Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Cổ thi có câu: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu – Xưa nay danh tướng như người đẹp, chẳng mấy khi ai thấy bạc đầu!” Người đẹp thì chết yểu, danh tướng không bao giờ sống tới tuổi già. Đôi khi chúng ta còn thấy người đẹp còn có thể trở thành lão bà, nhưng đã gọi là danh tướng thật sự thì mấy người được sống lâu.

Là người lính ở miền Nam, chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cái chết của danh tướng: Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Đỗ Cao Trí đều tử nạn trực thăng lúc rất còn trẻ. Nguyễn Văn Hiếu chết gục trên bàn làm việc lúc chưa thi thố hết tài năng cho đất nước. Dù là danh tướng hay không nhưng tiết tháo như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai đều đã chết cho tròn nghĩa khí. Chưa thấy ai đầu bạc. Đọc những trang sử hào hùng của nước Việt, lòng chúng ta không khỏi bồi hồi xúc cảm thương xót những liệt sĩ anh hùng, đồng thời con dân nước Việt cũng ngẩng đầu hãnh diện vì những trang sử oanh liệt. Năm 1801, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng vây thành Qui Nhơn. Lương thực súng đạn trong thành đã cạn, quan Trấn Thủ là Võ Tánh cho người mang thư ra cho Tướng Trần Quang Diệu nói rằng:”Phận sự ta làm chủ tướng, thì dành chết ở dưới cờ, còn các tướng sĩ không có tội gì thì không nên giết hại.” Đoạn sai quân sĩ lấy rơm chất dưới lầu bát giác, đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp Trấn Ngô Tòng Châu cũng uống thuốc độc tự tử theo.

Sau hòa ước năm Nhâm Tuất (1882) triều đình Việt Nam nhường đứt ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Sau khi Ông Phan Thanh Giản đi sứ xin chuộc lại ba tỉnh này không thành, quân Pháp lại tiến đánh để thôn tính ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Biết thế chống đỡ không nỗi, ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Tháng 10 năm Quí Dậu (1873), quân Pháp đánh thành Hà Nội, chỉ non một giờ thành đã tan, con của Tướng Nguyễn Tri Phương là Phò Mã Nguyễn Lâm trúng đạn chết,

Nguyễn Tri Phương bị thương nặng bị quân Pháp bắt đem xuống tàu, ông nghĩ tới nỗi nhục, nhịn ăn, xé băng bó mà chết.

Trong trận đánh thành Hà Nội lần thứ hai (1893), quân Pháp vây thành, chỉ sau ba giờ tấn công, thành vỡ, Hoàng Diệu là Tướng giữ thành, thành mất, tướng tự ải mà chết theo thành như truyền thống thủy quân, tàu chìm, hạm trưởng phải chết theo tàu .. Ông Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam Sử Lược” đã viết những dòng sau đây về Tướng Nguyễn Tri Phương, cũng là lời nói chung về tiết tháo của các Tướng đã thà chịu chết chứ không chịu nhục: “Ông Nguyễn Tri Phương làm quan từ đời vua Thánh Tổ (Minh Mệnh), trải qua ba triều, mà nhà vẫn thanh bạch, chỉ đem trí lự mà lo việc nước, chớ không thiết của cải. Nhưng chẳng may khi quốc bộ gian nan, ông phải đem thân hiến cho nước, thành ra cả nhà cha con, anh em đều mất vì việc nước. Thật là một nhà trung liệt xưa nay ít có vậy.”

Đã là danh tướng, tiếng tốt để đến đời sau, thì phải có tiết tháo, trong sạch. Quan niệm xưa là “ơn vua, lộc nước”, khi cần đền đáp phải xả thân. Đời này phải là món nợ đối với quốc gia và cả với những thuộc cấp, những “vạn cốt khô” để cho tướng được “công thành.”

Những nhà vua yêu nước, bất khuất trong lịch sử thì chúng ta có vua Hàm Nghi bị đày sang Algérie, vua Thành Thái và vua Duy Tân bị đày sang đảo Reunion. Lịch sử đời sau chúng ta không thiếu anh hùng, như trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã viết: “Nước Nam không thiếu hào kiệt … .”. Chết dưới cờ chúng ta có những liệt sĩ đã làm nể mặt quân thù.

Người ta nói rằng số tướng lãnh của miền Nam tự sát khi thất trận lần này còn cao hơn tất cả các nước bị thất trận trong Đệ Nhị Thế chiến gộp lại. Khi người lính miền Nam thất trận vào tù, chỉ còn biết lấy phẩm cách của mình để trả lời cho sự trả thù, dày đạp của kẻ chiến thắng, thì cái chết của những tướng lãnh trên đây đã “rửa mặt” cho cả miền Nam thất trận. Có đâu như Tướng quân của tôi, khi thấy tình hình không cứu vãn nỗi, ông lên trực thăng bay về Cần Thơ không một lời từ giã, để đơn vị lại cho ông Đại Tá Chỉ Huy Phó, dở khóc dở cười khi địch quân tiến vào. Ông Tá chỉ huy trực tiếp của tôi thì lặn mất từ mấy ngày hôm trước, nằm một nơi nào đó ở Tân sơn Nhất, lâu lâu ông gọi về dặn tôi coi đơn vị, xong mấy công việc ở Tổng Cục, ông sẽ về.

Sau này vỡ lẽ ra thì ông đã cao bay xa chạy sau lần điện thoại nhắn nhe. Thà các ông cứ nói thật, cho đơn vị tan hàng để bảo toàn mạng sống và của cải cho thuộc cấp, hoặc ở lại với anh em dù là để cuối cùng đầu hàng đi nữa. Đằng này các vị đi hàng hai, nếu tình hình đảo ngược, chưa chừng còn được gắn thêm lon.

Sau nhiều năm một chén bo bo, một thìa nước muối, “chém tre đẳn gỗ trên ngàn”, bàn tay tôi đã bại xuội chắc không còn nhấc lên nổi để mừng các đàn anh của tôi ngày tha hương ngộ cố tri. Tôi thật lòng không mong gặp lại Tướng Quân của tôi ở một Sở Xã Hội nào đó trên đất Hoa Kỳ đang điền đơn để xin lãnh tiền … già.

Miền Nam chúng ta có đủ 152 vị Tướng Quân (*), đếm được bao nhiêu danh tướng. Nên nghĩ mà thương cho những người trung liệt.

(*) Danh sách trong phụ bản của cuốn “Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu” đã xuất bản.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment