Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 20 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng
Phần 10
… Tết gần đến, nhiều người nhận được quà, riêng tôi và một số ít chưa có. Theo yêu cầu của Trại, mỗi tháng tù phải làm công tác xã hội chủ nghĩa hai buổi sáng chủ nhật. Sáng chủ nhật vừa qua đã lao động, nên tuần này được nghỉ. “Lao động xã hội chủ nghĩa” cũng có cái lợi, được ăn một chén chè nấu mật. Lúc trước, nhiều người chưa có quà, thèm đường nên mong được đi lao động xã hội chủ nghĩa!
Sáng nay, anh em có phần hứng khởi hơn các buổi sáng chủ nhật khác, vì sẽ được xử dụng gói quà mình có. Cửa “chuồng” vừa mở, mọi người xếp hàng hai đi ra cho tên Công An điểm số. Sau khi tan hàng, một số ùa đến phía bếp, nơi có chiếc chảo lớn. Vì nhà bếp không phát nước ngày chủ nhật nên anh em phải tự thực hiện. Vấn đề đun nước ngày chủ nhật, luân phiên theo Tổ trực. Trại cấp cho chiếc chảo lớn, củi tự kiếm đem về đun. Trên nguyên tắc, Trại cấm đun nấu riêng, nhưng lợi dụng việc đun nước, anh em có thể đun nấu bằng gô, ghé xung quanh chảo nước. Nào mì ăn liền, nào bột, nào đường được biến chế thành món ăn, mời mọc nhau theo từng “băng”. Tôi không ở “băng” nào, nên chờ nước sôi múc uống cho no.
Trong những ngày tháng sống tại Trại Cải Tạo Trung Ương số 1, tôi có mang ơn hai nguời, đã giúp tôi ít nhiều để qua cơn đói. Cả hai người đó, tôi không quen từ trước: một ông Tòa ở Nha Trang, còn người nữa, công chức. Một buổi, tôi đang đứng lớ ngớ chờ cơm, một người đến bên hỏi, tôi có phải họa sĩ kiêm nhà văn không? Tôi nói đúng. Anh ta nắm chặt tay tôi nói:
– Hân hạnh, nghe tiếng lâu lăm, nay mới được gặp. Nếu không ở tù, chắc gì?
Tôi cười cười như mọi khi, mỗi lần nghe câu đó. Nhưng một buổi, đang ngồi chờ đi lao động, tôi nhìn thấy anh đứng trong lối đi nhỏ, dẫn tới các buồng tù phía trong. Anh gật gật đầu như gọi. Tôi tìm cách băng qua. Vừa đến nơi, anh dúi cho nửa chiếc bánh mì luộc. Mừng quá, tôi quên cả cám ơn vội giấu vào túi, đi nhanh ra nơi tập họp. Từ hôm ấy, nhìn thấy anh, tôi cố tìm cách đi qua để lấy khi bánh, khi bắp, khi khoai, sắn. Theo lời anh dặn, nếu buổi nào không nhìn thấy, cứ vào buồng anh ở, anh để sẵn, có người sẽ đưa.
Một sáng, không nhìn thấy anh, ngại quá, định không sang, nhưng cơn đói giục giã, bụng dạ cồn cào, nên lại đi vào lối hẹp đến buồng anh ở.
Một anh đang quét sân, nhìn thấy tôi, nở nụ cười:
– À, Đ. có dặn, nếu anh đến, xin lỗi giùm, bữa nay không tiện. Nhưng tôi có đây, anh dùng tạm vậy.
Tôi ngẩn người, nhìn thấy chiếc bánh mì luộc còn nguyên tròn bằng chiếc đĩa, mập ú! Tuy thèm lắm, vì tự ái tôi từ chối, nhưng anh nhất định cứ dúi vào tay, buộc phải cầm và nói, anh Đ. sẽ đưa trả sau, ngại gì? Tôi đút chiếc bánh vào túi. Túi áo quá bé không vừa, tôi giắt vào cạp quần đi nhanh ra vừa đúng lúc tên Công An gọi Đội đi lao động! Sau hỏi, tôi biết, anh tên Danh.
Nhưng từ đó tôi nhất định không gặp Đ. nữa, vì thấy phiền quá. Cái bánh, củ khoai mà Đ. cho tôi cũng là ăn bớt phần của anh em, tuy nó chẳng đáng gì, nhưng trong lòng tôi vẫn áy náy. Thấy lâu tôi không đến, mỗi ngày Đ. gửi nửa chiếc bánh cho anh bạn cùng buồng ở nhà chuyên gánh nước. Anh này chia lại cho tôi một nửa, tức 1/4. Để chấm dứt sự xin ăn lén lút, tôi làm một bài thơ tạ ơn Danh và Đ. Từ đó, tôi lại đói dài dài!
Trong các “băng” ăn uống sáng nay, tôi thấy Linh Mục Cường, vị “Linh Mục bụi đời” đang lùa những sợi mì vàng óng nóng hổi vô miệng. Mỗi khi được ăn một bữa no, vị Linh Mục này thường cười nói:
– Bây giờ ta có thể một tay, nâng bổng trái đất. Linh Mục cũng là người mà.
Đợi lúc rảnh rỗi, tôi và vị Linh Mục trẻ tuổi thường hay bàn luận, tâm sự.
– Tôi không hiểu vì sao, lại trở thành Linh Mục? Có lẽ, theo ý muốn của gia đình. Nhà tôi có đồn điền cà phê hằng năm thu hoạch rất lớn. Tôi được gởi vào tu viện từ hồi nhỏ. Sau những năm dài theo học, còn năm cuối, theo luật Công giáo, tôi có một thời gian để suy nghĩ. Sau đó, một là xin xuất để vào đời, hai là học tiếp để được tấn phong Linh Mục. Trong 12 tháng suy nghĩ, tôi cảm thấy cuộc đời vui hơn, có nhiều điều kiện hoạt động, tôi nhất định xin xuất. Nhưng khi vừa có ý định ấy, ông Cha linh hồn đã thuyết phục được, nên tôi lại tình nguyện học tiếp để có ngày hôm nay. Tôi đã là Tuyên Úy Công giáo được 5 năm. Tôi thích uống uýt-ki và nhậu. Những cái đó, luật Công giáo không cấm.
Tôi định hỏi “Còn vấn đề đàn bà thì sao?” Nhưng nghĩ lại, thấy sỗ sàng quá, nên thôi!
Đêm Noël vừa qua, khi cửa “chuồng” đã khóa, tôi thấy 6 vị linh muc trẻ, ngồi tụ tập bàn luận và cầu kinh lầm rầm đến quá khuya. Sáu vị ngồi như sáu cây cột quây tròn, ở giữa có một chiếc chậu sắt thường dùng đựng cơm của nhà bếp để đầy món ăn, nhưng chắc chắn không có rượu lễ và gà tây!
Để tránh mặc cảm, tôi qua buồng bên thăm Thanh Tâm Tuyền. Chúng tôi mới gặp nhau cách đây ít hôm, tuy ở sát vách. Trước đó, tôi nghe nói có Tuyền ở đây, không tìm ra, tuy Đội tôi và Đội Tuyền ngồi sát bên nhau. Từ ngày đi cải tạo, thân xác mỗi người đều đổi thay và áo quần lao động tơi tả, rách rưới, nhơ nhớp. Người nào cũng chụp mũ xuống gần nửa mặt để không muốn nhìn ai, và cũng chẳng muốn ai nhìn mình. Một buổi chúng tôi nhận ra nhau. Tuyền mở to mắt nhìn hỏi:
– Ông đó hả?
– Còn ông đó ư?
Chúng tôi cùng phá lên cười. Anh em xung quanh không hiểu gì, sững nhìn. Đội tôi bị gọi đi lao động. Tôi đứng lên, nói với Tuyền, mai sẽ ngồi đúng chỗ này để nói chuyện. Từ đó, chúng tôi mới đỡ cô đơn vì còn có nhau để tâm sự. Tuyền vốn ít nói, nhưng mỗi lời nói rất chắc, cũng như anh viết văn hay làm thơ. Tuyền dặn nhỏ tôi:
– Cậu ạ! đừng gọi biệt hiệu, sợ tụi nó biết, gọi mình là Tâm nhé!
Tôi cười dí dỏm:
– Cậu đánh giá tụi nó kém quá thế sao?
Tuyền vốn có bệnh trĩ, nên thường được nghỉ ở nhà làm việc nhẹ. Còn tôi, đã chán việc khai bệnh vì quá nhục nhã, nên thà lao động còn hơn, bởi vậy vấn đề gặp nhau cũng thất thường.
Sáng nay, tôi sang thăm Tuyền vì thấy cửa mở.
Vừa sang đến nơi, Tuyền đã cười khà khà:
– Chiều qua, nhớ cậu, làm được mấy câu thơ đây.
– Đâu, đọc lên nghe. Nhưng còn thuốc lào không?
– Để đi xin.
Tuyền định đi thì Trung, Đội Trưởng của Tuyền nhanh nhẹn đứng lên, đi xin thuốc giùm. Trung mang về một dúm thuốc “3 số 8” thơm phức. Tuyền nói với Trung
– Ông xin đâu hay thế?
– Ô thiếu gì, anh em mới nhận được quà mà!
Tôi vê thuốc cho vào nõ, châm lửa rít một hơi dài, thở khói xanh um, cả người bần thần ngây ngất vì đã lâu mới được điếu thuốc ngon. Tôi đưa điếu cho Tuyền. Nhồi thuốc xong, Tuyền cũng kéo hơi dài, thật dài nuốt luôn khói. Đôi mắt Tuyền lờ đờ như đắm chìm vào chuyến viễn mơ! Sau khi hả cơn say, Tuyền đọc:
Chờ cơm ôm bụng lép trên giường
Muốn sang thăm bạn cửa gài then
Chiều đổ cơn mưa, trời sập tối
Buông sách ngồi lên, ngó trống không!

mạnh hải flickr
Tôi nói với Tuyền:
– Đời chúng mình lúc này chẳng có gì để nhìn ngắm. Sau hơn hai năm bị đầy ải, miệng lưỡi đã tê mùi tân khổ, còn gì để ngóng đợi? Ba chữ “ngó trống không” nó cho tôi nhìn thấy hư vô, nhìn thấy cái cõi “Bất khả tư nghị” của Chân Như. Nó thâu tóm được biết bao nhiêu hình ảnh của kiếp sống phù du, công danh và sự nghiệp nào đó, mũ mãng cân đai nào đó, cũng chỉ là hư ảnh, có đúng vậy không cậu?
– Vì thế tôi mới tặng riêng cậu 4 câu thơ đó!
Tôi đi về vì sợ cửa bị khóa trái bất ngờ. Tôi cầm mẩu giấy có 4 câu thơ trong tay như giữ một kỷ niệm vô cùng thân mến!
Bị cơn đói hành hạ mỗi ngày một chút, lâu dần thanh thiếu hụt to lớn, làm con người muốn làm gì cũng không quên được nó. Hỡi những ai có may mắn chưa biết đói là gì, xin chớ khinh mạn cái đói của kẻ khác. Miếng ăn, miếng nhục, nhưng không có miếng ăn, còn nhục hơn. Vì miếng ăn, giá trị con người đã hạ thấp hơn hàng súc vật. Người đánh chó tranh xương! Người liếm thừa chó! Người ăn rắn, rết, cóc, nhái, người ăn cỏ luộc! Người làm đủ thứ, ăn đủ mọi loài để làm yên chiếc bao tử bé bằng bàn tay, nhưng lại có sức tiêu thụ vô biên! Trước cơn đói, con người không còn nghĩ gì khác ngoài miếng ăn. Bao nhiêu mưu tính để trốn Trại, vượt qua bao nhiêu nguy hiểm trước họng súng canh giữ của kẻ thù, chỉ vì đói phải tìm ăn, đến nổi bị bắt lại, cái đói quả thực ghê gớm! Cộng Sản đã dùng chính sách “nắm bao tử” để cai trị 25 triệu dân miền Bắc mấy chục năm qua. Nay chiến thắng thì chúng lại dùng để cai trị, áp đảo tù, những kẻ thua trận! “Ăn không đủ no, đói không đủ chết”quả là một tính toán vô cùng thâm độc, vô cùng dã man! Nếu người tù dưới chế độ Xô Viết bị đầy đi Tây Bá Lợi Á, phải ăn bánh mì đen, mút xương cá, nghĩ cho cùng, vẫn còn hơn những người tù chính trị là chúng tôi ở giai đoạn khốn khổ này. Chúng tôi không những mút xương cá mà nhai biến luôn, nuốt vô bụng, như ăn cóc nhái, côn trùng và cỏ vậy!
Về đến buồng, cáng cơm đã khiêng đến. Vẫn những chiếc bánh mì luộc quen thuộc, những hình dạng khác nhau. Do đó, sau khi bánh được chia cho Tổ 6 người, anh em có ý kiến nên quay số hoặc bắt thăm cho công bằng vì mọi người đều đói, ai may được cái to một chút, ai rủi lấy cái nhỏ! Việc bắt thăm được thực hiện bằng 6 chiếc que, có đánh đấu từ 1 đến 6. Mỗi người mang một con số. Một chiếc bánh được đánh dấu bằng cách đặt chiếc muỗng hay vật gì đó lên trên. Nếu thăm được rút ra có số 3, anh mang số 3 lấy trước cái bánh đã đánh dấu, sau đó, anh số 4 và tuần tự theo chiều kim đồng hồ, anh số 2 lấy sau cùng. Còn quay số cũng na ná như vậy, nhưng phải nhờ người ở xa cho một con số từ 1 đến 6. Anh kia hô: số 5, tức người mang số 5 lấy trước rồi tuần tự như rút thăm. Còn rau không đến nổi. Anh em tùy tiện. Phần nhiều là rau cải hay rau muống dai như chão rách, nhưng có nó, cũng đỡ đói phần nào! Qua sự kiện này, tôi hồi tưởng, xưa kia, những anh em có mặt nơi đây, ít nhiều cũng đã đi ngoại quốc, có tham dự nhiều buổi tiệc tùng thừa mứa thức ăn, nhiều khi đến món sau cùng thường là món mì hấp thập cẩm, mỗi người chỉ gắp vài sợi lấy lệ, đĩa mì ngon như vậy, chả ai thèm ăn vì đã quá no!
Nhiều lúc quẫn trí, nghĩ lẩm cẩm, có lẽ đây là sự phán xét cuối cùng của Thượng đế chăng?
Trời hôm nay nắng hanh, không rét bao nhiêu. Nhiều người ăn xong ngồi phơi nắng bắt rận, có người ngồi bóc vảy ghẻ. Vài người tắm bên chiếc bể lớn dội nước ào ào. Chiếc máy bơm nước bị hư nên nước rất hiếm. Các buồng đều cắt người ở nhà chuyên gánh nước cho anh em đi lao động dùng. Trong ngày nghỉ muốn tắm, tự mình mang nước từ giếng nhà bếp lên. Sự dùng cũng rất hạn chế. Tôi nghe nói, toán tháo ống lớn ra sửa, trong ống chuột chết đầy làm nghẹt. Tôi rùng mình khi nghĩ trước đây, mình vẫn dùng nước chuột chết để đánh răng, rửa mặt và đun nấu khi cần! Quần áo bẩn muốn giặt, phải mang xuống giếng nhà bếp xin nước. Giếng rất sâu, có “2 lực sĩ tù” thay nhau gầu nước làm cơm, nên có xin được một thùng cũng không dễ dàng!
Ngày áp Tết, Tuyền nhận được gói quà, mang cho tôi mấy chiếc kẹo:
– Các cháu biếu bác đó!
Tới hôm nay tôi vẫn chưa nhận được gì, Tết này đành suông vậy! Cũng may, có một tên Công An gả chồng cho em gái, nhờ tôi vẽ tấm bảng Song Hỷ, có đôi chim bồ câu ngậm dải lụa vàng bên dưới có lẵng hoa, trông thật quê mùa, thế mà anh ta thích lắm. Sau khi nhận, tặng tôi một gói thuốc lào An Thái, hai trái su hào to và một hũ mật nhỏ. Nhưng thuốc lào An Thái hút nhạt phèo, tôi không thích, chỉ có hũ mật là đáng giá. Nếu có bột mì, tôi sẽ nấu một gô chè mời Tuyền cùng ăn. Tháng trước đây, tên cán bộ giáo dục có bảo tôi vẽ cho Trại một tấm tranh cổ động, theo mẩu đã in trên tờ báo Nhân Dân. Tấm tranh đó to bằng 2 chiếc mền đắp. Vẽ bằng bột mầu. Tôi xin bột mì để nấu thành hồ pha vẽ. Tên cán bộ ký giấy cho tôi xuống kho hậu cần lấy. Tôi xuống kho. Tên Công An hậu cần bảo đến nhà bếp. Tôi xuống bếp. Bếp Trưởng bảo tôi lấy bao nhiêu tùy ý! Tôi nhồi đầy một túi nylon. Số bột mì thay vì khuấy thành hồ để vẽ, đói quá, tôi nấu ăn luôn, vẽ bằng nước lã. Qua một cơn mưa, bột mầu trôi hết, bức vẽ trở lại mầu mền cũ.
Trong những ngày dài đói khổ tại Lào Cai, tôi lao động gần hai người tù hình sự trẻ. Một anh can tội hiếp dâm bị kết án 20 năm, một anh can tội “buôn chui” bị bắt, án 15 năm. Họ được hưởng quy chế tự giác, có nhiệm vụ coi gác lò gạch. Cả hai đều đã ở quá nửa thời gian bản án. Vì được tự do tương đối, nên họ dễ kiếm thức ăn, nào khoai sắn, nào rau đậu linh tinh. Thấy tôi gầy yếu quá, một trong hai anh, tự nhiên cho tôi chiếc bánh lá. Khi tôi đang ăn, tên Công An Kỳ xộc tới. Hắn không nói gì. Lát sau, hắn gọi tên tù hình sự lên chỗ làm việc, ở trên đồi, ra lệnh từ nay không được cho tôi ăn nữa, như thế là “sai chính sách của Đảng và Nhà Nước!”. Tuy vậy, thỉnh thoảng họ vẫn lén lút cho tôi vài khúc khoai mì. Tôi lén mang xuống bếp đun nước, nướng nhờ, nhiều lúc tên Kỳ coi kỹ quá, không lấy ra kịp, khúc sắn cháy thanh than!
Người tù can tội hiếp dâm, có biệt tài chỉ huy trâu. Anh ta nói với trâu, như nói với người:
– Trâu, tao bảo mày quay trái cơ mà! Quay trái!
Lạ thay đàn trâu quay trái thiệt!
– Trâu, ai bảo mày đi lối ấy, đứng lại!
Đàn trâu đứng khựng tại chỗ!
– Vào “chuồng”. Tao bảo không nghe, tao đập chết cả lũ bây giờ.
Đàn trâu lặng lẽ vô “chuồng”.
Không phải một lần, nhiều lần tôi thấy như vậy!
Bữa nay, chiều 30 Tết. Cây đào trước cổng Trại đã thấp thoáng nở hoa. Mầu hoa phơn phớt hồng làm tôi nhớ đến những cái Tết tuổi ấu thơ, khi tôi còn sống dưới mái gia đình. Năm nào bố tôi cũng mua một cành đào thật đẹp để mừng Xuân.
Mấy bữa nay, tôi được nghỉ lao động đạp đất để lo trang hoàng buồng trong dịp Tết. Tôi trang trí hai cành đào trên hai chiếc cột ngoài hiên, vẽ chiếc đầu ngựa tượng trưng cho năm Ngọ. Tôi làm một công việc có tính cách trẻ con, nhưng nhờ nó, tôi được ở nhà để thân xác nghỉ ngơi ít hôm. Đôi chân đạp đất mấy tháng nay đã rã rời. Tôi chỉ còn là cái xác mà chưa chôn. Đã thua định mệnh một lần, nay tôi lại muốn thử lần nữa. Tôi nuôi ý định và tìm cơ hội trốn Trại. Không còn sức, kéo dài mãi cũng chẳng ích gì! Tôi không hề nói cho Tuyền biết, tôi đã tự tử một lần không chết, bây giờ lại đang tìm phương tiện giải thoát lần thứ nhì. Có sợi dây dù 20 thước đã bị tịch thu tại Trại B. Bây giờ lấy gì để xử dụng cho mục đích?
Tôi cứ quẩn quanh với ý nghĩ đó! Giữa chiều cuối năm, không nhận được tin nhà, quà bánh không có, lòng tôi buồn vô hạn! Ngày Tết ở đây cũng tổ chức những cuộc vui như đánh cờ tướng, tung “côn” (một trò chơi Xuân của ngươi dân miền núi) và các trò chơi lặt vặt khác. Bữa ăn có bánh chưng, thịt trâu, thịt heo, canh, dưa hành và cơm trắng. Cũng ăn 3 bữa chính. Ngoài ra, nghe anh em ở lâu cho biết, đúng Giao Thừa, Ban Giám Thị sẽ đến từng buồng chúc Tết tù. Đến sáng mồng 1 Tết, tù chúc lại tại Hội Trường! Có ca hát văn nghệ trong mấy ngày Xuân và múa Lân.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.