vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 5 Sep 2026



(Bài phát biểu trong buổi giới thiệu sách “Đi Lấy Chồng Xa” tại Phòng Sinh Hoạt NB Người Việt ngày 26 tháng 3 năm 2006)
Tạp Ghi là một danh từ Hán Việt được kết hợp rất kỳ lạ, nửa Hán nửa Việt. Chữ Hán là tạp ký. Không thể là tạp ghi. Nhưng danh từ tạp ghi đã ở với tiếng Việt từ khá lâu và cũng không có một tiếng nói phản đối nào dành cho sự kết hợp đó. Huy Phương viết tạp ghi.
Ông không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng viết tạp ghi. Tản Đà, Phan Khôi, Hiếu Chân, Đái Đức Tuấn, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền … đều đã viết tạp ghi. Gần như các nhật báo ở Sài Gòn trước năm 1975 đều có những mục tạp ghi, và người ta đọc báo rất nhiều khi là để đọc các cây bút tạp ghi vì tin tức trong nước cũng như thế giới thì các báo đều giống nhau cả. Những chuyện rất hàng ngày, những tin nghe được ở quán nước đầu đường, ở quốc hội, đôi ba câu tuyên bố của các ông tướng, các nhân vật trong chính phủ, các dân biểu, nghị sĩ được kéo dài thêm, vặn vẹo đi một chút là chúng ta có những bài viết khi thì cay độc, khi thì hài hước trong các báo. Báo nào cũng có những cây viết tạp ghi để lôi kéo độc giả.
Tạp ghi là một loại viết sau nhiều năm tiến hóa, đã trở thành một sản phẩm đặc biệt Việt Nam như danh từ tạp ghi.
Nó không phải là potin của tiếng Phẩp. Potin theo lối giải thích của cụ Đào Duy Anh trong Pháp Việt Tự Điển, là chuyện chạo bậy, chuyện thìa la đôi mách. Có thể đó là cách hiểu, cách định nghĩa, cách nhìn của thời cụ viết cuốn tự điển, những năm 1930. Nhưng một cuốn tự điển Pháp Anh mới đây vẫn dịch potin là gossip và potiner là ngồi lê đôi mách, chuyện không nghiêm túc. Có lẽ film du jour, phim trong ngày là những chữ gần gũi nhất với tạp ghi của chúng ta. Phim trong ngày, phim hang ngày, mỗi ngày, trong đó các đào kép được người viết tạp ghi cho múa may quay cuồng, vẽ thêm tí râu, bôi thêm chút son phấn và đẩy ra sân quay.
Vì thế, những bài tạp ghi còn được gọi là phim và người viết tạp ghi là những cây bút viết phim cho các báo.
Nguyễn Xuân Hoàng đã nói đúng về thể tạp ghi, đó là người viết đem một sự kiện treo lên để nhìn ngắm và đắp thêm da thịt cho sự kiện đó. Chuyện đắp thêm da thịt, hay thêm mắm muối cho món ăn nấu trong bếp là việc làm của người viết tạp ghi. Đi chợ mua thịt cá, rau trái về để trên mặt bếp thì là chuyện ai cũng làm được. Nhưng pha chế, nấu những vật liệu đó để thành một món ăn được thì phải là những người biết làm bếp.
Nấu xong, mà chỉ múc đổ ra chén đĩa một đống xà bần thì giống những thứ thấy tại các quán ăn Mễ. Có thể ngon, nhưng không thấy hấp dẫn. Ông Tản Đà có thể thêm một điều kiện khác cho chuyện ăn ngon của ông, đó là nếu bầy biện, trình bầy không đẹp thì không ngon. Bầy biện cho đẹp, cho mỹ thuật thì chúng ta thấy tại các tiệm Nhật nhiều hơn. Vì thế, ngoài việc nấu nướng, nêm nếm, chuyện trình bầy những món ăn cũng là chuyện cần thiết.
Các cây viết tạp ghi vừa phải biết nấu, pha chế, nêm nếm, dầu mỡ, muối hành, nấu chín hay chỉ đảo qua trong chảo, hay ninh cho nhừ trong nồi đã đành, người viết tạp ghi còn phải trình bầy sao cho hấp dẫn.
Huy Phương là người làm những công việc đó, rất thành công như đã thấy trong hai cuốn tạp ghi của ông, Nước Mỹ Lạnh Lùng và Đi Lấy Chồng Xa. Huy Phương viết rất đều đặn, nhưng hệt như hai câu ca dao
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo dai một hột, đắng cay muôn phần
Cái đắng cay muôn phần đó nằm trong nỗi ám ảnh của tác giả. Phải viết. Phải viết. Không được nghỉ.
Việc làm của họ là việc rất khó của những người thợ nấu hồ. Họ được trao một thùng nước lã. Và họ phải làm sao gột được nên hồ. Không có bột, chỉ nước lã cho các ông. Và người ta chờ một nồi hồ mới khổ cho các ông. Từ nhưng chuyện không có gì đáng nói, a non-story, một chuyện không có chuyện, một bản tin dễ dàng bị chìm vào những trang trong của tờ báo, người viết tạp ghi tinh mắt, nhìn ra chuyện đó, đem kể lại cho người đọc. Nếu chỉ kể không thôi, thì nó chỉ là một bản tin, bản dịch của một cái tin trong báo. Nhưng vận dụng khả năng liên tưởng, đưa vào cái nhìn riêng của mình, có khi phẫn nộ. có khi ngậm ngùi, có khi hài hước, có khi rất thơ, có khi đơn sơ và mộc mạc là việc làm của những người viết như Huy Phương. Thí dụ tạp ghi Người Mễ Bán Hoa Bên Đường là một. Trong những lần lái xe ngoài đường chắc chắn ai cũng phải đã nhìn thấy những người đàn ông đứng ở đèn xanh đèn đỏ, tay cầm mấy bó hoa nhỏ để bán cho những người lái xe dừng lại chờ đèn xanh ở ngã tư. Chúng ta thấy những người này bao nhiêu lần. Họ đứng đó, nhẫn nại, chờ cái cửa kính của một chiếc xe hạ xuống, một bàn tay vẫy gọi, là chạy nhanh ra hy vọng bán được bó hoa vài ba đồng bạc. Huy Phương cũng nhìn thấy, nhưng ông đã kể lại bằng tới tám trang giấy. Đọc bài này, người ta thấy ra một điều trong những tạp ghi của Huy Phương. Đó là ông viết với xúc động, với lòng thương người. Ông thương cho người đàn ông mà dòng xe cuốn xe ông đi tiếp, không cho ông kịp nhìn người đàn ông Mễ này kỹ hơn một chút, cũng không kịp để mua giúp người đàn ông đứng ngoài đường vào lúc trời nhá nhem tối. Ông nghĩ tới thân phận của những người đàn ông này, liều lĩnh vượt biên giới sang nước Mỹ, không một thứ giấy tờ hợp lệ nào, làm đủ mọi công việc có thể kiếm được để sống chắt bóp, gửi gần hết số tiền về cho vợ con, cha mẹ ở một cái làng nghèo khó nào đó nằm ở miền nam biên giới nước Mỹ.
Thì đó, chỉ một người đàn ông không quen biết đứng bán mấy bó hoa, mà ông nhìn ra bao nhiêu chuyện để cảm thông với những ngưòi mà chúng ta, nhiều lắm, chỉ biết qua những con số thống kê về những thành phần nhập cư bất hợp pháp. Thống kê là những con số, vô tình và nhiều khi độc ác một cách tàn nhẫn. Nhưng ngó gần, ngó gần khuôn mặt của những người đằng sau những con số đó, Huy Phương làm hộ cho chúng ta.
Ông chứng minh một câu nói của Will Rogers, một kịch sĩ hài hước Mỹ, rằng không có người nào mà chúng ta không thể mến được. Người đàn ông Mễ ấy trở thành một con người có thật, với gia đình, ưu tư, băn khoăn lo lắng trong cuộc sống và ông chỉ làm có một công việc, là kiếm sống cho mình và gia đình bỏ lại ở quê nhà.
Thế nào chẳng có một hai người đọc, bỏ cuốn sách xuống, và bắt đầu nhìn những người đứng trước Home Depot chờ những chiếc xe chậm chậm chạy tới là ùa ra, bằng thứ tiếng Anh không đúng giọng, cố nói lớn để xin được thuê mướn làm vài tiếng đồng hồ những công việc chẳng có gì đáng kiêu hãnh.
Hay trong tạp ghi Đi Lấy Chồng Xa, tác giả kéo người đọc ngồi xuống, và kể chuyện người chị lấy chồng ở xa gia đình rồi cảnh người bắc kẻ nam, ly cách chị em không gặp được nhau mấy chục năm trời, mẹ qua đời không gặp lần cuối. Mà đó mới chỉ là chuyện một người lấy chồng rồi phải xa rời gia đình, cha mẹ vì hoàn cảnh đất nước. Một chút liên tưởng, ông đem ca dao và đoạn Kiều bán mình chuộc cha ra để kéo người đọc về hoàn cảnh của những phụ nữ Việt bây giờ cũng đang đi lại con đường tủi nhục của người con gái họ Vương ở Bắc kinh trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du. Ông làm người đọc có thể rơi lệ, không thì cũng ngậm ngùi ở dòng cuối của bài tạp ghi.
Người viết như lối viết của Huy Phương luôn luôn tạo ra hai thứ phản ứng nếu là người viết thành công.
Một là phải rất yêu những điều đọc được. Và hai là phải rất ghét bài viết của tác giả. Bao giờ cũng phải hoặc thế nọ, hoặc thế kia trong hai đầu của thái độ nhìn. Hoặc rất yêu, hoặc rất ghét. Đọc xong, gấp cuốn sách lại, hay bỏ tờ báo xuống mà không một thái độ yêu ghét thì tác giả đã hoàn toàn thất bại. Bài viết chỉ là một bản tin báo chí. Văn chương là thứ văn chương “huề vốn”, ba phải, nhạt nhẽo, vô duyên.
Huy Phương viết rất nhân bản, tình cảm và đầy xúc động. Ông viết về những chuyện quanh ông, về đời sống ở nước Mỹ, về nhận xét về đời sống ấy. Một chuyện bé, ông xé ra to. Một sợi tóc, ông chẻ ra cho thành bốn, thành tám. Ông không bao giờ đánh mất cái nét nhân bản, hiền lành và tử tế trong cách viết của ông.
Ông nhắc người đọc bao nhiêu chuyện của quê nhà, của xứ Huế của ông mà không thấy ông địa phương khi viết về Huế mình của ông.
Huy Phương trong tác phẩm của ông và Huy Phương ngoài đời không khác nhau bao nhiêu. Đọc hai cuốn Nước Mỹ Lạnh Lùng và Đi Lấy Chồng Xa, người ta thấy thấp thoáng con người của ông ở trong, một con người của giáo dục, của quân đội, một ông Huế chay, một người viết có những nhận xét chi ly, nhưng không phải là một người viết khó tính và khó chịu tuy viết thể văn của ông khó mà không bị mang tiếng là khó tính và khó chịu.
Chuyện đọc sách, không ai chỉ cho ai được. Nhưng trong một bức thư viết cho một phụ nữ không quen biết trong cuốn Lettres À L’Inconnue, nhà văn André Maurois vẫn thử làm công việc đó. Maurois dẫn lời một ông thầy cũ, nói là nên đọc ít sách. Nhưng phải có lựa chọn. Chỉ đọc những cuốn sách đáng đọc. Bắt chước André Maurois, chúng tôi xin đề nghị quí vị đọc Huy Phương.
Quý vị hãy đọc Huy Phương, như chúng tôi đã làm. Đọc Huy Phương, quí vị sẽ thích Huy Phương.
BÙI BẢO TRÚC
(tác giả Thư Gởi Bạn Ta)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.