Đáy Địa Ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 26 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 13-Phần cuối

Ngày tháng qua đi, tiết trời đã vào thu từ lúc nào. Tôi ngồì nơi thềm đá, nhìn lên sườn núi, mầu vàng đã che lấp mầu xanh, tạo cho cảnh vật một nỗi buồn hiu hắt. Những cơn gió hiu hiu thổi liên tục làm cây cối không lúc nào đứng yên, ngã nghiêng run rẩy! Ở tù lâu, đôi khi tạo cho mình cảm giác, nó là đời sống đích thực, ngoài nó, không còn gì! Anh bạn tù nằm kế bên, tối nay lại thì thầm:

– Ông ơi, sắp có một số chuyển trại đó!

Tôi ậm ừ cho anh bằng lòng. Lần này tôi không hỏi xuất xứ, nhưng chỉ mấy hôm sau, tin đó trở thành sự thật.

Một sáng, anh em sửa soạn đi lao động, được lệnh ra sân lớn tập họp. Danh sách chuyển trại được phổ biến, đặc biệt chuyển vô Nam. Tên Huy nói:

– Lần chuyển trại này, Đảng và Nhà Nước tạo điều kiện cho các anh sống gần gia đình, chờ ngày được tha. Ai có tên trong danh sách chuyển trại nên mừng vì ngày về sắp tới. Các anh sắp được gặp môi trường quen thuộc, xa rời mùa lạnh đất Bắc!

Đi song song với danh sách chuyển trại là danh sách biên chế. Tất cả đều xáo trộn. Những người chuyển trại tập trung trong 4 buồng, anh em gọi là “giàn phóng”. Tài, người bạn trẻ đi chuyến này. Chúng tôi nấu chè, tiễn nhau. Họ ở trại gần 1 tuần mới chuyển, trong buổi sáng, mưa tầm tã , hình như ông trời cảm thông với nỗi chia ly nên nhỏ lệ. Tất cả những người chuyển trại đều phải còng tay khi lên tầu hỏa từ ga Bình Lục, gần Phủ Lý. Hôm sau, chúng tôi nghe tụi Công An vũ trang áp tải nói lại như vậy!

Trại A chừng 200 người, Trại B và Trại C 300 người nữa, tổng cộng 500 người đi vô Nam trong đợt đầu và rồi đây sẽ còn những đợt kế tiếp!

Từ ngày có chuyến vô Nam, cũng từ đó, anh em sống trong tình trạng phập phồng, chưa biết lúc nào, mình có tên, nên mọi thứ đều được tính toán để lên đường “vượt Trường Sơn” cho gọn ghẽ. Qua kinh nghiệm chuyến vừa rồi, anh em phải vứt đi rất nhiều thứ tại ga Bình Lục vì mỗi người chỉ được mang một số kilô vừa đủ.

Nào mì ăn liền, nào gạo được bán đi tới tấp. Giá gạo lúc nay rẻ bằng nửa giá gạo Ba Sao. Mọi thứ đều xuống giá. Các tay buôn tha hồ thao túng. Tụi Công An cũng mua gạo của tù để bán lại kiếm lời. Nhưng sau khi bán rồi, mấy tháng sau vẫn chưa có lệnh chuyển trại, giá đồ ăn lại lên dần và đắt hơn khi chưa chuyển trại. Vì mọi người đã tới tấp gửi thư chui về gia đình bảo đừng ra thăm nuôi nữa, sắp vô Nam. Thị trường thực phẩm mỗi ngày một giá. Thật chẳng ai ngờ, ở giữa trại tù còn có thị trường chọ đen, chợ đỏ!

Một bữa trời đổ lạnh, cái lạnh ghê người do mưa gió tạo nên. Tôi ngồi trong “chuồng” buồn bã nhìn ra ngoài. Một bạn tù làm tại “nhà văn hóa” đi vô, ngoắc tay, ngỏ ý muốn nói với tôi chuyện gì quan trọng. Tôi chạy ra, anh nói nhỏ:

– Bác có khả năng “về” chuyến này đó. Tôi vô tình, vừa được nhìn thấy có tên bác trong danh sách đề nghị tha vì quá già yếu!

Tuy không tin, nhưng tôi cũng cảm ơn người bạn tù, rồi quên đi, vì tự nghĩ, làm sao Cộng Sản lại có thể tha tôi, “một tên cực kỳ phản động, điên cuồng chống phá Cách Mạng” như đã đăng tải trên mặt báo chí miền Bắc cũng như miền Nam mỗi lần nhắc đến tên? Chế Lan Viên khi vào Sàigòn , nói chuyện về văn hóa với anh em văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày chiếm đóng đã vu cho tôi, dùng văn nghệ để làm chính trị ! Bài nói chuyện này được đăng tải trên tờ Văn Nghệ, cơ quan phổ biến Văn Học Nghệ Thuật của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi được đọc khi còn ở Nghĩa Lộ. Với thành kiến đó, làm sao tôi có thể được tha một cách dễ dàng?

Nhưng những gì không ngờ nhất, có khi lại xảy ra, và tôi đã được gọi tên để tha, trong buổi sáng đầu mùa đông thứ 5 trong nhà tù miền Bắc. Hùng từ ngoài cổng chạy vô:

– Bố sửa sọạn đi về, con nghe rõ tên và năm sinh, không sai đâu!

Tôi sững người, tưởng như trong giấc mơ. Hùng đứng bên cứ thúc giục tôi sửa soạn gấp, nhưng lúc này làm sao tôi còn đủ bình tĩnh để thu xếp. Tôi nhờ Hùng và Tấn, hai người bạn trẻ, giúp tôi xếp đặt hành trang, còn tôi cứ đứng như khúc gỗ. Không hiểu sao, hai giòng lệ tự nhiên chảy dạt dào tưởng như mình đã chết được hồi sinh! Tên Bảo, cán bộ Buồng, ngồi chồm hỗm trên chiếc bệ cao nói lè nhè:

– Anh có muốn về không? còn đứng đấy! Chỉ có 15 phút để sửa soạn thôi đó!

Lời nói như đưa tôi ra khỏi cơn mơ. Tôi chạy đến phía Hùng và Tấn để cùng thu xếp cho mau. Số lượng lương thực thăm nuôi, tôi tặng lại hai người bạn trẻ. Giờ này anh em đã đi lao động hết. Tôi nắm tay từ giã vài người bệnh ở nhà, ai cũng chúc tôi mọi sự may mắn. Hùng mang dùm tôi hành trang ra ngoài. Tên Thịnh đã chờ sẵn để điểm nghiệm, nhưng lúc này tôi chẳng còn gì để khám lâu. Hùng, nắm chặt tay tôi lần cuối, trước khi tôi băng qua chiếc cổng sắt lớn. Vừa đi, tôi vừa quay lại nhìn, Hùng cứ đứng ôm cánh cửa sắt nhìn theo!

Ra tới nhà trực, chúng tôi hơn 10 người, lại được gọi tên lần nữa, để xác nhận quê quán, địa chỉ. Lát sau, một chiếc xe vận tải dừng nơi mé đường. Tên Công An có nhiệm vụ lo thủ tục trả tự do cho chúng tôi đã ngồi sẵn trên ca-bin. Nó cho lệnh tất cả lên xe.

Trước khi xe chạy, tôi quay lại nhìn lần chót nơi đã giam giữ tôi gần 3 năm trời với nhiều kỷ niệm buồn. Từ nay, tôi khỏi phải nghe mỗi ngày 14 lần kẻng gõ từ sáng sớm tới giờ ngủ. Ôi, tiếng kẻng chát chúa, mỗi lần đánh lên, như đánh vào giữa trái tim, làm nhức nhối, buốt tê từng sợi thần kinh cảm giác.

Xe chạy qua nhà thăm nuôi, tôi nhớ đến những lần thăm nuôi đã qua. Biết bao nhiêu chuyện vui cũng như chuyện buồn đã xảy ra trong kích thước hạn hẹp này. Tất cả như một cuốn phim quay chầm chậm, những hình ảnh nổi bật trong mỗi suy nghĩ, làm hồn tôi bâng khuâng. Bao nhiêu trạng huống khốn khó, bao nhiêu tình cảm cả vui tươi lẫn buồn thảm đã diễn ra trong mỗi lần gặp mặt. Nào người mẹ già mắt nhòe lệ ôm chặt đứa con đang trong vòng tù tội bằng đôi tay run rẩy. Nào người vợ hiền, khuôn mặt phờ phạc, đôi mắt thâm quầng qua nhiều đêm mất ngủ vì nhớ thương chồng, đang úp mặt vào lòng bàn tay, trong giây phút gặp gỡ thứ nhất giữa mình và người chồng thương yêu đã mấy năm xa cách. Nào những đứa trẻ thơ ôm chặt lấy người cha như không có cách nào gỡ bỏ. Tất cả đang quay cuồng trong tiềm thức tôi làm choáng váng. Từ trên khoang xe, tôi nhìn xuống chân núi, anh em tôi đó, đã cùng tôi gánh chịu bao nỗi nhục nhằn trong những năm tháng dài cải tạo từ miền Nam ra miền Bắc. Họ vẫn có và còn đó, vẫn chân lấm tay bùn đang lao động khổ sai dưới con đê thủy lợi và trên các dốc núi cheo leo!… Biết đến bao giờ họ mới vượt thoát được giai đoạn khốn khổ này? Tôi nhìn thấy những cánh tay đưa lên vẫy vẫy để thay lời từ biệt.

Chiếc xe đã leo qua con dốc, chạy khuất sau triền núi. Từ phút đó, giữa tôi và những người ở lại không còn thấy nhau. Xe chạy chừng 3 cây số, quẹo vô Trại C đón thêm người được tha. Đây, lần thứ nhất, tôi nhìn thấy trại C. Ở ngoài nhìn vào, nó như một xóm làng hiền hòa, có bụi tre, đụn rơm, gốc chuối, có nhà ngói, cây mít. Nhưng sau những vật đó là trại giam với những dẫy nhà dài ẩn khuất đó đây. Tôi nghe nói, có những căn nhà ở dưới trũng sâu, mỗi mùa nước lại bị ngập lụt, nước dâng lên tới chỗ nằm. Phân người và phân súc vật dâng theo làm cho những căn nhà đó trở thành dẫy nhà cầu hôi thối! Những người được tha đã đứng chờ sẵn ở sân với hành trang. Tên Công An đứng gần đó, làm hiệu cho xe dừng lại. Tôi nhìn thấy thấp thoáng sau những khuôn cửa, nhiều khuôn mặt ngơ ngác ngó chúng tôi như thèm ước. Tấm chắn hậu được hạ xuống, số người được tha ào lên. Có người nóng nẩy leo lên phía thành xe, hình như họ sợ, nếu không lên kịp xe chạy, sẽ để họ ở lại! Tôi gặp lại Lâm, Hải Quân Trung Tá cũng ra Bắc trên tầu Sông Hương, người đã xác định đúng vị trí di hành của con tầu. Anh được tha vì lý do sức khỏe.

mạnh hải flickr

Tuy còn trẻ, nhưng bị bệnh đau ruột, vừa trải qua cuộc giải phẩu tại Bệnh viện Phủ Lý, suýt chết! Tất cả hơn 20 người cùng chuyến, chúng tôi nhìn nhau hỉ hả vì vừa thoát qua một tai nạn vô cùng khủng khiếp.

Chiếc xe đưa chúng tôi tới trại Mễ ngay tỉnh Phủ Lý để chờ làm thủ tục như lăn tay, trả tiền và đồng hồ nếu có, sau cùng ký giấy ra Trại. Trại Mễ, trại tù bệnh. Nơi đây xưa kia là trường tiểu học, nay vì nhu cầu, tụi Công An sửa lại, dùng làm chỗ giam tù bệnh, cả chính trị, lẫn hình sự. Ở đây, tôi được nhìn thấy nhiều bộ xương biết đi. Họ đi tha thẩn, nhặt từng cọng rau cho vào mồm nhai ngấu nghiến và họ ăn tất cả những thứ gì có thể ăn được, vương vãi trên mặt đất hay dưới đường mương. Họ nhặt bã thuốc lào và những mẩu thuốc lá thừa để hút cho qua cơn ghiền.

Họ là những người tù hình sự can tội ăn cắp, ăn trộm. Những người bị giam ở đây không một ai can án dưới 3 lần, kể cả những người ít tuổi nhất. Họ là những con ma đói khát, sống vật vờ chờ ngày chết. Đến giờ lãnh cơm, họ leo lên tường thò chiếc đầu trọc lóc, hai hố mắt trũng sâu, nhe hàm răng vàng khè, như chiếc sọ người biết cử động, lơ láo nhìn chúng tôi để xin ăn. Khu vực giam họ, bị khóa chặt, cách biệt với nơi giam tù chính trị. Những cánh tay khẳng khiu, đen đúa, bẩn thỉu, chìa ra để đón nhận bất cứ cái gì đưa tới.

– Ông ơi, con đói quá, nếu ăn thừa, ông cho con, đừng đổ đi, tội nghiệp!
– Ông ơi, cho con xin một bi thuốc lào đi, thèm quá rồi, không chịu nổi! Nếu không, ông hút thừa cho con cái bã nhé!
– Ông ơi, nhặt dùm con mẩu thuốc lá ở chân tường kia kìa. Ông nhặt dùm con đi, con cảm ơn ông nhiều !

Đó, mỗi ngày tôi đều nghe thấy những lời kêu xin nhu vậy. Cầm lòng không được, tôi móc túi rút điếu thuốc đưa cho một tên tù trẻ. Vừa lúc đó, người Đội trưởng hình sự đi tới nói:

– Anh đừng cho tụi nó làm gì, anh đừng nghĩ rằng, như vậy nó biết ơn anh đâu. Trong trường hợp nếu có thể lấy được của anh cái gì, là nó lấy luôn đó.

Giữa lúc ấy, từ phía bên trong có tiếng kêu la dữ dội. Tôi hỏi người Đội trưởng.

– Chuyện gì vậy?

– Chúng nó đang thanh toán nhau.

– Anh là Đội trưởng sao không vào can thiệp nhỡ nó đánh chết nhau thì sao?

Người Đội trưởng cười:

– Chuyện đó thường quá, ngày nào cũng xẩy ra!

Nhưng tiếng la hét mỗi lúc một to, bên trong có nhiều tiếng động. Người Đội trưởng rút chìa khóa ra, mở cửa khu giam. Lát sau tôi thấy anh nắm ngực áo một tên tù hình sự khá to lớn, tay kia anh loi vào người nó huỳnh huỵch, trước những con mắt lơ láo của những tên tù khác vây quanh. Sau khi khóa cửa, anh đưa tên tù đến một nơi nào chẳng biết. Bên trong nhà giam yên lặng, những bộ xương biết đi lại đứng lởn vởn trong chiếc sân nhỏ. Đúng là cảnh Địa Ngục trần gian.

Tôi được biết, Đội 20 cũng đang bị kiên giam nơi đây, trong một khu riêng, không ai được ra vào tiếp xúc, trừ người Đội trưởng tù hình sự, có nhiệm vụ mang cơm nước hàng ngày. Tôi nhờ anh cho gửi lời thăm và mong anh em giữ vững tinh thần. Tôi đứng ngoài nhìn vào khu biệt giam, lòng bùi ngùi, thương cảm. Dẫy nhà biệt giam chỉ có lỗ thông hơi trên cao, trông im lìm hiu quạnh! Người Đội trưởng cho tôi biết, tất cả đều bị cùm một chân, mỗi ngày được bỏ cùm chừng 1 tiếng để làm vệ sinh cá nhân và đi lại quanh buồng để tránh bệnh tê liệt. Tất cả tự do đều bị hạn chế, không được thăm nuôi, không được viết thư. Nhưng chẳng vì thế tinh thần anh em xuống thấp, vẫn sống vui vẻ và hát những bài ca chống Cộng suốt ngày. Khi được tin tôi có mặt ở nơi này, chờ làm thủ tục tha về, tất cả đều reo mừng la hét.

Người Đội trưởng sợ quá, phải năn nỉ mọi người chớ làm như vậy, nếu “ông Công An vũ trang” biết được, khổ cả tôi lẫn các anh. Cường gửi lời chúc mừng tôi và nhắc đừng bao giờ quên anh em! Dù Cường chẳng dặn, tôi cũng không bao giờ quên những ngày tù tội gian khổ, quên những người đã và đang sống dưới Đáy Địa Ngục nhất là Đội 20, với tinh thần kiên cường bất khuất đã đám trực diện chống lại bạo lực ngay trong nhà tù nổi tiếng khắc nghiệt nhất thế giới. Tôi cũng không quên nơi đây Huy và Cát cùng nhiều anh em khác đã trút hơi thở cuối cùng, giã từ kiếp tù đầy!

Tôi ở lại trại Mễ đúng 1 tuần để chờ chuyến tàu. Trong suốt 7 ngày, ngày nào tôi cùng nhìn vào khu biệt giam vắng vẻ, đang cầm giữ trong nó 29 linh hồn cao cả, nhân danh hàng trăm ngàn các cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và dân sự, hiện còn bị giam giữ khắp giải quê hượng, để nói cho Cộng Sản biết không bao giờ họ có thể áp đặt toàn vẹn chế độ độc tài vô sản chuyên chính trên mảnh đất Việt Nam mãi mãi. Một ngày nào đó, chế độ Cộng Sản sẽ sụp đổ theo luật đào thải và cũng theo ý muốn của toàn dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, cùng góp sức đấu tranh xây dựng lại Việt Nam với tinh thần yêu chuộng Tự Do, Công Bằng, Bác Ái.

Khởi viết ngày 25-9-82
Viết xong ngày 15-12-82
tại trại Ty Nạn Sungei Besi (Malaysia)

TẠ TỴ


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply