vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 26 Jan 2026


Phần 2
Huế trong lửa mùa Xuân
Tôi sinh ở Huế, nhưng không lớn lên từ đó. Không kỷ niệm, không nhớ thương, không một mối tình. Giữa tôi và Huế là xa lạ, dửng dưng, không mong ước trở lại. Nhưng, tôi đã sinh ra ở đấy, đất đai đó là nơi trú ngụ đầu tiên và trên vùng đất này bạn bè tôi, những người bạn từ Sài Gòn, của một tỉnh miền Nam, hoặc miền Bắc di cư vào đã đánh trận đầu tiên trong thành phố và ngã xuống chết bất ngờ giữa đám gạch xanh rêu lạnh lẽo.
Vậy nên tôi phải viết về Huế. Viết về một tuổi thơ đã qua, buối trở lại bi thảm. Viết về một mất mát, nhưng cũng cho lần tìm thấy cảm động làm rung rưng nước mắt. Cảm động qua một lần tái ngộ khắc nghiệt nguy nan.
Khi lớn lên sau này, nếu có ai hỏi: Người xứ nào? Tôi thường tần ngần một lúc. Sự ngập ngừng phát sinh từ những mù mờ về Huế. Tôi sinh ra ở đó, nhưng biết được gì về thành phố ấy. Tên đường không rõ, chùa Thiên Mụ ra sao? Thế nào là cô gái trường Đồng Khánh? Nhớ, cố nhớ lại một kỷ niệm xa nhất, những hình ảnh, những sự việc còn sót lại trên ký ức mù mờ lãng đãng … Nhớ đến điểm khởi đầu mà tuối nhỏ đã ghi nhận …
Năm 1947, tôi bốn hay năm tuổi gì đó theo gia đình về Huế trong đêm khuya. Thuyền đi theo dòng sông, dòng sông đen, chiếc thuyền len lỏi qua hàng cây um tùm trên sông nước. Sông nào? Đứa nhỏ không biết. Cây gì? Cây chà là. Sao lại “cây chà là”? Chắc hắn do bất chợt trong đêm khuya năm xưa ấy nghe đâu ra một lần nên tôi đặt tên cho những đám lá cây là “cây chà là”. Mãi đến sau này khi khôn lớn, nhớ lại, tìm hiểu hóa ra là tiếng kêu của người lái thuyền đụng phải những xác chết mà bộ đội Việt Minh cộng sản thả trôi sông mắc vào trà lá. Tai ương đầu tiên của chiến tranh đứa nhỏ đã phải nghe thấy, hứng chịu, sống cùng. Thuyền ghé bến, tôi lên bờ trên tay cha bồng, ôm chiếc chiếu trong lòng. Tôi về Huế lần đầu tiên. Tôi đến Huế trong đêm khuya, trên dòng sông. Trí nhớ nào đủ để ghi một hình ảnh mông lung như sông nước trên tâm hồn trẻ
nhỏ? Và tiếp đi ra khỏi Huế sau một thời gian ngắn khiến Huế không đủ tạo nên thành kỷ niệm sâu ký ức. Tôi còn lại hình ảnh nào nữa về Huế? Những buổi chiều cuối năm gió rét, thổi qua đường phố im vắng, hình ảnh một bà già lưng còng xuống thấp, bán giò chả, tiếng rao lê dài qua khu phố theo gió đi xa, nghe tê tái phiền não hơn cả chiều đông trên thành phố hậu chiến không đèn sũng bóng tối.
Thế là hết kỷ niệm của Huế. Còn gì không? Chẳng còn gì ngoài dạng hình cô gái nhỏ cùng tôi chơi với chiếc xe hai bánh, có một bàn đạp, một tay lái, chân để trên bàn đạp, chân chống xuống đất và chúng tôi thay phiên đẩy vào lưng nhau để tăng tốc độ. Tốc độ của đôi chân trẻ con nhưng cũng quá nhanh trên mặt đường lồi lõm đá. Con đường không người, hai hàng phố cửa đóng, vẻ hoang tàn hậu chiến, nét linh động chỉ là hai đứa chúng tôi. Cô bạn nhỏ tên Phương L. Mấy mươi năm sau vẫn còn nhớ nguyên âm tiếng và cách tự giới thiệu: Tao tên Phương L. Thế là hết kỷ niệm về Huế và tôi đi xa …
Xa về Nam, Huế đó trả lại cho người, tôi về miền có biển có núi. Huế không có biển. Ở biển mình nghe được thằng Cuội chặt củi trên cung trăng. Một gã bạn trong khu xóm nhỏ Đường Gia Hội đã nói như vậy. Tôi về những vùng có biển và lớn lên từ những nơi này. Huế không có biến và tôi yêu biển biết bao nên xứ Huế được lãng quên từ đó. Đà Nẵng và Nha Trang, thành phố bốn bề là biển, biển trước mặt, biển sau lưng, rẽ qua trái ra biển, rẽ qua phải đến sông, sông cũng dẫn ra biển. Ngồi trong nhà gió biển lọt vào, rịn hơi muối trên da tay, đêm mùa đông nghe tiếng sóng cuồng nộ từ xa tưởng chừng như sóng ùn ùn lại để kéo trôi phăng thành phố. Thịt bò khô ở Nha Trang, con ghẹ tươi ở Đà Nẵng đối với tôi là những món ăn ngon nhất, quyến rũ nhất. Chạy nhảy trên những hòn đá ở Tiên Sa, Đà Nẵng vỏ hà cắt đứt bàn chân, vết thương tươi đỏ đầy máu không tạo thành đau đớn, chỉ nhức nhối nhẹ nhàng, ngâm xuống nước mặn thành cay, nồng nàn như tuổi mới lớn, như tình yêu, ước vọng của năm mười sáu, mười bảy …
