vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 4 Sep 2026



PHAN NHẬT NAM
Không! Không được chôn vùi quá khứ,
Bởi anh sẽ mất luôn cả đôi mắt!
(Solzhenitsyn)
Vào tuổi sáu-mươi, người dần mất đi những tính cách, biểu hiện năng nổ, mạnh mẽ của thời trai trẻ, và xem đấy như là một điều thường tình, ắt có. Chuyện sẽ đến, tất phải đến vậy. Và trong tình thế “chẳng đặng đừng” nầy, họ rút ra những “kinh nghiệm khôn ngoan”, cách “ứng xử thuận lý” –
Coi như là tính chất, ưu điểm, thành quả có được từ tuổi già – tất cả sinh hoạt, nhu cầu vật chất, tinh thần đồng lần hạn chế, duy trì ở mức độ vừa đủ. Đủ theo nghĩa khắc kỷ. Biết mình, biết ta. Nhưng có một giới người, một tập thể người, tuy không hơn ai trong nấc thang giá trị của xã hội, nếu không nói phần lớn là thua sút qua so sánh với những tầng lớp xã hội khác về tài sản, công danh thâu đạt, sở hữu.. Tập thể nầy với một sinh hoạt đặc thù dường như không hề bị tác động bởi thời gian và điều kiện sống. Càng về già, nỗi nung nấu từ ngày trai trẻ của họ luôn được duy trì. Không những chỉ duy trì tồn tại, nhưng được nuôi dưỡng, phát triển với mức độ cao, sắc sảo, tinh tế, bền bỉ hơn – Nỗi nung nấu muốn được viết nên những chữ về cảnh đời họ chứng kiến, trải qua. Họ cũng nhận ra, không hẳn cần phải mô tả, nói tới những sự nghiệp ngoại hạng, thực hiện bởi những siêu nhân, kinh qua những tình thế “lớn” có tầm vóc lịch sử, thời đại (như tuổi trẻ họ (có thể) đã một lần nghĩ đến, dựng nên qua chữ viết).
Nay, mối nung nấu trong lòng những người xử dụng chữ, nghĩa kia (bản thân anh là một thành viên không lựa chọn, không thể chối từ) là nỗi canh cánh thao thức viết về những cuộc đời thường …Về những con người như bạn, như tôi .. Những người ta có thể bắt gặp nơi đâu trong suốt những năm tháng dài của thập niên 50, 60, 70, 80 … ở Việt Nam, và nay (qua Thế Kỷ 21), do một nghiệp vận kỳ lạ tràn đi khắp thế giới với từng bi kịch riêng rẽ. Phải, mỗi người, mỗi cảnh đời nơi Miền Nam, ở Việt Nam đã là một bi kịch toàn diện và toàn vẹn – Không phân biệt bất kỳ ai, vào thời điểm nào, trong bất cứ hoàn cảnh sống nào. Hơn thế nữa, qua vị thế người lính trong chiến tranh, người tù sau chiến tranh, chúng tôi mặc nhiên chứng kiến những điều trông thấy, về người, việc vượt cao quá tầm tưởng tượng – cho dẫu trí tưởng tượng phong phú đến thế nào. Không cần nói đủ, viết hết, chỉ kể ra được một phần nhỏ âu cũng là công việc đáng trân trọng, đánh giá cao. Chúng tôi không nói quá lời về một bổn phận, quan trọng hóa một việc làm mà thật ra chỉ là phản ứng “bất bình tắc minh” – quá nặng lòng nên cố gắng viết lên. Bản thân chúng tôi và người bạn, Huy Phương, cùng đi chung đường kể trên từ một thuở rất lâu. Hơn bốn mươi năm, và nay vẫn tiếp tục với cách thắm thiết, kiên trì … Bởi việc sử dụng chữ nghĩa không chỉ do mối thúc giục nồng nhiệt từ tuổi trẻ ngày xưa, mà nay còn chập thêm sức nặng của bổn phận: bổn phận của người được sống sót khi bao nhiêu người ngã chết. Rất nhiều người đã nằm xuống dài theo cuộc lữ hành gian nan hiện tại chưa hề chấm dứt. Chúng tôi phải nói về người, việc của cuộc trường chinh miên viễn bi thương vĩ đại mà mỗi người chúng ta đã dự phần … Cho dù điều gì cũng có thể xẩy đến trong ngày mai với cái chết đang bền bỉ chờ đợi ở cuối đường, không cho phép công việc nầy hoàn tất.
Người Lính như một uất bận … Chẳng phải đợi sau ngày mãn khóa Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, người viết Huy Phương mới hiểu ra nỗi cay nghiệt thương tâm của cuộc sống Người Lính, những người dùng xác thân (chính xác thân mình chứ không gì khác) để xây đắp nên “vinh quang sự nghiệp” của những kẻ gọi là “công hầu, khanh tướng”. Và như một nghịch lý của vô vàn nghịch lý (rất hợp lý) của đời sống hằng ngày luôn diễn ra (đời quân ngũ càng thêm biểu hiện cụ thể), những nhân sự gọi là quân tướng, công khanh kia hoàn toàn không hiểu ra điều đơn giản (cũng là yếu tố độc nhất): “Toàn bộ cái gọi sự nghiệp của họ được dựng xây nên trên thân xác, mối nhọc nhằn, tân toan nguy nan của mỗi người lính.”
Họ không hiểu như thế (hoàn toàn không thấy ra điều đơn giản bi tráng nầy) nên đã xẩy ra một hoạt cảnh bình thường (rất bình thường) như sau đây qua trí nhớ của sinh viên sĩ quan Lê Nghiêm Kính hơn bốn mươi năm trước:
“Người viết bài này còn nhớ trong cuộc hành quân thực tập cuối khóa 16 SQTB Thủ Đức giữa năm 1963, ông Chỉ Huy Trưởng buổi chiều có theo giám sát cuộc hành quân của chúng tôi, nhưng theo ông là một đoàn xe và cả một tiểu đội lính để dựng lều, có “xi-tẹc” nước cho ông tắm, có cả tủ nước đá lớn và nhiều chai rượu mạnh. Một điều gây ấn tượng mạnh, giờ này, bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn còn nhìn thấy như ngay trước mắt tôi, đó là tai nạn sau buổi thực tập tác xạ súng cối 60 ly của Đại Đội I chúng tôi tại quân trường. Sau giờ học, SVSQ được lệnh đi lượm các vỏ đạn để thu vào một đống. Một bạn đã vô ý ném vào một viên đạn lép 60 ly vào đống vỏ đạn. Một tiếng nổ kinh hồn đã giết mất sáu bạn trong đại đội chúng tôi và hai buấn luyện viên vũ khí, vì lúc ấy tất cả đều đứng quanh đó để chuẩn bị tập họp về trường.
Đại đội trở về doanh trại với một tâm trạng buồn rầu và tang tóc. Phía trong cổng Số 6 (cổng sau ngõ ra Tăng Nhơn Phú), ông Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi là Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám đang cầm can chỉ huy chờ chúng tôi bên cạnh chiếc xe Hoa Kỳ có gắn bảng sao của ông và đứng gần ông là một người lính cầm trong tay một ly rượu còn sóng sánh vàng với những viên đá cục và tay kia một chai rượu whisky sẵn sàng chờ lệnh chủ. Ngày đó chúng tôi và bạn bè chưa biết là sẽ phải chết vì những viên tướng như thế kia và đó chỉ mới là cái ấn tượng sơ khởi ở một nơi gọi là quân trường, chưa phải là ngoài đơn vị tác chiến.” (Huy Phương; Tạp Ghi “Huynh Đệ Chi Binh”, Người Việt, CA 2005)
Chưa phải là chiến trận, chỉ mới là quân trường, và đối tượng bị thiệt mạng lại là những sinh viên sĩ quan (nhân sự sẽ trở thành sĩ quan, cấp chỉ huy tướng lãnh của ngày mai), còn bị coi rẻ đến thế .. Hỏi thử sinh mạng người lính cấp hàng binh chết nơi một góc đồn hẻo lánh, giữa trận lửa của những năm 1968, 1972, 1975 … sẽ được đánh giá là bao?! Vậy đừng đòi hỏi Người Lính Miền Nam (có thể) làm gì hơn kể từ ngày 10 tháng Ba (ngày đại quân Miền Bắc cường tập tấn công Ban Mê Thuột, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng cho đến 30 tháng Tư, 1975 tàn cuộc .. khi những “lãnh đạo cao cấp, những tướng lãnh chỉ huy” đã đồng loạt bày ra điều bất nhẫn coi thường sinh mạng người lính và gia đình của họ (cũng toàn thể dân chúng Miền Nam) – thái độ mà họ đã thường hằng hành xử, thực hiện suốt cuộc chiến tranh. Ba mươi năm sau định giá lại để có một lần công bằng cho dẫu có muộn màng.
Người Việt Nam, thêm nối dài tiếng than … Nhưng người lính (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cũng chỉ là một đối tượng riêng biệt (cho dẫu chiếm đa số, thành phần nhân vật trung tâm của hầu hết gia đình người Nam) của chiến tranh, trong chiến tranh. Và khi chiến tranh chấm dứt với ngày 30 tháng Tư, 1975, xã hội Việt Nam nói chung, Miền Nam nói riêng chịu sự tàn phá của cơn lốc “xã hội chủ nghĩa” dậy nên từ những người đồng chủng đến từ Miền Bắc … Cơn bão thù hận sụp xuống với giá trị con người (bị đảo ngược) được quy kết từ “thành phần lý lịch” để toàn bộ thị dân Miền Nam bị xếp hạng nên thành “dân cư loại hai” do tội có “nợ máu với nhân dân” vì những liên hệ với chế độ “Mỹ-Ngụy”.
Vắng mặt người đàn ông trụ cột (do phần đông đã vào trại cải tạo); nhà cửa bị trưng thu; con trẻ bị ném ra khỏi trường học … Tất cả gánh nặng, sự tồn tại của một gia đình đè xuống vai người đàn bà … Và những người vợ, người mẹ của gia đình thị dân Miền Nam bằng một phép mầu có thật (hiện thực cuộc vượt biên vĩ đại qua lớp lớp sóng biển), đưa đơn vị gia đình (đã toàn diện tan nát) hình thành những nhân tố ổn định nơi đất người, tạo nên sức tác động “cứu trợ” ở quê nhà …
Và quê nhà dưới chế độ xã hội chủ nghĩa “thời mở cửa”, đến lúc hứng chịu nghiệp quả “nạn nhân” do sự tàn phá của chính mình gây nên sau ngày 30 tháng Tư của ba mươi năm trước: Xã hội không sản xuất, phát triển qua ngả dịch vụ bàn giấy, cửa quyền; làm hàng gia công; môi trường bị tàn phá; giáo dục xuống cấp … Cuối cùng, con người không còn một cái “vốn” nào khác chính xác thân mình trong một xã hội tiêu thụ với hiện tượng “phồn vinh giả tạo”- nhóm từ ngữ ngày trước Hà Nội dùng để biếm nhẻ xã hội Miền Nam nay đem áp dụng với hiện tại Việt Nam hẳn có phần chính xác hơn”.
Tổng kết lại, người Việt chỉ còn lại phần “vốn” thương tâm, tội nghiệp hơn tất cả, chính là thân xác con người
trong một xã hội không lối thoát. Với chữ nghĩa trầm lắng, nhân hậu, Huy Phương viết nên hành trình “không đường trở lại” của những người nữ Việt Nam trong một dịch vụ buôn bán (đúng ra là buôn thân) gọi là “kết hôn với người nước ngoài”: “…Không ai muốn gả con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình: “Mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông?”
Nhưng hôm nay … Có phải ngày nay tấm lòng con không phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, bay là vì tấm lòng cha mẹ đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai, Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa” phản ảnh con người và tư tưởng của cái xã hội ấy .. Ngày nay đã là chuyện đương nhiên, nếu việc (gả người con gái ấy) đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh diện ngẩng cao hơn.
Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô đưa là nghèo đói làm không ra đủ ăn, không đủ tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho nhiều gia đình.
Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ Mc Govern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà những người có liêm sỉ đã thấy giận đỏ mặt, hôm nay đất nước này coi chuyện bán thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai nữa! (Huy Phương – “Đi Lấy Chồng Xa”), Người Việt CA 2005)
Nhưng sự việc không hẳn là một chiều – chiều cụ thể của kinh tế, vật chất … Nếu ở trong nước những giá trị tinh thần dần bị vất bỏ, đảo lộn: Mối tương quan cha mẹ-con cái; thầy-trò; nhà cầm quyền-người dân … đồng đặt trên trị giá của những tờ bạc đô-la Mỹ (mà đất nước không hề là một đơn vị sản xuất với định giá “một trong mười nước nghèo nhất thế giới”) thì ở bên ngoài, những người Việt đã một lần kề cận tử sinh lại rơi vào một tình trạng “bất hợp lý”: “ … Trong đời sống hằng ngày, câu thăm hỏi nhau phản ánh đầy đủ tâm trạng và suy nghĩ của con người trong xã hội. Sau tháng 4 – 1975, ở miền Nam, lúc khốn đốn người ta hỏi nhau “Bây giờ sinh sống ra sao, anh đi cải tạo về chưa?” Sau đó năm mười năm thì như một phong trào, câu hỏi đầu
môi mỗi người khi gặp nhau là “Nhà có cháu nào vượt biên không?” hay “Gia đình có ai ở ngoại quốc không?” Nhưng có một điều mâu thuẫn, là cũng những con người đó, sau khi đã vượt biên, tìm đủ mọi cách để ra đi, bây giờ gặp nhau ở ngoại quốc, lại vồn vã chào hỏi nhau “Về Việt Nam lần nào chưa?” Chúng ta nhớ lại, lúc ra đi, ai cũng muốn đi, bây giờ chuyện về Việt Nam lại rộ lên như một phong trào. Đi đâu người ta cũng hỏi nhau về chuyện đã về chưa, về bao nhiêu lần? (Huy Phương, Tạp Ghi “Quẳng Cầy Gậy Trúc”, Người Việt, CA 2005)
Tuy nhiên, một số người Việt không hoàn toàn như thế, họ vẫn giữ nguyên dấu ấn của buổi khổ nạn … Họ giữ lại vết tích của nỗi đau – không để gây chứng cớ thù hận, nhưng tập họp những điều bi thảm trên đoạn đường vượt biên để cho hậu thế và con cháu chúng ta biết thế nào là nỗi gian nguy của thế hệ đã bỏ nước ra đi.
“ … Chúng ta, những người Việt Nam có vụ tàn sát Mậu Thân tại Huế, có tấn thảm kịch trên biển Đông, có những trại tập trung cải tạo, mà tất cả nhân chứng giờ này hãy còn sống ở đây. Những người sống sót được tới bến bờ tự do sau bao nhiêu ngày hãi hùng trên biển cả, những suy nghĩ trong những giờ phút ấy và bây giờ tưởng như đã xa xôi, cách biệt, chẳng muốn nhìn lại con đường đã đi qua …Chúng ta không dạy con cháu hận thù, nhưng những bài học lịch sử cần phải để lại cho đời sau một cách nguyên vẹn, đúng đắn. Chúng ta có thể nào quên được quá khứ và chúng ta sẽ nói điều gì với những thế hệ tiếp nối sau này, nếu thực sự chúng ta không muốn lịch sử sẽ tái diễn và không muốn những nỗi thống khổ của con người trên trái đất vẫn còn tồn tại!
Tục ngữ cổ Trung Hoa có câu “Điều trước thanh trúc can, vọng khứ khiếu nhai thời”, tạm dịch bậy là “Vừa mới quẳng cây gây trúc, đã quên ngay thuở ăn mày” (Huy Phương, Tạp Ghi “Quẳng Cây Gậy Trúc”, Người Việt CA 2005)
Chúng ta không giữ chiếc gậy để xử dụng làm vũ khí tấn công (những kẻ đã đẩy ta vào đường cùng khốn).
Nhưng giữ chiếc gậy cơ khổ để hằng nhắc nhở … Tránh gây nên nỗi đau cho con người. Đừng bao giờ.
PHAN NHẬT NAM
Cali, Cuối Năm Ất Dậu, 2005
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.