Bè bạn gần xa

Phan Lạc Phúc

Văn Nghệ xuất bản California USA 2000

Bìa Khánh Trường

Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)

Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)

Post by Sơn râu 25 Oct 2026

Sydney ngày … tháng … năm 1997

Thưa anh Xuân Vũ,

Hôm vừa rồi nhận tờ Ngày Nay từ Houston Texas (số ra ngày 15 tháng 4.97) đọc mấy dòng thăm hỏi chân tình của anh trên đầu bài viết “Nhớ Thời Xưa … Vọng Cổ và Đá Banh” tôi lấy làm “cảm khái” quá. Trước đây, không nhớ tôi đã đọc ở đâu một vài hoài niệm của anh khi anh nhớ lại hồi đang viết “Đường đi không đến” ở Tiền Tuyến xưa và anh cũng có nhắc đến tôi với khá nhiều hảo ý. Xin cảm ơn anh, người bạn văn của một thời cộng tác. Đọc những dòng chữ ấy, tôi thấy được một niềm an ủi, nhỏ bé thôi nhưng mà sâu lắng, nhất là năm nay tôi đã có tuổi rồi. Người già thường sống bằng quá khứ. Trong việc nhớ về quá khứ có phần nào đồng nghĩa với việc suy nghiệm lại đời mình. Tháng 4 đen 1975 đã đem đến cho những người lính già thua trận như tôi nhiều tủi nhục. Lao tù, cải tạo, quản chế, sỉ vả, kiểm điểm từ đời mình cho đến đời ông cha mình … chuyện đó tất nhiên thôi. Đối với người thua đó là phần số. Cái đáng lo là những người anh em cùng hàng ngũ với mình trong thời buổi “lên voi xuống chó” như thế, đối với mình thế nào? “Giậu đổ bìm leo” …là chuyện thường tình. Đây là dịp mình phải trân mình chịu đựng những “eo xèo nhân thế”. Cái đánh, nếu phải gọi như thế, từ “đối phương” phóng ra, mình chịu đựng được không đau bao nhiêu, nhưng giả thử trong thời gian đó mà anh em, bạn bè cũ của mình lại “thoại” mình một quả thì nó đau quá, thấm quá. Thưa anh Xuân Vũ, tôi cũng đã phải chịu đựng một đôi lời trách cứ, vài ba chuyện hiểu lầm. Làm báo, “khẩu nghiệp”, làm dâu trăm họ, làm sao tránh được anh? Nhưng mà cho đến hôm nay, tháng 4 đen 75 đã qua 22 năm rồi, thời gian đã tạm đủ để cho những vẩn bụi của thời cuộc kịp thời lắng xuống. Cái recul du temps cần thiết đã trải qua. Tôi đã phải chịu đựng nhiều phiền trách nhưng bù lại tôi cũng nhận được đôi điều khích lệ. Mà điều khích lệ mới nhất là những dòng thăm hỏi ân cần anh vừa ghi lên bài báo kể trên. Xin một lần nữa cảm ơn anh, cũng như cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, bạn tù … đã bao dung và nhân hậu, trong hồi ký, trong cuộc đời dành cho tôi nhiều điều đáng nhớ.

Tôi nhớ đến tác phẩm “Đường đi không đến” của anh. Không biết năm đó là năm 1970 hay 71, tôi nhận được bản thảo mấy chương đầu của “Đường đi không đến”. Đọc xong mặc dù không biết anh … tôi mời anh cộng tác với Tiền Tuyến và truyện của anh đăng ngay feuilleton trên báo. Truyện gây được sự chú ý đặc biệt của bạn đọc, người khen cũng nhiều và cũng có vài ý kiến “này nọ”. Tôi nhớ là đã có ngồi bàn thảo với anh về những “ý kiến ấy” và truyện vẫn tiếp tục đăng như thường. Cái quan trọng đối với tôi là văn tài, là cái tâm của người viết. “Ba cái lẻ tẻ” không cần thiết bao nhiêu.

Khi anh đem in “Đường đi không đến” thành tác phẩm, không cần phải gửi đi dự thi (đó là điều lệ) nó vẫn được ban giám khảo giải thưởng Văn chương toàn quốc (ngày đó gọi như vậy) xét đến. Những người giám khảo ở bộ môn văn là “friend” của Tiền Tuyến. Ông Mai Thảo viết feuilleton cùng trang báo với anh. Ông Võ Phiến thường viết Tạp Ghi giúp tôi những khi tôi xuất ngoại. Ông Bình Nguyên Lộc cũng là chỗ “quen lớn” của Tiền Tuyến. Tôi và Mai Thảo (ngoài bạn viết còn là bạn chơi) gặp nhau hằng ngày. Một bữa Mai Thảo nói với tôi “Cuốn ‘Đường đi không đến’ tangent với một cuốn khác. Đang phân vân?” Tôi nhớ là đã trao đổi với bạn đại ý như sau: “Ít hay nhiều, Tiền Tuyến cũng lancer Xuân Vũ; trên nguyên tắc Xuân Vũ thuộc tòa soạn Tiền Tuyến. Vì Xuân Vũ là “người” của Tiền Tuyến nên tôi không dám có ý kiến gì”.

Kết quả như cả nước đã biết “Đường đi không đến” đoạt giải nhất bộ môn văn … Đó là kết quả “tự thân” của nó. Không vì gửi gấm, không vì thời cuộc, cũng không vì chiêu hồi. Khi “Đường đi không đến” được phong tặng, tôi cũng được chia một phần vinh dự âm thầm, vì trước giải thưởng, bản thân tôi đã “chấm” nó. Nhân tiện hôm nay “bù khú” với anh sau mấy chục năm xa cách tôi mới mạo muội kể ra chuyện này.

Đang đà chuyện xưa tích cũ, tôi lại nhớ đến một câu  chuyện cũng nhiều tính cách “khích lệ”. Tôi đi tù cải tạo 10 năm thì được tha về. Khi mới về phải tạm trú ở đường Trần Hưng Đạo, nhà một người anh em (có đi làm ở bệnh viện) chưa được về đoàn tụ với vợ, con. (Mẹ cháu bị đi kinh tế mới, trốn về Hóc Môn ở với ông bà ngoại. Không có hộ khẩu nên không “bảo lãnh” tôi được). Về mới được vài tuần lễ thì tôi được một anh em trong tòa soạn cũ tới thăm. Đây không phải là “bạn viết” mà là ông trưởng toán sắp chữ. Anh em quen miệng gọi là “thầy T.” Ông này là xếp Typo – ngày ấy làm báo còn nhà quê phải sắp chữ bằng tay. Ông thầy T. này đến vài ba lượt mới gặp tôi. Vừa gặp là ông thầy T. ôm lấy tôi mà khóc. “Em nghe tin ông thầy về vội đến thăm, hôm nay mới gặp, nhưng sao ông thầy ốm quá.” Thưa anh, đi cải tạo về, tôi rất vui vì trước đây tôi không lấy làm vừa ý về cái bụng hơi khệ nệ của mình. Đi cải tạo về bụng lép kẹp nhưng người anh em cũ thấy thế lại “thương” mình quá. Người anh em lại cố kéo tôi đi vào tiệm ăn. Bia bọt đủ thứ. Rượu vào rồi ngà ngà tôi mới hỏi “Chú mày bây giờ làm gì mà bày vẽ thế”. Vừa có một chút ngượng ngùng xen lẫn một nỗi tự hào thầm kín, ông xếp Typo của tôi trả lời “Em làm báo Sài Gòn Giải Phóng”. Tôi dù có chút rượu bia mà cũng thấy giật mình. Thầy T. nói tiếp “Nói ông thầy bỏ qua, ông già em đi tập kết ra Bắc. Ở xã hội miền Nam những năm đó khó sống. Không có ông thầy chứa chấp em ở Tiền Tuyến không biết em sống ra sao?” Ngày ấy tôi thâu nhận thầy T. vào làm trưởng toán sắp chữ, thấy làm việc được nên khi đến tuổi quân dịch, tôi đích thân can thiệp, gửi đi Quang Trung học tập vài tháng rồi lại lấy về làm tiếp tục trong Tiền Tuyến.

Thầy T. kể tiếp: “Ông già của em từ ngoài Bắc về, thấy em có nghề nên đưa em vào làm báo Sài Gòn Giải Phóng. Em đang được đề bạt lên làm trưởng phòng”. Nghe đến đây tôi hơi bàng hoàng tê tái. Nhưng thấy thầy T. vui vẻ, chuyện trò thân mật không giấu giếm, tôi mới hỏi nhỏ “Ngày ấy nếu chú mày cho nổ một phát mìn hay vài quả lựu đạn là cả tòa soạn đi đong”. Người anh em cũ vội vàng nói “Ông thầy đừng nói thế, tội em. Em biết ơn ông thầy không hết, sao dám làm thế. Mà cũng phải để dành một chỗ an toàn mà sống chớ”. Nghe đến đây tôi bỗng cảm  thấy hết cái ngu ngơ của mình. Cả tin quá, ngây thơ quá, tình cảm quá. Thua là phải.

Người anh em cũ trong tòa soạn đang trong cơn hồ hởi phấn khởi nên mới hỏi tôi “Ông thầy về tính làm gì ở đâu chưa?” Tôi lắc đầu ngao ngán “Đến chỗ tạm trú cũng chưa yên, biết làm gì bây giờ?” Thầy T. thấy thế liền ghé tai tôi hỏi nhỏ “Hay là ông thầy viết lại Tạp Ghi cho tụi em đi?”

Đến đây thì câu chuyện nó hơi phức tạp rồi. Chuyện tình cảm giữa tôi và người anh em cũ trong tòa soạn, dù thời thế đổi thay nó vẫn không phai nhạt, nhưng vì người anh em mà lại đi viết cho Sài Gòn Giải Phóng thì nó lại là chuyện khác. Mà người anh em cũ (đang được đề bạt làm trưởng phòng) nói chuyện này ra là ý kiến riêng hay là ý kiến của “tổ chức”? Thấy vấn đề tế nhị nên tôi buông lửng “Mới được về còn mệt mỏi quá nên hãy cứ từ từ … ”

Nhưng không bao giờ tôi thỏa mãn yêu cầu của người anh em cũ, dù dưới bất cứ áp lực nào, áp lực tình cảm hay áp lực chính trị. Hội Trí Thức Yêu Nước cũng cho gọi tôi lên, mời cộng tác và hứa lo “hộ khẩu” cho tôi. Tôi nghĩ nếu phát cho tôi một cuốn sách Anh, Pháp gì đó bảo tôi dịch thì cũng tạm được đi. Hay là đi dạy mấy giờ tiếng Anh thực dụng hàng tuần … Nhưng Hội Trí Thức Yêu Nước cũng lại yêu cầu tôi viết … Kẹt quá, biết viết cái gì bây giờ đây. Chuyện này chắc anh rõ hơn tôi. Viết đâu có phải là “vẽ ra chữ cho nó đầy trang giấy”, nó phải là tiếng nói của tâm hồn mình. Tiếng nói của tâm hồn mình thì làm sao họ chấp nhận được. Mà mình có dám nói ra không? Nếu muốn nói ra cũng không ai cho mình nói. Có khi “bút sa gà chết”.

Tôi không viết cho hội “trí thức yêu nước” nên không bao giờ tôi có hộ khẩu. Mà vợ, con tôi cũng không bao giờ có hộ khẩu. Tôi sau đó còn bị “đì” không được tạm trú ở Sài Gòn nữa phải theo vợ con đi kinh tế mới. Mà vợ con tôi đâu còn ở đó nữa, trốn về Hóc Môn rồi. Dù tôi không viết cho Sài Gòn Giải Phóng nhưng người anh em cũ thầy T. vẫn cố chạy cho tôi khỏi đi kinh tế mới và sau đó tôi và gia đình được tạm trú ở Hóc Môn (tạm trú thôi, không được vô hộ khẩu). Xét như vậy thì người anh em cũ của tôi vẫn còn tình nghĩa. Bạn ở ngoài Bắc lâu rồi bạn biết. Trong thời buổi “đánh tư sản” như vậy, “liên hệ” với ngụy quân ngụy quyền là kẹt cứng, có khi còn bị quy vào hàng “lập trường, quan điểm” là khốn nạn.

Ông bạn cộng tác lâu ngày với Tiền Tuyến, nhưng chỉ đưa bài mà không sinh hoạt hàng ngày ở tòa soạn. Ông xếp Typo, thầy T., sau này vẫn nói “Em làm nhiều tờ báo rồi, bây giờ ở báo Cách mạng nữa nhưng văn nghệ không đâu bằng Tiền Tuyến”. Có lẽ người bạn này nói đúng. Văn nghệ quá nên mới thua chỏng gọng. Nhưng bù lại, tòa soạn, chúng tôi sống với nhau rất vui. Có một người anh em thuộc dòng “văn chương miệt vườn” làm ở Tiền Tuyến rất thân với anh. Đó là Hải Bằng bây giờ ở Mỹ. Bữa nào gặp lại, anh cứ hỏi là Hải Bằng biết hết. Chủ nhiệm Tiền Tuyến, nhà thơ Hà Thượng Nhân mà chúng tôi thường âu yếm gọi là Hà Chưởng môn, còn nghệ sĩ hơn là nghệ sĩ. Hà Chưởng môn và tôi thường nói với nhau rằng: “Văn nghệ, báo chí đâu có đem cấp bậc ra mà đì anh em được. Nếu mình o ép quá anh em trả lời rằng “Tôi trung sĩ chỉ viết được vậy”, không lẽ mình phạt trọng cấm anh em được à” cho nên sống chan hòa, văn nghệ, văn gừng cũng là phải đạo thôi.

Bây giờ đây, thưa anh Xuân Vũ, tôi còn ngồi viết được cho anh cũng là nhờ một người anh em tòa soạn cũ. Người anh em này vượt biên sang Úc, ở Sydney, nhớ nghề ra một tờ báo. Lại còn gồng mình làm báo hằng ngày. Trời thương, báo bán được nên mới xây một tòa soạn mới. Mấy đứa con tôi sau này cũng vượt biên sang Úc ở Sydney. Chúng vẫn thường tới thăm chú Nhất Giang. Một bữa thằng con tôi tới thăm tòa soạn mới. Chú Nhất Giang đưa thằng nhỏ đi xem các cơ sở trong tòa báo, tới một căn phòng có sách vở, có bàn, có ghế, nhưng không người ngồi, Nhất Giang bảo con tôi “Chú làm sẵn căn buồng này đợi bố cháu sang … “

Thưa anh tôi không đi HO sang Mỹ mà ODP sang Úc vì tôi có mấy đứa con ở đây mà cũng vì có người anh em đã làm sẵn căn phòng đợi tôi. Là một anh lính già thua trận, mà bao nhiêu năm sau, anh em cũ còn nghĩ đến mình như vậy thì cũng là điều đáng nhớ phải không anh? Tôi lúc đó cũng định thôi không viết lách nữa. Nhưng đây là tờ báo của người anh em mình đã đợi chờ mình như vậy, không viết coi không được. Thế là “hay dở nhờ trời” lại viết. Nhân lời thăm hỏi chân tình của anh, tôi mới liên tưởng đến vài chuyện ở đời … Được, thua, lên voi, xuống chó, bạc tiền danh vọng … tất cả rồi sẽ qua đi. Trong tâm hồn chúng ta, già rồi mới thấy, chỉ còn lại một vài điều đáng nhớ …

(1997)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply