Đà Nẳng 1966

baotreonline.com posted on 23 Jan 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Aug 2023

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com

Hồi ký 7 kỳ – Kỳ 6

Một hôm đang lang thang trong sân nhà thờ Pleiku, tôi tình cờ gặp lại anh cựu Trưởng ban 5 Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân là Hồ Văn Hữu. Anh Hữu đã lên thiếu úy, và đang mang trên người bộ quần áo của Cảnh-Sát Dã-Chiến. Hữu ngỏ ý xin tôi một bộ đồ hoa. Tôi ngạc nhiên,

– Anh đã sang Cảnh-Sát rồi còn xin đồ rằn ri Biệt Ðộng làm gì?

– Mình xin ra khỏi Cảnh-Sát rồi.

– Lý do gì vậy?

– Không hợp với mình, nếu ở vào trường hợp mình, Long cũng làm như mình mà thôi.

Tôi về Biển-Hồ lấy một bộ đồ hoa, đem ra cho Hữu. Hữu đang tá túc trong nhà cô bạn gái tên là Trang. Cô Trang là ca ve của Hội Quán Phượng-Hoàng. Vài ngày sau, Hữu lên đường đáo nhậm đơn vị mới. Ðơn vị mới của anh là Biệt Khu 24 trú đóng trên Kontum. Năm 1974 anh Hữu đã thành một Thiếu tá tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Trước lúc ra đi, Hữu tâm sự với tôi,

– Ở Cảnh-Sát người ta nhìn mình với con mắt khinh khi. Thấy mình, họ cứ xầm xì với nhau rằng, tụi Biệt Ðộng Quân Tiểu Ðoàn 11 là bọn lừa thầy phản bạn, sớm đầu, tối đánh. Mình định xin về lại Tiểu Ðoàn 11, nhưng ngại anh em binh sĩ còn oán hận mình, vì ngày đó mình đi theo ông Dzu. Cuối cùng, mình đành chọn Biệt Khu 24.

Thời gian ở Pleiku tôi cũng phát hiện ra, ngoài những quân nhân của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, còn nhiều người trực thuộc những đơn vị khác của Vùng 1 cũng bị đổi lên Cao Nguyên như chúng tôi, với cùng tội trạng là đã tham gia phong trào ly khai chống chính phủ.

Trong khi hồ sơ quân bạ của tôi còn bay lang thang đâu đó thì cái giấy phạt thứ nhì đã tới Ban 1 của Chiến Ðoàn. Giấy phạt lần này là 60 ngày trọng cấm do Tướng Cao Văn Viên ký, tội trạng được sao lại nguyên văn từ giấy phạt của Tướng Hoàng Xuân Lãm: “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”

Tướng Cao Văn Viên và Tư lệnh Sư đoàn 7 Nguyễn Bảo Trị. sites.google.com

Như vậy là cùng một tội trạng, tôi đã lãnh 90 ngày trọng cấm. Nhận cái giấy phạt dưới hình thức “gia tăng tối đa” của Trung tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, lòng tôi không chút mảy may lo sợ hay buồn phiền gì cả; tôi như đứa bé chịu nhiều roi vọt quá, đã trở thành chai đá, lì đòn mất rồi!

Trung tá Ninh, trong các buổi họp tham mưu, đã nhiều lần áy náy cho tình trạng của tôi:

“Tội nghiệp thằng bé! Cấp chỉ huy đều trở giáo hết, nên tội lớn, tội nhỏ đều đổ lên đầu nó cả!”

Trước Noel 1966 Chiến Ðoàn 2 phải đi hành quân vùng Ðức-Cơ. Thiếu tá Phạm Văn Toán, Chiến Ðoàn Phó chỉ huy cuộc hành quân này. Tôi ở lại hậu cứ với Trung tá Nguyễn Ðức Ninh Chiến Ðoàn Trưởng.

Ở nhà, bất ngờ tôi nhận được một trát đòi của Tòa Án Quân Sự Nha-Trang do Thượng sĩ Linh, Tiểu Ðội Trưởng Quân Cảnh Tư Pháp Pleiku chuyển tiếp. Lý do ra tòa của tôi là can tội:”Dùng vũ khí tấn công, gây thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và nhân mạng cho lực lượng Ðồng Minh trú đóng trong phi trường Ðà-Nẵng”.

Trung tá Ninh thương tình, du di cho tôi thoải mái vài ngày, sau Tết Dương Lịch, ông mới cấp sự vụ lệnh cho tôi ra đi.

Tới Nha-Trang tôi được Quân-Cảnh Tư Pháp gửi tạm trú trong Ðơn Vị 2 Quản Trị Ðịa Phương chờ ngày ra tòa.

Cuối cùng, vì không nhận được đơn khởi tố của Không Quân Hoa-Kỳ ở Ðà-Nẵng, tòa không đủ yếu tố buộc tội, đành chuyển tôi sang cho Hội Ðồng Kỷ Luật xét xử. Chỉ sau vài chục phút hội họp, Hội Ðồng Kỷ Luật Nha-Trang do ông Ðại tá Cách chủ tọa đã ra quyết định:

“Nay giáng cấp Thiếu úy hiện dịch Vương Mộng Long xuống thành Trung sĩ hiện dịch Vương Mộng Long.”

Nhớ lại, đầu năm 1966 mới ra đơn vị được mười hai ngày, tôi đã lên chức đại đội trưởng, được đề nghị đặc cách trung úy. Tôi khấp khởi mừng vì thấy con đường binh nghiệp của mình thật quá xán lạn, quá hanh thông.

Không ngờ chỉ một năm sau, cũng đúng dịp Tết Âm Lịch (1967) tôi bị sao quả tạ chiếu tướng, từ thiếu úy thực thụ, bỗng chốc bị đặc cách lên… trung sĩ thực thụ!  Ðời tôi xuống dốc không phanh.

Xuống trung sĩ rồi, tôi còn bị nhốt thêm 60 ngày trong Quân Lao Nha-Trang để trả nợ cái án phạt của Trung tướng Cao Văn Viên.

Hết hạn phạt giam, tôi về trình diện Khối Thặng Số của Ðơn Vị 2 Quản-Trị Ðịa Phương chờ ra đơn vị mới. Trong gần bốn tháng đầu năm 1967, tôi làm việc dưới quyền ông Chuẩn úy Thành, một sĩ quan mới ra trường. Ông Thành này là cựu trung sĩ Biệt Ðộng Quân, thuộc cấp cũ của tôi. Tháng 2 năm 1966, tôi đã ký giấy cho phép Trung sĩ Thành theo học khóa Sĩ-Quan Ðặc-Biệt Thủ-Ðức.

Mỗi đêm, sau giờ giới nghiêm, tôi chỉ có việc leo lên xe ngồi bên Chuẩn úy Thành, đi một vòng, quanh Quân-Trấn Nha-Trang, kiểm tra một số yếu điểm rồi trở về doanh trại.

Ban ngày được nghỉ, tôi lang thang trong phố, mặt trời đứng bóng thì quay về Ga ăn cơm trưa. Cơm trưa xong, tôi leo lên lưng chừng ngọn núi đằng sau Trường Bồ-Ðề, chui vào cái cốc (chùa nhỏ) của một cư sĩ Phật Giáo để nghỉ trưa và đọc sách. Tới chiều, tôi tụt xuống phố, thả bộ tàng tàng trên bãi biển, hôm nào siêng thì nhào xuống nước, bơi lội một hồi rồi trở về Ga Nha Trang, ăn cơm chiều xong là trở về đồn, làm công tác tuần tra đêm.

Một buổi trưa có hai thanh niên leo lên núi gõ cửa hỏi ông cư sĩ rằng:

“Có ai là Thiếu úy Vương Mộng Long đang ở đây không?”

Tôi ra mặt, xưng tên, thì hai anh này đưa tay ra dấu cho tôi theo họ ra vườn sau. Họ vắn tắt cho tôi biết họ là Mật Vụ của Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan. Ðại tá Loan phái họ ra để thâu nạp tôi về Cảnh-Sát. Họ nói Ðại tá hứa sẽ cho tôi lên trung úy do công lao thắng trận Kỳ-Lam, rồi cho tôi chỉ huy một đơn vị Cảnh-Sát Dã-Chiến dưới quyền trực tiếp của Ðại tá. Hai anh này cũng nói rằng sĩ quan của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có dính dáng tới vụ lộn xộn năm 1966 đều được ân xá. Ông Nguyễn Thừa Dzu được lên thiếu tá, các anh khác như Tôn Thất Trực, Nguyễn Văn Lẹ, Nguyễn Văn Vinh, Thái Văn Nghiệp, Lê Bá Ngọ, đều được Ðại tá trọng dụng, trao cho những chức vụ có quyền hành trong các cơ quan Bài Trừ Du Ðãng hay Cảnh-Sát Dã-Chiến.

Tôi chưa biết quyết định ra sao thì hai anh Mật Vụ móc túi chìa cho tôi xem Thẻ Hành Sự của họ để chứng minh họ không là thứ giả. Tôi trì hoãn bằng cách nói, để suy nghĩ lại, sau ba ngày tôi sẽ trả lời.

Hai ngày kế tiếp tôi không lên núi ngủ trưa. Tôi cứ ngồi ở đầu giường, suy nghĩ đắn đo, quên cả cơm trưa, cơm chiều. Nếu về với ông Loan, tôi sẽ bị đánh giá cá mè một lứa với bọn sớm đầu tối đánh, phản bạn phản thầy; mà không về với ông Loan thì đành ôm cái lon trung sĩ biết lúc nào mới ngóc đầu lên được?

Nhớ ngày lên đường vào Trường Võ-Bị, bạn tôi, ai ai cũng mang theo va li hoặc xách tay, tôi là người độc nhất không có hành lý. Trên tay tôi là hai quyển sách, quyển thứ nhất là “Tôn Ngô Binh Pháp” in từ năm 1952 bằng chữ Việt, quyển sách thứ hai có tên “L’Art de Commander” của Tướng De Lattre De Tassigny xuất bản năm 1960 bằng chữ Pháp.

Bây giờ muối mặt về với ông Loan, tôi sẽ thành một tên “hàng thần lơ láo” chịu ơn người ta, quỵ lụy người ta suốt đời. Với tình hình chính trị loạn xà ngầu như những năm qua, biết đâu về đầu quân cho ông Loan rồi, lại xảy ra chính biến, chỉnh lý, nhỡ ông Loan thua, chẳng lẽ tôi bỏ ông ấy hay sao?

Mặt khác, nếu không theo ông Loan thì với cái lon trung sĩ, tôi sẽ làm gì ích quốc lợi dân với cái bụng chứa đầy “Nghệ Thuật Chỉ Huy” của Tướng De Lattre De Tassigny cùng những”Binh Pháp” thần sầu, quỷ khốc của Tôn Tướng Quân và Ngô Tướng Quân?

Từ ngày còn rất nhỏ tôi đã đọc những truyện dã sử Tàu; lớn lên tôi cũng nghiền ngẫm những quyển sách chứa các giai thoại về sự nghiệp, công danh của các danh tướng cổ kim như: Tôn Võ Tử, Ngô Khởi, Gia Cát, Từ Thứ, Alexander Ðại Ðế, Napoleon Ðại Ðế, Quang Trung Ðại Ðế, Rommel, Patton…

Tôi mê cách hành binh xuất quỷ nhập thần của Rommel, tôi thích những lá thư tình của Napoleon gửi cho Joséphine.

Với tôi, không phải gương xưa nào cũng đáng noi theo đâu!  Ði lính rồi, tôi học và làm theo gương sống hòa đồng cùng thuộc cấp của Ngô Khởi, nhưng tôi chê cái cách tiến thân của vị danh tướng này; giết vợ cầu vinh, thay thầy, đổi chúa là điều đại kỵ đối với một đệ tử của Khổng, Mạnh. Cũng như truyện Câu Tiễn nếm phân mưu đồ phục quốc, truyện Hàn Tín luồn trôn để sau này thành đại tướng, chỉ là những cái gương xú uế lưu truyền trăm nghìn năm về sau mà thôi!

Tôi ngồi ở đầu giường, bộ quần áo hoa của tôi treo trên cọc mùng nơi cuối giường. Nhìn bộ rằn ri, tôi chợt nhớ lại lời tâm sự của anh Hồ Văn Hữu lúc chia tay, rồi tôi quyết định sẽ chọn câu trả lời “Không”.

Ðúng ngày hẹn, hai ông Mật Vụ quay trở lại, tôi nói:

“Không!”

Hai vị này trợn mắt, ngạc nhiên rồi bùi ngùi,

– Thật đáng tiếc! Một ngày nào đó anh sẽ hối hận!

Tôi chưa kịp hối hận thì thêm hai vị khác từ Phủ Thủ Tướng tới tìm gặp. Hai vị này ngỏ ý muốn chiêu dụ tôi về phục vụ dưới trướng Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Lần này thì không cần suy nghĩ lâu la, tôi dứt khoát:

“Không!”

Thời gian chính biến Miền Trung 1966 xảy ra, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Nguyễn Văn Thiệu, chỉ là những “Sứ Quân”, còn Tướng Nguyễn Chánh Thi, cũng chỉ là một “Sứ Quân”. Kẻ thắng làm vua, người thua là “Phản loạn”

Tướng Nguyễn Chánh Thi và Tướng Nguyễn Cao Kỳ

Trong một đất nước có quá nhiều “Sứ Quân”, biết ai sẽ là người chiến thắng sau cùng? Biết ai sẽ làm vua? Biết ai sẽ là “Minh Chúa” mà theo?

Thật tình mà nói, tôi chưa hề phù trợ cá nhân Tướng Nguyễn Chánh Thi. Tôi chỉ giáp mặt ông Tướng này chưa đầy năm phút trên chiến địa, khi ông ta đáp xuống thăm đại đội tôi sau khi trận Tháp Bằng An vừa kết thúc, làm sao tôi có dịp ở bên ông ta, biết ông ta là con người như thế nào mà phải sống chết theo ông ta?

Giả sử ngày đó ông ta được người Mỹ giúp đỡ, loại hết địch thủ, trở thành lãnh tụ, thì chắc gì ông ta còn nhớ tới tôi?

Tôi đã suy tính rất đắn đo khi quyết định không phò tá bất cứ ai, không suy tôn bất cứ ai, không nợ nần ai. Cho dù có bị giáng cấp như hiện thời, tôi vẫn thấy không mảy may xấu hổ hay hối hận vì những gì mình đã làm. Tôi làm, tôi chịu, tôi không than van, tôi không đổ lỗi cho ai. Việc tôi làm, dù đúng, dù sai, đã có trời cao chứng giám.

Thời gian sống ở Nha-Trang thật là quá an nhàn và vô vị. Thong dong suốt ngày mà tôi vẫn thấy như lúc nào cũng chồn cẳng, chồn chân.

Cũng may, nửa năm sau tôi có dịp gửi thư cho Ðại tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Biệt Ðộng Quân để xin về phục vụ đơn vị cũ.

Ngay sau khi nhận thư của tôi, Ðại tá Chỉ Huy Trưởng đã đích thân đọc hết bản cung từ mà tôi đã khai khi bị giam giữ ở Ty An –Ninh Quân- Ðội Quảng-Nam.

Bản cung từ này chỉ cần đọc qua một lần là đã thấy bao chuyện vô lý và khôi hài: tỷ như tôi đã bị kết tội, cùng một ngày, cùng một giờ, vừa chận đánh một đoàn xe chở quân của Sư Ðoàn 2 Bộ Binh ở Tam-Kỳ, vừa đặt súng ở chùa Phổ- Ðà, pháo kích vào phi trường Ðà-Nẵng, lại vừa bắn nhau với Thủy Quân Lục Chiến ở Ngã Ba Cây Lan! Cứ như thể là, tôi có phép phân thân, đằng vân, giá võ, thần thông quảng đại, giống con khỉ Tôn Ngộ Không!

Ðại tá Chỉ Huy Trưởng cho rằng tôi vì bị khảo đả đau quá, không chịu nổi, nên đã nhận bừa những tội danh mà mình không hề gây nên, do đó, ông đã đề nghị Nha Quân Pháp cho tôi phục hồi cấp bậc thiếu úy, chỉ bị phạt treo lon trung úy trong thời hạn hai năm mà thôi.

Sau này, lâu lâu nhớ lại chuyện xuống cấp, lên lon, tôi lại thầm cám ơn ông Công Ðại Việt. Chính nhờ ông gán ghép cho tôi toàn những tội danh tày đình trên bản cung từ mà tôi và ông ký tên bên nhau, nên tôi mới được Nha Quân Pháp bóc đi cái lon trung sĩ đã mang trên cánh tay áo gần nửa năm trời.

Tuổi hai mươi vào đời, tâm hồn tôi như tờ giấy trắng tinh. Vậy mà chỉ qua một năm thăng trầm, tôi đã nhận ra rằng, biển đời rộng mênh mông, không thiếu những gương sáng tiết liệt, trung kiên, nhưng cũng ngập tràn phản phúc, lọc lừa.

Giữa tháng 6 năm 1967 tôi trở về đơn vị cũ, cần cù bám đất Pleiku, làm lại từ đầu. Vàng ròng đâu sợ lửa? Rồi cũng có ngày đất nước cần tới bàn tay đóng góp của tôi.

Tôi đã ngoi lên từ từ, nhưng thật là vất vả.  Nhiều chiến công của tôi đã bị người ta cướp đi mất. Nhiều công lao, thành tích của tôi đã bị thượng cấp cố tình quên. Mãi bốn mươi năm sau, thượng cấp của tôi mới nói được lời hối lỗi, thì đã quá muộn màng!

Nhưng tôi vẫn là tôi, vẫn là một cây tùng lúc nào cũng đứng thẳng.

Tất cả những tấm huy chương trên ngực tôi đều đẫm máu, tất cả những bông mai vàng, mai bạc trên cổ áo tôi đều đẫm máu, máu của chính tôi và máu của những người lính dưới quyền tôi.

Thế rồi, cuối năm 1967 Miền Nam đã có tuyển cử.

Ông Kỳ đắng cay thoái lui, làm nhân vật số 2, đứng sau lưng ông Thiệu. Lúc ấy chỉ còn có một mình “Sứ Quân” Nguyễn Văn Thiệu tồn tại; ông Thiệu trở thành lãnh tụ, lên ngôi, lãnh đạo nền Ðệ Nhị Cộng-Hòa.

Nhìn lại thì, trong cuộc “Chính biến Miền Trung năm 1966” những người cầm đầu quân đội như Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tướng Nguyễn Văn Chuân, Tướng Tôn Thất Ðính, Tướng Huỳnh Văn Cao, Tướng Phan Xuân Nhuận, Ðại tá Ðàm Quang Yêu, cùng các vị cầm đầu Phật Giáo Ðà-Nẵng như Ðại Ðức Thích Minh Chiếu, Chánh Sở Tuyên úy Phật Giáo Vùng 1 Chiến Thuật, Ðại Ðức Thích Như Huệ, Tuyên úy Phật Giáo của Trung đoàn 51 Bộ Binh chỉ bị giải ngũ, chẳng có vị nào bị bắt bớ, giam hãm tù đày cả.

Hiến pháp của Việt-Nam Cộng-Hòa có quy định rõ ràng rằng: Ðặt Cộng- Sản ra ngoài vòng pháp luật! Nếu những người cầm đầu này là Việt-Cộng, thì họ đã bị bỏ tù rồi!

Trong khi đó thì những người đi theo họ, nghe lệnh họ, lại bị tù, bị theo dõi, bị trù ếm, bị coi là theo chân Cộng-Sản!

Đà Nẳng 1966

treonline.com

Posted on 6 Jan 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 4 Aug 2023

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com

Hồi ký 7 kỳ – Kỳ 5

Một tuần lễ trôi qua, tội trạng của tôi được đúc kết và ghi chép lại thành một tập dày trên hai chục tờ giấy đánh máy. Thẩm vấn viên Công đọc lại cho tôi nghe một lần, rồi yêu cầu tôi ký tên cạnh tên ông ta nơi trang cuối cùng. Tôi nhanh nhẹn ký liền. Thế là xong việc!

Cũng từ hôm kết thúc hồ sơ, tôi không còn dịp gặp riêng ông Công lần nào nữa. Năm sau tôi được tin ông Công ra ứng cử chức dân biểu quốc hội, đại diện cho khu vực Hội-An nhưng không được dân tín nhiệm.

Ít bữa sau, hồ sơ của tôi được chuyển ra Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng.

Tôi thấy các ông Trung úy Cư, Thiếu úy Nồng, Trung sĩ 1 Ru cùng nhiều vị khác bị giam ở đây đã lâu, vậy mà hồ sơ của họ vẫn chưa thụ lý xong mới lạ!

Nghe tôi nói hồ sơ của tôi đã hoàn tất, ông Cư tò mò hỏi,

– Có chạy chọt hay sao mà lẹ vậy?

– Chạy chọt là sao?

– Thì dấm dúi tiền cho họ, họ bớt tội cho, đề nghị giảm khinh rồi gửi hồ sơ đi chứ gì nữa! Giả bộ ngây thơ hả?

Tôi nổi tam bành,

– Này! Ðừng có nói bá láp! Ông đánh bể mỏ bây giờ! Cái gì mà dúi tiền? Cái gì mà giảm khinh?

Thấy tôi sửng cồ, ông trung úy già vội làm hòa,

– Thì thấy cậu kết thúc hồ sơ nhanh quá, anh nghi, nên nói vậy. Thôi! Không phải thì bỏ qua nghe!

Sau đó chúng tôi hòa. Ông Cư cho tôi biết không phải ai cũng được đối xử nhân đạo như tôi đã được đối xử đâu. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, hai ông hạ sĩ quan và ông đảng viên Ðại-Việt không phải là những người tiếc những cú đấm ngàn cân giáng vào hàm, vào mặt quân ly khai, mà còn tận lực sử dụng nó một cách hăng say nữa! Quân ly khai nào ngoan cố, cứ chối tội hoài, thì biết tay các vị đó ngay.

Qua những lần tiếp xúc với các vị “đồng phạm” khác, tôi phát giác ra một điều: Khi bị hỏi cung, mọi người sợ bị phạt, cố tìm cách chối tội, đổ lỗi cho cấp chỉ huy đã ra lệnh cho họ tham gia lực lượng ly khai, chứ cá nhân họ không muốn như vậy.

Khổ một điều là cấp chỉ huy của họ giờ chót đã trở cờ, nên họ càng chối càng bị đánh; có người còn bị  trấn nước, đội đá, quay điện, cho tới khi chịu nhận tội, ký vào bản tự tường trình họ mới được yên.

Hóa ra tội gì cũng nhận như tôi mà lại hay; vừa được an thân vừa giúp đỡ các thẩm vấn viên khỏi vận công vận sức.

Anh Thiếu úy Nồng và một thiếu úy khác, bạn cùng đơn vị với anh ta cứ luôn mồm oán thán cấp chỉ huy trực tiếp của hai anh là ông Ðại úy Kỳ, chi khu trưởng hay chi khu phó gì đó.

Sĩ quan và hạ sĩ quan tuy bị nhốt trong nhà giam của An-Ninh Quân-Ðội nhưng ẩm thực lại do gia đình lo liệu. Ngày ngày cứ vào giờ quân nhân của tiểu khu nghỉ trưa, nghỉ chiều, chúng tôi lại ai về nhà nấy ăn cơm, hai giờ sau quay lại, cứ như là công chức!

Ông Trung úy Cư có cô con gái lớn tên là Mai mười sáu tuổi. Sau giờ học, cô Mai làm việc thêu thùa để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Ngày ngày cô Mai đều ghé nhà giam đưa cơm cho bố một lần vào buổi trưa. Cô cũng đem cho bố những mẩu vải cắt sẵn để ông giúp cô, thêu phù hiệu, huy hiệu, hay lon đen, lon trắng của quân đội Hoa-Kỳ. Ðêm đêm, dưới ánh điện mờ, ông Cư cặm cụi kim chỉ cho tới khuya mới đi ngủ. Những lúc ngồi buồn, ông Cư hỏi tôi đủ điều, về gia thế, tuổi tác, vợ con. Tôi tình thực kể chuyện đời mình cho ông bạn già đồng cảnh này nghe. Biết tôi chưa có gia đình, ông Cư nói đùa:

– Ngày mai con Mai tới đưa cơm, cậu thích nó thì gắng làm quen với nó. Nó cũng dễ coi, nhưng hiền lắm, chưa có bồ.

Tôi đã nhiều lần nhìn tận mặt cô gái Huế này rồi. Ngày nào cô ấy chẳng ghé đây? Cô ấy có thể gọi là đẹp, vừa ngây thơ, vừa dịu dàng.

Hôm sau tôi được một cô bạn gái vào thăm. Ông Cư lịch sự tránh mặt bằng cách ra sân tản bộ.

Cô Hối, bạn tôi, vốn là người tôi quen từ trước ngày đi lính; Hối là học trò Trường Trung Học Tư Thục Diên-Hồng, nhà cô ấy ở trước trại Tây Hồ. Mẹ tôi không có cảm tình với cô này, chỉ vì Hối không phải là con nhà dòng dõi Bắc-Kỳ Di Cư.

Hối mang cho tôi một giỏ quà gồm bánh tét, giò, chả, bánh ngọt và thuốc lá. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau gần một tiếng đồng hồ thì ông trung sĩ trực văn phòng tới gõ cửa, báo cho biết đã hết giờ.

Cô Hối vừa khuất dạng, hậu quả của vụ thăm nuôi đã ập tới ngay: Ông Trung úy Cư không còn nhắc tới tên cô Mai nữa; ông cũng quên luôn chuyện khuyên tôi tìm cách làm quen với ái nữ của ông.

Cũng nhân vụ chính biến 1966 này mẹ tôi mới nhìn ra, gần chục gia đình Bắc-Kỳ Di Cư mà mẹ tôi nhắm hỏi con gái nhà họ về làm dâu, gặp cơn hoạn nạn, chẳng có ma nào đoái hoài tới gia đình tôi cả. Thậm chí có nhà còn vội vàng gả chồng cho con gái, đám cưới xảy ra nhanh như đám cưới chạy tang. Chỉ có một “con bé Quảng-Nam” mà mẹ tôi không ưa nhất lại liều mạng vào nơi tù tội thăm hỏi con bà. Sau này vì tôi ở Pleiku, Vùng 2, xa xôi cách trở, nên tôi và Hối không còn liên lạc với nhau.

Cuối tháng 8 năm 1966 tôi ra Ðà-Nẵng trình diện Sở 1 An–Ninh Quân Ðội. Trung tá Chánh sở 1 dẫn tôi lên trình diện Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm tân Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật. Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, là nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh. Ông này đã đứng trung lập trong thời gian đầu của cuộc chính biến Miền Trung. Sau đó ông Lãm chỉ xác định lập trường ủng hộ Tướng Kỳ vài ngày trước khi Không Quân Mỹ đổ quân của chính phủ trung ương xuống phi trường Ðà-Nẵng. Người mà Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm đã thay thế là Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu tướng Cao nhậm chức thay Tướng Ðính sau khi tôi giải tán tiểu đoàn vài ngày. Vì lập trường của Tướng Cao cũng chao đảo, không dứt khoát, nên ông ta bị bốc chức ngay.

Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm – nguồn flickriver.com

Tôi đứng nghiêm giữa phòng. Sau bàn giấy, ông Tướng Thiết Giáp ngồi dựa lưng trên ghế, trước mặt ông là chồng hồ sơ ghi tội trạng của tôi. Ông từ tốn nói,

– Mi anh hùng dữ hí! Tau cũng nể mi luôn! Tau phạt cho mi nhớ hí! Sau này có làm việc gì cũng phải suy tính thiệt hơn, đừng hồ đồ mà mang họa vào thân!

Ðầu tháng 9 năm 1966 tôi ra trình diện Quân Lao Mang-Cá, Huế, sau khi lãnh cái giấy phạt 30 ngày trọng cấm với tội danh “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”

May mắn là, lúc nhận sự vụ lệnh của tôi, Trung úy Ưng Dung, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm 1 Quản Trị Ðịa Phương đã kịp nhận ra tôi là đứa bạn thân của thằng cháu ông, nên ông không tống tôi vào giam trong quân lao. Ông cho phép tôi được về ở trong nhà trọ sát chùa Báo Quốc, cấm lang thang trong thành phố. Mỗi ngày tôi phải vào văn phòng trình diện ký tên trong sổ điểm danh một lần.

Thời gian này tôi thấy người bạn cùng bị giam ở Hội-An là anh Thiếu úy Nồng, mặt mày xanh xao, thất thểu trong đoàn lao công có lính canh dẫn đi làm tạp dịch. Tôi không rõ tương lai đời anh thiếu úy kém may mắn đó đi về đâu.

Ngày 1 tháng 10 năm 1966 tôi được tự do lang thang bên bờ Hương Giang để chuẩn bị hôm sau sẽ từ giã Huế.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã bị đưa vào Pleiku thay cho Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân di chuyển ra Ðà-Nẵng. Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã có người chỉ huy mới là Ðại úy Nguyễn Kim Biên.

Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu đã đi luôn, theo nghề Cảnh-Sát, không một lần quay lại thăm đơn vị cũ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông Dzu đã trở thành một  trong số những người Việt-Nam tị nạn đầu tiên có mặt trên xứ Hoa-Kỳ.

Tôi được trả về đơn vị gốc là Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nên phải trình diện Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Biển Hồ. Vì tôi không mang theo hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Nguyễn Ðức Ninh, Chiến Ðoàn Trưởng Chiến Ðoàn 2, cho tôi làm một công việc làng nhàng là chức vụ phụ tá hành quân cho Ðại úy Nguyễn Văn Huân.

Nghe tin tôi trở về, anh em binh sĩ của Ðại Ðội 3/11 ùn ùn kéo nhau tới tụ hội trong căn gia binh của Trung sĩ Cẩn, mở tiệc nhậu mừng tái ngộ. Thầy trò chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò om sòm cho tới khuya.

Trưa hôm sau thì Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có lệnh lên đường vào vùng. Trước giờ vào sân tập họp, đàn em để lại cho tôi một bao cát gạo trắng, một chai tàu vị yểu con mèo, một cái nồi nấu cơm cá nhân, và một bó củi. Binh 1 Trần Ðược trao cho tôi một túi chứa bạc cắc và dặn tôi nếu đi Pleiku thì dùng nó để trả tiền xe Lamb.

Thời gian này đang là giữa mùa Ðông, mà ban đêm thì Pleiku lạnh lắm. Mấy chú đàn em lại quên không kiếm cho tôi một cái mền hay poncho để đắp khi đi ngủ, nên tôi phải đốt một bếp lửa giữa nhà, rồi ngồi bó gối hong cho đỡ rét. Tới khi mệt quá, tôi lăn quay ra chiếu, ngủ chưa được hai tiếng đồng hồ thì trời đã sáng rồi.  Hôm sau tôi vào bộ chỉ huy kể chuyện này cho Ðại úy Kính nghe. Ông Kính vội ra lệnh cho anh thủ kho phát cho tôi một cái mền nhà binh và một cái poncho.

Trong hai ngày kế tiếp tôi chỉ loanh quanh trong hậu cứ của Tiểu Ðoàn 11 và Chiến Ðoàn 2 rồi về căn cuối cùng của trại gia binh, nằm bên lề đường vào sở trà Biển Hồ, nấu cơm rồi ngồi ăn với xì dầu.

Trưa ngày thứ tư thì tôi lên xe Lamb ra phố tìm đường tới chùa Tỉnh Hội Pleiku.

Tôi vào chùa xin gặp mặt thầy trụ trì để trao một cái thư tay của Ðại đức Thích Chơn Phát. Người tiếp tôi trước khi được giáp mặt thầy trụ trì là ông trung úy đặc trách Phật Vụ của Quân Ðoàn II. Ông trung úy này tên là Nghiêm, tốt nghiệp khóa 14 Võ-Bị. Trung úy Nghiêm bảo tôi ngồi chờ trong văn phòng ông rồi nhanh nhảu mang cái thư tay đi tìm thầy trụ trì.  Chừng năm phút sau tôi được đưa lên phòng khách của chùa. Thầy trụ trì đã đọc những lời gửi gắm nhờ vả của thầy tôi, ông nhìn tôi rồi nói thật nhỏ,

– Con đừng tới đây thường xuyên. Chùa đang bị theo dõi. Tới đây thường sẽ bất lợi cho con.

Nói xong thầy trao cho tôi một cái bì thư khá dày. Tôi được Trung úy Nghiêm dẫn ra cổng rồi bắt tay từ biệt. Năm 1979 tôi gặp lại ông Nghiêm trong trại tù Nam-Hà A. Tôi nhắc lại chuyện xưa, thì ông đã quên.

Về tới Biển Hồ, tôi bóc cái bì thư, thấy năm ngàn đồng nằm trong đó. Mấy tháng rồi tôi không có lương, nên nhận được sự giúp đỡ này, tôi cảm động vô cùng.

Cũng nhân cái cớ tôi không có hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Ninh dễ dãi cho tôi miễn hành quân, cứ nhởn nhơ, lang thang trong phố, đôi khi cả tuần lễ tôi không ghé về Biển Hồ.

Các ông Trung sĩ Hai, Trung sĩ Nghiễm trong ban Biệt Cảnh, tuần tra của Biệt Ðộng Quân trong thành phố Pleiku đều biết tôi là sĩ quan phụ tá của ông Ðại úy Huân, nên chẳng làm khó dễ gì nếu gặp tôi nửa đêm, nửa hôm còn lang thang trong phố. Ngày qua ngày, tôi sống như một lãng tử bất cần đời.

Có một thời gian tôi tá túc trong nhà vợ chồng Trung úy Trọng, Trưởng ban 1 Chiến Ðoàn. Nhà này nằm trên đường Phan Ðình Phùng, Pleiku. Bên kia đường là một dinh cơ ba tầng lầu mới xây. Dinh cơ này có một cô tóc thề ngang vai, ngày ngày cắp cặp đi về. Tôi đã đôi lần cố tình đi ngược chiều gật đầu chào cô với tư cách là người hàng xóm lịch sự, nhưng cô ta làm lơ không thèm để ý.

Không ngờ, giữa trưa một hôm, chắc là ngày lành, tháng tốt (!) tôi nghe trên sân thượng nhà cô có tiếng gọi,

– Ông thầy ơi! Ông thầy ơi!

Ngẩng mặt lên, tôi nhận ra người đứng trên gác là Binh 1 Lê Hữu Hường, thuộc cấp cũ của tôi ở Ðại Ðội 3/11. Hường là một trong những người chứng kiến hình ảnh một thiếu úy Võ-Bị mới ra trường, chiều ngày 10 tháng 2 năm 1966 đáo nhậm đơn vị bằng cách đeo bám cửa sau một chiếc xe đò đầy khách chạy đường Hội-An, Ðà-Nẵng; Hường cũng là một trong hai mươi ba người của Trung Ðội 1, Ðại Ðội 3 đã tập họp trên Gò Phật, Thanh-Quýt, Ðiện-Bàn, Quảng-Nam để chào đón tôi về làm người chỉ huy. Từ sau trận Tháp Bằng An, Ðiện Bàn, Quảng-Nam, ngày 22 tháng 2 năm 1966, tôi trở thành sĩ quan đại đội trưởng của Hường cho tới sáng 20 tháng 5 năm 1966 là ngày thầy trò chia tay nhau nơi sân sau chùa Phổ- Ðà, Ðà-Nẵng.

Từ trái: Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Cao Văn Viên, Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, ngày 18 tháng 5, 1966 tại Đà Nẵng – photo © Bettmann / CORBIS

Hường vui mừng, rối rít mời,

– Ông thầy qua đây chơi!

Tôi qua đường, Hường cũng vừa mở cửa. Quay vào trong nhà, anh ra lệnh,

– Con Lê đâu? Pha trà! Pha trà mau! Nhà có khách!

Cô hàng xóm của tôi ló đầu sau cầu thang,

– Thưa cậu, con đây, có trà ngay!

Tôi ngồi chơi với Hường chừng nửa giờ sau thì cáo thoái.

Hường tiễn tôi ra cửa, vừa cười, vừa nói oang oang,

– Nhà này là nhà chị tôi. Lâu lâu tôi ghé thăm. Còn con Lê là cháu gọi tôi bằng cậu. Nó tuy ngổ ngáo nhưng dễ thương lắm. Ðể hôm nào tôi giới thiệu Thiếu úy cho nó nhe!

Về tới cửa nhà mình, tôi lần túi lấy bao thuốc lá. Chợt nhớ ra mình vừa bỏ quên chiếc bật lửa Zippo trên bàn nhà chú Hường đành quay lại tìm.

Tới cửa, tôi nghe hai cậu cháu anh Hường đang trò chuyện với nhau.

Tiếng cô cháu trách móc ông cậu,

– Cậu quen cái ông lính kiểng này hả? Cháu thấy ông ấy chẳng làm ăn gì cả. Chắc ổng là dân chuyên môn trốn hành quân, suốt ngày lang thang đi đếm cột đèn. Cậu lánh xa ông ta đi! Cậu ơi!

Tiếng ông cậu nạt cô cháu,

– Mi đừng có nói bá xàm, bá láp! Im cái mồm đi! Không biết cái gì mà cũng léo nhéo, tầm bậy, tầm bạ!

Nghe thấy thế, tôi quay lưng biến nhanh.

Lúc sau Hường qua gõ cửa,

– Ông thầy bỏ quên cái bật lửa.

– Ừ! Tôi cũng mới biết, nhưng chưa kịp chạy qua thì chú đã đem nó sang đây.

Hường chào tôi rồi hẹn,

– Lần tới, về nghỉ dưỡng quân, tôi sẽ dẫn ông thầy và con Lê vào rạp Thanh Bình coi ciné. Ði chơi chung vài lần là ông thầy và nó sẽ quen nhau.

Ngờ đâu, chỉ ít lâu sau, tôi biết tin Hường tử trận khi xác nó đã được đưa về tới quê nhà Hội-An rồi. Nó đền nợ nước trong lúc xung phong chiếm một mục tiêu trong vùng Tây Bắc quận Dak-Tô.

Đà Nẳng 1966

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 3 Aug 2023

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com

Kỳ 4

Ðầu tháng 6, Quân Trấn Hội-An mở một đợt hành quân hỗn hợp, bao vây và lục soát Long Tuyền Tự. Tôi tránh mặt bằng cách chui vào nằm trong cái rương dùng làm giường trong liêu tỳ kheo.

Buổi lục soát chấm dứt bằng vụ bắt bớ những người tình nghi phá rối trị an. Ba sư tăng lớn tuổi là Thích Như Sơn, Thích Như Quý và Thích Như Luận đã bị Cảnh Sát bắt về Quân Trấn để thanh lọc.

Lúc này trong chùa chỉ còn lại tôi, thầy Thích Chơn Phát, chú Thích Như Hạnh cùng hai chú tiểu bé con, đầu còn mang miếng vá, tôi không biết pháp danh, đó là chú Quýt và chú Chín.

Thấy tình hình không yên, sợ những người bị bắt sẽ khai tên tôi ra, nên mờ sáng hôm sau, tôi và sa di Như Hạnh ra đầu tỉnh đón xe đi Ðà-Nẵng lánh nạn.

Ít ngày sau, núp bên cửa sổ nhà người bạn, tôi xót xa chứng kiến hình ảnh anh Tôn Thất Trực, dưới bộ dạng của một nhà sư, áo lam, đầu trọc, bị trói ngoặt cánh khuỷu, đứng gục đầu trên xe Jeep mui trần, chạy chầm chậm trên đường Phan Chu Trinh Ðà-Nẵng. Người ta chở Tôn Thất Trực diễu quanh thành phố nhiều vòng để làm nhục anh. Tôi không rõ số phận Thích Như Huệ ra sao.

Như vậy, Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm xong chùa Tỉnh Hội, Hội–An. Nếu tôi không thoát khỏi vụ lục soát ngày hôm trước, chắc số phận cũng không hơn gì anh Tôn Thất Trực.

Tuần sau, thấy tình hình đã tạm yên, tôi bèn rời Ðà-Nẵng, trở lại Hội-An. Về tới chùa tôi mới hay, ngay chiều ngày tôi và chú Hạnh đi Ðà-Nẵng, những chư tăng bị bắt ngày hôm trước đã được tha. Chú Phong về chùa không gặp tôi nên đã bỏ chùa đi mất rồi.

Tôi nghĩ bụng, gia đình chú Phong ở ngoài Quảng-Trị, nếu Phong về được với gia đình thì không còn điều gì phải lo lắng cả.

Thời gian dài sau đó, tôi quen với nếp sống tu hành đạm bạc. Tôi ngủ trong liêu tỳ kheo cùng thầy Thích Như Luận. Như Luận lớn hơn tôi vài tuổi và là đệ tử lớn nhất của Ðại đức Thích Chơn Phát.

Ngày qua ngày, tôi chuyên tâm đọc những sách nghiên cứu về triết lý Phật Giáo. Rồi tôi say mê cái triết lý thoát tục này lúc nào không hay. Tôi đã có ý định rũ bỏ nợ đời, theo đuổi đường tu cứu vớt chúng sinh. Thầy Chơn Phát đặc biệt theo dõi chuyện học tập của tôi. Qua nhiều lần đàm đạo, thầy nhận xét rằng,

– Chú Tùng có thiên tư hơn người. Nếu chuyên tâm, chỉ một thời gian rất ngắn, chú có thể trở thành một thiền sư đi thuyết giảng được rồi.

Vậy là, như người “thi băng, nhảy lớp” tôi mặc nhiên trở thành đệ tử thứ nhì của thầy trụ trì, chỉ đứng sau tỳ kheo Thích Như Luận.

Tôi vốn là người quen nhẫn nhục, siêng năng từ nhỏ, không từ nan bất cứ công việc nặng nhọc nào. Từ cuốc đất, tưới rau, bổ củi, tới quét sơn, quét vôi, rào vườn, đào mương…việc gì tôi cũng làm được cả. Tôi làm việc tất bật suốt ngày, nên quên cả thời gian, quên hết muộn phiền. Gặp lúc rảnh rỗi thì tôi và các chú sa di lại quây quần bên nhau xung quanh bàn cờ tướng hay cùng nhau ngâm nga những câu thơ Tản Ðà.

Từ ngày quân chính phủ trung ương chiếm cứ chùa Tỉnh Hội thì người đi lễ Phật dồn về Long Tuyền Tự ngày càng đông. Các chú sa di cứ phải luân phiên leo lên cây chay sau cổng chính hái những chùm chay chín đỏ xuống cho các cô nữ sinh thăm viếng chùa.

Trong số bốn, năm chú tiểu thường leo cây hái chay tặng khách có một anh chàng leo nhanh như khỉ, lúc nào cũng nhe răng cười, nhưng không hề mở miệng nói chuyện với ai. Các cô tưởng nhà sư trẻ tuổi, mặt mày sáng rỡ này bị câm, nên ánh mắt nhìn chàng ta có chứa chất chút gì áy náy xót thương. Các cô đâu có biết chàng ta không mở miệng được chỉ vì chàng không “thông thạo” tiếng Quảng (Nam), chàng là người Hải-Dương. Các cô cũng chẳng ngờ được rằng dưới bộ quần áo tu hành màu lam, cái cốt giấu bên trong của chàng lại là cốt lính.

Thời gian như thoi đưa. Ngày nào cũng thế, buổi sáng, mặt trời dịu dàng, e dè, khép nép, chầm chậm ngoi lên từ cồn cát hướng Ðông; buổi chiều, mặt trời sưng vù, đỏ lừ lừ như mặt anh chàng say rượu, vội vàng lủi xuống núp sau lưng hàng phi lao nơi cồn cát hướng Tây. Hàng sầu đông vườn sau vẫn còn tiếng chim cu xanh gáy “gù! gù! gù!” để dụ dỗ nhau, nhưng tiếng ve sầu thì mỗi ngày một thưa đi, nhỏ dần… chắc tụi ve sầu mải mê ca hát quên ăn quên uống, nên bị cái nắng cháy da của mùa Hè thiêu chết dần mòn hết rồi! Chồng sách nghiên cứu và chỉ dẫn con đường về xứ Phật trên đầu giường của tôi mỗi ngày mỗi cao hơn.

Một hôm có hai người khách lạ tới vãn cảnh chùa. Họ đi loanh quanh dò xét khắp nơi, dáng điệu thật đáng nghi. Khuya hôm đó có tiếng chó sủa vang từ ngoài cồn cát về tới xóm lá bên đường sát Long Tuyền Tự. Rồi có tiếng người đập cửa ầm ầm,

– Mở cổng! Mở cổng ra mau!

Thì ra đó là một toán du kích Việt-Cộng địa phương. Trước đây họ vẫn lâu lâu ghé về thu thuế một lần. Nhưng từ thời có sự hiện diện của Quân-Ðội Ðồng-Minh thì họ không dám bén mảng gần vùng này nữa.

Thầy Như Luận khuyên tôi ẩn mình trong rương để đề phòng bất trắc.

Cái rương đa năng này tháng trước là nơi tôi ẩn núp trốn lánh một cú bố ráp của người Quốc-Gia, hôm nay tôi lại chui vào rương để trốn tránh người Cộng-Sản.

Tôi nghe tiếng cánh cổng chùa kêu ken két, rồi có tiếng người ra lệnh,

– Mời tất cả sư sãi trong chùa này ra tập trung trước sân cho tôi kiểm tra. Mau lên!

Sau đó là tiếng lên cò súng “lách! cách!” cùng tiếng dép guốc “lộc cộc!” rộn rịp của chư tăng.

Tên chỉ huy Việt-Cộng ra lệnh,

– Tất cả ngồi xuống đây! Không ai được đi đứng lộn xộn! Sư trụ trì nghe tôi hỏi đây: Chùa đang chứa chấp một tên chỉ huy Biệt Ðộng Ngụy có đánh trận Kỳ-Lam hồi tháng 2, mau giao nó ra đây!

Thầy Chơn Phát trả lời,

– Tất cả mọi người trong chùa này đều có mặt ở đây. Toàn là sư sãi cả, làm gì có lính Ngụy mà giao? Các ông muốn bắt ai thì bắt đi!

Bọn du kích chia nhau đi lùng sục khắp nơi. Từ điện thờ tới nhà bếp, gác chuông, bể nước, nơi nào cũng bị ánh đèn pin rà xét kỹ càng. Chúng không ngờ hai cái giường trong liêu tỳ kheo, có chiếu trải ở trên, bên dưới lại là hai cái rương có thể chứa người nằm duỗi chân thoải mái.

Chừng nửa giờ sau bọn du kích rút đi.

Chờ cho tiếng chó sủa xa dần rồi im bặt, thầy Như Luận mới về phòng kêu tôi chui ra khỏi chỗ trú ẩn. Tình trạng an ninh của tôi thời gian này đúng là đang nằm trong thế trên đe, dưới búa. Ban ngày thì sợ quân Quốc-Gia, ban đêm lại sợ quân Cộng-Sản, lúc nào cũng nơm nớp, bồn chồn.

Không rõ ai đã tiết lộ tin Việt-Cộng nửa đêm đột nhập Long Tuyền Tự tìm bắt một sĩ quan Biệt Ðộng Quân, mà hai ngày sau ông Ðại úy trưởng đồn Quân-Cảnh đã đích thân lái xe ra hạch hỏi thầy trụ trì rằng có sĩ quan “phản loạn” nào còn đang trốn trong chùa không?

Thấy tình hình có vẻ không yên, thầy Chơn Phát tính chuyện cho tôi rời chùa đi tá túc nhà bạn bè một thời gian, sau đó tìm đường vào Sài-Gòn đổi tên họ rồi vào chùa tu luôn.

Sinh viên Phật tử Huế của Nguyễn Đắc Xuân biểu tình xé cờ Mỹ, đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa

Hai ngày sau tôi từ giã thầy tôi rồi khăn gói lên đường.

Lựa lúc mặt trời đứng bóng, trạm gác Cảnh-Sát trước quán tạp hóa của nhà cô Hòa không có ai, tôi vội băng qua bãi cát nóng cháy lẩn vào khu xóm nhà bên Bến Xe Hội-An, Ðà-Nẵng.

Còn cách bến xe chừng vài nhà, tôi đụng đầu Ðỗ Khế, một anh bạn bảy năm cùng lớp Trung Học Trần Quý Cáp. Khế đang nghỉ Hè. Nó không đi lính như tôi mà thi vào Sư Phạm Toán. Nó dúi cho tôi ít tiền và khuyên tôi xuống nhà thằng bạn Huỳnh Ngọc Thành ở ngoại ô mà trốn.

Tôi nghĩ, nhà thằng Thành nằm trên đường đi Cửa Ðại, xa trung tâm Hội-An, nhưng lại sát rào nhà thằng bạn Ngô Rân, mà bố thằng Ngô Rân lại làm Cảnh-Sát. Trốn trong nhà thằng Thành chắc cũng không ổn.

Cuối cùng, tôi tính chuyện đi bộ ra Lai Nghi, rồi quá giang xe lên Vĩnh-Ðiện vào nhà thằng bạn Ðặng Xuân Nghĩa tá túc ít lâu. Nhà thằng Nghĩa nằm trên Quốc lộ 1, ngày nào cũng có xe tốc hành Sài-Gòn chạy qua.

Ra khỏi thành phố, tôi thủng thỉnh theo lề quốc lộ mà đi. Bất chợt, một chiếc xe tuần cảnh từ trong khu đóng quân của Thiết Giáp chạy ra quẹo về thành phố. Tôi đi bên lề trái đường nên tôi và chiếc xe chỉ cách nhau chừng hai thước khi gặp mặt. Xe tuần cảnh chạy được vài chục thước đột nhiên quay ngược lại dừng sau lưng tôi. Một người ngồi trên xe lên tiếng gọi,

-Cậu Long! Cậu Long ơi!

Thế là tôi bị bắt!

Trung sĩ Quân Cảnh Lê Danh Ba nhảy xuống xe cười hì hì,

– Ðã có kế hoạch sáng sớm mai đột nhập chùa Long Tuyền để bắt cậu rồi, không ngờ lại gặp mặt cậu ở đây! Thôi! Cậu lên xe về Quân Trấn đi!

Trung sĩ Lê Danh Ba gốc Bảo An Ðoàn là dân Bắc-Kỳ Di Cư. Những gia đình Bắc-Kỳ Di Cư ở Hội-An đều quen biết nhau hết. Với một số gia đình, tôi được coi là cái gương tốt cho lớp đàn em, con cái của họ noi theo.

Trung sĩ Lê Danh Ba là người bạn lâu đời của gia đình tôi. Ông chứng kiến tôi lớn lên từ tuổi mười bốn cho tới khi tôi trưởng thành. Năm mười tám tuổi, trong một lần tập quay xà ngang, tôi bị ngã dập ngực, ông đã bỏ ra nửa tháng trời vất vả, ngày ngày tới nhà tôi đắp thuốc cho tôi lành bệnh. Cuối năm 1963, ông cũng ra tận sân ga Ðà-Nẵng để tiễn tôi lên đường tòng quân.

Trung sĩ Ba nhường ghế trưởng xa cho tôi rồi nhảy sang thay chỗ cho tài xế. Ông nói,

– Hồi tháng trước, chúng tôi vây chùa, bắt được thằng cận vệ của cậu, nhưng tôi đã lén thả nó ra. Những tưởng cậu đã đi đâu mất rồi, không ngờ cậu vẫn còn loanh quanh ở Hội-An.

Tôi chán nản,

– Quốc, Cộng đều truy nã tôi, tôi biết đi đâu bây giờ?

– Cậu có còn nhớ chuyện Việt-Cộng nó treo giá cái đầu của cậu một vạn đồng sau trận Tháp Bằng-An, Kỳ-Lam không? Nay cậu bị Quốc-Gia bắt còn may mắn trăm lần hơn là bị Cộng-Sản bắt.

Xe chạy tới ngã ba, một đường về Chùa Cầu, một đường về tiểu khu. Thời gian này, nhà tôi ở cách Chùa Cầu hơn trăm thước. Trung sĩ Ba dừng xe, rồi nói,

– Hay tôi thả cậu về nhà, tắm rửa, nghỉ ngơi, mai tôi tới đón cậu vào tiểu khu trình diện. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không trốn đi, làm cho tôi bị liên lụy.

Tôi cảm động,

– Chắc chắn tôi không làm bác bị vạ lây đâu! Cám ơn bác nhiều.

Trung sĩ Ba thả tôi xuống trước cửa nhà rồi lái xe đi.

Mẹ tôi thấy con mình bình an trở về, mừng quá khóc òa.

Tám giờ sáng hôm sau xe tuần cảnh tới đón tôi vào tiểu khu. Trung sĩ Ba giao tôi cho Ban Thẩm Vấn của Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, dân Quảng-Bình, là trưởng ban thẩm vấn, phụ tá cho ông là hai hạ sĩ quan và một đảng viên Ðại-Việt tên là Công người Quảng-Nam.

Trong thời gian bị giam giữ trong Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam tôi chỉ giáp mặt Thiếu úy Cao Xuân Hương ba lần. Lần đầu là ngày Trung sĩ Lê Danh Ba giao tôi cho ông ta. Lần thứ nhì là ngày hồ sơ của tôi hoàn tất. Lần thứ ba là ngày tôi từ giã ông ta để lên đường trình diện Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng. Hai lần đầu ông Hương còn đeo lon thiếu úy, lần thứ ba, cuối tháng 8 năm 1966, tôi gặp ông để chào từ giã thì ông đã lên trung úy. Mãi mười sáu năm sau (1982) tôi mới gặp lại ông ở Trại Cải Tạo Z30C Hàm -Tân. Tôi và ông Hương bị giam trong cùng một nhà, nhưng khác đội sản xuất. Tôi làm công việc cuốc đất trồng rau. Còn ông Hương làm công tác đổ thùng. Ông Hương được Việt-Cộng tha ra khỏi trại cải tạo trước tôi năm năm.

Ban thẩm vấn chiếm hai dãy nhà trong tiểu khu để giam giữ những quân nhân phạm tội tham gia lực lượng ly khai. Tôi bị đưa vào căn nhà chứa sĩ quan và hạ sĩ quan. Căn nhà này có nhiều phòng, cứ hai người ở một phòng. Có khoảng mười sĩ quan và hạ sĩ quan đang bị giam. Tôi ở chung phòng với ông Trung úy Cư, Sĩ quan Hành Chánh Quân Y của tiểu khu. Trừ Trung sĩ 1 Lê Văn Ru ra, tôi chỉ biết mặt anh Thiếu úy Nồng của Chi Khu Hiếu-Nhơn; anh này học ngang lớp với tôi và đi lính trước tôi vài năm.

Bên nhà giam thứ hai thì nhốt những quân nhân ly khai hàng binh sĩ. Anh lính được phân công đi nhặt rác trong sân ngày hôm đó là một Binh nhì Biệt Ðộng Quân. Vừa thấy mặt tôi, anh ta đã nhào tới, ôm tôi, rồi khóc rưng rức,

– Trời ơi! Thẩm quyền cũng bị bắt vào đây ư? Ðại úy Trực đã bị họ còng tay dẫn đi mất tiêu từ lâu rồi! Còn em và anh Pha nằm ấp ở đây mấy tháng nay, ngày nào cũng bị đánh. Khổ lắm! Thẩm quyền ơi!

Tôi chẳng biết nói gì để an ủi người đàn em này. Nó chỉ là một binh nhì nấu cơm cho Ðại úy Tôn Thất Trực; thầy nó hết thời, nó cũng bị vạ lây. Tôi bèn an ủi thằng em,

– Chú đừng lo! Chú là binh nhì, quá lắm người ta nhốt chú ít lâu, rồi cho chú giải ngũ, càng sướng.

Nghe tôi nói có lý, thằng em cũng bớt buồn phiền. Nó chỉ cho tôi một người đang bị quỳ gối trước sân, hai tay cố giữ một tảng đá khá nặng đặt trên đầu, rồi nói,

– Hạ sĩ Pha đó thẩm quyền! Ngày nào anh Pha cũng bị phạt đội đá hai tiếng đồng hồ, tội nghiệp lắm thẩm quyền ơi!

Người đang quỳ gối, đầu đội đá đã nhìn thấy tôi, anh ta hơi nghiêng đầu, chớp chớp hai mắt để chào tôi.

Tôi gật đầu chào lại và giơ tay vẫy vẫy vài cái an ủi anh ta. Hạ sĩ Pha là tài xế của Ðại úy Tôn Thất Trực. Pha ra dấu cho tôi tới gần, nó thì thào,

– Thầy ơi! Thầy có biết số phận thầy Trực của em bây giờ ra sao không? Em lo lắng quá! Em sợ người ta xử tử thầy em! Tội nghiệp thầy em!

Nghe chú Pha hỏi, tôi chợt nhìn ra cái giá trị cao vời trong con người của một anh tài xế đang quỳ gối giữa sân kia! Trong hoàn cảnh khốn cùng như hiện nay mà người lính ấy còn lo lắng tới sự an nguy của thầy mình; đây quả là một tấm gương hiếm thấy, đáng cho tôi cảm phục.

Tôi trấn an Pha,

– Em yên tâm, anh Trực không sao cả, anh Trực còn sống.

Tôi thấy mắt Hạ sĩ Pha chợt đỏ, hai hàng lệ từ từ lăn trên má nó.

Ðầu tháng 8 tôi bị gọi lên văn phòng gặp ông đảng viên Ðại-Việt tên Công để thụ lý tội trạng.

Ngay phút đầu tiên ông tra tấn viên lành nghề này đã áp đảo tinh thần đối phương bằng cách la lối ồn ào, đập bàn, quát tháo, hăm he,

– Anh phải khai thật rõ ràng, thật chi tiết tội trạng của anh, nếu không, đừng trách tôi nặng tay!

Chờ ông ta dứt lời, tôi tỉnh bơ,

– Chắc chắn anh đã biết, tôi lớn lên ở thành phố này, là một sĩ quan Võ-Bị, một đại đội trưởng Biệt Ðộng Quân. Chỉ cần anh không kết tội tôi là Việt-Cộng, còn bất cứ tội gì, tôi cũng nhận hết, khỏi dài dòng mất công.

Miệng nói, mắt tôi nhìn chằm chặp vào mặt ông ta. Ông ta quay mặt sang hướng khác.

Kể ra thì cái ông Công này cũng biết điều, hay là ông ta thuộc loại cáo già, nên nghe tôi thẳng thừng ra điều kiện, ông ta không thèm lớn tiếng dọa nạt nữa, mà chỉ đưa ra một đống câu hỏi trên giấy, bắt tôi đọc, rồi viết trả lời. Trả lời xong, phải ký tên. Ðúng là “giấy trắng mực đen”, sau này tôi hết đường phản cung.

Đà Nẳng 1966

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 3 Aug 2023

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com

Kỳ 3

Trưa 18 tháng 5 một đơn vị Dù tiến chiếm đoạn đường từ Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn tới ngã ba Chu Văn An, Hoàng Diệu. Binh lính Dù bố trí sau những gốc cây keo hai bên đường. Từ lỗ châu mai, chúng tôi nhìn thấy họ rất rõ. Quân Dù bắc loa yêu cầu cấp chỉ huy Biệt Ðộng Quân ra tiếp xúc với cấp chỉ huy của họ. Thiếu úy Lê Trực được chỉ định làm đại diện Biệt Ðộng Quân.

Với khẩu P.38 giắt bên hông, Thiếu úy Trực cùng một cận vệ tiến ra giữa ngã ba để tiếp chuyện cùng một Ðại úy Nhảy Dù.  Dù và Biệt Ðộng Quân thỏa thuận với nhau rằng sẽ giữ nguyên tình trạng án binh bất động như hiện thời.

Chiều 19 tháng 5 tôi nhận lệnh phải về dự một phiên họp khẩn cấp. Tôi đem theo Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong cùng Hạ sĩ Trần Quy và một máy PRC 10, rồi men theo đường làng về Chùa Tỉnh Hội.

“Hội Ðồng Chính Phủ Cách Mạng” gồm năm, sáu vị đang đứng vây quanh một cái kệ thờ lập lòe hương khói. Dưới ánh nến chập chờn tôi chỉ nhận ra ông Bác sĩ Tâm, Tổng trưởng Xã Hội, và ông Phụ tá Tổng trưởng Quốc Phòng là Thiếu tá Tôn Thất Trai. Ông Thủ tướng không đứng như những vị bộ trưởng mà nằm bò dưới kệ thờ. Ông gọi:

– Anh Long tới rồi hả? Lại đây! Lại đây!

Tiến tới sát kệ thờ, tôi lên tiếng:

-Chào Bác sĩ, tôi có mặt.

Ông Mẫn nhoài người nắm ống quần tôi giựt vài cái:

– Cúi xuống đây, tôi có ý kiến này với anh.

Tôi khom mình cúi xuống.

Ông Thủ tướng nghiêm nghị nói:

– Với tình hình khẩn trương như hiện nay…

Vừa nghe được nửa chừng câu nói của Thủ tướng, tôi phải đứng bật dậy. Có lẽ từ hôm có tiếng súng đầu tiên nổ trên thành phố này, Thủ tướng đã chui vào núp dưới gầm kệ thờ, không rửa mặt, đánh răng, súc miệng cũng nên?

Thủ tướng hình như biết lý do tại sao tôi không chịu cúi người nghe ông nói nữa, nên ông đưa tay che miệng rồi nói tiếp,

– Tôi đề nghị Biệt Ðộng Quân hộ tống “Hội Ðồng Chính Phủ” di chuyển ra Huế, ngoài đó mình còn Sư Ðoàn 1.

Vài vị bộ trưởng cũng phụ họa theo:

– Có Biệt Ðộng Quân hộ tống thì chúng ta yên tâm rồi!

Tôi thở dài ngán ngẩm. Ðường từ Ðà-Nẵng ra Huế dài cả trăm cây số, bình thường đi bằng xe cũng mất cả nửa ngày. Một đơn vị quân đội tinh nhuệ muốn hoàn thành công tác di chuyển bằng chân cũng mất vài ngày. Nếu đi một mình, chắc tiểu đoàn tôi cũng rơi rớt dọc đường ít nhứt là một phần ba quân số. Những ông chính trị gia trói gà không chặt này theo chúng tôi giỏi lắm cũng chỉ được dăm cây số là cùng. Sau đó các ông phồng chân, lọi cẳng, bong gân, ai khiêng, ai vác các ông đi cho hết đoạn đường còn lại đây? Ðó là chưa kể tới vấn đề liên lạc, có đụng độ giao tranh, tản thương, tiếp tế lương thực, hay những rủi ro khác xảy ra dọc đường.

Tuy nghĩ thế nhưng tôi vẫn bình tĩnh:

– Xin quý vị cho tôi biết, hiện giờ quý vị có cách nào liên lạc với Sư Ðoàn 1 không? Trước khi quyết định có nhận lời hộ tống quý vị ra Huế hay không, tôi yêu cầu quý vị phải để tôi đích thân nói chuyện với giới chức có thẩm quyền của Sư Ðoàn 1 cái đã.

Ông Thủ tướng liếc qua ông Thiếu tá Trai, ông Trai ấp úng:

– Trong chùa này chúng ta chỉ có một cái máy PRC 10 để liên lạc với Trung tướng Ðính. Hai ngày nay tôi gọi hoài mà không có ai bắt máy.

Tôi hiểu ra ngay rằng, Tướng Tôn Thất Ðính đã bị người Mỹ bỏ rơi, ông ta đã trở thành một con cờ bị loại rồi.

Trong vụ chính biến này, rõ ràng người Mỹ chơi trò hai mặt, mặt này đỡ lưng Tướng Thi, Tướng Chuân, rồi Tướng Ðính; mặt kia phù trợ Tướng Thiệu, Tướng Kỳ.

Tôi chỉ là một sĩ quan thừa hành, lúc nào cũng làm việc theo lệnh người chỉ huy trực tiếp của mình. Trong thời gian vừa rồi, tôi đã bị chuyền tay dưới quyền ông Dzu, ông Ðính rồi sang tay ông Mẫn, ông Trai. Giờ đây chính ông Mẫn ông Trai còn không biết làm gì để tự cứu mình; nếu tôi cứ tiếp tục đi theo các ông ấy thì không chết sớm cũng chết muộn.

Tôi là một quân nhân luôn luôn coi trọng kỷ luật, nhưng trong tình cảnh này, cứ khư khư ôm trách nhiệm một cách mù quáng thì tôi đúng là một thằng ngu. Tôi ngu, tôi chết đã đành, tôi còn làm cho cả trăm người phải chết theo.

Chỉ một phút sau, tôi đã có quyết định là, bằng mọi cách, tôi phải đưa đơn vị mình thoát ra khỏi cuộc đấu đá chính trị này càng nhanh càng tốt.

Tôi lùi lại hai bước, giơ tay quơ một vòng, điểm mặt từng chính khách:

– Thôi! Quý vị hãy tự lo liệu! Từ giờ này, Biệt Ðộng Quân không hợp tác với quý vị nữa!

Không đợi xem hội đồng chính phủ phản ứng ra sao, tôi khoát tay cho lệnh Hạ sĩ Phong và Hạ sĩ Quy quay lưng.

Ra tới sân, tôi khó khăn lắm mới thoát khỏi đám đông đồng bào Phật Tử bao vây, níu kéo, xúm xít hỏi han. Tội nghiệp cho đồng bào tôi, và tội nghiệp cho tôi! Tôi đau buồn cúi đầu bước đi.

Về tới ngã ba Hoàng Diệu, Chu Văn An tôi bị một nhóm quân Dù chận lại, không cho tiến vào khu vực Biệt Ðộng Quân chiếm cứ.

Ngay lúc đó, từ những lỗ châu mai trong nhà bên đường, nhiều họng súng của Biệt Ðộng Quân đồng loạt chĩa ra, cùng với tiếng lên cò “lách! cách!”

Tôi nói với anh sĩ quan Dù:

– Tôi là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân. Tôi hứa với các anh rằng, ngày mai Biệt Ðộng Quân sẽ không còn hiện diện ở đây nữa.

Nghe tôi nói thế, lính Dù bèn kéo kẽm gai sang lề đường để cho tôi đi qua.

Tôi đã thức trắng đêm 19 tháng 5 để suy tính sẽ phải làm gì trong những ngày sắp tới. Với tình thế hiện thời, tôi chỉ còn ba con đường để chọn.

Thứ nhất là, đem quân ra Huế bắt tay với Sư Ðoàn 1: Ðường ra vào Ðà-Nẵng đều bị quân chính phủ chốt giữ, muốn vượt qua, khó tránh đụng độ. Nếu phải đánh nhau, quân lính đôi bên sẽ chết không biết bao nhiêu mà lường. Vả lại, không biết Sư Ðoàn 1 tọa lạc ở nơi đâu thì làm sao mà tìm?

Thứ hai là, đầu hàng quân chính phủ: Nếu làm điều này thì, vừa mở miệng ra lệnh, chắc chắn tôi sẽ bị giết chết ngay bởi những thuộc hạ thân thiết nhất của mình. Mà cho dù binh sĩ trong tiểu đoàn không nỡ giết tôi, chắc chắn tôi cũng sẽ bị ông Dzu làm nhục để trả thù.

Thứ ba là, vứt bỏ vũ khí, giải tán tiểu đoàn: Cách này giữ được an toàn sinh mạng cho anh em, giữ được sĩ diện cho đơn vị, thuộc cấp sẽ không oán trách tôi là người đã bỏ rơi anh em.

Cuối cùng, tôi chọn con đường thứ ba.

Mờ sáng ngày 20 tháng 5 tôi đi vào từng nhà báo cho anh em biết rằng cấp chỉ huy đã bỏ chúng ta rồi. Nếu chúng ta tiếp tục ở đây, chúng ta không biết sẽ theo lệnh ai. Lính Dù không phải là kẻ thù. Nếu có nổ súng, chúng ta và lính Dù đều chết; chết như thế thì thực là vô ích. Vì thế, tôi cho lệnh giải tán tiểu đoàn, anh em nên trở về với gia đình là tốt hơn cả.

Anh em nghe lệnh này buồn bã lắm, nhưng biết làm sao bây giờ?

Lúc này trong vườn nhà số 5 Chu Văn An chợt có tiếng người bàn tán, ồn ào. Thấy lạ, tôi lách qua hàng rào, bước sang xem có gì xảy ra không?

Nhà số 5 rất rộng, có sân vườn, giếng nước, củi đóm dồi dào. Chủ nhà cũng rất hiếu khách. Hình như chủ nhà có bà con với ông Nguyễn Tấn Ðời, chủ nhân của Tín-Nghĩa Ngân-Hàng (?) Vài gia đình binh sĩ đi theo đơn vị đã được tôi gửi gắm trong nhà này. Tôi lên tiếng:

– Có chuyện gì vậy?

Một người lính nói:

– Dạ trình thẩm quyền, vợ anh Sửu chuyển bụng đẻ. Anh em không biết tìm đâu ra Bà Mụ cho chị ấy.

Trong lúc túng thế, tôi đành nói với mấy chị vợ lính:

-Các chị đỡ bà đẻ này ra ngã ba Chu Văn An, Hoàng Diệu, nhờ Nhảy Dù cho xe cứu thương chở đi bệnh viện, chắc họ sẽ không từ chối đâu.

Quả đúng như tôi nghĩ, Quân Y Nhảy Dù đã sốt sắng thi hành công tác nhân đạo này ngay.

Giải quyết xong vụ sinh đẻ của bà vợ lính, tôi chỉ chỗ cho anh em xếp súng ống, đạn dược thành một đống trước sân chùa.

Sau đó, anh em chia tay nhau, túa ra đường Phan Châu Trinh, hướng này không có quân của chính phủ trung ương. Hạ sĩ Phong tìm được hai bộ quần áo dân sự cho thầy trò tôi. Tôi xin được cái mũ phớt đội lên đầu để tránh người quen nhận diện. Hai người theo con đường vòng đai hướng Ðông của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I hướng về Cầu Ðỏ.

Tới Cầu Ðỏ chúng tôi chạm phải một trạm kiểm soát an ninh do Biệt Ðộng Quân phụ trách. Ðơn vị Biệt Ðộng Quân này mới được điều động từ trong Nam ra.

Hai bên cầu dành cho bộ hành có hai người kiểm soát. Bên trái là một sĩ quan dáng cao cao, giọng nói Miền Nam. Tôi kéo vành nón quan sát, thì nhận ra anh ta là Thiếu úy Châu Văn Út, bạn cùng Khóa 20, cùng Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Võ-Bị của tôi. Anh là bạn rất thân của tôi, nhưng để anh nhận ra tôi trong tình thế này thì kẹt quá! Nhân lúc anh Út đang bận hỏi han người thanh niên đi trước, tôi lanh tay đẩy chú Phong về phía anh ta. Tôi lẻn sang bên phải đứng nối đuôi một người đi trước; một thượng sĩ kiểm tra phía bên này. Tôi nghe Út hỏi Phong:

– Anh là lính phải không?

– Dạ phải! Trình Thiếu úy em là lính của tiểu khu, đi phép về thăm nhà nên bị kẹt, hôm nay mới ra khỏi nhà tìm về đơn vị.

– Ðược rồi! Anh đi đi!

Bên này, ông thượng sĩ cũng hỏi câu như trên, tôi cũng trả lời như chú Phong.

Qua khỏi Cầu Ðỏ thì không còn trạm gác nào nữa.

Tới Thanh Quýt, thầy trò tôi ghé quán bên đường ăn mỗi người một tô mì Quảng, rồi lại tiếp tục đi.

Nơi đầu bến xe Hội-An cũng có một trạm kiểm soát hỗn hợp của Quân-Cảnh và Cảnh-Sát. Quân-Cảnh và Cảnh-Sát ở đây thì chẳng lạ mặt tôi tí nào, đành phải tránh thôi.

Vùng đất này của Hội-An thì tôi thuộc từng li, từng tấc. Tôi dự trù cứ ra chùa Long Tuyền xin tá túc ít lâu rồi sẽ tính.

Sau một hồi đi vòng vo, tôi dẫn Phong băng qua vạt ruộng sát vòng rào sân bay Hội-An để leo lên con lộ đất dẫn về Long Tuyền Tự.

Cổng chùa mở rộng. Một chú tiểu đang ngồi chẻ củi trước sân, thấy chúng tôi, chú ngừng tay, ngẩng mặt lên quan sát. Tôi đến bên chú tiểu nói nhỏ:

– Hai đứa tôi là lính của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Ðà-Nẵng bị quân Thiệu Kỳ chiếm rồi, chúng tôi chạy về đây. Nhờ chú trình với thầy trụ trì cho chúng tôi tá túc ít lâu.

Chú tiểu đảo mắt, nhìn trước, nhìn sau, rồi kéo tay tôi dẫn vào trai phòng. Nơi đây đã có một nhà sư lớn tuổi với đôi mắt kiếng cận dày cộm đang ngồi đọc sách trên một cái ghế dựa.

Chú tiểu chỉ tay về phía chúng tôi rồi ghé tai vị sư già nói nhỏ một câu. Vị sư già nhổm khỏi ghế rồi tiến lại phía tôi vồn vã:

– Lính của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân hả?  Ðà-Nẵng ra sao rồi?  Sao lại phải chạy về đây?

Tôi tóm lược chuyện xảy ra tại Ðà-Nẵng cho vị sư già nghe. Nghe xong, vị sư già từ tốn:

– Cửa từ bi lúc nào cũng rộng mở. Hai anh có thể nương nhờ ở đây không có gì trở ngại cả. Nhưng từ xưa tới nay chùa không có lệ chứa đệ tử tục gia. Muốn cho người ngoài không nghi ngờ chắc hai anh phải xuống tóc đóng vai tăng, hai anh nghĩ thế nào?
Tôi gật đầu. Thầy chỉ cho tôi bể nước mưa ở giữa sân.  Hai chúng tôi ra đó gội đầu. Thầy ra lệnh cho anh sa di đang đứng hầu bên cạnh:

– Chú Quý xuống tóc cho hai anh này đi!

Chú tiểu có tên là Quý vội tất tả đi vào phòng trong, lúc trở ra, trên tay chú có con dao cạo râu của thợ hớt tóc.

Lưỡi dao cạo sắc như nước, rà sát da đầu, từ từ đi từ trán tới đỉnh đầu.  Nhìn những chùm tóc lả tả rơi trên nền gạch sân chùa, lòng tôi chợt lâng lâng một cảm giác buồn buồn khôn tả. Ngày đầu bước chân vào Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam tôi đã được ông thợ hớt tóc của trường húi cho một cái đầu “cua” tóc ngắn, để biến tôi từ một thư sinh dân chính với mái tóc bồng bềnh, thành một người lính nhà nghề. Vậy mà chưa tới ba năm sau, sóng đời xô đẩy, tôi đành ngậm ngùi giã từ mái tóc nhà binh để trở thành một nam tăng.

Vài phút sau, khi hai Biệt Ðộng Quân đã trở thành hai ông sư, đầu trọc lóc, thầy trụ trì mới bắt đầu hỏi tên tôi và tên chú Phong. Thầy ngồi ngẫm nghĩ một hồi, rồi chậm rãi:

– Con tên là Long, vậy ta cho con chữ Tùng: Pháp danh của con sẽ là Thích Như Tùng. Cây tùng hay cây thông là biểu tượng của người quân tử.

Quay sang chú Phong thầy tiếp:

– Còn con tên là Phong, ta cho con chữ Sơn: Pháp danh của con sẽ là Thích Như Sơn; con sẽ mãi mãi vững vàng như núi.

Thế là từ chiều 20 tháng 5 năm 1966, Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Vương Mộng Long biến thành tỳ kheo Thích Như Tùng, ngày ngày chay tịnh, tu tâm dưới chân Phật Tổ.

Mấy ngày đầu, cứ mặt trời lên tới đọt cau, tôi và Như Sơn lại rủ nhau ra vườn sau phơi nắng bên chân cái tháp cổ. Chúng tôi phơi cho da đầu sạm đi, tránh người lạ tò mò phát giác ra cái đầu vừa xuống tóc.

Thời gian này Chùa Tỉnh Hội Quảng-Nam đang bị Thủy Quân Lục Chiến cô lập. Sa di Thích Như Hạnh giữ vai trò liên lạc viên giữa chùa Tỉnh Hội và chùa Long Tuyền.

Một hôm chú Hạnh từ chùa Tỉnh Hội trở về, mặt rầu rầu:

– Năm nay gặp pháp nạn, Phật Ðản không có lễ cung nghinh Ðức Phật như mọi năm, buồn quá!

Nghe nói vậy tôi pha trò:

– Phật Ðản mà Hội-An không có rước đèn thì người người được nghỉ, nhà nhà được nghỉ. Phật Thích Ca cũng được nghỉ, khỏi phải đứng trên tòa sen đặt trong lòng những chiếc ô tô treo cờ kết hoa chạy rong trong phố. Ðứng lâu trên xe, xe chạy rề rề, Phật bị chóng mặt và mỏi chân lắm.

Mọi người cùng cười, nhưng lòng không vui.

Như Hạnh trao cho tôi một cái thư tay của Ðại úy Tôn Thất Trực nhắn rằng anh ta đang trong tình trạng nguy ngập, chưa biết làm cách nào để thoát ra ngoài. Cùng chung cảnh ngộ với Tôn Thất Trực còn có Ðại đức Thích Như Huệ, Trung úy Tuyên Úy Phật Giáo của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập cũng đang bị kẹt ở đây…

Đà Nẳng 1966

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 2 Aug 2023

Xế trưa, bỗng có một đoàn xe vận tải của Quân Vận chạy tới. Ông Ðại úy trưởng đoàn chìa cái sự vụ lệnh cho tôi xem (tôi không nhớ ai đã ký) ghi rằng, đoàn xe sẽ chở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân về phòng thủ Chùa Tỉnh Hội Ðà-Nẵng.

Tưởng Ðại úy tiểu đoàn trưởng đang ở Chùa Tỉnh Hội. Tôi cho ba chiếc GMC về dinh của Tướng Ðính để bốc Ðại Ðội 3/11, rồi ra lệnh cho tất cả quân nhân hiện có mặt trong sân leo lên những chiếc GMC còn lại.

Ðoàn xe chạy qua Chợ Cồn rồi quẹo sang đường Ông Ích Khiêm hướng về Chùa Tỉnh Hội. Hai bên đường dân chúng đứng chật như nêm. Người người hoan hỉ, nói cười, vẫy tay, hoan hô ầm ĩ.

Xuống xe, tôi cho quân bố trí phòng thủ quanh vòng rào của Chùa Tỉnh Hội.

Tôi bước vào chính điện để hỏi xem ông tiểu đoàn trưởng của tôi có mặt nơi đây không. Nào ngờ, người tôi chạm mặt đầu tiên lại là Thiếu tá Tôn Thất Trai. Thấy mặt tôi, ông Trai la oang oang,

– Thằng Dzu phản rồi! Nó chạy vào phi trường đầu hàng và đi theo cha Loan rồi!

Tin này làm cho tôi tá hỏa. Mới vài hôm trước, trong phòng họp các sĩ quan, Ðại úy tiểu đoàn trưởng dọa sẽ nghiêm trị những ai có tư tưởng hay hành động chống đối phong trào ly khai của Quân Dân Miền Trung.

Cái điệp khúc: “Ý dân là ý trời! Chống lại ý dân tức là chống lại ý trời!” hầu như trong cuộc họp nào, chúng tôi cũng phải nghe. Vậy mà hôm nay trắng đen lộn mặt, không ai ngờ được.

Ông Trai móc túi áo lấy ra cái lon đại úy ba mai vàng sáng chói rồi nắm ngực áo tôi định gắn cái lon ấy vào.

– “Toa” đeo cái lon này lên ngực để mà chỉ huy. Giấy tờ sẽ điều chỉnh sau. Bây giờ nhiệm vụ đầu tiên của “toa” là đem tiểu đoàn về phòng thủ Chùa Phổ Ðà.

Tôi bất bình, gạt tay ông ta ra,

– Không được! Thứ nhất là, không ai ở đây có quyền gắn lon thăng cấp cho tôi. Thứ hai là Ðại úy Dzu đi rồi, bây giờ tôi chỉ nghe lệnh của Tướng Vùng mà thôi! Tôi muốn biết Tư Lệnh Vùng bây giờ ở đâu?

Thiếu tá Trai giơ tay vỗ vỗ vài cái vào hông tôi rồi ôn tồn,

– Chờ chút! Chờ chút nhé!

Ông Trai lanh lẹ quay người đi vào chánh điện. Chừng một phút sau ông ta quay ra,

– Thủ tướng ra lệnh cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân về án ngữ tại Chùa Phổ Ðà để ngăn chặn quân chính phủ từ phi trường tiến ra.

Tôi thắc mắc,

– Thủ tướng nào? Ai là Thủ tướng ở đây?

– Thì Bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Ðà-Nẵng chứ ai?

– Tôi không dưới quyền Thị trưởng hay Thủ tướng nào cả, tôi cần gặp Trung tướng Tư Lệnh ngay bây giờ!

Ông Trai kèo nài,

– Thì “toa” cứ làm theo sự phân công của Thủ tướng đi. Chiều nay Trung tướng Ðính sẽ nói chuyện với “toa” sau.

Không biết làm gì hơn, tôi đành miễn cưỡng chấp thuận,

– Vậy cũng tạm được!

Bỗng nhiên đạn đại liên từ hướng Ðông “Toác! toác!!Chíu! chíu!” bay sang như mưa.

Quay qua quay lại không thấy bóng ông Thiếu tá Trai đâu cả, tôi vội phóng mình ra ngoài sân. Mái chùa bể, vụn ngói bay tung tóe, bụi khói mịt mù. Con rồng bằng sứ nằm trên nóc chùa bị bắn vỡ đầu. Chiếc xe bồn đựng nước đậu trước cổng chùa cũng trúng đạn, nước phun có vòi. Có tiếng la thất thanh:

“Chết! Có người chết! Cứu thương! Cứu thương đâu! Có người đổ ruột đây nè!”

Sân chùa trở thành một nơi hỗn loạn cùng cực, với đủ mọi thứ âm thanh. Tiếng đạn bay, tiếng người kêu gọi tên nhau, tiếng la hét đau đớn của người bị trúng đạn cùng với tiếng khóc ré từng chặp của con nít tạo thành một không khí hỗn độn chưa từng thấy.

Tôi leo lên bờ tường, đứng dựa hàng rào sắt, mặt quay về sân chùa. Mặc cho đạn đại liên đang như mưa rào trên mái ngói, tôi hét to:

– Ðồng bào đừng sợ! Ðồng bào đừng sợ! Biệt Ðộng Quân sẽ bảo vệ đồng bào! Ðồng bào đừng sợ!

Nghe tiếng tôi oang oang trấn an, bà con bớt sợ, bớt ồn ào ngay. Ðồng bào tôi nằm rạp đất, nằm đè lên nhau, ngổn ngang trong sân. Họ đang nhìn tôi, ánh mắt đầy tin tưởng lẫn lo âu. Ngay sát chân tường, dưới chân tôi, nhiều đồng bào tôi đang khóc.

Ðứng trên cao, tôi thấy được vị trí khẩu đại liên trên một sân thượng hướng Ðông. Khẩu súng sát nhân ấy đang khạc đạn vào đồng bào tôi một cách không thương tiếc.

– Tính đâu! Tính đâu!

– Em đây Thẩm Quyền!

Khẩu 57 ly được vác tới. Tôi đỡ vai cho Hạ sĩ Tính. Hai người leo lên tháp chuông trước cổng. Tính kê súng lên vai.

Tôi nạp một viên đạn, khóa nòng, rồi vỗ tay lên nón sắt của Tính. Tính bóp cò.

“Oành!” Ðạn bay đi.

“Ùm!” Ðạn nổ! Lửa chói lóa trên mục tiêu. Khói và bụi bay lên cuồn cuộn.

Tôi nạp một viên đạn nữa, rồi lại khóa nòng, vỗ tay lên nón sắt của Tính. Tính bóp cò.

Oành!” Ðạn bay đi.  “Ùm!” Khẩu đại liên hết hoạt động.

Dẹp xong ổ đại liên, tôi nhảy xuống sân kiểm tra tình hình. Sân chùa đang trong tình trạng vô cùng lộn xộn. Có hai người chết — một bà già và một thanh niên Phật Tử. Còn cả chục người khác bị vỡ đầu, đổ ruột, đang nằm kêu khóc rên la. Những thanh niên Phật Tử trong đội cứu thương chỉ biết băng bó cứu cấp những vết thương xoàng xĩnh, gặp trường hợp vỡ đầu phọt óc, ruột đổ lòng thòng, họ luống cuống, không biết xử trí ra sao.

Tôi gọi to,

– Quân Y đâu! Quân Y đâu!

Chỉ có hai anh y tá của tiểu đoàn chạy lại nhận lệnh băng bó cho người trúng đạn.

Tôi hỏi anh y tá,

– Thiếu úy Lẹ đâu?

– Dạ em không thấy ông ấy đâu cả!

Sau này tôi được biết ông Thiếu úy Lẹ, Trưởng ban Quân Y của tiểu đoàn, đã đi theo ông tiểu đoàn trưởng vào phi trường đầu hàng Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan từ những ngày trước.

Một chiếc xe GMC được điều động để chuyển những người bị thương về Bệnh Viện Dân Y bên đường Hùng Vương.

Từ hướng cuối đường Nguyễn Duy Dương, nơi hai chiếc xe Jeep đậu sát bên hàng phi lao có tiếng loa oang oang:

“Yêu cầu toàn thể quân nhân các cấp thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân buông vũ khí và ra trình diện gấp!”

Tôi nghĩ cái loa tay này cũng cùng phe nhóm với khẩu đại liên 30 trên căn gác kia, nên sẵn súng đạn, tôi ra lệnh cho Hạ sĩ Tính nhắm gốc cây keo giữa hai chiếc xe, bắn thị uy một quả 57 ly. Ðạn rơi hơi ngắn, chạm mặt đường, nổ tung, và hất một chiếc Jeep lộn mèo xuống mương thoát nước bên hàng phi lao.

Tôi không cố ý giết những người ngồi trên hai chiếc Jeep đó, mà chỉ muốn bắn dọa để đuổi họ đi thôi. Không rõ có ai bị thương vong không, nhưng sau đó thì cái loa tay đã im tiếng.

Sau này tôi được biết, chiếc Jeep bị bắn lộn cổ xuống mương là xe của Trung tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa! Cũng may, lúc đó không có ai ngồi trên xe cả!

Trong khi tôi chuẩn bị dẫn quân đi thì có bàn tay ai nắm áo tôi giựt lại,

– Ê! Long! Bây giờ mày định đem lính đi đâu vậy?

Quay lại, tôi nhận ra đó là Thiếu úy Nguyễn Xuân Hồng Chân của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập. Thiếu úy Chân là bạn cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi. Tôi không rõ bạn tôi tự ý tham gia phong trào ly khai hay đã tham gia cùng với đơn vị của anh.

– Tao đem quân về giữ Chùa Phổ Ðà. Thôi! Tao phải đi ngay. Hẹn ngày gặp lại!

Bắt tay bạn xong, tôi khoát tay cho lệnh tiểu đoàn di chuyển.

Chúng tôi không đi trong phố mà len lỏi trong đường làng. Qua một vạt ruộng thì tới đường Hoàng Diệu. Tôi xua quân lên chiếm giữ hai đầu đường Chu Văn An để giữ an ninh cho toàn bộ tiểu đoàn tiến vào khu nhà dân xung quanh Chùa Phổ Ðà.

Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng trước sân chùa hướng Phan Châu Trinh. Các đại đội thì ém quân trong nhà dân. Những nhà dân bên đường đều bị đục tường làm lỗ châu mai, sẵn sàng cho một cuộc tác chiến trong đường phố. Nếu có giao tranh, trăm phần lợi thế sẽ nằm trong tay chúng tôi vì quân chính phủ sẽ nằm khơi khơi trên phố không có gì che giấu.

Tối hôm đó Tướng Tôn Thất Ðính vào máy truyền tin gọi tôi và ra lệnh cho tôi từ nay phải nghe lệnh ông Bác sĩ Mẫn và ông Thiếu tá Trai. Ông Thiếu tá Trai sẽ liên lạc trực tiếp với tôi.

Sáng hôm sau có tin đánh nhau vùng Ngã Ba Cây Lan. Trên trời, hai chiếc máy bay AD 6 bay lượn và bắn xuống khu tranh chấp để yểm trợ cho quân chính phủ.

Nhớ lại cảnh tượng xảy ra ngày hôm trước, chỉ có một khẩu đại liên 30 bắn vãi một dây đạn vào sân chùa Tỉnh Hội mà đã có cả chục nhân mạng thương vong; nay hai chiếc oanh tạc cơ trang bị đầy bom, đầy đạn dưới cánh kia sẽ giết chết bao nhiêu người dân vô tội đây? Tôi nghĩ rằng, muốn chận đứng cảnh chết chóc, chỉ có cách bắn vào phi trường, không cho máy bay cất cánh. Nghĩ là làm ngay. Tôi cho khẩu đội cối 81 ly “phang” 6 quả đạn nổ vào phi trường.

Rồi sau một cái phất tay của tôi, súng lớn, súng nhỏ, trung liên, đại liên, garand, carbine, đua nhau khạc đạn lên trời, nhắm hướng hai chiếc AD6. Chúng tôi nghiến răng siết cò súng, hy vọng ngăn chặn được những quả bom, làn đạn, đang tưới xuống đầu người dân Ðà-Nẵng, trong đó có thân nhân của chúng tôi, và có thể, có cả thân nhân của những vị phi công đang lái hai chiếc AD6 kia. Lúc này tôi chỉ hành động theo phản xạ, không suy tính thiệt hơn, không nghĩ tới hậu quả của việc mình làm.

Chỉ vài phút sau trên trời đã thấy xuất hiện hai chiếc chiến đấu cơ khác. Hai chiếc phản lực này bay kè hai chiếc AD 6 không cho bắn phá nữa. Một lúc sau thì cả bốn chiếc máy bay biến mất.

Tôi kiểm điểm lại thì thấy chỉ còn 14 trái đạn cối 81 ly nữa là hết số đạn mang theo. Tôi cho lột vỏ hết 14 viên đạn còn lại này, sẵn sàng phóng đi.  Chỉ cần thấy bóng dáng những chiếc oanh tạc cơ tái xuất hiện trên bầu trời thì 14 viên 81 ly đó sẽ theo nhau bay vào phi trường ngay.

Rồi thì, thật bất ngờ, đại liên 12.7 ly trên đường Phan Châu Trinh từ phía Bắc bắn như mưa về hướng Phổ Ðà. Một đoàn chiến xa M41 vừa tác xạ vừa ào ào chạy tới. Khẩu 57 ly của Hạ sĩ Tính đặt trên tháp chuông mới bắn được một viên thì cái nóc tháp chuông đã bị đại bác trên xe tank bắn bay mất. Hạ sĩ Tính sợ quá, nhảy vội xuống đất núp sau bệ đá. Ðoàn chiến xa này là một đơn vị thiết kỵ Hoa-Kỳ. Tôi chẳng hiểu tại sao Tướng Tư Lệnh Vùng của tôi đang tỵ nạn trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mà chiến xa Mỹ lại tấn công chúng tôi?

Có điều là quân Mỹ không có ý giết chúng tôi, đạn của họ dù bắn như mưa, nhưng bắn rất cao.  Khi những chiến xa Hoa-Kỳ đã bao vây sát bờ tường Chùa Phổ Ðà, tôi liều mạng bước ra cổng xem người Mỹ muốn gì.

Một Ðại úy Hoa-Kỳ nhảy xuống đất, ngỏ ý muốn gặp cấp chỉ huy của Biệt Ðộng Quân. Tôi nói với ông ta rằng, tôi là người chỉ huy ở đây. Ông Ðại úy Mỹ nói, người Mỹ đã đứng ngoài vụ tranh chấp này. Nhưng 6 viên cối 81 ly của tôi đã không rơi trên khu Không Quân Việt-Nam mà rơi trên khu đậu máy bay của Mỹ nên quân đội Mỹ phải can thiệp.

Tôi phân bua với người sĩ quan Mỹ rằng, trong một nước dân chủ, việc dùng vũ lực để đàn áp lực lượng chính trị đối lập là một hành động man rợ, thô bạo và vô nhân đạo, không chấp nhận được. Chính quyền trung ương đã dùng tới không quân để tiêu diệt chúng tôi thì, để tự vệ, tôi sẽ làm tất cả những điều có thể làm, sử dụng bất cứ phương tiện gì mà tôi có trong tay để đánh trả. Nếu người Mỹ thấy cần giết chúng tôi thì cứ ra tay, chúng tôi không hề sợ chết. Tôi chỉ cho ông Ðại úy Hoa-Kỳ nhìn thấy đống đạn 81 ly đã lột vỏ, rồi nói với ông ta,

– Nếu máy bay tiếp tục bắn phá, tôi sẽ gửi số đạn kia vào phi trường ngay lập tức.

Tôi vừa dứt tiếng thì vị sĩ quan Hoa-Kỳ tiến lên ôm ngang hông tôi tỏ vẻ thân thiện, rồi thông báo cho tôi biết rằng, giờ này Không Quân Mỹ đã kiểm soát toàn bộ phi trường và tạm thời không cho máy bay Việt-Nam cất cánh nữa. Ðể đổi lại, ông ta đề nghị tôi phải ngưng ngay hành động pháo kích. Nếu tôi không làm theo lời yêu cầu của ông ta, ông ta đành phải san bằng chùa Phổ Ðà.

Sau khi nghe tôi hứa sẽ không nã pháo vào phi trường nữa thì đoàn chiến xa Mỹ mới chịu kéo nhau đi.

Ðêm hôm đó chiếc Jeep của Ðại úy Tiểu đoàn trưởng trở về đậu trước cổng chùa trên đường Chu Văn An. Ông Ðại úy đi cùng anh Chuẩn úy Hồ Văn Hữu, sĩ quan ban 5 Tiểu đoàn, và người tài xế. Dưới ánh điện đường tôi thấy dáng dấp của ông thật là tiều tuỵ. Râu tóc bờm xờm, áo quần xốc xếch, ông ngồi xẹp trên mặt đất trước đầu xe. Tôi tới đứng nghiêm trước mặt ông, rồi giơ tay chào ông theo đúng quân cách.

– Ðại úy trở về rồi ư? Anh em đang chờ Ðại úy.

Ðại úy Dzu không bắt tay tôi. Ông cúi mặt nhìn xuống mặt đường. Những ngón tay ông cào cào vô thức trên mặt lộ. Rồi mặt vẫn không ngẩng lên, ông nói nhỏ,

– Long bỏ tiểu đoàn rồi theo “moa” vào phi trường theo ông Kỳ có được không?

– Còn anh em?

– Bỏ tụi nó đó! Không có người chỉ huy, tụi nó sẽ tự giải tán thôi!

Tôi bất mãn, lớn tiếng,

– Ðại úy đem con bỏ chợ. Nay còn vác mặt về rủ rê tôi làm điều tồi tệ này nữa sao?

– Long à! Mình có còn con đường nào khác nữa đâu?

Ðại úy thều thào phân bua.

Từ lúc chiếc xe ngừng trước cổng, đã có nhiều binh sĩ chạy ra vây quanh ông Tiểu đoàn trưởng. Họ đã nghe rõ những lời ông nói. Vài người tỏ vẻ bất mãn quay lưng bỏ đi; vài người tức giận buột miệng chửi thề. Bốn năm khẩu súng lên cò chĩa vào đầu ông Ðại úy và ông Chuẩn úy làm cho hai vị này hoảng hồn nhìn tôi cầu cứu. Hạ sĩ Trần Quy vừa khóc vừa gào lên:

“Ðại úy là đồ tồi! Ðại úy là thằng phản bội! Ðại úy là thằng hèn!… Hu! Hu! Hu!…”

Tôi sợ tình trạng này kéo dài, sẽ khích động anh em khiến tính mạng của ông Ðại úy khó được bảo toàn, nên vội giơ tay ngăn cản anh em lại,

– Anh em bình tĩnh! Việc gì cũng có thể giải quyết ổn thỏa.

Sau đó tôi cúi xuống nói nhỏ vào tai ông Dzu,

–  Ðại úy nhồi nhét cái tư tưởng “ý dân là ý trời” vào đầu óc anh em. Anh em đã răm rắp tuân theo lời Ðại úy. Nay Ðại úy bỏ dân chúng, bỏ anh em, thì Ðại úy cũng đừng trách anh em nặng lời với Ðại úy. Tôi nghĩ rằng, giờ này Ðại úy nên đi khỏi nơi đây là tốt nhất!

Tôi hất hàm ra dấu cho Chuẩn úy Hồ Văn Hữu; anh Hữu lật đật xốc nách ông Dzu dìu ông lên xe.  Chiếc Jeep Willy rồ ga, nhắm hướng phi trường.

Thì ra 6 viên đạn súng cối 81 ly rơi trên khu đậu máy bay của Mỹ, cùng những tràng súng nổ rền trời, rền đất một góc thành phố buổi sáng ngày hôm đó đã khiến những người chỉ huy mới của ông Dzu lo ngại, rồi ra lệnh cho ông ta phải quay về chiêu dụ tôi theo họ.

Đà Nẳng 1966

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 2 Aug 2023

Hồi Ký

Kỳ 1

Bao năm đã trôi qua, nhiều người Việt-Nam vẫn còn cho rằng Tăng Ni Phật Giáo Miền Trung phát động vụ “Bàn thờ Phật xuống đường năm 1966” là Cộng-Sản.  Những quân nhân Phật Tử và dân chúng đã vào chùa ủng hộ cuộc chính biến đó cũng bị kết tội là mắc mưu Cộng-Sản xúi giục, phá rối trị an. Thực tế không phải như vậy đâu!

Bất cứ chuyện gì xảy ra trên thế gian này đều có nguyên ủy của nó. Nếu không phải là một người đã từng tham gia, dính líu tới cuộc chính biến năm 1966 đó, thì sẽ không thể có một kết luận chính xác cho những gì đã xảy ra.

Nhớ lại thời 1963, Việt-Nam Cộng-Hòa có lãnh tụ là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 dưới sự dàn dựng của Hoa-Kỳ, cùng sự tham gia của Phật Giáo và quân đội chỉ  nhằm mục tiêu là  lật đổ một lãnh tụ. Sau khi Tổng Thống Diệm bị giết thì đất nước ta lâm vào tình trạng lạm phát lãnh tụ. Ðất nước có quá nhiều lãnh tụ xuất hiện, cũng có nghĩa là đất nước không có ai đủ tài, đủ đức cho dân chúng tôn thờ. Một phe phái chính trị vừa giành được quyền bính thì không lâu sau đã bị phe khác lật đổ, Miền Nam bước sang thời kỳ vô cùng nhiễu nhương, tạo cơ hội cho quân đội đứng lên, nắm giữ chính quyền.

Quân đội một mặt bảo vệ biên cương, đồng thời quân đội cũng cầm đầu chính phủ, nắm vận mệnh quốc gia. Có điều những tướng lãnh cầm quyền không do dân bầu mà là do phe phái đặt để sau những lần đảo chánh, chỉnh lý, hay biểu dương lực lượng. Thêm vào đó, quân đội cũng không còn là một khối thuần nhất nữa; tướng lãnh tranh giành quyền hành, đấu đá nhau liên miên. Không có lãnh tụ chân chính, nên thầy trò, dù là trong quân đội, cũng bỏ nhau, phản nhau là chuyện bình thường.

Năm 1966 Tướng Thiệu, Tướng Kỳ ngự trị ở trung ương. Miền Trung thì Tướng Thi hùng cứ một phương. Thời gian này đất nước ta nằm trong tay các “Sứ quân” tướng lãnh của quân đội. Nhưng Việt-Nam Cộng-Hòa lại là đất nước của dân chủ và tự do, nên dân chúng Việt-Nam Cộng-Hòa luôn luôn khát khao, đòi hỏi phải có một chính quyền dân cử. Nhân cơ hội này, người Mỹ đã đứng sau lưng, dàn dựng và sắp xếp cho các “Sứ Quân” loại bỏ lẫn nhau từ từ. Ðể rồi vụ binh biến Miền Trung xảy ra. Trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết! Chỉ có lính tráng và dân chúng Miền Trung như chúng tôi là gánh lấy cái khổ. Quân nhân thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân cũng chỉ là những nạn nhân của cuộc binh biến năm 1966 này.

Thời hậu đảo chánh, Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam lâm vào tình trạng chia rẽ trầm trọng, Ấn-Quang đi theo một đường, Việt-Nam Quốc Tự đi theo một nẻo.  Phật Giáo Miền Trung hầu như hoàn toàn chịu sự chi phối và chỉ đạo của phe Ấn-Quang. Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật là một con cờ của Ấn-Quang. Tháng 2 năm 1966 Trung tướng Nguyễn Chánh Thi công khai ủng hộ “Phong Trào Nhân Dân Tranh Thủ Cách Mạng” của Phật Giáo, chủ trương ly khai và đòi tách Miền Trung ra khỏi Việt-Nam Cộng-Hòa để thành lập Miền Trung Tự Trị.

Dân chúng từ nông thôn, nghe lời kêu gọi của Giáo Hội Phật Giáo Miền Trung theo chân nhau, ào ào tuôn vào thành phố ủng hộ và tham gia phong trào tranh đấu. Huế, Ðà-Nẵng, chùa chiền nào cũng đầy người và người. Vào Hè, Ðà-Nẵng hừng hực nắng. Thành phố chói lòa vì mái nhà nào cũng lợp tôn. Nắng nung mặt lộ, đường phố bốc hơi. Trong lòng người dân Ðà Nẵng “lửa cách mạng” cũng bừng bừng cháy. Biểu ngữ giăng khắp nơi: “Hoan hô hội đồng nhân dân tranh thủ cách mạng!” – “Một quốc hội dân cử…”- “Ðả đảo chế độ độc tài quân phiệt!” …

Ðầu tháng 3 năm 1966, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị giải nhiệm, thay thế bằng Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Từ đó dấy lên phong trào tranh đấu đòi phục quyền cho Tướng Thi. Giữa tháng 3, Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị điều động từ Hội-An ra Ðà-Nẵng cũng nhằm mục đích hỗ trợ cho phong trào này. Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Ðoàn Trưởng 11 Biệt Ðộng Quân, vốn là đàn em thân tín của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi nên ông dẫn tiểu đoàn về Ðà-Nẵng để ủng hộ Tướng Thi cũng là lẽ đương nhiên. Thời gian này, tôi, Thiếu úy Vương Mộng Long, là đại đội trưởng Ðại Ðội 3 của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Dưới cái nắng như thiêu, ba quân trong hàng, im phăng phắc nghe Ðại úy Tiểu đoàn trưởng ban lệnh: “Dân chúng muốn Miền Trung tự trị, và sẽ tiếp tục tranh đấu để Việt-Nam có một chính quyền do dân bầu lên, làm việc cho dân, làm việc vì dân. Ý dân là ý trời! Dân chúng đòi ly khai, chúng ta ly khai. Từ giờ phút này, chúng ta đứng về phía nhân dân, chống lại chính quyền Thiệu, Kỳ.”

Trong tiểu đoàn này, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng là cấp chỉ huy tối cao. Cấp chỉ huy nói gì, chúng tôi tin nấy, cấp chỉ huy muốn sao, chúng tôi làm vậy, vì kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Vả lại, chúng tôi là con dân Miền Trung, dân chúng Miền Trung đòi ly khai, chúng tôi ly khai theo dân là đúng với ý trời rồi còn gì?

Tiểu đoàn chỉ có ba đại đội 1, 3, và 4 kéo về đây, vì Ðại Ðội 2/11 của Ðại úy Tôn Thất Trực còn nằm trong Hội-An. Tôi nghe nói anh Trực đang chỉ huy Ðại Ðội 2/11 cùng một nửa Tiểu Ðoàn 39 Biệt Ðộng Quân giữ nhiệm vụ phòng thủ Chùa Tỉnh Hội Quảng-Nam nhận lệnh trực tiếp từ Ðại tá Ðàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt-Khu Quảng-Ðà.

Chúng tôi đóng quân trong sân vận động Chi-Lăng. Cứ cách vài hôm đại đội tôi lại tới phiên trực, phải leo lên lưng thiết vận xa M113 hành quân tùng thiết; đi, về trong ngày để tảo thanh du kích Việt-Cộng lẩn quất quanh vùng Non Nước, Cầu Ðỏ, Lăng-Cô ngoại ô Ðà-Nẵng…

Ðóng quân ở sân vận động cùng hai đại đội bạn (1 và 4) được ít lâu, Ðại Ðội 3/11 nhận được lệnh di chuyển về chốt giữ nhà máy đèn Ðà-Nẵng để kiểm soát con đường dẫn vào Quân Y Viện Duy Tân và phi trường Ðà-Nẵng.

Cuối tháng 3 năm 1966, đại đội tôi được tăng cường một khẩu đội SKZ 57 ly và một khẩu đội cối 81 ly. Thời gian này, tôi phải trực máy truyền tin 24/24 để sẵn sàng thi hành một nhiệm vụ đặc biệt do Ðại úy Tiểu đoàn trưởng giao phó.

Một đêm, trong giờ giới nghiêm, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng với một xe Dodge có 6 Biệt Ðộng Quân vũ trang hộ tống tới gặp tôi. Ông chỉ thị cho tôi ngày hôm sau phải chận đoàn xe từ phi trường ra, và bắt cho được vị tướng ngồi trong chiếc xe Falcon đen.

Chẳng hiểu ất giáp gì cả, nhưng tôi cứ im lặng thi hành lệnh này. Tôi cho căng một cuộn thép gai vòng chận ngang con đường từ phi trường về Bộ tư lệnh quân đoàn rồi cho quân bố phòng chờ đợi. Suốt hai ngày không có chuyện gì xảy ra. Tới ngày thứ ba thì Ðại úy ghé thăm và cho phép đại đội tôi sinh hoạt bình thường trở lại.

Nhà tôi ở trong Hội-An, cả tháng rồi tôi chưa ghé thăm nhà. Ðược dịp ông Tiểu đoàn trưởng giải tỏa lệnh trực 24/24 thì ngay trưa hôm đó, như sáo sổ lồng, tôi giao đại đội cho Thiếu úy Ðạt rồi cùng Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong leo lên chiếc Dodge 4 phóng đi ngay.

Thiếu úy Vương Mộng Long -1966

Ngày đầu đáo nhậm đơn vị (10 tháng 2 năm 1966) tôi đã được cấp chiếc Dodge 4 này nên lái nó cũng quen rồi. Ðúng ra thì Ðại đội trưởng Biệt Ðộng Quân phải có một xe Jeep, nhưng tôi lại chưa từng được “sờ” tới cái xe Jeep lần nào. Chiếc xe này đã theo ông cựu Ðại đội trưởng từ lúc ông ta bị thương, rồi tiếp tục bị biệt phái theo ông ta khi ông ta xuất viện về làm sĩ quan Ban 3.

Thực tình thì tôi cũng chẳng màng tới chuyện xe cộ. Miễn là được làm Ðại đội trưởng, có quân, có quyền, hành quân thì đi riêng một cánh, chẳng dưới quyền ai là thích lắm rồi. Tôi về nhà thăm mẹ tôi một buổi. Tới chiều, tôi sang nhà anh bạn Trần Ngọc Lợi bên bờ sông Thu Bồn ngồi nhâm nhi mấy chai bia cổ cao. Tôi ngủ qua đêm ở nhà thằng bạn, dự trù sáng hôm sau sẽ trở về đơn vị.

Sáng hôm sau, “đề” hoài mà chiếc Dodge thổ tả cứ ì ra không chịu nổ máy. Tôi phải mượn cái Honda hai bánh của anh bạn, chạy vào tiểu khu nhờ ông trưởng ban quân xa của đại đội yểm trợ tiếp vận tiểu khu giúp đỡ. Quân xa của tiểu khu kéo được chiếc Dodge của tôi về tới công xưởng thì xế chiều rồi. Hai ông thợ máy phải làm việc hì hục tới mười giờ đêm mới sửa xong xe cho tôi.

Mười giờ sáng ngày sau nữa tôi mới về tới đại đội. Hạ sĩ Phụng, người mang máy truyền tin đại đội hớt hải chạy ra nắm áo tôi,

– Nguy rồi thẩm quyền! Ðại bàng tìm thẩm quyền hai ngày nay. Không gặp thẩm quyền, ổng nổi tam bành! Chửi thề luôn miệng!

Tôi chột dạ,

– Ủa! Chứ Thiếu úy Ðạt đâu?

– Thẩm quyền vừa đi khỏi thì Thiếu úy Ðạt cũng đi mất. Chắc ổng “dù” về Huế thăm nhà rồi!

Tới trưa hôm đó thì xe của Ðại úy xuất hiện. Mặt ông lầm lì, ông không hé môi. Ông ngoắc tay cho tôi lên ghế sau rồi ra dấu cho tài xế chạy thẳng về sân vận động.

Ông nhảy xuống xe, liếc mắt ra dấu cho tôi đi theo. Vào phòng, đóng cửa lại xong xuôi, ông mới trợn mắt,

– Mấy ngày nay ông bỏ đơn vị đi đâu?

– Tôi ghé thăm nhà trong Hội-An.

– “Ð! Má!” Ông có biết ông đã làm hỏng hết kế hoạch hành quân của người ta rồi không?

Tôi ngớ người, ú ớ,

-Có chuyện gì vậy đại bàng?

– “Ð! Má!” Hôm qua phái đoàn của thằng cha Có [Trung Tướng Nguyễn Hữu Có] từ Sài-Gòn ra. Tôi gọi ông để thi hành mật lệnh, ông không có nhà, thằng phụ tá của ông cũng vắng mặt. Không túm được cha Có thì làm sao gây áp lực với tụi trung ương để phục hồi chức vụ cho “Ông Thầy” đây? Ông làm hỏng hết kế hoạch của “Mặt Trận” rồi, ông có biết không?

Vì thường nghe Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu gọi Trung tướng Nguyễn Chánh Thi là “Ông Thầy” nên tôi hiểu ra liền: Kế hoạch của phe ly khai là bắt sứ giả của chính phủ trung ương (Trung tướng Nguyễn Hữu Có) để mặc cả chuyện phục hồi chức vụ cho Trung tướng Nguyễn Chánh Thi!

Tôi đành lí nhí,

– Tôi nhận lỗi! Tùy Ðại úy xử phạt. Tôi sẽ không khiếu nại.

Mặc tôi đứng trơ giữa phòng, Ðại úy chắp tay sau đít, hậm hực đi đi, lại lại loanh quanh cả chục vòng rồi tiến ra mở cửa,

– Ði đi!

Tôi bước ra khỏi phòng, sau lưng tôi Ðại úy ra lệnh cho anh tài xế,

– Ðưa anh ta về đại đội!

Từ hôm xảy ra vụ bắt hụt sứ giả của chính phủ trung ương, tôi bị ông Tiểu đoàn trưởng liệt vào loại “lừng khừng chống cách mạng.” Tuần lễ sau tôi được lệnh đem Ðại Ðội 3/11 về đường Bạch-Ðằng, canh gác tư dinh của tướng Tân Tư Lệnh Vùng. Tư Lệnh Vùng 1 bây giờ đã là Trung tướng Tôn Thất Ðính. Tôi chỉ giáp mặt Tướng Ðính có một lần. Hầu như mọi việc trong nhà đều do ông Thiếu tá Tôn Thất Trai, Chánh Văn Phòng của Tướng Ðính quán xuyến.

Cũng từ đó, đại đội tôi được miễn hành quân. Tôi và Thiếu úy Ðạt, đại đội phó, cứ luân phiên lang thang trên phố. Vào một buổi chiều, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng gọi tôi về trình diện. Ông đưa cho tôi một danh sách thăng thưởng những quân nhân hữu công của đại đội tôi rồi nói,

– Ngày mai có xe đón các anh về Hội-An dự lễ gắn huy chương trận Tháp Bằng-An.

Trận Tháp Bằng-An xảy ra ngày 22 tháng 2 năm 1966, khi đó tôi chỉ là một thiếu úy trung đội trưởng với thâm niên mười hai ngày công vụ. Nhưng vài phút trước trận đánh, tôi đã được đảm nhiệm chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 3/11 thay thế Trung úy Lê Bá Ngọ bị thương.

Trong trận đánh này, đại đội tôi lập công đầu, hạ sát trên một trăm địch quân, tịch thu được 105 vũ khí cá nhân và cộng đồng. Ðại úy tiểu đoàn trưởng nói rằng Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thăng cấp trung úy đặc cách mặt trận cho tôi rồi, ráng chờ ít lâu nữa, có nghị định của Bộ Tổng Tham Mưu, ông sẽ gắn lon mới cho tôi.

Buổi lễ tuyên dương công trạng đã diễn ra trong sân cờ của Tiểu Khu Quảng Nam. Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu Tiểu Ðoàn Trưởng 11 Biệt Ðộng Quân được Trung tướng Tôn Thất Ðính gắn cho một Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương; Ðại úy Nguyễn Văn Của, Chi Ðoàn Trưởng 3/4 Thiết Vận Xa được vinh thăng Thiếu tá.

Tôi được ông Ðại tá tên là Mô gắn cho một Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu. Ngoài ra, tôi còn được một ông tướng Mỹ gắn cho một huy chương Silver Star của Hoa-Kỳ. Gần hai chục quân nhân hữu công khác thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/4 Thiết Quân Vận cũng được ban thưởng huy chương và thăng cấp.

Dịp này tôi mới biết Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đã lên đường xuất ngoại để chữa bệnh hay giữ chức Ðại sứ ở nước nào đó bên trời Tây. Trung tá Trần Văn Hai đã về giữ chức Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân-Lực Việt -Nam Cộng-Hòa thay thế Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận. Tướng Nhuận được điều động ra Huế đảm trách chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh thay Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Tướng Chuân vào Ðà-Nẵng làm Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật, chưa đầy một tháng thì từ chức, trao quyền cho Trung tướng Tôn Thất Ðính.

Tôi cũng nghe rằng, Tướng Ðính tuy là người của trung ương phái ra, nhưng lại công khai ngả theo phe ly khai của Phật Giáo (?) Trong tư dinh của Tướng Vùng không có chỗ cho binh lính nấu cơm, nấu nước, vì thế, trong thời gian này thầy trò tôi cứ cơm đường cháo chợ qua ngày.

Một đêm trong khi ngủ say, võng đứt, Thiếu úy Ðạt bị một cái tủ đè vỡ đầu, gãy tay, phải đi nằm nhà thương. Ðại Ðội 3/11 chỉ còn mình tôi là sĩ quan, nên tôi hết dịp lang thang trên phố. Rồi sáng sớm 15 tháng 5 Thiếu tá Trai báo cho tôi biết rằng, Thủy Quân Lục Chiến từ sân bay tiến ra, đã đánh chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I. Trung tướng Tôn Thất Ðính phải bỏ chạy sang Sơn-Trà tá túc trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Thiếu tá Trai cũng chuyển lời nhắn của Trung tướng Tư lệnh cho tôi là:

“Nếu Thủy Quân Lục Chiến đến chiếm tư dinh của ông, thì tôi cứ giao cơ ngơi này cho họ. Nếu họ muốn tôi giải giới, thì tôi giao nạp vũ khí cho họ để tránh đổ máu.”

Một đoàn xe chở Thủy Quân Lục Chiến chạy ngang qua dinh Tướng Ðính, nhưng không dừng lại. Họ hướng về phía Ðài Phát Thanh Ðà-Nẵng. Sau đó thì súng nổ đùng đùng kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ rồi im. Tới trưa thì quân chính phủ chiếm được Ðài Phát Thanh. Tôi nhặt chiếc xe đạp của ai đó vứt bên lề đường, đạp về sân vận động xem tiểu đoàn ra sao.

Giờ này, dân chúng đang tụ tập đông như kiến quanh cổng sân Chi-Lăng. Dân chúng khóc lóc thật thảm thiết. Nhiều bà con ai oán gào lên:

“Các con ơi! Sao các con dửng dưng đứng nhìn quân Thiệu, Kỳ chiếm Ðà-Nẵng mà không dám làm gì sao? Các con ơi!”

Xen kẽ là những tiếng hô: “Dân quân Ðà-Nẵng thà chết không đầu hàng bọn Thiệu, Kỳ, Có!”- “Ðả đảo quân phiệt!”-Miền Trung Tự Trị!”

Nhìn cảnh tượng bừng bừng khí thế này, tôi thấy lời Ðại úy tiểu đoàn trưởng thật là chí lý:

“Ý dân là ý trời! Dân chúng đòi ly khai, chúng ta ly khai.”

Tôi nghĩ bụng, dân chúng thà chết không đầu hàng. Là con dân Ðà-Nẵng, chúng tôi sẽ theo ý dân, quyết không đầu hàng! Ðại úy quả là người chỉ huy sáng suốt, quyết tâm trung thành với lãnh tụ của ông, trung thành với dân chúng Miền Trung. Chúng tôi may mắn lắm mới có Ðại úy là con chim đầu đàn dẫn dắt…

Bên hồ Thác Bà

Vương Mộng Long / Khóa 20 Võ Bị Đà Lạt

Post by Sơn râu 1 Aug 2023

BÊN HỒ THÁC BÀ

(TRÍCH HỒI KÝ CỦA VƯƠNG MỘNG LONG-K20)

Một năm sau khi Miền Nam thất thủ, hàng ngàn sĩ quan QLVNCH đã bị lưu đày lao động khổ sai nơi Làng Đá, Cẩm-Nhân, đầu nguồn hồ Thác-Bà, Yên-Bái, Hoàng-Liên-Sơn.

Sau đây là một truyện kể về đời tù nơi ấy năm 1977…

Tháng Năm, trời không còn lạnh lắm, hoa đậu phọng đã rụng, râu bắp đã teo, nhưng mùa màng chưa thu hoạch.

Đối với những người tù cải tạo trong trại T4 Cẩm-Nhân, thì mùa này ngày dài hơn, cơn đói cũng kéo dài hơn…

Nơi khúc quanh con lộ đá, sát mé nước hồ Thác-Bà, có một bãi tăng gia sản xuất “cải thiện” đời sống của bộ đội thuộc Đoàn 776 Cộng-Sản.

Vườn bắp nơi đây tốt giống, tốt nước, nên trái nào, trái nấy no tròn, mập mạp thấy phát thèm…

Một ngày, giờ đứng bóng, có một anh tù đứng bên một đống lửa đang cháy lớn trên triền đồi; anh ta đang nướng bắp non.

Bắp anh đang nướng là bắp ăn trộm từ cái rẫy bên hồ của cán bộ.

Những bạn tù khác vác củi đi ngang qua khúc quanh, đều được anh ném tặng một, hai cái bắp nướng, nóng hổi, thơm ngon, ngọt lịm.

Không ai nhìn rõ mặt anh tù vô kỷ luật đó, vì anh ta đội nón sụp tới mắt; mặt và cổ anh lại quấn một vuông khăn đen, mặc dù trời không lạnh.

Anh ta khôn lanh đứng giữa khoảng trống, có thể quan sát tới khúc quanh rẽ vào Trại 4, đồng thời nhìn rõ cả những bóng người di chuyển nơi cổng Trại 9 bờ bên kia.

Sau lưng anh là rừng già. Bìa rừng già có một nhà sư ẩn mình canh gác cho anh.

Nhiều người biết nhà sư này là cựu Đại Úy Lê Thái Bình, Tuyên-Úy Phật-Giáo của Tiểu-Khu Phú-Bổn.

Những người tù vác củi về sớm không được phép nhập trại, họ phải tập trung nơi chuồng lợn, cách trại chừng hai trăm mét chờ tới hết giờ lao động.

Không rõ có anh “ăng-ten” nào lẻn về báo cáo gì với cán bộ trại hay không, nhưng gần một chục tay súng AK đã hộc tốc, vội vã chạy ra bờ hồ truy lùng anh tù “phá hoại”.

Họ uổng công thôi! Tìm anh ta không được đâu! Anh “phá hoại” nhanh như cheo. Chẳng thế mà, Trung Tá Nguyễn Công Luận (K12 VB) ở tù chung Lán 11 với anh ta, đã gán cho anh ta cái biệt danh “Con Beo Trại 4″.

Hôm đó, toán vệ binh chỉ nhìn thấy trên triền đồi, một bếp lửa lớn đang cháy hừng hực và một đống bắp chưa kịp nướng.

Dưới chân đồi, bên con đường mòn, nằm trơ hai trái bắp nướng, vỏ còn bốc hơi. Hai trái bắp này được ném cho anh tù cải tạo tên là Nguyễn Hữu Sủng cựu Đại Úy An-Ninh Quân-Đội.

Anh Sủng không dám lượm bắp ăn, vì anh là một tín đồ Thiên-Chúa rất ngoan đạo. Cho dù lúc đó bụng đói muốn chết, anh vẫn sợ phạm tội với Chúa.

Toán bộ đội hăm hở lùng sục “phạm trường”. Ngón nghề của người trộm bắp quả thực là quá khéo tay. Cả trăm trái bắp non bị hái mang đi không dấu vết.

Anh trung úy cán bộ quản giáo tên Thu giận quá, nghiến răng trèo trẹo,

“Đúng là quân phá hoại! Ông mà tóm được mấy thằng này, ông ‘dần’ cho hộc máu!”

Toán vệ binh đứng bên đống bắp cao nghệu bên đường, tiếc ngẩn ngơ.

Trên không, có đám mây ngàn hững hờ chứng kiến. Bên hồ, vài con trâu trầm mình trong bùn, vẫy đuôi đuổi ruồi, mắt lừ đừ…

Biết hỏi ai để tìm ra kẻ “phá hoại” bây giờ?

Mười phút sau, toán bộ đội đành rút lui về trại.

Buổi chiều, đoàn tù vác củi theo chân nhau vào cổng dưới đôi mắt xoi mói của anh trung úy quản giáo Thu.

Quản giáo Thu lục túi từng người kiếm cái khăn đen. Chẳng ai có cái tang vật màu đen ấy cả.

Tối đó, cựu Đại Úy An-Ninh Quân-Đội Nguyễn Hữu Sủng lẻn vào Lán 4, ngồi cầu nguyện bên chân linh mục Khổng Tiến Giác, cựu Tuyên-Úy của Cụ Diệm. Cha Giác cũng bị giam ở trại này.

Anh Sủng hỏi cha,

“Cha ơi! Con đói quá! Nếu con ăn trộm một trái bắp của trại ăn cho đỡ đói thì con có phạm tội không cha?”

Cha Giác ôn tồn,

“Con ơi! Con là con của Chúa. Bắp cũng là của Chúa. Con ăn bắp của Chúa để cứu cái thân con của Chúa thì con có tội tình gì đâu!”

Những ngày sau đó, trong hàng ngũ những kẻ phá hoại vườn sắn, khoai lang, rau đậu của cán bộ, có thêm hai hung thần nữa, đó là cựu Đại Úy Nguyễn Hữu Sủng và người bạn tù nằm kế bên anh, cựu Đại Úy Tuyên-Úy Tin-Lành Sư Đoàn 2 Bộ Binh, Mục-Sư Võ Ngọc Thiên Lộc.

Một năm sau (1978), tay ăn trộm bắp trốn trại lần thứ hai, lại thất bại, lại bị cùm, lại bị chuyển trại.

Tới trại Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên, bạn bè cũ gặp lại nhau, có người hỏi anh ấy rằng ngày đó cái khăn đen anh dấu đâu?

Anh ta (BĐQ Vương Mộng Long) cười hì hì, tiết lộ rằng anh đã dắt cái khăn đen dưới mái chuồng trâu nhà một người dân Tày, dưới chân dốc Ngàn, ngoài cổng trại.

Anh chỉ lấy khăn ra khi hành nghề ăn trộm, cứu giúp bạn tù đang đói.

Xong việc, anh lại dấu cái khăn vào nơi cũ.

Khi đi trốn trại lần thứ hai, vội quá, anh không kịp đem cái khăn theo.

Không rõ mấy chục năm qua, cái khăn đen có còn nằm dưới mái chuồng trâu nhà Tày nơi cuối dốc Ngàn hay không?

Nhưng chắc chắn cái khăn đen đó vẫn chưa quên người, vì người vẫn còn nhớ khăn…

Vương mộng Long

Seattle, WA-USA

Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

24 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 1 Aug 2023

Kỳ trước: Cuối cùng chiếc trực thăng bay lạc, hết xăng bị rớt nhưng nhờ sáng kiến của Trung úy Vương Mộng Long nên đã liên lạc được với hậu cứ và được cứu thoát.

 Kỳ cuối

Ðáp lại, tôi thấy cô Ba lúc nào cũng tươi cười, vui vẻ với chú Ma.

Ði làm về cô lại xuống bếp nấu ăn, chăm sóc cho chú ấy.

Cô giặt giũ áo quần, thay chiếu trải giường cho chú hàng ngày.

Tháng Chín năm 1970 chú Ma giải ngũ, về quê. Sau đó tôi cũng không thấy cô Ba trong nhà chú Thuộc.

Hai năm sau, tôi gặp lại cô Ba. Cô trở về nhà Thuộc để thăm bà con. Cô đem theo đứa con trai đầu lòng vừa tròn một tuổi.

Cô kể chuyện rằng:

“Ngày đó, sau khi bị thương cụt hai giò, anh Ma tuyệt vọng vô cùng, muốn tự tử.  Anh sợ cô Ba dính líu vào một người tàn tật như anh thì sẽ chuốc khổ một đời. Vì thế anh đã đóng kịch thành một người tính tình hung dữ để xua đuổi cô Ba. Nào ngờ, anh càng chạy trốn, cô càng đeo theo. Thấy anh về quê, cô Ba cũng bỏ công ăn việc làm, về quê theo anh. Cô nói với anh rằng, bây giờ cô không còn lo mất anh nữa. Anh gãy chân rồi, không còn phải đi nhảy toán, phải đi đánh nhau. Anh sẽ không bị chết trận, sẽ sống đời với cô. Cô hết lo! Cuối cùng cha mẹ đôi bên đã tác thành cho họ. Họ đang làm chủ một quán cơm có tên là “Quán Biên Thùy” nơi bến xe Qui Nhơn. Họ đã có với nhau một cháu trai thật là kháu khỉnh.”

Thời chiến tranh, tôi biết có rất nhiều chuyện tình dang dở, đầy nước mắt đã xảy ra.

Nhưng trong thâm tâm, lúc nào tôi cũng mong được chứng kiến những mối tình “có hậu” như mối tình của cô Ba và một thuộc cấp của tôi, Trung sĩ phế binh Lê Sanh Ma.

Kể ra thì chuyện tình này không thơ mộng gì, nhưng với tôi đó là một cái gương tuyệt vời biểu hiện cho lòng chung thủy.

Vương Mộng Long ở Biển Hồ, Pleiku-1970

Nhìn hạnh phúc gia đình của những thuộc cấp dưới quyền mình, lòng tôi cũng thấy vui.

Khí hậu tháng Năm thật là ấm áp. Vết mổ nơi sườn trái của tôi cũng vừa lành. Ðại đội 2 Trinh sát Biệt Ðộng Quân có một tuần học bổ túc kỹ thuật xâm nhập ở Camp Enarie của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ nên tôi thật là rảnh rang.

Tôi cảm như đang hồi sung sức nhất. Thấy tôi ngày nào cũng vác cái xuồng làm bằng cái vỏ xốp trắng dùng để bọc bom Napalm ra Biển Hồ bơi chèo hàng giờ, anh bạn Goodell bèn vào Camp Holloway xin cho tôi một cái phao cấp cứu của phi hành đoàn C 130. Chiếc phao cao su màu da cam này tuyệt đẹp. Khi no hơi thì nó dài cỡ hai mét, rộng một mét. Có lẽ cái phao này dư sức vận tải hai người có trọng lượng như tôi thời bấy giờ.

Vương Mộng Long ở Biển Hồ, Pleiku-1970

Sau chiến dịch Dak Séang, trên đặc lệnh truyền tin của liên đoàn thì vô tình tôi được gọi với danh hiệu là “Loan Vương”

Tôi thấy hai chữ “Loan Vương” nửa đầu là chữ “Loan”, tên người tôi yêu, nửa sau là chữ “Vương” họ của tôi, nên tôi dùng luôn cái danh hiệu này để đặt tên cho cái phao cấp cứu của mình.

Tôi dùng bút sơn màu tím, viết lên thành cái phao hai chữ “Loan Vương” thật to.

Nghe tôi giải thích ý nghĩa tên cái phao, anh bạn Goodell cứ gật gù phục lăn. Anh chàng nói, người Việt Nam thật là thâm thúy, khác hẳn giống nòi da trắng của anh.

Tháng 7 năm 1970, tôi lên đại úy. Tháng 9 năm 1970 tôi được đề cử theo học khóa “Tình Báo Tác Chiến” tại Bộ Tư Lệnh Viễn Ðông của Quân Ðội Hoàng-Gia Anh ở Singapore.

Trở về Việt-Nam được vài ngày thì tôi nhận được tờ giấy cho phép kết hôn của Bộ Tổng Tham Mưu, cùng lúc với cái sự vụ lệnh thuyên chuyển vào trại Lê-Minh thay thế Ðại úy Khánh, giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng đang trên lịch trình cải tuyển.

Tôi đem theo Trung sĩ Châu Minh Ðạt vào Lệ Minh. Anh này nguyên là tài xế kiêm nhiệm vụ hộ vệ của tôi sau khi hai chú Phạm Công Cường và Nguyễn Phượng Hoàng được tôi gửi gắm về đảm trách công tác bán tác chiến ở Bộ chỉ huy liên đoàn.

Thầy trò tôi ở Lệ Minh được một tuần thì Loan báo cho tôi một tin sét đánh:

“Ba không chịu cho em lấy anh nữa! Ba nói gả con gái cho mấy thằng lính tác chiến, thì lúc nào cũng lo, chỉ sợ con mình sẽ thành góa phụ!” 

Thế là tôi leo lên trực thăng bay ngay về Pleiku, năn nỉ Ðại tá Nguyễn Văn Can, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2, cho tôi được tá túc đâu đó ở văn phòng để tôi cưới vợ.

Ðại tá Can cũng thông cảm tình cảnh nguy kịch của tôi, nên cho tôi lên Kontum tạm thời giữ chức Trưởng Ban 2 của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Biệt Ðộng Quân Kontum đang thành lập.

Tôi rời Lệ Minh thì anh chàng Khánh bị ông Can bắt quay trở lại nhiệm sở cũ.

Ðại úy Khánh thấy chú Ðạt là một người can đảm và trung thành nên đề nghị giữ Ðạt ở lại với anh ta một thời gian, khi nào tôi có công việc nhất định thì anh ta sẽ trả lại.

Nhưng qua một tuần lễ thì anh Khánh đích thân chở chú Ðạt lên Kontum tìm gặp tôi rồi nói, anh ta “kết” chú Ðạt lắm, xin tôi cho anh ta giữ Ðạt ở với anh ta luôn, không trả lại cho tôi nữa. Chú Ðạt cũng thích anh Khánh, vì anh này và Ðạt cùng sở thích, nhậu như hũ chìm. Tôi thấy hai thầy trò họ có vẻ thương mến nhau nên cũng đồng ý.

Nào ngờ, sau đó không lâu, trong một trận pháo kích của Việt-Cộng nhắm vào Lệ Minh, có một viên DKZ 57 ly chui vào hầm chỉ huy, Ðại úy Khánh và Trung sĩ Ðạt bị tử thương. Anh Khánh đã vĩnh viễn ra đi khỏi cõi đời này, mang theo một trong những đứa em mà tôi thương mến nhứt.

Ngay khi nhận sự vụ lệnh đi Kontum, tôi liền chạy về Biển Hồ báo tin cho Trung tá Sâm biết. Trung tá Sâm bèn điện thoại lên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh kể chuyện tôi được về làm việc ở văn phòng cho Trung tá Võ thân sinh của Loan. Ông Sâm còn hứa sẽ đem hai chiếc trực thăng chở toàn bộ ban cố vấn Mỹ của liên đoàn về Ban Mê Thuột dự đám cưới con gái của Trung tá Võ.

Hôm sau, tôi lên Kontum, vào doanh trại cũ của B12 Lực Lượng Ðặc Biệt để trình diện người chỉ huy mới của tôi là Thiếu tá Bùi Văn Baul.

Tên “Baul” của ông thiếu tá này quả là có một không hai trong danh sách gần một triệu quân của Quân- Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Chắc chắn trăm phần trăm là không tìm ra người thứ hai trùng tên với ông.

Gần hai chục nhân mạng của bộ chỉ huy này, kể cả quan lẫn lính, chỉ có mình tôi đội nón nâu, những người còn lại thì mang nón xanh Lực Lượng Ðặc Biệt. Trong số này có vài người đang chờ sự vụ lệnh về trình diện Bộ Tổng Tham Mưu để đáo nhậm đơn vị mới.

Bộ chỉ huy của ông Baul thời gian này cũng chưa có con dấu, chưa có Khu Bưu Chính (KBC) để gửi và nhận công văn hay thư từ.

Thời gian này, bốn trại Dân Sự Chiến Ðấu ở biên giới Lào, Miên và Kontum là Dak Pek, Dak Seang, Ben Het và Pơlei Kleng còn do Mỹ chỉ huy. Tin tức báo cáo hành quân hàng ngày của các trại này đều gửi thẳng về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Pleiku.

Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Biệt Ðộng Quân Kontum chỉ nhận các điện văn có tính cách thông báo.

Mỗi ngày chúng tôi có một buổi họp tham mưu kéo dài chừng nửa giờ, chỉ là để đọc lại bản tin của các trại gửi cho Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân ở Pleiku.

Sau đó là họp bàn chuyện số đề.

Ông Thiếu tá Baul và nhiều vị làm việc dưới quyền ông mê số đề lắm. Họ hăng say bàn đề suốt ngày, không chán. Chiếc xe Jeep của ông thiếu tá phải túc trực trước cửa văn phòng để anh tài xế có thể chạy đi ghi đề bất cứ lúc nào trước giờ đài phát thanh Sài-Gòn truyền đi bài hát vượt thời gian của nghệ sĩ Trần Văn Trạch với câu mở đầu là:

“Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người 

Được nên cửa nhà” (TVT)

Riêng tôi và một người nữa là Ðại úy Nguyễn Thái Bình, Trưởng ban 4 là không bao giờ có mặt trong các buổi họp mặt bàn số đề.

Anh Bình là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt nên được ông Baul châm chước, còn tôi là cái nón nâu lẻ loi ở đây, nên bị ông ta ghét cay, ghét đắng.

Ông Baul không ưa thích tôi, nếu tôi có vắng mặt vài ngày, ông ta cũng chẳng thèm hỏi tới.

Tôi nhờ Ðại úy Nguyễn Ðình Hùng, sĩ quan phụ tá cùa Thiếu tá Baul ký cho tôi cái giấy phép đặc biệt 5 ngày thăm gia đình ở Ban Mê Thuột rồi chuồn êm.

Tờ giấy phép không có con dấu, tôi phải ghé Pleiku xin Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy chứng thực. Người mang giấy phép hay sự vụ lệnh có con dấu đỏ mới được Mỹ cho lên máy bay.

Về tới Ban Mê Thuột, tôi yên chí lớn vào thẳng văn phòng ông Trung tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh khoe,

– Ba ơi! Con được về văn phòng rồi! Ba cho phép tụi con làm đám cưới nhé Ba!

Biết rằng mình đã bị đưa vào thế bí, ông trung tá đành cười,

– Thì Ba có ngăn cản không cho hai con lấy nhau đâu?

Nói câu này xong, ông cụ móc túi dúi cho tôi tờ giấy bạc năm trăm có in hình con cọp,

– Con cầm lấy mà dẫn mấy đứa em đi ăn kem!

Cầm tờ giấy bạc của ông, tôi chợt nghĩ:

“Sao Ba hào phóng quá vậy? Trong nhà, ai mà không biết Ba nghèo rớt mùng tơi. Lãnh lương ra, được bao nhiêu, Ba đưa cho Me gần hết. Chắc là Ba vừa đánh chắn thắng nên mới có tiền cho mình.” (Đánh chắn là trò chơi đánh bài của người Miền Bắc trước năm 1975)

Hôm đó, trong khi chờ Loan tan học, tôi vào quán Mây Hồng.

Quán Mây Hồng buổi chiều vắng khách, khách nhà binh chỉ có mình tôi.

Lác đác vài vị khách học trò con trai, ngồi hút thuốc lá bên tách cà phê đen.

Một chàng học trò, có lẽ là lớp cuối trung học, sà xuống bàn tôi, cười làm quen,

– Chào Ðại úy! Ðại úy mới hành quân về?

– Vâng! Tôi về từ Kontum.

– Ðại úy là dân Võ Bị hay Trừ Bị.

– Tôi là Võ Bị khóa 20.

– Theo ý Ðại úy nếu đi lính thì nên chọn binh chủng nào?

Tôi cười,

– Tôi đi lính Biệt Ðộng Quân từ ngày ra trường, đâu có biết gì về các binh chủng khác mà có ý kiến.

Rồi hình như đã tới giờ đổi lớp, các chàng thư sinh vội vàng dời gót.

Nhìn thấy họ, tôi hồi tưởng lại những ngày vừa đậu Tú Tài 2, tôi cũng nhiều lần vào quán ngồi hàng giờ suy nghĩ vẩn vơ.

Cứ y như ngày xưa, tôi cũng từng đặt những câu hỏi vớ vẩn như thế với các ông thiếu úy, trung úy trẻ mà tôi bất ngờ gặp gỡ trong các quán cà phê ở Hội-An.

Ngồi một mình, tôi mới nghiệm ra, không có người yêu bên cạnh, thì quán này cũng mất đi cái không khí ấm cúng thường nhật của nó!

Thời chiến tranh, hạnh phúc của chúng tôi là niềm vui đếm từng ngày. Hôm nay còn ngồi bên, cầm tay nhau, ngày mai không biết có còn nhìn thấy nhau nữa không?

Mấy chục năm sau, nhớ lại, lòng tôi không khỏi bồi hồi. Bài thơ dưới đây được tôi viết và đăng trên “Người Việt Tây Bắc” ở Seattle tháng 1 năm 1996:

Truyện ngày xưa

Áo trắng tung bay, sân trường lộng gió

Chiều Xuân, tan học, đón em về,

Trong nắng vàng, bướm bay đầy phố,

Chuyện chiến trường, anh kể, em nghe…

***

Có tiếng lá thì thầm trong gió,

Vạn vật vươn mình sau giấc ngủ Đông

Lối cỏ thẹn thùng thương gót nhỏ

Cánh chim nào gọi bạn giữa thinh không…

***

Gió Xuân ấp ủ nghìn thương nhớ

Mây trắng, lưng trời, bay lang thang

Lá đỏ phủ đầy đường đất đỏ

Áo trận, song đôi áo trắng, dưới hoa vàng…

***

Năm ngày phép đi qua thật nhanh

Đường về nhà em ngắn lại vô tình

Vừa cầm tay nhau một phút,

Vừa hôn môi nhau một lần,

Đèn nhà ai cuối phố đã lên…

***

Chiến tranh héo mòn tuổi Xuân

Vun xới tình yêu bên cạnh Tử Thần

Một đời yêu nhau đắm đuối

Một đời yêu nhau ngắn ngủi

Nụ hôn chưa nguội trên môi…

Một người đã mất một người,

***

Chiến tranh cướp đi ngày xanh

Chiến tranh mang đi người tình

Mỗi lần phải tiễn đưa nhau

Tưởng chừng như đã mất nhau…

***

Nhớ lại một thời

Ngày ấy chiến tranh

Ấp ủ trong trái tim mình

Mỗi người có một chuyện tình…

(Vương Mộng Long-1995)

Cuối năm 1970, vào một ngày không có lớp, Loan cùng vài cô bạn lên chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột xin một quẻ xăm.

Ðược lá xăm, Loan đã âm thầm cất giấu nó, không cho ai xem trong một thời gian khá dài. Chỉ vì, trừ bốn câu sau cùng ra thì hầu như trọn quẻ xăm chỉ chứa những điều không hay. Mãi tới ngày tôi được tha ra khỏi trại tù cải tạo, năm 1988, tôi mới được đọc những câu thơ trên quẻ xăm này.

Trên lá xăm, có những giòng, nếu đọc được chắc mẹ tôi, Bác Võ trai, Bác Võ gái sẽ không chấp thuận cho chúng tôi lấy nhau.

Theo quẻ xăm, thì người gieo quẻ cầu gì cũng thất bại: Thưa kiện thì thua, có bệnh thì khó qua khỏi, cầu tài chỉ uổng công, đi thi thì bị rớt, lấy chồng thì duyên phận bẽ bàng.

Dưới đây là 8 câu trích từ quẻ Số 6, “Quẻ Giá Sắc” mà Loan đã xin được từ chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột:

Ra đi xứ lạ nhiều lầm lạc

Tính việc chi rồi cũng bất thành

Thưa kiện rốt sau e chẳng lợi

Bịnh nhơn trở chứng khó bình an

Cầu tài vô ích, sanh hao tốn,

Ứng thí rồng mây hội lỡ làng

Gả cưới kết hôn duyên chẳng hiệp,

Nói năng chưa được toại lòng toan.

Loan là người lúc nào cũng lạc quan và hy vọng, vì thế nàng chỉ nhìn vào bốn câu thơ sau cùng:

Phật bảo an phận thủ thường,

Nhẫn tâm theo dõi con đường trượng phu.

Chơn thành, phước đức cần tu,

Như người gieo cấy, tới mùa gặt thâu…

Vài ngày trước đám cưới, có một người con gái đã khấn thầm rằng:

“Yêu anh, em chỉ cầu xin Trời Phật phù hộ cho chúng mình lấy được nhau, thành vợ, thành chồng, dù chỉ được sống cùng nhau trọn vẹn một ngày thôi!”

Người con gái ấy là một nữ sinh mười bảy tuổi rưỡi ở Ban Mê Thuột.

Người yêu của cô ấy là một Ðại úy Biệt Ðộng Quân đồn trú ở Kontum.

Hai ngày sau lễ Giáng Sinh năm 1970 đám cưới của tôi và Loan diễn ra.

Thiếu úy Ðinh Quang Biện, anh ruột của Loan bận hành quân trong rừng Tiều Teo không về được.

Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đang chạm địch trong vùng Bắc Kontum, nên hai chiếc trực thăng dự trù để chở ông Liên đoàn trưởng và ban cố vấn Mỹ bay về Ban Mê Thuột dự đám cưới của tôi đã bị trưng dụng để chuyển quân.

Ông Trung tá Sâm và ông Trung tá cố vấn trưởng của liên đoàn chỉ còn cách gọi điện thoại về nhà nhạc gia của tôi để chúc mừng.

Khách dự đám cưới của hai đứa tôi thì một nửa là nữ sinh Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột, nửa kia là quân nhân trực thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Không có ai là lính Biệt Ðộng Quân có mặt ngày hôm ấy.

Ðám cưới vừa xong, đầu năm 1971 tôi được lệnh dời bỏ văn phòng, ra tác chiến.

Tôi từ giã cái bộ chỉ huy chưa có con dấu, chưa có Khu Bưu Chính (KBC) của ông Thiếu tá Bùi Văn Baul để nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 4 Mike Force do Mỹ vừa chuyển giao.

Thời gian này Thiếu tướng Ngô Du đã thay thế Trung tướng Lữ Lan đảm nhận chức Tư lệnh Quân Ðoàn II và Vùng 2 Chiến Thuật.

Tướng Ngô Du ra lệnh sát nhập Tiểu đoàn 4 Mike Force vào Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Bùi Văn Sâm, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Hai mươi bốn giờ sau khi nhận bàn giao, tôi được lệnh đem quân đi Cheo Reo tăng phái cho Tiểu Khu Phú Bổn.

Tiểu đoàn tôi là đơn vị mới thành lập chưa có trại gia binh, nên tôi cho vợ con binh sĩ đi theo hành quân luôn. Bốn chiếc xe GMC được gắn mui vải dùng để chở đàn bà và con nít.

Tôi mới cưới vợ, nếu để vợ ở Pleiku thì biết gửi cho ai? Tôi cũng đành phải đem vợ đi Phú Bổn chuyến này.

Trung tá Sâm thấy 4 chiếc xe Jeep của tiểu đoàn tôi đều là xe mui trần, nên thương tình, cho tôi mượn chiếc Jeep chỉ huy của ông để vợ tôi làm phương tiện di chuyển.

Chiếc Jeep của vợ tôi là chiếc xe “tráng lệ” nhất trong đoàn quân xa.

Xe này gắn cánh gà bít bùng, có hai cần angten cao nghều nghệu cùng một dàn loa của máy truyền tin, một VRC 47 và một PRC 25. Xe còn được ba anh lính trang bị súng M16 hộ tống.

Ông Trung tá Nghiêm tỉnh trưởng Phú Bổn thấy bầu đoàn thê tử chúng tôi, đầu tóc, mặt mũi, áo quần, lem luốc, đầy bụi đỏ, ào xuống sân Tòa hành chánh tỉnh, thì ra lệnh cho ông quận trưởng quận Thuần Mẫn đem toàn bộ nhân viên của ông ta về làm việc trong Tòa tỉnh, nhường lại doanh trại quận đường cho chúng tôi tá túc.

Văn phòng của ông quận trưởng trở thành căn nhà tạm trú của vợ chồng ông Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân.

Văn phòng của ông phó quận trở thành chỗ tạm trú cho ban cố vấn Mỹ của tiểu đoàn. Sĩ quan cố vấn của tôi là anh Trung úy Hick, sau đó là anh Ðại úy Jim. Hạ sĩ quan cố vấn vẫn là anh bạn Woodell, người đã làm việc với tôi hơn một năm dài trước đây.

Goodell nghe tin tôi trở lại Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân để làm tiểu đoàn trưởng thì đăng ký thêm một nhiệm kỳ thứ 2 phục vụ tại Việt-Nam.

Cho tới ngày Tiểu đoàn 4 Mike Force giải tán thì Goodell mới giã từ tôi để về Hoa Kỳ, không trở lại nữa.

Chúng tôi mới hoàn tất hai cuộc hành quân cấp tiểu đoàn nhằm tảo thanh vùng giáp ranh hai quận Thuần Mẫn (Phú Bổn) và quận Buôn Hô (Daklac) thì có lệnh gom quân.

Sáng 28 tháng Chạp Âm Lịch tôi nhận lệnh để lại một đại đội tăng phái cho Chi Khu Phú Túc, thành phần còn lại thì kéo nhau về Pleiku.

Dĩ nhiên bà vợ ông tiểu đoàn trưởng và một số đàn bà con nít gia đình binh sĩ cũng về theo.

Sáng Mùng Hai Tết năm Tân Hợi, ông Trung tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh từ Ban Mê Thuột gọi điện thoại cho ông Trung tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Pleiku, không phải để chúc Tết, mà là để mắng vốn,

– Vậy là thầy trò ông đã gạt tôi! Ông cam đoan với tôi rằng thằng Long sẽ về làm việc ở văn phòng, nên tôi mới chịu gả con gái cho nó. Ai ngờ, vừa cưới vợ xong nó lại ra tác chiến. Nó còn đem cả con gái tôi ra trận! Tôi bực mình ông lắm rồi đó, ông có biết không?

Ông Trung tá Biệt Ðộng Quân cười hì hì,

–  Thì ngày xưa, tôi với ông đều là dân tác chiến. Tụi mình đã nhiều lần chở vợ theo hành quân. Chẳng lẽ ông quên chuyện này rồi sao?

Nghe ông Sâm trả lời, ông bố vợ tôi chán quá, đành chép miệng, thở dài, cúp máy.

o O o

Nhớ cao nguyên…

Ngày xưa, cứ lái xe hoặc ngồi trên trực thăng, qua hết con dốc của ngọn đèo ranh giới hai tỉnh Pleiku, Daklac, nhìn thấy phi trường Buôn Blech thì tim tôi lại rộn ràng. Tôi chắc chắn rằng không bao lâu sau tôi sẽ gặp mặt người mình yêu dấu.

Mỗi lần trò chuyện cùng ai mà có nhắc tới tên Pleiku, Kontum hay Ban Mê Thuột thì những kỷ niệm êm đềm ngày nào ở cao nguyên lại hiện về trong trí nhớ của tôi.

Tôi lại hình dung ra rõ ràng trước mắt mình là cả một khung trời bao la, cảnh vật vừa hùng vĩ, oai nghiêm, lại vừa chen lẫn chút thê lương.

Một dải đất trải dài từ Bắc xuống Nam 300 cây số dọc Trường Sơn đã trở thành không thể nào quên.

Thời chiến tranh, nơi ấy mang tên “Cao Nguyên Trung Phần” của nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Vùng này chỉ có núi và rừng trùng điệp nối tiếp nhau.

Ở cao nguyên đâu đâu cũng có lính; họ đến từ mọi miền đất nước; họ sống chết bên nhau và thương yêu nhau như huynh đệ.

Nơi đây năm nào cũng xảy ra những trận đánh long trời lở đất. Tôi đã trải qua mười năm chinh chiến ở xứ này.

Ðây cũng là nơi mà Thượng Ðế đã ban cho tôi một người tình trọn đời chung thủy.

VML

Seattle, July 2019

Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

17 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 1 Aug 2023

Kỳ trước: Người sĩ quan Biệt Động Quân ấy bị thương, nhập viện, xuất viện… rồi xin đi phép về thăm nhà vài hôm. Trên chuyến trực thăng HU1 D mà ông “quá giang” sẽ xảy ra những sự kiện hồi hộp hơn trong phim sẽ được đăng tiếp dưới đây.

Bài nhiều kỳ – Kỳ 3

Phi cơ bốc lên lấy cao độ rồi lao nhanh trong không trung. Lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ trên chiếc quan tài cứ bật lên, bật xuống, từng cơn phần phật, như muốn thoát ly ra khỏi lòng con tàu để bay ra ngoài.

Chúng tôi đáp xuống Châu Sơn không khó khăn. Dưới sân nhà thờ đã có nhiều người đứng chờ, trong đó có trung đội chung sự của Tiểu Khu Daklac. Tôi bàn giao chiếc quan tài của người đồng đội cho những người phụ trách công tác tiễn đưa tiếp theo, rồi lên tàu tiếp tục cuộc hành trình.

Rời Châu Sơn, chúng tôi nhắm hướng Ðức Lập. Có một công văn khẩn phải trao cho đơn vị Công Binh đang xây dựng căn cứ Bu Prang. Sau việc này máy bay mới trở về Ban Mê Thuột, đi Nha Trang, ra Qui Nhơn, cuối cùng sẽ quay lại Pleiku. Tôi sẽ chấm dứt chuyến quá giang này khi phi cơ xuống Ban Mê Thuột đổ xăng.

Chúng tôi chỉ ghé phi trường của Trại Ðức Lập một phút, trao tay cho ông Ðại úy Tỵ cái bì thư rồi đi ngay.

Trực thăng vừa rời Ðức Lập thì trời chuyển cơn giông, trần mây quá thấp, lại đen kịt đầy chớp giật ngay trên đầu. Ông phi công vội vàng cho con tàu vọt lên cao tránh sét đánh. Gần tới cao độ bảy nghìn bộ tôi mới thấy trời quang đãng. Phi cơ tiếp tục lên cao hơn, càng lên cao, nhiệt độ càng giảm. Dù hai anh cơ phi xạ thủ đã đóng kín hai cửa hông của máy bay rồi mà hai hàm răng của tôi còn đánh vào nhau “Cộp! Cộp!…”

Bay được khoảng nửa giờ thì trực thăng giảm độ cao.

Tôi ước tính nếu đi đúng đường thì dưới kia phải là thành phố Ban Mê Thuột. Nhưng ông phi công cứ bay vòng vòng hoài mà không tìm ra cái lỗ hổng nào để chui xuống. Dưới bụng con tàu là một biển mây trắng xóa.

Không ai biết độ dày của cái nệm mây dưới kia là bao nhiêu. Nếu mạo hiểm chui xuống, không may mà cánh quạt chặt phải cây cối hay cột đèn thì chết ngay.

Tôi thấy ông phi công chợt kéo cần cho con tàu đổi hướng sau một hồi đàm thoại với đài kiểm soát không lưu ở dưới đất.

Tôi đoán mò, chắc ông ta được lệnh bay tới một phi trường khác để hạ cánh chăng?

Thế là, chiếc trực thăng cứ “Bạch! Bạch! Bạch!…” vút đi, dưới bụng con tàu vẫn là mây trắng xóa.

Tôi bắt đầu chột bụng khi nhìn thấy, qua vai người lái, cái kim đồng hồ xăng đang tiến gần chữ “E” (E=Empty=Trống rỗng= Hết nhiên liệu).

Bên cạnh đồng hồ xăng là cái quả cầu đo thăng bằng của phi cơ. Phi cơ vẫn trong tình trạng bình phi, nghĩa là bay bình thường, nhưng không hiểu vì sao mà quả cầu của phi cơ lại liên tục lộn mèo, chao đảo, không yên. Cái kim la bàn dạ quang trên đồng hồ chỉ hướng của phi cơ cũng quay lung tung, chẳng biết máy bay đang đi theo hướng nào!

Tôi mở cái địa bàn ra, để trên đùi gióng hướng thì toát mồ hôi, trực thăng đang vùn vụt bay theo hướng Tây Bắc! Chẳng lẽ ông phi công này bay đi Tiêu Atar? Tiêu Atar ở giữa rừng, làm gì có xăng!

Tôi nhỏm người vỗ vai ông Mỹ,

-Where’re you going? Were you lost? (Anh đi đâu vậy? Anh lạc đường rồi à?)

Ông đại úy quay mặt, trợn mắt,

-Sit down! Shut your mouth! (Ngồi xuống! Câm miệng lại!)

Nghe ông phi công nẹt, tôi cũng chột dạ, nín thinh; tôi chỉ là hành khách, ông ta mới là người cầm vận mạng cái trực thăng này.

Anh cơ phi xạ thủ rời vị trí, leo lên chỗ tôi ngồi, ghé tai tôi nói nhỏ,

-Do not make a mess! Let him go with the instrument! (Ðừng quấy rối! Ðể cho ông ta bay theo phi cụ!)

Dứt lời, anh ta thân thiện vỗ vai tôi một cái rồi trở về vị trí cũ của anh.

Hình như ông đại úy này rất có uy, từ khi lên máy bay tới giờ, tôi thấy thuộc hạ của ông cứ răm rắp thi hành khẩu lệnh của ông mà chẳng dám có ý kiến gì.

Tôi là sĩ quan bộ binh, xía vào chuyện bay bổng, bị ông ta nẹt cũng là đáng đời.

Nhưng tôi vẫn cứ phập phồng lo. Nếu tiếp tục thế này thì chỉ vài chục phút nữa là trực thăng hết bay nổi, bình xăng trống rỗng thì làm sao mà bay?

Trong khi đó thì ông trưởng phi cơ tiếp tục công việc một cách rất tự tin. Ông ngồi với tư thế của một kỵ mã, tay phải nắm cần lái như nắm dây cương, lưng ông hơi chồm về đằng trước như đang ở trên yên ngựa. Tay trái ông liên tục vặn vặn, nhấn nhấn, hết nút này tới nút kia.

Qua khe hở của cánh cửa phi cơ khép chưa kín, tiếng nổ của ống phản lực trên nóc con tàu cứ đều đều, “Bùng! Bùng! Bùng! …

Thế rồi, khoảng chừng mười phút sau tôi thấy ông đại úy đột ngột giơ hai tay lên cao, vỗ mạnh mấy cái vào chiếc nón bay trên đầu mình, miệng lớn tiếng chửi thề,

“ F!…you! F! …you!…” (Mẹ kiếp! Mẹ kiếp!…)

Chắc ông ta đổ quạu sau khi thấy hệ thống phi cụ (flying instrument) của con tàu đã rối loạn, không thể điều chỉnh hay sửa chữa được nữa.

Rồi, bất thình lình, tôi cảm thấy như rớt cả tim, gan, phèo, phổi, vì con tàu đột ngột lao xuống, xuyên thẳng vào cái nệm mây trắng dày đặc dưới bụng. Qua lớp mây dày là trần mây thấp. Tiếp đó, bên hông con tàu đã có những cụm mây màu xám đục bay ngang. Rồi máy bay bồng bềnh trên biển sương trắng loãng; dưới bụng con tàu là một dải rừng bằng phẳng màu nâu trùng điệp. Phi cơ từ từ giảm tốc độ, khi trước mắt tôi hiện ra, không xa lắm, một khoảng đất trống, giống như một mặt hồ cạn nước mùa khô.

Viên phi công ghìm cần lái; con tàu sà xuống; một cú đáp thật lành nghề!

Máy bay vừa chạm đất, cánh quạt còn vèo vèo cuốn gió, bốn ông Mỹ đã vọt lẹ.

Trên tàu còn lại mình tôi. Tôi sợ rằng nếu mình nhảy ra, lỡ con tàu nghiêng đổ làm cho cánh quạt chặt lung tung, có khi bị đứt đầu, đứt cổ.

Tôi cứ hai tay giữ chặt chân cái ghế ngồi, dựa lưng vào vách máy bay, mặc cho thân mình lắc lư theo con tàu.

Một lúc sau thì ông phi công chính cũng quay trở lại. Ông leo lên đưa tay vặn vặn, bấm bấm, mấy cái nút, vài giây sau thì động cơ ngừng quay.

Chui ra khỏi trực thăng, tôi leo lên một ụ đất quan sát địa hình mà chẳng biết mình đang ở tọa độ nào.

Hiện thời chúng tôi đang ở giữa một cánh đồng, cỏ cao ngập đầu người, xung quanh là rừng cây trống chân. Rừng thì bạt ngàn nhưng chỉ có một loại cây dầu rái lá đỏ. Loại cây này chỉ cao tối đa là hơn mười mét, thường mọc trên vùng đất pha đá tổ ong, thân và cành sần sùi, lá lốm đốm xanh, vàng, nâu, đỏ. Nhựa của loại cây này dùng pha sơn, hoặc quết lên phên làm vách nhà, hay trét cho ghe thuyền không bị nước tràn vào.

Theo tôi biết thì rừng loại này chỉ có ở khu vực Cheo Reo và vùng hướng Ðông tỉnh Lomphat của Cao Miên. Vùng Cheo Reo toàn đồi núi, nơi đây thì bằng phẳng hơn.

Trước khi hạ cánh, chúng tôi đã bay rất lâu theo hướng Tây Bắc, như vậy chắc chắn giờ phút này tôi đang đứng trên đất Cao Miên!

Tôi xách chiếc PRC 25 ra giữa bãi tranh, mở máy gọi đài tiếp vận Hàm Rồng. Không nghe tiếng trả lời.

Tôi chợt nghĩ tới toán tuần tra biên giới của Phòng 2 Quân Ðoàn. Nếu gọi được họ, chắc họ sẽ có cách cứu mình.

Khổ một nỗi, chiếc PRC 25 của tôi chỉ có ăngten lá lúa, chúng tôi lại đang ở vùng đất thấp, không thể liên lạc được những đài ở xa.

Trong lúc tôi loay hoay với cái máy PRC 25 thì ông đại úy cũng bận rộn với chiếc máy phát tín hiệu cầu cứu Beacon của ông. Hình như ông không gọi được đài nào, mặt ông ướt đẫm mồ hôi.

Chợt trong trí tôi loé lên một ý mới. Tôi tiến tới bên ông đại úy Mỹ, đề nghị với ông ta rằng, ông ta thử cố gắng bay lên cao, giữ lơ lửng trên không một vài phút phát tín hiệu cho đài Peacok hoặc cho chiếc máy bay OV 10 đang bay tuần tra biên giới để cầu cứu xem sao.

Chẳng biết kế sách của tôi có đúng sách vở hay không, mà vừa nghe xong, mắt ông ta sáng lên ngay. Ông ra dấu cho ba người còn lại tản ra xa, ôm súng canh gác rồi kéo tay tôi leo lên tàu. Ông vặn nút cho máy chạy. Cái cánh quạt chuyển động từ từ chầm chậm, rồi nhanh dần, nhanh dần…

Con tàu bốc lên cao. Lên tới độ cao khoảng hai trăm thước thì hết lên nổi.

Trong khi ông phi công Mỹ nói lia lịa, tôi cũng lớn tiếng phát thanh bổng, hy vọng có ai đó ở đài Hàm Rồng nghe được tiếng kêu cứu của mình,

– Cấp cứu! Trực thăng của tôi rơi trong vùng biên giới Miên! Yêu cầu tuần tra biên giới bay theo biên giới Miên và Pleiku tìm chúng tôi!

Tôi mới gào lên được một câu thì trực thăng hoàn toàn hết xăng. Con tàu rơi tự do.

“Ầm!”

Bụng trực thăng chạm đất gây nên một tiếng động điếc tai. Bụi bay mù cả một vùng rộng lớn.

Tôi cứ lì lợm ôm chặt hai chân cái ghế ngồi. Cho tới lúc con tàu chao qua một bên, cánh quạt quật “Choảng! Choảng! Choảng!…”  vài nhát toé lửa trên mặt đá tổ ong, rồi nằm im, tôi mới buông tay ra. Con tàu không phát hỏa, hết xăng rồi, làm sao mà cháy được?

Vào lúc tôi vừa chui ra khỏi tàu thì vọng lại từ xa, hướng Tây có tiếng súng bắn “Bóc! Bóc! Bóc!…”

Hướng Tây thì làm gì có quân bạn? Chắc là Việt-Cộng rồi!

Bốn ông Mỹ này kể ra cũng là những tay có bản lãnh, vừa nghe tiếng súng, họ liền chạy ào lên chiếm lĩnh một mô đất cao, vào đội hình, hai phi công thủ súng ngắn, P38, hai cơ phi xạ thủ ôm súng dài, M16, dựa lưng vào nhau, chia hai hướng, sẵn sàng chiến đấu. Tôi cũng vội vàng chạy theo chân họ.

Tôi không mang theo súng ngắn, lại cũng chẳng có súng dài, chỉ có con dao găm giắt bên ống quần. Nếu phải đánh nhau thì không tử trận, cũng thành tù binh!

Nhìn quanh, thấy chỉ có cỏ tranh và cây khọt, không có hang động nào có thể chui vào để trốn lánh, không có gốc cổ thụ nào để ẩn núp, năm người ngồi chụm vào nhau giữa đồng trống thì không khác gì đang ngồi làm năm cái bia cố định cho những tên địch núp trong rừng nhắm bắn.

Sau vài giây do dự, tôi cắm đầu chạy về phía chiếc trực thăng, hy vọng trong lòng tàu có vật gì dùng làm vũ khí được không. Chiếc trực thăng giờ này trông sống động lạ kỳ!  Cái đuôi máy bay bị gãy một khúc dài chừng một thước. Phía sau hai càng thì cắm xuống đất, phía trước hổng lên cao, nhìn như một con cá voi đang vượt cạn. Dưới bụng con cá voi là một vùng bầy hầy nhớt nhát dầu mỡ đen thui. Chiếc trực thăng đã đứt hết kinh mạch rồi, máu huyết của nó là dầu mỡ tuôn ra tung toé, ngập lụt một khu rộng lớn dưới bụng và xung quanh nó.

Tôi hét lên vui mừng khi nhìn thấy hai khẩu M 60 còn nguyên không hư hại,

– Có súng rồi! Tôi có súng rồi!

Leo lên tàu, một tay kéo cơ bẩm khẩu M 60, tay kia giơ lên vẫy bốn anh lính Mỹ, tôi la lớn,

-Come here! Come here! Hurry up! Hurry up! (Lại đây! Lại đây! Mau lên! Mau lên!)

Bốn ông lính Mỹ tỉnh ngộ ngay, liền chạy ào lên tàu. Ngay tức khắc, đạn lên nòng, hai khẩu đại liên trong tình trạng sẵn sàng.

Chúng tôi chờ đợi khá lâu mới nghe trên trời có tiếng động cơ “O!…O!… ! O!…” của máy bay trinh sát. Trong máy PRC 25 của tôi có người gọi:

“Ðây là alpha! Có ai nghe không?”

Tôi cầm máy lên,

– Tôi là người kêu cứu, alpha có nghe được tôi không?

Người trên tàu ra lệnh,

– Giới chức đưa máy cho ông “mũi lõ” ngay đi! (Ông mũi lõ: có ý nói là người Mỹ)

Tôi biết, hàng ngày quân đoàn đều biệt phái một sĩ quan Việt-Nam theo phi hành đoàn Mỹ bay trên trinh sát cơ OV10 nhiều giờ để theo dõi hoạt động địch trên biên giới Lào, Miên và Việt Nam.

Trong một lần ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II, tôi có gặp một Trung úy tên là Anh. Ông Anh là dân không ảnh và không thám của Phòng 2. Không biết người xưng danh là alpha trong chiếc OV10 trên kia có phải là ông Trung úy Anh không?

Tôi chuyền cái ống nghe cho ông đại úy Mỹ. Lập tức ông và người sĩ quan Hoa-Kỳ đang lái chiếc OV 10 trên kia hối hả lớn tiếng trao đổi với nhau những câu, tôi nghe mà không hiểu gì cả, có thể là họ dùng mật khẩu để xác nhận xem người đang nói chuyện có phải là bạn không?

Rồi ông đại úy rút khẩu súng phóng hỏa châu trong túi áo bay dệt bằng lưới của ông ra. Khẩu súng bắn hỏa châu có hình thù một điếu xì gà, nhỏ và gọn như đồ chơi trẻ con. Ông phóng một viên hỏa châu lên trời.

Sau khi nổ một tiếng “Bóc!” trái hỏa châu toả sáng như ngọn pháo bông trong khoảng thời gian chừng nửa phút.

Anh trung úy phi công phụ cũng bắn tiếp một hỏa châu nữa ngay sau khi viên hỏa châu đầu vừa tắt.

Tôi là “tay tổ” viễn thám, nào có lạ gì những dụng cụ thoát hiểm này. Trừ cái máy Beacon ra, tôi cũng được trang bị đầy đủ, nào là, một địa bàn, một gương chiếu, một súng hoả châu, một tấm banner sơn màu da cam óng ánh để chỉ điểm cho phi cơ, cùng với băng cầm máu, thuốc lọc nước, thuốc chống muỗi…vân vân.

Có điều, tôi chỉ mang những thứ này khi đi hành quân hay khi đi nhảy toán.

Lần này tôi quá giang trực thăng là để về thăm “bồ”, nên tôi không hề nghĩ tới chuyện vác theo mấy thứ đồ nghề lỉnh kỉnh này.

Trong khi hai ông phi công bận bịu liên lạc với quân bạn thì tôi và hai anh xạ thủ vẫn không dời mắt quan sát khu rừng hướng Tây.

Bất chợt, tôi giật nẩy mình khi thấy trong rừng tranh cao cỡ đầu người thấp thoáng có hai cái nón cối di động từ từ về hướng chúng tôi.

Tôi định giơ tay chỉ cho anh cơ phi xạ thủ biết vị trí hai tên địch đang đi tới, thì khẩu M60 đã nổ, “Ðùng!… Ðùng!…Ðùng!…”

Chớp mắt, mấy trăm viên đạn đại liên đã cày nát một khoảng đất rộng. Cỏ te tua rạp xuống, lộ rõ hai cái xác bộ đội chính quy Bắc Việt đẫm máu, nằm sõng soài trên nền đá tổ ong, bên cạnh là hai khẩu AK.

Lúc này trời đã quang đãng trở lại. Chiếc OV 10 tiếp tục bay vòng vòng trên cao.

Chừng nửa giờ sau, tôi nghe vọng lại, từ hướng Ðông, những tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!…” của trực thăng. Có lẽ cũng vài ba chiếc đang trên đường bay tới.

Khi thấy trên trời có hai chiếc Cobra vừa lộ diện, tôi và anh phi công phụ vội tụt xuống đất nắm tay nhau, nhảy cẫng lên reo mừng.

Ông phi công chính cũng ra khỏi tàu, đứng bên tôi. Ông ta rút chốt và ném một quả lựu đạn khói tím ngay trước mặt.

Khói chưa lên tới đọt cây, Cobra đã bay vòng vòng trên bãi tranh.

Trên trời, hai anh phi công Mỹ đưa tay vẫy chào. Chúng tôi cũng quơ tay vẫy lại.

Khi vạt rừng lá đỏ hướng Tây bắt đầu hứng một trận mưa đạn đại liên và 40 ly của hai chiếc Cobra, thì một HU 1D ào xuống.

Chiếc máy bay cứu cấp không đáp trên đất mà chỉ lơ lửng chờ.

Gió của cánh quạt máy bay làm cho cỏ tranh rạp sát đất, lá đỏ thì bay tung lên như bươm bướm trong khói tím.

Chiếc tàu ở ngay trên đầu tôi, cao cỡ một đầu, một với.

Tôi nhún chân, lấy đà nhảy lên. Hai tay tôi níu được cái càng trực thăng.

Trên máy bay, anh xạ thủ làm như không nhìn thấy tôi, mắt anh ta cứ chăm chú nhìn về hướng bìa rừng, hai tay anh ta ghìm chắc khẩu đại liên M60 trong tư thế sẵn sàng siết cò.

Tôi chưa kịp đu mình đưa tay chụp cái chân ghế của xạ thủ đại liên thì đã bị rớt xuống trở lại.

Tôi vừa rớt xuống đất, thì ông đại úy và anh cơ phi đã nhanh nhẹn kê vai, xốc nách, nâng tôi lên cao, đẩy tôi vào lòng tàu. Rồi chỉ chớp mắt sau, họ đã leo lên ngồi bên cạnh tôi. Bên cái cửa đối diện, hai anh Mỹ kia cũng đã có mặt lúc nào tôi không hay.

Sau này, nhớ lại tình trạng nguy khốn ngày ấy, tôi vẫn còn sởn tóc gáy! Vì vào giây phút mười chết, một sống đó thì mạnh ai, nấy chạy, nếu hai anh bạn Ðồng Minh chỉ lo mạng sống của chính họ, nhắm mắt phóng lên tàu, bỏ mặc tôi dưới đất, thì cũng chẳng ai kết tội họ cả.

Chúng tôi đã an toàn ngồi trên tàu, nhưng cái máy PRC 25 của tôi và súng ống của phi hành đoàn đều bị bỏ lại.

Chiếc máy bay cứu cấp cất cánh gần như thẳng đứng. Hai khẩu đại liên M 60 bắt đầu “Cành! Cành! Cành!…” nhả đạn.

Lúc này thì từ rừng lá đỏ dưới chân tôi, đủ loại súng của Việt-Cộng bắt đầu đua nhau bắn lên trời.

Nhiều tiếng súng “Choang choác! “xen lẫn nhau của RPK, AK.

Có vài viên B 40, B 41 đã nổ “Ùng! Oàng!…”  trên bãi cỏ tranh, chỗ chiếc trực thăng nằm bất động.

Ngay khi đó từ hướng Ðông đã hiện ra hai chiếc phản lực cơ F 5 của Hoa Kỳ. Anh trung úy phi công phụ nói rằng hai chiếc F 5 này sẽ làm nhiệm vụ phá hủy cái trực thăng xấu số.

Trên đường về Pleiku, ông đại úy trưởng phi cơ đã nắm chặt tay tôi rồi nghẹn ngào:

“I’m so sorry!” (Tôi rất ân hận!)

Tôi cũng dang hai tay, ôm ông ta,

– You are a real brave warrior! (Ông thực sự là một chiến binh can đảm!)

Anh cơ phi xạ thủ cũng cho tôi biết, ông đại úy vốn là dân “Kỵ Binh Bay” kỳ cựu. Ông ta từng một thời bay trực thăng “Cán gáo” OH 6, gan dạ có một không hai của Ðại đội Trực Thăng Thám Sát trực thuộc Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.

Ðầu năm 1969 tôi đã có dịp làm việc cả tháng trời với đại đội trực thăng thám sát này ở căn cứ Oasis, Thanh An, Pleiku.

Ðơn vị này được tổ chức từng hợp đoàn gồm một trực thăng “Cán gáo” loại OH 6 hai chỗ ngồi, hai trực thăng võ trang Cobra, một trực thăng HU 1D để tìm cứu và một trực thăng chỉ huy C&C.

Họ hành động nhịp nhàng và ăn khớp với nhau như những bộ phận của một cỗ máy.

Chiếc OH 6 cứ bay là là sát “da đầu” mục tiêu, gió từ cánh quạt trực thăng thổi tung từng tàn lá, mái tranh, lùm tre. Khi phát giác địch thì phi công phụ nhanh tay thả một quả lựu đạn khói trên mục tiêu, phi công chính lập tức kéo cần cho máy bay vút chạy ra xa, tránh đường cho Cobra chúc đầu xuống bắn phá.

Hai Cobra đánh phá vừa xong thì một hợp đoàn khác cũng có hai Cobra hộ tống, cõng một đại đội Biệt Ðộng Quân vào vùng để khai thác mục tiêu.

Qua một thời gian tiếp xúc, tôi biết rằng, đơn vị này quy tụ những tay phi công lỳ lợm nhứt của Lục Quân Hoa-Kỳ.

Những ông phi công này nốc Whiskey như uống nước lạnh. Nhứt là những tay lái “Cán gáo” thực sự là dân “gan cùng mình” và lỳ đòn, bạt mạng. Mỗi lần họ leo lên OH 6, ví như một lần Kinh Kha ôm kiếm qua sông.

Như vậy, chắc chắn năm ngoái, tôi và ông đại úy này đã có lần cùng nhau tham chiến đâu đó trong vùng Plei De Chi, Lệ Thanh, Ðức Cơ, Ia Drang và Chu Prong.

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Holloway. Bốn ông Mỹ lên xe cứu thương để đi khám sức khoẻ, còn tôi thì lên xe đưa đón nhân viên của Camp Holloway để về Biển Hồ. Chuyến đi này của tôi đã không tới được Ban Mê Thuột mà còn bị “vượt biên” bất đắc dĩ, suýt chết.

o O o

Tình yêu thời chiến

Tôi và Thiếu úy Duyên tá túc trong nhà Trung tá Bé, nhưng lại ăn cơm tháng tại nhà tài xế Thuộc.

Nhà Hạ sĩ Thuộc nằm bên kia đường, đối diện với cư xá Trần Quý Cáp. Trong nhà Thuộc, ngoài vợ chồng Thuộc và hai đứa con nhỏ ra, còn một người em họ của Thuộc là cô Ba. Cô Ba mặt mày hiền hậu, dễ thương. Cô Ba và vợ Thuộc đi làm sở Mỹ.

Trung sĩ Lê Sanh Ma trưởng toán viễn thám dưới quyền tôi lại là người cùng xứ Bình Ðịnh của gia đình chú Thuộc. Thuộc và Ma thân nhau như anh em. Những ngày không hành quân, không trực gác, Ma đều về ở chơi trong nhà Thuộc.

Dự trù giữa năm 1970 thì Trung sĩ Ma và cô Ba sẽ về quê Qui Nhơn làm đám cưới.

Tháng Tư năm 1970 Trưởng toán viễn thám Lê Sanh Ma vướng mìn khi nhảy xuống Căn cứ Hỏa lực Tango.

Sau ba tháng nằm Quân Y Viện, Lê Sanh Ma thành một phế binh, hai chân bị cưa quá đầu gối. Anh phải đi trên đôi nạng và hai chân giả. Xuất viện trở về, anh Ma bỗng đổi tánh, hung dữ lạ kỳ, suốt ngày càm ràm, oán trời, trách đất.

Anh thường la mắng cô Ba rất nặng lời, dù cô chẳng làm điều gì phật ý anh.

Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 31 July 2023

Kỳ trước: “Thái Sơn” nhận được cú gọi trên máy truyền tin là Trung sĩ Phong, một đệ tử cũ lặn lội tới thăm. Người đệ tử này đã kiên nhẫn ở chờ cả tuần lễ để gặp cho bằng được “ông thầy” của mình. Trong quân đội (VNCH) tình “thầy trò” thường khi còn nặng hơn tình ruột thịt vì thật sự ngoài chiến trường sống chết có nhau.

Kỳ 2

Ông thầy! Ông thầy ơi! Em chờ ông thầy gần chục ngày nay. Cứ tưởng sau khi nhảy toán ở Mang Giang xong thì ông thầy sẽ về, nào ngờ, tới hôm nay em vẫn chưa được gặp mặt ông.

Ðúng là chú Phong rồi! Vẫn cái giọng Bắc Kỳ khào khào, quê quê ngày xưa.

Tháng Hai năm 1966, vì lý do kỷ luật, Trung sĩ hiện dịch Nguyễn Hồng Phong bị giáng cấp xuống hạ sĩ, từ Quân Lao Mang Cá về trình diện Ðại Ðội 3/11 Biệt Ðộng Quân. Hôm đó tôi cũng vừa tới đơn vị này sau khi tốt nghiệp Khóa 20 Ðà Lạt và Khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy.

Từ ấy Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong thành người nấu cơm cho Thiếu úy Vương Mộng Long.

Ðầu đời lính, tôi có ba anh đồ đệ: Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, nấu cơm, Binh nhất Mai Ðăng Vinh truyền tin và Binh nhất Lý Thí mang đồ ngủ.

Mười hai ngày sau, Lý Thí và Mai Ðăng Vinh chết trong trận Tháp Bằng An, Quảng-Nam, còn lại một mình Nguyễn Hồng Phong. Chú Phong trở thành thuộc cấp thân thiết nhất của tôi.

Tới khi Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị lôi cuốn vào vụ Phật Giáo Miền Trung thì chú Nguyễn Hồng Phong đã theo sát bên tôi suốt thời kỳ binh biến này cho tới khi tôi và Phong chạy vào chùa, cạo đầu, xuống tóc, thành hai tỳ kheo Thích Như Tùng và Thích Như Sơn của Long Tuyền Tự, Hội-An.

Sau đó tôi bị tù, bị giáng cấp xuống trung sĩ còn Phong thì phiêu dạt phương trời nào, tôi không biết.

Thế rồi, tháng 7 năm 1967 hết hạn phạt giam, tôi về Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ chờ lấy sự vụ lệnh để lên Pleiku, thì bất ngờ thầy trò tôi gặp lại nhau.

Trưa hôm đó tôi đang la cà trong câu lạc bộ thì thình lình bị một người nhào vào ôm chặt,

-Thầy ơi! Thầy ơi!

Người ôm tôi là một tân binh, đầu trọc lóc! Mặt anh ta, thật dễ nhận, với đôi mắt xếch, và một vết sẹo dài trên má trái. Tôi giật mình,

– Phong! Phong đó ư?

Anh tân binh vừa khóc thút thít, vừa kể lể,

-Vâng! Em đây! Thầy ơi! Em nghe Bác (mẹ tôi) nói, sau khi ra khỏi Quân Lao Mang Cá, thầy đã bị đưa lên Pleiku, em liền mua một tờ khai sinh với cái tên mới rồi tình nguyện làm tân binh Biệt Ðộng Quân. Mãn khóa này em sẽ xin lên Pleiku gặp thầy! Tên em bây giờ là Lê Văn Ơn! Thầy cứ gọi em là Ơn! Ðừng gọi là Phong nữa!

Nghe vậy, tôi đoán chắc Phong đã ghé Hội An, và được nghe mẹ tôi kể cho biết chuyện tháng Mười năm 1966 tôi đã bị đưa lên Vùng 2 sau khi ra khỏi Quân Lao Mang Cá. Chắc chú ấy không hay những chuyện xảy ra sau này. Vì tôi giấu, nên chính mẹ tôi còn không hay chuyện tôi lận đận lao đao cả năm dài vì vụ Ðà- Nẵng 1966.

Chúng tôi không nói chuyện với nhau được lâu, vì thời gian ở câu lạc bộ của tân binh rất giới hạn, và hình như một tuần lễ, họ mới có dịp tới đó một lần.

Sau hôm ấy, cho tới khi lên đường về Pleiku, tôi không còn gặp lại Phong.

Ở Pleiku, mỗi khi có tân binh bổ sung, tôi đều nhờ ông Trung úy Trọng, sau là Trung úy Giáp, Sĩ quan Trưởng Ban 1 Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân tìm xem có ai là Lê Văn Ơn không, nhưng tuyệt nhiên chẳng có tân binh nào mang tên này.

Giữa năm 1968, tôi đọc được, trong thư mẹ tôi gửi vào, có câu:

“Thằng Phong đang làm trung sĩ ở ngoài Huế.”  

Bà mẹ tôi biết chuyện này cũng vì nhân dịp vào Hội An thăm nhà tôi, Phong đã kể:

“Năm 1967, sở dĩ có chuyện Phong đổi họ, đổi tên, tình nguyện làm binh nhì Biệt Ðộng Quân cũng chỉ vì chú ấy hy vọng sau khi ra trường, sẽ được đưa lên Pleiku, ở gần ông thầy của chú. Nhưng tới khi mãn khóa tân binh Dục Mỹ, thấy tên Lê Văn Ơn nằm trong danh sách bổ sung quân số cho Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân ngoài Ðà Nẵng thì chú ấy lại đào ngũ lần nữa!”  

Phong tiếp tục cuộc sống bất hợp pháp nơi quê vợ Quảng Trị cho tới sau biến cố Tết Mậu Thân.

Sau Mậu Thân, chính phủ ban lệnh ân xá và miễn tố cho tất cả quân nhân đang tại đào. Cho phép họ phục hồi cấp bậc cũ và trở về phục vụ trong quân ngũ.

Thế là chỉ nửa năm sau khi trình diện và cầm súng trở lại, Hạ sĩ tiểu đội trưởng Nguyễn Hồng Phong đã lên tới trung sĩ, được giao cho chức vụ trung đội phó bộ binh.

Ðã mấy lần tôi về thăm Hội-An nhưng không có thì giờ ra Huế. Thầy trò tôi từ ngày nói chuyện được vài câu năm 1967, ở Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ, tới 1970 vẫn chưa nhìn lại mặt nhau.

Cư xá Trần Quý Cáp, Pleiku 1970. Từ trái: B2 Hoàng, Tài xế Thuộc, Tài xế Tiến, B2 Hà

Tôi thấy mắt mình nhòa đi, khi nghe đầu dây bên kia, người đàn em của tôi đang khóc,

– Thầy ơi! Thầy ráng giữ gìn sức khoẻ! Nếu trời không cho chúng mình gặp lại nhau kiếp này, kiếp sau em lại xin tình nguyện làm đồ đệ của thầy lần nữa!

Tôi vội hứa,

– Mai nếu không có gì thật quan trọng xảy ra, anh sẽ về gặp chú.

– Vâng! Em sẽ chờ ông thầy! Hai ngày nữa khóa truyền tin khai giảng. Nếu trình diện trễ, họ không nhận và đuổi về. Nói thế chứ, việc em cần là gặp mặt ông thầy, dù có trễ và bị đuổi về đơn vị em cũng chẳng ngán!

Sau khi trò truyện với Phong vài phút nữa, tôi gác máy rồi sang khu Cố Vấn Hoa Kỳ của Trung Ðoàn 42 gặp Goodell. Tôi nhờ anh ta ngày mai xin cho tôi một trực thăng để đi quan sát vùng hành quân, sau đó lấy cớ có việc cần phải về hậu cứ Pleiku, tôi có dịp nói đôi câu với Phong trước khi chú ấy đi Vũng Tàu.

Hình như số trời không cho thầy trò tôi được gặp nhau lần nữa, nên mới mờ sáng hôm sau, qua đài tiếp vận, toán Cam Ranh của Trung sĩ Lê Sanh Ma báo cáo chạm địch. Một con chó săn (?) của du kích Thượng đã đánh hơi, phát giác ra trong ruộng ngô bên đường xe be có người. Toán này phải chạy bán sống bán chết. Hiện giờ chưa rõ vị trí chính xác của toán này đang ở đâu.

Vậy là thay vì xin trực thăng để về Pleiku, tôi lại dùng trực thăng để thả tôi và hai anh Mỹ cùng một toán viễn thám khác xuống đài tiếp vận. Ðỉnh Ngok Long cao 1075 mét nên từ đây tầm quan sát của tôi thật là mút mắt. Cách Ngok Long chừng hai cây số về hướng Tây Bắc là con đường xe be nhìn giống như một con trăn lớn, nằm ngoằn ngoèo theo hướng Ðông Nam, Tây Bắc vắt ngang một ngọn đồi tranh.

Trưa hôm đó tôi bắt liên lạc được toán Cam Ranh. Toán đang cố gắng tìm cách đánh lạc hướng địch.

Xế chiều, toán Cam Ranh mới bơi qua con suối Dak Sing. Toán không thể thoát chạy nhanh như mọi lần trước đây, chỉ vì có một người bị thương vì…chó cắn!

Tôi dẫn theo anh y tá và bốn viễn thám viên xuống núi đón ông Ma. Sáu người của tôi tới cái yên ngựa cách Ngok Long chừng một cây số thì nghe tiếng súng AK nổ rộ từ bờ Bắc của suối Dak Sing.

Thung lũng Dak Sing toàn là đầm lầy và đồng cỏ tranh rất trống trải. Có lẽ địch đã nhìn thấy quân ta bên bờ Nam, nên nổ súng bắn theo.

Chẳng đặng đừng, tôi phải gọi Trung Ðoàn 42 xin pháo binh Hoa-Kỳ từ Dak Mot bắn phủ vùng một đoạn đường từ Dak Long 1 tới bờ suối, hy vọng chặn được đoàn quân địch đang truy kích quân ta.

Ở Dak Mot có một pháo đội 16 khẩu 105 ly của Mỹ. Muốn yêu cầu bao nhiêu tràng họ cũng thỏa mãn ngay.

Hai tiếng đồng hồ sau, toán Cam Ranh mới về tới cái yên ngựa. Quần áo người nào cũng đỏ lòm vì bùn lầy. Bùn vùng này thật là đặc biệt, màu bùn đỏ như máu tươi, đi tới đâu, bùn từ quần áo giày vớ lại bám trên ngọn tranh, không có cách gì xóa dấu vết được.

Anh y tá vội dùng rượu cồn để rửa vết chó cắn trên đùi anh thương binh. Tôi cũng ngồi bên, giúp anh một tay. Người bị chó cắn là Binh nhì Lê Hóa. Vết thương trên đùi chưa được băng bó, lại bị ngâm nước bùn nhiều giờ, nay đã sưng tấy lên.

Bất ngờ, “Xoẹt!”

từ dưới dốc, một vật gì đó hình thù như một cái gối ôm đen thui phóng lên ngay bên hông tôi!

“Rẹt! Rẹt! Rẹt!”

Hạ sĩ Chạy đã nhanh tay “đẩy” một băng M16. Cái gối ôm màu đen văng sang bên lối mòn, thì ra đó là một con chó săn! Ðầu con chó bị đạn bắn vỡ toác. Máu chó văng tung toé.

Tôi hét lên,

“Tụi thằng Chạy ở lại cản đường! Tụi thằng Ma kéo thằng Hóa lên đài tiếp vận! Nhanh lên!”

Chúng tôi vác anh viễn thám bị chó cắn leo lên chưa được nửa đường tới đỉnh Ngok Long thì dưới chân núi toán của Hạ sĩ Chạy bắt đầu đánh nhau.

Nghe tiếng súng địch, tôi thấy không phải là tiếng súng hỗn tạp của du kích Thượng Cộng, mà rõ ràng là tiếng AK và RPD của quân chính quy. Súng của du kích thường là loại bắn từng phát một, không có súng bắn liên thanh từng tràng.

Lực lượng địch đang truy sát chúng tôi chắc chắn là trực thuộc một đơn vị chính quy Cộng-Sản.

Tới đài tiếp vận, tôi cho anh em bố trí một vòng cung hướng về con đường mòn đầu dốc.

Mặt trời lặn từ từ…

Dưới chân núi vọng lên năm sáu tiếng “Ùm! Ùm! Ùm!…”  liên tiếp rồi im. Chắc quân ta đã cản địch bằng lựu đạn M26 trước khi rút.

Không lâu sau, toán bốn người của Hạ sĩ Chạy về tới chỗ quân bạn.

Toán của Hạ sĩ Chạy vừa lên tới đỉnh núi thì dưới chân dốc có tiếng mìn nổ và tiếng chó kêu “Ăng ẳng!”

Chắc chắn vài con chó săn và vài tên địch đã bị bẫy gài của chú Chạy đốn gãy cẳng rồi.

Nhớ lại, hồi sáng, vừa nghe toán của chú Ma báo cáo là bị chó cắn, tôi đã hơi nghi. Vì xưa nay tôi đã hành quân qua nhiều buôn làng của người Thượng, hiếm khi thấy chó sủa người, chứ đừng nói tới chuyện chó tấn công người. Chó của dân Thượng chỉ sủa và cắn thú rừng, tuyệt nhiên chúng không cắn người!

Tối đó chú Ma kể lại tường tận diễn tiến sự việc, tôi mới rõ nguyên nhân vì sao mà toán của chú bị địch đuổi phải chạy vắt giò lên cổ.

Số là, sau khi đặt chân xuống bìa làng Dak Long 1 đã bỏ hoang, Trung sĩ Ma cho quân tụt xuống suối ém quân suốt bốn ngày. Tới khi nghe các toán khác phát giác dấu vết địch, Ma mới cho quân leo lên đỉnh ngọn đồi tranh hướng Bắc để dễ liên lạc và dễ bắt tay với hai toán kia.

Tới đỉnh đồi, họ đụng phải một bãi ngô đang có cờ, anh em tưởng đây là nương rẫy của dân Thượng từ ngoài Dak Tô vào canh tác.

Gần nửa tháng ở trong rừng, từ Mang Giang qua Dak Tô không có cọng rau nào trong bụng, ai cũng thấy xót ruột.  Sáu chàng viễn thám lủi vào ruộng ngô, mỗi người cạp vài bắp ngô non cho mát ruột.

Nào ngờ,

“Gâu! Gâu! Gâu!…”

bốn, năm con chó xông vào tấn công. Năm viễn thám viên vọt nhanh xuống suối. Riêng Binh nhì Lê Hóa vì luống cuống bởi chiếc ba lô chứa cái máy PRC 25 nên chậm chân.

Hai con chó săn bự xự nhào vào hai chân của Hóa. Hai hàm răng chó vừa nhọn, vừa sắc cắn tới tấp rồi nhay qua nhay lại.

Ðau quá, Hóa nhắm mắt quơ đại một băng hai chục viên M 16 rồi phóng xuống đồi.

Thì ra đỉnh ngọn đồi đó là vị trí một đơn vị tiền tiêu của địch.

Từ đỉnh đồi này chúng có thể kiểm soát hai trục lộ tiến sát từ Dak Tô và từ Tân Cảnh.

Chắc chắn đây là một đơn vị Trinh Sát hay Ðặc Công; các đơn vị cấp tiểu đoàn Ðặc Công hay Trinh Sát Việt-Cộng mới có chó săn để dò đường và dẫn đường.

Cũng may là mùa này gió theo hướng Ðông Tây, mấy ngày qua, toán Cam Ranh nằm cuối gió nên không bị chó đánh hơi, phát giác.

Tới khi nghe tiếng súng của viễn thám viên Lê Hóa nổ “Ðùng! Ðùng!” bọn Việt Cộng mới biết có địch xâm nhập. Tới khi chúng tập họp đủ quân số để truy kích thì kẻ địch của chúng đã chạy xa rồi.

Tôi thở ra nhẹ nhõm khi thấy quân ta không bị tổn thất gì đáng kể.

Hiện thời chúng tôi chỉ có hơn hai chục tay súng, kể cả anh Hóa thương binh và hai anh cố vấn Mỹ. Ðỉnh núi Ngok Long lại quá rộng và bằng phẳng, không có chỗ nào có thể cho chúng tôi dựa lưng để chống đỡ nếu địch mở ra những đợt tấn công liên tiếp.

Ðạn mang trên lưng chúng tôi cũng không nhiều, nếu phải đánh nhau suốt đêm thì chúng tôi sẽ nguy ngay.

Tôi nghĩ, nếu địch tiếp tục truy kích chúng tôi thì chắc chắn chúng sẽ theo con đường mà tôi đã dùng để đổ dốc sáng nay. Tôi bèn trải quân theo hình cánh cung đóng chốt đôi ngay đầu con đường mòn.

Ngoài hai quả Claymore sẵn sàng, chúng tôi còn chuẩn bị gần chục trái lựu đạn M26 để nghênh đón địch ngay đầu dốc.

Ðêm xuống, bóng tối dâng lên, tinh thần chúng tôi càng lúc càng thêm căng thẳng.

Sợ địch sẽ lợi dụng bóng tối để leo lên tập kích, tôi nhờ Goodell xin không quân yểm trợ gần. Chỉ nửa giờ sau, hai trực thăng võ trang Cobra đã đảo một vòng trên đầu tôi. Tôi điều chỉnh Cobra đánh sát chân Ngok Long, rồi từ đó kéo dài vùng oanh kích xa dần về hướng Tây Bắc.

Khi Cobra rời vùng, tôi đã có sẵn một máy bay Hỏa Long AC 47 lên thay thế.

Chúng tôi được Hỏa Long bao vùng cho tới gần sáng.

Ðêm đó Binh nhì Hóa bị vết chó cắn làm độc, lên cơn sốt mê man.

Mặt trời chưa lên, mọi người đã ba lô, súng đạn gọn gàng.

Tôi cho người thay nhau cõng chú Hóa và theo chân nhau tụt xuống núi lánh nạn.

Tôi quyết định không đổ thêm quân vào vùng. Trừ bị của tôi chỉ còn một trung đội nằm ở Tân Cảnh. Nếu sử dụng nốt trung đội này, sẽ không còn ai tiếp cứu nữa. Sau đó lại phải đánh nhau với một lực lượng địch bốn năm lần mạnh hơn mình trong rừng rậm thì chết là cái chắc!

Rút lui khỏi đây càng nhanh càng tốt mới là thượng sách.

Tới trưa, bên một vách núi chênh vênh, chúng tôi an toàn leo lên trực thăng về Tân Cảnh.

Ngày sau nữa tôi triệt xuất hai toán còn lại không trở ngại.

Về tới Tân Cảnh, tôi tập họp các toán lại, để đúc kết tình hình.

Dịp này toán Bắc Bình báo cáo rằng trong những ngày vừa di chuyển vừa theo dõi địch, họ phát giác ra năm sáu vị trí khói bốc lên rải rác trong thung lũng Dak Sing, cặp theo con đường xe be chạy dài từ Dak Men vào tới chân núi Ngok Sie.

Ngày nào cũng thế, các lùm khói chỉ xuất hiện vào lúc mờ sáng khi sương mù chưa tan; tới khi nắng lên thì cảnh vật trở lại yên tĩnh, không có gì đáng nghi.

Thiếu úy Nhờ cho rằng những cuộn khói ban mai đã bốc lên từ các bếp nấu cơm hàng ngày của Việt-Cộng.

Từ những dữ kiện trên, tôi suy ra, đơn vị Việt-Cộng nằm dài theo thung lũng Dak Sing dưới kia chính là Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công của Mặt Trận B3 Cộng-Sản.

Chúng tôi có một ngày nghỉ ngơi rồi lên trực thăng rời Tân Cảnh.

Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn không tiếc lời khen ngợi chúng tôi đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ được giao phó.

Trung tướng Lữ Lan, Tư lệnh Quân Khu 2 cũng đã vui vẻ ra tận bãi đáp trực thăng của Thành Pleime để bắt tay và nói lời khích lệ tinh thần chúng tôi.

Tôi về tới Cư Xá Trần Quý Cáp, Pleiku thì chú Phong đã đi rồi.

Trung tá Bé kể lại,

– Thằng học trò của Long đúng là một tên “gàn” hết cỡ! Có mười con cua của bà má Long gửi vào, anh bảo nó luộc lên rồi cất đi chờ Long, nó không nghe. Mỗi ngày vài con cua chết; qua năm ngày thì chẳng còn con nào. Cả ngày nó cứ đi ra, đi vô, không yên. Ðêm nào anh cũng nghe tiếng nó khóc. Tội nghiệp quá!

Không lâu sau, mẹ tôi bất ngờ vào Pleiku báo cho tôi một tin thật là buồn,

– Vợ thằng Phong mới bế đứa con gái nhỏ vào Hội An báo cho mẹ biết rằng thằng Phong chết rồi! Vợ nó nói, thằng Phong được đi học truyền tin ở Vũng Tàu, nhưng cứ mải đi chơi, trình diện trễ, bị trả về nhiệm sở cũ. Ít lâu sau thì tử trận! Mẹ đã cho vợ nó một số tiền, và dặn, bất cứ lúc nào nó cần giúp đỡ thì cứ vào Hội An gặp mẹ.

Vừa kể chuyện này, mẹ tôi vừa lau nước mắt. Chú Phong mồ côi mẹ. Từ đầu năm 1966, khi nhà tôi còn cư ngụ tại Khu Hồ Sen chùa Âm Bổn, Hội-An, chú Phong tới thăm mẹ tôi lần đầu, chú ấy đã coi mẹ tôi như là mẹ chú ấy. Mỗi khi ghé nhà tôi, chú thường gọi mẹ tôi:

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!…”

Chú Phong mất, mẹ tôi cũng đau lòng như vừa mất một người con mang nặng, đẻ đau.

Tin này đã khiến lòng tôi áy náy không yên một thời gian khá dài.

Nếu ngày đó mẹ tôi không gửi mười con cua Cửa Ðại vào Pleiku cho tôi, chắc chú Phong đã đi thẳng một lèo từ Hội-An vào Vũng Tàu rồi. Nếu ngày đó chú Phong tới Pleiku, tôi vắng nhà, chú không chịu chờ, chắc chắn chú ấy đã không bị trình diện trễ.

Nghĩ xa hơn, nếu năm 1967 anh tân binh có tên Lê Văn Ơn được bổ sung cho Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Pleiku, thì biết đâu anh ta vẫn còn sống!

Cuối cùng tôi đành tự an ủi:

“Con người sống chết có số. Cái số của chú ấy đã như vậy rồi, thì có cưỡng cũng chẳng được!”

Ðầu tháng Bảy năm 2013, một người đàn ông, giọng trọ trẹ, từ Phong Ðiền, Quảng Trị, Việt-Nam gọi điện thoại cho tôi ở Seattle,

– Trung úy ơi! Cái bật lửa Zippo có khắc giòng chữ “TA LÀ VUA” của Trung úy có còn đó không? Nếu còn, ông cho em mượn để mồi một điếu Lucky!

Vừa nghe câu này, tôi biết ngay rằng người ở đầu dây bên kia phải là người đã từng cùng tôi chia ngọt sẻ bùi trong suốt thời gian dài ở Ðại đội 1/11 Biệt Ðộng Quân từ 1967 tới 1969. Họ biết ngày đó tôi có cái Zippo khắc giòng chữ “TA LÀ VUA” vừa khinh mạn, vừa ngổ ngáo, cũng như họ biết trong túi tôi lúc nào cũng có một bao thuốc lá hiệu Lucky không đầu lọc.

Sau này, dù tôi đã đeo lon đại úy, thiếu tá lâu rồi, những thuộc cấp cũ của tôi và cả vợ con họ, mỗi khi gặp lại, đều kêu tôi là “Trung úy”.

Tôi không giấu nổi nỗi vui mừng nên la lớn,

– Ai đó?

– Lụa đây trung úy! Trung úy có nhớ tên em không?

– Okay! Nhớ rồi! Trung sĩ nhất Ðoàn Văn Lụa ở Ðại đội 1!  Lụa đang ở đâu vậy? Có khoẻ không? Gia đình bình yên chứ?

-Dạ, em đang ở quê Quảng Trị, em mới tìm được số điện thoại của Thái Sơn, em gọi Thái Sơn, trước là để thăm Thái Sơn và gia đình, sau là báo cho Thái Sơn biết rằng vợ thằng Nguyễn Hồng Phong đã mất cách nay mấy tháng rồi!

Trung sĩ nhất Ðoàn Văn Lụa là một tiểu đội trưởng ở Ðại đội 1/ 11 giải ngũ sau khi bị thương ở Ðà-Lạt trong trận Tết Mậu Thân.

Tình huynh đệ chi binh vẫn còn đó, bốn mươi lăm năm qua đi, mà ông trung sĩ nhất tiểu đội trưởng vẫn chưa quên ông trung úy đại đội truởng của mình.

Tôi thắc mắc,

– Ủa! Lụa quen nhà thằng Phong à? Ðứa con gái của thằng Phong bây giờ đâu?

– Trình Thái Sơn, vợ thằng Phong là em ruột của Lụa. Sau khi thằng Phong chết, cô ấy đem con về quê Quảng Trị ở nhà em. Cách nay vài tháng cô ấy qua đời vì bệnh. Còn đứa con cô ấy thì bỏ xứ, đi làm xa, lâu lắm rồi không có tin tức gì.

Vì từ năm 1974 mẹ tôi đã di chuyển vào Sài-Gòn định cư, nên gia đình tôi không còn biết thêm tin tức gì của vợ con chú Phong.

Mẹ tôi cứ áy náy rằng vợ chú Phong còn quá trẻ, năm chú Phong tử trận vợ chú mới trên hai mươi tuổi mà đã thành góa phụ, thật là tội nghiệp.

Tôi không hỏi thêm, nhưng qua cung cách nói chuyện của chú Lụa, tôi tin rằng người em gái của chú ấy một đời chỉ có một mối tình.

o O o

Lá đỏ trong rừng lạ

Ðầu tháng Năm năm 1970 có một anh lính của Tiểu Ðoàn 23 vừa chết trận. Quê quán anh ở xã Châu Sơn, Ban Mê Thuột, thân nhân của anh đã áo tang, khăn trắng túc trực ở Quân Y Viện Pleiku. Trung tá Sâm muốn nhờ tôi bay theo trực thăng, đưa quan tài của người lính đó về thẳng Châu Sơn, đáp giữa sân nhà thờ.

Tôi vừa xuất viện sau khi mổ lấy một mảnh cối 82 ly bên sườn, còn rảnh rang, nên cũng muốn nhân dịp này ghé nhà thăm Loan vài hôm nên nhận lời làm công tác này ngay.

Thói quen, cứ lên trực thăng thì thế nào tôi cũng đem theo một cái PRC 25 có tần số của đài tiếp vận Hàm Rồng. Nếu đi đâu bằng máy bay cánh thẳng thì tôi không mang máy.

Chiếc trực thăng có nhiệm vụ bay con thoi cho Quân Khu 2 ngày hôm đó đã trình diện rất đúng giờ. Họ tới từ Camp Holloway, Pleiku. Phi hành đoàn gồm bốn quân nhân Mỹ trắng. Ông đại úy trưởng phi cơ hơi lớn tuổi, ăn nói có vẻ cộc lốc, thô lỗ nhưng dứt khoát. Ba người còn lại, gồm một trung úy phi công phụ và hai cơ phi xạ thủ thì còn trẻ măng.

Chiếc HU1 D phải dựng ghế lên thành tàu mới đủ chỗ cho tôi và bốn thân nhân tử sĩ ngồi bệt hai bên chiếc quan tài.

Mặc dù quan tài đã được hàn thiếc xung quanh, nhưng mùi tử thi vẫn khiến hành khách không chịu nổi. Hai cánh cửa trực thăng đã được mở rộng tối đa mà tôi vẫn còn cảm thấy khó thở.