vietmessenger.com
Tủ sách Khoa Học Nhân Văn
Lê Thanh Hoàng Dân
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Post by Sơn râu 26 Aug 2026


Martin Caidin
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch
Trẻ Xuất Bản 1974

Thời gian từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 5-1942, Phi đoàn Lae của chúng tôi không thiệt mất một chiếc Zéro nào trong những lần đụng độ với địch quân. Nhờ biết người biết ta, và nhờ vào đội hình chiến thuật hữu hiệu nhứt, chúng tôi đã tìm được lợi thế và thâu hoạch một loạt chiến thắng đơn phương.
Vào ngày 13 tháng 5, phi cơ của tôi bị hư hỏng máy móc nên bắt buộc phải ở lại. Việc này đã cho tôi dịp may nhận được mấy lá thơ vào buổi sáng, do tiềm thủy đĩnh mang đến mỗi tháng một lần. Má tôi viết rằng các anh tôi đã nhập ngũ. Một người tình nguyện vô trường phi công hải quân nhưng không được nhận, vì gặp phải những đòi hỏi quá nghiệt ngã. Thay vào đó, anh tôi đầu quân vào căn cứ hải quân Sasebo làm thủy thủ. Người anh khác của tôi xin vô Lục quân và đã lên đường sang Trung Hoa. Anh sẽ không bao giờ trở về nhà. Mãi lâu sau chúng tôi mới biết, là anh được thuyên chuyển sang Miến Ðiện và thiệt mạng ở đó trong lúc thi hành nhiệm vụ.
Nhưng dĩ nhiên, bức thơ mà tôi chờ đợi nôn nóng hơn hết là lá thơ của Fujiko. Nàng viết nhiều về sự đổi thay to tát ở quê hương, và tôi đã ngạc nhiên với cái tin hiện nàng đang làm việc trong một cơ sở biến cải thành cơ xưởng quân cụ của người chú. Nàng viết:
“Hiện tại, không ai được ăn không ngồi rồi cả. Thủ tướng đã tuyên bố như vậy. Ông ta nói rằng ngay cả phụ nữ nếu họ ở nhà mà không đóng góp vào nỗ lực chiến tranh, họ sẽ bị gọi nhập ngũ và gởi vô bất kỳ phân xưởng nào xét thấy cần thiết. Do đó, để giữ em gần với gia đình, chú em đã mướn em làm việc cho ông.”
Cô em họ Hatsuyo xinh xắn của tôi có những tin tức còn đáng lo âu hơn nữa. Nàng viết rằng thân phụ của nàng đã được thuyên chuyển từ Shikoku về Ðông Kinh. Trở về thủ đô được vài ngày, nàng đã chứng kiến tận mắt các oanh tạc cơ B25 của Hoa Kỳ dội bom. Ðó là ngày 18 tháng 4.
“Em biết rằng anh đang đứng trước đầu sóng gió,” Hatsuyo viết, “và những thành quả mà anh đạt được trong việc chống quân thù khiến cho tất cả chúng em, những người sống ở hậu phương, cảm thấy vô cùng yên lòng. Nhưng Ðông Kinh và nhiều thành phố khác bị oanh tạc đã làm thay đổi thái độ của dân chúng hướng về cuộc chiến. Bây giờ mọi việc đã đều đổi khác, những trái bom đã rơi xuống đây, trên quê hương chúng ta. Bây giờ em phải cố gắng làm việc nhiều hơn để yểm trợ cho anh và những phi công khác, những người cách xa Nhựt Bản ngàn trùng.”

Hatsuyo vẫn đi học, nhưng trọn buổi chiều và vài giờ vào buổi tối nàng phải làm việc trong các phân xưởng sản xuất quân trang với các cô gái cùng trang lứa. Hai anh tôi đi lính, Fujiko và Hatsuyo làm việc trong các cơ xưởng chế thuốc đạn… tất cả đều lạ lùng.
Hatsuyo không mô tả chi tiết cuộc oanh tạc của đối phương, tuy nhiên cùng ngày đó chúng tôi đã nhận được tin tức. Ðương nhiên chính phủ đã phủ nhận những thiệt hại nặng nề. Nhưng tất cả các phi công ở Lae đều biết mức độ tàn phá của oanh tạc cơ địch. Họ đủ sức nghiền nát quê hương chúng tôi, cho dù có thể bị trả đũa sau đó. Lúc tôi đang còn đọc thơ, Chuẩn úy Wataru Handa bước vô yêu cầu tôi cho mượn Trung sĩ Honda, phi công bên cánh của tôi để thực hiện một phi vụ ở hải cảng Moresby. Chuẩn úy Handa mới đến Lae, mặc dù chưa chiến đấu ở Thái Bình Dương, nhưng là một trong những phi công nổi tiếng của Nhựt Bản ở chiến trường Trung Hoa, với 15 phi cơ địch bị hạ. Sau khi trở về từ Hoa Lục, hắn trở thành huấn luyện viên phi hành ở trường phi công Tsuchiura. Tôi không hề có một thắc mắc nào trong việc để cho Honda bay với hắn.
Tuy nhiên, Honda từ chối. Anh ta ấp úng: “Tôi không đi thì tốt hơn, Saburo. Từ trước đến nay tôi chỉ bay chung với anh, và bây giờ tôi không muốn thay đổi.”
Tôi chận ngay: “Ồ! Anh đừng có nói điên! Handa là một phi công tài giỏi hơn tôi nhiều, và cũng bay lâu hơn tôi, anh cứ đi!”
Trưa hôm đó, Honda cất cánh với 5 chiến đấu cơ Zéro khác cho một phi vụ quan sát trên không phận Moresby.
Sự miễn cưỡng của Honda khiến tôi lo lắng và tôi đã tháo mồ hôi hột trong lúc chờ đợi anh ta trở về. Hai giờ sau, năm chiếc Zéro đáp xuống: phi cơ dẫn đầu của Chuẩn úy Handa và bốn người khác. Phi cơ của Honda không thấy!
Tôi chạy ùa ra phi đạo và leo lên cánh chiếc Zéro của Handa ngay trước khi cánh quạt ngừng quay. “Honda đâu?” Tôi hỏi lớn, “Anh ta đâu? Việc gì đã xảy ra cho anh ta?” Handa nhìn tôi, mặt mày khổ não. “Anh ta đâu?” tôi hét. “Việc gì xảy ra?”
Handa leo ra khỏi phòng lái. Ðứng trên mặt đất, hắn nắm lấy tay tôi, khom mình xuống, và cố gắng lắm mới nói được. Tiếng nói của hắn run run. “Tôi… tôi rất ân hận Saburo. Honda, anh ta… anh ta đã thiệt mạng. Việc này lỗi tại tôi.”
Tôi ngơ ngẩn! Tôi không tin được! Honda không thể chết! Anh ta là một phi công bên cánh tài ba hơn bất kỳ một phi công nào mà tôi đã từng bay chung.
Chuẩn úy Handa vừa đi vừa nhìn xuống mặt đất, rồi bước vô Bộ chỉ huy. Tôi đi theo hắn không thốt được lời nào.
“Chúng tôi ở trên phi trường Moresby” vừa đi Handa vừa nói, giọng nhỏ. “Chúng tôi bắt đầu lượn vòng ở cao độ 7,000 bộ. Không thấy phi cơ địch nào trên bầu trời, nên tôi nhìn những phi cơ đậu trên mặt đất. Ðó là lỗi của tôi, tất cả đều là lỗi của tôi. Chiến đấu cơ địch xuất hiện mà tôi không thấy. Ðó là những chiếc P39 Airacobra. Tôi không biết bao nhiêu. Chúng chúi xuống mau đến nỗi tôi không kịp trở tay. Chúng tôi chỉ biết sự hiện diện của phi cơ địch khi súng đã nổ. Tôi lộn ngay một vòng, phi công bên cánh khác của tôi cũng làm như tôi. Khi tôi đảo quành lại, tôi thấy phi cơ của Honda bao trùm trong lửa đỏ. Hắn bị hoả lực chéo của mấy chiếc P39 cùng một lúc.”
Tôi đứng lại nhìn hắn trừng trừng. Handa bước đi luôn. Hắn sẽ không bao giờ phục hồi sau cú đấm vừa nhận lãnh. Mặc dù hắn là một “Sát tinh” ở Trung Hoa nhưng hiển nhiên hiện thời hắn đã mất hẳn sự nhạy bén trên không trung.

Hắn chưa từng đối đầu với chiến đấu cơ Hoa Kỳ bao giờ. Dù sao đi nữa, Handa cũng cảm thấy hổ thẹn khi hắn để cho phi công bay bên cánh bị thiệt mạng. Những ngày ở Lae hắn xanh xao vàng vọt. Cuối cùng, hắn mắc bệnh lao và được gởi trả về xứ. Nhiều năm sau, tôi nhận được một bức thơ của bà vợ Handa. Bà ta viết: “Nhà tôi qua đời ngày hôm qua sau chứng bệnh dai dẳng. Tôi viết thơ này thể theo lời yêu cầu của nhà tôi, nói lên lời tạ tội thay cho anh ấy. Nhà tôi không bao giờ hồi phục phong độ sau sự mất mát ở Lae. Lời cuối cùng nhà tôi thốt lên khi chết: “Suốt đời tôi, tôi đã chiến đấu dũng cảm, nhưng không thể nào quên được khi tôi để mất người của Sakai.”
Khi chết, Trung sĩ Honda chỉ mới 20 tuổi. Anh ta là một con người dũng mãnh trên mặt đất cũng như trên không trung. Honda được thương mến nhứt trong phi đội của Sasai. Tôi rất hãnh diện có một phi công bên cánh kiêu hùng như anh ta. Suốt hôm Honda chết, tôi giống như sống trong sương mù. Tôi đi lang thang quanh căn cứ. Tôi không lưu tâm đến đòi hỏi phải phục thù cho phi công thiệt mạng của phi đoàn, theo như những người còn lại đề nghị. Nhưng đến ngày 17 tôi thay đổi ý kiến. Ðối với tôi, thành công lớn nhứt trong khi chiến đấu của tôi là không bao giờ để mất đồng ngũ bên cánh. Tôi đã làm trái ý muốn của Honda, để hắn bay với người khác, và hắn đã chết. Ngày hôm sau, 14 tháng 5, tôi nhận Hạ sĩ Hatori thay thế cho Honda. Vào ngày 15 tháng 5, mưa đổ như thác lũ, có nghĩa là một ngày nghỉ của tất cả các phi công. Nhưng trước bình minh ngày 16, nhiều oanh tạc cơ B25 Mitchell bay sà thấp trên ngọn cây lướt đến đào nát phi đạo và thổi bay nhiều cơ xưởng bảo trì.
Bước sang ngày thứ hai chúng tôi vẫn chôn chân trên mặt đất, bỏ cả một ngày để chỉ làm công việc dọn dẹp và lấp hố bom trên phi đạo. Sau đó, chúng tôi vô ngồi trong doanh trại, nhiều phi công ngủ gà ngủ gật, một số khác thảo luận về nhịp độ tấn công gia tăng của địch quân.
Ngày trôi qua chậm chạp, và đêm đó Nishizawa, Ota và tôi đi đến phòng truyền tin để nghe giờ âm nhạc do đài phát thanh Úc Ðại Lợi phát ra hàng đêm.
Nishizawa thình lình lên tiếng: “Hãy nghe điệu nhạc này. Nó có phải là Ðiệu Vũ của Tử Thần không?”
Chúng tôi gật đầu. Nishizawa bỗng nhiên lộ vẻ hào hứng. “Ðiệu nhạc này làm tôi nảy ra một ý kiến. Các bạn biết phi vụ không kích Moresby vào ngày mai? Tại sao chúng ta không biểu diễn “Ðiệu Vũ của Tử Thần” của chúng ta để đối phương xem chơi?”
Ota hỏi: “Anh nói cái quái gì vậy? Tôi thấy anh giống như thằng khùng!”
Nishizawa cãi: “Tôi nói thật. Sau khi không kích xong, trên đường bay về hãy quay lại Moresby, chỉ ba chúng ta thôi, để biểu diễn một màn nhào lộn ngay trên đường băng của đối phương để chọc giận họ chơi.”
“Có vẻ thú vị đó,” Ota nói, “nhưng còn chỉ huy trưởng? Ông thầy có cho chúng ta chơi suôn sẻ không?”
Nishizawa cười: “Ai dại đi xin phép? Khi đề nghị trò chơi này tôi phải biết cách chớ.”
Chúng tôi trở lại doanh trại, và cả ba to nhỏ bàn tán kế hoạch hành động ngày mai. Dù cho chỉ có ba chúng tôi xuất hiện trên không phận Moresby nhưng chúng tôi không sợ. Cả ba chúng tôi đã bắn rơi tổng cộng gần 70 phi cơ địch rồi: tôi 27 chiếc, Nishizawa 20 chiếc và Ota 18 chiếc.
Ngày hôm sau, chúng tôi quét Moresby với sức mạnh tối đa: 18 chiến đấu cơ Zéro, với Thiếu tá Tadashi Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, đích thân hướng dẫn. Nishizawa và tôi bay hai bên cánh của ông. Cuộc không kích là một thất bại. Trên phi trường địch không có bóng một phi cơ nào. Nhưng câu chuyện trên trời cao thì khác. Nhiều chiến đấu cơ địch, trong đội hình ba chiếc, ùa đến tấn công chúng tôi. Chúng tôi xoay lại và đánh dàn mặt với nhóm đầu tiên. Cuộc hỗn đấu xảy ra, sáu chiếc P39 trong đó có hai chiếc là nạn nhân của tôi rớt cháy rực như cây đuốc. Nhiều chiến đấu cơ Zéro tách rời khỏi trận không chiến chúi xuống bắn phá phi trường. Hai chiếc bị đạn phòng không, què quặt và đâm vô sườn núi Owen-Stanley trên đường trở về.
Ngay sau trận không chiến, chúng tôi trở lại đội hình, và trên đường về tôi ra dấu cho Thiếu tá Nakajima biết tôi phải truy đuổi một phi cơ địch. Ông vẫy tay, và tôi bổ nhào ngay xuống với hai phi công bên cánh: Ota và Nishizawa.
Sau một vài phút chúng tôi trở lại Moresby, bay vòng trên phi trường ở độ cao 12,000 bộ, khoảng 3,600 m. Súng phòng không im tiếng và không có chiến đấu cơ nào xuất hiện. Cả ba chúng tôi bay trong đội hình chỉ cách nhau vài thước. Chúng tôi lộn nhào ba vòng. Nhìn quanh để tìm kiếm phi cơ địch lần cuối cùng, tôi chúi mũi xuống để lấy tốc độ với Nishizawa và Ota đeo dính hai bên. Tôi kéo ngược cần điều khiển theo hình vòng cung và lộn ngược lại phía sau. Hai chiếc Zéro kia cũng làm y như tôi, rồi lấy thăng bằng và vừa lăn tròn vừa bay vòng quanh.
Hơn hai lần, chúng tôi vượt lên, bay vòng quanh, chúi xuống và lại lộn ngược trở lên bằng cách lăn tròn. Không một khẩu cao xạ nào bắn lên từ mặt đất, và bầu trời không có bóng dáng bất kỳ chiến đấu cơ nào của địch.
Sau khi biểu diễn lần thứ ba, Nishizawa khoái chí và muốn biểu diễn lại một lần nữa. Tôi xoay sang trái, thấy Ota cười và gật đầu đồng ý. Tôi không thể từ chối. Chúng tôi chúi xuống chỉ cách phi trường địch 6,000 bộ là chỉ còn 1,800 thước là chạm mặt đất và lăn tròn ba vòng xoáy ốc lên không trung rồi đảo quanh thật nhịp nhàng trong đội hình hẹp trước khi buông thả chơi vơi cho rơi xoắn xuống gần chạm đất rồi đột ngột dựng thẳng đứng lên trở lại. Cánh sát cánh. Vẫn không có tiếng súng nào bắn lên. Giống như chúng tôi đang bay bên trên chính phi trường của mình. Bên dưới, đông đúc khán giả đang ngó lên chiêm ngưỡng chúng tôi chăm chú.
Chúng tôi trở về Lae hai mươi phút sau khi các chiến đấu cơ khác đã đáp xuống. Chúng tôi im thin thít. Ngay sau đó chúng tôi ngồi chụm đầu lại bàn tán thì thầm, cười đùa thỏa thích. Tuy nhiên, sự bí mật của chúng tôi sớm bị khám phá. Quá chín giờ đêm đó, một liên lạc viên chạy vô phòng ngủ cho biết Ðại úy Sasai muốn được “diện kiến” các “vũ công” chúng tôi tức khắc. Chúng tôi nhìn nhau lo lắng. Hành vi của chúng tôi có thể nhận lãnh hình phạt nặng nề.
Ngay sau khi chúng tôi bước vô văn phòng, Ðại úy Sasai nói lớn: “Hãy coi đây, các anh là bọn hoang đàng!” Mặt ông đỏ gay, trong khi tay phất qua phất lại trước mắt chúng tôi một lá thơ viết bằng tiếng Anh… “Các anh có biết tôi nhận được cái này từ đâu không?” Ông hét lớn, “Không biết? Ðể tôi nói cho nghe, vì các anh là mấy tên ngu ngốc. Bức thơ này vừa được một chiếc phi cơ địch thả xuống sân bay cách đây vài phút!”
Ðại úy Sasai vốn trầm tĩnh nhưng mà lúc đó gương mặt ông đầy cáu bực. “Các anh là phi công hay phường tuồng sân khấu? Tôi chỉ huy phi công hay đào hát?”, rồi ông cất cao giọng, “để tôi đọc cho các anh nghe”.
“Thơ viết:
“Gởi Chỉ Huy trưởng Căn cứ Lae: chúng tôi sẽ nhớ mãi ba tên phi công đã thăm viếng chúng tôi ngày hôm nay. Tất cả chúng tôi đều khoái mấy cú lộn nhào của họ trên phi trường của chúng tôi. Ðó là một màn trình diễn rất tới. Chúng tôi sẽ lấy làm hân hạnh nếu ba tên phi công này trở lại thăm viếng chúng tôi một lần nữa, mỗi tên nên quấn một khăn quàng màu xanh quanh cổ để làm hiệu. Chúng tôi rất buồn đã không đón tiếp họ chu đáo, nhưng hy vọng lần sau họ sẽ được tất cả chúng tôi tiếp đón nồng nhiệt hơn.”
Cả ba chúng tôi cố giữ lắm mới khỏi cười nôn sặc sụa. Bức thơ được ký bởi một nhóm phi công chiến đấu cơ Úc. Sau đó Ðại úy Sasai bắt chúng tôi đứng như trời trồng để phạt hành vi ngu ngốc của chúng tôi. Ðặc biệt, chúng tôi được lịnh không bao giờ thực hiện màn trình diễn nhảy múa nào thêm nữa trên các phi trường địch.
Ðó là một sự đối đãi tốt của thượng cấp, vì Ðại úy Sasai đã bao che cho chúng tôi bằng cách giấu nhẹm lá thơ không trình lên Thiếu tá Nakajima và Ðại tá Saito. Riêng chúng tôi hả dạ với “Ðiệu vũ của tử thần” ở Moresby của mình.
Tuy nhiên, đêm hôm đó không ai trong bọn chúng tôi biết rằng ngày hôm sau chúng tôi sẽ được xem một “Ðiệu vũ của Tử thần” thực sự diễn ra, chưa từng thấy trong các vở kịch từng diễn trên không. Bảy chiến đấu cơ Zéro thuộc phi đoàn của chúng tôi hộ tống tám oanh tạc cơ Betty không tập Moresby. Chúng tôi chưa tiến đến phi trường địch thì đã bị 18 chiến đấu cơ địch nhào xuống từ mọi hướng. Ðây là một trận đánh phòng vệ mà tôi chưa gặp bao giờ. Chúng tôi bị áp lực đến nỗi khó xoay trở trong việc bảo vệ cho 8 oanh tạc cơ. Mặc dù tôi đã đẩy bật nhiều chiến đấu cơ địch ra khỏi các oanh tạc cơ, nhưng không thể bắn rơi một chiếc nào. Ba chiến đấu cơ địch bị đồng bạn tôi bắn hạ. Trong khi đó, các oanh tạc cơ thả bom không mấy chính xác rồi bay lảng nhanh ra để quay về.
Tôi nhìn thấy một chiếc P39 lướt thẳng đến nhóm oanh tạc cơ với một tốc độ khủng khiếp, nhưng tôi đành bó tay. Chiếc P39 nhả một loạt đạn vào chiếc oanh tạc cơ bay cuối cùng, rồi lộn nhào và chúi xuống, vượt hẳn tầm súng của chúng tôi. Chiếc oanh tạc cơ tuôn một vệt lửa, sau đó bốc cháy dữ dội, chúi mũi xuống thật mau. Nó mất độ cao nhanh chóng và hình như mất hẳn sự kiểm soát.
Thình lình, vẫn bốc cháy dữ dội, mũi chiếc oanh tạc cơ khẽ ngước lên và bắt đầu vượt lên cao. Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc phi cơ bắt đầu lăn tròn, cách “biểu diễn” này khó thực hiện đối với một chiếc Betty. Nó vẫn tiếp tục lướt lên và vẫn lăn tròn cho đến khi biến thành một trái cầu lửa.
Lửa rớt từng bựng. Ngay cả khi chiếc phi cơ sắp sửa chúi mũi xuống thì một tiếng nổ dữ dội làm rung rinh cả phi cơ của tôi, chiếc oanh tạc cơ biến thành những mảnh vụn rơi lả tả. Trong ba tháng Năm, Sáu và Bảy, hầu như các trận không chiến xảy ra liên miên. Cho đến sau chiến tranh, tôi mới biết Phi đoàn Lae của chúng tôi đã đạt được nhiều thành quả nhứt so với những hoạt động của các đơn vị không quân chiến đấu Nhựt Bản khác. Ngay cả Rabaul là một căn cứ lớn, cũng không sánh bằng Lae.
Vào ngày 23 tháng 5, bảy chiến đấu cơ Zéro chận đánh năm oanh tạc cơ B25 Mitchell trên không phận Lae và chôn một chiếc xuống biển, cách phía Nam Salamaua 30 dặm. Ngày hôm sau, 6 oanh tạc cơ địch quay trở lại Lae. Không may cho các oanh tạc cơ này, mạng lưới báo động từ xa của Lae phát hiện ra chúng, và 11 chiếc Zéro cất cánh đốt cháy và bắn rơi 5 chiếc, đồng thời gây què quặt cho chiếc thứ sáu. Tôi bay cả hai phi vụ nghinh chiến này và trong hồ sơ của Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đã ghi vô điểm thắng của tôi thêm ba oanh tạc cơ nữa vào hai ngày này.
Nhịp độ của các cuộc tấn công gia tăng vào những ngày cuối tháng Năm. Lần đầu tiên, vào ngày 25 tháng 5, bốn pháo đài bay B17 bay tới tấn công Lae với 20 chiến đấu cơ hộ tống. 16 chiếc Zéro nhào ra chận đầu lực lượng này trên đỉnh dãy núi Owen-Stanley. Năm chiến đấu cơ địch bị hạ, nhưng các pháo đài bay thoát thân an toàn. Ba ngày sau, năm oanh tạc cơ B26 Marauder quay trở lại Lae. Tôi ghi một điểm nữa. Và vào ngày 9 tháng 6-1942, tôi gởi thêm hai chiếc B26 xuống đại dương.
Ngày giờ hình như không còn phân chia rõ rệt nữa. Ðời sống trở thành một chuỗi bất tuyệt của những cuộc càn quét trên không, của những phi vụ hộ tống oanh tạc cơ đến Moresby, của những cuộc chạy đua cất cánh để tiếp đón kịp thời các đối thủ đến viếng thăm. Ðồng Minh hình như có một nguồn tiếp tế phi cơ với một nguồn nhân lực vô tận. Tuần nào họ cũng chịu đựng sự thiệt hại nặng nề hơn chúng tôi, tuy vậy phi cơ của họ vẫn đến ném bom đều đều.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.