Post by Sơn râu 16 Feb 2026

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 16 Feb 2026

Mậu Thân và nỗi đau của Huế

Xin gọi trăng soi khe Đá Mài
Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai
Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội
Phú Thứ tóc vương trảng cát dài.
(Huế Oan Khiên- Huy Phương)
Định mệnh sắp đặt cho tôi, đứa con của Huế phải trở lại quê hương trong những ngày đầu năm Mậu Thân để chịu tang với Huế. Sau 23 ngày, lúc tôi rời Huế, trời còn lạnh, sương mù buổi sáng chưa tan, còn như nghe chút rát trên mắt của những trận bom cay giải tỏa thành phố hay là nước mắt khóc cho những tang tóc của quê nhà. Ngày tôi đi, Huế chưa được hoàn toàn “giải phóng”. Dù tôi để nó ở trong ngoặc kép, đó là chữ chính xác nhất phải được dùng. Giải phóng là cởi ra, ai ai cũng vui mừng chứ không phải cột lại cho người ta than khóc, kiểu “một nửa nước vui, một nửa nước buồn.” Chuyện rất đơn giản: người dân chạy về phía nào thì phía đó chính là phe giải phóng. Chính vì Việt Cộng không hề thấy có ai chạy về phía mình, hay “tổng tấn công” mà chẳng thấy “nổi dậy,” nên phải trút tất cả hận thù lên đầu người dân hiền lương, vô tội. Chúng trả thù Huế! Đó là đập đầu, xử tử hay chôn sống. Không có những nấm mồ cá nhân mà chỉ có những hố chôn tập thể. Nhanh, gọn và vì quá nhiều người phải chết.
Tôi còn trở lại Huế sau đó để chứng kiến cảnh đồng bào của tôi được mang lên mặt đất, với giây thép gai, giây điện thoại trói tay, với xương sọ bị vỡ, áo quần đã rữa nát, thi thể dính chùm với nhau, đã bốc mùi. Tôi phải chứng kiến những tiếng kêu la, gào thét tuyệt vọng của những người mất chồng, mất cha, mất con, mất anh em, mất họ hàng. Cả thành phố quấn khăn tang, cả thành phố đầy mùi hương trầm, cả thành phố sau 28 ngày được sống dậy nhưng trên nỗi chết! Từ những nấm mồ tập thể, giờ đây là những đám tang tập thể, “những con đường trắng” với áo mũ mấn khăn sô.
Nỗi đau của Huế trước nhất là những khuôn mặt dương dương của những đứa con, mang danh Huế đã đem oan nghiệt đến cho hàng nghìn dân Huế, bây giờ mỗi năm còn ngồi ca tụng nhau, kể chuyện chiến công giết người như anh em nhà Hoàng Phủ (Tường – Phan), như nhà “huyết học” Nguyễn Đắc Xuân, như Tôn thất Dương Tiềm, như gia đình Nguyễn Đoá – Đoan Trinh. Những tên lính cầm súng dài đã khuất dạng hay nhờ chiến công xương máu lên cầm quyền, bọn súng ngắn băng đỏ, mang chút chữ nghĩa văn chương, trí thức, ngày nay đã thất thời, còn ngồi ôm lấy huyền thoại “giải phóng,” “tiến bộ,” “sinh viên tranh đấu,” nhởn nhơ nhe răng cười cợt trên những oan khuất, xót xa của Huế. Dù đã 44 năm qùa, chiến tích máu đã khô sẫm thời gian, được tô vẻ lại dưới danh xưng “hào khí Mậu Thân” và những “băng đỏ” còn mang mặc cảm công thần, bám víu vào và nghĩ đến những huyền thoại vàng son, nhưng thực tế chỉ là những quan viên lơ láo, đã bị xếp xó vì bọn có quyền lực trong tay chẳng coi ra gì. Những đoạn phim ngắn, những bài viết, những câu thơ kể công trạng, nêu thành tích vào Huế năm xưa như xé nát thêm nỗi đau của những gia đình đã là nạn nhân của Mậu Thân, những người mà chúng vẫn nhận là bà con, bạn bè, đồng hương, dòng họ …Nỗi đau của Huế còn vì những người không dám nói sự thật. Tư lệnh Mặt Trận Huế, Trần Văn Quang có thể thi hành và nói theo ý đảng, nhưng những người có chữ nghĩa như Hoàng Phủ Ngọc Tường, và Bùi Tín vì sao lại có thể “hàm huyết”, sợ sự thật đến độ cho rằng hằng nghìn người bị thảm sát chôn trong những hầm tập thể là “có nợ máu,” nói như Hòang Phủ Ngọc Tường, do quần chúng nổi dậy vì căm phẫn giết chết, hay như Bùi Tín, là do bom đạn, phi pháo vùi dập trong đó có cả thường dân, tù binh lẫn cán binh Việt Cộng. Đây là những người dối trá, luôn luôn sợ hãi sự thật, nhưng sự thật sẽ luôn luôn ám ảnh họ suốt đời.
Chỉ cần công nhận sự thật được một lần trước công luận để lương tâm được thanh thản. Đây là lúc không cần nói dối vì một bát cơm hay vì dao găm kề bên hông. “Con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai, người sắp chết nói lời nói phải!” Hy vọng đến tuổi già, những người này biết nói một lời hối lỗi.
Chúng dối trá vì trong hơn mười hầm chôn được khai quật sau Tết Mậu Thân dưới sự quan sát của báo chí truyền hình trong và ngoài nước không hề có được một chiếc dép râu, nửa cái nón cối hay một vuông khăn dù! Và phải chăng những người bị Việt Cộng kết án phải chết vì mang nợ máu là những giáo sư ngoại quốc đến khai hóa cho Huế, những linh mục, những y tá, những giáo sư trung học, những nam nữ sinh viên, những người lính đi phép không có một tấc sắt trong tay. Cả đến một ông chủ quán bún bò hay một thiếu nữ
chạy theo cha già bị bắt, một đứa trẻ phụ việc cho linh mục cũng được xem là “kẻ thù của cách mạng!” cần phải giết. Coi nhân dân là kẻ thù rồi, mi sống với ai?
Nỗi đau của Huế còn rơi rớt ngày hôm nay, tại hải ngoại, do những hành động vô ý thức của một vài cá nhân người Huế, đã vì sợ hãi hay tâng công, háo danh hay muốn nhờ vả chút quyền lợi trong nước, đã tiếp đón đãi đằng những tên mang món nợ máu với Huế ra hải ngoại. Những tên mang danh trí thức, nhà văn này có ảo tưởng như thế là tiến bộ, hòa giải nhưng sự thật là đã xát muối vào vết thương của bà con, đồng bào Huế đã gánh chịu nỗi tang tóc Mậu Thân vì chúng là khuôn mặt đại diện cho tội ác.
Nỗi đau của Huế còn ở lỗi chúng ta, những con dân của xứ Huế ở hải ngoại, những tấm lòng đôn hậu thật thà, nhưng nông cạn, chóng quên như trẻ thơ. Chúng ta tụ tập với nhau vui chơi ngày Tết gọi là nhớ Huế, nhưng quên mất Mậu Thân. Đối với tôi, tiếng “Tết” hay tiếng “Huế” luôn luôn gắn liền với hai tiếng “Mậu Thân” dù thời gian đã lâu, 44 năm, hơn cả một nửa đời người. Dù Huế có dồi phấn tô son, vẽ vời đến đâu, dù Huế có giăng đèn kết hoa, hội hè đình đám gì nữa, thì linh hồn oan khuất của 6,000 người dân Huế bị thảm sát vẫn như còn lẫn khuất đâu đây, chưa hề siêu thoát.
Đối với thành phố Huế, đầu tháng giêng là những ngày giỗ lớn, một đại tang chưa có ngày xả tang. Bây giờ tôi là đứa con lưu lạc xa xứ, mỗi năm ngày Tết về chạnh lòng thương nhớ quê hương, mỗi lần nghĩ đến Mậu Thân, lòng ai không khỏi xót xa, đau đớn. Tôi chỉ là một người dân Huế, tấm lòng thành, vài dòng chữ viết, – nói như Nhã Ca- chút nhang đèn góp giỗ.
(Nhâm Thìn 2012)
vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 16 Feb 2026

Phần 3 – Phân đoạn 6
Kết Từ – Gặp lại Phan Nhật Nam trên Quốc lộ 1

Xin mượn lại những trả lời với Trần Vũ, để chấm dứt phần tường trình của hết một đời người.
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gãy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ấn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường Tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa Hè Đỏ Lửa, mà Tù Binh và Hòa Bình, Dọc Đường Số 1, Dấu Binh Lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phầm được biên tập. Tôi gặp Phan Nhật Nam lần đầu tiên khi nhà văn từ chiến trường trở về Sài Gòn năm 1973. Khi ấy tôi hãy còn là một độc giả thiếu nhi, khám phá anh đội nón đỏ, quân phục huyết dụ. Lần thứ nhì cách đây bốn năm tại Washington DC, Phan Nhật Nam mang giọng nói sôi nổi của một xứ Quảng hãy còn lửa cháy. Lần gặp thứ ba, trên trang giấy này, tôi quyết định hỏi tất cả những gì đã chất chứa trong đầu mình, từ buổi sáng Tổng Thống Thiệu tuyên bố hòa bình trên đài phát thanh, ký kết Hiệp định ngừng bắn, cho đến bây giờ gần 34 năm sau bại trận, những câu hỏi vẫn bám lấy, không rời, từ buối sáng ngày 30 tháng 4, 1975 chứng kiến những người lính tháo vội vã nón sắt, áo giáp, vất tung thẻ bài, chạy vào hẻm chật.
Buổi sáng của tuyệt vọng.
Buổi sáng 30 Tháng 4 tương khắc với Mùa Hè Đỏ Lửa, tương khắc với tính chất bi hùng trong ký Phan Nhật Nam. Lần gặp này, tôi muốn anh trả lời.
Trần Vũ: Tôi không còn nhớ rõ ngày tháng, thời gian, nhưng vẫn nhớ buổi tối theo cha đến khách sạn Continental dự buổi ra mắt sách của Phan Nhật Nam. Dường như là một trong những buổi ra mắt sách đầu tiên ở miền Nam khi ấy. Buổi tối đó tôi đã trông thấy anh lần đầu tiên. Kể từ hôm đó, những ngày sau, tôi sống với anh cho đến bây giờ. Đúng hơn, tôi sống với những Người Lính Cộng hòa trong tác phẩm của anh đến tận bây giờ. Hôm đó, Phan Nhật Nam để lại ấn tượng lớn lao trong lòng thầy tôi, cha tôi đã tin vào anh, vào quân lực miền Nam. Ông chưa biết ông sẽ chết vì niềm tin này. Cha tôi mua bút ký của anh đem về, và tôi khám phá chiến tranh, thứ chiến tranh thực sự ở ngoài chiến trường trên những trang sách của anh. Anh còn nhớ gì ngày hôm ấy? Có phải anh cũng đã tin như vậy, chúng ta không thể bại trận? Tại sao anh ra mắt sách, vì muốn đánh thức Sài Gòn ra khỏi giấc mơ hoa lệ phù phiếm, cảnh cáo chiến tranh đã gần kề ngay cửa ngõ thành phố, hay vì vinh quang của văn chương? Hay anh đã muốn ru ngủ chúng tôi, những người dân ở thị thành, hãy tiếp tục tin vào sức mạnh của quân lực đang bảo vệ an nguy của thủ đô?
Phan Nhật Nam: Chúng ta bắt đầu câu chuyện với tư thế bình đằng, “Người bạn – Bằng hữu – Ngang bằng nhau qua tất cả mọi khía cạnh”. Tôi không hề là “đàn anh” đối với bất cứ ai, cho dẫu lớn hơn hai mươi, ba mươi tuối so với người đối thoại, giao tiếp. Năm 1965, giữ nhiệm vụ Đại đội Trưởng một Đại đội lính nhảy dù, đứng trước hàng quân, tôi đã có lời thành thật: “Tôi nói gì các ông gắng nghe lời tôi, đừng đi phép về trễ, hành quân mang đủ cấp số đạn, lựu đạn … Còn các ông muốn chửi tôi trong bụng thì cứ việc … “.
Vào buổi hành quân, lính trong Tổ chỉ huy ăn gì, tôi ăn như họ, đêm đến quấn chiếc poncho ngủ trên ổ rơm bên cạnh mấy người lính mang máy truyền tin đủ là một điều an lành, hạnh phúc. Mấy ông bạn Đại đội Trưởng cùng đơn vị đánh giá tôi: “Mày không biết làm lính sợ, thiếu uy tín, tác phong chỉ huy … “.
Và quả thật tôi không muốn ai “sợ mình”; “có uy tín chỉ huy hay không” cũng không là điều đáng quan tâm. Đối với “nghề quân đội” còn như thế, vậy việc văn chương tôi nào dám làm đàn anh, thần tượng “gây lòng tin” cho ai được. Ra mắt sách để dự mưu, tính chuyện này nọ làm gì?, với ai? Chỉ vì người bạn vong niên, nhà văn Chu Tử – Chu Văn Bình muốn làm chung một buổi giới thiệu Cơ sở Văn hóa Đất Sống do ông và những người bạn cùng chủ trương, lo việc tổ chức. Và cũng là một điềm báo trước, đấy là buổi ra mắt sách đầu tiên và cuối cùng của miền Nam với “Tù Binh và Hòa Bình – Tình trạng (thật) của sau 30/4/1975″, trong đó có những câu khẳng định:
“Khẩu hiệu ‘Sinh Bắc – Tử Nam’ không phải là một khẩu hiệu ‘kích động chiến thuật’ nhưng là một ‘chỉ đạo chiến lược’ để hoàn tất cuộc xích hóa miền Nam … Trận chiến cuối cùng là giữa chúng ta với những Sư đoàn Bộ binh cộng sản miền Bắc qua tấm đệm ‘Mặt trận – Mặt trận Giải phóng miền Nam’. Hình như cả thế giới, một số đông của thế giới không nhìn được âm mưu ghê tởm độc hại này – Nhưng cũng là một âm mưu rất rõ mặt”. (Tù Binh và Hòa Bình, nxb Hiện Đại, Sài Gòn 1974; bản photocopy nxb Xuân Thu, Hoa Kỳ 1976, trg 244).
Còn nhiều nội dung có tính “tiên tri” rất chính xác (đối với hiện tại) khác nữa … Nhưng tôi không hề là “nhà văn”, giới văn nghệ, viết văn, làm báo của Sài Gòn những năm ấy không xếp tôi vào hàng ngũ của họ. Họ có những sinh hoạt riêng, lính tráng chúng tôi không liên hệ.
Ở hải ngoại này, hôm nay cũng vậy, dẫu chúng tôi từ lâu không mặc áo lính. Trước sau, tôi chỉ là một “Người Lính – Viết Văn” – Điều này, đã giải bày thật tình trong những cuốn sách đầu tiên Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1 … Nên chắng phải hôm nay mà bốn mươi năm trước (1968) khi bắt đầu cầm bút, tôi đã viết thành lời: “Chẳng có ai là thần tượng của tôi … “.Nhưng bản thân không hề là kẻ cực đoan, vô chính phủ, nối loạn không duyên cớ. Tôi là quân nhân chuyên nghiệp – Biết tuân lệnh và ra lệnh cho người khác – Chỉ số Chuyên nghiệp Quân sự 240.7, tức chỉ huy một đơn vị Bộ binh tác chiến, từ cấp Tiểu đội, Trung đội lên đến Sư đoàn, Quân đoàn cũng chỉ với chỉ số ấy. Ông cụ của bạn và bạn có “lòng tin” đối với chữ nghĩa của tôi như thế là tốt lành rồi. Tôi không đặt cho mình nhiệm vụ gì khác hơn là: Nói về Sự Thật mà không hiểu tại sao nhiều người (rất nhiều người) năng lực tri thức hơn tôi, chức vụ lớn hơn, bằng cấp cao hơn, kể cả lớn tuổi đời hơn nhưng họ không thấy ra … Ví dụ như vấn đề cộng sản – Cộng sản Việt Nam
– Đọc lại những báo Đối Diện, Trình Bày năm 1973, 1974 kia thì sẽ thấy Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Nguyễn Văn Trung, các linh mục Nguyễn Viết Khai, Chân Tín, Ngọc Lan (trước 1975) viết, nói những gì …
Tại sao có thể nhận định sai lầm và nông cạn như thế đối với cộng sản?
Lẽ tất nhiên, tôi cũng chưa một lần viết xuống nửa chữ: Tổng Thống anh minh Nguyễn … Tóm lại, tôi không tin vào “sức mạnh” của quân đội và chuyển giao lòng tin này cho ai, nhưng tôi tin vào “Lý Chính Nghĩa” cuộc chiến đấu chung của toàn miền Nam – Dẫu hôm nay là bốn mươi năm hơn sau ngày 30/4/1975. Và khi nguyên lý cao thượng này bị chà đạp, vất bỏ, người miền Nam nói riêng, cả nước nói chung tiếp hiện thực qua lần vượt biên/ vượt biển/ vượt chết không hề có trong lịch sử cổ kim nhân loại. Có thể do từ tính xả kỷ tự nhiên của người quen chịu đựng Khổ Nạn, không một ai trong tập thể người lính nói về, kể về tình thế, cảnh huống của riêng mình (trong chung cuộc chiến đấu của Người Việt). Tôi tự nguyện thực hiện phần hành “không được bù trừ này … ” theo cách vì “bất bình tắc minh” chứ không là nhà văn viết nên tác phẩm này nọ. Đấy là giai đoạn của Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Dựa Lưng Nỗi Chết, Mùa Hè Đỏ Lửa … khi mới qua tuổi hai mươi với tư thế người lính tác chiến thực thụ sau ngày ra trường Đà Lạt, tháng 11/1963.
Trần Vũ: Ở thời điểm ra mắt sách, tình hình chiến sự miền Nam có thật sáng sủa như đôi mắt tin tưởng của Phan Nhật Nam khi ấy? Tin tưởng vào hòa bình sắp đến, tin tưởng vào những cam kết của Nixon? Hay anh tự đánh lừa mình, đánh lừa chúng tôi, hay Phan Nhật Nam cũng bị Cục Tâm lý chiến lường gạt? Các tập bút ký ghi lại nhiều chiến thẳng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mà ngay cả khi thất bại, như trong trận Đồng Xoài hay khi bị tràn ngập trên đồi Charlie, đều được mô tả dưới góc độ bi hùng. Nhưng anh không nhắc đến trận Ấp Bắc và không nói đến Hạ Lào.
Phan Nhật Nam: Bạn nhận định tôi hơi quá đáng và không chính xác. Tôi tin tưởng vào “Hòa bình sắp tới … Lời cam kết của Nixon … “ như thế nào, ở đâu? Lẽ tất nhiên, thuở ấy (1973, 1974 … ) tôi không đủ chín chắn, kinh nghiệm, khôn ngoan (hơn chính mình) của hôm nay (khi đã qua tuổi 60) được đọc hồ sơ giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ, qua đó Kissinger đã nhân danh Tổng Thống Nixon, cam kết với Chu Ân Lai từ tháng 7/1971: “Mỹ không bao giờ trở lại Việt Nam”. Năm tháng sau, Tổng Thống Mỹ mới gởi những thư cam kết đến ông Thiệu(!). Nhưng ít ra lúc ấy, tôi đã viết nên lời, đấy là: “Một Hòa Bình ngụy danh … Toàn thế giới đồng hân hoan chúc tụng trên bàn tiệc máu Việt Nam … Không một ai trong chúng ta xác định được Hoà Bình (luôn viết hoa) đã có. Vâng, Hòa Bình (vẫn viết hoa) chỉ tới với một văn kiện, trên bàn giấy an lành ở thủ đô Ba-lê, trong đáy cốc … “. Viết như thế, gặp thẳng mặt người Việt cộng tại bàn hội nghị nơi Tân Sơn Nhất, nghe tận tai những lời của Võ Đông Giang, Trần Văn Trà: “Nếu có một vị đại tá Thọ nào đấy của quý vị bị bắt ở mặt trận Nam Lào thì ‘có lẽ’ do Quân Giải phóng Lào bắt giữ … Chúng tôi sẽ liên lạc với Quân Giải phóng Lào để thông báo đến quý vị trong tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc … “ trong khi bản thân đã chụp được hình của Đại tá Thọ (Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 3 Dù, bị bắt ở mặt trận Hạ Lào, tháng 2/1971) trên đường giải ra Bắc trong tập báo Ảnh Việt Nam ở địa điểm trao trả Lộc Ninh! Biết như thế, viết như thế làm sao mà tin được vào “hòa bình”. Không đủ “gan lì” để viết hoa được nữa, hở người bạn trẻ?
Còn Cục Tâm lý chiến là nơi đâu, tác động gì trong những nội dung tôi đã viết? Nếu có bước vào những cơ sở chiến tranh chính trị của quân đội như tòa soạn Báo Diều Hâu, trong Cục Tâm lý chiến đường Hồng Thập Tự vì đó là nơi những huynh trưởng thân hữu, chiến hữu tập họp. Ít nhất, những người chỉ huy TC/CTCT/QL/VNCH (bao gồm Cục An ninh Quân đội) cũng có được sự dễ dàng này, chứ ở Hà Nội trước 1975, hay hiện nay nơi Sài Gòn (đổi tên thành TP.HCM) thì đừng có hòng, tan thân ngay! Và không ai đem sinh mạng bản thân và gia đình để đánh đổi bởi một “sự (tự) lừa dối trong chữ nghĩa” … Hay bạn đã có ý nghĩ: Tôi “đã chọn lựa” ở lại Sài Gòn sau 30/4/75 để (vô tình hay hữu ý) hiện thực “sự tự đánh lừa ‘một cách thành thật’ qua chữ nghĩa của mình” nên lâm vào thế kẹt do tự thân giăng ra?
Không đâu. Tôi không đủ sức để liều lĩnh như thế với mạng sống của vợ con. Nhưng quả thật, tối 28 rạng 29/4/75 tôi đã có mặt và phụ trách việc đưa người lên phi cơ trong cơ quan DAO, nếu quyết tâm ra đi do ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân thì tôi đã lên trực thăng CH46 của Thủy quân Lục chiến Mỹ ra Hạm đội 7.
Sáng 29, tôi đứng trước Tử Sĩ Đường Không Quân, phi trường Tân Sơn Nhất, bên hông trại Trần Quý Mại (Tiểu đoàn 8 Dù) nhìn lên trời, chụp hình chiếc phi cơ AC-119 Hỏa Long của Trung úy Trang Văn Thành (Thiếu sinh quân “Thành mọi”) cháy trên trời xanh với chiếc dù của Thành mắc nơi cánh … Tôi vẫn có thể đi theo Bộ Tư lệnh Sư đoàn Dù ra bến tàu. Nhưng sự việc ở lại có một nguyên cớ quyết định sâu xa, kỳ lạ khác (hoàn toàn không có tính Chính trị, giải thích bởi luận lý thông thường).
Bạn đọc Crime et Châtiment, đoạn Raskolnikov giết xong mụ cầm đồ Alyona, chạy ra cầu sông Neva, nhớ lại “phút bất ngờ” ngày hôm trước khi anh ta qua chợ Hàng Rơm nghe ra chi tiết, “cô em Lizaveta ‘sẽ vắng mặt’ ở phút giây ‘định mạng chết người ấy”” thì hiểu ra tình thế, tâm cảnh của tôi với những phản ứng “không thể nào lường, không thể giải thích” tại mỗi giây, phút của trước, sau 30/4/75. Nhưng tôi không hề “ân hận than trách” về quyết định chết người ấy. Cũng bởi bây giờ thì đã “thấm hiểu”. Tất cả đã được báo trước từ 1946 tự giấc mơ đầu đời (vẫn luôn nhớ/sống cùng hiện tại); trong Lời dẫn nhập của Dấu Binh Lửa, viết năm 1968:
“…Những giấc mơ hôm nay thường dẫn đến chủ đề NƯỚC … Tôi bị ‘mắc kẹt trong nước’ của cống rãnh …”
Hoặc hiện thực ngay trong tên họ: Phan Nhật Nam = Phạm Nhân Nan = Phạm Nan Nhất. Trung úy thực thụ từ tháng 6/1965 sau trận Đồng Xoài, đến 1975 mới được cấp bậc Đại úy nhiệm chức thì làm gì phải đi tù đến 14 năm, chuyên ở phòng cầm cố tử hình! Giờ tôi lại bị những kẻ bá vơ vô lại nào đó không một ngày chiến trận, không hề chịu một giờ, khắc tù tội, không một chút kinh nghiệm với cộng sản … nơi vùng Nam Cali, nước Mỹ qua những đài phát thanh, báo quảng cáo địa phương, trên hệ thống net cáo buộc gán cho tiếng “cộng sản nằm vùng”!
Như thế là thế nào?! Nhưng cũng không hề gì, khi đã qua khỏi tuổi 60 thì mọi chuyện coi như “thuận nhĩ”.
Tôi không theo cách ai khác hơn từ ông niên trưởng – Nhà văn rất mực thuần lương – Doãn Quốc Sỹ, điển hình “Kẻ Sĩ” cuối cùng của thời mạt Pháp này. Nhưng nếu cho “làm lại”, thì tôi cũng sẽ sống như thế/viết như thế. Nguyên tắc tình báo có “tính xác suất” là: Giữa muôn ngàn nguồn tin, nếu có HAI nguồn tin giống nhau, thì đấy PHẢI là nguồn tin THẬT – Cũng thế, Chân – Thiện – Mỹ chỉ có MỘT. Tôi cũng sẽ viết lại trận Đồng Xoài (11/6/1965) của Tiểu đoàn 7 Dù với hậu quả 14 sĩ quan từ Tiểu đoàn Trưởng đến Trung đội Trưởng tử trận, phần còn lại số bị thương, bị bắt làm tù binh. Năm Đại đội Trưởng còn lại mỗi Đại úy Lê Văn Phát, Đại đội trưởng 74. Tôi sống được là do “hên”, bị thương trước khi Tiểu đoàn vào trận. Trận Tây Nguyên năm 1972 cũng sẽ viết lại chính xác hơn để kể về sức chiến đấu thần kỳ của lính nhảy dù miền Nam. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù do Trần Công Hạnh (Khóa 20 Đà Lạt) chỉ huy, một thân giữ vững cao điểm Delta đánh bật Trung đoàn 52, Sư đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng, thành lập từ 1951, đơn vị nối danh của bộ đội miền Bắc), dẫu Trung đoàn này đã đánh vào đến bộ chỉ huy Tiếu đoàn (30/3/1972), nhưng Hạnh quyết định gọi phi pháo đánh trùm lên căn cứ, cùng các Đại đội Trưởng tài trí dũng cảm tổ chức lại đội hình phản công.
Hạnh cũng đã thực hiện tương tự một lần như thế ở mặt trận Hạ Lào, tháng 2/1971, khi đưa đơn vị rút ra khỏi Đồi 30 dẫu khi ấy chỉ mang cấp Đại úy, chức vụ sĩ quan hành quân. Rút kinh nghiệm thất bại về trận đánh căn cứ Delta với Tiểu đoàn 2, Thượng Tướng Đặng Vũ Hiệp, Tư lệnh mặt trận B3 điều động thêm Trung đoàn 64, tăng cường hai Tiểu đoàn của Trung đoàn 48, hiệp đồng đánh chiếm cao điểm Charlie do Tiểu đoàn 11 Dù trấn giữ. Hệ thống trận địa quanh căn cứ Charlie mỗi cao độ chỉ do cấp Đại đội với quân số cơ hữu dưới 100 người phải chống cự những đợt tấn công cấp Trung đoàn cộng gồm sáu Tiểu đoàn (mỗi Tiểu đoàn có 4 Đại đội tác chiến) dưới quyền chỉ huy của Khuất Duy Tiến, Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 64, đơn vị đánh trận Hạ Lào, từng đối mặt với lực lượng nhảy dù. Tương quan quân số trận đánh Charlie như thế là “1 chống 6”.
Khi tấn công mỗi cứ điểm, tỷ lệ này tăng lên, 1 (Đại đội ND) chống 8 (hai Tiểu đoàn CS); hoặc 1 chống 12 (ba Tiểu đoàn CS). Tất cả chi tiết chiến thuật này do Thượng Tướng Đặng Vũ Hiệp kể lại trong Ký Ức Tây Nguyên, nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội 2002, trg 236-244. Trong Từ Điển Bách Khoa Quân Sự, nxb QĐND, Hà Nội 2004, phần chiến sử năm 1972 của Sư đoàn 320 không được kể ra. Sáng 30 tháng 4, 1975 những người chiến đấu cuối cùng trên cầu Sài Gòn không ai khác là những người lính của đơn vị đầu đời, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919, do người bạn cùng khóa, Trung Tá Nguyễn Lô, danh hiệu truyền tin “Sông Lô” chỉ huy. Cùng lúc, khi Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, tôi đứng ở đường Lê Văn Duyệt trước trại Nguyễn Trung Hiếu, Tiểu đoàn 1 Dù với Trần Công Hạnh, Tiểu đoàn Trưởng đơn vị vừa kể bên trên. Với những người, đơn vị kiên cường như thế, những người bạn dũnglược như thế, những người lính xả kỷ như thế … Tôi có thể viết như thế nào khác. Mùa hè 1965, Mặt trận Cao Nguyên bùng vỡ, Thiếu Tá Schwarzkopf (Đại Tướng Tư lệnh chiến dịch Bão Sa Mạc tại Iraq 1991) Cố vấn cạnh Trung Tá Ngô Quang Trưởng, Tham mưu Trưởng Lữ đoàn Dù (đến cuối năm mới nâng cấp thành Sư đoàn). Cấp bậc Thiếu Tá, nhiệm vụ cố vấn không phải phụ trách việc cứu trợ thương binh, nhưng ông đã cùng y tá Tiểu đoàn 3 Dù dìu một thương binh ra khỏi trận địa pháo kích nơi trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ – Hình do Peter Arnett (Associated Press) chụp.
Arnett không phải là người ưu ái hỗ trợ cuộc chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Thiếu Tá cố vấn Schwarzkopf hằn không thể mang thân đi cứu một người lính cấp hàng binh của một đơn vị kém cỏi, tầm thường. Chỉ vì thấy sức chiến đấu của lính nhảy dù người Việt ra sao mới hiểu được mối động lòng cảm phục từ người chiến hữu Đồng Minh trung trực kia vậy. Tôi tiếc đã không viết đầy đủ hơn, chi tiết hơn về những trận đánh nơi miền Nam trước 1975 của những chiến hữu, đơn vị thiết thân. Trận Ấp Bắc cuối 1962, đầu 1963 tôi chưa ra trường; trận Hạ Lào (2/1971), tôi chuyển đi làm sĩ quan phòng hành quân ở tiểu khu Bà Rịa Phước Tuy). Chiến dịch này quá lớn nếu có trình bày cũng không thể viết dưới dạng bút ký mà phải viết theo cách nghiên cứu, liệt kê tài liệu quân sự. Bernard Fall không thể viết Un coin d’enfer theo kỹ thuật lịch sử tiểu thuyết như La Quán Trung kể trận Xích Bích với Chu Du, Khổng Minh. Nhưng sau này, cũng đã có Phan Hội Yên (Tiểu đoàn 3 Dù) kế trận đánh Đồi 30, Phạm Văn Tiền (Tiểu đoàn 2 Thủy quân Lục chiến) nói về lần triệt thoái tàn khốc khỏi căn cứ Delta của Lữ đoàn 258 Thủy quân Lục chiến trong trận chiến Hạ Lào. Hai người bạn này không phải là cây viết chuyên nghiệp, nhưng diễn tiến chiến trường họ viết ra chính xác và hay hơn bất cứ chuyện kể (về chiến trận) nào của người miền Bắc như Bảo Ninh với Nỗi Buồn Chiến Tranh; hoặc Tháng Ba 1975 Họ Đã Sống Như Thế của Nguyễn Tri Huân. Văn phong và cách đặt tiêu đề của mấy cuốn sách kia cũng cho thấy hơi hám của “Thép đã tôi thế đấy” của Liên Xô. Tiểu thuyết Nga vĩ đại do đã dựng nên những nhân vật tiểu thuyết đặc trưng bởi Dostoevsky, Tolstoy chứ đâu từ anh trẻ tuổi Pavel làm cách mạng xã hội chủ nghĩa với chân trần đứng xúc tuyết. Tìm đâu ra trong chiến tranh miền Nam một du kích ở Quảng Ngãi chỉ với vũ khí tự chế bắn hạ máy bay trực thăng, đánh tan một đại đội Bộ binh Mỹ như trong nhật ký Đặng Thùy Trâm? Và tìm đâu trong thực tế mà tiểu thuyết được quảng bá rùm beng của Bảo Ninh đã mô tả về “thằng giặc Mỹ xâm lược bạo tàn” sau Hiệp định Paris 1973; “thắng Ngụy dù” với chiếc nón đỏ mắc ở cầu vai khi đi hành quân! Người thường trực sống, chết nơi chiến trường (lại là chiến trường Việt Nam với máu xương của chính mình, đồng đội, đồng bào, kể cả đối phương cùng màu da, sắc tộc) đọc những nội dung tuyên truyền tầm phào này không khỏi đỏ mặt vì ngượng, thấy mình bị coi thường, đánh lừa bởi những kẻ ngây ngô, thô thiển. Lính biệt kích miền Nam hoạt động nhảy toán phải áp dụng triệt để một tiêu lệnh:
Tuyệt đối tránh đụng độ – Xóa sạch dấu tích, sinh hoạt, hiện diện … Thế thì làm sao lại đi hiếp dâm, cắt đầu vú, vạch nát cửa mình nữ bộ đội trên đường dây giao liên như trong Tiểu thuyết Vô Đề của Dương Thu Hương đã mô tả?
Thế nên, vì không muốn phải mang lỗi viết dối nên tôi không viết về Ấp Bắc, Hạ Lào như đã sống. Tôi chỉ có thể viết về những chiến trận này như đã đọc từ tài liệu mà thôi nên đã viết tiểu luận Quân sự Hạ Lào … Quá xa (2002). Trong tinh thần nầy, tôi cũng đã hoàn tất được một phần của tập Chiến Sử (1954-1975) dự trù, nhưng phải bỏ dở … Có một chi tiết về chiến tranh Việt Nam mà không một ai chú ý viết ra, nói đến: Phía bộ đội cộng sản không hề bắt được một tù binh Mỹ thuộc quân chủng bộ binh, binh chủng thiết giáp, pháo binh (những đơn vị yểm trợ quân bộ chiến) chứ đừng nói Thủy quân Lục chiến, Nhảy dù, Lực lượng Đặc biệt Mỹ – 519 tù binh cộng với 10 người bị bắt ở mặt trận Lào trả tại Hà Nội trong tháng 2, 3, 1973 thuần là phi hành đoàn Mỹ và vài nhân viên phi hành các nước ngoài (Thái, Phi Luật Tân … ) tháp tùng các phi vụ B52.
Phía cộng sản nhận về: 26,508 người (danh sách tiên khởi; bổ túc lên 26,750 cuối tháng 3/1973); Việt Nam Cộng hòa nhận: 5,081. Những số liệu này do Tiểu ban Tù binh/Ban Liên hợp Quân sự/Việt Nam Cộng hòa (bản thân cá nhân là thành viên Trung ương mang Danh số #41) đúc kết, thiết lập kế hoạch trao trả và thực hiện trao trả khắp các địa điểm từ Năm Căn đến Hà Nội. (Tù Binh và Hòa Bình, trg 166-167).
Số hiệu cụ thể về tù binh mỗi bên đã chỉ cho thấy: “Chiến tranh chống Mỹ là gì? Ở đâu? Ai Thắng Ai?”
Tôi khẳng định thêm một lần với số tuổi của người đang đi hết đời: Đảng, nhà nước, quân đội cộng sản Việt Nam không hề chống Mỹ và thắng Mỹ. Không bao giờ. Cũng không thắng QL/VNCH về mặt quân sự. Nhưng ngày 30 tháng 4, 1975 là một thực tế và là một chuyện khác.
Trần Vũ: Giống hầu hết các thiếu niên thành thị, tôi không biết miền Nam đang chiến tranh. Thủ đô Sài Gòn với đường Nguyễn Du êm dịu, đường Duy Tân thơ mộng, đại lộ Nguyễn Huệ thênh thang, đại lộ Lê Lợi sầm uất, đánh lừa tôi là đất nước rất yên bình. Dạo đó tôi đã bắt đầu say mê chiến tranh, những trận đánh của Rommel, Hoth, Kesselring, Guderian, von Kleist, von Manstein của tủ sách Adolf Hitler của nhà xuất bản Sông Kiên, các hồi ký Thái Bình Dương của Saburo Sakai, Tameichi Hara … Nhưng phải đến Phan Nhật Nam, sau khi đọc Dọc Đường Số 1, Dấu Binh Lửa, Mùa Hè Đỏ Lửa .. tôi mới bất chợt khám phá chiến tranh ở Long Thành, ở Trảng Bom, ở Dầu Tiếng, ở đồn điền Xa Cam cách nơi mình sinh sống không đầy trăm cây số. Hơn một khám phá chiến tranh, tôi khám phá chân dung của Người Lính Cộng Hòa mà tôi thực sự tin vào những điều anh viết. Chân dung của Người Lính Miền Nam, cao cả, bình lặng, bi tráng trên một đất nước điêu linh, trầm thống. Và người lính đó với 50 ký lô xương thịt, với tất cả bất công của cuộc chiến, cong oằn xuống dưới sức nặng của 35 ký đạn dược, chăn mùng mền, thực phẩm đã tồn tại như một phép lạ nhiệm màu. Tôi chỉ lập lại những điều anh viết. Hôm nay, đã bại trận, anh còn tin vào những điều mình đã viết? Có thật nhiệm màu, khi nhiệm màu không xảy ra, đã chấm dứt. Anh có cường điệu, đã tô vẽ thái quá hình ảnh của Người Lính Cộng Hòa hay không? Và phẩm chất tác chiến của Người Lính Cộng Hòa có thật sự như anh viết trong bút ký? Tôi muốn một câu trả lời thật.
Phan Nhật Nam: Không điều gì phải cường điệu, hoặc nói quá nếu sự thật không phải là như thế, chỉ sợ không đủ tư cách, khả năng, bản lĩnh để nói về Sự Thật (dẫu đau lòng cay nghiệt) ấy mà thôi. Tôi không hề viết về
“… Những anh lính hào hoa, viết thơ cho người yêu trên ba-lô, dưới ánh trăng, gắn hoa lên đầu nòng súng…” như cách mô tả trong văn chương, âm nhạc đại chúng miền Nam; hoặc “.. Đường ra trận mùa này đẹp lắm … Bác cùng chúng cháu hành quân … ” của văn công ngoài Bắc. Tôi viết về Hạ sĩ Toản mang máy truyền tin Đại đội tôi phải đào ngũ vì gia đình ngoài Trung lâm cùng cảnh tan tác; Binh nhất Huệ tự tử khi đứng gác do buồn phiền chuyện người vợ … Nhưng chính những người lính gầy gò, khắc khổ, phải tình cảnh tội nghiệp kia của sáu Tiểu đoàn nhảy dù đã đánh trận Đồi 1062, tại Thường Đức, Quảng Nam với cách thức cá nhân tác chiến, cắn từng bụi cỏ, bám đá núi đề xông lên cận chiến chiếm mục tiêu đối phương cố thủ từ tháng 8/1974.
Những mục tiêu được phòng thủ cực độ vững chắc với thân cây rừng đặt sâu trong lòng núi mà bom và pháo binh không thể phá hủy được. Đánh từ tháng 8 đến tháng 11, mất đi, chiếm lại từng thước đất, đã có lúc bị Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 CSBV dùng hỏa công thiêu đốt như trận đánh ngày 29/10/74.
Chiếm lĩnh, kiểm soát được toàn bộ các cao độ 1235, 1062 quanh quận Thường Đức để rồi tháng 3/1975 được lệnh rời bỏ những vị trí đã đánh đổi bởi mạng sống của bao đồng đội, máu của bản thân …
Lính rút ra quận Đại Lộc, cởi đôi giày, chiếc vớ kéo theo lớp da chân từ bao ngày bó chặt! Hãy nhớ, lính và sĩ quan những đơn vị tổng trừ bị (Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt Động); kể cả những Sư đoàn diện địa như Sư đoàn 1 Bộ binh (Trị – Thiên); các Đại đội thám sát tỉnh … phần đông nếu không nói hầu hết là lính tình nguyện. Ở trường Thủ Đức, sĩ quan mãn khóa phải giành nhau chỗ về Nhảy Dù, Thủy quân Lục chiến; sĩ quan thủ khoa các khóa 16, 17, 18, 19, 20 … và các khóa sau của trường Đà Lạt đồng chọn đơn vị tác chiến,
tổng trừ bị. Phải thấy cảnh tượng đoàn xe GMC đậu ở ngã Sáu Sài Gòn (Bùng binh tượng Phù Đổng Thiên Vương) trong suốt năm 1972 thay phiên nhau đưa sinh viên các phân khoa đại học Sài Gòn tình nguyện nhập ngũ về Quân Vụ Thị Trấn (Trại Lê Văn Duyệt). Gia đình phần đông không được họ thông báo về quyết định tình nguyện nhận nhiệm vụ nguy nan của người lính Nguy nan chết người chứ không như sách báo, thi ca, âm nhạc tô vẽ.
Sĩ quan Đại đội 94/Tiểu đoàn 9 Dù chỉ trong một đêm Giao thừa Mậu Thân 68 đã đồng loạt tử trận tại tuyến chiến đấu nơi khu nhà thờ Tri Bưu Quảng Trị; đơn vị chỉ còn lại một chuẩn úy mới ra trường Thủ Đức do đi phép về tiền trạm đóng ở Huế ăn Tết và Trung úy Tâm đi phép Sài Gòn cưới vợ. Chỉ có lính Sư đoàn 1 Bộ binh mới có khả năng chiếm lại các căn cứ Bastogne, Checkmate mà Thủy quân Lục chiến Mỹ trước đây phải rời bỏ vì không chịu nổi áp lực địch trong mùa Hè 1972. Trước 1975, những người lính kể trên không một lời tán thán. Không một lần đòi được đền bù, báo ân. Và những giờ phút đầu tiên của ngày 30/4/1975, họ là hững người bị bắn ngay trên giường Bệnh viện Đỗ Vinh, Bệnh viện 3 Dã Chiến Sài Gòn nếu có lời chống cự, không di chuyển được do thương trận từ những ngày chiến trận tàn cuộc …
Họ phải sống vì không còn khả năng tay, chân thực hiện lần tự sát; phải sống để chứng kiến con đi nhặt rác, chết vì đạp đinh nhiễm trùng sài uốn ván; vợ mang thân đi khách ở chợ Bà Chiểu bị công an bắt vào trại phục hồi nhân phẩm, chết do lây bệnh phong tình không chữa trị … Chữ “nhiệm màu” nói sao cho đủ, đúng về trường hợp của mỗi Người Lính này (mà không là trường hợp cá biệt/ nhưng là trường hợp tổng quát, chung nhất). Tôi cảm nhận, thấy ra rất rõ điều này từ ngày mới ra trường, sống cùng những “bác Trung sĩ, Hạ sĩ … “ chung Trung đội, Đại đội; nhìn những đứa con, những người vợ của họ nơi trại gia binh.
Suốt những tháng đầu năm 1968, trong chiến dịch dài hạn bảo vệ vòng đai Sài Gòn, ở Nhị Bình, Gò Vấp, Gia Định, mỗi buổi sáng di chuyển ra khỏi chỗ đóng quân là đụng địch, đạp phải mìn bẫy …Nhưng những người lính ấy vẫn bước tới sau thoáng chớp mắt ưu tư, tiếng thở dài rất ngắn ghìm giữ lại. Miền Nam có được 21 năm tự do – dân chủ trên lưng những người lính này. Sau 30/4/1975, cả dân tộc (không phân biệt Nam – Bắc) đồng lâm cảnh cùng khốn đọa đày vì không còn Người Lính Bảo Quốc – An Dân. Người Việt Nam biến thành loại tiện dân, phiêu bạt khắp cùng thế giới, nơi các trại ty nạn, giữa các đảo hoang vây quanh, dày xéo bởi hải tặc Thái, ngư phủ Mã Lai hung hiểm nếu thoát chết khỏi công an, lính biên phòng cộng sản trong lãnh hải Việt Nam. Thế nên: Chữ “nhiệm màu” sợ nói không đủ đối với trị giá, phẩm chất của Người Lính Miền Nam. Hơn thế nữa, bản thân họ và gia đình đồng lần lâm cảnh huống, chịu đựng chung thân phận bi thảm của mỗi người Việt. Họ gánh phần nặng nhất, đau thương nhất, trước tiên hơn bất cứ ai. Nhiệm Màu – Mystère có âm hưởng tương tự với Misère – Cùng Khốn. Nói có đủ đâu hở Vũ!
Trần Vũ: Nhưng ở đâu ngày 30 tháng 4/1975, các “nhân vật” thật của anh, những nhân vật kiêu hùng đã làm chúng tôi say mê? Ở đâu “Mê Linh” Mễ, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 11 Dù? Ở đâu “Lê Lợi tân thời” Lê Quang Lưỡng, con beo gấm của Nhảy Dù? Ở đâu Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh người đã “bắt tay” An Lộc, Thiếu tá Phạm Kim Bằng đã giữ Đồi Gió, Đồi Quốc Tuấn, “Robert Lửa” Nguyễn Xuân Phúc, Niên trưởng của Khóa 18 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt? Và ở đâu những Trung Tá Bùi Quyền đã “đục” thành Quảng Trị, Thiếu Tá Lô “Lọ lọ rượu” đã phá chốt đèo Chu Pao …Tại sao tất cả biến mất? Tại sao tất cả tan hàng? Ở đâu những những “Đích Thân”, những Tiều đoàn Trưởng xuất sắc của Nhảy Dù; những Tiểu đoàn Trưởng Thủy quân Lục chiến hàng đầu của quân lực, những Đỗ Hữu Tùng, Nguyễn Văn Phán và những chi đoàn chiến xa M-48 “hung hãn nhất miền Trung” từng xuất hiện trong Mùa Hè Đỏ Lửa của anh? Và cá nhân Phan Nhật Nam ở đâu, Anh làm gì trong ngày tan nát ấy?
Phan Nhật Nam: Tất cả vẫn còn hiện diện đủ trong ngày 30 tháng 4, 1975 – Tất nhiên chỉ vắng mặt những người đã chết, tránh được sự nhục nhằn của lần sụp vỡ đầu hàng. Vậy chết chưa hắn đã là điều đau thương, hứng chịu nghiệt ngã. Nhưng những người lính còn sống ấy có thể làm gì khi chính bản thân và đơn vị họ rơi vào chiếc bẫy sập giăng ra từ lần rút bỏ Cao Nguyên miền Trung (15/3); Huế (24/3); Đà Nẵng (29/3); Nha Trang (30/3) … Và cuối cùng, cửa ngõ Đông – Bắc Sài Gòn, Long Khánh (20/4). Chỉ riêng lần rút bỏ Cao Nguyên, chỉ còn 5 ngàn quân trong 20,000 quân nhân thuộc các đơn vị tiếp vận; 900 lính của năm Liên đoàn Biệt động Quân về đến Tuy Hòa sau 10 ngày tái phối trí lực lượng! 75% lực lượng của Quân đoàn II gồm bộ binh, thiết giáp, chiến xa, truyền tin, công binh … bị tiêu diệt trên 200 cây số đường di tản (Cao Văn Viên, The Final Collapse, trg 153-155). Riêng bản thân cá nhân khi (28/3) theo nhân viên cứu trợ đến tại trại tạm cư đèo Rù Rì nhận biết được số liệu có 60,000 dân của 200,000 người từ Cao Nguyên di tản về đồng bằng … 140,000 người kia nay sống chết nơi đâu?

Dân và lính chết không phân biệt, người dân Huế – Thừa Thiên chết trên “pháp trường cát” Thuận An cùng lúc, cùng cảnh, cùng lần với lính Lữ đoàn 258 Thủy quân Lục chiến … Những người lính dựng cờ nơi Cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị trong ngày Hè lẫm liệt 1972 nay trần trụi phơi thân dưới đạn pháo, trên sóng nước bãi biển Thuận An. Cũng tương tự như thế, những chốt nhỏ cấp bán Tiểu đội của các Tiểu đoàn 2, 5, 6 Dù hoàn toàn bất lực (như một điều tất nhiên) trước đợt tấn công của một Quân đoàn gồm ba Sư đoàn Bộ binh nặng của Mặt trận B3/Cộng sản từ Ban Mê Thuột cùng ào xuống đồng bằng theo ngã đèo Khánh Dương.
Bản thân mỗi người lính chiến đấu ở cấp tiểu đội, đại đội kia có thể làm được gì? Thậm chí cho tập trung được một lữ đoàn, như trường hợp Lữ Đoàn 1 Dù dưới quyền chỉ huy của trung tá Nguyễn Văn Đỉnh, với Lữ Đoàn Phó Lê Hồng, cùng với Biệt Động quân dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh giữ được mặt trận Long Khánh vài ba ngày cuối cùng cũng phải rút lui theo lệnh của Tổng Thống Thiệu theo Tỉnh lộ 2 về Phước Tuy …Sự cố ý xé bỏ (các đơn vị tổng trừ bị) này rất dễ nhận ra, nên sau này tại hải ngoại, Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn Dù đã có bài viết “Tại sao Thiệu xé lẻ Sư đoàn Dù … Sư đoàn Nhảy Dù, Ai còn? Ai mất … “, dẫu ông luôn là người lính thuần thành chứ không là giới sinh hoạt Chính trị. Trận đèo Khánh Dương trong vài ngày ngắn ngủi (cuối tháng 3/75) vỡ tan Lữ đoàn 3 gồm các Tiểu đoàn 2, 5, 6; trận Phan Rang hai ngày 15, 16 tháng 4, Lữ đoàn 2 bị tràn ngập, Lữ đoàn Trưởng, Đại Tá Nguyễn Thu Lương bị bắt cùng với Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu III.
Những ngày cuối cùng trước khi từ chức, ra nước ngoài, với chức vụ Tổng Thống, ông Thiệu quyết định việc điều động đến cấp Tiểu đoàn bởi lo sợ một âm mưu đảo chính – Mối lo sợ về một mưu định rất có khả năng thực hiện bởi bất cứ một sĩ quan cấp chỉ huy nào. Triệu Tử Long có thể phò ấu chúa A Đẩu giữa rừng gươm giáo thời Tam Quốc, nhưng Trung Tá Nguyễn Lô với một Tiểu đội lính còn lại làm sao ngăn cản đợt tấn công cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh gồm 16 Sư đoàn Bộ binh cộng sản Bắc Việt, chưa kể lính chủ lực miền và du kích địa phương? Cuộc tổng tấn công được cả một khối cộng sản yểm trợ và quốc hội Hoa Kỳ quyết liệt cắt giảm quân viện. Nhưng dẫu có nhận được vài trăm triệu đô-la kia tất cả cũng đã là vô ích vì không phải đợi đến những ngày sau di tản triệt thoái Cao Nguyên (3/75) mới bày ra cơn hấp hối của miền Nam mà đã nên thành hiện thực từ mặt trận im lặng nơi Dinh Độc Lập với một “ước tính chiến lược” qua phiên họp trong hai ngày 9, 10 tháng 12/1974: Sẽ không tăng viện cho Vùng II (Cao Nguyên), chỉ củng cố vòng phòng thủ Nam và Tây Sài Gòn, hướng Tây Ninh (cách Sài Gòn 100 cây số).
Viên gián điệp tình báo chiến lược nơi Dinh Độc Lập (một trong bốn người thân tín của ông Thiệu) khẩn cấp báo về cho Hà Nội trong ngày 20 – Bản báo cáo tuyệt mật này bị văn phòng CIA ở Sài Gòn bắt được nhưng họ “cũng cùng đành im lặng” vì nhân viên tình báo kia cũng làm việc cho họ. Chúng ta có thể suy diễn không sai lầm sau 38 năm mất nước: Chẳng lẽ người Mỹ lại trực tiếp bày vẽ cho cộng sản nên đánh ở đâu? Trận Phước Long sau đó (mở màn 13/12/1974 và kết thúc ngày 28) với sự im lặng “rất có ý nghĩa của người Mỹ” qua thực thi nghiêm chỉnh Tu Chính Án Case & Chuck: “Cấm tất cả hoạt động quân sự của Mỹ vào Đông Dương” được ban thành đạo luật bởi Nixon từ tháng 12/1973. Toàn tỉnh Phước Long đồng loạt bị lấn chiếm dẫu bộ Tổng Tham mưu đã gởi đến đó Liên đoàn 81 Biệt Cách – Đơn vị dựng nên kỳ tích ở mặt trận An Lộc, 4/1972. Nhưng qua năm 1974 ấy, không còn một phi xuất B52 yềm trợ, cùng lần, Hạm đội 7 bỏ vùng biển Việt Nam quay mũi hướng về Châu Phi. Hạm đội hùng mạnh này cũng đã khóa chặt toàn thể vũ khí, kho máy bay, hệ thống phóng ngư lôi trong lần vỡ trận Hoàng Sa, 19 tháng 1, 1974. Người lính, bản thân mỗi người lính miền Nam làm được điều gì khi đạn bắn đi phải đếm từng viên một. Sau 30/4/75, 10 Tiếu đoàn Trưởng nhảy dù của 12 Tiểu đoàn tác chiến có mặt tại trại tập trung, ba Lữ đoàn Trưởng đồng nhận án hơn mười năm tù mỗi người. Năm người vượt trại đầu tiên nơi miền Bắc (7/1976) có ba Trung Tá và một Thiếu Tá thuộc Sư đoàn Nhảy Dù – Trung Tá Nguyễn Lô, Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù bình thản nói trước cột xử bắn: Tôi chịu trách nhiệm tất cả về việc trốn trại. Chúng tôi đã trình diện đi tù, chấp nhận cái chết là điều tất nhiên. Toàn trại ngồi chờ chứng kiến lần xử bắn đồng nghe rõ lời Sông Lô. Tôi không hề cường điệu khi nói về những người bạn lính của mình – Họ vẫn giữ vững nguyên phần bền bỉ kiên cường trong phận số khắc nghiệt chung. Lẽ tất nhiên không phải tất cả đều ngang tầm kiệt liệt của Sông Lô – Nhưng có hề gì, ba mươi tám năm sau 1975, hôm nay Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ vẫn hiện hữu.
Ba Sọc Đỏ ấy tượng trưng cho Máu của Người Việt – Có phần lớn máu Người Lính Việt Nam Cộng hòa.
Trần Vũ:Trưa 30 tháng 4, tôi hãy còn nhớ, sau khi Tướng Dương Văn Minh đầu hàng, trong lòng tôi giận dỗi các anh vô cùng. Gia đình chúng tôi đã tin vào quân đội đến cùng, thầy tôi nhất quyết không di tản vì muốn sát cánh cùng quân đội. Mà như thầy nói, ai cũng chạy hết thì lấy ai giữ nước, nuôi quân đội? Chúng tôi buồn bã vô hạn. Tại sao các anh đầu hàng? Vì sao các anh tuân lệnh không một phản ứng? Tôi muốn biết vì sao Người Lính Cộng hòa đầu hàng dễ dàng như vậy, trong một buổi trưa, trong vài giờ đồng hồ, không một chính biến, không một hành động sau cùng. Các anh đã kháng cự suốt hai mươi năm, mà sao không ai truất quyền Dương Văn Minh phút cuối cùng? Sao không lui về Cần Thơ, Phú Quốc kháng cự như Tưởng Giới Thạch đã lui về Đài Loan? Tôi muốn tin chính ước vọng hòa bình, ý thức nội chiến khiến các anh quyết định chấm dứt tương tàn, chấp nhận tù đày để đất nước thanh bình, nhưng rồi hòa bình không như mong muốn, thống nhất nhưng vẫn phân chia Nam – Bắc, phân chia giai cấp, phân chia “Ngụy Quân và Liệt Sĩ” khiến các anh căm phẫn. Rất nhiều cựu sĩ quan miền Nam nói với tôi là họ ân hận đã buông súng. Nếu biết trước sau 30 tháng 4 sẽ như vậy, họ sẽ chiến đấu đến cùng, đến chết, không đầu hàng. Còn Phan Nhật Nam? Nếu bây giờ đi lại trên Quốc lộ 1, cùng với Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù cũ của anh, đi đầu Đại đội 72 mà anh từng làm Đại đội Trưởng, nhận lệnh buông súng, anh phản ứng ra sao?
Phan Nhật Nam: Bản thân tôi không cố ý làm ra điều văn vẻ, trầm tư để viết nên văn chương chữ nghĩa khi trả lời câu hỏi này … Nhưng chẳng cần đợi đến sáng 30 tháng 4, 1975 mà tôi đã viết đủ trong “Ngày Thật Chết Với Quê Hương” – Cái Chết thật ra đã hiện diện với những báo trước rất cụ thể từ trận Đồng Xoài (6/1965); từ Mậu Thân (1968) …Hằng đêm từ đồi Căn Cứ Nguyễn Huệ (hậu cứ Lữ đoàn 2 Dù) nhìn ra Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa …Và gần nhất là đêm tối 15/3/1975 tại Pleiku khi Quân đoàn II bắt đầu lần rút bỏ Cao Nguyên; chiều 25/3 trên đèo Hải Vân (địa giới Thừa Thiên – Quảng Nam) khi Lữ đoàn 1 Dù bàn giao vị trí cho Tiểu đoàn 8 Thủy quân Lục chiến; trong ngày 30/3, khi toàn thành phố Nha Trang câm lắng xuống để nghe tiếng sóng đập vào bờ qua dãy xác chết lắt lay trên bãi cát … Toàn xác chết đàn bà con trẻ. Nhiếp ảnh viên Kevin Carter, người đoạt giải Pulitzer về phóng sự nạn đói ở Sudan, đã không thể sống nối sau khi chụp cảnh đứa trẻ hấp hối trước con kên kên chờ móc ruột! Cũng tương tự như thế, những người lính, cụ thể bản thân với chính xác thân, mỗi giác quan với từng giờ, từng ngày suốt từ 13 tháng 3 ở Pleiku cho đến 30 tháng 4 nơi Sài Gòn đồng thấy ra một điều: Sống là một cái tội! Chết cũng là một sự vô ích. Trở lại sự kiện bản thân ở lại Sài Gòn sau 30/4, có nhiều nguyên do khách quan, chủ quan, tích cực và tiêu cực … nhưng bao trùm tất cả là cảm ứng: Đi Mỹ hay ở lại (chết) ở Việt Nam tất cả cũng là vô ích – Hẳn nhiều người cũng có ý nghĩ này nhưng không nói ra lời đấy thôi. Cũng cần nói thêm một phản ứng có thật: Mongđược chấm dứt chiến tranh với giá sinh mạng là bản thân mình thì cũng là điều đáng chấp nhận. Và tự an ủi khi ngồi trong toa chở súc vật trên chuyến tàu lên Yên Bái đêm 22/6/1976: Coi như đất nước thanh bình (được) đi chuyến tàu lên miền Bắc! Nhưng tất cả cảm ứng “tự an ủi/ tự thúc giục này” dần bị đổ nhào như gặp phải tình cảnh sáng mồng hai Tết Mậu Ngọ (1978) khi đi thu hoạch lúa ở ngọn đồi sau lưng Trại 10 (Yên Bái) …
Người đàn ông dáng thanh lịch dẫu áo quần rách vá, vẻ hư hao, tiều tụy (cung cách của người Hà Nội trước 1954 rất dễ nhận) đi với cô con gái mặt đẹp như ngọc, đầu trần chân đất, quần rách lai tơi tả, sữa non con so thấm ướt ngực áo mỏng theo đoàn tù mót lúa rớt trong buổi sáng đầu Xuân sương mù giá rét miền núi đất Bắc. Người đàn ông trầm giọng nói trong tiếng khóc bị nén: “Các ông tội nặng lắm … Con tôi từ năm 1954 đến giờ không có được chén cơm trắng, cháu ngoại tôi từ ngày sinh chỉ uống nước cháo loãng pha muối cầm hơi … Mấy mươi năm chờ đợi các ông từ trong Nam ra với hy vọng được sống cho ra dạng người thế mà cớ sự lại như thế này đây!”.
Bạn ta ơi! Miền Nam không thể thắng được vì họa chung của cả dân tộc đã nên hình. Tôi không quá mê tín, nhưng ngày 28/3/75 khi đi trên đoạn đường Nha Trang – Cam Ranh dẫm lên cây số đường dài sâu bọ bung lên tự lòng đất nên đã hiểu ra điều: Cơn hấp hối, tận diệt quê hương đã thành sự thật! Bản thân người lính làm gì được? Họ lại là người chết trước tiên.
Trần Vũ: Tất nhiên chúng ta không thể quay ngược quá khứ, nhưng tôi còn nhiều thắc mắc. Trong Tù Binh và Hòa Bình, Phan Nhật Nam viết về thân phận người tù sau giao tranh: Lồng ngực vạm vỡ, nở nang vì được nuôi dưỡng no đủ của tù binh Bắc Việt theo chính sách giam giữ ở Phú Quốc của Việt Nam Cộng hòa; đối lại, gương mặt thất thần vì sợ hãi, trên thân thể xanh mướt của tù binh Nam Việt Nam khi đợi trao trả ở Lộc Ninh đã tiểu tiện trong quần vì sợ phía cộng sản lập kế giữ lại! Đã chứng kiến tận mắt ở Ủy ban Liên hợp Quân sự 4 bên như thế, sao anh vẫn quyết định ra trình diện? Chẳng lẽ các sĩ quan miền Nam không tham khảo quân sử, không am tường về Hồng quân cộng sản? 90,000 tù binh Đức tại Stalingrad, duy nhất chỉ còn 5,000 tìm lại về quê quán. Từ 1946 đến 1954, Việt Minh trao trả 10,754 trên tổng số 36,979 tù binh quân đội Liên Hiệp Pháp, chưa đến 29%. Số còn lại biến mất, không bao giờ còn tin tức. Đó là những số liệu của Bernard Fall, trang 523 trong chương cuối cùng của tập Un coin d’enfer xuất bản năm 1968, mà bản dịch Điện Biên Phủ, Một Góc Địa Ngục của Vũ Trấn Thủ, nxb Công An Nhân Dân đã cắt đi. Tôi muốn hiều quyết định chấp nhận tập trung này, mà cho đến bây giờ đã ăn sâu quảng vào trong tâm khảm của khá đông những người tù cải tạo hãy còn uất ức.
Phan Nhật Nam: Câu trả lời câu trên coi như cũng có thể dùng trả lời cho câu hỏi này, nhưng thành thật ra thì phải nói như thế này: Thôi thì chấp nhận đi ở tù vài ba năm cho xong chuyện. Có gì cũng được ở lại trên đất nước mình, như quyết định có thật của Boris Pasternak. Đã sống, chiến đấu cạnh người Mỹ suốt cuộc chiến (Nhảy Dù Việt Nam là đơn vị đầu tiên phối hợp hành quân với các đơn vị Không Ky, Nhảy Dù Hoa Kỳ từ 1965), nếu không hiểu biết nhiều thì cũng có được vài nhận định khách quan thế nào là người Mỹ hay quân đội Mỹ. Từ 1973 lại ngồi chung với họ trong Bàn Hội nghị Ban Liên hợp Quân sự ở Tân Sơn Nhất. Nhưng bao trùm tất cả là “quan niệm”: Là Người Việt với nhau, “hy vọng” sau chiến thắng chung cuộc rồi, người “Cộng sản Việt Nam” hẳn cũng không đến nỗi nào?
Trời đất! Đã chứng kiến Mậu Thân, 1968 ở Huế nhưng sao lại “vô tư” đến vậy? Cũng như đã tự tay đào hệ thống giao thông hào sâu ba thước nơi những cồn cát lẩn khuất sâu trong trại Long Giao trước ngày chuyển ra Bắc (19/6/1976) với tư thế “hăng say lao động”! Đứng dưới giao thông hào nhìn lên chỉ thấy một khoảng trời thu nhỏ đúng là của mộ huyệt tập thể!
Sau tháng 2/1979, cũng đào những giao thông hào như thế ở trại Lam Sơn, Thanh Hóa. Người cộng sản Đông – Tây có bao giờ gượng tay khi có nhữngquyết định tương tự trong suốt thế kỷ 20. Nhưng cũng như người Do Thái không hề sợ khi bước vào lò hơi ngạt ở Auschwitz để chết. Sống trước đó đáng sợ hơn. Đau thương thay, dân tộc Việt hình như tê liệt, vô cảm trong cảnh sống này. Ngay hiện tại ở Hà Nội với những cao ốc hiện đại theo mẫu của Mỹ, nhưng đồng thời khí trời, sông, suối … đồng bị nhiễm độc. Tàu vỏ sắt của Nhật không dám ghé bến sông Đồng Nai vì sợ nhiễm độc, rỉ sét. Nhưng không một người cầm bút nào nói nên thành lời cái họa vô lường này cho đủ dẫu đang trong nước; hải ngoại là tất nhiên vì thiếu chất men từ đất, người quê nhà. Họa hoẳn lắm mới có một người như Phạm Lưu Vũ ở Hà Nội viết chuyện Chị Cả Bống được đăng ở thế kỷ 21 miền Nam Cali.
Quả thật không đủ vào đâu, chuyện của Phạm Lưu Vũ viết bằng tiếng Việt, chỉ là một truyện ngắn (quá ngắn so với bi kịch (đúng ra là thảm kịch) của chị Bống), lại bị tịch thu. Ở Sài Gòn mấy người đọc. Nhưng bạn ơi, Thiên Chúa luôn có thật với Người – Tôi ngồi viết những trả lời này nơi đất Mỹ. Tại sao có thể như thế? Những ngày dài suốt thời gian từ 7/9/1981 đến 29/5/1988 tôi chỉ ao ước được đưa bàn tay ra khỏi khung cửa số nhà giam để xem gió mát như thế nào!
Tôi thù hận ai đây? Mơ ước gì khi đã hiểu ra điều đơn giản cuối đời: Sự Thật lớn nhất là Cái Chết. En attendant Godot chăng? Không. Con người chỉ chờ Cái Chết. Khác nhau chăng là chúng ta làm gì trong khi chờ lần chung kết kia.
Trần Vũ: 15 năm sau vượt biên, tôi đi lại Quốc lộ 1. Gần như để đối chất cảnh vật với những gì anh viết. Những địa danh, những thước đất hiện ra, lớp đất vàng khè chen giữa những bãi cát xám bên này dãy Trường Sơn. Dọc Quốc lộ từ Hải Lăng lên đến cầu Hiền Lương là những nghĩa trang liệt sĩ san sát. Vết tích chiến tranh chưa mất. Nhà thờ La Vang tan nát. Phố chính Quảng Trị lỗ chỗ đạn. Khu tập thể tiêu điều ở Thạch Hãn, Cồn Thiên, Cam Lộ … Tất cả ngập dưới cái nóng điên người. Tôi cảm được điều anh đã viết: Nỗi quặn đau dai dằng không chấm dứt. Rồi tôi tự hỏi: Phan Nhật Nam làm gì trong suốt bao năm ấy, từ lúc ra tù, anh có đi lại Quốc lộ 1 lần nào chưa? Trong Tù Binh và Hòa Bình anh đã đặt câu hỏi: Hòa bình nghĩ gì, làm gì? Tôi còn nhớ anh ngao ngán với cảnh áo hoa nón đỏ sẽ phải vào ty cảnh sát lãnh thằng ma cô có mụ tài-pán đỡ đầu. Hòa bình đến không giống như chúng ta chờ đón, nên tôi muốn biết anh nghĩ gì, sinh sống ra sao, trong một miền Nam đổi khác, sau khi đi tù về. Anh có phản cảm với tuổi trẻ không biết đến quá khứ. Trước khi sang Mỹ, anh giao tiếp với xã hội như thế nào. Tôi muốn nghe anh kể về những ngày hậu chiến này.
Phan Nhật Nam: Sau 30 tháng 4, 1975 tôi đi dọc đường Số 1 một lần. Lần độc nhất với đôi mắt khép lại để khỏi nhìn. Để đừng thấy. Tôi không nói quá. Đấy là lần trở về Nam trong ngày 29 tháng 5, 1988 sau mười hai năm lưu đày đất Bắc. Tàu vào địa giới miền Nam, qua Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, La Vang …lúc trời mờ sáng. Tôi biết rõ tàu đang chạy qua những chốn nào. Vốn người gốc Quảng Trị, năm 1966-1967 hành quân từ Thừa Thiên ra Quảng Trị, tôi dẫn quân đi dọc Phá Tam Giang không cần xem bản đồ. Tàu đến Huế sáng 30 tháng 5 – Ngày Phật Đản. Những năm trước 1968, ngày Phật Đản ở Huế là một Quốc lễ. Chợ Đông Ba không bán thịt; bún gánh chỉ nấu bún chay. Và đêm đến, trên sông Hương người Huế làm Lễ Phóng Đăng. Nhánh sông nhỏ dưới khu Gia Hội bồng bềnh giải ánh sáng lấp lánh trên nước như cảnh thần tiên. Mọi người nói giọng thấp xuống, nhỏ lại, chen tiếng niệm Phật A Di Đà Phật … Nam Mô Bổn Sư … Những người hung tợn nhất xóm hóa ra hiền từ, nhân ái. Chỉ một đoạn đường mấy trăm thước của đường Trung Bộ (nơi tôi ra đời, sau 1954 đổi thành Tô Hiến Thành) có đến bốn chùa và nhiều am, miếu. Chùa lớn như Diệu Đế; am Mã Ông Trạng. Sáng 30 tháng 5, 1988 qua ga Huế (nơi lần cuối đưa mẹ đi Sài Gòn 1960, em Bé ghìm tiếng khóc, thân người gầy gò rung bần bật vì phải xa mẹ), loáng thoáng những người buôn đồ cũ chạy thất thanh giữa tiếng nạt nộ, xua đuổi của công an … En ơi …mấy en ơi … Có mền tù khôn … (không hiểu tại sao họ biết chúng tôi là đoàn tù cuối cùng trở về Nam). Một thoáng ngắn, tôi nhìn ra cửa số toa tàu, hướng núi Ngự Bình, nơi có phần mộ mẹ tôi và những người trong gia tộc. Lòng trống rốc. Mắt ráo hoảnh. Lúc tàu rời ga Nam Định tối hôm trước, tôi muốn được bật nên tiếng khóc nhưng khóc không nổi.
Qua đèo Hải Vân, trong đầu loáng thoáng những câu thơ …
Tôi về Hải Vân thân áo tù.
Mười mấy năm dài nhục thấm dư.
Nghe lạ đất trời lạnh vụng biến.
Quê nhà còn không cơn mộng du …
Hiện thực rất chính xác, “tiên tri” của Mai Phương (Đỗ Ngọc Yến) viết trên báo Đại Dân Tộc, Sài Gòn:
“Người Nam Hà đầu tiên đến miền Bắc, 4 tháng 3, 1973”. Nay tôi là “một trong nhóm người Nam Hà cuối cùng rời miền Bắc từ trại Nam Hà”. Ngày 25 tháng 3, 1975 tôi đứng trên đèo này với Trung Tá Đỉnh chụp hình người mẹ quê chạy từ Quảng Trị vào Đà Nẵng với xác con nhỏ ủ dưới vạt áo dài (tấm hình về sau đăng báo Độc Lập). Đến Đà Nẵng vào buổi trưa, tàu đổi toán phục dịch (toán người Nam). Cán bộ áp tải tù ra lệnh đóng cửa sổ toa tàu vì “sợ dân phẫn nộ ném đá”. Tàu ngừng khá lâu để xoay đầu máy ra hướng Huế (tôi quen sinh hoạt này từ đầu năm 50, nhà các bạn thân chung trường, chung lớp đều quanh khu nhà ga này). Dưới sân ga có những tiếng hoan hô … “Hoan hô tướng Lê Minh Đảo … Hoan hô lính Việt Nam Cộng hòa … Hoan hô … hoan hô … “.Một người trong toán phục dịch có lẽ do thấy tôi tương đối trẻ so với những người trong đám tù, thấp giọng thân mật:
– Chú cấp bậc gì mà giờ này mới về?
– Đại úy!
– Trời đất, Đại úy người ta về từ mười năm trước. Mà Đại úy đơn vị chi?
– Đại úy nhảy dù …
– Vậy chú là nhà văn Phan …
– Chú muốn ăn, uống chi … Con đem tới …
Tôi uống hết một két mười hai chai bia cho đến chiều tàu tới ga Hàm Tân. Được tháo cùm tay, bước xuống xiêu ngã trên sân ga, nhìn chung quanh chập chờn … Cây cao su của Tiểu đoàn 7 Dù , lối lên Hố Nai, ngã Ba Tân Hiệp, Biên Hòa … Rừng cao su đặc thù của miền Nam mà tôi ngắm nhìn mê mải ngây ngất từ toa xe lửa buoi đầu đời vào Sài Gòn, 1957.
Có người đi tới thấp giọng …
– Ở đây chúng tôi biết cậu về …
– Cậu nhớ tôi không …
Tôi lắc đầu, phần vì hơi bia, phần mệt mỏi đường đi … Thật sự không còn sức.
– Tôi Đông đây … Phan Lạc Giang Đông …
Tôi nhìn người bạn không cảm giác.
Với tâm cảnh như thế, ra tù 1989. Chỉ định cư trú về ở ấp Bình Nhâm, Lái Thiêu, Bình Dương, tôi dựng căn nhà tranh 4×4 thước giữa vườn cây măng cụt, nhà, đất do gia đình, bạn bè ở ngoài gởi về … Bạn lính, Mễ “Mê Linh”, Hải “khều” của Tiểu đoàn 7; bạn văn, giới viết báo, Đỗ Ngọc Yến; có cả người chưa quen như vợ chồng bác sĩ Dzĩnh bên Canada … Hàng xóm không biết tôi là ai, do có những chiếc lu đựng nước mưa trước hiên nhà, họ đặt nên tên “Ông Út” hay “Út Lu”.Bạn bè không mấy ai, vì hầu hết đã ra đi, thỉnh thoảng hai người bạn niên trưởng, Như Phong và Doãn Quốc Sỹ (bên kia sông Sài Gòn, vùng Thạnh Lộc, Nhị Bình, nơi chiến trường lớn của năm 1968) đi mobilette qua chơi. Tôi thường đi quanh quẩn trong vườn măng cho dù nửa đêm về sáng, nằm võng ngủ trước hiên nhà, chơi với các con trẻ nhà quê, dạy chúng học, đốt lửa trại, nấu chè đêm trung thu. Nếu phải về Sài Gòn thì cũng lựa lúc ban chiều, trở lại Lái Thiêu vào buổi tối, qua cầu Ông Đụng, cầu Ba Thôn từ ngã xóm Mới đi lên (không đi ngã Quốc lộ 1 qua Thanh Đa, Bình Triệu) …Sự lựa chọn này có chủ đích: Nơi này, Tiểu đoàn 2 bị đụng trận. Nguyễn Ngọc Khiêm oằn người chết trên cán cứu thương do tôi kéo đi một đầu. Lái Thiêu lại là những ngày bình yên, dễ chịu nhất, mọi việc cần ở Sài Gòn tôi nhờ gia đình thứ hai, Đằng Giao – Chu Vị Thủy giải quyết hộ.
Cũng chỉ thấy vui đôi chút khi ngồi trên gác của căn nhà 104 Công Lý (tên cũ vì không thể nào đọc nên tên mới “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” mà không khỏi chạnh lòng) trước thương xá Crystal Palace, chung quanh những tranh sơn mài của Đằng Giao. Từ nhà 104 ra đường Lê Lợi không đầy 100 thước nhưng rất nhiều lần tôi không muốn bước ra chốn kia. Có những thú vui, thói quen sinh hoạt của trước 1975 hoàn toàn bị mất hắn. Từ những năm 50, tôi đã là khán giả của rạp chớp bóng Morin (Huế và Đà Nẵng); sau này, Mini Rex là nơi nghỉ ngơi thú vị mỗi buổi trưa khi ở Sài Gòn.
Sau 30 tháng 4, 1975, thói quen, thú vui này mất hẳn. Nay 20 năm ở Mỹ cũng không thể phục hoạt. Cứ nhớ thanh âm rền rĩ bài nhạc đệm … Giải phóng miền Nam. Sau 30 tháng 4, tại Sài Gòn trong từ những phim ảnh của xưởng phim giải phóng người cứ nổi gai như sắp bị hành hình. Cứ thế, tôi sống từng ngày qua đi không mấy khó khăn so với hơn 8 năm trong bóng tối hầm giam chờ đem đi bắn. Thật ra cán bộ cộng sản chỉ cốt ý dọa, vì bắn cũng vô ích, mà không có cớ gì để bắn! Cho dù kết án tử hình một người tù cũng chẳng gì khó khăn. Lê Đức Thịnh, chung T4, trại Long Giao (1975-1976), chỉ trong một thư gởi lén cho vợ, viết lời khẳng khái “Anh không chịu bó tay” mà phải ra pháp trường do hai ông chấp pháp tên Giáp, tên Dần nào đó ngồi xử trong vòng 10 phút. Vụ xử bắn cốt ý hù dọa. Phải, chỉ để dọa đám tù đã chịu bó tay quy hàng, không hơn, không kém. Còn khi (đã) muốn bắn thì đem bắn ngay xong vất hàng rào bảo rằng trốn trại như lần giết những sĩ quan an ninh quân đội trước khi số tù còn lại của trại Long Giao chuyển ra Bắc (19/6/1976).
Hoa ra câu nói sáng 30/4 khi ném giấy tờ tùy thân, thẻ sĩ quan, thẻ lĩnh lương xuống chiếc cống trước nhà sách Khai Trí: “Coi như mình đã chết!” là lời xác định đầy đủ, chung kết. Với tâm trạng này tôi đi Mỹ …
“Tôi đi Mỹ cứ như hắt cặn nước.
Tôi đi Mỹ nhẹ tênh vất điếu thuốc.
Quê hương gầm gừ khinh miệt.
Đất xa trọn chốn lưu đày”.
Trần Mạnh Hảo khi tiễn ra phi trường (5/11/1993) có lời cảm khích: Thế nào ông cũng khóc khi ra khỏi nước!
Thế nhưng tôi đã không biết phi cơ cất cánh lúc nào, ngủ ngay khi vừa ngồi xuống ghế trên máy bay. Nhìn đâu ra Sài Gòn của miền Nam khi toàn phi hành đoàn phát âm giọng Bắc vùng Thanh, Nghệ nghe ngang ngang, cứng cứng; thái độ khinh khỉnh, xấc xược (do biết chuyến bay thuần là người ty nạn đi diện H.O).
Những năm đầu tiên ở Mỹ (1994-1996) tôi luôn ở trên đường xa như nhân vật trong phim Forrest Gump … Cứ nhắm đằng trước mà chạy. Chạy mãi cuối cùng anh ta đứng lại, quay về nhà đã bỏ đi từ khi người vợ lâm tử. Tôi chẳng chạy trốn điều gì, nhưng cũng có lúc tự hỏi: Anh lái được bao lâu? Anh lái đi đến đâu? Cuối cùng dòng hiu quạnh. Exit ra ngã sầu … Khi một mình ngồi nơi một Rest Area nào đó trên Đường 10 vạn dặm xuyên nước Mỹ, chiều mưa lớn ở Lousiana. Tôi làm thơ như cách người ta tập thể dục, tập khí công mỗi ngày. Làm thơ bất cứ nơi đâu …
“Tôi đọc thơ ông. Tự thân trống vơ trống vốc. Nơi phi trường York, vừa rời Houston … Phi trường … Xuống.
Không một ai. Chỉ tập thơ ấm trong lồng ngực … “.
Tôi đọc Thơ tuyển của Tô Thùy Yên trong tình cảnh như thế. Từ đó hiểu ra Bùi Giáng phải điên, Tam Ích phải tự tử (1972). Cũng hiểu ra tại sao Nguyễn Chí Thiện không thể làm thơ được nữa. Trước khi chết, bất cứ ai cũng gặp phải tình trạng “flashback”
– Nhưng nếu không chết được thì người ta sẽ sống thản nhiên với tất cả mọi hoàn cảnh. Sự Thật lớn nhất là Cái Chết. Không phải triết học như lời của Albert Camus đâu mà đấy là Lý (giản dị) của Nghĩa Sống/Chết, không cần phải lên đến Hy Mã Lạp Sơn tu cách các Đạt Ma mới hiểu ra. Người Việt ai cũng cảm nhận được một lần, rất nhiều lần nhưng không viết và nói ra như bạn với tôi đang vấn đáp với nhau. Cứ như thế tôi ở Mỹ đến năm thứ mười lăm, đi gần hết các tiểu bang, đất đai trên thế giới … Lên thấu Alaska, xuống tới Nam bán
cầu. Bạn còn muốn hỏi gì nữa hay chăng?
Trần Vũ: Câu chuyện đã khá dài, tuy tôi còn muốn hỏi thêm nhiều nữa, nhưng vẫn phải kết thúc. Trước khi chấm dứt, tôi muốn nhắc lại ảnh hưởng mà các tập bút ký chiến trường của anh đã để lại trong tôi. Chúng ám ảnh tôi đến mức tôi nóng ruột khoác lên người sự “nhiệm màu” của Người Lính Cộng Hòa mà anh mô tả. Tuổi niên thiếu của tôi tràn ngập những buổi trưa của viên Thiếu úy Nam trở về doanh trại, trải tấm nệm lên chiếc giường hai chân chưa dựng, lắng nghe tiếng kèn của người lính gác vang lên giữa xao xác vắng vẻ. Tôi không mê những 7 Năm Ở Lính của Nguyên Vũ, Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, Tiền Đồn của Thế Uyên, Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 Hạ Lào của Trương Duy Hy hay Vỏ Đạn Cho Con Trai Đầu Lòng của Nguyễn Đình Thiều, nhưng tôi ngã xấp mặt vào thế giới của Phan Nhật Nam. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu vì sao thời gian này tôi say mê anh như vậy?
Thế giới của người lính ngồi trên sườn đồi uống bia không đá nhìn xuống con sông bốc mờ sương lam của tân khóa sinh trong chuyến xe lửa đêm lên Đà Lạt lướt đi giữa rừng thông đầy mộng mị, của cả những bực dọc về Sài Gòn dẹp biểu tình gác đường gác chợ như ăn mày hay tiếng khóc não lòng của người dân ngoài Trung trước mái nhà bị bằn sập …Tôi thuộc từng tên nhân vật, từng cấp bậc, từng thâm niên của từng người, thuộc cả tiếng chửi thề “chay me” thất vọng của viên Hạ sĩ Miên đấm vỡ chiếc nón bài thơ khi máy bay rời Phú Bài, thuộc đôi mắt nhẫn nhục vô hình của Trung úy Tạo, Tạo đen của 10 năm quân lao …

Tôi cảm giác những trang bút ký của anh thời ấy giúp tôi sống với mọi người, cảm giác chúng truyền vào người mình nỗi đau của cả một miền đất nước, từ những tàn phá đến giận dữ. Sau này tôi vẫn đọc đi đọc lại Dọc Đường Số 1, Dấu Binh Lửa, Dựa Lưng Nỗi Chết vì cảm giác thật mạnh đang sống với quê hương mình, trên từng thước đất, vào từng ngôi làng, “rờ” từng cái ấp. Có cái gì đó thật con người, cực kỳ cô độc lặng lẽ giữa sắt thép hỗn độn ầm vang trong thế giới của anh mà bây giờ phải đọc lại mới hiểu thấu hết tất cả những oan khiên của cuộc chiến vừa rồi. Anh rất gần với Cột Mốc 125 và Bão Thép của Ernst Junger, ở khía cạnh tiếng nồ của bom đạn, nhưng trong tác phẩm của Junger không có dân chúng, không có những làng mạc với xác những đứa bé chết thâm tím, không có tiếng kêu nặng nhọc của dân lành cố sức đi theo người lính xuôi Nam. Trong ký Phan Nhật Nam, ngược lại, xã hội dân sự hiện diện thường trực trong chiến tranh. Sau này, sang Hoa Kỳ, anh mất đi khá nhiều tố chất con người trong các bài viết, chính vì anh nghiêng nhiều về quân sử, số liệu, ngày tháng, đơn vị, khiến phần tập thể lấn át phần cá nhân. Trước Phan Nhật Nam, tôi nghiêng về phía Cộng hòa theo truyền thống giáo dục gia đình, sau Dọc Đường Số 1, Dấu Binh Lửa, Mùa Hè Đỏ Lửa, Tù Binh và Hòa Bình tôi trở thành người quốc gia vĩnh viễn. Anh mang trách nhiệm này, đã “biến” tôi thành người quốc gia vì đã dẫn tôi đi qua những thước đất của quê hương ngập tràn tai ương. Đáng lẽ tôi không nên đọc anh để dễ dàng thỏa hiệp với thực tại bây giờ, phải không? Muộn mất rồi. Tôi đã theo anh đi Dọc Đường Số 1.

Phan Nhật Nam: Thật cảm động và rất hãnh diện khi biết có một người đọc, nhớ từng lời (do mình viết) như bạn đã tận ân tình đối với chữ nghĩa của tôi. Vì cũng có lần bà vợ tôi (yêu thương nhau từ 1964 chứ đâu phải mới chung sống ngày một ngày hai) nói ra lời chân thật (mà hẳn phải sau nhiều suy nghĩ vì bà ấy vốn kín đáo, nghiêm chỉnh): Sao ông cứ viết chuyện chiến tranh, tù tội như thế mãi?!
Bạn ơi, tôi trả lời sao đây? Tôi đi đâu nữa? Viết cái gì mới nữa? Tất cả đã thành sự. Chẳng cứ riêng tôi mà hầu như đối với tất cả những người cầm bút. Đây, lấy ví dụ, những “anh”, những “em” và những “tôi” …Bạn chỉ cho tôi xem trong ba cái cột trụ “tưởng như là quan trọng ghê gớm” kia có cái nào là “đáng để nói lên”?
Bao nhiêu thế kỷ chữ nghĩa, văn chương người ta dùng đến độ đáng sợ cái tam giác (vô phương phá vỡ) ấy. Tuy nhiên, tôi vẫn học, đọc, viết mỗi ngày. Ở Minnesota, tôi là một trong những sinh viên già nhất trường. Cứ như Sisyphe thôi. Nhưng biết đâu trên đường lăn đá lên đỉnh núi hắn ta (bắt buộc) nhận ra mình (Là ai? Làm gì?) với tất cả hùng vĩ đơn độc riêng.
Mở chiếc máy lên, ngồi xuống với bàn gõ là lòng bình an, vui vui … Tôi không hề có nguồn vui lớn. Nói rất thật lòng để chấm dứt. Bạn không muốn hỏi nữa, tôi cũng đã quá mệt. Cám ơn bạn đã đọc kỹ, đã hỏi thật. Thế là đủ vì nhận được phần thúc giục: Ít ra chữ nghĩa (mình viết nên) không đến nỗi vô ích. Một người không cũng đủ. Rất cảm ơn.
Trần Vũ thực hiện qua điện thư
Ngày 8 tháng 10, 2008.
Hiệu đính lại 20 tháng 7, 2013
Sau 20 năm ở Mỹ.

Đôi điều về, Người Lính-viết văn
Tên đầu tiên Phan Ngọc Khuê, sinh 9 tháng 9, 1943.
Chánh quán Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị.
Đổi thành Phan Nhật Nam với ngày sinh mới, 28 tháng 12, 1942,
Tại: Sinh quán Phú Cát, Hương Trà, Thừa Thiên-Huế.
Tiểu Học: Mai Khôi (Huế); Saint Joseph (Đà Nẵng);
Trung Học: Phan Châu Trinh, Đà Nẵng (1954-1960).
Mười bốn năm lính (1961-1975), Khóa 18 Trường Võ Bị Đà Lạt; qua các đơn vị: Tiểu Đoàn 7, 9, 2 và Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù; Tiểu Khu Bà Rịa, Long An; Biệt Động Quân; Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 và 2 Bên.
Mười bốn năm tù (1975-1989) nơi những hầm cấm cố, tử hình, hệ thống trại giam Miền Bắc, với hai đợt kiên giam (2/1979 đến 8/1980; 9/1981 đến 5/1988).
Chỉ định cư trú, quản chế tại Lái Thiêu, Bình Dương, Miền Nam, 1990-1993.
Luôn “Học-Đọc-Viết” từ tuổi 20, 30 … hoặc nay,60,70 dù bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào – Để nói cho đến tận cùng về Khổ Nghiệp của mỗi Con Người đã sống cùng, gặp mặt, chứng kiến, nghe được trên vùng đất Bán Đảo Đông Dương, nước Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua, khắp nơi trên thế giới. Thế nên, bởi “Bất Bình Tắc Minh” mà cầm viết, dụng văn chứ không do tài hoa, văn vẻ, thuộc giới trí thức, khoa bảng.
Viết bốn mươi-lăm năm (1968-2013), được Lòng Tin từ Người Đọc do chữ viết, lời nói trung thực với:
-Dấu Binh Lửa, 1969 – Tường trình về người và chiến tranh nơi Miền Nam (1960-1968)
– Dọc Đường Số I, 1970 – Trên quê hương, dọc con lộ, địa ngục có thật hằng ngày mở ra.
– Ải Trần Gian, 1970 – Tự sự hóa qua biến cố chính trị, quân sự ở Huế, Đà Nẵng, Miền Trung, 1966.
– Dựa Lưng Nỗi Chết, 1971– Thảm họa Mùa Xuân Mậu Thân (1968) ở Huế được dựng lại với khung cảnh tiểu thuyết.
– Mùa Hè Đỏ Lửa, 1972– Thiên Hùng Ca Mùa Hè của Miền Nam trong trận chiến giữ đất, bảo vệ dân.
– Tù Binh & Hòa Bình, 1974– Lời báo động khẩn thiết sau Hòa Bình ngụy danh từ Hiệp Định biễn lận, ký kết tại Paris 27 tháng 1,1973.
Đến Mỹ cuối năm 1993.
Tiếp tục công việc bị buộc phải gián đoạn từ 1975, tự thân đưa đến Bạn Đọc toàn thế giới, qua 40,000 dặm Đông-Tây, Nam-Bắc bán cầu, vòng quanh quả đất – Nơi nào có Người Việt – Người Lính-Viết Văn phải đi tới, hiện thực công việc: “Dựng lại chân dung đích thực về Dân-Lính của quốc gia tên gọi QLVNCH. Với:
– Những Chuyện Cần Được Kể Lại, 1995 – Về Khổ Nạn Việt Nam không dấu hiệu chấm dứt từ 1975.
– Đường Trường Xa Xăm, 1995 – Tâm bút của người luôn trên đường đi.
– Đêm Tận Thất Thanh, 1997 – Thơ viết giữa vũng tối không cùng của hơn mười tám năm (1975-1993), nơi Long Giao, Long Khánh; Hoàng Liên Sơn, Thanh Hoa .. ở Lái Thiêu, Bình Dương, miền Nam.
– Mùa Đông Giữ Lửa, 1997 – Bút ký sau ba năm ở Mỹ để nhắc nhở bản thân, bằng hữu, những thế hệ nối tiếp hằng giữ Lửa Mùa Hè 1972 – Ngày vững tay súng Bảo Quốc-An Dân.
– Peace and Prisoner of War – Nhà Xuất Bản Kháng Chiến, 1987.
Sách đã xuất bản, dự định phổ biến trong Thế Kỷ 21:
– The Stories Must Be Told, 2002, Bút ký tường trình cùng người đọc thế giới về phận nghiệp đau thương, vô vàn của Dân Tộc Việt.
– Mùa Hè Đỏ Lửa – Tái bản lần thứ 30 sau ba-mươi năm (1972-2002) do đích thân người viết sửa chửa, hiệu đính về Ngày Hè Lẫm Liệt nơi Miền Nam.
– Những Cột Trụ Chống Giữ Phương Nam – Ký Sự Nhân Vật – Về những Người hằng trãi thân giữ vững lực Chiến Đấu Chính Nghĩa suốt nửa thế kỷ trên toàn cõi quê hương.
– Ải Trần Gian – Tái bản lần thứ Nhất kể từ lần tuyệt bản năm 1970, 1975 do những chế độ cầm quyền tại Miền Nam, của Việt Nam tịch thu, tiêu hủy.
– Dựa Lưng Nỗi Chết – Tái bản lần thứ Nhất tại hải ngoại.
– Chuyện Dọc Đường, 2007 (Phần I), Những câu chuyện nghe ra, thấy được, sống cùng .. với thảm cảnh mỗi người Việt Nam trên quê hương, khắp nơi trên thế giới, ở đất Mỹ sau 1975.
– A ViệtNam War Epilogue, 2013. Ấn bản Anh Ngữ gởi đến thế hệ người Việt trẻ thông điệp về chiến tranh Việt Nam.
Tiếp tục hoàn chỉnh:
– Phận Người -Vận Nước – Nhà Xuất Bản Sống, 2013. Tường trình về phận nghiệp mỗi Người Việt, toàn Dân Tộc đã phải mang nặng, đang chịu đày ãi suốt cuộc chiến 1945-1975.
– Chuyện Dọc Đường – Nhà Xuất Bản Sống, 2013, hoàn chỉnh.
Cố gắng hoàn tất:
– Tội Ác & Tội Lỗi – Tiểu thuyết cố gắng tìm tới ngọn nguồn Sự Ác và Mối Tội.
– Những Chuyện Không Thật – Chuyện hằng ngày hiện thực những viec không thực với mỗi phận con người.
– Thơ Viết Trong Lửa – Thơ viết hằng ngày. Thơ sống hằng ngày.
– Để kết thúc với Đá Nát Vàng Phai – Trường thiên tiểu thuyết về mỗi phận mệnh của tất cả chúng ta hằng dự phần cùng vận nước .. 1954, 1963, 1968, 1972 .. 1975 .. 2000 .. Và tiếp tục .. Nếu còn sống và có điều kiện làm việc.
MONG NGƯỜI ĐỌC HÃY THÚC DỤC LÒNG THÀNH CÙNG NGƯỜI VIẾT TRÊN PHẦN ĐƯỜNG CUỐI ĐỜI CÒN LẠI QUÁ XA.
Nước Mỹ, Tiểu Bang California,
Sinh Nhật 70 tuổi: 9 Tháng 9 (1943-2013)
Kính Tường Trình
Phan Nhật Nam

Cho dù tất cả các cuộc chiến tranh đều có chung yếu tính sự Ác và Hủy Diệt, nhưng đây là một trong những cuộc chiến tồi tệ nhất cuả giòng sống con người. Cuộc chiến vô ích, dai dằng, khắc nghiệt nhất của lịch sử dân Việt. Và Người Lính Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất.
Gần bốn mươi năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu. Trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lỗ của khắp miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom, miểng đạn, hằng ngày vẫn thấy ra những người tóc ngã mầu xám bạc mệt nhọc, mòn mỏi cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh tự chế hoen rỉ bên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che mầu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn.
vietmessenger.com
Aleksandr Solzhenitsyn
Dịch giả: Hải Triều
Post by Sơn râu 16 Feb 2026

10.Toà lâu đài huyền diệu
Trong nhiều năm – trong thời gian chiến tranh và sau đó – Yakonov ngồi vững với địa vị kỹ sư trưởng Sở Tiếp liệu đặc biệt. Y mang với một vẻ trang trọng đáng kính đôi cầu vai nền bạc viền xanh ở giữa có ba ngôi sao mà sự hiểu biết của y đã đem lại cho y. Chức vụ của y đặc biệt đến nỗi y có thể hoạt động trên một địa bàn rất rộng: đôi khi đọc một báo cáo đầy những danh từ khoa học trước những nhân viên cao cấp trong guồng máy nhà nước, đôi khi thảo luận một cách thông minh với một ngôn ngữ đầy những danh từ chuyên môn với những kỹ sư về những phát minh mới nhất. Nhìn chung, y tự tạo cho y cái uy tín là một nhà chuyên môn nhưng không phải lãnh trách nhiệm về bất cứ một chuyện gì, và mỗi tháng y được lãnh vài ngàn đồng ruble. Yakonov chủ tọa cuộc lễ khai sinh ra tất cả những phòng chuyên môn, những cuộc phát động thực hiện kế hoạch, y biến mất trong giai đoạn khó khăn của kế hoạch để rồi lại xuất hiện trước quan tài của những kẻ thất bại hoặc để choàng vòng hoa chiến thắng lên đầu những kẻ thành công.
Anton Nikolayevich Yakonov không còn đủ trẻ và đủ tự tin để mơ tưởng đến chuyện có ngày đoạt được huy chương Sao vàng hoặc giải Stalin, hoặc mỗi khi có dịp là vồ lẫy người dự án lớn, quan trọng do Tổng thống hay do chính Thủ lãnh tối cao đưa ra. Y đã có đủ kinh nghiệm và tuổi đời để khôn ngoan lẩn tránh hệ thống rắc rối, phức tạp những xúc động, sợ hãi, âu lo do tham vọng thái quá gây ra.
Với những quan điểm đó về cuộc đời, y sống an nhàn, đầy đủ, sung sướng cho đến tháng Giêng năm 1948. Trong tháng Giêng ấy có một kẻ nào đó đề nghị với Cha chung của dân tộc Nga La Tư ý kiến chế tạo một dàn máy điện thoại đặc biệt chỉ để dành riêng cho Lãnh Tụ Tối Cao dùng mà thôi. Dàn máy điện thoại đó sẽ được chế tạo sao cho không một kẻ nào có thể hiểu được Lãnh tụ nói gì, dù cho máy có bị cắm lén nghe trộm. Với ngón tay thần thánh, ngón tay vàng vì khói thuốc lá, vị Cha hiền dân tộc chỉ lên tấm bản đồ. Ngón tay đặt đúng lên Mavrino. Lúc ấy Mavrino là một xưởng chế tạo máy truyền thanh xách tay cho cảnh sát dùng. Câu nói lịch sử của Người trong dịp này là “Ta cần những máy truyền thanh này để làm gì? Để bắt kẻ trộm à? Ai thèm để ý đến bọn ăn trộm?”
Người ra thời hạn: ngày mùng một tháng Giêng 1949. Người suy nghĩ rồi nói: “Thôi được. Cho đến mùng một tháng Năm”.
Công tác này được đặt vào hàng ưu tiên số một và quan trọng số một. Thời hạn của công tác quá chặt chẽ, quá gấp rút. Ở Bộ An ninh, người ta thảo luận lỹ và người ta lựa Yakonov để trao cho việc đích thân đốc xuất công tác này. Yakonov cố gắng một cách vô ích để trình bày rằng y đã phụ trách quá nhiều việc và y không thể nào làm tròn được hai việc cùng một lúc. Nhưng Foma Guryanovich Oskolupov, giám đốc Nha Kế hoạch Bộ An ninh, thượng cấp trực tiếp của Yakonov, chiếu cặp mắt xanh như mắt mèo nhìn thẳng vào mắt Yakonov – và Yakonov nhớ lại vết đen trên hồ sơ an ninh của y. Chính y cũng đã từng phải ở tù sáu năm. Vì vậy, y ngậm miệng lại không dám nói gì nữa.
Từ đó – đã gần hai năm trời trôi qua – văn phòng trưởng Phòng Kỹ sư ở Tổng bộ An ninh vẫn để trống không có ai ngồi. Trưởng Phòng Kỹ sư Yakonov sống suốt ngày đêm ở Viện Nghiên cứu Mavrino nằm ở ngoài thành Mạc Tư Khoa, nơi có một tầng tháp hình lục lăng nổi cao trên mái tòa giáo đường xưa cũ.
Thoạt đầu, việc một mình có toàn quyền quyết định mọi việc là một lạc thú, Yakonov cảm thấy khoái lạc trong việc đóng cánh cửa chiếc xe hơi Pobeda dành riêng cho y di chuyển với cử chỉ mệt mỏi. Y khoan khoái ngồi trong chiếc xe êm đưa y tới Mavrino, đi ngang người binh sĩ chào nghiêm với cây súng trên tay ở vọng gác ngoài cổng để vào tòa nhà chung quanh có dây thép gai. Cuộc sống thật dễ chịu trong mùa xuân, khi cảnh vật đều trẻ trung và tươi mởn, đi bộ dưới những hàng cây để từng sống cả trăm năm bao quanh Mavrino với một đám thiếu tá, đại úy tùy tùng. Trong thời gian đầu, những vị thượng cấp của Yakonov không ai đòi hỏi gì ở Mavrino – Yakonov chỉ có việc đều đặn gửi về Tổng bộ một lô những chương trình kế hoạch, sơ đồ và lời hứa sẽ làm trọn những “bổn phận đối với chế độ”. Và vật dụng đủ thứ được tới tấp đổ xuống Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino: những bộ phận máy radio do Nga Xô chết tạo và những bộ phận do ngoại quốc chế tạo, máy điện, dụng cụ nghiên cứu, bàn ghế, tủ, tủ sắt, một tủ sách gồm ba mươi ngàn quyển sách chuyên khoa kỹ thuật, những tù nhân chuyên viên được lấy ra từ những trại tập trung, những sĩ quan mật vụ ưu tú nhất được phái đến, những viên chức lưu trữ hồ sơ được biệt phái tới làm việc và sau cùng, một đại đội binh sĩ phòng vệ đặc biệt kéo đến. Cũng trong thời gian đầu, Yakonov phải cho sửa lại tòa nhà, làm thêm phòng, chuyển những căn phòng trong nhà y thành phòng thí nghiệm và văn phòng, xây hầm đặt máy điện. Cho đến khi những hàng cây để nở hoa vàng và tỏa ngát hương thơm, tiếng nói buồn rầu của những tù binh Đức được gửi đến làm lao công vang lên trong vườn tòa nhà.
Những tên Phát xít lười biếng đang sống nằm tù thứ tư sau chiến tranh ấy không muốn làm bất cứ một việc gì. Trước mắt những người Nga, cảnh bọn tù binh Đức chuyển những viên gạch từ trên những chiếc xe vận tải xuống là một cảnh chướng mắt chịu không nổi: chúng xếp hàng một từ xe vào đến chỗ xếp gạch, chúng chuyền tay nhau từng viên gạch chậm chạp, cẩn thận, như đó là những khối vàng nén. Chúng cố tình làm chậm như thế và chúng chỉ chuyển hết số gạch trên một chiếc xe xuống là hết ngày. Trong lúc những công nhân đặt máy thông hơi, máy sưởi ở cửa sổ và lát ván lại những căn phòng trong nhà, bọn tù binh Đức đi lang thang khắp nhà, chúng vào cả những căn phòng tối mật và đứng nhìn những thùng đồ ghi chữ Đức và chữ Anh. Bất cứ một chú học sinh người Đức nào cũng có thể đoán biết phòng thí nghiệm gì được lập lên ở đó. Rubin đã ghi tất cả những chi tiết này trong một bản báo cáo gửi đến đại tá kỹ sư Yakonov, báo cáo này ghi nhận đúng nhưng cũng rất phiền cho hai sĩ quan phụ trách an ninh ở đây – Shikin và Myshkin – (bọn tù nhân gọi hai nhân vật này bằng cái tên chung là Shishkin và Myshkin) – bởi vì lúc đó, người ta chẳng còn sửa chữa gì được nữa. Họ không thể gửi báo cáo đó lên thượng cấp vì sự sơ xuất đó là lỗi của họ. Và đến lúc đó bọn tù binh Đức đã được trở về Đức quốc. Yakonov rùng mình kinh sợ khi nghĩ rằng nếu trong bọn tù binh ấy có tên nào trốn sang Tây Đức, tên đó sẽ có thể kể lại vị trí Viện Nghiên cứu này với bọn gián điệp đế quốc tư bản. Sau đó, những biện pháp bảo vệ bí mật đến tối đa được áp dụng ở Mavrino: tù nhân làm việc ở phòng thí nghiệm này không được đặt chân sang phòng thí nghiệm khác, các tù nhân không được tiết lộ những công tác nghiên cứu với nhau, trừ khi nào được ban giám đốc cho phép. Việc Yakonov được cử đi điều Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino cũng được giữ kín ở Tổng bộ An ninh. Ở trong Bộ, hỏi đến đại tá kỹ sư Yakonov đều được yêu cầu ghi tên, cấp bậc và lý do cần gặp lên giấy và sẽ được trả lời sau. Nếu cần phải gặp những người này, bao giờ Yakonov cũng về Bộ để gặp. Y không tiếp bất cứ ai ở Mavrino.
Khi bọn tù bình Đức được gửi về nước, họ đưa tới Mavrino đám tù khác để làm lao công. Đám tù này giống hệt những tù nhân làm việc chuyên môn trong việc trừ điểm quần áo của họ dơ dáy hơn, rách rưới hơn và họ không được quyền ăn bánh mì trắng. Đám tù Nga này làm việc khác hẳn bọn tù binh Đức: họ vừa làm việc vừa chửi rủa tục tĩu những viên gạch bay tới tấp từ trên xe vận tải xuống sân và kết quả là gần như không còn viên gạch nào lành lặn hoàn toàn. Với tiếng: “Một… hai… ba…” bọ tù Nga quăng tấm mui xe bằng vải bạt chùm lên xe và chúng chui và đó để đi về nhà giam, trên đường đi chúng đùa giỡn với những nữ tù nhân. Buổi sáng chúng được đưa đến làm việc, buổi chiều đưa trả về nhà giam.
Và tòa lâu đài huyền diệu đó, nằm riêng rẽ ở một khu ngoài thành phố, một khu tuy không thấy có gì khác lạ nhưng bọn thường dân không dám tới gần, được thay đổi gần như toàn diện: lâu đài có một bồn chứa nước, một hệ thống đốt rác tối tân, một nhà máy điện riêng, những căn phòng cửa sắt được sưởi ấm vào mùa đông và những bồn hoa tươi trong vườn cỏ.
Cũng trong thời gian đó, Viện Nghiên cứu khoa học được ưu đãi đặc biệt này mỗi ngày một phát triển lớn hơn, đông nhân viên hơn. Viện tiếp nhận cả một Viện Nghiên cứu khác với toàn thể nhân viên của viện này. Đó là Viện Nghiên cứu được trao cho thiếu tá kỹ sư Roitman chỉ huy. Viện này cũng được lập lên để nghiên cứu về điện thoại và truyền tin. Thiếu tá kỹ sư Roitman trở thành vị phụ tá của đại tá kỹ sư Yakonov. Người khai sinh và bảo vệ Viện Nghiên cứu bị sáp nhập này là đại tá Yakov Ivannovich Mamurin, nguyên Trưởng Sở Liên lạc đặc biệt và nguyên là một viên chức cao cấp, quan trọng của chính phủ Xô Viết. Trước đó ít lâu, đại tá Mamurin đã biến mất trong trường hợp bi thảm như sau này.
Số là có một lần vị lãnh đạo Nguyên liệu tiến bộ nói chuyện bằng điện thoại với một người ở tỉnh Yenan và Lãnh Tụ bất mãn vì đường dây rè rè khó nghe, khó nói quá. Người bèn gọi Beria tới và nói bằng tiếng địa phương Georgian: “Lavrety… Anh để cho thằng ngu nào giữ Sở Liên lạc đặc biệt vậy? Tống cổ nó đi”.
Và như thế là Mamurin bị tống đi. Bị tống đi có nghĩa là đi tù. Họ giam Mamurin vào nhà tù Lubyanka. Họ tống y đi nhưng họ không biết sau đó phải giải quyết tình trạng của y ra làm sao, phải đối xử với y như thế nào. Họ không có chỉ thị phải làm về vụ Mamurin, không có lệnh phải xử tù Mamurin và nếu xử tù thì cho tù bao nhiêu năm. Nếu Mamurin không phải là anh em đồng chí của họ, họ đã xử y “một phần tư thế kỷ và năm năm khóa mõm”, nghĩa là tù khổ sai hai mươi lăm năm và năm năm mất quyền công dân, và tống y đi Norilsk. Nhưng họ bị ám ảnh bỏi lời nguyền: “Hôm nay tôi, mai đến bạn”, những người bạn đồng nghiệp cũ của Mamurin ngấm ngầm ủng hộ y. Khi họ biết chắc rằng Stalin đã quên Mamurin, họ dàn xếp cho Mamurin đến sống ở Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino.
Vì vậy, trong một đêm mùa hạ năm 1948, họ đưa một tù nhân mới đến Mavrino. Tất cả mọi sự kiện liên can đến tù nhân này đều khác thường: Y được đưa tới trên một chiếc xe hơi du lịch chứ không phải trên một chiếc xe Maria Đen như tất cả những tù nhân khác. Y được viên quản đốc nhà tù đích thân đi đón về, và y được mời ăn bữa đầu tiên trong nhà tù ở trong văn phòng của viên quản đốc, bàn ăn của y đêm đó có trải khăn trắng đàng hoàng.
Những tù nhân có trước trong nhà tù này nghe biết – trên nguyên thể, họ không được nghe, thấy biét gì hết nhưng trên thực tế, họ vẫn nghe, vẫn thấy và vẫn biết hết mọi chuyện – tù nhân mới đến này nói rằng y không thích ăn xúc xích và viên quản đốc lễ phép mời y chịu khó ăn nhiều cho khỏe. Một tù nhân bị đau trên đường đi tới phòng khám bệnh nghe lỏm được những lời trao đổi này. Anh trở về kể sự lạ ấy với các bạn và đám tù nhân bán tán xôn xao một lúc về sự lạ ấy. Họ đi đến kết luận là dù sao đi nữa, kẻ mới đến cũng chỉ là một anh tù. Sau đó, họ ngủ.
Những sử gia của Nhà tù đặc biệt Mavrino không bao giờ xác định được rằng đêm đầu tiên ấy kể mới đến ngủ ở đâu. Sáng sớm hôm sau, ở một khu mà các tù nhân bị cấm không được đặt chân đến, một tù nhân chuyên viên thợ tiện, tình cờ chạm trán với một kẻ mới đến trong đêm qua.
“Ê bạn…” – người tù thợ tiện hỏi vội với ngón tay thô chọc mạnh vào ngực kẻ mới tới – “Bạn từ đâu đến? Bị vồ ở đâu? Vì sao? Ngồi đây, hút thuốc không?”
Nhưng kẻ mới đến lùi xa người tù thợ tiện với vẻ kinh hãi khinh mạng hiện rõ trên mặt. Người tù thợ tiện trợn mắt nhìn cái đầu hói và đôi mắt trắng của kẻ mới đến, anh giận dữ nói:
“Đồ phách chó. Để rồi khi anh vào ở chung với chúng tôi anh có chịu nói chuyện với chúng tôi hay không.”
Nhưng “Phách chó” không bị nhốt vào phòng ngủ chung với tù nhân. Bên cạnh hành lang đưa tới những phòng thí nghiệm, ở tầng thứ ba, ban quản đốc làm được cho y một căn phòng nhỏ, trước đây phòng này được dùng làm phòng tối rửa hình, họ khiêng vào đó một cái giường, một cái bàn, một cái tủ, một chậu cây cảnh và một cái bếp điện. Họ gỡ những tám ván ra khỏi khung cửa sổ, cửa sổ này không mở ra ngoài trời mà là nhìn ra một cầu thang nhỏ. Vì vậy ngay cả những buổi trưa trời nắng nhất, ánh sáng cũng không lọt được tới khung cửa sổ căn phòng nhỏ này. Cửa sổ còn có chắn song sắt. Những chấn song này có thể gỡ ra được nhưng ban quản đốc nhà thù, sau nhiều do dự, quyết định để nguyên. Những người có quyền ở đây cũng không ai hiểu rõ về tình trạng rắc rối bao quanh tù nhân này và họ cũng không biết phải xử sự làm sao cho đúng.
Từ đó, tù nhân mới tới được đặt tên là “Người mặt nạ sắt”. Trong một thời gian rất lâu sau đó không ai biết tên y là gì. không ai có thể nói chuyện được với y. Qua khung cửa sổ, những tù nhân đi lại trên cầu thang nhỏ trông thấy y ngồi cúi đầu trong căn phòng cô đơn, hoặc đi vất vưởng như bóng một cô hồn dưới hàng cây đề trong những giờ tù nhân bị cấm ra khỏi phòng giam. Mặt nạ sắt cũng gầy gò, xanh xao như bất cứ một tù nhân nào sau hai năm bị giam cầm nhưng việc y từ chối không chịu ăn xúc xích cho người ta biết rằng không phải y gầy xanh vì thiếu ăn hay vì bị thẩm vấn.
Lại qua một thời gian rất lâu sau nữa, khi Mặt nạ sắt làm việc với phòng Số bảy, tù nhân được những viên chức tự do cho biết rằng y chính là đại tá Mamurin, người khi còn là giám đốc Sở Liên lạc đặc biệt, đã cấm không cho bất cứ ai đi ngang cửa văn phòng của y được đặt gót giày xuống sàn, nghĩa là tất cả mọi người đi qua cửa văn phòng y đều phải đi kiễng chân, nhón gót để khỏi gây ra tiếng động. Nếu không, y sẽ từ trong phòng hầm hầm chạy ra, quát lớn: “Đồ thô tục. Có biết văn phòng ai đây không? Tên là gì?”.
Về sau, người ta được biết rằng sự khổ sở của Mamurin thuộc về tinh thần. Thế giới những người tự do hắt hủi, chê bỏ y và y không thể gia nhập thế giới của những người bị tù đày. Thoạt đầu, trong cảnh cô đơn, y đọc sách. Y đọc những tác phẩm bất hủ như quyển Chiến đấu cho hòa bình của Panferov, quyển Chàng kỵ sĩ sao vàng của Babayevsky. Y đọc Sobolev, Nikulin, rồi đọc thơ của Prokofiev và Gribachev. Và trong tâm hồn y một sự chuyển biến kỳ diệu xảy ra: y bắt đầu làm thơ. Người ta biết rằng sự bất hạnh và tình trạng đau khổ về tinh thần thường sản xuất ra những nhà thi sĩ và sự đau khổ của Mamurin sắc nhọn hơn sự đau khổ của nhiều tù nhân khác. Sống trong nhà tù đã hai năm nhưng không bị thẩm vấn cũng không bị đưa ra tòa xử, không có án, y vẫn sống giống hệt như y sống trước khi bị tù, nghĩa là tuân theo đúng những chỉ thị của Đảng, tôn thờ Lãnh tụ Tối cao. Mamurin thú thật với Rubin rằng không phải thức ăn trong nhà tù tồi tàn – (những bữa ăn của y được nấu riêng) – cũng không phải vì tình trạng phải xa những người thân trong gia đình – (mỗi tháng y được bí mật đưa về nhà riêng ủa y, nơi y ngủ lại một đêm) – y khổ sở và cay đắng chính là vì tình trạng Yosif Vissarionovich Stalin không còn tin cẩn y nữa. Y đau đớn vì y không còn là một vị đại tá, vì y bị thất sủng. Chính vì vậy mà những người như Rubin và Mamurin sống khổ sở trong tù hơn là những người tù khác thù hận, chống đối chế độ.
Cơ quan là một đảng viên Cộng sản. Nhưng sau khi nghe những lời thở than, tâm sự của Mamurin và nhất là sau khi đọc tập thơ của Y. Rubin trở thành lẩn tránh y. Rubin vui vẻ sống với những người chỉ trích anh một cách bất công nhưng chịu chung cảnh ngộ với anh.
Về phần Mamurin, y bị thôi thúc vì một ý muốn, ý muốn này cũng làm cho y nhức nối, khó chịu như những cơn đau răng da diết: ý muốn chứng tỏ giá trị con người của y qua việc làm. Nhưng than ôi, những hiểu biết chuyên môn của Mamurin về liên lạc và truyền tin, mdà y từng là một viên chức cao cấp trong ngành, chỉ là việc nhấc ống điện thoại lên quay số và nói. Do đó y không sao có thể tự y làm việc được, y chỉ có thể sai khiến người khác làm việc mà thôi. Nhưng việc điều khiển một dự án nào đó do dự án của người khác làm việc ra không bao giờ có thể làm cho y chiếm lại được sự tin cẩn của Người Bạn Thân Nhất của công nhân truyền tin 1, y cần phải nghĩ ra một dự án riêng để đệ trình lên Lãnh tụ.
Trong thời gian Mamurin phát minh ra được điều này, Viện Nghiên cứu Mavrino đang sửa soạn thực hiện hai dự án đáng kể, hứa hẹn nhiều vinh quang. Đó là dự án chế tạo máy Vocoder, một máy đo tiếng nói, và thiết lập Phòng Nghiên cứu số Bảy.
Vì những nguyên nhân sâu xa nhưng vô lý nào đó, người ta thường có cảm tình hay ác cảm với nhau, chịu nhau hay không sao chịu nổi nhau, ngay từ giây phút gặp gỡ đầu tiên, từ cái nhìn thấy mặt nhau thứ nhất. Yakonov và Roitman có ác cảm với nhau và không chịu nhau. Thời gian trôi quan, sự ác cảm này càng nặng nề, họ như hai con vật cùng bị một bàn tay mạnh hơn đưa vào kéo chùng một cái gông, họ như hai con ngựa bị ghép chung vào một cái xe, hai con ngựa không sao thoát ra được nhưng kéo đi về hai hướng khác nhau. Khi công tác chế tạo máy điện thoại bí mật được thực hiện ở Mavrino, Roitman quy tụ tất cả những tù nhân chuyên viên xuất sắc mà y có thể quay tụ được vào làm việc trong Phòng Âm thính. Để trả đũa, Yakonov cũng nhặt nhạnh tất cả những chuyên viên tài giỏi trong nhà tù về làm vệic trong Phòng số bảy do y lập ra và điều khiển. Yakonov còn đêm tất cả những dụng cụ khoa học tốt nhất tập trung về Phòng số bảy. Trong trận tranh chấp quyết liệt và tàn nhẫn này, Roitman có vẻ yếu thế hơn.
Yakonov bắt buộc phải lập lên Phòng Nghiên cứu số bảy vì y không thể để cho Roitman làm hết mọi việc ở ngay thiết bị Viện Nghiên cứu mà y được cử làm giám đốc. Y phải chứng tỏ cho thượng cấp biết là y mẫn cán, y có khả năng. Kể từ ngày đó Yakonov có thể có mặt trong Viện ban đêm hay không tùy ý. Và người tù cô đơn với đôi mắt nhiều tròng trắng hơn tròng đen, viên cựu đại tá từng giữ chức giám đốc Sở Liên lạc đặc biệt, người tù từ chối không chịu ăn uống, tạm đè nén hứng thơ để làm việc như một tên nô lệ cho đến hai giờ sáng trong Phòng số bảy. Chỉ có một mình Mamurin có thể làm việc được nhiều giờ như thế vì ý là tù nhân duy nhất không bị viên chức canh gác trong nhà tù này.
——————————–
| 1 | Người Bạn Thân Nhất đây chính là Stalin. Ở Nga dưới thời Stalin ngự trị, tất cả mọi ngành công nhân đều gọi Stalin là Người Bạn Thân Nhất, cả những binh chủng cũng vậy. |
baotreonline.com
Trần Vũ
February 5th, 2021
Post by Sơn râu 16 Feb 2026
Lần đầu tiên bi ký Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam dịch sang tiếng Anh, dưới tựa PEACE AND PRISONERS OF WAR, do đích thân Thượng nghị sĩ James Webb giới thiệu và US Naval Institute xuất bản.
Hiệp định đình chiến Paris ký ngày 27 tháng 1-1973 chưa ráo mực, Phan Nhật Nam là nhà văn quân đội đầu tiên đặt câu hỏi về thân phận tù binh. Tù Cộng sản… Tù Cộng hòa là tựa của chương thứ 7 trong tập bi ký dữ dội nhất văn nghiệp Phan Nhật Nam. Nửa thế kỷ sau đọc lại, vẫn là những dòng chữ viết một mạch với bi phẫn và giận dữ.
Phan Nhật Nam là thần tượng tuổi thơ của tôi những năm 12 tuổi. Tôi khám phá Trung tá Nguyễn Đình Bảo chết trên đồi Charlie qua anh. Tôi khám phá Trung tá Lê Văn Ngôn tử thủ Tống Lệ Chân qua anh. Tôi cực xúc động khi đọc Tù Binh và Hòa Bình vào lúc Phước Long thất thủ tháng 1-1975. Phan Nhật Nam giúp tôi biết, là quốc gia đang vào đường cùng. Những linh mục viết cáo trạng hàng ngày khi ấy, những thượng tọa xuống đường mỗi ngày trong lúc Ban Mê Thuột hấp hối… Ai nhớ đến tù binh?
Tôi biết đến lồng ngực nở nang của tù binh Bắc Việt giam ở Phú Quốc và nỗi sợ hãi tột cùng của người tù miền Nam khi trao trả ở Minh Thạnh, quốc lộ 13, trong những ngày này. Người lính miền Nam tiểu ra quần vì sợ bị giữ lại. “Có chắc trả không Đại úy, tụi em có được trả không Đại úy… Em sợ tụi nó lắm, tụi nó tàn ác không phải như người đối với nhau… Em sợ xin nó đi tiểu rồi nó giữ lại không trả thì chết mất… “ Tôi lên 13, đối thoại 2 câu ngắn in trong tâm trí cho đến giờ. Sau 75 tôi lên 14, vượt biên bị bắt giam ở Phan Thiết, chung với sĩ quan cấp úy cải tạo, tôi đã chứng kiến tận mắt các nữ quân nhân VNCH bị đánh đập trong trại Tuy Phong.
Lần đầu tiên Tù Binh và Hòa Bình dịch sang tiếng Anh, là cơ hội cho các bậc phụ huynh mua sách cho các con không thạo Việt ngữ. Để thế hệ thứ nhì hiểu những gì đã xảy ra. Vì sao cha mẹ phải lìa quê.
Cùng với Tù Binh và Hòa Bình, Mùa Hè Đỏ Lửa cũng được dịch sang Pháp văn dưới tựa UN ÉTÉ EMBRASÉ, bản dịch của Liễu Trương, Nxb L’Harmattan, 2019. Bạn đọc có thể mua sách qua link: Học viện Hải quân Hoa Kỳ hoặc Amazon. [Trần Vũ]
Phan Nhật Nam
Phi đạo nằm theo hướng Nam – Bắc vạch một đường đỏ thẫm giữa lòng rừng cao su xanh lá. Trực thăng hạ xuống theo lối xoắn trôn ốc, mặt phi đạo hiện rõ dần… Bước xuống sân bay Minh Thạnh, cách quốc lộ 13 không đầy mười lăm cây số đường chim bay. Tôi vào đất địch.
Dưới tàn cây xanh im bóng, trong khu rừng tịch mịch, từ tốn hít từng hơi thuốc ấm, nghe tiếng gió vi vu thổi qua hàng lá dày… Tôi tận hưởng hết tất cả bình yên trước một ngày căng thẳng. Ðám cán bộ Cộng sản đến từ Sài Gòn đang “hội ý” với những cán bộ địa phương. Chỉ còn khoảng thời gian “trong sáng” này để sống cho riêng mình. Nửa giờ nữa, một con người thật lạ phải thế chỗ trong tôi. Hôm nay, tôi dự kiến cuộc trao trả về phía Cộng sản bốn trăm người và nhận lại hai trăm. Ðịa điểm này tôi đã xuống một lần, đã biết được thế nào là chiến pháp cư xử của cán bộ Cộng sản miền Nam có cán bộ Cộng sản miền Bắc chỉ huy kiểm soát. Biết, nên giương sẵn mọi cẩn thận đề phòng. Minh Thạnh – Tây Ninh.

Mật khu Ba Thu nằm bên kia biên giới Miên – Việt chỉ cần một ngày một đêm di chuyển. Nhân viên của cục R đã ra mặt hoạt động. Khu rừng cao su mông mênh, những người Mỹ ngồi bên cạnh nhỏ to thì thào, tôi lọt hẳn giữa những bủa vây im lặng mở đầy phong ba.
“…Ðể tránh gây khích động tâm lý nơi những người sắp được trao trả, để biểu lộ lòng yêu chuộng hòa bình đích thực trong tinh thần hòa hợp và hòa giải dân tộc… Chúng tôi yêu cầu Ðại úy Nam chỉ thị cho quân cảnh không được mang vũ khí vào khu vực trao trả, tất cả phải để lại trên máy bay…” — Anh cán bộ Mặt Trận Giải Phóng mở đầu.
Tôi cúi đầu nhìn xuống đất cỏ, phân chia lời nói theo các thứ tự để trả lời… Không được mang vũ khí, lại một khó khăn mới. Việt cộng quả hơn người ở điểm sáng tạo, mỗi ngày phải gây thêm một khó khăn. Những đòi hỏi kế tiếp: Trực thăng không được lượn vòng trên phi đạo (?!); Quân cảnh phải gọi “anh” trước tên mỗi tù binh. Quân cảnh không được điểm danh tù khi trao trả (Dù phía MTGP chưa ký nhận chữ ký cuối cùng ở mỗi danh sách). Những anh Ủy Ban Quốc Tế gật đầu, những anh Bắc Việt gật đầu, những anh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trong tổ Liên Hợp cũng gật đầu… Trung tá Tuệ, gã cán bộ tuổi quá ngũ tuần, da xanh bụng ỏng ồ ề giọng nói đầy những âm thanh đặc thù của vùng quê Bắc Việt. Trung tá Tuệ, chỉ huy trưởng phi trường Minh Thạnh, người có kiến thức quân sự phi trường ở câu nói: “Cứ bảo máy bay C-130 đáp xuống đi, cán bộ phi trường của chúng tôi bảo đáp được…!! Cán bộ “kỹ sư phi trường” Minh Thạnh, một anh mắt toét, răng hô hấp him đôi mắt nhìn ra phi đạo ửng nắng gật gật chiếc đầu xác nhận sự đồng tình góp ý với đồng chí chỉ huy phi trường. Ai bảo Chủ nghĩa Xã hội vô giai cấp? Chú Mạ Què quả tình là nhân vật chống Cộng hữu hiệu và đúng cỡ nhất đối với Cộng sản Á Châu.

Máy bay sắp đến, tôi phải chấm dứt màn kịch để bắt đầu công việc. Trung tá “tư lệnh” phi trường Minh Thạnh bệ vệ lên chiếc xe Jeep mang huy hiệu Nhảy Dù… A! Người Cộng sản vẫn biết xỏ xiên láu cá như ai (vì họ thấy tôi mặc đồ rằn ri nên lấy chiếc Jeep bắt được của Nhảy dù ra lái).
Cuộc trao trả bắt đầu với những phiền toái bực mình cố hữu. Những bộ áo quần gượng gạo vứt bỏ khỏi thân thể, những hộp trái cây, hộp thịt e dè ném đi, những cánh tay đưa lên hô khẩu hiệu hững hờ, những ánh mắt lơ láo, những cái siết tay nồng nàn nhạt thếch… Cả một lớp hài kịch bi thảm dằng dặc cũ kỹ được diễn lại trong gượng gạo thảm thương pha lẫn vị khôi hài. Bộ quần áo nâu mới và bọc quần áo (của VNCH cấp phát) được ném đi để nhận lại một tấm khăn rằn mỏng như vải mùng cùng một bộ áo quần xanh mới nhuộm lem luốc đậm nhạt từng khoảng màu loang lổ. Hài kịch “cách mạng” ném áo quần này không hiểu do rỉ tai nào đã xúi giục vì những cuộc trao trả trong những ngày đầu tiên (12, 13 tháng Hai 1973) tại các địa điểm Lộc Ninh, Thạch Hãn không thấy thực hiện, và chắc chắn không phải do tự ý tù binh; vì hơn ai hết, những người này sau khi được trao trả, họ sẽ không còn dịp nào để có những bộ áo lành lặn, tốt đẹp, chắc chắn như thế này. Bộ quần áo nâu có chữ T.B. (tù binh) bắt buộc phải cởi đi nhưng những chiếc quần lót, mùng chăn là những vật dụng không thể nào có được nữa. Chẳng phải là lý luận suông nhưng cứ nhìn y phục của đoàn quân “cách mạng” mới biết thế nào là sự thiếu thốn, tàn tệ của quân đội Cộng sản, Cộng sản Nam cũng như Bắc. Những bộ áo quần sờn mòn (đây là dịp trọng đại mới đem ra mặc) những chiếc dép vẹt đế. Tất cả y phục tội nghiệp nghèo khó đó thật khó hòa hợp với những khuôn mặt kiêu căng đầy vẻ tự mãn trẻ con đến độ buồn cười. Nét kiêu căng của “Nhân dân Cách mạng giác ngộ” hiến thân cho Ðộc Lập, Dân Tộc và Chủ Nghĩa!!! Có một điều gì bất ổn trong cảnh sống của người Cộng sản. Loại người đặt căn bản hành động trên hệ thống luận lý biện chứng duy vật nhưng lại hướng đến những tiêu chuẩn tâm linh nhiều hơn ai hết… “Tự do, Cộng sản, Xã Hội, Cách Mạng” rốt cuộc chỉ là những danh từ trống được bơm vào đó chút say sưa kích thích để xô đẩy cả bao thế hệ vào dòng vận động cuồng tín… Năm 1973, năm của những tiến bộ khoa học tưởng chừng như trong chuyện cổ tích, nhưng người Cộng sản Việt Nam vẫn phải khó khăn đấu tranh với từng mẫu sắn, từng lon gạo, một hai điếu thuốc khô, dăm ba chiếc kẹo ngọt trên bước đường đấu tranh thần thánh thực hiện Chủ nghĩa Xã hội thì quả tình quá tội nghiệp. Cả một đội vận tải trên đường dây “Chủ Nghĩa Xã Hội” (đường mòn Hồ Chí Minh) phải “hội ý” (hội họp) từ năm giờ chiều đến chín giờ tối để đạt “tiêu chuẩn”.. cho “tiếp thu” năm điếu thuốc. Ðội vận tải gồm những kỹ sư, bác sĩ, những cán bộ mang quân hàm trung, thiếu tá phải bình nghị, hội họp suốt bốn tiếng đồng hồ để đạt “tiêu chuẩn” phân chia năm điếu thuốc Ðiện Biên. Thế nên cuộc cách mạng vô sản giải phóng miền Nam phải cần nhìn lại mục đích và phương tiện. Phải chăng cách mạng đã là một việc vô ích và quá phí phạm phương tiện. Nhưng phương tiện “người” trong chế độ Cộng sản phải chăng là yếu tố không hao mòn, yếu tố không cần phải lý hội.
Tôi không nhìn sự “nghèo” của người Cộng sản để dè bỉu, nhưng quan niệm tính chất “nghèo” đó là một ưu điểm cần phải đấu tranh để thực hiện thì không thể nào chấp nhận được với đầu óc bình thường.

Quân Cảnh VNCH trao trả nữ tù binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam năm 1973
Người Cộng sản Việt Nam đã thực hiện được gì trong ba mươi năm đấu tranh trên đại dương mênh mông xác chết, chiếc xe đạp của một cán bộ cao cấp ở Hà Nội, bộ áo quần thô kệch của viên “tư Lệnh phi trường Minh Thạnh”, bữa cơm không có thịt trong suốt mười tám năm của người dân Tuyên Quang miền Bắc, hai điếu thuốc lá được viên kỹ sư máy nổ “tiếp thu” trên đường dây Chủ nghĩa Xã hội như mặt trái của tấm gương phản chiếu những chữ nghĩa rực rỡ, nghe xa xăm như một giấc mộng mơ hồ không bao giờ có thật.
Tàn tệ như thế, thê thảm như thế, nhưng người tù Cộng sản trước giờ trao trả khi bước ra khỏi lòng máy bay, chân bước xuống mặt đất “giải phóng” phải hành động như một lũ người mê man… Tay vỗ vào nhau, mồm cất giọng khàn đặc… “Ðoàn kết chúng ta là sức mạnh… Thề chết không hề lui. Giết cho hết loài bán nước…” Giết cho hết loài bán nước thì quá sai với “Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc” mà những người lính Cộng sản “Nam Việt Nam” xuất phát từ trại Xuân Mai, Hà Ðông, nói giọng Sơn Tây, Thái Bình đang nhắc đi nhắc lại hoài xem như là phương châm chỉ đạo mới! Bài hát phải được xì xào chỉ thị đình chỉ, để bậm tay nâng cao hoan hô: “Hồ Chủ Tịch muôn năm… Tinh thần chống Mỹ cứu nước bất diệt…” Hồ chủ tịch không hề là chủ tịch của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và “tinh thần chống Mỹ” thì quả tình đã được xóa tan từ lâu. Tôi muốn nhắc họ yếu tố nầy. Nhưng như một lũ đồng bóng đã bị cốt nhập, đám tù bắt đầu cởi áo quần, ném tay nải… Chiếc quần lót, vật xa xỉ trong chế độ Cộng sản được ném đi với hối tiếc không giấu được trong ánh mắt để bặm môi, quắc mắt, vung tay hô to khẩu hiệu. Sự hận thù dù cần thiết trong cuộc chiến bi thảm cũng đã là một điều tàn nhẫn, huống gì bây giờ (khi tiếng súng tạm ngừng nổ trên văn bản Hiệp Ðịnh Paris), nên những khích động căm hờn, những xúi giục phẫn nộ này mang một nét bạo ngược tàn ác lỗi thời… Anh cảm hóa ai? Thù hận người nào? Ai là lũ bán nước? Ôi nước rách tan không do sự góp tay tích cực của người Cộng sản sao? Căm thù lũ bán nước, giết lũ tham tàn, mùa thu 1945, mùa đông 1946, cuối thập niên 50, đầu những năm 60, đã được hát bao nhiêu lần, đã được vỗ tay bao nhiêu lần…
Người Pháp, Ông Diệm, chống Mỹ… Bao nhiêu đối tượng đã thay đổi mà nội dung cứ mãi cũ kỹ nhạt nhòa. Thật lạ, có những quy luật sơ đẳng tưởng chỉ như là chuyện đầu môi hóa thành động lực căn bản. Căm thù, thứ gia vị thô thiển độc địa mà người Cộng sản thêm vào bữa tiệc máu người Việt Nam không chán ngấy. Cộng sản sẽ là gì khi không còn kích thích tố mê man đó? Con chó Pavlov không thể nhỏ giọt nước bọt nếu thiếu tiếng chuông khêu gợi. A! Chỉ mỗi tiếng chuông lạnh đó, chỉ mỗi hai chữ ngắn nhức nhối kia mà cả một khối người bị chi phối, những người có đủ trí thức, giác quan nhưng đã mất phần nhân bản, người còn xác nhưng lạc hồn, người không phải sống cho người nhưng cho Cách Mạng, cho Tổ Quốc, Hòa Bình, Tiến Bộ, Xã Hội Chủ Nghĩa… Câu hỏi không phải là phản ứng cực đoan của một tinh thần “chống Cộng” quá độ. Tôi chỉ muốn tự hỏi sao có những con người quá quy tắc, bị kìm kẹp, huấn luyện đến độ cuồng tín như thế này. Vì được trả tự do, phải có nghĩa là nhảy lên khỏi mặt đất chật hẹp, phải vung tay thật cao để hít cho hết lượng gió mát mênh mông của trời cao; nhưng những người tù Cộng sản không được quyền biểu lộ niềm sung sướng đó, họ phải chứng tỏ “kiên gan, duy trì tinh thần quyết chiến, quyết thắng…”; họ phải biểu lộ “lòng căm thù không suy giảm, trí căm hờn không phôi phai…” Họ phải quên những giờ khắc của năm trước, năm kia khi phải đưa tay đầu hàng trước mũi súng của người lính Nam Việt, phải quên những đối xử nhân đạo sau khi đã trao cây súng, phải quên điếu thuốc chân thành được mời hút dù trong vị thế tù binh… Họ phải quên luôn thực tại. Một thân thể chắc cứng khỏe mạnh với lồng ngực nở nang, những bắp thịt ở vai ở lưng cuồn cuộn… Thân thể căng phồng chiếc áo tù binh, hừng hực mùi muối bể và không khí tốt lành của trại giam Phú Quốc, thân thể cường tráng vạm vỡ nổi bật lên dưới ánh nắng, tương phản cực độ với thứ nước da xanh tái, hình vóc còm cõi thiếu hụt của những đồng chí tiếp đón. Người tù cộng sản phải quên hẳn sự thật trên thân thể họ để đứng lên tố cáo: “Chế độ giam giữ hà khắc tàn nhẫn của trại giam Phú Quốc…” Viên trung úy Bắc Việt lóng cóng chiếc máy ghi âm để thâu lời tố cáo… Nhìn thân thể gầy gò của anh ta dưới chiếc áo đại cán lụng thụng bên cạnh lồng ngực trần cường tráng của gã tù binh khi nghe câu tố cáo “Trại giam đã bỏ đói, hành hạ chúng tôi…” Cùng với sự chăm chú ghi nhận của các sĩ quan Ba Lan, Hung Gia Lợi, tôi nghe trong lòng nỗi phẫn nộ bão bùng dấy lên như giông tố… Sự thật được che đậy và lật ngược trong tráo trở tỉnh táo, ngang ngược vô liêm sỉ đến tận cùng!!

Quân cảnh VNCH phát thêm thực phẩm cho tù binh trước khi trao trả.
Vì sự thật không phải chỉ trên thân thể gã tù Cộng sản, sự thật còn ở cuối phi đạo cách nơi trả tù Cộng sản năm trăm thước, góc rừng hai trăm người lính Nam Việt ngồi im lặng với cặp mắt đứng tròng…
“Có chắc trả không Ðại úy, tụi em có được trả không Ðại úy…”
“Chắc mà, chiếc trực thăng bay đi thì có chiếc kia lại liền… Tôi đến đây để lãnh các anh em…”
“Ðại úy, em… có được trả về mình không…”
Cả trăm con người ngồi thì thào to nhỏ, lo sợ từng tiếng nói, lo sợ từng đầu ngón tay lóng cóng đón điếu thuốc do tôi mời, lo sợ ở đôi mắt lạc thần cứ coi chừng mãi “anh cán bộ”… Tôi muốn nói một câu gì thật đủ, tôi muốn làm một việc gì thật mạnh mẽ, muốn ôm lấy hết hai trăm người lính đưa họ ra thẳng trực thăng, bay lên thật nhanh, để tránh khỏi vùng rừng cao su thẫm đặc, những gã cán bộ canh gác lầm lì soi mói, nét độc ác ngấm ngầm tràn đầy trên những sợi gân mắt đỏ rực… Tôi muốn đẩy đám sĩ quan Ba Lan, Hung Gia Lợi, Gia Nã Ðại… đến tận từng người tù để họ thấy lớp da người lở loét ăn sâu xuống phần xương tay, để họ thấy những đôi mắt hủng, chiếc má vàng bủng tưởng như đọng cứng cả một khối vi trùng độc hại dưới lớp da mỏng tanh vàng bệch… Tôi muốn hét to cho cả khu rừng, cho cả thế giới biết đâu là cường bạo, đâu là sự thật, gã tù nhân trại Phú Quốc cách xa đây năm trăm thước với lồng ngực vạm vỡ cùng những lời tố cáo như một cái xiên nung đỏ chọc hẳn vào mắt tôi khi nhìn người tù Việt Nam Cộng Hòa không kêu nổi được tiếng “có mặt” loạng choạng run rẩy từng bước một, đi qua chiếc bàn của nhân viên trao trả… Sự thật ở hai thân thể đối cực này nhưng tại sao cả thế giới, cả hằng triệu người trên thế giới vẫn dành riêng những ý niệm tốt đẹp cho người Cộng sản, cả những người chân tu, những nhà hiền triết hình như đều nghĩ một chiều, hướng một phía, phía Cộng sản. Tôi muốn gọi họ đến đây chỉ vào từng đôi mắt người tù để cả nhân loại ngộ nhận tìm được sự thật… Người tù binh đứng dậy, một đáy quần sũng nước. Trong cơn chờ đợi thảng thốt người lính đã đái ra quần!!!… Không phải vậy, phải nghe lời anh nói: “Em sợ tụi nó lắm, tụi nó tàn ác không phải như người đối với nhau…”, “Em sợ xin nó đi tiểu rồi nó giữ lại không trả thì chết mất…” Tôi muốn chảy nước mắt, tôi muốn khóc giòng phẫn nộ… Gã Ba Lan đâu rồi? Tôi muốn hắn ta nghe lời nói, tiếng kêu của người đã ở trại giam Cộng sản.

Tù binh Bắc Việt chơi túc cầu trong trại giam Phú Quốc.
Hình như mọi người giấu mặt, hình như mọi người đã đánh mất lương tri, chẳng có ai chụp hình vũng nước tiểu đọng trên nền đất phủ đầy lá, chẳng ai chụp hình hai trăm con người ngồi dật dờ như một đám xác chết chưa tẩm liệm, sao không có tên Hung Gia Lợi nào chụp hình người tù Nam Việt ngã quỵ trên phi đạo mồm sủi nước dãi vì thiếu ăn!!
Hung Gia Lợi, Chúng ta đã dành cho dân tộc này biết bao cảm tình trong những ngày Budapest đổ máu cho tự do. Nhưng hình như những người Hung yêu tự do, sống cho sự thật đã không đến nơi này, chỉ có đến đây những cán bộ Cộng sản mang quốc tịch Hung Gia Lợi. Hóa ra người sống cùng người không phải do tương quan của hai chủ thể nhân bản nhưng do chính trị của quốc gia, đảng phái xác định. Người Hung Gia Lợi phải ủng hộ Cộng sản Việt Nam và gây bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ thị đã được học tập, phổ biến thế, nên gã tù Bắc Việt với thân hình lực sĩ lớn tiếng tố cáo chế độ giam giữ hà khắc của Việt Nam Cộng Hòa vẫn hữu lý hơn hình ảnh người tù Nam Việt ngồi lạc thần, không dám tin vào sự thật sắp được trao trả, kiệt sức để không nói lên được hai chữ “có mặt”…Chỉ thị đã ban bố, gã sĩ quan Hung phải xóa bỏ lương tri, phải tự che mắt để không thấy sự kiện, gã chỉ được chụp hình người tù Bắc Việt đưa tay lên hô đả đảo, bỏ qua bàn tay ghẻ lở thấu xương của người tù Nam Việt Nam. Cách vong thân đi đến mức tuyệt hảo khi quan niệm hành xử như thế là đúng với công lý và chân thật!!! Không phải chỉ mỗi Trung tá Martin thuộc nước Cộng Hòa Nhân Dân Hung Gia Lợi này tin vậy, nhưng hình như toàn thể nhân loại. Những dân tộc tiến bộ và yêu chuộng hòa bình của toàn thể thế giới. Ðều mắc phải chứng bạo ngược tâm lý với dân tộc Việt Nam. Phải có một ngày sự thật nầy hẳn được nhận ra.

Quân cảnh VNCH phát thực phẩm cho tù binh.
PNN, tháng 3-1973
Trích bi ký Tù Binh và Hòa Bình, Nxb Hiện Đại, Sàigòn 1974
vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 15 Feb 2026

13. Đảng, tên đầy tớ phản phúc
Ngày 5 tháng 1, 2012 ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị dồn vào đường cùng, đã chống lại việc cưỡng chế đất đai vô lý, bắn bị thương 4 công an và 2 bộ đội. Để trả thù, chính quyền đã phá sập ngôi nhà của anh dù nằm ngoài khu đất tranh chấp, nhưng Phó chủ tịch thành phố Hải Phòng Đỗ Trung Thoại trong một cuộc họp báo đã tráo trở nói rằng, “Việc phá nhà ông Vươn là do “nhân dân” bất bình không đồng tình với việclàm của ông Vươn!”
Thật tội nghiệp cho “nhân dân”. Nhân dân là cái bóng ma mà chế độ Cộng Sản luôn luôn nhân danh để lấy lòng dân đen cả nước, nhưng cũng là một thứ bóngma để đem ra hù dọa mọi người, vì cái gì nhân dân làm, cái đó là chính nghiã. Nhà nước và đảng làm, xong cứ đổ tội cho nhân dân là xong chuyện. Chuyện lớn như Tết Mậu Thân ở Huế thì cũng chính nhân dân nổi dậy mà chôn sống 6.000 người, chuyện nhỏ như phá nhà, hôi của của ông Đoàn Văn Vượn thì cũng do nhân dân”bức xúc” mà làm! Chính quyền, công an, bộ đội luôn luôn công minh, chính đại, có bàn tay sạch sẽ, không hề bẩn mà cũng chẳng bao giờ dính máu.
Một danh từ khác để đổ tội cho “nhân dân”là danh từ “quần chúng tự phát.” Tại giáo xứ Mỹ Lộc nhà cầm quyền bố trí hàng trăm công an, an ninh, dân phòng mặc thường phục tấn công, đánh đập đồng bào ở đây rất dã man, làm mười một người phải vào bệnh viện, nhưng lại đổ cho đó là “quần chúng tự phát,” nghĩa là chính phủ hoàn toàn không chịu trách nhiệm những điều gì do “nhân dân” làm. Gần đây nhà nguyện Con Cuông ở Vinh bị đặt bom, lại có hai người đi xe máy tới nhà thờ lúc 2 giờ sáng, quăng bom tự chế vào nhà thờ. Đó cũng là “quần chúng tự phát!”
“Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là khẩu hiệu mà người dân dưới chế độ Cộng Sản đã thuộc nằm lòng. Thậm chí chúng còn giương cao biểu ngữ: “Đảng là người đày tớ của nhân dân!” Và vì dân ngu, được ôm cái bằng khoán cũng như cái bản tuyên dương được làm chủ, nhưng như trong một công ty, ban lãnh đạo quyết định, chỉ đạo hết mọi chuyện, nhà nước là anh thủ kho ôm hết tài sản, còn nhân dân là anh chàng hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng. Nếu công ty thua lỗ, ban lãnh đạo cấu kết với thủ kho chia nhau tẩu tán tài sản đi nữa, thì anh nhân dân làm chủ cũng chẳng có miếng nào. Dưới chế độ Cộng Sản, đất nước như một nhà máy, đảng là Ban Gíam Đốc, chính phủ là Ban Quản Lý, có tài sản, nhà cao cửa lớn, xe đời mới, còn công nhân là những người làm thuê với đồng lương rẻ mạt, ở nhà ổ chuột, còng lưng đi xe đạp. Nhân danh nhân dân là nghề của Cộng Sản. Cái gì cũng của nhân dân, từ bộ đội nhân dân, công an nhân dân, bệnh viện nhân dân … chỉ trừ những nơi có hơi xôi thịt là của nhà nước như ngân hàng, cục dự trữ và ủy ban chứng khoán …
Tản Đà trong bài cảm đề tiểu thuyết “Tờ chúc thư” đã có câu rằng:
“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn
Cho nên quân nó dễ làm quan.”
Dân ngu vì dưới chế độ chẳng ra gì, có khôn ngoan, bị đối xử bất công cũng chẳng biết kiện tụng, cậy nhờ vào ai như câu chuyện của Ngu Công sau đây: Tề Hoàn công đi săn, đuổi theo con hươu. Hươu sợ quá chạy vào một cái hang. Thấy một ông lão gần đấy, bèn hỏi:
-“Hang này tên gọi là gì?”
-“Bẩm, đấy là hang Ngu Công”.
– “Tại sao lại có cái tên lạ thế? Ta xem ngươi đâu phải là kẻ ngu!”
– “Thưa, tại tôi đây mới có cái tên ấy. Nguyên tôi có một con bò cái đẻ được một con bê. Khi bê lớn, tôi đem ra chợ bán và mua một con ngựa con đem về nuôi chung với con bò cái, chờ lớn để kéo xe. Một hôm có tên du côn đến nói: “Vô lý! Bò làm sao đẻ ra ngựa được!” rồi y bắt ngựa của tôi mang đi. Tôi bị ép chế, nhưng sợ họ gây chuyện, đành chịu mất, chớ biết kêu vào ai bây giờ! Từ đó mọi người cho tôi là “ngu” và gọi cái hang gần chỗ tôi ở là hang Ngu Công. Buổi thiết triều hôm sau, Tề Hoàn công thuật lại chuyện này cho quan Tướng quốc là Quản Trọng nghe,
Quản Trọng bèn tâu:
– Nếu được một đấng minh quân như vua Nghiêu, được một tể tướng như Cao Dao thì làm gì mà có kẻ dám ngỗ ngược chiếm đoạt ngang nhiên như thế được. Ngu Công mất ngựa, nhưng biết rõ hình pháp nước ta không ra gì, chẳng ai phân xử cho phân minh, đành chịu cắn răng mà làm kẻ ngu. Xin bệ hạ kịp thời chỉnh đốn các chính sách, hình luật lại.” Bắt chước lời Quản Trọng, chúng ta cũng có thể nói:
Những người như dân oan bị cướp đất cướp nhà, đành chịu thiệt vì pháp luật bất nghiêm, giềng mối (*) lỏng lẻo, không ai phân xử vì cường quyền bạo ngược, phủ bênh huyện, huyện binh phủ cũng được gọi là dân ngu.
Nông dân bị xã ấp chèn ép, dùng công an, bộ đội khống chế như trường hợp Đoàn Văn Vượn, mà không biết dùng súng đạn chống lại, đành chịu thiệt một bề, thì cũng gọi là dân ngu. Dân càng ngu thì chính phủ càng lộng quyền, áp chế. Dân ngu vì không biết tin cậy vào ai. Chính phủ, tòa án, quốc hội cũng một phường.
Qua cuộc thảo luận tại Quốc hội VN vừa qua về luật biểu tình, dân biểu Hoàng Hữu Phước, khẳng định là “ khi nào trình độ dân trí cao hơn thì mới có thể ban hành luật biểu tình.” Có nghĩa là dân còn ngu, đâu cần đến luật lệ. Có luật còn chẳng làm gì, huống chi không luật, cứ việc tùy tiện mà đối xử với dân ngu là xong.
Mạnh Tử chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.” Cộng Sản Việt Nam lại chủ trương “đảng vi quý, xã tắc thứ chi, dân vi khinh.” Hai vế đầu thì chúng ta đã thấy “thà mất nước còn hơn mất đảng,” vế cuối “dân vi khinh” thì chúng ta đã thấy rõ, cảnh cướp nhà cướp đất làn cho nhân dân cơm đùm gạo bới từ Hậu Giang, miền Trung ra đến Hà Nội gặp “ông chính phủ” để kêu oan với lời gọi thống thiết: “Hỡi ông chính phủ, về cứu lấy nhân dân!” Không khinh dân sao dân bị bợp tai đá đít, bị lôi đi như con chó, bị đạp vào mặt, bị đánh chết vô tội vạ, nói chung là bị tước đoạt hết quyền làm người. Phóng viên RFA đã ghi nhận lời một người trong nước, ông Lê Duy Bắc: “Bây giờ nhà cầm quyền họ thích đâm, thích chém, thích giết ai thì họ giết. Người dân trong taykhông tấc sắt thì làm gì được.”
Đúng! Đảng là người đày tớ của nhân dân! Nhưng nhân dân hiện nay đang gặp phải tên đày tớ phản phúc!
(*) Trong cuốn “Quản Tử” tương truyền là tác phẩm của Quản Trọng (mất năm 645 BC) có nói đến “quốc hữu tứ duy”(國有四維) nghĩa là nước có bốn giềng mối: lễ -nghĩa- liêm-sỉ; một giềng mối đứt thì nghiêng, hai giềng mối đứt thì nguy, ba giềng mối đứt thì đổ, bốn giềng mối đứt thì mất.
Giao Chỉ – San Jose
Post by Sơn râu 15 Feb 2026
(Tôi thường không hay chuyển tiếp thơ văn của anh em, ngại làm phiền thân hữu. Nhưng lần này ngoại lệ. Nhìn tấm hình anh không quân cụt 2 chân, bèn gửi đến các bạn bài thơ của Đỗ tiến Đức. Và tổ chức một bữa cơm gia đình mời anh em tham dự. Giao Chỉ-San Jose)

Di ảnh KQ DƯƠNG THỚI NGHIỆP
phi đoàn 235 Pleiku, đã qua đời tại chợ An Giang 2005
Anh không còn đôi chân. Lướt trên sàn khiêu vũ.
Anh không còn đôi tay. Kê đầu em giấc ngủ.
Anh chẳng còn là người. Nhưng chưa thành muông thú.
Môi đã tắt nụ cười. Mắt như vì tinh tú.
Anh chiến sĩ ngày xưa, Là thiên thần mũ đỏ.
Chân anh mang giầy saut. Tay lái dù trong gió.
Anh cũng là nghĩa quân. Giữ làng cho dân ngủ.
Hay anh là mũ xanh. Tuyến đầu đang trấn thủ.
Đất mẹ chưa bỏ con. Sao tan hàng cờ rủ.
Tay chân làm phân xanh. Cho bông hoa dại nở.
Xưa súng đạn quân trang. Nay chiếc lon nho nhỏ.
Xưa đánh pháo diệt tăng. Nay cơm thừa nước đổ.
Xưa binh đội diễn hành. Gót giầy vang mặt phố.
Nay xa cách muôn trùng. Một thân, nơi xó chợ.
Những người ba mươi năm. Tan như cơn mộng dở.
Còn lại khúc thân tàn. Vinh danh ngày tháng cũ.
Đỗ Tiến Đức (LA)
Thơ Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 15 Feb 2026

#1.
Tháng Ba giặc chiếm Cao Nguyên (1)
Bế con chạy loạn đến triền sông Ba
Đà Rằng sẫm máu, thịt da (2)
Hiện oan hờn hận Dân Chàm ngày xưa
(1) Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy/Chiến Dịch 275 CSBV khởi trận Ban Mê Thuột, 10/3/1975
(2) Sông Ba/Đà Rằng, sông lớn nhất Miền Trung từ Cao Nguyên Trung Phần chảy xuống đồng bằng Tuy Hòa, cắt ngang Tỉnh Lộ 7 – Đường di tản xuống miền duyên hải, 3/1975.
#2.
Chập chùng mây phủ Hải Vân (1)
Vũng Hàn sâm sấp thây trầm lạnh trôi (2)
(1) Hải Vân: Đèo lớn/Địa giới thiên nhiên Thừa Thiên/Huế- Quảng Nam/Đà Nẵng
(2) Vũng Hàn: Tên cũ Vịnh Đà Nẵng trước 1954-Cảnh tượng ngày 29/3/1975
#3.
Giải phóng Miền Nam! Tiến về Sàigòn!
Chiếm nhà mặt tiền! Cướp chiếc Honda!
#4.
Chim bay trên biển tối trời (1)
Kêu thương thảm chết phận người vượt biên
(1) Chim biển có linh giác giúp người vượt biển (sau 30/4/1975) hướng vào bờ
#5.
Vùi lấp hố huyệt kinh hoàng
Thân em đẫm máu đâm nhàu lưỡi lê
Đường bộ gặp quân Khmer
#6.
Chiều chiều âm vọng tiếng kêu
Hồn oan khóc động rung triều sóng xô
#7.
“Khó khăn khắc phục” căm thù (1)
Chim kêu núi khổ siết cùm tù nhân
Lưu đày trên đất quê hương!
(1) Loài chim vùng Hoàng Liên Sơn, miền núi Tây-Bắc VN có âm tiếng kêu tựa”Bắt cô trói cột”, tù Miền Nam nghe ra “Khó khăn khắc phục!
#8.
Năm mươi năm hơn đi qua
Chiến thắng là gì? Giải phóng những Ai?
#8.
Cận Tết chạm mối thương tâm
Oan hồn chết thảm đêm Xuân tìm về (1)
Tội thay kiếp nạn lê dân
Nhớ quê bật máu đôi giòng thấm đau
(1) Tổng Công Kích Giao Thừa Mậu Thân, 31/1/1968 khởi động từ Hà Nội qua “Thơ Chúc Tết” của HCM lúc ấy đang ở Bắc Kinh, Trung Cộng.
Nhân ngày ra tù năm 1989,
Nghĩ thân nạn (riêng) trong phận chung Người Việt
Phan Phi Danh
vietmessenger.com
Aleksandr Solzhenitsyn
Dịch giả: Hải Triều
Post by Sơn râu 15 Feb 2026

9.Hai nhà toán học
Nerzhin đi lên thang lầu lớn, rộng, trải thảm đỏ, dưới những cây đèn bằng đồng và trần nhà bằng thạch cao đắp vòng cung. Vào giờ khuya này, thang lầu vắng tanh. Anh cố gắng trấn tĩnh để bước đi với một vẻ thản nhiên khi anh đi ngang người sĩ quan trực ở phòng gác bên ngoài và tới gõ lên cánh cửa văn phòng của ông giám đốc Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino: Đại tá kỹ sư Bộ An ninh quốc gia Anton Nikolayevich Yakonov.
Văn phòng rộng thênh thang, trên sàn có trải thảm, bàn ghế bằng gỗ quí đánh bóng. Ở giữa phòng là một chiếc bàn hội dài trải khăn xanh. Ở trong góc phòng xa tít kia mới là bàn làm việc của Yakonov. Nerzhin từng vài lần đặt chân vào phòng này, nhưng anh chỉ đến đây với nhiều người khác để dự những phiên họp nghe chỉ thị, đây là lần thứ nhất anh một mình tới đây.
Đại tá kỹ sư Yakonov đã ngoài năm mươi nhưng trông vẫn còn trẻ và tráng kiện. Y cao lớn, khuôn mặt y thoa phớt một làn phấn sau khi y cạo râu. Y không mang kiếng trắng mà chỉ dùng một chiếc pince-nez bằng vàng. Y có cái vẻ vạm vỡ của một vương tử Obolensky hay Dolgorukov. Những cử chỉ kiểu cách, quan dạng làm cho ý nổi bật lên giữa những viên chức khác trong Bộ An ninh.
“Mời ngồi, Gleb Vikentich…”
Yakonov nói lớn và thừa thãi. Y ngồi dựa lưng trên chiếc ghế bành da quá lớn sau mặt bàn rộng, một tay mân mê cây viết chỉ đỏ thật lớn trên bàn.
Việc gọi tên riêng và tên thánh của Nerzhin chứng tỏ sự lễ độ và thiện chí của Yakonov, nhưng thực ra y không cần phải cố gắng chút nào để có thể nhớ được tên riêng của những nhà khoa học bị tù ở đây, bởi vì dưới mặt tấm kiếng trên bàn y có nằm một bản danh sách ghi tên riêng của tất cả những tù nhân. (Những ai không biết y có bản danh sách này để ngạc nhiên về khả năng nhớ được tên riêng cả trăm người của Yakonov) Nerzhin cúi đầu chào lại y và không đứng nghiêm chào, anh lặng lẽ ngồi xuống chiếc bàn nhỏ gần đó, đôi mắt anh chăm chú nhìn Yakonov, chờ đợi ý nói. Giọng nói của Yakonov có những âm thanh trầm bổng như giọng một kép hát sân khấu. Người ta không hiểu sao con người có vẻ quý phái này lại không uốn lưỡi chữ “r” như kiểu nói những nhà quý phái thời xưa.
Yakonov lên giọng:
“Gleb Vikentich… Trước đây nửa tiếng đồng hồ, tôi có dịp nói đến anh. Tôi nghĩ đến những nguyên nhân đã đưa anh tới Phòng Âm thính, tới làm việc với Roitman?”
Yakonov cố tình nói đến tên Roitman với một vẻ khinh mạn không cần che giấu. Y không cần cả gọi Roitman là thiếu tá trước mặt một tù nhân. Tình trạng ác cảm hổ tương giữa viên giám đốc viện và viên phụ tá giám đốc đã đi đến điểm không cần phải che giấu nữa.
Nerzhin cảm thấy thần kinh mình căng thẳng. Linh tính cho anh biết cuộc hội kiến đêm nay đã mở đầu bất lợi cho anh. Trước đây nhiều ngày, anh đã thấy nét mỉa mai này hiện trên vành môi Yakonov khi y nói với anh rằng mặc dù anh vẫn chăm chỉ làm việc, y biết anh coi thường những kết quả thâu lượm được ở Phòng Nghiên cứu số bảy. Phòng Nghiên cứu này là niềm kiêu hãnh của Yakonov, y đặt tất cả lòng tin của y vào đấy.
Nhưng sự làm việc ở đó lại không tiến triển như ý muốn của Yakonov.
“…Tất nhiên là tôi phải nhận rằng kết quả cuộc nghiên cứu của anh về tiếng nói rất có giá trị…”
Nerzhin nghĩ thầm: “Hắn chế nhạo mình”.
“… Và tôi rất buồn khi thấy bản báo cáo của anh không được công bố cho cả thế giới khoa học được biết, làm anh mất cơ hội trở thành một George Fetcher của Nga Xô Viết…”
Nerzhin nghĩ thầm: “Hắn nhạo mình quá sỗ sàng…”.
“Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ cách làm sao cho anh có cơ hội làm những việc hợp với khả năng của anh hơn, để cho có lợi hơn. Chắc anh biết tôi là người rất kính trọng những khoa học trừu tượng nhưng tôi cũng là một người rất thực tế…”
Đại tá kỹ sư Yakonov tuy giữ một địa vị cao trong y không quá ở gần Lãnh tụ đến nỗi phải che giấu sự thông minh của y hoặc luyện thành thói quen không có ý kiến riêng.
“Tôi muốn thành thật hỏi anh… hiện anh đang làm gì ở Phòng Âm thính?”
Yakonov không thể nào đặt với Nerzhin một câu hỏi tàn nhẫn hơn. Y không thể có thì giờ xét kỹ đến tất cả mọi trường hợp, để ý đến riêng từng tù nhân. Nếu y chịu xét đến tình trạng của Nerzhin. Y đã có trả lời từ lâu.
“Anh mất thì giờ với việc nghiên cứu vớ vẩn ấy làm chi? Anh là một nhà toán học, một người xuất thân đại học. Quay lại nhìn coi…”
Nerzhin quay lại nhìn và anh vội đứng dậy. Trong phòng còn một người thứ ba nữa. Một người đàn ông trông có vẻ rất thường bận bộ y phục thường dân màu đen đứng lên từ chiếc ghế dài và đi đến gần Nerzhin. Khung kiếng mắt tròn của ông này sáng lấp lánh. Dưới vầng ánh sáng rọi xuống từ bóng đèn điện trên trần. Nerzhin nhận ra giáo sư Pyotr Trofimovich Verenyov. Trước chiến tranh, giáo sư Verenyov dạy ở trường đại học anh học. Tuy vậy, theo thói quen của cuộc sống trong nhà tù, Nerzhin vẫn đứng yên, không nói, không làm một cử chỉ. Anh đoán rằng giáo sư Verenyov cũng là một tù nhân và anh có thể làm hại ông bằng những câu nói vội vã. Verenyov mỉm cười, nhưng ông cũng có vẻ bối rối.
Yakonov nói bằng một giọng vừa trấn an vừa khuyến khích:
“Thật hay… những nhà toán học có khả năng tự chế ngự hơn người thật. Suốt đời tôi, tôi vẫn nghĩ là những nhà toán học đều ở trong một đạo giáo bí mật nào đó và tôi vẫn ân hận vì không có dịp khám phá sự bí mật ấy. Xin nhị vị cứ tự nhiên. Hãy bắt tay nhau và coi đây là một nơi riêng của quý vị. Tôi sẽ vắng mặt ở đây vào khoảng nửa giờ để nhị vị nhắc lại với nhau những kỷ niệm xưa và để giáo sư Verenyov nói với anh Nerzhin về công tác mà cả ba chúng ta cùng phải làm.”
Yakonov đứng lên từ chiếc ghế da. Cặp cầu vai nền bạc và xanh trên hai vai áo y càng làm cho khổ người vạm vỡ của ý thêm to lớn – Y đi nhanh và nhẹ nhàng ra cửa phòng. Khi Verenyov và Nerzhin đến gần hơn để bắt tay nhau, họ chỉ còn có hai người ở trong phòng.
Người đàn ông xanh xao này, người mang đôi mắt kiếng trắng phản chiếu ánh đèn sáng lấp lánh, với tù nhân Nerzhin, như một bóng ma trở về từ một thế giới đã bị quên lãng. Giữa thế giới xưa cũ đó với thế giới đêm nay có những khu rừng ở bên hồ Hmen, những ngọn đồi và những thung lũng ở vùng Orel, những trang trại trù mật ở Ba Lan, những mái nhà ngói trong những thị trấn nước Đức. Trong khoảng thời gian chín năm chia đôi hai thế giới ấy có những xà lim nhà tù trơ trọi sáng rực ánh đèn điện đến chói lòa hai mắt, những “thùng gỗ” của khám đường Bolshây Lubyanka, những trại giam tạm trú sặc mùi hôi thối, tanh tưởi, những toa xe chở tù Stolopyn chật ních, có những cơn gió cắt da trên những cánh đồng cỏ bao la. Tất cả những cái đó làm cho Nerzhin không sao có thể trở lại được là anh sinh viên đứng viết một phương trình đại số trên bảng đen.
Và Nerzhin cảm thấy bối rối nhiều hơn là vui.
Hai người cùng đốt thuốc lá và cùng ngồi xuống mặt bàn nhỏ ngăn cách họ.
Đây không phải là lần thứ nhất Verenyov gặp lại một sinh viên cũ của ông từng học ông ở Đại học Mạc Tư Khoa. Nhưng cuộc gặp gỡ đêm nay có những yếu tố đặc biệt làm cho ông cũng cảm thấy bối rối: sự cô lập của Viện Nghiên cứu khoa học nằm ở ngoại ô Mạc Tư Khoa, nơi bí mật bao trùm, nơi có hàng rào dây thép gai bao quanh và người học trò cũ ít nói bật bộ y phục xanh đậm này thay vì bận y phục thường dân.
Sự bất ngờ xảy ra là Nerzhin, người trẻ nhất trong hai người, người thất bại không có danh vị học giả lại là người đặt những câu hỏi. Những nếp nhăn quanh miệng anh hằn sâu hơn, hiện rõ. Và người đàn ông nhiều tuổi hơn trả lời từng câu hỏi, như ông ngượng ngùng vì cuộc sống vộ sự của một nhà khoa học không có gì xuất sắc lắm: cuộc di tản trong thời chiến, cuộc di tản lần thứ nhất, ba năm làm việc với K., một luận án về toán học trắc đồ. Và Nerzhin trở thành lơ đãng đến độ gần như vô lễ, quên không hỏi rõ hơn về luận án khô khan của môn học cằn cỗi mà ngày xưa anh từng học này. Bỗng nhiên, anh cảm thấy thương hại Verenyov. Vào thế kỷ hai mươi tư may ra luận án của Verenyov có thể có ích cho vài người, còn bây giờ thì vô phương.
Tôi không còn gì để nói với mặt trời và trái đất
Tôi chỉ nhìn thấy sự đau khổ của con người.
Bằng cách nào Verenyov vào tổ chức này? Tại sao ông lại bỏ đại học? Tôi được biệt phái đến đây. Ông có thể từ chối được không? Được, có thể từ chối được nhưng lương bổng ở đây gấp đôi. Ông có con không? Bốn đứa.
Vì một nguyên nhân nào đó họ kiểm lại danh sách những sinh viên cùng khóa với Nerzhin, những người cũng như Nerzhin, thi ra trường cùng một ngày với ngày chiến tranh bắt đầu. Những người xuất sắc nhất đều đã chết trên mặt trận hoặc bị tiếng đạn, tiếng bom làm cho ngớ ngẩn. Họ là những người luôn luôn đi trước, những người không bao giờ dừng lại để nhìn mình xem mình ra sao. Và những người thời đó không ai thèm để ý, những kẻ thời đó không đáng gì cả nay đã hoàn tất được việc học cao hơn được đã giữ những chân giảng sư quan trọng ở những Viện Khoa học lớn. Còn người làm cho chúng ta sung sướng và kiêu hãnh, anh Dmitri Dmitrich Goryainov-Shakhovsky bây giờ ra sao?
Goryainov-Shakhovsky! Con người thấp nhỏ, bê bối trong tuổi già, người suốt đời mang vết phấn trắng trên tay áo, người bỏ túi chiếc khăn lau bảng vì tưởng rằng đó là ta khăn mùi soa. Ông là một huyền thoại sống của trường đại học, một huyền thoại được xây dựng bằng không biết bao nhiêu chuyện khôi hài về “nhà thông thái hay đãng trí” điển hình. Ông là linh hồn của đại học đường Warsaw. Một nửa thế kỷ làm việc cho khoa học làm ông nhận được những điện văn ca ngợi gửi đến từ Milwaukee, Captown, Yokohama. Để rồi ông bị thanh trừng trong cuộc phát động gọi là “trẻ trung hóa hàng ngũ”. Ông đi về Mạc Tư Khoa và trở lại với mệnh lệnh của Kalinin: “Đừng động đến ông già này”. Người ta đồn rằng trước đây ông già của Kalinin là tá điền của ông thân sinh ra giáo sư Goryainov-Shakhovsky.
Và không đúng đến ông thật. Họ để mặc ông muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Ông có thể viết một luận án về khoa học thiên nhiên trong đó ông đưa ra những bằng cứ chứng minh bằng toán học về sự có mặt của Chúa. Hoặc trong những cuộc giảng thuyết của ông về Newton, nhân vật mà ông thích nói đến nhứt, ông có thể sỉ mũi trong chòm râu vàng võ của ông và nói:
“Có người vừa đưa lên tôi câu hỏi như sau: Marx viết rằng Newton là một nhà duy vật. Sao giáo sư lại nói rằng Newton duy tâm? Tôi trả lời: Marx lầm. Newton tin ở Chúa, như tất cả những nhà khoa học lớn khác.”
Ghi chép những lời ông nói trong những buổi thuyết giảng ấy là một việc làm khủng khiếp. Cả đến những tốc ký viên cũng phát điên vì không sao ghi chép kịp. Vì hai chân ông yêu nên ông ngồi ngay trước bảng đen, quay lưng vào cử tọa, tay phải ông cầm phấn viết lên bảng trong khi cùng một lúc tay trái ông cầm khăn tay đi. Không ai có thể hiểu được tư tưởng của ông trong khi nghe ông giảng nhưng khi Nerzhin, cộng tác với một số bạn học, thành công trong việc ghi lại được trọn vẹn những lời ông nói và họ đọc, họ nghiền ngẫm những tư tưởng ấy suốt một đêm dài, họ xúc động đến nghẹn ngào khi họ thấy lấp lánh ánh sao của thiên đường.
Có chuyện gì đã xảy đến với ông? Khi thành phố R. bị oanh tạc nặng, ông già bị tiếng bom làm cho ngớ ngẩn. Ông được di tản đến Kirghizia trong tình trạng chết dở. Sau đó ông đã trở lại nhưng ông không còn dạy đại học nữa, ông dạy ở Viện Sư phạm. Vậy là ông vẫn còn sống ư? Còn sống. Hay thật. Thời gian qua, đã qua, và sẽ qua…
Vì sao anh lại bị bắt?
Nerzhin cười nhẹ:
“Còn vì sao nữa? Vì tư tưởng của tôi. Ở Nhật Bản, họ có một đạo luật cho phép người ta có thể kết tội một người chỉ vì những ý nghĩ chưa từng được nói ra của người này…”
“Ở Nhật Bản thì nói làm chi? Ở đây chúng ta đâu có luật nào như thế?”
“Có chứ. Chúng ta có. Đó là Điều 68, Khoản 10.”
Nerzhin chỉ nghe loáng thoáng những lời giải thích của Verenyov về mục đích của Yakonov khi y cho hai người gặp nhau. Verenyov được đặc phái tới Mavrino để xúc tiến và hệ thống hóa cuộc nghiên cứu ám số ở đây. Họ cần thêm nhiều nhà toán học và Verenyov mừng rỡ khi biết rằng ngay ở đây có sẵn một nhà toán học từng là học trò của ông, người sinh viên mà ngày xưa ông cho là có một tương lai tươi sáng.
Nerzhin lơ đãng đặt những câu hỏi liên can đến cuộc nghiên cứu và giáo sư Verenyov, hào hứng và hoạt bát khi nói đến những vấn đề toán học, trình bày những việc phải làm và ông nói đến cả những cuộc thí nghiệm nào cần phải làm, những công thức nào phải kiểm soát lại. Nhưng trong lúc ấy Nerzhin nghĩ đến những tờ giấy nhỏ anh viết đầy những dòng li ti, những ý tưởng anh đã ghi lại với sự thanh thản của tâm hồn sau chiếc bàn dàn cảnh của anh, dưới những tia mắt canh gác chan chứa tình ái của Simochka, với những tiếng thì thầm đầy khuyến khích của Rubin. Những tờ giấy nhỏ đó là những ghi chép đầu tiên trong ba mươi lăm năm làm người của anh.
Tất nhiên anh sẽ vui và dễ chịu nếu anh trước trưởng thành trong địa hạt chuyên môn của anh. Tại sao, người ta có thể hỏi, anh lại tự đưa đầu anh vào hàm răng mở rộng và nhọn hoắt của thời gian xưa cũ khi mà ngay cả những sử gia cũng bỏ trốn đến những nơi an toàn hơn? Sức mạnh gì đã thúc đẩy anh xét đoán hành động và giá trị của Người Khổng Lồ quyền uy ghê gớm đó, chỉ một cái chớp mắt của người đó cũng đủ làm cho đầu Nerzhin lìa khỏi cổ.
Và anh, anh có nên đầu hàng trước những cánh tay dài như vòi bạch tuộc của Ám số – để làm việc mười bốn giờ một ngày, không một ngày nghỉ, đầu óc đầy nặng những lý thuyết về xác suất, lý thuyết về đại số, lý thuyết về lầm lẫn, một bộ óc chết, một linh hồn khô héo? Anh sẽ còn lại những gì để suy nghĩ? Sẽ còn những gì để anh học hỏi về cuộc đời?
Vẫn còn Viện Nghiên cứu Mavrino. Đây không hẳn là một nhà tù thuần túy. Ở đây có thịt trong bữa trưa, có bơ trong bữa ắn sáng. Ở đây hai tay không bị rã rời vì mỏi, những ngón tay không đông cứng vì lạnh, không phải nằm ngủ trên những tấm ván, thân thể chết cứng như khúc gỗ. Ở đây anh được nằm trên giường có nệm đàng hoàng, nằm ngủ với cảm giác thoải mái.
Nhưng tại sao phải sống suốt cả một đời dài? Sống chỉ để mà sống? Sống chỉ là việc giữ cho thân thể khỏi chết? Nếu sống chỉ có thế thôi và không còn gì khác cả, chúng ta cần sống để làm gì?
Sự khôn ngoan thúc giục: “Chịu đi” nhưng trái tim nói: “Satan, đem những thứ đó đi khỏi mặt ta”.
“Ông có biết đóng giày không?”
“Anh nói chi?”
“Tôi hỏi: Ông có thể dạy tôi thuật đóng giày không?”
“Xin lỗi, tôi không hiểu.”
“Ông sống trong một cái vỏ. Còn tôi, sau khi sống hết hạn tù của tôi ở đây, tôi sẽ đi tới những miền rừng núi xa, tôi sẽ sống ẩn dật suốt đời. Tôi không biết cách làm việc bằng hai tay, làm sao tôi có thể sống? Ở những nơi tôi sẽ đến sống đầy loài báo rừng. Ở đây tôi sẽ không cần đến lý thuyết, công chức, đến toán học…”
“Nerzhin, anh nói gì vậy? Là một chuyên viên ám số, nếu công tác đạt thành quả tốt, anh sẽ được trả tự do trước hạn kỳ, án tích sẽ có thể xóa bỏ trong hồ sơ lý lịch của anh, anh sẽ có một căn nhà ở Mạc Tư Khoa.”
“Họ sẽ xóa án tích trong hồ sơ lý lịch của tôi?”
Nerzhin giận dữ kêu lên, đôi mắt anh cau lại:
“Tại sao ông lại nghĩ rằng tôi mong họ ban cho tôi món quà nhỏ đó? “Vì anh làm việc tốt nên chúng tôi trả lại tự do cho anh, chúng tôi tha tội cho anh.” Không… Không thể như thế được…”
Những ngón tay Nerzhin gõ mạnh xuống mặt chiếc bàn nhỏ:
“Ông đi ngược… Họ phải nhận trước rằng họ không đúng, họ không có quyền bắt người khác vào tù chỉ vì người khác vào tù chỉ vì người khác không nghĩ như họ. Đến lúc đó chúng tôi sẽ xét xem chúng tôi có tha thứ cho họ hay không?”
Cánh cửa mở và viên chức chính quyền vạm vỡ với chiếc prince-nez vàng trên sống mũi bước vào.
“Sao? Nhị vị toán học gia? Các vị đã đi đến thỏa thuận rồi chứ?”
Nerzhin không đứng lên, anh nhìn thẳng vào mặt Yakonov khi anh nói:
“Ông có quyền quyết định. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng công việc tôi đang làm ở Phòng Âm thính hãy còn dở dang.”
Vài phút sau đó trong phòng chỉ còn có một mình Yakonov đứng sau cái bàn lớn. Chỉ những ai biết rõ Yakonov mới biết rằng lúc đó y đang cáu giận. Y lẩm bẩm: “Đồ ngu. Có dịp tốt để khá hơn mà không biết. Cho mi chết…”
Cầm cây viết chì đỏ y viết lên quyển sổ trên bàn:
“Nerzhin sẽ phải đi”.
Dương Hiếu Nghĩa
Post by Sơn râu 15 Feb 2026

Phần 2
Ngày 29 Tháng Tư:
9 giờ sáng:
Chúng tôi qua phòng họp của Ban Liên Hợp Quân Sự không bị trúng đạn pháo, từ đó mới sử dụng được đường dây điện thoại để báo cáo đi các nơi về thiệt hại vật chất và nhân mạng đêm qua…
Đến 9 giờ sáng thì có một chiếc trực thăng Mỹ (sơn toàn trắng) đáp xuống ngay trước phòng họp để bốc chúng tôi đi. Nhưng không hiểu sao tôi lại không chịu đi. Và tôi cho trực thăng này di tản 6 sĩ quan của toán thanh tra ngừng bắn Nam Dương.
Tôi vẫn còn nhớ ơn đại tá Abbas, Phó trưởng đoàn và trưởng Phòng Tình Báo của phái đoàn Nam Dương này đã 2 lần đích thân kín đáo trao cho tôi bản đồ trận liệt ghi rõ tiến trình xâm nhập vào Miền Nam của đầy đủ 16 sư đoàn chánh quy bộ binh Bắc Việt và các sư đoàn thiết giáp và sư đoàn pháo binh nặng, vừa được cập nhật vào đầu Tháng Giêng năm 1975.
– Lần đầu ngày 3 Tháng Giêng 1975. (tôi đích thân mang tay lên trình cho Tổng Thống Thiệu ngày 4 tháng 1, với lời giải thích miệng rất đầy đủ theo đúng tin tức tình báo mà phái đoàn Nam Dương đã sưu tầm rất chính xác và rất đầy đù, (nhưng sau đó tôi đã không thi hành lệnh của Tổng Thống, chỉ vì ông bảo tôi phải mang sang cho Trung tướng Đặng văn Quang)
– Lần thứ hai ngày 1 Tháng Ba, với chú thích về mục tiêu tiến chiếm dự trù của cộng sản là Ban mê Thuột. Đây là tin tức hết sức chính xác về mục tiêu và thời điểm tấn công của Bắc Việt: tiến chiếm Ban Mê Thuột vào tháng Ba, 1975. Tôi cũng đã mang tay bản đồ và tin tức này đến trình cho Tổng Thống Thiệu, nhưng lần này thì ông bảo tôi mang sang cho đại tướng tổng tham mưu trưởng… Tôi đã y lệnh thi hành. Dĩ nhiên tôi không biết với tư cách tổng tư lệnh quân đội và tổng tham mưu trưởng hai ông đã có quyết định kịp thời về một “đường lối hành động” nào hay không..
10 giờ sáng:
Tôi liên lạc với Đại Tá Nguyệt, Hải Quân, để đưa một số sĩ quan và quân nhân các cấp, khoảng 30 người xuống tàu, di tản theo Hải Quân. Trong số này có các Đại Tá Chuân, Đại Tá Đóa… thuộc Khối Nghị Hội/Ban Liên Hợp. Số anh em sĩ quan và nhân viên còn lại của Ban Liên Hợp, chúng tôi dự trù cũng sẽ xuống luôn bến Bạch Đằng khoảng 12 giờ trưa sau khi thu xếp việc tản thương xong cho một số anh em quân nhân và nữ trợ tá xã hội tử thương và bị thương đêm qua.
11 giờ 30 sáng:
Chúng tôi nghe thấy có tiếng súng liên thanh từ dưới đất bắn lên các phi cơ đang cố gắng cất cánh khỏi phi trường.Anh em cho biết là chiếc xe jeep mui trần có gắn liên thanh 12 ly 7 của đại úy quân cảnh/phi trường đang nằm ngay giữa các phi đạo bắn lên bất cứ loại phi cơ và trực thăng nào muốn cất cánh rời khỏi phi trường. (sau ngày 30 Tháng Tư, đích thân tôi gặp đại úy quân cảnh này, mang súng lục đang đứng gác ngay tòa nhà Quốc Hội ở đường Tự Do. Thì ra đây là một tên cộng sản nằm vùng đã nhận lệnh của cộng sản từ trại Davis trong công tác ngăn chận không cho phi cơ cất cánh từ khuya ngày 29 Tháng Tư.)
Chúng tôi lên xe đi xuống Hải Quân để kịp lên tàu với Đại Tá Nguyệt. Nhưng lúc vừa đi ngang qua Bộ Tổng Tham Mưu (đúng 12 giờ trưa) thì không biết tại sao thình lình tôi lái xe Jeep của tôi rẽ trái đi vào cổng Tổng Tham Mưu. Hai xe jeep và 2 xe 4/4 trong đoàn xe của tôi dĩ nhiên phải vào luôn cổng theo xe của tôi.
Đến ngay Bộ Chỉ Huy Pháo Binh, chúng tôi ngừng xe lại và tôi vào ngay hội trường của Bộ Chỉ Huy này tìm chỗ nằm xuống đánh một giấc ngon lành không còn biết ất giáp trời trăng gì nữa, có lẽ vì quá mệt mỏi. Tất cả anh em sĩ quan theo tôi từ Tân Sơn Nhất (trong số này có Đại Tá Nguyễn ngọc Nhận, Đại Tá Lộc, pháo binh thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự Cần Thơ, Trung Tá Chữ Nam Anh, Trung Tá Hoàng chánh văn phòng, v.v.) đều theo tôi vào hết trong hội trường vắng trống này. Đến 4 giờ chiều, thình lình tôi thức dậy và đinh ninh mình đang ngủ dưới tàu của Hải Quân nên lên tiếng hỏi:
– Tàu của chúng ta đã chạy đến đâu rồi? Đã ra khỏi sông Lòng Tảo chưa?
– Chạy đến hội trường của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh trong Tổng Tham Mưu rồi! Trung Tá Hoàng vừa cười mai mỉa vừa trả lời.
Tôi bàng hoàng đứng ngay dậy quan sát thì rõ ràng thấy mình đang ở giữa Bộ Tổng Tham Mưu. Bèn ra lệnh:
– Anh em lên xe ngay đi để xuống Bến Bạch Đằng chắc còn kịp vì Đại Tá Nguyệt chắc chắn còn đợi tôi.
– Không kịp nữa rồi ông ơi, Bộ Tổng Tham Mưu đã khóa cổng và có lệnh không cho ai ra vô gì nữa hết, chúng tôi đã thử mấy lần muốn ra rồi mà không được.
– Vậy là chết rồi! anh thử liên lạc với ông Nguyệt thử coi? ở số này nè!
Trung Tá Hoàng cố gọi chừng 15 phút mà không nghe ai trả lời….
Thế là số mạng bắt ta phải ở lại đây rồi! (tôi chán nản nghĩ thầm như vậy khi sực nhớ lại không biết vì lý do gì mà mình tự nhiên lại rẽ vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu lúc 12 giờ trưa nay thay vì cứ phải chạy thẳng xuống Bến Bạch Đằng để xuống tàu. Về sau này tôi mới được biết là đại tá Nguyệt chỉ vì chờ tôi không chịu nhổ neo tách bến nên phải bị anh em binh sĩ Hải Quân khiêng xuống tàu và rời bến lúc 2 giờ trưa.)
7 giờ chiều
Trung Tướng Vĩnh Lộc, quyền tổng tham mưu trưởng, cho người xuống gọi cá nhân tôi và Đại Tá Nhận lên văn phòng của ông để nhận việc. Lúc đó tôi mới biết được là ở Bộ Tổng Tham Mưu hiện giờ không còn tham mưu trưởng, không cón một số trưởng phòng quan trọng nào nữa như P1, P2, P3 và P4. Tất cả đều đã tìm phương tiện di tản hết rồi, chỉ còn sĩ quan xử lý thường vụ mà thôi. Không cần suy nghĩ tôi cũng đã thấy được tình hình chung như thế nào rồi.
Đại Tá Nhận được Trung Tướng Vĩnh Lộc ép nhận chức vụ tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi vẫn không chịu nhận bất cứ một nhiệm vụ nào, ít nhất trong hiện tại, vì đã dự định nội nhật ngày mai là phải rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu để tìm phương tiện di tản.
8 giờ 30 tối:
Các trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ồ ạt đáp xuống D.A.O. (Phòng Tùy viên Quân Lực Mỹ) ở ngay phía sau lưng tòa nhà chánh của Bộ Tổng Tham Mưu để bốc người Mỹ theo đúng tiến trình hành quân di tản của Hoa Kỳ. Không có một tiếng súng nhỏ lớn hay hỏa tiễn phòng không nào của Bắc Việt từ dưới đất bắn lên, điều này cho thấy rõ là giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt đã có một mật ước nào đó rồi cho thời gian và lộ trình di tản của Hoa Kỳ.
Có tiếng loa kêu gọi từ các trực thăng lúc họ bay ngang qua không phận Bộ Tổng Tham Mưu: Ai muốn được di tản thì cứ qua bãi đáp trực thăng bên D.A.O. ngay phía sau Bộ TTM. Có một số sĩ quan và nhân viên của Ban Liên Hợp (đang ở đây với tôi) đã nghe rõ tiếng loa kêu gọi từ trực thăng và đã vượt rào kẽm gai của Bộ Tổng Tham Mưu đến bãi bốc trực thăng bên D.A.O. (khoảng 40 thước đường) trong số đó có Đại Tá Lộc, Trung Tá Hoàng và một số sĩ quan cấp úy khác. Riêng tôi thì không thích “chui rào” như họ, (có lẽ vì tự ái cá nhân hay vì số mạng không biết).
Ngày 30 Tháng Tư:
6 giờ sáng:
Do đó, sáng ra kiểm điểm lại thì chỉ còn có tôi với Trung Tá Chữ Nam Anh và một số chừng 10 binh sĩ mà thôi. Những người khác thì đã được trực thăng Mỹ di tản đêm qua rồi. Cúng tôi lên xe sẵn sàng ra cổng Bộ Tổng Tham Mưu.
7 giờ sáng:
Nhân lúc xe của Trung Tướng Vĩnh Lộc và Đại Tá Nhận ra cổng, chúng tôi tháp tùng theo xe này luôn, vì nếu không thì sẽ bị chận lại không ra khỏi đây được nữa theo tiêu lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu.
Ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu là chúng tôi chia tay nhau, tạm gọi là “đường ai nấy đi” vì tới giờ phút này chúng tôi hình như đã linh cảm được số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao rồi!
Tôi lái xe về nhà người em họ ở Cư xá Đô Thành (Bàn Cờ) dự trù sẽ thay quần áo và nghỉ ngơi trước khi tìm được phương tiện di tản. Tình hình quân sự và chánh trị thì đã quá rõ ràng rồi, bây gờ chỉ còn xem con đường nào thuận tiện nhứt để thoát khỏi đây thôi. Phương tiện nào đây? Tàu hay phi cơ? Bằng tàu thì hoặc phải xuống Bến Bạch Đằng và Nhà Bè, hoặc phải ra tận Vũng Tàu hay Gò Công? Bằng phi cơ thì chỉ có ra tòa Đại Sứ Mỹ… Vậy ta phải đi một vòng xem sao rồi mới quyết định được. Đang ngồi suy tính một mình thì thằng em họ kêu cho hay là có lệnh mới rồi.. Lệnh của tổng thống và của tổng tham mưu trưởng…
11 giờ trưa
Tổng Thống Dương văn Minh tuyên bố Miền Nam Việt Nam “đơn phương ngừng bắn vô điều kiện,” một cách chơi chữ để nói lên một sự “đầu hàng Cộng sản Bắc Việt không có điều kiện (nhưng đó mới thực sự là điều kiện của Bắc Việt đã trao cho ông), và ngay sau đó Tướng Nguyễn Hữu Hạnh với tư cách là quyền tổng tham mưu trưởng QLVNCH lên tiếng trên đài truyền hình và đài phát thanh Sài Gòn, ra lệnh đơn phương ngừng bắn cho các đơn vị còn đang chiến đấu và kêu gọi quân nhân các cấp phải buông súng xuống!
Lắng tai nghe đi nghe lại những lời tuyên bố của hai Tướng Minh và Tướng Hạnh tôi vừa đau khổ vừa bùi ngùi nghe theo lời khuyên của em mình, trút bỏ bộ quân phục thân yêu của mình trong suốt gần 25 năm trong quân đội, xong mượn chiếc xe Honda của thằng em vội vàng phóng ra cửa. Tôi nghĩ bụng: Thôi thế là coi như xong hết rồi, không biết cái gì sẽ xảy ra sau chuyện đầu hàng quá nhục nhã này? Thương thuyết chăng? Chánh Phủ Liên Hiệp chăng? Chắc chắn là không rồi. Hàng ngàn chiếc xe xe tăng T.54 từ Bắc Việt vào đây tức là cộng sản Bắc Việt nhất quyết đã chọn giải pháp quân sự rồi thì làm gì còn có giải pháp chánh trị? Và đối với mộng bành trướng bá quyền của Cộng sản thì đâu có chuyện anh MTGPMN nhảy vào ngồi mát ăn bát vàng của họ được? Tôi vừa đi vừa suy nghĩ mông lung.. tự nhiên thấy mình trở lại gần Bộ Tổng Tham Mưu lúc nào không hay. Nhân tiện tôi đi vòng qua hướng Lăng Cha Cả để theo đường Trương Minh Giảng xuống Sài Gòn.
Lúc này đã quá 1 giờ trưa rồi. Đường sá vắng tanh, dân chúng rút hết vô nhà đóng kín cửa. ngoại trừ bọn hôi của còn đang lăng xăng lục lạo và khuân vác từng biệt thự do người Mỹ mướn ở, hay các nhà vô chủ, của những người dân quá sợ cộng sản đã bỏ đi hoặc di tản hay đang tìm đường di tản ra ngoại quốc.
Tuy không còn nghe tiếng đạn pháo hay rốc kết liên tục nhưng vẫn còn lác đác một vài tiếng súng cá nhân hay một vài tràng liên thanh đâu đó từ hướng trại Hoàng Hoa Thám của anh em Dù. Tôi còn nhớ lúc rời khỏi Ban Liên Hợp Quân sự ngày hôm qua, tôi còn chứng kiến được một số hành động anh dũng của anh em “Biệt Kích 81 Dù” đã bắn hạ 13 chiến xa T.54 của Bắc Việt từ Lăng Cha Cả lên hướng Củ Chi khi các đơn vị Bắc Việt tấn công vào trại Hoàng hoa Thám để tìm cách đột nhập ngang hông vào Tân Sơn Nhất. Hôm nay xác những chiếc tăng T.54 vẫn còn ngổn ngang ở vùng này, và tiếng súng cá nhân vẫn còn lẻ tẻ mặc dầu đã có lệnh đơn phương ngừng bắn của QLVNCH từ 11 giờ sáng nay.
Đường Trương Minh Giảng vắng tanh không một bóng người, không một chiếc xe nào chỉ thấy có một vài xác chết rải rác ngoài đường, gần cầu, hình như của bọn đặc công Bắc Việt.
Khắp các nẻo đường mà tôi đi qua, trong thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và cả Gia Định, tôi quá đau lòng mà thấy cảnh không biết bao nhiêu là súng ống đạn dược đủ loại, quân phục đủ màu đủ sắc của mọi binh chủng được vứt bỏ ngổn ngang từng đống hay bừa bãi rải rác khắp các vỉa hè, các thùng rác, cống rãnh… có lẽ đây là một cách vừa thi hành vừa phản đối lệnh buông súng đầu hàng của Tướng Minh và Tướng Hạnh… còn đang ra rả kêu gọi liên tục trên đài phát thanh. Càng đau lòng hơn khi thỉnh thoảng tôi bắt gặp một số người chạy lông nhông ngoài đường, hầu hết chỉ có một quần cụt trên người, có khi trần truồng như nhộng, chắc chắn họ là quân nhân, vì họ luôn miệng chửi thề tục tĩu vang trời, chửi cả bọn chiến thắng Bắc Việt lẫn người chủ bại đang tâm khóa tay quân đội để đầu hàng cộng sản!
Bến Bạch Đằng và Nhà Bè vắng tàu nhưng không vắng người vì còn một số quá đông đang còn lóng nhóng chờ… tàu từ Tân Cảng xuống. Nhưng tôi nghĩ chắc chắn không còn chiếc nào.
Tôi vào Bình Đông (Chợ Lớn) để thử tìm đường bộ xuống Gò Công. Nhưng cảnh sát dã chiến ở chốt đầu cầu đã được lệnh khóa cổng từ 6 giờ sáng nay không cho một ai qua khỏi cầu. Trở về Phú Lâm, tôi cũng bị chốt cảnh sát đã chiến ngăn chận, như thế có nghĩa là từ 6 giờ sáng nay đã có lệnh khóa hết mọi con đường ra khỏi Đô thành, khó mà dùng đường bộ được, và cũng có nghĩa là bọn cộng sản Bắc Việt đã bao vây chặt thủ đô này rồi.
Như thế là coi như tôi không còn khả năng và phương tiện nào thoát ra khỏi thủ đô Sài Gòn nữa bằng cả 3 đường bộ, đường thủy và đường bay. Thôi thì đành phải ngồi yên để chờ xem diễn tiến sắp tới tức là ngồi chờ xem Cộng sản Bắc Việt tiến vào thủ đô mà thôi!! Nghĩ thế tôi quay xe trở về Bàn Cờ.
Trên đường về, đột nhiên tôi nghe mấy tràng đại liên ròn rã ở hướng nhà thờ Sài Gòn. Quá tò mò tôi muốn đến xem nhưng gần đến nhà thờ thì nghe tiếng chiến xa chạy rầm rập ở hướng đại lộ Thống Nhất. Tôi biết là chuyên gì đã xảy ra rồi, nhưng quá đau lòng đến độ không thể nào dám chạy đến đó để xem, tôi vội chạy về Bàn Cờ ngay.
6 giờ chiều:
Tôi có ý định lên Hạnh Thông Tây, vào thăm Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp của mình. Nhưng khi vừa qua khỏi sân Golf ở phía sau Tổng Tham mưu thì một cảnh tượng quá đau lòng làm tôi phải ngừng xe lại ngay. Từng nhóm thương bệnh binh dìu nhau đi bộ từ cổng Tổng Y Viện Cộng Hòa. Hỏi ra tôi mới biết là từ 5 giờ chiều nay, một toán quân Bắc Việt đã vào tiếp thu Quân Y Viện mà họ liệt vào hàng “chiến lợi phẩm chiến tranh.” Người sĩ quan tiếp thu ra lệnh cho tất cả đều phải ra khỏi bệnh viện, và “ngay tức khắc” không được chậm trễ, không được mang theo bất cứ thứ gì kể cả xe cộ đủ loại, vì tất cả đều là của Mỹ Ngụy, không do cá nhân mua sắm, ngoại trừ quần áo đang mặc trên mình.
Tất cả mọi người, từ các bác sĩ quân y, các nam nữ y tá, trợ tá xã hội, lao công dân chính v.v. cho đến thương bịnh binh đủ loại, không cần biết tình trạng bệnh lý, đã được chữa trị hay chưa, vết thương đã mổ hay chưa? lành hay chưa lành? v.v. Thật quá khủng khiếp cho những anh em thương binh vừa được chuyển từ mặt trận về, vừa được lên bàn mổ hay vừa được mổ mà chưa khâu xong vết mổ, còn đang nửa mê nửa tỉnh.. đều phải ôm vết thương lang thang xuất viện mà không biết phải đi về đâu? nhà ở đâu mà về? Gia đình có đâu mà về? đơn vị ở đâu mà về? Vì họ được tản thương về đây từ mặt trận.
Đây là một câu chuyện thê thảm nhất trong lịch sử chiến tranh Quốc Cộng, giữa Nam Bắc Việt Nam, giữa người Việt Nam với nhau. Ngay như trong cả 2 thế chiến, người ta cũng không có lối cư xử quá tàn bạo và nhẫn tâm vô nhân đạo như thế, huống là giữa những người Việt Nam cùng một dòng máu Lạc Hồng?
Để giúp cho những người khốn khổ này, chúng tôi và một số dân chúng quanh chùa Vạn Hạnh (Phú Nhuận) kêu gọi được một số xe tư nhân, xe tắc xi, xích lô máy, xích lô đạp.. đưa giùm một số thương bịnh binh nặng, đang trong tình trạng giải phẫu dở dang.. đến các bệnh viện Đô Thành, Nguyễn văn Học, Chợ Rẫy, Grall và một số bệnh viện tư của người Hoa ở Chợ Lớn, kể cả 2 bệnh viện tư nhỏ của hai bác sĩ Nguyễn văn Tạo, Nguyễn duy Tài ở đường Pasteur… để nhờ tạm chữa trị tiếp, chờ ngày cho họ về với gia đình…
Giờ này thật tình thời gian đã trôi qua quá lâu rồi, gần 30 năm rồi, thử hỏi dân chúng Miền Nam cũng như người Việt Nam ở hải ngoại này còn có mấy ai biết đến và nhớ đến một buổi chiều thê thảm nhất của anh em quân nhân chúng tôi, nhất là những anh em thương bịnh binh thuộc QLVNCH đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa đã bị xua đuổi thẳng tay một cách vô nhân đạo ra khỏi bàn mổ hay khỏi giường bịnh, do sự tiếp thu của Cục Quân Y của Quân Đội Nhân Dân BV? vào ngày 30 Tháng Tư, 1975 mà cộng sản gọi là ngày chiến thắng của họ trong chiến dịch xâm lăng Miền Nam Việt Nam có tên gọi là chiến dịch Hồ Chí Minh!!!!!
Đêm nay về Bàn Cờ nghỉ tạm, tôi không có một chút hứng thú nào khi ngồi trước một bữa cơm ngon của gia đình, tôi cũng trằn trọc suốt đêm không ngủ được chỉ mong cho trời mau sáng để được xem tận mắt cảnh “đổi đời”! Ước gì cảnh đó phải hoàn toàn khác hẳn cảnh mà tôi đã đích thân chứng kiến chiều hôm qua ở Gò Vấp!
Ngày mồng 3 Tháng Năm, 1975
Không có chuyện gì làm, tôi lang thang tản bộ quanh khu chợ Sài Gòn, và đi lần về Thư Viện Quốc Gia, trong thâm tâm chỉ muốn gặp lại một người bạn của tôi là anh Hữu, quản thủ thư viện Quốc Gia… Có đến nơi mới thấy được cảnh mà cộng sản Bắc Việt gọi là bài trừ “Văn Hóa đồi trụy”:
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một ủy ban gọi là “ủy ban bài trừ văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”), tại Sài Gòn Chợ Lớn thì mỗi quận một tiểu ban, ở các tỉnh thì mỗi tỉnh một tiểu ban.
“Văn hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 30 Tháng Tư, 1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga).
Mục tiêu mà các “ông cọp 30” nhắm vào trước tiên là Thư Viện Quốc Gia (national library) ở đường Gia Long. tất cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và Encyclopédia chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành Công Pháp quốc tế, Khoa Học Kỹ Thuật, Hàng Không và cả khoa học Không Gian,v.v… mà anh Hữu đã tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của Đất Nước, trong phút chốc bị “cọp 30” xơi tái hết!
Chúng tôi đến gần lượm từng tờ của bộ Encyclopedia lên xem mà ứa nước mắt… nhưng không dám hỏi thêm vì bị ngay một “cọp 3O” khoảng 16 tuổi tới đuổi:
“Đi đi, tiếc gì mà coi, xé bỏ hết, đốt bỏ hết, nó là tiếng nước ngoài, của thực dân, của đế quốc đồi trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc. Ta độc lập rồi thì ta cần gì ba cái thứ này nữa!!”
Tội nghiệp! Thật là tội nghiệp!!!
(Về sau mãi cho đến 1992 lúc chúng tôi sắp rời khỏi VN, thì Thư Viện Quốc Gia này vẫn còn được cộng sản dùng làm “mặt bằng” cho mướn làm tiệc cưới và tiệc “liên hoan” của cán bộ công nhân viên các cấp).
Mục tiêu kế tiếp của bọn “cọp 30” là Thư Viện Bộ Giáo Dục, các nhà sách ở khu chợ Bến Thành và dài dài vô đến Chợ Lớn… sau đó tiểu ban đi xét từng nhà khắp đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định, ai sợ thì cứ tự mình đốt, bỏ… nếu xét gặp thì chắc chắn phải gặp khó khăn với mấy “ông cọp 30 trẻ” này.
Về văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai,” cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ, ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng phải được duyệt xếp loại lại (Bà thiếu tá cách mạng đào hát Kim Cương phụ trách phần này).
Nói tóm lại Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàng tích của Mỹ Ngụy từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng, không cần biết có hợp với dân tộc Việt Nam hay không và cũng không cần lượng xét hậu quả sẽ như thế nào (có nghĩa là thay vì đẩy Miền Bắc tiến lên để theo kịp đà phát triển của Miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi Miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau… nhằm đưa đất nước Việt Nam vào con đường xã hội chủ nghĩa đúng theo lệnh của các quan thầy Liên Xô và Trung Cộng…
Mãi cho đến cuối thập niên 80, lúc tôi ra khỏi trại tù cải tạo, lãnh đạo đảng Nguyễn văn Linh nhờ chạy theo phong trào “đổi mới” của Liên Xô, mới chịu mở mắt ra và chừng đó mới thấy được là đảng cộng sản đã kéo cả đất nước và dân tộc Việt Nam đi lùi vào thời kỳ đồ đá… từ sau ngày cướp được chánh quyền mùa thu năm 1945 và nhất là để mất đi một cơ hội và một thời gian quá dài từ sau ngày nhuộm đỏ Miền Nam Việt Nam 30 Tháng Tư, 1975.)
Ngày 4 Tháng Năm
Tôi đến nhà của Ngô Công Đức vì nghe tin anh ta mới từ bên Pháp trở về Sài Gòn qua ngả Lào, Hà Nội (mang theo chiếc xe đạp). Đến nhà anh mới được biết là người vợ của anh đã sang ngang không biết vì lý do gì, (có thể vì hành động phản chiến của anh.) Đến đây tôi may mắn được gặp lại một người bạn thân, trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rể của Ngô công Đức) may mắn có mặt tại Dinh Độc Lập từ sáng ngày 30 Tháng Tư, nhờ vậy tôi mới được biết thêm một vài chi tiết liên quan đến chuyện bộ đội Bắc Việt vào tiếp thu Dinh Độc Lập trưa ngày 30 Tháng Tư. Tôi phải ghi lại gần như nguyên văn lời của ông bạn Nguyễn Văn Binh của tôi như sau:
“Sau khi chiến xa T.54 ủi sập một bên cổng chính của Dinh Độc Lập, (theo suy đoán của anh Binh thì đây là một hành động tượng trưng cho chiến thắng quân sự cuối cùng và quyết định của cộng sản Bắc Việt) một số bộ đội tràn vào sân thượng hạ cờ VNCH xuống và treo cờ MTGPMN lên (chưa phải là cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt), một sĩ quan Bắc Việt có bộ đội hộ tống ập vào đại sảnh, nơi mà Tổng Thống Dương văn Minh đang có mặt cùng với những người cộng sự viên thân tín nhứt trong Chánh Phủ của ông. Thấy vị sĩ quan này đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội nhân dân Miền Bắc, nên ông Minh tưởng rằng mình đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp.
– Thưa quan sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.
Sĩ quan này dùng danh từ “mầy tao” xẵng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
– Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!
Mặt Tướng Minh co dúm lại. Ông chợt hiểu là ông không gặp được những người của MTGPMN mà là những người cộng sản Bắc Việt, dù họ treo cờ Việt Cộng trên xe. Không phải là những người Miền Nam đã vào chiếm Dinh Tổng Thống, mà đang đứng trước mặt ông là những chiếc xe tăng, những sĩ quan và bộ đội Bắc Việt và họ đã đối đãi với ông không như bạn hay đồng bào, mà như một kẻ thù thất trận!

Tổng Thống Dương Văn Minh (2) ngày 30-4-1975 ở Dinh Độc Lập. Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu (1) và nhà báo Bùi Tín (3). File photo
Tướng Minh cố gắng tự kềm chế và dịu dàng hơn ông nói tiếp:
– Chúng tôi đã có dự trù sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua…
Vị trung tá Bắc Việt ngăn ông lại và xẵng giọng:
– Bọn bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ cái bếp tư sản của mầy lại đi. Chúng tao đã có cơm dã chiến của chúng tao, một nắm cơm nắm và một hộp thịt kho mặn.
Sau đó sĩ quan này ra lệnh nhốt tất cả các tổng trưởng hiện diện vào một gian phòng, sau khi đã cho lệnh khám xét rất cẩn thận và không khoan nhượng trước sự hiện diện các nhà báo ngoại quốc đang làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh lia lịa cảnh tượng lịch sử này.
Sau đó ông Minh bị “bộ đội” bao quanh chĩa súng vào người ông, và vị sĩ quan cao cấp vung khẩu súng lục to đẩy ông lên một chiếc xe Jeep và phóng đi dưới hàng loạt ánh đèn chớp của máy ảnh và máy quay phim của báo chí. Ông được đưa đến đài phát thanh để ông phải lên tiếng kêu gọi lần chót với các binh sĩ còn đang tiếp tục chiến đấu. Vì chiến trận vẫn còn tiếp diễn gần như khắp nơi, ở ngoại ô, ở Chợ Lớn, chung quanh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, ở khu vực gần Tân Cảng, trước trung tâm truyền tin Phú Lâm,…
Đến 13 giờ, Tướng Minh được đưa trở về Dinh Tổng Thống và bị nhốt dưới tầng hầm.
Cũng vẫn theo lời của anh bạn tôi:
– Ông Nguyễn Văn Hảo đương kim tổng trưởng Tài Chánh đã có mặt tại dinh Độc Lập ngày 30 Tháng Tư, 1975 với Tướng Dương văn Minh, cùng với nội các của ông Vũ văn Mẫu và một số nhân sự phản chiến tự xưng là thành phần thứ ba (như Dương văn Ba, Hồ ngọc Cứ, Võ long Triều, v.v…). Khi ông Minh được đưa trở về đến Dinh Độc Lập thì ông Hảo lên tiếng, nói một câu “bất hủ” với sĩ quan chỉ huy Bắc Việt rằng:
– Tôi còn ở đây chờ quí vị, để trao cho quí vị một món quà, đó là trên 20 tấn vàng.
Vị sĩ quan đó đáp ngay tức khắc:
– Đó không phải là quà mà là chiến lợi phẩm của chúng tao, tao phải tịch thu, mầy hãy trao ngay cho tao đi!
Và ông Hảo đã dẫn người này đến Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ngay chiều ngày 30 Tháng Tư, 1975, trao 3 chìa khóa hầm vàng cho đại diện Bắc Việt, để chỉ dẫn họ cách thức lấy 20 tấn vàng dằn kho của VNCH ở ngân hàng này. Sau đó ông Hảo vẫn bị đưa về nhốt chung với các vị tổng trưởng khác.”
Ở nhà của Ngô Công Đức, tôi được chứng kiến một cảnh “ngu dốt” của một toán bộ đội Bắc Việt, nói lên tình trạng quá lạc hậu đáng thương hại của người dân Miền Bắc nói chung:
Trong lúc tôi và anh Binh anh Đức ngồi ở phòng khách trò chuyện thì có một toán chừng 6 anh “bộ đội” ập vào nhà “khám xét.”
Người chỉ huy cầm trong tay cái điện thoại và hách dịch hỏi anh Đức:
– Cái “đài” này là của anh?
– Phải, của tôi
– Anh làm “chức vụ” gì lớn lắm của Mỹ Ngụy mà có cái “đài” này? anh dùng cái đài này để liên lạc với Mỹ Ngụy và với CIA phải không? Tôi phải bắt anh ngay về cơ quan để “làm việc,” mặc áo vô đi rồi theo tôi ngay. (vì lúc đó anh Đức ở trần)
– Xin lỗi anh tôi không đi đâu hết, cái này là cái điện thoại chớ không phải cái đài.
– Đồ ngoan cố, cái này là cái điện đài, tôi được lệnh bắt anh, vì trong nhà anh có một cái điện đài mà không chịu đi khai báo…
Tôi rời khỏi nhà anh Đức trưa hôm đó, lòng suy nghĩ miên man… Thật tội nghiệp cho cái anh chàng phản chiến Ngô Công Đức này, giờ này chạm mặt với thực tế có lẽ anh mới sáng mắt thấy rõ trình độ của người dân Miền Bắc và mức độ giáo dục và ảnh hưởng tuyên truyền nhồi nhét của cộng sản là thế nào đối với dân chúng…! Tội nghiệp cho cái anh bộ đội quá ngu dốt này, và cũng thật quá tội nghiệp cho người dân Miền Nam của mình trong những năm tháng sắp tới… có lẽ phải chịu sống đau khổ triền miên vì cái tình trạng ngu dốt của kẻ xăm lăng thống trị từ Miền Bắc…
Ngày 5 Tháng Năm, 1975
Tôi quyết định đến nhà anh chị Bác Sĩ Nguyễn Văn Tạo ở đường Pasteur để tạm trú và tạm lánh mặt chờ ngày 15 Tháng Sáu là ngày trình diện đi “học tập.” Ở đây có lẽ yên hơn là về Sadec (gia đình tôi) hay Cai Lậy (gia đình bên vợ tôi), dù sao ở ngay Sài Gòn chắc không bị những màn trả thù rùng rợn như ở tỉnh, như một số tin tức mà tôi được biết cho tới ngày hôm nay… (như ở ngay tĩnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn Văn Dần, Nguyễn Văn Xôm, Nguyễn Văn Thêm đều bị họ kết án là “có tội với nhân dân” mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu… Riêng anh Trung úy Dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chở Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn.)
Sáng nay tôi phải lên thăm một thiếu tá tuyên úy Phật Giáo, đang là trụ trì tại một ngôi chùa ở Hạnh Thông Tây, và là người có trách nhiệm lo mọi công tác hậu sự cho quân nhân các cấp không may bị tử thương, và hằng ngày lo chăm nom săn sóc nơi an nghĩ cuối cùng của anh em quân nhân chúng tôi là “nghĩa trang quân đội Hạnh Thông Tây” nằm ở đối diện không xa với chùa này.
Đưa tôi vào chánh điện lạy Phật xong ông dẫn tôi lên phòng riêng và khi chỉ còn có hai chúng tôi thì ông nín không nỗi nữa, bật lên khóc sướt mướt, ấp úng nói không thành lời. Sau một lúc khá lâu bình tâm trở lại ông mới nói rõ cho tôi nghe là không phải ông khóc vì chuyện “mất nước,” nhưng khóc vì động lòng từ bi trước cảnh mồ mả trong nghĩa trang quân đội mà ông có trách nhiệm săn sóc đã bị cộng sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày mồng 3 Tháng Năm vừa qua.
Mặc cho sự van xin cầu khẩn của ông (trong bộ áo nâu sồng của một thượng tọa) họ vẫn san bằng hết từ nhà xác, nhà liệm xác, nhà nguyện cho đến ngôi mộ cuối cùng… Ông vừa nói vừa tức tưởi khóc:
– Không hiểu sao họ quá tàn nhẫn như vậy? Họ nói là để lấy đất mà trồng trọt để nuôi nhân dân đang đói nghèo. Đất rộng như vầy, màu mỡ như vầy mà làm nghĩa địa thì phí của trời quá. độc ác với nhân dân quá!
Thật tội nghiệp cho vị tuyên úy Phật Giáo này. Ông quá thật tình, nhìn sự việc qua lòng từ bi của một tu sĩ, nên không hiểu là hành động này phải xuất phát từ chủ trương và chánh sách của người cộng sản mà nhất là cộng sản Miền Bắc, đội quân tiền phong của Quốc tế Cộng sản Đệ Tam Nga Tầu! Dù họ là người Việt Nam nhưng tư tưởng, hành động và nhất là lương tâm của họ ngày hôm nay không còn thuộc về họ nữa. Họ phải theo đúng giáo điều Mác Lê, theo đúng lệnh của Staline, của Mao Trạch Đông là những quan thầy trực tiếp điều khiển họ trong cuộc chiên tranh bành trướng về phương Nam này.
Ông bạn tuyên úy của tôi cũng chất phác như người dân Miền Nam đã từng cho những lời “tố cộng” của chánh quyền hay của Phòng Chiến Tranh Chánh Trị là những chuyện “đặt điều” cốt để tuyên truyền tác động tinh thần của quân cán chính Miền Nam. Bây giờ chỉ mới giáp mặt với một vài hành động của họ thôi, rồi đây có lẻ từ từ rồi họ sẽ thấy được bộ mặt thật của con người cộng sản này. Nhưng từ hôm nay cho đến đó người dân Miền Nam chúng ta chắc còn sẽ phải chịu nhiều cảnh thương đau cùng cực nữa… trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa của họ.
Tôi mời ông thiếu tá tuyên úy bạn tôi cùng lên nghĩa trang Biên Hòa để xem thử là họ đã ủi nghĩa trang quân đội ở đây chưa? Theo tin ông đã nhận được thì hình như họ cũng đã thực hiện công tác này rồi, cũng vào ngày 3 Tháng Năm.
Có đi đến nơi chúng tôi mới thấy rõ được hiện trạng. Thật là thê thảm! Trước hết là tượng hình của một binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến qua tượng đài “Thương Tiếc,” một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật rất có giá trị đặt bên vệ đường ở mặt tiền của nghĩa trang quân đội đã bị cộng sản phá nát bằng cốt mìn, và ủi sạch không còn một chút dấu vết.. Cả nghĩa trang rộng lớn cũng đã biến thành bình địa!
Trên đường về Hạnh Thông Tây cả hai chúng tôi yên lặng không trao đổi một lời nào, tôi tin chắc là cảm nghĩ của một người tu sĩ đương nhiên phải khác hẳn với cảm nghĩ của một chiến binh như tôi. Dù sao khi về đến chùa, trước khi giã từ, tôi cũng nói rõ cho Thầy tuyên úy bạn tôi thấy được cảm nghĩ của tôi:
– Hành động quá ư tàn nhẫn đến dã man này thật không đúng là hành động của bất cứ người Việt nào nhất là ở Miền Nam Việt Nam. Từ ngàn xưa đúng theo đạo lý và truyền thống của dân tộc Việt, người Việt Nam chúng ta ai cũng biết là “nghĩa tử là nghĩa tận” hay “chết là hết.” Dù giữa cá nhân anh và tôi có thù hằn nhau cách mấy nhưng khi anh hay tôi có người đã nằm xuống rồi thì coi như mối thù đó được xóa bỏ vĩnh viễn, không ai còn muốn nhắc đến nữa. Vậy ủi hết mồ mả của quân nhân các cấp thuộc QLVNCH có nghĩa là gì đây? nếu không muốn nói trước hết là nhằm “trả thù cho quân đội và nhân dân Miền Bắc”? sau đó lại “xóa sạch được vết tích của QLVNCH, người đã chết xóa trước, người còn sống xóa sau? trong chủ trương sửa lại toàn bộ lịch sử trong tương lai đối với các thế hệ trẻ sau 1975? một trang sử đấu tranh dai dẳng của Quân Dân Cán Chính Miền Nam đã hy sinh làm tiền đồn ngăn chận làn sóng xăm lăng cộng sản, trong suốt gần 30 năm từ 1945 mà họ cần phải xóa bỏ?? Tôi nghĩ chỉ có như vậy họ mới đang tâm có những hành động phi nhân đạo này. Và chắc chắn trên toàn bộ Miền Nam Việt Nam các nghĩa trang quân đội đều phải chịu chung một số phận. Dĩ nhiên rồi cũng phải đến số phận của chúng tôi… những chiến binh còn sống sót.
Nhưng ngày nào còn có một chiến binh QLVNCH còn sống sót như cá nhân tôi thì ngày đó cộng sản Bắc Việt đừng hòng sửa được một trang sử nào!…
Chúng tôi xin tạm chấm dứt mấy trang “Hồi ký dang dở” ở đây, và xin thành tâm cầu nguyện cho nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam chúng ta sớm được thoát khỏi vĩnh viễn ách độc tài đảng trị của bọn cộng sản vô thần khát máu và tàn bạo này.
Washington, những ngày cuối năm Quý Mùi
Dương Hiếu Nghĩa