Vietmessenger.com
Văn Quang
Post by Sơn râu 10 Sep 2026




Ở tuổi 84, nhiếp ảnh lão thành Mạnh Đan đã “lui về ở ẩn”. Nhưng khi văn hóa nhiếp ảnh khuấy động thời sự làng nhiếp ảnh, ông cũng không thể đứng ngoài, bởi lẽ “... quyển sách viết không đúng sự thật liên quan đến cá nhân tôi, và nhiều điều theo tôi biết là không trung thực”. Là nhiếp ảnh gia nổi tiếng, cùng thế hệ với các tên tuổi như Cao Đàm, Cao Lĩnh…, cụ Mạnh Đan có lý do để phản ứng: “Quyển sách viết về nhiếp ảnh miền Nam trước năm 1975 sai sự thật rất nhiều. Có thể tác giả không nhìn ở tầm rộng mà chỉ nhìn ở tầm hẹp và suy diễn, bóp méo sự thật”.
Đó là những hàng chữ tôi đọc được khi cụ Mạnh Đan bước vào căn phòng nhỏ của tôi trên chung cư, đưa tờ Thanh Niên tuần này cho tôi xem. Cụ ngồi ngay ngắn, móc bao thuốc lá Cotab ra hút, im lặng chờ tôi góp ý. Trong số nghệ sĩ lão làng trước 1975 còn ở lại Sài Gòn, có lẽ cụ Mạnh Đan là vị cao niên nhất. Cụ sống gần như biệt lập trên căn lầu tiệm ảnh Mạnh Đan, giữa đường Điện Biên Phủ. Nhà dưới là tiệm ảnh do các con cụ trông coi. Khi Phan Nghị còn sống và tôi chưa có căn nhà vườn trên Lộc Ninh, thỉnh thoảng cụ ghé chung cư thăm tôi. Cụ vẫn đi chiếc xe đạp điện, không phải loại mới sau khi xăng tăng giá mà là loại xe đạp điện cũ. Sau này có dịp về Sài Gòn, tôi vẫn mời cụ đi ăn, đi chơi cho đỡ cô quạnh, khi có anh em ở xa về muốn gặp cụ. Hạn chế giao thiệp là thứ “bệnh” của người lớn tuổi. Vì thế mời được cụ không dễ dàng.
Tấm Lòng Của Người Nghệ Sĩ Với Sự Thật
So với tuổi 84, cụ còn khoẻ lắm. Tay cụ run rồi, cầm máy ảnh lên, bấm máy không còn chính xác nữa. Tuy vậy đôi khi cụ vẫn “nhớ nghề”, leo lên xe hơi của người học trò cũ đi “chu du sơn thủy”, hết Chapa đến Hạ Long và tất cả xóm làng từ Nam chí Bắc, tìm những “cây đa cũ bến đò xưa”. Tôi có cảm tưởng đó là các tác phẩm cụ dành cho cuối đời mình hoặc các hình ảnh mà từ bao năm qua cụ đã chụp nhiều nhưng vẫn thấy “cay cú”, thiếu sót một điều gì đó mà thời trẻ cụ chưa hoàn toàn mãn nguyện với những tác phẩm của mình. Đó chính là sự toàn tâm toàn ý của một nghệ sĩ với tác phẩm.
Tôi muốn nói điều này để thấy tấm lòng một nghệ sĩ lão thành luôn tôn trọng giá trị nghệ thuật đích thực cũng như tôn trọng mọi sự thật trong phạm vi nghệ thuật.
Chính vì lẽ đó, cụ đã mang bài báo đến cho tôi đọc. Sự nổi giận của cụ điềm đạm, từ tốn, song tôi thấy rõ nó sâu sắc, mạnh mẽ hơn là một người bị hàm oan. Cụ nổi giận với những gì cuốn sách viết về cụ không bằng những gì cuốn sách mô tả về “một thời kỳ trước 1975”, các nghệ sĩ nhiếp ảnh đã làm và đã suy nghĩ. Ngay trên đầu cuốn “Văn hóa nhiếp ảnh” tôi đọc được hàng chữ của cụ với nét chữ run run, nhưng dứt khoát: “Cuốn sách này tác giả Đức Chính viết về nhiếp ảnh miền Nam không thật khách quan, thậm chí suy diễn bóp méo sự thật, gây nghi ngờ đến người đọc”.

Sự Phẩn Nộ Của Lão Nghệ Sỹ
Sau đây là nguyên văn một đoạn bài báo Thanh Niên ngày 9-9-2008:
“Có những chi tiết rất vô lý, như chuyện nghệ sĩ Hoàng Thịnh sinh năm 1942, sách viết ông là người Việt đầu tiên nhận tước hiệu FIAP (do Liên đoàn Nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế cấp) năm 1956. Hóa ra Hoàng Thịnh là nghệ sĩ FIAP lúc mới… 14 tuổi (!).
Hoặc tác giả viết nghệ sĩ Mạnh Đan đoạt huy chương vàng ở Áo và Đức, trong khi chính nghệ sĩ Mạnh Đan cho biết: “Tôi xin khẳng định tôi không hề nhận huy chương vàng từ hai quốc gia đó. Viết như thế là không tôn trọng sự thật, khiến tôi rơi vào tình trạng khai man giải thưởng”.
Cụ Mạnh Đan đã nhiều lần mời tác giả Nguyễn Đức Chính đến trao đổi về những sai sót trên. Sau cùng ông Chính chịu gặp. Cụ Mạnh Đan yêu cầu phải có người thứ ba làm chứng, do ông Chính chọn nhưng phải trung thực. Buổi gặp diễn ra ngày 22-8, gồm cụ Mạnh Đan, ông Chính và nghệ sĩ Mai Anh làm chứng. Cụ Mạnh Đan yêu cầu ông Chính cải chính những thông tin không đúng sự thật, nhưng tác giả khăng khăng từ chối. Điều đó khiến cụ bất bình: “Quyển sách đã đưa tôi vào tình trạng khai man giải thưởng quốc tế. Đã là người nghệ sĩ, nếu khai man thành tích thì tự đào thải chính mình. Vì thế, nếu tôi im lặng thì hậu quả sẽ tai hại đến mức nào cho uy tín và sự nghiệp của cá nhân tôi”.
Ông Chính cũng đặt lại vấn đề với cụ Mạnh Đan: “Mười bốn năm qua ông Đan vẫn im lặng, nay không rõ nguyên cớ gì mà phản ứng với sách của tôi?”.
Đưa chuyện này ra hỏi, cụ Mạnh Đan cho biết cụ không hề im lặng. Bằng chứng khi quyển Lịch Sử Nhiếp Ảnh Việt Nam — Hội NSNAVN, sơ thảo lần thứ 7 — ra mắt năm 2007, cụ đã góp ý thẳng rằng phần quyển sách viết về nhiếp ảnh miền Nam “chưa trung thực”. Cụ Đan đưa cuốn tạp chí Nhiếp Ảnh Của Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam số 242 tháng 4-2008 chứng minh: “Ngày 3-4-2008 và ngày 19-3-2008 tại TP. Sài Gòn và Hà Nội có buổi hội thảo “đóng góp ý kiến cho cuốn Lịch Sử Nhiếp Ảnh Việt Nam”, cụ đã góp ý thẳng rồi chứ không đợi đến bây giờ.
Phải nói đây là công trình rất “truân chuyên”, đã qua 7 lần sơ thảo nhưng vẫn vấp phản ứng quyết liệt từ nhiều phía nên chưa ra sách được. Theo cụ Mạnh Đan, ông Chính là một nhà lý luận nhiếp ảnh nhưng trích một nguồn tài liệu còn tranh cãi, hơn nữa là bản sơ thảo từ năm 1993 cho thấy ông Chính “không am hiểu sự việc”.
Trong cuốn Văn Hóa Nhiếp Ảnh, tác giả còn dẫn chuyện nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông tại đại hội Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam lần VI, tháng 3-2005, đã phát biểu: “Ngày xưa chúng tôi chụp người dân tộc gầy ốm giơ xương là để các nước Âu Mỹ thương mà bố thí cho dân mình”. Ý kiến này đã gây cơn bão dư luận xoáy vào nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông. Khi ông Thông một mực kêu oan là không hề phát biểu câu đó thì tác giả Nguyễn Đức Chính chưa trưng được bằng cớ nào chứng tỏ ông Thông có nói. Theo nghệ sĩ Trịnh Đình Thu, vấn đề trên đã được đưa ra trong cuộc họp Câu Lạc Bộ Nhiếp Ảnh Người Cao Tuổi Sài Gòn, nơi các ông Thông, Chính đều là thành viên. Tại buổi họp, ông Chính có xin lỗi đã “làm phiền” nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông, nhưng lại không có câu nào thừa nhận là viết sai sự thật. Một phát biểu như vậy khiến nhiều người Việt thấy bị tổn thương lòng tự trọng dân tộc.
Thế nên nhiếp ảnh gia Trịnh Đình Thu đã gay gắt bày tỏ cái gọi là “phát biểu” đó, dù có hay không có, đều không nên và không thể đưa vào quyển sách về văn hóa nhiếp ảnh.
Ông Chính Là Ai?
Theo nhiếp ảnh gia Trịnh Đình Thu: “Ông Chính được xem là nhà lý luận phê bình nhiếp ảnh, là một trong số người biên soạn cuốn Lịch Sử Nhiếp Ảnh Việt Nam, phụ trách về mảng nhiếp ảnh miền Nam. Tuy nhiên, tập sách Văn Hóa Nhiếp Ảnh của ông viết về nhiếp ảnh miền Nam bộc lộ nhiều sai sót. Những nhân chứng của nhiếp ảnh miền Nam như các nghệ sĩ Mạnh Đan, Hoàng Thịnh, Nguyễn Văn Thông… đều còn sống mà tác giả Nguyễn Đức Chính không hề tham khảo ý kiến của họ, lại tự viết theo chủ ý cá nhân, dẫn đến những thông tin sai sự thật, gây tổn hại không chỉ cho một số cá nhân nghệ sĩ mà còn cho cả một thế hệ người cầm máy”.
Những Sai Sót Sơ Đẳng Chứng Tỏ Điều Gì?
Trong cuốn sách, tôi còn nhận ra vài sai lầm ngớ ngẩn như nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh bỗng dưng trở thành sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, trong khi ông là sĩ quan Binh Chủng Nhảy Dù. Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm được gán cái chức trưởng phòng nhiếp ảnh Phủ Tổng Thống, trong khi ông chỉ làm việc ở Bộ Thông Tin. Những điều này tuy nhỏ đã chứng tỏ người viết không hiểu gì về người mình viết. Vậy thì làm sao viết trung thực được.
Có một sự thật mà lâu nay người ta khó nhận ra, đó là một số người viết lách nửa mùa, cố tình xuyên tạc, bôi nhọ các văn nghệ sĩ trước đây từng được biết đến nhiều nhất tại miền Nam Việt Nam. Tôi không chụp cho họ cái mũ cố tình “theo voi hít bã mía”, nhằm diệt uy tín các văn nghệ sĩ miền Nam trước 1975. Có thể họ chỉ là kẻ bị lợi dụng mà không hề hay biết hoặc có biết cũng làm lơ. Cái chính là trình độ nhận thức và ý thức của họ quá kém cỏi, lòng ghen ghép đố kỵ cao hơn sự hiểu biết nên nghe đâu viết đó, mong có tí tên tuổi, phồng mang trợn má tự cho là “ngự sử của thời đại”, muốn phê phán sao cũng được. Thích ai thì khen, dù đó là một “vì sao lạc” ở cõi nào tới chẳng ai biết. Ghét ai thì chê, xuyên tạc, bôi bác, không phê bình tác phẩm, có khi cũng chẳng đọc tác phẩm mà nhằm vào đời tư tác giả nào đó để “quây hôi bôi nhọ”, thậm chí cả chuyện mà người ta không ngần ngại gọi là “chuyện gầm giường”.
Con số đó không nhiều, nhưng cũng đủ khiến người ta phải nghi ngờ, phải đặt vấn đề có hay không. Thế là họ coi như đã thành công. Nhưng tất nhiên, rồi độc giả cũng nhận ra “chân tướng” của những “chuyện gầm giường” đó và đánh giá được đâu là giá trị đích thực qua các tác phẩm, các hoạt động trong đời sống văn học nghệ thuật của từng người.
Trở lại với “lời tố cáo” của tác giả cuốn “Văn Hóa Nhiếp Ảnh”, ông Chính còn dẫn chuyện nghệ sĩ Nguyễn Văn Thông tại Đại hội Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam lần VI đã phát biểu: “Ngày xưa chúng tôi chụp người dân tộc gầy ốm giơ xương là để các nước Âu Mỹ thương mà bố thí cho dân mình”.
Dù thế nào, ai cũng thấy đây là một dẫn chứng có ác ý. Không người Việt Nam nào không phẫn nộ khi nghe một nghệ sĩ có tên tuổi phát biểu như vậy, có khi người ta còn tưởng mình nghe nhầm. Và theo tôi nghĩ, một nghệ sĩ như Nguyễn Văn Thông không thể phát biểu thiếu suy nghĩ và tồi tệ đến như vậy. Nhưng sự bịa đặt thì thật dễ dàng. Ông Thông đã hoàn toàn phủ nhận lời tố cáo này. Trong khi tác giả Nguyễn Đức Chính tiếp tục khẳng định Nguyễn Văn Thông có phát biểu trong Đại hội VI Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam. Đại hội có thư ký ghi chép, có băng ghi âm, và ông Chính cũng đã đề nghị Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh cung cấp bằng chứng. Tuy nhiên, gặp phóng viên báo Thanh Niên, ông Nguyễn Văn Thông nói rằng ông Chính chỉ nhiều lần nói sẽ cung cấp bằng chứng trong lúc ông Nguyễn Văn Thông vẫn đang hứng chịu nhiều phản ứng dư luận vì đã “phát biểu” ý trên thì đến nay, sau nhiều lần hứa hẹn, bằng chứng của ông Chính vẫn… chưa thấy đâu (!).
Mục Đích Chính Của Những Kẻ Bất Luơng
Có lẽ mục đích chính của tác giả cuốn sách khi tố cáo điều này chỉ là làm cho độc giả hiều ngầm rằng: “Bọn nghệ sĩ miền Nam trước đây là như thế đấy”. Một trong những cách bôi nhọ tốt nhất, hiểm độc nhất. Cái thứ mà bọn bất lương vẫn dùng để triệt hạ uy tín của người khác. Về nội dung nghệ sĩ Hoàng Thịnh sinh năm 1942 nhưng nhận tước hiệu FIAP năm 1956, nghĩa là khi mới 14 tuổi (!) như sách đã nêu, Nguyễn Đức Chính trình bày sai sót này do “lỗi morasse”, đúng ra nghệ sĩ Hoàng Thịnh nhận tước hiệu vào năm 1975. Theo ông Chính sai sót này hoàn toàn có thể khắc phục được.
Cụ Mạnh Đan cười khẩy, nhận định rằng ngay cả sự đính chính này cũng sai nốt, bởi ông Hoàng Thịnh nhận tước hiệu năm 1996, chứ không phải 1975.
Theo cụ Mạnh Đan, việc ông Chính là một nhà lý luận nhiếp ảnh nhưng trích một nguồn tài liệu còn tranh cãi, hơn nữa là bản sơ thảo từ năm 1993 cho thấy ông Chính “không am hiểu sự việc”.
Cả nghệ sĩ Nguyễn Mạnh Đan, Nguyễn Văn Thông và nhiều nghệ sĩ khác cũng nói rằng ngoài nội dung trên, tập sách của Nguyễn Đức Chính “còn rất nhiều điều gây tranh cãi”. Cho nên, thời gian tới họ sẽ tiếp tục tranh luận gắt gao với tác giả.
Ít nhất thì cũng cần phải làm rõ trắng đen, những dòng chữ tố cáo kia là có thật hay là xuyên tạc, không chỉ cho một nghệ sĩ danh tiếng mà còn là uy tín và danh dự của tất cả người cầm máy ảnh tại miền Nam trước năm 1975 như nghệ sĩ Trịnh Đình Thu đã nói: “Những thông tin sai sự thật, gây tổn hại không chỉ cho một số cá nhân nghệ sĩ mà còn cho cả một thế hệ người cầm máy”.
Đó là đòi hỏi chính đáng của dư luận. Nguyễn Đức Chính phải chịu trách nhiệm về những gì đã viết ra, đã được in và phát hành, buộc ông phải chứng minh được lời ông Thông đã nói khi ông ta đoan chắc còn biên bản cuộc họp, còn băng ghi âm… Nếu không chứng minh được, Nguyễn Đức Chính phải đính chính trước dư luận và ngay nhà xuất bản, Hội Nhiếp Ảnh, cũng phải có thái độ với những hội viên như thế. Điều này còn tùy thuộc vào người bị vu oan, có đặt vấn đề gì khác nữa không.
Trước khi ra về, cụ Mạnh Đan bùi ngùi nắm tay tôi: “Mình già rồi nhưng tấm lòng đối với nghệ thật vẫn nặng lắm. Nghệ thuật đầu tiên phải là sự trung thực, không thể vì lẽ này hay lẽ khác, vì muốn lấy lòng người này hoặc người kia, phe này hay phe khác mà chà đạp lên sự thật”.
(Sài Gòn, 10-2008)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.