Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 18 Feb 2026

Lời Người Viết:
#1- Liên tục từ tháng 12/2025 đến nay, cuối năm ta, đầu năm 2026, tôi đã có mặt, chứng kiến lần ra đi của Mai Bá Trác, Đỗ Thái Nhiên, Nguyễn Văn Thân và Bà Lý Tuyết Ánh nhưng người tôi đã sống chung trong đoạn đời dài từ 1950, 1960… 2000… 2020. Đã qua sống/chết có thật với MBTrác tại lần ra đi của Trần Trí Dũng/TĐ7ND (sau trận Đồng Xoài 11/6/1965); lần bay vô An Lộc với Ngyễn Văn Thân (8/6/1972) … Nên những lời sau đây không thể THẬT hơn được!
Thế nên, là tôi quyết định hoàn tất trong thời gian tới Tuyển Tập Thơ Viết Trong Lửa VN/Hỏa Thi VN những nội dung tôi đã viết trên đầu ngón tay trong giai đoạn nằm trong hầm cấm cố tử hình (7/9/1981-29/5/1988) ở ngoài Bắc, và tiếp tục trong từng ngày , giờ (tại) hôm nay trong bóng tối đơn độc ở Minnesota, Arizona, Colorado, CA…
Tôi phải viết vì KHÔNG LÀ CÂU CHUYỆN RIÊNG CỦA CÁ NHÂN PNN MÀ CHUNG CỦA MỐI ĐAU VN. -KHÔNG VIẾT LÀ CÓ TỘI.
Không mặc cảm đối với bất cứ ai dẫu là Dante, Balsac, Victor Hugo, Dostoevsky trước đây hay Boris Pasternak, Elie Wiesle hiện đại… hoặc như Nguyễn Du, Đỗ Phủ của VN, nơi Phương Đông; vì tôi biết chắc KHÔNG AI TRONG BẤT KỲ TRÊN THẾ GIAN NẤY KHỔ Sánh BẰNG một NGƯỜI VN BÌNH THƯỜNG.
Tôi phải viết vì vậy dẫu biết rõ mình chỉ là một Người Lính rất bình thường và tầm thường của Miền Nam/VNCH.
Báo tin cho Quý Bạn như vậy để tôi không (thể) tìm cớ tháo lui.
Phan Phi Danh
Người Lính PNNam- KBC4027-4919-4804

#2-Từ Thân-Ý-Tình của Phan Phi Danh- Nghĩa Nữ Kelly Lê Ngô Đông Phương chấp bút nên thành:
Tôi đã sống quá lâu. Quá lâu so với một đời lính. Quá lâu so với những người đã cùng tôi bước ra khỏi sân trường năm ấy – Rồi lần lượt biến mất khỏi cõi đời này.
Từ tháng Mười Hai năm 2025 đến nay, bước qua đầu năm 2026, tôi tiễn thêm bốn người nữa.
Mai Bá Trác; Đỗ Thái Nhiên; Nguyễn Văn Thân; và chị Lý Tuyết Ánh.
Tên họ bây giờ nghe giống danh sách một đơn vị tan hàng sau trận đánh.
Không còn tiếng cười. Không còn tranh luận. Không còn những buổi cà phê kéo dài tới tối.
Chỉ còn tôi.
Một người lính đã tám mươi ba tuổi.
Mười bốn năm lính tác chiến.
Mười bốn năm tù.
Và nay, năm mươi năm sau cuộc chiến và vẫn chưa ra khỏi chiến tranh.
1. Tuổi trẻ không kịp lớn
Năm 1965, tôi hai mươi hai tuổi.Không ai trong chúng tôi nghĩ mình đang đi vào lịch sử. Chúng tôi chỉ nghĩ đất nước đang lâm nguy thì mình phải có mặt.
Sau trận Đồng Xoài, ngày 11 tháng 6 năm 1965, tôi cùng Mai Bá Trác đưa xác Trần Trí Dũng, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù về Đà Nẵng. Không ai nói chữ hy sinh mà chỉ nghĩ – Nó đi trước.
Chiến tranh không phải là thù hận. Nó giống một thứ định mệnh. Như mưa tới thì phải chịu ướt.
Chúng tôi không anh hùng mà chỉ không muốn người khác chết thay mình.
2. An Lộc – Nơi tuổi trẻ dừng lại
Ngày 8 Tháng 6 năm 1972. Tôi bay vào An Lộc với Phi Công Trực Thăng Nguyễn Văn Thân. Không có tiếng chim. Không có tiếng người. Chỉ có đất đỏ tung lên vì pháo.Tôi nhận ra một điều kỳ lạ: Khi cái chết gần kề, con người không còn sợ chết mà sợ sống sót. Vì sống sót nghĩa là phải nhớ. Những người đã ra đi không mang chiến tranh theo họ. Họ được yên.
Kẻ còn sống mới là người mang chiến tranh suốt đời.
3. Ngày chiến tranh kết thúc. Một cuộc chiến mới bắt đầu
Năm 1975. Chúng tôi tưởng cuộc chiến đã xong. Thật ra nó chỉ đổi hình thái. Tôi bắt đầu 14 năm tù khồ sai biệt xứ. Ban đầu còn nhớ ngày, tháng. Sau thì chỉ còn nhớ mùa lạnh và cái đói. Trong những hầm cấm cố tử hình từ 7/9/1981 đến 29/5/1988, tôi bắt đầu viết thơ trên đầu ngón tay, trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn. Không giấy. Không bút. Không ai đọc. Viết chỉ để chứng minh mình còn tồn tại. Có những năm tháng phải ngủ ngồi vì nền xi măng lạnh buốt lưng trong mùa đông. Tôi co ro trơ trọi trong hầm giam nằm trong lòng đất, thần trí miên man nghĩ… Nếu ngày mai mình biến mất thì cả cuộc đời này chưa từng có.
Cho nên tôi viết. Không phải để làm văn chương. Mà để chống lại sự xoá bỏ.
4. Ra khỏi tù nhưng không ra khỏi bóng tối
Khi được thả khỏi nhà tù, 1989 tôi không còn trẻ. Thế giới đã đổi khác. Gia đình ly tán. Bạn bè tản mác khắp năm châu. Tôi đi tới Pháp, Úc, nhiều tiểu bang ở Mỹ… Mỗi nơi một người khác nhau. Giống những mảnh đạn vỡ sau vụ nổ. Chúng tôi gặp lại nhau không phải để kể chiến công mà để soát lại xem còn ai sống. Một buổi cà phê của những người lính già có nhiều khoảng lặng.
Mỗi người nghe (lại) một chiến trường khác nhau trong đầu.
5. Những cái chết muộn
Năm mươi năm sau chiến tranh. Tôi bắt đầu tiễn từng người. Không ai chết ngoài mặt trận nữa. Nhưng mỗi đám tang đều có mùi của chiến tranh. Khi Mai Bá Trác lâm chung, tôi vượt đường xa hơn 100 cây số từ San Diego về Orange County, Nam Cali về. Trác đã chết trước đó mươi phút nhưng cặp mắt bất chợt mở ra khi tôi bước vào. Như để nhìn đồng đội như nói lời vĩnh biệt trong thầm lặng. Tôi nhớ Người Lính từng sống với tôi năm 1965, 1968, 1972…không phải người già nằm trong quan tài. Tôi viết bản phân ưu, tiễn đưa bạn về cõi ngoài.
Nguyễn Văn Thân ra đi. Tôi thấy lại An Lộc cháy đỏ, ngày Hè, 8 tháng 6, 1972 từ Lai Khê bay trực thăng vào. Bay trực thăng vào An Lộc giữa một lưới đạn phòng không 12 Ly 7, hỏa tiễn tầm nhiệt SA 7, kể cả súng cá nhân… Không phải chỉ riêng trực thăng của Nguyễn Văn Thân, Đào Bá Hùng… mà khu trục Skyraider của Nguyễn Cao Hùng cũng tan thân trong vũng lửa.
Chị Lý Tuyết Ánh quý cách, thùy mị diu dàng, với tiếng hát như suối reo từ sân trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng năm xưa nay cũng đi luôn. Tuổi học trò vĩnh viễn khép lại.
Chúng tôi không chết cùng lúc. Chúng tôi chết dần. Tôi lại viết tiếp một bản phân ưu.
6. Vì sao phải viết
Tôi quyết định hoàn tất Tuyển Tập Thơ Viết Trong Lửa Việt Nam.
Không phải vì tôi là “Thi Sĩ/Văn Nhân”. Tôi chỉ là một Người Lính bình thường.
Nhưng nếu tôi không viết thì tất cả những người (chết) kia chưa từng tồn tại.
Lịch sử luôn thuộc về kẻ còn sống. Kẻ chết không có tiếng nói. Tôi viết vì đây không phải chuyện riêng của tôi.
Đấy là Nỗi Đau của một Dân Tộc.
Không viết là có Tội. Tội làm Người/Người Việt Nam
7. Sự mặc cảm
Nhiều người nói đến những văn hào thế giới. Tôi không dám so sánh. Nhưng tôi biết Nỗi Khổ của một Người Việt bình thường trong thời đó không có trang sách nào chứa hết. Không phải vì chúng tôi cao cả hơn. Mà vì chúng tôi quá nhỏ bé giữa lịch sử.
Không ai hỏi ý kiến chúng tôi khi chiến tranh bắt đầu.
Cũng không ai hỏi khi nó kết thúc.
Nhưng chúng tôi là người mang hậu quả suốt đời.
8. Tuổi già
Ở tuổi này, trí nhớ (tôi) không mất. Nó chỉ sống ở nơi khác.
Ban ngày tôi là một ông già nơi xứ sở lạ.
Ban đêm tôi lại “Người Lính” hai mươi tuổi giữa tiếng đại bác trên quê hương.
Người ta nói thời gian chữa lành. Không đúng. Thời gian chỉ làm chiến tranh im lặng hơn chớ không biến mất
9. Điều còn lại
Tôi không còn nhiều năm nữa. Nhưng tôi không sợ chết. Người Lính đã quen với sự kiện nầy từ lâu.
Tôi chỉ sợ một điều: Mọi chuyện biến thành “không có thật”.
Cho nên tôi viết. Viết cho những người đã chết. Viết cho những người còn sống. Và cho những người chưa sinh ra để họ biết.. Chúng tôi đã từng tồn tại, đã từng yêu đời, đã từng sợ hãi, đã từng hy vọng. Và đã đi qua một thời mà con người không được quyền (sống) bình thường.
10. Lời cuối
Tôi không phải anh hùng. Không phải nhân chứng lớn. Chỉ là một Người Lính Miền Nam còn sót lại.
Nhưng đôi khi lịch sử được giữ lại, không phải bởi những người vĩ đại mà bởi người sống lâu hơn.
Vì thế tôi viết.
Cho đến khi không còn viết được nữa.
Phan Phi Danh
Ngày ra tù 1989 ở Việt Nam,
Nay ở Mỹ.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.
Cảm ơn em vẫn có với những Người Lính thua trận.
N
LikeLike
Hi Anh Nam,
Đừng buồn anh, không mang nặng mặc cảm. Như anh đã viết “Phận người vận nước” đến lúc mọi chuyện xảy ra ngoài tầm tay với của mình thì “Can trường trong chiến bại” có hề chi anh!
Kính mến.
Sơn râu
LikeLike