Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 12 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào ngày 27 tháng 10, mười ngày sau các binh sĩ đầu tiên của Hoa Kỳ tràn lên bãi biển Phi Luật Tân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đưa ra thông cáo lịch sử này:

“Ðơn vị Shikishima, thuộc Phi đoàn Tấn Công Ðặc Biệt, vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 25 tháng 10 năm 1944 đã thành công trong một cuộc tập kích bất ngờ chống lại hải lực đối phương, bao gồm 4 hàng không mẫu hạm, cách Ðông Bắc đảo Suluan thuộc quần đảo Phi Luật Tân, ba mươi hải lý. Hai phi cơ tấn công đặc biệt đã đâm nhào xuống một hàng không mẫu hạm địch, gây nhiều đám cháy và tiếng nổ lớn, và có lẽ chiếc tàu đã chìm. Một phi cơ thứ ba đã chúi xuống một hàng không mẫu hạm khác, gây một đám cháy khổng lồ. Một phi cơ thứ tư khác cũng chúi xuống một hàng không mẫu hạm, gây ra một tiếng nổ dữ dội và chiếc tàu đã chìm ngay sau đó.”

Tiếng sấm của những ngọn Thần Phong đã bắt đầu! Nhiệm vụ tự sát đầu tiên do Trung úy Yukio Seki thực hiện. Yukio cầm đầu 5 chiến đấu cơ Zéro, mỗi chiếc mang một trái bom 550 cân. Seki là một phi công oanh tạc cơ có chưa đến 300 giờ bay, bốn phi công khác cũng không hơn hắn mấy. Tuy nhiên, chỉ có một trong năm chiếc không chúi trúng mục tiêu.

Bốn chiếc Zéro bay theo hộ tống năm chiếc Zéro tự sát. Sau đó tôi được biết chỉ huy nhóm hộ tống chính là người bạn thiết Hiroyoshi Nishizawa của mình, hiện thời là một chuẩn úy. Nishizawa đã khéo léo né tránh sự ngăn chặn của hơn hai mươi chiếc Hellcat, đưa năm phi cơ Thần Phong xuyên qua những trận cuồng phong để áp sát hạm đội địch quân.

Sau khi năm phi cơ Thần Phong đã chúi xuống, Nishizawa trở về sân bay Mabalacat ở Cebu, và báo cáo kết quả phi thường của nhiệm vụ. Khắp nơi các phi công Nhựt đều bàn về cuộc tấn công chưa từng có trước đây. Và cuộc tấn công đã đạt một kết quả ngoạn mục, trái ngược hẳn những mất mát đầy bi thảm như cuộc tấn công của chúng tôi ở Iwo Jima.

Ở vị trí phi công chiến đấu, tôi không tán thành nhiệm vụ tự sát, nhưng hiện tại không thể phủ nhận hiệu quả của cú đấm kinh khiếp đã giáng xuống hạm đội Mỹ ở Phi Luật Tân. Tôi ý thức là vào lúc này, việc bổ nhào xuống tự sát có vẻ là phương pháp duy nhứt của chúng tôi để đánh trả lại tàu chiến Hoa Kỳ.

Từ ngày đó trở về sau, danh từ Kamikaze nằm trên đầu môi của chúng tôi. Chúng tôi biết mỗi lần Kamikaze cất cánh là mỗi lần đi vào cõi chết. Nhiều Kamikaze không thể nào tiến đến các mục tiêu, vì bị phi cơ nghinh chiến của đối phương bắn hạ hoặc bị những bức tường hoả lực phòng không kiên cố do các chiến hạm địch tạo ra ngăn chận.

Nhưng luôn có những Kamikaze vượt thoát để rồi nhào xuống chiến hạm địch giống như những hồn ma phục thù, có nhiều chiếc tiến đến mục tiêu với đôi cánh rách nát hoặc bao trùm trong lửa đỏ. Thỉnh thoảng từng chiếc một, hai chiếc, hoặc cả nhóm từ sáu đến mười sáu chiếc Kamikaze lướt lên không trung cho lần đi cuối cùng.

Thần Phong đã cho chúng tôi một sức mạnh mới đầy kinh khiếp. Hiệu quả được nhìn thấy qua một số chiến hạm và quân vận hạm địch, từng là những mục tiêu khó xâm nhập vì được hoả lực bao che mạnh mẽ, rơi vào cảnh hỗn loạn xăng cháy, bom nổ và tiếng người la hét.

Những Kamikaze đã cào các hàng không mẫu hạm Mỹ từ mũi đến lái, đánh chìm nhiều hơn bất kỳ loại vũ khí nào mà chúng tôi đã từng sử dụng để tấn công loại tàu này. Còn loại tuần dương hạm và khu trục hạm, mỗi lần một Kamikaze chúi trúng thì đó là hồi chuông báo tử đã gióng lên.

Ðối với địch quân, họ coi sự tự sát của phi công Nhựt là bị ép buộc. Dĩ nhiên dân Mỹ hoặc bất kỳ sắc dân Tây phương nào cũng không thể hiểu biết đầy đủ vấn đề này.

Họ cho rằng mạng sống của binh sĩ Nhựt bị quăng ra một cách rẻ rúng. Trái ngược hẳn, các phi công đã tình nguyện hàng loạt để thực hiện các nhiệm vụ một chiều của họ.

Nhiệm vụ này không thể gọi là tự sát! Những phi công, trẻ có già có, họ đã không chết một cách vô ích. Mỗi phi cơ chúi trúng mỗi chiến hạm địch là một cú đấm mà phi công dâng tặng cho quê hương của họ. Mỗi trái bom Kamikaze rơi trúng các bồn chứa xăng của một hàng không mẫu hạm khổng lồ, sẽ có nhiều kẻ thù bị giết, triệt hạ nhiều phi cơ bay đến thả bom và bắn phá trên mảnh đất quê hương của họ.

Những phi công này mang niềm tin. Họ tin vào nước Nhựt, họ đánh kẻ thù bằng chính mạng sống của họ, cho nước Nhựt. Ðó là một giá rẻ, một người đánh đổi lấy mạng sống của hàng mấy trăm người đôi khi cả hàng mấy ngàn người. Xứ sở của chúng tôi không thể nào dựa vào sức mạnh của những chiến thuật thông thường hiện tại. Tuy nhiên, một lần nữa, Thần Phong là một trường hợp quá ít ỏi, quá muộn màng. Ngay cả những thành quả vĩ đại được gặt hái bởi các phi vụ Kamikaze cũng không thể nào chận đứng cú đấm tập trung khủng khiếp của Hoa Kỳ. Họ quá mạnh, quá nhiều, quá tiến bộ. Họ có quá nhiều chiến hạm, quá nhiều phi cơ, súng ống và nhân lực.

Dĩ nhiên, những phi công Nhựt thực hiện phi vụ của họ đều ý thức được việc này. Chắc chắn có nhiều phi công Thần Phong ra đi với thừa nhận tình thế tuyệt vọng của Nhựt Bản trong cuộc chiến. Nhưng họ không co đầu rụt cổ, không do dự. Họ bay và chết cho xứ sở của họ.

Có những điềm xấu báo trước cho dân tộc chúng tôi. Một chiếc B29 vĩ đại bay ù ù trên không phận Ðông Kinh lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 11 năm 1944, xuất phát từ các căn cứ mới trên đảo Saipan. Giờ phút hãi hùng của dân chúng ở kinh đô hầu như đã nằm trong tầm tay, vì điều hiển nhiên là chiếc oanh tạc cơ đáng sợ đó chỉ là một phi cơ do thám lót đường cho những chiếc khác nối bước trong tương lai gần. Chiếc Siêu pháo đài bay đã lướt một cách nhởn nhơ, xa tít cao trên không phận Ðông Kinh, và các chiến đấu cơ của Lục Quân và của Hải Quân cuống cuồng nhảy lên để chận bắt kẻ xâm nhập. Nhưng tất cả đều không thể nào tiến sát để bắn ra một phát đạn.

Vào ngày 5 tháng 11, và một lần nữa vào ngày 7, một chiếc B29 đơn thân độc mã từ Saipan đến viếng thăm thủ đô Ðông Kinh. Lần thứ hai và thứ ba này, các chiến đấu cơ Nhựt đều ùa lên không, và cố đạt đến độ cao cho bằng phi cơ địch một cách vô ích. Bộ Tư Lịnh Tối Cao nổi nóng, chửi bọn phi công vụng về và ngu xuẩn. “Chỉ có một chiếc phi cơ địch mà không làm nên trò trống gì cả.” Họ thét.

Họ không hiểu sự khó khăn trong việc ngăn chặn các Siêu pháo đài bay ở độ cao đó. Một việc nữa, chỉ trong vòng một vài phút giữa thời gian nhận báo động và cất cánh không kịp cho chiến đấu cơ lên đến nơi thì oanh tạc cơ địch đã bay mất. Cho dù có bay lên kịp đi nữa, phi công Nhựt cũng không chắc có thể đuổi kịp tốc lực kinh hồn của chiếc B29.

Vào tháng 12, những cú đấm chờ đợi từ lâu đã đến. Ðông Kinh, Osaka, Nagoya, Yokohama và nhiều thành phố lớn khác của xứ sở chúng tôi nằm khoanh dưới những đợt tấn công khủng khiếp của các oanh tạc cơ Hoa Kỳ. Chúng san bằng các cơ xưởng chế tạo máy bay, và hủy diệt lần lượt mọi phân xưởng khác.

Những cuộc không tập khủng khiếp trên các thành phố lớn của Nhựt Bản đã được lịch sử dành cho những chương kinh hoàng nhứt. Ðó là một câu chuyện mà cả thế giới đều biết rõ.

Các siêu pháo đài bay B29 đều xuất hiện ban đêm, và hầu hết phi công Nhựt chỉ biết ngồi bó gối trên mặt đất, miệng không ngớt nguyền rủa sự yếu kém khả năng hoạt động đêm của chiến đấu cơ Nhựt và sự khiếm khuyết huấn luyện dạ chiến của họ. Phi cơ địch chỉ bị hoả lực phòng không phá rầy mà thôi.

Khắp nơi, chúng tôi đang thua. Mọi nơi, chúng tôi bị đối phương bắt buộc phải thối lui, phải triệt thoái. Các đơn vị không quân của chúng tôi bị cắt ra từng mảnh, phi cơ của chúng tôi rơi như lá rụng, phi công của chúng tôi không chết một người, hai người hoặc ba người lẻ tẻ, họ chết chùm hàng chục trở lên.

Vào giữa tháng 2, năng lực phòng thủ Phi Luật Tân của chúng tôi hấp hối. Mọi phi cơ Nhựt trên quần đảo đều biến mất, nếu không bị chiến đấu cơ Mỹ đẩy rớt xuống đất, thì cũng bị các phi vụ Kamikaze một chiều thiêu rụi hết. Các cuộc tấn công Thần Phong tiếp diễn đến khi không còn chiếc phi cơ nào để tiếp tục.

Vào ngày 20 tháng Giêng năm 1945, Hải quân Hoàng gia thành lập một không đoàn khu trục mới, không đoàn chót cùng trong cuộc chiến, ở Matsuyama, trên đảo Shikoku. Khi thuyên chuyển đến căn cứ mới, tôi gặp lại Trung tá Nakajima, ông được chỉ định vào chức vụ chỉ huy phó không đoàn. Ông rút khỏi Phi Luật Tân với mười lăm phi công khác để lập nền tảng cho không đoàn mới này. Ðây là không đoàn bao gộp những tay chiến đấu tài ba. Chỉ huy trưởng không đoàn là Ðại tá Minoru Genda, được xem là một trong những chiến lược gia hải quân sáng chói nhứt của Nhựt Bản, là người đã thiết kế trận tấn công Trân Châu Cảng.

Trung tá Nakajima là người duy nhứt mà tôi quen biết nhiều. Một hôm có dịp vô văn phòng của ông với ý định nhắc nhở lại những người đã từng sát cánh chiến đấu với chúng tôi trong quá khứ, tôi đã lặng người khi ông cho tôi biết tin tức về cái chết của Nishizawa.

“Hắn đã mất”, Nakajima nói, “trong một trường hợp đáng tiếc xảy ra vào ngày 26 tháng 10, ngay sau cuộc tấn công Thần Phong đầu tiên.”

“Nishizawa đã tình nguyện tham dự phi vụ Thần Phong vào ngày kế đó, sau khi hộ tống năm chiến đấu cơ Zéro chúi xuống chiến hạm địch trở về. Hắn nói với tôi rằng hắn sẽ chết sớm. Việc này thật lạ lùng,” Nakajima nghĩ ngợi, “nhưng Nishizawa nhấn mạnh rằng hắn có một linh cảm. Hắn cảm thấy đời sống của mình chỉ còn một đôi ngày nữa mà thôi.”

“Tôi không cho hắn đi. Một phi công tài ba như vậy, để hắn chiến đấu sẽ có ích cho xứ sở hơn là để hắn chúi xuống một hàng không mẫu hạm. Nhưng hắn cứ nằng nặc xin đi cho được.

“Nhưng, vào ngày chiếc chiến đấu cơ của Nishizawa chuẩn bị sẵn sàng thì hắn được lịnh lái một chiếc vận tải cơ Showa cũ kỹ và không võ trang, trên đó có một số phi công khác, đến phi trường Clark để nhận một số chiến đấu cơ Zéro. Chiếc vận tải cơ cất cánh vào sáng sớm ngày 26 tháng 10 từ Mabalacat và mất tích luôn.

“Phi cơ của hắn có lẽ bị chiến đấu cơ Hellcat hoạt động trong khu vực đó bắn hạ. Hình như hắn rớt ở một nơi nào đó ở Cebu. Tôi vẫn không thể nào tin nổi, Saburo, một phi công vĩ đại như vậy lại chết như vậy, bất lực, không thể bắn một phát súng tự vệ…”

Không còn gì để nói. Như vậy là Nishizawa cũng ra đi. Vị thần sát tinh của các phi cơ địch ở Lae và Rabaul đã đi chung đường với Sasai, Ota và những người khác.

“Ngay cả trong tình trạng chiến đấu ở Phi Luật Tân gian nan hơn trước đây cũng không thể làm giảm những chiến thắng trên không của hắn.” Nakajima nói, và ông tin rằng Nishizawa đã hạ hơn 100 phi cơ địch trong các trận không chiến. Ðiều này không thể nghi ngờ, cả tôi lẫn Nakajima hay bất kỳ người nào đã từng biết và chiến đấu với Nishizawa đều phải công nhận hắn là một “Ace” vĩ đại nhứt của Nhựt Bản, một phi công có khả năng và tài ba vô tiền khoáng hậu. Vậy mà hắn đã thiệt mạng trong một vận tải cơ không võ trang!

“Ít nhất Nishizawa cũng thỏa dạ là máy bay của hắn, chiếc Zéro gắn bom 250 kg giao cho phi công Tomisaku Katsumata đã đâm thủng sàn phi đạo của một hàng không mẫu hạm Mỹ ở Surigao làm nổ tung nhiều bình xăng máy bay và gây một đám cháy lớn.” Trung tá Nakajima kết thúc với giọng buồn bã, “Dù sao hắn cũng được toại nguyện là chiếc phi cơ của hắn đã hoàn thành nhiệm vụ.” Nakajima không còn gì để nói nữa. Một im lặng phủ trùm.

Tin tức về cái chết của Nishizawa đã gây cho tôi một dao động kỳ dị. Tôi cảm thấy toàn thân mình run bần bật và những giòng nước mắt không ngừng dâng trào lên từ đáy lòng nhưng chúng khô cạn ngay ở khóe mắt bởi cơn thịnh nộ lớn lao khác. Chấn động khắp châu thân vì phẫn uất làm tôi muốn gào la cho cái chết tức tưởi của Nishizawa trong buồng lái của một vận tải cơ cổ lỗ sĩ bay chậm chạp không quá 350 cây số giờ trước họng súng của những chiếc Hellcat nhanh như cắt. Tôi đã chiến đấu với những chiếc Hellcat có thể lên đến 610 cây số ở Iwo Jima để biết chúng lợi hại vô cùng, làm sao Nishizawa với 21 phi công khác trong một khoang tàu bay nặng nề có cơ may thoát hiểm? Tôi nhớ đến chuyến hải hành đưa chúng tôi, tám mươi phi công từ Bali đến căn cứ Lae trên một thương thuyền cũ nát ọp ẹp không hộ tống có thể bị đối phương đánh chìm bất cứ lúc nào. Tôi nhớ đến chiếc vận tải cơ cũ rích hỏng máy hai bận và lảo đảo cất cánh đưa tôi rời Iwo Jima trong mưa bão về Ðông Kinh. Chúng tôi, những phi công ưu tú của Hải quân đã có thể mất mạng như chơi trong những cỗ quan tài bay này mà không thể tự vệ. Ðến bao giờ các cấp chỉ huy của chúng tôi mới ý thức rằng họ đang tiêu phí sinh mạng của những phi công tài ba nhứt? Ai đã ra lệnh cho Nishizawa lái chiếc Showa đó? Trung tá Nakajima? Trung tá là thượng cấp trực tiếp của Nishizawa nhưng vì sao ông không dám nhận mà nói “Ai đó đã ra lệnh…”. Vì sao? Vì Nishizawa và các đồng ngũ của hắn phải bay đến căn cứ Clark để nhận các khu trục cơ mới nên họ không thể tự lái lấy máy bay của chính họ? Nhưng vì sao không để Nishizawa cầm đầu một toán chiến đấu cơ Zéro hộ tống những phi công khác trong vận tải cơ Showa? Với tài nghệ lanh lợi phi thường của hắn, Nishizawa dư sức bảo vệ chiếc Showa đến đích. Tôi muốn gào la vì giận dữ nhưng ích gì nữa, hắn đã chết.

Tôi chập gót giày chào Trung tá Nakajima và hấp tấp rời văn phòng của ông để tránh sự thái quá vỡ òa. Cơn xúc động theo tôi về chỗ trú khu tiếp tục sôi sục cho đến khi hóa thành một bó đuốc. Như thế, Sasai, Ota, Honda, Nishizawa… các đồng đội chí thiết nhứt của tôi đều đã ra đi. Tôi cũng sẽ ra đi nay mai vì tất cả các phi công phải tự thiêu rụi bản thân mình để cứu quốc. Không còn nhiều thời giờ nữa và mỗi một khắc trôi qua làm cơn tuyệt vọng thêm cùng cực.

Tôi lấy giấy và viết ra. Tôi không thể tự ngăn các động tác của mình tuy tôi rất tỉnh táo. Lý trí ngăn tôi viết nhưng nỗi ưu quốc làm tôi muốn viết, muốn cất tiếng, muốn bộc bạch. Ít nhứt, tôi nghĩ, trước khi chết tôi phải bày tỏ với Hatsuyo những gì mà tôi muốn nói, những gì mà tôi cảm thấy nàng muốn biết. Tôi nhìn trang giấy, bấy lâu nay tôi đã bắt trang giấy trắng tinh không cho Hatsuyo biết đến, lúc này không còn cần thiết nữa. Tôi viết những gì thống thiết nhứt trong lòng mình.

“Hatsuyo,

“Anh đã được chỉ định vào nhiệm vụ chiến đấu trở lại,” tôi viết. “Từ đây trở về sau, Nhựt Bản sẽ phải chống chọi lại với một kẻ thù vượt trội mọi mặt. Hôm nay, anh vừa nghe tin người bạn thân nhứt của anh, Hiroyoshi Nishizawa, đã thiệt mạng ở Phi Luật Tân. Nishizawa là phi công vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta. Anh cảm thấy nếu một người như vầy mà không thể sống sót được thì đối với anh, bất lợi vì mất một mắt, chắc chắn anh sẽ nối bước theo hắn không lâu.

“Có lẽ đây là bức thơ cuối cùng anh viết cho em. Thật là ngại ngùng, Hatsuyo, nhưng mà anh không thể nào chờ đợi lâu hơn nữa để bày tỏ những gì mà anh muốn nói từ lâu.

“Lần nói chuyện cuối cùng vừa rồi, em đã nói rằng anh không hiểu trái tim của một người đàn bà. Em đã sai lầm, Hatsuyo. Sai lầm quá đỗi.

“Em có nhớ lại những ngày thơ ấu của chúng ta không? Những ngày huyền diệu, tràn ngập tiếng cười đùa ấy? Anh và em đã sống như tình ruột thịt, và ngay cả thời gian sau này chúng ta vẫn còn cảm thấy như vậy.

“Những gì mà anh muốn nói với em từ lâu, Hatsuyo, là trong tim anh, em chính là người anh yêu mến nhứt trên quả đất này. Bây giờ, anh biết, anh đã coi em như một người mà anh đặt tình yêu duy nhứt vào đó. Có lẽ nói như vậy thật bậy, có lẽ điều này anh nói ra không phải lối nhưng anh tin rằng hình ảnh của em không lúc nào vắng bóng trong tim anh. Trước đây anh chưa ý thức, nhưng anh đã biết rõ điều đó trong những tháng cuối cùng này.

“Anh đã yêu em từ rất lâu, Hatsuyo, và yêu em sâu đậm. Lúc ấy anh đã chôn giấu tình cảm thật sự của anh. Anh yêu em! Anh đã chờ đợi để thốt ra những lời này từ lâu lắm rồi. Chiến tranh đã dựng lên một hàng rào vĩ đại ngăn cách chúng ta. Anh ý thức rằng tình cảm của anh không bao giờ bày tỏ được, rằng tình yêu này sẽ chôn kín mãi mãi trong lòng.

“Hơn tất cả, chúng ta là anh em họ gần. Có lẽ đó là điều tốt nhứt để đặt cuộc hôn nhân nằm phía bên kia tầm tay của chúng ta. Nhưng bây giờ, anh đã nói ra những gì cần nói. Và bây giờ, tình yêu của anh, Hatsuyo, em là tình yêu duy nhứt mà anh dành cho sự cầu nguyện. Mong em sống dài lâu, mong hạnh phúc thuộc về em mãi mãi.”

Saburo Sakai.”

Sáng hôm sau công việc huấn luyện chiến đấu của chúng tôi vụt sôi động. Các phi công la hét ồn ào, khi họ nhìn thấy hàng mấy chục chiến đấu cơ tân kỳ, loại mới toanh bóng mượt đáp xuống phi trường. Kawanishi N1K-J “Shiden” (Tử Ðiện) là loại chiến đấu cơ mà tôi đã từng bay thử không lâu trước đây. Bọn phi công mừng quýnh khi đưa các chiến đấu cơ mới này rời khỏi mặt đất. Tốc lực cao! Bốn đại bác! Bọc thép! Lướt lên dữ dội! Chúi xuống như chớp!

Chiếc Shiden là phiên bản thứ nhì của khu trục cơ thử nghiệm Kawanishi “Kyofu” (Cường Phong) nhưng trang bị động cơ mạnh hơn, nó như con chiến mã chờ đợi kỵ sĩ. Các kỵ sĩ la ó vì kích động, đã chấm dứt thời kỳ của những chiếc Zéro thua sút những chiếc Hellcat mọi mặt! Ai ai cũng nóng lòng cất cánh tức khắc để kiểm tra những tính năng tinh diệu của chiếc Tử Ðiện này. “Bọn Hellcat cứ đến đây! Chúng sẽ biết chúng ta bay như thế nào!” Các phi công la oang oang, tinh thần của mọi người lên cao trở lại. Không đoàn Matsuyama khí thế bừng bừng. Ða số các phi công trong tân không đoàn này đã từng tham dự nhiều trận đánh và nhiều người đã hạ trên mười phi cơ địch. Chúng tôi là thành phần kiệt xuất của toàn thể các đơn vị không quân thuộc Hải quân Hoàng gia, điều này giải thích tại sao chúng tôi được cung cấp những phi cơ mới. Cùng với chúng tôi là các tân khóa sinh xuất sắc nhứt tuyển lọc từ các khóa thi tuyển, nên mặc dù rất cần những người tình nguyện sang các đơn vị Thần Phong, các phi công của không đoàn mới này, tập hợp lại, được xem là vũ khí trên không mạnh mẽ nhứt của Nhựt Bản từ trước đến nay, và Trung tá Nakajima đã bác bỏ tất cả những lời thỉnh cầu thuyên chuyển qua các đơn vị Kamikaze.

Hơn mười ngày trôi qua, thời gian thăm thẳm nhưng bức thơ tôi gởi cho Hatsuyo không thấy hồi âm. Tôi không hiểu tại sao nàng không trả lời tôi.

Lo lắng vì nghĩ đã vô tình xúc phạm gia đình chú thím mình do lời lẽ trong thơ quá đường đột, nhưng tôi không thể để cho tình cảm chi phối nhiệm vụ, nhứt là ở hiện tại. Tôi lao vào công tác khái quát đội hình chiến thuật cơ bản nhằm đánh chặn oanh tạc cơ B29.

Ngày hôm sau nữa, Hatsuyo vẫn lặng im. Tim tôi bồn chồn như lửa đốt. Không một người anh họ nào viết thơ cho em họ như thế. Tôi đã phạm lỗi quá lớn!

Vào ngày thứ mười hai sau khi tôi gởi lá thơ, lúc tôi rời khỏi lớp giảng huấn mà tôi vừa dạy về kỹ thuật không chiến, một liên lạc viên hấp tấp chạy đến báo cho tôi biết có hai người khách đang đợi tôi ở phòng khách. Tôi ra khu Tiếp tân ngay lập tức.

Tôi nhìn thấy Hatsuyo và thím tôi đang chờ. Ngay khi tôi bước vô phòng, Hatsuyo đứng bật dậy.

“Saburo, em đến đây để làm vợ anh.”

Tôi kêu lên:

“Hatsuyo!”

Nàng dịu dàng lặp lại, chậm rãi:

“Em đến đây, Saburo, để bàn về cuộc hôn nhân của chúng ta.”

Tôi đứng bất động, không thốt nên lời.

“Nếu anh chuẩn bị để chết, Saburo, em cũng sẽ chuẩn bị như anh. Nếu chúng ta chỉ được một đôi ngày hoặc một đôi tuần bên nhau, ít ra chúng ta cũng sẽ có khoảng thời gian ấy trong tay khi chết. Ðó là ý muốn của Thượng đế dành cho chúng ta…”

Nàng nhìn tôi đăm đăm rồi nói với tất cả quả quyết, điềm tĩnh:

“Chúng ta thuộc dòng dõi Samurai, nếu anh phải chết, Saburo, em được giáo dục để chết theo một samurai. Thì không vì cớ gì mà em không được làm vợ anh. Em đến đây để làm vợ anh, Saburo.”

“Hatsuyo!” Tôi kêu lên lần nữa. Chuyện này khó thể tin là sự thật. Tất cả hoàn toàn kỳ diệu đối với tôi.

Thím tôi góp lời để tác hợp chúng tôi.

“Saburo, không có gì ngăn trở hôn nhân của các con. Chung huyết thống không là vấn đề. Cả hai con đều có thể chất lành mạnh. Tác hợp giữa con với Hatsuyo cũng là ước muốn của chú thím.”

Tôi sung sướng đến phát điên lên. Tất cả như một giấc mộng vụt hiện thực nhưng trước khi bàn xa hơn về hôn lễ, tôi cần phải viết thơ cho má tôi để yêu cầu người ưng thuận. Trong thơ hồi đáp, má tôi cho biết bà rất tán thành nhưng không thể tham dự hôn lễ. Ðường hoả xa hoàn toàn gián đoạn. Trận bom sau cùng đã phá hủy nhà ga Kyushu. Ngay cả thuyền bè cũng tạm ngưng vì không một tàu nào của Nhựt không bị máy bay Ðồng Minh oanh tạc. Má tôi yêu cầu chú thím tôi lo liệu mọi chi tiết cần thiết.

Hatsuyo và tôi kết hôn vào buổi chiều ngày 11 tháng Hai năm 1945, là ngày Quốc Khánh của Nhựt Bản. Hôn lễ cử hành đơn giản. Không một phi công nào tham dự, vì xế trưa hôm đó có báo động không tập. Thay cho ban nhạc là tiếng kèn báo động của hàng trăm loa phóng thanh. Sau lễ lạy tạ chú thím, tôi với Hatsuyo đi bộ trong một phố tối đen vì cúp điện đến một đền Shinto là quốc giáo của Nhựt, để xin ơn trên chứng giám tâm nguyện thành thân của tôi với Hatsuyo.

Tuần trăng mật dĩ nhiên bị gạt ra ngoài vì hoàn cảnh hiện tại. Chủ Nhựt kế đó, chúng tôi mời 50 phi công của Không đoàn Matsuyama tham dự một bữa tiệc để đền bù sự vắng mặt của họ vào đêm hôn lễ của chúng tôi. Các phi công cười rũ vì chi tiết “dàn nhạc giao hưởng” còi hụ ngân vang và siêu pháo đài bay B29 đến chung vui cùng chúng tôi. (Là không tập “thử nghiệm” đầu tiên của B29 dội bom xuống thủ đô, mười ba ngày sau đó 174 siêu pháo đài bay này sẽ thiêu hủy chu vi 2.5 km vuông phố xá Ðông Kinh). Các đồng đội tôi đem đến nhiều rượu saké và thức ăn để bù thêm vào các món ăn mà Hatsuyo cùng với em Michio đã cố gắng hết sức. Họ đem theo cả đàn Bầu, đàn Tây ban cầm và Phong cầm cùng hát bè nhạc vu quy. Họ đồng ca hết bản này đến bản khác để chúc tụng chúng tôi. Các phi công không ngớt ca ngợi nhan sắc của Hatsuyo làm tôi phỉnh mũi vì kiêu hãnh. Rồi Hatsuyo cùng đệm dương cầm chung làm thành ban nhạc sống của đêm thâu. Thím tôi dành cho chúng tôi một bất ngờ, thím lặn lội xuống các miền quê xa tìm mua cho bằng được thịt bê và tôm tươi mà ở Ðông Kinh không còn trông thấy nữa, tôi không biết thím làm cách nào nhưng các đồng đội của tôi đã hưởng ứng nhiệt tình đến bóng láng các mâm đồng trong niềm vui tột cùng của chú thím và ánh mắt long lanh của Hatsuyo. Buổi tiệc kéo dài quá nửa đêm. Thỉnh thoảng Hatsuyo ngó tôi đẵm trìu mến. Ðó là những giờ phút sung sướng nhứt mà tôi chưa từng biết trước đây. Tất cả những hạnh phúc của quá khứ như bị hạnh phúc của hiện tại che mờ hết.

Mắt tôi không lúc nào rời khỏi Hatsuyo. Nàng thật huyền diệu. Nàng là một giấc mơ có thật, một công chúa trong những câu chuyện thần tiên, xinh đẹp tuyệt trần và rực rỡ. Nàng là vợ tôi.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment