Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 Feb 2026

17. Phải chi ngày ấy

Tại Xã Sơn Quang, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, con gái của một nạn nhân trước đây là đảng viên Quốc Dân Đảng, tiết lộ với chương trình Huynh Đệ Chi Binh của chúng tôi, là cha cô bị Cộng Sản chôn sống vào tháng 4-1975. Dò theo đường đi của cha, cô được đồng bào địa phương cho biết nấm mộ tập thể này chôn 30 người nhưng không dám lên tiếng vì sợ hãi, đồng thời cũng lo ngại khu mộ này sẽ bị sóng cuốn mất vì ở sát biển. Nguồn tin từ gia đình 81 Biệt Kích Dù, hai toán hoạt động ở Long Thành, tháng 5-197 5, sau khi ra hàng đã bị bắn và vứt xác xuống giếng cạn, người dân có đánh dấu nhưng không dám tiết lộ cho ai.

Trong nhiều trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, nhiều người miền Nam chết vì bệnh tật hay bị xử bắn đã bị chôn cất sơ sài, xiêu lạc mồ mả hiện nay không còn dấu

vết. Nhiều gia đình đã nhờ các “nhà ngoại cảm” trong nước giúp đi tìm mộ, nhưng người chết cũng còn bị phân biệt đối xử nên nhiều nhà ngoại cảm từ chối không giúp thân nhân tìm hài cốt lính “Ngụy.” Không khuyến khích việc truy tầm những nấm mộ “oán thù” trong những ngày cuối của cuộc chiến, chính quyền Cộng Sản còn làm khó khăn cho thân nhân người chết và dân chúng địa phương khi muốn tiến hành các nghi thức cầu siêu hay tế lễ, hình như chúng sợ đám đông, sợ sự liên tưởng, sợ sự hoài niệm đến một hình ảnh người lính miền Nam đã khuất. An Dương là một bài học như thê! Khi người quả phụ cùng con, đem hương hoa, lễ vật cúng cho người chồng chết từ ba mươi lăm năm về trước, trong trận chiến rút lui cuối cùng, đã bị công an mời vào đồn làm việc, sau đó bị đuổi về không cho vào thăm phần mộ!

36 năm sau, tiến súng đã ngưng, nhưng “hòa hợp, hòa giải” chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi, ngay cả với ngân khoản của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ dành cho việc kiếm người mất tích, Hà Nội không chấp nhận tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, với lý do “đã nhân đạo thì không có điều kiện.” Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Đông Á-Thái Bình Dương tuyên bố Mỹ sẽ ngưng tiền viện trợ tìm kiếm quân nhân mất tích tại Việt Nam “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”

Chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC hồi 30-4-2007, cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù  trong quá khứ, Pháp trước đây, Mỹ sau này, và mới đây Trung Cộng đã tàn phá ba tỉnh biên giới, nhưng đối với người lính miền Nam, hận thù không thể quên.

Hôm nay, những dòng nước mắt chưa ngừng chảy vì những oan khuất chưa được giải bày, những linh hồn chưa được siêu thoát. 36 năm là một thời gian quá dài, trên mặt đất, địa hình không còn để lại dấu vết, bia mộ xiêu lạc, dưới mộ sâu xương đã tàn cốt đã mục. Nếu có, thân nhân may mắn chỉ tìm ra nắm xương tàn hay chút di vật nhỏ nhoi. Đã có những bà mẹ, những người vợ sau chiến tranh, tuyệt vọng vì không tìm được tin tức thân nhân của mình, chết sống ra sao, hài cốt xiêu lạc nơi nào. Cộng Sản Hà Nội vẫn căm thù dai dẳng, đối xử tàn tệ cả với người đã chết, từ nghĩa trang quân đội hoang tàn, đổ nát đến hàng nghìn địa điểm chôn người chưa được khai quật. Cuối cùng tất cả đều tan nát với cỏ cây, xóa nhòa theo thời gian, như nỗi buồn của những bà mẹ già đã đem theo nỗi trông ngóng xuống mộ sâu, chờ nắm xương xiêu lạc của đứa con chưa trở về.

Phải chi ngày ấy, sau khi chiến thắng, miền Bắc đã có chính sách kêu gọi dân chúng, cán bộ trong nước, ai biết tin tức gì về những nấm mộ tập thể của những người lính miền Nam, dù là kẻ thù trước đây, hãy khai báo, để giúp đào xới, kiểm kê, nhận dạng cho thân nhân cải táng, đem về quê quán cho đúng với truyền thống đạo lý của đông phương “nghĩa tử là nghĩa tận”, “không có ai thắng ai thua”.

Nhưng không! Được như thế thì họ đã là con người, còn nói làm gì nữa!

Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ Tai Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 13, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 18 Feb 2026

Thiếu tá Tai Nguyen (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Tai Nguyen, Luc quân Hoa Kỳ đang theo học chương trình hậu Đại học tại Trường Cao đẳng quốc phòng Úc-Đại học Deakin qua Chương trình trao đổi Sĩ quan quân sự Mỹ-Úc (MPEP), từ tháng 11 năm 2025. Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc (MPEP) là một chương trình ​​hợp tác an ninh trao đổi Sĩ quan quân đội theo hình thức một đổi một giữa các Quốc gia đồng minh. Những Sĩ quan tham gia sẽ được bố trí vào các đơn vị quân đội của Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi trong thời gian từ 1 đến 3 năm để thực hiện nhiệm vụ như họ là Sĩ quan của đơn vị đó, điều này sẽ thúc đẩy năng lực hợp tác, củng cố liên minh và chia sẻ các hoạt động thực tiễn hữu hiệu cho Chương trình trao đổi quân sự giữa hai Quốc Gia.

Nhiệm kỳ trước khi sang Úc, Thiếu tá Tai Nguyen* phục vụ tại Bộ chiến tranh Hoa Kỳ**, Washington từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 11 năm 2025, trong nhiệm vụ Sĩ quan cố vấn huấn luyện và phát triển, quan sát các diễn biến, xu hướng và tường trình về chính trị, quân sự và các lãnh vực khác để hiểu được tác động đối với lợi ích của Hoa Kỳ để đạt được các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông cố vấn về các vấn đề và giải pháp trong các chính sách và chương trình song phương và đa phương, trong việc đưa ra các yêu cầu tư vấn huấn luyện.

Thiếu tá Tai Nguyen sinh ra tại trại tị nạn Kuala Lumpur, Malaysia sau khi gia đình ông vượt biển đến được Malaysia. Ông lớn lên ở Roy, Utah, gần căn cứ Không quân Hill, gia đình ông dịnh cư ở đó vì dì của ông kết hôn với một phi công Không quân Hoa Kỳ, Chính người dượng rể này đã dạy ông những giá trị, đạo đức và sự cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Ông tình nguyện vào quân đội vì muốn đền đáp lại đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình ông và cho ông có cuộc sống tự do tốt đẹp hiện nay. Ông gia nhập Lục quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Lục quân trừ bị (ROTC) thuộc Đại học Weber State University, và tốt nghiệp vào năm 2015. Đơn vị và nhiệm vụ đầu tiên trong binh nghiệp, Thiếu uý*** Tai Nguyen được chỉ định làm Trung đội trưởng Sư đoàn 25 bộ binh trú đóng tại Honolulu, Hawaii từ tháng 4 năm 2016, đên tháng 4 năm 2018. Đơn vị và nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý*** Tài Nguyen làm Đại đội phó cho một đơn vị thuộc Lục quân Thái bình Dương từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019.

Đại uý Tai Nguyen, Đại đội trưởng và các binh sĩ Đại đội Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 23 Bộ binh. Lữ đoàn Chiến đấu Stryker 1. tại Căn cứ Liên hợp Lewis (hình của alamy.com).

Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 8 năm 2021, Trung uý Tài Nguyen phục vụ tại Lữ đoàn 5 yểm trợ lực lượng an ninh trong vai trò Sĩ quan cố vấn quân sự hổ trợ phát triển chương trình huấn luyện/giám sát huấn luyện chiến thuật cho việc mua sắm hệ thống hoả tiễn M1126 từ hãng General Dynamics cho Hải quân Hoàng Gia Thái Lan với tổng giá trị hơn 98 triệu USD. Ông cố vấn, liên lạc, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tác Thái Lan và đồng minh trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, phát triển và duy trì các mối quan hệ tích cực nhằm góp phần vào khả năng răn đe đối với các đối thủ của Hoa Kỳ trong khu vực.

Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 4 năm 2023, Đại uý*** Tai Nguyen được chỉ định làm Đại đội trưởng, Đại đội Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 23, Lữ đoàn chiến đấu Stryker 1 “Ghost”, Sư đoàn 7 bộ binh. Ông chịu trách nhiệm chỉ huy, huấn luyện và quản lý một Đại đội với 152 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ với trang bị trị giá hơn 48 triệu USD.

Từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 8 năm 2024, Đại uý Tai Nguyen được chỉ định làm Sĩ quan tuỳ viên**** cho nữ Thiếu tướng Michelle A. Schmidt, Tư lệnh Sư đoàn 7 bộ binh tại Tacoma, Washington

Từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 11 năm 2025, Đại uý Tai Nguyen làm Sĩ quan cố vấn huấn luyện và phát triển của Bộ chiến tranh Hoa Kỳ tại Washington; Và hiện nay, Sĩ quan Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc (MPEP).

Đại uý Tai Nguyen, Đại đội trưởng Đại đội Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 23, Sư đoàn 7 bộ binh (hình của instagram.com).

Thiếu tá Tai Nguyen tốt nghiệp các Văn bằng: Cử nhân khoa học – quản lý hiệu suất con người, Đại học Weber State University, năm 2015; Cao học Quan hệ quốc tế và lãnh đạo, Đại học Arizona State University. Ngoài các Văn bằng trên, ông còn thụ huấn và tốt nghiệp nhiều Văn bằng và Chứng chỉ quân sự.chuyên nghiệp, trong các khoá huấn luyện đó, ông đã hoàn thành khóa huấn luyện Biệt kích tại Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School). Trong 10 năm phục vụ Lục quân, Thiếu tá Tai Nguyen được trao tặng nhiều loại huy chương cá nhân/đơn vị.và bằng khen.

Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá, ngoài Thiếu tá Tai Nguyen, còn có hơn 150 vị khác (không tính nhiều vị đã hồi hưu) đang phục vụ các binh chủng và ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhân sau đây: Thiếu tá Nathan Nguyen, Phó phòng Truyền tin, Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị; Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Thiếu tá Perry Pham, Sĩ quan Lữ đoàn 3 Thiết giáp; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.

Chú thích: Họ và tên Việt Nguyễn Tài; **Bộ quốc phòng; ***Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ****Sĩ quan tuỳ viên (Aide-De-Camp) là Sĩ quan phụ tá, quản lý lịch trình hàng ngày, sắp xếp việc di chuyển, hội họp, thăm viếng các đơn vị và các hoạt động hành chánh cho vị Tướng Tư lệnh. Sĩ quan tuỳ viên giữ vai trò liên lạc trực tiếp việc giao tiếp hiệu quả trong Bộ tư lênh/Bộ chỉ huy.

Mời đọc bài kỳ tới: Hải Quân Thiếu tá Anh Viet Pham, Sĩ quan tác chiến Chuyển vận hạm đổ bộ USS Fort Lauderdale (LPD-28)

Nguồn: alamy.com; linkedin.com; instagram.com.

Người còn lại/Vẫn (phải) viết

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 18 Feb 2026

Lời Người Viết:

#1- Liên tục từ tháng 12/2025 đến nay, cuối năm ta, đầu năm 2026, tôi đã có mặt, chứng kiến lần ra đi của Mai Bá Trác, Đỗ Thái Nhiên, Nguyễn Văn Thân và Bà Lý Tuyết Ánh nhưng người tôi đã sống chung trong đoạn đời dài từ 1950, 1960… 2000… 2020. Đã qua sống/chết có thật với MBTrác tại lần ra đi của Trần Trí Dũng/TĐ7ND (sau trận Đồng Xoài 11/6/1965); lần bay vô An Lộc với Ngyễn Văn Thân (8/6/1972) … Nên những lời sau đây không thể THẬT hơn được!

Thế nên, là tôi quyết định hoàn tất trong thời gian tới Tuyển Tập Thơ Viết Trong Lửa VN/Hỏa Thi VN những nội dung tôi đã viết trên đầu ngón tay trong giai đoạn nằm trong hầm cấm cố tử hình (7/9/1981-29/5/1988) ở ngoài Bắc, và tiếp tục trong từng ngày , giờ (tại) hôm nay trong bóng tối đơn độc ở Minnesota, Arizona, Colorado, CA…

Tôi phải viết vì KHÔNG LÀ CÂU CHUYỆN RIÊNG CỦA CÁ NHÂN PNN MÀ CHUNG CỦA MỐI ĐAU VN. -KHÔNG VIẾT LÀ CÓ TỘI.