Máu chảy hòa nước biển, nước biển theo vết thương ngấm vào thân thể, người như hạt muối được hong khô dưới ánh mặt trời. Tôi ham mê đùa giỡn với sóng, trong khung trời xa thăm thẳm không biên giới với luồng gió có mùi của trời đất trên ngọn hải đăng ở Đà Nẵng. Tháp hải đăng xây bằng đá, xanh mướt, xanh bóng vì rêu phủ, vì gió bào, vì muối xát. Ánh sáng hải đăng chập chờn soi rọi theo cơn gió bất tận từ bốn phía ào ào thổi động ngàn lau quanh sườn núi. Tôi sống, lớn lên, yêu đời, yêu quê hương từ đó. Từ những nơi có gió, ở một chỗ nào xa xăm tận cùng trời đất. Đà Lạt với nét đẹp não nùng tưởng chừng như nốt nhạc ngân hoài không dứt. Đà Lạt đẹp với thành phố, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương. Nhưng phải đến Ankoret, lên ngọn núi đằng sau nhà máy nước nhìn xuống thác Vàng. Thấy cả trời đất hòa với nhau. Hồ Ankoret trong vắt như khối thủy tinh, xanh tươi hơn ý niệm, nm trong lòng núi tưởng chừng như một chiếc gương khẽ gợn vì gió, vì sương đọng, vì núi nghiêng, hay vũ trụ đang chuyển hình hay ta đang trong ảo giác … Trời ở trên. Trời cũng dưới đáy hồ! Có tiếng động … Không, chẳng có gì … Phải chăng lá thông rơi bay, cỏ đang mọc, hay nước hồ xô chuyển … Nào ai biết! Không ai biết gì của thiên nhiên im lặng đó, chỉ nhìn, nghe thật hết với giác quan mở rộng. Trong vòng tay của núi và biển, tôi đi xa Huế biền biệt. Huế của đêm tối hồi cư, dòng sông đen đe dọa của tuổi thơ làm sao lôi kéo được tâm hồn tôi trở lại.
Bấy giờ là năm 1967. Chiến tranh đầy trên quê hương như đàn ruồi trên đống rác. Tôi đang ở Sài Gòn. Với Sài Gòn, làm sao thấy được mặt trời mọc lúc nào và lặn ở đâu? Ở đâu là bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc? Thế nào là màu xanh của biển của rừng? Màu xanh tím và hơi mát của đường Cường Để, nhà thương Grall trông thật tội nghiệp, vá víu và còm cõi biết bao! Sài Gòn với một khoảng thiên nhiên mơ mộng của xa lộ, vài cây dừa xơ xác, một dãy đất hoang cỏ mọc, úa vàng bị đóng khung bởi Cát Lái, Thủ Đức, Bình Lợi …
Việt Nam 1967, tôi lính chiến như một thanh mã tấu cùn quá cỡ, được ném vào trong một đống rác vĩ đại. Đà Nẵng thì hết rồi biển Thanh Bình, hàng cây dương liễu mới lớn của mười năm trước nay cằn cỗi, đầy dây kẽm gai để che chở trại lính. Bờ biển thuở xưa có cái lô cốt bị chìm thời Đệ Nhị Thế Chiến bây giờ đầy nhà cửa. Thôi còn gì nữa đâu, hết cả khoảng trời xanh, hết cả tiếng sóng vỗ cuồng bạo vào bờ đêm mùa đông, biển tối âm u, hàng dương liễu ngập nước như một khu rừng nổi … Không còn gì nữa, núi Tiên Sa quân đội Mỹ đặt đài Radar, con đường lên núi đỏ thẫm giữa màu xanh của lá như một vết thương chưa khép. Đâu còn nắng sớm thơm mùi biển mùa Xuân ở Nha Trang. Đâu còn ngày đầu đời lính với yêu thương trên bãi cát trước Ty Bưu Điện loáng màn đêm. Năm 1967, tôi còn được vùng thơ mộng nào trên quê hương?
Trong thời gian này, tôi trở về Huế. “Trở về” sao lại dùng từ ngữ này? Tôi có đi thì mới có về. Hay tôi đang trở về quê hương? Chiếc C-130 xuống phi trường Phú Bài vào một buổi chiều mưa mờ mặt. Ô mưa! Mưa đúng nghĩa của mưa trời đất. Mưa đầy mặt, mưa cách nhau khoảng năm mươi thước không trông thấy. Mưa không thấy hạt, chỉ màn nước thật đầy bao phủ lên tất cả. Vạn vật xám xạm ốm yếu thê lương. Không chân trời. Không hàng cây. Không nhà cửa. Tất cả chỉ là khối xám lù mù im lặng. Không một hoạt động nào tồn tại được, tất cả nằm yên dưới sức nặng dị thường của hạt mưa!
Mưa từ bao giờ?
Hỏi người bạn đơn vị đã ra trước.
Lâu lắm rồi, cả tuần nay.
Không tạnh?…
Tạnh sao nổi!
Mưa khắp nơi như từ không gian trút xuống và vạn vật đang tan loãng thành nước. Tôi bước xuống vũ trụ lạnh tanh này với cảm giác người tan vào mênh mông. Mưa xứ Huế ào ào phủ xuống đầu chúng tôi khi từ máy bay chạy nhanh vào trạm hàng không. Hẳn có người ghét mưa Huế vì phải chịu đựng nó quá lâu, tôi cũng sẽ oán thán khi đi dưới cơn mưa, nước ruộng ngập gần nửa người, bùn gần đến đầu gối, đi từ Quảng Điền lên Phong Điền. Nhưng bây giờ mưa Huế đang chung quanh … Mưa của quá khứ, của tuổi thơ, tuổi lớn đang hòa vào nhau đều đều, quay cuồng trong một không gian im lặng. Huế đón chúng tôi trong cơn mưa, đơn vị lên xe di chuyển qua thành phố, ra lại vùng ngoại ô, đóng quân ở một làng có cái tên độc đáo, đặc biệt nhất của Việt Nam: Sịa. Sịa là gì? Không ai rõ và giải thích được. Danh tính không chỉ là một tên gọi nhưng mang một âm vang đặc biệt, như một nốt nhạc kỳ lạ. Sịa – Tôi sẽ luôn luôn nhớ, hoài hoài thắc mắc sao quê hương có những địa danh vừa kỳ cục vừa lạ lùng … Chân quê nhưng không thô thiển, mang vẻ mộc mạc, bình dị và độc đáo! Ở đâu có Sịa? Chắc chỉ có Huế và đúng là chỉ có Huế …
Hành quân. Các mục tiêu 1, 2, 3 … Đại đội 91, 92 chiếm 1 và 2 xong đợi ở đấy, làm blocking-force (1) về hướng Đông để Đại đội 93 của tôi chiếm mục tiêu 3. Mục tiêu 3, tôi nhìn vào bản đồ: Đồng Xuyên, làng Đồng Xuyên khu xóm nhỏ phía Tây giáp ruộng, phía Đông cồn cát. Sau cồn cát là gì? Phá Tam Giang. Phá thì lạ lắm, nhưng Phá Tam Giang thì quá quen thân. Vì vào lớp Ba hay lớp Nhì, thế hệ chúng tôi hai mươi năm trước hầu như ai cũng đã một lần đã ê a trong cuốn “Tập Đọc Vui” bài học thuộc lòng:
“Đường vô xứ Huế quanh quanh. Non sông nước biếc … Sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang”.
Phá Tam Giang là tuổi thơ thứ mười của tôi. Tuổi nhìn đời đầy câu hỏi thắc mắc: “Tại sao yêu em rồi nhưng không muốn vô?”. Đấy, tôi đã quen biết với Phá Tam Giang lâu hai mươi năm rồi. Phá Tam Giang, nỗi mơ mộng đầu tiên của đứa nhỏ với rung cảm ngây ngất khi đọc đến: “Yêu em anh cũng muốn vô … “. Dẫu chẳng biết “yêu là gì?” và “em để chỉ những ai?”. Đi dọc theo bờ của phá, bên trái Dãy Phố Buồn Thiu, nơi nhà báo Bernard Fall vừa chết tuần trước. Fall là người không thuộc biến cố Việt Nam tường tận nhất trong số học giả Tây phương trong vòng hai mươi năm qua, nay vì trái nổ oan khiên bỏ lại cuộc sống với những nghiên cứu dở dang.
Đi dọc theo phá. Đi hoài. Đi mãi, trời đất bao la, cái bao la dày đặc u uất, không rộng rãi của biển, xanh thẫm của núi, đây là hoang vu tiền sử, cỏ xanh úa, hay xanh nâu mệt nhọc trải dài đến chân trời. Chim bồ nông, hạc, hải âu bay từng đàn nặng nặng, buồn buồn, chim bay như cố gắng, như thở dài, như hấp hối, bay một đoàn đầy trời, rồi cả đàn cùng dừng lại, tiếp tục bay đi, không phương hướng, không ào ạt, không khỏe không hùng, đàn chim loang lổ đen trắng thấp thoáng trên cỏ khô, lúa mục buồn đến rợn người! Đây là hoang vu mà sao lặng gió, con phá rộng mông mênh không bờ bãi, không vết sóng. Có một cánh buồm không no gió, hay đấy là buồm hoang, thuyền ma? Trời xám, cỏ xám, con sóng nhỏ, cánh buồm phiền, đàn chim mệt mỏi … Phải chăng đây là cảnh gần tàn? Đời sắp đóng, trời đất âm u để sửa soạn cho một lần đổ sập. Bây giờ mới thấy Nha Trang quá trẻ trung, Đà Lạt quá sang trọng, Sài Gòn khô cằn không sinh khí. Phải chăng đây mới là dạng hình thật của quê hương? Tôi nghĩ vậy. Câm nín, u uất, nặng trĩu buồn rầu. Quê hương ta, khuôn mặt thật chắc là đây. Lên đến quân Phong Điền nhìn lại bản đồ, 17 cây số đường chim bay. Người nát ra từng mảnh vụn, trời rét nhưng người quá dơ, bùn từ tóc, từ mặt, bám đầy trong mũi, trong tai, bùn rơi từ cái dụi mắt chớp mày. Xuống bến sông, bên kia là Quảng Trị, bên này Thừa Thiên, sông chảy ra Phá Tam Giang, sông chảy từ Quảng Trị vào, từ núi ra, thuộc một nhánh nhỏ của sông Ô Lâu, nhưng đến đây chảy qua Mỹ Chánh sông mang tên khác. Hỏi cô giáo. Cô giáo e thẹn như thiếu nữ mới lớn. Cô giáo mặc áo đen quần trắng, áo len đen, da trắng mát tự nhiên, môi đỏ hồng, mắt thật xanh.
– Cô giáo bao nhiêu tuổi?
– Dạ 25.
– Sông gì?
– Dạ thưa, sông Thu Rơi.
Tôi cười:
– Cô nói đùa hay thật?
– Dạ thưa sông Thu Rơi.
“Dạ thưa sông Thu Rơi.” Tôi cảm động. Ai đối thoại với người lính lễ độ, kính nể đến như vậy. Sông mang tên Thu Rơi, tên thật thường nhưng chất ngất lãng mạn và đôn hậu, dân làng đã nghĩ sao khi chấp nhận tên này? Phải chăng là thi sĩ? Phải chăng tên đã thành hình như câu hò, câu hát?
Ngược đường về, từ mục tiêu 15 trở về lại mục tiêu 1, ấp Đồng Xuyên, ấp Mỹ Xá, đã đọc đi đọc lại nhiều lần từ bao nhiêu ngày trên bản đồ, đã đi qua bốn ngày trước rồi nay trở lại sao lòng lại nôn nao cảm động? Đồng Xuyên, Mỹ Xá … Đúng rồi! Nơi chốn này thuở xưa cha mẹ tôi đã một lần đến, sau lệnh tổng phản công của Việt Minh năm 1946. “Vỡ mặt trận rồi chạy về Đồng Xuyên, Mỹ Xá, sau đó nhà mình về lại Gia Lê”. Mẹ tôi thường hay nói vắn tắt như vậy, để trả lời mỗi khi tôi hỏi về những biến cố của năm 45, 46 ..“Vỡ mặt trận …”
Tôi luôn nhớ mẹ qua câu nói với từ ngữ đặc thù này. Mẹ hay dùng những từ của người Huế mà những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi, hàng xóm đôi khi ngần ngơ không biết. Mẹ tôi là người Huế, trên cánh đồng này bà đã gánh tôi bên một đầu đòn gánh, bên đầu kia áo quần, xoong chảo qua lửa đạn hai mươi hai năm trước.
Mẹ đã chân trần, đầu trần, cong chiếc lưng học trò mảnh mai để gánh con băng qua những đồi cát mênh mông bắt đầu từ Mậu Tài ra đến Đồng Xuyên, Mỹ Xá … Phải nơi đây, cha mẹ tôi đã thương yêu nhau trong cảnh chết, tiếng nổ trên đầu, viên đạn xé không gian bay ghim vào thịt da người dưới đất. Nơi này, cha mẹ tôi đã lấy chính xác thân che chở tôi qua bão lửa.
Hôm nay, mùa đông 1967, tôi đi qua trên đất như có hồn, cỏ có dấu vết. Biết đâu cha mẹ tôi đã ngừng ở đây, lấy nón quạt cho tôi, cha tôi đã cúi mình trên bờ mẫu để gạt lấy phần nước trong mát nhất cho con.
Dòng nước hôm nay còn chảy qua, cha mẹ làm sao biết được hơn hai mươi năm sau đứa con lại một lần nhìn xuống để thấy gương mặt thật của mình trên dòng nước quê hương. Về Huế, nghỉ quân đóng ở Nam Giao, nơi thuở xưa Vua nhà Nguyễn tế lễ trời đất. Trăng mùa đông huyền bí soi ánh sáng nhạt thếch xuống một vùng cổ mộ … Somerset Maugham, Dostoevsky, Võ Phiến … trải dài trên khắp tác phẩm của họ bóng dáng quê hương sâu sắc thương yêu, thắm thiết ghi nhớ. Nếu không là những ca ngợi nồng nàn, thì cũng là bối cảnh cho những tình yêu, thù hận hay ám ảnh khôn nguôi. Tôi không là nhà văn, nhưng nếu được chọn lựa
tôi sẽ viết về Huế trong tác phẩm của mình. Lạ lùng lắm, bí ẩn lắm, ngôi mộ nằm yên, cây tùng, cây thông đứng lặng, ánh sáng trăng soi xuống gạch đá như thở, như hấp hối, thì thầm, rầu rĩ. Sông Hương đứng từ ngọn đồi Lăng Khải Định nhìn xuống, không phải là con sông với dòng nước chảy, nhưng là núi xô nhau đi về thành phố, sức xô đẩy lả lơi theo cùng cỏ tranh, hoa dại … Đây không là núi mà chỉ là những ngọn đồi nối tiếp; đồi phủ kín với một thứ đá nhỏ màu nâu trùng điệp nối dài, nắm tay nhau, dựa vai vào nhau, chuyển động nô đùa trên mặt nước. Thế nên Vua Gia Long chọn Huế là cũng phải vì đây có sông, có núi, rừng thưa, rừng mới lớn chạy bước nhỏ dưới chân đồi như bầu bạn. Và đằng xa kia, xa ở chân trời là biển. Đủ hết, cả bốn mùa thời gian, cả vóc dáng thế giới hợp vào đây, không lớn, không vĩ đại, không ồn ào, nhỏ và xinh như non bộ, giả sơn, như cảnh mơ của em bé. Dừng xe trên đồi, tắt máy, tắt đèn, đốt điếu thuốc, nhìn xuống con sông Hương, thả khói bay vào núi, bay xuống lòng sông, sương lạnh mưa sa hạt nhỏ … Có ai hỏi gì bây giờ, tôi chỉ xin im lặng như một thở dài trầm mặc. Vì tiếng hò đã cất lên … Tiếng hò xua nhau như sóng nhỏ vướng phải bụi bờ chìm xuống nghe quá thê thảm, quá buồn rầu. “À …ơ … Ai về Đại Lược”.
Chữ “Lược” xuống thật thấp như cố nuốt tủi hờn, chặn dòng nước mắt, che giấu cô đơn … À … ơ …
Không thêm một chữ nào có ý nghĩa ngoài âm chữ “ơ” được đưa lên cao từ từ rồi mất vào theo gió đẩy, với màu trăng, làm rợn những gai ốc trên da thịt. Hò như thế mới gọi là hò Nam Ai để có thể diễn tả hết cái buồn rầu chất chứa của cả một đời người đã phổ vào những tiếng “à”, tiếng “ơi” vô nghĩa.
Một phút, hai phút trôi qua thuyền đã đi được một khoảng sông, câu hò mới có được bốn chữ à ơ ngân dài trên nước, oan uổng thê lương dật dờ như thây ma. Tôi nghe bằng tai nhưng hồn tôi ai đem treo trên đầu ngọn gió, ai đem ướp dưới đáy sông …Tôi muốn bật nên tiếng khóc. Muốn rưng rưng nước mắt. Sao có cảnh sắc trầm mặc? Sao tiếng hò thê lương, buồn đến độ này? Phải chăng cảm xúc của cả dân tộc do đã mất mát những gì quá đỗi lớn lao? Những đổ vỡ vĩnh viễn không bao giờ sống lại. Không thể nào sống lại.
Ở Huế một tuần, bún nước, bún khô, bánh khoái, nem chua, tôi ăn thật nhiều, thật ngon. Tôi vốn không quen ăn ngon, không coi trọng chuyện ăn uống. Lính tráng kham khổ quen cơm hẩm, dăm miếng thịt hộp, vài cọng rau, một bi-đông nước lạnh là xong bữa ăn. Bao nhiêu năm như thế tôi không có thì giờ để chọn món ăn, về đến Sài Gòn gặp gì ăn đó cho lạ miệng, cho vui chứ không ham.
Nhưng ở Huế ăn phải thích, ăn nữa không thấy chán, ăn bao nhiêu bún cũng được. Lại phải đến quán cho kịp giờ, trễ là hết, quá năm giờ là tiệm bún ở hẻm nhỏ đường ngang với đường Gia Hội nhất định hết. Người Huế lạ lùng như vậy, không thay đổi, không bị lôi cuốn. Mười năm trước vẫn một nồi bún, bây giờ cũng vậy, khách đông, khách chờ, khách đòi hỏi. Mặc! Hết là hết, không nấu thêm dẫu ngày có đông khách; ngày mưa ngày gió không nấu bớt. Vì khách là khách quen, nhà ở xóm bên kia đường, đằng cuối phố, nhà nào, mấy người, ý thích của mỗi ai, người bán đều biết rõ. Bán như thế trò chơi, đồ ăn như một tác phẩm, nhiều quá sẽ thành thừa mứa, tầm thường. Giữa khách và chủ là bạn thân, họ hàng. Người Huế sống với nhau thật khít khao. Nhà anh ấy, bác ấy có con thi đỗ, cúng giỗ cả xóm xúm vào làm giúp. Nhưng chính ở đây xuất phát nên cực đoan quá khích … Thầy ở trên chùa nhất định là đại từ, đại bi; dù vào đến Sài Gòn, nghe ai nói xấu đến thầy là lồng lộn, tức tối cãi cho bằng được vì tin chắc thầy toàn thiện, toàn hảo.
Chúng tôi trở lại Huế bằng máy bay trực thăng trong ngày mồng Năm Tết Mậu Thân. Trời thật lạnh, mưa phùn, u ám thê lương bao phủ thành phố. Máy bay nghiêng nghiêng trên đà xuống, hạ thấp dần, khu doanh trại Bộ Chỉ huy Sư đoàn I BB. Đại đội ùn ùn kéo ra khỏi phi cơ …
Sau ba ngày đánh nhau ở Quảng Trị với số mất mát khá lớn mặc dù chúng tôi đã được cả một đống vũ khí chất đầy một GMC. Mới đây, giao thừa chúng tôi còn gọi nhau trong máy truyền tin để chúc tụng những lời đầu xuân, rồi ngày mồng Hai, tôi nhớ rõ, bốn giờ sáng, từ đó là khởi đầu máu chảy. Vừa hay tin Thừa chết, đến Lộc, đến Hổ, bạn quen lâu, mới quen, thương mến thật nhiều, tất cả ra đi từng loạt từng loạt. Trong những ngày đầu năm, trong những ngày đầy sương muối và mưa phùn, chúng tôi đã chiến đấu trong đơn độc và tuyệt vọng. Lính Mỹ án binh bất động nằm chờ thời. Không phi cơ, không pháo binh, chúng tôi đến Huế với vô cùng mỏi mệt. Kiểm điểm lại quân số, tấn công và chiếm lại Huế, mục tiêu là mấy cổng thành. Ngày đầu, quân tiến thật nhanh tràn qua Tây Lộc, xong tiếp đến cửa chánh Tây, giao lại cho đơn vị bộ binh, tối đến cổng thành lại mất. Chúng tôi phải chiếm lại và từ lúc này cam go nguy nan đã xảy đến ác liệt. Phi cơ đã bắt đầu can thiệp, pháo binh có mặt và địch cũng tăng cường nhất định cố thủ. Chúng tôi tiến lên từng đường, từng ngõ, từng nhà. Thành nội Huế với đường xá vuông vức như bàn cờ, tiến quân như đi trên cái chết, qua được một đường, tiếp tục bắn, che chở cho khinh binh. Khinh binh chạy thật nhanh, nhanh hơn nữa, nhanh để đua với tử thần, nhanh để sống, để thở, để cười, để còn về lại Sài Gòn.
Quân tiến thật chậm đến con đường Mai Thúc Loan thì bị chận đứng. Can đảm đứng lên chạy băng qua là chết. Bộ Chỉ huy Việt Cộng đặt ở trường Bồ Đề nên con đường biến thành tuyến phòng thủ. Cửa Đông Ba cách hai trăm thước không thể làm sao tiến gần được. Việt Cộng đào giao thông hào, phát súng cho trẻ con mới lớn, gã du đãng muốn làm anh hùng, chủ tiệm bán cà phê được lên làm cấp chỉ huy. Tất cả những con người với mặc cảm yếu kém, vô ích, bị khinh thường được Việt Cộng lợi dụng đến triệt để và tạo thành lực lượng lớn để đè bẹp chúng tôi. B40 nổ như muốn nhức óc. Em bị rách áo(2), hai đứa con đi phép dài hạn(3). Dồn dập, dồn dập, đơn vị kiệt sức, mệt mỏi, căng thẳng như con khô nung đỏ. Lệnh tấn công trở lại với pháo binh và phi cơ yếm trợ. Lần đầu tiên trong đời lính chiến, chúng tôi đánh nhau trong thành phố và hủy diệt thành phố. Huế, Huế vừa tìm lại được, Huế của tâm hồn Việt Nam cố duy trì để trường cửu, đang sụp đổ, đang cháy đỏ tươi. Trước mắt tôi, tường vôi, mái ngói bị ném lên tung tóe. Lửa cháy thành những ngọn lửa yêu ma kinh dị. Lửa củi, lửa than nghe ấm, nghe vỗ về. Lửa nhà cháy có tiếng kêu như than, như khóc, như tức tưởi, như hú lên vì sợ. Lửa nhà cháy ở thành phố là lửa tai ương, lửa bất hạnh, lửa có mùi … Mùi người chết, mùi của xương, của da, của thịt bị nung nóng thành than, thành một vật chất quái dị, khô đặc, nứt
nẻ, nhưng đụng vào thấy ươn ướt nhầy nhầy …Huế trước mắt tôi sụp vỡ từng mảng một, nghe đau xót như chứng kiến người thân bị hành xác. Tôi đã từng chứng kiến nhiều đám cháy ở Kiến Hòa, nơi chiến trường miền Nam. Đám cháy gây tiêu điều, hoang tàn, đổ nát, nhưng không thấy buồn như chảy máy tự thân, thảm thiết đến muốn khóc. Nhà cháy ở nơi miền Nam chỉ gây nên tiếc nuối, phiền buồn do chứng kiến tai ương. Nhưng ở Huế cháy, gạch Bát Tràng, ngói âm dương, tượng Di Lạc, tượng Thích Ca, Kim Cang, Thiện Ác, lớp rêu trên viên đá, trường thành, cây kiểng trồng từ đời Gia Long, Minh Mạng … Tất cả như có linh hồn, không phải đất, đá, cỏ cây thuần túy, chúng có kỷ niệm, trong lòng chúng là vết tích hoài hoài mà chúng ta ghi nhớ.
Đó là cổng thành nơi Toàn Quyền Decoux đã đi qua, đó là Phú Văn Lâu, nơi xướng danh những người thi đỗ. Này cung của Vua, lầu Hoàng hậu, con đường đi có mái để đưa Hậu về cung son. Con người đã đi qua, nhưng dấu vết lịch sử còn đó. Tôi, người mới lớn trên quê hương, thấy lạc loài. Bây giờ đã tìm được để tay bắt mặt mừng, thì Huế đã cháy, đã đổ. Tôi thấy tiếc, tiếc ngẩn ngơ, như thuở bé có đồ chơi, rồi phải tự tay đập phá.

Chiếc cổng thành xây bằng đá tảng đi qua mát lạnh đến mênh mông, bây giờ đổ xuống thiểu não như một thi thể già nua. Phi cơ xuống ầm ầm, tiếng nổ, đám khói mịt mù. Huế rên từng tiếng não nùng, tiếng rên la, gào thét của những mái cung điện, của những hàng cửa sổ trên ngọn lầu Ngọ Môn. Vong linh tiền nhân còn có nơi đây? Không còn ai! Chỉ còn bức tượng đá đăm chiêu nhìn ra một sân chầu bị trốc ngược. Trong lửa cháy, người Huế dẫn nhau chạy trốn, cha cõng con, chồng cõng vợ, con cõng cha mẹ già. Tất cả những bình yên đẹp đẽ, đài các của ngày xuân tan thật nhanh trong lửa đạn. Đào thêm một nhát cuốc nữa cho đủ sâu, cô gái tóc xanh trước ngày xuân pha máu này nay đầy bụi bám, vành khăn tang quấn vội trên đầu, tay nắm chặt lấy cán cuốc, cuốc những nhát cuốc đầu tiên trong đời để làm huyệt cho người thân. Người chết ở đâu nhiều quá, xác chết của lính hay Việt Cộng, chôn ở lề đường, sân chùa, sân trường, chôn ở đâu có đất. Thôi người chết hãy ngủ yên. Người Huế chết như trò chơi, như nằm ngủ, theo lính chạy về Mang Cá, bị B40, bị AK quét ngã, ở khu Gia Hội thì bị pháo binh, ở khu Đập Đá thì chết vì súng cối từ chùa Diệu Đế bắn về. Chết. Chết ở đâu cũng có, vì đạn, vì mảnh, vì hơi ép, vì chôn sống. Một ngàn cách chết, đầu đường, góc phố, xác chết nằm cong queo, nằm thắng, nằm sấp ngửa, kinh hoàng, uất ức, trăn trối …Làm sao nói cho hết? Làm sao viết cho cùng?
Hỏi trời, hỏi đất, hỏi Thượng Đế … Tôi muốn hỏi, muốn kêu, muốn hét nhưng hình như mọi phản ứng đều thừa, đều thiếu hụt không đủ nghĩa. Im lặng, tiếng than im lặng đó, chỉ có nó, chỉ có nó vang lên, vang lên.
Phi trường Phú Bài, đoàn quân sau mười lăm ngày lửa đỏ đi trong nghẹn ngào xơ xác, không tăng viện được, chúng tôi trả lại Huế cho đơn vị bạn. Đoàn quân im nín, trong mắt mọi người đều sáng lên ánh lửa như thầm nói. Xin cho tôi xa nơi này, nơi địa ngục. Riêng tôi, tôi hứa rằng sẽ trở lại, trở lại nơi đây, nơi bạn bè tôi đã nằm xuống không quan tài, vùi xuống cái nghĩa địa cô quạnh bên cạnh đồn Mang Cá, tôi sẽ trở lại nơi đây vì tôi bỏ qua hình ảnh của những gã trai hai mươi, mười chín, những cô gái muốn làm anh hùng ngã tắt, những trí thức làm dáng một lần vì mặc cảm rồi lao theo qủy dữ. Những kẻ đó mới hôm qua còn tầm thường, còn đứng trong bóng tối, nay trở thành ủy viên, nay làm cách mạng mang AK, đi xe Honda, Suzuki ném lựu đạn … Ôi cái ảo tưởng anh hùng sao mà vẫn còn hấp dẫn đến thế! Tôi quên những hình ảnh nham nhở bi thương và đáng phẫn nộ đó vì tôi biết rằng ở Phú Cam, người Huế đã chống cự bằng Garant, Carbin M1 suốt cả mười mấy ngày dài. Họ đã chiến đấu dũng cảm nhất với ý thức rõ ràng về sự chọn lựa chocon người một vị thế. Đáng lẽ tôi phải viết thêm để nói về trận đánh bi tráng và tuyệt vọng của Tiểu Đoàn tôi, Tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy Dù trong suốt mười lăm ngày, kể từ ngày mồng Một và mồng Hai Tết, những trận đánh từ làng Đốc-sơ ở cầu An Hòa(4) vào đến sân bay Tây Lộc, chiến đấu trong đơn độc, không yểm trợ để chiếm cho được cổng An Hòa. Tôi phải nói cho rõ, nói cho cùng cái can đảm tưởng như không thật của Đại Đội 92 với quân số trên bốn mươi người, chỉ hơn một đơn vị trung đội Mỹ năm, ba người, Thành “Râu” bị thương phải chống gậy chỉ huy chiếm cửa Thượng Tứ(5), bị kẹt suốt hai ngày đói và khát. Tôi phải nói cho hết niềm kinh hoàng tột độ của gã bạn thân, Nguyễn Lô, Đại Đội trưởng Đại Đội 74, Tiểu Đoàn 7 người cao không quá một thước sáu, lưng mang máy truyền tin, vừa chỉ huy vừa liên lạc, sử dụng khẩu đại liên 60 chận địch cho quân sĩ rút lui trong khi bị thương gãy chân kẹt giữa hai lằn đạn trong suốt một buổi chiều.
Nhưng khốn nỗi tôi không tham dự trực tiếp trận đánh nên không thể viết trung thực được và điều giả dối ai nỡ đem vào văn chương. Nên nhân cảnh loạn ly tôi nói đến con người. Không nhớ có ai đã phán một câu đại để: “Trong gian nguy mới nhìn rõ mặt người”. Điều này đúng quá, những ngày khói lửa ở Huế, tôi mới có dịp để nhìn thấy người Huế, người của quê hương từ lâu tôi không gặp. Tôi có một người chú họ, chú Bộ làm cảnh sát, bị Việt Cộng bắt cùng đám người công chức hoặc quân nhân, Việt Cộng dẫn họ đi tải đạn và cuối cùng thì bắn chết tập thể. Chú tôi, một người chậm chạp, có thể gọi là lù đù, ngớ ngấn vì rượu đã làm cho ông suy nhược trí óc lẫn thể xác. Thế nhưng khi Việt Cộng bắt đi theo vác nặng bao nhiêu ông cũng chịu đựng nổi, mặc dù một chân đã bị gãy từ trước và đến lúc Việt Cộng bắt đầu hành quyết, không biết do một sức mạnh và khôn khéo nào, ông đã trốn thoát được, về nhà sau năm ngày lẩn trốn, ông vẫn chậm chạp và ngớ ngấn như thuở nào. Bác Soạn, người có ngôi nhà cạnh nhà bà nội tôi, luôn luôn đứng vào hàng ngũ những người chống đối chính phủ, bác thuộc phe phái thầy ở trên chùa, bác đã từng bị Tướng Loan bắt đem giam tại trại bài trừ du đãng Sài Gòn sau vụ biến cố miền Trung năm 1966. Việt Cộng chiếm Gia Hội, mời bác tham gia Hội Đồng Nhân Dân, bác nhận lời. Nhưng khi chúng bảo bác tố cáo những người quen theo tiêu chuẩn của chúng đặt, bác từ chối, chúng dụ dỗ, bác vẫn từ chối. Cuối cùng, bác bị chôn sống. Sau này khi quật mồ, một dòng máu còn tươi chảy ra theo hai cánh mũi, dấu hiệu uất hận của người chết. Việt Cộng vào thành phố Huế cùng với sự trở về của những thanh niên trên dưới ba mươi, lớp tuổi của những đồng chí của Ngô, Dinh, những người tôi quen thân đã trốn ra khu trong những năm trước, nay trở về với chức vụ ủy viên này nọ. Tôi không hiểu có gì đã biến đổi những con người trẻ tuổi đó, những trí não với căn bản trí thức của ngày nào bây giờ trở thành những đầu óc cứng rắn, trì trệ, hung tàn và hiếu sát. Có gì đã biến đổi họ để ủy ban nhân dân có đủ quyết định chôn sống từng loạt người sau trường Tiểu học Gia Hội? Công chức thuế vụ, công chánh, cảnh sát, tội ở đâu hay vì đã từng bắt giữ một người đi xe đạp không đèn, người ấy bây giờ làm ủy ban nhân dân!
Thật tình tôi không hiểu động lực căm thù, chính sách khủng bố nào đã chỉ đạo cho những cuộc tàn sát tập thể trên. Người Việt Cộng vào thành phố được đón tiếp bởi những kẻ nằm vùng, chính lớp người này mới thật hung hãn, hống hách, cuồng sát và thâm hiểm một cách đáng sợ. Hình như bao nhiêu mặc cảm yếu đuối, thừa thải từ bao năm được bù trừ lại bằng vinh quang nhất thời, nên những kẻ này hối hả hưởng cho hết cái uy quyền què cụt trong giây lát. Họ tố người này, bắt người kia, tuyên án giết người thể như một trò đùa. Những tên trẻ tuổi tay mang băng đỏ, lưng đeo AK, lái xe Honda lượn khắp thành phố, kênh kiệu, tàn ác như một loài thú. Một cô gái trong ba ngày tố khổ và tuyên án gần hai mươi người. Nữ sinh viên mắt sáng, mũi cao xinh đẹp nhưng sao độc ác đến ngần ấy? Khi ban an ninh tiểu đoàn tôi bắt được, cô ả kháng cự lên tiếng thách thức, nhưng khi nòng súng của Sơn Bum dí vào người, cô gái mới tỏ vẻ sợ hãi. Tôi nghĩ rằng giây phút sợ hãi đó là cơn tỉnh giấc sau thời gian mộng du đẫm máu. Những ngày ở Huế tôi còn được nghe tin Việt Cộng bắt Thượng Nghị sĩ Trần Điền và sau này chúng chôn sống ông. Tôi thuộc về hàng hậu sinh ở xa xứ Huế không biết nhiều về ông, chỉ biết ông qua vóc dáng một Trưởng Hướng đạo. Ông có Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, khi chính quyền Tổng thống Diệm kết án ông về vụ Ba Lòng, ông đưa chiếc huy chương cao quý này để biện minh lòng yêu nước (6). Kết quả của vụ án ông được giảm khinh. Nhưng điều tôi nhớ về ông sâu đậm hơn hết là giọng nói đĩnh đạc, hùng hồn, âm thanh cuốn hút lấy người nghe trong một kỳ trại Hướng đạo năm 1957. Lòng trẻ con của tôi thuở trước mở ra nhìn ông như một vị huynh trưởng sáng giá. Và quả thật như thế, khi Việt Cộng vào bắt ông tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế, ông thẳng thắn nhận là một Thượng Nghị sĩ của chế độ Cộng Hòa, ông vẫn giữ nguyên tinh thần bất khuất của một Tráng sinh Hướng đạo đã lên đường. Con ông là San, khóa sau tôi, đi Biệt Động Quân, tôi nghĩ rằng với uy tín ở miền Trung, ông có thể “chạy” cho San về một chỗ ở văn phòng, nhưng ông không làm như vậy, San đã đánh trận lớn nhất của Vùng 1 Chiến Thuật năm 1965 tại vùng Ba Gia, Quảng Ngãi. Người Huế thuở trước đã làm một chiến công không thành nhưng biểu lộ một can đảm kỳ lạ, dùng sức người để vây hãm và tấn công vào khu Morin của người Pháp trấn giữ đầy vũ khí(7). Mùa xuân năm nay cũng vậy, những người bình thản như dòng sông ấy đã chịu đựng một nỗi bi thảm không bờ và họ đã chiến đấu hết sức của một người. Khu Phú Cam với súng cá nhân cũ kỹ Garant MI và Carbin, thanh niên và lính chuyên môn ở các trại Quân Cụ, Công Binh đã chống cự với Việt Cộng cho đến ngày cuối cùng. Và tôi nghĩ rằng hình ảnh bi tráng nhất của chiến tranh này là trong một Huế điêu tàn, người Huế đã hát Quốc ca khi lá Cờ Vàng lên trên cột cờ loang lổ đạn … Người Huế đã cất cao giọng hát trong gió lạnh, trong mưa bay khi nước mắt lăn dài trên gò má. Huế ơi! Quê Hương! Tôi muốn khóc hôm ấy. Tôi muốn khóc biết bao nhiêu.
Tháng 2 năm 1968, ở Huế.
Viết lại Mùa Xuân Cali, 2013
Ghi chú:
(1) Blocking Force: Thành phần ngăn chận.
(2) Rách áo: Bị thương.
(3) Đi phép dài hạn: Tử thương.
(4) Cầu An Hòa: Đường vào thành phố Huế từ phía Tây.
(5) Cửa Thượng Tứ: Cửa Chánh Nam hoàng thành Huế.
(6) Ba Lòng: Chiến khu của lực lượng Đại Việt sau 1955.
(7) Morin: Khu thương xá khách sạn Pháp Kiều nằm đầu cầu Trường Tiến Huế trước 1954.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.