Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 23 Sep 2026

Hai tuần nay (8-2014) người Sài Gòn xôn xao về một số công trình xưa cũ sẽ bị phá bỏ lấy đất làm tàu điện ngầm. Rầm rộ nhất là khu thương xá Tax bị “bao vây” bởi các hàng rào chắn chạy dài và tất cả cửa hàng trong thương xá phải dời đi vào tháng 10 để làm một siêu thị 40 tầng văn minh hơn. Hầu như cả thành phố xôn xao, người kéo đến mua hàng giảm giá đông như hội. Và cũng có người đến chỉ để nhìn lại chút kỷ niệm với một công trình kiến trúc xây dựng từ xa xưa khiến bất cứ ai dù chỉ sống ở thành phố này ít năm cũng cảm thấy tiếc nuối.

Lứa tuổi già đã qua hơn nửa thế kỷ với Sài Gòn bỗng nhận ra khu thương xá Tax không chỉ gắn liền với thành phố mà còn gắn liền với cả gia đình mình. Hầu như gia đình nào cũng từng đưa nhau vào đây mua sắm vài thứ đồ dùng lặt vặt hoặc dạo quanh, ăn một ly kem, uống một ly cà phê. Nỗi buồn vẩn vơ thật nhưng lại rất sâu sắc như vừa bị lấy đi một phần đời mình. Bởi cái mất đi từng có kỷ niệm với người thân quen không bao giờ tìm lại được nữa. Người mất kẻ còn, người ra đi, kẻ ở lại đã từng cùng nhau đến đấy.

Còn một số công trình gắn liền với Sài Gòn không hẳn chỉ là biểu tượng mà còn là da thịt của một thành phố từng được vinh danh là “hòn ngọc viễn đông” cũng sắp mãi mãi biến mất để nhường chỗ cho công trình ga tàu điện ngầm đầu tiên của tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Dẫu biết vạn vật đổi dời không có gì vĩnh cửu nhưng cái gì quá thân quen mất đi cũng thấy lòng trống rỗng. Có khi chỉ một cửa hàng như quán cơm bình dân Bà Cả Đọi, tiệm cắt tóc Đàm, nước mía Viễn Đông… mất tích vĩnh viễn để thay vào đó là các tòa nhà chọc trời, các cửa hàng choáng lộn, vẫn thấy lạnh lùng xa lạ. Người Việt ở trong nước xót xa, ở nước ngoài tiếc nuối, đó là điểm những người thân quen gặp nhau ở nỗi nhớ nhung tiếc nuối này. Như Thế Hải từ Hawaii mượn hai câu thơ bất hủ của Bà Huyện Thanh Quan, chia xẻ cùng bè bạn khắp nơi khi nhớ về những cái sắp mất đi của Sài Gòn: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.

Với người ở lại như tôi, đã hơn nửa thế kỷ gắn bó với hòn ngọc viễn đông, hai tuần nay càng thấy lòng hoài cổ dâng trào. Nhớ, nhớ từng chi tiết từ bước chân đầu tiên đặt lên đất Sài Thành, nhớ từng ngõ ngách, từng nhân vật thuộc về quá khứ cho đến ngày nay, mặc cho Sài Gòn nhiều tang thương dâu biển, từ cái tên đến các con đường đã thay đổi, từ con người đến xã hội và cả cách sống đã khác xưa nhiều. Chẳng trách khi xã hội đổi thay, người ta chép miệng than: “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hạ xuống thằng, thằng

nhảy lên ông, con đĩ đánh bồng nhảy lên bà lớn”. Nhưng với tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn từ tâm thức, từ tận cùng tim óc. Thế là đủ và tôi lại phải sống cũng như những người Sài Gòn khác, bất chấp gian khổ. Có chăng chỉ là nỗi ngẩn ngơ khi các dấu tích xưa dần mất đi chẳng bao giờ tìm lại được. Với nỗi hoài niệm sâu sắc ấy nhiều buổi chiều đứng trong hành lang hẹp chung cư, nhìn lên khung trời cao, hướng về ánh đèn đêm mơ hồ của thành phố, tôi cố tưởng tượng vẫn là khung trời xưa, nhớ về những năm tháng tôi sống ở Sài Gòn. Không chỉ cảnh quan mà còn những nhân vật là bạn, là người từng gặp, từng quen. Người ở đâu bây giờ? Có biết Sài Gòn vẫn đang có rất nhiều người đang nhớ, đang mong các “bạn ta” không?

Bước Chân Đầu Tiên Trên Đất Sài Gòn

60 năm rồi đấy, kể từ ngày tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi nhớ như in ngày đầu tiên ấy. Cuối tháng 1-1954, sau hai tháng ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức, ngày Thứ Bảy chúng tôi được đi phép ở Sài Gòn. Mơ ước của tôi từ ngày còn nhỏ ở trường trung học là ước gì có ngày tới Sài Gòn. Mơ ước ấy rộn ràng hơn khi khóa học sĩ quan khai giảng. Thủ Đức tuy chỉ cách Sài Gòn hơn 10 cây số, nhưng hai tháng sau chúng tôi mới được đi phép. Mấy anh “Bắc kỳ” nôn nao hỏi thăm các bạn “Nam Kỳ” về Sài Gòn. Từ Chợ Lớn có những gì đến xe taxi ra sao, đi thế nào, bởi miền Bắc chưa hề có taxi… Các bạn Nam Kỳ tha hồ tán dóc. Đầu óc tôi cứ lơ mơ về chuyến đi phép.

Rồi ngày đi phép cũng đến. Một nửa số sinh viên sĩ quan đi phép mặc bộ tenue sortie ủi thẳng tắp, áo bốn túi, sơ-mi trắng tinh, thắt cravate đen đàng hoàng, giầy đánh bóng lộn có thể soi gương được. Vô phúc quên cái gì là bị phạt ở lại ngay. Nhưng chưa có anh nào bị phạt. Đoàn xe GMC của trường chở chúng tôi chạy vèo vèo vào Sài Gòn. Cửa ngõ thành phố hồi đó chưa có gì lộng lẫy mà chúng tôi đều mở to mắt. Đoàn xe “diễu” qua vài phố rồi dừng lại đường Hai Bà Trưng hồi đó là Paul Blanchy, sau Nhà Hát Lớn mà sau này là trụ sở Hạ Nghị Viện VNCH.

Cú nhảy từ sàn xe GMC xuống con đường Hai Bà Trưng là bước chân đầu tiên của tôi trên đất Sài Thành hoa lệ. Hồ Trung Hậu là dân miền Nam chính hiệu, hứa hướng dẫn tôi đi chơi… cho khỏi “ngố”. Chúng tôi đi bộ vào con đường nhỏ bên hông Nhà Hát Lớn và khách sạn Continental, vòng ra trước bùng binh Catinat – Lê Lợi hồi đó là Boulevard Bonard và Nhà Hát Lớn. Nhìn mấy bức tượng bà đầm trước Nhà Hát Lớn cứ tưởng… mình ở bên Tây. Lúc đó đã có nhà hàng Givral, nhưng tôi vẫn “kính nhi viễn chi” cái nhà hàng văn minh giữa thành phố lớn rộng đó, chưa dám bước chân vào. Ông Hậu vẫy một taxi chở chúng tôi về nhà ông. Taxi hồi đó toàn loại deux cheveaux nhỏ hẹp sơn 2 màu xanh vàng. Khi lên xe, đồng hồ số chỉ 0, đi quãng nào số tiền nhảy quãng đó.

Ngày đầu tiên, tôi ngu ngơ làm quen không khí Sài Gòn qua anh em ông Hậu. Hôm sau bạn tôi đi với bồ nên tôi khởi cuộc solo giữa Sài Gòn xa lạ này. Sinh viên Sĩ Quan không được đi xe buýt hay xích lô. Nhưng lệnh là lệnh, chúng tôi học các đàn anh khóa trước, cởi áo bốn túi, bỏ cravate, cất cái nón đi là tha hồ vung vẩy.

Trở Thành Người Sài Gòn Từ Bao Giờ?

Nơi tôi đến đầu tiên là Chợ Lớn. Một cuốc taxi từ trung tâm thành phố đến cuối Chợ Lớn mất 12 đồng. Tôi tìm đến khách sạn rẻ tiền của mấy thằng bạn Bắc Kỳ ở đường Tản Đà, một phố nhỏ, ba bốn thằng thuê chung 1 phòng chẳng có “ông mã tà” nào hỏi đến. Chợ Lớn hồi đó tấp nập hơn Sài Gòn. Phố Đồng Khánh chi chít khách sạn, hàng ăn, tiệm tạp hóa lu bù tưởng như mua gì cũng có. Chúng tôi cũng biết chui vào Kim Chung, Đại Thế Giới xem đánh bạc. Hôm đó có Nguyễn Trọng Bảo cùng Đại Đội nhưng lớn hơn chúng tôi vài tuổi và là một cặp với Nguyễn Năng Tế lúc đó mới là người yêu của nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh. Anh thử đánh “tài xỉu”, may sao, một lúc sau anh được một khoản tiền. Thế là chúng tôi xúi anh “ăn non”, không chơi, rủ nhau đi ăn.

Từ hôm đó chúng tôi “khám phá” Sài Gòn, rồi theo năm tháng thành người Sài Gòn lúc nào không biết. Càng nhiều thăng trầm chúng tôi càng gắn bó với Sài Gòn hơn.

Lần Thứ Hai Trở Lại Sài Gòn

Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là buổi chiều tháng 9-1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới thoát khỏi cánh cửa sắt Chí Hòa. Ngay cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, chứng tỏ sự “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những kẻ may mắn không chết trong ngục tù. Lần thứ hai tôi đặt chân lên Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ.

Thấy sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè, lẩn vào những thân nhân được vận động ra đón tù cùng đám người tò mò nhìn “cảnh lạ”. Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này.

Đến đường Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn mình với vẻ xa lạ, xót thương? Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, rủ tôi ghé đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà tôi cùng bạn bè vẫn đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu anh về đoàn tụ với gia đình chứ tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn nên níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì lúc đó tôi chưa biết sẽ sống ra sao giữa thành phố này. Từ tiệm phở bước ra, chúng tôi đi bên nhau dưới ánh đèn chập choạng của con đường Duy Tân mà Phạm Duy gọi là “con đường Đại Học”, “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt”. Đến ngã tư Phan Đình Phùng, tôi chia tay bạn tù Trần Dạ Từ, đi lang thang trong cô đơn, trong bóng tối của chính đời mình. Bây giờ tôi mới hiểu hết nghĩa cô đơn là thế nào. Tôi bắt đầu cuộc sống lưu lạc trên chính quê hương mình. Tôi tìm về nhà ông anh rể đã nuôi tôi những năm tháng trong tù. Từ đây, tôi thành người Sài Gòn khác. Rồi từ những cùng khổ, khó khăn, tôi tự đứng lên. Tôi thấm thía rằng lúc này không ai cứu mình cả, không vượt qua nó, nó sẽ đè chết. Vì thế đến bây giờ sống giữa Sài Gòn, tôi phải là người Sài Gòn và mãi mãi sẽ là người Sài Gòn. Làm được cái gì hay chết bẹp dí là do mình thôi.

Đi Tìm Hoài Niệm

Nói về những ngày tháng đó chẳng biết bao giờ mới đủ. Hôm nay, 25-8-2014, hơn 60 năm ở Sài Gòn, mọi người đang xôn xao về các đổi thay lớn, tôi không thể ngồi yên. Tôi muốn chính mắt nhìn thấy các thay đổi ấy. Dù đã qua 2 lần nằm bệnh viện, với tuổi trên tám mươi, đã mất sức nhiều, hầu như tôi suốt ngày ngồi nhà từ ba tháng nay. Tôi điện thoại cho Thanh Sài Gòn rủ anh đi thăm “cảnh cũ người xưa”. Chúng tôi vào phở Hòa, tiệm phở nổi tiếng trước 1975. Đường Pasteur đan kín xe cộ, tiệm phở Hòa có vẻ tấp nập hơn xưa. Bạn khó thể tìm lại chút gì đó của “muôn năm cũ”. Tô phở bị “Mỹ hóa” vì cái tô to ình và miếng thịt cũng to tướng, có lẽ ông chủ đã học theo phong cách tiệm phở Việt Nam ở Mỹ. Nó “to khỏe” chứ không còn vẻ “thanh cảnh” như xưa nữa.

Sau đó, nơi đầu tiên chúng tôi đến là Thương Xá Tax. Vừa đến đầu 2 con đường Pasteur – Lê Lợi đã thấy một hàng rào bằng tôn chạy dài. Đường Lê Lợi chỉ còn một lối đi nhỏ dẫn đến thương xá Tax và công viên Lam Sơn. Chiếc xe gắn máy len lỏi đến cuối đường Lê Lợi sát mép đường Tự Do. Chúng tôi đứng trước cửa Thương Xá Tax đang bày ra cảnh vô cùng vắng vẻ, chỉ có tôi và anh bảo vệ nhìn nhau. Anh thừa biết tôi đến đây để làm gì và anh cũng không còn cái nhiệm vụ cao quý là mở cửa đón khách, để mặc tôi tự do đẩy cánh cửa kính nặng chịch đi vào khu thương mại. Đèn đuốc vẫn sáng choang, chiếc thang máy cuốn vẫn lặng lẽ chạy không một bóng người. Nó mang một vẻ gì như lặng lẽ theo sau một đám tang. Trong quầy hàng đầu tiên, điều khiến tôi chú ý là hàng chữ nổi bật: Hàng đại hạ giá — Big Sale 70% đỏ loét chạy dài theo quầy hàng và hàng chữ “TẠM BIỆT THƯƠNG XÁ TAX”.

Tôi gợi chuyện cô chủ hàng xinh xắn: “Cô phải đề là TỪ BIỆT THƯƠNG XÁ TAX mới đúng chứ, sao lại là TẠM BIỆT?” Cô hàng trẻ đẹp thở dài ngao ngán: “Người ta hứa khi nào căn nhà 40 tầng làm xong sẽ cho chúng tôi ưu tiên thuê cửa hàng đấy”. Nhưng cô lắc đầu ngay: “Hứa là hứa, chứ khi đó không cổ cánh, đút lót đừng hòng bén mảng tới, ông có tin không?”. Bị hỏi ngược, tôi lúng túng nói lảng: “Đợi tới lúc đó mới biết được”.

Cô bán hàng quay đi, dường như cô chẳng tin gì cả. Các quầy hàng khác vẫn mở cửa nhưng mỗi gian hàng chỉ còn lại vài người, chắc toàn là các ông bà chủ. Tôi nghĩ họ đang làm việc khác chứ không bán hàng. Có ai mua đâu mà bán. Tôi đến hỏi thăm vài ông bà chủ cửa hàng, không thấy bất cứ nụ cười nào trên các khuôn mặt buồn hiu ấy. Có lẽ vài tuần nay, người đi tìm đồ hạ giá đã “khuân” đi nhiều rồi, lúc này các thứ hàng còn lại không giá trị nữa. Tuy nhiên cửa hàng nào cũng bề bộn hàng ế. Nhìn lên tầng lầu cũng vậy, nó còn vắng vẻ thê thảm hơn. Tôi bước lên mấy bậc bục gỗ, vào một tiệm bán máy hình còn nguyên si bởi ông chủ quyết không giảm giá. Tôi hỏi lý do, ông có vẻ liều: “Thà ế chứ không giảm”. Tôi lại tò mò hỏi tiếp:

– Vậy là ông có cửa hàng ở nơi khác nữa?

Ông lắc đầu: “Không”. Tôi hỏi: “Vậy ông sẽ làm gì?” Câu trả lời của ông cụt lủn: “Về quê làm ruộng”.

Tôi yên lặng trước sự bất bình đó. Nhìn hàng loạt máy hình, máy quay phim đủ loại còn nằm rất thứ tự trong tủ kính sáng bóng. Tôi lại hỏi:

– Chắc họ phải bù cho ông những thiệt hại này chứ?

– Chưa có xu nào cả. Thời hạn bắt di dời nhanh quá, trở tay không kịp.

Tôi nghĩ ông này chỉ là người thuê lại cửa hàng của một ông nhà giàu nào đó mà thôi. Ông có vẻ bất cần đời.

Tôi chào từ giã, ông chỉ gật đầu nhẹ. Nhìn sang hàng loạt cửa hàng vàng bạc đá quý gần như vẫn còn nguyên vẹn và không một bóng khách vãng lai. Các bà, các cô tha hồ nhìn nhau ăn cơm hộp. Tôi có cảm tưởng một thành phố chết – vì chiến tranh gần kề hay vì một nạn dịch nào đó.

Vậy mà tôi vẫn đi vơ vẩn trong cái không gian như nghĩa trang sống đó. Tôi đi tìm hình bóng một thời dĩ vãng, nào vợ con, nào bè bạn, nào những người xa lạ trong nhịp thở rộn ràng thân thiện của tất cả Sài Gòn xưa ở chốn này. Chẳng bao giờ trở lại. Tôi muốn gọi tên tất cả trong hoài niệm tận cùng sâu lắng.

Ngậm Ngùi Nhìn Công Viên Lam Sơn Trống Rỗng

Rồi tôi cũng phải bước ra. Trở về với thực tại, nhưng vẫn gặp cái vắng lặng của vỉa hè chạy dài theo đại lộ Nguyễn Huệ. Dường như chỉ có Thanh Sài Gòn ngồi ngất ngư với “người xưa trong ảnh” của một ô quảng cáo vuông vắn phía ngoài thương xá.

Chúng tôi đi qua khu công viên Lam Sơn, lúc này đã phá sạch, chỉ còn vài cây cổ thụ cao lêu nghêu bên cạnh “công trường” đang làm. Hàng cây đứng chờ giờ hành quyết như các “đồng nghiệp” đã bị đốn hạ vài hôm trước.

Các bác thợ quần áo xanh, dây đeo chằng chịt đã và đang dọn dẹp cho công trường trống rỗng. Tôi đứng trước Nhà Hát Lớn Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” ngậm ngùi nhớ về pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng ngày nào và nhớ tới những đồng đội TQLC đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa.

Hẳn nhiều người còn nhớ ngay cạnh đó là góc bùng binh Nguyễn Huệ – Lê Lợi, nơi tổ chức đường hoa vào dịp Tết. Gia đình nào chẳng một lần kéo nhau đi giữa đường hoa với tâm trạng rộn ràng của ngày hội hoa xuân. Từ nay sẽ mất hẳn, chẳng bao giờ thấy bóng dáng mùa xuân ở đây nữa.

Cuối cùng tôi trở lại nơi mà lần đầu tiên tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi đã nhảy xuống xe GMC ở đây, đúng nơi này, phía sau Nhà Hát Lớn bây giờ là trụ sở của tổng công ty cấp nước thành phố. Mặt đường nhựa chẳng có gì thay đổi, vẫn nhẵn mòn như những con đường nhựa khác, nhưng với tôi nó là một dấu son đáng nhớ nhất trong đời. Vậy mà đã đúng 60 năm rồi sao?

Mai này Sài Gòn sẽ còn mất đi nhiều thứ nữa – như vòng xoay trước cửa Chợ Bến Thành, một biểu tượng mà bất cứ ai đã đến Sài Gòn dù chỉ một lần cũng không thể nào quên. Đó là những thứ sẽ mất đi để làm tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Ngoài tuyến metro số 1, còn xây dựng thêm 6 tuyến metro khác.

Chúng ta sẽ mất nhiều di tích xưa cũ.

Sài Gòn sẽ đổi khác rất nhiều, để lại trong người Sài Gòn dù ở đâu cũng cảm thấy một nỗi bùi ngùi, nhớ tiếc.

60 năm Sài Gòn, hồn ở đâu bây giờ?

(Sài Gòn, 29-8-2014)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment