Chuyện đời qua đám sương mù-Thánh Mẫu Sầu-S.O.S?

Hồi ký của Chim Việt.

Đây nói về Bát Tiên Quá Hải, nhân dịp năm mới đầu Xuân, đi thăm viếng đám con cháu người Trung Hoa sống rãi rác khắp vùng Đông Nam Á Châu. Khi ghé 6 nước thành viên trong khối Asean, mỗi nơi để lại một vị, còn lại hai vị là Lữ Đồng Tân và Lâm Thái Hòa, họ xuyên qua biển Đông, qua miền Nam nước Việt, nước CHXHCN không có trong khối Asean, nhưng đám con cháu người Trung Hoa còn đương lâm nạn?

Nhị vị tiên ông vô Cái Đôi Vàm, trước kia là Biệt khu Hải Yến, thị trấn là bình Hưng, ở lại đó cùng ăn tết với dân sơn cước. Vùng biên thùy Vân Nam, họ lấy vợ Việt sống chung quanh vùng này. Thị trấn này có lối 30 gia đình người Việt gốc Hoa, sơn cước Xạ Phang.

Năm nay cửa hàng mậu dịch quốc doanh bán cho mỗi hộ hai chai xá xị và một gói thuốc Vàm Cỏ. Những món hàng bán ra, dân chúng không được khui uống mà để chưng trước bàn thờ tổ quốc trước mỗi nhà sáng ngày mồng một Tết. Mỗi bàn thờ phải có hình Hồ Chí Minh. Năm nay được phép ăn tết linh đình nhưng phải tiết kiệm. Thông tin văn hóa ngày đêm nhắc nhở đồng bào tới giờ giao thừa khi nghe tiếng đánh vô thùng phuy tại văn phòng Ủy Ban Nhân Dân, thì đồng loạt mỗi hộ trong thị trấn phải lấy thùng thiếc, soong chảo, mỏ cày bất cứ loại gì đánh kêu là tốt. Khi nào tại văn phòng dứt thì dứt theo. Nhà nước còn nghèo không đủ pháo phát cho nhân dân, nên mừng xuân tạm bằng tiếng thùng thiếc, nghĩa của tiếng linh đình nhưng tiết kiệm là vậy!

Sáng ngày mồng 2 nhị vị vô ngã ba đình đụng với kinh Xáng Thọ Mai có hai gia đình bán nước ngọt, cà phê tại bến võ lãi đi Cà Mau. Vô hết kinh Xáng Thọ Mai tới Ấp Đầm Cùng, tại đây củng có lối 10 gia đình chuyên làm ruộng. Qua khỏi Ấp Đầm Cùng là tới con kinh Xáng Cái Nai, dọc theo con kinh này cho thấy còn dấu vết con lộ trãi đá có những cây ăn trái như Me, Ô Môi là những cây thường trồng chung quanh nhà. Nay thì toàn là rừng cây, cây Mắm, cây Đước, đó là con đường trước năm 1945 người Pháp họ mở từ quận Cà Mau xuống tới quận Năm Căn.

Kể từ năm đình chiến năm 1954, VC họ phá lần hồi nay thành rừng. Trong những đám rừng đó, tẻ xa vô trong là những đám rẫy của người Việt gốc Hoa, họ trồng khoai lang, bí rợ, nhất là khoai mì Rạch Ông Muôn. Những gia đình đó là cựu binh sĩ Quốc Dân Đảng, bị Pháp tước khí giới ngoài Bắc đem vô Nam tập trung ngoài đảo Phú Quốc 45 ngàn người . Thảm thương cho họ một đời chiến binh mà thất thế tới hai lần. Lần thứ nhất trên lục địa Trung Hoa, các tướng lãnh bỏ chạy ra Đài Loan, đảng Cộng Sản chiếm toàn Hoa Lục, họ chạy qua biên giới Hoa Việt bị Pháp tước khí giới tập trung ngoài Phú Quốc. Nặng nghiệp chiến binh họ vô hợp tác với cha Nguyễn Lạc Hóa.

Biệt khu Hải Yến một thời nhờ họ ngày đêm nhờ họ dùng chiến thuật phản du kích mà VC phải thâu hẹp hoạt động vô rừng U Minh Hạ. tuy năm nay gia đình họ ăn cái Tết nghèo nàn, nhưng nhờ sự thăm viếng của hai người khách quý đồng bào ruột thịt từ bên Tàu tới thăm, chỉ trong giờ phút ngắn ngủi ấy mà không bao giờ họ quên được. Trở ra Cái Đôi Vàm, ngày mùng 3 cúng Tết mà dân chúng tại đây đã đi lao động bữa mùng 2. Theo truyền thống, tới ngày Tết Nguyên Đán, người Trung Quốc trên lục địa hay ngoài đảo Đài Loan hay trong khối Asean khắp vùng Đông Nam Á đâu đâu củng hỉ hả mừng xuân 7 ngày. Vậy mà nước CHXHCN Việt Nam dân chúng tại đây chỉ được nghỉ có ngày mùng một? Từ giã đám con cháu Trung Hoa ngụ tại Cái Đôi Vàm, hai ông đi lên thị trấn Sông Đốc thuộc xứ  Cà Mau. Lối nửa đường thì tới Vàm Đầm, nơi đây củng có một đồn công an biên phòng đóng trong bờ, Vàm Đầm này là phụ lưu cái Đầm Bà Tường. Đầm Bà Tường nó rộng không biết bao nhiêu cây số. Cái Đầm cho nên nước không cạn mà củng không sâu, ghe biển đi không được, chỉ có ghe buôn nhỏ đi mới được.

Vì vậy mà không có sở đáy nào chỉ chung quanh bờ dân họ cắm chà để lâu lâu bao bắt cá đồng (Lúc tôi còn ở sông Đốc nhằm chiến dịch phong tỏa địch, tôi quá giang Võ Lãi đi ngã đầm Bà Tường từ chợ Cà Mau về nhà, họ chạy sáng đêm mới kiếm được kinh Xáng Bà Kẹo về sông Đốc). Khỏi vàm Đầm chạy lên là thấy nóc chùa Tịnh Độ Cư Sĩ Hưng Hải Tự nổi bật trên nền trời. Vô Vàm cửa sông Đốc, tay trái là đồn công an biên phòng, tay mặt đồn kiểm soát Cô Động Nước. Một cửa khẩu hai bên có đồn kiểm soát chặt chẽ ghe xuồng vô ra.

Cửa sông Đốc hai bên mé sông dân chúng cất nhà sàn, bên trong phố lầu. Dấu hiệu cho thấy một nơi vẫn còn nếp sống phồn thịnh, vì dưới sông ghe biển, ghe buôn đậu chật từ ngoài Vàm vô chợ. Tại đây củng như dưới Cái Đôi Vàm… nhà nào củng có đặt bàn thờ tổ quốc trên cái ghế đẩu, có cái lư hương vài cộng nhang tàn. Thấy nhà nào củng có cái ghế đặt bàn thờ như vậy. Người cộng sản luôn hô hào đả phá dị đoan và mê tín, vậy mà nay họ ra lịnh nhà nhà phải đặt bàn thờ, đốt nhang dầu cho Công Giáo hay Tin Lành. Luôn luôn họ nói một đàng nhưng lại làm một nẻo. Lên bờ nhị vị tiên ông cải trang theo lối người lái đi buôn khô, mặc đồ Pyjama đen, đội nón lá, tay ôm bao đệm, đó là hình ảnh của các người đi mua bán cá khô. Lái thiệt củng có mà lái giả củng có, mà phần nhiều là lái giả. Lái giả, giả dạng đi mua cá khô đặng đi dò đường, lỗ cũng đi, lời cũng đi, đi tìm cơ hội đặng đi luôn…Tiên ông Lữ Đồng Tân thì lấy tên Hai Tân, Lâm Thái Hòa thì lấy tên Ba Hòa, đi lần vô chợ thì thấy phía tay trái có tấm bãng lớn để Hán Tự: Thánh Mẫu Sầu. Mấy ông biết đó là nơi chùa Bà Mã Châu. Mã Châu Thánh Mẫu. Nay bị xóa mà viết Thánh Mẫu Sầu? dấu hiệu S.O.S.

Bà đã bị tai nạn cầu cứu, đám cháu bà là tư sản mại bản, thì đã bị họ đánh tan tành rồi, đóng vàng ra đi tỵ nạn, trên đường đi bị hải tặc dìm xuống biển Đông, cả thế giới đều biết. Còn bà là người hiển thánh, chân tu mà bị lâm nạn là lý do gì?

Nhị vị tiên ông vô chùa thăm bà Mã Châu. Là thánh bà đã biết sẽ có hai tiên ông viếng chùa , nhưng bà yếu quá. Khi vô tới nơi sao thấy cảnh chùa nó hoang vắng lạ thường?

_Năm trước chư tiên nói cảnh chùa trên Cà Mau vẫn được bá tánh đến chiêm bái đông đảo, sao hôm nay lại gặp Sư muội một mình tại đây?

Phía ngoài kia dân chúng bán buôn náo nhiệt còn trong chùa thì lại hoang vắng như vừa bị thiên tai?

_Trước năm Mậu Thân, con đường sông duy nhất nói liền thị xã Cà Mau sông Đốc và ngược lại thì người bên kia họ cấm triệt để, họ cô lập quận với tỉnh An Xuyên. Họ kêu là phong tỏa kinh tế, lấy nông thôn bao vây thành thị. Vì tại quận này có nguồn lợi xuất khẩu cá Gộc qua Tân Gia Ba, bên này thâu nhiều ngoại tệ và nuôi sống cả trăm ngàn gia đình ngư phủ. Vì vậy riêng về ngành thương mại họ đi ngã ngoài lên Thị xã Rạch Giá bằng những chiếc ghe biển. Còn bá tánh tín ngưỡng không thể nào đi con đường quá xa như vậy. Từ Sông Đốc ghe biển chạy cỡ hơn 12 tiếng đồng hồ mới tới Rạch Giá, rồi đi xe quạ thị xã Cần Thơ, xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu. Nhất là con đường từ Bạc Liêu xuống Cà Mau chỉ có 60 cây số mà xe chạy thật khó khăn vì đường lộ bị phá hoại, khúc còn khúc mất… Cho nên hội Hoa kiều Triều Châu họ mới cất ra cảnh chùa này.

Cũng để kỷ niệm tại cuộc đất này là chổ trước kia tôi quá giang tàu buồm Hải Nam qua đây, tạm ở lại đây một thời gian, trước khi lên làng An Xuyên là thị xã Cà Mau bây giờ. Tại đây cũng có chùa Phát Tịnh Độ Cư Sĩ, có thánh Thất Cao Đài có nhà thờ Công Giáo, có đạo Bà Tiên Cô . Đó là tín ngưỡng riêng của người An Nam, ngôn ngữ bất đồng, sự tín ngưỡng khác nhau.

Có cảnh chùa này tới ngày vía bá tánh tới đây. Tôi từ Cà Mau xuống dễ, sau năm 1975 VC họ chiếm thị xã Cà Mau và toàn miền Nam. Họ chiếm được miền Nam cũng nhờ sự giúp đỡ của mình. Đã có thời họ nói “môi hở răng lạnh là gì”? Vậy mà họ mau quên, mở chiến dịch đánh tư sản mại bản…Sau chiến dịch này đám con cháu mình, bị họ cướp mất tài sản. Cuối cùng phải nạp vàng cho họ, họ mới cho đi tỵ nạn. Nhà cửa bị tịch thu, ruộng đất bị vô quốc doanh cộng sản.

Theo truyền thống gìn giữ văn hóa Trung Hoa, nơi hải ngoại chùa nào cũng có một trường học. Chùa Bà Mã Châu tại thị xã Cà Mau cũng có một trường học Dục Tài. Tự nhiên có đám nón cối dép râu ào tới chùa lục soát và bắt tất cả nam nữ giáo viên đem đi. Họ gán cho mấy thầy cô giáo này là làm gì đó? Cho ai đó? Mà mình là người tu hành không hiểu danh từ?

Từ đó cửa trước cửa sau đều có người võ trang canh gát nghiêm nhặt. Không cho ai được phép lui tới viếng chùa, mà đâu ai dám lui tới làm gì cho thêm mang họa. Thành ra tôi mới xuống đây. Thời cuộc có đổi thay làm cho bá tánh mất niềm tin một thời gian nào đó thôi, sao tôi thấy sư muội có vẽ mệt nhọc quá vậy?

_Mấy ngày nay đâu trước Tết lối nửa đêm có đám người mặc đồ nylon, đội nón tai bèo, lẻn vô đây, họ đè sát tôi xuống, họ lấy dao cạo lớp sơn vàng bên ngoài, mà họ cho là vàng thiệt, vì từ hồi nào tới giờ họ sống trong rừng đâu biết vàng là cái gì? Họ cạo từ trên xuống dưới, đầy một nón tai bèo khi ra khỏi họ còn lấy màn chắn, bàn ghế mà họ cho là thâu chiến lợi phẩm? Tuy là họ cạo phấn sáp, nhưng tôi cảm thấy đau đớn như chính họ cạo thân thể tôi, đâu có hạng người nào ngu hơn cầm thú. Chùa là chung của bá tánh họ cũng lẻn vô ăn trộm đồ thờ phượng là của chung. Chư huynh tới đây rồi đi về vùng đất có tự do hơn. Vì đi tới đâu cũng thấy toàn là chuyện đau buồn của đám con cháu.. Bà Mã Châu tu nhiều năm nay, là bùa hộ mạng cho bá tánh tín ngưỡng người Trung Hoa, người Miên và người An Nam. Tới ngày rằm tháng Giêng là lễ vía Bà. Người tín ngưỡng tới ngày nay, thập phương bá tánh tới chiêm bái và vay tiền từ 10 đồng cho tới 50 đồng. Số tiền vay đó đem về nhà phân phát cho tất cả trong gia đình

Để tiền đó trong mình làm bùa hộ mạng để được mạnh giỏi quanh năm, đi buôn được buôn may bán đắt, một vốn năm lời. Vay trái cây như chuối, dưa hấu, cam, quýt, những thứ trái cây này cũng đem về cho cả nhà ăn lấy lộc của bà Mã Châu tiêu trừ bá bịnh. Rồi đúng ngày rằm tháng Giêng năm sau ai vay 1 trả 2. Người nào giựt không trả thì bị hộc máu chết. Cho nên tới ngày rằm tháng Giêng , khu vực chùa bà Mã Châu tại thị xã Cà Mau thật là náo nhiệt. Chính điện thiện nam tín nữ chiêm bái, khói hương mịt mù không thấy đường đi. Bên tả thì người tới trả, trả tiền vay năm rồi, trả trái cây. Bên hữu thì người tới vay, vay tiền, vay trái cây. Trước sân chùa bà có gánh hát Tiều (nay tức là huê viên chùa Bà mé sông) Nơi đó gánh hát Tiều được cất lộ thiên theo lối dã chiến. Trên lợp bằng vãi bố chung quanh che bằng cà tăng sơn dầu trong. Rạp cất cao khỏi đầu người có khi rước gánh hát Thùng Đen có năm thì rước gánh hát Thùng Đỏ. Bởi vì khán già bình dân Miên Việt không biết chữ Tàu, nhưng thấy những rương đựng đồ sơn đen họ kêu gánh Thùng Đen, còn sơn đỏ thì họ kêu gánh Thùng Đỏ.

Sân khấu hát Tiều không có bỏ màn như cải lương, hay như Dù Kê Miên. Khi tới tuồng thì họ có cây kèn dài miệng loa, từ trong buồng hát thọc ra sân khấu thổi tò le tí le, là giờ ra tuồng, cũng như vậy khi cái kèn thọc ra sân khấu thổi lên là khán giả biết đã hết một lớp.

Cải lương thì giàn đờn dấu phía trong, trái lại hát Tiều thì giàn đờn chưng ra ngoài, nhạc sĩ cởi trần đưa lưng ngoài sân khấu. Kế bên diễn viên múa hát, đối với con mắt người An Nam nó mất vẽ đẹp trong phần đất nhỏ trên sân khấu mà ba Tàu thì họ tự nhiên. Trong hậu trường hát Tiều, có các chuyên viên lo việc hóa trang, người lo vẽ mắt, người lo chọn y phục cho diễn viên ra sân khấu từng lớp một. Người đạo diễn luôn đứng sát cánh gà theo dõi những động tác diễn viên ngoài sân khấu, vì họ tập luyện, nếu như kép mà thủ vai trò đào thì bộ điệu phải mảnh mai, uốn éo nhẹ nhàng, không độn mông độn vú như mình. Măc xiêm y và tô son điểm phấn thì khán giả khó mà phân biệt được. Còn đào thủ vai kép thì điệu bộ phải hiên ngang, anh hùng. Gánh hát tới đâu có một chổ dành riêng cho cả đào lẫn kép, khi đi lại rạp thì mặc đồng phục, đi có hàng dưới sự hộ tống của nhân viên gánh. Người Chệt họ nói những đào kép trẻ tuổi này là cha mẹ đã bán đứt cho bầu gánh, cho nên dưới sự luyện tập khắc khổ sợ nhiều đứa trốn ra ngoài. Trên sân khấu Trung Hoa, nói riêng về hát Tiều. Họ có một điệu hát tiếp hơi ngoài sân khấu, diễn viên hát có kéo dài hơi ra ê ê ê ê gần đứt hơi, thì trong buồng lớn nhỏ đồng loạt kéo theo cũng dài như vậy cho tới khi anh kép ngoài sân khấu lấy hơi khác thì trong buồng mới dứt giọng ê, ê, ê đó.

Cũng loại hòa âm tiếp vận đó, người Miên hát Dù Kê cũng đồng tiếp vận hòa âm y như hát Tiều. Như vậy hai dân tộc, hai văn hóa khác nhau mà lại cùng gặp nhau một điệu hòa âm tiếp vận như vậy, không biết là ai đã bắt chước của ai?

Rạp hát Tiều được dựng lên một chổ cố định, vậy mà khi hát cũng cho bà đủ 3 đêm, thì kế tiếp đó họ hát luôn cả tháng? Vì xóm này xin hát 3 đêm Tống Hỏa, vì sợ nếu không cúng Tống Hỏa thì bà Hỏa về viếng còn hao tài tốn của bằng trăm lần 3 thứ hát cúng cho bà Hỏa, rồi xóm kia cũng xin hát cúng Ông Ôn 3 thứ nếu không thì sợ Ôn Dịch về thăm thì không chết cha thì chết mẹ. Rồi xóm khác cũng lại xin hát 3 thứ cầu An cho miếu Ông Tà. Nếu hát cho vị nào mà ở xa rạp thì trước khi hát có một đám đào kép đi lại chổ đó cùng với ban khánh tiết sở tại thỉnh bài vị về rạp để trước sân khấu cho quý khách đó coi ghế thượng hạng.

Hát Tiều thì hát từ đầu hôm tới gà gáy sáng. Đầu hôm thì để cho vợ con và thanh niên coi rồi về và từ khuya tới sáng thì để cho người lớn coi. Đầu hôm hát tuồng, vãn hát tuồng thì tới hát Tích. Sự tích này rồi tới sự tích kia, mỗi tích đều được họ đưa tấm bản. Nhờ vậy mà Huê kiều ở hải ngoại hàng bao nhiêu năm, họ vẫn còn nhớ được những sự tích nước nhà tận bên Tàu.

Khi hát giúp cho cộng đồng tín ngưỡng các nơi xong, thì gánh hát dọn vô rạp, trong rạp thì họ mới chưng dọn một sân khấu rực rỡ cũng như cải lương mình vậy. Nhưng cũng là các nhạc sĩ ngồi ngoài sân khấu. Hát tại địa phương nào thì bang trưởng nơi đó họp với người tiền đạo gánh hát đi phát số coi hát. Số có ba hạng, khi chủ nhà hay chủ tiệm lãnh số đó thì mỗi đêm lại phòng bán vé ghi vô coi. Họ không có bán vé như mình, cho tới khi gánh hát dọn đi nơi khác thì mới trả tiền cho gánh hết một lần. Mà hình như người Hoa kiều mỗi năm họ chỉ đi coi hát một kỳ như vậy.

Trong năm 1987 này, anh Năm Sum chủ tịch Hội Người Già Đông Dương vùng Springvale mời tôi lên dự buổi tiệc gì đó. Khi tới nơi tôi gặp được một bạn tài tử người Trung Hoa Triều Châu, rồi những âm thanh Chảo Chia đó nó làm cho tôi quên ăn quên uống. Trên đất Úc Đại Lợi vùng Springvale … mà tôi mơ màng tưởng đâu là tôi hiện ở Cà Mau hay Sóc Trăng?

Về nhà gợi cảm, tôi viết bài này.

Chim Việt

Thân tặng anh Lương Văn Sum Chủ tịch Hội Người Già Đông Dương 9 Hillcresst Grove Springvale Victoria 317. Người cùng tôi rời đảo Pulau Bidong list Australia ngày 25.8.1982 PB 562


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply