baotreonline.com
Vương Mộng Long
Posted 6 Feb 2019
Post by Sơn râu 27 Oct 2025

Kỳ 7-Kết
Sau Tết Mậu-Thân 1968, da non còn chưa che kín vết thương trên ngực, tôi về Hội-An thăm thầy Chơn Phát lần đầu.
Thầy mừng vui, không ngăn được dòng lệ tuôn rơi. Thầy trao cho tôi tờ giấy bạc 20 đồng “Cá Chép Hóa Long” màu xanh lá cây của Ngân Hàng Quốc-Gia Việt-Nam,
– Ðây là tiền thầy trích từ quỹ bán rau cỏ và hoa quả trong vườn. Thầy mừng tuổi cho con. Thầy chúc con mau vượt qua tai ách!
Tới nay thằng con trai út của tôi còn cất giữ tờ giấy 20 đồng ấy trong bộ sưu tập tiền của nó.
Tôi về thăm Hội-An lần cuối cùng, vào mùa Hè năm 1973, nhân kỳ nghỉ phép thường niên. Dịp ấy tôi dự trù sẽ dành ra tròn một ngày thăm thầy Chơn Phát, lúc này thầy tôi đã lên chức Thượng Tọa.
Vì tình hình an ninh quanh thị xã thời gian đó không sáng sủa lắm, nên tôi chọn giờ đi vào buổi giữa trưa, và trở về thành phố trước lúc mặt trời xế bóng.
Ðể giấu đi cái lý lịch quân nhân của mình, tôi đã phải mặc áo quần dân sự và dùng xe đạp làm phương tiện tới chùa. Gặp lại tôi, thầy tôi mừng vui ra mặt.
Thầy trò tôi ngồi đối diện nhau nơi đầu bàn ăn, nói hết chuyện này sang chuyện khác.
Vẫn tấm áo nâu sồng, vẫn đôi guốc mộc, vẫn cặp kính cận dày cộm, thầy tôi lúc nào cũng là một người giản dị, chân thật, và hy vọng.
Mắt thầy trìu mến, miệng thầy tíu tít hỏi thăm tôi binh nghiệp thế nào? Ðã bảy năm, sau vụ “Phật Giáo Miền Trung 1966” tôi có còn bị treo lon, trù ếm nữa không?
Giọng nói Quảng-Nam quê mùa của thầy, tôi đã nghe quen, tôi đã yêu thương. Tôi ngồi yên, lắng nghe từng lời từ miệng một vị chân tu, mà cảm thấy mình như đứa bé đang được vuốt ve, an ủi. Thầy nhắc lại cái “điệp khúc” ngày xưa tôi thường nghe, khi còn tá túc trong chùa:
“Chú Tùng phải nhớ lời thầy, ở hiền thì gặp lành, nhân tốt thì quả tốt.”
Cũng như dịp về thăm gặp thầy trước đây, tôi ngồi ngây, nghe thầy thao thao không dứt:
“Dù bất cứ hoàn cảnh nào, người quân nhân Phật Tử cũng phải lấy từ bi làm trọng. Ðành rằng, nơi chiến trường, mình không giết người, thì người sẽ giết mình. Nhưng người chiến sĩ chiến đấu hăng say không bắt buộc phải là một người hiếu sát. Vào lúc nào đó, nếu con có thể tha mạng cho kẻ địch mà thấy không hại gì tới mình, hay đơn vị mình, thì hãy gắng mà làm.”
Im lặng ngồi nghe, tôi thấm nhuần từng lời khuyên, câu răn của thầy tôi. Rồi tôi tự yên trí rằng, suốt bao năm chinh chiến, tôi chưa bao giờ phải áy náy về những việc mình đã làm.
Thầy cười giòn tan, khi nghe tôi khoe đã lập gia đình, có vợ và hai con. Thầy nói đùa:
“Nếu ngày đó chú Tùng mà đi tu luôn, thì nay đã thành một tỳ kheo có vai, có vế rồi!”
Có tiếng chim cu gáy trên ngọn cau. Tôi đảo mắt nhìn ra cửa, sân chùa vắng ngắt nhưng chan hòa nắng ấm. Cổng trước, vườn sau, rộn rã tiếng ve sầu. Hôm ấy nhằm ngày đầu tuần, các sa di đi học, thầy Như Luận vắng nhà, thiện nam tín nữ không có ai vãng lai vì bận công việc làm ăn.

Trưa Hè, giữa cồn cát nóng cháy, Long Tuyền Tự ẩn mình sau hàng rào cây xanh, nhìn xa như một ốc đảo bình yên.
Giờ chia tay, thầy tôi lại dặn với:
“Chú Tùng phải nhớ lời thầy, ở hiền thì gặp lành, nhân tốt thì quả tốt.”
Cuối năm 1973 tôi lên Thiếu tá, vào trấn giữ tiền đồn Plei Me và chỉ huy Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân/ Biên Phòng. Tháng 9 năm 1974, sau khi thắng trận Plei Me, tôi đem quân đi Quảng-Ðức.
Ðầu tháng 4 năm 1975 Vùng 2 mất, tôi rút về Vùng 3, tiếp tay với Sư Ðoàn 18 Bộ Binh phòng thủ Xuân-Lộc, Long-Khánh. Chiến thắng Xuân-Lộc là chiến thắng sau cùng của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Ngày 20 tháng 4 năm 1975 quân ta bỏ Long-Khánh, tôi đem quân về bảo vệ Thủ Ðô Sài-Gòn.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi thua trận. Mười một ngày sau (11 tháng 5 năm 1975) tôi bắt đầu cuộc sống tù đày từ trại này sang trại khác, và từ Nam ra Bắc.
Ngày đó, trong trại tù cải tạo, người chiến thắng đã hỏi tôi, vì sao vào những giờ phút Miền Nam đang quằn quại giãy chết, trong tuyệt vọng, mà chúng tôi vẫn còn chiến đấu?
Tôi đã thay mặt đồng ngũ của tôi mà trả lời họ rằng:
“Chúng tôi đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, cũng chỉ vì chúng tôi muốn bảo vệ cái danh dự của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa! Chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi không xấu hổ!”
Năm 1988 ra khỏi trại tù cải tạo, tôi trở thành người không tôn giáo, không đi chùa, mà cũng chẳng thiết tới nhà thờ. Tôi vật lộn với cuộc sống mới bằng đủ thứ nghề lương thiện, nhưng thật là lầm than. Niềm vui của tôi thời gian đó thật nhỏ, thật đơn giản: manh áo lành, bát cơm đầy hàng ngày cho vợ cho con.
Tháng 4 năm 1993 tôi đem gia đình đi Mỹ định cư theo chương trình H.O, làm lại cuộc đời. Tôi cất kỹ dĩ vãng để lần mò bước vào tương lai, và chưa hề nghĩ tới chuyện quay về.
Ngay từ những ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ, nhiều tổ chức, hội đoàn, ngỏ ý muốn tôi tham gia. Tôi tìm cách chối từ, nại cớ phải đi làm kiếm sống, nuôi vợ, nuôi con.
Nhưng thật ra thì, không phải tôi đã quên Việt-Nam, không phải tôi đã quên đồng đội, không phải vì thời gian này lương tâm tôi chỉ chứa toàn thực phẩm; mà chính vì, với tuổi năm mươi, đã là quá muộn để đi tìm lãnh tụ.
Cuối tháng 5 năm 2016, vợ chồng tôi có dịp bay sang Texas thăm bạn bè vài ngày. Tôi đã gặp lại một người bạn thân là thầy Lê Thái Bình, cựu Tuyên-úy Phật-Giáo Tiểu-Khu Phú-Bổn. Trong lúc chuyện trò, thầy Bình cho tôi hay, hằng ngày ông đều lên làm công quả vài ba tiếng đồng hồ cho một ngôi chùa của người Việt trong vùng ngoại ô Arlington, Texas.
Nhân cơ hội này, vợ chồng tôi cũng theo chân thầy Bình lên thăm chùa cho biết cảnh trí và sinh hoạt của một ngôi chùa Việt-Nam ở xứ Mỹ này ra sao?
Trưa hôm đó, khi thầy Bình phụ giúp những người khác làm Phật sự, vợ tôi lên Chánh điện thắp nhang, thì tôi lang thang trong vườn sau. Ngôi chùa này khá khang trang, có cả tượng Phật Bà đứng trên vách đá, bên chân Phật Bà là dòng suối nhỏ, nước trong veo và chảy không ngừng.
Trong cái tĩnh lặng của không gian, chợt tiếng chuông báo Ngọ ngân vang. Tiếng chuông len lách trên lối mòn vườn sau. Tiếng chuông khuấy động những kỷ niệm xa xưa trong tâm hồn tôi. Tôi chợt nhớ ra, đã lâu lắm rồi, tôi từng có một lần vào chùa, xuống tóc, thọ tỳ kheo…
Trở về Seattle, tôi nhờ anh đại diện Cựu Học Sinh Trần Quý Cáp ở Việt-Nam liên lạc với chùa Long Tuyền để chuyển lời thăm hỏi của tôi tới thầy Chơn Phát cùng chư Tăng mà tôi đã quen biết ngày xưa.
Không lâu sau, tôi nhận được tin thầy Chơn Phát, thầy Như Luận cùng chú Quý, chú Hạnh đều đã qua đời, riêng chú Quýt thì hoàn tục sau năm 1975. Người trụ trì hiện nay là Hòa Thượng Thích Như Phẩm, tức là chú Chín ngày xưa.

Anh đại diện cũng gửi cho tôi xem cái ảnh của Hòa Thượng Thích Như Phẩm đứng trước bàn thờ thầy Chơn Phát.
Như vậy là thầy Chơn Phát đã ra đi. Thầy đã vượt qua một kiếp nhân sinh trần ai đầy khổ ải. Giờ đây, chắc linh hồn thầy tôi đang thênh thang phiêu du nơi xứ Phật. Và chú sa di đầu còn miếng vá chưa được cạo hẳn, khép nép đứng hầu sau lưng thầy ngày nào, nay đã thành một Hòa Thượng, tân trụ trì Long Tuyền Tự.
Qua bao nhiêu đổi thay, giờ này chỉ còn một mình chú Chín là có Phật duyên. Chú Chín xứng đáng là truyền nhân đệ tử của thầy tôi.
Thầy tôi đã khuất núi, nhưng lời thầy khuyên răn tôi vẫn còn đây:
“Cây tùng hay cây thông là biểu tượng của người quân tử.”
Mới đó mà nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ biến cố Miền Trung.
Nay hình ảnh chú Chín đứng hầu bên bàn thờ thầy Chơn Phát đã khơi dậy trong tôi những kỷ niệm đắng cay của một đoạn đường đời đầy sóng gió của chính mình.
Tôi chợt như vừa sống lại cái tuổi hai mươi chập chững bước vào đời.
Tôi vào đời với hoài bão dời non lấp biển.
Nhưng tôi có biết đâu? Ðời chỉ là cơn mộng mà thôi!
VML-k20
Seattle, U.S.A tháng 11 năm 2018
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.