Hoàng Khởi Phong
Post by Sơn râu 3 May 2025

Hình minh họa
Anh ta vừa mới qua khỏi tứ tuần. Bốn mươi năm làm người ấy quả tình là anh đã làm được nhiều việc cho mình và cho người. Anh ta tên là Chiêu. Vào lính từ năm mới mười hai tuổi, nghe như chuyện giễu, nhưng mà thật bởi vì anh ta là một Thiếu Sinh Quân. Năm 1969 khi quỳ xuống trong một ngày lễ mãn khóa ở Vũ Đình Trường Thủ Đức anh là một Sinh Viên Sĩ Quan mười chín tuổi. Khi đứng lên đã là một Tân Sĩ Quan, mặt búng ra..sữa. Thế mà anh đã có bảy, tám năm ở lính, trong khi các bạn đồng khóa chỉ mới thâm niên quân vụ đâu có chín tháng và đâu có đôi khi có thêm mười ngày lẽ, một thời gian khiêm tốn cỡ thời gian anh khai bệnh và..bị phạt. Đã từng có một ông nhà văn viết tiểu sử của mình là hoạt động kháng chiến chống Pháp vào năm sáu tuổi. Sáu tuổi mà đã ý thức được..kháng chiến.. thì đúng thật là..thần đồng kháng chiến. Còn anh, anh đâu có tự xưng là thiên tài…quân sự thì hiển nhiên không một ai có cớ để phiền lòng.

Chiêu khác người ta đủ điều. Là sĩ quan hiện dịch nhưng được đào tạo bởi một quân trường chuyên huấn luyện các sĩ quan trừ bị, mà ngược ngạo thay sổ quân bạ đã có tới bảy tám năm, trung bình cứ mỗi năm mười ngày phạt là đã thấy chiếm bằng nửa giai đoạn một huấn luyện của các tân sĩ quan trong quân trường Thủ Đức này. Cái chất lính đã ám vào tận trong xương, trong tủy nên anh đã chọn Thủ Đức để có thể ra trường sớm hơn, chứ đáng lý ra sau khi là một Thiếu Sinh Quân đậu Tú Tài, chổ của anh phải tới là Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Anh tâm sự là đã ngán ngẩm quân trường tới cổ. Anh muốn bay nhảy sớm hơn, rộng cẳng sớm hơn. Cốt của anh là hiện dịch, đằng nào cũng là Sĩ Quan thì Thủ Đức cũng thế mà Đà Lạt cũng vậy. Đó là chưa kể anh sẽ là Thiếu Úy trước các bạn cùng lớp gần một năm, vì đi Đà Lạt phải thụ huấn thêm hai năm trong khi anh chỉ phải học bốn tháng giai đoạn hai của trường Thủ Đức là đã trở thành một Chuẩn Úy, một năm sau cũng đã Thiếu Úy như thông lệ. Đó là chưa kể đến những chiến công sẽ có trong một con người mà cái chất lính nó đã ăn vào tới tận trong xương, trong tủy.
“Đã là lính từ thời niên thiếu. Ngày ra trường chẳng lẽ chọn…Quân Bưu”. Chiêu cùng một người bạn cũng là Thiếu Sinh Quân tên là Minh Lai đã khởi đầu binh nghiệp với một con cọp bay nơi tay áo, mủ đỏ ở trên đầu. Sau khi mãn khóa ở quân trường Thủ Đức cả hai đi huấn luyện về Biệt Kích ở Long Thành. Cả hai học thêm khóa 172 Nhảy Dù tại trung tâm huấn luyện của binh chủng này. Trung tâm này khi đó do Thiếu Tá Nguyễn Văn Vinh, một cựu Thiếu Sinh Quân từ thời Pháp làm Chỉ Huy Trưởng.
Cho tới nay nhiều người ngoài quân đội vẫn còn lầm lẫn giữa chúng tôi: Nha Kỹ Thuật, Phòng 7 và Lực Lượng Đặc Biệt. Đó là ba cơ quan khác nhau, nhiệm vụ khác nhau. Nha Kỹ Thật chúng tôi mà dân chúng thường gọi là Biệt Kích Lôi Hổ có hai Sở là Sở Bắc và Sở Nam. Sở Bắc gồm toàn những người chuyên nhảy và hoạt động tình báo trong lãnh thổ Bắc Việt. Tôi thuộc Sở Nam chuyện trị miền Nam cùng những nước trong lãnh thổ Đông Dương. Đối với Mỹ chúng tôi là MACSOG mà nhiệm vụ chính là “Undergrounds Activities Rescue và Strategic Technical Directorate” (Nha Kỹ Thật) nghe thì có vẽ như là lành, nghịch ngợm với máy và móc. Trông vậy mà không phải vậy. Nếu anh nhới tới vụ Biệt Kích Mỹ nhảy dù vào một trại giam ở Sơn Tây thì đó là một trong những kiệt tác của Sở Bắc.
Mài nanh dũa vuốt đã xong cả hai chú cọp nhỏ được thả về rừng xanh. Cọp thì phải thả về rừng, để ở thành phố thì lâu dần sẽ trở thành cọp giấy. Cả hai cùng trực chỉ Kontum. Đơn vị đầu đời của cả hai là B15. Chiêu kể cho tôi nghe:

2
…Lúc đó chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đã bắt đầu. Chúng tôi là những sĩ quan nhẩy toán. Trước khi chiến tranh được thực sự chuyển hẳn lên trên vai những người lính Việt Nam thì trại B15 có tất cả 48 toán nhẩy. Những toán nhẩy này điều động do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, lãnh lương Mỹ, doanh trại Mỹ, cái gì cũng Mỹ. Những toán này lấy tên là tên của những tiểu bang Mỹ. Toán của tôi mang tên là Hawaii, toán của Minh là Nevada. Và rồi quân Mỹ bắt đầu triệt thối. Để có thể phủi tay dần dần, trong mười toán đầu tiên hoạt động dưới sự chỉ huy hỗn lợp của cả Mỹ lẫn Việt đó có cả hai toán của chúng tôi. Toán Hawaii của tôi giờ đây có thêm một cái tên Việt là Hỏa Lôi, trong khi toán Nevada của Minh là Hoàng Lôi.
Trong năm đầu tiên mới ra trường đó cả hai nhẩy hai chuyến đầu tại chiến trường Hạ Lào, có lẽ là gần Tchépone. Hai thằng, mỗi thằng một toán, tiến về một hướng và cùng may mắn trở về được chổ hẹn với trực thăng. Cứ mỗi lần nhẩy toán mà còn sống trở về, trong túi có tiền nhiều thì những ngưới lính đặc biệt chúng tôi còn biết gì hơn là xà vào quán rượu, chui vào nhà chứa kiếm gái. Riêng tôi không hạp cả hai khoản này…do đó tôi vẫn học…thêm. Tôi vẫn lấy “cua” của Luật đem theo lên trại. Không đi hành quân thì ở nhà đọc sách. Tất nhiên cũng có vào làng Phương Hòa, Phương Nghĩa dê mấy cô nổi tiếng trong hai làng công giáo này. Nhưng ai đã có một thời gian ở Kontum thì biết hai làng này, gọi là làng, song đường xá rộng rãi, nhà cửa khang trang. Phần lớn là nhà ngói cây mít, mít ở đâu mà nhiều thế. Và đặc biệt là con gái thì khá đẹp. Tôi đâu có phải là thánh, tôi không thích uống rượu, không thích nhà thổ, nhưng cái khoản phụ nữ đó…ai mà không thích?
Lần nhẩy toán thứ ba, toán của Minh và tôi lại lên cùng một chiếc trực thăng, nhắm hướng Hạ Lào trực chỉ. Trên không ảnh hành quân, thì khu vực bao la, bát ngát, bạt ngàn, man dã là rừng này chỉ có một chổ khả dĩ có thể dùng làm bãi đáp. Đó là một ngọn đồi thấp, tương đối trống trải, chỉ thuần có cỏ lau cao, chen kẻ với những bụi cây rừng thấp.
Trực thăng xà xuống thấp, thấp hơn nữa. Chúng tôi đáp xuống ngon lành, chiếc trực thăng lại bốc lên cao, cao hơn nữa. Tôi và Minh chưa kịp bắt tay từ giã, nói lời chúc lành nhau như hai lần nhẩy trước thì phèng la ở đâu nổi lên ầm ầm, kẻng báo động vang rền đồi núi. Thế là chúng tôi mạnh ai nấy chạy theo hướng đã định sẳn cho mình. Chúng tôi bị truy kích ngay lập tức, những tiếng gọi nhau, hò hét ơi ới trong buổi chiều có nắng vàng rực rỡ phủ xuống ven rừng. Họ cũng đâu có nhiều lính, tôi nghĩ có lẽ chúng tôi đã nhẩy xuống ngay đầu một đơn vị của họ mới đóng quân cũng không lâu, vì trên trực thăng nhìn xuống chúng tôi đâu có thấy một dấu hiệu nào của nhà cửa, doanh trại. Cái thằng chó đẻ nào đánh kẻng báo động mới quái ác làm sao. Nó mà đánh sớm hai, ba phút, biết là bị động thì chúng tôi đã đeo theo trực thăng mà về nghỉ khỏe. Giờ đây lo chạy lấy cái mạng không biết có nổi hay không?

Tôi dẫn mấy người lính chạy thục mạng vào rừng, chúng tôi trốn thật kỷ trong một khu cỏ lau chi chít đến độ tôi nghe họ quát tháo chỉ cách chúng tôi độ hai chục thước. Họ túa ra làm nhiều toán, súng có lắp lưỡi lê, đâm chĩa lung tung, có một lần họ đâm ngay vào chổ tôi, gần đến độ mũi lưỡi lê cách mũi tôi không đầy một thước. Tôi ngồi im bất động, bởi nếu tôi bắn tôi đã không còn mạng mà về. Lúc đó mặt trời sắp lặn, trong rừng lau ánh sáng bớt hẳn đi. Tôi nghe thấy họ nói với nhau cho vài người trở về mang chó tới. Tôi nghĩ thầm trong đầu thế là bỏ mẹ, thế là phải đụng, không thể nín nhịn được nữa.
Từ lúc đó cho tới khi bóng tối thực sự bao phủ núi rừng bọn họ và tôi chơi đuổi bắt, chúng tôi chạm súng cả chục lần trong khoảng một thời gian không đầy hai tiếng đồng hồ. Không có lần nào đáng gọi là giao tranh, chỉ vài tiếng súng bất ngờ, một người ngã vật xuống, kẻ bị bắn nằm thẳng cẳng, kẻ mới bóp cò lập tức bò đi chổ khác. Qua một vài lần bắn như thế tôi nghiệm được một điều là mỗi lần họ bị chết một người thì họ hung dữ hơn. Thấy mạng của đồng đội mình nằm xuống thì bất cứ một người lính thật sự của phe nào cũng âm ỉ một ý nghĩ trả thù. Nhưng nếu người bị bắn chỉ bị thương, thì tiếng rên la, kêu gào trong buổi chiều chạng vạng nghe mới ghê rợn làm sao. Nó làm cho những kẻ săn đuổi và những kẻ bị săn đuổi đều đứng tim lại vì sợ. Lại nửa phải lo cấp cứu bạn, phải dìu nhau đi do đó cuộc truy kích phải bớt đi tính chất bạo tàn. Từ khi phát giác ra điều này tôi chỉ nhắm bắn họ từ háng trở xuống. Tôi còn được có ba người lính theo sát, tôi dặn họ những điều tôi mới phát giác. Cứ bắn dưới rốn, thằng nào xui thì trúng chim, hên thì trúng đùi. Chẳng phải vì tôi nhân đạo gì, chúng tôi chỉ tính sao cho có lợi cho cái mạng của chúng tôi mà thôi.
Đêm ập xuống, mấy thầy trò chui được vào một cái hang. Bọn người săn đuổi tụi tôi cũng trở về chỗ nghỉ ngơi của họ. Tình cờ gặp nhau nơi rừng hoang xứ người, bắn giết nhau như thế đã đủ cho hôm nay, mai lại làm tiếp. Chúng tôi và bọn họ có cả một không gian rộng lớn để săn đuổi còn thời gian bây giờ thì đang ở trong tay họ, đi đâu mà rộn, hãy về ngủ đi các bạn ta, mai này chơi tiếp trò cút bắt, mèo vờn chuột.
Đêm đó trong hang, tôi nghe tiếng súng nổ nhiều đợt ở hướng của Minh bạn tôi. Múc độ súng nổ cho tôi biết Minh bị đụng liên tục. Suốt đêm tôi nghe có lúc súng nổ dồn dập, có lúc súng nghe thưa hơn, nó cho tôi biết ở phía Minh đúng là giao tranh chớ không phải cút bắt như chổ tôi. Tôi nghĩ tới người bạn mười năm đèn sách này, nghĩ tới những lần nhẩy tường đi chơi đêm ở trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu khi chúng tôi mới bắt đầu lớn, nghĩ tới lúc vừa thoát khỏi tình trạng thiếu niên, trong nhà tắm công cộng của trường, chúng tôi bắt đầu khám phá một cách thích thú những sợi râu mọc ở chổ bất ngờ. Vũng Tầu là chổ phong cảnh đẹp, nhiều lính đồng minh, nhiều snack-bar, nhiều nhà chứa. Nên vì đó mà nhiều bạn tôi mười sáu, mười bảy tuổi đã hiểu thế nào là trai hai ba lần “lậu” mới nên con người.

Tảng sáng hôm đo tôi lôi cổ mấy tên lính còn lại. Giờ này người anh em bên kia còn đường an giấc nồng, còn chờ gì mà không kiếm đường dọt. Phương hướng mất hết, đồ đạc, máy móc chẳng còn. Chúng tôi lê lết trong rừng gần một tháng trời, nên nhớ đây là rừng của nước người ta, chớ không phải rừng trong nước mình. Cũng có đụng độ lẻ tẻ và sau cùng mò được về đơn vị còn một thầy, một trò. Đơn vị đã báo cáo… mất tích. Trong thời gian nằm dưỡng thương tôi vẫn hy vọng thằng bạn thưở thiếu thời sẽ cũng mò về được. Nhưng không, không bao giờ Minh Lai bạn tôi về nữa. Bạn tôi đã nằm xuống đâu đó trong rừng hoang xứ Lào.
3.
Năm 1972, tuy người Mỹ đã rút về gần hết, nhưng thật ra họ vẫn còn nhiều hoạt động có tính cách tình báo. Họ vẫn còn một số Lực Lượng Đặc Biệt đi với chúng tôi hay là hiện diện bất ngờ nơi các trại Lực Lượng Đặc Biệt. Kỳ đó Cộng sản tràn qua một trại, đa số quân trú phòng đều tử trận. Có một số thoát được ra ngoài và toán của tôi lãnh nhiệm vụ đi nhảy tiếp cứu, nghề của chúng tôi mà. Chúng tôi đi rescue một toán Mỹ. Khi tôi bắt được liên lạc với họ và dẫn họ ra tới chổ chờ trực thăng thì địch quân truy nã tới. Súng nổ mù trời đất. Bốn người Mỹ mà chúng tôi có bổn phận đi đón chẳng may tử trận hết. Làm sao mà mang xác họ về được. Trước mắt phải lo cho cái mạng của chính mình, trở về bằng mọi giá cái đã.
Tôi vùi xác họ tại chổ, sau khi đã đánh dấu thật kỹ địa điểm để sau này tới mang…các bạn ta về. Chúng tôi đã từng được huấn luyện kỹ lưỡng về việc này., kể cả việc có thể kiểm chứng xác người, xương người để dung cho công tác của chúng tôi. Ngay lúc đó tôi cũng không ngờ là nhiều năm sau tôi sẽ quay trở lại, thu hài cốt những người này. Lúc đó ngay trong khi đang vùi xác tôi có nhớ là tôi thầm hứa với vong linh mấy người anh em này là tôi sẽ đem họ về với gia đình họ. Nào ngờ mấy bố đó linh thiệt. Tôi sẽ trở lại việc này sau.
Trước sau tôi nhảy ba mươi ba chuyến. Ba mươi ba chuyến đều nhảy ở đồng đất nước người, khi thì Lào, khi thì Miên. Cũng có đôi lần nhảy xuất phát từ Thái Lan, nhưng chưa hề nhảy ra Bắc lần nào. Tính cho đến ngày cuối của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tôi mới hai mươi lăm tuổi đầu, mười ba, mười bốn năm lính. Sáu năm Sĩ Quan, hai lần nằm bệnh viện. Tôi cũng chẳng bao giờ để ý đến huy chương. Nguyên con người tôi còn sống mà về đã là một cái huy chương sáu mươi lăm ký, mang mấy cái chiến thương bội tinh đó làm gì chỉ tổ cho bạn hữu nó cười. Giễu nhất là hai lần tôi bị báo cáo đào ngũ, mà thật ra trong lúc bị báo cáo đó tôi đang hoặc là năm nhà thương, hoặc là đang bị người anh em bên kia quần cho tơi tả. Do hai lần báo cáo đào ngũ này cái sổ quân bạ sĩ quan của tôi nó…sạch như chùi, và vì vậy tôi đứng luôn ở cấp bậc thiếu úy hơn năm năm. Cho tới ngày “ò e, rô be đánh đu, tặc giăng nhảy dù, dô rô bắn súng …”
Cho tới khi sổ quân bạ của toàn thể Quân Lực miền Nam phải thiêu hủy vào cái năm 75 đó, trong lòng tôi luôn tri ân những người bạn thiết của chúng tôi. Trước tiên phải kể là những người mũ xanh Mỹ, nhiều người trong bọn họ đã không còn sống trên cõi đời này. Kế đó là vài phi đoàn trực thăng H34 chuyên đưa chúng tôi đi bằng “cửa trước” và rước về bằng “cửa sau”. Đó là Phi đoàn Thần Phong Long Mã mà những ngươi anh em lã lướt gốc Không Quân còn gọi bằng một cái tên Mỹ là King Bee 219. Những người anh em này nhiều khi đi đón chúng tôi và trở về không. Nhưng nếu phải trở về không thì các phi công đó đã làm hết sức những điều họ có thể làm. Chúng tôi ghi nhận tình chiến hữu lặng lẽ, nơi những người bạn đã nhiều lần bất thần trong rừng xanh núi đỏ, chợt ở trên mây nhào xuống cõng chúng tôi về.

4
Trên bản đồ quân sự cũng như trên bản đồ của Nha Địa Dư không bao giờ có địa danh “Đèo Bá Thở”. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn. Chúng tôi là nhà binh, thứ dữ. Năm 75 lại không bỏ của chạy lấy người nên bị vồ trọn gói. Lính thì thứ dữ như vậy nhưng khi bị bắt ở tù thì lại hiền khô. Chứ không hiền thì làm gì được ai. Khi còn là “Lôi Hổ” thì chưa ăn thua gì huống hồ bây giờ bị “Hổ Lôi” đi một mạch từ trong Nam ra ngoài Bắc thì hiền khô là vừa. Nói nào ngay mấy người anh em lôi được “hổ” đi vẫn còn nghĩ tôi là thứ dữ nên mới mang một cậu thiếu úy mới có hai bốn hai lăm tuổi ra ngoài đó nơi mà giá chót cũng là ba bông mai trên cổ áo mới có “tư cách” định cư.
Khi chúng tôi đặt cho ngọn đồi cái tên là “Đèo Bá Thở” thì thật tình chúng tôi không biết dân địa phương gọi nó là là “Đèo Bò Rống”. Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng sang bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu đồi toàn thị là tre, nứa, giang …Nghĩ cũng buồn cười, xưa cũng mấy thằng lặn lội trong rừng, nay cũng mấy cậu trong rừng lội, lặn. Chỉ khác một điều là xưa vai vác súng. Nay “Đẵn tre vác nứa trên ngàn, ngày ngày lao động tối dồn tự phê. Miệng ăn măng trúc, măng mai, hữu thân hữu khổ lấy ai bạn cùng…”
Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã xập, người chủ nhà lấy vài than tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất, tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng là nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam. Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi “bá thở”. Chúng tôi nghe có tiếng lục đục trong cái chòi bỏ hoang và phát giác được một bà cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày. Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp . Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù “Ngụy” nên không hé răng một nửa lời.
Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây khi về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Được vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều , chúng tôi để hai người ở lại sửa, còn tám người vào rừng đốn tr echo đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt gtranh về để dậm lại những chổ quá mục nát. Căn nhà sửa xong có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi.
Bà nói với tụi tôi: “Mấy cậu ở tù mãi rồi cũng có ngày về. Còn con lão thì không về được nữa rồi”. Tụi tôi ai nấy đều cảm được bà già nói gì nên đều tôn trọng nổi đau của bà già bằng cách im lặng. Bà già lại nói tiếp: “Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì chiến tranh đã hết lâu rồi , nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả đâu vào đâu”.
Tôi không hiểu các bạn tôi nghĩ gì, nhưng riêng tôi trong đêm ấy tôi mất ngủ. Làm như tôi mắc một cái tội nào đó không diễn tả được. Trong tù tôi được nghe xì xầm là trại tôi dang ở trước kia giam một số tù binh Mỹ. Dấu vết của họ còn hiện lờ mờ đâu đó trên những vách nhà, trong phòng tắm. Đằng sau trại tôi, trên một ngọn đồi kế cận chỉ cách một khoảng không đầy một cây số, tôi nghe được còn một trại khác, ngầm ở dưới đất … và hình như họ vẫn còn giam giữ những tù binh…da trắng. Tôi là một tay biệt kích có thể gọi là ngoại hạng. Tôi đã quan sát rất kỹ và rất nhiều lần. Tôi biết chắc sau ngọn đồi có doanh trại ngầm, nhưng tôi không biết là tù binh Mỹ còn hay không?? Tôi nghĩ nếu có những người tù Mỹ này thì tội nghiệp họ biết bao. Họ ở đâu đến đây. Năm chục ngàn đã chết. Hàng ngàn người bị bắt và giam giữ như là súc vật. Hết chiến tranh rồi mà vẫn còn những kẻ đang chờ chết lần hồi. Tôi tự thề là nếu Chúa cho tôi trở về, thì một trong những việc đầu tiên là tôi sẽ trở về vùng Kontum, kiếm lại xác của bốn người Mỹ tôi đã vùi từ năm 72 và nếu như tôi có những dấu hiệu nào của những người Mỹ mất tích, bị cầm tù thì tôi sẽ tìm đủ mọi cách để thông báo cho gia đình họ, cho người Mỹ…

Khi vào tù tôi còn trẻ lắm, mới ngoài hai mươi. Lại nửa binh nghiệp của tôi là được dạy dỗ, huấn luyện để được tồn sinh trong mọi trường hợp. Lạc trong rừng cả tháng còn mò về được, thì ở tù chỉ là bị câu thúc than thể mà thôi. Sức mấy mà những cực nhọc đó có thể quật được tôi ngã quỵ. Tất nhiên ngoài sức khỏe trời cho, ngoài sự huấn luyện để rèn cho thể xác, tôi cũng phải biết điều một chút để giữ cho được cái mạng của mình. Trong tù tôi đã vuốt mắt cho vài người đồng cảnh.
Đau lòng nhất là tôi đã vuốt mắt cho một niên trưởng của tôi. Ông cũng là một Thiếu Sinh Quân, lại là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong lúc tôi đã theo học. Ông chính là Trung Tá Nguyễn Văn Vinh. Về cái chết của Trung Tá Vinh có một điều tôi nhớ mãi. Khi tôi đi thực tập Nhảy Dù ông cao to, nặng tới bảy chục ký. Hôm đi chôn ông chỉ còn thuần da với xương, trông như những cái xác ở trại tập trung Do Thái, ông chỉ còn nặng một nửa là cùng. Tôi là người vuốt mắt cho ông và hứa nhất định khi về sẽ đem được lời trăn trối của ông tới gia đình ông. Chúng tôi không có cả vài tấm ván để đóng cho người đàn anh đúng nghĩa này một cái quan tài. Thôi thì hãy tạm bằng lòng với cái chiếu mà đàn em kiếm được. Sống đã chẳng làm gì được cho nhau.
Cái giá mà tôi một tên Sĩ Quan “Lôi Hổ” nhảy toán phải trả coi bộ khá bộn. Cỡ cấp bậc của tôi mà là bộ binh thì nhiều lắm hai năm là cùng, mà sẽ không bao giờ biết đến Yên Bái là gì, Bắc Kỳ là gì. Khi đi lính tôi chơi bạo với người anh em nên khi vào tù người anh em chơi bạo với tôi, thế là có vay có trả. Có điều tôi phải trả lời nặng quá, những bảy năm tù.
Ở tù người ta học được nhiều điều, trước tiên là cái lối sống tập thể. Lối sống tập thể trong quân trường khác. Ở tù khác, anh phải có bạn. Nhưng coi chừng anh chết vì bạn. Anh chết vì chọn lầm bạn cũng có. Anh chết vì bạn thương anh quá cũng có, hay anh thương bạn quá cũng có. Anh cũng phải học cách cho và nhận. Có những cái không cho được thì đồng thời đó cũng là những cái không nhận được. Người chết vì ích kỷ quá thì nhiều chứ hiếm ai chết vì rộng rãi quá ở trong tù. Những bài học này chẳng ai dạy được cho ai, phải tự học lấy, kinh nghiệm lấy. Có những bài học trả bằng sinh mạng, còn những bài học trả bằng kiểm thảo, biệt giam, cùm chân thì chẳng qua là thực đơn hằng ngày. Cũng giống như hồi đi học ở thủ Đức thực đơn có bốn món chính là bò, gà, cá, heo. Thay vì đi và đếm bước một, hai, ba bốn tôi nghe rõ ràng có nhiều anh em đếm bò gà cá heo. Bây giờ chúng tôi chẳng qua là cá năm trên thớt. Làm sao mà ra tới biển được đây.
Nói nào ngay tôi khá thất vọng khi nhìn thấy nhiều vị đàn anh. Nhưng nghĩ cho kỹ thì tôi lại tha thứ cho họ. Ngay cả những người quản giáo đã từng chà đạp lên tôi, đã từng đem sự ngu dốt của họ đùa trên đầu, gtre6n cổ và trên sinh mạng tôi mà tôi còn tha thứ được thì huống hồ gì mấy ông đàn anh đã già, đã cỗi, đã cùn và mỗi ngày mỗi gần đất hơn, xa trời hơn thì có gì đáng kể. Vả lại ở đời mình cũng chả nên phán xét ai, vì ai sẽ phán xét mình đây?
Tôi chú tâm vào để Sống, tự đặt cho mình một mức độ đạo đức tối thiểu là sẽ sống nhưng không phải tìm sống trong cái Chết của người khác. Kỳ dư tôi chẳng chú trọng tới những lỗi lầm của ai và cũng tránh không để cho những lỗi của mình nếu có ảnh hưởng tới người khác. Nói với anh thì dễ, nhưng trong khi ở tù thì những điều đó khó vô vàn…

5
Rút cục có Chúa thật anh à. Tôi được thả ra và lại còn trở về được thì hiển nhiên phép lạ đã có. Phép lạ không phải đến với mình tôi. Có những người ngày mới vô trại tôi tưởng chừng chịu đựng được vài con trăng là cùng thế mà cái lòng ham sống làm con người sống dai vô cùng. Tất nhiên cũng đã chết bộn, nhưng ngôi mộ vùi nông thiếu gì nơi các trại tập trung học tập. Nhưng mà con người ta mau quên lắm anh ạ, có nhiều người bây giờ ngồi đây hay nói về thành tích của trong lúc ở tù. Tôi nghĩ nếu họ chịu khó nghĩ cho thật kỹ chắc họ sẽ nhớ hơn và ít nói hơn về những điều họ đã trãi qua.
Tôi thì không dễ gì quên được những điều tôi đã hứa, nhất là với những người đã chết. Tôi được trả về với đời sống bình thường 1982. Thoắt một cái mà đã nhảy một cú vọt qua gần bảy năm trong tù, gần bảy năm sống mà như không sống. Tôi làm quen lại với đời sống thường khá khó khăn. Còn gì không khó, khi mình đi là một xã hội khác, khi trở về mọi chuyện như một mớ chỉ bòng bong. Đừng nói gì đâu xa, ngay một cái khoản ngôn ngữ nó cũng làm tôi muốn điên. Tất nhiên ở trong tù không phải là chúng tôi câm, chúng tôi có nói đấy chứ, nhưng tiết kiệm đến mức tối đa. Nội chỉ có làm quen với những ngôn ngữ mới này mà tôi đã muốn rụ ng lưỡi. Thế thì còn làm ăn gì được nữa. Thế thì còn làm sao mà đi mang mấy ông bạn bá vơ nằm giữa rừng về.
Khi tôi bắt lại được nhịp sống thật sự, có nghĩa là không bị ai nhòm ngó, mà ngay cả chính mình không còn bỡ ngỡ, lạ lùng với xã hội bên ngoài thì cũng đã là năm 1986. Năm đó khắp miền Nam người ta túa đi tìm…xương Mỹ. Dân nước mình sao mà cơ khổ, hết đi mua con Mỹ lai, lại đi lùng xương Mỹ chết.
Nước gì mà ai cũng muốn bỏ mà đi, vượt biên không đắm tàu thì gặp hải tặc, đến được nơi có khi còn bị tống xuất ra ngoài khơi lại. Đi đượng bộ thì gặp Khmer đỏ. Thế mà người ta cũng đâu có sợ, người ta bỏ đi hà rầm, suốt một miền biển từ Bắc chí Nam và dọc biên giới Miên Việt ngày nào mà không có người bị bắt. Những năm tôi mới đi tù về phố xá sao mà tiêu điều. Cả một cái xã hội vật vờ như những bóng ma. Người ta ai cũng lặng lẽ tìm đủ mọi cách để bỏ mà đi. Tôi nhủ thầm đã đến lúc đi … cõng mấy bộ xương khô về. Tôi nhắc lại với anh là tôi không cần mấy bộ xương khô này mới đi được. Tôi đã có đủ hồ sơ ODP cũng có, HO cũng có. Mà nó thật với anh nếu cần con lai tôi cũng xoay được. Tôi là lính biệt kích chứ không phải là …thầy tu. Tôi làm việc này vì tôi đã hai lần thề với lòng mình, với Chúa. Lần thứ nhất chính là lúc vùi nông thể xác họ ở trong rừng. Lần thứ hai chính là lúc ở tù khi đi chôn xác trung tá Vinh. Tôi đã phát thệ lần thứ hai là nếu về được thì sẽ mang lời trối trăn của người niên trưởng không may mắn này về tới vợ con ông, cũng như sẽ thông tin tức cho mấy người Mỹ tù binh hay tử trận mà tôi biết.
Đặt chân lại xuống cái đất Kontum sau hơn mười năm vật đổi sao dời nó mới buồn làm sao. Mỗi một góc phố, mỗi một con đường đều làm cho tôi thổn thức. Tôi vào ngủ ở nhà người quen, tôi dành trọn một buổi chiều đứng trên cầu Dakpla, ngắm dòng nước vòng ngược lại phía núi. Tôi soi bóng tôi xuống dòng nước, tôi bồi hồi ngẫm lại đời mình. Tôi nghĩ tới việc tôi đang làm. Nhiều khi tôi nghĩ tôi hơi khùng. Nhưng tuyệt nhiên trong lòng tôi không một lúc nào tôi nghĩ đến chuyện bỏ về, trái lại như có một sức mạnh vô hình nào đó thúc tôi tới trước.
Cõng được mấy bộ xương khô của mấy ông thần nước mặn này về đến nhà tôi cũng là thiên nan vạn nan, đủ để viết một quyển truyện phiêu lưu đường rừng. Nói để anh biết giả dụ như bố tôi có chết thì cũng quàn ở nhà năm ngày, ba bữa là cùng. Mấy bộ xương này mang về thì người của Bộ Nội Vụ Cộng sản họ không chịu tiếp nhận, họ nói tôi mang về chờ người Mỹ tới giảo nghiệm. Tôi dấu vợ tôi bó làm mấy bó để trên căn gác xếp tại nhà. Người chết thì dẫu sao cũng không làm phiền tôi lắm, nhưng người sống thì đến là phiền hà. Lớp thì người của bộ nội vụ, lớp thì công an phường và buồn cười nhất là mấy người có hài cốt Mỹ nghe tiếng tôi là một tay chuyên môn về …xương người chết nên tới triệu thỉnh tôi hà rầm. Họ nhờ tôi khám nghiệm hộ, những lóng xương của người, của cả thú nữa. Mắt tôi đã nhìn, đã khám, đã xem cả trăm bộ xương. Cái nào thật tôi nói là thật, cái nào giả tôi nói là để đó tôi coi lại, tôi không phải là muốn lừa bịp gì ai bởi vì tôi coi hộ miễn phí. Tôi chỉ không muốn làm người ta tắt hy vọng ngay lập tức mà thôi.
Tôi đã ra tận Bộ Nội Vụ ở Hà Nội để yêu cầu họ giải quyết cho mấy bộ xương tôi giữ làm …mả tổ ở nhà. Cái lối làm việc của Cộng sản nó lạ lắm. Nó hù dọa phủ đầu mọi người khi đến trước mặt những cơ quan công quyền , nhưng nếu anh đổ bựa ra không sợ. Có điều anh phải có lý lẽ cứng thì người cán bộ lại nhũn như con chi chi, cái giọng thớ lợ, giả lã trông mới tởm làm sao. Kêu đến tận bộ, gặp gỡ tới thứ bự, chỉ nhận được những con ma nhà họ Hứa. Cái gì chứ ma thì tôi có sẵn ở nhà, có điều Hứa là tôi Hứa chú không phải mấy con ma đó Hứa.

Mấy bộ xương cứ im lìm nằm trong gác xép, đến độ người chết cũng phải…sốt ruột. Nhà tôi càng lúc càng lạnh lẽo, không khí lúc nào cũng nhuốm màu tử khí. Có lần vợ tôi nói là thấy một người…Mỹ ngồi ở trên gác xép, thò chân xuống. Tôi nghe xong mà lạnh gáy. Ở với người chết như thế gần ba năm trời mới thấy có mấy ông ở Hà Nội vào tiếp thu và từ đó thì là công việc của những toán chuyên đi tìm MIA của Mỹ với Cộng sản Hà Nội. Hồi đó tôi ăn nói cũng ngang ngược với họ lắm là bởi vì làm cái gì tôi cũng gởi giấy tờ sang cho người Mỹ ở bên này, cũng như cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan. Cái số chết thì đã chết như Minh lai bạn tôi , chứ không nhảy được ba mươi ba chuyến. Cái số chết thì đã năm xuống đâu đó ở Yên Bái chứ không phải đợi đến bây giờ. Tôi theo dõi hồ sơ của vụ này kỹ lắm, mãi cho tới giữa năm 90, tôi gần đi Mỹ mà cũng chưa giải quyết ổn thỏa. Hiện nay tôi vẫn tiếp tục theo dõi nội vụ, nhưng cái kết quả thì tuyệt vô âm tín, chẳng hiểu cái công mò mẫm trong rừng của tôi đã được Cộng sản trao trả cho các thân nhân người chết hay chưa? Hay là họ vẫn giữ lại lâu lâu thò ra một bộ…xương khô để đổi lấy một vài điều kiện nào đó trên lãnh vực chính trị.
Tôi đặt chân lên nước Mỹ này vào năm 1991. Tôi được Fort Bragg bảo trợ. Ngày đặt chân tới Mỹ, cả gia đình tôi được đón tiếp khá nồng nhiệt. Một tờ báo lớn nhất ở địa phương đó viết một bài dài thòng về tôi, về những việc làm của tôi. Họ đã mở rộng vòng tay than ái đón tôi một cách khá muộn màng. Tiểu bang North Carolina đó mới lạnh làm sao, tôi phải về nơi nào đó có nắng ấm, có đông đảo người đồng hương. Tôi bỏ về California sau một thời gian ngắn và bắt đầu làm lại một cuộc sống mới ở nơi có nhiều đồng hương mà cũng không ít bực mình này.
Anh hỏi tôi mơ ước gì hả? Tôi muốn nhiều thứ lắm, có điều tôi là lính…Biệt Kích, tôi hiểu được một điều không phải như là những câu danh ngôn hồi nhỏ tôi tọng nó vào cái đầu óc bé tí của tôi. Cái câu “muốn là có thể”dịch từ cái câu “vouloir c’est pouvoir”nó mới giễu làm sao. Muốn hả, thì phải làm cho cái điều mình muốn nhòe người ra mà có khi chưa chắc đã đi đến đâu, ở đời chẳng có điều gì dễ cả. Nhất là anh định mưu đồ một việc gì đó cho đám đông. Nói ra có người lại cho tôi là khùng. Mà có lẽ là tôi hơi khùng thật. Tôi là lính thứ thiệt, Biệt Kích chứ không phải là Nhân Dân Tự Vệ (Tôi đã nhiều lần tự nhủ, đừng nói tới vụ Biệt Kích này nữa). Tôi đã mục kích nhiều cái chết dấp dúi trong xó rừng. Tôi cứ bị ám ảnh mãi về Minh lai, người bạn Thiếu Sinh Quân thời niên thiếu của tôi. Anh đã ở lại đâu đó trong rừng xanh, núi đỏ của xứ Hạ Lào. Anh hiện còn đang cách quê nhà một con sông Cửu Long mênh mông bát ngát… Khoảng cách thì đâu có xa xôi gì, nhưng lòng người thì đã nguội như một đống tro tàn. Lòng người thì rộng như một đại dương không bờ bến. Trên cõi đời này ngoài tôi ra, có ai còn nhớ tới Minh lai???
Nếu như có thể được tôi sẽ đi tìm lại những người mất tích trong chiến tranh vừa qua. Nhiều lắm anh ạ, người chết ở đồng bằng, trong thành phố đã nhiều, nhưng mà cái con đường mòn Hồ Chí Minh đó nó đâu có ở ven đô, nó ở tuốt luốt trong rừng. Bọn Biệt Kích chúng tôi mà nhằm nhò gì. Tôi đã từng gọi máy bay B52 để chỉ định mục tiêu cho họ đánh, ít khi nào tôi gọi khi phát hiện một tiểu đoàn, cỡ trung đoàn trở lên không à. Mình đánh nhau đã đủ rồi, nên có một tổ chức nào đó đi nhặt xương những người đã chết cho đất nước trở về làm một cái mộ chung anh ạ. Cái mộ này theo tôi nghĩ thì đúng là phải to bằng một trái núi, cái câu “Đống xương vô định đã cao bằng đầu”cao bằng đầu mà nhằm nhò gì. Cao bằng đầu thì phải rộng bằng sân banh Cộng Hòa mới đủ chỗ.

Cái thế kỷ 20 đã sắp hết, tôi nghĩ là bước sang thế kỷ 21 con người Việt Nam nói chung nên có một cái nhìn khác hơn. Tôi là lính Biệt Kích (Rõ chán, suốt ngày chỉ Biệt Kích) bởi vì thế giới cũng khác hơn quá nhiều. Tôi cũng có đi tham dự vài buổi sinh hoạt có tính cách chính trị ở đây. Cái nhìn chung của tôi mà giờ này còn chống Cộng cái kiểu thập niên 40, 50. 60,70…đó thì không khá được. Tôi cũng chẳng hiểu cái kiểu chống Cộng sắp tới của thế kỷ tới nó như thế nào. Nhưng mà phải khác, cứ bổn cũ soạn lại đó thì mình chỉ làm chơi thôi chứ không phải là làm thiệt.
Tôi khoái làm thiệt. Tôi không còn trẻ, nhưng chưa đến nổi già, mới có ngoài bốn bó, còn trẻ chán để làm việc, nhưng việc phải ra việc. Vào việc là phải xăn tay áo bắt tay vào, chứ không phải đứng đó mà hò người khác làm và tưởng là mình đang…làm thì không có tôi. Tôi nói thiệt điều này với anh nghe khá tức cười là tôi có vẽ mê…xương người. Nếu như hôm nay bà vợ tôi có đôi lúc như là người bị ma ám thì đó là lỗi của tôi, vì tôi đã quá chậm chạp trong khi đưa xác các bạn tôi về. Tôi nhớ tới những bài văn tế chiến sĩ trận vong trong văn học của chúng ta, những bài văn đó dường như khá nhiều. Tôi có đọc Tam Quốc, cái cảnh Khổng Minh tế những oan hồn đã chết trong khi đi đánh Mạch Hoạch đó nó mới u buồn làm sao. Hầu như trong mọi trận đánh , mọi cuộc chiến mỗi khi xong người ta đều làm những bổn phận với người nằm xuống. Hoàn cảnh chúng ta thật khó mà có thể làm được điều gì cho những người còn sống, đừng nói tới những người chết. Nhưng dù sao đó cũng là một nỗi ám ảnh lớn trong tôi. Thôi thì ai làm được điều gì lớn thì cứ làm, tôi nghĩ đến những điều nhỏ thôi. Tôi học thì chẳng bằng ai, duy có một tấm lòng thì làm được cái gì hay cái đấy.
Ở nơi đây sướng thì có sướng nhưng mà buồn quá, cảnh thì đẹp, người thì đông. Cảnh thì chẳng ăn nhậu gì đến tôi, còn người thì mới ngán ngẩm làm sao. Tôi nói người đồng hương đó chứ không phải nói người Mỹ. Họ dù sao cũng khác máu tanh lòng, nhưng người mình với nhau nhiều khi cũng tanh lòng đáo để.
Nó một điều gì chót hả. Tôi mong rằng tôi đã không làm anh mất thì giờ với những…bộ xương của tôi. Tôi là lính Biệt Kích (Rõ chán, lại Biệt Kích) có sao nói vậy văn hoa mà làm gì. Tình hình này thì sớm muộn gì tôi cũng về lại. Để làm gì hả. Tôi là một con cọp đã từng “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”nhưng không vì thế mà tôi đòi giết hết những người Cộng sản, mà nói thật anh nghe anh có sứ để giết họ không? Đừng có đại ngôn. Nói nhỏ, làm nhỏ và làm tới nơi tới chốn. Muốn về thì nên sửa soạn cho ngày về và nhất định là phải biết mình về để làm gì? Mình đang đứng ở đâu? Đừng có mơ mơ màng màng. Tôi biết rất rõ tôi sẽ về để làm gì? Tôi là một con cọp đã toan về già, cũng sắp sửa đến ngày rụng răng rồi. Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi thì bề gì mình cũng là cọp. Chẳng lẽ lại thua mấy con cáo cụp đuôi sao. Tôi sẽ về để chết trên vùng đất đã sinh ra, giản dị thế thôi. Tới ngày đó anh có về với tôi không?

À mà này anh, trái đất quả là có nhỏ. Tôi sang tới Mỹ, trời đất mênh mông vô tận như thế này đi đâu mà tìm vợ con ông Trung Tá Vinh. Tôi gặp lại một trự Pilot trực thăng. Cái tay Như này ngày xưa đối với chúng tôi cũng có tình chiến hữu. Hắn đưa rước tụi tôi, sống chết với tụi tôi nên vì đó mà thân. Chẳng cứ riêng gì Như, mà các phi công khác cũng vậy, nhiều anh em tụi tôi hiện nay còn sống trên đời này là nhờ cái tình giữa những người lính thứ thiệt. Chuyện qua chuyện lại thì vợ của Như bây giờ chính là con ông Vinh. Thế là tôi đã hứa với vài người chết, tôi đã hoàn tất chẳng thiếu một ai, chua làm xong mấy điều mình đã tự nhủ thầm này nó cứ tức anh ách. Giờ thì tạm xoa tay được rồi.
6
Anh ta vừa mới qua khỏi tứ tuần. Người lính Biệt Kích tên là Chiêu đó quà là đã làm được nhiều việc cho mình và cho người trong suốt hơn bốn chục năm có mặt với đời.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.