Sài Gòn – Người muôn năm cũ

vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 21 Sep 2026

Cuối tháng 8-2013, dư luận Việt Nam sôi nổi về đề tài cờ bạc, do chính phủ vừa có tờ trình cho nghị định cá cược đua ngựa, đua chó và bóng đá quốc tế cùng nghị định kinh doanh casino (nghị định về cá cược và về casino). Nhiều băn khoăn được đặt ra như mỗi ngày cá cược không quá 1 triệu đồng, mỗi lần chơi ít nhất 10.000 đồng; tại sao không cho cá cược bóng đá trong nước; vào casino có cần xác minh nhân thân, và nhân đó bàn luôn việc nên hay không nên lập các khu mại dâm hợp pháp…

Dư luận có vẻ đồng tình “mở cửa” cho các hoạt động này. Nhưng từ lúc ra nghị định đến sự hướng dẫn thi hành rất phức tạp và có thể còn thay đổi, có nhiều chi tiết đáng quan tâm. Tôi chỉ ghi vài ký ức về cờ bạc ngày xưa cùng đôi chút kỷ niệm về các bạn có mặt tại các cuộc chơi đó. Các kỷ niệm riêng tư gom lại, hy vọng phản ảnh phần nào các cuộc chơi thuở xa xưa và tôi không có tham vọng trình bày đầy đủ về các món ăn chơi này.

Biết Có Hại Vẫn Làm

Ai cũng biết “cờ bạc là bác thằng bần”. Từ hồi học trường làng, chúng tôi đã học và nhớ mãi câu này. Dĩ nhiên ai cũng biết, cũng nhớ, nhưng vẫn đánh bạc, cũng như trên bao thuốc lá ghi rõ “hút thuốc lá dễ bị ung thư”, người ta vẫn hút. Thực ra có vị đã bỏ được, nhưng khối vị vẫn phì phà như không có gì xảy ra trong số có tôi.

Tôi xin tỏ lòng ngưỡng mộ các vị đã đoạn tuyêt với thuốc lá. Tôi đã bỏ vài tháng, nhưng sau này không đi chơi, không “cờ bịch”, chẳng còn cái thú gì, và khi ngồi gõ máy, cứ thấy “thiếu thiếu” cái gì, có lẽ là thiếu thứ tạo thêm cảm hứng nên lại hút thuốc lá “cho đời lên hương”.

Tôi biết đó chỉ là “ngụy biện” cho thói hư của mình, nhưng “không thích bỏ thì cứ hút”. Tám bó có lẻ rồi, hút thuốc đã hơn “60 năm cuộc đời” có ho lao hay ung thư đâu. Khối ông từ bé tới lớn không hút thuốc mà lăn quay ra vì ung thư phổi. Như Thái Thủy từ nhỏ tới già không hút thuốc, thế mà chết vì bịnh phổi. Có “phản khoa học” không? Tôi chịu thua! Tôi lại nhớ đến câu nói của bác sĩ Hà Xuân Du khi từ San Jose về Việt Nam. Ông nói “anh hút thuốc lá lâu năm, có khi cơ thể anh quen với chất nicotine rồi, thiếu nó, anh bịnh đấy”. Không biết ông nói thật hay đùa, tuy vậy tôi cứ tin như thật để có thêm lý do mua thuốc lá đều đều.

Cũng xin thêm là, tôi chỉ hút thuốc lá có tên SAIGON. Tôi khoái cái tên ấy từ ngày ở “tù cải tạo” ra nên nhất định chỉ hút thuốc lá Saigon. Ông nào ở Mỹ về cho 555, Craven “A”, xì gà gộc… tôi đem đổi hoặc đem cho hết. Một tút 555 đổi hơn hai tút thuốc Saigon, bởi thứ thuốc này ở đây, một gói chỉ có giá 11 ngàn Việt Nam, tức bằng nửa đô-la Mỹ. Song, giá cả chưa phải là chính mà chỉ do cái tên tôi thích “Thuốc lá Saigon”. Tuy vậy, tôi vẫn đề nghị bạn không nên hút thuốc lá. Còn tôi không bỏ được, dù có chết cũng mang theo SAIGON trong túi áo.

Trở Lại Với Chuyện “Cờ Bịch”

Dù “vui chơi, giải trí” hay táng gia bại sản cũng là “cờ bịch”. Chữ này vốn là chữ tôi dùng trong các bài phóng sự và được “bảo chứng” khi nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh có lần dùng trong bài viết của mình đã cẩn thận ghi thêm: “cờ bịch” là “chữ của anh Văn Quang”. Chắc ông chỉ có ý muốn nhắc vài kỷ niệm thời xa xưa thôi.

Nguyễn Đạt Thịnh hơn tôi vài ba tuổi, tốt nghiệp khoá 6 Võ Bị Đà Lạt. Sau Tết Mậu Thân 1968, cấm trại “chăm phần chăm em ơi”, chúng tôi thường cùng đánh phé còm ở phòng báo chí. Hồi đó tôi đã về Đài Quân Đội còn Nguyễn Đạt Thịnh là Trưởng Phòng Báo Chí.

Đánh phé còm cho đỡ buồn, bất kể cấp bậc, quan cũng như lính, ngồi chơi “bình đẳng bình quyền”. Cũng “tố”, cũng “tháu” như điên. Hào hứng đến nỗi có những anh thích “chăm phần chăm” ở trại hơn ở nhà với vợ. Chúng tôi bày ra trò này để anh em đỡ “trốn cấm trại”.

Ngay tại Cục Tâm Lý Chiến, buổi tối có 3 bàn phé còm. Ngoài phòng báo chí, phòng vi âm của đài Quân Đội, máy lạnh 24/24, cũng có “sòng bài” nhỏ cho các nhạc sĩ, biên tập viên, phóng viên “oánh thả cửa”, dĩ nhiên là có kiểm soát, không vượt giới hạn. Báo Tiền Tuyến do cụ Hà Thượng Nhân cai quản cũng có sòng phé và mạt chược còm.

Nhân nhắc chuyện cũ tích xưa này, tôi xin điểm lại đôi nét về “cờ bịch” Việt Nam, trong giới hạn thời gian, không gian nhỏ và bạn bè mà tôi biết, tất nhiên không thể nói hết.

Cờ Bạc Trước 1945

Tôi lấy mốc thời gian 1945 như nhiều bạn có tuổi bây giờ hay nghĩ đến. Thực ra trước năm 1945, tôi chỉ biết vài thứ cờ bạc ở làng tôi. Miền Bắc hồi đó chỉ có xóc đĩa còn gọi là “lắc đĩa”. Ngay nhà tôi, cứ vào dịp Tết hoặc giỗ ông nội tôi, thường có một canh xóc đĩa gồm nhiều vị “chức sắc”, điền chủ trong huyện đến chơi, đôi khi có cả các vị ở huyện thân quen với gia chủ cũng tới ngồi sòng, lên đến 50, 60 người. Canh xóc đĩa này khá lớn, giấy “bạc con công” như bươm bướm. Thường là hơn chục chiếc chiếu hoa cạp điều trải dài trong dãy nhà khách rộng. Nhà khách được thắp sáng trưng bởi mấy cái đèn “măng-sông” và đèn đất. Canh bạc bắt đầu từ chiều tới sáng hôm sau. Nhà tôi chỉ lập sòng mỗi năm một lần.

Tôi còn nhóc nên chỉ biết một cách đánh chẵn lẻ. Tôi khoái nhất khi sắp mở đĩa để quyết định thắng thua. Nhà cái hô hoán lung tung, khi cả “làng” đặt tiền, đặt cược xong mới mở. Cử chỉ mở bát rất phóng túng, rất “tay chơi” và chuyên nghiệp. Cái bát được nhón lên cho khỏi va chạm ảnh hưởng tới cái đĩa, nhưng vừa lên khỏi đĩa là cái bát được vung mạnh bật ra xa nằm quay cu lơ. Mọi con mắt dồn vào 4 đồng trinh trong đĩa sấp ngửa ra sao, ảnh hưởng tới số phận hên xui, có khi tới cả vận mạng mình. Bởi có các ván rất lớn, bằng cả cơ nghiệp một số “bá hộ” mà bây giờ gọi là “đại gia miệt vườn”.

Sau xóc đĩa là các bàn bài nhỏ như chắn cạ, tổ tôm, đánh lú, hầu như các nhà khá giả trong làng, ngoài tỉnh đều tổ chức đánh với hàng xóm, bạn bè mua vui. Đôi khi cũng có sòng chắn cạ tổ tôm chuyên nghiệp, hầu hết ở gần phố, gần chợ, gần các “xóm cô đầu”. Còn ở làng khi có hội hè cũng tổ chức vài món chơi phổ thông như cờ tướng, tổ tôm điếm, tùy phong tục từng làng. Ở cổng các trường học, nhất là dịp có kỳ thi, thường có mấy bàn “bầu cua cá cọp” dụ mấy cậu học sinh. Nó thoáng cho mình thấy con cờ bằng gỗ úp xuống là con cua nên tưởng bở nhào vào đặt vài xu, khi lật lên lại là con cá nên nhiều anh thua hết cả tiền cơm.

Nói thêm một chút là thú “cờ bịch” của các cụ thời đó, nhiều nhất và “tốn kém đến mất nghiệp” là xóc đĩa, thường đi kèm thú hút thuốc phiện và “đi hát cô đầu”. Các anh và ông chú tôi đi hát cô đầu gọi tắt là “đi hát”, hoặc đi hút thuốc phiện là “đi hít”. Hồi đó, chưa có các loại ma túy ghê gớm như bây giờ. Phải bảnh lắm mới hút thuốc phiện và đi “hát cô đầu” được. Nhiều bạn hẳn còn nhớ, hai phố cô đầu nổi tiếng đất Bắc xưa là Quán Bà Mau ở Hải Phòng và Khâm Thiên ở Hà Nội. Ở thành phố có dancing, hầu hết tại các khách sạn lớn. Dân văn minh lắm mới đi nhảy với mấy “ông Tây bà đầm”.

Đó là vài thú chơi thường thấy thời tôi thơ ấu trước 1945 ở miền Bắc, còn ở miền Nam, tôi không biết nhiều nhưng chắc là dân miền Nam không đánh xóc đĩa. Theo tôi, phần đông người miền Nam và miền Trung chơi tứ sắc, bài cào, sập sám và cờ tướng.

Cờ Bạc Ở Việt Nam Trước 1975

Phần đời khôn lớn của tôi ở miền Nam, kể từ 1953, khoảng gần mười năm sau tôi mới biết “cờ bịch”. Thoạt đầu là đánh chắn với mấy ông bạn “Bắc Kỳ chính hiệu con nai”. Tôi biết lơ mơ chắn cạ hồi nhỏ ngồi bên mẹ nên khi ông bà Quốc Phong rủ đánh chắn là hăng hái nhận lời. Rồi đến Phạm Đình Chương rủ đến nhà đánh chắn cho bà cụ vui. Bàn chắn đó chúng tôi gọi là nhà “bà cụ Hoài Bắc”. Sau đó là đánh xì, còn gọi là đánh phé. Từ năm 1960 có thể gọi là thời bột phát xì phé. Bàn xì phé có mặt đủ mọi nơi, từ cổng đài Sài Gòn, đến nhà Ân Shell, Tú Vopco hay ở các hóc hẻm như nhà Hà Huyền Chi, Nguyễn Đình Toàn… Hai ông này thuộc loại “kinh tế suy thoái” nhưng đánh bài như công tử. Sau đó vài năm, phong trào chơi mạt chược nẩy nở rầm rộ như chơi phé. Ít năm sau, tôi bỏ phé, trò chơi “không khoan nhượng” nhằm “giết” lẫn nhau dù là bạn bè thân thuộc, bởi nếu không thế không còn là đánh phé, phải giấu kỹ con bài tẩy, hở ra là “chết”. Chơi mạt chược có tính “gia đình” hơn, có thể khoan nhượng. Hầu hết chúng tôi chơi mạt chược còm, “láng” rất ít, thua nhiều lắm cũng chỉ mất một ngày lương chứ không thể so với các sòng đại gia.

Những Sòng Bài Có Bảo Kê

Sau sự kiện Bình Xuyên tan tác, kéo theo Kim Chung, Đại Thế Giới đóng cửa, nhiều sòng bài các kiểu mọc lên và một số sòng bài lớn nhất thời đó thường được bảo kê bởi vài thế lực. Tôi biết khá rõ những địa chỉ bảo kê này qua nhà phóng sự Phan Nghị thường lăn lộn ở “chốn giang hồ”. Ông cho biết từng địa chỉ và chính ông cũng được các đại ca thỉnh thoảng chi cho tí tiền đi ăn chơi. Nay các vị đứng đầu bảo kê hoặc con em các vị ấy cầm đầu bảo kê đã mất, tôi không nhắc lại làm gì cho “mất đoàn kết”. Hầu hết các sòng bài đó là sóc đĩa, xì phé, sì dách và cũng có các tổ chức bịp bợm rất tinh vi. Ngay đánh phé ở nhà tư cũng có nơi bịp. Tôi nhớ có lần Phan Lạc Phúc và tôi đến nhà một ông ở khu Chợ Cá Trần Quốc Toản đánh phé. Đánh kiểu nào cũng thua. Tôi khám phá ra bài có dấu. Liền dùng chiêu “gậy ông đập lưng ông”, lấy lại đủ tiền. Đánh xong ván đó, tôi nháy ông Phúc về ngay. Chính vì sợ bị bịp nên sau này, chúng tôi lập một club fermé chừng 7, 8 anh em bạn biết nhau, chơi cho yên tâm. Mỗi tuần, thay nhau tổ chức đánh bài ở một nhà, không chơi với người lạ.

Thời này trường đua ngựa cũng được phép tổ chức khá bài bản, nhưng chưa có “đua chó”, bởi chưa có nhiều “đại gia chơi chó” như hiện nay. Cá độ bóng đá cũng chỉ có giới hạn và hầu như các bạn tôi rất ít người đến trường đua Phú Thọ.

Vài Cá Tính Cờ Bịch Của Các Ông Văn Nghệ Sĩ

Nói đến cờ bịch, tôi nhớ vài tính cách chơi bài của các bạn tôi. Tôi chỉ nhắc đến vài ông có cá tính đặc biệt mà tôi tin sẽ không ai viết tới, dù viết tiểu sử các ông ấy rất cẩn thận. Những nét rất nhỏ nhưng là “giai thoại” mang theo hết cuộc đời mình. Tôi nghĩ, bạn cũng có các mẩu chuyện tương tự, chuyện lớn có thể không nhớ, nhưng kỷ niệm rất nhỏ cứ nhớ hoài. Gặp nhau là nhắc lại để tiếc thương. Tháng trước, một bạn tôi ở Úc về. Chúng tôi gặp nhau ở một quán ăn, ông ấy còn nhắc ván bài với ông Quang “hói” chơi ở báo Tiền Tuyến từ nửa thế kỷ trước qua từng chi tiết sống động như mới vừa xảy ra.

Lại phải nói về sự đánh phé của ông Quang “hói”. Ông hùng hục, “cái gì cũng theo”, nên có biệt danh Pôn Húc. Ăn tiền của ông “ngon” như đi ăn phở 79. Ông Quang “dù” và ông Quốc Phong chủ báo Kịch Ảnh cũng nóng tính không kém. Tài tử Lê Quỳnh đánh chắn không khá nên thua xiểng liểng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương đánh phé rất “chắc”, có đôi lớn mới theo. Khi ông ấy ra tiền là kể như ăn chắc nên được đặt cái nick name “gánh gánh về”. Mai Thảo thì luôn uể oải cả khi đánh chắn hay đánh phé còm, mắt cứ lơ mơ như buồn ngủ. Ông này thiếu máu ăn thua. Thái Thủy khi đánh phé, có bài lớn là tay cứ run run, mặt mũi xanh dờn như gặp cướp nên đối thủ đoán ra ngay. Cụ Hà Thượng Nhân chơi tổ tôm rất “đẳng cấp” nhưng khi đánh phé thì nhát gan, tố mạnh là cụ “chạy có cờ”. Anh Ngọc không đánh phé, có thời ở gần nhà tôi, ông và Cung Tiến cùng vài anh em khác hay chơi “băng ky”. Tôi không khoái trò này và không hiểu luật chơi ra sao. Nghe nói sau này qua Mỹ rồi ông cũng chơi mạt chược ở nhà, có bà Nhung phụ tá, nhưng nay “người” hơi yếu rồi nên Hoàng Song Liêm báo tin là “người” chỉ cầm vài ván cho đỡ buồn tay thôi. Duy Trác vốn là luật sư, chơi mạt chược cũng từ tốn khoan thai. Nhạc sĩ Y Vân vẫn lao vào chơi mạt chược và vốn là dân đói rách “có hạng” lại hay thua. Nhật Bằng chơi rất hay và rất kỹ tính. Cả nhà ông đều chơi mạt chược giỏi, có khi vợ chồng con cái ngồi chơi với nhau, chắc chơi ăn “búng tai”.

Đó là vài “sự kiện” đáng nhớ.

Những Ông Không Chơi Cờ Bịch

Có những ông không bao giờ bén mảng đến cờ bịch và dancing. Hoàng Hải Thủy tức Công Tử Hà Đông viết phóng sự rất “ác liệt”, nhiều độc giả cứ tưởng công tử “ăn chơi kinh lắm” nhưng ông không hề chơi bất kỳ món nào. Ông là ông chồng mẫu mực. Tạ Quang Khôi cũng vậy, ông tự nhận là Giáo Gian nhưng thật ra ông rất hiền, tốt tính, chỉ hay giận vặt, không nhảy đầm, không cờ bịch, dù suốt đời chơi với hầu hết anh em văn nghệ sĩ vì ông từng làm “nhớn” ở Phòng Văn Nghệ đài Sài Gòn.

Uyên Thao cũng là một người “chân chỉ”, cuộc sống của ông là “cày” và “cày”. Làm nhiều đến nỗi anh em… phát ghét. Lê Xuyên còn hiền lành hơn, không cờ bịch rượu chè, thậm chí không bước đến phòng trà nghe nhạc. Nguyên Sa, Huy Phương cũng vậy có lẽ ảnh hưởng “nghề thầy giáo” nên không “văng mạng” như chúng tôi… Đặc biệt là mấy đạo diễn làm phim “xã hội đen”, phim “giang hồ uýnh lộn tơi bời”, bắt diễn viên chơi bài bịp như làm xiếc nhưng đạo diễn lại chưa cầm đến con bài bao giờ như Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa, Hoàng Anh Tuấn…

Còn khá nhiều ông như thế nữa. Nhưng tính theo tỷ lệ, ước chừng 10% các “bố văn nghệ” không cờ bịch, không nhảy nhót, còn hầu hết là ít nhiều có cờ bịch, có nhảy nhót, có cá độ và các món linh tinh khác.

Từ Mạt Chược Đến Các Phòng Trà Tiệm Nhảy

Cùng với mạt chược là các phòng trà, tiệm nhảy mọc lên nhanh chóng. Sau 1954, cô đầu “rượu” ngoài Bắc “dô Nam”, một số lớn chuyển sang nghề làm gái nhẩy, thoạt tiên là “vào học nghề” ở các tiệm nhảy matinée có giá rất rẻ như Lai Yun ở đường Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn.

Huy Sơn, Nguyễn Ái Lữ hiện ở Mỹ, chắc chưa quên thời chúng ta còn rách, còn “xê li bạt”, những buổi chiều Thứ

Bảy, Chủ Nhật thường la cà vào đó để nhảy bốn chục một ly nước, ngồi hàng giờ với các em Hương khàn (sau còn có biệt danh “Hương National” để phân biệt với Hương Suzuki), em Hải 44, em Lan mập… Toàn Phong thời còn trẻ, dường như cũng vài lần đặt gót giầy “đời phi công” đến nơi đó rồi?

Trong khi đó các phòng trà tiệm nhảy ở Sài Gòn cho giới trung lưu ngày một nhiều và sang trọng thêm.

Phòng trà Anh Vũ ra đời sớm rồi tàn sớm ở đường Bùi Viện. Tiếp đến Tự Do, Mỹ Phụng, Baccara, Đại Nam, Queen Bee, Olympia, Versaille, Moulin Rouge… nhiều kể không xuể. Các nam nữ ca sĩ bắt đầu xuất hiện và tạo tên tuổi nhờ phòng trà ca nhạc chứ không phải từ các đài phát thanh. Nhưng sau bước khởi nghiệp ban đầu, các đài phát thanh lại rất quan trọng, bởi đó là mảnh đất cho ca nhạc sĩ lan tỏa tên tuổi và “nuôi” tên tuổi đứng vững trong làng giải trí toàn quốc và cho tới mai sau.

Sau 1975, Cờ Bịch Sài Gòn Biến Tướng Ra Sao?

Những năm đầu, khi tôi còn nằm kỹ trong các trại tù cải tạo và các ông được gọi là “hào hoa phong nhã” của nền cờ bịch Sài Gòn cũng di tản ra nước ngoài.

Trong trại cải tạo, chúng tôi tự làm những con bài mạt chược bằng gỗ, làm bàn bằng tre, ngồi đánh cho vui và cá độ đá bóng bằng vài điếu thuốc lá. Ở ngoài thành phố Sài Gòn “đi dép lốp”, anh nào cũng rách như tổ đỉa, ăn bo bo làm gì có “cờ bịch” nữa. Nhưng chục năm sau, thành phố khá lên và những ông “hào hoa” còn kẹt lại có tí tiền từ bà con ở nước ngoài gửi về, lại tấp tểnh cờ bịch. Khi đi tù về, chúng tôi bắt đầu tụ họp đánh mạt chược cùng nhau, trước hết là ở nhà ông bà Đằng Giao – Chu Vị Thủy vào Chủ nhật hàng tuần. Chỉ vài anh em rất thân chơi với nhau, vậy mà vẫn có kẻ rêu rao chúng tôi tụ họp “bàn chuyện chính trị”. Ngày thường chơi ở nhà ông Khương “trực thăng”. Rất đông vui. Nhưng chỉ một thời gian, từng người lần lượt ra đi nên cả hai chốn hẹn hò đó đều ngưng hoạt động.

(Ảnh: Văn Quang, Kiều Chinh, Đằng Giao, Phan Nghị).

Bây giờ tìm được một bàn mạt chược ở Sài Gòn hơi khó vì chỉ còn vài nơi duy trì được nếp cũ.

Và cho tới nay rất ít cán bộ và thanh niên biết chơi mạt chược. Các ông ấy chơi thứ khác. Sang Macao, Campuchia, Las Vegas chơi toàn đô-la Mỹ và Euro, cá độ bóng đá, đi karaoke, chơi ma túy, đi dancing săn chân dài. Hoặc ở vài tỉnh thành và thôn quê, một số anh có tiền lại quay về với thú cổ điển là xóc đĩa, và thú “điền viên” là đi nhà nghỉ với “rau sạch”. Nền “văn hóa ngoại tình” phát triển như rươi.

(Sài Gòn, 23-8-2013)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment