Mùa đông giữ Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 30 Dec 2025

Bài 3 – Nghĩ về mùa hè

Nhớ Về Một Ngày Hè

Vững chắc Tay Súng.

Viết đến Những Người Lính, Đã cùng qua Mỹ Chánh, Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Tân Cảnh, Kontum …

Ngày Hè, 1972,

Những nơi không ai biết ở Việt Nam. Rất nhiều quân lực, binh đoàn của lịch sử thế giới được nhở sau chiến tích. Có một quân đội bị lãng quên. Rất nhiều đơn vị được tuyên công. Đã có một tập thể bị xúc phạm. Nhiều đoạn quân sử hằng hằng ca ngợi biểu dương. Thật có một đời dài chiến đấu bị xóa bỏ và tàn nhẫn hạ nhục.

Đơn vị đó là của Chúng Ta. Tập thể đó là Chúng Ta. Đoạn quân sử bi hùng đó do chính chúng ta viết nên bằng xương máu của triệu người chết thảm, với mỗi đơn vị, của Từng Người Lính. Đoạn đường đau thương trầm thống vĩ đại ấy là tất cả miền Nam, bị đánh vỡ cùng lần với đội quân đã sống-chiến đấu-chết trên vùng đất linh thiêng thiết thân đó- QuânLực Việt Nam Cộng Hòa. Hôm nay, Mùa Hè ở Mỹ Quốc, dịp Lễ Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh đã nằm xuống nơi chiến địa tại đất nước vĩ đại nầy hoặc những vùng lửa đạn trên toàn thế giới, trong đó có quê hương chúng ta, Việt Nam – Chiến trường khắc nghiệt nhất mà quân đội Mỹ đã gặp phải trong suốt lịch sử tuy mới mẻ nhưng đầy kỳ tích đáng tự hào của họ. Nhưng cũng chính trên Quê Hương Khổ Nạn ấy, Quân Lực Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã hiện thực nên biểu tượng kiêu hãnh sống động về Người Lính Muôn Thuở:”Người Chiến Đấu, Gìn Giữ Tự Do”. Sự Nghiệp Vinh Quang kia, riêng chúng ta, Người Lính Miền Nam đã hằng thực hiện, như một nhiệm vụ tất nhiên theo cùng chiều dài Lịch Sử; nhưng đau đớn thay, chúng ta đã tuẩn nạn cùng lần với Dân Tộc bất hạnh. Người Lính bị tước đoạt vũ khí, bó tay thất trận cùng đành. Lỗi nầy không do chúng ta vì đã kém chiến đấu hoặc không kiên trì chịu đựng.

Nhưng Dân Tộc luôn trường tồn và Lịch Sử hằng vững chắc minh chứng lẽ tất thắng của Chính Nghĩa, cho dù có lúc kẻ bạo ngược đoạt quyền, lợi thế, giành về phía chúng quyền “định nghĩa sự thật, xuyên tạc lịch sử”, vùi lấp người dân vào vũng tối đày đọa với áp buộc ngụy danh “xã hội, tương lai” vô cùng tàn nhẫn.

Bởi Tương Lai luôn thuộc quyền sở hữu của toàn khối Nhân Dân và Lịch Sử hẳn là Linh Đài ghi danh tuyên công Người Lính – Kẻ thuần thành thực hiện sứ nhiệm Bảo Quốc An Dân. Và Chúng Ta quả thật là Người Lính Chính Danh ấy vì đã hoàn tất một cách xuất sắc nhiệm vụ cao quý nầy trước xác chứng của Nhân Dân-Người Dân Niềm Nam Nước Việt, nếu cần diễn đạt chính xác và đầy đủ hơn. Ngày ấy, một Mùa Hè như hôm nay – Mùa Hè 1972. Buổi chúng ta kiên cường chiến đấu và oai hùng chiến thắng. Chúng ta cần nhắc lại đoạn quân sử hào hùng bi tráng nầy để cùng nhau sống lại “đoạn đường chiến binh” đáng tưởng nhớ và đầy tự hào: Tháng Ba, 1972, ba sư đoàn 304, 308, 324 B, sáu trung đoàn bộ binh thuộc mặt trận B4, ba trung đoàn chiến xa, hai trung đoàn đặc công và một sư đoàn pháo 130 ly, những đơn vị chính quy của quân đội Bắc Việt đã vào Nam từ những ngày rất lâu; có mặt ở chiến trường Trị-Thiên liền sau 1968, khi đã thanh toán (qua tay Quân Lực Miền Nam và Quân Đội Mỹ) toàn diện hạ tầng cơ sở lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam với lần gọi là “tổng công kích, tổng nổi dậy“, kể từ đêm giao thừa Tết Mậu Thân, 1968. Tháng 4, Hai sư đọàn, 320 Sư đoàn Thép và Sao Vàng được một trung đoàn chiến xa yểm trợ tấn công vào Tân Cảnh(Darkto), nơi đặt Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 22 Bộ Binh với lực lượng tham chiến thực sự chỉ một trung đoàn, tăng phái Lữ Đoàn II Dù.

Hướng tiến quân được dọn đường bởi một trung đoàn pháo nặng đặt ở rặng Big Mama Moutain sát biên giới, nơi an toàn, nằm ngoài tầm tác xạ của pháo binh QLVNCH. Và chỉ riêng Mặt Trận An Lộc, chiến trường hẹp nhất của quân sử thế giới với chiều dài, từ điểm phòng thủ cực Bắc (Hoành độ 88) đến bãi đáp trực thăng B 15 ở cực Nam tại thời điểm tháng 5 (Trước ngày 8-6; ngày An Lộc được giải tỏa với lần giao tiếp ở cửa ngỏ Xa Cam, giữa tiểu đoàn 6 và 8 Dù); trong khoảng thời gian từ ngày bị vây hảm, tháng Ba 1972, tuyến phòng thủ của quân dân Bình Long đo đúng 800 thước bề dài, 500 thước bề ngang. Trên diện tích chính xác kia, chỉ trong đêm 11 rạng 12 tháng 5 đã chịu đủ 8000 quả đạn pháo cối của lần cường tập hỏa lực để ba trung đoàn bộ binh cộng sản được chiến xa dẫn đầu quyết thanh toán gọn mục tiêu. Nhưng quân dân Bình Long-An Lộc đã thủ thế đứng vững và phản công tất thắng. Mùa Hè 1972, Ba Vùng Đất Nước Miền Nam bừng bừng khí thế kiên cường Giữ Nước và kiêu hùng Phá Giặc Nhưng sau Ngày Hè oanh liệt kia, chúng ta phải chịu thế bó tay cực độ nhẫn tâm do nhu cầu chính trị của giới cầm quyền nước bạn đồng minh, với người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam và khoảng trống quân sự để lại; điển hình với tình trạng khả năng không quân (được xem là ưu thế của chúng ta trên lực lượng cộng sản) hoàn toàn tê liệt: Chỉ “Một”(viết nguyên chữ) trong số Bảy phi cơ C130 còn có thể xử dụng được. Và cũng chỉ “Một” (lại phải viết nguyên chữ) trong tổng số Sáu trực thăng Chinook được xem có khả năng thực hiện phi xuất. Những số liệu nầy không do chúng ta quá độ bi thảm hóa nên dựng đặt ra mà là chi tiết tài liệu kỹ thuật do chính Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ nói cùng Olivier Todd, ký giả người Pháp thuộc khuynh hướng xã hội cấp tiến, không hề chung quan điểm, mục tiêu chính trị với chúng ta, phía Người Việt quốc gia-Nạn nhân đầu tiên và khốc liệt nhất từ khi người Pháp vào đặt nền đô hộ ở Đông Dương ở cuối thế kỷ trước. Chúng ta không có, không còn vũ khí để tự vệ vì năm 1973, tiếp sau thắng lợi quân sự vẻ vang kia, chúng ta phải va mặt vào một nền Hòa Bình vô cùng quái dị- Hòa Bình do Hiệp Định Paris cố công tô vẽ mà trong đó “hai bên ký kết chính yếu đã hoàn toàn vắng mặt”- Vắng mặt có ý thức và đôi bên điều có lợi- Nói theo từ ngữ của người cộng sản!! Chúng ta có quá nhạy cảm khi vạch nên điều vô lý kia chăng? Sự thật tiếp theo đã bày ra toàn thể mức ác độc của âm mưu tồi tệ nầy- Ngày 30 tháng Tư 1975 không hề là một bất ngờ!!

… Theo Điều 1 Nghị Định Thư về Tù Binh: “Hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ trao trả cho nhau những Nhân Viên Quân Sự bị bắt giữ ..”. Và cũng theo những điều khoản của Nghị Định Thư nầy, “Nhân Viên Quân Sự” có định nghĩa: “Là những người thuộc HAI BÊN MIỀN NAM đã tham dự vào các hoạt động quân sự của một bên và bị bên kia bắt giữ !!”. Qua định nghĩa hàm hồ và cực độ biển lận nầy, những bộ đội, lính tráng, sĩ quan của các đơn vị chính quy cộng sản Bắc Việt chỉ trong chớp mắt biến thành “những nhân viên quân sự thuộc lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam ” thuần thành và chính thức!!

Và hệ quả, theo đà lý luận kia, tất nhiên nước Mỹ tự động chấp nhận tính danh: “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta; là kẻ thù của nhân dân ta!!”, từ bộ máy tuyên truyền cộng sản Hà Nội với số lượng 585 nhân viên quân sự, hầu hết là nhân viên phi hành bị bắn rơi trên đất Bắc; trong số có vài ba quân nhân của các nước thuộc đệ tam quốc tịch!! Hai mươi năm sau kể từ ngày ký hiệp định, nếu khi bị người Mỹ truy bách về vấn đề “còn giam giữ tù binh (Mỹ). “Tập đoàn cầm quyền Hà Nội thế nào cũng lập lại luận cứ của Hiệp Định Paris:” … Chúng tôi không tham chiến tại Miền Nam (Theo Điều 1 Hiệp Định và Điều 1Nghị Định Thư Tù Binh- Được Chính Phủ Mỹ ký kết đồng thuận và chấp nhận thi hành), vậy thì lấy đâu lý do còn khả năng giam giữ tù binh, bởi “Tất cả quân nhân vốn thuộc Không Lực Hoa Kỳ, những người bị bắn hạ thì đã trao trả hết từ 1973”. Những người từng giữ chức vụ trọng yếu trong chính giới Mỹ, những tổng thống, những phụ tá, Harriman, W. Bundy, Lodge … Lẽ tất nhiên phải kể đến những trí não”siêu đẳng” cỡ Mc Namarra, H. Kissinger; những nhân vật thế giới nổi tiếng do lương tri, trí năng trong sáng như Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc U Thant; Đức Giáo Hoàng La Mã Paul VI; cùng những giới chức Tây-Đông, những người đã cố công thúc đẩy, vận động để hoàn thành Hiệp Định từ khi mới bắt đầu giai đoạn thăm dò tối mật với bí danh “ Kế Hoạch Mary Gold”, chỉ được trình trên bàn Tổng Thống Mỹ, Johnson, 1966. Tất cả chuỗi nổ lực kiên trì vận động đã diễn ra cùng khắp, tại những thủ đô chính trị thế giới, để đến đỉnh cao với thành quả “Giải Nobel Hòa Bình”, trao tặng cho “Kissinger và Lê Đức Thọ, hai kẻ có công lao lớn nhất trong tiến trình thương thảo” để hoàn thành bước ký kết Hiệp Định “Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam” – Hòa Bình của Việt Nam cũng là Hòa Bình Thế Giới – Hai người nầy được tuyên công từ mục tiêu cao quý nầy!! Những người quyền chức, danh tiếng với công cuộc to lớn đáng kính phục kia có bao giờ biết đến, nghĩ ra điều tồi tệ:”Tất cả nội dung lời văn, hình thức diễn dịch, tác động hệ quả của bản Hiệp Định, cuối cùng chỉ là: “Văn bản hợp thức hóa về kế hoạch Hóa Không” – Sự “hóa không” quái đản trước Lịch Sử và Nhân Dân Việt Nam đối với lần vắng mặt cấp kỳ, không để lại chút dấu tích của một “đạo quân xâm lược đi từ Miền Bắc Việt Nam”-Sự triệt tiêu như chuyện hoang đường về một quân đội thực dân chiếm đóng- Quân Đội Nhân Dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thế Giới nào có mấy ai Thấy? Nào có mấy ai Tin? Dân Tộc Việt, Quân Đội Miền Nam căng thân thụ nạn, gánh chịu trò dối trá khinh miệt cực độ tàn nhẫn của toàn thể loài người. Và kết cuộc, Quốc Hội Hoa Kỳ với những người như Thượng Nghị Sĩ W.Fulbright, Dân Biểu Paul McClosky quyết tâm cắt đứt 300 triệu quân viện thặng dư vào giờ phút Miền Nam lâm tử, số tiền không bằng phí khoản giáo dục của một thành phố nhỏ ở Dallas. Thành quả nầy cũng được xem như là “kỳ tích” đáng tự hào của Đinh Văn Đệ, nguyên Đại Tá Tỉnh trưởng, Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, do đã có ý kiến mạnh mẽ với Quốc Hội Mỹ: “Không nên tang viện cho Chính Phủ Sài Gòn”, 4-1975, lần Đệ cầm đầu phái đoàn Hạ Viện VNCH sang Hoa kỳ “xin quân viện khẩn cấp” khi chế độ Việt Nam Cộng Hòa đang trong cơn hấp hối. Trước khi báo cáo “thành tích” kia đến Dinh Độc Lập, nơi có một người “gọi là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, (người nổi tiếng khôn ngoan, đa nghi, kẻ đã chọn Đệ làm tay chân then chốt của chế độ), ông “Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, Đại Tá Đinh Văn Đệ” tường trình cùng Cục R, lẽ tất nhiên cũng với Hà Nội, phía đường giây liên lạc nối dài và kết thúc quyết định. Đệ là người rất mực thân tín của “TổngThống, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu” từ một thưở rất lâu.

Sài Gòn thất thủ như một điều tất nhiên trước vòng vây gồm bốn quân đoàn, và một chiến đoàn đặc nhiệm vừa thành lập với Bí Số 232, quân số lên đủ 150.000 trong toàn bộ lực lượng 152.000 người của Chiến Dịch Hồ Chí Minh; gồm 74 trung đoàn bộ binh, 5 trung đoàn chiến xa, 14 trung đoàn pháo, 33 trung đoàn phòng không, thuần quân đội Bắc Việt với Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng … Đến cả trung tá Tùng, trung đoàn trưởng chiến xa 203 với chiếc xe tăng số 879; chiếc xe thoát nạn năm trước ở mặt trận An Lộc, Mùa Hè1972. Sài gòn thất thủ như một lẽ tất nhiên, dẫu rằng Sư Đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến có khả năng chiến đấu vượt trội, cao hơn hẳn những đơn vị gọi là Sư đoàn Điện Biên, Sao Vàng, Thép (Do đánh giá của giới báo chí phương Tây, những cơ quan thông tin không hề có chút công bình đối với quân lực Miền Nam). Vì quân viện cho tài khóa 1975 chỉ có đúng 475 triệu Mỹ Kim. Hãy so với 25 tỷ của năm 68-70 và 12 tỷ của 70-71; nên chúng ta đã không có đợt bom “Daisy Cutter” (*) tang cường kịp thời giúp Tướng Lê Minh Đảo có thể kéo dài cố thủ, giữ vững Long Khánh. Điều nầy xác chứng với kỳ tích của Trung Đoàn 43, Sư Đòan 18 Bộ Binh, một thân đương cự, đánh bật đợt tấn công của một sư đoàn bộ binh cộng sản, sư đoàn 6; đơn vị nầy tiến công dưới yểm trợ của sư 314 vừa bôn tập từ Miền Trung, lẽ tất nhiên cũng khởi đi nơi Miền Bắc, đơn vị tiền tiêu của Chiến Dịch 275 do quyết định từ Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Hà Nội.

Chúng ta cũng nên nhắc lại Điều 9 Hiệp Định “Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam”: Chính Phủ Liên Bang Bắc Mỹ và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa “cam kết tôn trọng” những nguyên tắc sau đây về việc thực hiện Quyền TựQuyết của NhânDân MiềnNam:

(a) Quyền Tự Quyết của Nhân Dân Miền Nam là một điều tối thượng và bất khả chuyển nhượng, được

tôn trọng bởi tất cả các quốc gia.

(b) Nhân Dân Miền Nam sẽ tự quyết định về tương lai chính trị của Miền Nam xuyên qua bầu phiếu

phổ thông hoàn toàn tự do và dân chủ.”

Màn bi kịch tàn nhẫn dơ bẩn chính trị đóng lại ở đây. Hậu qủa ác nghiệt tất yếu của Hiệp Định Paris 1973 không chỉ hiện thực với Ngày Uất Hận 30 Tháng Tư riêng với Miền Nam; nó có tác động lâu dài và cùng khắp, cũng đến ngay những người đã được gọi là “phe chiến thắng“, ở Hà Nội, tại Miền Bắc. Điều nghịch lý nầy đã xẩy ra từ giờ thất thủ Sài Gòn, khi Người Lính Cộng Hòa buông súng và bắt đầu cuộc lưu đày nơi những trung tâm nhục hình trải dài khắp nước, tập trung và sẵn có ở Miền Bắc nói riêng. Vì khi Người Lính Miền Nam buông súng, không chỉ cư dân Miền Nam, những người dù dưới tác động xã hội, giáo dục riêng biệt, và thuộc về nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, cũng nhận ra điều cay đắng, “lính mình không còn nữa” – Phải, đối tượng được gọi là “lính mình” ấy, tuy còn khiếm khuyết, chưa hoàn chỉnh, nhưng quả thật họ là người canh giữ Miền Nam suốt từ hai mươi năm qua, kể từ ngày đất nước chia phân, 1954, mà cũng không phải do ai khác- Chính người cộng sản Việt Nam hạ tay quyết định lần cắt lìa. Và khi Người Lính ấy xuất hiện dưới hình thái não nề của “kẻ tù nhân thất trận” nơi Miền Bắc thì cũng là lần chứng tỏ – Nguồn Hy Vọng đến từ Miền Nam không hề còn khả năng hiện thực- Hy Vọng sống đời Tự Do hoàn toàn bị phủ nhận, vất bỏ. Người Việt Miền Bắc hóa ra là “kẻ thụ nạn từ chiến thắng” do chính họ đã góp công dự phần áp đặt xuống Miền Nam. Và hiện tượng cực độ hào hùng, vô vàn bi thảm của hai nghìn năm Lịch Sử Dân Tộc đã bùng vỡ như cơn địa chấn rung rinh toàn bộ địa cầu, lung mờ càn-khôn, úa mầu nhật-nguyệt: Người Việt phá thân vượt biển – Hiện thực LỰA CHỌN – TỰ DO HOẶC CHẾT.

Khi không còn Niềm Tin và Hy Vọng; Sống đáng sợ, tệ hại hơn cái Chết. Người Việt hiểu ra nguyên lý giản dị và cao cả nầy từ lần người cộng sản “thống nhất nước nhà về mặt nhà nước” và hoàn tất mục tiêu “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”. Người Miền Bắc lại càng thấm rõ đắng cay. Và chắc rằng cũng đậm nét trong lòng người (gọi là) cộng sản nào còn chút lương tri. Thế nên hôm nay, dẫu đã bị tước mất toàn phần vũ khí, không còn dịp trở về cùng đơn vị, xử dụng số quân; trí lực khỏi phải vận động để nhớ đến số súng, khẩu pháo, con tàu, chiếc chiến xa mà mỗi người chúng ta hằng xử dụng, sống cùng- Đã sống rất lâu với tuổi trẻ chỉ có một lần – Lần chúng ta rất mực hãnh diện. Ngày chúng ta là Người Lính thuần chất của toàn Dân Tộc.

Người Bảo Vệ và Nguồn Hy Vọng của vạn, triệu người. Hôm nay, chúng ta nhớ đến Ngày Hè xưa như dấu ấn vinh quang cay đắng. Phải nhớ như một vết thương luôn mới, hẳn còn tươi máu- Vết thương Trái Tim Người Lính bị xúc phạm.

Chúng Ta là những Người Lính nhận trách nhiệm vô cùng trọng đại mà Lịch Sử ký thác và trả giá lần không hoàn tất trọn vẹn cho đến ngày toàn thắng bằng mạng sống của chính mình. Nhưng chúng ta chỉ thất bại trong cuộc chiến và vĩnh hằng rực sáng với nhiệm cao quý mà toàn Dân Tộc đã một lần trao gởi. Phải, chính là Chúng Ta – Quân Lực đã chiến thắng từ một ngày Hè dậy lửa lớn năm xưa khi chiến hữu toàn quân còn chắc tay súng. Chúng ta quả thật bị tước mất vũ khí. Chúng ta không hề đào ngũ, trốn chạy, đầu hàng. Vẫn hằng có những Người Lính Quân Lực VIỆT NAM CỘNG HÒA, những CHIẾN SĨ QUỐC GIA chiến đấu trong bóng tối, sự chết nơi chốn lao tù, trên quê hương khổ nạn cho dẫu đã hơn hai mươi năm sau. Từ rất lâu. Đang thực hiện. Không một ai hay biết. Chúng ta vẫn chiến đấu như Ngày Hè bất diệt Hai Mươi Bốn Năm trước. Không có gì thay đổi. Chúng Ta tiếp tục duy trì, bảo tồn tính chất Người Lính với mức độ sắc son, cao qúy, dẫu hằng ngày vây bọc, công phá bởi muôn ngàn ti tiện, dối trá từ đời sống chính trị lắm mưu mô, nhiều thủ đoạn – Trong đó sinh mạng và giá trị Người Lính bị xài phí vô ích và cực độ phí phạm. Nhưng “Người Lính Không Hề Chết”, như Chiến Hữu Chuck Bowman, người Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ với hai nhiệm kỳ Việt Nam (1964-66), sau bao nhiêu năm vẫn kiên trì xác định … “Khi những kẻ (chính trị gia) lợi dụng “hòa bình với bất kỳ giá nào”, cùng những ma thuật hèn hạ của bọn phản chiến để có được thắng lợi đắc cử, thì Việt Nam, Campuchia, Lào lần lượt biến thành những con cừu tế lễ để chúng “có thêm kinh nghiệm chính trị”. Không như đám tài tử Jane Fonda, Tom Hayden, tôi cảm nhận có một “trách nhiệm mang tính cách đạo đức” buộc bản thân phải dự phần vào nổ lực chung với những dân tộc trên toàn thế giới chống lại ách lệ thuộc cộng sản. Việt Nam cũng như Lào, Campuchia lần lượt kinh qua … Hằng mỗi năm, những hứa hẹn giả trá về việc phải hy sinh tự do cho buổi công bình cộng sản, như một chứng ung thư gậm mòn thế giới mà không hề có phương cách thanh toán, loại trừ!! (Trả lời phỏng vấn Đại Học Oklahoma, 1984) Chúng ta phải nhắc nhở với nhau như thế vì trận chiến không hề chấm dứt giữa Ánh Sáng và Bóng Tối; Tính Thật và Dối Gạt. Tương Lai luôn có cùng người Trung Chính.

Chúng Ta là những Người Lính,

Thắng trận Chính Nghĩa cuối cùng nầy.

NHƯ,

Ngày 8, Tháng 6, 1972.

Trước cửa vào AN LỘC,

Với,

Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment