Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Mercredi 24 Avril 2024

Post by Sơn râu 12 May 2025

Phần 10 – Cuối

X) Câu chuyện về những chiếc bao bố ở trại Long Thành

Sau tháng Tư1975, quân nhân, công chức thuộc diện phải  học tập cải tạo đã đi từ bất ngờ này sang bất ngờ khác. Trước tiên là sự vỡ tan giấc mộng 30 ngày; rồi từ 1 năm đến quyết định cải tạo 3 năm, và sau 3 năm, đến một thời hạn … không định trước nữa!

Song, vào những tháng cuối năm 1977, có một bất ngờ vượt lên trên mọi bất ngờ khác, làm sụp đổ bao nhiêu suy tính của mọi người, tạo ra một cuộc khủng hoảng tâm lý chưa từng có.

Buổi sáng hôm đó, gần 3.000 trại viên được triệu tập lên hội trường với một lý do không được báo trước. Khi mọi người đã yên vị, một cán bộ dõng dạc tuyên bố ngắn gọn, đại ý là “những ai có tên trong danh sách này sẽ được nhận mỗi người một chiếc bao bố, dồn tất cả vật dụng riêng tư vào để trại gửi theo tàu ra Bắc”.

Nếu lúc đó có một trận địa chấn 7 độ Richter nổ ra thì sự hốt hoảng của mọi người cũng chỉ đến mức ấy.

Xin nhắc lại là trong hệ thống trại giam gọi là “Trung tâm cải huấn” của chính quyền miền Nam trước 1975, ngoài hai nơi có chế độ điều hành riêng là Trại tù binh Phú Quốc và Trung tâm cải huấn Côn Sơn (Côn Đảo), ở Sài Gòn và mỗi tỉnh có một Trung tâm cải huấn riêng để giam giữ những người tại địa phương có án tù dưới 5 năm (trên 5 năm thì ra Côn Đảo). Nhiệm vụ chính của các trung tâm này chỉ là giữ tù và trả tự do cho tù sau khi thời hạn thụ hình ghi trong bản án đã kết thúc, ít có chuyện chuyển tù từ tỉnh này qua tỉnh khác.

Vì những yếu tố trên, chuyện “ra Bắc” là một bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Và cũng từ biến động này, người ta mới hiểu được thân phận thật sự của những ai tự nguyện làm ăng-ten cho cán bộ trại. Những kẻ đó đã mơ hồ về việc làm này, tưởng rằng sự tự nguyện “hợp tác” có thể làm thay đổi thân phận của họ. Trên thực tế, việc làm của họ chỉ có tác dụng tạo cho họ sự thuận lợi trong sinh hoạt nội bộ trại. Mọi hồ sơ của họ đều nằm tại Cục quản lý trại giam, và chính nơi đây mới có thẩm quyền quyết định về thân phận của họ.

Anh B. là một trong những người từng được đi “chữa răng” chỉ sau mươi ngày nhập trại, nằm trong số người bị sốc nặng nhất. Anh nói thẳng là không thể tưởng tượng trong chuyến đi Bắc đầu tiên này lại có tên anh! Song, khi biết cơ sự thì mọi chuyện đã muộn màng. Nhiều người không kìm nổi tiếng khóc của mình. Họ tập trung từng nhóm trên “đại lộ hoàng hôn” là con đường vòng quanh các dãy nhà, nơi anh em tù mỗi buổi chiều đi bách bộ cho giãn gân cốt.

Sự căng thẳng và khủng hoảng trầm trọng đến nỗi, một cán bộ trực trại là Đại úy Ba Tơ đã đi dọc theo đại lộ hoàng hôn, vừa đi vừa hét to một câu trấn an khá lạc điệu: “Khóc lóc cái gì, đi xuống Đồng Tháp lao động một thời gian rồi về!”. Nội dung câu nói đó rất khác biệt với hai chữ “đi Bắc” mà cán bộ đọc danh sách đã tuyên bố hồi sáng, song cũng có những người hi vọng đó là sự thực, kết quả của một sự chỉnh sửa.

Số người đi bao bố đầu tiên này mà về sau gọi là “bao bố 1” gồm toàn bộ trại viên khối 2 (đảng phái), khối 3 (tình báo) và khối 4 (sĩ quan cảnh sát từ cấp Thiếu tá) và một phần khối 1 (công chức, dân biểu, nghị sĩ, thẩm phán). Các anh em được đưa về trại 16 NV ở Thủ Đức trong mấy tháng, rồi sau đó mới ra Bắc. Nhạc sĩ Vũ Thành An, Trưởng ban văn nghệ trại nằm trong số người này.Tất nhiên, nhiều nhân vật nổi tiếng khác cũng có tên: các cụ Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Lâm Sanh, luật sư Trần Văn Tuyên, nữ Thiếu tá cảnh sát Th. Biệt đội trưởng biệt đội Thiên Nga ….

Như vậy, sau chuyến bao bố 1 này, số người còn ở lại trại Long Thành chỉ thuần có khối 1. Cú sốc ban đầu qua đi, mọi người bình tâm hơn, chờ đợi chuyến bao bố 2 mà ai cũng tin rằng sẽ phải tới. Và nó đã tới hơn nửa năm sau đó, lần này không còn gây ra sự hoảng hốt nữa, những ai có tên chấp nhận nó như một trò chơi may rủi.

Sau chuyến bao bố 2, số tù chính trị dân sự còn ở lại Long Thành không đến 200 người, tự coi mình sẽ là đối tượng của đợt bao bố 3. Tạm thời họ được giao các nhiệm vụ chính: trật tự, cấp dưỡng (bếp), vệ sinh, bên cạnh nhiều tù hình sự và rất đông các em được cha mẹ “gửi cho cách mạng giáo dục” từ sau tháng Tư 1975. Các em này được chuyển từ trại Bù Gia Mập (Phước Long) đến vào khoảng năm 1977, sau khi sự tổn thất về nhân mạng lên đến mức báo động.

Giữa năm 1979, sau khi hơn 30 anh em được đưa trước lên Xuyên Mộc để thành lập một trại mới, số hơn 150 người còn lại bàn giao mọi việc cho anh em tù hình sự, tập trung ở một dãy nhà để chờ lệnh. Cuối cùng, vào những tháng cuối năm 1979, mọi người được đưa hết lên trại Xuyên Mộc.

Mình nghĩ, có lẽ chuyến bao bố 3 đã không diễn ra vì vào tháng 2.1979, cuộc chiến biên giới Việt-Trung đã nổ ra ác liệt. Trại cải tạo ở các khu vực dọc biên giới phải di tản về Thanh Hóa và nhiều tỉnh đồng bằng miền Bắc, vì thế không còn điều kiện tiếp nhận thêm tù cải tạo ở phía Nam. Sự may rủi trong số phận mỗi con người không biết đâu mà lần.

***

Những chuyến ra Bắc của anh em tù cải tạo miền Nam cho thấy sự căm thù của người dân miền Bắc đối với họ là điều có thật. Các chuyến xe lửa chở họ, mỗi khi ghé lại những ga lớn đều phải đóng cửa kín mít để tránh những viên đá to được ném tới tấp vào. Lúc đầu, mọi người tưởng rằng đó chỉ là sự dàn cảnh cho dư luận trong và ngoài nước thấy được lòng căm thù của người dân đối với “bọn ngụy quân, ngụy quyền ác ôn”. Song theo các anh em từng đi trên những chuyến xe lửa ấy, sự căm thù là có thật, những viên đá ném lên tàu là biểu hiện rõ nét của lòng căm thù đó.

Còn nhớ vào năm 1980, lúc chúng tôi đang ở trại Xuyên Mộc (miền Nam), có lần lượm được ở bờ con sông Ray lá thư mà một cán bộ trại khi xuống đó tắm rửa đã để rơi. Thư của một người bố sống ở miền Bắc căn dặn người con còn trẻ của mình đang sống xa gia đình là “hãy hết sức cẩn thận, vì con đang sống cạnh kẻ địch, nói đúng hơn là kẻ thù” (nguyên văn trích từ bức thư)!

Đối với người miền Bắc vào những năm đầu sau tháng Tư 1975, sự hiểu biết về những quân nhân, công chức trong bộ máy quân sự, hành chánh miền Nam thể hiện qua những viên đá ném vào đoàn tàu. Qua câu chuyện về mấy em nhỏ chăn trâu lén lút chui vào bụi cây rình xem bọn “ngụy” như thế nào và sau đó ù té chạy với tiếng la thét “tụi bay ơi, sao bọn ngụy trông giống mình thế?”.

Hóa ra, với những chú bé ngây thơ đó, bọn ngụy phải mặt xanh nanh vàng, chuyên bắt cóc và uống máu trẻ con thì mới đúng!

Sau tháng Tư 1975, năm năm, mười năm qua đi, thời gian cũng làm được đôi điều hữu ích. Nó tạo điều kiện cho nhiều người dân miền Bắc thấy được sự thật về những con người mà họ từng ném đá và thóa mạ như những kẻ tội đồ. Hóa ra những kẻ đó trông cũng hiền lương như họ, đang nhẫn nhục, chịu đựng một kiếp nạn to lớn phủ xuống đời mình. Từ căm thù chuyển dần sang thương cảm, dù con đường có dài, nhưng rồi nhiều người cũng tìm được những cảm xúc đích thực.

Tôi có người bạn thân là Nguyễn Phú Huấn (1941- 2019) từng làm Tiểu đoàn trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Sau khi có quyết định tha, trong lúc chờ phương tiện đưa về Nam, anh và các bạn được phép đi vào xóm thôn thăm hỏi đồng bào. Sự tiếp xúc làm vỡ ra nhiều điều bấy lâu còn mơ hồ sương khói, nhiều gia đình lưu luyến chia tay với anh em và họ để lại trong lòng nhau nhiều mỹ cảm.

Trong 5-10 năm đó, sự tiếp xúc dù chưa phải là mật thiết lắm cũng đã mang lại trong lòng người dân miền Bắc sự “nghĩ lại” về những điều họ từng nghe nói đến. Thực tế đã chạm đúng vào sự thiện lương trong sâu thẳm tâm hồn họ. Họ nhận ra thực chất những con người mà họ từng căm thù không như những gì họ nghe trước đây, và cũng từ đó, những mầm mống ban sơ của sự hòa giải, hòa hợp đã nhú dậy. Chỉ còn chờ sự chăm sóc, tưới tắm để chúng vươn lên và trở thành những rừng cây tỏa hương sắc của tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

Tiếc rằng những mầm mống tốt đẹp như thế sớm thui chột vì thiếu chất xúc tác là những chính sách phù hợp với lòng người.

Tháng Tư này, tôi vẫn cảm thấy buồn khi nghĩ rằng dân tộc mình là một trong những dân tộc bất hạnh nhất trên toàn cầu. Tham nhũng, lãng phí, bất công, và sự nghèo khổ, cơ cực của hàng triệu đồng bào vẫn luôn là nỗi đau trĩu nặng trong tâm hồn của mỗi chúng ta!

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Dimanche 21 Avril 2024

Post by Sơn râu 12 May 2025

Phần 9

IX) Chuyện “ăng-ten” trong trại cải tạo

Vào giữa thập niên 1960, trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ngành truyền tin thường sử dụng các máy ANPRC 5, ANPRC 10 để liên lạc trong phạm vi đại đội.

Chiếc PRC10 hình khối chữ nhật, gọn gàng. Khi hành quân, người lính truyền tin mang trên lưng, khi dừng quân liên lạc với tiền phương hay hậu cứ, họ nhẹ nhàng đặt máy xuống, kéo chiếc cần ăng-ten (antenne) mỏng như lá lúa lên cao rồi bắt đầu gọi đi. Như vậy, trong thiết bị của ngành truyền tin, chiếc cần ăng-ten giữ một vai trò quan trọng, đẩy tín hiệu mạnh lên, giúp kết nối dễ dàng giữa các vị trí khác nhau trên trận địa.

Song trước và sau năm 1975, hai từ ăng-ten còn có một nghĩa khác, không chỉ áp dụng cho thiết bị, mà cho cả con người. Đặc biệt từ tháng 6.1975, khi các trại cải tạo mọc lên như nấm thì hai chữ ăng-ten đã có một chỗ đứng vững vàng trong kho ngôn ngữ đời thường lúc ấy. Nó dùng để chỉ những người tự nguyện hay bị ép buộc phải làm kẻ chỉ điểm cho cán bộ trại giam về mọi vấn đề mà họ cần biết.

Còn nhớ người Pháp có câu nói cho rằng nghề “bán hoa” là cái nghề xưa nhất trái đất (le métier le plus vieux du monde). Tương tự như thế, cũng có thể nói nghề ăng-ten là một trong những nghề xưa nhất trong đời sống lao tù. Chả thế mà mới chưa đầy một tháng sau khi nhập trại Long Thành, các học viên đã được phổ biến một thông cáo nêu rõ tên những người được xe của trại chở về Sài Gòn để … chữa răng.

Mọi việc diễn ra trót lọt và không ai nghi ngờ gì về mục đích của chuyến đi chữa răng đó.   

Mãi đến hơn một năm sau, một người trong cuộc mới chịu tiết lộ với mấy người bạn thân là chuyến xe đi “chữa răng” đó đã chở các anh về hướng Sài Gòn, thả các anh xuống ở ngả tư Hàng Xanh để các anh về thăm gia đình. Và buổi chiều, các anh có mặt ở Hàng Xanh trước 4 giờ để được đưa trở lại trại Long Thành.

Như vậy, ngay trong những ngày đầu tiên của trại Long Thành, đã có một thỏa hiệp ngầm giữa các cán bộ điều hành trại và những người tự nguyện làm ăng-ten. Đại khái họ sẽ làm tai mắt cho cán bộ, ghi nhận những sự kiện đáng lưu ý trong đời sống học viên, đổi lại, họ sẽ được hưởng một số ưu đãi, mà chuyện đi chữa răng là một ví dụ.

Suy nghĩ của những người tự nguyện làm ăng-ten trong môi trường học tập cải tạo còn đi xa hơn, họ hy vọng ở một ngày về sớm sủa do những đóng góp dưới hình thức “lập công chuộc tội” của họ. Kết quả của những niềm mơ ước đó như thế nào, xin chờ câu trả lời trong bài sau, về những cuộc chuyển trại có kèm theo … bao bố.

Ở trại cải tạo, còn có một thành phần không phải là ăng-ten chuyên nghiệp, song cương vị của họ buộc họ phải có ít nhiều việc làm dành cho giới ăng-ten. Đó là các nhà trưởng, đội trưởng, tổ trưởng. Họ phải thường xuyên tiếp xúc với cán bộ điều hành, và tất nhiên là phải báo cáo toàn bộ những gì liên quan đến đơn vị mà họ phụ trách. Ví dụ như: anh em có nhiệt tình lao động không, có anh nào nói xấu cách mạng không, có anh nào dự tính trốn trại không … vân vân và vân vân.

Về thực chất việc làm của giới tổ trưởng, đội trưởng và nhà trưởng, khó đánh giá một cách chính xác, song cũng không phải là không đánh giá được. Cứ nhìn thái độ, cách hành xử của cán bộ điều hành đối với tập thể hay một số cá nhân là có thể đoán ra sự việc. Người có tâm sẽ tìm cách luồn lách, che chở cho các bạn đồng cảnh ngộ, báo cáo cách nào đó để không bị quy là báo cáo láo, nhưng vẫn không để cho bạn tù bị trù dập. Trái lại, kẻ mưu cầu lợi ích riêng tư thì lại tìm cách mua lòng cán bộ bằng việc vẽ vời chuyện nọ, chuyện kia, ít xít ra nhiều. Đó là chưa kể chuyện họ có thể dùng cương vị của mình để giải quyết những mâu thuẫn cá nhân nữa.

Trường hợp của nhà văn Duyên Anh (Vũ Mộng Long) là một vấn đề đáng suy nghĩ. Khi tôi và hơn 150 bạn tù còn lại ở trại Long Thành được đưa hết lên trại Xuyên Mộc vào những tháng cuối năm 1979 thì Duyên Anh đang là đội trưởng đội rau xanh số 17 kiêm nhà trưởng Nhà 2, sát cạnh Nhà 1 là nơi chúng tôi vào ở.

Còn nhớ, cứ vào mỗi buổi chiều, khi tiếng kẻng trại vang lên, báo hiệu cho mọi người ra ngồi hết ngoài sân cạnh nhà để cán bộ tới điểm số rồi lùa hết vào buồng, khóa cửa lại. Nhà trưởng Duyên Anh là người rất năng nổ, anh chạy ra chạy vào thét lác anh em nhanh chóng tập họp, nhiều người chỉ trích anh về cách hành xử nóng nảy, cốt để lấy lòng cán bộ.

Không sống chung nhà với Duyên Anh, mình chỉ thấy có thế. Song, khi mình vừa đặt chân lên Xuyên Mộc, thì cũng vừa có tin một người trong đội của Duyên Anh là nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã bị biệt giam cách đó mấy ngày. Anh em ở Nhà 2 kể lại rằng khi vừa hết hạn cải tạo 3 năm, ông Côn đứng lên đề nghị trại cư xử với ông như một công dân, vì ông đã hết hạn tù. Yêu cầu này được nhiều anh em tù hiện hành (tù bị bắt do chống phá chính quyền sau tháng 4.1975) hoan hô rầm rộ, và thế là ông Côn bị khép tội vào xách động, bị biệt giam, bị tước bỏ cả quyền được thăm nuôi.

Mấy ngày sau, người nhà ông Côn lên thăm nuôi bị đuổi về. Điều kiện khắc nghiệt của phòng biệt giam, kèm với sức khỏe sa sút khiến chỉ qua một thời gian ngắn sau khi được trả về phòng, ông Côn qua đời. Và người ta kết nối việc ông Côn bị biệt giam, cái chết của ông, với trách nhiệm đội trưởng, nhà trưởng của Duyên Anh!

Mình cho rằng những gì Duyên Anh đã làm với tư cách đội trưởng, nhà trưởng ở trại Xuyên Mộc, và cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, đã góp phần không nhỏ vào những gì xảy đến cho anh tại Pháp và Mỹ, sau khi anh được trả tự do và đi ra nước ngoài.

Một câu hỏi được đặt ra là thái độ của anh em bạn tù đối với người làm ăng-ten như thế nào?

Vào những năm chúng tôi còn ở Long Thành (1975-1979), trại đặt ra lệ bình bầu cuối mỗi tháng, theo đó, mỗi đội họp, bầu ra 3 thành phần trại viên:

1) Người lao động xuất sắc

2) Người lao động trung bình

3) Người lao động yếu kém

Thành phần 1 và 3 chỉ lèo tèo vài ba người cho có tụ, thành phần 2 chiếm đại đa số. Bầu vào thành phần xuất sắc khá dễ, anh nào cuốc đất đạt năng suất cao dễ nhận ra, dễ bầu bán. Khó nhất là bầu thành phần 3, dễ gây tranh cãi, dẫn đến oán hận ngấm ngầm. Cách ổn hơn cả để bầu vào thành phần này là mấy anh … ăng-ten! Họ bị nhận diện bởi hầu hết anh em trong đội, không có gì oan sai hết. Và họ cũng nhận chịu mà không oán thán gì.

Chuyện bình bầu không chỉ có danh hiệu suông. Với tiêu chuẩn mỗi người tù 13 ký lương thực/tháng (bo bo, sắn lát hay bắp khô, riêng cơm thì mỗi tuần 1 chén), kẻ được bầu xuất sắc được hưởng 15 kg/tháng, bù vào đó, kẻ yếu kém bị giảm xuống còn 11 kg/tháng.

Ở thành phần tù hình sự và hiện hành, chuyện 15 hay 11 kg lương thực mang đến nhiều hậu quả khôn lường. Họ tranh nhau, dùng mọi thủ đoạn để hạ nhau hòng kiếm thêm chút lương thực mỗi ngày. Nguyên nhân là do đa số họ thuộc thành phần “mồ côi”, không được thăm nuôi, cuộc sống hàng ngày trông cậy vào từng chén sắn lát, bắp ngô.

Thành phần tù chính trị thoải mái hơn, nhân văn hơn, dù gì nát giỏ vẫn còn tre. Đến buổi chia lương thực, người xuất sắc có khẩu phần 15 kg lãnh xong thì mang lại anh 11 kg, sớt chia lại cho cân bằng.

Năm 1979, khi các tù chính trị dân sự (công chức, dân biểu, nghị sĩ, thẩm phán) được đưa hết từ trại Long Thành lên trại Xuyên Mộc, chúng tôi sống chung trại với thành phần tù quân sự cấp úy (thiếu úy – đại úy), những người trình diện học tập cải tạo “mang theo tiền và vật dụng đủ dùng trong 10 ngày”. Xét về mặt tuổi tác thì đa số họ trẻ hơn chúng tôi, song họ đã gián tiếp “dạy” chúng tôi về cách đối phó với thành phần ăng-ten trong trại một cách không khoan nhượng, dứt khoát và theo một “quy trình” rõ rệt.

Kế hoạch đối phó với ăng-ten của các bạn tù sĩ quan cấp úy có 3 bước như sau:

– Bước 1 là bước cảnh cáo, khá nhẹ nhàng: Ban đêm, khi đèn trong buồng tắt tối om, mọi người  ngủ cả, họ lén lấy đôi dép của “đối tượng” bỏ vào hồ nước trong buồng toa-lét ở cuối dãy nhà.

– Nếu bước1 không có hiệu quả, họ tiến hành bước 2 là … trấn nước. Cuối buổi lao động, hàng mấy trăm người chen chúc tắm ở một khúc sông Ray, năm bảy anh em kéo đối tượng ra giữa dòng, ấn đầu xuống cho ngộp nước. Tù đông nghịt, từ trên nổng cao xa mấy mươi mét, cán bộ bảo vệ có nhìn thấy cũng chỉ nghĩ là bạn tù đùa giỡn với nhau thôi.

– Cuối cùng, nếu đối tượng vẫn bền lòng chặt dạ với “sự nghiệp ăng-ten” thì anh em áp dụng biện pháp tối hậu không thơm tho chút nào. Giữa đêm, họ dùng một gáo đựng phân ướt giội lên nóc mùng đối tượng. Sáng ra, chàng mang hết mùng mền, gối ra giặt ở giếng nước trước con mắt rẻ rúng của mọi người.

Nhờ thái độ quyết liệt và dứt khoát đó mà về sau, hầu như không còn phải áp dụng bước 3 nữa. Và hiện tượng ăng-ten gần như không còn tồn tại trong thành phần các anh em tù từng là sĩ quan cấp úy ở trại Xuyên Mộc.

LÊ NGUYỄN 21.04.2024

Thề không phản bội quê hương

Trương Hoàng Xuân

Post by Sơn râu 11 May 2025

Tựa đề trên đây là một trong những sáng tác của Nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân ông vừa qua đời tại nhà riêng ở Việt Nam ngày 3/5/2025. Tôi chỉ post lên đây lời của bài nhạc và cái link trên Youtube về bản nhạc của ông.

Xin gửi lời chia buồn cùng gia đình ông, nguyện cầu cho hương linh ông siêu thoát về cõi vĩnh hằng.

Trung Tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long tuẫn tiết ngày 30 tháng 4 năm 1975

Một cánh tay đưa lên

Hàng ngàn cánh tay đưa lên

Hàng vạn cánh tay đưa lên

Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính

Đập phá tan mưu toan

Đầu hàng cánh quân xâm lăng

Hoà bình phải trong vinh quang

Đền công lao bao máu xương hùng anh

Nào đứng lên bên nhau

Nào cùng sát vai bên nhau

Thề nguyền với vung tay cao

Quyết đấu tranh đến khi nào đạt thành mong ước

Vận nước trong tay ta

Là quyền của quân dân ta

Tình đoàn kết quê hương ta

Chận âm mưu chia cắt thêm sơn hà

Quyết chiến!

Thề quyết chiến! Quyết chiến!

Quyết không cần hoà bình đen tối

Chẳng liên hiệp ngồi chung quân bán nước vong nô

Quyết chiến!

Thề quyết chiến! Quyết chiến!

Đánh cho cùng dù mình phải chết

Để mai này về sau con cháu ta sống còn

Vận nước đang vươn lên

Hàng ngàn chiến công chưa quên

Hàng vạn xác quân vong nô

Đã chứng minh cho sức mạnh hào hùng quân dân

Thề chớ bao lui chân

Ngồi cùng với quân xâm lăng

Ta thà chết chớ không hề lui

Quyết không hề phản bội quê hương

Ta thà chết chớ không hề lui

Quyết không hề phản bội quê hương

Một cánh tay đưa lên

Hàng ngàn cánh tay đưa lên

Hàng vạn cánh tay đưa lên

Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính

Đập phá tan mưu toan

Đầu hàng cánh quân xâm lăng

Hoà bình phải trong vinh quang

Đền công lao bao máu xương hùng anh

Nào đứng lên bên nhau

Nào cùng sát vai bên nhau

Thề nguyền với vung tay cao

Quyết đấu tranh đến khi nào đạt thành mong ước

Vận nước trong tay ta

Là quyền của quân dân ta

Tình đoàn kết quê hương ta

Chận âm mưu chia cắt thêm sơn hà

Quyết chiến!

Thề quyết chiến! Quyết chiến!

Quyết không cần hoà bình đen tối

Chẳng liên hiệp ngồi chung quân bán nước vong nô

Quyết chiến!

Thề quyết chiến! Quyết chiến!

Đánh cho cùng dù mình phải chết

Để mai này về sau con cháu ta sống còn

Vận nước đang vươn lên

Hàng ngàn chiến công chưa quên

Hàng vạn xác quân vong nô

Đã chứng minh cho sức mạnh hào hùng quân dân

Thề chớ bao lui chân

Ngồi cùng với quân xâm lăng

Ta thà chết chớ không hề lui

Quyết không hề phản bội quê hương

Ta thà chết chớ không hề lui

Quyết không hề phản bội quê hương

Ta thà chết chớ không hề lui

Quyết không hề phản bội quê hương

Ông Trương Hoàng Xuân tại nhà riêng ở Việt Nam

Biểu tình tại Melbourne chống Trung quốc đưa giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam

Người tình part time

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on October 1st, 2018

Post by Sơn râu 10 May 2025

Trên tạp chí Văn số tháng 11-1987 Mai Thảo giới thiệu người viết mới Nguyễn Thạch Giang với truyện ngắn: Yêu Nữ. Ngay tức khắc tôi chú ý tác giả này vì khả năng tái tạo khung cảnh xã hội miền Nam ngay sau 75 với những kiếp đời trôi nổi như cánh lục bình trong các khu dân sinh, nước trôi đến đâu lục bình trôi đến ấy, đến khi nước ròng trôi ra biển lớn… Là câu chuyện của Phương Huệ, một thiếu nữ làm lẻ rồi yêu Danh, khi vượt biên, với tất cả phóng túng của tuổi trẻ. Vài số sau, Mai Thảo giới thiệu tiếp truyện ngắn thứ nhì của Nguyễn Thạch Giang: Người Tình Part Time. Tựa truyện tự thân là một hấp dẫn. Nhưng Người Tình Part Time không kiêng dè mỹ tục mà cực thực. Vài năm sau Mai Thảo sang Pháp, tôi hỏi: Vì sao bác chọn đăng? Mai Thảo gắt: Nhà văn không phải là nhà đạo đức! Câu trả lời, tự thân cũng là một quyến rũ. [Trần Vũ]

Nguyễn Thạch Giang

Kỳ 1

Tôi tình cờ gặp lại Thành hôm cuối năm, nhân dự buổi họp mặt  “Cựu học sinh”. Ngôi trường thật đẹp nằm trên con đường Trần Quốc Toản ngày xưa đã ghi lại trong tôi thật nhiều kỷ niệm. Mà kỷ niệm khó quên nhứt là chuyện tôi si mê Thế. Ngày ấy tôi mê tên bạn cùng lớp như điên như cuồng. Tôi được một dịp may ngủ chung nhà với hắn lúc ôn bài thi cuối học kỳ. Hai đứa giăng mùng nằm cạnh nhau, rọ rậy suốt đêm mà chẳng đứa nào dám “giở mùng chung vô”. Sau này khi hai đứa không còn “bồ” với nhau nữa, tôi cứ tiếc rẻ cho cái đêm hôm đó. Bởi thân hình thật xinh đẹp của Thế đã ám ảnh tôi nhiều ngày tháng.
Còn Thành? Ngày xưa dưới mắt tôi hắn chỉ là một tên con nhà giàu học giỏi, đẹp trai. (Tôi không biết hắn có phải là con nhà giàu không, nhưng nhìn bề ngoài thấy cũng có vẻ khá giả. Trong khi tụi bạn chỉ đi xe đạp hay xe honda thì hắn đi Lambretta láng coóng. Quần áo lúc nào cũng ủi thẳng nếp và thỉnh thoảng dẫn cô bồ trẻ đẹp đi qua đi lại ở sân trường để lòe thiên hạ). Ngày xưa tôi không mấy có cảm tình với Thành, cái kiểu hắn ôm hôn cô bồ ở gốc cây phượng hoặc hai đứa ôm ấp trên bãi cỏ. Tôi cho là hắn có ý trình diễn… một cách rẻ tiền.

Giờ đây gặp lại nhau trên đất khách, cả hai đứa đều già. Thành giới thiệu trước. Tôi một vợ, hai con. Gia đình chia làm hai. Bà xã và đứa con gái ở Việt Nam. Tôi và thằng con trai chạy sang đây. Còn bà thì sao, nghe nói lập gia đình lâu rồi phải không?

Tôi cười buồn. Có chồng năm xửa năm xưa. Hắn tiếp lời. Năm nay chồng chết, như chưa có chồng. Tôi và Thành cùng cười khúc khích. Thành bước đến tiếp mấy người bạn mới đến. Tôi bước đến phụ giúp mấy chị đàn bà, con gái lo phần ẩm thực. Vừa xắt chả lụa, tôi vừa bốc lủm, tiện tay thử luôn chả giò. Mùi thơm quá, tôi cầm lòng không đậu. Thủy bước đến, lâu quá mới gặp lại Nguyệt, sao trẻ măng hơ hớ như vầy nè. Chị Bạch đứng gần. Ừ nhỉ, Nguyệt thấy còn trẻ ghê. Thủy hỏi nhỏ, hình như hồi trước bà có sửa mũi, cắt mắt phải không. Tôi xoay người lại để Thủy nhìn gương mặt. Ðâu có, mũi người ta cao tự nhiên mà. Thủy nhìn tôi soi mói. Bộ ngực bà này tốt ghê. Có Made in bà Cẩm Thạch hay là bà Bích Ngọc gì không đây. Tôi nói lẫy, đồ quỷ, sao bồ chẳng  khác gì hồi xưa. Chưa thấy người đã nghe tiếng. Tôi đâu có phải ca sĩ mà đi làm ba cái vụ đó. Ði mỹ viện thì trông đẹp thiệt, nhưng đàn ông họ chê… không được tự nhiên. Hai đứa cười rúc rích. Chị Bạch lắc đầu.

Sau cái màn đọc báo cáo tường trình cuối năm, rồi đến lời chúc đầu năm. Có bấy nhiêu đó mà năm nào cũng lặp đi lặp lại hoài… nghe buồn ngủ muốn chết. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi nghe ban tổ chức tuyên bố đến phần ăn uống. Không phải tại vì tôi đói bụng, nhưng tôi chán cái cảnh mấy ông già, bà già cứ bước lên sân khấu diễn trò con nít. Thành bưng dĩa đồ ăn đến ngồi cạnh tôi. Có cả Tình, một người bạn học cùng lớp ngày xưa.

Tình hỏi tôi còn nhớ Thu không. Ðã ly dị chồng, sang Mỹ chơi hai tuần lễ, vừa trở lại Canada ngày hôm qua.

Tôi hỏi, Thu sang đây ở nhà ai. Sao mấy ông không giữ lại cho vui.

Thành nói, Thu sang đây ở nhà bà chị họ trên Stockton, hiện đang dò đường sang Mỹ. Nếu tôi không kẹt lo hồ sơ cho bà xã ở Việt Nam, chắc làm hôn thú giùm bả.

Tôi có ý kiến. Ðiều tốt hơn cả là Thu nên tìm một ông nào đó, rồi làm hôn thú thiệt cho rồi.

Tình cười. Lúc đầu tụi này tính gả bà Thu cho Tiến. Lúc đầu Tiến có vẻ cũng chịu. Nhưng sau đó, không hiểu sao lại rút lui.

Thành nói, ông Tiến mà lấy bà Thu bảo đảm không có hạnh phúc. Hai người không hợp nhau một chút nào cả.

Tình nói, tôi bảo bà Thu ở lại chơi thêm vài ngày nữa, thế nào tôi cũng tìm cho bả được một ông. Nhưng bả không thể ở lại lâu hơn nữa.

Tôi cười. Chắc bộ ông giỏi cái vụ đó lắm hả. Tui đây nè. Ông làm ơn kiếm giùm tui một chàng coi.

Cả bọn cùng cười. Tình hỏi, có thiệt không. Bà nói giỡn hay nói… chơi. Tôi có thằng em họ ở Hòa Lan, cũng đang tìm người làm vợ… để qua Mỹ.  Nếu bà OK, tôi điện thoại, nó bay qua đây liền.

Tôi làm bộ như đang ngẫm nghĩ. Làm đám cưới thiệt hay đám cưới giả. Làm vợ chồng thiệt, hay vợ chồng… trên giấy tờ.

Tình sốt sắng. Cái đó tùy bà. Bà muốn giả thì giả. Mà muốn thiệt cũng chẳng sao. Thằng em tôi cũng đang tìm vợ. Bà mà lấy nó sướng như tiên.

Tôi chắt lưỡi hít hà. Quảng cáo vừa vừa thôi chớ. Thiệt hay giả gì thì phải cho tôi thấy mặt hàng trước, tôi mới quyết định. Tình nói lớn, OK, bà muốn thấy mặt hàng, đuôi hàng, hay là bà muốn thấy cái gì cũng được hết. Bảo đảm bà thấy rồi, sẽ mê tít thò lò, đố ai giành được với bà. Chị Thúy đứng dậy bỏ đi chỗ khác, làm ra vẻ… con nhà đạo đức đàng hoàng. Mấy ông mấy bà này ăn nói… thấy mà ghê.

-oOo-

Sáng sớm điện thoại kêu inh ỏi. Tiếng Thành bên kia đầu dây. Trời ơi, còn ngủ hả. Dậy đi ăn sáng. Tôi mắt nhắm, mắt mở. Còn sớm quá, khoảng một tiếng đồng hồ nữa đi. Thành cười, sửa soạn sẵn, tôi đến đón nhé. Tôi gác điện thoại, nằm xuống ngủ tiếp.

Khi Thành đến, tôi vẫn còn nằm trên giường. Tôi bước ra bảo hắn ngồi chờ, tôi đi rửa mặt. Lúc bước lên xe Thành nói, ngồi chờ con gái sửa soạn… là nghề của tôi. Nhưng con gái lâu lắc cũng phải. Tôi chua giọng, vậy chớ tôi là cái gì. Thành cười, bà muốn ăn quán nào. Tôi hỏi, sao ông lại rủ tôi đi ăn. Hắn miệng lưỡi, tui thì độc thân tại chỗ, bà thì cu ky. Sáng Chủ Nhật rủ nhau đi ăn cho đỡ buồn, đi vô quán một mình, coi kỳ quá. Tôi hỏi, vậy chớ thằng con ông đâu. Chắc câu hỏi của tôi có hơi vô duyên, hắn làm thinh không đáp.

Lúc trở về, tôi nhờ Thành đưa tôi đến tiệm mua băng nhạc.

Tuần trước đến nhà chị bạn, tôi thấy ở salon có một băng nhạc mới ra lò. Tape nhạc này thuộc loại nhạc trẻ. Nghĩa là nhạc hát nửa tiếng Tây, nửa tiếng Mỹ và phân nửa tiếng Việt. Thành nói bà mà cũng nghe nhạc New Wave nữa à. Tôi nói tôi nghe đủ thứ, tạp lục thượng vàng hạ cám. Khi nào vui, tôi nghe nhạc trẻ, nhạc giựt. Khi nào buồn, tôi nghe nhạc già, nhạc vàng, nhạc rên rỉ, nhạc kể lể. Khi nào nhớ má, tôi nghe cải lương. Thành hỏi, băng nhạc bà định tìm là băng gì, trung tâm nào sản xuất. Tôi nói tôi cũng chẳng rõ, tôi không nhớ. Chỉ biết hình bìa là anh chàng ca sĩ, mặc cái áo ba lỗ màu cam, áo sơ mi trắng, không cài nút, trên ngực có một nốt ruồi. Thành cười, nghe bà nói, không nhìn mặt, tôi tưởng một đứa con gái mười mấy tuổi.

Lúc bước vào tiệm, tôi không khó khăn lắm để tìm ra băng nhạc đó. Tấm poster lớn treo ở tường. Tự dưng tôi thích có tấm poster đó, đem treo ở phòng ngủ. Nhưng tôi ngại, không dám nói với cô bán hàng. Tôi nói với Thành, ông làm ơn xin tấm poster đó cho tôi đi. Thành kêu trời đất ơi! Hết chuyện bà mượn. Rủi cái cô bán hàng cổ hiểu lầm thì sao. Tôi thấy Thành có vẻ cương quyết, nhưng đi xin hình nam ca sĩ tôi có hơi mắc cỡ. Mà đi về tay không, thấy cũng buồn. Tôi xuống nước năn nỉ, giả giọng nhõng nhẽo. Làm ơn giùm một chút đi mà. Mai mốt có gì tôi đền ơn cho. Mai mốt ông biểu tôi làm gì, tôi cũng chịu.

Nghe tới đó, đôi mắt hắn sáng rỡ thấy ghét. Hắn cười đểu giả. Nói thì phải giữ lời. Thành bước đến nói nho nhỏ với cô bán hàng. Tôi thấy cô ta ngó Thành, rồi lại ngó lên tấm poster treo trên tường. Cô ta ngó qua ngó lại chừng vài lần, rồi bước đến gỡ tấm hình anh chàng ca sĩ này trao cho Thành, miệng cười mỉm. Hai đứa tôi bước ra lẹ làng, không kịp nói cám ơn.

Lúc đề máy xe, Thành kêu trời ơi! trời ơi! Khi thấy tôi lấy ngón tay rờ lên nốt ruồi trên ngực anh chàng ca sĩ (trong hình). Tôi bật cười, nói hắn có nốt ruồi giống hệt tôi. Rồi tôi xoay ngang chỉ cho Thành. Ðây nè, tôi cũng có nốt ruồi ở ngực giống hệt hắn. Thành nói, vừa lái xe vừa coi nốt ruồi của bà, có ngày hai đứa vô nhà thương. Tôi cười khúc khích.

Tôi để tape nhạc vào máy nghe thử. Tôi nói, lúc mới nghe hắn hát cứ tưởng là đàn bà. Lúc mới qua Mỹ, lần đầu nghe Tina Turner cứ tưởng là đàn ông. Khi nghe Michael Jackson hát, cứ ngỡ là đàn bà.

Thành lắc đầu, bà còn có sự lẫn lộn nào khác nữa không? Tôi nói, đôi khi tôi cũng có những sự lẫn lộn thật tức cười. Có lần định bụng ăn bánh mì bò kho, lúc nhìn thực đơn lại gọi bún thịt nướng. Ở nhà thèm chè xôi nước, khi ra quán, lại mua chè khoai môn.

Thành nói, yêu một người rồi lại đi lấy một người khác. Tôi nhẹ nhéo chàng một cái. Ðồ quỷ.

Tôi nói thích giọng hát của anh chàng này, nghe… trẻ. Thành trề môi. Tưởng bà nói sao, giọng ca… trẻ. Tuổi còn nhỏ thì hát nghe trẻ. Giọng ca này… chạy lền khên khắp thành phố. Thường người ta mê giọng hát ngọt ngào như mía lùi. Giọng ca trầm ấm như tiếng chuông đồng. Giọng cao vút như tiếng vĩ cầm. Hoặc nói một cách “thời trang” hơn, có những giọng ca như tiếng suối reo, tiếng thác chảy, tiếng chim, tiếng mưa, tiếng gió, tiếng sấm chớp, tiếng xe tăng, đại pháo.

Tôi chua ngoa. Trời ơi! Chữ nghĩa ở đâu có mà có dây, có nhợ, có chùm. Nhưng ba cái từ đó để dành cho mấy ông nhà báo, mấy ông phê bình âm nhạc. Hát như phản lực bay, hát như B-52 dội bom, hát như xe tăng đại bác. Trời ơi! Giọng hát nào ở đâu, nghe dễ sợ vậy. Có lẽ ông nên đi quảng cáo bán băng nhạc là hơn.

Thành cười hì hì. Nói chuyện với tôi bà đừng có nổi nóng. Khi giận bà trông cương quyết, rất mãnh liệt. Rất cứng. Hồi nhỏ đọc truyện, tôi nghe kể nàng Tây Thi mỗi khi đau bụng, nhăn mặt trông rất đẹp đến đỗi chim đang bay phải sa xuống. Cá đang lội cũng phải ngẩn ngơ.

Tôi làm thinh không thèm nói. Thành lải nhải một mình. Hắn tìm cách gợi chuyện. Ðâu, cái bài hát “chàng sở khanh” mà bà thích, cho tôi nghe thử coi. Tôi buộc lòng phải trả lời. Bản đó ở mặt “B”, mà ở gần khúc cuối. Ông chịu khó chờ một chút. Tôi không thích cho băng nhạc chạy nhanh hơn, hoặc trở ngược lại. Ðồng ý là băng nhạc ở đây rất rẻ tiền. Nhưng cái kiểu sử dụng như vậy tôi rất ghét. Tôi cũng chúa ghét ai mà để băng nhạc của tôi ở ngoài bụi bám, hoặc là đem cái ruột này tròng vô cái vỏ khác.

Thành lắc đầu, như vậy để nghe được bài hát đó, có lẽ chúng mình về tới nhà, tắm rửa ăn uống, ngủ một giấc, mới tới tua bản ấy. Hay là tối nay có rảnh tôi ghé qua thưởng thức.

Tôi trề môi, còn khuya. Hắn đùa dai, khoảng mấy giờ. Tôi xẵng giọng, còn lâu! Có lẽ giọng nói của tôi có hơi cộc, hắn để tôi đi bộ một mình vô nhà.

-oOo-

Tôi từ chối lời rủ rê của Thành đi ăn cơm chiều, vì phải đi dự sinh nhật của một người bạn làm chung sở. Thành hỏi ở đâu, mấy giờ xong. Tôi nói không biết, cái đó còn tuỳ mấy ông, mấy bà. Hắn nói muốn gặp tôi tối nay. Tôi nói khi nào xong sẽ gọi ông đến đón.

Liên là người bạn làm chung sở. Tuổi nhỏ hơn tôi khoảng một thập niên. Ðã lập gia đình mấy năm nay. Hai vợ chồng rất vui vẻ, thường tổ chức ăn nhậu, rủ bạn bè đến cho vui cửa vui nhà. Trong khi ông xã Liên có vẻ hiền lành, Liên lại lanh lợi, mà đôi khi, tôi đoán… dữ. Liên thì mập, to cỡ bà Bé Bự. Ông chồng thì to cỡ hề… Tùng Lâm. Nhưng hai vợ chồng sống cũng có vẻ hạnh phúc.

Phòng ăn của Liên hơi nhỏ, thực khách đông cỡ 20 người, nên bàn tiệc được bày dưới thảm cho tiện. Liên có một mình nhưng rất khéo nấu nướng, chịu khó làm nhiều món thật công phu như gỏi, bì cuốn, lẩu, cà ri gà. Cô nàng không chịu ngồi xuống, mà lo đứng vòng ngoài múc thêm nước mắm, thêm thức ăn. Liên hỏi có ai cần gì không. Một anh chàng ngồi phía trong góc kẹt, cho tôi thêm tí nước đá. Mỗi khi chuyền thêm thức ăn hoặc nước đá hay giấy lau tay, Liên phải cúi xuống, quỳ gối lom khom. Nàng mặc đồ đầm, cổ hơi rộng, lúc đứng trông kín đáo, nhưng khi quỳ xuống, cả một bộ ngực đồ sộ khoe ra. Nàng mập nên cái gì cũng mập. Mọi người trong bàn tiệc đều nhìn thấy.

Liên vô tình, có ai cần gì thêm không. Một anh chàng nói, cho tôi thêm chút nước mắm. Liên cúi xuống, có một người bật cười. Cả bọn cùng cười ồ. Liên không hiểu gì cả. Ông xã của Liên biết, nhưng anh ta coi như chẳng có gì.

Lúc Thành đến đón, tôi kể cho chàng nghe. Tôi nói, tôi chịu thái độ của ông xã Liên. Tự nhiên. Thành cười, cái đó đâu có gì đâu, tại bà hay nghĩ xa xôi. Ðàn bà ở xứ này mặc áo hở ngực, hở lưng, hở rốn là chuyện thường.

Thành đưa tôi vào một quán bar có nhạc sống. Tối nay có buổi trình diễn đặc biệt của một nữ ca sĩ lừng danh năm xưa ở quê nhà. Sang đây, tên tuổi vẫn còn được ưa chuộng… và cứ hốt bạc đều đều. Nhưng hình như mục đích của Thành không phải đến đây để nghe ca hát. Tôi đoán đúng khi giữa chừng hắn bỗng nói với tôi, đôi lúc hắn có cảm tưởng tôi với hắn như đôi tình nhân. Tôi kề tai Thành hỏi nhỏ, ông có muốn ngủ với tôi đêm nay không. […]

Trần Vũ đánh máy lại tháng 8-2018 từ bản in trong tạp chí Văn của Mai Thảo số tháng 3-1988, trang 33 đến 46.

(*) Ảnh minh họa người mẫu Liu-Wen” New Silk Road World Model” từ tạp chí Elle và các trang web Thatsthelook, Craig McDean,  MyFaceHunter, Femina.

Khủng hoảng hàng hải toàn cầu

baotreonline.com

Vũ Hiến

Post on February 10th, 2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

Vận chuyển hàng hải đóng một vai trò quan trọng trong sự vận hành của nền kinh tế toàn cầu thời hiện đại cùng với một quy tắc được đặt ra từ bao lâu nay rằng: Tàu bè của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể sử dụng đường biển. Nhưng nay cái phần trật tự quốc tế tưởng vững chắc đó dường như đang bị lung lay.

newsbytesapp.com  

Ở khu vực Hồng Hải, phiến quân Houthi ngang nhiên tấn công các tàu chở hàng, khiến giá cước vận chuyển tăng gấp 4 lần và tạo ra một tiền lệ rằng các tàu chở hàng của Hoa Kỳ không được đón nhận trên một trong những tuyến đường vận chuyển hàng hoá quan trọng nhất thế giới. Cuộc xâm lăng Ukraine của Nga đã biến Hắc Hải thành một nơi tập trung tàu chiến và mìn, và các tàu chở ngũ cốc di chuyển qua đây chỉ có thể được bảo đảm an toàn dưới sự thoả thuận tạm thời của hai quốc gia tham chiến.

Gần khu vực Sừng Phi Châu hay eo biển Malacca, nạn cướp biển tưởng đã bị dập tắt thì nay đang quay trở lại, gây cản trở giao thông đường biển. Ở Biển Đông, Bắc Kinh đã ngang nhiên khẳng định chủ quyền đối với khu vực từ lâu vẫn được xem là vùng biển quốc tế, trong khi tiếp tục gây áp lực để thống nhất Đài Loan với đại lục khiến người ta phải nêu câu hỏi về việc tàu bè quốc tế di chuyển qua eo biển Đài Loan trong tương lai sẽ ra sao.

Hàng hải và kinh tế toàn cầu

Việc vận chuyển hàng hải đã giúp vực dậy nền kinh tế toàn cầu từ những đổ nát gây ra bởi hai cuộc thế chiến. Quyền tự do cho tất cả các tàu vận chuyển hàng hóa an toàn trên biển đã giúp kéo Trung Quốc ra khỏi tình trạng nghèo đói, đưa Hoa Kỳ lên thành một quốc gia thịnh vượng và khẳng định giá trị của đồng đô la và biến nó thành loại tiền tệ dự trữ của cả thế giới. Trước thế kỷ 20, các quốc gia thường sử dụng vũ lực để tranh giành nhau quyền vận chuyển hàng hóa tới các hải cảng ngoại quốc; ngày nay họ cạnh tranh nhau về giá cả và phẩm chất của món hàng.

Theo Liên Hiệp Quốc, tàu bè vận chuyển hơn 80% hàng hóa toàn cầu qua đường biển.

Trực thăng của nhóm Houthi tấn công tàu Galaxy Leader ở Hồng Hải – Reuters

Để duy trì an ninh hàng hải

Cách đây không lâu, các lực lượng hải quân hùng mạnh nhất thế giới đã hợp tác để bảo vệ các vùng biển. Khi các cướp biển Somali bắt giữ 2 tàu chở hàng Trung Quốc vào năm 2008, Bắc Kinh đã cử tàu chiến tới giúp Hoa Kỳ tuần tra vùng Sừng Phi Châu. Sau chiến tranh lạnh, Nga hợp tác với quân đội Hoa Kỳ để dọn dẹp các chất thải hạt nhân ở khu vực Bắc Băng Dương, trước khi băng tan để mở ra những con đường vận chuyển mới có thể sử dụng trong tương lai. Hiện tại, cơ hội để 3 cường quốc này có thể hợp tác cho một mục đích chung gần như con số không.

Hoa Kỳ vẫn có thể kêu gọi sự hợp tác của các đồng minh ở Châu Âu hoặc Nhật Bản, là những quốc gia từng có lực lượng hải quân trải rộng khắp toàn cầu. Tuy nhiên, điều thực tế là những quốc gia này hiện nay chỉ có những tàu hạng nhẹ với ít tàu chiến, hoặc quân số không đầy đủ với khả năng sẵn sàng tác chiến để có thể huy động tức thì một khi khủng hoảng xảy ra. Hải quân Vương quốc Anh có con số thủy thủ ít hơn so với thời chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ cách đây 250 năm, lúc đó tổng dân số của Vương quốc chỉ bằng 1/7 dân số hiện tại. Hải quân Hoa Kỳ, hầu như chỉ đứng bên lề và bị cầm chân bởi các chính sách chống khủng bố qua mấy đời tổng thống, và hiện đang bị trải mỏng gần như quá mức trong các công việc bảo đảm an ninh không chỉ các tuyến đường vận chuyển hàng hải mà luôn cả hệ thống dây cáp nối kết internet và đường ống dẫn khí đốt dưới biển là những thứ cũng trở nên quan trọng ngang tầm mức với sản lượng kinh tế quốc gia.

Kết quả là các đại dương, từng một thời yên bình, thì nay đang trở thành một vấn đề lớn được nhiều quốc gia quan tâm. Các chính phủ từ Âu sang Á vốn đã quen với các vùng biển an toàn và nhờ vậy mà kinh tế phát triển đều muốn duy trì các tuyến đường huyết mạch trên biển, đặc biệt là kênh đào Suez, eo biển Đài Loan và vùng Sừng Phi Châu. Tuy nhiên, có điều là hầu hết những quốc gia này không có hẳn một ngân sách dành riêng ra để thực thi việc giữ an ninh cho các tuyến đường biển đó.

Nhìn lại lịch sử, chỉ trong vòng chưa tới một thế kỷ trước khi mà hầu hết hàng hóa sản xuất đều được vận chuyển bằng đường bộ và một con tàu chở hàng chỉ an toàn khi được chính quyền của quốc gia đó bảo vệ. Thập niên 1950, chỉ có chưa tới 500 triệu tấn hàng khô được vận chuyển qua đường biển mỗi năm. Các công ty sản xuất trên thế giới thường ở quy mô nhỏ và phục vụ cho người tiêu thụ ở địa phương.

Ngày nay, các tàu chở hàng có trọng tải nặng gấp 23 lần, việc hội nhập kinh tế toàn cầu của các tập đoàn vận chuyển khổng lồ nhắm vào bất kỳ khách hàng nào trên trái đất mà họ có thể chuyển hàng tới sớm nhất và mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Sự hội nhập toàn cầu đó đã giúp giảm chi phí vận chuyển, cho phép công ty IKEA bán được những chiếc ghế sofa giống hệt nhau với giá rẻ tại 59 quốc gia và món khoai tây chiên của hệ thống nhà hàng McDonald’s được người dân trên khắp thế giới thưởng thức.

Nhưng sự hội nhập đó cũng khiến các nhà máy sản xuất xe hơi, các hệ thống cửa hàng bán lẻ lớn, các công ty về trang phục và các đại lý bán hàng điện tử dễ bị khốn đốn dù chỉ gặp một vài trục trặc nhỏ nhất: Cả thế giới đã từng chứng kiến hàng chục tỷ Mỹ kim hàng hoá bị kẹt không di chuyển được khi một con tàu chở hàng duy nhất là Ever Given bị mắc cạn ở kênh đào Suez trong 6 ngày vào năm 2021. Hoặc chuỗi cung ứng sụp đổ khi trận đại dịch Covid-19 xảy ra khiến các tàu chở hàng bị ùn tắc bên ngoài các hải cảng Châu Á và Hoa Kỳ.

Những sự việc trên có thể là điềm báo trước các con đường hàng hải cũng có thể bị đóng lại dễ dàng như thế nào.

Tàu chở hàng từ Hồng Hải đi vào kênh đào Suez – Suez Canal Authority

Mất an ninh và giá cả tăng cao

Kể từ khi nhóm phiến quân Houthi chiếm giữ chiếc tàu Galaxy Leader chở xe hơi của Nhật Bản vào tháng 11 năm ngoái, cước phí vận chuyển từ Thượng Hải đến thành phố cảng Genoa của Ý đã tăng gấp 4 lần. Theo công ty tư vấn vận chuyển hàng Drewry ở London, trên toàn thế giới, chi phí vận chuyển trung bình một thùng container dài 12 mét đã tăng gấp 2.7 lần trong cùng thời gian đó. Các công ty sản xuất từ Tesla đến Volvo đã phải tạm ngừng sản xuất xe tại các nhà máy của họ ở Đức và Bỉ trong khi chờ đợi các bộ phận được chở tới.

Tình trạng mất an ninh ở khu vực Hắc Hải cũng khiến cho giá bảo hiểm cho các tàu chở hàng ở đây (tuyến hàng hải chính của phần lớn ngũ cốc trên thế giới) đã tăng cao đến mức chính phủ Ukraine hiện đang thiếu tiền mặt cũng đã phải tìm cách hỗ trợ về hợp đồng bảo hiểm cho các tàu chở hàng ngoại quốc.

Hải quân Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đã phải đưa tàu chiến đến để bảo đảm an toàn cho các tàu đi qua Kênh đào Suez, bất kể cờ của quốc gia nào hoặc đích đến của họ là đâu. Lần cuối cùng Hải quân Hoa Kỳ cung cấp việc bảo vệ an ninh trên biển mở rộng như vậy cho các tàu chở hàng không phải của Hoa Kỳ là khi có sự đe dọa là từ các tàu ngầm Đức và ngư lôi Nhật Bản trong Thế chiến II. Pháp và Ấn Độ vừa qua cũng đã đưa tàu chiến của họ tới khu vực để hỗ trợ an ninh cho tàu chở hàng và dầu của họ.

Thương mại toàn cầu là con đường duy nhất hướng tới tương lai và an ninh hàng hải ngày càng trở nên vấn đề hệ trọng. Không bảo đảm được an ninh cho các tuyến hàng hải như hiện nay sẽ khiến cho giá hàng hoá – từ xe hơi cho đến điện thoại, quần áo, và thậm chí thực phẩm – sẽ tăng giá và khi ấy thế giới bỗng dưng trở thành vùng đất khó sống hơn cho tất cả mọi người dân khắp nơi, không riêng cho quốc gia nào, kể cả Hoa Kỳ.

VH

Sống mỗi ngày một lần thôi

damau.org

Nguyễn Ngọc Hoa

10.06.2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

Refugees – AiK

Những đêm đầu tiên ngủ lều nhà binh trong trại tạm trú Orote Point trên đảo Guam, tôi dỗ giấc ngủ bằng cách tự nhủ cuộc ra đi của vợ chồng tôi và bốn đứa em là chuyến đi cắm trại dài ngày trên một hòn đảo ngoài khơi Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Ở thành phố nhỏ bé hiền hòa và sạch sẽ đó, gia đình tôi đã sống hơn năm năm, và ngày hè như khoảng thời gian này trong năm tôi thường về thăm. Giống như tháng Năm ở Tuy Hòa, thời tiết Guam ôn hòa, ban ngày nhiều nắng ấm, và trời chỉ mưa về đêm vì mùa mưa mới bắt đầu. Nửa khuya, những hạt mưa rơi lộp độp trên mái lều đánh thức tôi và nhắc nhở rằng chúng tôi đang bước vào cuộc đời phiêu ngụ trôi giạt nơi đất khách quê người. Guam cách xa Tuy Hòa gần bốn ngàn cây số và nằm trong cùng vĩ tuyến, có diện tích rộng hơn một phần mười tỉnh Phú Yên, và không nhỏ bé hay gần đất liền như hòn Chùa, hòn Mái Nhà, hòn Yến, và cù lao Xanh hoang sơ và tuyệt đẹp của quê hương.

Trong “Thành phố Lều” này, những thứ cần thiết cho đời sống hàng ngày được cung cấp miễn phí, và để nhận lãnh phải xếp hàng chờ phiên mình trên căn bản tới trước tiếp trước. Lần đầu tiên tới văn phòng hội Hồng thập tự nhờ gửi thư, tôi quen thói không nhìn trước ngó sau, xồng xộc sấn tới trước mặt nhân viên phụ trách, và bị một anh lính Mỹ trẻ ngăn lại đưa ngón tay trỏ hướng lên trời và nhã nhặn nhắc, “One line, please (Xin xếp hàng một).” Tôi thẹn đỏ mặt không nói nên lời và từ đó chừa cái thói quen chen lấn đã ăn sâu trong xương tủy từ… bốn ngàn năm văn hiến.

Một lần khác, tôi đứng xếp hàng chờ lấy thức ăn, một anh lính Mỹ trẻ thấy hàng tôi khá dài bèn ngoắt tôi tới gần bằng cách cong ngón tay trỏ hướng lên trời và co duỗi lui tới như (người Việt) gọi chó rồi chỉ sang một hàng mới mở. Tôi nổi dóa bước tới định xạc “thằng con nít hỗn láo” một mách và “dạy cho nó một bài học.” May sao Quỳnh Châu đứng cạnh kéo tay tôi giải thích đó là lối gọi tới gần thông thường của người Mỹ. Lối gọi của người Việt (giơ cánh tay ngang vai, để lòng bàn tay nhìn xuống đất, và vẫy vẫy cả bốn ngón tay) người Mỹ dùng để chào từ giã người đang rời đi. Tôi quê một cục và từ đó hết đường lấy le (làm cho oai để lên mặt) với vợ rằng ta đây cũng giỏi tiếng Anh không kém gì mấy tay du học ngoại quốc về.

Lúc nhập trại, chúng tôi được chỉ tới căn lều ở Khu 5, khu xa nhất và nằm gần bìa rừng. Hai ngày sau, Khu 5 chỉ còn lại gia đình tôi, và các lều khác đều trống trơn vì sau khi biết lề lối tổ chức trong trại, người ta kéo nhau dời về các khu gần bộ chỉ huy để ban ngày nghe rõ thông báo và nhắn tin trên hệ thống truyền thanh chỗ đông, ban đêm tiện tụ họp ở “Ngã Năm Quốc tế,” và nhất là thấy an toàn hơn.

Tôi thích vắng vẻ và ngại chung đụng với người chưa quen nên bằng lòng với căn lều gần bìa rừng cho đến ngày cuối cùng trước khi chuyển sang trại Andersen trong căn cứ Không quân Andersen để lên máy bay vào (lục địa) Hoa kỳ. Chúng tôi không có gì để sợ mất vì tài sản mỗi đứa vỏn vẹn một chiếc xắc tay nhỏ đựng bộ áo quần và giấy tờ tùy thân. Những xấp giấy bạc năm trăm và một ngàn đồng mẹ cho nằm trong chiếc cặp da, một tài sản kếch xù ở Sài gòn, nay là mớ giấy lộn vô giá trị. Dưới hố tiêu ngoài trời, tôi thấy đầy dẫy hai thứ giấy bạc đó, mới toanh và có lẽ bị sở hữu chủ uất nộ liệng bỏ chứ giấy bạc mới khó có thể dùng làm giấy vệ sinh.

Ngã Năm Quốc tế là tên đặt cho khoảnh đất tráng nhựa nằm tại giao điểm của hai con đường chính của trại là phi đạo cũ thời thế chiến thứ II. Ngả đường thứ năm là đoạn đường ngắn dẫn vào nhà để máy bay cũ nay làm nơi đặt bộ chỉ huy trại. Văn phòng hội Hồng thập tự, trạm phát thanh thông báo tin tức, pi-ếch (PX, viết tắt của Post Exchange là quầy hàng Quân Tiếp vụ), v.v. trong các trailer (nhà rơ-moóc, do tiếng Pháp “remorque,” có thể dùng xe kéo đi và đặt ở nơi mong muốn) bằng gỗ mới toanh đều nằm quanh Ngã Năm Quốc tế. Ban đêm những kẻ vừa lìa quê hương đến đây tìm người quen, trao đổi tin đồn, và cùng nhau đoán già đoán non những gì sẽ xảy ra cho mình.

Một tối tôi đang thèm thuồng nhìn thiên hạ ra vào pi-ếch mua sắm thì bỗng hiện ra trước mặt một hình dáng quen thuộc – anh Hán con bà cụ chủ nhà trọ và là người anh đỡ đầu thời tôi còn là sinh viên trường kỹ sư. Sau mẹ, anh là người tôi mong ước gặp lại nhất. Với nụ cười nửa miệng cố hữu, anh đùa,

“Ô kìa, ai như cậu Ba Hoa? Tôi biết thế nào cũng gặp cậu ở ngoài này; sức mấy mà cậu bị kẹt lại.”

“Anh Hán . . . Làm sao anh ra khỏi Sài gòn?” Tôi la lớn và nhảy tới nắm chặt tay anh. “Tôi có anh bạn làm trung tá Hải quân, anh ta rủ tôi và Dư là chú em rể chồng cô Thảo đem gia đình lên tàu ra Phú Quốc lánh nạn. Có ngờ đâu tàu chở mình tới vịnh Subic ở Phi Luật Tân rồi chuyển lên tàu Green Wave (Sóng Xanh) sang đây.”

“Em cũng tới Guam bằng tàu Green Wave như anh. Thế chị Uyên đâu?” Chị Từ Uyên giáo sư trường trung học Trưng Vương là vị hôn thê của anh.

“Ngày 28 tháng Tư tôi đến Trưng Vương giục Uyên về nhà thu xếp và đến chỗ hẹn lên tàu Hải quân để cùng đi. Chờ mòn con mắt không thấy cô ấy đến, tôi đành đơn thân độc mã ra đi một mình,” ánh mắt của anh buồn tênh.

* * *

Đợt di tản bằng tàu ập tới Guam trong cuối tuần lễ thứ hai và đầu tuần lễ thứ ba của tháng Năm khiến dân số của Thành phố Lều lên tới hơn 50 ngàn người, hơn một nửa cư dân trên đảo.

Trong hai tuần lễ tiếp theo, số phận của những kẻ lưu lạc rất mù mờ vì Quốc hội Hoa kỳ, cơ quan nắm giữ hầu bao của quốc gia, đang ở trong kỳ nghỉ. Chúng tôi được bộ Quốc phòng nuôi ăn ở trong chiến dịch Đời Mới, nhưng bộ Ngoại giao và bộ Y tế, Giáo dục, và An sinh chưa được chuẩn chi và chưa thể công bố chương trình giúp đỡ dân tỵ nạn. Thời gian này, tôi gặp bạn là Toàn giảng viên toán dạy hai trường như tôi: Đại học Cơ bản Thủ Đức ở Phú Thọ và Đại học Kỹ thuật Minh Đức ở Phú Nhuận. Vợ chồng Toàn và đứa con nhỏ di tản bằng tàu Việt Nam Thương tín. Toàn mừng rỡ mời tôi về lều và xin tiền vợ vào pi-ếch mua một xâu bia Budweiser sáu lon đãi tôi. Toàn chỉ người bạn ở chung lều, một thanh niên trạc tuổi tôi đang ngồi ủ rũ,

“Ba Hoa biết Kích em rể Kim dạy bên trường Điện mà. Kích đi cùng tàu với vợ chồng mình.” Kim là bạn đồng khóa kỹ sư và dạy Ngành Điện ở Phú Thọ cùng với tôi.

“Ủa, vậy chớ bà xã Mỹ Diễm đâu? Hình như hai người có con rồi, phải không?” Tôi hỏi Kích.

“Dạ, tụi em có đứa con trai sáu tháng. Cả tháng trước, em và Diễm bàn bạc nát nước về chuyện đi hay ở. Nàng nghe lời anh Kim là một kẻ bài Mỹ, và khư khư ôm con ở lại. Em đành phải chia tay, nhảy xuống tàu ra đi, và giờ bơ vơ một mình.”

Kích ôm mặt khóc rưng rức,

“Từ hôm qua đây, đêm nào em cũng trằn trọc nhớ vợ thương con; em nhận ra mình đã mất hết lẽ sống trên đời và quyết định sẽ xin về Việt nam. Bằng bất cứ cách nào, dù chết cũng về.”

“Bọn mình khuyên hết lời, về tới nơi chưa được gặp gia đình vợ con đã bị tụi nó tóm cổ bắt giam biệt tích rồi, nhưng không lay chuyển được Kích,” Toàn xen vào rồi đổi đề tài và hãnh diện cho biết, “Vợ chồng mình sẽ đi Gia Nã Đại chứ không thèm ‘chơi’ với anh Mẽo cao bồi dở trò ma giáo bỏ rơi miền Nam khiến mình mất nước.”

“Làm sao Toàn may mắn như vậy?”

“Ông già vợ mình dạy học ở Đại học Montréal nói tiếng Pháp ở Montréal thuộc tỉnh Québec; ổng đã làm giấy tờ bảo lãnh bọn mình.”

Vào một tối đi phất phơ ở Ngã Năm Quốc tế, tôi gặp Sử và Trung; hai anh là kỹ sư điện vào trường trước tôi một năm và ra trường làm việc cho công ty điện lực. Sử là cựu học sinh lycée Yersin Đà Lạt, nổi tiếng bay bướm và nhảy đầm điệu nghệ nhất trường Điện; anh đi một mình. Trung quen thân với tôi hơn vì hồi đó anh ở trọ cùng với thằng Song bạn tôi trong cư xá Lữ Gia đối diện cổng trường và nằm phía bên kia đường Nguyễn văn Thoại; Trung đi với vợ mới cưới và chưa có con. Sử chia sẻ tin tức sốt dẻo,

“Pháp và Gia Nã Đại gửi phái đoàn vào trại tuyển mộ di dân với chủ ý vớt chất xám của trại Orote Point, chỉ nhận bác sĩ và kỹ sư, và chừa lại đám ‘danh ca’ cho Mỹ.” “Danh ca” (“đánh cá” không bỏ dấu tiếng Việt) là lối gọi mỉa những ngư dân.

“Mấy ông thầy mình ở trường kỹ sư đều xin đi Pháp vì ngày trước mấy ổng học và làm việc bên đó,” Trung kể tên một lô giáo sư cũ.

“Những người lớn tuổi đều xin đi Pháp vì Gia Nã Đại không nhận ứng viên trên 55 tuổi. Bọn Điên (do âm trong “Canadien” tiếng Pháp) nói thẳng là chúng tôi không muốn nhọc công vô ích vì sau khi huấn luyện để có thể dùng được thì anh đến tuổi về hưu,” Sử gượng cười.

Hôm sau, tôi lên văn phòng phái đoàn Gia Nã Đại đặt trong căn trailer trên mái trương cờ lá phong đỏ để xem thử. Tôi gặp Sử và Trung đang sửa soạn vào phỏng vấn, hai anh cho biết hôm đó là ngày chót phái đoàn Gia Nã Đại nhận người nên tôi vội vàng xin đơn điền tại chỗ. Nhân viên phỏng vấn tôi là một thiếu phụ trẻ đẹp và kênh kiệu, cô đọc lướt các chi tiết cá nhân và gia đình và khinh khỉnh hỏi tôi bằng tiếng Anh,

“Tại sao anh muốn nhập cư Gia Nã Đại?”

“Tôi là kẻ vô tổ quốc không có chỗ dung thân. Quốc gia nào đồng ý nhận mà tôi thấy sống được thì đến sinh cơ lập nghiệp.”

“Nếu được nhận, anh làm được gì cho Gia Nã Đại?” cô nhíu mày hỏi tiếp.

“Vợ chồng tôi là giáo chức đại học, các em đều có triển vọng thành người học thức và hữu ích, và gia đình tôi sẽ phục vụ xã hội hữu hiệu không thua kém ai,” tôi đã sửa soạn câu trả lời này đêm qua.

“Anh có thân nhân ở Gia Nã Đại không?” mắt cô không rời khỏi bản khai của tôi.

“Dạ không, nhưng tôi có bạn du học ở Montréal và Ottawa. Tôi có tên và địa chỉ của họ, nếu cô cần.”

Bấy giờ cô mới ngẩng mặt lên,

“Không cần. Tôi đã cứu xét đơn và quyết định nhận vợ chồng anh và ba người em dưới 21 tuổi làm ngoại kiều thường trú tại Gia Nã Đại.”

“Vậy còn Sang em trai 24 tuổi của tôi?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại. “Chúng tôi không thể nhận anh ta,” mặt cô đanh lại.

“Tại sao? Tôi tưởng…”

“Anh ta là cựu quân nhân của chế độ Nam Việt Nam. Và trên 21 tuổi không kể là thành viên của gia đình anh,” cô ngắt lời tôi; lời nói của cô nhắc nhở tôi trong bảy năm qua, ông thủ tướng Gia Nã Đại thường tỏ ra thiên vị phe Cộng.

“Cám ơn cô và xin lỗi đã làm cô mất thì giờ. Gia đình tôi không thể bị phân ly,” tôi đứng dậy đi ra.

Sử và Trung đứng bên ngoài nói cười tíu tít. Trung sung sướng báo tin,

“Tụi moa được nhận đi định cư ở tỉnh Québec nói tiếng Pháp. Ngày mai qua quân y viện bên trại Andersen khám sức khỏe và nếu mọi việc suôn sẻ, ngày kia tụi moa rời trại bay sang Montréal bằng chuyến bay đặc biệt của hãng Canadian Air Pacific. Đó sẽ là chuyến cuối cùng của đợt di cư đi Gia Nã Đại từ đảo Guam.”

Bạn tôi đi Gia Nã Đại; tôi nằm lại Orote Point mà không hề buồn hay thất vọng. Vui buồn không xảy ra tình cờ, đó là do chúng ta lựa chọn. Tôi chọn sống mỗi ngày một lần thôi và tận hưởng những thứ hiện có hôm nay: ngày ba bữa có người nấu cơm cho ăn, đêm ngủ an toàn trong lều, ban ngày ra bãi biển ngắm trời xanh nước biếc, và ban đêm tìm bạn bè tán gẫu. Hôm qua là quá khứ, không thể thay đổi. Ngày mai chưa tới, tội gì mà lo lắng cho mệt óc?

Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 24 tháng Tư, 2019

Những viên thuốc giả cho một cơn điên thật

damau.org

Hoàng Chính

Post on 29.01.2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

“Em hết điên rồi. Bác sĩ cho em về nhà đó anh,” giọng hân hoan của người đàn bà xoáy vào không gian cái hào hứng của kẻ vừa hay tin mình trúng số. “Bác sĩ nè. Bác sĩ muốn nói chuyện với anh nè.”

Một giọng nói khác. Trầm, vững chãi, và bằng tiếng Anh. Anh nhận ra giọng của bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Anh áp sát ống nghe điện thoại vào tai.

“Chúng tôi dự tính cho vợ ông xuất viện,” bác sĩ nói. “Ông lại bệnh viện bây giờ được không?”

Anh dặn cô gái giữ trẻ coi dùm em bé tới chiều, rồi vội vã phóng xe đi. Cơn vui khiến anh hai lần suýt vượt đèn đỏ. Mấy lần tiếng còi xe của thiên hạ làm anh điếng hồn.

Vừa thấy anh, vợ anh chạy tuông ra khỏi phòng bệnh. Cô y tá vội bước nhanh lại đón đầu. Và dịu dàng dẫn vợ anh trở về phòng. Vợ anh ngểnh cổ, vẫy tay với anh. Anh vẫy tay đáp lời. Anh lấy điện thoại di động, mở hình con gái, nhờ cô y tá đưa cho vợ. Vợ anh đón lấy cái điện thoại, ngồi xuống cạnh giường, dán mắt vào khung hình.

“Nếu tôi cho vợ ông về nhà, ông có thể chăm sóc bà ấy được không?” Ông bác sĩ hỏi ngay khi còn chân trong chân ngoài khung cửa phòng chờ đợi.

Anh nhìn bộ râu mép vàng hoe, vội vã gật đầu, “Được chứ.”

“Ông có chắc không?”

Anh quay đầu nhìn qua phòng bệnh. Vợ anh ngồi co trên giường, bấm từng bức hình và chăm chú nhìn. Nụ cười vướng trên môi.

“Chắc chứ,” anh quả quyết. Anh cố gắng thuyết phục bác sĩ là vợ sẽ được chăm sóc chu đáo và canh chừng kỹ lưỡng. Rồi anh sựng lại. Lần trước, cũng bệnh viện này, cũng trại bệnh này, và cũng ông bác sĩ này, anh đã nói như thế. Anh ngừng lại một giây để suy nghĩ, rồi đổi giọng, “Nhà tôi nhớ cháu bé, nó mới hơn một tuổi, nó sẽ giúp nhà tôi lắng xuống, cũng tốt cho việc điều trị. Bác sĩ thấy cô ấy đang xem hình con bé kìa.”

Anh nhướng mắt về phía phòng bệnh. Ông bác sĩ vẫn đăm đăm nhìn anh. Anh nghĩ đến những bóng người vật vờ ngoài hành lang khu bệnh tâm thần mà anh vừa phải nhanh chân tránh né. Những chiếc áo choàng bệnh viện lếch thếch quét sàn nhà, những mắt nhìn đờ đẫn, những cánh tay đưa lên rồi rụng ngay xuống hai bên thân mình, những khóe cười nhếch nhác, vô hồn. Anh hít một hơi dài, cố xuống giọng thuyết phục. “Ở đây, bên cạnh những bệnh nhân khác, không có khuôn mặt quen thuộc nào, không tốt cho nhà tôi.”

“Tôi hết điên rồi bác sĩ ơi,” vợ anh nói vọng ra từ phòng bệnh.

Dù không hiểu tiếng Việt, ông bác sĩ cũng gật gù, “Tôi biết.”

Vợ anh còn rất trẻ, sao lại có thể trở thành một bệnh nhân tâm thần như thế. Câu hỏi ấy quần trong óc anh như cơn lốc mấy tháng trời nay. Bác sĩ nói em bị tâm thần. Mẹ anh nói em bị điên. Bà già lẫn rồi anh ạ. Anh vẫn nhớ những câu nàng từng nói khi vừa phát bệnh. Đợt ấy, nàng nói lung tung. Chuyển đột ngột từ chuyện này sang chuyện kia. Không theo kịp câu chuyện của vợ nên anh chỉ gật đầu. Anh gật đầu liên tục trong lúc nàng thao thao hết chuyện này sang chuyện khác. Nàng kéo lê anh từ xứ sở thần tiên ra cuộc sống sần sượng bên ngoài. Đang từ vực sâu của cơn trầm cảm nàng bay vút lên cao như ngọn pháo bông, và nổ tung, tỏa sáng khắp bầu trời.

Rồi nàng nuốt hết những viên thuốc trong cái lọ mà bác sĩ đã dặn đi dặn lại mỗi ngày chỉ uống hai viên. Lần ấy rửa ruột xong, người ta chuyển nàng vào bệnh viện tâm thần.

Hôm nay vợ anh có vẻ đằm. Chắc nhờ điều trị. Trong thâm tâm, anh muốn vợ ở nhà, đỡ phải thuê người trông con bé trong lúc anh đi làm. Mấy tháng trời nay đời sống anh vùn vụt lao đi như mũi tên, từ nhà đến bệnh viện thăm vợ, từ nhà đến viện dưỡng lão thăm mẹ, và từ nhà đến chỗ làm. Nhiều lúc anh thấy mình chỉ là chiếc bóng nhập vào đám đông vô hồn. Nhiều hôm phải chở con bé lại nhà cô giữ trẻ bởi hôm ấy cô ta không có xe, chiều tối phải đón nó về. Mấy tháng trời nay, anh vừa làm con, vừa làm bố, vừa làm mẹ, và vừa làm chồng; làm chồng nhưng không hẳn là chồng, bởi giường vợ chồng anh chỉ nhàu nhò có một nửa, phía bên anh.

“Ông có sợ bà sẽ tự tử như lần trước không?” Bác sĩ đột ngột hỏi.

“Vâng,” anh vội vã gật đầu. “Tôi cũng lo nhưng tôi sẽ canh chừng nhà tôi. Tôi sẽ giấu thuốc, dẹp bộ dao trong bếp, tôi sẽ…”

Bác sĩ nhìn thẳng vào mắt anh, “Thường thì bệnh nhân có ý định tự tử và đã chọn một phương pháp nhất định nào đó để kết liễu đời mình, rồi được cứu sống, thì nếu có tiếp tục tự tử nữa, họ sẽ chọn đúng phương pháp ban đầu cho tới khi thành công hoặc được điều trị hết hẳn chứng trầm cảm. Dĩ nhiên mình phải cảnh giác để không có bất cứ thứ gì gây nguy hiểm cho người bệnh. Điều cần biết là bệnh nhân thường theo đuổi cách tự tử ban đầu.”

Lần trước ông bác sĩ cũng nói hệt nói thế. Và ông nhắc đi nhắc lại, không cho vợ giữ hoặc biết chỗ chồng giấu thuốc. Đến giờ đưa cho vợ hai viên, bắt uống tại chỗ rồi bắt há miệng ra để kiểm soát xem đã nuốt chưa. Lần xuất viện trước của vợ, anh vẫn làm như thế. Đôi môi hồng mở ra, những chiếc răng trắng đều, đầu lưỡi lo le. Nàng vẫn đẹp và lôi cuốn dù đã trải qua vài cơn điên loạn. Những cơn cuồng trí như những trận bão nhiệt đới bất thần dạt về. Tàn cơn, trong khi giông tố để lại cái tan hoang trên mặt đất thì cơn điên chỉ để lại cho nàng một thân thể mỡ màng, no tròn vì tác dụng của thuốc. Sẽ phải giấu thuốc thật kỹ. Anh hứa đi hứa lại là sẽ làm đúng như thế.

Khi ông bác sĩ nhắc lại đến lần thứ ba thì anh bực mình, gằn giọng, “Tôi biết. Tôi không phải con nít.”

Bác sĩ thản nhiên, “Không phải chỉ con nít mới hay quên.”

Cô y tá đứng kế bên pha trò, “Bác sĩ phải làm ông nổi giận thì bảo đảm ông sẽ không quên.”

Anh nhớ lần thăm viếng trước, vợ đờ đẫn như con zombie trong phim kinh dị, trái ngược hẳn với lúc lên cơn, phải đưa gấp vào bệnh viện. Lần ấy vợ bỗng dưng nổi cơn điên, xách dao chém anh, đòi giết “the bad guy” ở bên trong con người của anh.

Hôm nay anh tin vợ anh có thể xuất viện. Nàng tươi tắn và vui vẻ, trong phòng bệnh nàng đi tới đi lui nhanh nhẹn dù thân hình không còn thon gọn kiểu gái một con như thiên hạ vẫn rêu rao là trông mòn con mắt.

Trước khi ký giấy cho anh đưa vợ về nhà, bác sĩ liếc vào phòng bệnh, nơi vợ anh đang chăm chú xem hình con gái trên điện thoại của chồng, bác sĩ nói nhỏ với anh, “Một trong những biến chứng của Zoloft là làm giảm sự ham muốn tình dục.” Bác sĩ dừng lại, nhìn anh, như thể đo lường mức độ hiểu biết của anh về vấn đề này, nhưng anh đã nhanh chóng gật đầu. Và anh lẩm bẩm, “Không sao.” Trong đầu anh hiện ra những con số. Bốn tháng là mười sáu tuần. Thêm hai tuần của tháng này là mười tám tuần. Anh cúi đầu, nhíu mày lẩm nhẩm đếm. Mười tám tuần là 126 ngày, thêm vài ngày lẻ của tháng này nữa là một trăm ba mươi bốn. Một trăm ba mươi bốn ngày không gần gũi. Một trăm ba mươi bốn ngày không sex. Một trăm ba mươi bốn ngày thèm chết được chút hương quen. Lần cuối hai người ân ái với nhau, anh chưa quên đi được.

Anh làm sao quên được lần ấy. Đang đờ đẫn trong nhau, vợ đẩy bật anh ra, đạp anh ngã xuống sàn nhà, và cuống cuống chạy xuống bếp, không mảnh vải trên thân thể trắng hồng. Con dao rút vội khỏi chỗ cắm, vang lên một tiếng rít sắc gọn. Con quỷ, con quỷ nó đeo trên vai anh, em phải giết nó, phải băm nó thành trăm mảnh. Từ hôm ấy, vợ lại thành bênh nhân viện tâm thần, và cũng từ hôm ấy anh luôn rùng mình khi nghĩ đến tình dục.

Thành ra anh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào con mắt biếc xanh của ông bác sĩ, “Không sao!”

Trên đường về, vợ anh tíu tít, “Mẹ sao rồi anh?”

“Mẹ vẫn bình yên trong nhà dưỡng lão,” anh trả lời.

Nàng cau mày, nói nhỏ, giọng ngậm ngùi, “Tội nghiệp mẹ ở một mình nơi xa lạ.”

Câu nói của vợ làm anh áy náy. “Nhưng ở trong ấy có người trông chừng và săn sóc, hơn hẳn ở nhà.” Anh nói với vợ và cũng để trấn an chính lòng mình.

Chợt vợ hỏi, “Thuốc của em đâu?”

“Anh cất kỹ lắm, không mất được đâu, đừng lo,” anh dịu giọng.

Về đến nhà, anh dẫn vợ đi mọi chỗ trong căn nhà nhỏ, chỉ từng phòng, từng đồ đạc cho vợ, như thể giới thiệu với người khách đến thuê phòng.

Vợ bảo, “Em nhớ mà, phòng bé Angela đây, nhà bếp đây… Còn đây là phòng mình.” Vợ xoa tay trên mặt gối, “Chỗ nằm này là của em, chỗ của anh bên cạnh đây nè.”

Anh hình dung thân thể vợ cong như con tôm trên mặt nệm, nàng hay nằm co và quay lưng về phía chồng, hình ảnh ấy khiến cơn rạo rực lướt qua da thịt anh. Anh âm thầm nuốt nước bọt. Bình thường mỗi khi đi chơi xa, đến một nơi nào đó, anh thường thèm ân ái với vợ, như đánh dấu một chặng đường. Sau mấy tháng trời vắng hơi nhau, trở về chốn cũ, chẳng khác gì vừa đến một nơi xa lạ khác, và dấu tích di truyền nào đó trong nhiễm sắc thể anh thúc dục chuyện ái ân, cái nôn nào ấy bỗng dưng làm anh xao xác cơn thèm.

Nhưng hình ảnh lưỡi dao sáng loáng chợt lóe lên trong óc anh, như lúc vợ anh quơ nó lên, lưỡi dao sáng phản chiếu ánh đèn, lóa con mắt anh. Tia sáng ấy ăn sâu vào võng mạc anh, như vết nám ngọn lửa ở Hiroshima cày trên đáy mắt những người dân Nhật thời Thế Chiến Hai vĩnh viễn thành vết sẹo.

Cô gái giữ trẻ xin phép ra về. Anh cảm ơn và chúc cô ta một buổi chiều vui, nhưng vợ anh chỉ nhìn cô ta bằng ánh nhìn lạ lẫm. Chờ tiếng xe của cô giữ trẻ xa dần, vợ nhìn anh, hỏi, “Anh có ngủ với con bé ấy chưa?”

Anh tròn mắt ngạc nhiên, toan gân cổ lên chống chế, nhưng kiềm ngay lại được, anh biết rõ chứng hoang tưởng là một triệu chứng cơn bệnh của nàng, và anh choàng tay ôm lấy vai nàng, nhỏ nhẹ, “Làm gì có chuyện đó.”

Con bé lon ton chạy lại nắm lấy tay mẹ kéo đi. Nó rủ mẹ chơi với nó, bàn tay nhỏ bé nắm lấy ngón tay mẹ. Tội nghiệp con bé. Mấy tháng trời nay chỉ loay hoay ngồi chơi một mình. Vợ anh quay đầu mỉm cười với anh rồi theo con bé ra phòng khách.

Anh yên tâm vì trí nhớ vợ đã phục hồi.

Chợt điện thoại réo vang. Nhà dưỡng lão. Nơi mẹ anh ở tạm. Cái giọng hoảng hốt bảo anh đến gấp. Mẹ anh bị ngã. Anh vội vã hôn con, ôm và hôn vợ rồi cuống cuồng lái xe đi. Bốn mươi lăm phút trên xa lộ. Người ta chỉ nói là mẹ anh bị ngã. Không thêm chi tiết nào. Hình ảnh mẹ bó bột trắng xóa hai cánh tay hay hai chân loáng thoáng trong óc anh. Lấn át cả hình ảnh đường phố chung quanh.

Không muốn chờ cái thang máy ọp ẹp, anh chạy bốn dãy cầu thang lên tới phòng của mẹ. “Mẹ có sao không? Mẹ có sao không?” Anh ôm chầm lấy mẹ, rối rít hỏi.

Bà cụ nằm trên giường, bàn tay trái nắm chặt lấy cổ tay phải. Anh buông mẹ ra, gỡ nhẹ những ngón tay của mẹ, bày ra cái cổ tay sưng húp. “Chắc gẫy xương, con ạ.” Mẹ anh thì thào.

Anh chạm nhẹ vào chỗ sưng, mẹ anh la hoảng, rụt tay lại.

“Đừng làm gì hết, chờ đi chụp quang tuyến,” đứng bên cửa, cô y tá nói. “Chắc trật khớp…”

Anh ngồi xuống chiếc ghế kê ở đầu giường.

“Đau lắm hở mẹ?”

Bà cụ gật đầu. Hai con mắt nhắm nghiền.

“Chắc họ sẽ băng bột cho mẹ,” anh nói.

Bà cụ lại gật đầu. Hai mắt nhắm như đang ngủ. Anh bước ra hành lang, gọi điện thoại về nhà.

Vợ anh tíu tít, “Em với bé Angela đang uống trà, mình làm tea party anh à.” Giọng nàng đặm nét trẻ thơ làm lòng anh nhói lên cảm giác yêu thương. Cái giọng của cô gái mới lớn, hồi hai người mới quen nhau.

Anh cố không hỏi thẳng đến những triệu chứng như nhức đầu, chóng mặt, buồn ói, bực bội, lo lắng, mệt mỏi… những thứ đẩy nàng đến cơn điên bất ngờ mấy tháng trước. Anh chỉ hỏi bóng gió, xa xôi để nghe vợ trả lời rồi suy đoán ra tâm trạng của nàng.

“Hai mẹ con chơi vui không?”

“Vui lắm anh, à mà bệnh viện không biết đếm anh à.”

“Sao lại không biết đếm, mà đếm cái gì chứ?”

“Thuốc an thần đó anh. Ngoài lọ ghi sáu mươi viên mà em đếm có tới sáu mươi hai viên. Em đếm mấy lần rồi mà vẫn sáu mươi hai anh ạ.”

Anh điếng người. Tim anh đập muốn vỡ tung lồng ngực. Lời dặn của bác sĩ quẫy động trong đầu. Cú điện thoại khẩn cấp từ viện dưỡng lão làm anh quên bẵng lọ thuốc của vợ. Đầu óc anh rối bời, anh không nhớ mình để quên nó ở đâu nữa. Nhưng giờ này quên ở đâu chẳng còn quan trọng, vợ anh – con bệnh tâm thần đã mấy lần tự tử hụt, đang cầm lọ thuốc ấy trong tay. Anh vội vã dặn lòng đừng nhắc đến những gì có thể khơi gợi ý nghĩ về nỗi lo âu, cơn hoảng hốt, thuốc an thần, và nhất là sự chết trên điện thoại với vợ.

Đầu kia, vợ anh vẫn nói một cách hào hứng như đứa bé vừa được xem một màn ảo thuật đầy thích thú có cụm bông gòn biến thành con thỏ trắng. “Em đếm mấy lần rồi đó anh. Lần nào cũng ra sáu mươi hai. Bây giờ em không biết bác sĩ đếm lộn hay em đếm lộn nữa. Mà chắc em đếm lộn quá. Người ta đã học đến bác sĩ rồi làm sao mà đếm lộn được. Em làm đủ cách để kiểm chứng mà vẫn không ra. Em nhắm mắt để đếm cho công bằng nhưng vẫn ra sáu mươi hai. Rồi em mở mắt, nhìn trừng trừng vào từng viên thuốc để đếm, như cô giáo nhìn từng đứa học trò, không cho chúng nó gian lận lúc làm bài thi. Nhưng em nhìn kỹ lắm, không có viên nào gian lận hết. Vẫn sáu mươi hai viên anh à. Rồi em đếm từng viên, em nhìn thật kỹ từng viên, thỉnh thoảng lại gặp một viên không giống những viên khác. Hệt như đứa học trò lạ đi lạc vào lớp học. Nhưng mà vẫn sáu mươi hai…” Nàng nói không kịp thở, hệt như cái lần bắt đầu cơn điên loạn mấy tháng trước.

“Bé Angela đâu rồi?” Anh ngắt lời để đánh lạc hướng dòng suy nghĩ của vợ.

“Nó ngủ rồi. Ơ, anh hỏi làm em quên đếm đến đâu rồi. Bây giờ em phải đếm lại. Nhưng mà muốn chắc ăn, lúc đếm, em sẽ nếm thử từng viên một, để xem nó có khác gì nhau không. Em sợ có thuốc giả lẫn vào, anh à. Chứ không sao tự nhiên sáu mươi lại thành sáu mươi hai chứ.”

Anh hoảng hốt, “Đợi anh về đếm với em.” Và chạy vào phòng mẹ. Cô y tá đang sửa cái gối nằm cho mẹ. Anh nói với cô y tá, “Làm ơn săn sóc mẹ tôi dùm tôi, tôi có chuyện khẩn cấp, phải đi ngay bây giờ.”

Mẹ anh nghe tiếng Anh chập choạng nhưng cũng mở choàng hai con mắt, hỏi với theo, “Mày mới đến làm gì mà vội về thế?”

“Có chuyện gấp mẹ ạ,” anh nói vội. Anh không muốn cho mẹ biết vợ anh bị tái phát triệu chứng rối loạn lưỡng cực. Lần đầu vợ vào bệnh viện, mẹ anh đã quả quyết “Nó điên đấy!” Và anh vẫn nhớ hồi mới quen nàng, đưa về ra mắt mẹ, mẹ anh không nói gì, nhưng đến tối lúc chỉ còn hai mẹ con, mẹ nói với anh mỗi một câu, “Tao thấy nó không được đâu!”

Tiếng vợ anh vẫn xôn xao trong điện thoại, “Anh biết không, em thử nín thở để đếm, để khỏi bị tiếng thở của em làm ồn, làm em rối trí đếm lộn nhưng chỉ nín thở mà đếm được tới viên thứ sáu là đã mệt muốn chết rồi anh.”

Những chữ “nín thở, mệt, chết” vang lên trong óc anh như những tiếng nổ bom của bọn khủng bố. Vợ anh đã ba lần cố nín thở để chết nhưng không làm được.

Anh đề máy xe, sang số rầm rộ và đạp ga lao vào dòng xe cộ. Lại bốn mươi lăm phút lái xe trên xa lộ. Tiếng bánh xe cày lên mặt đường nghe chói gắt, như móng tay cào vào màng nhĩ. Lúc vừa vượt qua cái đèn đỏ ở ngã tư, anh nghe lẫn trong tiếng còi xe thiên hạ, giọng trẻ thơ của vợ anh léo nhéo trong điện thoại, “Không sao đâu anh, nếu nếm mà không giải đáp được thì em sẽ nuốt xuống cổ họng từng viên một xem chúng nó có khác gì nhau không, chứ bên ngoài ghi sáu mươi mà đếm hoài vẫn là sáu mươi hai thì tức điên lên được. Không tìm ra được lý do, em khó chịu lắm. Nhất định phải có thuốc giả anh ạ. Quên nữa, để em lấy ly nước. Không có nước, viên thuốc dính ở cổ họng đắng chịu không được.”

“Chờ anh về đếm với em,” anh gào lên trong điện thoại. Vợ anh chợt im bặt. Anh nhấn ga vượt qua ngã tư khi đèn đường vừa đổi sang màu đỏ. Anh nói như năn nỉ, “Em chờ anh nhé, chờ anh về đếm với em. Hai người đếm thì chính xác hơn mà.”

Chợt có tiếng sụt sùi. Rồi vợ anh bật khóc. Mắt anh mờ đi, anh cố xuống giọng ngọt ngào, “Chờ anh về, em à. Anh đếm với em. Chờ anh, anh đã ra xa lộ rồi, chỉ còn bốn mươi phút nữa là anh về tới, em ơi, em đâu rồi? Chỉ còn ba mươi chín phút nữa thôi…”

Trong cơn tuyệt vọng, anh thầm ước toàn bộ sáu mươi hai viên thuốc bệnh viện cho vợ anh là thuốc giả. Để nàng không phải vào bệnh viện rửa ruột thêm lần nữa, để bé Angela không mất mẹ, và vợ anh còn mãi sống đời với anh.

Chưa bao giờ anh thấy những món hàng giả lại có giá trị như phút giây này.

Ngõ cụt

damau.org

Hoàng Chính

Post on 4 Mar 2024

1

“Em sẽ cho anh một đứa con.” Tim tôi ngưng đập. Tiểu Quyên vừa nói với tôi như thế. Ấy là một buổi sáng tháng Hai. Trời lạnh. Nắng trong. Tuyết lưa thưa như bông gòn đầu cành những cây phong viền hai bên đường phố. Và trắng xóa khu rừng sau nhà. Mấy phút sau tôi mới hoàn hồn. Em sẽ cho anh một đứa con. Câu nói mất hút trong cái tĩnh lặng của căn phòng nhưng lại loang trong trí tưởng, như tiếng chuông ngân nga từ một ngôi chùa trên đỉnh núi.

“Nghe em nói không?” Tấm thân thể mềm như cái gối ôm dựa vào tôi. Ấm áp, mềm mại. Trần nhà võng xuống và không gian căn phòng dần thu hẹp lại. Như con thú bất ngờ lọt vào lưới thợ săn, tôi chết lặng. Rồi tôi hít đầy hai lá phổi hương của tóc và mùi lửa đốt củi khô liu riu trong lò sưởi, loay hoay tìm câu trả lời. Có nghe thấy không? Tôi hỏi tôi. Tôi có nghe thấy không? Một bông đùa, một hứa hẹn vu vơ của một đứa con gái. Dù là một đứa con gái rất thân, rất gần gũi. Hơn cả một người tình. Tôi nghe, nhưng tôi sợ tôi nghe lầm.

Và có nên tin không?

“Quyên nói gì, nói lại cho… anh nghe đi.” Tôi hụt hơi nói với vệt nắng vắt bên khung cửa sổ, bò lan tới tấm nệm giường. Tôi phải nói với vạt nắng, bởi tôi có bao giờ nói với Tiểu Quyên bằng thứ ngôn ngữ ngọt ngào như thế đâu. Tôi chưa kịp quen với những lời tình tự. Với ai khác thì dễ dàng, nhưng với Tiểu Quyên thì câu với chữ cứ chần chừ ở đầu môi. Tôi ngại. Tôi ngượng. Tôi xoay người đổi thế nằm trên tấm nệm dày. Hơi ấm ủ lưng tôi như lúc dựa vào tấm vỉ lò sưởi. Cái mềm mại lan man trên da thịt.

“Em sẽ cho anh một đứa con.” Tiểu Quyên nhìn tôi, thì thầm. Hẹn hò trong ngôn ngữ, thề thốt trong mắt nhìn.

Tôi nhìn qua khung kính cửa sổ. Những con chim sẻ loi choi trong khoảng sân hẹp. Mấy hôm nay khí hậu bỗng dưng ấm áp nên chúng rủ nhau ra tắm nắng.

Cái đầu tròn dựa trên vai tôi. Cái gánh nặng dịu dàng thì thào câu hỏi, “Nghe em nói không?”

“Nghe.” Tôi thì thầm với những con chim đang tỉa lông ngoài sân nắng. Rồi tôi quay sang Tiểu Quyên, nhìn vào đôi mắt một mí lót, “Có thật không?”

Tiểu Quyên mỉm cười, đưa một ngón tay lên trước mặt, “Em sẽ cho anh một đứa con. Hứa đó.” Và cô gái tuôn ra cái câu bất ngờ nhất, “Anh muốn con trai hay con gái?”

“Con trai.” Tôi buột miệng, và ngay lập tức tôi bối rối. Có thật tôi thích một đứa con trai không? Lời hứa bất ngờ của Tiểu Quyên xoáy tôi vào cơn lốc. Tôi không biết thật giả ra sao. Tôi không hiểu đây vẫn là trò chơi hay đã là sự thật.

“Có đứa con trai giống anh chắc thích lắm.” Tiểu Quyên suýt soa.

“Ai thích?” tôi hỏi.

“Em thích, bộ anh không thích sao?”

“Thích chứ,” tôi nói vội. “Con của mình mà.”

“Con của chúng mình. Phải nói rõ như vậy.” Tiểu Quyên dằn từng tiếng.

Rồi cả hai cùng im lặng. Không có gì để nói biết bao lâu. Cứ lặng im như thế chẳng bao lâu chúng tôi sẽ hóa kiếp thành những vật thể vô sinh đông cứng trong vuông nắng màu hổ phách. Bỗng dưng, Tiểu Quyên lay nhẹ vai tôi, đổi giọng rủ rê, “Đi dạo không anh?”

Tôi lười. Hôm nay tôi lười. Nên tôi ngần ngừ. Chúng tôi vẫn vào rừng những sớm mai. Đã năm, sáu năm trời như thế. Mùa hạ, bàn tay níu bàn tay. Mùa đông mỗi người tháo một bên găng tay để có một bàn tay trần, đan những ngón tay nhau. Như thể buông nhau ra, sẽ có một người đi lạc. Đôi bàn tay ấm áp tuyệt vời. Trên lối mòn trong khu rừng nhỏ, những con sóc màu nâu tròn mắt nhìn chúng tôi. Những con thỏ lông xám ngập ngừng bên bụi cỏ rồi lủi nhanh vào bụi rậm. Mùa hạ, nắng lọt qua kẽ lá, rụng đầy trên tóc. Mùa đông, bông tuyết vướng cả vào chóp mũi, đọng lại ở cánh môi. Tôi chỉ biết ngẩn ngơ nhìn. Bởi tôi đã hứa với lòng. Bởi tôi đã tự dặn dò sẽ mãi mãi là như thế. Bởi tôi vẫn nguyện sẽ không bao giờ làm hoen mực tôi lên trang Quyên giấy trắng. Những buổi sáng chúng tôi vẫn đi dạo với nhau như thế. Nắng hay mưa, đủ cả bốn mùa. Từ khi Tiểu Quyên còn là một con bé tóc thả sau lưng thích đi dạo trong khu rừng nhưng không dám đi một mình. Từ ngày mùa hạ nào đó, con bé Tiểu Quyên chạy xe đạp tới cuối đường, ở khúc quanh căn nhà tôi thuê, dựng xe bên cái bảng “Dead End” và men theo lối mòn, bắt gặp tôi rải thức ăn cho con mèo hoang mà tôi vẫn gặp mỗi sáng. Từ cái ngày chúng tôi thành đôi bạn đồng hành. Một người ở tận cuối thị trấn, sát bìa rừng, một người ở đâu đó có thể thật xa nhưng cũng thật gần. Cái nơi xa hay gần ấy tôi không bao giờ hỏi tới.

“Đi không?” Tiểu Quyên nhắc.

Tôi ậm ừ, “Lười…”

“Sao vậy?”

“Valentine.”

Hôm nay là ngày lễ Tình Yêu. Chúng tôi đang là người tình. Mỗi năm chỉ có một ngày chúng tôi là tình nhân của nhau. Như Ngưu Lang Chức Nữ mỗi năm chỉ một lần hò hẹn. Chúng tôi quen nhau lâu nhưng chỉ là quen biết. Là bạn. Là chú với cháu. Chú cháu năm này qua năm khác. Trong trắng như những trang giấy một cuốn vở mới tinh. Rồi một dịp Valentine kia chúng tôi đề nghị sẽ cho nhau một món quà. Trong hai mươi bốn tiếng của ngày Valentine, chúng tôi là tình nhân. Trọn ngày lễ Tình Yêu chúng tôi nhìn nhau như nhân tình. Và cư xử với nhau như hai kẻ đang yêu. Chỉ trọn ngày hôm ấy. Hết hai mươi bốn tiếng, hai chúng tôi lại là bạn bè, lại là ông chú khật khừ và con nhỏ cháu lý lắc.

Vì vậy tôi không muốn rời căn phòng ấm cúng này vào ngày lễ Tình Yêu. Chúng tôi đang có quà. Chỉ còn mười mấy tiếng đồng hồ nữa, khung ký ức sẽ mở ra, gói quà sẽ lại được cất vào ngăn sâu nhất để dành cho năm tới. Tôi là đứa bé ngậm từng viên kẹo ngọt giấu trong gói quà. Tôi không muốn rời xa nó.

“Em nói thật đó. Em sẽ cho anh một đứa con trai.” Tiểu Quyên ghé sát tai tôi, thì thầm. Tiểu Quyên hôm nay dạn dĩ trăm lần hơn Tiểu Quyên ngày hôm qua, và liều lĩnh ngàn lần hơn Tiểu Quyên ngày mai. Chỉ có tôi là vẫn rụt rè.

Ngày của tháng Hai bỗng dài lê thê như bị chằng kéo gữa hai cột mốc thời gian. Hôn nhé. Câu nói thật vớ vẩn nhưng rất ngượng ở đầu môi. Hôn ở đâu? Câu hỏi rất nhảm mà nghe như có đầy hơi thở hụt. Ở đâu cũng được. Những môi hôn gian nan, vất vả. Đã là tình nhân mà còn hỏi những câu lẩn thẩn. Môi miệng ngượng ngùng bởi thường ngày đã quen chú ở đầu môi đã rành cháu nơi chót lưỡi. Ngày dài, thật dài. Mười bốn tháng Hai. Mỗi năm chỉ có một lần mười bốn tháng Hai. Quà tặng ấy chỉ dành cho những kẻ yêu nhau. Và không phải kẻ yêu nhau nào cũng nghĩ ra được.

2

Rồi chúng tôi lạc mất nhau. Có lẽ cũng cả năm trời. Dường như con nhỏ cháu không muốn thân với ông chú nữa. Tôi cũng chẳng hỏi han hay thắc mắc. Tin nhắn không trả lời. Vậy là hiểu rồi. Tiểu Quyên có vô số đàn ông theo đuổi. Các chú các bác các anh bu quanh Tiểu Quyên như lũ ruồi khát mật. Cũng có thể Tiểu Quyên trở lại trường để tiếp tục cuộc học vấn dở dang. Tôi đóng trang Facebook của mình. Đã đến lúc phải quên đi. Phải tìm cho mình một công việc có đồng lương cố định. Và một mình lầm lũi trên lối mòn chật hẹp đời mình.

Vậy mà thật bất ngờ, một buổi chiều mùa đông, rất gần ngày lễ Tình Yêu, cô gái gõ cửa nhà tôi. Tay bồng con, tay xách túi. Khăn áo lù xù như hai mẹ con gấu trắng vùng Bắc Cực.

Cánh cửa vừa hé, Tiểu Quyên đã lách ngay vào, như ngày xưa.

“Baby của cháu đó chú. Đẹp trai không nè.”

Tôi đứng sựng, ngơ ngác bên khung cửa. Tiểu Quyên đẩy đứa bé vào tay tôi. Tôi lọng cọng đỡ lấy cái bọc tròn tròn, âm ấm. Cô cởi chiếc áo khoác mùa đông mắc vội lên lưng chiếc ghế phòng khách, rồi quay về phía tôi và thằng bé.

“Chú vẫn phong độ như hồi đó há.”

Sao lại cháu với chú rộn lên như thế, tôi toan thắc mắc nhưng chợt nhớ hôm ngay không là lễ Tình Yêu.

“Cái gì… cái gì thế này?” Tôi ấp úng.

“Thì Quyên đã hứa sẽ cho chú một đứa con. Cháu giữ lời hứa. Lại là con trai nữa, đúng như điều chú mơ ước.”

Tiểu Quyên nhìn quanh. Ánh nhìn lấp lánh hai con mắt một mí lót. “Bao nhiêu năm mà chú vẫn ở nguyên chỗ cũ. Chú đúng là người chung thuỷ. Ơ kìa, đôi giầy cao gót của ai sao lại lạc vào đây?” Tôi còn đang bối rối thì Tiểu Quyên đã tiếp, “Cháu tìm cách báo tin cho chú mà không có địa chỉ cũng chẳng nhớ số điện thoại, Facebook của chú tìm hoài không ra. Nhưng nếu cứ đi đại thì Quyên sẽ tìm đúng ngay chóc căn nhà ngày xưa, bên mé rừng. Quyên không bao giờ quên cái bảng Dead End cạnh nhà chú. Cháu nhớ, bởi ngày xưa hai chúng mình đi dạo ngoài đó hoài. Và cháu cũng muốn đến thăm chú thật bất ngờ. Bất ngờ mới thú vị.”

Có một điều bất ngờ không mấy thú vị mà tôi sẽ phải nói cho Tiểu Quyên biết, ấy là tôi đang sống chung với một người đàn bà. Trong cơn đại dịch công việc thất thường, tôi phải tìm người thuê, chia chung căn nhà hẹp. Đó là một người đàn bà vẫn còn trẻ, có công ăn việc làm vững chãi, có đôi mắt long lanh cái nhìn hút hồn cùng nụ cười nửa miệng đầy quyến rũ.

Tiểu Quyên nói không ngừng. Tôi kéo ghế cho cô ngồi. Cô kể về người thanh niên ấy. Một gã cao lớn, sáng sủa, có giọng nói thật trầm và hát rất hay. “Nó bắt Quyên phá, Quyên đâu có chịu. Quyên đã hứa với chú rồi. Nó chỉ chịu làm đám cưới với cháu khi cháu còn độc thân thôi. Nó giàu lắm. Cả chục căn nhà cho thuê, nhà nào cũng có hồ bơi. Nó là ai hả? Quyên nghĩ chú chẳng cần biết làm gì.”

Cứ liến thoắng như thế, hệt như hồi còn trò chuyện thân thiết mỗi ngày.

Tiếng xe tắt máy bên ngoài. Cô bạn ở chung nhà với tôi đi làm về tới. Cánh cửa mở, những con mắt ngơ ngác nhìn nhau. Đỡ vội đứa bé từ tay tôi, Tiểu Quyên vén mép cái mũ len trên trán thằng bé, đon đả, “Chào bác đi con.”

Tôi lúng túng, “Đây là con nhỏ em gái út.” Tôi cố uốn lưỡi tìm câu nói dối nghe cho được, “Nó bỏ nhà ra đi từ năm mười sáu tuổi.” Thực ra tôi không nói dối, bởi mười sáu là cái tuổi con bé Quyên này vừa tròn ngày mới quen tôi.

Tiểu Quyên chớp mắt, mỉm cười, “Tại anh là anh cả mà hư hỏng, làm em út hư theo.”

Đầu óc tôi xoay vòng. Tôi làm Tiểu Quyên hư hay Tiểu Quyên làm tôi hư. Tôi vạch mép cái mũ len để nhìn mặt đứa bé. Nó có nét gì giống tôi không? Tôi cố nhẩm tính những ngày, những tháng. Đầu óc tôi rối bời. Lần Valentine trước cách đây đã hơn một năm và đứa bé chắc cũng được ba, bốn tháng.

Tôi vuốt má thằng bé, băn khoăn, “Cháu bé được mấy tháng rồi?”

“Ba tháng,” Tiểu Quyên nhanh nhảu. Rồi nhân lúc cô bạn tôi vào nhà vệ sinh thay đồ, Tiểu Quyên ghé sát tai tôi, “Không phải của chú đâu, đừng lo.”

Tôi thở phào.

Liếc về phía nhà vệ sinh, Tiểu Quyên thì thầm, “Chị ấy đẹp quá. Chú với chị ấy thật xứng đôi. Mà chị ấy là ai vậy? Hồi đó, có cô nào, bà nào chú cũng kể cho Quyên nghe mà có bao giờ chú kể gì về chị ấy đâu.”

3

Buổi sáng. Tiếng khóc đứa bé đánh thức tôi dậy. Bình sữa pha sẵn và một mảnh giấy gấp làm tư nằm trong tủ lạnh. Tôi run run mở tờ giấy. Ngả nghiêng nét chữ mỏng mềm con gái, “Con anh đấy. Hãy thương nó và thay em nuôi dưỡng nó.”

Tim tôi ngưng đập. Tôi vo vội mảnh giấy và nhét ngay vào túi quần.

Đứa bé khóc. Tôi vỗ về cái chăn bông quấn chặt thằng bé như cái kén bọc con sâu. Tôi nhét cái núm vú cao su vào miệng nó. Nó ngậm được vài giây rồi lại nhằn ra và khóc. Vậy là mẹ nó bỏ đi thật rồi. Bây giờ tôi cũng không biết phải làm gì với đứa bé này. Đem nó cho viện mồ côi thì không nỡ. Dù sao nó cũng là giọt máu của Tiểu Quyên, người con gái (dường như) tôi yêu thầm suốt năm, sáu năm trời. Chẳng phải tôi đã từng khao khát có đứa con với cô ấy để thương yêu và để vất vả với nó đấy sao. Và dù sao – theo lời Tiểu Quyên thì – nó cũng là con tôi, tính từ cái ngày Tiểu Quyên nghịch ngợm hứa cho tôi một đứa con đến hôm nay, thằng bé được ba tháng tuổi là đúng rồi.

“Anh muốn em gọi cảnh sát không?” Cô bạn hỏi.

Tôi ngập ngừng. Cô tiếp, “Coi chừng người ta nghi mình bắt cóc trẻ con.”

“Để khoan đã,” tôi chần chừ. Tôi cần suy nghĩ thật kỹ.

Tôi lục tủ lấy cuốn niêm giám điện thoại, tìm địa chỉ của một cơ quan nhận nuôi trẻ em vô thừa nhận. Tôi quên hỏi Tiểu Quyên tên đứa bé. Nên bây giờ tôi phải nghĩ cho nó một cái tên. Thằng bé không chịu ngậm cái núm vú bình sữa và tiếp tục khóc. Nó khóc hoài. Nó làm tôi nhức đầu.

“Em à,” tôi nhìn cô bạn, ngập ngừng, “Em cho nó bú tạm được không?”

“Lấy sữa đâu mà cho bú,” cô bạn nhếch mép. Một nửa nụ cười nở ra trên khóe môi. (Tôi đã mê nụ cười nửa miệng ấy ngay khi cô ấy vừa dọn vào). Cô nói như thở dài, “Em đã bao giờ có con đâu mà có sữa.”

“Thì cứ cho nó ngậm để nó bớt khóc. Có hơi phụ nữ, nó tưởng hơi mẹ nó. Cũng đỡ phần nào.”

Người đàn bà ngần ngừ một chút rồi bế thằng bé lên, ngồi xoay lưng lại phía tôi, vạch áo, phơi ra khoảng lưng trắng nõn, hằn vết dây áo ngực, và đẩy miệng thằng bé vào ngực mình.

Tôi lúng túng bước về phía cửa sổ, nhìn qua khung kính. Tuyết phủ trắng mặt đường và một góc tấm bảng có hai chữ Dead End. Tôi lẩm bẩm hai chữ ấy. Ngõ Cụt. Trên lối vào cái Ngõ Cụt ấy chỉ có những vạt nắng dìu nhau nhảy múa lung linh trên tuyết trắng.

231225

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Jeudi 18 Avril 2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

Phần 8

VIII) Chuyện tình cốt nhục sau tháng Tư 1975 và buổi thăm nuôi nhạt nhòa nước mắt 8.1)

Cuộc chiến 1954-1975 để lại nhiều hệ lụy đáng tiếc trong những gia đình có người thân ở cả hai phía. Lẽ ra những ngày sau tháng 4.1975 phải là thời điểm chứa chan hạnh phúc của sự sum họp gia đình sau một thời gian dài đằng đẳng phân ly.

Vậy mà, ở nhiều gia đình, sự mừng vui, chan hòa thì ít, sự bất đồng, thậm chí xung đột, nhiều hơn. Các ông bố, ông anh “cách mạng” thường lên lớp những thằng con, thằng em “ngụy” của mình bằng những bài kinh nhật tụng vẫn được hô ra rả trên các hệ thống loa phường. Người khổ tâm nhất trong những vụ này thường là các bà mẹ già, “vừa vui sum họp, đã sầu chửi nhau”.

Theo thông lệ lúc đó, các cán bộ có nhiều năm cống hiến, có địa vị cao trong bộ máy chính quyền, có thể bảo lãnh anh em, con cái của họ về để “giáo dục” trong gia đình. Với sự bảo lãnh của họ, con em của họ có thể được xét trả tự do sớm hơn thời hạn quy định.

Song đó không phải là điều đơn giản. Chuyện bảo lãnh thường vấp phải một số trở ngại phổ biến như sau:

– Người cán bộ bên thắng cuộc sợ tiền đồ cách mạng của mình bị ảnh hưởng bất lợi bởi mối quan hệ với con em từng hoạt động cho địch.

– Người cán bộ hứa cho gia đình yên tâm rồi không làm gì cả, cái này người trong Nam gọi là “hứa lèo”!

Thông thường, gia đình người đi cải tạo “bôi trơn” việc bảo lãnh bằng nhiều thứ tài sản trên danh nghĩa “quà cáp” trong nội bộ gia đình: TV, tủ lạnh, xe gắn máy … nhưng kết quả không phải lúc nào cũng như ý. Chuyện rủi may, thật giả trong bảo lãnh dẫn đến nhiều hệ quả khôn lường.

Người may mắn nhất trong chuyện này có lẽ là anh BXT, một đàn anh trong giới Quốc gia Hành chánh, từng nhiều năm giữ chức vụ Phó Thị trưởng một thị xã lớn ở miền Trung, cuối cùng là một viên chức của Phủ Đặc ủy trung ương tình báo. Xét chung, với cách đánh giá của bên thắng cuộc lúc bấy giờ, anh thuộc dạng cải tạo mút chỉ cà tha.

Song, trong những ngày ở Long Thành, được biết anh T. có người cậu ruột là Thứ trưởng một bộ quan trọng ở trung ương. Trong một lần lao động gần cổng trại, anh em được chứng kiến cảnh ông cậu anh thân hành đi công xa lên thăm anh. Tất nhiên, ban lãnh đạo trại, người có cấp bậc cao nhất chỉ là Thiếu tá, gặp ông Thứ trưởng, phải khép nép chào. Một thời gian sau, sau chưa đầy hai năm, anh BXT có quyết định tha! Xe ông Thứ trưởng được phái lên Long Thành đón anh về, cán bộ trại thân tình tiễn chân anh.

Đó là một trường hợp khá hãn hữu, đối nghịch với nhiều bi kịch khác. Anh PVT là bạn đồng môn, đồng khóa Quốc gia Hành chánh của mình, lúc ấy đang ở một trại cải tạo thuộc vùng núi Thất Sơn, Châu Đốc. Bữa nọ, trại thông báo cho T rằng có người anh ruột là Thiếu tướng NTB (khi đi tập kết, hầu hết đều đổi tên họ) đến thăm. Nghe đâu ông Thiếu tướng này là Tư lệnh phó một quân khu.

Sau khi nhận được thông báo trên, anh T trả lời dứt khoát là anh không có người anh nào tên như thế cả. Báo hại ông B phải chịu nhân nhượng ông em khó tánh, thân hành vào đến tận nơi ở để thăm ông em. Dù không có dịp nghe anh T. tâm sự, mọi người tin rằng giữa họ đã hay đang có một sự bất đồng nào đó khá sâu sắc.

Trường hợp của bác NVN cũng khá ê chề. Bác là đồng môn trước chúng tôi khoảng 8-9 năm, song vì lúc vào học trường Quốc gia Hành chánh, bác đã là công chức nên tuổi tác của bác hơn anh em chúng tôi chừng 20 tuổi. Gọi là bác mà không là anh là vì thế.

Trước tháng 4.1975, bác N. giữ một chức vụ giám đốc tại Phủ Tổng thống. Người anh của bác là một vị tướng lừng danh của Mặt trận, bác tin rằng chuyện bảo lãnh bác về sớm có thể dễ như trở bàn tay. Bác nuôi hy vọng ấy mỗi ngày. Cho đến một hôm, gia đình vào thăm nuôi, người vợ bác chuyển đến bác lời nhắn gửi của ông anh tướng lãnh là “nhắn chú ấy cố học tập tốt để sớm về!”.

Câu nói có giá trị của một sự từ khước bảo lãnh, một cú sấm sét giữa trời quang! Bác N là một người khá cao to, vậy mà chỉ sau 2-3 tháng, sự thất vọng dẫn đến khủng hoảng tinh thần khiến bác sụt mất gần 15 ký ! Từ một người hiền lành, ít nói, bác bỗng trở nên cáu gắt, sẵn sàng gây gỗ với bất cứ ai.  

Song bi kịch lớn nhất mà mình và nhiều bạn đồng môn Quốc gia Hành chánh từng chứng kiến, phải kể đến trường hợp của C.

Khóa của anh ra trường sau mình hơn 2 năm; đầu năm 1968, toàn bộ anh em vừa tốt nghiệp được gửi đi học khóa 1/68 trường Bộ binh Thủ Đức. Mình cũng gia nhập khóa đó với tư cách người có lệnh gọi nhập ngũ cá nhân. Sự tình cờ xui khiến, C., mình và một người bạn nữa ở chung một tiểu đội, xếp quần áo trong một tủ chung dành cho ba người.

Cuối khóa quân sự đó, theo quy định chung của Phủ Thủ tướng, mọi cựu sinh viên tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh đều được đưa về các đơn vị hành chánh địa phương.

Tháng 6.1975, C. cũng đi trình diện học tập cải tạo và được đưa lên trại Long Thành như hầu hết anh em đồng môn Quốc gia Hành chánh đang có mặt ở Sài Gòn sau tháng 4.1975. Ở đó, mỗi người một hoàn cảnh, một tâm trạng, không ai giống ai.

Sau hai đợt đi Bắc, số trại viên còn lại ở Long Thành được chuyển lên trại Xuyên Mộc vào những tháng cuối năm 1979. Một buổi sáng, C. trở vào nhà sau giờ thăm nuôi, anh thảng thốt kể về cái chết của vợ mình. Theo lời anh, chị đã tự tìm đến cái chết do phẫn uất trước sự “hứa lèo” của người bố là một cán bộ thâm niên. Anh còn kể là anh đã trừng mắt, giận dữ nhìn những người thân khi họ “khoe” với anh rằng trong đám tang vợ anh, một số giới chức địa phương đã đến chia buồn và đưa tiễn.

Người vợ vắn số của C. là em gái một nhà văn nổi tiếng, là nhân vật chính trong một truyện ngắn mà nhà văn đã gửi vào đó tình yêu thương đằm thắm. Có điều là trong truyện này, nhà văn đã thay tên và địa vị xã hội trước năm 1975 của người em rể, song với những ai là bạn của C. đều nhận ra anh.

Hiện nay, nhà văn kể trên đang sống tại Mỹ. Những người con của C. cũng đang sống ở Mỹ, song không cùng một nơi với người cậu ruột của họ. C. qua đời cách nay mấy năm, hy vọng anh đã gặp lại người vợ thương yêu ở một cõi giới an lành nào đó, không có kỳ thị, chẳng có hận thù.

8.2) Với những cựu viên chức dân sự tại trại cải tạo Long Thành, trước 1975, cuộc sống của họ gắn liền với đời sống gia đình. Phụ cấp gia đình vợ 1.600đ/ tháng, phụ cấp mỗi đứa con 1.000đ/tháng, không hạn chế số con, cho phép người phụ nữ an phận trong đời sống gia đình, lo chuyện nội trợ và giáo dục con cái.

Bản thân mình cũng vậy, hầu như chưa có bao giờ mình sống xa gia đình đến quá 3 ngày. Nói như thế để thấy rằng việc phải xa gia đình, hoàn toàn không thấy mặt người thân trong thời gian hơn một năm trời là một sự chịu đựng … khủng khiếp. Cũng may là nghịch cảnh diễn ra tuần tự, có lớp lang, từ 30 ngày lên 1 năm, từ 1 năm lên 3 năm, rồi từ 3 năm lên 5 năm, 10 năm, 15 năm …, tâm hồn con người như được rèn luyện dần sự chịu đựng để mỗi ngày một thích nghi với sự khắc nghiệt của cuộc sống hơn.

Dẫu vậy, tin tức về sự thăm nuôi lần đầu tiên sau hơn một năm trời khắc khoải cũng trở thành một quả bom nổ tung và lóe sáng trong đêm hôm tăm tối. Khó có thể diễn tả hết cảm xúc của những giờ phút ấy!

Mình còn nhớ cảm giác xúc động, lâng lâng của buổi sáng đó, chân bước ra cổng trại cơ hồ như bước trên mây. Vừa ra khỏi cổng trại, nhìn về hướng nhà thăm nuôi lố nhố hàng trăm người, nước mắt mình chảy tràn trên đôi má, như một phản xạ không sao kìm giữ được.

Bạn Nguyên My và những bạn từng có dịp thăm nuôi thân nhân mình lần đầu tiên chắc còn nhớ những cảm xúc đó. Hai cô con gái của mình thì khi xa nhau, đứa nhỏ chưa đầy 3 tuổi, chưa biết nhiều, còn đứa lớn, 6 tuổi, từng lăn lóc với mình từ Côn Đảo về đến Bình Dương, đã biết nhắc lại những kỷ niệm đầu đời. Mình tưởng tượng khi gặp nhau, nó sẽ ôm mình và khóc như chưa bao giờ được khóc.

Mình cố bước chậm trên con đường từ cổng trại ra nhà thăm nuôi, cách nhau chừng 30-40 mét, lau vội những giọt nước mắt còn vương, cố chuẩn bị một vẻ mặt bình tĩnh để đón chờ cuộc gặp gỡ đầy xúc động.

Mình ngồi xuống chiếc băng ghế trong căn nhà thăm nuôi chật kín, vang lên đủ thứ âm thanh khóc cười lẫn lộn. Đúng là hình ảnh của câu hát “vui sao nước mắt lại trào”. Tuy nhiên, mình đối mặt với một bất ngờ lớn: Cả hai đứa con gái đều không có đứa nào khóc cả! Nhất là đứa lớn theo sát mình từ những ngày sống ở Côn Đảo và chưa bao giờ xa nó quá 2 ngày. Nó liếc mình rồi nhìn vào đám đông, gương mặt không biểu lộ một dấu hiệu buồn vui nào rõ nét. Sao lạ vậy? Chả lẽ chỉ sau hơn một năm xa cách mà chúng đã thay đổi hẳn như thế sao?

Ba mươi phút phút thăm gặp trôi nhanh, giờ chia tay cũng đã đến. Trong nỗi ngạc nhiên và đau buồn, mình tìm thấy chút an ủi khi kịp nhìn thấy trong đôi mắt của hai cô con gái, những tia nhìn chan chứa yêu thương.

Khi vừa về đến nhà ở Sài Gòn, mẹ chúng cật vấn liền: Sao tụi con gặp ba mà không đứa nào khóc cả? Đứa lớn trả lời không suy nghĩ: Trước khi đi, mẹ dặn con lúc gặp ba không được khóc, khóc người ta sẽ bắt ba học tập lâu hơn, vì thế khi gặp ba, con muốn khóc lắm, mà không dám khóc. Hóa ra, trong lần thăm nuôi đầu tiên đó, nó không dám khóc vì sợ mình ở tù lâu hơn. Ở tuổi lên 7, nó đã biết nuốt nước mắt vào lòng!

LÊ NGUYỄN 18.04.2024

Mấy kỷ niệm về một đoạn đời sau tháng Tư 1975

thuymyrfi.blogspot.com

Lê Nguyễn

Mardi 16 Avril 2024

Post by Sơn râu 10 May 2025

Phần 7

VII) Khi số phận đã an bài

Lúc ấy là khoảng tháng 7, tháng 8.1976. Sau hơn một năm làm việc, cơ quan quản lý trại giam Bộ Nội vụ hoàn tất việc thanh lọc ra những người “có tội với nhân dân”.

Hai quyết định được ban hành cùng lúc, một để trả tự do cho khoảng một, hai trăm người người xét không có tội, một quy định việc tập trung cải tạo ba năm cho đại đa số những người còn lại. Quyết định sau nhấn mạnh đến hai chi tiết:

– Ai lập công chuộc tội sẽ được cho về trước thời hạn 3 năm.

– Ai ngoan cố không chịu học tập, lao động, sẽ bị kéo dài thời hạn cải tạo sau 3 năm.

Một thời kỳ mới bắt đầu, không còn “học viên” nữa, mà là “trại viên” (hay tù cải tạo); không còn “Trường 15 NV” nữa, mà là “Trại cải tạo Long Thành”.

Do có một số người được thả về, các đội, tổ được sắp xếp lại hoàn toàn. Thay vì theo thứ tự trình diện tại trường Trưng Vương hay Gia Long trước đây, thì nay sắp tên theo thứ tự mẫu tự. Tên mình khởi đầu bằng chữ C, ở chung tổ với các anh Nguyễn Văn Bon, nguyên Quận trưởng ở Đô thành Sài Gòn, chức vụ cuối cùng là Tổng thư ký bộ Giáo dục; anh Nguyễn Ngọc Điện, chánh án tòa sơ thẩm Bình Dương, Lê Tài Bổn, chánh án tòa sơ thẩm Kiên Giang, bạn học của mình thời tiểu học ở trường tư thục Chấn Hưng…

Trong sự cải tổ toàn diện này, anh Hai Trung, cán bộ phụ trách Nhà 2, nhận thêm trọng trách chung của cả trại. Ngày ngày, đến Nhà 2, anh thường sà xuống chiếc phản của anh (dân biểu) NMĐ, cùng hút thuốc lào. Cán bộ nhà tiếp xúc với trưởng ban văn nghệ nhà là chuyện bình thường, không ai để ý, song có một vai trò quan trọng khác của anh Đ. mãi về sau mới lộ diện. Đó là vai trò “tư vấn” cho ông Hai Trung.

Sau khi chuyển qua chế độ trại viên, trại tổ chức một đội trật tự gồm những trại viên làm việc dưới sự sai phái trực tiếp của cán bộ trại. “Trật tự” là vị trí mơ ước của bất cứ anh tù nào, do không phải lao động nặng như phá rừng, cuốc đất, chỉ làm công việc nhẹ nhàng trong mát. Trời xui đất khiến, anh Hai Trung được lãnh đạo trại giao nhiệm vụ tuyển ra đội trật tự của trại, và người mà anh trông cậy vào sự tiến cử lại chính là NMĐ!

Khi mọi việc đã xong xuôi, một vài anh em thắc mắc vì sao anh Đ. khá gắn bó với mình mà không tiến cử mình vào đội trật tự; đến lúc ấy, hầu hết mọi người không biết việc Đ. giận mình về chuyện không chịu giúp đặt lời cho bản nhạc của anh.

Về phần mình, mình chẳng hối tiếc gì về những chuyện đã qua, coi như số phận đã an bài.

Khi từ học viên trở thành trại viên là lúc đời tù cải tạo thật sự bắt đầu. Mọi hoạt động đều diễn ra trong những kế hoạch được thực hiện một cách nghiêm túc.

Sau khi đã sắp xếp lại tổ chức tổ, đội, chúng tôi bắt đầu vỡ đất để trồng rau màu ở khu vực cạnh làng cô nhi cũ. Với những bàn tay thư sinh chỉ quen với giấy má, thử thách không hề nhỏ. Ngày đầu, mỗi người phải dùng cuốc vỡ một vạt đất ngang 1 mét, dài 100 mét. Lúc ấy đã vào tháng Bảy, tháng Tám, nghĩa là đang ở mùa mưa. Song vì đất nằm trên một ngọn đồi dốc nên không giữ nước, chỉ cuốc một mét đầu tiên thôi, cánh tay đã tê rần. Nước uống là cả một bị kịch, phần uống vào không bù đắp nổi với lượng nước từ cơ thể tiết ra. Đó là chưa kể uống vào chỉ thuần là … nước, trong khi hơi nước và mồ hôi thoát ra có chứa cả muối khoáng, sự rối loạn điện giải là mối đe dọa có thật.

Tuy nhiên, bỗng dưng chỉ sau một, hai tháng lao động nặng nhọc, nghiệp dĩ cũ lại tìm về với mình: lại chuyển đổi giới tính!

Vở thoại kịch lần này có tầm phủ sóng cả trại, do chính cán bộ Giáo dục trại chủ trì việc tập luyện. Nhan đề của nó là “Lửa thù Sơn Mỹ”, nhằm nhắc lại hành vi của một đại đội lính Mỹ dưới quyền Trung úy Calley tại làng Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi. Hai nhân vật chính của vở kịch là viên trung úy Mỹ và một cô cán bộ cách mạng tên Thanh. Ngoài ra còn mấy nhân vật phụ, không đáng kể.

Với vóc dáng dềnh dàng, một lần nữa, anh Nguyễn Đình Xướng được giao vai trung úy Calley, còn cô Thanh, thì lại là … tui. Kể ra tạm thoát khỏi cảnh đánh vật với những vạt đất đồi khô khốc cũng là một may mắn. Lần này, vở kịch do chính ban lãnh đạo trại chọn nên quá trình tập kịch diễn ra rất khác, với sự theo sát mỗi ngày bởi ba nhân vật, gồm:

– Trung úy Đức, Cán bộ, Trưởng ban Giáo dục trại.

– Thượng sĩ Mạnh, Cán bộ, Phó ban Giáo dục trại.

– Trại viên, nhạc sĩ Vũ Thành An, Trưởng ban Văn nghệ trại.

Mỗi sáng, trong lúc thiên hạ đi cuốc đất thì chúng tôi kéo nhau lên hội trường tập kịch. Thoại kịch không dính dáng gì đến nghề nghiệp âm nhạc của Vũ Thành An, song với tư cách trưởng ban văn nghệ trại, anh không thể vắng mặt khi hai cán bộ giáo dục của trại luôn bám sát các buổi tập của nhóm kịch.

Bữa nọ, chúng tôi ngạc nhiên trước sự hiện diện của một phụ nữ lạ trong buổi tập kịch. Chị ngồi im lặng theo dõi từng động tác của tụi tôi trong suốt buổi sáng. Không lâu sau, mọi người được biết chị phụ nữ lạ ấy là vợ của Thượng sĩ Mạnh, Phó ban Giáo dục, đang phụ trách việc tập kịch cho một nhóm cán bộ nữ, chị đến để “học tập” cách tập diễn của tụi tôi.

Lần diễn vở kịch này, không có chuyện hóa trang theo kiểu vở kịch thơ lịch sử Chiến Sĩ Triều Trần. Nhân vật chuyển giới thành cô cán bộ Thanh phải ăn mặc như một phụ nữ thật sự.

Một buổi trưa nọ, anh nhà trưởng Nhà 2 Đỗ Hữu Cảnh (chuyên viên dầu khí) dẫn tui đi đến dãy nhà của các chị nữ để mượn bộ đồ bà ba của chị Q. May mắn là chị cũng vui vẻ với lời “đề nghị khiếm nhã” của hai gã tù nam.

Cần nhắc đôi chút về chị Q. Chị là người mà trong một bài viết cách đây khá lâu, mình từng nhắc đến. Chị giữ chức vụ Chánh Sở tại Bộ Xã hội, tức nằm ngoài tiêu chuẩn đi trình diện học tập cải tạo, nhưng trong buổi chiều ngày 15.06.1975, chị cứ đi ra đi vào trường Trưng Vương nhiều lần, cố thuyết phục cán bộ tiếp nhận cho chị nhập trường. Có lẽ lúc ấy, chị cũng như hầu hết mọi người, mong sao sau 30 ngày, có được cái giấy chứng nhận đã hoàn thành nghĩa vụ học tập để tiếp tục cuộc sống mới.

Không lâu sau tháng 5.1975, các phương tiện truyền thông của bên thắng cuộc lên án nặng nề chiến dịch Babylift, với sự phối hợp giữa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà đại diện là Bộ Xã hội và một số tổ chức nhân đạo quốc tế nhằm đưa hầu hết trẻ cô nhi ra khỏi Việt Nam, về làm con nuôi nhiều gia đình người Mỹ. Người ta gọi đó là sự kiện “bắt cóc trẻ em”, nhất là trong chiến dịch Babylift đã xảy ra một tại nạn thương tâm, khi một chiếc máy bay chở các em bị rơi lúc vừa cất cánh khỏi Sài Gòn.

Chính trong bối cảnh chiến dịch Babylift, Sở Bảo trợ mẫu nhi thuộc Bộ Xã hội, nơi chị Q. làm Chánh Sở, là cơ quan bị lên án nặng nề nhất, do sự phối hợp giữa Sở này với các tổ chức nhân đạo quốc tế. Không rõ trong đời sống ở trại Long Thành lúc bấy giờ, chị Q. có phải trải qua các đợt thẩm vấn về chuyện chiến dịch Babylift hay không?   

Về phần mình, vai cô cán bộ tên Thanh trong buổi diễn vở kịch Lửa thù Sơn Mỹ không có gì đáng nói. Đáng nói chăng, đó là dịp có được hơn một tháng tập kịch để trốn cái nắng lửa của ngọn đồi cao mà mỗi nhát cuốc bổ xuống như một nhát chém vào tuổi thanh xuân mơn mởn của mình.

Vậy mà vở kịch trên cũng chưa phải là dịp “chuyển đổi giới tính” cuối cùng của mình. Khoảng giữa năm 1978, khi đã có hai đợt người được đưa ra Bắc, số anh em còn lại ở Long Thành chỉ còn khoảng 200 người, sống chung với anh em tù hình sự và rất nhiều thiếu niên bị gia đình gửi cho “cách mạng giáo dục” sau tháng 4.1975, mình lại một lần nữa bị gài làm phụ nữ trong một vở kịch khác.

Lần này, mình đã về đội Cấp dưỡng (nhà bếp), công việc thoải mái hơn. Nên sau một ngày đi tập kịch về, mình nói với anh Trần Thiên Ân (khóa 17 Quốc gia Hành chánh), Trưởng ban văn nghệ trại, cho trở về đội làm việc, để vai kịch đó cho người khác. Vào thời điểm ấy, nhạc sĩ Vũ Thành An, trưởng ban văn nghệ cũ của trại, đã được đưa ra Bắc trong chuyến đầu tiên.

LÊ NGUYỄN 16.04.2024