Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

PHÙ SA xuất bản 1964

Post by Sơn râu 27 Oct 2025

Phần 8.

Nhà lão Tư Hiếm đóng cửa chặt, đóng từ trưa hôm qua. Người lân cận nói thêm:

– Sau khi thầy ra khỏi nhà, chập sau ổng cũng đi, mang theo cái ống điếu cây ớt hiểm. Chắc là đi chơi xa.

Tôi nằm im trên giường, chẳng màng việc ăn uống. Tôi đóng chặt cửa, chẳng cần hé ra xem thử. Tôi biết rằng nhà lão Tư Hiếm chẳng bao giờ mở cửa để đón tôi nữa. Ngay chiều hôm đó, dường như có hai người lạ mặt đi ngang qua nhà lão, nhìn số nhà rồi nhìn qua nhà tôi đang ở trọ. Tôi hút thuốc, tay chân mãi lạnh ngắt. Tôi không sợ những người còn sống, tôi chỉ sợ người khuất mặt… Họ có thể gặp tôi bất cứ giờ phút nào, bất chấp cả những bức tường ngăn cách. “Đừng buồn… Trước sau gì cũng chỉ xảy ra như vậy thôi!”. Câu nói chân thành ấy có lẽ chỉ an ủi đắc lực kiểu người ưa đùa giỡn như bà chủ Nhan. Đối với tôi, nói vẫn là ngụy biện. Ngoài biển đen ngòm, vài đốm sáng leo lét của loại đèn bão treo tòn ten tận chót cột buồm ghe lưới. Ghe neo lại nhưng ánh đèn rung rinh, trở thành những vì sao trong đêm tối om. Lâu lâu, vượn hú, khỉ kêu nghe thảm thiết bên rặng cây bần. Mưa lạnh lâu ngày, vin mãi trên cành, khỉ vượn vừa sợ đói vừa sợ té, rốt cuộc vẫn té vì đói vì lạnh để rơi vào miệng cọp. Đó là chuyện rừng núi. Ở Xóm Biển này, khỉ vượn chỉ bị trầy trụa, lem lấm chút ít để rồi từ bãi bùn chúng trèo trở lên cành mà vin mãi.

Sáng hôm sau, người lối xóm tri hô: Một cái xác vừa trôi vào bãi bùn, xác của lão Tư Hiếm! Cá tôm rỉa xác lão gần hết nên – ngoại trừ tôi ra – người trong xóm chẳng ai rõ lão từ đâu trôi đến và chết… vì chứng gì. Vài giờ sau, nước ròng, cái xác đó trôi ra Hòn Tre mất dạng.

Tôi chẳng dám chạy ra biển để xem. Mênh mông quá! Từ trong lỗ tai tôi, vọng ra lùng bùng nhiều câu nói khàn khàn mơ hồ. Trước mắt tôi, chập chờn vài mảnh chiêm bao. Hôm sau, tôi lìa bỏ Xóm Biển – cái quê hương tạm bợ – để đi tìm sanh kế ở thành phố khác.

Bây giờ đây, chế độ điền địa đã thay đổi hẳn, những đồn điền “cò bay thẳng kiếng” đều bị truất hữu, nông dân lần lần trở thành tiểu điền chủ. Qua bao năm chiến tranh Việt – Pháp, hàng vạn người chịu hy sinh, nào phải riêng ai. Bóng của lão Tư Hiếm phai dần trong tâm tư của tôi. Từ buổi lên Sài Gòn, tôi tập nghề viết báo, thỉnh thoảng viết bài nhận định về kịch trường; sinh kế đã tạm ổn định. Chuyện viết tiểu sử cho ông Henri ngày xưa không còn đáng nói nữa. Nhưng quả đất vốn tròn! – Xin phiền các bạn hãy ráng đọc thêm vài trương nữa, tuy nó hơi nhàm, kém hấp dẫn. Truyện Hậu Vân Tiên làm sao lý thú bằng truyện Vân Tiên hồi đầu.

Số là buổi ấy, tôi về gác trọ chợt thấy ai để sẵn trên bàn một bó hoa huệ! Từ thuở bé đến từng tuổi này, tôi chưa được người nào tặng hoa tươi cả. Hay là thiên hạ lầm địa chỉ? Dáng điệu ngạc nhiên của tôi càng khiến bà chủ nhà thắc mắc:

– Ủa! Thầy không quen với bà đó sao? Bả hỏi trúng tên thầy, dường như gởi lại phong thơ đâu đó. Bả đi xe Huê Kỳ mới tinh. Chào hỏi tử tế lắm.

Phong thơ nằm khép nép sát mặt bàn, che lấp dưới bó hoa. Bên trong, một tấm danh thiếp: Đoàn Thi Ca Vũ Nhạc Kịch “Hương Sắc 65” Giám đốc: bà Nguyễn thị Quỳnh Hương, biệt xá 3000/1 đường Trương Minh Ký Sài Gòn.

Gánh Hương Sắc thuộc vào hạng nhỏ lưu diễn miền lục tỉnh, năm ngoái về Sài Gòn hát ba đêm nhưng chẳng gặt hái kết quả tài chánh khả quan nào. Nghe đâu sau chuyến Trung du, đoàn lên Kontum, rã tại đấy từ hồi tháng sáu. Bà Nguyễn thị Quỳnh Hương là ai? Gánh hát nào mới lập đây? Bức thơ kèm theo tấm danh thiếp giúp tôi hiểu rõ.

Thân gởi ông Hoài Hương

Ký giả Kịch Trường,

Nhận được thơ này chắc ông hơi ngạc nhiên nhưng xin phép ông cho tôi tự giới thiệu; tôi là bà Henri Nguyễn văn Nhan ngày xưa ở Rạch Giá. Trong thời gian gần đây, tôi hân hạnh thấy ông tiến nhanh với những bài phê bình sắc bén. Đoàn “Hương Sắc 65” đang trên đà thành hình và hy vọng rất nhiều nơi thiện chí của ông để góp phần xây dựng sân khấu nước nhà. Nhà tôi vẫn thường nhắc nhở, gặp ông nhà tôi mừng lắm. Trưa mai, xin ông vui lòng đến nhà tôi dùng buổi cơm thân mặt để ôn lại những thời gian qua…

Giai thoại Chúa Ngung, Ma Nương, cái chết của Tư Hiếm, chuyện chuột, bưng sen bỗng nhiên bừng sống dậy. Tôi hút thuốc liền miệng, nhớ tới những trang giấy nháp do tôi viết hồi xưa. Bữa cơm trưa mai nhứt định gây chút ít hiểu lầm. Vài bạn ký giả sẽ hồ nghi rằng tôi sắp bẻ cong ngòi bút, chuẩn bị nâng đỡ đoàn hát của bà Quỳnh Hương một cách thiếu vô tư. Nhưng tôi bất chấp dư luận ấy. Tôi muốn gặp ông Henri Nhan để hiểu rõ về cái chết của lão Tư Hiếm, về cái miễu ở Mốp Giăng. Bao nhiêu nước chảy qua cầu… chắc ông ta sẵn sàng nói riêng với tôi tất cả sự thật.

Ngôi biệt của vợ chồng ông Henri Nhan chiếm khu đất hơi rộng – tuy bé hơn cái bất động sản ngày xưa ở Rạch Giá. Mười giờ sáng, tôi đã rón rén tới cổng, đứng ép mình, thử quan sát bên trong. Vóc dáng của ông Henri làm sao tôi quên hoặc lầm lẫn với kẻ khác! Dưới dàn hoa thiên lý mát rượi, ông ngồi hút thuốc, chân mang vớ tận gối, đội chiếc bê rê đen (chắc là để che cái đỉnh đầu sói sọi . Giữa sân, hai hòn non bộ đối diện, “hai hải đảo thần tiên” thì đúng hơn vì có nước bao xung quanh. Dưới đáy hải đảo, ông đã xây một chốn thủy cung dành riêng cho loại cá vàng, cá sọc… Bỗng dưng, ông búng hai ngón tay nghe “tróc, tróc”. Từ bên kia nhà, một con chó caniche chạy tung tăng ra sân. Nó kéo khệnh khạng một kiểu xe mà các tướng La Mã thời xưa thường dùng khi ra chiến trận. Trên chiếc xe hai bánh ấy, một con búp bê tí hon nằm ngửa, kê trên gối gòn. Ông Henri nói lẩm bẩm vài câu tiếng Pháp. Con chó dừng bước, quay bên phải, bên trái… Tôi thương xót cho tuổi già của ông: trò chơi ấy ngụ nhiều ý nghĩa! Ông ao ước sẽ có một đứa con trai để nối dõi – nỗi ao ước gần như tuyệt vọng. Lúc điều khiển con chó, hàm râu ông nhếch lên, khoái trá như người hát xiếc đang chế ngự một con sư tử hung hăng nhứt thế giới!

– Chào ông chủ! – Tôi mạnh dạn lên tiếng, chẳng bợn chút tự ti mặc cảm. Thời nay khác thời xưa. Nếu ông chủ Nhan “đã” là một nhân vật thì tôi đây “đang”… là một nhân vật đến viếng theo lời yêu cầu của chủ gia chớ nào phải vì muốn xin công việc làm.

Qua vài câu hỏi thăm, ông nói:

– Nhà tôi đi kêu đào kép, mướn họa sĩ, giao thiệp với ký giả. Tôi đau yếu hoài, ngồi nhà đóng vai tuồng của… một cây nêu!

Ông nói tiếp:

– Thời buổi tân tiến này không cần dựng cây nêu trước sân, thiên hạ vẫn cứ ăn tết vui vẻ rộn rịp như thường. Ở thành thị, thôn quê gì cũng vậy, phải không ông thi sĩ. Tôi là cây nêu trong nhà!

Tôi đỡ lời ông, liếc mắt qua bàn giấy:

– Ông vẫn là người hữu dụng cho xã hội, nếu ông muốn. Dường như ông đang viết…

Ông thở dài:

– Tôi dự định viết hồi ký, theo kiểu Thủ tướng Churchill nhưng còn trong vòng chuẩn bị, nghiên cứu thêm về triết học Đông Tây, rút vài kinh nghiệm lưu cho hậu thế. Đâu như cái “tiểu sử” hồi xưa, ông quên giùm tôi, đừng nhắc lại.

Tôi chụp lấy cơ hội tốt ấy:

– Trong thiên hồi ký bây giờ, tôi tin rằng ông còn dành ra mươi hàng để nói về chuyện Chúa Ngung, Ma Nương, quan tư Ca Rê và… tôi.

– Từ sáu bảy năm nay, tôi ao ước gặp ông để thanh minh, kẻo ông hiểu lầm. Người trẻ tuổi như ông đôi khi hẹp lượng! Thật ra, giới đại điền chủ ở Hậu Giang rất hiền hậu, so với các “anh hùng hảo hán” đi chinh phục… đất hoang ở Mỹ hoặc Nam Mỹ Châu hồi thế kỷ thứ mười tám.

– Tôi hiểu rồi, nhưng còn cái tích Chúa Ngung, Ma Nương đầu đuôi ra sao? Trong miễu thờ pho tượng gì?

– Chuyện dài lắm, ông hãy nằm trên chiếc ghế “phô tơi” nghỉ lưng. À, vài tháng sau cuộc hành quân Mốp Giăng hồi xưa, ông Ca Rê đổi ra Trung Kỳ, tử trận ngoài ấy. Pho tượng đã được gởi về Pháp trước đó một tháng. Ông Ca Rê bảo là tượng người nữ tỳ cầm thếp đèn nhưng đã gãy tay, thuộc mỹ nghệ Ba Tư, sản xuất tại Óc Eo, chân núi Ba Thê từ thế kỷ thứ ba, thứ tư sau Tây lịch…

Bấy giờ, tôi mới hiểu tục lệ cúng Chúa Ngung, Ma Nương gọi một cách văn chương là lễ “tá thổ”. Theo lời ông Henri Nhan kể thì bốn chữ ấy chỉ tạm ghi lại bốn âm thanh khó đọc: “Chu Ngun, Me Nang”, tên đôi vợ chồng ma quái. Chẳng ai rõ tục lệ đó đã có từ thuở nào. Họ là hai vợ chồng nên phải chọn hai người lên xác. Xác “lên” nói thứ tiếng khó hiểu, đòi ăn mắm sống và rau răm. Chủ điền phải xin phép mướn đất với hai vợ chồng Chúa Ngung, Ma Nương vì mảnh đất hiện tại, mặc dầu còn bỏ hoang ít nhiều, vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ chồng họ từ ngàn năm trước. Năm đó, sau khi khẩn đất, ông chủ Nhan đến Mốp Giăng công bố cho ai nấy biết quyền hạn của ông. Nông dân nhôn nháo lên phảm đối. Để hợp thức hóa về mặt địa bộ đối với nhà cầm quyền Pháp, ông chủ Nhan mướn lập tức một viên kinh lý để ông này đến tận Mốp Giăng thi hành việc đạc điền, với sự yểm trợ của bốn người lính mã tà. Cuộc tranh chấp diễn ra nhưng ông chủ Nhan viện cớ, đi vắng mặt. Trong khi ấy, viên kinh lý cứ ung dung bố trí “bông tiêu” đặt ống kính để nhắm, đo đất.

Số nông dân bèn giết heo ăn thề, uống rượu giữa trời. Bỗng nhiên một cô gái tên là Thừa chạy tới đứng sát vào ống kính để che lại. Viên kinh lý nói khẽ:

– Con nhà ai kỳ quá vậy. Đi dang ra xa để người ta làm việc… Mấy chú lính mã tà đâu rồi? Chúng ta cứ thừa hành phận sự do ông Henri Nhan giao phó, được quan Thống đốc Nam Kỳ chuẩn y.

Một chú lính mã tà nói giọng khiêu khích:

– Cô này mần cái gì ngộ quá ta… Để quan kinh lý nhắm máy. Đi dang ra. Muốn chồng hả? Chịu làm bé tôi không?

Cô gái quát to:

– Tôi đứng đây hoài, tôi không chịu thua mấy người đâu!

– Cô ăn thua với Tây hả? Thử ăn thua coi?

Anh lính mã tà nói chưa dứt lời, cô gái đột nhiên cởi toạt tất cả mớ y phục lem lấm của mình.

Đôi mắt quan kinh lý rời khỏi ống nhắm trắc địa, ông giận run lên:

– Làm cái gì kỳ vậy? Trần truồng như nhộng, giữa đám đông cô chẳng biết mắc cỡ à?

Cô gái đáp:

– Mắc cỡ cái gì? Hễ cái miệng đói thì cái “mông” cũng chết! Xưa nay, chưa có người nào chết đói mà cái “mông” còn sống được. Tôi làm vậy đó. Không mắc cỡ gì hết.

Tuy nhiên, hai hôm sau, việc đạc điền vẫn hoàn tất. Tên mã tà bèn giết lén cô gái vô lễ nọ rồi hắn đến gặp ông Henri để xin chút ít tiền thưởng.

… Nghe câu chuyện thương tâm ấy, tôi thầm phục tinh thần của phái yếu. Lắm khi, họ gan dạ hơn phái mạnh, bất chấp gươm súng của thực dân Pháp – như cô gái nọ là một thí dụ.

Tôi hỏi nhanh:

– Mồ mả cô gái còn không? Tên sát nhơn ấy bây giờ ở đâu?

Ông Henri Nhan mỉm cười:

– Xin lỗi, hay là… ông thi sĩ nghi ngờ chánh phạm là tôi?

Tôi cau mày:

– Ông hơi nóng. Tôi xin lỗi ông đó. Hồi xưa, ông đâu cần đích thân xách dao, đâm lén một thiếu nữ tay không… Tôi nghi ông để làm gì?

Ông Henri Nhan gật đầu:

– Ông thi sĩ tin tôi, lẽ đâu tôi chẳng nói tiếp. À, sau khi lãnh tiền thưởng, tên mã tà sát nhân đó về chợ Rạch Giá. Hai ngày sau, cái thây cô gái nổi sình trôi tấp trước nhà tôi. Bấy giờ lão Tư Hiếm mới xuất hiện. Hồi ở Xóm Biển chợ Rạch Giá, Tư Hiếm là người tri kỷ của ông! Điều ấy rất tiếc… tôi và ông quan tư Ca Rê biết hơi muộn!

– Nhờ mấy ông xem lại địa chỉ cư trú ghi trong giấy “lách xê” của lão ta chớ gì?

– Lão Tư Hiếm thua cờ bạc, tới gặp tôi để bày kế lên xác Chúa Ngung, Ma Nương, “dựng đứng” cái pho tượng đá trong miễu. Nhờ vậy đân tá điền lần hồi sống an cư lạc nghiệp… Liên tiếp mấy năm liền, lão ta trở thành nhân vật chuyên nghề lên xác Chúa Ngung, Ma Nương, coi quẻ tử vi cho dân trong điền. Năm 1946, lão ta tản cư ra chợ Rạch Giá, chẳng hề gặp mặt tôi. Lão còn sống dai hơn, nếu lão không gặp mặt ông.

Tôi giựt mình:

– Ông nói gì?

– Tôi nói: Chính ông thi sĩ đã giết lão ta mà không cần gươm súng!

Cố nén cơn tức giận, tôi suy nghĩ hồi lâu rồi nói to:

– Tôi nhớ rõ lắm. Khi đoàn “công voa” từ Mỹ Lâm rút về đem sự thất vọng cho ông, ông chạy lập tức qua đồn Lê dương, vừa chạy vừa tuyên án xử tử lão ta. Bà ở nhà có thể làm chứng điều ấy… nếu bà còn nhớ. Đành rằng tôi vô tình tiết lộ cuộc hành quân cho lão biết trước. Nhưng giữa tôi và lão, nào ai thù oán ai mà ông lý luận như vậy?

– Xin lỗi ông thi sĩ, chuyện xưa rồi. Nói lại mà nghe vậy thôi. Trong thực tế, nếu ông không đến bàn luận với lão thì chắc chắn lão vẫn sống ở Xóm Biển chợ Rạch Giá hoài hoài. Ông nên nhớ rằng trước khi đem bắn, tụi Tây tra tấn lão, lão có nhắc tới tên ông! Bằng không, ông đã bị bắt ngay rồi bị bắn thả trôi sông một lượt với lão… Kể từ đó, ông Ca Rê sanh nghi, luôn luôn theo dõi mọi hành động của tôi. Một phần vì ông ta đã “giữ” pho tượng trong tay rồi. Phần khác, vì tôi đã “ngụy biện” để cứu sinh mạng cho một thi sĩ…

Tôi đứng dậy, đi tới đi lui:

– Thà tôi chết hồi đó một lượt với lão Tư Hiếm còn sướng hơn… sống mà nghe ông kể ơn. Té ra bấy lâu nay tôi vô ơn bạc nghĩa quá. Nếu… trúng số độc đắc, tôi đúc ngay một pho tượng kỷ niệm để chưng trong phòng… Tượng một người bé nhỏ – là tôi – đang đứng khom lưng cõng đội ơn một người to lớn – là ông.

Ông Henri Nhan cười giòn:

– Ông thi sĩ nói vậy quá đáng, tội nghiệp tôi quá. Tôi nào xứng đáng.

Tôi gắt gọng:

– Vậy thì tôi đúc ngược lại một người lớn tuổi – là ông – khòm lưng nâng đỡ trên vai một người bé nhỏ – là tôi – Chúng ta đạp trên cái xác bằng đồng của lão Tư Hiếm đang nằm úp mặt xuống đáy biển. Lão mới là chánh phạm của cuộc cãi vã hôm nay!

Ông Henri Nhan nổi giận lên, từ từ rút khăn chậm mấy giọt mồ hôi trên trán và chùi mớ nước miếng sùi hai bên mép. Tôi ngỡ rằng ông định mở loạt đả kích khác, nhưng tôi lầm to. Nụ cười bỗng dưng nở trên môi ông ta, hiền hòa hơn bao giờ hết.

Có tiếng dép lẹp xẹp. Mặt tôi chưa kịp quay lại, hai bàn tay mềm mại nào đã nhanh nhẹn bịt mắt tôi, tuy thân ái nhưng bịt quá chặt.

Tôi nói nhanh:

– Trời! Bà chủ chớ ai. Buông hai bàn tay ra.

Bà cười với hai núm đồng tiền thuở nào:

– Tôi biết ông chờ tôi! Giận tôi không? Giận lắm chớ gì? Tôi mời cô đào Thiên Thai để chuộc cổ về làm đào chánh. Tôi về nãy giờ nghe hai người… đàn ông “đấu lý” chuyện đời xưa… Ông đừng phiền nhà tôi. Tánh ổng lẩm cẩm lắm. Hồi sáng, tôi nhắc chừng ổng nên đón rước… nhà cố vấn tương lai để bàn bạc về cốt tuồng chủ lực của đoàn “Hương Sắc 65”. Dè đâu, ổng gợi chuyện đâu đâu, lạc đề ráo trọi.

– Thưa bà, cũng chẳng lạc đề cho lắm, ổng với tôi…

– Tôi hiểu, thôi mời ông thi sĩ đến phòng ăn, cô Thiên Thai chờ nãy giờ.

Thiên Thai thuộc vào hạng đào cải lương trẻ tuổi, tuy mới vào làng độ ba năm nay nhưng – theo nguồn tin của các thông tín viên kịch trường – cô được tổ đãi, “sáng sân khấu”. Cô cúi đầu chào… Trông gương mặt trái xoan ấy, tôi nhớ mang máng đã có lần mình viết tiểu sử cho cô, kèm theo những câu phỏng vấn và trả lời theo tưởng tượng… Hồi đó lúc đoàn “Phim Nhạc” lưu diễn tại Bà Rịa, cô gởi thơ về tòa soạn, than phiền sự “nâng đỡ” của “quý báo”, kèm theo bức ảnh ngây thơ chụp nghiêng với mái tóc thề trôi chảy trên vai. Giờ đây trông cô hơi khác, áo dài nylon cổ đứng, mí mắt tô đậm gần giáp chân mày, tóc cắt đều phủ ngang trán theo kiểu Ai Cập.

Bà Henri nói luôn mồm:

– Công chúa Ba Tư đó! Đẹp hơn pho tượng đá… Thôi, hai ông uống rượu, thông cảm, xây dựng phải không cô Thiên Thai? Hồi ở nhà quê, mỗi năm mình chỉ uống một lần rượu vào hồi đầu xuân để quên hờn giận quá khứ, bắt tay nhau làm ăn bước qua năm mới. Bây giờ, suốt ngày hiểu lầm lu bù, thông cảm lu bù. Bà bầu đoàn “Phim Nhạc” thắc mắc tôi về chuyện “bắt đào bắt kép”. Tôi phải rủ bà đi ăn Chợ Lớn chiều mai. Rồi mấy anh ký giả phiền tôi về việc vận động lập gánh mà không kèn không trống… Tôi phải giải thích hồi lâu, muốn về nhà hồi 11 giờ mà lóng nhóng tới bây giờ…

Uống xong ly nước ngọt, cô Thiên Thai kiếu từ; bà Henri đưa cô ta ra sân, nói nhỏ to. Tôi thấy họ cúi đầu chào nhau đến bốn chập rồi bổ túc lai rai câu chuyện để từ giã lần chót tại cổng.

Bà Henri trở vào, nhìn chồng:

– Sao? Ông xúc tiến kẻo trễ. Tôi đã nhờ báo chí loan tin thành phần đào kép, chuyên viên ánh sáng, soạn giả… rồi đó.

Ông Henri thở dài:

– Tôi muốn ra mắt tuồng “Sự tích lầu ông Hoàng ở Phan Thiết”.

Bà Henri nguýt dài, nói với tôi:

– Ông ký giả thử nghĩ. Nội cái tựa của ổng nghe đủ lỗ vốn rồi. Phải sửa cái tựa lại. Còn về hình thức thì… khó thực hiện. Toàn là nhân vật Tây với đầm thuộc địa thời gian gần đây. Phải Tây với đầm hồi thế kỷ 17, 18 họa chăng! Nhà tôi ưa… thực dân “một cây” nhưng cũng khoái kể công đánh thực dân của mình!

Vẻ mặt ông Henri vẫn lạnh lùng:

– Cần cái nội dung hơn, vả lại chuyện lầu ông Hoàng ở Phan Thiết gây cho tôi nguồn cảm hứng… mặc dầu tôi bất tài. Mời bà con cầm đũa, tôi uống rượu kể chuyện cũng no.

Trước khi vào chuyện, ông Henri trình bày sơ qua phần triết lý của vở tuồng, thứ triết lý mà ông đã phát minh sau khi lê gót phiêu lưu khắp các thắng cảnh miền Nam. Dưới mắt ông, vùng Cao Nguyên tuy hùng vĩ nhưng gió núi mưa ngàn đem sự lạnh lẽo cho tâm hồn. Bãi biển Vũng Tàu quá sang trọng, ngoài khơi thiếu vài hòn đảo nên du khách ngỡ mình rơi vào cái hố dục vọng mênh mang đại hải! Nhưng bãi Phan Thiết với lầu ông Hoàng hoang phế đã đem lại cho ông Henri một giấc mơ hoa, vì vậy vở tuồng cải lương của ông đang dự trù soạn thảo sẽ lấy tựa “Một giấc mơ hoa” hay là “Lầu ông Hoàng ở Phan Thiết”. Ông Hoàng tức là Công tước De Montpensier, thuộc dòng hoàng tộc bên Pháp. Ông ta đi ngao du khắp thế giới, trên chiếc du thuyền đặc biệt; đến mỗi nơi, ông mướn vài người dân bổn xứ: da đen, da vàng, da đỏ… Những công dân này đi theo du thuyền, ăn lương tháng. Nhiệm vụ của họ rất đơn giản: mỗi buổi sáng, khi ông Hoàng thức dậy, ban nhạc hoàng gia thổi kèn… Họ đến chào mừng cung kính, chúc ông vui vẻ… vậy thôi! Cứ đến một thắng cảnh, ông Hoàng cất một nhà nghỉ mát cực kỳ sang trọng; cất sẵn để đó chờ đôi ba năm sau viếng trở lại một lần. Năm nọ, ông Hoàng viếng bãi biển Phan Thiết. Quan Công sứ Phan Thiết lúc bấy giờ là người thuộc phái Bảo Hoàng đã tổ chức đón rước trọng thể rồi quỳ xuống hôn tay ông Hoàng, gọi ông là Hoàng thượng… Vì mến cảnh mến người, ông Hoàng thích ý xuất tiền xây cất một biệt thự trên đồi để sống với người tình nhân từ Paris sang. Ngày ăn lễ lạc thành, ông Hoàng bày cuộc đốt pháo bông, đâu từ chín giờ đến hai giờ đêm. Dân chúng đứng xem mỏi mắt rồi nằm ngửa, nhìn mãi đêm thiên đường bất tận… Thế rồi người tình nhân ở lại biệt thự, ông Hoàng tiếp tục cuộc viễn du, cất thêm biệt thự mới, tìm thêm tình nhân mới. Lúc ông vắng mặt, hàng ngày bồi bếp vẫn tiếp tục trải nệm, rót nước, dọn thức ăn rồi giũ nệm, rửa chén bát như khi ông vẫn còn sống ăn uống tại đấy!

Nhưng cô tình nhân nọ lén tư thông với một người Pháp. Ông Hoàng hay tin ấy bèn phái một thủ hạ từ Paris qua Phan Thiết. Tên thủ hạ rình giết tại trận cả đôi gian phu lẫn dâm phụ rồi lên máy bay về Pháp. Báo hại ông Công sứ Phan Thiết phải lo việc tống táng…

Bà Henri Nhan lắc đầu:

– Chuyện nực mùi thực dân, khó ăn khách… Tôi nói nhiều lần rồi.

Ông cãi lại:

– Bà không chịu thời thôi. Tôi có quyền thích chuyện đó!

– Bởi vì ổng tưởng mình là ông Hoàng! Phải không ông thi sĩ. Ông tính sao mà nãy giờ cứ ngồi êm ru cười mím chi hoài vậy?

Tôi trả lời, tránh mọi hiểu lầm:

– Bà làm bầu gánh, quyền ấy của bà. Tuy nhiên, ý kiến của ông cũng đúng. Muốn viết, cần phải cảm hứng, dùng nhân vật để giải tỏa nỗi thắc mắc thầm kín của mình.

Bà nói:

– Vậy thì dễ quá. Ổng thắc mắc về cái vụ bị nghi oan giết người, ngày xưa. Tại sao chẳng đem sự tích đó soạn thành tuồng cải lương, xóa bỏ thù oán! Đôi trai tài gái sắc ở hai nước Ba Tư, Hy Lạp gì đó hiểu lầm nhau, họ xua quân ra trận, rốt cuộc chàng và nàng bị thương tích nhưng đôi trai gái gặp nhau, ăn năn hối hận. Rồi cả hai từ bỏ ngai vàng điện ngọc, ra đi với mối tình cao thượng. Sẵn đây, tôi dám nhờ ông thi sĩ soạn tuồng đó cho đoàn “Hương Sắc 65” của tôi… Nội dung như vậy, vừa hư vừa thực, vừa vô lý nhưng vừa hữu lý, khán giả chịu lắm. Chớ tuồng “Lầu ông Hoàng” của nhà tôi thật khó diễn quá. Chẳng lẽ ông Công sứ thực dân với ông Hoàng đều là người thiện? Khán giả bực mình.

Tôi lưỡng lự, hẹn về suy nghĩ rồi trả lời sau.

Bà Henri đưa tôi ra sân:

– Gấp lắm! Ông cứ hứa cho tôi mừng. Đừng nghe lời ổng. Gánh hát này quyền hạn hoàn toàn do tay tôi nắm. Tôi định nhờ ông, từ cả tháng nay.

– Bà nên tìm soạn giả khác, chắc ăn hơn.

– Nói gì chuyện đó. Vài soạn giả đã tới thương lượng rồi. Nhưng ông à, ông tin tôi không? Bao giờ tôi cũng muốn giúp ông, xem ông như em ruột trong nhà, cùng một quê quán.

Sực nhớ chuyện xưa, tôi bồi hồi cảm động:

– Tôi tin bà lắm chớ. Nếu hồi đó bà quên chú ý mở cổng thúc giục tôi về gấp thì…

Bà cười giòn:

– Ông gợi lại chuyện “quốc sự”. Thôi đi. Tôi chẳng hân hạnh gì khi nhớ tới quan tư Ca Rê. Phải nhà tôi đừng ghen bóng ghen gió, có lẽ tôi giàu hơn bây giờ nhiều. Tôi đâu dám thi ơn với ông, buổi xưa đó.

– Đành vậy, nhưng nếu bà vô ý thì ngày nay…

– Ngày nay, thiên hạ cũng như vậy, ông à!

– Nhưng tôi đã chết lãng nhách. Tôi mang ơn bà nhiều hơn là… mang ơn ông. Thú thật với bà, hồi nãy giận quá chẳng lẽ…

– Hơi đâu chấp nhứt ổng. Ổng dồn ép trái “bôm” từ chục năm nay để “nổ” ra “lấy le” với ông. Ngôi sao của ổng lu rồi. May là ổng nghe lời tôi, bán đất cho tá điền trước khi bị truất hữu. Ông nghĩ coi, thường bữa ổng ra sân bới từng cọng rác… để làm vệ sinh, giành công việc với người ở. Đi ngoài đường phố, gặp miểng ve chai, ổng cúi xuống lượm lên, giành sở làm của phu lục lộ. Lẩm cẩm quá. Một cái tai nạn cho tôi. Ổng lại giỡn, nuôi chó kéo xe… La Mã.

Tôi cúi đầu chào bà Henri. Bà giả bộ trợn tròn đôi mắt rồi cười:

– Nhớ viết sơ cái cốt chuyện nghe. Trùm chăn tối ngày như ông, làm ăn khó tấn lắm. Tung chăn, tìm không khí mới một lần xem sao. Đời mà, mình cần tìm sự hồi hộp để sống. Ông ráng viết sao cho ổng vui.

Tôi đáp:

– Dạ, viết chớ. Về nhà viết liền rồi đem lại cho bà.

– Chiều mốt tôi tới nhà ông, dễ hơn. Đúng hẹn nghe!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply