Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 3 Nov 2026

Sydney ngày … tháng … năm 1997

Ông bà L.M.D. thân,

Xin lỗi vì đáng lẽ phải trả lời thư ông bà sớm hơn. Chưa trả lời thư, tôi cũng nóng ruột lắm, vì thư của ông bà mang rất nhiều tình cảm. Tôi có cảm tưởng như tôi có một gia đình anh em thân quyến rất gần gũi ở Houston (Texas) hơn là gia đình một bạn đọc đơn thuần. Sự mong đợi thư trả lời của ông bà cùng với những lời tâm sự chân thành khiến tôi vô cùng cảm kích. Có lẽ cái “duyên” ấy bắt nguồn từ cụ Thanh Long, ông bạn tù già mà tôi hết lòng biết ơn và kính mến khiến cho chúng ta, dù mới biết nhau, đã như thân thiết từ một thuở nào.

Ông bà gần gũi với ông cụ bao nhiêu lâu trước tháng 4 đen 75, rồi đến khi đất nước đảo điên, trong trại cải tạo tôi lại được sống bên cụ nhiều năm nên chúng ta cùng được hưởng từ ông cụ nhiều ơn phước. Cái bóng mát của từ tâm nơi ông cụ đã bao dung và che chở chúng ta. Thật ra ông cụ yêu thương và hòa ái với tất cả mọi người. Nhưng con người thế tục là tôi lại có cảm tưởng (không biết đúng hay sai) rằng trong số bạn tù ngày ấy thì ông cụ yêu thương tôi hơn một chút. Có thể vì ông cụ ở gần tôi hơn nhiều người khác. Có thể vì tôi có nhu cầu chia sẻ nên những khi rảnh rỗi tôi thường kể cụ nghe đủ chuyện, từ cha mẹ tôi, vợ con tôi đến chuyện ông bà nhạc của tôi. Nhưng cái phần khiến ông cụ gần tôi nhất, chắc là vì tôi vốn xuất thân “dân dã”; Ông cụ cũng kể tôi nghe là lúc nhỏ ông cụ cắp tráp đi theo ông thầy (cụ Tú gì tôi không nhớ được tên) ngồi dạy học trên Chèm, Vẽ. Lúc ông cụ 18 tuổi thì bà thân của ông cụ lên tìm về nói rằng: “Lớn rồi về nhà lấy vợ”. Nghe vậy ông cụ hứa tháng sau, lớp học xong thì về nhưng “Tôi trốn đi ở chùa, và từ đó đi tu luôn ông ạ”.

Chắc ông bà cũng đọc qua cuốn “Quê nhà 40 năm trở lại” của em tôi P.L.T. Ông bà đã thấy anh em chúng tôi dân dã như thế nào. Em tôi kể trong chuyện như vậy là người thật việc thật cả đấy. Anh em tôi trước đây chỉ có một cái mộng nhỏ là làm sao đi học để đủ tư cách mở một cái trường trung học ở quê nhà, cho biết bao nhiêu học trò miền quê, nhiều người thông minh trác lạc lắm mà không có điều kiện ra Hà Nội học được, có chỗ mà học. Tôi may mắn có ông bác ruột vốn là một nhà doanh nghiệp ở Hà Nội thấy tôi lúc nhỏ bạo dạn, đem ra tỉnh học nên tôi nhân đó mới biết được dăm ba chữ. Thầy mẹ tôi thanh bạch không đủ sức nuôi tụi tôi đi học ở thành phố. Đến khi tôi lớn thì tôi lại đem em tôi đi học. Khi tàm tạm đủ sức về quê mở trường thì loạn lạc, chiến tranh, giặc giã. Điều không ngờ là tôi và cả em tôi dù không mong đợi đều phải động viên vô nhà binh hết. Thời thế nó khiến ra như thế. Rồi chia đôi đất nước 1954, rồi vô Nam … Dù ở Sài Gòn nhưng tấm lòng anh em chúng tôi vẫn nhớ nhà, nhớ quê khôn xiết. Ông bà già tôi mất sớm, mà khi ông bà còn sống, ông bà hi vọng ở tôi nhiều lắm. Bây giờ mình già rồi, Tết này tôi 70 tuổi ta đấy ông ạ, mà nghĩ lại cái mộng cỏn con ngày xưa cũng chưa làm được, rồi ngày tháng đẩy đưa “ta đã làm chi đời ta”. Cái việc mà em tôi làm được (mà tôi chưa làm được) là về được quê nhà, thắp một nén hương lên mộ ông bà thân sinh ra tôi mà nói “Thưa thầy mẹ, con đã về, chúng con đã về … ” Chúng tôi còn ở quê nhà ông anh cả tôi đã 74 tuổi, đã run rẩy già yếu lắm. Còn 2 cô em gái, khi chúng tôi vô Nam, mới dậy thì con gái bây giờ đều đã trở thành bà nội, bà ngoại cả rồi. Có lần ở trại Thanh Phong (Thanh Hóa) em gái tôi rồi cháu gọi tôi bằng chú (con ông anh), cháu gọi tôi bằng bác (con cô em) tới thăm. Hôm sau, khi về, cả “phái đoàn” tạt vào ruộng rau nơi ông cụ Thanh Long và tôi lao động, hỏi han và thăm thú nơi làm việc của chúng tôi. Có 1 bao thuốc có cán làm “thủ tục” rồi nên cán bộ cho “thoải mái” chừng 2 tiếng đồng hồ. Gia đình tôi làm vội một bữa cơm cùng ăn với nhau. Ít khi nào tôi vui như thế, và cũng ít khi thấy ông cụ rạng rỡ như thế. Ông cụ ăn ít, nói ít, xoa đầu 2 thằng cháu tôi (mặc dù chúng đứa thì 40, đứa thì 30) mà bảo “Ăn đi … ” Mấy đứa cháu tôi không ngờ có diễm phúc được một ông Phật xoa đầu.

Sau này (từ 1988 trở đi) khi đã được tha về lại miền Nam tôi khi nào nhớ thuốc lào lại tạt vào thăm ông cụ ở chùa Giác Ngạn. Nói vậy cho vui thôi vì ở trong trại cải tạo nhiều khi ông cụ và tôi phải hút chung 1 điếu thuốc lào (khan hiếm quá) mà bây giờ ở hậu liêu chùa bao giờ cũng có 2 thứ điếu, 1 điếu bát để trên bàn và 1 điếu cày để dưới gầm tủ. Ông cụ có thuốc lào Vĩnh Bảo ngon nhất nước. Thấy tôi đến là ông cụ không hút điếu bát mà hút điếu cày. Cụ và tôi lần lượt thay nhau rít “lóc cóc”. Một hành động nhỏ nhưng nó làm nhớ lại cả một thời kỳ tù đày, đói no, vất vả. Khi nào lâu lâu chưa thăm cụ được thì cụ lại nói “Lâu quá không thấy ông lên … ” Có bữa một người bạn đồng khóa 2 Thủ Đức với tôi chết bất thình lình, thấy “cáo phó” trên tivi mà không biết nhà ở đâu? Tôi đành lên chùa xin cụ tụng cho người bạn xấu số của tôi một biến kinh siêu thoát. Cụ hỏi tên, tuổi, ngày chết, nơi an táng. Tôi đâu có biết. Nhưng cụ cười mà nói “Thôi, bạn của ông thì cũng như bạn của tôi”. Thưa ông bà bạn, nghĩ lại tôi lấy làm vinh dự vì câu nói ấy. Ông cụ, vị Bồ Tát ấy trong một phút bao dung đã coi tôi là bạn. Ông cụ mất đi, chỉ mấy tháng sau khi chúng tôi ở Úc. Hàng năm cứ đến ngày 20 tháng 10 âm lịch là vợ chồng tôi lại làm một mâm cơm chay cúng cụ. Chúng tôi thành tâm kính nhớ cụ như một vị trưởng thượng trong nhà. Nên bây giờ, gặp được ông bà, những người rất gần gũi với ông cụ (các cháu nhỏ của ông bà gọi cụ là ông nội) chúng ta thân thiết với nhau, đó là sự đương nhiên. Sự đương nhiên của tấm lòng tưởng nhớ …

Trong thư có đoạn ông bạn lấy làm tiếc cho tôi là 10 năm đi tù và 6 năm “nín thở qua sông” là phí phạm … Xin cảm ơn tấm lòng ưu ái của ông bà. Nhưng tự thâm tâm, tôi cứ ân hận là vì tôi vụng tính, vụng suy để liên lụy đến vợ con … Còn bản thân tôi thì … không biết nói làm sao? Bảo rằng hay thì tất nhiên là không rồi, nhưng nó chưa hẳn là dở. Thưa ông bạn những năm tù đày quản thúc nó giúp tôi nhiều lắm. Cái thứ nhất là nó giúp mình hiểu rõ cuộc đời hơn. Không đi tù thì không làm sao biết hạt cơm nó quý giá đến vậy. Không đi tù thì cũng không nhận ra con người trong cuộc sống “động vật” đã thiên thần ra sao, mà ác quỷ thế nào? Xưa nay mình sách vở quá, xa vời quá. Đây là một cuộc đối mặt giữa lý thuyết và thực tế, khiến cho mình mở mắt được nhiều. Hay nói một cách khác những năm tháng tù đày, khốn khó đã làm cho mình biết thế nào là đói khổ, nhục nhã, dạy cho mình một bài học về thất bại nhưng đồng thời nó làm cho tâm hồn mình mở ra với mọi người hơn, hướng về cái khoan dung, từ ái hơn. Cá nhân tôi nhận ra được điều này cũng là nhờ ở gần bên ông cụ. Ông cụ không hề giảng giải, thuyết giáo … nhưng cách sống của ông cụ nó nói lên như vậy. Thấy ông cụ không sợ thì mình cũng dần dần bớt sợ. Thấy không lo thì mình cũng không lo, không thù oán (có khi còn thương lũ cán bộ cấp  dưới nữa) thì mình cũng không thù oán. Cái câu đầu lưỡi của ông cụ “đừng có lo, rồi đâu có đó …” hết sức tầm thường, hết sức dân dã nhưng đối với tôi có một giá trị nhân sinh rất cao. Mình mới hiểu lờ mờ thôi, đạt được cái mức không sợ, không lo, yêu người, yêu mình như ông cụ thì biết bao giờ mình với tới. 

Khi tôi sang đến bên Úc, thưa thực cùng ông bà bạn tôiđã nghĩ từ bây giờ trở đi, già rồi, đừng viết lách gì nữa (ở một khía cạnh nào đó viết là vướng vào khẩu nghiệp!) sống im lặng bên cạnh vợ, con và lũ cháu. Nhưng một số anh em bạn bè cứ thúc giục mãi. Cái lý do nêu ra của một người anh em của tôi ở Sydney này khiến tôi không thể từ chối được. Người anh em nói: “Nếu không viết thì sau này, bạn bè thưa thớt, con cháu nó cũng đi làm, đi học cả …anh sẽ buồn lắm. Anh không viết thì anh cũng ra tòa soạn chơi với tụi em”. Tôi nghe bùi tai ra tòa soạn. Mà đã đến tòa soạn thì làm sao mà không viết được. Tôi viết lại mà bồi hồi lo sợ. Sợ vướng vào khẩu nghiệp. Nhưng cái sợ hơn nữa là không biết mình già rồi, cùn rồi, cách ly với thế giới văn minh trên mười mấy năm không biết cái mình viết ra có còn ai đọc? Mình hết mất cái tươi mát, cái vững tin của thời trẻ tuổi. Cho nên tôi cầm lại bút mà lo lắng. Nhưng mấy năm gần đây, thấy anh em đồng nghiệp ở Úc, ở Mỹ, ở Pháp, ở Canada có lòng thương, yêu cầu gửi bài tôi mới tạm yên tâm. Rồi thỉnh thoảng nhận những bức thư như của ông bà hay của anh em bè bạn các nơi gửi về …thưa thực cùng ông bà tôi như được tiếp thêm một nguồn sinh lực mới. Xin chân thành cảm ơn những tấm lòng bè bạn.

Cái từ “phí phạm” mà các ông bà dành cho tôi, tôi không dám nhận đâu. Vì ngay từ lúc bất đắc dĩ vào làng báo, tôi cũng chỉ muốn làm cho xong việc; đi học về báo chí thì người ta giao việc là làm, cũng không có tham vọng là trở nên một “nhà” gì hết. Nhà văn hay nhà báo là điều tôi không dám hướng tới. Ở làng báo VN, trước đây báo hàng ngày chỉ viết “phim” (film du jour) mà ít viết column. Ở Mỹ, người ta thường hay viết column, nên tôi muốn đóng vai một anh “hề phụ” ở trang trong nên mới có mục “Tạp ghi”. Thưa ông bạn, tôi là người khai sinh ra cái mục “đầu Ngô mình Sở” này trên làng báo nước ta. Đi tù về sang Mỹ tôi thấy “Tạp ghi” đã trở thành một loại hình chuyên biệt trên báo chí. Gọi là “Tạp ghi” vì ở đó có thể kể đủ mọi thứ chuyện trên đời, đủ mọi loại (không riêng văn nghệ, mà khi cần kể chuyện Thể thao, hoặc là Kinh tế, Chính trị Xã hội) cũng giống như ở hàng tạp hóa người ta bán từ dưa, cà, mắm, muối cho đến sách, vở, báo chí, thuốc Tây … đủ mọi thứ hầm bà lằng sắng cấu …

Vì chỉ là một anh “hề phụ” ở trang trong nên bạn đọc không chê là “giễu dở”, tôi cũng lấy làm vui trong bụng lắm rồi …

(1997)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply