Các giai thoại Nam Kỳ Lục Tỉnh

vietmessenger.com
Hứa Hoành

Post by Sơn râu 2 Dec 2024

Huê Khôi Ba Trà Sáng Chói Trong Tiền Và Sắc Đẹp
Lịch sử Đông Tây, kim cổ chứng minh rằng đàn bà đẹp ở đâu và thời nào cũng có. Ở Trung Quốc có “Tứ đại mỹ nhơn” nổi tiếng như Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi mỗi người một vẻ, một mỹ hiệu riêng:

  • Tây Thi lạc nhạn (Chim nhạn đang bay, thấy nàng buông cánh rớt xuống)
  • Chiêu Quân trầm ngư (Cá lặn)
  • Điêu Thuyền bế nguyệt (trăng mờ vì thẹn trước sắc đẹp của nàng)
  • Dương Quý Phi tu hoa (Hoa đang nở, vội khép lại)
    Còn bên trời Âu có nữ hoàng Cléopâtre, hoàng hậu Marie Antoinette…là những người đàn bà lừng danh, từng gây tai hoạ cho những người đàn ông đam mê họ. Càng có nhiều quyền lực càng đam mê đàn bà đẹp, không những gia tài khánh tận mà còn đến nỗi thân bại danh liệt. Làm vua say mê tửu sắc phải mất nước, mất ngôi dễ dàng. Lịch sử gọi những người đàn bà ấy có sắc đẹp khuynh quốc, khuynh thành, tức là làm cho nước ngã thành nghiêng.
    Trong sử Việt Nam vào thời tự chủ cũng có những người đàn bà đẹp lừng danh như bà Hoa Dung – vợ chúa Trịnh Doanh; bà chúa Chè Đặng Thị Huệ – ái thiếp của chúa Trịnh Sâm; Lê Thị Ngọc Hân; Lê Thị Ngọc Bích …đều là những người đàn bà đẹp sắc nước hương trời. Ở Nam Kỳ, hồi đầu thế kỷ 20, có một người đàn bà đẹp sắc sảo một cách tự nhiên không cần trau giồi son phấn, tóc đen huyền, dài chấm gót chân: đó là cô Ba, vợ thầy Thông Chánh, quê ở Trà Vinh. Cô Ba đẹp cho đến nỗi nhà Bưu điện Sài Gòn cho in hình cô vào con tem, phát hành cả Đông Dương, và hãng xà bông Trương Văn Bền lấy tên “Cô Ba” đặt tên cho những loại xà bông thơm danh tiếng:”xà bông Cô Ba” bán khắp ba kỳ và Miên, Lào. Nhưng có lẽ người đàn bà đẹp nhứt Nam Kỳ vào nửa thế kỷ trước mà ai ai cũng nghe nhắc đến là Cô Ba Trà (tên thật là Trần Ngọc Trà) một bà hoàng không ngai, lên xe xuống ngựa trong mấy chục năm liền. Mỗi lần ra đường có tôi tớ, kẻ hầu người hạ, ngồi xe du lịch mui trần có tài xế riêng mặc đồng phục để lái, có người vệ sĩ ngồi băng trước để mở cửa. Thuở đó hình ảnh cô Ba Trà là một bà hoàng quý phái, các ông phủ, ông huyện, các công tử, thầy thông, thầy ký đều nhìn cô thán phục, thèm thuồng… Thời gian ấy ở đất Bắc cũng có những người đẹp nổi tiếng như cô Đốc Sao nổi danh tài sắc trong xóm Khâm Thiên (hát cô đầu), và thanh lịch nhứt trong giới ăn chơi Hà Thành là hoa hậu Bạch Yến đến nổi người ta mở hội chợ, phải mượn tên cô để cho…thiên hạ đến mua giấy vào xem hội chợ cho thật đông đảo. Cô Đốc Sao là một người kỹ nữ tài sắc vẹn toàn, lừng danh khắp Hà Thành và cả Trung Kỳ, cô Đốc Sao có gương mặt đẹp như tiên, nụ cười “nghiêng nước nghiêng thành”, làm sụp đổ biết bao nhiêu gia tài của khách làng chơi sang trọng. Những công tử con cháu các quan, các công tôn con cháu vua chúa từ đất Thần Kinh văn vật, những quan lớn từ Huế và những quan phủ, quan huyện, Đốc-Phủ sứ bất luận già trẻ, gặp cô Đốc Sao một lần mê đắm vì gương mặt đẹp, giọng hát hay và nụ cười của cô. Có những người ăn dầm nằm dề ở nhà cô cả tháng, nhưng không bao giờ được cô ban cho ân huệ cuối cùng như họ thèm thuồng, van lơn.
    Cô Đốc Sao quả thật là một Trà Hoa Nữ (Camélias) của Việt Nam. Cô yêu một nhà văn nghèo, một nhà báo cấp tiến là Hoàng Tích Chu. Cô tình nguyện làm vợ Hoàng Tích Chu, chăm nom đời sống của Chu, lo cho cả tờ báo của Chu. Nhưng Hoàng Tích Chu vắn số, chết vào tuổi 33 trong khi giấc mộng cải cách làng báo Bắc Hà chưa thành. Khi Chu mất, cô Đốc Sao in danh thiếp đề tên mình là “Bà goá phụ Hoàng Tích Chu”, thật là một kỹ nữ chung tình chưa có ai sánh bằng.
    Trong bài “Các cuộc đời ngoại hạng Nam Kỳ thưở trước”, đăng trên báo Phụ Nữ Diễn Đàn, in vào tập “Nam Kỳ Lục Tỉnh I” do Văn Hoá xuất bản, cùng tác giả, chúng tôi có viết: “Theo lời các cụ cao niên kể lại trong khoảng thời gian từ năm 1925-1935, các người đẹp sắc nước hương trời như cô Ba Trà, cô Tư Nhị, cô Sáu Hương, cô Hai Thời…mỗi người một vẻ đẹp riêng, báo hại các công tử như cậu Hai Định, cậu Ba Qui, công tử Phước George …tranh nhau phá của cha mẹ để lại. Chiều chiều các cô ngồi xe mui kiếng, tài xế mặc đồng phục lái, lượn quanh Sài Gòn, Chợ Lớn, đường Catinat, chợ Bến Thành. Có khi họ lên Thủ Đức ăn nem nướng, hoặc tắm suối Xuân Trường…”
    Thói thường bên cạnh các anh hùng mã thượng phải có những tiểu thơ đài các, có tài tử phải có giai nhơn mới tương xứng. Người đẹp thời nào cũng có. Họ là những đoá hoa tươi thắm, tô điểm cho cuộc đời thêm hương sắc, nhưng cũng là những bông hoa đầy gai. Có khi họ gieo tai hoạ cho bọn mày râu. “Giai nhân khuynh quốc” một kinh nghiệm do người xưa rút ra khi đọc truyện lịch sử và dã sử nước Tàu.
    Sau hơn nửa thế kỷ sống dưới chế độ thuộc địa, Nam Kỳ bắt đầu phát triển thành một xứ phồn thịnh, một nơi ăn chơi của lớp nhà giáu mới nhờ vào ruộng đất. Cụ Nguyễn Văn Vực có kể lại cho tôi nghe rằng hồi trước cụ có đọc một tác phẩm nói về người đẹp số 1 Nam Kỳ , nhan đề “Cô Ba Trà, ngôi sao sáng đất Sài Gòn ” của tác giả Nguyễn Bửu Ý xuất bản năm 1927, là năm cô Ba sáng chói trên tiền và sắc đẹp. Cụ cũng cho biết cụ có đọc chuyện “Bạch Công Tử gặp Hắc Công Tử” của tác giả Mộng Xuân do nhà in “Xưa Nay” xuất bản cùng năm, đủ biết vào thời đó giai nhơn và công tử ấy nổi danh đến bực nào. Nhà văn lão thành Phạm Thăng cũng là hoạ sĩ có kể lại rằng:”Hồi trước tôi có được xem một tấm hình huê khôi Ba Trà, là một thiếu nữ đẹp tuyệt trần, đài các như một bà hoàng, quần áo lụa cùng màu, có quàng khăn voan mỏng, ngồi trên xe mui trần lượn trên đường phố Sài Gòn, đăng trên trang bìa một tờ báo, lâu quá không nhớ tên”. Vào thập niên 1930, chính cô Ba Trà lăng xê mốt áo dài và quần hàng lụa cùng một màu đầu tiên ở Nam Kỳ . Còn cụ Vương Hồng Sển, nhà văn kiêm nhà khảo cổ đã viết:”Cô Ba Trà, đệ nhứt huê khôi ở Nam Kỳ, một người đẹp sắc nước hương trời, từng làm say mê biết bao công tử miền Nam. Họ bao quanh cô, tranh nhau vung tiền qua cửa sổ. Bao nhiêu tiền bạc của cải cha mẹ để lại, các công tử ấy ăn xài, bao gái không tiếc”. Nói về những người đẹp đồng thời với cô Ba Trà còn các cô khác cũng nổi danh tài sắc một thời như:
  • Cô Hai Thời, có nhà hàng bán cơm Tây ở Đakao, cùng một dãy với rạp chớp bóng Cầu Bông, một người đẹp của Sài Gòn ăn chơi thanh lịch. Về sau cô Hai Thời trở thành vợ kế của ông Trần Văn Kính, thông ngôn Toà án Sài Gòn, một tay ăn chơi đúng mực.
  • Cô Joséphine Lệ Ngọc, có người gọi là cô Ba Pho, tên thật là Lê Thị Ngọc, có đạo Công giáo, tên Thánh là Rosalie. Joséphine Lệ Ngọc là người mặt trái xoan, nước da trắng mịn, tóc đen mướt, mũi cao trông rất thanh tú. Cô đi đâu cũng có vệ sĩ.
  • Cô Tư Nhị, một người lai hai dòng máu, mẹ người Miên cha Tiều, tức “đầu gà đít vịt”. Khi nhận làm em nuôi của cô Ba trà, lấy tên Mariane Lê Thị Nhị. Cô có thân hình đẹp nẩy lửa, khêu gợi, đam mê vật chất, ăn chơi trác táng phí sức. Các công tử đua nhau săn đón, cô Tư Nhị xài tiền như nước, không kể đến hậu quả. Về sau cô chết trong nghèo đói và bịnh tật tàn phá cơ thể.
    Tại Trà Vinh, qua Cầu Ngang có hai anh em công tử Bích và cô Sáu Hương cũng đẹp lừng lẫy một thời. Hai anh em cô mỗi người ăn chơi theo cách riêng. Trai phá của vì bao gái, còn Sáu Hương chỉ ăn chơi theo tiếng gọi của con tim. Tiền bạc đối với cô không đáng kể. Có người biết cô kể lại rằng:”Có thể nói cô Sáu Hương là một trong những giai nhơn tuyệt sắc trong giới ăn chơi. Làm bạn với cô phải là người có học, đẹp trai, và một một người bạn gái rất thân với cô là cô Bảy Phùng Há, đi đâu hai người cũng cặp kè nhau, nên có dư luận cho rằng hai cô là tình nhơn theo kiểu đồng tính luyến ai. Người ta bắt gặp có lần hai cô Sáu Hương – Phùng Há đi ăn nem nướng ở Thủ Đức về đêm”.
    Kể về cuộc đời huê khôi Ba Trà ở Nam Kỳ 50 năm trước, có nhiều sách báo viết lại, nhưng mỗi người viết mỗi khác. Trong số sách báo đó, có “Cô Ba Trà, étoile de Saigon” của Nguyễn Bửu Ý xuất bản sớm nhứt vào năm 1927 là lúc nhan sắc cô Ba Trà đang sáng chói, tiền bạc vô như nước, ăn xài như một bà hoàng. Có lẽ không có tài liệu nào chính xác hơn là những lời tự thuật của cô, do nhà khảo cổ si tình cô là ông Vương Hồng Sển ghi lại và bán cho báo “Tiếng Dội” của ông Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm. Ông Quốc có sáng kiến, mua tập hồi ký ấy, đăng độc quyền 17 kỳ liên tiếp trên báo đó, được hàng ngàn độc giả say mê theo dõi.
    Viết lại cuộc đời của giai nhơn công tử ăn chơi thời trước không có nghĩa là đề cao các thú vui trụy lạc, mà cũng không nhìn dưới khía cạnh của nhà đạo đức để lên án họ. Công việc của tác giả là nhìn dưới khía cạnh xã hội một hiện tượng độc đáo của nó mà trước đó và sau đó cũng không có được. Đó là thời kỳ vàng son của các ông hội đồng quản hạt, hội đồng địa hạt, ông Đốc-Phủ sứ, cai tổng, đại điền chủ, đến lớp con cái họ, những công tử phong lưu, mới mở mắt ra đã thấy mình ngồi trên núi vàng! Thời đó hạng công tử nhà giàu đi du học bên Pháp về, đỗ đạt hay không cũng trở nên thần tượng của các cô gái tân thời. Thêm vào đó, các phim nhập cảng từ Pháp gây ảnh hưởng đến các thanh niên, gái mới: Ăn chơi không tiếc tiền, có hành động anh hùng mã thượng.
    Có người thắc mắc tại sao hồi đó ở Nam Kỳ chưa có tổ chức thi hoa hậu mà lại gán cho cô Ba Trà chức “Huê Khôi?”.
    Để nhắc lại một tài liệu xưa nói về cuộc thi hoa hậu lần đầu tiên ở Nam Kỳ mà ban giám khảo, trong đó có bác sĩ Lê Quang Trinh, tình nhơn của cô Ba Trà, nhưng tại sao cô không dự thi để đoạt chức ấy, mà chỉ nhận chức “Huê Khôi hàm” do người đời vì mến mộ nhan sắc của cô đặt cho? Trên tờ báo SGGP có đăng lại tại liệu nầy, kể lại rằng:
    “Hoa hậu đầu tiên của Nam Kỳ có lẽ là cô Nguyễn Thị Liễu, nay là một cụ già sức yếu, giọng nói phều phào, bà cụ cho biết: Ba má cô Liễu là chủ hai nhà máy chà lúa ở Chợ Lớn và Hóc Môn. Cô Liễu lấy chồng vào năm 17 tuổi nhưng chỉ được 6 tháng chổng cô chết bị bịnh trong khi hai vợ chồng chưa có con. Thương cô gái sớm goá chồng, một vị cha nhà thờ Huyện Sĩ khuyên nhủ:
  • Con còn trẻ đẹp, đời còn dài, con ráng vui lên mà tạo dựng cuộc sống mới!
    Hai năm sau, nhằm bữa đi may đồ ở tiệm “Phúc Thịnh”, ngay cửa Bắc chợ Bến Thành ngó qua, ông chủ tiệm may người Bắc, ngắm nghía cô một hồi lâu rồi nói:
  • Cô đẹp quá, cho xin địa chỉ. Vài bữa tới có thi hoa hậu, tôi mời cô tham dự.
    Ngày đó đôi khi báo chí có kể chuyện thi hoa hậu bên Tây, biết vậy mà đâu có rành rọt ra sao. Về nhà nhờ mấy bạn gái cũng ưa nhìn, cô Liễu rủ tới cho ông Phúc Thịnh coi mặt. Ít bữa sau, vườn Bờ-Rô (Tao Đàn ngày nay) mở hội chợ. Hội chợ nầy tổ chức vào năm 1937, bày bán đủ loại, sòng bạc, quán ăn, ca nhạc, khiêu vũ và mở một cuộc thi kêu là :”Concours élégant Saigon” (Thi tuyển người lịch sự Sài Gòn ). Trước hôm thi vài ngày, ông Phúc Thịnh cho mời cô Liễu cùng nhiều cô gái trẻ đẹp khác ở các nơi, tới lựa hàng vải may đồ không lấy tiền công, vải cũng của ông Lê Trương, chủ tiệm vải ở đường Bonard tặng không cho các cô dự thi.
    Hội chợ khai mạc vào buổi tối, nhưng từ xế chiều, các cô đã tề tựu đông đủ tại nhà ông Lê Trương, thay đồ mới, rồi cùng nhau đi bộ tới vườn Bờ-Rô. Hồi đó xe kéo, xe lôi, xe ngựa, xe hơi cũng có, chắc để phô trương tiệm vải của mình, ông Lê Trương dắt cả đoàn diễn hành qua hàng phố. Dân chúng đổ xô ra coi. Họ chỉ chỏ, bình phẩm từng cô ra bộ cũng rành rẽ lắm. Giữa vườn Bờ-Rô có dựng một sân khấu, có đèn hoa, giây màu kết lên rực rỡ. Mười chín cô gái tuổi từ 19 đến 25, thướt tha trong những bộ áo dài đủ màu , đủ kiều ngồi vào ghế xếp quanh sân khấu chờ đợi. Ban giám khảo gồm Trạng sư Kim, cạnh là cô vợ đẹp người Hà Nội. Ông Lê Quang Trinh, Bác sĩ nhà thương Bạc Hà, trước năm 1975 gọi là “Trung tâm bài trừ hoa liễu” đường Hồ Xuân Hương, gần bịnh viện Thanh Quan. Có mấy ông Tây gồm biện lý, ông cò….Sau khi trình diện với tất cả mọi người, các cô gái về chỗ ngồi, rồi lần lượt nghe gọi số thứ tự, mỗi cô được một ông trong ban tổ chức, dắt tay đi vòng quanh sân khấu cho ban giám khảo, các quan chức Tây, ta và đồng bào đứng nghẹt chung quanh cùng chiêm ngưỡng. Mười chín cô ai cũng đẹp. Cô Bửu, vợ ông kỷ sư ở Mỹ Tho mặc bộ áo dài trắng, da cô cũng trắng, đẹp như một nữ hoàng. Cô số 19, nhỏ tuổi nhứt, mặc bộ màu xanh dương trông rất mát mắt. Cô Liễu mặc áo dài màu nâu gụ viền vàng, tay cầm bóp đầm…Không ai thoa son dồi phấn, sơn móng tay mà vẫn xinh tươi, lộng lẫy. Hết lượt, ông chánh chủ khảo yêu cầu cô Liễu đi thêm một vòng nữa. Ngay lúc đó, khán giả bên dưới đã la lên:
  • Hoa hậu đây! Người đẹp số 1 đây!
    Lại về chỗ chờ ban giám khảo thảo luận. Lát sau Trạng sư Kim bước ra tuyên bố:”Cô Nguyễn Thị Liễu, 24 tuổi là người đẹp nhứt của cuộc thi hôm nay”.
    Khán giả vỗ tay rầm rầm, máy hình chụp lốp bốp, các cô cùng thi chạy tới (cô Liễu) tay bắt mặt mừng. Không có băng vải quàng qua ngang vai, không có vương miện, chỉ tặng hoa và một tấm bằng “Diplôme” có chữ ký của ông cò Tây. Tặng xong, các cô được mời tới trước một bàn thật lớn, trên bày đủ thứ làm giải thưởng tự chọn. Hoa hậu chọn bộ ly pha lê, cô thứ hai chọn quạt máy, cô thứ ba chọn đèn ngủ…19 cô ai cũng có phần. Sau tiệc bánh ngọt ai về nhà nấy. Xuân năm 1938 hình Hoa hậu Nguyễn Thị Liễu được đăng lên báo làm bìa (Tờ tuần báo “Vẻ Đẹp”). Hoa hậu Liễu tay ôm bó hoa, dưới đề chữ “Hoa Hậu Sài Gòn”, hình chụp rất tươi.
    Sau đó hội chợ còn mở ra dưới Cần Thơ, cô Liễu cũng được mời đi theo để giới thiệu với đồng bào miền Tây. Cô con gái ông Lê Trương có mời hoa hậu Nguyễn Thị Liễu qua Pháp dự thi, nhưng sợ bị dụ dỗ bỏ cha mẹ, nên cô Liễu không đi. Nghe nói con ông Lê Trương cũng được giải chi đó”.
    Tại sao cô Ba Trà đẹp nổi danh như vậy mà không dự thi? Trước hết điều kiện dự thi phải từ 18 đến 25 tuổi, mà cô Ba Trà sinh năm 1906, tức 32 tuổi ta, như vậy không đủ điều kiện. Hơn nữa, lúc đó cô Ba Trà đẹp như một đóa hoa mãn khai, không phải như hoa mới nở của thời 1924-27 nữa. Vì lẽ đó cô Ba Trà không dự thi tranh chức hoa hậu mà dân chúng Nam Kỳ vẫn gọi cô “Huê Khôi”.

TUỔI THƠ BẤT HẠNH
Thật khó có ai nghĩ rằng một người đàn bà đẹp, đài các nhung lụa như cô Ba Trà trong gần 20 năm sáng chói trên tiền và danh vọng, lại có một thời thơ ấu bất hạnh. Nếu không có tập hồi ký do chính cô kể lại, chắc chắn không ai biết được lại lịch gốc gác của cô. Thân phụ cô là một người đàn ông kén vợ. Sinh trong một gia đình điền chủ hạng trung, có vài chục mẫu ruộng thuộc tỉnh Chợ Lớn (Tân An sau nầy) đã được coi là hạng khá giả. Sau nhiều lần coi vợ, ông ta mới chấm được mẹ cô, quê ở làng Phước Khánh, quận Cần Giuộc. Quê nội cô tại Cần Đước (Tân Trụ). Trong hồi ký có nói:
“…Khi tôi mới lên 5 tuổi, một biến cố đã làm tan nát gia đình tôi cũng vì mẹ tôi là người có sắc đẹp. Chỉ nghe phong phanh rằng mẹ tôi ngoại tình, ba tôi tức giận thổ huyết mà chết. Hay tin sét đánh, từ Cần Giuộc, bà nội tôi lên tới nợi. Đứng trước quan tài, bà khóc oà rồi ngất xỉu và chết luôn. Hai quan tài song song, nghe mẹ tôi kể lại, không còn cảnh thương tâm nào bằng. Bà nội tôi là người thương tôi nhứt theo như trí hiểu biết của tôi, vì mỗi lần tôi về nhà bà, đều được tưng tiu chiều chuộng đủ mọi thứ. Có lẽ bà bị bịnh đau tim, lúc đó gọi là trúng gió, nên chết bất đắc kỳ tử. Tình thương duy nhứt của tôi cũng mất theo từ đó. Ai có đi đưa đám thấy hai chiếc quan tài đi song song cũng mủi lòng, không cầm được nước mắt. Chôn cất xong, một tai ương khác trút xuống trên đầu mẹ con tôi. Bác trai tôi, người đại diện cho gia đình bên nội, kêu mẹ tôi đến rồi tự tay lột cái mũ mấn (tôi đội để tang) xuống và tàn nhẫn nói rằng:

  • Lúc lâm chung, thằng Trần Ngọc Trí (cha tôi) có nói rằng, không nhìn nhận nó là con ruột của ông!
    Từ đó, bác tôi đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà bên chồng trong lúc mẹ tôi bụng mang dạ chửa (em tôi) và đứa con thơ là tôi. Tôi thấy mẹ tôi cắn răng, gạt nước mắt chịu đựng, tay bồng tôi, tay ôm bọc quần áo đi bộ về nương náu bên nhà bà ngoại. Con gái có chồng, gặp cảnh khổ, ẵm con về mẹ ruột. Người xưa thường nói câu:”Cháu bà nội, tội bà ngoại”. Bao nhiêu cay đắng, cực khổ bà ngoại tôi lãnh hết. Tôi rất buồn mà kể lại chuyện nầy, không rõ mẹ tôi hận người đàn ông bạc tình thế nào mà bao nhiêu hờn giận ba tôi, bà trút lên đầu đứa trẻ vô tội là tôi. Có lúc mẹ tôi đánh tôi như trả thù, bao nhiêu củi đòn củi chẻ bà quất tưới lên mình tôi rướm máu, mà còn nói:
  • Tao đánh mầy cho chết, cho tiệt nòi giống quân đoản hậu!
    Tôi nào có biết gì, một đứa con nít ngây thơ tám, chín tuổi trở thành nạn nhơn của những cơn thịnh nộ của bà. Đến nỗi, năm lên chín tuổi, tôi lớn chồng ngồng cái đầu mà mẹ tôi chưa cho tôi đi học, trong khi những đứa trẻ khác ở lối xóm đã đi học từ lúc lên sáu hoặc bảy tuổi. Thấy chúng tung tăng đến trường, hay mỗi khi đi học về, cười nói huyên thuyên tôi tủi thân. Cũng có lúc mẹ tôi vui, mua bánh trái ăn không hết, nhưng lúc giận đánh tôi túi bụi. Tại sao cha tôi gây tội với mẹ, hay phản bội mà mẹ lại đánh con để trả thù”.
    Trong lúc nhan sắc về chiều, có lần cô Ba Trà tâm sự:
    “Tôi là một người hư đốn, sống cuộc đời ba chìm bảy nổi cũng do hoàn cảnh đưa đẩy. Thiếu tình phụ tử, thiếu tình thương yêu săn sóc của mẹ, không được học hành (chỉ học được vài ba năm), chỉ có gia tài duy nhứt do trời ban cho, đó là sắc đẹp. Nhưng cũng vì đẹp nên tôi trở thành nạn nhơn của tục lệ tảo hôn. Năm tôi được mười bốn tuổi, mẹ tôi gả (hay bán tôi) cho một bác sĩ người Pháp, có tiền để mua thú vui xác thịt. Cũng may là người ấy hiền, có lòng từ tâm, cho tôi đi học tiếp với tụi học trò nhỏ hơn tôi năm, bảy tuổi. Tôi đi học chung với bọn học trò còn để chóp, học vỡ lòng A, B, C, tập viết, tập đồ …Vì lẽ đó sau nầy lòng tôi chai đá, không biết rung động yêu thương ai thật tình”.
    Cô nói:”Tôi như nước đổ lá môn, xối bao nhiêu cũng đều trơn trợt, tuột ngoài da . Cho tới bây giờ tôi cũng không rõ mẹ tôi vì túng tiền hay vì muốn gả tôi cho khuất mắt, nên bằng lòng gả cho người ngoại chủng. Tôi nhớ lại trong lớp tôi học, có hai đứa cháu, tôi thuộc vai “dì” của chúng, mà chúng cũng không nhìn nhận tôi là kẻ thân thuộc, thật tủi thân cũng vì tôi nghèo và sớm mồ côi. Ngày bà ngoại tôi mất, người nhà vô trường lãnh hai đứa cháu tôi về để tang bà cố, còn tôi, họ coi như người dưng. Nhớ tới ngoại, nhớ khi bà cho từng lóng mía, củ khoai, có lẽ chỉ có bà là người thương tôi sau cùng mà đã chết. Tôi trơ trụi, phó mặc cho cuộc đời. Không ai dạy dỗ, không ai săn sóc yêu thương, không ai chia sẻ ngọt bùi, tôi ra đời sớm, từng trải là như vậy, nên sau nầy gặp nhiều người hết dạ thương tôi mà tôi lại vô tình đến tàn nhẫn. Tôi hối hận vô cùng!
    Lần đó, tôi phải bỏ trường, trốn, leo rào về nhà để nhìn mặt bà ngoại lần cuối. Nhưng than ôi khi tôi về tới nhà, nắp hòm đã đậy lại. Tôi khóc như mưa vì đâu có thấy mặt bà. Tôi nhớ từ lúc ba tôi mất, mẹ tôi đem về giao cho bà ngoại tôi nuôi dưỡng. Còn má tôi đi biệt, nói rằng đi làm ăn buôn bán, lâu lâu mới về. Cho đến khi ngoại tôi mất, tôi mới theo má tôi, và bị ép gả lấy chồng Tây năm mười bốn.
    Má tôi là người đàn bà có nhan sắc, nói theo hồi đó, đi ra đường nhiều người dòm ngó. Lên sống ở Sài Gòn, bà lấy chồng người Tàu, làm nghề buôn á phiện, trước nhà có treo một cây cờ vải, trên có hai chữ “R.O.” mà sau nầy tôi mới biết là “Régie ‘Opìum”, có nghĩa là đại lý bán thuốc phiện. Hồi đó nghề nầy rất phổ thông, được người Pháp khuyến khích. Nhà dượng ghẻ tôi ở bên Xóm Chiếu tức khu Khánh Hội bây giờ. Được vài năm, mẹ con tôi dọn về một đường hẽm nhỏ, gần chợ Bến Thành mới cất (năm 1914) đường D’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn). Chỗ nầy gần ga xe lửa Mỹ Tho, là chỗ thị tứ nhiều hành khách đi xe lửa từ miền Trung tới, từ Mỹ Tho lên. Sau gần một năm chung sống với bác sĩ người Pháp, tôi trở thành tự do vì ông ta mãn hạn phải về xứ. Tôi tiễn ông ra bến tàu không chút bịn rịn, mà ông cũng không thèm cho tôi một đồng bạc để ăn bánh.
    Rời khỏi cảnh cá chậu chim lồng tôi trở về sống với mẹ. Lúc nầy tôi trổ mã con gái, lối xóm người nào cũng trầm trồ vì tôi đã biết làm dáng. Lúc đó tôi bưng thúng cho mẹ tôi bán chả giò và nhiều thứ bánh trái theo trên xe lửa chạy Sài Gòn – Nha Trang”
    Cũng nên nhắc lại rằng chương trình xây dựng đường hoả xa xuyên Việt được hoạch định dưới thời Toàn Quyền Paul Doumer, với sự tài trợ của các ngân hàng Pháp. Con đường chia làm nhiều giai đoạn. Trong Thế Chiến Thứ Nhứt việc xây dựng phải gián đoạn. Sau đó công cuộc đặt đường rầy tiếp tục nhưng cũng bị thiếu tiền nên mãi đến năm 1932, con đường chỉ mới tới Đông Hà. Phía Nam con đường sắt chạy ra tới Nha Trang gọi là “Ga chót”. Hành khác từ Hà Nội vào Sài Gòn hay ngược lại, phải xuống xe lửa ở Nha Trang, đáp xe ca đi tiếp ra Đông Hà. “Lúc đó tôi nổi danh là “cô Ba chả giò.” Mỗi khi tôi lén má tôi, mặc chiếc áo bà ba bằng xuyến đen mà tôi đã chắc mót từng xu để mua được, ai cũng trầm trồ khen ngợi:
  • Con chị Tám (mẹ tôi thứ tám) coi ngộ quá!
    Tôi lại bắt chước người sang, mua đôi guốc “ngù ngà” tức là loại guốc không có quai, khi đi, hai ngón chơn cái và trỏ kẹp vào cái ngù tròn, có núm ở trên cho khỏi rớt ra. Buôn bán tuy cực nhưng cũng vui vì có dịp quen nhiều người, có tiền ăn bánh. Hạnh phúc tuổi thơ chỉ có bấy nhiêu mà thôi. Trong thời gian bán theo xe lửa, tôi gặp một người đàn ông lịch sự, nhiều tiền, thấy tôi gọn ghẽ trong bộ đồ bà ba vải săn đầm cắt khéo, vừa vặn, bó căng vóc mình như “con chim óc cau mùa lúa trổ”, mông von von, vú tròn, đùi dài cẳng son, trông giống như cô học trường áo tím (tức trường Gia Long sau nầy) mà có ai biết đâu đó là cô gái đã có một đời chồng. Lúc đó tôi biết mình đẹp. Mặt trái xoan, mũi dọc dừa, má hồng môi đỏ tự nhiên, chưn mày đều đặn, lông mi dài và đen, cặp mắt ngây thơ ướt rượt như con chim bồ câu khát tình. Tôi có vóc mình vừa vặn không cao không thấp, đi đứng khoan thai, có dáng con nhà trâm anh, mà tôi đâu có ngờ. Một hôm tôi đang lo bán hàng và đề phòng bọn đá cá lăn dưa giựt đồ, mà đâu có dè một người mặt mũi sáng láng, còn trai trẻ, đang nhìn tôi say mê. Sau khi trở thành vợ Toàn ( người thanh niên gặp trên xe lửa) tôi mới biết lý lịch anh ta. Chồng tôi tên Toàn, người Tiều. Thân phụ anh có cửa hàng buôn bán tạp hoá lớn tại Phan Rang, Nha Trang và một tiệm chánh tại Chợ Lớn. Ông có ba người vợ: một Tàu, coi tiệm chánh tại Chợ Lớn và hai người vợ Việt coi tiệm ở tỉnh. Do đó, Toàn có dịp ra vào Nha Trang, Phan Rang, Sài Gòn thường trực. Anh là một tay công tử, ăn bận sang trọng, ăn chơi lịch lãm, dân buôn bán, anh chị đứng bến xe đều kiêng nể. Sau này anh Toàn kể lại chuyện gặp tôi lần đầu, anh mê mẩn tâm thần, nên vừa thấy chị Mười Ên (Mười Anh) anh liền hỏi:
  • Chị Mười, con nhỏ con nhà ai mà ngộ quá? Làm mai cho tôi đi chị! Chị làm mai được tôi cho chị tiền, chị o nó cho mau mau đi!
  • Trời đất! – chị Mười nói – thì ít ra cũng phải bắt tình với nó trước đã chớ. Cậu viết thơ tỏ tình cho thật mùi, rồi tôi đưa nó giùm cậu.
    Năm đó tôi mười lăm tuổi mà còn ngây thơ. Bao nhiêu thơ ai gởi tôi đều đem cho má tôi coi không sót cái nào. Má tôi không rầy ra như tôi tưởng. Có lẽ bà điều tra gia đình Toàn rồi, và hai tuần lễ sau cha mẹ Toàn từ PhanRang đến nhà má tôi xin cưới tôi cho Toàn. Từ đó tôi về làm dâu một gia đình người Tiều, ăn ở theo phong tục người Hoa. Bà mẹ chồng tôi ở Phan Rang, là người nhơn đức, thương tôi, không cho làm công chuyện nặng nhọc nhưng có một điều bắt buộc tôi phải ăn bận theo kiểu Tàu. Chiếc áo xẩm bó ngực lòi cánh tay trắng trẻo, càng tăng thêm vẻ đẹp. Cũng từ đó tôi đẹp thêm, nhan sắc mặn mòi. Khi tôi đi chợ, nhiều người thanh niên dòm ngó, chọc ghẹo. Mỗi lần tôi bận đồ xẩm ra đứng trước ngõ là mẹ chồng tôi kêu vô nhà vì những người đi đường hay trầm trồ khen ngợi. Tưởng đâu như vậy là cuộc đời có hạnh phúc. Nào ngờ chồng tôi là người đàn ông háo sắc. Anh như con bướm lượn quanh những bông hoa đẹp. Có vợ đẹp nhưng vài tháng bắt đầu chán, đi tìm của lạ. Đàn ông trăm người như một. Mới vài tháng Toàn có mèo là một nữ y tá. Tôi bắt đầu ghen. Một hôm gặp cô ấy ngoài chợ, tôi làm một trận gây gổ với cô ta. Không những không binh vực vợ mà Toàn tỏ ra lạnh lùng, vô trách nhiệm. Chán ngán cảnh có chồng không thủy chung, tôi tìm cách trốn gia đình Toàn để về mới má tôi. Một hôm, mới khuya, tôi đã lẻn ra ga xe lửa mua giấy về Sài Gòn , nhưng người bên chồng tôi theo bắt lại. Tôi buồn và thất vọng vô cùng. Tuy không bị ba má Toàn chưởi bới đánh đập, nhưng họ cấm cung tôi, không cho tôi đi ra ngoài thong thả như trước!
    Sống cô đơn, tôi lén viết thơ về má tôi, nói thương nhớ và muốn về thăm bà. Má tôi viết thơ cho Toàn nói rằng bà cũng nhớ tôi, muốn tôi về thăm bà một lần. Trúng kế, lần nầy chim sổ lồng lần thứ hai, tôi ở lại với má ngọt bùi có chừng nửa tháng, rồi sau đó bà dằn vặt tôi, mắng chưởi tôi như trước. Tôi được một chị bạn xót xa tình cảnh mua cho một giấy xe lửa trở về Phan Rang với Toàn. Chuyến ra tôi lừng khừng thấy xe ngừng tại ga Mường Mán, tưởng đã về Phan Rang, bèn xuống xe lửa. Hoá ra mới tới Phan Thiết. Trong cái rủi còn gặp cái may. Tôi gặp chị Mười Ên hồi trước làm mai tôi cho Toàn như gặp vị cứu tình. Chị Mười đưa tôi vào một tiệm buôn, té ra đó là chi nhánh của hãng buôn ba Toàn. Họ nhắn tin, Toàn vào rước tôi. Gặp lại tôi trong hoàn cảnh trớ trêu, rồi nhìn tôi nhan sắc tiều tụy, Toàn cảm động. Anh dẫn tôi ra chợ ăn mì, mua cho tôi một lượt mười cây lãnh đen để tôi mặc sức may quần áo. Tôi là người mặc áo và quần lãnh đen một thứ hàng đầu tiên, được nhiều người chú ý, khen ngợi tôi nhờ nước da trắng, vóc dáng thanh tú, trông thật xinh như thiếu nữ con nhà khuê các. Tôi trở về Sài Gòn lạy mẹ tôi xin lỗi, nhưng má tôi nói một câu hết sức tàn nhẫn:
  • Mầy còn trở lại với nó (Toàn) tao giết mầy!
    Thật tội nghiệp cho Toàn. Anh có bỏ bê tôi, nhưng cũng đã ăn năn và chu cấp tiền bạc cho tôi, tỏ ra săn sóc tôi lúc tôi trở về với anh. Tôi định bụng sẽ sống với anh suốt đời. Có lẽ má tôi hận đàn ông bạc tình, rồi giận luôn Toàn, và bà cho rằng nếu tôi ở laị với Toàn sẽ bị ruồng rẫy, phụ bạc như bà hồi trước chăng? Riêng tôi ngày nào cũng trông tin tức của Toàn. Tôi nhắn người nói cho Toàn biết, nhưng vẫn bặt vô âm tín. Rồi những trận đòn tàn nhẫn như trút tất cả tội lỗi lên đâu. Tôi nghĩ “một liều ba bảy cũng liều” nên trốn má tôi ra đi. Lúc nầy trong mình tôi có một số tiền, đó là nữ trang anh Toàn cho tôi. Ngoài đôi bông tai nhận hột xoàn trị giá chừng 400 đồng (giá vàng khoảng 50 đồng) và một số quần áo. Lần nầy nghe một chị em bạn xúi, tôi đến xin tá túc nhà chị Sáu Mão ở đường Paul Blanchy, nay là đường Hai Bà Trưng. Chị Sáu Mão là dân có dĩ vãng xấu, có chồng ghiền. Chị chuyên nấu cơm tháng cho mấy thầy thông, thầy ký chưa vợ. Chị thích làm mai mối “vợ chồng qua đêm”, cột anh nầy với chị kia để kiếm tiền. Thân tôi như con nai tơ vào hang cọp đói. Đến ở với chị Sáu Mão, tôi gởi hết nữ trang cho chị, rồi ngày ngày nấu cơm, giặt giũ, rửa chén như con ở. Một đêm tôi bị đau mắt, chị Sáu Mão bày mưu cho chồng chị lấy lưỡi rà mí mắt cho hết nhặm, rồi anh ta đè tôi xuống hôn tới tấp. Tôi định la lên, chị tỉnh bơ:
  • Anh Sáu mầy đã nói với tao rồi. Chịu đại cho êm!
    Thấy ở chỗ nầy lâu sanh chuyện, tôi tìm cách trốn đi lần nữa. Khi tôi hỏi lấy lại các món nữ trang đã gởi, chị Sáu Mão nói đem cầm cho Chà Chetty mới có tiền nuôi tôi cả tháng nay. Biết mình bị gạt, tôi lau nước mắt nhịn nhục. May mắn tôi gặp một người lối xóm nhơn đức (?) khuyên tôi trốn đi qua ở với chị ấy. Ban đầu tôi sợ chị Sáu Mão trả thù, nhưng nghĩ mình trơ trọi, tiền bạc cũng hết, nên liều. Không ngờ mới qua ở với chị Ba hàng xóm được bảy hôm, thì anh Toàn từ Phan Rang mò vô tìm vợ. Anh Toàn đến nhà chị Sáu Mão tìm tôi như trong thư tôi đã nhắn với anh. Đến nơi hỏi tên tôi, chị Sáu Mão đóng kịch, khóc như thật:
  • Trời đất qủy thần ơi! Dượng Ba, dượng vào đây trễ quá rồi! Cô Ba đau mắt tưởng không xong, may nhờ vợ chồng tôi tận tình chạy chữa, công lao không kể, nay đổ nợ tùm lum, hằng ngày phải chạy đủ số tiền góp cho họ, tính ra vốn lời trên 700 đồng. Không biết làm sao đây! Thật khổ quá chừng!
    Nghe nói tưởng thật, Toàn móc bóp đưa chị Sáu Mảo 500 đồng mới yên. Toàn nóng ruột:
  • Vợ tôi đâu?
  • Tôi đem giấu trên kia. Chỗ đó khó vô lắm, để tôi lên kêu cô Ba về cho Dượng thấy mặt vợ.
    Nhưng tơ duyên đã dứt khó hàn gắn. Bây giờ tôi lại muốn sống tự do hơn ràng buộc vào một người . Chim sổ lồng khao khát cảnh đất rộng trời cao. Nó đâu bao giờ nhớ cảnh lồng son gác tía mà quay trở về”.

TỪ CÔ GÁI LẠC LOÀI …
THÀNH BÀ HOÀNG ĂN CHƠI SANG CẢ
“Gặp Toàn ở nhà chị Sáu Mão lần đó là lần chót. Toàn cho tôi một số tiền”. Trà như ngựa quen đường cũ, tìm tới tá túc những người quen chứa chấp. Nhờ bạn giới thiệu, cô Ba Trà đến ở đậu nhà Dì Tư Ăng-Lê, ở đường Richaud mà trước 1975 gọi là đường Phan Đình Phùng. Dì Tư Ăng-Lê, Trà vẫn gọi như vậy, là một người đàn bà tuổi xấp xỉ 40, từng trải, trước có chồng người Anh, dân ta quen gọi là “người Ăng-Lê” nên người quen thường gọi bà ấy là “Dì Tư Ăng-Lê” hay Dì Tư Lê mà không ai thắc mắc tên họ thật của người đàn bà ấy làm gì. Là một người từng trải, Dì Tư Ăng-Lê giúp cô Ba Trà lột xác. Từ một cô gái quê lạc loài, cô Ba Trà bước lên ngôi vị một huê khôi đầy hương sắc, đẹp lộng lẫy. Lúc đó Trà mới bước vào tuổi 20, như đoá hoa hé mở, ong bướm dập dìu. Nhờ Dì Tư Ăng-Lê dạy cách trang điểm, thoa son thế nào, hiệu nào tốt, phấn nào ăn da mặt, đánh phấn thế nào để làm tăng vẻ đẹp tự nhiên. Ngoài ra, cô Ba Trà còn được Dì Tư Ăng-Lê chỉ cách đi đứng khoan thai, nói năng có duyên để làm cho đàn ông mê mệt… Từ đó, cô Ba Trà bước vào giới ăn chơi của giai cấp thượng lưu xã hội bấy giờ. Tuy nhiên cô Ba Trà cũng nhiễm thói hư tật xấu của những người đàn bà ăn không ngồi rồi: Cờ bạc. Nhà Dì Tư là chỗ hốt-me, đánh tứ sắc. Ban đầu Trà học chơi để cầu vui, nhưng dần dần trở thành ghiền…cho đến cuối cuộc đời. Cũng tại nhà Dì Tư Ăng-Lê, các công tử, các nhà tai mắt thường tới lui dập dìu mỗi cuối tuần, mà cô Ba Trà được bác sĩ Trần Ngọc Án. Bác sĩ Án là một lương y, giàu lòng nhơn, giàu tình cảm và cũng lãng mạn. Bốn mươi tuổi, có vợ, nhưng vẫn còn đèo bồng. Gặp Trà là một thiếu nữ mới lớn, đẹp lộng lẫy như tiên nga, ông yêu liền, mướn nhà riêng cho cô ở, chu cấp tiền bạc cho cô xài, và đưa cô đi chơi những chỗ sang trọng. Bác sĩ Án thương yêu cô thật tình, nhưng cô chỉ có yêu tiền.
Chúng tôi muốn nói thêm về ông bác sĩ Trần Ngọc Án. Ông là người tình ơn nghĩa, độ lượng nhứt đối với cô Ba Trà mà sau nầy hồi tưởng lại, cô nhớ tới ông từng cử chỉ, từng cách săn sóc, nhứt là trong lúc Trà sa cơ, chán đời. Lúc đó Trà chỉ biết có tiền, tâm hồn Trà chai lì, cho nên những cử chỉ cao thượng, lời nói ngon ngọt dỗ dành của ông bác sĩ cũng như nước chảy đầu vịt. Có lúc xin tiền ông , nhưng cô ăn nói cộc lốc vô tình với ông . Có lần bác sĩ Án lái xe đưa cô đi Vũng Tàu hứng mát. Tới nơi, ăn uống xong, ra bãi biển ngắm trời trăng mây nước , cô buồn bã đòi về và khóc oà. Bác sĩ hỏi cô, cô trả lời:

  • Tôi nhớ nhà!
  • Nhà gì? Ở đâu?
  • Thú thật với anh, tôi nhớ chồng tôi lắm!
  • Chồng nào nữa?
  • Dạ thưa người chồng ở Phan Rang, anh Toàn!
  • Tại sao ra đây với anh mà em lại nhớ chồng Phan Rang?
    Rõ ràng hai người đồng sàng dị mộng. Lần đó bác sĩ Án vội vàng lấy xe đưa cô về nhà với nỗi buồn và thất vọng.
    Khi đã mướn phố cho Trà ở riêng tại đường Lareynière, Trà cũng hay đi vắng luôn. Có lần bác sĩ Án tới tìm không có cô, lại nhà dì Tư Lê là người được ông cho tiền để làm người quản gia, nấu nướng giặt giũ cho cô, cũng không có, nên khi gặp mặt Trà, ông hỏi:
  • Ba tuần lễ nay không thấy mặt em ở nhà?
    Trà làm thinh không trả lời.
  • Em đi đâu và ở đâu?
  • Không đi đâu hết!
  • Bộ em ngủ ngoài trời hay sao?
  • Dạ không! Tôi ngủ tại nhà bồi của dì Tư.
  • Sao anh ghé đó mà không thấy?
  • Tại tôi dặn bồi nói như vậy!
  • Vì lẽ nào em nói dối với anh?
  • Vì tôi sợ người ta biết là tìm tới.
  • Ai?
  • Các chủ nợ.
  • Em làm gì đến thiếu nợ?
  • Tôi giấu anh, tôi thua me ở sòng bài thầy Bảy Phương và mắc nợ nhiều.
  • Nhiều là bao nhiêu?
  • Ba ngàn, ủa bốn ngàn!
  • Em trốn nợ, rồi em trốn anh nữa sao? Hay là em có mèo? Em có thương ai nói thiệt cho anh biết?
  • Tôi buồn, tôi có đi chơi với họ mà tôi không thương ai hết…
  • Nếu bây giờ có tiền, em còn đi chơi nữa không?
  • Thưa không! Tôi sẽ ở nhà.
    Rồi bác sĩ Án hứa sẽ cho cô ba ngàn, hẹn vài hôm cho người cầm tới. Quả đúng như vậy, chỉ hai ngày sau Trà được tiền của bác sĩ.
    Hai mẫu đối thoại trên đây cho chúng ta biết ông Án đối với cô cao thượng, tình nghĩa nhưng cô là kẻ bạc tình, tàn nhẫn nữa là khác.
    Trần Ngọc Án là người quê ở Trà Vinh, sinh năm 1888, một trong các bác sĩ tốt nghiệp tại Trường thuốc Hà Nội đầu tiên. Bác sĩ Án là bạn thân bác sĩ Nguyễn Bính (nhà văn tiền phong Biến Ngũ Nhy, và là thân phụ nhà văn An Khê), là bạn cùng khóa với bác sĩ Ngởi ở Sa Đéc, bác sĩ Trần Văn Lới ở Vĩnh Long. Tuy hấp thụ Tây học, nhưng bác sĩ Án là người có tâm hồn thi sĩ, có nghiên cứu Hán học và thích văn chương thi phú. Đương thời, bác sĩ Án làm việc tại bịnh viện Chú Hoả, gọi là Clinique Hui Bon Hoa đường Bonard (tức Lê Lợi), ngó xéo qua chợ Bến Thành. Bác sĩ Án lập gia đình với bà Nguyễn Thị Đối, con ông Chánh Tổng Nguyễn Tường Hưng, người ở Mỏ Cầy, Bến Tre. Hai ông bà sống hạnh phúc, tương đắc vì cùng chung sở thích: Văn Thơ. Tuy nhiên cho đến cuối cuộc đời hai người vẫn không có con. Bà Đối là một nữ sĩ, bút hiệu Song Thanh. Tuy làm thơ nhiều, nhưng ông bà chỉ muốn xướng hoạ với bạn bè, thân hữu hơn là gởi đăng các báo. Từ năm 1943, ông Án có lập “Diêu Trì thi xã”, tập họp một số bạn hữu để cùng nhau xướng hoạ văn thơ, một thú vui tao nhã lúc bấy giờ. Trong Tao đàn “Diêu Trì” của ông bà, có thi sĩ Thường Tiên Lê Quang Nhơn, con trai nữ sĩ Trần Ngọc Lầu (Vĩnh Long) và ông Cai Tổng Lê Quang Chiểu (Phong Điền), cũng là người chủ xướng thi xã khác: thi xã Nam Phong, tồn tại đến thập niên 1960. Ngoài các cụ Thường Tiên, Diêu Trì thi xã gồm các ông có nền tảng Nho học lẫn Tây học vững chắc như cụ Thượng Tân Thi Phan Quốc Quang, Hồ Biểu Chánh, Biến Ngũ Nhy Nguyễn Bính…Về sau thi xã nầy có thêm nhà thơ Nguyễn Vỹ, Thuần Đức Nguyễn Trung Hậu. Ông Hậu là một thì sĩ có tiêng, cũng là bạn của ông Trần Văn Hương, là người yêu nước, mộ đạo, thích làm việc nghĩa…Bác sĩ Án có bút danh là Diên Hương, tác giả quyển “Từ điển Thành ngữ Điển tích” tái bản nhiều lần. Ban đầu, ông sưu tầm để chơi, sau có người khuyến khích xuất bản để giúp ích cho đời, ông mới cho xuất bản và được độc giả hoan nghinh. Và Song Thanh thường làm thơ Đường, có giọng trang nghiêm. Nhận xét về thơ của nữ sĩ Song Thanh, Nguyễn Vỹ viết:
    “Chúng ta có thể nói rằng so sánh với thơ của Bà Huyện Thanh Quan tế nhị trong nét tả cảnh, tả tình, thơ của bà Tương Phố lâm ly sầu cảm, thơ của bà Ngọc Anh thanh thoát nhẹ nhàng thì thơ của bà Song Thanh thâm trầm, cô đọng.”
    Nhắc tới Nam Phong thi xã, chúng ta được nghe cụ An Khê kể laị:
    “Bác sĩ Nguyễn Bính sinh năm 1886 tại Trà Vinh, đồng hương với bác sĩ Án và là bạn học của ông Án tại trường Collège Le Myre de Vilers Mỹ Tho, cùng tốt nghiệp Trường thuốc tại Hà Nội. Sau nầy Nam Phong thi xã có thêm một số vị mới gia nhập làm thành viên như Lệ Tâm, vợ ly thân của ông Cò mi Lê Tấn Đinh. Bà Lệ Tâm là bạn và người yêu của thi sĩ Chim Xanh trong mối tình ngang trái, và gây cái chết thảm cho thi sĩ Chim Xanh khi bị vây bắt tại chợ Thái Bình Sài Gòn . Về sau Lệ Tâm đổi tên là thi sĩ Trúc Lâm Nương, trở thành Giáo chủ Huỳnh Đạo của nhóm Hồng Môn. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu từng đến chơi và hoạ thơ của bà.” Cụ An Khê nói: “Nếu tôi nhớ không lầm thì thi xã Nam Phong mỗi tháng họp mặt một lần tại tư gia của các thành viên. Trước năm 1968 thường họp ở nhà bác sĩ Án, ở xế cổng sau Dinh Độc Lập. Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng vi phạm lịnh hưu chiến tấn công vào dinh nhưng thất bại. Thấy ở đó chiến sự gần kề, nên ông bà bác sĩ Án bán nhà lên Đà Lạt ở. “
    Về sau Nam Phong thi xã thỉnh thoảng họp ở nhà bác sĩ Bính. Các thi hữu thường tới lui có:
  • Thường Tiên Lê Quang Nhơn, tôi hay gọi bằng bác Phán Nhơn.
  • Thường Lạc nữ sĩ, em gái bác sĩ Án.
  • Mộng Hoa nữ sĩ, mợ dâu của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
  • Thanh Liên nữ sĩ, goá phụ bác sĩ Đốc.
  • Nguyễn Vỹ, chủ nhiệm tạp chí Phổ Thông.
  • Long Giang Đỗ Phong Thuần, đông y sĩ.
  • Sĩ Tài, hoạ sĩ chuyên vẽ tranh.
  • Biến Ngũ Nhy Nguyễn Bính.
  • Tuần lý Huỳnh Khắc Dụng.
  • Thân văn Nguyễn Văn Quý
  • Cụ Trà Giang…
    Mỗi lần bình thơ có ca sĩ Nguyệt Ánh ngâm thơ các vị. Sau khi ngâm thơ, bình thơ có buổi tiệc. Tôi không nhớ trong những buổi họp mặt ấy có cụ Trần Văn Hương hay không (lời cụ An Khê), nhưng qua những câu chuyện trong gia đình, tôi nghe được là Nguyễn Văn Thiệu có ý muốn phối hợp bà mợ dâu, nữ sĩ Mộng Hoa cho cụ Hương, mà những vị trong thi xã chê Nguyễn Văn Thiệu muốn lợi dụng cụ Trần Văn Hương. Mãi đến bảy năm sau, cụ Hương mới bằng lòng đứng chung liên danh ứng cử với Thiệu, tôi mới hiểu ra thâm ý của Thiệu chuẩn bị nhiều giai đoạn cho sự cầm quyền của y”.
    Năm 1952, bà Lệ Tâm tức thi sĩ Trúc Lâm Nương, có hiệu là Hồng Tâm, được người đời gọi là Huỳnh Đạo giáo chủ vì bà có công khai sáng môn phái mới: Pháp môn trai tịnh, phải nhịn ăn để lọc xác thân tinh khiết, và cũng để trị bịnh gọi là “Hồng Môn Minh Đạo”. Phái nầy lập chùa tại ấp Bác Ái, đường Vạn Kiếp (Gia Định), nơi chùa Long Vân. Năm 1954, tín đô theo rất đông, chùa nhỏ không đủ chỗ, bà Hồng Tâm mới xây cất ngôi Hồng Môn Minh Đạo khác. Chùa nầy ở giữa chánh điện thờ Phật, Thánh, Tiên.
    Bác sĩ Án là người hiền lành, giàu tình cảm và lòng nhơn, nhưng cũng là khách đa tình. Cũng như một số thanh niên trí thức thời đại, bác sĩ Án thường tới lui các sòng bạc vào những ngày cuối tuần để chơi giải trí hơn là ăn thua. Hôm nào có lễ lớn, bác sĩ thường rủ bạn tới nhà chơi bài “Chemin de fer”, tứ sắc … Bạn bài bạc của ông rất chọn lọc như bác sĩ Ngới, Trường Tiên Mỹ (người Tàu), bác sĩ Trinh. Cũng vì hay đánh bạc để giải trí nên bác sĩ Án cũng không lạ gì với thầy Sáu Ngọ, Sáu Nhiêu ..vua cờ bạc Sài Thành. Có lần tới nhà Dì Tư Ăng Lê, bác sĩ Án gặp cô Ba Trà. Như tiếng sét ái tình, bác sĩ Án ngây ngất trước sắc đẹp lộng lẫy của cô gái mới lớn. Ông săn sóc cô, mướn nhà riêng để lầp “phòng nhì”, định làm của riêng. Thế là từ căn nhà tạm, ở chung với Dì Tư Ăng Lê, cô Ba Trà về nhà mới do bác sĩ Án mướn với đầy đủ đồ đạc mới sắm. Lại có người đỡ đần, săn sóc là Dì Tư, vì bác sĩ tin người ấy để thỉnh thoảng ông tới lui hú hí với người đẹp. Cô Ba Trà bắt đầu ngồi xe mui trần, tới lui chỗ sang trọng, đi ăn uống những tửu quán danh tiếng để được quen nhiều người cũng nhờ bác sĩ Án dẫn dắt. Ông chỉ cô cách cầm muỗng nĩa theo kiểu Tây, cách ăn uống của người quí phái. Cuộc đời lên xe xuống ngựa của cô Ba Trà bắt đầu từ đó. Ăn sung mặc sướng, tiền bạc phủ phê, lại rảnh rang ăn không ngồi rồi nên cô Ba Trà vướng nghề cờ bạc. Đồng thời lúc nầy cô Ba Trà được nhiều công tử săn đón. Cuộc đời cô Ba Trà bắt đầu sáng chói trên nhan sắc, tiền và biết bao người hào hoa phong nhã bao vây. Những người Sài Gòn thấy cô Ba Trà xuất hiện lần đầu tiên trên chiếc xe mui trần đắt tiền, ngồi cạnh bác sĩ Án dạo chơi mỗi chiều.
    Sài Gòn năm 1925…
    Ngồi không ăn mãi, cờ bạc núi cũng lở. Bây giờ cô Ba Trà được nhiều người nghe tiếng, nên nhiều người ta bu quanh cô, tranh nhau chiếm cảm tình của cô, nhưng cô vẫn là người chỉ biết đồng tiền. Tình cảm cô đã chai. Ai cho tiền thì cô xài, xài rất phí phạm để tạo ra những thói quen phong lưu, trả thù những lúc hàn vi nghèo khó.
  • Đi lại Yvette chơi!
    Đó là một câu thông dụng của giới đàn ông, công tử thường lui tới nhà hàng “Đông Pháp lữ quán”, nơi huê khôi Ba Trà ngồi “kết” (cashier). Đông Pháp lữ quán là một nhà hàng lớn, sang trọng, nằm trên đường d’Espagne (Lê Thánh Tôn) khoảng giữa nhà hàng Quảng Hạp bán cơm Tây và nhà hàng Cửu Long Giang góc đường Aviateur Garros (Thủ Khoa Huân). Thấy ở không ăn chơi cờ bạc không khá, Dì Tư Ăng Lê mới nghĩ cách buôn bán. Bà nói cô Ba Trà sang lại nhà hàng Đông Pháp lữ quán để ngồi két. Đông Pháp lữ quán dập dìu tài tử giai nhơn, công tử, hội đồng, các đại điền chủ ở lục tỉnh lên, nghe tiếng cũng tìm tới. “Đi lại Yvette chơi” có nghĩa là tới nhà hàng “Đông Pháp lữ quán” để vừa ăn uống, vừa chiêm ngưỡng người đẹp. Yvette là tên Tây do cô Ba Trà đặt ra khi đi coi chớp bóng, nhơn thấy cô đào Yvette rất đẹp, nên cô lấy chữ ấy ghép vào tên mình “Yvette Trà” nhưng các công tử quen gọi “Yvette” mà thôi.
    Đông Pháp lữ quán nguyên của người chủ cũ là ông Lý Kỳ Quân, đại điền chủ, nhiều đất ruộng ở hai bên bờ kinh xáng Quan Lộ, từ Phụng Hiệp tới Ngã Năm, Phước Long. Đất của ông Lý Kỳ Quân giáp ranh với đất ông Chủ Chọt Huỳnh Tấn Tước, là nơi xảy ra cuộc tranh chấp đổ máu giữa gia nhơn Chủ Chọt và mấy tên Cò Tây. Thuở đó, cứ mỗi dịp gần tựu trường Chasseloup Laubat, các ông điền chủ ở lục tỉnh thường lên chơi cả tháng, để đưa con vào học. Thì giờ rộng rãi, lại có dịp ăn chơi, nên các ông hay đến Cửu Long Giang, Đông Pháp lữ quán, để có dịp ngắm nhìn cô Ba Trà. Cũng có người mong chiếm được trái tim người đẹp, xài tiền như nước . Nhưng không ai có thể xài qua được các công tử Bạc Liêu như Hai Đinh, Ba Qui, công tử Phước George. Với sự chỉ dẫn của Dì Tư Ăng Lê, cô Ba Trà vay bác Chà Chetty để sang nhà hàng. Làm chủ xong, cô Ba Trà giữ cô Marie Huệ, một giai nhơn đã từng quản lý nhà hàng nầy nhiều năm ở lại để chỉ dẫn cho cô.
    Cô Marie Huệ truyền laị cho cô Ba Trà nghệ thuật trang điểm và cách chinh phục đàn ông . Thực ra với sắc đẹp lộng lẫy như tiên nga, cô Ba Trà chính là cái sức quyến rũ, cám dỗ không ai có thể cưỡng lại được. Thời gian đó, người thật sự điều khiển lữ quán Đông Pháp chính là Dì Tư Ăng Lê, một người đàn bà từng trải, nhiều kinh nghiệm quán xuyến, còn cô Ba Trà ngồi két như một bông hoa đẹp, điểm tô cho nhà hàng thêm hương sắc.
    Vào những năm cuối thập niên 1920, các văn nhơn, ký giả, các ông hội đồng, thầy cai tổng, càc công tử con nhà giàu thuờng hay lui tới Đông Pháp lữ quán là nơi bán cơm Việt và nhà hàng Quảng Hạp chuyên bán cơm Tây nổi tiếng. Chủ nhà hàng Quảng Hạp là người Hải Nam, nguyên đầu bếp chánh của Thống Đốc Nam Kỳ Cognac, sau đó xin thôi, để mở nhà hàng. Nơi đây thức ăn đúng điệu, khách sành ăn không chê vào đâu được . Các món ăn danh tiếng của nhà hàng Quảng Hạp là chim bồ câu quay, chim mỏ nhác, giỏ giẻ, óc cau, chàng nghịt …rô ti. Thuở đó vào đầu mùa khô, các loại chim ấy ăn lúa no, mập tròn, bán tràn ngập ở Sài Gòn , Chợ Lớn.
    Các nhà báo danh tiếng như Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Tử Thức, Nguyễn Viên Kiều (Lão Ngạc), Lương Khắc Ninh, Diệp Văn Kỳ, Đào Trinh Nhất…thường hay tới lui nhà hàng ấy. Họ hay tới vào buổi chiều bàn luận tin tức thời sự rồi ăn cơm tối với rượu khai vị. Các vị học thức, dân Pháp tịch cũng thường hay đến Đông Pháp lữ quán như luật sự Dương Văn Giáo, ông toà Trần Văn Tỷ, bác sĩ Lê Quang Trinh, đốc-tờ Trần Như Lân… Về sau, ông Tỷ làm Phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Tư Pháp thời bác sĩ Lê Văn Hoạch là Thủ Tướng Nam Kỳ quốc.
    Những nhà hàng, lữ quán sang trọng nhất Sài Gòn vào hai thập niên 1920-30 là:
  • Đại Lục lữ quán tức Continental gần nhà hát Tấy, tức trụ sở Quốc Hội thời Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975), là nơi dành riêng cho giới quý tộc Pháp, các tham biện, các quan lại Pháp Việt có văn hoá Pháp, các đại điền chủ kiêm hội đồng quản hạt.
  • Nhà hàng Rotonde còn gọi là “Viên Đình” ở cuối đường Catinat gần bến Bạch Đằng. Sở dĩ nhà hàng nầy gọi là Viên Đình vì ở tại ngã tư, kiến trúc góc tròn…
  • Nhà hàng Pancrazi nằm ở góc đường Bonard (Lê Lợi sau nầy) và Caribelle (Nguyễn Thiệp).
    Hồi đó các sinh viên, thầy thông, thầy ký thường dùng điểm tâm bằng bánh mì nóng trét bơ Bretel thả giàn, có thêm chút đường cát, ăn xong uống ly cà phê đen, hoặc cà phê sữa nóng, tuyệt thú đối với các sinh viên trường bổn xứ.
  • Một nhà hàng Tàu ở Chợ Cũ, đầu đường Công Lý tên Hiêu Hiêu, là nơi tụ tập các nhà buôn Chợ Lớn, mấy ông bang, các “mái chính” (compredor)…đến ăn uống và bàn chuyện áp-phe.
  • Nhà hàng Yeng Yeng đầu đường Pellerin (Pasteur) ở Chợ Cũ, bán cơm Tây rẻ tiền, ngon miệng, rất đông thực khách. Hồi đó dân bản xứ thích nhứt là món thịt bò Châteaubriand, giống như thịt bò lúc lắc bây giờ, nhưng để nguyên miếng lớn, chứ không cắt nhỏ ra. Vào các năm 1926-27, mỗi ngày Thứ Hai và Thứ Năm, vào lúc 4 tới 5 giờ chiều là giờ tan sở, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh thường ôm chồng báo “Cái Chuông Rè” (La Cloche Frêlée) đứng bán tại góc đường Catinat và d’Espagne (góc Tự Do và Lê Thánh Tôn). Ông đón các công chức, thầy thông, thầy ký, học sinh trí thức để phổ biến tư tưởng cách mạng xã hội.
    Nhà hàng Yeng Yeng còn là nơi gặp gỡ của các cô gái ăn chơi hạng sang, trong đó có cô Lucie Bandeau vì trên trán có thẹo, cô dùng băng làm dáng , nên thành danh “Lucie Bandeau”, cô Mười Tóc đỏ, cô Quế Anh…
    Đông Pháp lữ quán là nơi cô Ba Trà nổi danh. Nơi đây cô quen biết các công tử Bạc Liêu là những thanh niên xài tiền như nước Sở phí điều hành nhà hàng rất lớn, mà cô Ba Trà lại ăn xài như một bà hoàng, dưới tay cô bồi bếp, gia nhơn phục dịch nên phải thâm thủng. Vì lẽ đó, ban đêm ở đây còn tổ chức hốt me, bài cào, thính cẩu ăn thua lớn. Có đêm tiền xâu vô tới vài ngàn bạc, đủ biết nơi đó cờ bạc như thế nào. Nhiều người thường tới lui Đông Pháp lữ quán thời đó kể lại rằng lúc nào cô Ba Trà cũng không biết tới giá trị của đồng tiền. Sẵn có máu mê cờ bạc, cô lấy tiền trong két ra chơi. Vận may để ăn thì ít, nhưng ăn được thì xài huy hoắc, còn lúc rủi ro thua nhiều là chuyện thường. Núi cũng phải lỡ nếu tiếp tục cái đà ăn chơi kiểu ấy. Đối với người làm công, bồi bếp, mỗi lần cô sai đi mua món gì, chúng đem tiền thối về trả lại cho cô, nhưng không khi nào cô lấy. Cô nói:
  • Cứ giữ đó mà xài!
    Điều đó có nghĩa là cô cho luôn bất kể số tiền đó là bao nhiêu.
    Đông Pháp lữ quán cũng là nơi các đại điền chủ lục tỉnh lâu lâu lên Sài Gòn ăn chơi cho biết mùi đời. Họ thường hay nói:
  • Đi lại Yvette chơi đêm nay đi!
    Có nghĩa là đến đó đánh bài cào, hốt me, hoặc chơi bài thính cẩu. Cũng có lúc các ông điền chủ xồn xồn hảo ngọt, được cô Ba Trà mời đánh tứ sắc năm cắc (nửa đồng bạc) một lệnh (lúa giá 2 cắc một giạ), khi thua cô Ba Trà thì chịu chung tiền, nhưng khi ăn chỉ được cầm tay cô để hun (tới nhỏ 7 ăn 10) hay tới quan (17-40) được hun lên tay, lên má người đẹp một cái sướng như tiên. Cứ so sánh giá lúa, giá vàng lúc đó thì biết các đại điền chủ lục tỉnh mỗi lần lên chơi Đông Pháp lữ quán vài tuần hay một tháng, phải bán cả một ghe chài lúa. Nhiều người “trồng cây si” tháng này qua tháng nọ là công tử Bích ở Trà Vinh, hội đồng quản hạt Thìn ở Rạch Giá. Cô Ba Trà là một người từng làm đổ quán xiêu đình, sạt nghiệp không biết bao nhiêu điền chủ trung niên mà còn mê gái đẹp.
    Đến lúc nhà hàng Đông Pháp hụt tiền vốn vì cô Ba Trà mê cờ bạc. Tiền vay bạc Chà Chetty để trả sở phí cứ tăng dần. Tiền lời theo kiểu “xanh xít, đít đui” (vay 5000 trả 6000, vay 10000 trả 12000 trong một tháng) khiến cho lữ quán nầy phải dẹp.

CÔ BA TRÀ VÀ
BẠCH CÔNG TỬ PHƯỚC GEORGE
“…Một hôm cậu Tư Phước George lột chiếc cà rá hột xoàn trị giá trên 3000 thời đó, để trên bàn, bước vô phòng tắm. Bận ra thấy cô Ba Trà đã đeo chiếc cà rá vào ngón tay, vừa cười vừa nói:

  • Anh Tư, coi vừa ngón tay em quá nè!
  • Vừa thì đeo luôn đi, anh cho em đó.
    (Năm đó giá vàng có 40 đồng một lượng, chiếc cà rá hột xoàn ấy trị giá 70 lượng vàng)
    “…Ít bữa sau, cậu Ba Qui, Hắc Công Tử hay được, dẫn cô Ba tới tiệm bán hột xoàn danh tiếng Giuntoli trên lầu thương xá Charner (nay là thương xá Nguyễn Huệ) mua tặng cô Ba Trà một chiếc khác, hột to gấp hai chiếc kim cương mà cậu Tư đã tặng”.
    Theo cổ sử Trung Hoa, công tử là con các quan đại thần, cũng có khi là con các vua chư hầu, là những người giàu có nhưng rộng rãi, có lòng nhân, biết chiêu hiền đãi sĩ, chơi với bạn bè có tín nghĩa thủy chung. Lịch sử Trung Hoa có ba người được gọi là công tử rất nổi danh:
  • Bình Nguyên Quân, tên thật là Triệu Thắng, con vua chư hầu Triệu Võ, được phong đất Bình Nguyên, nên được gọi là Bình Nguyên Quân. Bình Nguyên Quân thường giao du thân mật với Mạnh Thường Quân ở nước Tề, Tín Lăng Quân ở nước Ngụy. Cả ba sống vào thời Đông Châu liệt quốc.
    Bình Nguyên Quân là người rất hào hiệp, trong nhà lúc nào cũng có trên 3000 tân khách bất kể sang hè, hiền ngu, đủ mọi thành phần trong xã hội, và cũng không tỏ ra khinh hay trọng ai hơn ai.
    Ở nước ta có câu hát ru em:
    “Một vũng nước trong
    Năm bảy dòng nước đục,
    Chín mười người tục, không một người thanh,
    Biết ai tâm sự như mình,
    Thêu tỏ chọn lấy tượng Bình Nguyên Quân!”
  • Mạnh Thường Quân tên là Điền Văn, con một đại thần nước Tề tên là Điền Anh. Cũng như Bình Nguyên Quân, Mạnh Thường Quân là người hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, nhà giàu có bạc muôn bạc ức, bỏ ra xây nhà quán để nuôi khách. Ai muốn đến đó là gia khách cũng được đối đãi trọng hậu bất kể sang hèn. Tiếng lành đồn xa. Bất luận người nào cũng tự nhận mình là bạn của Mạnh Thường Quân
  • Tín Lăng Quân, tên là Vô Kỵ, con vua Chiêu Vương, được phong tước Tín Lăng, nên gọi là Tín Lăng Quân, tánh tình rộng rãi, trong nhà lúc nào cũng có hàng ngàn thực khách ăn không ngồi rồi, nhưng ông đối xử như kẻ thân tình.
    Cả ba người trên đều là những kẻ không tham sống sợ chết, tánh cương trực, hay làm việc nghĩa, dân chúng xa gần trong nước đều ngưỡng mộ. Có lẽ mấy tiếng “công tử” của Nam Kỳ hồi những thập niên đầu thế kỷ 20, đều xuất phát từ các tiếng “công tử” để goị những vị nêu trên chăng? Bạc Liêu là một tỉnh nhiều người giàu có lớn,con cái họ ở không ăn chơi mãi mà không hết tiền. Đôi khi họ cũng làm việc nghĩa hiệp, cư xử với bè bạn hào phóng, điệu nghệ, nên thường được các ông già bà cả goị là “công tử Bạc Liêu”.
  • Bộ mày là công tử Bạc Liêu sao mà dám ăn xài lớn quá vậy?
    Đó là câu nói thường ngày của các bậc làm ông bà cha mẹ hồi trước trong khi phê phán con cháu ăn xài xa xí. Vào năm 1934, một bài ca cổ điển “Bình bán” mô tả công tử Bạc Liêu với những thói quen, và cũng là đối tượng mơ ước của các cô gái đương thời:
    “… Nằm giường Lèo, tay đeo hột xoàn
    Mang đôi giày Ăn-phôn (en France)
    Xách cây dù Mạc-xây (Marseille)
    Cái răng của cậu bịt vàng
    Bóp phơi toàn bạc giấy xăng” (cent: 100).
    Thời đó người ta thường hay chúc nhau: “Chúc cho chú năm tới bịt một lượt năm, bảy cái răng vàng!” . Thời nầy ở Nam Kỳ, các điền chủ hạng trung có từ 500 mẫu ruộng trở xuống đủ sức cho con cái qua Pháp du học. Những ai ham học, siêng năng, đỗ đạt về làm Cò-mi (commis, tri huyện, Đốc-Phủ sứ, bác sĩ, kỹ sư…Còn một số ít không đổ đạt, trở về làm “công tử Bạc Liêu”, đua nhau xài phá tiền của cha mẹ để lại.
    Được mệnh danh là công tử phải biết ăn to xài lớn. Họ bày ra nhiều thứ tiêu khiển giải trí như hút á phiện cầu vui (ban đầu, về sau trở thành ghiền và chết trong nghèo đói cũng vì bịnh ghiền nầy), lập gánh hát để cầu danh, cặp kè với các cô đào chánh (cậu Tư Phước George cặp với cô Năm Phỉ, cô Phùng Há, cô Sáu Ngọc Sương…), cũng có công tử chuyện lập và đỡ đầu các hội đá banh, cờ bạc, đá gà để giải trí.
    Cha mẹ các công tử ấy thường cất nhà nền đúc cao tới ngực, có khi nhà lầu hai ba từng như nhà ông Đốc-Phủ Kiểng ở Bến Tre (tên thật là Nguyễn Duy Hinh), nhà Hội đồng Trạch ở Bạc Liêu, uống rượu Martel, Champagne, Cognac, hút thuốc xì gà …để dân chúng biết họ là người phong lưu. Hồi đó, trên các sông rạch miền Nam, hằng ngày các hãng tàu đò từ Mỹ Tho về lục tỉnh nườm nượp. Nhiều ghe “trà vải” bán hàng lưu động trên sông, bán đủ thứ hàng ngoại quốc như chén dĩa kiểu, sản xuất bên Pháp, Nhựt, Trung Hoa… Sài Gòn có bán những món hàng xa xỉ như đồng hồ, máy hát, các nhà giàu tha hồ mua sắm. Sau mùa lúa ruộng, các ông hội đồng, các thầy cai, các đại điền chủ thường lên Sài Gòn ăn chơi cả tháng, tìm em út, hoặc tới các động hút thuốc phiện…
    Những nhà giàu như những hạng kể trên khắp Nam Kỳ vùng nào cũng có, nhưng nhiều nhứt là ở miền Tây. Từ Tiền Giang trở lên, người ta chỉ nghe danh một công tử duy nhứt, đó là cậu Tư Phước George, tên thật là Lê Công Phước, con ông Đốc Phủ Sứ Lê Công Sủng, còn di tích một căn nhà ngói lớn hai từng ở chợ Mỹ Tho, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho chính phủ mướn để làm phòng Thông Tin. Kế bên là dãy phố lầu năm căn, cũng của gia đình cậu Tư. Hồi đó, miền Nam đất rộng người thưa, ai có sáng kiến thì làm giàu nhanh chóng. Có tiền rồi, họ mua chức huyện hàm, phủ hàm để có danh với đời. Do nghị định của Thống Đốc Nam Kỳ, Pháp bán các chức “hàm” ấy cho những người giàu, lấy tiền xung vào công quỹ. Nó là chức hữu danh vô thực. Các ông huyện hàm, phủ hàm không có văn phòng, không làm việc nước gì cả. Hàng ngày cầm ba-ton đi dạo trong xóm tìm gà đá, tìm gái đẹp. Tới đâu, dân chúng cũng khúm núm “Bẩm ông huyện, bẩm ông phủ”. Ở miền Nam không có đơn vị hành chánh “phủ”, nằm trung gian giữa huyện và tỉnh như ở miền Trung và miền Bắc. Miền Nam có các quận, và người đứng đầu mỗi quận gọi là “Quan chủ quận”. Việc bán các chức huyện hàm, phủ hàm được thực thiện nhiều nhứt dưới thời Chủ tịch Hội đồng Quản hạt Paul Blanchy. Ở miền Nam, có một ông điền chủ nhà giàu, đã già, răng rụng, mua chức huyện hàm, nhưng có tật hảo ngọt, dê gái, dân chúng chế nhạo gọi ông là “Ông huyện hàm hàm” (nghĩa là răng rụng hết, chỉ còn trơ lại cái hàm).
    Cậu Tư Phước George gặp cô Ba Trà lần đầu khi đến nhà Dì Tư Ăng-Lê cờ bạc. Chỗ nầy cũng có các cô gái hạng sang hay lui tới, nên các công tử, con nhà giàu tới lui dập dìu. Các công tử ấy đánh bài cầu vui, ăn thua không cần biết, chỉ cần đi lùng săn gái đẹp. Gặp cô Ba Trà lần đầu, xinh đẹp như tiên, không những cậu Tư Phước George mê liền mà cậu Ba Qui, nổi danh Hắc Công tử, cũng đang thèm thuồng. Họ không có cử chỉ ghen tương trước mặt, nhưng có những cách tung tiền trước mặt người khác, để chứng tỏ mình là người hào hoa. Trong bài “Các cuộc đời ngoại hàng Nam Kỳ thưở trước” đã in trong sách “Nam Kỳ Lục Tỉnh” tập I, chúng tôi có kể lại giai thoại hai cậu công tử vì tranh nhau tiếng ăn to xài lớn, và muốn lấy le với gái đẹp, nên một cậu (Ba Qui) đã đốt tờ giấy Ngẩu (5 đồng) cho cậu Tự lượm tiền lẻ, nay miễn nói thêm. Trong bài ấy, chúng tôi cũng nhắc qua những nét đại cương về cuộc đời ăn chơi của cậu Tư Phước George. Trong bài nầy chúng tôi sẽ nói tỉ mỉ, nhiều giai thoại hơn do chính người nhà của cậu Tư Phước George thuật lại. Cũng trong bài trước, theo lời cụ Nguyễn Văn Vực, công tử Phước George là con ông Đốc-Phủ Mẫu, đương thời làm chủ trọn Cù lao Rồng, trước chờ Mỹ Tho, nay gia đình cho biết, thân phụ cậu Tư tên là Lê Công Sủng.
    Bà vợ chánh của ông Đốc-Phủ Sủng là người thuộc dòng dõi cụ Trương Vĩnh Ký, tức thân mẫu cậu Tư. Ông Đốc-Phủ Sủng có một người vợ thứ, chính là chị ruột của ba ông Thái Minh Phát, Thái Minh Đạt và Thái Minh Kim. Khi gởi cậu Tư qua Pháp du học, bà vợ thứ có gởi kèm cậu em của mình là ông Thái Minh Phát. Lúc ở bên Tây, ông Phát siêng năng học hành, đậu Tú Tài đôi, về nhà làm Cò-mi, rồi thăng làm Huyện, và sau cùng làm Đốc-Phủ Sứ tại dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Ông Thái Minh Phát con nhà nghèo, nhờ bà chị có nhan sắc, nên được anh rể chìu chuộng, giúp đỡ các em. Về sau, ông Phát cưới một người vợ quê ở Gò Công, con ông huyện Đẩu, có nhà lớn tại chợ Mỹ Tho.
    Trong khi đó, cậu Tư Phước George ham chơi, tối ngày chỉ la cà các nhà hàng, tiệm khiêu vũ, nên không có bằng cấp gì ngoài bằng cấp…nhảy đầm! Kể về vai vế, cậu Tư Phước George kêu ông Phát bằng cậu, nhưng vì cả hai đồng trang lứa, và ông Phát em của người kế mẫu nên coi như bạn bè. Lúc học bên Tây, cậu Tư cũng tỏ ra hào hiệp với bạn bè. Ai túng thiếu cứ đến cậu sẵn sàng giúp đỡ.
    Vì lẽ đó, chơi với bạn bè, ai cũng kính nể cậu. Sau 1945, ông Thái Minh Phát từ quan, qua Pháp sinh sống mới mất gần đây. Người cung cấp tài liệu cho chúng tôi là bà Thái K.C., con ông Thái Minh Đạt trước làm quản lý nhà thuốc tây, gọi ông Thái Minh Phát bằng bác và bà thứ thất của ông Đốc-Phủ Sủng bằng cô ruột. Cậu Tư Phước George theo như ông bà Thái K.C., sinh năm 1901 và mất trong thập niên 1950, nhưng không nhớ rõ năm nào. Về tướng tá, cậu Tư Phước George cao lớn, trắng trẻo, đẹp trai, cho nên người đời gán cho cậu mỹ danh “Bạch Công Tử” để phân biệt với cậu công tử Ba Qui, con ông hội đồng Trần Trinh Bạch là Hắc Công Tử vì có nước da hơi ngăm đen. Nghe người nhà kể lại rằng khi về nước, cậu Tư không đỗ đạt bằng cấp gì hết, nên thân phụ là ông Đốc-Phủ Sủng tức giận. Khi xây nhà, ông đốc phủ bắt cậu gánh hồ cho thợ làm nhà. Cậu Tư giận lắm nhưng không dám cãi cha.
    Sau khi thân phụ mất, để lại gia sản kếch sù, cậu Tư mặc tình ăn chơi, xài phá, vì cậu không làm ra tiền, và cũng không biết giá trị đồng tiền. Hễ cha mẹ làm tiền dễ, con cái xài phá. Đó cũng như là định luật. Có người túng thiếu đến xin cậu món gì, cậu cũng cho, không bao giờ từ chối. Ra đường tôi tớ, kẻ hầu người hạ, võ sĩ rần rần. Thậm chí một lần có gánh hát Phước Cương qua Pháp năm 1931, cậu tình nguyện qua đó hướng dẫn. Cậu đem theo một người đầu bếp để nấu cho cậu bữa ăn trưa mà thôi. Do tiếp xúc với nhiều hạng trí thức, quý tộc bên Âu Châu, nên cậu Tư ăn chơi có tác phong của một nhà quý tộc đúng nghĩa.
    Theo lời người thân của gia đình tiết lộ, trong thời gian gần hai năm du lịch và ăn chơi bên Pháp (1931-32), cậu Tư có một người tình quý tộc, đó là Princesse Olga, người thuộc dòng dõi Nga Hoàng Nicolai II. Lúc ấy dân ăn chơi quý tộc, gọi cậu là “Ông Hoàng xứ Galles” (Prince de Galles), là tước hiệu của Thái tử Charles sau nầy. Trong lần gánh Phước Cương qua Pháp biểu diễn ra mắt khán giả Pháp và Việt kiều với các vở:”Phụng Nghi Đình”, “Xử Án Bàng Qúy Phi”, và “Tứ Đổ Tường”. Sau đó gánh hát Phước Cương còn đến diễn tại hội chợ Vincennes, Bảy Nhiêu, danh tài số 1 đóng cặp với đào Năm Phỉ đang hồi sáng chói. Mỗi vở hát chỉ diễn một màn tiêu biểu… được khán giả Pháp Việt rất hoan nghinh.
    Ở Paris, mỗi ngày cậu Tư đều mặc một bộ đồ khác nhau. Có khi cậu mặc habit hay smoking. Lúc nào Phước George cũng đội nón Flècher, ngậm xì-gà, tay cầm ba-ton bằng gỗ mun bịt vàng. Mùa lạnh cậu có thêm áo khoác ngoài. Hằng ngày, cậu và nhóm bạn chỉ ăn uống tại các nhà hàng danh tiếng vào buổi tối, còn buổi trưa ăn tại khách sạn do người bếp cậu đưa từ Việt Nam sang nấu. Cậu cũng có mặt thường xuyên tại nhà hàng Table des Madarins. Những đêm đi dạ hội, cậu hay khoác tay người tình là công chúa Olga đến các hộp đêm Palerlo ở khu Montmartre hay khu Saint Germain des Prés, khu Champs Élysée….
    Bạn người Việt ở Paris của cậu Tư Phước George là Trương Vĩnh Đằng, con của Trương Vĩnh Tống, cháu nội cụ Trương Vĩnh Ký, sau là Chánh Án ở Hải Phòng; Trần Lâm Đặng, sinh viên; Chu Mậu, người thuộc nhóm Hoàng Tích Chu, một thanh niên hào hoa, tài hoa, ăn chơi đúng mức nhờ nghề cắt may các bộ đồ đúng mốt thời đó (habit, smoking) .. Chu Mậu học nghề may cắt với giáo sư James York, và đứng làm thợ phụ cắt may cho một hiệu may danh tiếng ở Versailles. Mỗi ngày cậu Tư Phước George là một nhà quý tộc khác nhau. Khi là bá tước, khi công tước, khi hầu tước.. và những đêm dạ hội, cậu Tư thật sự là một ông hoàng, cùng công chúa Olga, cây đinh của những buổi tiệc tùng sang trọng. Một buổi chiều, cậu Tư Phước George khoác tay Olga đi ngang nhà hàng Coq d’Or, một số thanh niên Pháp trẻ tuổi xôn xao:
  • Chào ông hoàng!
    Trong 18 tháng ăn chơi ở Âu Châu, “ông hoàng xứ Galles”, cậu Tư Phước George có một lịch trình hưởng các lạc thú khắp nơi trên đất Pháp.
    Các tháng mùa Hè, cậu Tư cùng các bạn lái xe xuống phía Nam, nghỉ hè tại các thành phố biển danh tiếng như Canne, Nice… nằm ven bờ Địa Trung Hải. Có khi cao hứng, cậu Tư cùng Olga vượt rặng Pyrénées qua Tây Ban Nha xem đấu bò, hoặc khiêu vũ. Ban ngày cậu Tư tắm biển, ngồi du thuyền câu cá. Về đêm, cậu và nhóm bạn bè có mặt tại các hộp đêm sang trọng. Mùa Đông, sau khi hưởng trọn vẹn lễ Giáng Sinh tại Paris, cậu Tư thường đưa Olga đi trượt tuyết ở núi Alpes, và đến các khu du lịch, thể thao mùa đông. Còn lịch trình ăn chơi hằng ngày trong gia đình kể lại tỉ mỉ, nhưng cũng tham khảo thêm tài liệu trong quyển “Mấy chàng trai thế hệ…trước ” của cụ Dương Thiệu Thanh, một người trong nhóm bạn cậu Tư, được biết:
  • Cậu Tư Phước George ăn trưa tại phòng riêng trong khách sạn, những thức ăn đó chính người đầu bếp của cậu đưa từ Sài Gòn qua nấu.
  • Khoảng 4 giờ chiều, cả nhóm cậu Tư đến họp bạn tại một quán cà-phê ở khu Montmartre. Tại đây, chủ nhà hàng đã kê sẵn hai bàn dài, trải thảm đỏ đón cậu Tư.
  • Từ 5 giờ chiều, cả nhóm kéo nhau đi trà vũ cho tới 7, 8 giờ tối.
  • Đến một nhà hàng quen thuộc dùng cơm tối, thường là Tables des Mandarins, rồi đi khiêu vũ cho đến 1 gìờ khuya.
  • Ăn khuya xong, về khách sạn thay đồ (smoking hoặc habit) rồi la cà đến các hộp đêm cho tới sáng.
  • Khoảng 6 giờ sáng, ăn điểm tâm nhẹ, thường là món Soupe d’oignons.
  • Ăn xong, cả nhóm xuống chơi rừng Boulogne chèo thuyền, giải lao để dưỡng sức, rồi về hôtel ngủ đến 2, 3 giờ trưa thức dậy. Sau đó cậu Tư ra vườn hoa đi bách bộ, thở không khí trong lành và làm vài động tác thể dục…
    Nói đến các công tử ăn chơi bên Tây, tôi nhớ lại chuyện kể của một công tử khác, gia đình điền chủ hạng trung, thấy người ta du học bên Tây cũng ham, nên mặc dầu mới vừa xong bậc Tiểu Học, cũng đòi cha mẹ cho qua Pháp du học. Đó là công tử Út Nhu, thân phụ của hai người bạn tôi, cả Trà Vinh, Vũng Liêm, nghe nói tới cậu Út Nhu ai cũng biết. Cũng nên nói thêm là Trà Vinh cũng có nhiều công tử nổi tiếng khắp miền Nam như công tử Bích (không phải công tử Bích, chủ nhà băng ở Cần Thơ), anh ruột cô Sáu Hương. Sáu Hương là một cô gái mới, có học vừa đẹp vừa sang, con nhà giàu. Cô thích cặp bồ với tình nhơn bảnh trai, không cần moi tiền đàn ông như những cô gái ăn chơi thời đại đó. Không giới hạn ăn chơi như các công tử Dù Hột, công tử Hai Đinh (anh ruột Hắc Công Tử Ba Qui), công tử Tám Bò…, công tử Bích từng tung tiền khắp các đô thị Nam Kỳ, cũng như ở Sài Gòn. Trong số các vị ấy, công tử Út Nhu mà tôi được hân hạnh nghe ông kể lại cuộc đời du học sinh bên Tây nhiều lần rất hấp dẫn của ông.
    Thời gian đó, ông đã già, gia đình còn nhiều ruộng đất, do các con tự canh tác nên đời sống vẫn phong lưu. Quê ông ở tại Bằng Đa, quận Châu Thành, Trà vinh, có nhiều ruộng đất ở Cầu Ngang, Mỹ Cẩm, An Trường, nhưng từ sau 1949, ông về ở hẳn tại Vũng Liêm. Ngôi nhà lớn đổ nát vì Cộng Sản ra lịnh phá hoại để “tiêu thổ kháng chiến”, nhưng sau năm 1955, ông đã cất lại một ngôi nhà gạch tại nền nhà cũ, cách ngã ba Quán An Nhơn chừng 2km. “Cậu Út”, tôi thường quen gọi như vậy, vì cậu nhỏ hơn má tôi vài tuổi.
    “Lúc đó, tao bằng tuổi mầy” cậu mở đầu, sẵn tiền của cha mẹ gởi qua, chỉ lo ăn chơi mà không chịu học. Tao qua Pháp theo một người quen, do gia đình tao gởi gấm. Lúc đó mới 16 tuổi (1932).
    Trong buổi xế chiều của cuộc đời, có lẽ do mặc cảm kém danh phận, nên cậu ít khoe khoang, tự hào về cái dĩ vãng của mình. Là bạn của các con cậu, chúng tôi thường tới lui nhà cậu, được cậu coi như con cháu. Thỉnh thoảng, cậu ngồi vào bàn uống trà, hồi tưởng chuyện xưa:
    Lúc mới qua Tây, vô lớp học, tao ngồi bàn chót. Trong khi thầy giáo giảng bài ở trên, dưới nầy tao lấy bánh mì ra gặm vì tao đâu có hiểu hết những gì ông ta giảng. Tại tao ham đi Tây, mà ba má tao cũng muốn cho con du học bên Tây để nở mày nở mặt với người ta, nên tao chưa học tới đâu mà cũng…du học. Tao vừa học xong Cours Supérieur (tức xong bực Tiểu Học). Xa nhà, sẵn tiền, lại gần chỗ ăn chơi, không ai kềm chế nên tao cũng bắt chước các bạn qua trước, tập tễnh ăn chơi theo họ. Nhớ laị lần đầu đi xe lửa từ Marseille lên Paris chừng 900km. Xe chạy suốt đêm, lẽ ra tao ngủ lấy sức, nhưng vì mới qua, cái nào cũng lạ, nên tao tỉnh như sáo sậu. Tao là dân da vàng từ Á Châu tới, phần đông người Pháp chỉ hiểu là các dân da vàng ở phía Đông Địa Trung Hải, nhưng không rõ là người Tàu, người Nhựt. Họ biết rất ít về người Đông Dương và nhứt là người Annam (tên cũ của Việt Nam). Bỡ ngỡ với xứ lạ, tao có cử chỉ rụt rè nhà quê, khiến bọn Tây đầm chú ý. Tình cờ, tao ngồi gần một gia đình người Pháp gồm hai vợ chồng và một đứa con gái trạc tuổi tao.
    Đứa con gái nhìn tao hỏi chuyện:
  • Anh là người xứ nào tới?
    Tao lúng túng trả lời:
  • Tôi ở Bằng Đa, tỉnh Trà Vinh. Đáng là tao nói: “Tôi là người Annam hay người Đông Dương” thì họ biết ngay nhưng vì mất bình tĩnh, tao trả lòi theo thói quen như ở bên nhà. Tưởng đâu nói như vậy họ hiểu.
    Nào dè nghe ba trật ba duột, cô gái lên mặt lanh lợi, cướp lời:
  • Oui! Baghdad! Tôi có học và xem hình ảnh thành phố nầy! Nó đẹp lắm!
    Ngồi bên cạnh, bà mẹ cô tỏ ra thông hiểu địa dư phư hoạ thêm:
  • Baghdad! Ô! Baghdad rất đẹp, nó nằm trên đất Trung Hoa, xứ sở có nhiều di tích lịch sử của Á Châu.
    Ông chồng ngồi kế góp chuyện, tỏ ra lịch lãm hơn:
  • Ồ Baghdad! tôi có đến thành phố đó. Nó là thủ đô của nước Tây Tạng.
    Tao không rành về địa dư, nhưng khi nói Baghdad là thủ đô nước Tây Tạng, tao mắc cười quá. Cũng vì tao là thằng con nít nhà quê, nên trên xe lửa diễn ra một hoạt cảnh khôi hài, nếu ai rành về địa lý chắc sẽ cười bể bụng. Tao nói Bằng Đa, tên một họ đạo lớn nằm cách châu thành Trà Vinh chừng 10km về phía Đông, rồi cô đầm nghe là Baghdad, rồi cha mẹ cô, mỗi người hiểu một cách khác. Thật sư cho tới bây giờ Baghdad vẫn là thủ đô của nước Irak ở Trung Đông!
    Hai năm đầu, tao học không vô vì chữ Pháp của tao tệ quá. Lần lần tao quen vài người bạn cùng cảnh ngộ như tao, lớn hơn vài tuổi, biết ăn chơi lịch lãm. Tiếng là đi du học, nhưng thật ra đi ăn chơi, phá của. Cứ ba tháng họ nhận được tiền bạc cha mẹ gởi qua đều đặn, họ chỉ tao cách ăn diện cho đúng mốt thanh niên thời đaị. Bây giờ tao mới học nhảy đầm, thường nhảy các bản như Valse, Boston, và mới học nhảy Charleston nên cũng tập tễnh la cà các tiệm nhảy. Một trong các người bạn ấy rủ tao đi dự Đại hội hoá trang của sinh viên. Vào đại hội, ai nấy đều hoá trang nên rất khó nhận diện nhau. Do bạn xúi, tao mượn được một “bộ đồ vía” gồm áo dài, khăn đóng, giày hàm ếch, mặc vào trông rất lạ. Gặp tao, ai cũng nhìn chằm chặp, không hiểu ăn bận kiểu gì mà lạ quá? Đứng trước kiếng lớn, tao còn không nhận ra nào huống gì người khác. Nhạc bắt đầu nổi lên. Từng cặp dìu nhau ra sân khấu. Tao cũng bắt chước mời một em tóc vàng, dìu nhau ra sàn nhảy. Trong lúc các cặp đang ôm nhau, nhảy nhịp nhàng theo điệu Valse, rồi thình lình đổi qua Charleston, làm tao bối rối. Đột nhiên từ bên kia, một cô tóc vàng khác, mặt hoa da phấn, mắt long lanh, nhìn tao chằm chặp, rồi cười tình:
  • Ê! Nhu!
    Tao khoái hết sức. Không ngờ ở xứ lạ mà có con nhỏ mê mình, nói đúng tên mình mà nói tiếng Việt rất đúng giọng, rõ ràng. Tao nhảy gần lại nhìn nó, mỉm cười để coi mặt em đẹp ra sao.
  • Trời đất quỷ thần ơi, đó là thằng Trí, quê ở Càn Long, bạn chơi với tao hằng ngày, hôm nay hoá trang thành một cô đầm đẹp quá, hấp dẫn, giống hệt như con gái, ai cũng lầm.
    Tao thích ăn chơi hơn học. Tiền cha mẹ gởi qua tao nướng vào các hộp đêm.. Thấm thoát đã bảy năm. Năm 1939, tao đang học lớp Première để dọn thi Tú tài đôi, thì tình hình chiến tranh thế giới thứ hai sắp khai diễn. Không khí chiến tranh ngột ngạt khó tránh. Bên nầy cha mẹ tao sợ có chiến tranh sẽ xa con, nên một hai đánh điện gọi tao về. Tao xuống tàu về nước thì mấy tháng sau cuộc chiến bộc phát.
    Về quê, trong mấy năm tản cư về Ấp Bảy, An Trường, ông già tao bắt tao giữ vịt (chăn vịt) tao đâu dám cãi. Đó cũng là cách trừng phạt tao trong những ngày ăn chơi lêu lổng bên Tây. Trong một lần Tây ruồng bố xuống Càn Long, Mỹ Huê, Trà Vinh, ai nấy đều bỏ nhà chạy trốn hết, nhưng tao thì không sợ. Khi bọn Tây tới gần bên tao, thì một tên lính Tây hỏi:
  • Việt Minh hả?
  • Tôi là thường dân, không phải Việt Minh. Tôi chăn vịt!
    Nghe tao nói tiếng Tây rôm rốp, bọn Tây ngạc nhiên, rồi hỏi thêm lý lịch. Tao nói có học bên Tây bảy năm. Từ đó, chúng mời tao làm thông ngôn cho đến năm 1949, mới xin thôi việc và năm 1950 về ở hẳn tại đây.
    Chúng tôi muốn chấm dứt về chuyện một người công tử đi Tây học điển hình mà chúng tôi quen biết để làm cho phong phú câu chuyện. Bây giờ xin trở lại chuyện cậu Tư Phước George.
    Năm 1932, cậu Tư về Sài Gòn lập gánh hát Hùynh Kỳ, từng lưu diễn khắp miền lục tỉnh. Có lần cậu Tư đưa gánh hát ra Hà Nội trình diễn, được các bạn cùng nhóm ăn chơi bên Tây lúc trước tiếp đón trọng thể như một ông hoàng. Hồi đó các đại điền chủ thường đi ghe bầu, sang lắm là ca-nô, nhưng riêng cậu Tư có sắm một chiếc du thuyền làm chỗ cho ban tham mưu gánh hát Huỳnh Kỳ, đậu túc trực dưới sông, trước chợ Mỹ Tho.
    Vào thập niên 1930, ở Hà Nội có phong trào đổi mới báo chí do nhóm Hoàng Tích Chu từ Pháp về, gây ảnh hưởng lớn lao. Nhóm nầy mang cả kỹ thuật làm báo, cải tiến lối hành văn, cách mạng lề lối làm báo cũ kỹ, mở ra một thời đại mới trong làng báo Bắc Hà. Tiếc thay Hoàng Tích Chu chết sớm (34 tuổi), nên dự định và hoài bão của tập đoàn Hoàng Tích Chu tan rã. Vài bạn trong tập đoàn nầy tách ra, lập nhóm Dân Mới. Họ lập Câu lạc bộ Dân Mới, ban kịch Dân Mới để diễn các vở kịch: “Kim Sinh”, “Nặng Nghĩa Tớ Thầy”, “Đời Thiếu Niên” … Trong hoạt động của nhóm Dân Mới, có “Câu Lạc Bộ 15” là nổi bật hơn cả. Tại sao lại gọi là “Câu Lạc Bộ 15”?
    Câu Lạc Bộ 15 là một nhóm gồm 15 thành viên có chung một quan niệm, thú vui, giải trí và một mục đích vô vụ lợi cá nhân. Đây là một tổ chức phi chính trị. Có kẻ khi nhìn vào thành viên của Câu Lạc Bộ 15, gồm có nửa Pháp, nửa Việt dư luận cho rằng “Câu Lạc Bộ 15” là công cụ, là âm mưu của thực dân để thi hành đường lối “Pháp Việt đề huề” mà thời gian đó thực dân đang nỗ lực đề cao.
    Thật ra, Câu Lạc Bộ 15 là một tập họp của các thanh niên học thức theo Tây phương (trường Albert Sarraut, hay du học Pháp), có địa vị cao trong xã hội, có tiền nhiều nhờ biết làm ăn, tính tình hào phóng, cởi mở, dân chủ…. Phần lớn những thanh niên đó trước đây đều có một hoài bão muốn làm việc ích lợi cho đất nước, quê hưong, nhưng khi về nước, va chạm với thực tế, họ thấy mộng ước ấy xa vời, khó thực hiện. Để tìm lối thoát, họ kết hợp với nhau để cùng ăn chơi, giải trí tiêu khiển theo kiểu Tây phương. Các thành viên người Pháp của Câu Lạc Bộ 15 không quan tâm đến chính trị. Họ là những thành phần trẻ nhưng có sự nghiệp. Nơi họ thường lui tới là xóm Khâm Thiên, nhà hàng Taverne Royal, khách sạn Métropole, nhà hàng cơm Tàu Asia… Chủ nhân khách sạn Métropole, Jean tình nguyện dành cho Câu Lạc Bộ 15 một phòng danh dự đặc biệt làm nơi nhóm họp và một phòng thượng hạng để đón tiếp các bạn khách quý phương xa. Những thành viên người Pháp như De Flers, Paul Leroy, René Pierre Hornet, là những chủ ngân hàng, kỹ sư, bác sĩ, sinh viên .. Còn phía người Việt gồm các ông Chu Mậu (thương gia, Trương Vĩnh Đằng (chánh án), Định Mạnh Triết (chủ đồn điền ở Gia Lâm), Đăng Phục Thông (kỹ sư, sau này làm Bộ trưởng trong chính phủ Hồ Chí Minh).
    Có một điều lý thú là trong nội quy kết nạp, Câu lạc bộ không chấp nhận các quan lại, các tên Tây thực dân bản xứ vì những người này có thái độ đầu óc không phù hợp với tôn chỉ của Câu lạc bộ. Là một thanh niên hào hoa, sống bên Pháp nhiều năm phong lưu nhờ nghề may cắt âu phục, đúng mốt cho giới thương lưu, Chu Mậu nỗi danh là một công tử xứ Bắc. Anh là người hoạt động hăng hái, đem lại luồng sinh khí mới cho Câu lạc bộ. Chu Mậu thường ăn mặc theo kiểu dân quý tộc Anh, công tước, bá tước Pháp, đội nón dưa gang, đi giày ống, cầm dù, áo nhung đen khoác ngoài. Đối với dân Hà Thành vào năm 1930 1à một điều mới mẻ đến lập dị!
    Nói qua lối tổ chức Câu Lạc Bộ 15 để chúng ta thấy sự khác biệt trong cung cách ăn chơi của thanh niên Bắc Hà với các công tử Nam Kỳ. Thanh niên miền Bắc ăn chơi sang trọng phải là người trí thức, có sự nghiệp, hay chơi thú vui tập thể (chơi Golf, picnic…) trong khi đó các công tử Bạc Liệu của Nam Kỳ chỉ tìm thú vui cá nhơn, tung tiền rất phí phạm, cờ bạc, hút thuốc phiện, là những thú vui sa đoạ. Nói như vây không có nghĩa là thanh niên ăn chơi miền Bắc không cờ bạc, hay thuốc phiện. Họ ăn chơi có phong thái của giới quý tộc, xa rời người bình dân, và lãng quên cuộc sống khó khăn của lớp người nghèo khổ. Chu Mậu là ban thân của cậu Tư Phước George trong thời gian ở Pháp. Lần này ra Bắc cùng với ban Phước Cương, cậu Tư được Câu Lạc Bộ 15 đón tiếp các kỳ trọng thể.
    Khách sạn Métropole của Jean, thành viên câu lạc bộ, tình nguyện dành riêng cho cậu Tư một căn phòng danh dự mà không lấy tiền vì ngưỡng mộ danh tiếng cậu Tư. Năm ấy là năm 1932, có ba biến cố quan trọng ở miền Bắc đáng ghi nhớ:
  • Gánh hát Phước Cương lưu diễn Hà Nội Hải Phòng.
  • Hội chợ Bạch Yến tại Hà Nội.
  • Chợ phiên trong vườn Bách thảo
  • Gánh hát Phước Cương là một đại ban với các tài danh thượng thặng như Năm Phỉ, Bảy Nhiêu, Tứ Anh, Năm Châu… từng đi lưu diễn khắp Nam Trung Bắc, và từng “đem chuông đi đánh xứ người” tận Paris, gây một tiếng vang lớn. Khán giả Pháp dù không hiểu tiếng Việt, nhưng cũng hiểu đại cương ý nghĩa những màn trình diễn, nhất là ý niệm văn hóa Việt Nam. Ra tận Hà Nội lần đầu, gánh hát Phước Cương làm xôn xao dư luận đất Thăng Long cũ. Cô đào Năm Phỉ đẹp lộng lẫy như một nữ hoàng! Bảy Nhiêu, Tứ Anh, Năm Châu, mỗi người một nét riêng, đã để lại trong lòng khán giả những hình ảnh đẹp, giọng ca mùi rất khó quên Các nhà tai mắt đất Bắc như triệu phú Bạch Thái Bưởi, gia đình Bạch Thái Tòng, Bạch Thái Tam tiếp họ như khách quý và thân tình như đón người bà con ở xa mới về. Các vị ấy thường đem xe nhà đến rước đào kép Cải lương miền Nam đi ăn cơm các nhà hàng sang trọng nhất. Lần này ra Bắc, Bảy Nhiêu được Chu Mậu tặng một bộ habit để mặc, xuất hiện trên sân khấu trong vở “Áo người quân tử” làm cho khán giả ngạc nhiên thích thú vô cùng. Cái mùi của câu Vọng cổ miền Nam, giọng hò êm buồn của miền Trung, và giọng ngâm thơ réo rắt của miền Bắc là những đặc sản văn hóa của Việt Nam rất đáng được giữ gìn.
  • Kẹch mếch (hội chợ Bạch Yến) là một sáng kiến của thực dân Pháp, muốn cho dân chúng Hà Thành bớt ngột ngạt vì không khí chính trị mới xảy ra (Cuộc khởi nghĩa đẫm máu của Việt Nam Quốc Dân Đảng), vừa làm trò vui cho dân thành phố vừa gây quỹ xã hội. Muốn tô điểm cho Chợ phiên thêm hương sắc, các nghị viên Hội đồng Thành phố Hà Nội có sáng kiến mời hoa khôi Bach Yến vào ban tổ chức, đại diện cho giới phụ nữ. “Cô Bạch Yến không đại diện cho ai cả và chức hoa khôi ấy cũng chỉ là danh từ của mấy ông nghị khen tặng cô” (Dương Thiệu Thanh). Muốn biết cuộc thi hoa hậu đầu tiên được tổ chức vào năm nào, và tại đâu, chúng tôi xin lược thuật lại theo một tờ báo cũ để đồng hương có ý niệm . Ngày nay các cuộc thi hoa hậu trở nên phổ thông, nhưng nếu cắc cớ có người hỏi bạn cuộc thi hoa hậu lần đầu tiên của nước ta tổ chức ở đâu, tôi chắc nhiều vị sẽ lúng túng.
    Cuộc thi hoa hậu đầu tiên trên đất Bắc diễn ra vào phiên chợ Lang Chánh, một xứ Thượng của Thanh Hóa, năm 1941 Lang Chánh là nơi có nhiều người Thái trắng, cùng chủng tộc với người Thái Lan, Lào và người Shan bên Miến Điện . Tất cả đều xuất phát từ Vân Nam tràn xuống các ngã . Lang Chánh cách tỉnh lộ Thanh Hóa 86km. Năm ấy, Lang Chánh tổ chức một hội chợ đặc biệt gồm nhiều gian hàng, trò chơi, các gian hàng ăn uống, còn một cuộc thi chọn người đẹp nhất, nay ta gọi là hoa hậu. Có thể coi cuộc thi chọn “người đẹp xứ Mường” năm đó (1941) là cuộc thi hoa hậu lần đầu tiên của nước ta. “Concours d’élégant” tổ chức trong hội chợ vườn Bờ-rô (Tao Đàn) cũng là cuộc thi hoa hậu lần đầu tiên cho Nam Kỳ.
    Chợ phiên Lang Chánh tổ chức vào mùa Xuân khi dân chúng khắp nơi đi trẩy hội các đền chùa trong bầu không khí vui tươi mát mẻ- Mỗi người đều rảnh rỗi sau vụ mùa đồng áng, nên mặc sức” Tháng Giêng là tháng ăn chơi” mà? Hội lạc thiện, một tổ chức từ thiện muốn gây quỹ nên tổ chức bán giấy vào cửa. Số tiền đó để cứu giúp những gia đình nghèo khổ, tàn tật. Trong hội chợ cũng bày bán nhiều thổ sản địa phương, các loại hàng do người thiểu số làm ra, cũng có rượu, thuốc phiện thả giàn.., vì xứ này là quê hương của loài cây Anh Túc (chế tạo thuốc phiện).
    Trước khi khai mạc, ban tổ chức hội chợ cho mời các vị tăng chúng hòa thượng và các sư ở chùa Đào Viên (Thanh Hóa) tới làm lễ. Khách chơi hội chợ đều được mời thưởng thức rượu cần, nghe các điệu nhạc Thượng gồm chiêng, trống, khèn… và đối với thanh niên thành thị miền xuôi, đó là một dịp để ngắm các “bông hoa rừng” tươi thắm nhứt. Trong hội chợ cũng có các trò chơi thi bắn cung tên, bịt mắt bắt dê, đấu vật, hát ví, hát dặm, bơi thuyền ..
    Cuộc thi hoa hậu bắt đầu vào 3 giờ chiều ngày 18 tháng Hai năm 1941. Từ các bản làng, nhiều cô gái Mường xúng xính trong những bô lễ phục đẹp nhứt tới dự. Ban giám khảo gồm năm người: Một cụ già, hai thanh niên, hai cô gái. Họ thảo luận các tiêu chuẩn để chấm điểm trước. Cuộc thi hoa hậu gồm ba giai đoạn:
  • Sắc diện toàn thể
  • Biểu diễn bài hát, hay trả lời một vài câu hỏi về thông minh.
  • Thi nấu ăn, gia chánh.
    Người đáp ứng đủ ba tiêu chuẩn cuộc thi đó là cô Bùi Tương, được bầu làm Hoa hậu. Á hậu về tay cô Lò Thị Vin, và cô Vũ Thị Chinh đoạt giải ba. Hoa hậu được thưởng năm nén vàng, năm nén bạc và một bộ đồ đẹp nhất của người Mường. Không có vương miên như bây giờ. Sau khi công bố kết quả, các chàng trai Kinh, Thượng đều xúm xít quanh các cô múa hát bên bếp lửa chập chùng suốt đêm cho tới sáng. Họ hát để vui, để tìm người bạn tình, để thỏa những ước mơ. Hội chợ Lang Chánh với cuộc thi hoa hậu lần đầu tiên, cho tới nay đã hơn nửa thế kỷ, chỉ còn lại trong ký ức những vị cao niên mà thôi.
    Trở lại hội chợ Bạch Yến được Thống sứ Bắc kỳ chủ tọa lễ khai mạc có vẻ rầm rộ lắm, nhưng dân chúng tỏ vẻ thờ ơ vì ảnh hưởng kinh tế khó khăn. Sau lễ khai mạc, hội chợ lưa thưa khách thăm viếng vì phải mua giấy vào cửa, hơn nữa liên tục vài ba năm nay, dân Bắc Hà cũng quá quen với các hội chợ rồi. Rồi ban tổ chức nhận được một tin quan trong: ông hoàng Ấn Độ và phu nhân sẽ đến thăm hội chợ!
    Ngoài dân chúng, nguồn tin ấy lan nhanh: “Ông hoàng Ấn Độ và phu nhân sẽ viếng thăm hội chợ Bạch Yến vào lúc 3 giờ chiều”, khiến cho hội chợ đang vắng người, bỗng nhiên thiên hạ ùn ùn mua giấy vào xem mỗi lúc một đông. Phần đông những người này vì hiếu kỳ muốn đến xem cho biết mặt ông hoàng Ấn Độ ra sao. Nguồn tin cũng cho biết thêm: “Ông hoàng đến thăm hội chợ sẽ được vài nhân vật của Pháp tháp tùng và hai sĩ quan người Xiêm bảo vệ an ninh”. Trưa hôm đó, sự chuẩn bị đón tiếp ông hoàng diễn ra hết sức khẩn trương. Ban tổ chức lo sắp đặt nghi lễ ngoại giao. Cô Bạch Yến được phân công chọn 12 nữ sinh đẹp, mặc đồng phục, đứng phía trước các cảnh binh làm hàng rào danh dự, tay cầm bó hoa để đón ông bà hoàng. Riêng Hoa khôi Bạch Yến trang điểm lộng lẫy, tay cầm sổ vàng đợi lịnh ban tổ chức, và tin chắc rằng thế nào ông hoàng cũng tặng cho hội chợ một số tiền để gây quỹ từ thiện.
    Cô Bạch Yến chọn một cô nữ sinh thật đẹp, cầm một bó hoa quý để tăng ông hoàng, và một cô khác tặng hoa cho bà hoàng. Các ông trong ban tổ chức cũng hết sức bận rộn Họ đặt chiếc ghế bành danh dự để mời ông hoàng ngồi vào chỗ trang trong nhứt. Đúng 3 giờ, một chiếc xe du lịch sơn đen bóng lộn, chở ông hoàng và phái đoàn tới. Khi chiếc xe vừa dừng lại trước khán đài, người tài xế mặc đồng phục trắng, đội mũ cát-két, vội bước xuống mở cửa đứng trong thế nghiêm như pho tượng, ông hoàng (bà hoàng vì đi đường xa mà mỏi không đến được xin cáo lỗi) đội mũ đỏ không vành theo kiểu Ấn Độ, mặc áo rất đúng thời trang, chậm rãi bước xuống tươi cười, được mấy người Pháp và hai sĩ quan người Xiêm tháp tùng bước lên khán đài. Ban tổ chức trinh trọng bắt tay ông hoàng, mời an tọa, chuẩn bị dự tiệc. Hoa khôi Bạch Yến cầm sổ vàng trong tay lăm le bước tới dâng lên ông hoàng trong thế chờ đợi. Nắng chiếu gay gắt làm cho mọi người hoa mắt. Nhiều người đưa tay lên dụi mắt để nhìn ngắm kỹ ông hoàng.., sao có vẻ giống người Việt Nam quá. Bỗng một ông nghị đứng gần ông hoàng nãy giờ, mặt mày xanh như tàu lá, miệng lắp bắp, la lớn:
  • Chính thằng Chu Mậu đây, chớ không phải ông hoàng nào cả. Nhóm Dân Mới nó lừa chúng ta. Gọi cảnh binh tóm cổ bọn chúng đưa ra tòa!
    Tiếng la ấy làm một người sửng sốt, nhưng trước các nhân vật Pháp và cảnh binh Xiêm nên không ai dám đến bắt ông hoàng giả Chu Mậu cả. Còn các thành viên nhóm Dân Mới bấm máy ảnh lia lịa. Pháo nổ tung cả một góc hội chợ, khiến cho không khí ồn ào, náo nhiệt chưa từng thấy. Dân chúng bu lai càng đông để được nhìn thật rõ ông hoàng mà không quan tâm ông hoàng thật, hay ông hoàng giả. Nhiều người tỏ ra thích thú khi ngắm cái mũ đỏ không vành thật của người Ấn Đô. Chuyện xảy ra quá nhanh, đột ngột khiến cho ban tổ chức không còn biết phản ứng ra sao. Nhiều người vừa tức giận, vừa vui cười. Thật là một cuộc vui vô thưởng phạt. Khi biết đó là “ông hoàng Chu Mậu”, nhiều thanh niên vẹt đám đông tranh nhau đến bắt tay ông hoàng- Trong không khí vui nhộn ấy, đột nhiên, một thành viên nhóm Dân Mới nắm tay ông hoàng lẻn ra cửa sau, lên xe vọt mất!
    Như trên đã nói, các năm 1930, 1931 ở Bắc Hà, nhất là thủ đô Hà Nội, có bầu không khí chính trị ngột ngạt. Người Pháp cũng cảm thấy bất an, và dường như “có những nhóm hội kín muốn nổi loạn” xảy ra bất cứ lúc nào. Thậm chí những ngày Tết, dân chúng cũng sống trong bầu không khí lo âu, phập phồng Tình trang ấy như một trái banh căng thẳng cần phải xả bớt để giữ được an toàn. Lần này chính Thống sứ Bắc kỳ Yves Chatel có sáng kiến tổ chức Chợ phiên Bách Thảo vì tổ chức ngay trong vườn Bách Thảo tức Sở thú Hà Nội. Lần này, Thống sứ Yves Chatel giao cho Chu Mậu đảm trách công việc. Do đó, cậu Tư Phước George mới trở thành thượng khách của Hội chợ Bách Thảo mà chúng tôi sẽ nói dưới đây.
    Hà Thành những năm đó dân chúng chỉ vui gượng, ảnh hưởng cuộc kinh tế khủng hoảng làm cho đời sống mỗi người khó khăn thêm: Chính thi sĩ Tản Đà than:
    Bờ Hồ những gió cùng trăng,
    Những trăng cùng gió lăng nhăng sự đời.
    Hồi đó quanh bờ Hồ Hoàn Kiếm, có một quán kem và giải khát, với những cô hàng ăn mặc chải chuốt, diêm dúa, tên là quán “Ngọc Hồ”, gợi cho thi sĩ Tú Mỡ làm bài thơ châm biếm có câu.
    Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn
    Ngọc vết thương tình kẻ cố đeo
    Vì lẽ đó tổ chức chợ phiên Bách Thảo cũng là dịp để bọn người thượng lưu vui chơi hơn là giải trí của người bình dân. Để chợ phiên Bách Thảo có chỗ khiêu vũ, tiệc tùng, Chu Mậu có sáng kiến lập ra một sân khấu tuyệt đẹp lấy tên “Vũ trường Lô Lô”. Lô Lô nguyên là tên của một cô Thái trắng, đẹp như huê khôi, được chủ đồn điền Đinh Mạnh Triết đứng ra quản lý và người có sáng kiến vẽ đồ án thực hiên là một kiến trúc sư trẻ tài năng: Võ Đức Diễn. Chính Võ Đức Diễn đã vẽ đồ án nhà Thủy Tạ trên bờ hồ. Trước đó, báo chí Hà Nội quảng cáo hội chợ Bách Thảo nhiều tuần lễ liên tục. Trong hội chợ cũng có nhiều gian hàng bán thức ăn, trò chơi và nhất là các trò chơi cờ bạc trá hình, nếu không thì dân chúng không tham dư. Buổi chiều, lễ khai mạc long trọng với sư hiện diện của Thống sứ Chatel cắt băng khánh thành. Quan khách được mời nâng ly Sâm-banh mừng hội chợ. Sau đó, sân khấu trở thành một sàn nhảy gồm nhiều bông hoa rừng, các cô gái Thái trắng, các cô người Thổ Lạng Sơn do Tổng Đốc Vi Văn Đinh rước xuống, cùng nhiều thiếu nữ tân thời của Hà Thành. Dịp này Thống sứ Chatel được giới thiệu cậu Tư Phước George, công tử hào hoa nhất của Nam Kỳ. Mở màn cuộc khiêu vũ, Chatel mời cậu Tư nhảy với người tình của hắn là cô Trịnh Thục Oanh, người đẹp, thông minh giàu có thủ đô. Nghe đâu cô Thục Oanh mới đi Pháp sửa mũi tốn hết 2000 đồng. Trong khi dạ hội khiêu vũ, tiệc tùng bắt đầu thì hôi chợ cũng được dân chúng tràn vào tham dự các trò chơi, ồn ào náo nhiệt.
    Ra Hà Nội lần này, câu Tư Phước George là thượng khách của nhóm Câu lạc bô 15 và là cái đinh của những dạ hội tiệc tùng trên đất Bắc. Tới đâu cậu Tư cũng được những bạn bè đón tiếp trong khung cảnh sang trong như một ông hoàng. Hồi đó, các người đẹp, các công tử Bạc Liêu nổi danh đi đâu cũng có võ sĩ theo bảo vệ như các nhân vật quan trọng của chính phủ làm “garde corps”. Riêng cậu Tư Phước George có đến vài võ sĩ, lúc nào cũng theo cậu để “bảo vệ”, sẵn sàng ăn thua đủ đối với những ai muốn kình chống với câu, như Puncher người Phi lai sau, võ sĩ Kid Demsey. Riêng cậu Ba Qui, có Batandier lính Tây của Trung đoàn thuộc địa làm bộ hạ, còn cô Ba Pho tức Joséphinc Lê Ngọc có võ sĩ Antoine Cường, từng hạ đo ván nhiều võ sĩ trên các võ đài lục tỉnh. Ngoài các võ sĩ, đi đâu cậu Tư cũng có gia nhơn sai vặt bồi bếp.
    Nói đến các giai thoại của câu Tư Phước George, người ta thường nghe kể lại rằng, năm đó (1933) cậu Tư Phước George dẫn gánh hát Huỳnh Kỳ từ Mỹ Tho đi lưu diễn miền Tây, và ghé tai chợ Sóc Trăng, có dẫn theo một người Pháp làm hô vệ. Trong vai trò “garde corps” cho cậu Tư, hắn luôn luôn đeo khẩu súng lục hiệu Browning 6mm35 kè kè bên hông rất oai vệ.
    Sáng sớm hôm đó, cậu Tư tự cầm lái chiếc xe thể thao hiệu Fiat, chở ban tham mưu gánh hát đến ăn sáng tại một nhà hàng đường Đại Ngải Sóc Trăng. Chiếc xe cậu Tư đậu không sát lề, bị một tên cảnh sát hách dịch địa phương sân si, đòi biên phạt. Là một người lịch sự hào hoa, cậu Tư nhìn nhận mình có lỗi nhưng tên cận vệ người Pháp lai ấy có vẻ tức giận. Tên cảnh sát vẫn biên giấy phạt với thái độ hống hách, làm cho vệ sĩ cậu Tư nổi nóng bèn chưởi thề. Thấy vậy tên cảnh sát sừng sộ, thách đố:
  • Mày ỷ mày có súng, dám hắn tao không?
    Người cận vê cậu Tư phân trần:
  • Bà con cô bác coi, tôi không chọc anh ta, nếu anh ta thách tôi, tôi bắn à!
  • Máy giỏi bắn con …c. tao nè!
    Không dằn được, tên vê sĩ cậu Tư liền rút súng bắn một phát chát chúa. Tên cảnh sát ngã quỵ trên vũng máu trước sự kinh hãi của mọi người. Sau đó, người cận vệ đến sở cảnh sát nộp mình. Nghe đâu chỉ mấy năm sau nhờ cậu Tư vân động xin, nên anh ta được trả tự do và trở thành vệ sĩ cho cậu Tư đến năm 1945. Khi Pháp trở lại chiếm Nam Kỳ, người cận vệ ấy trở thành Cảnh sát trưởng một quận ở Gò Công! Điều kể trên đây chứng tỏ những người gần gũi, phục vụ câu Tư bảo vệ danh dự cậu Tư hết mình, không muốn ai xâm phạm đến uy danh của cậu.
    Trường hợp cô Ba Trà cũng có một người thân tín, khi nào ra dường cũng đi cặp kè với cô, để cô sai bảo, hay bưng xách đồ đạc cho cô. Người đó là một cô Xẩm lai, gốc gác ở Tân Khánh tỉnh Thủ Dầu Một. Cô được thân phụ dạy môn võ Thiếu Lâm gia truyền. Một hôm cô Ba Trà và người xẩm ấy đi chợ Cầu Ông Lãnh mua đồ. Một người lính “gạc” (local garde) người ta quen gọi mã-tà, hay phú-lít, cầm gậy, không mang súng. Nghe nói hồi trước hắn có đi lính cho Pháp bên Tây, nên khi hồi hương được chính phủ thuộc địa ban nhiều đặc ân. Hắn tỏ ra hống hách, chọc ghẹo đàn hà, con gái, ăn hàng quyt, ai đòi tiền, hắn chưởi, hay đánh. Xuất thân từ dân anh chị nông dân ít học, hắn lỗ mãng và làm phách vì ỷ mình có công trạng với Tây. Khi thấy cô Ba Trà là người đàn bà đẹp và cô xẩm đi ngang qua, hắn nhìn trân trân. Rồi không dằn được cơn hiếu sắc hắn hất hàm hỏi:
  • Này cô, đi đâu mà coi lịch sự quá hé?
  • Ông ăn nói cho đàng hoàng, không được phép chọc ghẹo phu nữ.
  • Cô nói sao? Tôi muốn bóp vú cô một cái được không?
    Nói rồi, hắn bước tới hai tay định ôm cô để bóp nhũ hoa. Bất ngờ, cô xẩm lùi lại, lấy thế, đá thật mạnh vào người lính. Hắn kêu lên cái “ự” rồi ngã xuống bất tỉnh. Thiên hạ xúm lại coi rất đông. Cô Ba Trà mắc cỡ, liền kéo tay cô gái lên xe kéo, đi một nước, bỏ mặc tên lính ấy nằm sóng soài dưới lộ
    Lúc này cô Ba Trà trở thành người tình của bác sĩ Án. Ông Án mướn nhà riêng, lập phòng nhì, xây tổ uyên ương với cô định chiếm làm của riêng. Nhưng cô Ba Trà lại ngựa quen đường cũ, cứ rảnh rỗi miệt mài trong các sòng bạc, rồi gặp câu Tư Phước George trong khi cô thua sạch túi. Dịp đó, cậu Tư mới rủ cô nên đi miền Tây chơi một chuyến cho giải buồn, và tìm sòng khác gỡ lại. Lúc này cậu Ba Qùi cũng đã quen được với cô Ba, nên cũng ngầm tranh giành người đẹp với nhau. Chiếc xe sport Fiat của cậu Tư chở cô Ba Trà thẳng xuống Cần Thơ và nghỉ tại khách sạn Hôtel De L’Ouest của nhà tư sản Trần Đắc Nghĩa, nằm trên đại lộô Delanoue, dân chúng địa phương cũng gọi là đường” Kinh lấp” vì nơi đây thường tổ chức hốt me lậu. Ông Trần Đặc Nghĩa là một người giàu có tại Cần Thơ, từng kinh doanh nhiều ngành như nhà in, xe đò, phòng ngủ và lập gánh hát “Trần Đắc”.
    Vào khách sạn, cậu Tư đi tắm cho mát, cởi chiếc cà rá hột xoàn tri giá 3000 đồng thời đó để trên bàn, bước vô phòng tắm. Bận ra thấy cô Bộ Trà đã đeo chiếc cà rá vào ngón tay vừa cười vừa nói.
  • Anh Tư coi vừa ngón tay em quá nè!
  • Vừa thì đeo luôn di, anh cho em đó.
    Trong khi đó, công tử Ba Qui cũng đang theo tìm dấu cô Ba Trà. Khi thấy chiếc xe cậu Tư đậu trước khách sạn, cậu Ba Qul liền lên lầu kiếm. Chạm mặt cậu Tư đang hôn cô Ba Trà, cậu Ba Qui không tỏ ra khó chịu hay ghen tương gì cả. Hai bên tay bắt mặt mừng, tỏ ra cao thượng và quí phái. Mấy hôm sau, về Sài Gòn, cậu Ba Qui dẫn cô Ba Trà đến tiệm bán hột xoàn danh tiếng trên lầu thương xá Charner, mua cho cô Ba Trà chiếc nhẫn hột xoàn lớn gấp đôi chiếc của cậu Tư.
    Tới đây chúng tôi muốn nhắc lại cuộc đời công tử Ba Qui.

HẮC CÔNG TỬ, CẬU BA QUI
“…Cậu Ba Qui. làm sui với ông đốc phủ Kiểng Nguyễn Duy Hinh (Bến Tre) là một cự phú Cù lao Mình. Trong bữa cơm, có lần vui miệng, bà đốc phủ Kiểng hỏi con dâu (con gái cậu Ba Qui):

  • Mỗi năm đến mùa lúa, không biết anh chị sui ở bễn thâu được bao nhiêu giạ lúa hả con?
  • Dạ thưa má, chừng 40 đến 50 giạ!
  • Ủa! Ít quá làm sao đủ xài hả con? – Bà đốc phủ Kiểng ngác nhiên hỏi tiếp.
    Con dâu trả lời:
  • Thưa má, giấy xăng (cent: 100 đồng, có hình bộ lư, nên còn gọi giấy bộ lư) bó lại từng bó, chất đầy từ 40 đến 50 giạ!
  • Như vậy nhiều quá hả con!
    (Lời cụ Nguyễn Văn Vực Xem thêm Nam Kỳ Lục Tỉnh, tập I cùng tác giả.)
    Không biết có phải tại cô Ba Trà thích đi chơi cùng một lúc với hai công tử Ba Qui, Phước George hay không, vào năm 1927 cả hai công tử ấy cùng tranh nhau chiếm trái tim người đẹp mà lúc nào người ta cũng thấy bộ ba ấy xuất hiện khắp nơi. Khi thì ăn nhà hàng Cửu Long Giang (Mékong), khi thì các Bungalow Cần Thơ, Sóc Trăng.
    Tìm hiểu lý lịch câu Ba Qui chúng tôi được cụ Nguyễn Văn Vực cung cấp chi tiết như sau:
    “Tại Bạc Liêu có ông Hội đồng Trần Trinh Trạch. còn gọi “Hội đồng Tó”, là một người giàu nhứt miền Tây, nguyên là một người Tiều lai, đến lập nghiệp tai Bạc Liêu hồi đầu thế kỷ này. Là người thông minh, có học chữ Pháp, nên được thâu nhận vào làm thư ký Toà Bố (Toà hành chánh tỉnh trước năm 1975). Sau đó, ông ứng cử và đắc cử vào chức vụ Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, cơ quan Tư Vấn cao cấp nhất thuộc địa Nam Kỳ thời đó. Trong những năm kinh tế khủng hoảng (1932,. 33, 34). nhà văn Bùi Thế Mỹ đã viết:
    “Nghèo đêm thằng mình còn chạy quýnh,
    Giàu như ông Trạch cũng buồn hiu…”
    khiến chúng tôi đủ biết sự giàu có và danh tiếng ông hội đồng Trạch lớn lao đến bực nào. Ông Trần Trinh Trạch có ba người con trai:
  • Trần Trinh Đinh tức công tử Hai Đinh
  • Trần Trinh Qui tức công tử Ba Qul
  • Người em út tên Tám Bò sở dĩ nổi danh là “công tử Tám Bò” vì cậu có thành tích nhậu say, bò di mò gái. Có người nói Tám Bò tên thật là Trần Trinh Khương (?).
    Cậu Hai Đinh cũng là một công tử ăn chơi bạt mạng, coi tiền như cỏ rác, nổi danh khắp miền lục tỉnh .Công tử Hai Đinh cũng lên xuống ăn chơi Sài Gòn như người em (Ba Qui), nhưng tên tuổi cậu ít được người đời nhắc đến bằng công tử Ba Qui.
    Mỗi lần lên Sài Gòn, câu Hai Đinh ở tại khách sạn Contmental, khách sạn Majestic. Khi vào sòng bạc, đặt một tụ vài chục ngàn là thường. Hồi mấy thập nên đầu thế kỷ 20, Bạc Liêu là một tỉnh trù phú bực nhứt Nam Kỳ, có nhiều nhà giàu, đại điền chủ triệu phú hơn bất cứ tỉnh nào của miền Nam. Ngay trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, lúa sụt giá chỉ còn 2 cắc (0$20) một giạ mà các công tử con cháu họ vẫn ăn xài huy hoắc, coi tiền như rác ngoài đường .Các đại điền chủ Bạc Liêu làm giàu nhờ hai nguồn lợi: ruộng muối và đất ruộng. Một người trong gia đình cậu Tư Phước George cho tôi biết: “Bạch công tử Phước George giàu về ruộng đất, còn Hắc công tử Ba Qui giàu về ruộng muối”. Theo Vương Hồng Sển trong “Sài Gòn năm xưa” cho biết: cứ mỗi ngày nắng tốt, gia đình ông Trần Trình Trạch thâu huê lợi ruộng muối từ 4000 tới 5000 đồng”. Muối của ông hội đồng Trạch rất nổi tiếng, được người miền Nam ưa thích và gọi là “muối Ba Thắc”. Còn theo tài liệu của Cộng Sản cho biết: riêng ruộng đất, ông hội đồng Trạch có đến 145 ngàn mẫu, rộng bằng một tỉnh trung bình ở miền Nam. Tỉnh Bạc Liêu có hàng mấy chục gia đình thuộc hạng đại điền chủ, có trên 100 mẫu ruộng. Những người giàu có tiếng tăm nhất của Bạc Liêu ai cũng nghe danh là ông hội đồng Điều (Ngô Phong Điều). Gia đình ông có một người con gái gả cho luật sư Trình Đình Thảo. Ông bác vật Lưu Văn Lang, quê ở Sa Đéc một trí thức lớn của Nam Kỳ, cũng có vợ là người Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ông kỹ sư Lưu Văn Lang làm sui với một gia đình danh giá ở Bạc Liêu là ông Trương Văn Yên. Ruộng đất của ông hội đồng Điều cò bay thẳng kiếng. Ông hội đồng Điều cơ sở thích mê đá gà, nổi tiếng là người chọi gà nòi số một Bạc Liêu. Nhà ông Điều lúc nào cũng có hàng chục gà trống. Còn gà lứa, gà giò, gà con. mới nở… lúc nào cũng có cả chục bầy. Thú vui thứ hai của hội đồng Điều là ăn con đuông (ấu trùng của kiến dương) vì cho rằng rất bổ. Trong nhà ông, có cất hẳn một trại để nuôi đuông. Ông mua đọt cau, đọt dừa, đọt chà-là chất sẵn như núi để cho đuông ăn. Nhưng độc đáo hơn hết, ông còn nuôi đuông trong cây mía. Ông hội đồng Điều là người phong lưu, giàu có như vậy nhưng chỉ được người địa phương liệt vào hạng nhà giàu thứ… tư.
    Ngoài ông hội đồng Trạch, thiên hạ đệ nhứt gia miền Tây, đất Bạc Liêu còn những dòng họ lớn. giàu có, nhiều thế lực như dòng họ Cao Triều, Chung Bá. Ông Cao Triều Phát (1888-1956) có qua Pháp làm thông ngôn. Lúc hồi hương, lập hệ phái Cao Đài Hậu Giang tại Bạc Liêu. Cao Triều Phát cùng với Trần Đạo Quang lập ra Minh Chơn Đạo đặt Toà Thánh tại Giồng Bướm (1932) xã Phong Thanh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Trong chín năm kháng chiến ở miền Tây, Việt Minh lợi dụng ông Cao Triều Phát triệt để. Chúng phong cho ông Phát làm Chủ tịch 12 phái Cao Đài hợp nhất để chống lại với Cao Đài Tây Ninh. Biết dã tâm của Cộng Sản nên chống lại bọn chúng. Bọn Cộng Sản muốn moi tiền gia đình triệu phú này nên hồi kháng chiến, Hồ Chí Minh gởi tặng cho ông Phát một cái áo lụa tầm thường, nhưng trong “tuần lễ vàng”, chúng đem đấu giá 50 vạn (mỗi vạn là 10 000 đồng) và ép buộc ông Cao Triều Phát phải mua ủng hộ!
    Gia đình giàu có và danh tiếng thứ ba là gia đình ông Chung Bá Khánh, trước học trường Chasseloup Laubat, sau đó du học bên Pháp. Lúc về. ông theo Phật giáo Hòa Hảo khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ bị an trí tại Bạc Liêu. Nơi đây giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thâu nhận thêm nhiều tín đồ mới, có uy tín ở địa phương như thầy ký Giỏi (thư ký Soái phủ Nam Kỳ), hội đồng Điều, Chung Bá Khánh. Năm 1945 ông Chung Bá Khánh là một yếu nhơn của Hòa Hảo miền Tây, có tháp tùng với đại diện Việt Minh là Nguyễn Văn Tây qua Sóc Trăng diễn thuyết (5 tháng Chín 1945). Hai tháng sau. Cộng Sản trở mặt, nửa đêm bao vây bắt ông Chung Bá Khánh cùng vài người khác như Võ Văn Thời, Đỗ Hữu Thiêu đem xuống Ba Động (Trà Vinh) trấn nước chết. Ông Lâm Thành Nguyên cũng là nạn nhơn trong cuộc thảm sát nầy, may mắn nhờ biết lội. cởi trói và trốn vào trong bụi rậm sống sót được.
    Anh em với Chung Bá Khánh còn có ông Chung Bá Vạn còn gọi hội đồng Banh, và người con trai gọi là “công tử Chung Bá Hiền”. Hiền cũng là một trong những người đam mê cô Ba Trà cho đến nỗi cũng vì cô mà suýt chút nữa mất mạng. Số là khi cô Ba theo mấy người quen xuống Bạc Liêu mở sòng hốt me. Gặp khi xui, cô thua luôn sạch túi. Cuốn “Sài Gòn tap-pín-lù” của Vương Hồng Sen kể lại cuộc đời tự thuật cô Ba Trà đoạn này như sau:
    “…Cái vòng quanh lục tỉnh của cô Ba Trà, làm cho nhiều người bàn tán, đồn ràng cô thua bài quá nhiều, nên đi vơ vét các tay chơi ở tỉnh. Kỳ thật cô ghé nghỉ ngơi ở lữ quán Bungalow để dùng cơm Tây và đổ xăng vào xe. Cô vẫn “mở phòng”. Khách sộp nào muốn ra mắt phải “đi lễ” trọng hậu. Lễ nho nhỏ có 100 đồng, cô đều gọi bác tài và a-múi phân phát trước mặt làm cho khách hổ thẹn ra về. Chớ nào cô hạ mình rước khách cóc keng như gái ăn sương tứ thời nhị hạng!
    “Có một chuyến xuống Bạc Liêu, cô cạn vốn, định quay xe trở về Sài Gòn tìm phương cách khác. Cậu Hai Hiền, đồng học Chasseloup những năm 1919-23 với kẻviết bài này (cụ Vương Hồng Sễn) hay được, định cầm cô ở lại giúp vốn cho cô gây sòng khác liền về nhà lấy bạc thì cô đã lên xe sóng lướt trăm ngàn. Xe cô vừa ghé lữ quán Bungalow Sóc Trăng, thì được tin xe cậu Hiền, vì tránh con bò đi lang thang ngoài lộ thắng gấp, lật xuống ruộng, đưa bốn bánh lên trời. Câu Hiền thoát chết. nhưng gãy lọi một giò, máu me đầy mình, đang nằm nhà thương cho lương y điều trị. Cô tức tốc vào dưỡng đường, sai a-múi lấy một bộ pyjama hường của mình thay cho bộ âu phục của Hiền rách nát. Hiền, khi lành mạnh vẫn xem bộ y phục của cô như vật linh, bùa lạ…”
    Bạc Liêu cũng là quê hương của công tử “Dù Hột”, tên cúng cơm là Huỳnh Văn Phước, cũng nổi danh ăn chơi “đổ quán xiêu đình” một thời ở Nam Kỳ. Huỳnh Văn Phước hay công tử Dù Hột là người nổi tiếng đầu tiên ở Bạc Liêu, trước cả công tử Hai Định và Ba Qui. Thân phụ cậu làm xã trưởng xã Dù Hột, vì thế mới có danh công tử “Dù Hột”, Sau này thân phụ công tử Dù Hột làm hương chủ, nên còn gọi là Hương chủ Chá. Mỗi lần ra đường công tử Dù Hột có em út theo rần rần. Trên lộ mỗi lần đi chơi có mấy chiếc xe hơi. Ở dưới sông có cả đội ca-nô!
    Còn ở Sóc Trăng, các danh gia, cự phú là những ai?
    Giàu nứt đố, đổ vách, nổi danh ở Sóc Trăng có lẽ là bà phủ An (Lê Văn An). Bà ở trong một ngôi nhà đồ sộ lúc đó: Hai từng lầu bê tông cốt sắt kiên cố, nằm phía chợ cá, châu thành Sóc Trăng. Ông Lê Văn An là người quê ở Đồng Môn (Long Thành) là nơi sinh quán của bà Bùi Thị Lãm, vợ Mạc Cửu, mẹ của Mạc Thiên Tích. Còn bà An là người quê ở xã Long Thành, phía trong cầu Thiêng Đức, trên đường đi xuống ngã tư Long Hồ, hồi đó thuộc tổng Bình Long, tỉnh Vĩnh Long. Hai ông bà đến Sóc Trăng thành lập sự nghiệp đồ sộ. Năm 1931 khi bà mất (ông mất trước), để lại hơn 1000 mẫu ruộng tại làng Hỏa Tú (Sóc Trăng), một số tiền mặt 80.000 đồng (trị giá bằng 1000 mẫu ruộng) trong tủ sắt, một ô hột xoàn và mấy hộp đựng vàng lá . Trong các lẫm lúa, còn hơn 10.000 giạ. Gia đình ấy thuộc bên vợ của ông Vương Hồng Sển. nên ông biết cặn kẽ, và thuật lại trong quyển “Hơn nửa đời hư”.
    Gia đình giàu thứ hai là cự phú Nguyễn Tấn Phát, đương thời làm xã trưởng, dân địa phương thường gọi xã Phát, và gọi đất của ông là “Điền xã Phát” để phân biệt với “Điền ông Kho”, (tức Tây Gressier). Ông có hai người con trai là Nguyễn Tấn Phong và Nguyễn Tấn Nghị. Đến đời các cháu vẫn còn rân rát như Nguyễn Tấn Quyền, Nguyễn Tấn Lợi, Nguyễn Tấn Lê là những người biết làm ăn, chăm học thành tài có địa vi. tiếng tăm một thời.
    Gia đìnht giàu thứ ba là ông Trần Đắc Chanh, làm Hương quản, nên dân chúng thường gọi ông Hương Chanh. Các con là Trần Đắc Lợi (ông Chủ Lý), Trần Đắc Chương, Trần Đắc Tấn… Gia đình này là người Tiều lai, nên các con thường có hai tên: ông Lại còn có tên là “Chủ Lý”, ông Chương còn gọi là “ông Chen”. Ngày nay, dư âm các thế gia vọng tộc ấy còn giữ lại các tên:
    Kinh xã Phát.
    Kinh huyện Phong
    Kinh xã Nhạn (cù công Nhạn, tiếng Tiều có nghĩa là “ông cậu tên Nhạn”)
    Thói thường khi nói đến các công tử Bạc Liêu, người đời có mặc cảm đó là những kẻ chỉ biết ăn chơi, xài phí không giới hạn. Cuộc đời của họ không đóng góp điều gì ích nước lợi dân, ít ai biết. Ở Bạc Liêu cũng có những hạng công tử thanh lịch, giàu tiền lẫn ìinh thương, có nhơn cách đáng kính trọng. Người đó là công tử Ba Cân tức Phạm Kim Cân, là người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài. Gặp ai hoạn nạn, nghèo khó, Ba Cân thường đem tiền đến giúp bất vụ lợi; cho nên người đời tặng cho Ba Cân biệt danh Đơn Hùng Tín. Tín là người đời nhà Đường (618-907) hay chu cấp tiền bạc cho những kẻ nghèo khó, các anh hùng lỡ vận. Khi Nguyễn An Ninh xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, công tử Ba Cân tiếp ông như hạng thượng khách, vì biết Nguyên An Ninh là một nhà chí sĩ cách mạng, có tâm hồn cao thượng Nhưng ông Ninh vốn là người tự trọng, không làm phiền Ba Cân.
    Nhắc đến những gia đình giàu lớn, các đại điền chủ, người Cộng Sản luôn luôn kết án là những kẻ bóc lột xương máu dân lao động Nhưng bản thân các cán bộ Cộng Sản trong thời kháng chiến chống Pháp, thường tìm đến các nhà giàu để ăn chực, xin món này vật kia mà chúng tôi từng chứng kiến,. nên biết rõ tâm địa bọn chúng. Không phải hạng nhà giàu nào cũng là trọc phú, bất nhơn cả . Tôi được nghe nhà văn Xuân Vũ kể lại một đai điền chủ ở làng Hương Mỹ , quân Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, là ông hội đồng Nhơn, một nhà giàu hào sảng, nhơn đức. Nhà của ông như những dinh cơ hàng mấy cái liên tiếp, chẳng khác nào dinh thự của Phó vương Hoàng Cao Khải ở Thái Hà Ấp. Ông tên thật là Đoàn Hưng Nhơn, giàu tiền bạc lẫn nhơn nghĩa. Có lần ông bán nguyên một ghe chài lúa (khoảng 7 tới 10.000 giạ cho làng sở tại cất trường học vì thấy ngôi trường hiện hữu xập xệ quá . Ông còn lập ra từ đường họ Đoàn (nhà thờ họ). Tất cả những ai họ Đoàn, không phân biệt giàu nghèo, có thể tới đó dự lễ cùng họ chung, cùng nhau ăn uống thân mật như người trong một đại gia đình. Đến khi người trong ho Đoàn mất, cứ đem bài vị đến thờ trong từ đường, có người lo hương khói, cúng giỗ. Ông hội đồng Nhơn thứ tư, có bà chị ruột thứ hai, là bà Đoàn Thị Quá. Bà Quá có cô con gái thứ năm, gả cho cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
    Nói về cuộc dời ngoại hạng của ông hội đồng Trạch, chúng tôi có viết trong “Nam Kỳ Lục Tỉnh, tập I”, xin miễn kể lại. Hồi đó, các công tử thường hay kình chống nhau nhưng không ra mặt. Rừng nào cọp nấy. Hắc công tử Ba Qui nắm quyền kiểm soát các trà đình tửu điếm miền Tây. Các khách sạn Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu phải nghe lịnh câu Ba Qui. Riêng cậu Tư Phước George làm chúa ở Mỹ Tho. Lịnh cậu ban ra, các nhà hàng khách sạn phải tuân răm rắp. Còn Sài Gòn là đất dụng võ chung.. Tuy vậy, cả hai công tử đều có chung một phong cách mã thượng, coi thường tiền bạc, không ghen tương vì gái đẹp dù người đó là huê khôi Ba Trà.
    Một hôm chiếc xe Fiat sport của cậu Tư Phước George vừa thắng cái “két” trước khách sạn Hôtel de L’ouest Cần Thơ, rồi cậu Tư ung dung dẫn cô Ba Trà, y phục như một bà hoàng, bệ vệ bước vào khách san. Con nít, người buôn bán quanh chợ đều trố mắt nhìn cặp tình nhơn vương giả ấy với ánh mắt thèm thuồng. Chỉ nửa giờ sau, chiếc xe sport Alfa Roméo 8 máy của câu Ba Qui, cũng đỗ xịch kế bên. Hôm ấy câu Ba Qui mặc đồ thể thao, kiếng mát gọng đồi mồi Hà Tiên, cổ quàng khăn lông, thứ hảo hạng mà người Pháp hay sử dụng trong nhà tắm, mình mặc áo thun loại mắc tiền. Chiếc xe vừa ngừng, tài xế vôi vàng mở cửa, và đứng im trong thế chào kính. Công tử Ba Qui cặp nách cái nón nỉ, bệ vệ xuống xe đi thẳng lên lầu. Vừa gõ cửa, cậu Tư biết ý, liền mở ra, tươi cười chào xã giao bằng tiếng Pháp:
  • Bonjour toi!
    Cả hai, cậu Tư và cô Ba Trà tươi cười bắt tay cậu Ba Qui không tỏ vẻ ngượng ngùng hay khó chịu gì cả. Quý tộc ăn chơi có khác Sau đó cả ba được mời đến một phòng sang trọng dành sẵn để dùng cơm. Cơm xong, họ đánh bài tại phòng ngủ. Cứ mỗi lần cậu Ba Qui hay cậu Tư Phước George thua, thì chung tiền đủ cho cô Ba Trà. nhưng trái lại, khi cô Ba thua thì kề má ra cho các cậu hun. Thế là huề. Chuyện du lịch lục tỉnh lần đó đem lại cho cô Ba gần 10.000 đồng.
    Sau đó những lần cậu Ba Qui lên Sài Gòn đều dắt cô Ba Trà đi ăn uống, đi mua sắm những món nữ trang đắt giá, những son phấn thượng hảo hạng không bao giờ tiếc của. Thuở đó nhà cô Ba Trà chính là “một cung dành cho công chúa”. Sau này cô có lập “nguyệt tiên cung” để đón những khách đa tình nhưng phải giàu tiền. Những khách vãng lai lúc đó thường là những tay chơi thượng lưu, những người có máu mặt như luật sư Dương Văn Giáo, có vợ đầm, nhưng ăn chơi lịch lãm, ông toà Trần Văn Tỷ, một thanh niên hào hoa, thầy Sáu Ngọ, vua cờ bạc, ông bác sĩ Lê Quang Trinh, và các công tử vừa kể đoạn trên. Có một điều lạ, ít khi cô Ba đi chơi lẻ với một người. Lúc nào cô cũng đi ăn, đi coi hát, đi đánh bạc cặp kè với nhiều người cùng một lúc . Có lần cô đi coi hát Cải lương với ông toà Tỷ, bác sĩ Trinh và thầy Sáu Ngọ. Còn đi ăn nay với chủ nhà hàng nầy, mai ông bá hộ kia.
    Nhắc về cá tính Hắc công tử Ba Qui, chúng tôi được nghe kể:
    “Thân hình cậu Ba Qui to con, tướng vạm vỡ, da ngăm đen nên có biệt danh Hắc công tử để phân biệt với cậu Tư da trắng trẻo Mỗi lần ngồi lên chiếc xe du lịch 8 máy cậu Ba cầm lái, xả hết tốc lực, không cho bất cứ chiếc xe nào qua mặt. Tài xế của cậu cũng phải biết ý cậu, nếu không, mất việc như chơi . Khi xe đang chạy thấy thấp thoáng trước mắt có chiếc xe nào phải rượt qua mặt chiếc xe đó cậu mới nghe. Có một lần trên đường từ Mỹ Tho về bắc Mỹ Thuận, tài xế xe cậu Ba Qui, vì tránh ổ gà, ép vô lề để một chiếcc xe Sport khác qua mặt. Lần đó khi tới Cần Thơ, cậu kêu tài xế đến, cho 200 đồng rồi biểu “đi kiếm chỗ khác làm ăn”
    Cũng như cậu Tư Phước George, cậu Ba Qui là một tay nhảy đầm rất có hạng. Các vũ trường thanh lịch hồi đó đều nể mặt cậu Ba vì sự ăn xài như một nhà quý tộc vương giả của cậu. Mỗi khi câu hết tiền, sai người cận vệ ra chành lúa lấy tiền trước trị giá bằng một hai ghe chài, đem về cho cậu. Mặc dầu cậu phong lưu, ăn xài sang trọng nhưng cũng không che giấu được cốt cách của một người ít học. Cậu thường gọi gia nhơn, bồi bếp, tôi tớ, võ sĩ bằng “mầy”, “bây” và xưng “tao” với bon họ. Vào sòng bạc, lúc nào cậu cũng chơi trội. Tiền đặt một tụ bài, cậu “ngắt ngang xấp bạc” không cần đếm. Mỗi lần nhà cái chung tiền, phải đếm giùm cậu Một tụ bài, cậu đặt năm ba ngàn là chuyện thường.
    Nếu phải so sánh hai công tử tiêu biểu của Nam Kỳ lúc bấy giờ, người ta thường cho câu Tư Phước George là người có tư cách quý phái hơn vì cậu từng sống ở Pháp nhiều năm, ăn chơi kiểu các ông hoàng bà chúa Âu Châu. Còn cậu Ba Qui, tuy cũng có xuất ngoại qua Pháp, qua Nhựt nhưng chỉ đi du lịch trong thời gian ngắn mà thôi.
    Theo lời cụ Nguyên Văn Vực kể lại rằng Thống Đốc Nam Kỳ Cognacq là một người rất hống hách, nhưng phải hạ mình cầu thân với ông Hội đồng Trạch và ông Quách Đàm. Có lần trong buổi tiệc vui miệng, Cognacq kêu ông hội đồng Trạch bằng “papa”. Hai ông hội đồng Trạch và Quách Đàm thường ra vô dinh Thống Đốc như đi chợ. Một lần, để lấy lòng hội đồng Trạch, Cognacq đề nghị tặng ông hội đồng Trạch “Bắc đầu bội tinh” là huy chương danh dự nhất của Pháp. Đề nghị ấy ra đến Toàn quyền Hà Nội là Merlin, bác bỏ với lý do:
  • Thằng Chệt này có công trạng gì mà tặng “Bắc đẩu bội tinh” hạng nhứt?
    Nghe được thái độ trịch thượng ấy, Hội đồng Trạch nhứt đinh trả thù, bằng cách trục Merlin ra khỏi chức Toàn quyền Đông Dương. Lần đó, hội đồng Trạch thuê nguyên một chiếc tàu khách hạng sang chạy đường Sài Gòn- Marseille giá 60 000 đồng, chở theo nhiều tặng vật quý giá (đồ cổ) để tặng các bạn dân biểu, nghị sĩ của ông bên Pháp. Chính các ông nghị ấy vận động quốc hội Pháp hạ bệ Toàn quyền Merlin, làm cho hội đồng Trạch mát ruột. Lần đó cậu Ba Qui tháp tùng qua Pháp chơi hết ba tháng. Về sau nghe đâu câu Ba Qui có du lịch Nhựt Bổn, ăn ở tại những khách sạn sang trọng như quý tộc, nhưng dường như người Nhựt không mấy quý trọng đối với một người thờ ơ với việc nước, xài tiền hoang phí như vậy.
    Về sở thích, cậu Tư Phước George thích người vừa đẹp vừa quý phái. Cậu Ba thích các cô gái nửa chợ nửa quê, nhưng có thân hình khêu gợi, hấp dẫn. Vì thế sau khi chán chê người đẹp “Ba Trà”, cậu Ba Qui còn cặp với một cô gái lai khác, đàn em cô Ba Trà, đó là cô Tư Nhị mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong chương sau .

1 hai chữ “rồng lộn và cố đeo” xin độc giả hiểu cho tác giả muốn nói lái.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply