tiếc mới đầu thực hiện bằng xi măng cốt thép được đặt trên bệ cao lối vào nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà. Ngày 16.08.1968 được giải đặc biệt của Tổng tư lệnh tối cao Quân Đội VNCH. Ngày 01 Tháng Mười Một, 1968 làm lễ khánh thành. Cuối năm 1969 pho tượng Thương Tiếc được thay chất liệu, được đúc bằng đồng. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 pho tượng bị phá hủy.

(Nguồn: Saigonnho)

Thương tiếc tiễn đưa “nhất phiến tài tình”: Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on May 6, 2025 by Lê Thy

Nguyễn Tuấn Khoa

(nguồn: baotiengdan.com)

Post by Sơn râu 7 May 2025

Cáo phó ông Nguyễn Văn Thu.

(Ảnh từ gia đình ông Nguyễn Văn Thu)

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1934, tức ngày 15 tháng 12 âm lịch, năm Quý Dậu, tại Gia Định. Ông là sĩ quan Quân Nhu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cấp bậc Đại Úy (khi biệt phái năm 1969). Ông cũng là giáo sư Hội Họa trường trung học Võ Trường Toản, đồng thời là giáo sư Điêu Khắc trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định.

Ông Thu nói rằng: “Điêu khắc là nghề do thân sinh chọn, nghiệp giáo do tôi chọn, còn binh nghiệp do tổ quốc đã chọn cho tôi. Tôi đã sống trọn cuộc đời cùng Nghề và Nghiệp với lý tưởng TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM”.

Nghề Điêu Khắc và nghiệp Giáo Chức

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu.

(Nguồn: Nguyễn Tuấn Khoa)

Ông Thu có năng khiếu hội họa đặc biệt khi còn nhỏ, nên được cha hướng theo nghệ thuật. Năm 1949, học hết lớp Đệ Tứ (lớp 9), ông thi đậu trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định (Ecole des Arts appliqués de Gia Đinh). Đây là ngôi trường danh giá, thành lập từ 1913, do các họa sĩ Pháp giảng dạy nên ông có cơ hội tiếp xúc ngay với mỹ thuật Phương Tây. Suốt bốn năm học, các thầy Pháp ngạc nhiên trước tài năng của học trò nên khuyên ông theo con đường mỹ thuật cho đến trọn đời.

Năm 1953 ông đậu vào trường Mỹ Thuật Gia Định, học cùng lúc hai ngành Mỹ Thuật và Giáo Khoa Hội Họa trong 6 năm, mất gấp đôi thời gian. Họa sĩ Lê Văn Đệ, Giám đốc trường, hướng ông theo lĩnh vực điêu khắc. Ông nói, trong sự nghiệp sáng tác của mình có dấu ấn của thầy Đệ.

Tốt nghiệp năm 1958, Ông được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ nhiệm dạy tại hai trường: Trung học Võ Trường Toản và Mỹ Thuật Gia Định. Nghiệp giáo chức được bốn năm thì bị gián đoạn trong 7 năm do binh nghiệp. Năm 1969, ông được Biệt Phái Ngoại Ngạch, trở lại dạy tại hai trường trên cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Ông có nhiều tác phẩm được lưu giữ tại trường Mỹ Thuật Gia Định nhưng tất cả đều biến mất sau ngày Sài Gòn sụp đổ.

Nghề Điêu Khắc và Binh Nghiệp

Ngày 17 tháng 2 năm 1962, ông nhập ngũ theo lệnh Tổng Động Viên. Ông học khóa 13 trường Võ Khoa Thủ Đức, thuộc lực lượng Sĩ Quan Trừ Bị. Tốt nghiệp tháng 12/1962, ông được bổ nhiệm tại “Trung Tâm Khảo Sát Kỹ Thuật Quân Nhu”, với chức vụ Chuyên viên Đài Án Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và Bốn Vùng Chiến Thuật.

Suốt bảy năm trong quân ngũ, ông dành phần lớn thời gian để sáng tác đề tài người lính VNCH, tất cả là những tuyệt tác của nền điêu khắc quốc gia đang vào thời cực thịnh. Đó là tượng Ngày Về (giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Ngô Đình Điệm), tượng Quyết Thắng, tượng Chiến Sĩ Vô Danh (bùng binh Tổng Đốc Phương), tượng Trung Liệt (Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp)… Trong đó bức tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là một kiệt tác nghệ thuật mà người đời sau vẫn còn nhắc mãi.

Các đồng nghiệp nước ngoài đánh giá ông Thu là Điêu khắc gia xuất sắc nhất ở Việt Nam. Đại tá H.G. Fuller, Bộ Chỉ huy Lục Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (USARV) đã viết: “… xét về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân trọng đặt tượng Thương Tiếc và các tác phẩm khác của ông ngang hàng với bức ảnh nổi tiếng ‘Raising the Flag on Iwo Jima’ (Dựng Cờ Trên Đảo Iwo Jima) ở Arlington” – sau này được dựng thành tượng “Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ”.

Cuộc bể dâu chấm dứt nghề điêu khắc.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 16/5/1975 một nhóm người đột nhập vào nhà ông Thu lúc 2h đêm, bắt ông đi. Ông bị giam, đánh đập tàn nhẫn đến gần chết rồi thả ra sau 7 ngày. Hành động này chỉ là một sự trả thù của nhóm người “bên thắng cuộc” chứ không nhằm điều tra gì cả. Vào cuối tháng 6/1975, một nhóm người hung hãn đã xông vào nhà ông đập nát các bức tượng, có bức cao 4m về người lính VNCH, đó là bức Quyết Thắng và bức Thương Tiếc (bằng bê-tông là khuôn đúc của bức Thương Tiếc bằng đồng). Bức Ngày Về nằm khuất sau những cây dây leo nên đã thoát hiểm.

Không chứng kiến cảnh đập phá này vì một tuần trước đó, ngày 23/6/1975, ông đã nhập trại tập trung để bắt đầu một cuộc tù đày giống như bao sĩ quan VNCH phải chịu sau ngày chiến tranh kết thúc. Những ngày đầu tại trại Hàm Tân, biết ông là tác giả tượng Thương Tiếc những người cai ngục đã dùng nhục hình, làm cho thính lực của ông bị mất hoàn toàn. Tiếp theo là 7 tháng cùm chân rồi hai năm biệt giam trong conex. Để khuất phục ông, những người quản lý trại giam đã bắt ông tạc tượng ông Hồ Chí Minh để đánh đổi thoát khỏi biệt giam trong conex. Sau hai tháng hoàn tất, ông đã cho ra đời bức tượng cao 4m… tượng ông Nguyễn Văn Thiệu!

Ngày 02/09/1977, trại giam Hàm Tân không có tượng Hồ Chí Minh để làm lễ mà thay bằng sự ồn ào từ các tù nhân và sự nổi giận của các giám thị rồi biến thành trận đòn thù dã man giáng lên tác giả của bức tượng.

Với hành động bất khuất này, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã tạo nên một tiếng vang lan truyền ra khỏi biên giới quốc gia đang bị thế giới cô lập và mãi mãi trở thành “một pho tượng” người lính VNCH bất tử.

Đào thoát

Ngày 24/6/1983 ông được trở về với gia đình sau 8 năm tù và bị giam lỏng tiếp tại nhà trong bốn năm. Ông đã sử dụng thời gian này để hồi phục sức khỏe, dạy điêu khắc để chờ ngày vượt biên.

Hết hạn quản chế, ông đã đào thoát qua ngã Kompongsom. Sau hai ngày lênh đênh trên biển, ngày 28/12/1987 ông đã đặt chân lên đảo Ko Kut (Thái Lan) cùng với bức tượng mẫu Thương Tiếc bằng thạch cao, cao 50cm đã được TT Nguyễn Văn Thiệu duyệt. Ông lần lượt qua các trại tị nạn Leam Ngob, Panat Nikhom.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu với bức tượng mẫu Thương Tiếc bằng thạch cao, cao 50cm

Tại Panat ông đã tạc bức Phật Bà Quan Âm, cao 4m theo yêu cầu của Hoàng Gia Thái Lan và cũng để tạ ơn Người đã giúp ông thoát nạn. Cùng với bức tượng trong trại tù Hàm Tân kể trên, đây là tác phẩm thứ hai của ông sau ngày 30/4/1975 và cũng là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác ngắn ngủi của ông. Những ngày sau đó ông chỉ tạc những bức tượng theo yêu cầu của bạn bè.

Sau hai năm ở đảo, ông được định cư tại Hoa Kỳ.

Với thính lực gần bằng không, ông thấy ngày càng bế tắc trong việc mưu sinh nơi xứ người. Trong 15 năm sống ở Mỹ ông hy vọng từng ngày cộng đồng giúp ông phục dựng lại bức tượng Thương Tiếc, nhưng điều đó đã không bao giờ đến. Không sống được bằng nghề điêu khắc, ông không biết làm gì khác. Ông không tìm thấy niềm vui ở chốn này và lặng lẽ trở về Việt Nam, bỏ lại cảnh cô độc cùng sự ngưỡng mộ của muôn vạn người đồng hương tỵ nạn.

Trở về mái nhà xưa

Cũng với tâm trạng u uất như ngày trở về từ trại tù Hàm Tân, Ông âm thầm đến thăm từng bức tượng trong sân nhà như kể lể:

“Ta về như bóng ma hờn tủi.

Lục lại thời gian kiếm chính mình”

Tô Thùy Yên

Ông linh cảm rằng, những linh hồn đang lẩn khuất quanh đây nay lại nhập vào tượng đá để đón mừng cố nhân. Ông sống kín đáo, cô độc trong một căn phòng nhỏ ở cuối mảnh đất rộng bằng một nửa sân bóng đá. Ông may mắn có sự quan tâm của người cháu và một vài học trò cũ Võ Trường Toản lớp 6/5 khóa 1971. Tụi nó giúp ông vượt qua những thiếu thốn trong sinh hoạt và sửa lại căn phòng khang trang với những tiện nghi tối thiểu.

Ngày Ông đào thoát khỏi Việt Nam và cả sau này, Bà Giáo dặn Ông luôn niệm để được Phật Bà phù hộ lúc sinh – tử. Bà cũng luôn nhắc ông buông bỏ hận thù để tâm được an.

Trong ba năm cuối đời, sức khỏe ông suy dần để rồi Ông đã ra đi vĩnh viễn vào ngày 6 tháng 5 năm 2025 tại tư gia, cũng là xưởng sáng tác năm xưa ở Gò Vấp. Giờ đây Ông nằm xuống và đã cởi bỏ oán thù. “Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên” – Trịnh Công Sơn.

Thương Tiếc Ông, một Tượng Đài bất khuất!

Học trò Võ Trường Toản sẽ mãi nhớ đến Ông và tìm thấy hình ảnh Ông qua bức tượng Đức Hiệu Tổ Võ Trường Toản mà ông đã tạc năm 1974, hiện vẫn còn đặt tại ngôi trường xưa.

Nguyễn Tuấn Khoa

(VTT 1971)

Xin thành kính phân ưu cùng gia đình Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu. Tác phẩm Thương Tiếc của Ông mãi vẫn trong tâm tưởng của toàn dân quân miền Nam không phai mờ theo thời gian. Nguyện cầu cho hương linh ông được siêu thoát về cõi an lành.

Sơn râu kính điếu.