vietmessenger.com
Huy Phương
Post by Sơn râu 12 Aug 2026



“Con lai mười bai lỗ đít”(1)
Tôi có một bà cô ruột trước năm 1954 lấy chồng tận Quảng Bình. Tháng 7-1954, cả gia đình cô tôi di cư vào Nam, để lại một người con gái bên kia vĩ truyến 17. Chị lấy chồng đã lâu, nhưng không có con. Năm 1972, chị nuôi một đứa con nuôi nhưng rủi ro khi lên sáu, cháu tắm sông bị chết đuối khiến cho chị tuyệt vọng vô cùng. Sau tháng 4-1975, nhân vào Huế thăm mồ mả cha mẹ và bà con, chị đã đến cô nhi viện Tây Lộc xin một đứa trẻ đem về nuôi, đó là một bé gái lai đen lên ba tuổi. Chị đem cháu về làng Cổ Hiền, Quảng Bình là nơi quê quán của chị. Từ khi đem cháu về trong gia đình, chị tôi chuốc lấy bao điều phiền phức, khinh khi của xóm làng. Chính quyền địa phương không có hảo ý với lòng từ tâm của chị, vẫn mỉa mai đứa con lai đen là di sản của đế quốc Mỹ xâm lược. Chị cho cháu đi học thì bị bạn bè trêu chọc, đánh mắng, hất hủi, thậm chí chị phải quà cáp lo lót cho cô giáo để nhờ cô bênh vực cháu. Bà con lối xóm thấy chị săn sóc, yêu thương đứa con lai thì đem lòng ganh tỵ khi so sánh với sự thiếu thốn của con mình. Cháu mới học đến lớp ba trường làng thì phải bỏ học. May mắn là cháu bé con lai rất hiền lành và có hiếu, mặc dầu bà chị tôi rất cưng chiều cháu, hơn cả người ta đối với con ruột. Không ai ngờ tới có một ngày nước Mỹ dang tay đón nhận những đứa con lai, hậu quả những năm chiến tranh mà người Mỹ hiện diện ở Việt Nam. Chị tôi đã phải tiếp những người bỏ công xa xuôi từ Hà Nội, Hải Phòng … vào trả giá để mua đứa con lai của chị với mười, hai mươi cây vàng, một gia tài mà chị nằm mơ cũng khó thấy. Cuối cùng chị đã bỏ miền Bắc và đem đứa con lai của Chị đến Mỹ vào năm 1993 sau bao nhiêu khó khăn và nhọc nhằn từ tâm hồn đến thể xác. Con cá trên cạn đã được trả về sông rạch. Cháu no đủ, được ăn học và sống một cuộc đời tử tế tại Mỹ, mặc dầu cũng không biết tới cha là ai, một người Mỹ gốc Phi Châu vô danh đã một lần tìm tới một người đàn bà quê mùa, lam lũ nào đó trên đoạn đường viễn chinh. Cháu cũng không thể nào tìm ra dấu vết của người sinh ra mình, vì một buổi tối nhá nhem mùa đông tại thành nội Huế, có một người đàn bà nghèo khổ, bất hạnh mới ở nhà hộ sinh ra, đã dấm dúi bồng một sinh vật đen đủi, gầy gò trong đống giẻ rách, đến cô nhi viện Tây Lộc dúi vào tay bà “xơ” phụ trách, rồi tất tả ra đi như kẻ tội phạm.
Cuộc đời một đứa con lai đen trong một xã hội như xã hội miền Bắc sẽ gánh chịu bao nhiêu điều kỳ thị, khinh khi, chưa nói đến những biện pháp về an ninh mà Cộng Sản dùng tới khi có chiến tranh “giết lầm hơn tha lầm” trong quá khứ. Trong thời gian, nếu bạn có dịp đi tù ngoài Bắc, đều đã chứng kiến những đứa con lai lớn lên và trôi nổi từ trại cải tạo này sang trại tù khác cho đến hết cuộc đời, không nhớ cha mẹ là ai, làng xóm ở đâu, vì những đứa con lai đối với chính sách ác độc của Cộng Sản, đó là “thành phần nguy hiểm của xã hội” cần phải tập trung “cải tạo”. Tôi biết chị tôi đã nhiều khi tự hỏi, phải chăng đem một đứa bé lai đen từ miền Nam về nuôi là một sự sai lầm quá lớn. Sau một thời gian bệnh hoạn và vì còn chồng ở Quảng Bình, chị tôi quyết định trở về và sống luôn ở Việt Nam. Con chim nhỏ từ đây đã đủ lông đủ cánh, dù không đẹp đẽ cao sang như phượng hoàng cất cánh đi xa thì cũng như con chim bồ câu nhỏ sống trong quãng trời tự do bay bổng.
Trong thời gian xa mẹ, cháu đã giúp đỡ cho chị tôi hết lòng vì biết chị tôi đã yêu thương cháu như thế nào. Chị tôi mất tại Việt Nam vào năm 2004, cháu trở thành đứa trẻ “tứ cố vô thân”, không biết cha mẹ, thân thích là ai và tôi trở thành ông cậu ở xa để lâu lâu cháu gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe.
Điều băn khoăn cho một bé gái lai đen lớn lên ở Mỹ là việc hôn nhân, nhất là khi cháu không có nhan sắc, cũng chẳng có tài năng gì đáng kể. Cháu sẽ kết hôn với ai và ai sẽ tìm đến cháu. Vì cháu lai Mỹ đen chẳng có cội nguồn, không một người Việt bình thường nào muốn lấy cháu làm vợ. Cháu cũng không muốn kết hôn với một người Mỹ gốc Phi Châu vì cháu thường tỏ ra sợ hãi những người cùng một nguồn gốc với cha mình, và những người này cũng không xem cháu như là đồng bào của họ. Tôi nói với cháu rằng ở Mỹ, người đàn bà không cần phải có chồng để nương tựa, nhưng khuyên cháu nên có một đứa con để hủ hỉ lúc về già. Đến nay thì tôi thực sự yên tâm, vì năm ngoái cháu đã kết hôn với một người có gốc gác và hoàn cảnh như cháu: một thanh niên Việt lai đen và mới đây đã sinh được một bé gái.
Những người con lai sang được đất Mỹ này, ai cũng trải qua những ngày tháng khó khăn, bất hạnh và buồn tủi, dù mỗi người một hoàn cảnh. Miền Bắc thì kỳ thị ra mặt, đã xô đẩy bao nhiêu đứa con lai tới chỗ chết dần chết mòn trong các trại cải tạo. Xã hội miền Nam ngày trước cũng không niềm nở gì với đứa con lai, thường thì các em sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, mẹ mang mặc cảm với xã hội, thất học, có khi vướng cảnh lang thang, bụi đời và bị xem là thành phần thấp kém của xã hội.
Khi sang được tới bờ rồi, nhiều gia đình đã đoạn tình bỏ rơi đứa con lai trước đây đã là tấm vé nhập cảnh cho cả gia đình, nhiều em đã không có gia đình hướng dẫn, có cơ hội học hành, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, không mấy người được may mắn thành đạt … Hôm nay các em đã không còn lo đến cơm áo, cô đơn hay bị kỳ thị trên đất Mỹ, nhưng trong thâm tâm các em vết thương cội nguồn vẫn còn là một điều ray rứt khôn nguôi.
Chỉ một số nhỏ quá ít được cha nhìn nhận, còn lại việc đi tìm tông tích, lý lịch không phải dễ dàng, một số đông nhìn đó như chuyện qua đường, một số khác sẵn sàng chối bỏ dĩ vãng. Cùng hoàn cảnh với đứa cháu lai đen của tôi, người con lai có thể nào loại bỏ mặc cảm ấy trong ngày một ngày hai. Chuyện con lai là vết thương của nước Mỹ, phải coi nó như chuyện lính Mỹ mất tích hay tử trận, nhưng 15 năm rồi, việc có một đạo luật cho con lai Mỹ nhập tịch khỏi qua các thủ tục thi cử và phỏng vấn vẫn còn là một điều gì xa vời khó thực hiện. Phải chăng nước Mỹ đang cố quên đi những di sản của chiến tranh Việt Nam để lại vì trước mắt còn những chuyện phức tạp từ những cuộc chiến mà nước Mỹ đang tham chiến.
Cơ hội được gặp gỡ nhau, thông cảm với nhau, tranh đấu cho quyền lợi của tập thể là điều cần thiết của anh chị em con lai trên đất Mỹ, vì không ai thương mình bằng chính những người cùng hội cùng thuyền, “cùng một lứa bên trời lận đận” như mình. Một cuộc họp mặt con lai sẽ diễn ra trong những ngày tới tại Nam California, nhưng trong tương lai tôi thực sự mong mỏi có một cuộc hội ngộ con lai trên toàn nước Mỹ, như trước đây các thuyền nhân ty nạn đã có dịp gặp gỡ nhau. Cô cháu lai đen bất hạnh của tôi hẳn phải ấm lòng khi được về nắm tay anh chị em, bạn bè trong một cuộc hội ngộ, chắc chắn vui, nhưng sẽ không thiếu những dòng nước mắt.
(1) Một câu chòng ghẹo con lai vô nghĩa của trẻ em trong vùng Cộng Sản.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.