Không mặc cảm đối với bất cứ ai dẫu là Dante, Balsac, Victor Hugo, Dostoevsky trước đây hay Boris Pasternak, Elie Wiesle hiện đại… hoặc như Nguyễn Du, Đỗ Phủ của VN, nơi Phương Đông; vì tôi biết chắc KHÔNG AI TRONG BẤT KỲ TRÊN THẾ GIAN NẤY KHỔ Sánh BẰNG một NGƯỜI VN BÌNH THƯỜNG.

Tôi phải viết vì vậy dẫu biết rõ mình chỉ là một Người Lính rất bình thường và tầm thường của Miền Nam/VNCH.

Báo tin cho Quý Bạn như vậy để tôi không (thể) tìm cớ tháo lui.

Phan Phi Danh

Người Lính PNNam- KBC4027-4919-4804    

#2-Từ Thân-Ý-Tình của Phan Phi Danh- Nghĩa Nữ Kelly Lê Ngô Đông Phương chấp bút nên thành: 

Tôi đã sống quá lâu. Quá lâu so với một đời lính. Quá lâu so với những người đã cùng tôi bước ra khỏi sân trường năm ấy – Rồi lần lượt biến mất khỏi cõi đời này.

Từ tháng Mười Hai năm 2025 đến nay, bước qua đầu năm 2026, tôi tiễn thêm bốn người nữa.

Mai Bá Trác; Đỗ Thái Nhiên; Nguyễn Văn Thân; và chị Lý Tuyết Ánh.

Tên họ bây giờ nghe giống danh sách một đơn vị tan hàng sau trận đánh.

Không còn tiếng cười. Không còn tranh luận. Không còn những buổi cà phê kéo dài tới tối.

Chỉ còn tôi.

Một người lính đã tám mươi ba tuổi.

Mười bốn năm lính tác chiến.

Mười bốn năm tù.

Và nay, năm mươi năm sau cuộc chiến và vẫn chưa ra khỏi chiến tranh.

1. Tuổi trẻ không kịp lớn

Năm 1965, tôi hai mươi hai tuổi.Không ai trong chúng tôi nghĩ mình đang đi vào lịch sử. Chúng tôi chỉ nghĩ đất nước đang lâm nguy thì mình phải có mặt.

Sau trận Đồng Xoài, ngày 11 tháng 6 năm 1965, tôi cùng Mai Bá Trác đưa xác Trần Trí Dũng, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù về Đà Nẵng. Không ai nói chữ hy sinh mà chỉ nghĩ – Nó đi trước.

Chiến tranh không phải là thù hận. Nó giống một thứ định mệnh. Như mưa tới thì phải chịu ướt.

Chúng tôi không anh hùng mà chỉ không muốn người khác chết thay mình.

2. An Lộc – Nơi tuổi trẻ dừng lại

Ngày 8 Tháng 6 năm 1972. Tôi bay vào An Lộc với Phi Công Trực Thăng Nguyễn Văn Thân.  Không có tiếng chim. Không có tiếng người. Chỉ có đất đỏ tung lên vì pháo.Tôi nhận ra một điều kỳ lạ: Khi cái chết gần kề, con người không còn sợ chết mà sợ sống sót. Vì sống sót nghĩa là phải nhớ. Những người đã ra đi không mang chiến tranh theo họ. Họ được yên.

Kẻ còn sống mới là người mang chiến tranh suốt đời.

3. Ngày chiến tranh kết thúc. Một cuộc chiến mới bắt đầu

Năm 1975. Chúng tôi tưởng cuộc chiến đã xong. Thật ra nó chỉ đổi hình thái. Tôi bắt đầu 14 năm tù khồ sai biệt xứ. Ban đầu còn nhớ ngày, tháng. Sau thì chỉ còn nhớ mùa lạnh và cái đói. Trong những hầm cấm cố tử hình từ 7/9/1981 đến 29/5/1988, tôi bắt đầu viết thơ trên đầu ngón tay, trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn. Không giấy. Không bút. Không ai đọc. Viết chỉ để chứng minh mình còn tồn tại. Có những năm tháng phải ngủ ngồi vì nền xi măng lạnh buốt lưng trong mùa đông. Tôi co ro trơ trọi trong hầm giam nằm trong lòng đất, thần trí miên man nghĩ… Nếu ngày mai mình biến mất  thì cả cuộc đời này chưa từng có.

Cho nên tôi viết. Không phải để làm văn chương. Mà để chống lại sự xoá bỏ.

4. Ra khỏi tù nhưng không ra khỏi bóng tối

Khi được thả khỏi nhà tù, 1989 tôi không còn trẻ. Thế giới đã đổi khác. Gia đình ly tán. Bạn bè tản mác khắp năm châu.  Tôi đi tới Pháp, Úc, nhiều tiểu bang ở Mỹ… Mỗi nơi một người khác nhau. Giống những mảnh đạn vỡ sau vụ nổ. Chúng tôi gặp lại nhau không phải để kể chiến công mà để soát lại xem còn ai sống. Một buổi cà phê của những người lính già có nhiều khoảng lặng.

Mỗi người nghe (lại) một chiến trường khác nhau trong đầu.

5. Những cái chết muộn

Năm mươi năm sau chiến tranh. Tôi bắt đầu tiễn từng người. Không ai chết ngoài mặt trận nữa. Nhưng mỗi đám tang đều có mùi của chiến tranh. Khi Mai Bá Trác lâm chung, tôi vượt đường xa hơn 100 cây số từ San Diego về Orange County, Nam Cali về. Trác đã chết trước đó mươi phút nhưng cặp mắt bất chợt mở ra khi tôi bước vào. Như để nhìn đồng đội như nói lời vĩnh biệt trong thầm lặng. Tôi nhớ Người Lính từng sống với  tôi năm 1965, 1968, 1972…không phải người già nằm trong quan tài. Tôi viết bản phân ưu, tiễn đưa bạn về cõi ngoài.

Nguyễn Văn Thân ra đi. Tôi thấy lại An Lộc cháy đỏ, ngày Hè, 8 tháng 6, 1972 từ Lai Khê bay trực thăng vào. Bay trực thăng vào An Lộc giữa một lưới đạn phòng không 12 Ly 7, hỏa tiễn tầm nhiệt SA 7, kể cả súng cá nhân… Không phải chỉ riêng trực thăng của Nguyễn Văn Thân, Đào Bá Hùng… mà khu trục Skyraider của Nguyễn Cao Hùng cũng tan thân trong vũng lửa.   

 Chị Lý Tuyết Ánh quý cách, thùy mị diu dàng, với tiếng hát như suối reo từ sân trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng năm xưa nay cũng đi luôn. Tuổi học trò vĩnh viễn khép lại.

Chúng tôi không chết cùng lúc. Chúng tôi chết dần. Tôi lại viết tiếp một bản phân ưu.

6. Vì sao phải viết

Tôi quyết định hoàn tất Tuyển Tập Thơ Viết Trong Lửa Việt Nam.

Không phải vì tôi là “Thi Sĩ/Văn Nhân”. Tôi chỉ là một Người Lính bình thường.

Nhưng nếu tôi không viết thì tất cả những người (chết) kia chưa từng tồn tại.

Lịch sử luôn thuộc về kẻ còn sống. Kẻ chết không có tiếng nói. Tôi viết vì đây không phải chuyện riêng của tôi.

Đấy là Nỗi Đau của một Dân Tộc.

Không viết là có Tội. Tội làm Người/Người Việt Nam

7. Sự mặc cảm

Nhiều người nói đến những văn hào thế giới. Tôi không dám so sánh. Nhưng tôi biết Nỗi Khổ của một Người Việt bình thường trong thời đó không có trang sách nào chứa hết. Không phải vì chúng tôi cao cả hơn. Mà vì chúng tôi quá nhỏ bé giữa lịch sử.

Không ai hỏi ý kiến chúng tôi khi chiến tranh bắt đầu.

Cũng không ai hỏi khi nó kết thúc.

Nhưng chúng tôi là người mang hậu quả suốt đời.

8. Tuổi già

Ở tuổi này, trí nhớ (tôi) không mất. Nó chỉ sống ở nơi khác.

Ban ngày tôi là một ông già nơi xứ sở lạ.

Ban đêm tôi lại “Người Lính” hai mươi tuổi giữa tiếng đại bác trên quê hương.

Người ta nói thời gian chữa lành. Không đúng. Thời gian chỉ làm chiến tranh im lặng hơn chớ không biến mất

9. Điều còn lại

Tôi không còn nhiều năm nữa. Nhưng tôi không sợ chết. Người Lính đã quen với sự kiện nầy từ lâu.

Tôi chỉ sợ một điều: Mọi chuyện biến thành “không có thật”.

Cho nên tôi viết. Viết cho những người đã chết. Viết cho những người còn sống. Và cho những người chưa sinh ra để họ biết.. Chúng tôi đã từng tồn tại, đã từng yêu đời, đã từng sợ hãi, đã từng hy vọng. Và đã đi qua một thời mà con người không được quyền (sống) bình thường.

10. Lời cuối

Tôi không phải anh hùng. Không phải nhân chứng lớn. Chỉ là một Người Lính Miền Nam còn sót lại.

Nhưng đôi khi lịch sử được giữ lại, không phải bởi những người vĩ đại mà bởi người sống lâu hơn.

Vì thế tôi viết.

Cho đến khi không còn viết được nữa.

Phan Phi Danh

Ngày ra tù 1989 ở Việt Nam,

Nay ở Mỹ.

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 18 Feb 2026

Theo lời dặn của C— Anh cố vấn văn chương— Tôi phải viết một cái tựa thật hách, ngắn, cô đọng và hay ho không chịu được… Nhưng viết thế nào để có thể gọi là ” hách”? Thôi, tôi mở đầu bằng cách bày tỏ nguyên do đồng thời đề biện hộ cho những dòng viết ở những trang sau. Đến cái tuổi này lẽ tất nhiên tôi chẳng hy vọng gì nơi văn chương nữa, cũng không thể ước mơ nhờ cái ngõ văn chương để kiếm một chút danh gia. Hơn nữa, danh vọng của một người viết văn ở Việt Nam cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa. Bao nhiêu năm làm văn nghệ, cũ như Lê Văn Trương, Đinh Hùng, mới như Quách Thoại, đến khi chết đi thì cũng chẳng còn gì – Thế Phong đó – anh chàng làm văn nghệ như một gã tiền phong, “Nửa đường đi xuống” phải đóng bộ ka-ki độ nhật qua ngày với tờ báo của Không Quân. Thế nên tôi chẳng hy vọng gì ở cái “nghề của chàng” nữa. Nhưng vẫn muốn viết, viết như một “nhu cầu”, nói cho có vẻ thiết tha. Tôi đâu phải là hoàng tử văn chương ngoại hạng, xem chuyện viết lách như một công việc nghiêm trang giữa người và thế giới bí ẩn của chữ nghĩa, viết đối với tôi đúng ra chỉ là một cách thoát hơi – Viết để khỏi ấm ức bực mình.

Sau tám năm ở lính, thời gian thoải mái thật hiếm hoi, những phiền toái có duyên cớ hay không, chính danh hay ẩn dấu hình như chực sẵn ở trong người, có cơ hội sẽ dấy lên như giông bão. Đôi khi tôi thấy thật yêu cái nghề này, nó tạo cho con người tính kiên nhẫn, lòng vị tha, chế ngự những hèn mọn của mình. Nhưng cũng có lúc tôi thấy nó thật tệ, không có một nghề nghiệp nào ù lì, cứng đọng và thụ động bằng ” đi lính “, chỉ cần thừa hành trong một giới hạn thật sít sao, thế là đủ. Có nhiều lúc tôi muốn ném tung hết tôn ti trật tự, bộ quần áo trên người để thong dong giang hồ một chuyến tự do, nhưng đồng thời cũng vừa khám phá, đang bị buộc chặt, đã quen với đời sống này. Thật khó khăn khi phải nói chuyện với một anh dân sự, hình như tôi và hắn ta ở hai thế giới thật khác xa nhau. 

Tôi cũng muốn viết về đời sống lính với những con người thật lạ. Năm 1966, có gã lính thật trẻ ở đại đội tôi, hắn ta thấp bé da xanh mướt ốm yếu, nhưng uống rượu kinh khiếp, hai lít rượu đế hắn uống tỉnh bơ, hình như rượu không tạo nên phản ứng nào trong người. Ngoài cuộc rượu, y bình lặng kín đáo như một con ốc. Một hôm đứng gác, sẵn súng ở tay, hắn bắn vào đầu tự vận. Tôi không biết nỗi thất vọng kinh khủng nào trong đầu một thằng bé 19 tuổi. Đức ” điên ” Biệt động quân, quan Ba, Tiểu đoàn phó, đi hành quân mang khẩu M.79 chạy trước hàng lính, về Sài Gòn đi chơi, mặc một chiếc áo bà ba đen, dưới quần lính, chân mang dép Nhật, trang bị thêm một con dao đi rừng. Tôi không hiểu nó nhìn đời thế nào qua cặp kính trắng dày cộm khi trên người trang bị với phụ tùng như thế. Đại khái ở lính có những loại người ” bất bình thường ” như vậy, và trong đám bất bình thường trên lại chen lẫn vài kẻ bình thường thật kỳ quái. Thiên, anh chàng đi theo tôi trong hai năm, một ngày chỉ nói khoảng hai mươi tiếng: dạ, vâng… Thế là hết. Nó ở xa, tôi gọi đến vỡ phổi không tiếng trả lời, lát sau lặng lẽ đi đến. ” Tao kêu mày có nghe không?..”. ” Dạ có “. ” Thế sao mày không trả lời? “. Thiên bóp bóp hai bàn tay đứng im. Thấy những người lính khác bắt gà, nó cũng bắt một con treo trên ba-lô, đi một đoạn vắng người, thả chạy, xong làm dấu Thánh giá đọc kinh. 

Đi lính tôi có nhiều “thế” sống thật đặc biệt. Chiều 29 Tết năm 1963 ở chân đèo Rọ Tượng, Khánh Hòa, căn cứ Lầy, trời rét như cắt ruột, mưa phùn bay mù mịt, chúng tôi đứng trong nước sình ngập đến ngực, lạnh, đói, đã gần năm ngày liên tiếp mình mẩy không bao giờ được khô. Dân chúng đi từ Ninh Hòa về Nha Trang tưởng chúng tôi là tù binh, ném bánh ú từ trên xe xuống cho, một vài bà già chấm nước mắt khóc vì thương hại. Nhưng chúng tôi vẫn vui như tết, Năng và tôi nhặt bánh ú ngồi ăn ngon lành, cả hai đứa đều là những ” Tân Sĩ Quan ” vừa quỳ xuống đứng dậy cách đây một tháng để lãnh nhiệm vụ gánh vác non sông! Chúng tôi hãnh diện với nỗi cực khổ của mỗi phút chịu đựng, lòng không một chút ta thán… Nhưng lúc gặp nhau ở Sài Gòn, hai thằng đem nhà binh ra nạo đến sát ván không chút nể nang. Bình Giã đói và khát hai ngày đến nỗi lính phải hút nước ở rễ cây, có tên uống phải rễ cây độc đứng tim chết. Kéo quân ra Phù Mỹ, uống một nón sắt nước ruộng nhưng lòng không phiền hà. Mười chín tháng Ba 1965 kéo về Sài Gòn đóng ở Đài phát thanh, cô-ca lạnh mát nuốt vào khó khăn không làm dịu được nỗi oi ả ở trong lòng. 

Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo. 

Trong thời gian sau này, thường thường những giấc mơ của tôi cuối cùng dẫn đến một chủ đề – Nước. Tôi mơ thấytrời mưa, mơ thấy được tắm trong dòng suối, được vùng vẫy trong sông lớn. Kỳ cục hơn có hôm tôi mơ bị mắc cạn trong cống rãnh. Về mặt sinh lý người ta bảo đó là hiện tượng yếu thận, tâm lý bảo đấy là ý định muốn giải thoát— Có thể đúng như vậy, vì tôi đang yếu thận đồng thời luôn luôn có cảm giác “lạ” với đời sống này. Tôi không coi những ngày đang sống là sống thực. Sống bây giờ là sống gởi, cõi mơ ước nào đó mới là quê hương thật. Nhưng đúng chỉ là mơ ước, vì còn một nơi chốn nào khác ngoài cuộc đời ngặt nghèo này— Chỉ còn một cõi trong tôi. Nhưng thôi, “tác phẩm” khi đã xong có phần đời của nó – hai mươi sáu tuổi – tám năm lính để lại gia tài trăm trang giấy! Có một vị đắng ở đầu lưỡi. Nhưng nói cùng ai? Tôi cũng trốn tôi trong câu hỏi này. 

Tuy nhiên khi viết xong, đọc lại thấy vừa lòng nhưng đồng thời một vài ý nghĩ thật lạ xảy đến. Những ý nghĩ trong chiều mưa, mưa thật lớn trên đồi cao, gió thật mạnh, doanh trại vắng vẻ như bãi tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc… Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường, sù lông rũ nước kêu lên những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy trong lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như của những ngày vừa mới lớn. Tôi thấy những điều viết quá hằn học, nhiều thù hận và độc đoán. Trước tiên đối với người Mỹ. Những sự kiện gần đây, cảnh hai phi hành gia bước chập choạng trên mặt trăng. Những bước đi đầu tiên của con người trên một hành tinh khác. Lẽ tất nhiên tôi không a dua theo một phong trào để hoan nghinh sự thành công của Apollo 11, đã từ lâu tôi không xem trọng thí nghiệm này. Chỉ có cảm phục khi nghĩ đến những công tác khoa học tinh vi và chính xác để ráp nối phi thuyền mẹ với Nguyệt xa, tiếng nói của những phi hành gia được chuyền thẳng về trái đất rõ mồm một. Trước thành công như trên làm sao tôi không hoan nghênh? Nhưng tổng quát tôi vẫn không thán phục, kết quả cũng không có gì cụ thể để giúp ích cho một khối dân khốn cùng nằm dài trên hai cõi Á, Phi. Trong khổ cực của quê hương này tôi không thể nào quá ngưỡng mộ thành công ở trời xa. Nhưng tôi chịu nhất là thái độ phóng khoáng, cử chỉ hào hiệp của người Mỹ trong vụ này, họ đã hãnh diện dưới danh nghĩa — Một sự tiến bộ của nhân loại. Sự rộng rãi này làm cho tôi kính phục. Ngoài ra một hôm có việc cần phải vào bệnh viện 3 Dã chiến Hoa Kỳ, thấy một anh lính Mỹ đẩy chiếc xe trên có một anh khác bị thương ở chân, anh chàng đẩy xe cũng là thương binh, gầy ốm, tóc vàng hoe mọc dài xuống gáy, mang đôi kính cận thị dày cộm, nét mặt hồn nhiên và treœ thơ. Và tôi đã nghĩ rằng khuôn mặt trẻo thơ đó, nếu đem biến thành đối tượng cho những nhận xét hằn học đầy thù nghịch của tôi thật đáng tội nghiệp. Chiến tranh đã kéo y qua đất nước này, chịu đựng những khổ cực vượt ra ngoài ý niệm của người Mỹ, nay bị thương đôi mắt vẫn còn trong sáng và trẻ thơ — Dấu hiệu của tâm hồn chưa bị vấy bẩn bởi cuộc chiến này. Nhìn sự ngây thơ trung thực đó, nghĩ đến những phán đoán của mình quả độc đoán và quá độ. 

Gần hai năm nay, mỗi ngày phải uống tám viên Nevrosvitamin 4 để làm dịu xuống những bứt rứt hiện thành phản ứng không kìm hãm… Thiếu những viên thuốc đỏ đó, người tôi như nung trên một lò lửa đang đỏ, đầu óc muốn nổ tung, chân tay ít nhất phải đập phá một vật gì, tôi sợ tiếng động và chốn đông người một cách bất thường. Nhưng hai tháng sau này tôi bỏ được nhu cầu uống thuốc đó, suốt ngày đánh trần nằm trên bãi cỏ trước phòng ngủ, doanh trại hậu cứ hoang vắng một cách dễ chịu, phía xa những ngọn đồi Tăng Nhơn Phú chạy dài bình yên. Trong sự bình yên này, đọc lại những điều đã viết quá trớn, thấy ân oán giang hồ, đụng chạm đến nhiều giới. Tôi muốn đưa cuốn sách cho những người nhỏ tuổi đọc, để dò xem phản ứng của những người chưa bị ảnh hửơng cuả chiến tranh, nhưng ngần ngại vì thấy những điều mình viết không trong sáng. Lẽ tất nhiên một cuốn bút ký không thể nào nằm dưới kìm kẹp của ý thức luân lý bình thường được, hơn nữa bút ký về cuộc chiến tranh nhọc nhằn. Nhưng nhìn thấy toàn bộ những điều đã viết chỉ có một nỗi hằn học, uất hận nên tự hỏi rằng có quá đáng hay không? Thấy đàn trẻ đi thi tú tài, nhớ lại mười năm trước cũng ở trong nguồn trong sáng đó, thế tại sao có những đổi thay tàn bạo và quá đáng như kia? 

Tôi lại gặp Banh, người bạn cũ ở Đà Nẵng, gặp Banh để nhớ lại một cái Tết thật tang thương, hai mươi chín Tết không thức ăn – hai mươi chín tết – thời gian thật khó thể đi kiếm một bữa cơm. Banh đạp xe trên hai mươi cây số về làng quê Quảng Nam xin mươi quả trứng vịt, và hai đứa đã đón xuân bằng những quả trứng trong suốt ba ngày Tết. Gặp Banh để nhớ rằng trong những ngày khốn khó đó, tôi vẫn luôn luôn thắp sáng cho mình ngọn lửa hy vọng và những tình cảm tốt đẹp.

Những sự kiện kể trên gây cho tôi cảm giác ngại ngùng khi đọc lại những điều ghi được của tám năm binh lửa. Không lẽ suốt đoạn đời này tôi chỉ có khốn khó và thù hận thôi sao? Từ đó phát sinh ra những ý hướng chối bỏ, như dấu chàm của một niềm tuỉ hổ, và ao ước được thấy điều mình viết mang niềm vui hồn nhiên trong sáng. Nhưng tám năm lính của tôi niềm vui quả thật ít, ít đến tội nghiệp khi đem so sánh với nhọc nhằn đằng đẵng. Tám năm, thời gian gần bằng đoạn đời của gã nông phu Johann Moritz lang thang qua các trại tù của giai đoạn Âu Châu máu lửa, nhưng trước và sau tám năm đó, anh bạn Lỗ còn có những ngày vui hy vọng. Tôi có gì vui trước tám năm này và hy vọng nào về một Việt Nam hậu chiến. Nhưng thôi, có nói hoài thì cũng chỉ kéo dài thêm lời than thở hèn mọn. Điều mong ước là được xóa đi những hằn học và thù hận. Sự đụng chạm nếu có ở một vài đối tượng nào đó thì xin nghĩ rằng đây chỉ là những ý nghĩ của một người muốn chân thật với mình trong hoàn cảnh khắt khe. Lỗi không phải là ở sự thành thật đó. Đây là lỗi của một cảnh đời. Tội của những người trong chúng ta đã bất lực trước định mệnh, để bị cuốn trôi hết tình người — Thôi, đây là tội trong mỗi chúng ta. 


10 tháng 9 năm 1969
Long Bình Việt Nam

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 18 Feb 2026

12. Một người không thể nói dối

Khi Nerzhin đi trở lại phòng âm thính với cảm giác mơ hồ rằng việc anh vừa làm không sao còn cứu vãn hay sửa chữa được, tâm hồn còn dao động, anh thấy Rubin không còn có mặt trong phòng nhưng tất cả những người khác còn nguyên trong đó. Valentulya, đứng trên lối đi hai bên xếp cao những dàn máy truyền tin, chiếu cặp mắt sáng, linh động, nhìn anh. 
“Đừng vội, chàng trẻ tuổi…” 
Valentulya giơ tay lên ngăn Nerzhin lại như một viên cảnh sát chặn một chiếc xe hơi đang chạy: 
“Người ta gọi anh có việc gì vậy? Qu’est ce que c’est que c’est passé?” (có chuyện gì xảy ra vậy?) 
“Đừng lắm chuyện Valentine…” 
Nerzhin cau có lẩn tránh câu hỏi. Anh không thể nào nó cho gã trẻ tuổi đầy kiêu mạn này biết rằng anh vừa từ chối cơ hội hiếm có được làm việc với khả năng toán học chuyên môn của anh. 
Valentine vẫn vui vẻ: 
“Nếu anh có vấn đề gì nan giải, tôi khuyên anh nên mở nhạc khiêu vũ. Anh đã đọc bài thơ của anh chàng thi sĩ trên là gì đó nhỉ? Anh chàng thi sĩ chụp hình với điếu thuốc lá gắn trên môi đó… 
Cảnh sát của tôi 
Bảo vệ tôi 
Trong khu vực hạn chế 
Ôi… đời sống đẹp biết chừng nào… 
Nói thực với anh, chúng ta còn đòi hỏi hơn ngoài nhạc khiêu vũ?” 
Nói xong, không chờ Nerzhin trả lời, Valentine đã nghĩ ngay sang chuyện khác. Quay về cuối phòng, Valentine gọi lớn: 
“Vadka… Làm ơn cắm điện vào máy cho tôi…” 
Đi gần tới bàn mình, Nerzhin nhìn thấy rõ sự lo âu hiện trên mặt Simochka. Nàng trố mắt nhìn anh, dò hỏi, không cần che dấu và đôi lông mày của nàng nhíu lại. 
“Gã Râu đen đi đâu rồi, Serafima Vitalyevna?” 
“Anton Nikolayevich gọi anh ấy lên Phòng số bảy” – Simochka trả lời lớn để cho tất cả mọi người trong phòng cùng nghe, xong nàng lại nói lớn – “Gleb Vikentich… Chúng ta kiểm soát lại bản danh sách âm thanh này. Còn nửa giờ nữa mới hết giờ.” 
Nerzhin nhìn quanh và hỏi lại: 
“Ồn ào như vầy làm sao có thể làm việc ấy được?” 
“Ờ… vào phòng ghi âm…” 
Simochka đã sắp đặt trước việc này. Nàng liếc nhìn Nerzhin để ra hiệu và cầm bản danh sách, nàng đi vào căn phòng kiếng nhỏ xíu ở cuối phòng trước Nerzhin. 
Nerzhin đi theo nàng vào đó. Anh với tay đóng cánh cửa lại, gài khóa cẩn thận và buông tấm màn che xuống. Simochka bá lấy cổ anh, nàng đứng nhón gót để hôn lên môi anh. 
Trong lòng căn phòng hẹp không còn chỗ để cho hai người xoay chuyển. Nerzhin nhấc bổng người thiếu nữ gầy và nhẹ lên, anh ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng và đặt nàng ngồi lên đùi anh. Họ ngồi ôm nhau như thế trước ống micro và tập danh sách bị vứt ở góc bàn. 
“Anton gọi anh lên làm gì? Có việc gì vậy?” 
Nerzhin thì thầm: 
“Máy phóng thanh có mở không đấy? Coi lại xem. Đừng để cho cả phòng nghe tiếng mình nói.” 
“Chuyện gì?” 
“Sao em lại cho rằng có chuyện gì xảy ra?” 
“Em biết ngay có chuyện khi họ gọi anh. Lúc anh trở về, chỉ nhìn mặt anh em biết ngay. Chuyện gì?” 
Anh cảm thấy hơi nóng từ da thịt nàng chuyền sang anh, má anh chạm vào má nàng. Cảm giác này là cảm giác hiếm có với những người ở tù. Không biết bao nhiêu năm tháng đã qua trong đời anh kể từ lần cuối cùng anh được ôm một người đàn bà. 
Thể xác Simochka thật nhẹ, nhẹ một cách lạ lùng, như trong nàng không có xương, như cả người nàng đều là sáp ong. Nàng như một loài chim trông thì có vẻ lớn nhưng chỉ có toàn lông. 
“Em yêu… có lẽ anh sắp phải đi…” 
Nàng xoay mình trong vòng tay anh và đặt hai bàn tay nhỏ bé của nàng lên hai thái dương anh, chiếc khăn len choàng trên vai nàng trễ xuống: 
“Đi đâu?” 
“Sao em lại còn hỏi anh đi đâu? Anh đến đây từ vực thẳm, từ địa ngục, anh lại trở về đó. Về trại tập trung.” 
“Nhưng tại sao…? Tại sao?” 
Nerzhin nhìn vào đôi mắt mở lớn đang nhìn ngày chàng của người con gái mộc mạc này, người con gái mà anh không ngờ chiếm được tình yêu. Nàng còn xúc động vì số mệnh của anh hơn cả chính anh. 
“Anh vẫn có thể ở lại được” – Nerzhin buồn rầu nói – “Nhưng anh sẽ phải sang Phòng khác. Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, chúng mình cũng không còn được gần nhau.” 
Với tất cả sức mạnh của đôi vòng tay, nàng ôm ghì lấy anh, nàng đặt hết trọng lượng thân thể nhẹ bỗng của nàng lên anh và nàng hỏi anh có yêu nàng không. 
Trong những tuần lễ vừa qua, sau khi hôn Simochka chiếc hôn đầu, tại sao anh lại không tiến tới việc yêu nàng? Sao anh lại thương hại nàng? Sao anh lại chỉ nghĩ đến chuyện nàng sẽ khổ sở nhiều hơn là sung sướng với cuộc tình ngắn ngủi này? Dù anh có không yêu nàng, nàng cũng khó lòng tìm được một tấm chồng, dù là chồng không ra hồn, nàng sẽ rơi vào tay một gã đàn ông nào khác, bất kể là gã nào có dịp gần gụi nàng. Nàng đến trong vòng tay anh, tự nguyện hiến dâng, sẵn sàng cho anh yêu. Tại sao lại từ chối anh và từ chối cả nàng? Mai đây anh sẽ trở về trại tập trung và cơ hội hiếm có này sẽ không thể đến với anh trong nhiều năm nữa… 
Anh vội vã nói: 
“Anh không muốn ra đi như thế này… Anh không muốn xa em mà không để lại cho em một kỷ niệm gì của anh… Anh muốn… anh muốn cho em một đứa con…” 
Nàng giấu mặt nàng vào ngực anh và anh đặt ngón tay dưới cằm nàng, âu yếm nâng mặt nàng lên. 
“Em yêu, đừng giấu mặt. Nhìn anh, xin em nhìn anh… Sao em không nói? Em không thích ư? Em không chịu ư?” 
Nàng ngửng đàu lên và từ tận cùng trái tim nàng, tâm hồn nàng, nàng nói: 
“Em sẽ chờ anh. Anh chỉ còn năm năm? Em sẽ chờ anh năm năm? Khi nào anh được ra, anh về với em?” 
Nerzhin chưa bao giờ nói với nàng như thế. Nàng đã ước mơ, nàng đã làm cong queo sự thật, nàng làm như chàng là người không có vợ. Tội nghiệp cho nàng, người con gái có chiếc mũi dài quá khổ này, nàng ao ước được lấy chồng. 
Vợ Nerzhin sống ở đâu đó trong thủ đô Mạc Tư Khoa ngay gần đây, nhưng với anh, nàng cũng xa xôi như nàng đang ở trên Hoả tinh. 
Và bên cạnh người con gái đang ngồi trên đùi anh, bên cạnh vợ anh đang sống ở Hỏa tinh, anh còn những trang giấy giấu trong bàn viết của anh những trang giấy ghi những hàng chữ trừu tượng đã làm anh tốn không biết bao nhiêu công phu, tâm huyết. Đó là những ghi nhận và phê phán của anh, về thời đại hậu Lênin, những tư tưởng đẹp nhất được đúc kết trong óc anh. 
Nếu anh đi khỏi đây trong một chiếc xe chở tù công cộng, tất cả những công phu ấy sẽ phải làm mồi cho ngọn lửa. 
Anh nên nói dối nàng, nàng nên hứa là khi ra khỏi tù, anh sẽ đến với nàng, sống với nàng. Một lời nói dối, một lời hứa như tất cả mọi người vẫn nói, như bất cứ người nào ở trong tình trạng của anh cũng phải nói. Nói dối để khi anh phải ra đi, những tờ giấy quý báu của anh sẽ được nàng giữ cho anh. Chắc chắn, không sao có thể mất được. 
Nhưng anh không sao có thể nói dối được với cặp mắt đang nhìn anh chứa chan hy vọng kia. 
Để tránh tia mắt ấy, anh cúi xuống hôn lên đầu vai xương xẩu do những ngón tay anh mở lộ dưới áo nàng. 
Một lát sau, anh do dự nói: 
“Có lần em hỏi anh là anh viết những gì trên những tờ giấy nhỏ đó… Em nhớ không?” 
“Nhớ. Mà anh viết gì vậy?” 
Nàng hỏi anh với giọng tò mò y hệt lần hỏi đầu tiên. 
Nếu nàng đừng hỏi lại anh câu đó, nếu nàng đừng tỏ ra tò mò, đừng có vể thúc giục anh nói, Nerzhin đã nói hết với nàng sự thật ngay lúc đó. Nhưng vẻ tò mò dục dã của nàng làm cho anh chợt nhớ đến việc đề phòng. Anh đã sống quá nhiều năm trong cuộc sống mà đề phòng trở thành một thói quen như việc hít thở khí trời, giữa những bãi mìn đầy những dây bẫy vô hình có thể làm nổ tung bất cứ lúc nào. 
Đôi mắt ngây thơ, chan chứa yêu thương này có thể là đôi mắt của một nhân viên mật vụ. Lát nữa đây biết đâu nàng lại chẳng kể lại hết từng tiếng anh nói với tên sĩ quan thượng cấp của nàng. 
Đột nhiên, nàng nhớ lại những chuyện đã xảy ra giữa anh và Simochka. Lần đầu tiên, chính nàng đã để má nàng chạm vào má anh trong phòng ghi âm này. Biết đâu đó lại chẳng phải là một hành động cố ý? Biết đâu nàng lại chẳng nhận được lệnh phải làm như thế? Biết đâu tất cả mối tình này lại chẳng là một cái bẫy? 
“Đó là những tài liệu anh ghi về lịch sử” – Nerzhin trả lời mơ hồ – “Lịch sử nói chung kể từ đời vua Peter. Chẳng có giá trị gì với người khác nhưng có giá trị với riêng anh. Anh sẽ tiếp tục viết cho đến khi nào Yakonov tống cổ anh ra khỏi đây. Nhưng nếu anh phải đi, không biết anh có thể nhờ ai giữ giùm anh.” 
Đôi mắt Nerzhin bây giờ nhìn sâu vào mắt Simochka, nhưng anh nhìn không phải là để xúc động, để tỏ tình mà là để dò xét. 
Simochka bình thản mỉm cười: 
“Anh còn phải hỏi nữa sao? Đưa cho em, em giữ cho anh. Anh cứ viết đi. Đừng sợ.” 
Và nàng hỏi câu hỏi nàng muốn hỏi từ lâu nhưng vẫn sợ phải nghe câu trả lời: 
“Nói cho em biết… vợ anh… đẹp lắm phải không?” 
Tiếng chuông máy điện thoại nối liền phòng ghi âm với phòng thí nghiệm bên ngoài chợt reo làm đôi tình nhân giựt mình. Simochka mở máy khuếch âm trước khi nhấc ống nghe để trả lời người gọi vào bên ngoài. Nàng ngồi đó, đôi má đỏ hồng, y phục sộc sệch và nói vào máy như người đang bận rộn với việc đọc bản danh sách âm thanh “Dop, fskop, sthap”. Những người ở bên ngoài sẽ nghe thấy những tiếng nàng vừa nói. 
Nàng nhấc ống điện thoại và trả lời: 
“Chi đó Valentine Martynich? Ống đèn đôi diode-triode ư? Anh cần gấp không? Mình không có sẵn đèn 6G7 nhưng đèn 6G2 thì có. Được, để tôi đọc xong sẽ lấy cho anh… Droot, moot, shoot…” 
Nàng tắt máy và vuốt nhẹ má Nerzhin: 
“Em phải ra thôi. Họ nghi… Cho em ra…” 
Nhưng nàng không có vẻ gì là muốn ra khỏi đó. 
Nerzhin hôn nàng, anh ôm ghì lấy nàng chặt hơn. 
“Em không đi đâu hết. Ở đây, anh… anh muốn…” 
“Đừng. Họ đang chờ em. Em còn phải cất tài liệu…” 
“Ngay bây giờ…” 
Anh đòi hỏi. Và anh hôn nàng. 
“Ngay bây giờ thì không thể được…” 
“Bao giờ? Bao giờ?” 
Nàng ngoan ngoãn trả lời anh như lời anh hỏi là một mệnh lệnh: 
“Thứ hai. Thư hai em lại trực. Em trực thay cho Lyra. Anh đến đây sau giờ ăn trưa. Chúng mình sẽ có cả một giờ đồng hồ. Chỉ sợ gã khùng Valentulya giở trò đến làm việc.” 
Trong lúc Gleb Nerzhin mở cửa, Simochka vuốt lại mái tóc, sửa lại y phục, gài lại nút áo và nàng bước ra khỏi đó trước anh, dáng điệu kiêu kỳ và vẻ mặt lạnh lùng.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 18 Feb 2026

16. Tội ngu

“Đem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn

Lấy Chí Nhân Mà Thay Cường Bạo!”

(Nguyễn Trãi)

Cho đến hôm nay, nhiều người vẫn oán trách, lên án Cộng Sản chuyên lật lọng, nói một đường làm một nẻo. Câu chuyện mà chúng ta nhắc nhở nhiều nhất là chuyện sau ngày 30/4, Cộng Sản thông báo sĩ quan cấp úy “đi học tập” một tuần, và sĩ quan cấp tá 15 ngày, nhưng sau đó đày đọa Quân, Cán, Chính VNCH trong các trại tập trung ở các vùng thâm sơn cùng cốc đến mười năm, hai mươi năm và đã biết bao nhiêu người kiệt lực phải chết ở trong tù! Tuy nhiên, nếu chúng ta chịu khó nhớ lại và đi tìm, thì không có văn bản nào của Ủy Ban Quân Quản VC thời đó thông báo hay ấn định thời gian học tập là một tuần hay mười lăm ngày.

Họ chỉ nói lập lờ là sĩ quan cấp úy đem theo tiền ăn cho “một tuần,” và sĩ quan cấp tá “15 ngày.” Hiền lành, hiểu biết nông cạn, hay phỏng đoán và suy luận hời hợt, tôi, là người viết bài này, một sĩ quan cấp úy vội hiểu rằng Cộng Sản tập trung chúng tôi lại để học tập chính sách mới trong vòng một tuần. Là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị trung cấp (cứ xem như vậy đi,) đã biên tập nhiều bài vở, phỏng vấn nhiều tù binh CS, viết nhiều slogan chống Cộng trên sách báo và đài phát thanh mà ngây thơ, hoàn toàn không hiểu gì về Cộng Sản. Buổi trưa ngày 24 tháng 6, theo thói quen, tôi vẫn có một giấc ngủ trưa, thức dậy vào khoảng ba giờ chiều, hẹn một người bà con cùng cấp bậc ở chung trong cư xá khăn gói cùng đi trình diện. Trong ba lô cá nhân có một cái mền dù, một cuốn sách không nhớ tên, hai bộ áo quần, một đôi dép, một số tiền để đóng tiền ăn cho một tuần và đúng bảy gói mì ăn liền “Hai Con Cua” cho bảy buổi sáng. Như mỗi lần đi công tác, ra đi, tôi nói với vợ: “Anh đi một tuần về!” Cũng không hôn vợ hay xoa đầu con trước khi ra đi.

Theo thông cáo của chính phủ Lâm Thời Miền Nam (tức là MTGPMN) thì sau cuộc chiến, sĩ quan và binh sĩ (Ngụy) được cho trở về nơi quê quán làm ăn, đó là trên văn bản, nhưng trong thực tế, một cuộc trả thù quy mô đã thực sự bắt đầu. Đến nơi trình diện, chưa đóng tiền ăn thì ngay buổi chiều đã có những chiếc xe của những nhà hàng Tàu nổi tiếng Chợ Lớn như Soái Kình Lâm, Đồng Khánh … mang thức ăn đến với những món như cơm chiên Dương Châu, Cá Chua Ngọt, Mì Xào … chia cho anh em theo từng toán, phòng dùng bữa. Nếu như có bà vợ nào lo lắng cho số phận của chồng, đứng lấp ló bên kia đường, thấy vậy cũng yên tâm, tối nay về ngủ yên. Người nào đang còn nghe ngóng, hồ nghi chưa chịu đi trình diện thì cũng “hồ hởi” hăng hái vào rọ. Ai cũng cho rằng “Cách Mạng” chu đáo, bảy ngày “tẩm bổ” như thế này, đi “học” về chắc lên cân.

Sau một tuần lễ trôi qua, rồi sau một tháng, khi đã bị sập bẫy, trong một lần chuyện trò với những người bạn tù cùng hoàn cảnh, tôi bày tỏ ý kiến về chuyện chúng ta có thể bị tập trung, giam giữ lâu dài chứ không phải một hai tuần như nhiều người đã tin tưởng. Trong số bạn tù, có người đã không đồng ý với nhận định của tôi, tin tưởng vào lời hứa hẹn ỡm ờ của bọn cai tù, y cho là tôi đã làm mất tinh thần anh em, hung hãn bước tới và toan đánh tôi, vì tôi là người đã nói ngược lại những điều mà họ tin tưởng: “học tập” vài tháng rồi về!

Nhà tù Cộng Sản nêu khẩu hiệu và đoan chắc: “học tập tốt, lao động tốt” sẽ được sớm về sum họp với gia đình. Do đó đám tù khi lên lớp “học tập,” kiểm thảo thì đấm ngực mình nhận tội, sẵn sàng đấu tố bạn bè, đồng ngũ chưa thành khẩn khai báo, lúc “lao động” thì làm việc trối chết, tranh thủ để được bầu làm “tiên tiến,” nhưng cuối cùng về hay ở là do chuyện ở đâu đâu! Nếu có năm bảy chục lượng vàng đút lót ở cấp trung ương thì may ra. Ở ngoài nhà tù lớn thì gia đình, vợ con những người tù “cải tạo” được phường khóm hứa hẹn, khuyến khích bồng bế nhau đi vùng kinh tế mới cho chồng mau về sum họp gia đình, nhưng cuối cùng mất nhà, mất tiền, thân tàn, ma dại, lâm vào cảnh khốn cùng.

Đi làm thủy lợi thì chia toán, phân lô, cán bộ hô hào “làm sớm nghỉ sớm”, toán nào làm xong, đạt chỉ tiêu thì được về nhà trước. Ai cũng làm việc trối chết vì mẹ già con dại ở nhà, nhưng làm xong phần mình thì được “điều” sang làm cho toán khác, “đoàn kết để cùng nhau tiến bộ!”

Ở trong trại tù, có tin đồn là tù sắp chuyển trại, thì trước hàng tù tập họp, cán bộ trại thề sống thề chết là không bao giờ chuyện đó có thể xẩy ra, nhưng ngay tối hôm đó thì trại tù được lệnh chuẩn bị khăn gói … lên đường. Ở trong nhà tù “cải tạo” cũng với trò này, anh nào làm sớm được nghỉ sớm, nhưng xong chỉ tiêu thì sẽ có việc khác làm tiếp, “nước sông công tù,” biết bao giờ cho hết việc làm. Tết Mậu Thân ở Huế, Việt Cộng kêu gọi viên chức VNCH ra trình diện, lần thứ nhất tuyên truyền qua loa xong cho về nhà, lần thứ hai học tập sơ sài lại cho về. Do vậy, những người còn ẩn náu trốn tránh gọi nhau ra trình diện, nhưng lần thứ ba cũng là lần cuối cùng, và là lần về … mồ chôn tập thể!

Ông Nguyễn Văn Thiệu đã có một câu danh ngôn để đời: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói … “ tuy ai cũng khen ngợi câu nói này, nhưng lại thật thà, mau quên, nhớ được một lần, nhưng những lần sau lại không nhớ! Cuối cùng chúng ta đều là những “cô bé choàng khăn đỏ” ngây thơ, cả tin, thiếu kinh nghiệm trước con cáo già Cộng Sản!

Những gì mà Cộng Sản nói thì phải hiểu ngược lại hay hiểu một cách khác. Hiệp định ký chưa ráo mực trên bàn thương thuyết thì ngoài mặt trận chúng đã vi phạm. Lệnh hưu chiến mới có hiệu lực thì lực lượng Cộng Sản đã nổ súng tấn công. Mậu Thân là một bài học lịch sử trả bằng máu quá đắt.  Phát ngôn viên chính phủ trong các cuộc họp báothì nói ngược để che dấu sự thật một cách trơ trẽn. Năm 2008, phóng viên AP ở Hà Nội, Ben Stocking, 49 tuổi khi đến chụp hình chuyện tranh chấp đất đai giữa giáo dân và chính phủ Cộng Sản, đã bị “đánh đấm, bóp cổ và đập vào đầu, tịch thu máy ảnh”, có chứng cớ bằng hình ảnh và những đoạn phim thu hình, nhưng phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam vẫn chối phăng là không hề có vụ hành hung này. Trong vụ Văn Giang, hai ký giả bị đánh tàn nhẫn thì chính quyền cho đó là những đoạn phim giả tạo được ghép vào! Mô tả một vụ máy bay cháy, thì chúng nói có khói bốc lên nhưng không phải cháy! Ngay người đại diện chính phủ còn ăn gian nói dối mà không hề biết ngượng nên xã hội ngày nay đã mất hết đạo lý. Chân thật, ngay thẳng luôn luôn phải chịu thiệt thòi, nên con người phải chạy theo gian trá, lươn lẹo để sống còn. Chúng ta thua vì chúng ta sống có đạo lý, ngay thẳng.

Chúng ta cứ hô hào “Đem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn, Lấy Chí Nhân Mà Thay Cường Bạo,” nhưng rút cuộc hung tàn, cường bạo đè bẹp chuyện đại nghĩa, chí nhân. Dương Thu Hương đã từng cho rằng: “Chế độ chiến thắng cuộc chiến chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ!”

Đến hôm nay tôi vẫn chưa quên được chuyện khăn gói mang theo bảy gói mì “Hai Con Cua” dành cho bảy ngày “học tập,” trở thành bảy năm tù của tôi. Sau bảy năm tù, tôi đắng cay nhận ra cái tội của mình: tội ngu!

Đại Tá Không Quân Hoa Kỳ gốc Việt Tina H. Nguyễn

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on September 30, 2020 by dongsongcu

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

Đại tá không quân Tina H. Nguyễn (Ảnh của asmc-aviation.org)

Đại tá Tina H. Nguyễn được đề cử thăng cấp đại tá vào tháng 2 năm 2018, theo bản tin từ trang nhà wpafb.af.mil ngày 2 tháng 2 năm 2018, và đã được được ủy ban quân vụ thượng viện duyệt xét chấp thuận, trong thời gian chờ chính thức mang cấp đại tá thì tháng 6 năm 2018 cô được bổ nhiệm làm chỉ huy phó quản trị tài chánh và kiểm toán cho trung tâm quản trị đời sống, bộ tư lệnh tiếp vận không quân tại Wright-Patterson AFB, OH.

Đại tá Tina Nguyễn là một trong năm nữ đại tá không quân Hoa Kỳ gốc Việt phục vụ trong không quân Hoa Kỳ. Họ và tên của 5 vị nữ đại tá gốc Việt được ghi nhận: 1-Đại tá Lynda k Vũ, 2-Đại tá An T Dương, 3-Đại tá Đinh Trần Tâm, 4- Đại tá Tina Nguyễn. 5-Đại tá Mylene Trần Huỳnh (hồi hưu),

Đại tá Tina Nguyễn gia nhập không quân và thụ huấn qua chương trình huấn luyện sĩ quan trừ bị không quân (AFROTC) taị đại học Washington năm 1997. Sau khi tốt nghiệp, cô được thuyên chuyển phục vụ ngành hành chánh tài chánh tại các đơn vị không quân, trường đại học quốc gia (National Defense University), cô từng được bổ nhiệm giảng dậy chương trình huấn luyện sĩ quan trừ bị không quân (AFROTC) khi còn mang cấp thiếu tá.

Là một sĩ quan ngành hành chánh tài chánh không quân, Đại tá Tina Nguyễn đã được điều đến Irag trong cương vị sĩ quan trưởng toán quản trị tài nguyên của lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại vùng vịnh để yểm trợ cho cuộc hành quân Operation Iraqi Freedom, và đã từng phục vụ tại A Phú Hãn cố vấn cho ngành kiểm toán của không quân A Phú Hãn yểm trợ cho cuôc hành quân Operation ENDURING FREEDOM và Operation FREEDOM’S SENTINEL.

Đại tá Tina Nguyễn trong buổi picnic ngày 8 tháng 8 năm 2019 tai căn cứ không quân Wright-Patterson AFB, OH. Cô là một trong 40 sĩ quan cao cấp không quân dành thời gian nói chuyện và giúp các sĩ quan trẻ thụ huấn tốt nghiệp (Hình của U.S. Air Force photo/Caroline Clauson).

Đại tá Tina Nguyễn đã thụ huấn tu nghiệp và tốt nghiệp các văn bẳng cao học, cử nhân và các văn bằng chuyên nghiệp tại các đại học, học viện và các trường đào tạo không quân được ghi nhận như: Cử nhân thương mại kế toán – Đại học Washington, Seattle, WA năm 1997; Khóa học sĩ quan quản trị tài chánh tại Sheppard AFB, TX năm 1997; Thụ huấn trường sĩ quan phi đoàn tại Maxwell AFB, AL năm 2004; Văn bằng cao học xã hội – Đại học Washington, Seattle, WA năm 2004; Thụ huấn khóa học quản trị tài chánh quốc phòng tại Maxwell AFB, AL năm 2009; Thụ huấn hàm thụ chương trình học của trường chỉ huy và tham mưu không quân (Air Command and Staff College) năm 2009; Văn bằng cao học an ninh quốc gia tại trường hậu đại học hải quân (Naval Postgraduate School), Monterey, CA năm 2012; Thụ huấn chường trình học hàm thụ trường cao đẳng không chiến (Air War College) năm 2016.

Những chức vụ chỉ huy, đại tá Tina Nguyễn phục vụ tại các đơn vị không quân được ghi nhận: Phụ tá giáo sư ngành không gian trong chương trình huấn luyện sĩ quan trừ bị không quân (AFROTC) taị đại học Washington từ tháng 8 năm 2001 đến tháng 8 năm 2004; Sĩ quan phòng nhân viên không quân tại Randolph AFB, TX từ năm tháng 8 năm 2004 đến tháng 2 năm 2006; Giám đốc ngân sách và trưởng phòng tài chánh và bộ phận biểm soát ngân sách bộ chỉ huy quân huấn không quân, Randolph AFB, TX từ tháng 2 năm 2006 đến thâng năm 2009; Chỉ huy trưởng phi đoàn kiểm toán 71 tại Vance AFB, OK từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 12 năm 2010; Phó giám đốc văn phòng quản trị sinh viên quốc tế tại đại học quốc gia (National Defense University), Fort McNair, Washington, D.C từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 12 năm 2015; Cố vấn kiểm toán không đoàn 438th tại Kabul, A Phú Hãn từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 11 năm 2015; Trưởng ban quản trị tài chánh và giám đốc ngân sách cho chương trình hiện đại hóa chiến đấu cơ F-15 ACAT I tại Wright-Patterson AFB, OH từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 6 năm 2018; Chỉ huy phó quản trị tài chánh và kiểm toán cho trung tâm quản trị đời sống, bộ tư lệnh tiếp vận không quân tại Wright-Patterson AFB, OH từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay.

Đại tá Tina Nguyễn trong buổi picnic ngày 8 tháng 8 năm 2019 tai căn cứ không quân Wright-Patterson AFB, OH. Cô là một trong 40 sĩ quan cao cấp không quân dành thời gian nói chuyện và giúp các sĩ quan trẻ thụ huấn tốt nghiệp (Hình của U.S. Air Force photo/Caroline Clauson).

Đại tá Tina Nguyễn đã thụ huấn tu nghiệp và tốt nghiệp các văn bẳng cao học, cử nhân và các văn bằng chuyên nghiệp tại các đại học, học viện và các trường đào tạo không quân được ghi nhận như: Cử nhân thương mại kế toán – Đại học Washington, Seattle, WA năm 1997; Khóa học sĩ quan quản trị tài chánh tại Sheppard AFB, TX năm 1997; Thụ huấn trường sĩ quan phi đoàn tại Maxwell AFB, AL năm 2004; Văn bằng cao học xã hội – Đại học Washington, Seattle, WA năm 2004; Thụ huấn khóa học quản trị tài chánh quốc phòng tại Maxwell AFB, AL năm 2009; Thụ huấn hàm thụ chương trình học của trường chỉ huy và tham mưu không quân (Air Command and Staff College) năm 2009; Văn bằng cao học an ninh quốc gia tại trường hậu đại học hải quân (Naval Postgraduate School), Monterey, CA năm 2012; Thụ huấn chường trình học hàm thụ trường cao đẳng không chiến (Air War College) năm 2016.

Những chức vụ chỉ huy, đại tá Tina Nguyễn phục vụ tại các đơn vị không quân được ghi nhận: Phụ tá giáo sư ngành không gian trong chương trình huấn luyện sĩ quan trừ bị không quân (AFROTC) taị đại học Washington từ tháng 8 năm 2001 đến tháng 8 năm 2004; Sĩ quan phòng nhân viên không quân tại Randolph AFB, TX từ năm tháng 8 năm 2004 đến tháng 2 năm 2006; Giám đốc ngân sách và trưởng phòng tài chánh và bộ phận biểm soát ngân sách bộ chỉ huy quân huấn không quân, Randolph AFB, TX từ tháng 2 năm 2006 đến thâng năm 2009; Chỉ huy trưởng phi đoàn kiểm toán 71 tại Vance AFB, OK từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 12 năm 2010; Phó giám đốc văn phòng quản trị sinh viên quốc tế tại đại học quốc gia (National Defense University), Fort McNair, Washington, D.C từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 12 năm 2015; Cố vấn kiểm toán không đoàn 438th tại Kabul, A Phú Hãn từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 11 năm 2015; Trưởng ban quản trị tài chánh và giám đốc ngân sách cho chương trình hiện đại hóa chiến đấu cơ F-15 ACAT I tại Wright-Patterson AFB, OH từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 6 năm 2018; Chỉ huy phó quản trị tài chánh và kiểm toán cho trung tâm quản trị đời sống, bộ tư lệnh tiếp vận không quân tại Wright-Patterson AFB, OH từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay.

Đại tá Tina Nguyễn được ân thưởng các loại huy chương: 1 huy chương Bronze Star Medal, 1 huy chương Defense Meritorious Service Medal with one oak leaf cluster, 2 huy chương Meritorious Service Medal with two oak leaf clusters, 2 huy chương Air Force Commendation Medal with two oak leaf clusters, 1 huy chương Air Force Achievement Medal.

Đại tá Tina Nguyễn được thăng cấp thiếu úy năm 1997, trung úy năm 1999, đại úy năm 2001, thiếu tá năm 2007, trung tá năm 2012, đại tá năm 2018, cô là 1 trong 24 đại tá không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 19 vị đương nhiệm, 4 vị đã hồi hưu và 1 vị đã qua đời.

Nguyễn Quân

Nguồn: asmc-aviation.org; wpafb.af.mil; dvids; Congress.gov.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

11.Số bảy

Không ai nói cho những người lính chiến trên mặt trận biết rằng những vị tướng tư lệnh dự định những gì, đặt kế hoạch ra sao nhưng luôn luôn họ biết, họ biết rõ, biết đúng nữa là khác, đơn vị của họ ở trong mũi dùi tấn công chính hay là ở cạnh sườn. Cũng giống như thế, ba trăm tù nhân chuyên viên sống trong Viện Mavrino biết rằng Phòng số bảy là nơi quan trọng nhất của Viện. 
Không một tù nhân nào trong Viện được quyền biết về những việc làm trong Phòng số bảy nhưng trên thực tế, tất cả mọi người đều biết. Công tác chính của Phòng số bảy là thí nghiệm và hoàn thành một máy điện thoại đặc biệt cho Lãnh tụ Tối cao dùng. Đái khái người ta hiểu là tiếng nói vào máy này sẽ bị chia cắt thành những âm thanh hỗn độn, những âm thanh này sẽ được kết tụ lại do một cái máy kách và trở lại thành tiếng nói như khi mới được phát ra. Để làm việc này người ta bắt chwocs những dàn máy radio đã được chế tạo của người Hoa Kỳ song người ta vẫn cứ cố tình coi đó là những gì do các kỹ sư điện tử Nga chế ra. Những đặc san và những quyển sách giải thích về vô tuyến truyền thanh, trong có những họa đồ, mẫu đồ được bán đầy những tiệm sách cũ ở New York được người ta ở đây đóng bìa da, đánh số, coi là tài liệu tối mật, được cất kỹ trong những tủ sắt kiên cố để ngăn không cho bọn… gián điệp Mỹ lấy trộm. 
Trong những cơ sở cưỡng bách lao động như Viện Mavrino, thông lệ đã có và ai cũng biết là những khoa học gia, những chuyên viên nào thành công trong việc phát minh được một bộ máy hữu ích có thể nhận được tất cả: tự do, một sổ thông hành không ghi án tích – Gọi là Sổ thông hành sạch – một căn nhà ở Mạc Tư Khoa trong khi những người khác không nhận được gì hết, không cả một ngày giảm án, không có cả một ly vodka nhỏ uống mừng những người thành công. 
Ở đây chỉ có hai hạng người: thành công và thất bại, ở đây không có hạng người đứng giữa. 
Vì vậy, ở Viện Mavrino những người tù khôn ngoan đều tìm hết cách để được vào làm việc trong Phòng số bảy. Được vào làm việc trong phòng này họ có điều kiện để thành công. 
Kỹ sư Markushev lọt được vào Phòng số bảy với tinh thần ấy, bộ mặt ma cô thô tục của y biểu lộ ý muốn được chết vì những ý tưởng của đại tá kỹ sư Yakonov. Nhiều kẻ khác là việc ở Phòng số bảy cũng có tâm trạng giống như Markushev. 
Nhưng Yakonov cũng không phải là người ngu, y cũng chọn vào làm việc trong Phòng số bảy cả những người không muốn vào đấy làm việc. Đó là trường hợp của kỹ sư Amantai Butalov, một người dân Tatar miền Kazan mang đôi kiếng trắng lớn gọng bằng sừng trên mắt, một người đàn ông thẳng tính có giọng cười vang nhà làm cho người khác điếc tai. Butalov bị án tù mười năm vì tội để cho quân Đức bắt được trên mặt trận và chịu cộng tác với kẻ thù nhân dân là Musa Djalil. Người thứ hai không muốn nhưng vẫn bị Yakonov đưa vào Phòng số bảy là Andrei Andreyevich Potapov, một chuyên viên siêu cao điện áp từng dự phần xây cất nhiều nhà máy điện lớn. Potapov tới Viện Mavrino vì lỗi lầm của một viên thư ký ngu dốt giữ việc sắp xếp những phiếu di chuyển tù nhân. Xong vì là một công nhân yêu việc làm và là một kỹ sư có lương tâm nhà nghề, Potapov thích hợp rất nhanh với cuộc sống ở đây và anh trở thành một chuyên viên không thể thay thế được trong việc sử dụng những dụng cụ đo lường điện tử phức tạp, chính xác và tế nhị. 
Một người nữa trong nhóm người không cần xin vào làm việc ở Phòng số bảy là kỹ sư Khorobrov, một chuyên viên radio có tài. Anh được cắt vào làm việc ở Phòng số bảy ngay từ đầu, khi nó chưa phát triển lớn như bây giờ. Và trong thời gian gần đây, anh đã chán nản và không gia nhập vào cuộc hoạt động tới tấp quanh anh nữa. Cũng trong thời gian gần đây, Mamurin tỏ ra khó chịu nhiều trước thái độ của Khorobrov. 
Sau cùng, từ một trại tập trung cưỡng bách lao động tàn nhẫn nhất người ta đưa về một thiên tài điện tử u sầu tên là Bobynin. Kỹ sư Bobynin lập tức được cọi là chuyên viên số một và được đặt ở trên tất cả mọi người. Anh sắp chết ở trong trại thì được lấy ra, đem về và trong trường hợp thành công, anh là người đầu tiên có hy vọng được trả lại tự do. Vì vậy Bobynin thức làm việc đến quá nửa đêm, nhưng anh làm việc với một vẻ trịnh trọng kiêu mạn đến nỗi Mamurin phải sợ anh. Bobynin là người duy nhất làm việc ở đây mà Mamurin tránh không nói động đến. 
Phòng số bảy cũng là một căn phòng dài rồng y hệt Phòng Âm thính ở từng dưới. Phòng này cũng trang bị những dụng cụ không khác gì nhiều những dụng cụ trong Phòng Âm thính. 
Mỗi ngày Yakonov đến Phòng số bảy nhiều lần… Vì vậy sự có mặt của y ở đây không gây ra tình trạng căng thẳng khi có Xếp lớn đến thăm. Chỉ có Markushev và bọn hạ tiện cùng loại với y là tỏ ra làm việc cần mẫn hơn, chăm chú hơn khi có Yakonov tới. Riêng Potapov, anh đặt những dàn điện tử của anh lên một kệ sắt kê ở cuối phòng và kệ sắt này trở thành bức vách ngăn anh với mọi người trong phòng. Potapov ngồi ở đó như ngồi riêng hẳn một nơi cách biệt. Anh làm việc chậm rãi, cẩn thận và đúng lúc Yakonov bước vào, anh đang chế tạo một chiếc hộp đựng thuốc lá bằng Plastic đỏ để biếu một người làm quà sinh nhật vào sáng hôm sau. 
Mamurin đứng lên chào đón Yakonov như chào đón một người ngang hàng. Y không bận bộ đồng phục màu xanh đậm của tù nhân, bộ quần áo y bận là một bộ hàng len đắt tiền, nhưng bộ đồ sang trọng này cũng chẳng làm cho khuôn mặt gầy gò và dáng người xương xẩu của y sang hơn được chút nào. 
Có một vẻ gì đó xuất hiện trên vầng trán bóng như trái banh và trên vành môi mỏng mím chặt của Mamurin cho Yakonov biết rằng y đang vui sướng: 
“Anton Nikolaich…” Mamurin nói – “Chúng ta tiến bộ nhiều lắm rồi. Đây, ông nghe… Tôi đọc cho ông nghe…” 
“Nghe” và “đọc” là hai việc thí nghiệm quan trọng được thực hiện mỗi ngày trong Phòng số bảy trong thời gian này. Không giải thích thêm nữa, Mamurin đi về cuối phòng và đứng quay lưng lại Yakonov. Y đưa ống nói lên và đọc vào đó một bài báo. Ở đầu dây đằng kia, Yakonov mắc ống nghe lên tai và chăm chú nghe. Giữa những tiếng nói the thé của Mamurin, y còn phải nghe không biết bao nhiêu tiếng động chói tai khác. Nhưng như một người mẹ âu yếm nhìn đứa con quái thai của mình, Yakonov vẫn không nhấc ống nghe ra khỏi tai, y thấy rằng những tiếng động phá hoại ấy có vẻ êm hơn, nhẹ hơn những tiếng y vừa nghe lúc trưa nay. Bài báo Mamurin đọc qua máy truyền thanh cho y nghe là một bài báo viết về sự hỗn hào của bọn lính Yugoslav gác biên giới và sự tàn ác của tên đồ tể Tito, kẻ đã biến quốc gia yêu hòa bình này thành một lò sát sinh vĩ đại 1. Yakonov có thể dễ dàng đoán ra được những gì y không nghe rõ, y đoán nhưng không nhớ y đoán, và việc này càng làm cho y tin chắc rằng việc truyền thanh đã tiến bộ nhiều. 
Yakonov muốn trao đổi ý kiến và quan điểm về sự tiến bộ của dàn máy đang được thí nghiệm này với Bobynin. Người tù này ngồi gần y. Ngay cả lúc ngồi Bobynin cũng vẫn to lớn, đôi vai anh mở rộng và mái tóc anh cắt ngắn đúng kiểu tóc tù nhân mặc dù ở đây tù nhân muốn để tóc theo kiểu nào cũng được. Bobynin không cả ngoảnh mặt nhìn lại khi Yakonov vào phòng. Cúi trên một máy dao động đồ hình, Bobynin đang chăm chú đo đạc bằng một cây thức com phương án. 
Tên Bobynin này chỉ là một tên tù không đáng kể, một thứ sâu bọ mang hình người, một tên thuộc giai cấp hạ tiện cuối cùng của xã hội. Trong khi ấy Yakonov là một viên chức chính quyền cao cấp. Vậy mà Yakonov không dám làm rộn Bobynin mặc dù y rất muốn. 
Người ta có thể xây dựng những tòa nhà trăm tầng như tòa Empire State, người ta có thể làm cho quân đội Phổ có kỷ luật, suy tôn Lãnh Tụ lên cao hơn cả Thượng đế nhưng người ta vẫn không có thể áp chế được tinh thần của một số người. 
Có những người lính trơn làm cho những sĩ quan chỉ huy họ phải sợ họ, có những người thợ làm cho bọn cai phải bối rối và có những người tù làm cho bọn cai ngục run rẩy. 
Bobynin biết như thế và anh lợi dụng tình trạng này trong việc giao thiệp và đối phó với những kẻ có quyền. 
Mỗi lần Yakonov nói chuyện với Bobynin là một lần y thấy y tìm cách lấy lòng Bobynin, tránh không làm cho Bobynin khó chịu hoặc nổi giận. Y rất bất mãn về việc này nhưng y cũng nhận thấy rằng không phải chỉ riêng mình y có thái độ đó với Bobynin, tất cả mọi người đều có thái độ như thế đối với người tù tên là Bobynin. 
Nhấc ống nghe ra khỏi tai, Yakonov ngắt lời Mamurin: 
“Khá lắm, Yakov Ivanich, tiến bộ khá lắm. Tôi muốn nhờ Rubin nghe coi sao. Tai hắn tốt.” 
Một người nào đó từng được Rubin khen ngợi về một chuyện gì đó cól ần nói rằng Rubin có đôi “tai tốt”. Và lời nhận xét này được mọi người tin. Rubin là người tù trôi giạt tới Viện Mavrino cũng vì một sự lầm lẫn. Từ đó anh tự làm cho anh trở thành cần thiết bằng cách phiên dịch những tài liệu chuyên môn tiếng ngoại quốc ra tiếng Nga. Tai bên trái của anh nghe được nhưng cũng không tốt gì hơn tai những người khác, nhưng tai bên phải của anh đã bị điếc vì tiếng bom nổ tren mặt trận Tây Bắc. Sau khi được đề cao là có đôi “tai tốt”, Rubin dấu kỹ không để cho ai biết rằng tai bên phải của anh đã bị điếc. Uy tín “tai tốt” làm cho địa vị của Rubin càng thêm vững chắc trong Viện Mavrino, và anh làm cho địa vị này vững chắc thêm bằng một bài khảo cứu nhan đề Âm thanh nhân tạo và hiệu thính âm điện tử trong tiếng nói Nga Ta Lư. 
Họ gọi điện thoại xuống Phòng Âm thính mời Rubin lên. Trong khi chờ đợi, họ lại học và lại nghe. Đây là lần thứ mười trong ngày họ đọc và nghe như thế. Markushev, với đôi lông mày nhìn lại và đôi mắt mệt mỏi vì chú ý, màng ống nói lên một lúc và trịnh trọng nói rằng có sự tiến bộ, rất nhiều tiến bộ. Dyrsin gượng cười như người xin lỗi và gật đầu. Bulatov nói lớn rằng họ sắp đi đến thành công lúc hai chuyên viên điện khi nghe chung một cặp ống nghe cùng nói bằng một giọng tin tưởng rằng âm thanh đã rõ hơn nhiều lắm. 
Bobynin vẫn tiếp tục đo trên dao động đồ, anh vẫn không ngửng đầu lên nhìn. 
Đôi kim đen trên mặt chiếc đồng hồ treo tường lớn đã chỉ 10 giờ 30. Chỉ còn nửa tiếng nữa mọi công việc trong Viện sẽ ngừng trừ Phòng số bảy, những tập đặc san được đánh số và coi như tài liệu tối mật sẽ được cất vào tủ sắt và bọn tù sẽ về phòng ngủ, những viên chức tự do sẽ vội vã đi đến trạm xe buýt. Họ sẽ phải chờ lâu mới có xe về vì ban đêm, xe buýt chạy ít. 
Ilya Terentevich Khorobrov, ở cuối phòng và bên ngoài mắt nhìn của những ông xếp, nặng nề lê chân ven theo tường về phía Potapov. Khorobrov là người vùng hoang vu nhất của miền Vyatka, gần Kai, quê anh nằm cạnh một vùng đồng lầy ruộng bao la – diện tích của vùng đồng lầy này lớn hơn toàn thể diện tích lãnh thổ nước Pháp – trong đầm lầy này có những trại tập trung đáng sợ nhất của chế độ Nga Xô Viết. Khorobrov từng có dịp nhìn thấy, và biết nhiều hơn mọi người nhưng sự cần thiết phải luôn luôn giấu kín ý nghĩ và đè nén sự đòi hỏi công lý đã làm cho tinh thần và cả thể xác anh nữa, trở thành cong queo, gù xuống, lệch lạc, làm cho vẻ mặt anh trở thành khó coi và vành môi anh rúm lại trong một đường nét thật bẩn. Sau cùng, trong cuộc bầu cử thứ nhất được tổ chức sau chiến tranh, anh không còn chịu đựng được nữa và anh viết bậy những hàng chửi rủa của giới nông dân thô tục lên tấm phiếu bầu, những lời chửi rủa này được anh tặng cho vị Lãnh tụ Tối Cao, vị Thiên Tài của những Thiên Tài. Đó là thời những căn nhà đổ nát không được sửa chữa lại và ruộng nương không được cày vì thiếu người. Trong cả một tháng trường sau ngày bầu cử nhiều nhân viên mật vụ trẻ tuổi nghiên cứu nét chữ viết của tất cả những người đi bầu trong vùng và họ bắt được đúng kẻ viết bậy là Khorobrov. Anh đi tù với niềm ngây ngô là từ nay anh sẽ được dịp nói hả hê những điều anh muốn nói – ở tù rồi còn sự gì nữa – nhưng cuộc sống trong tù vẫn không cho anh tự do chửi rủa như anh tưởng. Cả đống chỉ điểm viên thi nhau báo cáo về Khorobrov và rất sớm, anh nhận thấy rằng anh nên ngậm miệng là hơn. 
Trong Viện Mavrino, sự khôn ngoan tầm thường nhất cho Khorobrov biết rằng anh nên hòa mình vào số những người làm việc ở Phòng số bảy. Lọt vào đây dù anh không có hy vọng gì được trả lại tự do nếu người ta thành công, ít nhất anh cũng được hưởng một đời sống vật chất tương đối sống được. Nhưng sự bất công, vô lý của những trường hợp bị tù của những người khác mà anh đã ở thấy đây làm cho Khorobrov buồn nôn, anh đã đi tới giai đoạn một người không còn muốn sống nữa. 
Đi tới chỗ Potapov ngồi, Khorobrov cúi lưng trên bàn và nói bằng một giọng bình thản: 
“Andreich… Nghỉ thôi. Đêm nay là đêm thứ Bảy.” 
Potapov vừa gắn cái chốt gài hai nắp hộp đngj thuốc điếu vào nhau, cái chốt này màu hồng. Anh nghiêng đầu ngắm vật thủ công do chính ta anh làm ra và hỏi: 
“Thấy sao, Terentich? Hai màu này hợp nhau chứ?” 
Không thấy Khorobrov trả lời, Potapov ngước mắt nhìn người bạn tù. Ánh mắt anh dưới làn kiếng trắng dày nhân từ như ánh mắt bà ngoại nhìn anh cháu. 
“Vội gì, Terentich. Thời gian làm việc cho chúng ta. Anton sắp ra về và chúng ta sẽ biến vào không khí ngay lập tức…” 
Anh nhấn mạnh ba tiếng “ngay lập tức” như đó là những tiếng quan trọng. 
Rubin đã có mặt trong phòng. Bây giờ là mười một giờ đêm, ngày làm việc đã chấm dứt, Rubin đang muốn về giường ngủ đọc Hemingway. Nhưng muốn tỏ ra chú ý đến việc làm của Phòng số bảy, anh hoặc Markushev đọc đi đọc lại những câu mà anh cho là có nhiều âm thanh cần kiểm soát nhất. Anh ra hiệu bằng tay cho Markushev đọc to hơn, đọc nhỏ hơn, như đó là những việc rất quan trọng. Sau cùng, anh gỡ ống nghe ra khỏi tai và tuyên bố rằng theo anh sự tiến bộ tuy có rõ rệt đấy nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm lắm. 
Mọi người ồn ào lên tiếng tán thành và bày tỏ sự vui mừng khi có tiến bộ. Đến lúc này, Bobynin mưới ngửng mặt lên khỏi bàn dao động đồ và nói bằng giọng nói trầm tĩnh, ngạo mạn đặc biệt của anh: 
“Ngốc. Tiến lên được một bước. Các anh làm việc mò mẫm như thế làm sao có thể thành công được. Phải có phương pháp, phải biết trước mình sẽ làm gì, mình đi tới đâu.” 
Dưới cặp mắt nhìn nghiêm khắc không chút rung động của Bobynin, tất cả mọi người trong phòng đều im lặng. 
Sau bức vách sắt làm bằng kệ sắt xếp đầy máy, Potapov dán khóa gài vào nắp hộp đựng thuốc điếu. Potapov từng sống ba năm trong trại tù binh Đức và anh chỉ sống sót được ở đó nhờ tài chế tạo những chiếc bật lửa, hộp đựng thuốc điếu và tẩu gắn thuốc điếu tuyệt đẹp bằng những vật dụng vứt đi. Anh chế tạo chúng mà không cần có dụng cụ gì cả, chỉ hoàn toàn bằng những ngón tay thần diệu của anh. 
Không có một ai trong phòng tỏ vẻ muốn về nghỉ mặc dù ngày mai sắp đến là một ngày chủ nhật. 
Đúng lúc ấy Khorobrov đứng thẳng người lên. Anh đặt tập tài liệu được phát cho anh nghiên cứu lên mặt bàn của Potapov để chờ cất vào tủ sắt, rồi anh đi về phía cửa phòng. Anh lặng lẽ đi ngang đám người xúm xít quanh cái máy được gọi là “Máy cắt âm thanh”. 
Mamurin, mặt xanh mướt trợn mắt nhìn theo Khorobrov: 
“Ylia Trentich… Tại sao anh không chịu nghe? Mà anh đi đâu vậy?” 
Không vội vã Khorobrov từ từ quay lại, với nụ cười méo mó trên vành môi rúm, anh trả lời rõ ràng từng tiếng: 
“Tôi không muốn nói lớn nhưng nếu ông nhất định đòi biết, tôi xin nói: ra khỏi đây tôi đi tới phòng vệ sinh. Nói rõ hơn: tôi đi tiểu tiện và đại tiện. Sau đó, nếu không có việc gì bất ngờ xảy ra, tôi đi về phòng giam và nằm xuống ngủ.” 
Trong bầu không khí im lặng nặng nề đè xuống gian phòng sau câu nói đó, người ta nghe tiếng cười giòn của Bobynin, người không cười mỉm bao giờ, vang lên. 
Việc làm của Khorobrov được coi như một hành động nổi loạn. 
Mamurin bước tới để đánh Kinh, y rít lên: 
“Anh nói gì? Về ngủ? Tất cả mọi người đều làm việc trong khi anh về ngủ?” 
Khorobrov đặt tay lên nắm đấm cửa, anh trả lời như người đang ở vào tình trạng gần mất tự chủ: 
“Phải, đúng thế – tôi về ngủ. Hôm nay tôi đã làm việc đủ 12 tiếng đồng hồ do Hiến pháp qui định rồi. Tôi làm việc đã đủ.” 
Anh có vẻ sắp nói thêm một câu gì nữa, và câu này sẽ là một câu không còn gì có thể cứu vãn được, cánh cửa phòng bỗng mở ra và người sĩ quan trực bước vào báo: 
“Thưa đại tá… có điện thoại trên Tổng bộ gọi đại tá.” 
Yakonov vội đứng lên và đi ra khỏi phòng trước cả Khorobrov. 
Một lát sau, Potapov tắt đèn trên bàn, anh đặt tập tài liệu được trao cho anh cùng tập tài liệu của Kinh lên mặt bàn của Butatov và khập khiễng đi về phía cửa. Anh đi khập khiễng vì chân trái anh bị thương vì một tai nạn xe máy dầu xảy ra trước chiến tranh. 
Phụ tá Tổng trưởng Bộ An ninh Sevastyanov gọi điện thoại tới ra lệnh cho Yakonov phải có mặt ở Bộ vào lúc 12 giờ đêm nay. 
Yakonov trở về văn phòng của y. Y cho Nerzhin về và mời Verenyov cùng về thủ đô trong xe hơi của y. Y bận áo ngoài, mang bao tay và trở lại bàn viết. Dưới hàng chữ “Nerzhin sẽ phải đi”, y viết thêm: 
“Cả Khorobrov nữa.”

——————————–

1Yugoslav là Nam Tư và là người lãnh đạo Nam Tư, Tito, bị Stalin ghét nhất.

Những nghĩ cho có chuyện…

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

#1.

Quả thật Niết Bàn chẳng mấy thiết

Thiên Đàng/Địa Ngục đâu không biết?

Ngày ngày quẩn quanh cửa đóng riết

Hở “Ta là Ai” – Nghĩ cũng mệt!

#2.

Giá những cô nàng giải Oscar

Sống thời Bắc Kỳ đói “đảng ta”

Tiêu chuẩn bình bầu dăm cân sắn

Nỏn nường đẹp mấy cũng ra ma!

# 3.

Cộng sản Hà Nội lắm trò ảo thuật

Quyết chiếm miền Nam tất tầng tật

Đám lính nón cối, đi dép râu

Đoạt thắng Sàigòn nên “quân giải phóng”!

#4.

Bởi yêu đất nước, bác không lấy vợ

Đẻ mấy cu cậu, lắm của nợ

Ây do mỹ ngụy khéo tuyên truyền

Trong bụng chiến sĩ gái nên cớ! (1)

(1) Kể đến hôm nay, Thế kỷ 21, báo chí, hệ thống tuyên huấn cộng sản Hà Nội cưc lực phản biện: CT/HCM không hề lập gia đình – Tất cả do “tuyên truyền mỹ ngụy!”

#5.

Không việc làm ngồi mông nghĩ hưỡn…

Hóa ra tất cả cũng tầm thường

Tưởng chuyện lớn lao rung trời đất

Cuối cùng chỉ trong cái ngáp suông!

Phan Phi Danh

Không có sức nghĩ gì khác trong ngày giáp Tết ta!

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Feb 2026

15. Trả thù dĩ vãng

Chúng ta đã nghe nói đến khu lăng mộ làng An Bằng trong vùng biển Thuận An, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Đây là một ngôi làng có những khu lăng mộ tráng lệ, được nhiều người gọi là “thành phố ma” hay “Vương Quốc của người chết,” với những công trình xây dựng đồ sộ, công phu mà có lẽ trong nước và cả ngoại quốc khó có nơi nào sánh nổi, kể cả so với lăng tẩm triều Nguyễn tại Huế. Trước năm 1975 An Bằng là một ngôi làng biển cách xa ánh sáng văn minh của thành phố Huế, dân cư hầu hết là ngư dân nghèo khổ, không có ruộng đồng, mùa cá năm được năm không. Những năm mất mùa dân làng phải đi ăn xin, làm thuê cho các vùng lân cận. Thời thơ ấu, tôi đã trông thấy từng đoàn người từ vùng biển Thuận An dắt díu nhau đi bộ lên Huế để đi xin. Có những thời điểm cả làng vắng hoe vì đến cả trẻ con cũng theo bố mẹ đi ăn xin, nên An Bằng đã có thời được gọi là “làng ăn xin.”

Sau năm 1975, Thuận An trở thành một địa điểm thuận lợi để vượt biển, có người sang đến Hồng Kông, có ghe được tàu buôn ngoại quốc vớt. Người An Bằng ngày nay 80% đã định cư ở nước ngoài, có gia đình có đến 13 người con ở Mỹ. Vươn lên từ quá khứ nghèo khó, khổ cực, dân An Bằng đỗ đạt hay làm thương mãi rất thành công. Cũng như tất cả những người Việt bỏ quê hương ra đi, họ dành dụm tiền bạc để gửi về giúp cha mẹ già hay thân nhân còn ở lại. Tưởng nhớ ông bà hay lo phần mộ cho cha mẹ khi qua đời, khu lăng mộ An Bằng thành hình với hằng trăm khu lăng mộ công phu hoành tráng, có ngôi mộ tốn phí lên đến 170,000 đô la Mỹ. Có gia đình đã xây xong lại đập phá để xây lại cho hơn người khác. Nhiều ngôi biệt thự cũng đã xây lên vì sỉ diện cho hơn hẳn láng giềng mà không cần có người ở. Tuy vậy, làng An Bằng còn quá nhiều gia đình kém may mắn, sau bao lần cố gắng vượt biển đã thúc thủ chịu cảnh nghèo đói như xưa, không có cả tiền cho con đi học, chẳng đủ tiền để mua dầu đi biển và đất đai trong làng càng ngày càng thu hẹp vì sự phát triển của mồ mả người chết. Do vậy những khu lăng mộ này không cân xứng với quang cảnh trong làng và đời sống dân cư hiện nay của An Bằng. Người gửi tiền về với lý do báo hiếu, nhưng người làng xây dựng nên những khu lăng mộ lớn lao không kém các bậc Vua Chúa thời xưa, phải chăng vì mặc cảm nghèo đói trong quá khứ, bây giờ có tiền làm sao cho nở mặt nở mày với thiên hạ.

Đó là nói về những người nghèo khó vượt biển ra đi, còn những người ở lại, sống sau thời bao cấp, thời “mở cửa” có tiền bạc, cũng vì mặc cảm một thời đói rách, khó khăn, đổ tiền vào để khoe khoang. Sự phô trương ấy không phù hợp với một đất nước mà 80% người dân đang quần quật chạy theo miếng ăn mà ngay trong làng, các cơ sở y tế, giáo dục vẫn không hơn gì những vùng đất nghèo khổ khác. Thay vì trả thù quá khứ bằng cách đầu tư vào các thế hệ tiếp nối để xây dựng một tương lai sáng sủa hơn cho xóm làng, thì những vị trưởng giả này muốn được một tiếng khen ngợi, hay trầm trồ cho những công trình tốn kém, vô bổ cho hư danh.

Theo nguồn tin trong nước, cho tới nay tại Việt Nam đã có tới 29 chủ nhân của xe Rolls-Royce các loại, cả cũ và mới. Đây thực sự là con số khá đặc biệt với một thị trường nhỏ như Việt Nam bởi mỗi chiếc Rolls-Royce mới có giá sau khi đóng thuế trước bạ hơn 1 triệu đô la. Dương Thị Bạch Diệp, Lê Ân, Lê Hoàng, Nguyễn Đình Khoa là vài tên chủ nhân tiêu biểu. Nguyễn Quốc Cường với bộ sưu tập Lamborghini Gallardo SE, Lamborghini Gallardo, Ferrari 360 Spider, Ferrari F430, Ferrari F430 Spider … có giá từ $200.000 đến $500.000. Đoàn Nguyên Đức tức Bầu Đức, nay là một đại gia sở hữu một tài sản 100 tỷ đồng là chủ nhân chiếc máy bay Beechcraft King Air 350 có 12 chỗ ngồi với giá 7 triệu đô la. Chủ tập đoàn Hòa Phát Trần Đình Long cũng bỏ ra để mua máy bay riêng 5 triệu.

Các tỉ phú ở Mỹ chưa có ai chơi ngông như nhà giàu Việt Nam đặt một cỗ quan tài bằng gỗ quý, giá ít nhất cũng phải $400.000 đến $600.000. Đã từng có đại gia ở Hải Phòng lên tận Hà Nội đặt quan tài gỗ sưa, chạm khắc rồng phượng, dát vàng, tổng chi phí khoảng … 5 triệu đô. Nhiều đại gia sưu tập “ngọc nghiến” làm bàn ghế, chơi cây cổ hàng vài trăm tuổi, cây sanh 200 tuổi của một đại gia có giá 1,2 triệu đô la. Ở một xứ nghèo “bắt ốc mò cua” như Nghệ Tĩnh cũng có người xây dựng một ngôi nhà gỗ giá 3 triệu đô la, xây cất từ 2.000m3 gỗ quý đinh hương, giáng hương và cẩm lai, hay tổ chức đám cưới chơi ngông cho bõ những ngày cơ cực, với thù lao mỗi ca sĩ lên đến $20,000, chưa tính chi phí hôn lễ, xe đón dâu và tiệc tùng. Để trả thù dĩ vãng thua thiệt người ta làm đám ma chó linh đình, đón dâu bằng máy bay riêng, mua du thuyền … nghĩa là bằng mọi thứ để lòe đời, trong một xã hội mới phát triển, vừa ra khỏi chiến tranh, với lối sống “y phục” chẳng “xứng kỳ đức” chút nào!

Dân làng An Bằng xây những khu lăng tẩm đồ sộ đắt tiền như ngày nay là vì mặc cảm ngày xưa ông cha đã nghèo khó, vất vả thậm chí có cuộc sống khốn cùng, nay muốn phô trương để trả thù cuộc đời, trả thù dĩ vãng. Những người có cơ hội giàu phất, nhanh lên chỉ trong vòng mươi lăm năm từ một dĩ vãng khó khăn, đói nghèo muốn hoang phí tối đa để bù đắp thua thiệt trong quá khứ. Sau tháng 4-1975, những người từ trong rừng ra, cũng từ mặc cảm này, không còn “sáng ăn khoai” mà “khoái ăn sang” nên vào tiệm ăn sáng thì phải “thuốc có cán”, “phở đặc biệt tô lớn hai hột gà”, “cà phê sữa đá” … Trả thù những ngày sơ tán, bom đạn, tem phiếu, chờ chực suốt ngày để mua được miếng thịt ôi, con cá, mớ rau, thước vải … ngày nay không thiếu những “đại gia” chân còn dính phèn nhưng cũng vào hàng ngũ “quý tộc” trong những câu lạc bộ dân đánh golf, chơi du thuyền, quần vợt … giàu có, phú quý “sinh’ năng dâm, ăn chơi trác táng cho bõ những ngày cơ cực.

Nhận xét về lề thói chơi sang này, Tiến sĩ Alan Phan, Chủ tịch Quỹ đầu tư VIASA, một doanh nhân Việt ở Mỹ đã nói rằng: “Đại gia mới giàu nên thích khoe mẽ, nó bắt đầu từ tiềm thức về một quá khứ thua kém.” Để giải thích hiện tượng “chơi ngông”, “khoe mẽ” hiện nay ở Việt Nam, ông Phan nói thêm:”Doanh nhân Á châu, phần lớn người Trung Quốc và Việt Nam gặp phải một vấn đề là sĩ diện. Có lẽ vì mặc cảm thôi. Đại gia Việt Nam đa số mới giàu, chứ thời bao cấp có ai giàu đâu. Bởi vì họ mới giàu lên nên thích khoe.”Trong câu chuyện trên báo chí Việt Nam, bà Bạch Diệp thú nhận theo cha tập kết ra miền Bắc, sau năm 1954, kể cả những khi đã có chồng, sinh con, có lúc đói phải đi mót khoai về ăn. Bầu Đức, theo báo Việt Nam, 40 năm trước là một chú bé chăn trâu ở Phù Cát, Bình Định. Ông Lê Ân lớn lên trong một gia đình nghèo đông con ở xứ Quảng, đã mưu sinh qua đủ nghề may, nấu xà bông, bỏ mối buôn thuốc tây, đi vùng kinh tế mới, tham gia vượt biên, ngồi tù.

Không nghe ai nói các đại gia ở Việt Nam làm việc từ thiện như thế nào, nếu xuất thân từ bần cùng mà ra phải thương xót hoàn cảnh người bần cùng, nhưng họ lại thích chơi ngông, để trả thù một quá khứ đã chịu thiệt thòi, thua kém người khác. Trong khi đó, tỉ phú  người Mỹ Warren Buffett, 80 tuổi, đã tặng 1,78 tỉ USD cho nhiều tổ chức từ thiện, trong đó phần lớn đượctrao cho quỹ từ thiện của gia đình Bill Gates. Ông vẫn ở căn nhà mua từ 50 về trước, vẫn tự lái chiếc xe đời cũ mỗi ngày. Quỹ Bill & Melinda Gates từ năm 2007 đã chi 28 tỷ đô (chiếm 48% tổng tài sản 59 tỷ) để làm từ thiện. Theo công bố đăng trên trang ww.givingpledge.org của tổ chức Giving Pledge, hai tỉ phú Bill Gates và Warren Buffett đã kêu gọi được 40 tỉ phú khắp nước Mỹ cống hiến phần lớn tài sản của mình, khoảng 50% số tài sản hoặc hơn, cho mục đích từ thiện.  Quan quyền, cán bộ mặc cảm về cha ông xuất thân “bần cố nông” thì dựng lăng mộ, xây nhà thờ họ rình rang, dân dã mặc cảm vì nghèo đói, đã bán thân con ra ngoại quốc, thì xây cửa nhà cho lớn, mua xe cho sang, TV màn ảnh rộng, tiêu xài huy hoắc cho bằng làng bằng xóm. Càng trả thù dĩ vãng càng làm cho người đời thấy rõ dĩ vãng của mình và trong một xã hội vốn mang khẩu hiệu tranh đấu cho giai cấp, ranh giới giàu nghèo càng ngày càng cách biệt, “người ăn không hết, kẻ làm không ra!”