Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 18 Mar 2026

Kỳ 3

Thời gian trôi, tình hình coi như tạm yên.

Một mất, mười ngờ, sau vụ cái radio thì trong trại đã xảy ra nhiều vụ đánh ăng ten, đánh cò mồi. Ăng ten thứ thiệt bị đánh đã đành, ăng ten tình nghi cũng bị ăn đòn.

Ở Buồng 9 cải tạo viên Phú Dù, bị cải tạo viên Hùng Biệt Cách đánh sưng mỏ.

Trong Buồng 16 người đáng nghi nhất là cải tạo viên Lê Văn Tịnh.

Tôi không biết Lê Văn Tịnh mang cấp bậc gì và ở đơn vị nào.

Lê Văn Tịnh là nhân viên của phòng văn hóa.

Ai cũng nhìn anh ta với con mắt khinh khi và thù ghét.

Chỉ có một va chạm nhẹ khi lên thang, xuống thang trong phòng ngủ, Nguyễn Văn Ninh đã giáng cho Lê Văn Tịnh một trận đòn đau.

Bị hành hung, Lê Văn Tịnh chỉ ôm mặt sụt sịt chứ không chạy lên văn phòng để mách cán bộ trực trại.

Mỗi tối, anh em trong nhà đều tập trung nồi niêu giữa đường đi, sáng hôm sau thì của ai nấy cất.

Tới khi Lê Văn Tịnh cầm nồi cá kho của mình lên thì,

– Ui cha ơi! Anh nào ác quá vậy? Tội nghiệp tui!

Trong cầu tiêu có một thùng vôi bột để rắc trên cứt cho đỡ thối, vậy mà ai đó đã lấy vôi bột đổ đầy nồi cá kho của Lê Văn Tịnh.

Rồi cũng vào buổi sáng một ngày khác, vừa thức dậy, anh cựu Ðại úy Trần Văn Viên nằm cạnh Lê Văn Tịnh la toáng lên,

-Bà con nào xỏ nhầm dép của tôi thì cho tôi xin lại! Ði lao động mà không có dép thì sưng chân, sưng cẳng, làm sao tôi chịu nổi?

Chẳng có ai nhận đã xỏ nhầm dép của Viên, nên ngày đó Trần Văn Viên đi lao động mà không có dép, lúc về thì hai bàn chân sưng lên, anh chàng cứ bước chấm phết như một người bị thọt.

Sáng hôm sau anh Viên thấy đôi dép của mình trở về nằm chỗ cũ, nhưng Lê Văn Tịnh lại la lên,

– Bà con nào đi nhầm dép của tui thì cho tui xin lại!

Hóa ra đêm trước có người tưởng lầm đôi dép của Viên là của Tịnh nên đã lấy nó đi. Ðêm qua người đó đã điều chỉnh lỗi lầm, trả lại dép cho Viên rồi đem dép của Tịnh đi!

Giờ lao động, khi đi đổ thùng, Lê Văn Chánh phát giác ra trong thùng cứt trên xe có đôi dép của Tịnh.  Nhưng Chánh cũng chẳng ngu mà bỏ công moi nó ra làm gì.

Hơn bốn mươi năm sau, nhân lúc chuyện trò, nhắc lại kỷ niệm xưa ở trại cải tạo Nam Hà A. Nguyễn Văn Ninh hỏi tôi,

– Ông có nhớ thằng Tịnh ở Buồng 16 không nhỉ?

Tôi trả lời,

-Nhớ! Ngày đó tụi mình cứ nghi nó là ăng ten, mà không biết nó có phải ăng ten không?

Nghe tôi nói vậy thì Nguyễn Văn Ninh có vẻ ngậm ngùi,

– Lúc ấy mình nghi nó, nên tìm cớ gây chuyện đánh nó! Chứ thực tình mình không khẳng định rằng nó có là thằng xấu hay không? À! Mà ông có biết ai đã đổ vôi bột vào nồi cá của nó và ai đã ăn cắp đôi dép của nó không?

Tôi cười,

– Thì tôi đây chứ ai! Tôi đổ một lon vôi vào nồi cá của nó, cứ tưởng nó sẽ đổ cá đi, nhưng nó đã đem nồi cá ra giếng rửa cho sạch vôi, rồi đem đun lại. Nó thêm đường, thêm mắm, thêm dầu mỡ thơm lừng. Nó còn mời tôi ăn, nhưng tôi đâu dám ăn?

Ðêm trước vì có hai đôi dép giống nhau, nằm cạnh nhau, tôi đã lấy nhầm đôi dép của ông Viên. Hôm sau chỉ còn một đôi dép của nó nên không thể nhầm. Tôi đem dép của nó nhét xuống cầu tiêu ngay. Không ngờ từ đó nó lại đi đôi dép râu Trường Sơn, nhìn nó càng có vẻ giống Việt-Cộng!

Rồi thời gian cứ thế trôi, chúng tôi ngỡ rằng chuyện chiếc radio đã chìm xuồng. Nào ai có hay, địch vẫn âm thầm theo dõi, rồi bất ngờ ra tay.

Một hôm, tay xách gàu nước từ giếng trở về tôi thấy gần chục Công An áo vàng súng ngắn của Bộ Nội Vụ đột ngột xuất hiện trước sân trại và ra lệnh cho vệ binh bao vây Buồng số 3.

Có người bị bắt! Người bị còng tay dẫn đi là cải tạo viên Trần Hàn.

Trần Hàn ở Buồng 3, đa số là dân Cảnh Sát Quốc-Gia.

Trần Hàn là cựu thiếu tá Trưởng ty Cảnh Sát Tỉnh Quảng-Tín.

Nghe đâu anh Hàn bị bắt vì đang giữ một chiếc máy thu thanh.

Tôi nghe tin mà lấy làm lạ. Tôi biết rõ ràng, từ sau ngày kiểm tra toàn trại thì không còn nghe ai nói tới cái “đài” này nữa.

Vậy chiếc radio mà anh Hàn cất giữ từ đâu mà có? Nếu đó là chiếc radio mà tôi đã từng cất giấu ở Buồng 16 thì người ưu tiên bị bắt phải là anh Nguyễn Hữu May, vậy mà anh May vẫn bình yên.

Với tôi, sự việc anh Trần Hàn bị bắt là cả một bất ngờ!

Từ đó, cả trại xôn xao bàn tán sau cú bố ráp này.

Vào buổi sớm tinh mơ hai ngày sau khi cải tạo viên Trần Hàn bị bắt lên ban chỉ huy trại đã có một người tất tả đi vào sân Buồng 16.

Người vừa xuất hiện là cán bộ Hồng.

Cán bộ Hồng gõ “Cộc! Cộc!” vào một cánh cửa sổ,

– Anh Tuy dậy đi! Tôi có việc cần! Mau lên!

Anh Tuy nằm ngay sau cửa, ngồi bật dậy,

– Dạ! Có chuyện gì vậy cán bộ?

– Anh cử một người kéo cái xe cải tiến ra phòng trực ngoài cổng chính gặp tôi!

– Vâng! Tôi làm ngay!

Anh Tuy sắp quay lưng thì cán bộ Hồng gọi giựt lại,

– Hai người! Hai người thật khỏe mạnh!

Anh Tuy hướng về phía cuối buồng, gọi lớn,

– Anh Chánh chuẩn bị cái xe cải tiến! Anh Long đi theo anh Chánh làm công tác với cán bộ Hồng!

(Chánh là cựu Thiếu tá Lê Văn Chánh – Long là tôi, cựu Thiếu tá Vương Mộng Long.)

Lê Văn Chánh mắt nhắm, mắt mở, kiễng chân lên giựt chiếu của tôi, tôi nằm trên tầng hai,

– Long ơi! Long đừng ngủ nữa! Long dậy đi công tác với mình!

Tôi bị Tào Tháo đuổi suốt đêm qua nên thoái thác,

– Chánh tìm người khác, mình đang bị đau bụng.

Nghe biết tôi bị bịnh, anh Tuy nói với Chánh,

– Ông Chánh! Ông chọn ai đi với ông thì chọn. Tôi không ý kiến nữa.

Chánh lại kiễng chân giựt chiếu một người khác cũng nằm trên tầng hai,

– Hòa Voi! Hòa Voi dậy mau! Dậy đi công tác với mình! Nhanh lên!

Người bị Chánh đem theo phụ việc là Hòa Voi, tức là cựu Thiếu tá Hồ Văn Hòa, cựu Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 35 Biệt Ðộng Quân.

Tôi, Hòa và Chánh là bạn quen. Giúp đỡ nhau là chuyện vụn vặt thường ngày.

Mấy giờ sau thì Hòa và Chánh trở về. Chánh lo rửa xe, còn Hòa thì ngồi kể cho tôi nghe chuyện công tác ngày hôm đó diễn tiến như thế này…

Cánh cửa chính Buồng 16 được mở vừa đủ hẹp cho hai người nghiêng mình theo nhau len qua rồi đóng lại, khóa lại.

– Hai anh đi lấy xe! Tôi chờ ngoài cổng.

Cán bộ Hồng vừa ra lệnh cho Chánh và Hòa xong, liền quay gót.

Chánh nói,

– Hòa chờ mình chút!

Hòa lững thững cất bước lên con dốc để ra sân trại.

Chánh đi vòng ra sau cầu tiêu lấy cái xe cải tiến thường ngày dùng để chở phân.

Chánh chính là anh trại viên phụ trách công tác đổ thùng của Buồng 16 này.

Hôm nay là Chủ Nhật, không lao động, nên các buồng, các lán còn ngủ yên.

Chừng hai phút sau Chánh kéo xe tới gặp Hòa,

– Mẹ nó! Chẳng biết có chuyện gì, ngày nghỉ mà nó bắt mình đi sớm thế?

Hòa gật gù đoán mò,

– Chắc đi phụ nhà bếp chở gạo, củi, mắm muối, chứ gì?

– Mình nghĩ không phải đi chở đồ cho nhà bếp! Sức mấy mà cán bộ hậu cần chịu xuất kho vào ngày nghỉ! Chắc cha Hồng trưng dụng tụi mình đi chở cát, chở sạn cho ai đó ngoài Ba Sao để lấy tiền đút túi tiêu riêng…

Chiếc xe cải tiến lộc cộc bò tới cổng. Cán bộ Hồng mở một cánh cửa bên trái cho xe đi qua, rồi khóa lại. Hồng búng tay,

– Hai anh theo tôi!

Chánh kéo xe, Hòa đẩy phụ bằng một khúc tre dùng làm đòn.

Xe quẹo phải đi về hướng phân trại B. Qua một con dốc thì tới khu cách ly, nơi đây có cái nhà kỷ luật. Nếu đi sâu thêm vào trong núi thì tới một khu hang đá có cửa sắt và gông cùm bằng sắt. Nơi đây, ngày xưa dùng để giam giữ tù binh Mỹ.

Hồng chỉ tay vào vật gì đó để bên hiên nhà kỷ luật,

– Hai anh khiêng cái áo quan kia lên xe rồi đi theo tôi!

Hồ Văn Hòa thấy dưới hiên nhà giam có một cái hòm gỗ, chẳng biết ai là người đang nằm bên trong.

Gỗ quan tài hơi mỏng, người nằm trong đó chắc không mập lắm. Khiêng cái áo quan lên xe mà Hòa và Chánh không cần phải bặm môi, vận sức.

Xe đổ dốc, cán bộ Hồng le te dẫn đường đi về hướng phân trại C.

Xe xuống dốc để ra vườn rau.

Qua bãi đổ phân, bãi đổ phân thối quá! Hồ Văn Hòa muốn nghẹt thở. Vậy mà Hòa thấy mặt Lê Văn Chánh vẫn tỉnh bơ.

Ngày nào bạn Chánh cũng phải tới chỗ này một lần. Có lẽ vì vậy mà khứu giác của Chánh đã quen đi, hay là khứu giác của anh ấy đã bị đui, bị điếc rồi cũng nên!

Xe đi qua bãi phân, lên một cái dốc thì cán bộ Hồng giơ tay ra hiệu cho dừng,

– Lạc đường rồi! Quay lại!

Xe lại lộc cộc quay về, đi vòng ra phía sau ngọn đồi có ban chỉ huy rồi tới nghĩa trang chôn tù chết.

Xe vào nghĩa địa thì ở đây đã có sẵn bốn năm tù hình sự ngồi chờ, họ đang vây quanh một cái điếu cày thuốc lào.

Hồng ra lệnh cho Chánh và Hòa hạ chiếc quan tài xuống, rồi đem xe về.

Chiếc xe quay về trại mà không có cán bộ quản giáo đi theo…

Hòa vừa kể chuyện cho tôi nghe xong thì các buồng bắt đầu mở cửa, tù túa ra sân.

Việc đầu tiên trong ngày nghỉ của tù là ào ra giếng tranh nhau múc nước.

Giếng thì rộng nhưng không sâu, nếu chậm chân, chậm tay, có khi vét không còn một giọt. Tôi cũng vác gầu chạy nhanh ra giếng…

Qua cổng dẫn vào Buồng 1, Buồng 2, tôi chạm mặt cựu Ðại tá Ngô, ông Ngô vẫy tay chào, tôi vẫy tay chào lại.

Ðại tá Ngô là bạn của Ðại tá Ủy, Ðại tá Ủy là đàn anh thân thiết của tôi.

Cách nay không lâu, bác Ngô bị anh Bảy Xe Lửa hành hung, đánh cho sưng cả mặt, chỉ vì anh ta nhìn nhầm bác Ngô với một ông đại tá cò mồi.

Một buổi nhá nhem tối, Bảy Xe Lửa đè ông Ngô ra mà thụi, ông Ngô la oai oái!

Anh Nghĩa Âm Phủ đứng bên thấy thế mới can,

– Ê! Bảy Xe Lửa! Sao mày lại đánh bác Ngô! Bác Ngô có làm gì sai mà mày đánh bác ấy?

Bảy vội dừng tay rồi ớ người ra,

– Ủa! Không phải cha này là cò mồi hả? Chết cha! Tui đánh lộn người rồi! Tui xin lỗi đại tá! Tui xin lỗi đại tá!

Ðược thằng Bảy xin lỗi thì Ðại tá Ngô đã sưng cả mặt mũi rồi!

Thời gian này ở Nam Hà A phong trào diệt ăng ten, diệt cò mồi đang dâng cao. Bảy Xe Lửa là thành viên của nhóm “diệt trừ ăng ten”

Thành viên của nhóm này anh nào cũng có võ.

Họ cứ lựa những ngày mưa bão hay vào buổi nhá nhem là ra tay.

Họ thẳng tay đấm bể mõm những tên nịnh hót cán bộ hoặc những tên làm ăng ten đặt điều báo cáo, làm hại anh em.

Những tên nhân viên văn hóa, đội trưởng, hay cò mồi, thấy mấy hung thần này thì sợ đái ra quần.

Tôi trở về buồng, rửa mặt, đánh răng xong thì thấy anh em gọi nhau ra tụ tập giữa sân để nghe tên Công An tên là Chèo Lực thông báo tin tức gì đó.

Len lỏi tới gần, tôi nghe được tiếng Chèo Lực,

– Ðêm qua cải tạo viên Trần Hàn đã trốn học tập lao động bằng cách treo cổ tự tử…

Tôi vỡ lẽ ra, cái xác mà Lê Văn Chánh và Hồ Văn Hòa chở trên xe cải tiến đem đi chôn sáng nay là xác của Thiếu tá Trần Hàn.

Anh Hàn bị biệt giam mấy ngày rồi, vì liên lụy tới chuyện chiếc radio.

Thiếu tá Trần Hàn đã chết vì cái radio.

Tới trưa, tôi chui vào Buồng 2 thăm cựu Ðại tá Cao Văn Ủy. Anh Ủy đang ngồi tập Yoga với cựu Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao và cựu Ðại tá Nguyễn Thành Trí.

Ông bà cựu Đại tá Nguyễn Thành Trí và Ông bà cựu Thiếu tá Vương Mộng Long, USA 2016 

Anh Ủy kéo tôi ngồi xuống chiếu,

– Sáng nay thằng cán bộ quản giáo Ðội 32 vào rỉ tai cho thằng Liễu biết rằng đêm qua chúng nó đã treo cổ người tù giữ cái radio để dằn mặt anh em chúng mình.

(Thằng Liễu: là cựu Ðại tá Trần Công Liễu, đội trưởng đội lao động số 32 Trại Nam Hà A. Ông Ủy xuất thân khóa 7 Ðà-Lạt, ông Liễu xuất thân khóa 8, nên ông Ủy có gọi ông Liễu là “thằng” thì cũng chẳng sao.)

Anh Ủy cũng cho tôi hay tên cán bộ này còn bắt Ðại tá Trần Quang Tiến, là người trực Buồng 2 và hai người khác đi sang Trại Nam Hà B làm vệ sinh sạch sẽ căn phòng kỷ luật đã nhốt anh Hàn.

Cựu Thiếu tá Vương Mộng Long và Cựu Đại tá Trần Quang Tiến, USA 2011

Anh Ủy chỉ tay vào cái bát nhôm để sát tường, cái bát còn chứa một khẩu phần bo bo, giọng anh bùi ngùi,

– Ông Tiến có đem về đây di vật độc nhất của chú Hàn là cái bát đựng cơm này. Có lẽ chú ấy chết đi mà bụng còn đói!

Anh chợt thấp giọng,

– Ông Tiến nghi tụi cán bộ đã giết chú Hàn. Trong lúc quét dọn ông ấy thấy xà nhà cao lắm, muốn tự tử phải đứng trên ghế mới với tới xà nhà. Một người bị cùm chân, còng tay thì làm cách gì mà có thể leo lên xà nhà được? Còn sợi dây dù treo cổ, tự dưng mà có ư?

Tôi ngậm ngùi, vậy là đêm qua anh Hàn đã bị cai tù giết.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 18 Mar 2026

Tất cả những người dự cuộc học tập chính trị buổi tối này đều nóng ruột muốn được ra sớm để về nhà. Họ đều đi ra khỏi nhà họ vào lúc bảy giờ hoặc tám giờ sáng nay để hấp tấp đến những trạm xe lửa, trạm xe buýt đón xe đi đến đây, và bây giờ họ biết chắc họ không thể nào về được đến nhà họ trước 9 giờ 30 tối. 
Simochka còn nóng ruột mong cho cuộc học tập này sớm chấm dứt mặc dù đêm nay nàng ở lại viện làm nhân viên trực nhật và nàng không phải bận tâm với việc đón xe về nhà. Những làn sóng sợ hãi và sung sướng theo nhau dồn dập đến trong nàng và hai chân nàng run run, hai đầu gối nàng yếu như khi nàng say hampagne. Cuộc hẹn ái ân giữa nàng với Nerzhin sẽ đến trong vài giờ đồng hồ nữa. Nàng không thể để cho giây phút quan trọng nhất đời nàng trôi qua một cách cẩu thả, không chuẩn bị, chính vì vậy nên cách đây hai ngày nàng mới không gặp Nerzhin và hẹn chàng đến hôm nay. Suốt ngày hôm qua và cả nửa ngày hôm nay nàng chuẩn bị như người sắp đi dự một đại lễ. Nàng ngồi ngay bên cạnh bà thợ may để thúc giục bà này hoàn thành cho nàng chiếc áo mới – chiếc áo thật đẹp. Nàng đã tắm thật lâu, tắm toàn bộ, trong cái bồn thiếc để gần chật cả căn phòng nhỏ xíu của nàng ở Mạc Tư Khoa. Đêm qua, nàng đã để ra nhiều giờ để uốn tóc trong những chiếc kẹp và sáng nay, nàng mất nhiều giờ nữa để mở kẹp, chải tóc trước gương, nàng nghiên mặt nhìn nàng trong gương, cố gắng tìm những góc cạnh để có thể nghĩ rằng nàng cũng có những nét đẹp, quyến rũ. 
Nàng nghĩ nàng sẽ gặp Nerzhin vào lúc ba giờ trưa, ngay sau đó nghỉ trưa, nhưng vào giờ đó nàng không thấy chàng đến. Rồi nàng bị gọi gia nhập vào một toán kiểm soát những bộ phận rời trong các phòng thí nghiệm. Sáu giờ tối nàng trở lại Phòng Âm thính nhưng vẫn không thấy Gleb. Rồi nàng phải dự cuộc học tập chính trị này. Suốt một ngày dài, nàng hay biết rằng trong ngày Chủ nhật hôm qua, Gleb Nerzhin đã được đưa đi gặp vợ, người vợ mà suốt một năm dài vừa qua chàng không được gặp. 
Nhờ thân hình nhỏ bé, Simochka dễ dàng tìm được một chỗ ngồi chìm mất trong hàng ghế đông người nhất. Nàng cảm thấy hai má nàng mỗi lúc một nóng hơn mỗi lần nàng nhìn lên đôi kim của chiếc đồng hồ điện treo trên tường. Sau 8 giờ, nàng sẽ được gần Gleb. 
Cuộc học tập nặng nề rồi cũng tan, mọi người vội vã ra về. Đến phút cuối cùng, Simochka cảm thấy hết can đảm, nàng chần chừ mãi với việc đi tới chỗ hẹn gặp người yêu. 
Mãi tới 8 giờ kém 2 phút, trái tim đập liên hồi – mặc dù những lời khen chiếc áo đẹp do những bạn đồng nghiệp thốt ra đã đem lại cho nàng thêm nhiều can đảm – Simochka mới bước vào Phòng Âm thính. Những tù nhân làm việc buổi tối ở đây đã đệ nạp những hồ sơ, tài liệu để cất vào tủ sắt. Bàn làm việc của Gleb nổi bật lên: chàng không có ở đó. Tại sao chàng không nhớ? Chàng đi đâu? Ngọn đèn bàn vẫn bật sáng, chàng đã nộp những tài liệu để cất đi nhưng nàng thấy có một điểm khác thường: những giấy tờ trên bàn chàng chưa được xếp dọn gọn ghẽ như mọi tối, một tập san khoa học của Hoa kỳ còn mở rộng trên bàn. Phải chăng đây là ám hiệu của chàng để riêng cho nàng: “Anh sẽ trở lại ngay”. 
Trung tá Roitman đưa cho nàng chìa khóa phòng và cục si dùng để gắn cửa – đêm nào các cửa phòng thí nghiệm cũng phải niêm phong. Nàng thấy tối nay Trung tá Roitman có vẻ âu sầu: 
“Serafima Vitalyevna… đêm nay có trực ư?” 
Ông ta hỏi nàng câu đó trong lúc ông mặc áo ngoài và đội mũ. 
Một hồi chuông điện dài vang dội trong những hành lang và tất cả những căn phòng trong Viện. Những người tù cuối cùng ra khỏi phòng. Simochka, với nét mặt nghiêm trọng, đi đi lại lại trong phòng. Những khi nàng không mỉm cười như thế, nàng để lộ vẻ nghiêm khắc và không chút hấp dẫn – nét xấu chính trên mặt nàng là sống mũi quá dài, quá nhọn của nàng. 
Bây giờ chỉ còn có một mình nàng ở đây. 
Bây giờ là lúc chàng phải đến. 
Simochka đi khắp phòng, hai bàn tay khổ sở nắm chặt lại với sự bất lực. Nàng vừa phát giác ra một sự ngẫu nhiên tai hại: những tấm màn vẫn che những khung cửa sổ phòng này hôm nay được tháo xuống đem đi giặt, cả ba khung cửa sổ đều trần trụi. Bất cứ ai đứng ngoài bóng tối ngoài sân cũng có thể nhìn rõ khắp cả phòng này, trừ một khoảng nhỏ cuối cùng. Đó là chưa kể tháp canh ở đầu bức tường kia, người lính canh trên đó nhìn rõ mọi vật, mọi người trong phòng này. 
Nàng có nên tắt hết đèn trong phòng không? Tắt thì được nhưng lỡ có người đi qua, tò mò vì chuyện có nhân viên trực trong phòng mà phòng lại tối om thì sao? 
Không sao, không cần tắt đèn, mặc cho thiên hạ nhòm ngó. Nàng và Gleb vẫn có một chỗ kín đáo không ai thấy được. Đó là phòng ghi âm. Simochka đi tới đứng dựa vào khung cửa căn phòng nhỏ xíu này, nàng nhắm mắt lại. Lát nữa, nàng sẽ không tự ý bước vào đây. Chàng sẽ ôm nàng, kéo nàng, bồng nàng vào. 
Do những cô bạn gái đã có kinh nghiệm của nàng kể lại, Simochka đã biết sẽ có những gì xảy ra. Nhưng đó chỉ là hình ảnh mơ hồ. Cơn xúc động trong nàng mỗi lúc một tăng, hai gò má nàng nóng rát như bị hơ lửa. 
Cái mà nàng giữ gìn quá lâu nay trở thành một gánh nặng mà nàng cần bỏ đi. Nàng ao ước nàng sẽ có một đứa con với Gleb. Nàng sẽ đi làm nuôi con chờ đợi ngày chàng ra khỏi tù. Chỉ có năm năm nữa thôi, năm năm ngắn ngủi. 
Những bước chân đi vững chắc, nhanh mau của Gleb vang lên ngoài hành lang, Simochka vội đi về bàn nàng, ngồi xuống ghế, tay cầm cây vặn đinh vít, nàng nhìn xuống giàn máy radio đặt sẵn trên bàn như nàng đang bận rộn làm việc. 
Nerzhin đóng nhẹ cánh cửa để tiếng cửa đóng khỏi vang trên hành lang. Chàng nhìn ngay thấy Simochka cúi mặt trên bàn như một con chim nhỏ. 
“Chim cút…”, đó là danh từ âu yếm chàng vẫn gọi nàng. 
Nerzhin đi thẳng tới chỗ nàng, chàng tới để nói với nàng những lời chàng phải nói, chàng tới để lạnh lùng và tàn nhẫn giết nàng. 
Simochka ngẩng lên nhìn Gleb với đôi mắt rực sáng yêu đương, toàn thân nàng lạnh giá ngay lập tức. Nét mặt Gleb lúc đó không phải là nét mặt của người đàn ông đến để yêu đương. 
Cho đến lúc này Simochka vẫn tin chắc khi vào đến phòng, Gleb sẽ hôn nàng và nàng sẽ chống cự, không phải nàng không chịu mà vì sợ người lính gác trên tháp canh nhìn thấy. 
Nhưng chàng không nhào đến ôm nàng như nàng tưởng, chàng là người đầu tiên lên tiếng nói, giọng càng nghiêm trọng và buồn rầu: 
“Cửa sổ không có màn che. Anh sẽ không đến gần em quá…” 
Chàng đứng ở bàn làm việc chàng, hai tay chống lên mặt bàn, nhìn về phía nàng như ông quan tòa: 
“Nếu không có ai đến làm phiền chúng ta, anh với em có đủ thì giờ thảo luận một chuyện quan trọng…” 
“Thảo luận?” 
Simochka ngơ ngác hỏi. Nàng quay mặt nhìn Gleb trong lúc chàng ngồi xuống bàn. Có sự việc vừa xảy đến với chàng mà nàng không hay biết? Sự việc này chắc là liên hệ với vụ Viện trưởng Yakanov gọi chàng lên văn phòng tối hôm thứ Bảy? Chàng sắp đi khỏi đây? Nhưng tại sao chàng lại không tới hôn nàng? Cổ họng Simochka nghẹn lại khi nàng hỏi: 
“Có chuyện gì?… Chuyện gì…?” 
Yên lặng như chết bao vây họ. Không một tiếng động nào từ ngoài vang tới họ. 
“Simochka … Anh không thể giấu không nói cho em biết…” 
Nàng chờ đợi. 
“Anh có lỗi với em, anh đã hành động thiếu suy nghĩ…” 
Nàng vẫn không nói. 
“Hôm qua… anh gặp vợ anh. Hôm qua anh được đi thăm”. 
Simochka rúm người lại trong lòng ghế. Thân hình đã nhỏ bé của nàng càng thêm nhỏ xíu. 
“Sao anh không cho em biết trong ngày thứ Bảy?” 
Giọng nàng lạo xạo như tiếng thủy tinh vỡ vụn. 
“Simochka … Em nghĩ rằng anh có thể giấu em một chuyện như thế sao?” 
“Tại sao không?”,
nàng nghĩ nhưng không nói. 
“Mãi tới sáng qua anh mới biết. Thật bất ngờ. Anh được họ cho biết một tiếng đồng hồ trước khi đi. Suốt một năm nay anh không được gặp vợ anh nhưng sau lần gặp nhau hôm qua, anh… anh… thấy rằng…” 
Chàng nói khổ sở, khó khăn, và chàng biết rằng người đàn bà kia còn khổ sở, đau đớn hơn chàng vì những lời này: 
“…anh chỉ yêu có một mình nàng. Em không biết có những gì đã xảy ra giữa vợ chồng anh. Khi anh ở trại tập trung, nàng cứu sống anh. Không có nàng, anh đã chết. Nàng đã chết. Nàng đã hy sinh tuổi xuân cho anh, nàng cho anh cả đời nàng. Em nói em chờ anh nhưng… không thể được. Anh phải trở lại với nàng. Anh không thể… không thể…” 
Gleb không còn có thể ngừng nói. Chàng đã nói rồi, chàng phải nói hết, như người bắn ra phát súng không thể hối hận chạy theo níu viên đạn lại. Phát súng giết người đã trúng đích, nạn nhân đã chết. Nói nữa hay ngừng cũng vậy thôi. Simochka gục xuống trên bàn, nàng gục xuống theo nghĩa đen, mặt nàng úp trên bàn và tóc nàng xõa vào giàn máy vô tuyến vẫn còn đỏ đèn. 
Gleb nghe thấy những tiếng nức nở vang lên. 
“Simochka… con chim cút của anh… Đừng khóc. Xin em đừng khóc”. 
Chàng âu yếm nói, nhưng chàng vẫn ngồi xa nàng hai mặt bàn, chàng vẫn không thèm xê dịch. 
Nếu nàng phản ứng bằng cách dữ dội, sỉ nhục chàng, chàng đã thản nhiên bỏ đi, thoải mái, nhẹ người. Nhưng sự yếu đuối không chút tự vệ của nàng làm cho tim chàng thắt lại vì hối hận. 
“Đừng khóc. Em đừng khóc. Lỗi tại anh. Hoàn toàn do lỗi ở anh. Anh đã làm em khổ nhưng anh không còn cách nào khác. Em bảo anh phải làm sao bây giờ?” 
Chàng đau khổ khi thấy người đàn bà này khóc nhưng chàng cũng không sao có thể làm cho Nadya, vợ chàng, phải khóc. Sau cuộc gặp mặt Nadya hôm qua, chàng không còn có thể nghĩ đến chuyện ôm, hôn một người đàn bà nào khác, dù người đó có là người đàn bà chàng đã hẹn hò như Simochka. 
Nàng khóc mãi và sau cùng, Gleb cũng ngừng việc yêu cầu nàng thôi khóc, chàng đốt điếu thuốc lá và đi ra đứng bên cửa sổ nhìn trời đêm. 
Khi chàng quay lại, Simochka mở lớn đôi mắt nhìn chàng. Mặt nàng ràn rụa nước mắt và nàng không lau đi, nhưng ánh mắt nàng rực sáng. Lúc ấy, đôi mắt nàng thật đẹp: 
“Anh và vợ anh chưa ly dị ư?” 
Nàng hỏi, rõ ràng, và nàng đã hỏi đúng vào câu nàng cần hỏi. Gleb sẽ không còn có trách nhiệm gì nữa nếu vợ chàng đòi ly dị – trường hợp ấy thường xảy ra với các tù nhân – Hôm qua, Nadya cũng có nói đến chuyện ly dị nhưng chàng không nên nói lại với Simochka. 
“Không…” 
Chàng đáp nhưng cố không để cho Simochka cảm thấy là chàng tránh nói đến tiếng “ly dị”. 
“Vợ anh chắc là đẹp lắm?” 
“Với anh thì nàng đẹp…”
 
Simochka thở dài: 
“Nếu nàng đẹp, nàng sẽ không chờ đợi anh…” 
Simochka không thể nào chấp nhận được quyền làm vợ của người đàn bà xa lạ nào đó mà nàng chưa hề gặp. Người đàn bà đó chỉ sống với Gleb một thời gian nào đó thôi, nhưng đã lâu lắm rồi, đã tám năm người đàn bà đó không ở gần Gleb, không chia sẻ buồn vui với Gleb, chắc chắn thị phải đi lại với nhiều người đàn ông khác. Không một người đàn bà trẻ đẹp nào lại có thể chịu đựng nổi tám năm. Gleb phải thuộc về nàng, về Simochka. Đêm nay, nàng có quyền làm vợ Gleb. 
“Nàng sẽ không chờ anh đâu…” 
Simochka nhắc lại. Lời nàng nói như mũi kim nhọn đâm vào tim Gleb. 
“Nàng đã chờ trong tám năm…” 
Gleb phản đối, nhưng bản tính lý luận của người khoa học trong chàng bắt buộc chàng phải nói thêm: 
“Tất nhiên những năm cuối cùng là những năm khó khăn nhất…” 
Simochka đưa mu bàn tay lên chùi nước mắt, nàng nhắc lại, thì thầm như nói một mình: 
“Nàng sẽ không chờ…” 
Nerzhin nhún vai. Quay lại nhìn ra những điểm sáng rải rác trong vùng trời đêm bên ngoài, chàng cũng nói như người nói một mình: 
“Nếu nàng không chờ cũng không sao. Điều quan trọng là mình không có lỗi…” 
Đột nhiên, luồng tư tưởng lôi cuốn chàng, Gleb nói đều đều: 
“Simochka… tôi không tự cho tôi là người tốt. Khi nhớ lại những gì tôi đã làm – như nhiều người khác đã làm – ở trên đất Đức, tôi thấy rõ tôi không phải là người tốt. Lúc ấy, tôi không biết thế nào là tốt, xấu, tôi chưa hề nghĩ đến chuyện con người có thể làm những việc gì và không nên làm những việc gì. Nhưng từ ngày ở tù, tôi thấy, tôi biết. Càng sống mất phẩm giá chừng nào, tôi càng thấy giá trị của con người… Nếu vợ tôi không chờ tôi? Nếu vợ tôi không chung thủy với tôi? Cũng không sao. Không có gì thay đổi. Tôi sẽ chết vô ích ở Bắc cực. Nhưng khi nào ta chết, ta được biết chắc rằng ta không phải là một thằng đểu, ta còn là một người, đó là một điều làm ta hài lòng. Ta chỉ cần có thế mà thôi…” 
Chàng có thể nói dài, nói lâu về đề tài trừu tượng này, nhất là khi chàng chẳng còn chuyện gì để nói. Nhưng Simochka không còn nghe bài giảng của chàng. Nàng đang kinh hoàng tưởng tượng đến cảnh thê thảm của đời nàng, nàng sẽ về nhà tả tơi như cái mền rách, nằm vật xuống giường – chiếc giường trong nhiều đêm nàng ngủ với cảm giác có chàng nằm bên – Nàng đã chuẩn bị long trọng đến chừng nào cho đêm nay. Nàng đã tắm kỹ, đã thoa nước bông… Thật nhục nhã và cay đắng. 
Nhưng nếu một cuộc gặp gỡ chớp nhoáng diễn ra trong nửa giờ, với sự có mặt của nhân viên an ninh, có sức mạnh hơn cả một năm dài nàng ngồi cạnh chàng, hơn cả sự hy sinh của nàng, nàng đành chịu thua, đành bất lực. 
Nerzhin ngừng nói khi thấy rằng Simochka không nghe, và nàng không cần chàng giải thích, an ủi. Chàng lén nhìn lên đồng hồ: còn những hai mươi nhăm phút nữa mới đến 9 giờ. 
Simochka không thể bảo chàng đi đi, và Nerzhin cũng không thể bỏ ngay đi được, mặc dù cả hai người cũng biết rõ là họ chẳng còn có gì để nói với nhau, họ ngồi bên nhau vô ích và chỉ làm cho nhau thêm khó chịu. 
Những ngón tay vô hồn của Simochka vặn một nút điện trên giàn máy radio và tiếng nhạc bỗng tràn đầy gian phòng. Giữa tiếng đàn dây rền rĩ họ nghe tiếng hát ấm và nồng nàn của danh ca Obukhova: 
Không! Không phải em là người tôi yêu… 
Nhan sắc em không làm tôi xúc động… 
Thật là lạ lùng. Như người ta cố ý hát lên bài này để làm tăng thêm nỗi đau khổ của Simochka. Nàng run rẩy lắng nghe… 
Tuổi trẻ… 
Tuổi trẻ qua đi… 
Chúng ta mất hết… 
Không còn gì… 
Không…! Không phải em là người tôi yêu…
Nerzhin đến gần đưa tay ra định tắt máy, nhưng với vẻ cương quyết hiếm có, Simochka nói lớn: 
“Đừng. Mở lớn hơn đi!” 
Và nàng lại khóc. 
Gleb rung động, khẽ nói: 
“Em tha lỗi cho tôi”. 
“Không sao…” 
Simochka can đảm gượng cười nhưng những giọt nước mắt vẫn rơi trên má nàng. 
Và lạ lùng thay, Obukhova càng hát, cả hai người cùng cảm thấy dễ chịu. Mười phút trước, họ xa cách nhau đến nỗi họ không còn đủ ý chí để chào từ biệt nhau. Giờ đây một cái gì dịu dàng tươi mát đã đến với họ. 
Khi nào chúng ta xa nhau… 
Hãy hôn nhau… 
Dù chỉ là chiếc hôn… 
Rất nhỏ… 
Không nghĩ đến việc người lính canh bên ngoài có thể nhìn thấy, Nerzhin cúi xuống, nâng mặt Simochka bằng hai bàn tay, hôn lên trán nàng. 
“Simochka… Em đi rửa mặt đi. Họ sắp tới xét tù đấy…” 
Nàng giật mình, nhìn lên đồng hồ và hiểu. Đôi lông mày mỏng của nàng nhếch lên, như đến giây phút này nàng mới thật hiểu có những gì đã xảy đến với nàng tối nay. Ngoan ngoãn và buồn rầu, nàng đi tới bồn sứ có vòi nước ở cuối phòng.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 18 Mar 2026

Nhân đọc Blog Bolsa Người Việt ngày 11/5/12: “Khoảng 11 giờ sáng, giường bên cạnh người nhà tôi có bệnh nhân mới. Ông ngồi xe lăn, khoảng 60, mặt sưng, hai mắt quầng tím. Vì mới vào nên ông phải trả lời những câu hỏi của y tá.

Y tá: – Tại sao ông vào đây?

Bệnh nhân: – Tôi bị tiểu đường, sáng nay chóng mặt bị té.

Y tá: – Ông có thường đo đường ở nhà không?

Bệnh nhân: – Có, nó khoảng trên 200.

Y tá: – Đường của ông bây giờ là gần 600. Gần đây ông có uống thuốc gì không?

Bệnh nhân: – Có, cả tuần nay tôi uống dược thảo của bác sĩ …

Y tá: – Thuốc có toa bác sĩ không?

Bệnh nhân: – Dạ không!

Y tá: – Không có toa bác sĩ sao ông dám uống?

Bệnh nhân: – Tui nghe quảng cáo hay quá mà cô, bệnh gì cũng hết. Cái ông bác sĩ còn nói, nếu không hết đem lại họ trả tiền cho. Mà còn có mấy người uống rồi gọi vào nói là bớt đến 90% mà cô.

Y tá: – Rồi ông có thấy bớt không?

Bệnh nhân: – Bớt thì tôi vô đây làm gì cô?”

Tôi xin có hai câu hỏi:

1- Công ty giày thể thao Skechers vừa đồng ý trả $40 triệu tiền phạt để bồi thường cho khách hàng đã quảng cáo vô căn cứ rằng kiểu giày Shape-ups của họ giúp người ta giảm được cân và mông đùi bụng được săn chắc hơn. Tuy nhiên chưa có ai chết vì mang giày Sketchers. Nếu tôi chết vì uống thuốc theo lời quảng cáo, có được bồi thường không?

2- Chúng ta chê người trong nước vô cảm, đạp lên nhau mà sống, nhưng ở hải ngoại, vì lợi nhuận, tán tận lương tâm, chúng ta lợi dụng sự khờ dại của đồng bào, nhất là giới cao niên để làm giàu, điều đó có đáng lên án không? mẹ tôi đã mang về, ra vườn. Ông cho chúng tôi biết đó là Tàu Chợ Lớn chuyên bán hàng giả, lừa bịp thiên hạ, chẳng phải thuốc gia truyền gì cả! Câu nói tôi vẫn còn nhớ mãi của ông là: “Không chết vì bệnh, mà chết vì thuốc!”

Cho đến lúc về già, hồi tưởng lại những gánh Sơn Đông Mãi Võ qua tỉnh ly những ngày thơ ấu, tôi còn tưởng như nghe bên tai tiếng rao hàng dõng dạc của ông võ sư người Tàu, tiếng trống chiêng khua inh ỏi và hình ảnh chú khỉ mặc áo quần đỏ nhe răng, nhảy nhót làm trò năm xưa. Tôi tiếc cho con cháu thời đại hôm nay không được hưởng những giây phút hồi hộp vui tươi mỗi khi có gánh mãi võ đi ngang qua nơi mình ở.

Thời đại tân tiến này, con cháu chúng tôi hay cả quý vị cao niên, xem hay nghe quảng cáo “cao đơn hoàn tán” trên TV hay đài phát thanh thì chán chết!

Hồi còn nhỏ, cũng như bạn bè đồng lứa tuổi, tôi rất thích khỉ và khoái xem làm trò khỉ. Nhà ai có nuôi khỉ là chúng tôi rủ nhau đi xem và tìm cách đến gần, thừa lúc chủ nhân không để ý, không thọc que thì cũng tìm cách trêu chúng, làm khỉ tức giận nhe răng hoặc nhảy chồm tới tấn công đám chọc phá. Nhưng khoái nhất vẫn là chuyện đi xem trò khỉ của những đám Mãi Võ Sơn Đông. Nhà ở gần chợ, cứ mỗi chiều nghe tiếng trống, tiếng xập xỏa vang lên ở phía đầu chợ là tôi đã nhanh chân chạy ra nhập bọn với những khán giả đang ngồi dưới đất, vây quanh nhóm mãi võ đang thúc những hồi trống rộn rã để chiêu dụ khách hàng đến xem khỉ làm trò, xem ông võ sư múa đao, nghe quảng cáo thuốc và mua thuốc đem về.

Khi tôi đến nơi thì đám khán giả coi chừng đã đông, người lớn đứng vây quanh lố nhố, còn bọn trẻ con lem luốc chúng tôi thì ngồi bệt xuống đất. Ông “võ sĩ” to mập người Tàu, đeo giây lưng đỏ, mặc áo quần chẽn, trong khi miệng y hô lớn: “Xê da! Xê da!” thì trong tay y đang quay vòng tròn một sợi giây thừng lớn, mà đầu giây treo một miếng vải đỏ để mở rộng vòng đai khán giả. Lũ trẻ đang lết tới, chăm chú nhìn vào con khỉ mặc bộ đồ đỏ, đội nón đỏ đang ngồi nhai đậu phọng trên một chiếc lồng, sợ hãi dạt hẳn ra. Tiếng trống dồn dập hối thúc mời gọi nên chẳng mấy chốc đám đông khan giả tò mò đến đứng vây quanh đã khá đông. Buổi diễn bắt đầu bằng một trò khỉ khi con khỉ nhe răng đạp một chiếc xe đạp tí hon chạy vòng quanh trước mắt chúng tôi, dù không ai “xin một tràng pháo tay” chúng tôi cũng vỗ tay reo hò ầm ĩ. Tiếp theo, ông “võ sư” người Tàu múa một bài võ, nhào lộn hai vòng, xong đứng bật dậy, cung kính vòng tay cúi đầu chào bà con lúc bây giờ đã đứng nghẹt cả một khu chợ. Theo sự hướng dẫn của ông võ sư, con khỉ cầm cái thau nhôm móp méo đi một vòng xin tiền, nhưng phần lớn số tiền thu được chỉ là bạc cắc.

Nhưng đây mới là phần cốt lõi của chương trình:

– “Kính thưa Quý bà con, cô bác, nam phụ lão ấu. Chúng tôi từ bên Sơn Đông, nước Tàu mới sang xin trân trọng giới thiệu với bà con ba thứ thần dược gia truyền nổi tiếng bảy đời của chúng tôi, thứ nhất là “Bổ Huyết Khu Phong,” thứ hai là “Dầu Gió Thần Dược,” thứ ba là thuốc “Đả Trật Kim Hoàn.” Dứt một câu ngắn, viên phụ tá của y, một ông già cao lêu khêu lại đánh một hồi trống và cậu bé trong đoàn xử dụng chập chõa inh ỏi cả một góc phố. Để chứng minh cho thần dược “Bổ Huyết Khu Phong,” ông võ sư lấy ra một cái ống nghiệm đựng một dung dịch màu đen kịt đưa qua đưa lại trước mắt cho bà con xem:

– “Đây là máu huyết của bà con, cô bác đang bị bệnh. Đêm mất ngủ, ngày biếng ăn, tứ chi bãi hoải, nhức đầu chóng mặt, da khô, mắt mờ, kinh nguyệt không đều, toàn thân nhức mỏi, ăn uống không tiêu, thần suy thận yếu, ho khan, tức ngực … Bệnh đã ăn sâu vào nội tạng, phải mau mau cứu chữa. Chúng tôi ở bên Tàu gia đình cha truyền con nối, trăm đời phúc đức nguyện làm phước cứu người, độ thế. (Lùng tùng xèng!)

– “Đây là chai thuốc Bổ Huyết Khu Phong, thần dược gia truyền của chúng tôi … ” (Lùng tùng xèng!)

Y mở một chai thuốc có dán nhãn hiệu, lắc mấy cái và giải thích:

-” Đây là chai thuốc Bổ Huyết Khu Phong, bổ máu mà trừ độc, uống vào tới đâu, máu huyết trở nên hồng hào, tật bệnh tiêu trừ tới đó.” (Lùng tùng xèng!)

Vừa nói, y vừa từ từ rót chai thuốc vào cái ống nghiệm mà y gọi đó là máu huyết của người bệnh. Nước thuốc trong chai “thần dược” chảy đến đâu, phần máu đang đen kịt hóa thành màu đỏ đến đó.

Khán giả vỗ tay rần rần. Võ sư đắc chí gào lớn:

– “Công hiệu như thần! Công hiệu như thần! Mại dô! Mại dô! Đây ông mua một chai 3 đồng, bà mua hai chai chỉ có 5 đồng! Mua mau, mua mau!”

Hồi nhỏ tôi không biết gì về chuyện cò mồi, nhưng thấy có hai thanh niên đứng gần đó móc túi mua ba chai thuốc. Ông võ sư cầm trong tay mấy chai thuốc vừa đi quanh vừa hô lớn, mời mọc, khi ôn tồn nhỏ nhẹ, khi la lớn như khủng bố tinh thần người mua, chẳng mấy chốc đã bán được hơn mười chai “Bổ Huyết Khu Phong.”

Đến màn thứ hai để quảng cáo cho những chai dầu gió Thần Dược, là phần tôi rất khó quên, là những bài học ca dao “đầu đời” bình dân, đầy vần điệu do ông thầy võ múa may, ngâm nga lớn tiếng:

– “Đàn bà đau bụng chổng khu,

Xức vô một tí, xách cái dù đi chơi!”

-“Đàn bà chồng bỏ chồng chê,

Xức vô một tí, chồng mê về liền!’

Lẽ cố nhiên là sau mỗi câu lục hay bát có tiếng trống, chập choã phụ họa, làm cho những câu thơ trở nên sống động lạ kỳ. Ông võ sư cầm một ve đi vòng quanh mời bà con xức thử mỗi người một tí, lẽ cố nhiên lũ nhóc chúng tôi rất thèm được thử xem mùi vị thế nào nhưng chẳng bao giờ được thỏa mãn. Lại có người móc túi mua dầu, đây cô Hai một chai, dì Tư hai chai!

Quảng cáo cho món thuốc “Đả Trật Kim Hoàn” là một màn kịch câm. Ông Võ Sư đưa vai trái cho ông già phụ việc đánh một hèo gỗ thật mạnh, có lẽ đau lắm, vì tôi nghe ông này la lên một tiếng thật lớn. Cởi áo, chìa cái vai vừa bị đánh ra, khán giả thấy vai võ sư bầm tím. Y đi một vòng chìa cái vai bị đánh ra cho mọi người cùng trông thấy, mặt nhăn nhó như đang bị đau đớn lắm. Sau đó, y lấy một chai dầu nhỏ để trên chiếc bàn nhỏ, đổ dầu ra bàn tay, xát mạnh lên vai nhiều lần. Chỗ đau đang đỏ bầm chẳng mấy chốc trở lại màu da thường như cũ, y cười nhăn nhở trong khi chiêng trống lại khua inh ỏi. Bọn trẻ lại ồn ào vỗ tay tán thưởng. Bấy giờ ông võ sư mới bắt đầu mở miệng, trở lại rao hàng:

– “Đả trật kim hoàn là môn thuốc thần trị trặc xương, bong gân, sưng khớp hiệu nghiệm như thần. Bị đánh đập, té bổ thương tích, đau đớn vô cùng, dùng Đả Trật Kim Hoàn như thuốc tiên, cam đoan không lành chúng tôi xin trả lại tiền! (Lùng tùng xèng!)

Có lẽ để cho lũ khán giả con nít không tiền mua thuốc chúng tôi đỡ nhàm chán, đám Sơn Đông Mãi Võ lại cống hiến trò khỉ đánh trống, đi xe đạp, xong lại tiếp tục rao hàng bán thuốc. Tôi thường mải mê xem đám xiệc này cho đến lúc tan buổi diễn, nếu không có bà chị đi tìm, xách tai kéo về vì đã đến giờ cơm.

Bà mẹ tôi đi chợ, thường thích dừng lại đám mãi võ nghe lời quảng cáo, bùi tai, mua các loại thuốc “Sơn Đông” này mang về nhà, phần ông bố tôi không bao giờ tin, có lần giận vợ, ông đã quăng mấy chai thuốc mẹ tôi đã mang về, ra vườn. Ông cho chúng tôi biết đó là Tàu Chợ Lớn chuyên bán hàng giả, lừa bịp thiên hạ, chẳng phải thuốc gia truyền gì cả! Câu nói tôi vẫn còn nhớ mãi của ông là: “Không chết vì bệnh, mà chết vì thuốc!”

Cho đến lúc về già, hồi tưởng lại những gánh Sơn Đông Mãi Võ qua tỉnh ly những ngày thơ ấu, tôi còn tưởng như nghe bên tai tiếng rao hàng dõng dạc của ông võ sư người Tàu, tiếng trống chiêng khua inh ỏi và hình ảnh chú khỉ mặc áo quần đỏ nhe răng, nhảy nhót làm trò năm xưa. Tôi tiếc cho con cháu thời đại hôm nay không được hưởng những giây phút hồi hộp vui tươi mỗi khi có gánh mãi võ đi ngang qua nơi mình ở.

Thời đại tân tiến này, con cháu chúng tôi hay cả quý vị cao niên, xem hay nghe quảng cáo “cao đơn hoàn tán” trên TV hay đài phát thanh thì chán chết!

Có điều tôi xin hứa với con cháu và bạn đọc thân mến, nếu mai này có chết, tôi sẽ chết vì bệnh hay già, chứ không phải chết vì thuốc!

Những Xuân, Tết không bình yên

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 18 Mar 2026

Lời Người Viết:

Từ những ngày xa xưa thời ấu thiếu, đứa nhỏ cảm nhận có một điều gì ngờ ngợ, năng nặng trong ngực – Cảm giác “buồn” nhưng (do) quá nhỏ chưa biết gọi nên tên vào những dịp lễ cuối năm Dương Lịch chuyển qua Tết Âm Lịch.

Qua hơn 80 năm trong đời, giúp dần biết: Tâm cảm (chưa biết gọi nên tên) từ ngày nhỏ ấy đến nay là Một – Vô cùng chính xác: Ngày xuân Mậu Thân (31/1/1968); Trận Hạ Lào/Lam Sơn 719 (8/2/1971); Mùa Hè Đỏ Lửa (30/3/1972), Hải Chiến Hoàng Sa (19/2/1974); Trận Phước Long (20/12/1974-6/1/1975) và kết thúc chiến tranh VN với trận mở màn ở Ban Mê Thuột (10/3/1975).

Và hôm nay, vũng lửa Trung Đông thật sự đã bùng nổ từ 28/2/2026. Không ai có thể nói bao giờ ngừng?! Coi chừng (lại) vỡ tung toàn thế giới!

Cuối cùng, người viết tự giải thích và cũng (tự) trấn an: Cuộc sống vốn như vậy, phải chịu thôi! Không thể làm gì khác. Nên viết xuống lời gọi là “Thơ”với Nỗi Buồn có thật.

#1.

Nhà mình ăn Tết chiến khu

Ba đi kháng chiến Việt Minh không về (1)

Nhìn ra bà nôi cuối sân

Nhỏ nín khóc nấc âm thầm nhớ cha  

(1) Lời mẹ dịp Tết 1946-1947 nơi chiến khu Cổ Bi, Hiền Sĩ, Tây-Nam Huế.

#2.

Đêm khuya thức trắng nhà thương

Hằn trên giường bệnh thân còm cõi xương

Thiêm thiếp đau lịm từng cơn

Dâng lên mẹ chết dần từ ngón chân (2)

(2) Tình cảnh của mẫu thân, nhà thương Huế (12/1960-1/1961)

#3.

Cuối năm ngủ đổ Hải Vân

Thân co cắp lạnh, xe hàng cạn xăng

Thanh xuân gánh nặng nhọc nhằn

Qua Tết đăng lính tìm lần nuôi thân (1)

(1) Cảnh huống của năm 1960-1961

#4.

Tội thay thân lính phong trần

Giao thừa dựa cột nhà dân chập chờn

Súng trộn pháo… Lệnh hành quân!

Tay xóc khẩu súng, ngặt nghèo xung phong (1)

(1) Giao thừa 1968 ở Quảng Trị

#5.

Thôi hết xuân rồi sáng Mồng Một

Ngoài trời mưa dày, hầm ủ dột

Nghe tiếng trống đâu nơi xa xôi

Thoảng hơi pháo ai vừa mới đốt (1)

(1) Tết năm nào đó ở hầm giam Thanh Hóa (1981-1988) 

#6.

Quá khuya dừng lại trên cầu

Đầu sông thấp thoáng lửa chài lưới đêm

Từ tâm sâu động âm thầm

Không nhà qua buổi Giao Thừa một thân (1)

(1) Giao Thừa 1991-1992, từ Sàigòn về Lái Thiêu

#7.

Tôi đi Mỹ nhẹ tênh vất tàn thuốc

Tôi tới Mỹ cứ như hắt cặn nước

Quê hương gầm gừ xua đuổi

Đất lạ trọn chốn lưu đày

Nhìn lên cuốn lịch,

Cuối năm Tây.

Đang nơi đâu đây? (1)

(1) Cuối năm 1993, đến Mỹ.

#8.

Sợ thay thế giới vỡ bùng

Trung Đông nỗi lửa, địa cầu chuyển rung

Giáo chủ thiệt mạng tàn đời

Dân trào uất hận, xuống đường hoan hô!

#9.

Lịch sử luôn lập lại

Cảnh chết, buổi bại vong

Bốn phương hừng hực lửa

Người ôm mặt khóc rưng!

#8.

Dần thấy ra buổi Tháng Ba

Ngày sống hung hãn, đêm trùng lo âu

Còn gì cuối cuộc vong thân?

Bóng trăng dọi lạnh bên thềm ngoài hiên…

Tháng Ba 2026

Nhớ lại và thấy ra…

Sau lần sống dài bất cập mệt nhọc!

Phan Phi Danh

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 18 Mar 2026

Chương 2

Mười lăm chiếc trực thăng chia làm ba đợt hạ xuống trên nghĩa địa cát trắng. Đại đội của Minh xuống hết, những người lính chạy nặng nề trên cát lún hướng về phía bắc, đối diện với ngôi làng nằm khuất trong hàng dương liễu ở nơi xa. Đến cuối hàng rào nghĩa địa, Minh cho đại đội nằm xuống bố trí theo vòng đai hàng rào. Người chết cũng có hàng rào, tượng trưng bằng những cây cột gỗ, ba hàng kẽm gai hờ hững lệch lạc. Hàng rào nay chỉ còn dấu vết, chiếc cột đã đổ kéo theo đoạn kẽm gai nằm sâu dưới cát. 
Đơn vị xuống hết, đại đội Minh được lệnh dẫn đầu, lấy bờ biển làm chuẩn tiến về phía ngôi làng. Trời mùa đông miền Trung lạnh cóng, mây xuống thấp, xám ngắt. Gió thổi từng cơn như gom hơi lạnh để quạt vào mặt người. Minh kéo cao cổ áo, định hướng đi, nói qua máy truyền tin với Trung đội trưởng dẫn đầu: “Hướng 6000, hơi ép trái một chút, có gì thì dựa lưng vào biển đánh vào phía trái mục tiêu. Nhận rõ. Tốt, ông đi đi”. Sản phẩm đẹp đẽ của thời đại chinh chiến – Sĩ quan hiện dịch trẻ tuổi – Bắt đầu xua quân chạy như bay qua bãi cát trắng trơ trọi. Chạy trên nghĩa địa, trên người chết, để tạo nên số người chết mới. Đoạt dăm khẩu súng Trung Cộng, để cắn vào một chút bánh vinh quang. Trung đội 1, 2, 3 cùng nhào vào một lượt. Thằng 4 (trung đội 4) cho ông già 60 nhổ vào bìa làng liên tiếp, rải đều đều, ngừng khi có lệnh. Các Trung đội trưởng nhận đủ. Minh hô lớn qua máy: “Xung phong. Xung phong… Xung phong…” Trên nền cát bóng người lính lụp xụp chạy, ba lô nặng đè lưng xuống, nón sắt cột không chặt úp xuống mặt, cọng rau cải lủng lẳng sau lưng, mũi súng hướng về trước. Trung sĩ vợ năm con, nhà ở trại gia binh trên tôn chung quanh vách ván mỏng. Mình nhớ mua hàng quân tiếp vụ gởi về cho tôi. Lá thư vừa nhận được: “Hụi một ngàn mà người ta bỏ đến 412 đồng vì tháng sắp Tết”. Những lo âu có hình khối như sợi dây nón sắt đập liên tiếp vào gò má theo bước chạy, mặc, cứ chạy về đằng trước, lính Nhảy dù chỉ có tiến chứ không có lùi… “Xung phong”. Chuẩn uý Trung đội trưởng dang hai tay rộng ngoắt từ sau ra trước: “Vào. Nhào…” Cục hột xoài dưới háng căng nhức đau đớn. Vô lậu bất thành nhơn mà Chuẩn uý! Chuẩn uý trẻ tuổi chịu chơi đi hành quân ở Huế không ngủ đò không được. Chuẩn uý 19 tuổi, đậu tú tài 1 khoá hai năm 1966. Đậu với tám điểm vớt. ĐM, thế thì làm sao đậu được tú tài hai. Xe Solex cọc cạch, chiếc đầu máy gật gù… Lính Nhảy dù đóng ở Sài Gòn, đi nhờ xe Jeep của Đại đội trưởng, chỉ tiếc nhà ở trong xóm xe bốn bánh không vào được. Chiếc Solex đã được bán lấy bốn ngàn lấy tiền nhậu… Nhậu, phải tập làm quen với hung bạo cằn cỗi này. Phải tập nói: Một giọt rượu là một giọt máu. Phải tập gật gù: Cắt cổ không bằng đổ rượu. Tuổi trẻ chịu chơi với con dao commando mua lại ở đám lính cũ, cột ở dưới chân. Hột xoài căng mủ trong háng. Thật đủ, nòng súng hướng về đằng trước. Xung phong. Trung uý Nguyễn Khoa Minh, Đại đội trưởng trẻ nhất của Tiểu đoàn 19 Nhảy dù rút súng colt cầm tay: “Thằng nào chạy lui tao bắn gãy giò. ĐM… vào”. Chỉ vì thiếu chút chiều cao không thôi đỗ thủ khoa. Cây toán học của trường Võ bị, người giỏi toán nhất của các khoá bắt đầu từ ngày trường cải tên. Tay vô địch bóng bàn học sinh miền Trung. Con học làm sao mà thua con Lan con mợ Ấm ở dưới Gia Hội thì mạ buồn lắm. Khổ quá, Nguyễn Khoa Minh học bài suốt đêm, học ngậm sâm, uống thuốc bắc, học đến nỗi biết cách giải bài toán số 154 cuốn Le Bosset như thế nào! Nhưng, Nguyễn Khoa Minh đã hỏng một lần đã bị tình phụ, đi theo người yêu tốt nghiệp Đại học Sư phạm, người biết thắt cà vạt double, người biết nhảy cha cha cha, người dạy người tình của Minh những bước đầu tiên điệu mambo trong nhà bếp. Nguyễn Khoa Minh chỉ có đôi bata trắng, đứng lên nhận chiếc cờ hình tam giác trên có thêu hàng chữ: Vô địch bóng bàn học sinh niên khoá 1957 – 1958. Ông hiệu trưởng thấp bé có bằng MG đầu tiên ở miền Trung xưng “ta” với học trò. “Ta dạy các ngươi là một điều dại dột vì làm thầy thằng dại là ngu xuẩn!… Ta đánh tennis, service cú nào đáng cú đó, chỉ một cú rervert làm cercle ngất ngư…” Ông hiệu trưởng trao cái cờ, bắt tay hờ hững, chút giá lạnh khinh khi. Phải học giỏi. Nhưng Nguyễn Khoa Minh bị hỏng vì bệnh trong ngày thi, mất chân thủ khoa vì thiếu thước. Nguyễn Khoa Minh chỉ có cái cờ tam giác bằng vải sa tanh thêu chữ vàng lành lạnh trong bàn tay. “Vào… vào”, đoành, viên đạn bắn bổng lên trời thật hào hùng. Minh mê man như khi vụt trái banh trong tiếng cổ võ hoan hô của hàng ngàn học sinh trường Quốc học. Anh Minh, người giỏi toán nhất ở Huế đó! Nguyễn Khoa Minh, niềm hãnh diện cao một thước sáu mươi mốt của lớp đệ nhất B1 trường trung học do cụ Ngô Đình Khả lập ra, người được đọc diễn văn trước Tổng thống Ngô Đình Diệm lúc mười giờ sáng ngày mùng Năm Tết năm 1960, và cũng chính Nguyễn Khoa Minh trong ngày 23 tháng 11 năm 1963 quỳ trên bãi cỏ xanh nắm tay đưa cao, thề trung thành với tổ quốc trước mặt lãnh tụ mới. Người đã ra lệnh bắn vỡ đầu Tổng thống Ngô Đình Diệm trước đó hai mươi hai ngày. Nguyễn Khoa Minh cảm động từng lời diễn văn, run run khi được Tổng thống bắt tay khen ngợi: “Con gắng học giỏi để làm rạng danh xứ sở”. Người được Tổng thống bắt tay, trong đảo chánh lật đổ độc tài đã cầm đầu đại đội sinh viên sĩ quan chiếm đóng đài phát thanh Đà Lạt… “Vào, vào”, thêm một viên đạn được bắn lên, tiếng pháo đuổi ma quỷ nặng trĩu trong lòng người. Những người lính cùng bắn về trước mặt, cong chiếc lưng đẩy mạnh đôi chân tiến vào làng. Trong làng, những bóng áo đen và nâu bắt đầu ngửng cao khỏi giao thông hào. Nòng súng thượng liên Trung Cộng, tiểu liên Tiệp Khắc, súng báng đỏ của Nga, những cây súng ngoại quốc bắt đầu nhắm chiếc vòng đen sâu hun hút vào đám lính mang giày Nhật nón sắt Mỹ, M16. Những ngón tay Việt Nam chờ đợi trái tim Việt Nam đến gần hơn chút nữa. Chờ nhau hân hoan âm ỉ, chờ thản nhiên lạnh cứng. Những ngón tay Việt Nam bắt đầu cong, hàm răng vàng úa xấu xí nghiến chặt lại, thớ thịt bạc nhược trên mặt căng cứng giựt giựt. 
Thịt sốt rét, thịt thương hàn, thịt được nuôi dưỡng bằng cơm rang nước ruốc, thịt trắng xanh vì ở lâu dưới hầm, áp sát vào đất, đè lên báng súng … Những ngón chân bấm sâu vào đất để viên đạn đi cho ngọt, những ngón chân thay vì gần nhau, bắt đầu tách rời, ngập cứng vào đất. Đôi mắt sát cứng vào lỗ chiếu môn, sát vào nữa để nhìn một lần cuối bóng dáng Việt Nam đang đi dần vào cái chết. Mở mắt cho rõ để nhìn thấy nhau một lần cuối cùng… Đôi mắt trong giao thông hào bắt gặp một hình ảnh: Hạ sĩ Nguyễn Thế Hùng, 21 tuổi. Hạ sĩ Hùng đeo một thánh giá bằng vải đen, thấm đẫm mồ hôi của ba năm lính. Hạ sĩ Hùng đọc kinh mỗi tối trước khi đi ngủ, đọc kinh trong hố phòng thủ, bên chuồng bò Bồng Sơn, đọc kinh trong địa đạo Khe Sanh, dưới hàng dừa An Phú Đông. Chúa Jêsu chuộc tội cứu thế. Cầu cho chúng tôi. Chúa Jêsu chuộc tội cứu thế. Cầu cho chúng tôi. Lạy Đức Mẹ Maria trọn đời đồng trinh. Cầu cho chúng tôi… Hạ sĩ Hùng bây giờ có đôi con mắt láo liên, mắt mở lớn. Chiếc nón sắt lại úp xuống mặt, Hùng dùng tay trái nâng lên, bìa làng màu đen kia rồi, im lìm lặng lẽ, hình như có đám chim bay lên ở phía cây bàng. Việt Cộng? Không có đủ thì giờ để nghĩ, không có tiếng động nào trong đầu não. Chỉ nghe bước chân chính mình vang trên cát, nón sắt nhảy lùng bùng trên đầu và một đôi mắt đen mở hết cỡ. “Người Việt Nam “nền” có con mắt thiệt đẹp Thượng sĩ hi!” Hạ sĩ Hùng đã nói với Thượng sĩ đại đội như thế. “Đẹp làm sao? “Hén” đen thùi lùi như hột nhãn trong khi thằng Mỹ xanh như mắt mèo…” Con mắt người Việt Nam đẹp thật. Mắt Hạ sĩ Hùng đẹp, mắt của buổi sáng đứng ở bờ Quảng Bình nhìn mặt trời lên từng đường ánh sáng, mắt nhìn biển sáng như lân tinh dưới ánh trăng, mắt nhìn nến ở nhà thờ, mắt nhìn rừng xanh từ ngày di cư vào Long Khánh. Mắt Hạ sĩ Hùng đen thăm thẳm, vô tội ngọt ngào. Trong giao thông hào đôi mắt Việt Nam trên báng súng AK Tiệp Khắc căng lên lần chót vì nhắm quá lâu, những sợi gân ửng đỏ, mắt ứ đầy nước, chỉ đợi cái chớp sẽ chảy xuống ngón tay Việt Nam cong lại trên chiếc cò súng cong vòng tiện lợi cho động tác khép vào. Những viên đạn vàng rực từ băng đạn cong bắn ra từng ba nhịp một chính xác. Mắt Việt Nam ở giao thông hào khép lại nghỉ ngơi, quả tim thở hơi dài dễ chịu sau lần chờ đợi cứng ngắc. Ngoài đồng cát mắt của Hạ sĩ Hùng, mắt Việt Nam đẹp đẽ chợt thấy lóe lên ánh lửa, xong lửa tắt ngúm còn lại tảng tối mênh mông như mặt biển khi trăng lặn vào mây đen. Quả tim Việt Nam vừa ngừng đập. 
Minh ngừng thở trong khoảnh khắc. Đạn đi đầy trong bầu trời, những tiếng rít xé gió kinh khiếp sát vào cạnh mang tai. Nhưng chỉ một khoảnh khắc, Minh tiếp tục vẫy mạnh người lao về đằng trước. Bìa làng, luỹ tre kín mít đầy hết tầm mắt. Minh đưa ống liên hợp vào miệng: “Xung phong”. Tiếng hét vượt ra khỏi sức chuyền của máy truyền tin vang rộng trên bề mặt cát. Có sợi dây nào giữ chân Minh lại, gã binh nhất mang máy truyền tin ngã nhào xuống, viên đạn xuyên qua lớp da thịt trần trụi tiếp tục phá chiếc máy một lỗ lớn. Hai thứ kim khí chạm nhau không thành tiếng động vì được lót lớp thịt người. Gã mang máy ngã co quắp trên cát, sợi dây cao su từ chiếc máy đến ống liên hợp trên tay Minh căng thẳng. Minh bị kéo giựt trở lại, gã mang máy làm những động tác cuối cùng, hai tay co để trút bỏ sợi dây mang chiếc máy, người lính muốn bỏ gánh nặng trước khi chết. Chiếc lưng ưỡn cong, hai bàn tay duỗi khép chặt sau lưng, chân chống trên mặt đất, cong người hơn chút nữa, chiếc đai máy rời khỏi vai trôi xuống, hai chân chống cao hơn chút nữa… Một loạt đạn khác bay đến, những lỗ đạn tốt tươi tênh hênh trên thân áo nguỵ trang. Minh nghe được tiếng động của viên đạn đi qua thân thể người lính. Minh ném chiếc ống liên hợp xuống đất, trước mắt chỉ còn luỹ tre xanh nháng lửa. 
“Đổi tần số nội bộ”. Minh hét thật to với gã mang máy truyền tin thứ hai (máy liên lạc giữa đại đội và tiểu đoàn). Bằng bất cứ giá nào các ông cũng phải vào tất cả, tôi ở trong này với thằng Hai rồi (Trung đội 2). 
Có tiếng thét của Trung đội trưởng Trung đội 1 và 3 ở máy: “Nhưng tôi bị kẹt quá vào không được… Tôi bị hai khẩu Thượng liên nó kềm nát bấy”. 
“Được, tôi sẽ cho hai thằng phá nó”. 
Trung đội 2 chiếm được một đoạn giao thông hào, tiếp tục đánh ép qua trái nơi có tiếng Thượng liên nổ liên tục. Việt Cộng bỏ giao thông hào chạy ép về phải, phía toàn bộ chủ lực của Tiểu đoàn Nhảy dù đang đánh vào. 
Năm gã áo đen rải dài theo chiếc hầm, hai AK, hai B40 và một Thượng liên. Toán đao phủ lý tưởng với vũ khí đầy đủ của trò chơi kỳ lạ. Gã bắn Thượng liên ném cái mũ có ngôi sao vàng qua bên cạnh, hai chiếc chân ngập sâu trong bùn, gã không cần rút ra, đầu cúi gầm xuống trên báng súng, hai bàn tay di động thoăn thoắt, bàn tay trái nâng băng đạn, bàn tay phải bóp cò. Gã đã từng làm việc này thật quen thuộc từ một quận lỵ ở Quảng Bình. Đồng chí Lê Hoạt thợ may bảy tuổi đảng tính đến nay, năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, người anh hùng lao động của hợp tác xã cắt may Sao Vàng, đã sản xuất bằng tay mười tám chiếc áo trong vòng hai mươi tiếng đồng hồ… Đồng chí Lê Hoạt đã ngồi trên sập gỗ, đầu ở giữa hai đầu gối, lưng còng xuống ngồi bất động để hai cánh tay thoăn thoắt di động trên xấp vải tấm dệt từ Nam Định, tay trái Hoạt đè xuống cho thẳng tấm vải, tay phải ấn chiếc kéo, xong hai bàn tay thoăn thoắt luồn cây kim vào thân vải khô cứng. Lê Hoạt người anh hùng lao động trong dịp lễ thi đua sản xuất mừng sinh nhật bác Hồ của mùa hè năm một ngàn chín trăm sáu mươi rất muốn yên phận với niềm hãnh diện rạo rực, lần say độc nhất của ba mươi sáu năm làm người khi được Ban quản trị Hợp tác xã cắt may gọi đến vào buổi sáng 19 tháng 5 năm 1967 để nhận tờ giấy khen trên có hình Hồ chủ tịch với hàm râu dài, nhưng Hoạt bị kéo ra khỏi niềm vui bình yên, bị kéo ra khỏi chiếc sập gỗ, bị dúi vào tay khẩu súng AK thay vì chiếc kéo. Lê Hoạt phải luồn đạn vào trong những chiếc băng hình cong thay vì luồn chỉ vào kim. Lê Hoạt phải tập chống xe bọc sắt, được học tập những điều xa lạ và hung bạo. Bắn máy bay lên thẳng của Mỹ, tập đặt plastic, làm nổ cầu… Lê Hoạt phải nhồi vào óc, phải tin những điều kỳ quái: Máy bay lên thẳng của Mỹ chỉ có mỗi bộ máy, không có khung, chỉ cần bắn một viên đạn cũng đủ rơi. Hoặc phải học và tin như thế, mặc dù chiếc máy may Singer Hoạt mua sau ngày đình chiến được sơn lại bằng tay vẫn được Hợp tác xã mua lại và cạo sửa để nguỵ tạo dưới một nhãn hiệu khác: Máy Tiến Hoá do nhà sản xuất Thăng Long làm nên. Hoạt biết sự nguỵ tạo nhưng phải tin giặc Mỹ Nguỵ hết sức kiệt lực không làm nổi chiếc máy bay lên thẳng toàn vẹn. Hoạt cũng biết rằng máy bay Mỹ đã làm lở một phần đèo Mụ Già, núi đã biến hình dưới cơn tàn phá của bom Mỹ. Nhưng giặc Mỹ Nguỵ sắp thua, Hoạt bắt buộc phải tin như thế và giã từ tiếng hoan hô của Hợp tác xã cắt may, tấm giấy khen được bọc trong túi ni lông đeo trước ngực, vượt sông Bến Hải vào Nam trong tháng Mười một giữa đêm khuya lạnh cóng. 
Lê Hoạt được biết mình đang ở trên phần đất quận Phong Điền giáp ranh Quảng Trị, Thừa Thiên. Hoạt không thấy hai thành phố và quận lỵ mặc dù trước khi xâm nhập đã được đồng chí Uỷ viên chính trị Trung đoàn cổ động: “Các đồng chí là những người hạnh phúc nhất trong tập thể quân đội nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, các đồng chí sẽ là những người lính đầu tiên của Bác và Đảng bước chân đến thành phố Quảng Trị nơi quân miền Nam đã hoàn toàn làm chủ sau khi đánh đuổi hết quân đội Mỹ Nguỵ về phía Nam đèo Hải Vân”. Hoạt đã nghe như thế nên lấy làm lạ tại sao phải vượt sông Bến Hải trong đêm, tiếp theo màn chạy bộ đến đứt đôi người từ cửa Tùng vào đến cửa Việt, chạy trong đêm người này nắm vào lưng người kia đi như ma đuổi, nín thở, cấm nói, cấm đốt lửa và khi năm giờ sáng đến một con sông tất cả phải đào hố nguỵ trang nằm bẹp dí trong suốt một ngày. Nằm một ngày để nghe trên dòng sôngg từ khi trời sáng cho đến buổi chiều vàng, vang động tiếng tàu chạy, đồng thời có những tiếng nói xa lạ, không phải tiếng Việt, vang lên ầm ĩ cùng tiếng cười huyên náo loáng thoáng. Chen lẫn trong cơn bão cười xôn xao nóng nảy đó, những tiếng thét rờn rợn đẫm ướt kích thích, tiếng của con mái khoái trá khi được chạm vào chỗ kín. Hoạt nằm nghe những tiếng cười mất dạy đó trong những giờ đầu tiên ở miền Nam. Tiểu đoàn I Trung đoàn E 812 quân đội Nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được tiếng cười nô nức nhầy nhụa tình dục của đám con gái miền Nam cùng giống đực Mỹ quốc chào đón trong bước đầu giải phóng. Đêm xuống, Tiểu đoàn Quyết Thắng sau một ngày nghe tiếng động tình ái, tiếp tục bước đường giải phóng về hướng Nam. Cuộc di tản kéo dài đến làng Phú Trung quận Phong Điền, Lê Hoạt không thấy được gì thêm của miền Nam ngoài tiếng động kích thích thú vị trên mặt sông Ô Lâu ngày hôm trước… 
Đóng tại làng Phú Trung được một tháng, Lê Hoạt và đồng đội chỉ có mỗi hai việc: tu sửa hầm hố và thực tập tấn công trên sa bàn một thành phố vuông vắn như ô cờ. Thành phố nào và ở đó có gì để phải tấn công vào? Quảng Trị và Thừa Thiên không nghe nói đến nữa. Cuộc giải phóng thành phố trên sa bàn chưa tới thì hôm nay, Tiểu đoàn 1 chạm với Tiểu đoàn 19 Nhảy dù Nguỵ. Đã lâu nay, Lê Hoạt nôn nóng vô cùng vì những người dân của làng Phú Trung lần lượt đi về phía Tây, hướng quốc lộ, làng chỉ còn lại vài người già và ít phụ nữ cằn cỗi cùng lũ trẻ èo uột lây lất. Những hình ảnh đoàn văn công miền Nam có những thiếu nữ đội mũ rộng vành màu xanh ca vọng cổ đàn tây ban cầm sao không thấy, Lê Hoạt chỉ cảm thấy chung quanh thứ không khí nặng nề như những hôm trời oi bức báo cơn bão lũ chuồn chuồn bay trong ráng vàng bệnh hoạn chói đỏ góc trời. Bộ chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh gài mìn chung quanh làng để ngăn cấm dân chúng bỏ đi, nhưng ban ngày khi đơn vị rút xuống hầm trú ẩn, Lê Hoạt thỉnh thoảng nghe tiếng mìn nổ. Một người dân làng nào đó trốn ra khỏi làng và đạp phải. Tối hôm đó có đám táng. Người chết được kéo về, bó chiếc chiếu, chôn vội trong đêm. “Các đồng chí noi gương đó, ai muốn sống thì phải ở lại đây với quân đội nhân dân”. Ông mếu máo: “Đồng chí ơi là đồng chí ơi, có muốn băm vằm gì tui thì làm, xong rồi xin các đồng chí kéo nhau đi chỗ khác đánh nhau, dân chúng cực lắm rồi đồng chí cán bộ ơi…”. Nhưng quân đội nhân dân vẫn ở lại nên sáng nay trận đánh diễn ra. Ngay khi chiếc phản lực vừa trên cao rít xuống, Lê Hoạt đã nhảy xuống hầm, hầm đào sâu dưới rễ một lùm tre kiên cố, lớp đất dầy thước rưỡi, đám rễ tre chắc chắn nhưng Lê Hoạt vẫn có cảm giác thân thể như vừa bị ép giữa một khối vô hình và tường đất lạnh cóng. Dưới hai thước đất và rễ cây Hoạt nghe được chấn động kinh khiếp thoạt tiên văng vẳng từ thinh không phút chốc biến đổi thành cơn giông bão sắc nhọn xuyên hẳn qua màng tai. Máy bay đi để lại đám cháy, lẫn trong tiếng nổ lép bép của thân cây tươi, cỏ lá cháy sém, có âm thanh khắc khoải tuyệt vọng của lũ vật lồng lộn trong chuồng bị lửa vây. Lê Hoạt còn nghe được tiếng khóc đứt khúc từ những cổ họng già nua. Sau trận giông bão nhân tạo, Hoạt tưởng mình như đã chết xuống địa ngục, vì thoảng đâu đây từ trên mặt đất la đà mùi nồng tổng hợp của thịt xương, cây cỏ sau khi đã bị đốt vàng cháy biến thành lớp tro tàn ươn ướt mùi chết chóc. Nửa giờ sau trận bom, qua lỗ hổng dưới lùm tre, Hoạt thấy từ ngoài đồng trống thấp thoáng những bóng đen. Bóng đen di động chậm chạp ở nơi xa và khi tiến gần như lũ ma ám, họ la lớn và bắt đầu chạy vào. Tim của Lê Hoạt đập hay bước chân người lính Nguỵ, Hoạt hoa mắt vì trước mắt không phải một hình ảnh Mỹ quốc tàn bạo và đáng ghét như lời tuyên truyền, trước mắt Lê Hoạt chỉ có những người Việt Nam, có thể gầy hơn Hoạt, vác nặng hơn Hoạt, nhịp chạy làm ba lô trên lưng họ xê dịch qua lại, hai ống chân mỏng manh tìm kiếm vất vả như chân con bò chạy vòng tròn quanh chiếc cột sau nhát búa giữa đỉnh đầu… Tiếng súng nổ bên phải, khẩu B40 bên trái bắn liên tiếp hai quả… Người lính khựng lại, hắn ngã xuống, ba lô nằm nhú lên trên nền cát, ba lô có con vịt, con vật thò đầu ra khỏi lỗ thủng kêu ngu ngơ trăn trối. Cái mỏ đen của con vật hiện rõ trên nền trời, con vật xoay đầu bên trái, bên phải nhưng thân hình bị cột cứng trong lòng ba lô, cuối cùng cố gắng, một cái cánh được nhú lên. Chiếc cánh cụt ngủn tha thiết quẫy mạnh trên bầu trời đỏ lửa. Hoạt bấm cò khẩu Thượng liên, đạn ghim vào cát ướt, đạn ghim vào ba lô, ghim vào thân thể người lính đã chết, ghim vào con vật nhỏ bé đang giẫy giụa cố rút chiếc cánh còn lại. Hai cánh vịt làm sao chịu đựng được sức công phá đỏ au nhức buốt của hàng chục viên đạn. Người lính và con vật chết thật xứng đáng, chẳng nên ngậm ngùi. Lê Hoạt bấm cò liên tiếp vào những bóng người xuất hiện qua lỗ hổng căn hầm. Tiếng nổ và hơi thuốc súng đốt cháy trí não, Hoạt không nhìn thấy mặt những người bị nhắm vào, Hoạt bắn vào những bóng đen trên nền cát. 
“Đấy, cây Thượng liên ở dưới gốc tre, mày bò lại tìm miệng hầm, ném lựu đạn xuống không cần bắt sống. Trung đội bị kẹt chỉ vì thằng con c… này”. Gã khinh binh theo lời Minh bò lại chỗ bụi tre. Đúng thật, ông Trung uý nói thật đúng. Gã khinh binh nhủ thầm. Trước mắt nó một đường hầm sâu xuống đen thẳm. Gã rút chốt lựu đạn, thả trái phá tiếp tục lăn cọc cạch trong bóng tối và một tiếng nổ bùng rung chuyển mặt đất… 
Lê Hoạt úp mặt vào lỗ hổng nhìn ra xa, biển ở sau vùng cát trắng, biển xám đặc bọt trắng. Chưa bao giờ Hoạt nhìn biển lâu như thế, không phải không có dịp, nhưng trong trí óc khản đặc của anh thợ may, biển chỉ là lớp nước xanh xôn xao mặn chát không ích lợi. Sáng hôm nay Lê Hoạt phải ngồi đối diện với biển, chợt khám phá ra vẻ quen thuộc đã bao nhiêu lâu gần kề. Hoạt thấy mình như sống lại trong khung cảnh bình yên của quê nhà. Hoạt nghe tiếng sóng rì rào, nghe gió lọt qua rặng phi lao gây âm thanh dịu dàng, âm thanh của ngày mới lớn. Thời gian đã qua thật lâu tưởng như không bao giờ nhớ lại được… Nhưng sáng nay trong phút giây căng thẳng, đầy tiếng động, những người chết nằm trên cồn cát, những người bị thương trăn trở, lượng máu đỏ thấm sâu qua cát từ những vết thương do viên đạn của Hoạt gây nên, Hoạt nhìn thấy biển, cùng với cái cảm giác lạ lùng khi chợt khám phá thêm khả năng giết người của mình, Hoạt sợ hãi thảng thốt khả năng ma quái cay độc này. Hình ảnh vinh quang khi bước chân vào thành phố Huế nhạt nhoà như lỗ kim nhỏ chợt mờ mịt sau cái chớp mắt đầy mệt mỏi. 
Lính Nguỵ đã bò ra xa tầm đạn. Họ đánh vào phía trái hay phải, Hoạt không biết, người liên lạc chưa nhận được lệnh mới. Những biến chuyển về trận đánh ngoài căn hầm, Hoạt không theo dõi được, trước mặt chỉ có lớp sóng biển thay đổi hoài hoài, bọt trắng ùn ùn kéo ra xa… 
Trong im lặng, Hoạt nghe tiếng động sau lưng. “Cái gì đấy?” Không trả lời. Tiếng động khô khan của vật tròn lăn trên nền đất. Trí não Hoạt bỗng giãn ra. Ngọn đèn được kéo bấc lên hết cỡ. Trong sáng suốt đau nhói Hoạt nghĩ đến hai chữ “lựu đạn”. Cùng lúc với ý nghĩ, tiếng nổ bùng lên. Luồng ánh sáng chớp lòe, Hoạt thấy được tám đôi mắt khiếp đảm của bốn tổ viên, tám đôi mắt bốc lửa khi tiếng thét chưa kịp mở. Ánh chớp tắt, Hoạt ngã xuống, hai bàn tay vừa kịp ôm lấy ngực nơi có tấm giấy khen của Hợp tác xã may cắt Sao Vàng in hình Hồ chủ tịch. 
Xác Lê Hoạt cùng bốn tổ viên được kéo lên khỏi hầm. Sau tiếng nổ chói chang, Hoạt biết mình ngã xuống và ngất đi, nhưng khi bị kéo ngược ra khỏi hầm, Hoạt tỉnh hẳn, tỉnh táo để biết mình bị thương nặng, máu từ thân thể chảy ra, không phải từng giọt mà từng dòng, từng khối, Hoạt cảm thấy rõ rệt có bàn tay bóp lấy hơi thở và cơn tức dâng cao, cao từng bậc có chiều dài, chiều sâu đè Hoạt lún lần xuống. Hoạt biết mình nằm trên cỏ ướt, mặt trời chiếu sáng lên mặt, chung quanh người nói lao xao, những giọng nói Việt Nam, Bắc, Trung, có giọng nói thanh hơn giọng Quảng, chắc là người Sài Gòn. Tất cả người ở miền Nam đều được gọi là Sài Gòn, người của miền đất phì nhiêu, nơi cá đầy đồng, chỉ cần mang chiếc rổ xuống ngồi ở bờ ao cũng đủ thức ăn cho một ngày. Những người Sài Gòn sung sướng là đây. Hoạt muốn mở mắt ra nhìn nhưng nắng chói quá, chỉ còn chút sức lực đủ để lắng tai nghe. “Lục túi mấy thằng cha này coi”. Có bàn tay luồn vào ngực áo, hình như Hoạt bị thương ở đấy vì khi bàn tay chạm phải, Hoạt cảm thấy trong thớ thịt những mảnh kim loại nóng hổi, sắc nhọn xao động. 
Minh nhìn vào xác người thợ may, gã đàn ông chỉ còn hơi thở tàn tạ, mảnh lựu đạn xuyên lỗ chỗ trên thân thể, phần áo ở lưng rách nát máu sẫm đỏ bê bết đất cát, chiếc quần cộc mở tênh hênh bày ra cái vật người đen đúa nhão nhoẹt. Gã nhà quê này là kẻ thù của mình? Gã đàn ông đang thiêm thiếp trong cơn hấp hối, khuôn mặt nặng nề khờ khạo, tóc đen khô cứng chổng ngược rối tung bày ra một vầng trán ngắn hai nếp sâu hằn xuống vụng về. Bác thợ may Lê Hoạt ba mươi tám tuổi, người Quảng Bình này là nguyên nhân chính đã bẻ gãy mũi dùi thế công của Nguyễn Khoa Minh? Minh nhớ đến người làm vườn ở nhà, cũng cỡ người và khuôn mặt này, loại người chỉ biết mài con dao thật sắc để chọc tiết heo dễ dàng trong buổi chiều hai mươi chín Tết, những người gọi mẹ Minh bằng bà Phán và gọi Minh bằng cậu, khả năng chỉ có thể phân biệt cây gạo hay cây mù u, hay tinh xảo hơn biết thêu đôi bướm bay trước hai chữ “Hạnh phúc” trên mặt gối bằng những sợi màu sắc xanh đỏ ngây ngô. Mặt gối này sẽ được bán trong một phiên chợ thôn quê đổi lấy tiền mua cặp kính nhựa màu nâu… Những loại người này là kẻ thù của Minh? Những người như bác thợ may này là vật cản lối trên con đường công danh, đã làm Minh lạnh cóng tay trong nửa giờ trước đây? 
“Trung uý. Gã mang máy truyền tin đến gần Minh. Ở trên Tiểu đoàn bảo mình báo cáo tổn thất, em nghe Đại đội 3 lấy được súng cối mà chỉ có hai chết… Trung đội mình bị nặng quá, ông Chuẩn uý bị nặng chắc không sống nổi…” 
“Tao biết, mất năm con với một Trung đội trưởng, không khá chút nào hết. Minh cầm máy liên lạc với Tiểu đoàn trưởng: “Thiên sơn đây Minh mạng”. 
“Minh mạng đợi tôi một chút, tôi đang nói chuyện với thằng Ba (Đại đội 3)”. Minh nghe qua máy giọng nói hân hoan của Tiểu đoàn trưởng: “Lạc long đấy hả, tốt, toa số dách, toa đánh như vậy tụi nó chỉ mang cụ Hồ về Bắc thôi. Ông Đại bàng lát nữa sẽ xuống ở chỗ toa”. Lạc trả lời lại với giọng cười mở đầu. Tiếng nói của Trung uý Vũ Văn Lạc, Đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 19 Nhảy dù nghe hân hoan phấn khởi khác với giọng nói khề khà mệt nhọc của một Vũ Văn Lạc ba mươi sáu tuổi, vợ năm con. Lạc hay gọi dễ dàng quen thuộc hơn, Cai Lạc cựu Commando hổ xám của những năm 50, vừa nhận được thơ của vợ nhắc nhở chuyện xin đổi qua ngành không tác chiến, thơ cũng nhắc nhở đến việc mua hàng quân tiếp vụ nhiều hơn cổ phần sẵn có… Nhưng tất cả đã thuộc về quá khứ, bây giờ chỉ có giọng nói chững chạc của Trung uý Vũ Văn Lạc trong máy: “Trình Đích thân…” Minh nhủ thầm: “Lín già ăn nói có kiểu cách riêng của nó, ở ngay chốn đánh nhau tơi bời nó vẫn không quên thưa gởi”. 
“Trình đích thân tôi đã có làm Trung đội trưởng cho ông Đại bàng trong suốt năm 1960”. Minh cười thầm vì chữ “suốt”. Giọng Lạc tiếp tục vững chắc hân hoan: “Trình Đích thân, nói tên tôi với ông ấy thì ông biết ngay”. Lính già tự tin đúng chỗ và đúng lúc, chẳng ai chê trách được. Minh gật gù đầu nhận xét từng câu đối thoại của Lạc với Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng oang oang trả lời: “Ô kê, moa sẽ nói tên toa cho ông ấy hay trước. Đồng thời nói trước toa mừng, gì moa cũng kiếm cho toa cái thực thụ, đồng ý?” 
“Vâng, cám ơn Đích thân trước, kính Đích thân, dứt”. 
Cuộc nói chuyện chấm dứt. Minh nghe trong đầu vẫn còn vang động âm thanh sáng khoái chắc nịch của Lạc. 
“Minh mạng đây Thiên sơn”. Tiểu đoàn trưởng xoay qua nói chuyện với Minh. 
“Dạ, tôi nghe”. 
– Toa coi lại thằng 1 (Trung đội 1) của toa đi, nó bết quá… Toa xui rồi. Sao chẳng lựa thằng khác, lại cho thằng Ánh vào ngay chính diện”. 
“Vâng, tôi nghe rõ”. Minh bỏ máy xuống, Minh chẳng rõ được điều gì. Chính diện, diện nào chính yếu sau luỹ tre xanh dày đặc lúc súng chưa nổ, làm sao Minh biết Chuẩn uý Ánh sáng nay nổi hạch hột xoài nên không thể điều động nhanh nhẹn Trung đội được. Làm sao Minh biết được tên chỉ huy tổ Thượng liên chỉ là một gã thợ may ba mươi tám tuổi có bằng khen thưởng vì đã sử dụng kéo nhanh, sử dụng kim tốt đã đạt được ưu điểm sản xuất do Hợp tác xã cắt may Sao Vàng đề xướng, gã thợ may ngu ngốc ngớ ngẩn không biết rút lui khi Tiểu đoàn đã bị đánh tan nát ở cánh phải. Chắc chắn đây là trận đầu tiên và cũng là cuối cùng của bác thợ may Lê Hoạt ở một chốn xa xăm với quê hương Quảng Bình không bao giờ trở lại. “Trung uý, thằng Việt Cộng cứ hấp hối hoài chắc nó đau lắm, em thấy mặt nó nhăn tréo”. “Ừ, một viên để nó đi cho ngon, đỡ đau đớn”. “Dạ”. Súng nổ. Bác thợ may Lê Hoạt giẫy người lên lần chót. “Trung uý, ông Chuẩn uý Ánh chết khi lên trực thăng”. Minh nhìn khẩu Thượng liên bị gãy báng bên cạnh thây gã thợ may, khẩu súng đã đưa đến cái chết của hai người. Một gã trẻ tuổi Chuẩn uý mắc bệnh hột xoài và gã thợ may ba mươi tám tuổi. 
Thuấn đi hết khu vực phòng thủ của Đại đội, trở về chỗ đóng quân của ban chỉ huy. “Có gì ăn tối nay không Thiên?” “Có gà và chai rượu. Gà bắt được, dân chúng chạy đâu hết trơn, rượu ông Trung sĩ tiền trạm gởi theo chuyến tải thương hồi chiều vào”. “Gà của dân mày ơi, ăn sao vô”. “Không có, gà chạy hoang, mình không bắt đứa khác cũng bắt, đụng mà Đại uý, tụi Việt Cộng đóng đây cũng cỡ một Tiểu đoàn”. “Mày lúc này giỏi rồi, biết ước đoán địch tình và bắt gà nhanh như chớp, mày là lính cũ rồi Thiên hử?” “Dạ”. Lính cũ, một thứ vũ khí đã dậy men máu, vũ khí im lìm sắc nước, dễ sử dụng. Lính cũ, như khẩu súng đã được điều chỉnh, thoa dầu vào đủ các trục hay ressort, sẵn sàng bắn ra viên đạn đến mục tiêu không sai trật. Binh nhất Thiên của hai năm trước thì khác, hai năm trước chỉ biết khóc trong buổi tối vì nhớ nhà, khóc vì thấy đồng bạn chết thê thảm đột ngột, khóc khi thấy người dân bị lùa lên trực thăng khi về quận xét lại thành phần. Thành phần của người dân trong thời chiến được định nghĩa: Thành phần giết được người hay bị người giết. Nhưng Hồ Thiên của sau hai năm lính thì đã khác, biết ước tính tình hình đơn vị địch, biết lý luận: “Làng có Việt cộng, dân bỏ đi, có quyền hưởng thụ những vật còn lại”. Sau hai năm để biết rằng: “Nếu không ăn thịt gà, chốc nữa biết đâu trở nên con ma thèm khát, bó tấm poncho bằng hai đoạn băng trắng”. Thiên, lính cũ, tức là người lính đã biết mình sắp sửa để chết và bao tử làm việc nhiều hơn quả tim hay trí não. Người lính cũ nào cũng thế. 
“Mày qua mời Trung uý Minh qua đây”. 
“Dạ”. 
Bữa rượu diễn ra dưới ánh đèn mù mịt trong căn nhà lạnh tanh, bàn thờ Phật yên lặng. Có lẽ Phật đang trầm tư về cảnh khổ hiện thực đầy dẫy tính cách vô lý đang diễn ra. Có định mệnh kỳ quái nào để kết hợp một anh sĩ quan hai mươi lăm tuổi, anh thợ may ba mươi tám, gã phi công Mỹ trên trời cao, ông chủ nhà bảy mươi hai tuổi chưa hề thấy cục nước đá. Định mệnh nào đã kết hợp những con người xa lại kỳ quái đó với trái bom sản xuất ở Philadelphia, đôi giầy được phát ở Fort Benning ấn trên cầu thả bom trong giây phút ngắn ngủi bọt bèo lúc ban chiều để tạo thành một loại khổ không căn nguyên, vô luân hồi. Khổ không khởi đầu, không chu kỳ chấm dứt. Phật trầm tư vì hai nghìn rưởi năm cách biệt và Ấn Độ quá xa lạ, Phật cũng đâu tiên đoán được quả bom sẽ xuất hiện như dấu tích văn minh khốn nạn cho con người, Phật cũng nên ngạc nhiên vì ông lão chủ căn nhà, căn nhà cháy hết một nửa ở mé bên trái, ngồi ở phía phải nhìn lên thấy bầu trời xanh đen lấm chấm những ngôi sao, tay nâng ly rượu của Thuấn. 
“Cha, cái rượu chi hắn ngon lạ ngon lùng, cả đời “ôn” chưa khi mô uống được “en” ơi, buồn chi mà buồn, trái bom hắn như ông thiên lôi rớt xuống cái rầm, “ôn” với hai thằng cháu đang lớ quớ chưa xuống hầm mà khôn can chi hết. Thôi lạy Phật mớ bái, khôn can chi cả là mờn rồi”. 
Phật phải ngạc nhiên vì được cảm tạ, phải ngạc nhiên vì giọng ông lão tỉnh táo đến ngang ngược. Đức vô uý lạc quan nào trong thân thể gầy gò chỉ còn một lớp da nhăn khô bao lấy bộ xương chỏng chơ. Thuấn cũng ngạc nhiên. “Ông già uống với cháu thêm ly nữa”. 
“Đa tạ, đa tạ, ôn Đại uý mời thì tôi xin phép, chà hôm nào hai thằng cháu lớn tui cũng cho tui “hén” đi lính, đi lính đóng lon to như ôn Đại uý thì mấy hồi chẳng xây lại được cái nhà. Thôi, của đi thay người, cám ơn Trời Phật!” 
Ông lão ngửa cổ uống một hơi hết ly rượu. Hai đứa cháu đứng nhìn ông nội đang uống cạn niềm hân hoan cay đắng vì sống sót, nhìn Thuấn, tương lai ao ước của một tấm lòng hắt hiu đang được đốt cháy gượng gạo bởi thứ rượu ngoại quốc, rượu cùng xuất xứ với trái bom rớt xuống ban chiều. Phật ngạc nhiên vì tai hoạ và hạnh phúc cùng một nhãn hiệu. Chiến tranh giúp một ông già tầm thường phút chốc nhận chân được hết căn bản sắc không suốt một đời suy nghĩ của đầu óc ngoại hạng, chiến tranh đang biến người Việt Nam thành loại Phật tội nghiệp hân hoan trong Niết Bàn giới hạn qua hơi men mùi lúa mì. 
“Ông già tay tổ, uống nữa đi ông ơi, uống đi để mừng được sống sót sau quả bom như ông thiên… thiên lôi”. Thuấn rót thêm rượu cho ông lão. 
“Uống cha, sao không uống, ôn chưa muốn chết thì chết răng đặng, ba bốn trận giặc trước tê chưa chết, lúc ni chết thì Trời Phật đi khỏi hết sao, rót nữa cho tui… Rót nữa cho tui, à uống đi ông Trung uý, răng mà ngồi rầu rĩ rứa, ông Đại uý nói ông Trung uý uống nữa đi, cha có chi mà buồn, coi tui đây, nhà cửa cháy một nửa cũng vui như ai”. 
Thuấn đưa mắt nhìn Minh đang ngồi im lặng trước ly rượu: “Uống đi em, không lẽ bị sếp chê rồi em bỏ rượu sao!” Minh không trả lời, cầm lấy ly. 
“Mở miệng một chút đi em, rượu vào lời ra cớ sao em lại… Cớ sao, cớ sao em buồn, em ơi!” Thuấn gõ đũa vào thành chén, tiếng kêu boong boong sắc lạnh. 
Minh nhếch miệng cười: 
“Cố vui không được, cứ thấy tức ngang người, lại thêm một thằng Trung đội trưởng chết nữa, tao xui rồi, ông Tá nói đúng”. 
“Ở đây không có ông Tá ông Tướng nào hết, cứ nghĩ hồi sáng này ăn một viên đạn thì giờ này ra sao? Sống được đã khá rồi con ơi, đừng lo thành công hay thất bại rồi đâm ra hụt cẳng”. 
“Tao đâu nghĩ thế”, Minh muốn giải thích nhưng hình như tiếng nói không đủ, làm sao Thuấn biết được cảm giác xao động âm ỉ khi Minh nghe lời đối thoại hân hoan giữa Lạc và Tiểu đoàn trưởng, cảm giác tròng trành thiếu hụt khi nghe câu từ chối: “Minh mạng đợi đó, để tôi nói chuyện với Lạc long”. Chút khinh khi nhẹ nhàng như khói bếp bốc lên trong trời mù. Minh đứng dậy, bước ra nhìn lên trời. Trời trong, sao lấp lánh, trăng thượng tuần nhợt nhạt, tiếng sóng rì rầm ở xa xa. Minh ngửi thấy mùi lạ, mùi của lá tre ẩm mốc dưới bờ ao, thứ hơi hám âm ỉ nhưng nồng nàn chát đắng như từ một thân thể đẫm ướt dục tình. Minh linh cảm thấy giữa mùi vị lạ lùng đó với mình có một khăng khít xưa cũ được cất giấu bao lâu nay chợt thấy giữa mùi vị lạ lùng đó với mình có một khăng khít xưa cũ được cất giấu bao lâu nay chợt thấy như khi nhìn tấm ảnh đã mất hết vẻ quen thuộc của thời thơ ấu. Trong nhà vang tiếng cười sảng khoái của Thuấn và ông già, chợt Minh khó chịu như đang soi gương trong phòng vắng thấy được cái mụn đỏ nổi trên mặt. Ở một nơi nào đó chắc Lạc với Tiểu đoàn trưởng cũng đang có những tiếng cười vui như thế này. Minh châm điếu thuốc bước vào. Cuộc rượu đã đi đến chỗ đậm đà, Thuấn ôm lấy cổ ông già. 
“Ôn ơi là ôn ơi, ôn uống nữa đi ôn, ôn chịu chơi, ôn tay tổ, uống, uống…” Thuấn kê ly rượu vào miệng ông lão, tay kia đỡ lấy chiếc cổ nhăn nheo: 
“Cha răng lại không uống, nam vô tửu như kỳ vô phong, một giọt rượu là một giọt máu, đổ ra thì uổng biết mấy… Thả tay, ôn uống từ từ, uống để mà quên chứ en ơi!” Hai đứa bé ngồi dựa cột nhìn ông nội uống rượu với người lính. Hai đứa bé nhìn với ước muốn trở thành ông Đại uý Nhảy dù từ Sài Gòn đến đây, làng Phùng Trung, quận Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, đến với dấu tích văn minh có đủ trên người, này điếu thuốc lá Mỹ, này hộp quẹt gaz, chai rượu cũng có một cái nhãn in hình một ông Mỹ đang đi… 

Ông lão bắt đầu say, giọt nước mắt muộn màng long lanh trên viền mi sẫm đỏ mệt nhọc chảy xuống đôi má nhăn nheo. 
“Này ôn Đại uý ơi, nhà cháy rồi làm sao sửa được hè?” 
Thuấn ngừng uống, đặt ly rượu xuống, thò tay vào túi móc bao thuốc, điếu thuốc được đốt lên khó khăn… “Hết cái hỏi rồi sao ông già?” 
“Biết, biết hỏi chi đây, cơ nghiệp cả đời tui mới có được cái nhà, cày ruộng từ lúc tui còn chút xíu, chao ơi tui chắt bóp dành dụm cả gần bốn mươi năm mới làm được, cái bộ rui mè ni mua được hồi đảo chánh Nhật, bộ cửa lá sách mua từ ngoài Huế lúc ôn vua Bảo Đại về nước… Ôn Đại uý ơi, làm răng mà sắm lại được “en” ơi?” 
Giọt nước mắt không cưỡng nổi, chảy xuống, giọt nước mắt già cay đắng tưởng như chừng đã khô héo biết bao nhiêu năm nay tuôn tràn từ đôi mắt đỏ ửng. Lớp tro nóng âm ỉ khói leo lét một vài tia lửa nhỏ khi gió thổi qua. Hai đứa bé thấy ông lão khóc, chúng nhào tới, những tiếng khóc mạnh khoẻ thoả thuê vang theo tiếng nấc nghẹn tức tưởi của ông già. Ông lão giơ tay lên lau mắt… “Ôn Đại uý ơi…” Chiếc ly bị đụng lăn xuống, tiếng động khô nhọn lăn lóc nghe đau đau như lưỡi dao từ từ rút ra khỏi thớ thịt. Thuấn liếc qua Minh, điếu thuốc lóe sáng ở đầu môi, Minh cúi gầm trên ly rượu, ánh trăng theo phần vỡ của mái nhà rọi xuống lóng lánh trong lòng ly. Minh ngửa cổ dốc trọn cả một trời mù tịt vào người. Tiếng khóc của ba ông cháu khó nhọc rối tung vào nhau. Thuấn lóng cóng tìm lấy cổ chai rượu… “Ông ơi, thôi gắng thêm một ly nữa rồi đi ngủ”. 
“Nhà ơi là cửa ơi, ôn bà cha mẹ Trời Phật ơi. Thôi cám ơn ôn Đại uý”. Trong cơn say đau đớn, ông già vẫn không quên gã trẻ tuổi ngồi trước mặt là một ông quan thật lớn. Ông quan lớn nhất trong ý niệm và lần đầu tiên ông lão được uống rượu cùng. 
“Gắng uống ông già”. Thuấn đưa tay ra trong bóng tối. Tay Thuấn chạm phải tay ông lão, một bàn tay lạnh buốt. Bàn tay của người già, bàn tay chết nhưng quả tim vẫn còn đau đớn chất đầy. Quả tim, vật mệt mỏi tội nghiệp nhất của người.

Nhớ về Cao Xuân Huy “Tháng Ba gãy súng”

Phạm Văn Tiền

 (Nhân giỗ đầu ngày Huy mất 12-11-2010)

Post by Sơn râu 17 Mar 2026

Huy em! Anh vừa nhận được email Trần Như Hùng gởi cho anh từ Úc. “Anh Tiền ơi! Còn mấy ngày nữa là giáp năm Huy rồi. Em nhớ nó quá”. Hùng lại viết tiếp “Lần đầu tiên đi Đại Hội TQLC tại Houston 2004, em đến chào anh, anh mặc civil, em xin anh nhớ mặc quân phục để em chụp tấm hình. Mỗi lần xem lại Huy nói “Tối đó tao say quắc cần câu mà lại mặc đồ thường, tao không dám tới chào ổng sợ ổng chửi!” Anh tin là Hùng nói rất thật. Đó đúng là cách cư xử của Huy đối với anh từ trước đến giờ vẫn vậy. Huy thường bảo với anh rằng trong binh chủng em là người thương anh nhất. Điều nầy có thể xác nhận nhiều lần với các Sao Mai Tài và Gắt hiện ở Seatle và Mai Văn Hiếu ở Kansas. Hùng và Huy thân nhau như thế nào anh không được biết, nhưng những gì mà Hùng đã làm được cho Huy lúc cuối đời quả là điều đáng nể, ở đời mấy ai có được tình bạn như Hùng.

Huy em! Mới đó mà đã đến ngày giỗ một năm ngày em mất rồi, thời gian nhanh như chớp, em ra đi đã yên nhưng những ray rứt luôn ám ảnh cho người còn lại. Gia đình, bạn bè, chiến hữu luôn nhắc đến em, đến Huy Râu tác giả tập hồi ký để đời về cuộc lui binh lịch sử “Tháng Ba gãy súng”! Trước mặt anh bây giờ là quyển sách em tặng anh ngày 15-7-1992 với lời tựa “Bản của Bạch Yến 324” cùng nét chữ cẩu thả nhưng thật bay bướm của em. Làm sao anh quên em được Huy ơi! Năm ngoái vào những ngày cuối tháng 9 em gởi anh quyển tập truyện “Vài mẩu chuyện”, tác phẩm cuối cùng của em và nói rằng em sẽ về Houston, rồi Dallas để ra mắt quyển sách nầy. Để anh đọc trước em đã gởi cho anh với lời tựa “Kính tặng Bạch Yến 324 Phạm văn Tiền. Cali ngày 20-9 Cao Xuân Huy”! Nhưng sau đó em bảo cơn bệnh tái phát nặng, hiện đang xạ trị và em đã ra đi gần 2 tháng sau đó. Anh em mình đã mất cơ hội gặp lại nhau vì nghiệp duyên em đã hết. 

Năm 2004, đó lần đầu tiên anh gặp lại Huy sau đúng 27 năm xa cách trong ngày Đại hội TQLC tại Houston. Lần gặp sau cùng là lúc anh đang ở trong tù khi lao động dã trại tại thung lũng quận Ba Lòng Quảng Trị vào năm1977. Lúc đó Huy ở trại 5 còn anh thuộc trại 1. Buổi chiều với vác củi nặng trĩu trên vai, quần áo rách rưới thật thê thảm, anh em mình tình cờ gặp nhau, Huy hô to “Ông Thầy” và đã khóc. Em lúc nào cũng vậy, trông cao to gầy ốm râu ria như vậy mà rất dễ động lòng. Anh còn nhớ hồi trận đánh Cửa Việt khi thằng Vạn mang máy của em tử trận, em cũng khóc như mưa! Hôm đó, em ôm anh và nói sao ông ốm quá vậy “Địt mẹ mấy thằng VC tàn nhẫn quá”. Anh thích lối chửi thề vô thưởng vô phạt nầy của em, ngay ngày còn trong đơn vị. Và cũng từ đó anh em mình không có dịp gặp nhau nữa, sau nhiều lần chuyển trại. Anh được biết em ra tù vào khoảng tháng 9 năm 1979 và vượt biên đến Mỹ tháng 10-1983 như vài dòng tiểu sử trong quyển sách của em, còn anh đến tháng 11-1987 mới được bọn chúng thả về.

Anh về tá túc bên gia đình vợ cùng 2 con tại quận Cai Lậy Tiền Giang. Lúc đó đã có nhiều tin đồn là tất cả sĩ quan cải tạo sẽ được Mỹ rước. Anh không tin điều nầy có thật nhưng rất vui, vì sao mình cũng còn tí hy vọng để mà sống. Một ít bạn tù thỉnh thoảng cũng có dịp gặp nhau để cùng tâm sự và chia sẻ những buồn vui cho qua ngày đoạn tháng, dầu sao ai cũng hãnh diện mình cũng đã có một thời vàng son đáng nhớ, một thời liệt oanh nơi chiến trận để mà tự hào. Tình cờ, anh được một trong số những người bạn đó hỏi anh “Ông ở binh chủng TQLC mà ông có biết nhà văn Cao Xuân Huy không?” Trong trí anh mò mẫm tìm về kỷ niệm cũ, ở tiểu đoàn 4 Kình Ngư mình có 2 Huy, Huy mập và em là Huy ốm râu ria giống anh, chứ không có Huy nào là nhà văn cả. Ông ta bảo đã nghe đọc trên đài VOA về quyển hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng” trong đó có nhắc đến tên Thiếu tá Phạm Văn Tiền thuộc Tiểu đoàn Hắc Long vào những ngày tháng sau cùng về cuộc lui binh lịch sử của TQLC tại cửa biển Thuân An Huế. Quyển sách tự truyện quá hay và cảm động đã được đọc liên tiếp trong nhiều tuần làm rơi nước mắt nhiều người. Lòng mừng rỡ đượm chút ngạc nhiên đầy xúc động và hãnh diện về em, về đơn vị và binh chủng mình! 

Hình ảnh những ngày đó đã được hiện lại trong trí nhớ anh như mới hôm nào. Tất cả nguyên một Lữ Đoàn 147 gồm 4 tiểu đoàn tác chiến và các đơn vị phụ thuộc tổng cộng trên dưới bốn ngàn người đã bị thượng cấp bỏ rơi không thương tiếc. Dầu vậy chúng ta vẫn còn đội ngũ đàng hoàng, vẫn chiến đấu đến viên đạn cuối cùng cho đến khi kiệt sức. Nhiều anh em đã nối vòng tay lớn cùng nhau bung chốt lựu đạn tự sát trong tình thế tuyệt vọng hoàn toàn. Tác phẩm đầu tay của em ra đời thật đúng lúc vào tháng 6 năm 1985, đúng vào thời điểm mà mọi người đang thắc mắc vì sao TQLC đã rút lui rời bỏ Quảng Trị, Huế một cách quá nhanh như vậy, trong khi thừa khả năng bảo vệ dù cộng sản có cố gắng ra sức tấn công bằng hàng chục sư đoàn. Lương thực còn, súng đạn còn , dân chúng còn, tinh thần binh sĩ còn, các tiểu đoàn 3,4,5,7, 2 Pháo binh thuộc Lữ đoàn 147 còn, có sứt mẻ gì đâu. Không hiểu vì sao có lệnh tử thủ, rồi sau đó vài ngày có lệnh di tản để rồi xảy ra thảm cảnh pháp trường cát tại cửa biển Thuận An.

Những lời bàn tán về chuyện cũ trong quyển sách của em vẫn cứ được nhắc đi nhắc lại từ quán cà phê nầy đến quán cà phê khác, ngay trong những lúc ngày kỵ, giỗ đông người. Ai cũng nhìn anh với niềm thiện cảm về binh chủng TQLC mình, còn gì sung sướng bằng phải không em, anh nở lỗ mủi lắm chứ em. Thì ra những thằng lính TQLC cũng có thể cầm viết để trở thành nhà văn nổi tiếng chứ không phải chỉ có biết có cầm súng đấm đá mà thôi. Tháng 7 năm 1991 gia đình anh được định cư đến Mỹ theo diện HO 5 tại thị trấn nhỏ bé Pineville tận cùng phía Nam tiểu bang Louisiana, nơi rất hiếm công ăn việc làm, đa số sống nhờ vào tiền trợ cấp chính phủ. Tuy nhiên sau đó nhờ sự giúp đỡ của văn phòng tỵ nạn anh cũng tìm được chỗ tốt ở các vườn ương cây “Nursery”. Đây là những ngày tháng hạnh phúc sung sướng nhất đời mình, đêm nằm ngủ không còn lo sợ bọn công an rình rập khám xét. Nhiều đêm nằm mơ không biết mình đang ở đâu, khi thức giấc nhìn đèn sáng ngoài đường mò mẫm tứ tung mới biết mình đang được bình yên tại Mỹ.

Một tối cuối tuần sau một ngày lao động vất vả, có một người gõ cửa đến thăm anh và mang theo một quyển sách. Dáng người sang trọng cao to, ông ta tự giới thiệu là Bác Sĩ Tô Phạm Liệu thuộc binh chủng Nhảy Dù, ông là một trong rất ít người còn sống sót của Tiểu đoàn 11 Dù trong trận chiến trên đỉnh đồi Charlie. Ông ta vừa mới về sau một chuyến họp hành tại Oklahoma và tình cờ biết được địa chỉ của anh qua lời giới thiệu của chiến hữu Nguyễn Văn Gừng. Ông nói đây là quyển sách “Tháng Ba Gãy Súng” có nhắc đến ông, ông cứ đọc cho biết. Cuối tuần hôm đó anh bắt đầu đọc, đọc một mạch từ đầu đến cuối không sót chữ nào, lối hành văn của em thật hấp dẫn dễ lôi cuốn mọi người. Mặc dầu có những điều em hơi quá đáng chỉ có người trong cuộc mới hiểu, nhất là đoạn nói về Trung úy Võ Văn Gắt, Đại đội trưởng của em. Sau đó một vài tuần điện thoại nhà anh reo tới tấp và những check gởi về cho anh thật nhiều trong đó có em là một trong những người cho tiền anh sớm nhất. Và cũng từ đó tháng nào anh cũng nhận đều đặn tạp chí Văn Học mà em là Tổng thư ký ban biên tập. Em, Lương, Ngô Hồng Hà, Phạm Văn Thành trong gia đình “ Kình Ngư” của mình cứ nằng nặc đòi đem xe rước gia đình anh về Cali để sống, anh thấy không tiện nên đã từ chối nhưng dầu sao cũng nhớ và mang ơn các em.

Ở binh chủng TQLC anh đã qua 3 tiểu đoàn đoàn tác chiến, trong đó Tiểu đoàn 2 Trâu Điên là lâu nhất từ ngày mới ra trường khi còn là Thiếu úy trung đội trưởng, đến lúc lên được Thiếu tá Tiểu đoàn phó tiểu đoàn nầy sau trận tái chiếm lại Cổ thành Quảng Trị năm 1972. Nhưng nếu có ai hỏi anh, thời gian nào là thời gian đẹp nhất trong đời quân ngũ của mình, anh sẽ trả lời ngay không suy tư, không tính toán đó là thời gian phục vụ ở Tiểu Đoàn 4 “Kình Ngư TQLC”. Bởi vì ở nơi đó anh đã tìm ra được một tình thương thật sự của những người lính tác chiến mũ xanh, nơi đó mới có những người anh, người em biết nhường cơm xẻ áo cho nhau rất thân thiện trong tình huynh đệ chi binh, nơi đó không có sự thù ghét ganh tỵ, anh ra anh, em ra em trong sự tương kính nhau thật sự. Anh về đây chẳng qua là một cơ duyên đưa đẩy, anh được thượng cấp thuyên chuyển về đơn vị nầy vào tháng 11- 1972 trong một buổi chiều mưa buồn thảm. Súng nổ đì đùng khắp nơi và mặt trận phía Bắc còn đang rất sôi động. Trung tá Nguyễn Đằng Tống thay thế Trung tá Nguyễn Xuân Quang và anh thay thế Đại úy Trịnh Hữu Phước ngay tại mặt trận sau trận “đập Long Quang”.

Đơn vị mình trong đó anh, có em, có rất chiến hữu khác, đã may mắn mang lại được nhiều chiến thắng trong một thời gian ngắn sau đó. Ngày đó em Thiếu uý làm Đại đội phó cho Trung úy Dương Tấn Tước còn Nguyễn Văn Gắt thì làm phó cho Trung úy Mai Văn Hiếu. Đơn vị đóng quân dọc theo chiều dài của bờ biển vùng Gia Đẳng, Mỹ Thủy. Em là người mà anh để ý trước nhất khi về đơn vị mới, dáng cao lều khều, nghe đâu em từ binh chủng không quân ba gai sao đó để rồi bị đưa về binh chủng TQLC, trong số đó có Sáng, Du Hồ, Ngô DZu, Long, Huy mập.., tất cả còn rất trẻ chịu chơi, uống rượu như uống nước mà đánh giặc rất chí tình! Lần đầu tiên do sự tình cờ anh lên thăm tuyến đầu Đại đội, thấy anh, em đã biến mất từ đâu rồi. Sau nầy được nghe Tước kể lại vì hắn không cạo râu nên tránh gặp Bạch Yến. Anh cũng giống y hệt như em khi đơn vị từ Hạ Lào được điều động về bảo vệ BCH Sư đoàn tại Hương Điền râu ria xồm xoàm lâu ngày không cạo, khi Lạng Sơn đi thăm tuyến, anh cũng trốn không dám gặp, sợ quá chỉ một ngày sau đó anh cạo liền. Qua lời kể của Trung Tá Phúc Tiểu đoàn trưởng là Lạng Sơn bảo nó cứ để râu trông cho oai mắc mớ gì phải cạo, và cũng từ đó anh được có một cái tên mới “Tiền Râu”.

Cái tốt của em là không bao giờ biết cờ bạc ăn thua với lính và rất thương thuộc cấp của mình, nhưng bù lại thì sống bụi đời, ăn nhậu và hút thuốc số một không ai bằng. Anh không giống như em nhưng anh lại đam mê một thứ khác, cái thứ mà theo anh chẳng bao giờ thấy em để ý. Một lần gặp em “dù” ra Huế trong lúc đơn vị đang đóng ở làng TQLC tại Hải Lăng, em say sướt mướt và chính anh đã chở em về. Anh thông cảm và chẳng có một lời nào khiển trách em, có lẽ đây là lý do mà em thương anh nhiều nhất. 

Chiều nào cũng vậy, những ngày tháng đóng quân dọc theo mé biển, anh em mình ra sân đá banh trên cát. Em cũng chạy như ai, nhưng chẳng bao lâu thì ngồi thở dốc, uống rượu nhiều quá làm sao có sức phải không em. Em là một trong những tay nhậu cự phách nhất so với nhiều kiện tướng thuộc tiểu đoàn. Sao Mai Trần Kim Tài và Dương Công Phó còn phải chào thua em. Với em tinh thần đơn vị là số một không ai bằng. Anh nhớ sau trận Cửa Việt Tiểu đoàn mình được về “hấp hơi” tại Trung tâm huấn luyện Đống Đa Huế. Thời gian nầy Thiếu tá Toàn đã về thay Trung tá Tống rồi. Đơn vị mình được vào chung kết tranh cúp bóng đá với đội banh của trung tâm. Mình thua với tỷ số 2-1, vì họ gian lận mướn cầu thủ nhà nghề từ Huế vào. Sau khi bị thua đau, một số anh em quyết ăn thua đủ, rượt họ chạy có cờ quanh sân vận động, trong đó Cao Xuân Huy là người dẫn đầu chạy hăng nhất. Anh còn nhớ lời em nói “Địt mẹ tức chớ ông thầy!”

Em được về phép trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, chiến trận xảy ra khắp nơi, hết nơi nầy đến nơi khác lần lượt lọt vào tay địch. Ban Mê Thuột, Pleiku, Quân đoàn 2 ồ ạt rút về Nha Trang trong cảnh hỗn loạn. Sàigòn vẫn còn ăn chơi nhưng rất nao núng về những tin bất lợi nầy. Những kẻ chức trọng quyền cao, sẵn tiền bạc trong tay đang tìm cách cao bay xa chạy, thế mà em vẫn nài nỉ van xin để được có mặt trên những chuyến bay cuối cùng, em nóng lòng về đơn vị nơi đó có các bạn bè chiến hữu của em đang ngày đêm đánh đấm với kẻ thù. Đồi 51 đã bị địch tràn ngập thất thủ, Thiếu úy Sáng tử trận cùng gần hết trung đội của mình. Em biết, nhưng em vẫn sốt ruột để xin ra trận cùng anh em chiến đấu, sống chết có nhau, em không đào ngũ mặc dầu biết mình sắp xung phong vào chốn gian nguy, em không hề nao núng. Bạn bè chiến hữu mến phục em và anh cũng thế. Lúc đó đơn vị mình thay đổi hoàn toàn, anh về làm Tiểu đoàn trưởng Hắc Long, còn niên trưởng Toàn 816 chuẩn bị về Tiểu đoàn 16 tân lập, Thiếu tá Đinh Long Thành sẽ về thay thế làm Tiểu đoàn trưởng Kình Ngư, NguyễnTrí Nam thế anh làm phó. 

Anh thích nhất trong một vài điều trong quyểnTháng Ba Gãy Súng mà anh cho là rất thật và cảm động vô cùng, chỉ xảy ra trong đơn vị TQLC mình “Gặp tôi đi tới, đại úy Tài hỏi -Đụ mẹ, đại đội mầy đâu? -Loạn xà ngầu hết rồi anh Hai -Chúng tôi vẫn gọi Tài là anh Hai, anh Hai Tài. Anh Tài cầm roi nhắp nhắp về phía tôi – Đụ mẹ 5 roi nhen mầy! -Tôi cười ngượng –lên tàu rồi sẽ đánh, anh Hai. Em đi trước nghe -Ờ, tới Huế gom đại đội lại đi thằng láu cá.” Đọc qua đoạn nầy mọi người đều cảm thấy thương yêu em hơn, rất bình dị nhưng thể hiện được sự tôn kính cấp chỉ huy của mình. Hình ảnh của một Đai đội trưởng Trần Kim Tài đã nói lên được lòng tận tụy và thương yêu binh sĩ thuộc quyền của một cấp chỉ huy TQLC ngay trong những giờ phút gian nan tuyệt vọng nhất. 

Huy em! Thời gian nầy năm ngoái em đã hết sức chiến đấu từng giây phút với lưỡi hái tử thần, nhưng dù cố gắng nhưng sức không kham nổi đoạn đường, cuối cùng thì em cũng phải chào thua định mệnh Những gì đã xảy ra trong ngày tang lễ của em đã nói lên được sự thương tiếc của mọi người đã ưu ái dành cho em trong giấc ngủ cuối đời. Quá nhiều giọt nước mắt để tiếc thương em ngay cả những người không hiện diện. Sau nầy và mãi mãi khi nhắc đến cuộc chiến Việt Nam, mọi người sẽ nhớ đến em, tác giả Cao Xuân Huy và tác phẩm để đời Tháng Ba Gãy Súng. 

Huy em! Em đang ở đâu đó trên khắp bốn phương trời, hãy vui chơì thong thả vì em đã rũ sạch nợ trần. Nếu có gặp lại Long, Sáng, Trí Nam, Thanh Chiêu và nhất là ông anh cả Nguyễn Đằng Tống..và nhiều chiến hữu khác trong đơn vị Kình Ngư mình, cho anh gởi lời thăm hỏi và chắc rằng một ngày nào đó anh cũng sẽ gặp lại em. Vì ai cũng một lần ra đi…phải không em? 

Anh của em
Arlington, Texas ngày 10-11-2011
Bạch Yến 324 Phạm Văn Tiền

Một Cao Xuân Huy khác

Ngô Thế Vinh_ 18.11.2010

Post by Sơn râu 17 Mar 2026

LTG: Trong tình bằng hữu nhiều năm với Huy, được sự đồng ý của chị Cao Xuân Huy và hai cháu Chúc Dung & Xuân Dung, bài viết thiên về khía cạnh y khoa này, nói về một Cao Xuân Huy khác, người bệnh Cao Xuân Huy chênh vênh trên con dốc của tử sinh, đã can trường chống chỏi với bệnh tật cho tới những ngày và giờ phút cuối cùng và đã ra đi với tất cả “phẩm giá”.

Melanoma là loại ung thư phát triển từ những tế bào sản xuất sắc tố melanin / melanocytes, yếu tố định hình màu da của mỗi chủng tộc. Thông thường melanoma là loại ung thư da / melanoma skin cancer, nhưng mắt cũng có thể là nơi phát triển loại ung thư này, tuy khá hiếm. Ung thư sắc tố melanoma trong mắt thì không dễ phát hiện như ở ngoài da. Khi phát hiện thường là đã trễ. Đó là trường hợp Cao Xuân Huy, rất tình cờ, khi Huy nheo một bên mắt thì mắt kia không thấy gì. Huy báo tin cho tôi biết.

Khi đột ngột mất thị giác một mắt, phải nghĩ tới những nguyên nhân khẩn cấp khác [ như bong võng mạc / retinal detachment, tai biến mạch máu não / stroke, thiên đầu thống / migraine, cao áp nhãn / glaucoma…] thay vì nghĩ ngay tới ung thư mắt. Một bác sĩ nhãn khoa Việt Nam đã khám ngay cho Huy, chẩn đoán lâm sàng đầu tiên cho đây có thể là do một loại nấm khá hiếm mọc trên võng mô / retina. Nhưng cũng rất sớm, những ngày sau đó, UCLA đã có một chẩn đoán chính xác cho Huy: ung thư sắc tố mắt / ocular melanoma. Từ đây, trong suốt bài này chỉ đơn giản gọi là “melanoma-mắt.”

Không rõ nguyên nhân, nhưng số người mắc bệnh melanoma-mắt thì cao hơn ở nhóm người da trắng, mắt xanh [ không phải Huy], hoặc cũng có thể vì “hiệu ứng gây ung thư / oncogenic effects” do phơi ngoài nắng lâu dài; riêng đặc tính này thì Huy được xem như “overqualified”, do những năm dài lính tráng hành quân khắp bốn vùng chiến thuật và sau đó là thêm những năm lao động khổ sai tù đầy ở một xứ sở nhiệt đới như Việt Nam. Nói thêm, theo thuật ngữ y khoa, thì đây có thể là do “sai lầm của gene biến thể / mutated gene” đã ra lệnh hoảng cho các tế bào sản xuất melanin tiếp tục phát triển thay vì bình thường theo chu kỳ lão hóa và rồi chết đi. Y khoa bước đầu cũng đã tìm ra những “dấu ấn phân tử / molecular markers” trong nhiễm sắc thể / chromosome để phát hiện rất sớm các di căn.

Melanoma-mắt là loại ung thư hiếm, rất thầm lặng và khi phát hiện thường là trễ với hơn 50% đã có di căn, nên tuổi thọ / life expextancy của những bệnh nhân này rất là ngắn, còn khoảng từ 2 tới 7 tháng; chỉ có khoảng 15% bệnh nhân là sống lâu hơn 12 tháng. Lý do chính là melanoma mắt với di căn tới gan, hầu như kháng lại mọi điều trị.

Melanoma-mắt có thể hoàn toàn không có triệu chứng gì ban đầu, khi có triệu chứng cũng không đặc thù như lóa mắt / flashing lights, mờ mắt / blurred vision hay với triệu chứng nhức mắt do tăng nhãn áp / glaucoma hoặc mất thị giác / vision loss [ trường hợp của Huy], và diễn tiến lâm sàng thì rất bất định về thời gian trước khi có di căn tới các bộ phận khác ngoài xa mắt như gan, phổi, não và xương.

Các xét nghiệm và phương pháp chẩn đoán bao gồm: thử máu chức năng gan, siêu âm mắt để phát hiện bướu trong mắt, chụp mạch máu mắt với chất cản quang, và có thể cần tới sinh thiết / biopsy vùng bướu trong mắt để xác định loại ung thư. Tiếp theo là theo dõi định kỳ, cũng với xét nghiệm máu, hình phổi, CT scan thay MRI để phát hiện sớm vùng bị di căn. UCLA đã cung ứng cho Cao Xuân Huy gần như đầy đủ những “tiêu chuẩn” như vậy.

Nhưng yếu tố thời gian vẫn là tiên quyết. Thử chức năng gan đôi khi vẫn bình thường nhưng có thể ung thư đã lan tới gan, với những di căn rất nhỏ / micrometastases.

Melanoma-da và melanoma-mắt, tuy cùng tên gọi nhưng lại là hai loài “dã thú” khác nhau. “Hóa trị / chemotherapy” có thể hiệu quả với melanoma-da nhưng lại gần như “bất trị” đối với trường hợp thứ hai. Kinh nghiệm điều trị di căn / metastases gan từ melanoma-mắt không nhiều. Hiệu quả điều trị được định nghĩa như bướu di căn thu nhỏ lại 50% hay hơn. Nếu đáp ứng chỉ được 15% không khác với hiệu ứng placebo/ giả dược thì việc tiếp tục điều trị thêm nữa chỉ làm thống khổ thêm người bệnh trong những tháng ngày ngắn ngủi còn lại.

Cao Xuân Huy không là con bệnh của phẫu thuật / surgical candidate. Khởi đầu, Huy được xạ trị / radiation therapy trên vùng mắt bệnh hay từ chuyên môn còn gọi là brachytherapy, như một loại kim phóng xạ / radioactive seeds.

Sau bước điều trị ấy, Huy vẫn được UCLA thường xuyên theo dõi. Do chỉ còn nhìn được với một mắt nên tầm thị giác của Huy bị giảm đáng kể, mất khả năng lượng giá chiều sâu / depth perception, nhưng Huy thì vẫn thản nhiên sinh hoạt bình thường, hàng ngày lái xe khá xa từ nhà ở Lake Forest đi làm trên Little Saigon, khi lái xe về nhà ban đêm Huy đã thấy khó khăn hơn.

Hóa trị liệu được dùng trong điều trị melanoma da và mắt. Thuốc cho qua đường tĩnh mạch, theo đường dẫn của máu tới vùng ung thư nhằm nhanh chóng giết chết các “tế bào ác”. Cũng không tránh được thuốc ấy giết hại cả những tế bào lành. Và dĩ nhiên có vô số những biến chứng phụ / side effects do thuốc, khiến không ít số bệnh nhận phải bỏ cuộc, bao gồm: trầm cảm, mỏi mệt, nôn mửa xuống cân, thiếu máu, giảm bạch cầu nghiêm trọng / neutropenia làm mất khả năng đề kháng dễ bị nhiễm trùng nặng gây tử vong…Tiến bộ của y khoa đã có những thuốc mới làm giảm thiểu các phản ứng phụ này. Chỉ khoảng 20% bệnh nhân malanoma-da có đáp ứng điều trị. Chưa có hóa trị liệu nào chứng tỏ có hiệu quả đối với di căn melanoma-mắt xuống gan, như trường hợp Cao Xuân Huy.

Bướu di căn của loại melanoma này không phải chỉ có một, do có nhiều bướu nhỏ trong gan, nên phẫu thuật cắt bỏ / resection không có chỉ định trong trường hợp này.

Nói chung, một số loại ung thư có thể chữa lành, nhưng melanoma-mắt với di căn gan thì không có hay đúng hơn là chưa có trong danh sách ấy, nó thuộc loại rất “ác tính” vẫn còn là một thách đố với tiến bộ của y khoa trong thế kỷ 21.

Cũng như khi cầm bút, Huy viết về cái xấu cái tốt của mình một cách thản nhiên, thì nay nói về bệnh ung thư mắt của mình cũng với một sự thản nhiên như vậy, trong khi người nghe thì không tránh được nỗi xúc động hay cả hốt hoảng. Một người bạn thân sau khi gặp Huy đã phát biểu: “Huy bệnh ngặt nghèo như vậy mà chính mình lại như được nó an ủi.”

Theo dõi Huy, mới thấy Huy là người bệnh khá mẫu mực, dứt bỏ rượu dễ dàng, rất kỷ luật trong từng giai đoạn điều trị, Huy cũng đã nhận được những chăm sóc y khoa tiên tiến nhất mà anh rất xứng đáng được hưởng. Đổi lại, Huy đã cống hiến cho y khoa một “case study” tốt nhất trong cuộc chiến đấu khuất phục loại ung thư mắt dữ dằn này.

Huy đã can đảm chịu đựng, vượt lên trên những thống khổ do hậu quả của các bước điều trị mà ngay từ bước đầu đã không có một hứa hẹn thắng lợi nào. Anh cũng được báo trước rằng khi chấp nhận điều trị, phẩm chất những tháng ngày còn lại của anh có thể sẽ bị ảnh hưởng không những thế quỹ thời gian của Huy còn có thể bị rút ngắn hơn. Huy đã can đảm chấp nhận tất cả.

Huy và tôi, qua cell vẫn liên lạc với nhau hàng tuần, thường là ngày thứ Năm sau ngày tái khám ở UCLA về. Thường là tôi phone cho Huy, nhưng lần này Huy gọi tôi báo tin cho biết CT scan mới phát hiện có bướu nhỏ trong gan. Nhiều phần có thể là do di căn từ ung thư mắt nhưng cũng có thể là một bướu gan tiên khởi / primary tumor không có liên hệ gì tới melanoma-mắt, khi mà tỉ lệ ung thư gan do viêm gan siêu vi B của người Việt Nam hay các sắc dân Á châu nói chung khá cao. Dù trường hợp nào thì điều trị cũng là rất khó khăn.

Tuần lễ sau đó, con gái Huy đưa bố vào UCLA làm biopsy / sinh thiết gan, và chưa bao giờ nghe Huy mở miệng than đau. Kết quả sinh thiết gan xác định bướu gan là do di căn từ ung thư mắt. Không thể giải quyết bằng phẫu thuật, mà xạ trị / radiation therapy hay hóa trị / chemotherapy đều không có hiệu quả với loại di căn này. Cuộc chiến đấu sắp tới của Huy có phần gay go hơn. Huy rất biết có một dự hậu / prognosis không sáng sủa như vậy nhưng vẫn chấp nhận “một vòng / cycle hoá trị liệu” đầu tiên, mỗi tuần vào ngày thứ Tư trong 6 tuần lễ. Huy vượt qua vòng đầu một cách dễ dàng dĩ nhiên cũng phải trải qua tất cả những biến chứng phụ do thuốc. Thời gian này, Huy vẫn tự lái xe đi làm và cả cuối tuần thì gặp gỡ các bằng hữu. Tái lượng giá sau vòng 1 hoá trị, vùng di căn ổn định, không lớn ra hay phát tán thêm. Như một chút ánh sáng cuối đường hầm, nhưng không thể nói điều trị đã có hiệu quả. Trong cuộc chiến rất không cân xứng ấy, thắng lợi đầu tiên không phải là diệt mà là “cầm chân địch”. Và Huy chấp nhận thêm một “vòng hóa trị thứ hai”, cũng mỗi tuần trong 6 tuần lễ nữa.

Không biết bên địch tổn thất bao nhiêu, nhưng rõ ràng Huy bắt đầu phải trả giá. Tuần lễ đầu tiên, sau lần hóa trị của vòng 2, Huy cho biết, ngoài các phản ứng phụ đã trải qua như ở vòng đầu, thì lần này khắp mình mẩy thêm cái “đau như xé thịt” _ chữ của Cao Xuân Huy. Huy chưa bao giờ biết than đau, có nghĩa là ngưỡng chịu đau / pain threshold của Huy rất cao, cái đau 10/10 vẫn không khiến Huy có ý định bỏ cuộc. Tuần lễ thứ hai, với sự dè dặt của toán điều trị, nhưng Huy vẫn yêu cầu tiếp tục bước thứ hai. Vẫn cái “đau xé thịt” ấy nhưng cường độ thì lớn hơn và kéo dài hơn mấy ngày sau khiến Huy phải cần thuốc giảm đau. Đây là một khúc rẽ quan trọng, do sức người có hạn, Huy không thể đi những bước tiếp theo, theo lượng định của toán điều trị chứ không phải do Huy. Sự can trường với sức mạnh tinh thần vốn có của Huy đã không tỉ lệ với thể trạng của Huy bây giờ. Huy cần một “thời gian dưỡng thương” trước khi có thể hoạch định một bước điều trị khác.

Rồi bước tái lượng giá tiếp theo, Huy được báo cho biết bướu di căn cũ thì đã lớn hơn và có thêm nhưng di căn mới trong gan. Riêng Huy cũng cảm thấy vùng gan bây giờ không chỉ cứng hơn mà còn lớn hơn và ăn uống thì khó khăn. Từ đây Huy xuống sắc, xuống cân và yếu đi rất nhanh, duy tinh thần thì vẫn vững vàng. Như từ bao giờ, Huy vẫn với thái độ rất thản nhiên và như không có gì để hối tiếc.

Có lần gặp Huy đã quá yếu, không còn đứng vững trên hai chân, sắp ngã quỵ mà Huy vẫn không muốn vịn trên cánh tay người bạn đứng bên mình.

Như vậy UCLA cũng đã bó tay và gửi trả Huy về với bác sĩ gia đình. Thay vì đưa vào hospice / nơi chăm sóc người cận tử, thì Huy vẫn sống với sự chăm sóc đầy ắp thương yêu của gia đình với vợ và hai con.

Chủ Nhật 07/11/2010, lễ hứa hôn con gái thứ hai của Huy [ cháu Xuân Dung] được tổ chức sớm hơn trong gia đình cho Huy vui và Huy đã thực sự vui với ngày vui ấy của con gái. Sau này tôi khám phá ra một điều, một Cao Xuân Huy tuy cứng cỏi nhưng cũng biết sợ, rất sợ đứa con gái thứ hai. Huy có thể không nghe đôi lời khuyên của tôi, nhưng những gì nhắn qua qua Xuân Dung, như mệnh lệnh của trái tim, tôi biết chắc Huy sẽ làm.

Những ngày sau đó, các cơn đau khiến người Huy co lại nhưng Huy vẫn không muốn dùng nhiều thuốc giảm đau. Cuối cùng thì phải cần tới morphine với liều lượng càng ngày càng tăng mỗi hai tiếng và cũng chỉ phần nào giảm các cơn đau đổ ập tới. Huy thì vẫn khắc kỷ chịu đựng, không rên siết hay một lời than đau và vẫn không thiếu nụ cười hiền với người thân và các bằng hữu rất quý Huy tới thăm.

Năm ngày sau, 4 giờ 53 chiều thứ Sáu 12 tháng 11, Huy đã yên tĩnh và mãn nguyện ra đi vẫn bên sự chăm sóc thương yêu của vợ con và có thêm hai người bạn vô cùng thân thiết: một từ thuở thơ ấu, Bs Nguyễn Đức mới tới từ Florida, một từ thời quân ngũ TQLC, anh Trần Như Hùng đã đến kịp từ Úc Châu.

Bước trên con dốc chênh vênh của tử sinh, trong cuộc chiến không cân sức ấy, Cao Xuân Huy như một người bệnh mẫu mực, đã can trường hoàn tất cuộc chiến đấu cuối cùng của đời mình, với tất cả sức mạnh tinh thần và đã ra đi với nguyên vẹn phẩm giá / with dignity.

NGÔ THẾ VINH

California, 11/16/2010

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Nhạc Phạm Duy

Chiến thắng sau cùng nở dưới bình minh

Mời mẹ qua sông về Gio Linh, Cửa Việt!

Ươm mầm sống trên đồng hoang đất chết

Dựng ngày mai trên tàn phế thương đau

À ơ!

Ơi hò!

À ơi!

Ơi hò!!!

Hò ơ…Đưa Mẹ qua đường 9 xôn xao

Mừng hội lớn Khe Sanh Lao Bảo

Tan giặc quê mình thay sắc áo!

Ôi Trị Thiên thương mến của ta ơi!

Ôi Trị Thiên ngạo nghễ dưới mây trời…

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Pahn

Post by Sơn râu 17 Mar 2026

Năm mươi tuổi quê hương

Chưa một đêm mẹ ngủ,

Hai mươi năm chiến trường

Thân con chìm lửa đó.

Mẹ quì lặng trước nhang sầu nến rũ

Lời kinh đêm tỏa trắng mái sương buồn,

Con nằm phục sau xóm làng lửa hú

Đêm mê man bom đạn réo điên cưồng.

Dương mắt trũng nhìn không gian nhòa lệ,

Nghe chân khuya mìn bẫy đợi từng giây.

Tràng hạt mòn khẳng khiu bàn tay mẹ,

Bầm da con chuỗi đạn xiết vai gầy!

Vầng trán già nua thời gian vỡ nếp:

Chông gai dày cứa nát xác thân con.

Giọng khan đắng gốc tre khô lỗi nhịp,

Chai bàn tay cò súng xiết kinh hoàng.

Nụ đèn nhỏ nghiêng canh gầy bóng dậu,

Vàng hóa châu con chong mắt đợi thù.

Năm mươi tuổi chưa một ngày thơ ấu,      

Hai mươi năm con cằn cổi ưu tư …

Xin một đêm cho mẹ tròn giác ngú

Bài ca dao thơm sữa ngọt đêm rằm,

Xin một ngày quê hương tàn binh lửa

Theo trăng về con đuổi bóng tung tăng.

Một lần qua sông Đáy

baotreonline.com

December 2nd, 2022

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 17 Mar 2026

Kỳ 2

Ðúng là cuộc đời như vở ­­­kịch, diễn biến không ngừng, thực thực, hư hư. Chỉ có thời gian mới cho ta nhìn thấy ai là người đã sống thật tình với ta.

Cái đói khiến chúng ta phân biệt được sự khác biệt giữa con người và con vật. Cái khổ giúp chúng ta đánh giá được sức chịu đựng và nhân cách của mỗi con người.

Chúng tôi đã qua hơn bốn năm bị giam cầm.

Ở Trại Nam Hà A chúng tôi đã thấy những cái mặt nạ rớt rơi, để lộ nguyên hình những con người dối trá, lúc thịnh thời chúng đã đè đầu, cưỡi cổ chúng tôi, lúc sa cơ chúng chẳng khác gì những con dòi.

Ðã có nhiều trang anh hùng hào kiệt ngày xưa giờ đây biến thành cái thứ gì vô cùng đê tiện và hèn mạt. Chúng hại nhau, nói xấu nhau, thậm chí còn đánh nhau để giành giựt những chức vụ nhàn nhã hơn, no bụng hơn và thân cận với cai tù hơn.

Hình như trại nào cũng có ăng ten, thi đua, trật tự, cò mồi?

Ði tới đâu mấy tên này cũng bị người ta nhiếc móc, sỉ vả.

Vậy mà vẫn có người cắm đầu đi theo con đường tà, mới lạ?

Có ai dọa giết đâu mà một cựu trung tướng và một cựu chuẩn tướng cứ phải đóng vai tù cò mồi, lâu lâu lại từ Trại Hà Tây, dẫn xác tới trại này, đầu chải láng coóng, áo quần bảnh bao tiếp phái đoàn nọ, phái đoàn kia, miệng thì rối rít ca tụng những tên đang giam giữ mình là khoan hồng nhân đạo?

Ðôi khi tình cờ gặp lại vài cấp chỉ huy cũ, thấy họ đã đổi thay, tôi đành cúi mặt, rồi quay đi. Ðúng là đối diện gian nan mới rõ đá, rõ vàng.

Truyện cái radio ở Nam Hà…

Thế rồi bỗng dưng rộ lên cái tin người Mỹ đang điều đình với Việt-Cộng để các tù cựu binh Việt-Nam Cộng-Hòa được đi Hoa-Kỳ tỵ nạn.

Thế rồi tù xầm xì với nhau, rủ nhau gom tiền mua một chiếc radio để theo dõi tin tức tống xuất…

Thế rồi, một hôm tôi đã nhìn thấy cái radio xuất hiện ở Buồng 16…

Vào một buổi trưa, có anh nhà bếp đẩy xe cơm tới Buồng 16, mắt lấm lét nhìn quanh, rồi trao nhanh cho anh Nguyễn Ðình Tuy một cái túi vải.

Anh Tuy giấu vội món đồ vào sau lưng những cái bao bì, túi da, rương gỗ, thùng nhôm của tù ở sát tường.

Tối hôm đó anh Tuy giao chiếc túi vải cho cựu Thiếu tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Nghiêm.

Từ ấy, góc trái nơi cuối phòng, chỗ tôi và Trần Tiến Bích nằm, trở thành vị trí an toàn để nhận tin phát đi hàng đêm từ VOA và BBC.

Nhân viên thường trực nghe đài là cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Nghiêm, cựu Ðại úy Trần Tiến Bích, cựu Ðại úy Tạ Văn Quang và cựu Ðại úy Nguyễn Văn Ninh. Nghiêm và Ninh là một cặp. Bích và Quang là một cặp. Hai cặp cứ luân phiên nghe đài rồi tường thuật lại mỗi đêm.

Ngay sau khi VOA và BBC chào tạm biệt thính giả thì tin tức nóng hổi đã được truyền khắp buồng.

Sáng hôm sau, trước giờ tù xuất trại đi làm, thì tin tức đã bay đi khắp trại.

Tin tức được truyền tới tai tất cả mọi người khiến cho ai cũng hy vọng.

Ai cũng mong có ngày được đưa ra khỏi tường rào rồi được bay sang Mỹ.

Cái radio ở Buồng 16 đúng một tuần, rồi Tạ Văn Quang được trao nhiệm vụ mang nó đi buồng khác. Một hay hai tuần sau cái radio lại quay về Buồng 16.

Tôi không có phận sự nghe đài.

Nhưng những đêm có chiếc radio thì tôi phải làm nhiệm vụ một anh lính gác.

Tôi phải ngồi sát bên cửa sổ, mở mắt cho thật to để theo dõi xem có thằng Công An nào đi tuần tra xuất hiện không?

Tôi cẩn thận và chăm chỉ như vậy mà chút xíu nữa đã để xảy ra một tai nạn. Số là một đêm trăng tỏ, có hai tên Công An đi tuần bước xuống dốc để vào sân.

Chúng mặc quần áo màu vàng, ánh trăng màu vàng, tường vôi thì màu trắng, nên áo quần của chúng nó lẫn với màu trăng và màu tường, làm cho tôi không nhận ra.

Tới lúc tụi nó vào tới giữa sân, nghe tiếng “Sạt! Sạt! Sạt” của giày đạp trên sỏi cùng lúc với hai cái bóng người in trên sân, tôi mới hoảng hồn vỗ lưng Tạ Văn Quang,

“Tắt! Tắt! Chèo! Chèo!”

Ông nội Tạ Văn Quang đang nghe máy một cách mê say bị tôi vỗ lưng bất ngờ nên giật mình hỏi lớn,

– Cái gì thế?

Tôi vừa giơ tay đè cái volume tắt máy thì bên hiên đã có tiếng người gắt gỏng,

-Cái gì à? Các ông đi tuần chứ cái gì mà hỏi? Tại sao tụi mày không ngủ đi? Khuya rồi mà còn om sòm!

Buổi thâu thanh đêm đó bị chấm dứt trước giờ một cách bất ngờ.

Thật là hú hồn! Hú vía!

Mỗi ngày, khi mọi người ra sân tập họp để xuất trại thì cái radio đã được tôi nhét vào bao, giấu dưới đáy thùng vôi bột trong cầu tiêu.

Cái radio đã cũ, âm thanh phát ra lại nhỏ nhí, rất là khó nghe.

Lâu lâu cái máy lại giở trò, á khẩu, không chịu nói, thế là chúng tôi phải mở nó ra, nối dây, nối nhợ, trét nhựa thông, hàn lại.

Nhân việc này mà tôi biết người cung cấp nhựa thông để sửa máy là cựu Nghị sĩ có tên là Trần Tấn Toan.

Anh Toan là người chuyên sửa chữa đàn của đội văn nghệ.

Anh Toan thường xuyên được cán bộ cung cấp nhựa thông để trét các vết nứt trên những cây đàn. Chiếc radio thu sóng đều đều cũng nhờ có bàn tay góp sức của anh Trần Tấn Toan.

Mấy anh bạn ôm đài thu thanh cứ hết lời ca ngợi anh Toan, làm cho tôi cũng thấy có cảm tình với anh ấy quá.

Tới một hôm, tôi và Trần Tiến Bích đi qua phòng văn nghệ, Bích chỉ cho tôi biết mặt người có tên là Toan.

Hóa ra, anh Trần Tấn Toan chính là ca sĩ Trần Tiên Sinh!

Từ ấy, tôi bắt đầu yêu giọng hát của Trần Tấn Toan Tiên Sinh…

Chiếc radio tiếp tục đi từ buồng này qua buồng khác, đem hy vọng cho mọi người.

Cho tới một sáng ngày Thứ Hai đầu tuần, cả trại không phải đi làm, mà bị tập trung trong sân để xếp hàng, chờ kiểm tra tài sản cá nhân.

Chúng tôi phải đem tất cả tư trang vào trong buồng, xếp thành hai hàng trên bục xi măng, cũng là giường nằm.

Sau đó, khi cán bộ đi tới chỗ để tư trang của ai thì anh Nguyễn Ðình Tuy sẽ gọi người đó vào đứng bên túi xách, bao bị, va ly, nón mũ, áo khoác của mình để cán bộ lục soát cả thân mình và đồ đạc.

Ai được kiểm tra rồi thì tự do rời chỗ bước ra sân, thay thế bằng người khác.

Sau ba tiếng đồng hồ, ở Buồng 16, cán bộ Hồng cùng hai vệ binh đã làm việc rất cẩn thận và chăm chỉ nhưng kết cục họ vẫn không tìm được vật mà họ muốn tìm.

Tất cả trại viên Buồng 16 đều vô tội, không ai tàng trữ thứ mà cán bộ đang truy cứu.

Kiểm tra kết thúc, chúng tôi bị tập trung dưới sân, cán bộ Hồng đứng trên hiên nhà, có vẻ hài lòng,

– Mục đích cuộc khám xét hôm nay là tìm xem ai đã vi phạm nội quy, cất giữ cái đài. Tôi đã kiểm tra kỹ, các anh trong hai Ðội 18 và 19 đều là người tốt. Tôi có lời khen ngợi các anh. Các anh có thể tự do sinh hoạt trong sân. Ðợi khi nào tất cả các buồng kiểm tra xong, tôi sẽ mở khóa cổng cho các anh ra sân trại.

Tới xế trưa chúng tôi được mở khóa cổng để đi ra sân trại.

Sau khi dò hỏi, tôi thở ra khoan khoái vì biết rằng cái radio đã không bị khám phá.

Tuy nhiên chuyện vì sao cái radio không bị tịch thu cũng đã bị anh em truyền tai cho nhau. Chuyện bí mật như thế mà chỉ vài bữa sau đã bị “bật mí”

Ði tới phòng nào tôi cũng nghe anh em bàn tán và ca ngợi anh cải tạo viên Hồ Hoàng Khánh đã vô cùng can đảm, lanh trí, lanh tay, giúp cho cái radio không rơi vào tay kẻ địch.

Ngày khám xét vừa qua ở Buồng 15, thì anh cựu Trung sĩ Hồ Hoàng Khánh đứng sau anh cựu Thiếu tá Trần Tấn Hòa, trong cái bao tải đựng áo quần của anh Hòa để lại giữa đường đi có chiếc radio.

Ðang khám tư trang của Khánh thì ba tên Công An tạm ngừng để ra sân họp bàn chuyện gì đó.

Chỉ cần một giây đồng hồ, cái bao tải đã bị Khánh ném nằm gọn trong đống đồ đã kiểm tra phía trước. Ngay trưa hôm đó cái radio đã biệt tăm.

Nếu ai cũng coi cuộc kiểm tra vừa qua là chuyện bình thường ở trại, nếu không có những cái miệng ngồi lê đôi mách, thì chuyện cái radio chắc cũng đi vào lãng quên rồi.

Nhưng quân ta có những cái dở không thể bào chữa được.

Quân ta đã quá ơ hờ, không cảnh giác, không kín tiếng, không đề phòng.

Những gì mà ta đã biết, thì qua báo cáo của bọn ăng ten hay cò mồi, địch cũng biết.

Người đầu tiên bị gọi lên hỏi tội là anh cựu Ðại úy Cảnh Sát Nguyễn Hữu May.

Anh Nguyễn Hữu May là đội trưởng Ðội 17 ở Buồng 15, cũng là người đã móc nối với cán bộ Việt-Cộng để mua chiếc máy thu thanh.

Chỉ mấy ngày sau khi Ðội trưởng Nguyễn Hữu May bị cán bộ tra hỏi thì tên cán bộ trực trại cùng hai vệ binh có đeo AK47 dẫn theo một anh tù đã bị còng tay là cựu Thiếu tá Lâm Minh Ðức đi tới trước cổng dẫn vào Buồng 15 và 16 rồi lớn tiếng gọi,

-Anh Tần, anh Tuy đâu? Ra nhận lệnh gấp!

Trực Buồng 15 là cựu Trung tá Nguyễn Ngọc Tần, Trực Buồng 16 là cựu Thiếu tá Nguyễn Ðình Tuy vội chạy lại,

-Dạ có mặt!

-Hai anh mau gọi ba anh Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa và Nguyễn Tấn Á thu dọn hành trang cá nhân ra gặp tôi ngay!

Năm phút sau, với ba lô, nồi niêu, ca cóng trên vai, ba anh tù cựu Ðại úy Nguyễn Tấn Á của Buồng 16, cựu Thiếu tá Trần Công Hạnh và cựu Thiếu tá Trần Tấn Hòa của Buồng 15 đã bị còng tay đứng giữa sân bên cạnh anh Lâm Minh Ðức.

Tôi cảm thấy lo, vì Trần Tấn Hòa và Trần Công Hạnh đều là bạn cùng khóa 20 Võ Bị với tôi. Hai bạn tôi đều biết, hai ông tù đàn anh có đóng góp tiền bạc để mua cái radio và mua pin cho radio là cựu Ðại tá Biệt Ðộng Quân Cao Văn Ủy, và cựu Ðại tá Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Thành Trí.

Nếu không chịu nổi cực hình khảo đả, tụi nó mà khai ra, thì hai vị này chắc nguy to. Tôi tới gần, dúi vào ba lô của Trần Tấn Hòa bao thuốc lá Cửu Long rồi nhắn với hai đứa bạn:

– Nếu không chịu nổi thì cứ khai tao với thằng Bích, hay thằng Nghiêm, đừng hé răng cho tụi nó biết rằng mấy ông già đã liên quan tới vụ này!

Hòa gật đầu, rồi nhìn tôi, khẳng khái,

– Tới đây là hết! Tụi tao thề rằng thà chết sẽ không khai thêm! Mày nói với anh em đừng tố cáo nhau dây chuyền! Ðừng giết nhau! Ðừng bỏ nhau!

Nghe Hòa nói quả quyết như thế, tôi cũng thấy yên tâm.

Chúng tôi thấy anh Nguyễn Hữu May bị bắt để hỏi cung mới vài ngày trước. Vậy mà chỉ mấy ngày sau bốn người bạn của tôi đã bị còng tay đem đi thì anh em trong Buồng 16 có liên hệ tới cái radio vội vàng họp mặt lại và cam kết với nhau rằng, bất cứ ai bị bắt để điều tra sẽ không khai người khác, dù có chết.

Từ đó, bầu không khí nặng nề, và khó thở đã bao trùm khắp trại.

Chúng tôi cứ sống một cách phập phồng, lo lắng, không biết cái chuyện khai báo dây chuyền này sẽ dẫn tới đâu? Không biết khi nào sẽ tới phiên mình bị trói tay dẫn đi?

Ngay sau khi Nguyễn Tấn Á, Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa và Lâm Minh Ðức bị áp giải đi, tôi và Trần Tiến Bích cũng tự đặt mình trong tình trạng báo động.

Tôi viết sẵn một cái thư gửi cho vợ tôi, báo cho nàng biết rằng tôi đã bị chuyển trại, không rõ sẽ đi đâu, để nàng không ra thăm nữa.

Thư này nằm sẵn trong lưng của cựu Thiếu tá Lê Văn Chánh.

Ngày nào Chánh cũng phải xuất trại đi đổ phân. Ngày nào Chánh cũng có dịp gặp thân nhân của tù để gửi thư chui. Trong thời gian căng thẳng này, cứ rảnh rang tôi lại đem hình ảnh của bốn đứa con ra xem.

Lê Văn Chánh thấy cái ảnh thằng con trai út của tôi thì trầm trồ,

– Ồ thằng bé đẹp trai quá! Nó có cặp chân mày và đôi mắt giống bố y hệt! Nhìn qua là biết con trai Vương Mộng Long rồi, không lẫn vào đâu được!

Thằng con trai út của tôi sinh ra ba tháng sau ngày tôi bị bắt đi tù, không biết suốt đời tôi có dịp nhìn mặt con tôi hay không? Các bạn Nguyễn Tấn Á, Trần Công Hạnh, Trần Tấn Hòa đã bị đưa về Hà-Nội, kiên giam trong nhà tù Hỏa Lò.

Sau này gặp lại nhau, thằng bạn Trần Công Hạnh của tôi đã kể cho tôi nghe rằng, thời gian ở Hỏa Lò nó đã phải viết hằng ngàn tờ khai về những gì liên quan tới cái máy thu thanh ở Nam-Hà.

Nó than rằng nằm kiên giam trong Hỏa Lò thì đói lắm.

Vì quá đói, nó đã ăn hết 8 ngàn… con gián!

Trong nhà tù Hỏa Lò chỉ có một sinh vật muốn thân thiện với người, đó là loài gián. Gián thích những manh áo tả tơi nặng mùi, quần áo anh tù nào mà không nặng mùi tả tơi? Gián ở Hỏa Lò thì đông vô kể!

Thằng Hạnh là vua câu cá, nó biết gián là mồi nhử mà loài cá thích ăn. Nó nghĩ rằng cá ăn gián được thì người cũng ăn gián được! Thế là nó bắt gián mà ăn.

Nó ăn gián bằng cách này: Một tay nó giữ thân mình con gián, tay kia nó vặn đầu con gián rút ruột gián ra thật là nhẹ nhàng.

Nó vứt ruột, đầu, chân, cánh, cẳng của gián xuống sàn nhà để làm mồi nhử những con gián khác. Nó chỉ giữ lại những cái bụng của gián để ăn. Vậy mà nó cũng đã sống sót sau những ngày đói khát, kiên giam ở Hỏa Lò!