Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 28 Jun 2024

Phần 22                        

Những nhân cách đáng quý

Có bị vào chuồng cọp một thời gian đủ lâu mới có thể hiểu được thực chất của một số người tù cải tạo như thế nào trong hoàn cảnh khó khăn. Thời chiến khi còn phải nhận nhiệm vụ của một phóng viên chiến trường, còn gọi là phóng viên mặt trận, tôi hiểu rất rõ lý do tại sao mà những người lính chiến thường đánh giá những thử thách mà họ phải đương đầu bằng một câu nói: “Có đụng trận thì mới biết ai hay, ai dở và ai hùng ai hèn”. Vào tù cải tạo quan điểm này vẫn còn giá trị. Và quả thật có vào trong tù mới biết trong số anh em ta, không thiếu những kẻ “miệng hùm, gan sứa” và cũng rất nhiều người “miệng sứa, gan hùm”. Chúng tôi dùng động từ “đụng trận” ở trại tù A-20 Xuân Phước để chỉ việc tạo ra những hành động chống đối chế độ hay chống đối nhà tù và do những điều này mà người tù cải tạo bị trừng phạt bằng hình thức cùm hai chân trong xà lim. Khi vào biệt giam rồi, nghĩa là đụng trận rồi va phải đương đầu với chế độ khắt khe về ăn uống, bài tiết thì chỉ vào một vài tháng sau là chúng tôi có thể đánh giá sức chịu đựng của từng người không có gì khó khăn.

N.Đ.Q. một thẩm sát viên CSQG, khi còn ở ngoài trại là một “vua” về “hotnews” mà tin nào anh đưa ra cũng là những tin động trời cả, nghĩa là những tin mà chỉ có tổng bí thư đảng CSVN hay đảng cộng sản Trung Hoa mới biết được mà thôi. Vốn là người đọc sách nhiều và có trí nhớ rất tốt nên trong phòng giam anh là người điểm lại những cuốn sách mà anh đã đọc với một lối kể chuyện khá hấp dẫn. Bị ăng ten báo cáo, rồi bị gọi đi thẩm cung anh bị dẫn thẳng vào xà lim số 1, nhưng chỉ bị cùm một chân. Trong khoảng nửa năm bị cùm, anh vẫn giữ vai trò kể chuyện cho những tù nhân trong các xà lim khác nghe vào lúc đêm khuya dù phải nói thật chậm.

Anh có cái tật là hay thông báo với anh em tình trạng cái cổ chân của anh bị chiếc cùm quá nhỏ làm trầy xát da và bị nhiễm độc. Có một lần anh Q. báo với chúng tôi là chiếc cùm ngày một rộng ra mà thực tế là do chân anh bị teo dần do thiếu ăn và nước uống, cổ chân lại nhỏ đi nhưng anh lại “khôi hài đen” bằng cách nói vòng cùm ở cổ chân mình tự nhiên rộng ra. Khi loan báo tin này vào khoản nửa khuya, anh không ngờ tên vệ binh súng dài đi tuần ở ngoài nghe thấy la toáng lên: “A, ghê thật, tụi bây tính phá cùm trốn trại phải không? Chờ đấy (chửi thề)…ông đi lấy khóa mở cửa để cho mày cái cùm nhỏ hơn”.

Chỉ dọa vậy thôi, chứ chúng tôi biết vào giờ đó, dễ dầu gì có thể yêu cầu trực trại mở cổng khu biệt giam. Tuy nhiên, sáng hôm sau khi trực trại Luật mở cửa các xà lim điểm số, anh ta sai trật tự choàng thêm một vòng cùm khác ở chân bên trái của Q. và từ sáng hôm đó cho đến một tháng sau anh “thưởng thức” chế độ 2 muỗng cơm, 2 muỗng nước và 2 muỗng nước muối.  Nhưng cái đáng quý ở N.Đ.Q. là buổi trưa anh bị trại trưởng gọi ra để thẩm cung. Khi bị dẫn lại vào biệt giam trại trưởng hỏi: “Thế anh đã chừa chưa?” Q. hỏi lại: “Chừa gì cán bộ?” “Chừa cái thói bố láo, nói xấu nhà nước” trại trưởng Lê Đồng Vũ “phán” như vậy với cái giọng xấc xược. Q. cũng không vừa, anh chậm rãi giải thích với giọng còn nặng quê hương  bình Định: “Tôi chỉ báo cho những anh em tình trạng như tôi tin mừng là cổ chân tôi teo lại vì được tẩm bổ quá đáng chứ có gì mà bảo tôi nói xấu chế độ?” Lê Đồng Vũ nổi đóa: “Tôi cắt lưỡi anh bây giờ, vào đây mà còn bẻ gậy chống trời. Cứ nằm đấy nghỉ mát, sức anh còn khỏe lắm đấy”. Cái thói mỉa mai của Lê Đồng Vũ luôn là như thế nhưng điều mà tôi phục N.Đ.Q. là anh luôn nói thẳng: “Đâu có sao cán bộ, nằm đây thì khỏi phải lao động thôi”. Quả thật không vào biệt giam, không bị thử thách thì cũng khó xét đoán được tư chất một con người. Biệt giam là cái thế giới đặc biệt, nơi con người bị tước bỏ tất cả mọi thứ một cách dễ dàng kể cả quyền sống. Họa chăng người tù cải tạo chỉ còn giữ lại được nhân cách. Nếu đánh mất nhân cách trong hoàn cảnh này, người tù ấy chỉ còn là cái xác chết chưa kịp chôn mà thôi.

Người ở biệt giam số 4 ngay sát xà lim tôi nằm là một tu sĩ Công Giáo còn rất trẻ tên là Nguyễn Luân. Ngài được thụ phong linh mục năm 1973 lúc mới ngoài 30. Theo chính lời vị tu sĩ này, đang làm việc đạo tại giáo phận Phan Thiết cho đến một năm sau ngày 30 tháng 4, 1975 thì ngài bị bắt vì một đơn tố cáo ngài có liên hệ trong vụ nhà thờ Vinh Sơn. Đầu tiên, vẫn theo lời vị thừa sai trẻ tuổi, chính quyền địa phương không điều tra gì về lời tố cáo trên và đưa ngài vào một trại tù ở Sông Mao, sau đó họ đua ngài lên biệt giam ở khu biệt giam Phân trại B của trại A-20. Năm 1980 ngài bị đưa vào xà lim 4 khu biệt giam của Phân Trại E thuộc trại A-20 trước khi tôi bị đẩy vào xà lim số 5.

Trong suốt thời gian hơn 4 năm trong xà lim ở phân trại E tôi liên lạc với linh mục Luân hằng ngày. Sức khỏe ngài rất kém vì bị suyễn nặng. Thuốc suyễn của gia đình gởi vào cho ngài qua đường bưu điện bị giữ lại ở bịnh xá trại. Mỗi lần ngài lên cơn suyễn nghiêm trọng, tôi và một vài anh em khác thường phải đập cửa báo cáo cấp cứu giùm vì ngài không còn sức kêu cứu. Nếu may mắn viên trung úy y sĩ trưởng bịnh xá đi tìm trực trại để mở cửa bịnh xá thì linh mục Luân còn nhận được thuốc suyễn, nếu không thì ngài đành chịu trận cho tới giờ phát cơm chiều. Nhưng nếu phải kêu cấp cứu vào ban đêm thì vô phương. Mỗi lần như thế khi cửa biệt giam 4 được mở ra, chúng tôi có thể nghe thấy hơi thở ngài khò khè, nghẹn tắc như một con gà bị cắt tiết.

Đau, nhục, bất lực nhận chìm chúng tôi trong những cái chuồng nhỏ trong rừng sâu mà thế giới bên ngoài vào lúc đó không hề biết tới. Tôi có cảm tưởng bọn cai tù thích nhìn thấy người tu sĩ trẻ tuổi bị hành hạ vì căn bịnh nan y của ngài và chúng góp thêm vào sự hành hạ của bệnh tật bằng cách giữ lại thuốc của gia đình người tù gởi vào và chỉ cấp nhỏ giọt cho người tù mang bịnh kinh niên như linh mục Luân. Ngoài ra những căn xà lim ẩm thấp, thiếu vệ sinh như biệt giam ở trại A-20 là những thứ vũ khí dễ lấy đi mạng sống của những người bị bệnh về đường hô hấp. Ấy vậy mà mỗi khi trại trưởng Lê Đồng Vũ vào kiểm tra khu biệt giam, hắn luôn dùng lời chế diễu tình hình sức khỏe ngày một tồi tệ nơi ngài. Vũ thường mỉa mai:

_Thế nào anh Luân, mọi chuyện giấu diếm của anh đều ổn thỏa cả chứ, nhưng trông anh còn khỏe lắm, phải khỏe thôi anh ạ vì anh còn nằm ở đây lâu đấy!

Những lần như thế chúng tôi có cảm tưởng rằng Linh mục Luân bỗng như đến từ một thế giới khác. Giọng của ngài không còn thều thào, khan khan do đờm và nước dãi lúc nào cũng đầy trong cổ họng. Ngài trả lời gọn gàng, dứt khoát không giận giữ, nhưng cũng không sợ hãi:

_Thưa cán bộ, ông nói quá đấy thôi. Nhưng so với các ông và với chế độ này, anh em chúng tôi lúc nào cũng mạnh. Bởi vì nếu chúng tôi không mạnh thì các ông đâu có sợ mà phải nhốt chúng tôi như thế này. Chính các ông mới là người yếu và lúc nào cũng sợ hãi chứ không phải chúng tôi!

Trước con người “mạnh ở cái đầu” như linh mục Luân viên trại trưởng Lê Đồng Vũ chỉ còn cách trừng phạt ngài bằng cách không cho trật tự mang đi đổ cái thùng cầu trong buồng giam đã quá đầy và đã tràn ra ngoài. Vào cuối mùa Hè 1983, linh mục Nguyễn Luân vướng phải bệnh kiết lỵ. Thuốc của bệnh xá chỉ là Xuyên Tâm Liên hay vỏ măng cụt, lá ổi, tất không thể ngăn vị tu sỉ trẻ này bắt đầu đi tiêu ra máu. Tất cả các phòng biệt giam không ai có thuốc ngoại trừ Đ.B.P. một trong những cựu Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù (Anh vào biệt giam sau tôi một năm rưởi vì bị ăng-ten báo cáo chuẩn bị trốn trại và kích động tù cải tạo nổi loạn, tổ chức hát tù ca). P. bị biệt giam ở xà lim 9, một xà lim mà theo lời linh mục Nguyễn Văn Vàng lúc đó nằm ở xà lim 10 cho biết từ trước đến nay chưa có “khách trọ”. Khi tôi liên lạc thì P. cho biết “thuốc” anh giấu trong hậu môn không hẳn là thuốc mà là những miếng bông nhỏ vo tròn bằng đầu đũa, có tẩm cặn của những chai thuốc Streptomycine trị lao phổi mà anh xin được của bệnh xá thời gian trước khi bị biệt giam. Sau này khi gặp lại nhau ở Mỹ, P. nói với tôi: “Mày biết rồi, trước khi vào biệt giam, chúng khám người rất kỹ, năn từng gấu áo, nhưng tao có một cách giấu tối tân hơn . Đó là giấu ở trong hậu môn. Mấy viên bông tẩm Streptomycine đó, tao gói lại bằng bao nhựa chỉ lớn bằng đầu đũa, thấm một chút nước bọt là có thể đưa vào trong hậu môn dễ dàng. Khi đi cầu thì lấy ra bình thường thì lại nhét vô, chẳng chết thằng tây nào đâu. Khi bị thẩm cung sang đến ngày thứ hai, tao đoán thế nào chúng cũng nhốt mình vào biệt giam nên chuẩn bị trước”.

Nhưng tại sao Streptomycine lại có thể ngăn được đi tiêu ra máu thì chính chúng tôi cũng không hiểu. Hồi ở trại Hàm tân Z-30C, bác sĩ L.T. Dung đã chỉ mánh này và khi đến các trại khác gặp một số bạn đồng tù đã trải qua việc dùng cách nói trên nên mách bảo lại. Chính tôi cũng đã dung một vài lần ở Hàm Tân và thấy nó hiệu quả. Dĩ nhiên, đây là phương thức không được y khoa công nhận, nhưng vào những lúc như thế thì cần gì y khoa công nhận chứ? Làm sao sống sót cái đã, phản ứng phụ hay hậu quả tính sau. Nhưng làm cách nào bạn tôi Đ.B.P. có thể chuyển thuốc cho linh mục Luân được? Từ 4 đến 9 cách nhau tới 5 xà lim, một đoạn đường quá xa!

Ngồi ôm trán tôi nhớ lại thời gian nằm biệt giam ở khu ED nhà tù Chí Hòa khi bị đưa về từ biệt giam trại   B-5 tân Hiệp, Biên Hòa năm 1976. Thời gian đó tôi chứng kiến được cảnh tiếp tế thuốc lào của một vài người tù hình sự cho một số tù chính trị bị nhốt tại các phòng biệt giam tập thể gồm từng nhóm 2 hay 3 người trong cùng một phòng. Biệt giam ở nhà tù Chí Hòa thì không bị cùm chân ngoại trừ những tù phạm tôi giết người. Những thành phần này bị nhốt riêng và chân luôn được xích với một quả tạ nặng khoảng 500 pounds hoặc những thành phần tù chính trị, tù cải tạo bị “theo dõi đặc biệt”. Kỹ thuật chuyển tiếp tế giữa các phòng biệt giam với nhau không có gì khó khăn cả. Cái khó khăn duy nhất là cần có vật liệu để làm dụng cụ: một vật gì đó nhỏ nhưng đủ nặng và những sợi dây nhỏ cũng phải bền. Người ở nơi gởi dung sợi dây đủ dài, một đầu buộc vào vật nặng cùng món hàng muốn gởi đi thật chắc chắn, bởi vì một khi “hàng” tuột khỏi dây văng ra trên hành lang bọn cai tù kiểm soát cứ hai giờ một lần thấy hàng gởi năm lăn lóc trên mặt sàn hành lang sẽ làm toáng lên và truy ra cho bằng được thủ phạm bằng cách đánh đập, tra tấn những thành phần khả nghi, nên có khi cả khu biệt giam bị vạ lây. Ngoài ra, người gởi phải có con mắt ước tính tương đối chính xác để khi thò tay ra cửa tò vò ném món hàng đi thì nó phải đáp xuống ngay trước cửa xà lim nơi nhận trong khi nó vẫn được nối liền với sợi dây dài từ nơi gởi. Người nhận cũng sẽ dùng một sợi dây tương tự buộc chặt với một vật đủ nặng. Do không bị cùm chân nên người nhận dung mắt quan sát qua cửa tò vò và có thể định được vị trí món hàng mình muốn nhận. Người nhận sẽ quăng sợi dây sao cho vật nặng ở đầu dây rơi xuống nằm chéo với sợi dây gởi hàng. Anh ta phải khéo léo kéo từ từ để cho hai vật nặng ở hai đầu dây mắc vào nhau và phải kéo vào sát cửa rồi mới kéo nâng lên cửa tò vò. Cách chuyển hàng như vậy không phải dễ thành công, phải làm năm lần bảy lượt may ra mới đạt mục tiêu.

Cho nên suốt thời gian hơn một năm nằm biệt giam ở Chí Hòa hàng ngày tôi chứng kiến và nghe những thuật ngữ pháo binh như: “Hai tràng đạn khói” (hai bi thuốc lào), “Hai tràng đạn nổ” (hai tán đường), “Nhận 5” (biết rồi, sẵn sàng), “Kiểm soát mục tiêu” (thành công hay thất bại để bên gởi kéo dây về hay phải gởi lại). Nhưng cũng có trường hợp đám cai tù lặng lẽ đi rón rén vào hành lang khu biệt giam ngồi rình. Khi người gởi vừa nói “đạn đi” thì tên cai tù nhón ngay món hàng và lần theo sợi dây đến xà lim người nhận và hét tướng lên: “Hai tràng đạn nổ hả, ông sẽ cho mày hai cục đạn 500 kí lô xem mày có đi được không nào”. Thế là sợi dây xích khóa cửa xà lim kêu lên loảng xoảng. Cả người gởi lẫn người nhận bị ăn một trận đòn thừa sống thiếu chết và hai chân phải mang hai cục sắt nặng 500 kí lô với sợi dây xích ngắn ngủn. Đó là ở biệt giam Chí Hòa. Còn ở biệt giam A-2 việc tiếp tế “thuốc” kiết lỵ cho linh mục Luân khó khăn gấp nhiều lần. Tại sao?


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply