Cõi miền chịu chơi

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 20 Sep 2026

(Yêu cầu cô bán cho tôi, một bó rau muống chịu chơi quê nhà– BG)  

Biết mình thích thơ Bùi Giáng, họa sĩ Đinh Cường từ Virginia gửi tặng cuốn “Đười Ươi Chân Kinh” do nhà xuất bản Nhã Nam mới phát hành trong nước. Sách đến vào ngày Montréal đổ tuyết đột ngột, tuyết lạ thường chẳng lạnh một mảy may. “Hờn phố thị để lạc hồn cõi lạ, sầu phố xanh từ bữa nọ em đi, tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì”.

Tuyết rơi đầy và mình có nguôi lãng điều gì không? Bao giờ nhận được sách cũng thoáng cảm động, mình hình dung lộ trình anh đi tới bưu điện nhỏ, sau khi lội bộ ra quán Starbucks bằng lối mòn âm u cây lá của vùng Burke tĩnh lặng, xa khuất hồi còi tàu cất mệt tiếng âm u. Cám ơn nhà họa sĩ trầm lặng, mình vẫn thích danh xưng “Thích Từ Từ” ai đó đùa cợt gọi. Một thứ Vui Chân Kinh?

Bùi Giáng, với mình, danh từ riêng ấy như con đường rộng từng mở ngõ cho vô vàn những bàn chân ngang qua. Là bóng lá (hoa cồn) che im trên đầu kẻ lữ thứ. Con đường khai mở giữa cõi miền phiêu hốt và khi dẫm bước ta phải bàng hoàng nỗi buồn vui trước nhiều chướng ngại. Hoa thơm cỏ lạ hoặc gai nhọn cào xước kia vẫn thường hằng tên gọi riêng tây: Bình nguyên đìu hiu, mép rià lưu tồn, vén xiêm cố quận, phố thị song trùng, cảo thơm mơ mòng, ngẫu nhĩ phiêu bồng, chiêm bao tuyệt trù, thập thành rất mực, ngàn thu hỗn mang, đoạn trường rớt hột… Vì thế, trước sau, lạm bàn về thơ ông là điều chẳng dễ. Một cánh cửa khép hờ và mình nghĩ đó là khung cửa hẹp. Mình chưa thấy ai xô nổi cánh cửa ấy dạt rộng thêm ra. Ánh sáng từ khe cửa kia đã làm đôi kẻ hoa cả mắt, để cũng lắm người vì vậy vô hình trung, trong thơ họ tiêm nhiễm ít nhiều thứ khí hậu cầu chứng cõi miền riêng ông. Xa nhau chừng đó cũng vừa, gió trần gian lạnh có chừa ai đâu. Chỉ một, không hai. Đông phương bất bại hay Độc cô cầu bại thì cũng rứa cả. Kể từ khởi sự mọc răng, đến bây giờ vẫn thường hằng chiêm bao.

Mình vẫn nghĩ ông luôn chọn phiá cô đơn. Lẻ bóng trên đường bởi dường như cái sự hiểu vẫn chưa hiện hình, do vậy ông chẳng rao giảng điều gì sất, lời thơ ấy gần là một độc thoại. Hoặc thứ tâm sự chưa bao giờ mình nghe ra điều xót lòng. Ông vui với thảy những chuyện buồn đau, trái khuấy. Ông than thở và khiến người nghe phải bật cười. Mình nói, viết về Bùi Giáng không hề là điều giản đơn do lẽ ấy.  

Hồn nhiên?  Hãy mang tôi tới giậu rào, cho tôi ngó vịt thì thào với chim.

Ưa bỡn cợt? Suốt đời phải thức suốt đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người.

Chẳng xem điều gì là quan trọng giữa cuộc đời? Mai sau còn lại tý gì, ấy là khu vực nhu mì của em.

Ưa nói tới những chuyện nó vốn đã là như thế, tự nhiên như nhiên: Thưa Em nước uống bây giờ, là trong thiên hạ có từ trăm năm. 

Thích định nghĩa: Môi là môi của môi hôn, mà không hôn để cho mòn mỏi môi. 

Hay nhắc tới những người nữ, gần là một ám ảnh dục vọng: Em đi bên ấy chân tròn khép, hai ống mơ hồ mỏi một hang. 

Xem động vật châu chấu chuồn chuồn gấu beo gà vịt chim nai thảy đều thân thích? Nai nhìn nhắm mắt u minh, này trăng cổ độ xô mình lang thang… Từ đây đổi vịt thay gà, chán chường đến thế là ta ngậm lời.

Và cây lá: Ghé thăm cây cối phen này, nhớ phen nọ đã từng phai nhạt lần. 

Và ẩm thực: Sáng nay bao tử mơ mòng, cà phê bên nọ cháo lòng bên kia.

Mình chẳng dám thưa thốt nhiều lời, bởi mình nhát gan, không thể Em về có hỏi răng ri rứa, nhắm mắt đưa chân có bận liều. Sẵn có sách trong tay, dưới đèn mình lật giở và chép ghi ra đây đôi ba bài thơ của Bùi Giáng mà mình nghĩ có bài bạn vẫn chưa đọc thấy, để lần nữa ghi nhận lối đùa cợt thật tài hoa của thi sĩ. Mình xin cám ơn các anh chị trong ban biên tập, cũng như nhà xuất bản Nhã Nam đã cất công truy tầm, tom góp thơ và phát hành cuốn “tinh tuyển” cần thiết này. 

Mình chẳng có dụng tâm, nhặt ghi sau đây đôi ba thể loại, đường ngang nét dọc mong vẽ ra chút đỉnh một chân dung, một Hoàng Tử bé có tên (lớn) Bùi Giáng đã hồn về Chín Suối.

Bài 1. Tóc Bạc Thưa Rằng 

Một bữa trăng sao

Xuống rừng rú dại

Một bữa trời trăng

Buồn không thể nói

Cầm gương lên hỏi

Tóc bạc thưa rằng

Trời đất cách ngăn

Đừng mê con gái

Bực quá liền quăng

Tấm gương xuống đất

Vẫn nghe mãi rằng

– Đó là sự thật.

Bài 2. Ở Trong Rừng

Đây là Ở Trong Rừng

Chẳng có con ma nào ngó thấy đâu

Xin Hoàng Hậu

Hãy cởi áo quần ra tắm khe nước

Có con ma nào đâu mà sợ

Sao Hoàng Hậu thẹn đỏ mặt?

Có tôi?

Nhưng tôi đâu phải là con ma.

Bài 3. Ông Trời Chịu Thua 

Bây giờ tôi rất có quyền

Hỏi ông trời: chớ thuyền quyên là gì?

Mà nhân gian nhớ li bì

Từ thiên thu tới tám kỳ càn khôn

Trời rằng: ngươi rất có quyền

Hỏi như rứa đó… nhưng…

Nhưng sao?

Nhưng ta không đủ thẩm quyền đáp đâu.

Bài 4. Có Lẽ

Người nằm ngủ thấy gì

Thấy rất nhiều nắng lạ

Những chùm bông rất xanh

Có lẽ bông là lá

Người nằm ngủ thấy gì

Chắng thấy gì hết cả

Ngài thử nằm ngủ đi

Đừng hỏi gì hết cả.

Bài 5. Tái Tặng Tử Thần 

Tử Thần ạ quả nhiên tao chẳng muốn

Chết làm gì cho lạnh cóng tấm thân

Nhưng nếu mày cứ liên miên gõ cửa

Đòi hội đàm một trận thiết như thân

Thì tao cũng thử một phen hội diện

Với mày xem chút ít một thành phần

Và chút nhiều dù rất mực phân vân

Mày mấy tuổi Tử Thần ôi thế hử

Tao trung niên mày chẳng nể nang gì

Làm thi sĩ suốt bình sinh xuôi ngược

Gieo lộn vần sầu não thật lâm ly

Tử thần ạ! Tao không bằng lòng thế

Bài thơ còn dang dở một hoạt sinh

Một biển dâu cũng dơ dáng dại hình

(Tử Thần ạ! Tao không bằng lòng thế).

Bài 6. Kỷ Niệm Chín Suối 

Mùa hè tương đối chịu được

Ba mùa kia

Nhất là mùa Đông

Lạnh lẽo quá mức chịu đựng

Không còn đâu sức lực làm thơ

Nhà xuất bản đóng cửa

Im ỉm suốt bốn mùa

Ôi Chín Suối!

Bài 7. Trời Mưa Trên Đầu

Trời mưa lộp độp trên đầu

Thì xin Thượng Đế chia sầu với tôi

Thuở còn trẻ dại rong chơi

Thì sung sướng với mưa rơi trên đầu

Bây giờ cái sướng đi đâu

Cái gì ở lại ra màu dở dang

Chiêm bao rớt hột hàng hàng

Từ xiêm trắng xuống hỗn mang trên đầu.

Bài 8. Huế Làm Thơ 

Tôi vào Sài Gòn lúc đầu

Thật là bỡ ngỡ mối sầu thừa thiên

Rồi sau đó thật tuy nhiên

Quen vui với chị thuộc phiền với em

Bây giờ tôi nhớ thừa thiên

Nhớ thôi chút ít chứ phiền thì không

Mỗi mùa xuân lá trổ bông

Quên tờ cung chúc cũng không hề gì

(Chiến tranh nghĩ cũng li kỳ

Những thằng thi sĩ còn kỳ li hơn).

Mình nhớ trong bài “Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng”, Mai Thảo viết: “…Nhiều người cho rằng Bùi Giáng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu. Mất Bùi Giáng, thơ ta lại trở về với cái hữu hạn đời đời của thơ”.

Cuốn sách “Bùi Giáng Đười Ươi Chân Kinh” dày 530 trang, tập hợp gồm Thơ, đoản văn và tiểu luận, ảnh và thủ bút. Lại có trích hai hồi bản dịch “Kim Kiếm Điêu Linh” nguyên tác của Ngọa Long Sinh. Ngần ấy tạm xem như đủ đầy cho những ai muốn vọng tưởng chân đi xiêu lạc của nhà thơ, người mà mình đã chẳng thành tựu một ao ước được gặp gỡ. Ông sinh năm 1926. 1933 bắt đầu đi học a, b, c. 1939 ra Huế học. 1940 về Quảng Nam chăn bò. 1949 nhập ngũ làm lính công binh. Giải ngũ sau hai năm. 1952 vào Sài Gòn. 1965 nhà cháy mất trụi bản thảo…(tiểu sử tự thuật gửi ở chùa Pháp Văn Gia Định Sài Gòn ngày 10-11-1993).

Bước qua phần Đoản văn và tiểu luận, như cách bói Kiều, mình nhắm mắt hú họa giở nhằm trang có in bài “Đốn Tre”:

“Khó nhất là đốn tre, khó nhì là ve gái”. Người thường dân thường khuyên bảo dạy dỗ con cái như thế. Thấy thằng con sỗ sàng ve gái, họ không trực tiếp ngầy ngà. Họ không nói: “Ve gái khó lắm lắm. Con phải chậm rãi từ từ…” Họ nói quanh: “Khó nhất là đốn tre khó nhì là ve gái”.

Lời nói ấy về sau sẽ khiến đứa con suy nghĩ. Nó tự nhủ: Bố bảo khó nhất đốn tre? Nhưng mỗi ngày ta có thể đốn được năm mươi gốc tre một cách dễ dàng. Khó nhì là ve gái? Sao suốt mấy tuần lễ nay ta ve con Mận mà nó vẫn dửng dưng chưa có bề nào ngã ngũ?

Từ đó cái câu “khó nhất đốn tre, khó nhì ve gái” đã giúp đứa con thể hội chân lý ngược lại. Ấy là: khó nhất ve gái, khó nhì đốn tre. 

Đi vào cõi tư tưởng, chúng ta phải luôn luôn lưu ý tới cái lối ăn nói nghịch lý của người tư tưởng. Họ nói một đường để ta suy ra một ngả. “Ngựa trắng không phải là ngựa”. Đó là lời Công Tôn Long. Ông này là nhà tư tưởng Trung Hoa bị đam ngộ nhiều nhất”. 

Lại nhảy sang trang khác: “Mẫu Thân Hà Thanh”

– Hỡi mẫu thân Hà Thanh, mẫu thân tên thật là gì? 

– Tên thật của tao là Lục Hà.

– Hỡi mẫu thân Lục Hà! Lúc mẫu thân đẻ con ra đời, mẫu thân cảm thấy thế nào? 

– Tao cảm thấy rất đau lòng. 

– Tại sao đau lòng?

– Vừa mới sinh mày ra đời, mày đã già nua đến thế, làm sao tao còn có thể ẵm mày vào lòng cho mày bú, hử con!”

Và bài “Khổng Tử Bảo Rằng”

Phàm bọn nào làm thơ quá hay. bọn đó không thể nào sống tới tuổi trung niên. Nếu có một thằng trung niên thi sĩ nào thật sự thiên tài, thì ấy có lẽ rằng nó là ma chăng? Là quỷ chăng? Là chèng đét toi đâm chăng? Ta muốn chẳng nói. Dư dục vô ngôn. Nhưng nhà ngươi đã hỏi, thì lẽ nào ta giả điếc giả câm?

Ông đã cà rỡn trong bài “Giọng Quảng Nôm nói ngọng: Bùi deng Doáng”

Doáng booao diêu tuổi Doáng giòa

Điêng booao diêu tuổi gọi lòa điêng non

Người còn thì của hãy còn

Còn thèng Bùi Doáng hãy còon cái điêng.

Ông đã không còn nhưng người còn thì vẫn còn mãi nhắc đến tên ông, đến những câu thơ “vui buồn huê dạng chẳng có bút mực nào tả đủ”.

Đã bảo không bút mực nào tả xiết thì hà cớ gì mãi vòng vo?

Chẳng cho lần khân thì sau rốt thưa thốt hơi cuối. Ấy là mượn đỡ bài “Viết Thư” để cửa đóng then cài vậy:

“Viết thư cho em 

Viết rằng mỗi tháng

Có một đêm rằm

Mỗi năm có bốn mùa 

Và có nhiều chuyện 

Ly kỳ trên mặt đất”.

Hồ Đình Nghiêm


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment