Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 30 May 2024

Phần XII

Tình Người Nơi Chốn Không Cùng

Có nhiều người đã hỏi tôi là lý do nào, động cơ nào đã giúp cho tôi sống sót được sau bao nhiêu là năm tháng trong muôn vàn khó khăn thiếu thốn và đầy ải khổ nhục trong ngục tù?

Câu hỏi đó tôi không thể nào diễn tả lại được thật đầy đủ trong một câu trả lời bởi vì không phải chỉ có một lý do, một động cơ, mà có rất nhiều yếu tố đã giúp cho những người tù có thể tồn tại. Chính ngay những người tù khi bước chân ra khỏi trại giam thì họ cũng tự hỏi và phân vân tại sao mình vẫn còn sống sót được?

Trong những yếu tố căn bản cần phải nêu lên thì gia đình bao gồm vợ con, Bố Mẹ, anh chị em, họ hàng đã cưu mang, đến thăm, tiếp tế các nhu yếu phẩm và thuốc men tiền bạc cho họ trong tù là vô cùng quan trọng.

Ngoài ra, những lời nguyện cầu của gia đình và của chính họ hằng đêm cũng thấu đến Trời Xanh và Ơn Trên, Trời Phật đã nhủ lòng thương và ban phép lành cứu vớt những con người cùng cực trong lưu đầy đó và ban cho họ một nghị lực và một sức chịu đựng phi thường để vượt qua được những cơn phong ba bão táp tưởng nhiều lần đã vùi chôn cuộc đời họ trong bốn bức tường trại giam.

Nhưng có một yếu tố rất nhân bản đã giúp cho những người tù thêm sức mạnh trong cái chốn không cùng ấy chính là Tình Người với hai chữ viết hoa.

Trong một nơi chốn mà chỉ thấy toàn chết chóc, bệnh tật, khổ ải như một địa ngục, nơi mà con người không có quyền được sống như một con người hay còn thua một con vật thì Tình Người trong đó là Tình Bạn nở ra lung linh như giọt sương ban mai và tỏa sáng như cành Hoa Sen giữa chốn bùn lầy.

Tình Người mà trong đó là tình đồng đội, là tình anh em chiến hữu đồng cam cộng khổ trong cảnh tù tội, là tình bạn chia sẻ với nhau từng hạt muối, từng điếu thuốc lá thuốc lào trong những ngày Đông băng giá, chia sẻ những giọt mồ hôi nhọc nhằn của những tháng năm lưu đầy và lao động cưỡng bức trong một môi trường phi nhân tính.

Càng ở lâu trong tù thì cái Tình Người, tình bạn ấy lại càng thắm thiết và gắn bó, càng nương tựa vào nhau và đem cho nhau thêm sức mạnh.

Chúng tôi vẫn thường nói với nhau rằng vợ chồng trước kia cũng không ở với nhau mỗi ngày hai mươi bốn tiếng và một tuần bẩy ngày như thời gian chúng tôi trong trại giam được.

Trong những năm đầu lưu đầy trên xứ Bắc với một năm chỉ hai bộ quần áo tù và đôi dép râu cho lao động, chúng tôi đã phải tự kiếm cho mình một đôi guốc mộc, phải nói là nhờ vào các anh trong đội Mộc rất nhiều mới cung cấp đủ guốc và sau đó hầu như ai cũng có một đôi.

Một hôm, tôi đang đi đôi guốc trên hàng hiên bước xuống sân thì trặc chân một cái và bị bong gân, bàn chân bên phải sưng vù lên một cách nhanh chóng và không biết phải làm sao thì anh Trung, Đại Úy Cảnh Sát Đặc Biệt và đệ tam đẳng huyền đai Thái Cực Đạo đã lại bên cạnh dìu tôi vào chỗ nằm và chữa cho tôi. Anh nói phải ráng nhịn đau thì mới chữa được nếu không để đến ngày mai thì chỉ có nước lết đi thôi.

Tôi bám chặt hai song sắt chịu đau và nhờ anh nắn lại ngay chỗ gân bị bong, tôi thấy đau thấu xương luôn nhưng khoảng chỉ mười phút thôi là thấy chỗ sưng từ từ xẹp xuống thật là hiệu quả nhanh chóng và mấy ngày sau thì tôi đi lại được như thường.

Sau đó thì tôi quen thân với anh và lại càng cảm thương cho anh hơn khi biết người vợ mới cưới của anh trước khi anh đi tù đã bước thêm bước nữa. Tuy vậy anh vẫn luôn vui cười với mọi người và hòa đồng với anh em và được mọi người thương mến.

Trong trại tôi ở có hai anh là huấn luyện viên về Thái Cực Đạo cho Cảnh Sát Quốc Gia và đều là đệ tam đẳng huyền đai là anh Trung và anh Xuân, không kể thầy Khuê là đệ tam đẳng Nhu Đạo của võ đường Quang Trung.

Tuy nhiên hành động anh tình nguyện đứng ra cứu giúp ông nguyên viện trưởng viện đại học Cần Thơ là Nguyễn Duy Xuân mới làm cho tôi cảm phục anh nhiều hơn.

Trong ba năm đầu thì ông Xuân tương đối khỏe mạnh và khi đó không hiểu sao lại ông lại thích mặc áo quần mầu đà như những tu sĩ tại gia, có thể lòng ông đã hướng về sự tu hành rồi, nhưng mỗi buổi sáng ông thường rất siêng năng luyện tập thể dục đều đặn.

Ít lâu sau, ông có triệu chứng ăn không tiêu hóa được và nhờ có gia đình vợ con ở bên Pháp gửi về thuốc lọc máu vì nghĩ rằng trong tù ăn uống không được vệ sinh. Lúc đó sức khỏe tôi không khá nên ông Xuân có bảo tôi lấy vài gói về uống thử xem sao. Tôi từ chối vì ông là người cần thuốc hơn.

Thế rồi ông sụt cân mau lẹ và ăn uống rất là khó khăn và cuối cùng phải khênh xuống bệnh xá trong trại lúc ấy có bác sĩ Trương Như Quýnh trước kia tôi nghe nói ông làm việc tại bệnh viện Sàigòn, và anh Đại Tá Đức, trước thuộc lực lượng Đặc Biệt, trông nom.

BS Quýnh là anh của Trương Như Tản trong Mặt Trận Giải Phóng và sau 1975 khi chiếm xong miền Nam thì Bắc Việt trở mặt và loại bỏ các người có công trong Mặt Trận và Thành Đồng trở thành Đồng Nát.

Vì vậy Trương Như Tản đã phải bỏ nước trốn đi và tố cáo Hà Nội đã diệt trừ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau khi đạt được chiến thắng.

Sau cả sáu tháng trời ông Xuân được điều trị tại bệnh xá và đưa ra thị trấn chẩn bệnh thì BS Quýnh một hôm nói nhỏ với tôi và anh Triệu Huỳnh Võ là ông Xuân bị cancer bao tử. Cả hai đứa tôi đều bàng hoàng khi nghe tin ấy vì ông Xuân rất là trí thức, hiền hòa và dễ mến không ngờ lại mắc phải chứng bệnh quái ác này.

Ông Quýnh nhìn chúng tôi lắc đầu nhưng vần đề ở đây là cần phải có một người túc trực bên ông Xuân vì ông Xuân không còn khả năng tự ăn cháo hay uống nước được nữa.

Khi đó thì anh Trung xuất hiện và anh tình nguyện xin xuống bệnh xá để tự tay chăm sóc cho ông Xuân những tháng ngày cuối đời.

Anh Võ, trước kia là Thứ Trưởng Bộ Thông Tin VNCH, và tôi rất là thân nhau và mỗi buổi chiều sau giờ lao động về trại thì vội vàng ăn qua loa để xuống thăm ông Xuân cho kịp trước giờ kẻng đánh vào buồng.

Khi ông Xuân còn tương đối tỉnh táo thì ông thường hay hỏi tôi về thời sự bên ngoài và về việc Mỹ can thiệp thả tù nhân có hay không?

Tôi cố tóm lược một số tin quan trọng lien quan đến vấn đề này cho ông nghe là mọi việc đang tiến triển tốt nhưng trong lòng lại nghĩ rằng có lẽ khi nó đến thì đã quá trễ rồi vì bệnh của ông đang phát ra rất nhanh.

Ông nắm tay tôi và nói:

-“Anh hãy nhớ rằng mai mốt có người bạn của anh nằm trên ngọn đồi ngoài kia nhe!”.

Tôi vội quay mặt chỗ khác để ngăn sự xúc động và cố an ủi ông:

-“Ông viện trưởng đừng quá bi quan, BS Quýnh của mình rất là giỏi và sẽ cố chữa cho ông mà, đừng lo.”

Thực ra thì ngay ngoài đời cũng còn bó tay với căn bệnh này, huống chi trong trại giam thiếu đủ thứ thuốc men và phương tiện.

-“Sao anh cứ gọi tôi là viện trưởng vậy?”

-“Chúng ta mất hết cả rồi nhưng cái học thức của mình thì không mất.”

Từ khi anh Trung xuống bệnh xá thì ông Xuân vui hẳn lên và tinh thần cũng phấn chấn hơn nhưng chẳng ai thoát khỏi Định Mệnh.

Lúc đầu anh Trung còn đút cho ăn được vài thìa cháo, sau thì BS Quýnh nói rằng nó đã di căn từ bao tử lên chẹt lấy cổ họng rồi nên ông Xuân phải khó khăn lắm mới nhấp được vài giọt nước cầm hơi.

Một hôm khi tôi và anh Võ xuống đến nơi thì tôi không cầm được nước mắt nữa vì nhìn ông Xuân chỉ còn đúng là một bộ xương và cái đầu chỉ còn là một cái sọ người không hơn kém. Nếu không có cái môi trên còn mấp máy một chút thì đó là một bộ xương của người đã chết rồi mà thôi.

Tôi và anh Võ lại nói chuyện một lát với BS Quýnh và anh Đức rồi vội về buồng.

Anh Đức tại bệnh xá một hôm kể cho tôi nghe về Mẹ của anh cũng bị cancer ruột trước năm 1975 và chỉ còn nằm chờ ngày ra đi mà thôi nhưng cụ vẫn kiên tâm hàng đêm niệm Phật và cầu nguyện Đức Phật Bà Quán Thế Âm.

Thế rồi một buổi tối khi đang ngủ thì Mẹ anh nằm mơ thấy Phật Bà hiện về sáng một góc trên Trời và Ngài rưới bình nước Cam Lồ xuống đúng vào miệng của Mẹ anh và Mẹ anh uống được một hớp nước thánh ấy.

Ngày hôm sau cụ tự nhiên thấy trong người khỏe lại và đòi ăn cháo rồi ăn cơm và dần dần bình phục hoàn toàn trước con mắt kinh ngạc của vị bác sĩ điều trị cho cụ. Anh nói rằng chính là Mẹ anh đã khỏi bệnh một cách diệu kỳ như vậy cho nên anh mới tin và theo đạo Phật, nhưng anh không biết cụ đã khấn nguyện những gì, nếu biết thì anh sẽ khấn cho ông Xuân.

Chỉ vài ngày sau thì ông Xuân qua đời đúng vào ngày Quốc Tế Nhân Quyền. Hôm đó là một ngày mùa Đông tiết trời ảm đạm mây xám giăng mắc đầy trời, gió Bấc thổi từng cơn lạnh buốt qua ngọn cây và lùa vào trong buồng giam.

Có lẽ ông Trời cũng thương cảm và tiếc nuối cho một nhân tài của đất nước vừa nằm xuống.

Bệnh xá đã đề nghị nhiều lần khi ông Xuân mới phát hiện ra bệnh xin cho về nhà để mau ra thì kéo dài thời gian gặp đựợc vợ con nhưng các đơn xin đó đều bị bác.

Chính tôi cũng không hiểu sao họ ác độc đến độ không cho ông về nhà một thời gian để được chết bên cạnh người thân.

Ông trước kia chỉ là viện trưởng đại học và dù có tham gia vào Nội các cuối cùng của Dương Văn Minh đi chăng nữa thì ông cũng đâu có làm gì đến độ Cộng Sản họ phải căm thù mà nhất định không tha ông trong những ngày ông lâm trọng bệnh cuối đời?

Điều mà tôi rất khâm phục ở ông viện trưởng là khi biết mình mang trong người căn bệnh nan y của thê kỷ và hết phương thuốc chữa trong tình trạng tù tội nữa thì ông Xuân rất là bình tĩnh và sống với một thái độ can đảm chấp nhận chứ không than thân trách phận hay lộ vẻ bi quan.

Ngay cả khi căn bệnh phát tác dữ dội và di căn lên chẹt ngang cổ họng gây khó thở, bao nhiêu là đau đớn, và không uống được dù là chỉ vài giọt nước thì ông vẫn bình thản đón chờ thần chết đang dần đến bên giường.

Anh Trung sau mấy tháng trời thức đêm thức hôm trông coi người bệnh thì người sút giảm trông thấy, nhưng anh vẫn gắng gượng cười nói chuyện với các bạn xuống thăm ông Xuân.

Đến khi ông Xuân mất thì anh Trung trở về ở cùng buồng giam với tôi và anh gần như kiệt sức và nhuốm bệnh. Tôi thấy buổi tối anh tìm cách xông hơi để ra bớt chất độc trong người nhưng không có phương tiện nên anh phải trùm chăn kín với cây đèn dầu hôi bên trong và ngồi dưới đất trong một góc phòng suốt ba đêm liền thì mới thấy anh tỉnh người ra một chút.

Trước khi chuyển trại thì chúng tôi có dịp đi làm cỏ ngọn đồi nghĩa trang và tôi có dịp tảo mộ và dựng lại tấm bia cho ông Xuân lần chót.

Ngọn đồi này trại không chịu làm hàng rào quanh khu nghĩa trang nên chỉ một thời gian sau là trâu bò qua lại sẽ phá húc đổ hết các mộ bia và dẫm đạp lên cả mộ phần nhưng cũng chẳng mấy ai quan tâm.

Ngày mà tôi được “biên chế” về đội gạch, tôi cũng không ngờ rằng công việc lao động lại quá nặng nề khủng khiếp đến như vậy như vậy, chả trách nào mà đội gạch được coi như đội trừng giới và bên tù chính trị bị kỷ luật xong thì đều thẩy về đội này.

Chỉ sau hai tiếng lao động của ngày đầu tiên thì chúng tôi mới biết thế nào là lao động khổ sai, hầu như ai cũng oải vì toàn thân đau nhừ và trong 15 phút “giải lao” thì đều nằm xõng xoài trên những tấm phên bằng tre nứa để nghỉ mệt.

Tay quản giáo đầu tiên đi qua nhìn chúng tôi rồi nửa đùa nửa thật:

-“Sao đã rã xương ra chưa?”

Tụi tôi vì quá mệt nên cũng chẳng ai buồn lên tiếng.

Khi con người ta gập phải những gian nan và hoạn nạn thì hầu như ông Trời cũng hé mở cho con người ta một con đường sống.

Trong những ngày tháng đầu tiên làm gạch, từ xúc đất sét chở về khu sản xuất của đội bằng xe cải tiến, đến đạp bằng chân trần những cục đất sét cứng như đá cho nó mềm ra để sang mai đánh chúng thành những bánh, rối cắt chở vào cái máy cũ kỹ cho ra từng viên gạch còn mềm, đem ra phơi nắng, rồi gánh chúng vào lò nung ba ngày đêm thành những cục gạch, tôi cứ nghĩ rằng mình đang làm một công việc quá sức người và chỉ một thời gian ngắn là phải bỏ cuộc.

Nhưng trong hoàn cảnh cực kỳ khó nhọc đó, tình bạn, tình đồng đội xuất hiện như một vì sao chợt sáng chói trên vòm trời, vì hình như tất cả anh em trong đội đều cùng một nhận định như vậy và cùng hiểu rằng nếu mình không cùng chung lưng lại làm được thì không có ai phụ giúp mình được cả – và đây là cái giá phải trả cho người thua trận.

Khi ấy anh Võ và tôi đều trong đội gạch, anh ở tổ máy còn tôi tổ đất nhưng không hiểu sao anh rất mến tôi và có gì đặc biệt là có mặt tôi.

Khi mới được thăm nuôi thì anh Võ có ít cà phê và phích đựng nước sôi. Trong đó nhất là vào mùa Đông mà có phích nước nóng thì không còn gì mơ ước hơn.

Mỗi buổi trưa có hai giờ để nghĩ ngơi tại buồng nên khi vừa ăn xong cái bánh bột hấp là khẩu phần ăn trưa thì anh pha một phin cà phê đen với cái vợt pha cà phê tự tạo, và ra dấu cho tôi qua cùng thưởng thức. Các bạn thì đều đang nằm sắp lớp như cá mòi trên ván gỗ để tìm giấc ngủ hầu lấy sức lại cho buổi lao động chiều nên tôi bước nhè nhẹ qua từng người một đến chỗ anh Võ.

Ngồi nhấp ngụm cà phê đầu tiên và khi tôi gật đầu là anh biết hôm đó anh pha ngon. Hai đứa cùng im lặng thưởng thức những giọt cà phê xong không ai nói với ai một tiếng, rồi về tìm giấc ngủ. Tình bạn đơn giản như vậy nhưng thật khó mà quên được.

Ngoài ra, uống trà không ngờ vừa là một thú vui trong tù nhưng cũng đem lại những người bạn cùng hợp “gu” với nhau. Anh Đại Úy Sơn Không Quân, Thiếu Tá quận trưởng “Y-Trong”, ông bầu Ngọc, anh Xuân võ sư, những anh Thiếu Tá Cảnh Sát Đặc Biệt như Huỳnh Thanh Nhơn, Nguyễn Hữu Trân, hay chú Wòng người Tầu, đều là những bạn trà tâm đắc của tôi một thời trong tù.

Uống trà nó có hai cái lợi là giải khát trong mùa Hè và sưởi ấm người trong mùa Đông. Vào mùa Hè, nhiều khi quá khát mà uống bao nhiêu nước cũng không hết khát, hoặc nhiều khi khát quá uống liều cả nước sông có thể gây ra nhiễm trùng đường ruột, nhưng chỉ một vài chung trà nhỏ là hết khát ngay.

Cũng như mùa Đông lạnh lẽo, buổi tối ngày thứ Bẩy ngồi quay quần với nhau ở tầng trên, vì là kín đáo hơn, bên cạnh một ấm trà nóng với vài bi thuốc lào hay vài điếu thuốc lá rồi uống chung trà “móc câu” và nghe buổi văn nghệ bỏ túi thì không còn gì hơn khi ngoài trời gió Bấc vi vu thổi từng cơn qua các hàng cây. Ngoài Bắc họ gọi trà “móc câu” là những đọt trà non xấy lên xoăn lại giống như hình móc câu.

Bởi thế dần dần trà trở thành một thú tiêu khiển của chúng tôi lúc nào không hay, nhưng vẫn không bì được với bên hình sự, họ uống trà với xác trà ngập lên đến một nửa lon guigoz, đắng nghét.

Trở lại với thành phần trong đội thì đa số là các anh cấp Úy còn trẻ tuổi từ trại Thạnh Mỹ Tây trong Nam chuyển ra Bắc theo tầu Sông Hương hay từ Hoàng Liên Sơn và Vĩnh Phú chuyển về, nhưng trong đó lại có vài người lớn tuổi như bác A., trước là Hội Đồng tỉnh, hay một anh nghĩa quân nữa, không hiểu sao cũng bị đưa ra Bắc.

Vì bác A. lớn tuổi nên thường khi ra lao động các anh trong đội vẫn nhường cho bác công việc nhẹ nhất hay nấu nước uống cho đội.

Thời gian ấy thiếu ăn thiếu mặc thiếu cả chất đường và muối nữa. Trại cấm tích trữ muối và chỉ thỉnh thoảng họ mới cho một ít “nước chấm”. Tụi tôi tưởng là nước mắm nên cũng mừng nhưng họ là siêu đẳng về môn lừa bịp và lường gạt cho nên “nước chấm” thực chất chỉ là nước muối pha loảng. Vì lao động mất rất nhiều chất muối trong người mà họ không cung cấp muối cho mỗi khẩu phần ăn cho nên nhiều người mới xỉu khi đang lao động tại ngay hiện trường.

Mỗi tháng mỗi tù nhân được cấp cho ba đồng để tiêu vặt, sau khi mua kem đánh răng, sà bông, vài bao thuốc lá hay thuốc lào thì tôi vẫn dư ra được khoảng một đồng. Một hôm bất ngờ trại cho bán bánh nướng và xe của nhà bếp lọc cọc kéo đến bên ngoài cửa sổ của từng buồng để bán, bán chứ không cho.

Bác A. cũng giống như một số anh khác là luôn luôn cạn tiền bởi vì ba đồng bạc đâu có là bao, và trong đội thì bác mến tôi nhất cho nên mỗi lần như thế thì bác lại nhìn tôi và tôi lại ra dấu cho bác cứ mua đi. Các anh em cũng chung lại với nhau để rồi cuối cùng thì ai cũng có một miếng bánh ăn cho vui buổi tối nhất là trong người đang thiếu chất ngọt dù là nó cứng vì làm bằng bột gạo và nhân thì chỉ pha ít bột đậu xanh không thơm ngon và mềm như bánh Trung Thu mà chúng tôi mơ tưởng nhưng cũng ấm lòng đôi chút vào mùa Đông.

Khoảng thời gian làm mẻ gạch để nung đầu tiên thì đầy những khó khăn và cực nhọc nhưng không ai bảo ai chúng tôi cùng nhẫn nhục chịu đựng, cố hết sức nương vào nhau, chia sớt nhọc nhằn để cùng nhau làm xong các chỉ tiêu mà họ giao cho mỗi ngày.

Có những hôm tôi tưởng không còn hơi sức mà lao động nữa nhưng nghĩ đến nếu mình bịnh nghỉ ở nhà thì các bạn mình lại phải gánh thêm một chút trên vai nên lại cố đi cùng với đội ra lao động.

Mỗi người ai cũng quyết tâm như vậy cho nên những mẻ gạch đầu tiên đã ra lò thành công ngoài dự tính cả về số lượng và chất lượng và tay Tự Giác là một anh tù hình sự chung thân và tay quản giáo đội vô cùng mừng rỡ. Quả thật tôi cũng không ngờ rằng các bạn mình trước kia chỉ quen cầm súng nay lại tài giỏi như vậy dù là sức khỏe chẳng còn bao nhiêu. Đúng là thời thế tạo anh hùng.

Tay quản giáo rất trẻ tên Tâm là một người tương đối hiền lành nói rằng trong đội có những anh là kiện tướng về lao động nên mới đạt được thành qủa như vậy, anh ta cũng tỏ ra rất là vì nể những người tù chính trị này cho nên mỗi khi ra chỉ tiêu cho đội thì nói rất là ôn tồn, chứ không có vẻ nghênh ngang như tay quản giáo trước, hay lúc nào cũng la lối như các quản giáo khác bên tù hình sự.

Anh ta cũng còn khen là đội gạch có nhiều anh đẹp trai hơn mấy đội khác nữa làm chúng tôi nhìn nhau mỉm cười không biết y có cà tửng hay không.

Về sau khi ngồi uống trà trong giờ “giải lao” anh ta tâm sự với chúng tôi thì tôi mới hiểu lý do là khi anh về quê thăm cha mẹ thì hai ông bà thân sinh ra anh đều bảo anh phải đối xử tử tế với những người tù chính trị này.

Không những quản giáo vì nể mà ngay cả anh tự giác là chuyên viên về nghề gạch của đội sau một thời gian làm việc chung với chúng tôi cũng tỏ lòng kính trọng và có gì cũng luôn bàn bạc với các anh em có trách nhiệm trong đội chứ không dám chuyên quyền, trong khi các trật tự hay tự giác khác đối với tù hình sự thì họ thẳng tay không thương tiếc đôi lúc chúng tôi cũng bất nhẫn nhưng không thể can thiệp được.

Vào mùa xuân và mùa Thu thì việc lao động tương đối bớt cực khổ một chút nhờ thời tiết mát mẻ. Mùa Hè thì khủng khiếp với cái nóng đến nung người mà phải ở ngoài trời suốt ngày và thỉnh thoảng lại thấy có người xỉu vì trúng nắng. Mùa Đông là mùa chúng tôi sợ nhất vì ngoài cái băng giá mưa phùn gió Bấc là những cục đất sét nó cứng còn hơn đá mà phải rưới nước và dầm nó mềm ra bằng đôi chân trần của mình.

Đội gạch, đội ngói, đội rau xanh, và đội mộc, đội rèn là những đội đã đem lại nguồn lợi nhuận to lớn cho trại, không những đã giúp trại tự túc được về lương thực mà còn dư ra nữa.

Tuy nhiên chúng tôi vẫn chỉ được 15 cân quy ra chất bột mỗi tháng không hơn, thỉnh thoảng thì họ thưởng cho một bát rau muống luộc là hết, tiền dư ra không hề biết họ làm gì.

Họ dùng chữ chất bột, ban đầu tôi cứ nghĩ là gạo nhưng khi họ cấp phát thì toàn là sắn hay miền Nam gọi là khoai mì khô có khi đã mốc meo hay khoai tây nhỏ xíu thứ không bán được giá, hay khi thì bo bo, bánh bột hấp, v.v. thì cũng không ai thắc mắc gì được.

Chính là tình anh em đồng đội đùm bọc lấy nhau và sự can đảm chấp nhận cái lao động khổ sai đã giúp cho chúng tôi sống sót qua được giai đoạn đầy gian khổ ấy.

Một đêm khi đang ngủ thì anh Trãi, Quốc Gia Hành Chánh, đánh thức tôi dậy và nói rằng cậu Út nằm bên cạnh đang ói mửa ra đầy cả mùng chiếu.

Anh Trãi và cậu Út đều là hai người làm việc rất giỏi của đội và ba người chúng tôi nằm cạnh nhau ở sàn trên. Trong ba người thì anh Trãi lớn hơn tôi và Út nhỏ nhất nên thường gọi cậu ta là Út.

Hỏi ra thì tôi mới biết là Út uống thuốc tự tử nhưng bị phản ứng thuốc.

Tôi bèn bảo Út vào trong mùng ngủ chung với tôi đêm đó và ngày hôm sau khi ra lao động tôi cố sức khuyên:

-“Út à! Đừng có dại dột làm vậy nữa nhe. Ít nhất thì Út cũng nghĩ đến Má ở miệt quê vẫn ngày đêm trông chờ Út về”.

Tuy nói như vậy nhưng tôi hiểu rằng cuộc sống trong tù quá là cực nhọc, không có một tia ánh sang nào cho người tù bám vào để mà hy vọng, chỉ còn nhìn về gia đình như cái phao cấp cứu, nhưng người yêu và là hôn thê của Út đã lập gia đình thì đi tìm cái chết cũng không có gì là lạ.

-“Út không có hứa gì với anh được vì lần sau Út biết rồi, uống một liều là đi luôn.”

Luôn hai ngày tôi theo sát bên Út và không thể tìm cách nào mà thuyết phục cậu ta được vì nói gì thì Út cũng khăng khăng bác đi.

Tôi suy nghĩ mãi và trong lòng rất lo lắng vì biết cậu ta nói là làm và lần sau mà Út tự tử thì không biết lúc nào mà ngăn cản được.

Một hôm tôi kéo Út ra một góc sân vắng chỉ có hai người và tôi đã tìm mọi lý lẽ để thuyết phục, tìm cách trả lời hết những câu hỏi của Út thì cuối cùng Út móc ngéo ngón tay tôi và hứa sẽ từ bỏ ý định tự tử.

Tôi vô cùng mừng rỡ và báo tin cho anh Trãi biết và chúng tôi lại sánh vai nhau với các anh em hàng ngày xuất trại đi lao động bình thường.

Sau này có cơ duyên gập được thầy của tôi là Hòa Thượng Thích Thiện Chánh thì thầy Tâm có bảo tôi rằng:”Cứu một mạng người còn hơn xây ba cảnh Chùa, nhất là người đó lại đang trong khổ nạn như con.”

Khoảng năm năm sau thì anh Trãi và Út có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại và Út đã về đoàn tụ cùng với bà Mẹ tại miệt vườn ở Tiền Giang.

Khi tôi qua Mỹ vài năm và đang làm cho Hội Cộng Đồng Người Việt tại Quân Cam, một hội thiện nguyện để giúp cho những người tỵ nạn từ Việt Nam mới qua, thì bất ngờ chị Xuân từ bên Pháp đến Cali, đi theo một người bạn đến thăm tôi.

Tôi kể cho chị nghe hết thời gian khi anh mang bệnh và được BS Quýnh, anh Đức nhất là anh Trung tận tình chăm sóc ngày đêm như thế nào.

Chị nghe xong, cám ơn tôi, lau nước mắt và ra về.

Khoảng bẩy năm trước tôi có dịp đến Virginia thăm gia đình người bạn, thì lại gập được những người bạn tù cuối cùng như anh Đệ biệt danh Cả Đẫn và anh Sửu con Trâu rồi ghé vào một ngôi chùa để thăm anh Trung.

Lúc đó anh Trung đã xuống tóc và trụ trì ngôi chùa nhỏ trong thành phố nhưng không có duyên gặp anh vì anh vừa hướng dẫn một đoàn Phật tử đến một công viên để thuyết pháp vì nơi chùa cư ngụ không cho tập trung đông người.

Khi về lại Cali tôi gọi điện thoại thăm anh Trung và anh rất là mừng rỡ nói chuyện với tôi về những năm tháng còn trong tù và tôi cũng nhắc lại công đức anh đã làm được khi tận tụy với ông Xuân cả năm trời tại bệnh xá của trại và cầu chúc cho anh thân tâm thường an lạc.

Thời gian trôi qua thật nhanh như bóng câu qua cửa sổ nhưng mỗi khi nghĩ lại cuộc đời tù đầy và những năm tháng lưu đầy trên xứ Bắc ấy, tôi vẫn không sao quên được sự chịu đựng bao đau đớn một cách can đảm và sự ra đi trong âm thầm lặng lẽ của ông viện trưởng viện đại học Cần Thơ Nguyễn Duy Xuân; không thể quên được những hình ảnh hào hùng vị tha cứu người của anh Trung võ sư; không quên được ly cà phê đen cùng chia sẻ với anh Võ; và nhất là khuôn mặt còn nhiều nét ngây thơ và thất tình như mất hồn của cậu Út.

Sau đó thì tôi không được tin tức gì thêm về cậu Út nữa ngoại trừ là Út đã về đoàn tụ với bà Má, nhưng vài năm sau khi qua Mỹ, trong kỳ tôi đi công tác cho hội thiện nguyện lên Sacramento, tôi có dịp gập lại anh Võ và mời anh ăn trưa và ly cà phê đen. Anh Võ, tôi cùng với một người bạn nữa chúng tôi cùng ngồi bên nhau trong khoảng thời gian thật là ngắn ngủi và hồi tưởng lại những kỷ niệm không bao giờ quên được của một cơn ác mộng dài.

Con người ta khi vừa mới sinh ra với tiếng khóc chào đời thì quả thật mỗi người đã mang theo một số mệnh khác nhau không biết đâu mà nói trước được là ai sẽ còn ai sẽ mất trong chốn hồng trần này, khi mà miền Nam đã mất và Sàigòn không còn nữa.

Bởi vậy cứ chuyên tâm “Làm Phước” như lời thầy Thích Thanh Long vẫn thường khuyên bảo là điều nên làm hơn cả nhất là trong thời Mạt Pháp, như thầy Tâm vẫn thường nhắc nhở tôi, khi mà Quỷ Dữ đang lộng hành.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply