Vietmessenger.com
Văn Quang
Post by Sơn râu 25 Sep 2026




Quả thật không còn gì thú vị hơn mỗi khi gặp lại những đồng đội từ chiến trường xưa. Giữa sự sống và cái chết chỉ là một khoảng cách mong manh. Chính điều đó đã làm nên tình thương yêu vô bờ bến của những người đồng đội. Ngay trong tình thương yêu gia đình cũng chưa chắc đã có những giây phút như thế.
Hàng ngày tôi vẫn nhận được khá nhiều thư điện tử mà chúng ta quen gọi là “meo”, trong đó thường một nửa là những đồng đội xưa hoặc mới quen.
Chúng tôi không hề nghĩ đến cấp bậc, nhưng nhiều bạn vẫn rất giữ lễ khi viết cho người có cấp bậc cao hơn hoặc nhiều tuổi hơn, lại trịnh trọng viết “thưa niên trưởng”.
Điều đó có nghĩa là anh em vẫn hiểu nhau, vẫn giữ “hệ thống quân giai” như khi còn cùng nhau ở trong Quân Đội VNCH, làm cho gần nhau hơn và cuộc sống còn “có anh có em” ấm lòng hơn.
Qua những cái meo, tôi biết các bạn ở nước ngoài thường kiếm dịp gặp nhau chỉ để ngồi cà phê “đấu láo”, nhất là những dịp có kỷ niệm nào đặc biệt như ngày Quân Lực, có một số anh em tổ chức buổi lễ kỷ niệm rất long trọng hay những cuộc họp khóa từ Võ Bị Đà Lạt đến Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, đủ mọi khóa, đủ mọi hình thức. Ngoài ra nhiều vị còn tổ chức những địa điểm lý tưởng để vinh danh chiến sĩ VNCH.
Tôi ở Sài Gòn quá thèm những sinh hoạt như thế và ghen tị với các bạn ở nước ngoài hạnh phúc quá.
Ở Việt Nam chúng tôi chỉ biết âm thầm nghĩ về những ngày tháng cũ. Anh em đồng đội đôi khi gặp nhau lại nhỏ to chuyện xưa chuyện nay.
Những Ai Còn Ở Lại Việt Nam
Nhiều bạn nghĩ ở Việt Nam chỉ có tôi là sĩ quan ở lại, thực ra không phải thế.
Khá nhiều sĩ quan đủ mọi thành phần vì lý do này, lý do khác không đi định cư ở nước ngoài. Xin hãy hỏi ngay mấy sĩ quan Không Quân, ở đây có hẳn một club chừng hơn 10 anh em còn ở lại.
Đôi khi tôi cũng đã gặp những ông bạn này.
Còn một số lớn khác là những anh em hạ sĩ quan và những anh không đủ tiêu chuẩn đi HO, đặc biệt là anh em Thương Phế Binh VNCH đang sống rất cùng khổ ở Việt Nam.
Tôi từng có một loạt bài viết về cuộc sống của những anh em này. Sau đó, tôi bị công an đến nhà tịch thu hết máy móc, CD, USB và tài liệu.
Bị truy vấn về việc giúp đỡ Thương Phế Binh VNCH, tôi đã trả lời đó là bổn phận của tôi, vì anh em Thương Phế Binh VNCH không hề được hưởng bất cứ sự giúp đỡ nào của nhà nước hiện nay trong khi Thương Phế Binh miền Bắc được chính phủ cho hưởng nhiều quyền lợi xã hội. Họ yêu cầu tôi ngưng làm việc này ngay vì chính phủ Việt Nam sẽ lo.
Họ có lo hay không các bạn biết rồi. Thêm nữa họ còn vận động một số phần tử đánh phá công việc của tôi bằng nhiều cách kể cả xuyên tạc vu khống.
Tôi đành phải ngưng việc.
Tuy nhiên tôi vẫn quen biết với khoảng 200 Thương Phế Binh ở đây và vào dịp Tết, năm nào cũng có chừng 7-8 anh em thuộc nhiều binh chủng khác nhau đến nhà tôi chúc Tết. Tình nghĩa của chúng tôi vẫn mặn nồng.
Tôi biết rõ ở Mỹ đã và đang có nhiều hội đoàn, nhiều tờ báo, nhiều vị ân nhân — trong đó có Nam Lộc — vẫn thường xuyên kêu gọi giúp đỡ anh em Thương Phế Binh VNCH. Anh em không bao giờ bị bỏ rơi, mọi người Việt Nam vẫn nhớ ơn các anh. Như thế, dù còn kéo dài cảnh nghèo khó nhưng anh em cũng rất ấm lòng.
Gặp mặt đồng đội là điều thú vị nhất trong cuộc sống của chúng ta hiện nay khi hầu hết đều đã cao tuổi.
40 năm trôi qua, tuổi đời chồng chất. Nhiều anh em không còn đi lại bình thường được, đành “ôm hận” nằm nhà nhớ những buổi gặp mặt năm trước. Tôi cũng ở hoàn cảnh đó. Chỉ còn gặp đồng đội qua internet và một số sách vở hoặc qua các trang web.
Hôm nay tôi muốn kể với các bạn đồng đội chuyện về gặp lại những đồng đội từ chiến trường xưa qua một cuốn sách. Điều đặc biệt là người phóng viên quân đội kể lại các mẩu chuyện vô cùng lý thú từ chiến trường xưa, các trận đánh ác liệt mà anh từng tham dự cùng nhiều chuyện khác chẳng hạn về hành trình vượt ngục đi tìm tự do. Tôi chỉ nói đến những gì tôi biết và trực tiếp làm việc cùng anh em phóng viên tiền tuyến xưa.
Cuốn sách vừa viết xong, anh gửi cho tôi qua e-mail, có lẽ sẽ được Tủ Sách Tiếng Quê Hương cho ra mắt vào tháng 9 hoặc tháng 10-2015, có cả bản dịch tiếng Anh.
Cuốn sách quá hấp dẫn nên tôi đọc một đoạn rồi bị lôi cuốn, thức luôn đọc cả đêm hết hơn 600 trang.
Tôi đã góp bài trong phần mở đầu cuốn sách. Mời bạn cùng đọc bài này.
Gặp Lại Người Bạn Phóng Viên Từ Chiến Trường Xưa
Từ Sài Gòn, tôi nhận được bản thảo tập hồi ký này của Dương Phục và Vũ Thanh Thủy từ Mỹ gửi về.
Thật tình tôi vui mừng như được gặp lại hai người bạn đồng nghiệp cùng là phóng viên chiến trường từ những ngày xa xưa. Với 621 trang cả hai cùng viết từ năm 1979 cho tới nay, tính ra đã là gần 40 năm, quả là một tác phẩm lớn cả về số lượng và chất lượng. Tác giả còn sưu tập được cả những bức hình chiến trường và nhân vật tưởng như không bao giờ còn nữa.
Bài này chỉ là những cảm nghĩ của tôi về cặp phóng viên này. Suốt một đời dành cho sự nghiệp phóng viên.
Có lẽ nhắc đến hai cái tên Dương Phục và Vũ Thanh Thủy, các cấp chỉ huy từ cấp quân đoàn đến tiểu đoàn của Quân Lực VNCH trước năm 1975 rất nhiều vị còn nhớ. Tôi nói không quá lời, đó là một cặp “trai tài gái sắc” của hàng ngũ phóng viên chiến trường thời chiến tranh Việt Nam đã qua. Họ chẳng kém gì các phóng viên quốc tế từng làm phóng sự chiến trường ở Việt Nam.
Bạn đọc từng chương mục trong hồi ký này, sẽ chứng minh điều đó.
Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là những gì tôi biết về Dương Phục khi còn làm việc chung với tôi, còn Vũ Thanh Thủy cũng chẳng xa lạ gì khi bóng hồng này vẫn ra vào thấp thoáng tại Đài Phát Thanh Quân Đội.
Tôi biết Dương Phục từ trước khi về làm Quản đốc Đài Quân Đội, bởi ngay từ khi còn là Trưởng Phòng Báo Chí Quân Đội, tôi vẫn kiêm nhiệm chức vụ phụ tá trưởng Khối Kỹ Thuật. Khối Kỹ Thuật gồm 5 phòng trực thuộc, đó là Phòng Phát Thanh Quân Đội (sau đổi là Đài Quân Đội) và các phòng Báo Chí, Ấn Họa, Điện Ảnh, Truyền Hình, Văn Nghệ. Nhiệm vụ của tôi là phụ tá chuyên môn với công việc thường xuyên là thành lập các toán phóng viên đi công tác tại khắp các chiến trường vào thời chiến tranh nóng bỏng đó — 1960-1975.
Các toán này thường có phóng viên của Đài Quân Đội, báo chí, điện ảnh, truyền hình. Trong toán, anh nào có cấp bậc lớn nhất thì làm trưởng toán.
Phóng viên Đài Quân Đội thường là sĩ quan nên được cử làm trưởng toán. Dương Phục thường lãnh nhiệm vụ này và tôi phải lo phương tiện chuyển vận cho phóng viên đến được các nơi cần thiết, rồi lo tiền công tác phí cho cả toán. Bởi hồi đó quân đội chỉ trả công tác phí giới hạn 10 ngày trong 1 tháng cho dù anh đi 30 ngày cũng thế thôi. Tôi phải lo ngân khoản phụ giúp cho anh em. Phóng viên nào chẳng “rách”. Dương Phục còn rách hơn vì đi công tác triền miên, không “đói” sao được.
Khi về nhận trách nhiệm ở Đài Quân Đội, tôi hiểu rõ vì sao Dương Phục đi triền miên như vậy. Vì hồi đó chiến trường Việt Nam trở nên sôi động, nhiều trận đánh ác liệt hơn hẳn những năm trước. Một phần vì cái tính Dương Phục là thích đi, không đợi phân công mà chính anh xin đi.
Tôi cũng chẳng có lựa chọn nào hơn. Vả lại cá tính của mấy anh phóng viên là như thế. Và tôi nghĩ “có tài thì có tật” nên đôi khi Dương Phục cũng bất cần đời, vắng mặt không lý do, tôi coi như không biết. Làm sếp mấy anh phóng viên thật khó. Phải đối xử với họ bằng tình cảm anh em đồng nghiệp thật tình chứ không phải theo khẩu hiệu “huynh đệ chi binh” là xong.
Thời gian mới về làm Trưởng Phòng Báo Chí, tôi vẫn phải đi làm phóng sự vì hồi đó Phòng Báo Chí chỉ có chừng 5, 7 người. Không đi thì ai đi cho? Nhưng so với phóng viên chiến trường thời chiến tranh sau này thì hồi tôi đi làm phóng sự cứ như đi “thưởng nguyệt xem hoa”. Bởi hầu hết là tham dự các lễ lạc, ngày kỷ niệm tại Phủ Đầu Rồng, tại Bộ Tổng Tham Mưu, tại các Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Sư Đoàn… Lâu lâu mới có vài trận đánh nhỏ, khi đến nơi, cuộc chiến đã xong, chỉ còn nghe thuyết trình và ghi chép về làm phóng sự cho đài phát thanh và viết bài cho báo Chiến Sĩ Cộng Hòa.
Sau này, chúng tôi mới được phép đào tạo một loạt phóng viên tiền tuyến tại Đài Quân Đội. Các phóng viên tiền tuyến này sau khi mãn khóa được đưa về các sư đoàn làm tin tức và phóng sự gửi về cho Đài Quân Đội.
Dương Phục lúc đó đã nghiễm nhiên là một phóng viên đàn anh. Anh đi tơi bời, dường như mặt trận lớn nào cũng có gót chân Dương Phục. Tôi để Dương Phục tự do lựa chọn theo ý mình. Bởi các phóng sự chiến trường của Dương Phục được thính giả trong và ngoài quân đội đón nghe rất nhiều. Phóng sự rất sống, rất thật, đem đến cho thính giả cảm tưởng như chính mình tham dự trong đó.
Tôi nhớ rất rõ khi nhận được bản phóng sự thu thanh của Dương Phục bay vào An Lộc, bị bắn hạ giữa đường. Anh tường thuật ngay từ khi máy bay trực thăng chở anh cùng Nguyễn Mạnh Tiến và Nguyễn Thế Tuất Hải bị đạn bắn xối xả, máy bay chao đảo muốn rớt và muốn nổ tung. Tiếng anh hét trong máy thu thanh cùng với tiếng súng, tiếng máy bay, tiếng người la lối có vẻ hỗn loạn trong tình thế đối diện với tử thần. Anh gửi lời chào từ biệt đến thính giả nghe đài.
Nhưng cuối cùng máy bay đáp xuống giữa quốc lộ 13 và được một trực thăng bạn đến giải cứu. Ngay sau đó, anh và toán phóng viên lại lên đường vào An Lộc.
Đài Quân Đội và Đài Sài Gòn cùng phát phóng sự đó. Có lẽ đây là phóng sự làm tôi thú vị và hãnh diện nhất trong cuộc đời làm việc với các phóng viên tiền tuyến. Kể sao hết những kỷ niệm xưa.
Ngày 30-4-1975, ngày đau buồn nhất của cả VNCH hay nói cho đúng là ngày đau buồn cho cả nước, nhất là với các đồng đội của tôi, những người lính VNCH.
Giờ phút cuối cùng, tôi và một số anh em còn ở lại Đài Quân Đội trong đó có Nhật Bằng, Nguyễn Triệu Nam, Dương Phục… ngơ ngác đau buồn nhìn chiếc xe tăng Cộng Sản đi qua cầu Thị Nghè, hung hăng bò qua cổng Cục Tâm Lý Chiến, trong đó có đài phát thanh thân yêu của chúng tôi. Lúc đó mọi người mới rưng rưng nước mắt chia tay, mỗi người một ngả.
Cho đến khi bị đưa vào các trại gọi là “trại cải tạo”, tôi ở Sơn La, Vĩnh Phú một thời gian dài, không biết Dương Phục ở trại nào. Một hôm bỗng nhận được tin Dương Phục đã “trốn trại”, sau đó là Mai Bá Trác cũng vượt ngục tù về Sài Gòn. Rồi không biết bằng cách nào, cả hai người bạn của tôi đều đi thoát.
Anh em chúng tôi còn ở trong tù râm ran bàn tán, thích thú truyền tai nhau về sự can đảm của hai anh em này. Từ đó tôi không còn nhận được tin tức gì của Dương Phục và Vũ Thanh Thủy nữa.
Hơn 12 năm sau, ở trại tù ra, tôi mới được tin của Dương Phục. Tôi biết anh và Vũ Thanh Thủy làm chủ một hệ thống truyền thông ở Houston rất thành công.
Rồi Dương Phục lại cố lần mò ra địa chỉ của tôi ở Sài Gòn. Anh đề nghị tôi viết hàng tuần cho đài phát thanh Houston của anh. Tôi viết cho Radio Saigon Houston hàng tuần và hẹn nhân viên từ đài Houston gọi điện thoại về nhà tôi thu thanh cho đến khi tôi bị công an quận 3 đến tịch thu hết máy móc, cắt hết đường internet, thu hết điện thoại cùng mọi tài liệu.
Hôm tôi bị thẩm vấn, anh phó công an quận kết tôi đủ thứ tội và đưa ra một lá thư của một kẻ nằm vùng nào đó ở Houston viết về cho Công An thành phố, kết tội tôi nói trên đài phát thanh Houston làm mất uy tín của chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tôi phải ngưng viết một thời gian dài, không còn dịp liên lạc với Dương Phục nữa, song tôi vẫn biết Radio Saigon Houston rất thành công. Tôi nghĩ “trời cho của nào được của đó” nhưng chính tài năng, nghị lực và lòng yêu nghề của hai người bạn phóng viên trẻ này cũng là yếu tố quyết định”.
Đến đây mời bạn đọc bước vào thế giới của những phóng viên chiến trường mà tôi vừa gặp lại qua một cuốn hồi ký. Một thế giới đầy lôi cuốn từ khi bước chân vào các chiến trường cũng như chuyến vượt biên tìm tự do đầy máu và nước mắt mà tôi không tưởng tượng ra nổi.
Sự Hình Thành Nhật Ký Của Dương Phục Và Vũ Thanh Thủy
Đến đây, tôi xin mạn phép trích vài đoạn ngắn trong cuốn sách đó:

Dương Phục và Thanh Thủy tại Đài Saigon Houston, Texas, Hoa Kỳ, 2015.
“Hồi Ký này được chúng tôi — Dương Phục và Vũ Thanh Thủy — bắt đầu viết những dòng đầu tiên chiều ngày 29-11-1979, trong Vịnh Thái Lan, trên con tàu của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Gia đình chúng tôi thuộc số 157 thuyền nhân Việt Nam chạy trốn Cộng Sản tìm tự do vừa được ông Cao Ủy LHQ Theodore Schwitzer III cứu từ đảo Ko Kra và đưa về trại tỵ nạn Songkhla. Những hồi tưởng này được ghi bằng mọi cách: nhật ký, những mẩu giấy ghi vội ký ức mỗi lần nhớ được, và nhiều nhất là qua máy ghi âm tự thuật và các mẩu phỏng vấn của giới truyền thông rải rác đây đó từ năm 1980 cho tới nay. Bây giờ tất cả được gom lại để thành cuốn hồi ký quý độc giả đang cầm trên tay.
Là nhà báo, chúng tôi không viết văn, chỉ tường thuật trung thực mọi dữ kiện mà chúng tôi đã sống, đã nghe, đã thấy, tại chiến trường, trong tù ngục, và trên biển Đông. Và nhận ra đôi khi sự trung thực còn vượt quá sự giả tưởng của con người.
Nhưng đã dựa trên sự thật, chúng tôi quyết định phơi bày tất cả, những thảm cảnh kinh hoàng cũng như những may rủi lạ thường đến độ khó tin, những cái yếu đuối của con người cũng như những việc tốt lành bất chợt nảy ra từ những con người thật xấu, để có được công bằng cho cái tốt cũng như cái xấu của con người. Và cũng để nói lên sự kỳ diệu của đời sống và lòng người làm nảy sinh hy vọng khi mà may rủi và tốt xấu lẫn lộn khó ngờ chỉ trong nháy mắt.
Một vài nội dung hồi ký này đã đăng rải rác trên các báo Việt-Mỹ trong ba thập niên qua. Những đoạn khác được kể trong các bài nói chuyện trên khắp nước Mỹ trong chiến dịch vận động “Vớt Người Biển Đông” trong thập niên 80. Qua đó, chúng tôi đã thực hiện được phần nào sứ mạng tự hứa chia xẻ thảm trạng thuyền nhân Việt Nam với dư luận thế giới, nhưng vẫn thấy chưa đủ. Hồi Ký này, sau cùng, xin dành vinh danh biết bao chiến sĩ anh hùng đã bỏ mình trong trận chiến Việt Nam, tại các nhà tù Cộng Sản, và trên đường trốn chạy Cộng Sản để tìm tự do và quyền làm người.
Xin cảm ơn quý độc giả đã cho chúng tôi cơ hội đến với quý vị qua những trang sách này.
Và trên tất cả, xin cảm tạ Thiên Chúa, đã cho chúng tôi niềm tin làm sức mạnh đối diện mọi sợ hãi, tình yêu để can đảm khắc phục nghịch cảnh, và hy vọng để bình an ghi nhận mọi ơn huệ của cuộc đời!”
Vũ Thanh Thủy và Dương Phục mỗi người viết từng đoạn trong cuốn sách. Tôi chỉ có thể trích vài đoạn tiêu biểu. Trước hết là cái nhìn của cô nữ phóng viên lăn lộn trên khắp các chiến trường ghi lại cảm nghĩ của cô về tình đồng đội của những người lính trẻ:
Thủy viết:
“Đến tháng 4 năm 1975, chúng tôi đã lấy nhau được hơn một năm. Phục cố chia thì giờ giữa công việc và gia đình. Là một trung úy Cục Tâm Lý Chiến và Trưởng Ban Tin Tức Đài Phát Thanh Quân Đội, công việc bề bộn với những tin tức thời sự thay đổi dồn dập mỗi ngày cùng với lệnh cấm trại liên miên đã khiến Phục không sao về được nhà. Tôi vẫn là phóng viên của đài Tiếng Nói Tự Do — Voice of Freedom, VOF — và tuy lâu lâu vẫn đến đài làm một phóng sự, bây giờ đang nghỉ sanh để chuẩn bị chờ đứa con đầu lòng”.
Sau đó Thanh Thủy vẫn tiếp tục có mặt ở khắp các đơn vị ngoài mặt trận. Cô ngạc nhiên về thứ tình đồng đội của họ, cô viết:
“Tôi vô cùng ngưỡng mộ các chiến binh tôi gặp tại mặt trận. Họ hoàn toàn không còn thái độ sỗ sàng và khinh mạn như khi họ về phép ở thành phố. Tại tuyến đầu, họ rất tình cảm và tử tế. Tôi thật ngạc nhiên nhận ra sự nghịch lý là giữa các cuộc giao tranh dữ dội nơi mặt trận, thế mà các người lính chiến lại có thể ân cần, quan tâm tới nhau đến thế, luôn sẵn sàng hy sinh chính mạng sống mình cho đồng đội không chút ngại ngần.
Tôi được nghe bao nhiêu chuyện tương tự, chuyện những người lính anh hùng dành đi hàng đầu, hay trở lại tiếp cứu đồng đội, hoặc chậm chân để chờ người bạn lạc lại đằng sau, để rồi bị mất mạng vì đạn pháo quân địch. Tôi bắt đầu nhìn thấy mẫu mực của chiến trường, qua những hành động phi thường của những con người bình thường.
Không chiến binh nào quyết định hy sinh mạng sống mình vì muốn làm anh hùng. Họ hành động cách bình thản vì đó là điều họ được huấn luyện để hành xử ngoài mặt trận, và đó là hành động phải làm của một chiến binh có lòng tự trọng. Nhưng dưới mắt nhìn người khác, họ trở thành anh hùng.
Tôi nhận ra, chiến đấu ngoài trận tuyến không phải là vì sống chết, mà vì lòng tự trọng. Đã đặt chân ra tới tuyến đầu mặt trận, người chiến binh không còn quan tâm tới những ngôn từ to lớn, vĩ đại… như lòng ái quốc, hay chuyện bảo vệ tổ quốc hoặc đồng bào nữa. Họ chỉ quan tâm tới chuyện bảo vệ nhau và sống chết theo lòng trung tín với nhau tới độ mà những người thường dân không thể nào hiểu nổi.
Tôi thấy ngay cả tình vợ chồng, tình cha con, cũng không khốc liệt và cấp thời như lòng chung thủy của các chiến binh với nhau ngoài trận địa. Đó là bổn phận hàng đầu của họ. Chiến đấu ngoài mặt trận đã trở thành giữ gìn công lý và bảo vệ tình người”.
Đó là những lời chân thật của một nữ phóng viên Việt Nam. Và sau đây là đoạn bút ký Dương Phục viết về chuyến bay vào An Lộc bị “gãy cánh” giữa đường.
Phục viết:
“Rơi Trong Vùng Địch.
Một lần, ngày 29-4-72, nhóm phóng viên ba người, gồm Nguyễn Mạnh Tiến, Đài Saigon, Tuất Hải, Đài VOF và tôi, Đài Phát Thanh Quân đội, đã lên được trực thăng bay vào tới được vùng đồn điền Xa Cam, gần đáp xuống thì bị đạn phòng không của địch bắn như mưa và pháo kích hàng loạt vào vùng bãi đáp nên phi cơ lại phải quay về.
Vừa bay trên đường về, phi công phải bay sát đầu ngọn cây cao su để tránh hỏa tiễn tầm nhiệt SA7, tránh cao xạ phòng không, nhưng bay thấp như thế thì lại không tránh được đại liên và ngay cả súng AK.
Vừa bay được một đoạn ngắn, hàng loạt đạn phòng không dữ dội của Cộng quân bắn trúng chiếc trực thăng có nhóm báo chí. Viên phi công, trung úy Võ Văn Cơ của phi đoàn 223, bị
trúng thương bên vai phải, mũi phi cơ trúng đạn khói xịt lên mù mịt, nhưng vẫn cố gắng điều khiển trực thăng bay thêm 5, 6 dặm nữa và hết sức khó khăn hạ khẩn cấp được xuống một bãi đất trống giữa khu rừng gần đồn điền Xa Cam.
Tiến, Tuất Hải và tôi vừa nhảy thục mạng ra khỏi trực thăng đã nhìn thấy đám Cộng quân từ khu rừng chung quanh vừa bắn AK dồn dập vừa túa ra chạy ào về khu đất chúng tôi đáp xuống.
Một cách vô thức theo bản năng phóng viên, tôi vừa chạy vừa nói ào ào vào máy ghi âm, tường thuật lại mọi diễn tiến của tai nạn kinh hoàng và nguy cơ sắp rơi vào tay địch. Giữa giây phút nguy nan tưởng như tận số đó, một trực thăng của biệt đội gunship nhào đến, dùng đại liên bắn xối xả vào đám địch quân trong khi một trực thăng khác liều mạng đáp xuống. Chiếc trực thăng này đã xả hết rocket và mini gun nên nhẹ nhàng hơn, xà ngay được xuống sau lưng máy bay bị nạn của trung úy Cơ, vẫy tay lia lịa gọi chúng tôi chạy sang và cứu được 4 nhân viên phi hành và nhóm 3 người báo chí chúng tôi. Đúng lúc Tuất Hải, Tiến và tôi nhảy lên được phi cơ, thì một loạt pháo khác lại từ trên ào xuống, nổ vang cả vùng quanh khu vực tiếp cứu. Xạ thủ từ trên các trực thăng vừa bay thêm tới đã phải đánh nhiều vòng trên trời bắn trả ào ào vào khu rừng rậm chung quanh bãi đáp. Trong cảnh khói lửa mù trời, tôi nín thở hồi hộp trong tiếng cánh quạt phần phật của đoàn trực thăng vội vã rời xa vùng nguy hiểm.
Ngày hôm sau, đoạn ghi âm tôi tường thuật cảnh lâm nạn trên đường về từ An Lộc được đưa về phát nguyên văn trên Đài Phát Thanh Quân Đội. Tiếng bom đạn rền trời gây hồi hộp cho thính giả tại hậu phương, lần đầu tiên cảm thấy như chính họ đang có mặt tại trận tiền, cùng nhóm báo chí trải qua giây phút kinh hoàng căng thẳng trong vòng vây địch. Đoạn băng ghi âm của tôi đột ngột chấm dứt sau câu chào vĩnh biệt, khi tôi tắt máy vì tưởng sắp rơi vào tay Cộng quân lúc thấy chúng chạy đến gần. Trong lúc thính giả còn ngơ ngẩn hồi hộp không biết chúng tôi sống chết ra sao, thì tôi trở lại làn sóng tiếp tục tường thuật cảnh được quân bạn cứu giúp trong giây phút thập tử nhất sinh.
Đoạn phát thanh giây phút sinh tử này không ngờ đã góp phần giúp tôi chinh phục được trái tim của Thủy, khi đó ở Sài Gòn đã kinh hoàng bật khóc khi nghe tôi chào vĩnh biệt. Trong phút chốc, Thủy cảm nhận sự mong manh của đời người và quyết định rũ bỏ sự dè dặt e ngại của lý trí trước cá tính quá khác biệt của hai người chúng tôi.
Đối với tôi, biến cố này đã ảnh hưởng sâu đậm tới con người tôi trong vai trò phóng viên. Tôi không tin sự sống còn của tôi là do may mắn mà xác tín rằng đó là một sự che chở đặc biệt từ Ơn Trên để tôi có thể thi hành sứ mạng đem được tin xác thực từ mặt trận về cho người hậu phương. Từ đó, tôi coi việc truyền thông quan trọng hơn tất cả mọi chuyện cá nhân, và quyết tâm tìm đường trở lại An Lộc”.
Tôi giới thiệu cuốn sách này hoàn toàn theo cảm xúc của tôi sau khi đọc xong. Cứ như vừa sống lại với một giấc mơ hùng tráng có thật. Tôi nghĩ đó là một cuốn sách mà tất cả những người lính VNCH nên đọc để nhớ về và cũng để góp lại một kỷ niệm không thể nào quên trong đời quân ngũ đã qua của mình.
(Sài Gòn, tháng 8-2015)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.