This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thưa cách đây gần 50 năm, nghĩa là nửa thế kỷ, nghĩa là lâu lắm rồi, ngày tui mới về với em, nghĩa là em mới cưới tui.
(Hi hi! Xin mở ngoặc ở đây một chút về tiếng Việt sau nầy trong nước!
Tui thường đọc thấy mấy ông nhà báo quốc doanh viết rằng: Hoa hậu X, Y gì đó cưới chồng?!
Thưa tiếng Việt mà tui học hồi năm nẳm, Thầy, cô tui dạy rằng: “Trai cưới vợ; gái lấy chồng!” Chớ tui chưa hề thấy gái cưới chồng bao giờ cả!
Hay là tại vì xa quê đã lâu, tiếng Việt của tui giờ đã rỉ sét, đã lạc hậu hết rồi chăng? Không theo kịp với trình độ của những nhà văn thời ôn dịch?!)
Thôi thì cho rằng em cưới tui đi, để cho tui lên giá một chút… Chớ già rồi cái gì cũng xuống hết trơn hết trọi hè!
Lấy chồng dạy giáo; cho dù mình dốt đặc cán mai, hổng biết chữ Nhứt một, đám học trò ra đường gặp mình, bao giờ cũng giở nón cúi đầu: “Thưa cô! Bộ hổng khoái hay sao?”
Hai là vì tui dạy Sử, Ðịa… nghĩa là chuyện hồi xưa không hà. Giáo sư Sử Ðịa ai cũng bị bịnh nghề nghiệp, mê cổ vật; nên cho dù sau nầy em yêu trở thành bà già, già háp, xấu, má hóp da nhăn! Hề gì? Càng già tui lại càng yêu, càng trân quý! Bộ hổng khoái hay sao?
Hổng thấy Vương Hồng Sển tiên sinh, chuyên sưu tầm cổ vật, sống với em yêu là Bà Năm Sa Ðéc suốt 4, 5 chục năm mà tình đôi ta vẫn còn nồng như hồi mới cưới hay sao? Em yêu của tui thông minh hết sức nhe! Vậy mà bấy lâu nay tui cứ tưởng là em lù khù; ai dè em vác cái lu mà chạy…
Thưa bà con!
Tết nghe câu vọng cổ Út Trà Ôn: Gánh nước đêm trăng để nhớ con bồ cũ mà tui từng gánh nước dùm em mấy trăm ‘đôi’ rồi sau đó em cặp ‘đôi’ với thằng khác!
…Nghe vọng cổ đã rồi qua nghe tân nhạc:
“Ðêm nhớ về Sài gòn… thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi, những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi, đường im nghe quá khứ trong sầu, đường chia ly vẫn ngóng tin nhau, tình lẻ loi canh thâu…”
Mấy ông nhà nhạc nầy nhớ Sài Gòn, là nhớ phố nhớ phường; vì xưa tối ngày mấy ổng cứ đi long nhong ngoài đường, rồi vô quán cà phê nghe nhạc của chính mình viết mà người khác hát để… “Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa, ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa, ai sầu trong quán úa…
Ðể... bóng mẹ hiền mờ mờ bên song, mắt người tình một trời mênh mông, gợi bao nhiêu cho cùng…”
Thưa tui cũng nhớ Sài Gòn như mấy ổng vậy; nhưng nhớ vì tò mò…
Tui nhớ nhứt là cái đường Da Bà Bầu mà trên đường đó, ông Nhạc trẻ Trường Kỳ hồi xưa, sau qua Canada viết báo, từng nói nhà tui ở đấy đó nhe…
Chu choa người ta ở mấy con đường đẹp và thơ như Duy Tân, Tự Ðức hoặc giàu như ở Tú Xương, người ta khoe là quá phải. Ổng ở đường Da Bà Bầu mà ổng cũng khoe?
Song, nghĩ cho kỹ! Mấy ông viết báo phải có cái đề tài gì độc nhứt vô nhị trên chốn giang hồ, bài viết mới ăn khách, không lo đụng hàng hay chôm của người khác trên web…
Cả ngàn ông ký giả, chỉ có Trường Kỳ là ở đường Da Bà Bầu thì khoe là cũng phải quá rồi…!
Dà xin tầm chương trích cú để thỏa mãn cái óc tò mò của một tay nhiều chuyện như tui, Da Bà Bầu hổng phải là da của bà bầu đâu.
Mà là quán của một bà tên Bầu (hay đang có bầu) dưới gốc một cây Da.
Bà con miền Nam mình gọi là cây Da; bà con miền Bắc 54 mình, như ông Trường Kỳ gọi là cây Ða…
Nếu cho ổng đặt tên thì Da Bà Bầu nó sẽ thành Ða Bà Bầu (để thiên hạ tưởng rằng đàn bà con gái trên đường nầy ai cũng ôm một bụng bầu hết ráo… thì càng thêm báo…)
(Cây Da trốc gốc trôi rồi! Em xa người nghĩa đứng ngồi không an. Hay cây Da trước miễu, ai biểu cây Da tàn… Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu! Dù sau 75, cây Da tàn và chàng đã bỏ nàng, vọt mất tiêu rồi!).
Cây Da thân lớn, tàn lớn, chống mưa bão phẻ re hè! Nếu cây Da không nằm cạnh bến sông là khó lòng trốc gốc lắm; nên bà Bầu mở cái quán dưới tàn cây Da nầy vừa mát vừa phẻ trong cái nóng, bức của cái đất Sài Gòn.
Thưa xa quê từ độ đứt phim nên bà con mình lúc buồn tình hay đem cuốn phim cũ ra mà chiếu lại…
Mấy tay to mặt lớn, có trách nhiệm nhiều về cái vụ mất nước nầy thì viết hồi ký để phủi trách nhiệm: “Hổng phải tại tui! Mà tại Trời xui khiến nên đôi mình mới xa?!”
Còn bà con nào hơi ‘bèo’ bởi con nhà ‘nghèo’, không chức tước danh phận gì ráo thì chiếu lại tuồng cũ như Vàm Kinh Cũ, nếu em xưa ở gần một bến sông…
Con anh nào dân chợ, đi đường lộ đá xanh đã quen chưn, thì viết Con Ðường Cũ.
Nên tui cũng bắt chước quý ông anh viết về con đường tình ta đi, cho nó có tụ, vui với người.
Vui đâu hổng thấy, tui chiếu phim cũ, vô tình, sót một khúc là bị rầy:
Chẳng qua khi viết bài về: “Ðề ơi lúc chiều về mình đánh con dê . Mà sao đề lại xổ con kê (tức con gà) hỡi đề!” tui có nhắc tới đường Trần Hưng Ðạo B mà bị rầy quá xá.
Ông bạn văn của tui vốn là bà con, cháu chít chừng mấy mươi đời vương của Trần Thượng Xuyên, ở Cù lao Phố, Biên Hòa! Vì ủng hộ Nguyễn Ánh nên bị nhà Tây Sơn dợt cho một trận lên bờ xuống ruộng. Ðại Phố điêu tàn phải chạy về Chợ Lớn làm ăn buôn bán tiếp.
Vừa là tác giả vừa là độc giả mà thằng chả khó dàng trời mây đi.
Giả bắt lỗi là tui viết Trần Hưng Ðạo B là hổng có được.
Con đường nầy là do ‘Vi Xi’ nó đặt ra năm 1976; hổng phải thời mình, nên ảnh hổng có chịu…
Trần Hưng Ðạo B nầy là cái đường Ðồng Khánh, thời Việt Nam Cộng Hòa mình, chạy từ đường An Bình mút chỉ vô tới Chợ Lớn.
“Tui sanh đẻ ở đó nè ông Nội!” Ảnh nói với tui như vậy đó bà con ơi!
Anh muốn đem tên con đường xưa em đi, đường Ðồng Khánh, vô bài viết của tui mới được. Bạn bè mà! Muốn là chiều!
Thế là tui lại tầm chương trích cú từ ông Vương Hồng Sển, ông Bình Nguyên Lộc tới ông Sơn Nam. Toàn là những ‘bồ’ kiến thức về đường phố Sài Gòn mà ngộ cái là… hổng có ông nào sanh đẻ tại Sài Gòn hết ráo?!
Ông Vương Hồng Sển dân Sóc Trăng! Ông Bình Nguyên Lộc dân Ðồng Nai, Biên Hòa (Lộc của ổng là con nai đó bà con ơi)! Còn ông Sơn Nam (không ở trên núi) mà tuốt miệt Gò Quao, Rạch Giá!
Thưa trở lại thời Tây chiếm đóng! Sài Gòn và Chợ Lớn bị ngăn cách bởi một vùng đầm lầy. Từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, đi đường Route Haute (Ðường Cao) tức đường Hồng Thập Tự, chạy trên đồi cao, nối với Route Basse (Ðường Thấp), chạy ven đầm lầy, tức đường Nguyễn Hoàng vào những năm 60.
Mãi tới ngày Mùng 9 Tháng Chạp năm 1913, Tây lục lộ mới xây xong con đường thứ hai, đặt tên là Ðại lộ Sài Gòn- Chợ Lớn băng qua vùng đầm lầy…
Cuối năm 1916, Ðại lộ nầy đổi tên là Ðại lộ Galliéni, tên một viên tướng Tây có công trạng với Thực dân Pháp vừa mới đi chầu ông bà ông vải.
Ðại lộ Galliéni bắt đầu từ đại lộ Bonnard (tức đường Lê Lợi, trước chợ Bến Thành), chạy tới đường An Bình, nối với đường des Marins, tên thời Tây, sau đó chánh phủ mình đặt tên là đường Ðồng Khánh!
(VC không khoái Vua Ðồng Khánh nhà Nguyễn nên đổi tên khúc đường nầy là Trần Hưng Ðạo B) để tiếp tục đi vào Chợ Lớn.
Do đó nếu anh bạn văn Tàu lai của tui hổng chịu tên Trần Hưng Ðạo B thì anh cự tụi nó! Sao lại quay qua cự tui hè?
Thưa tụi nó bây giờ đặt tên đường phố lôm côm lắm! Tui đâu có dám binh mấy cái chuyện ngu ơi là ngu nầy đâu.
Chớ hồi xưa chánh phủ VNCH mình đặt tên đường đâu ra đấy, lớp lang thứ tự, hợp lý chớ đâu có loạn xà ngầu như bây giờ…
Chẳng hạn từ Bến xe Miền Tây vô Chợ Lớn trước, mình có Hồng Bàng, An Dương Vương, Triệu Ðà… Bà Triệu… rồi thì có Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục…
Cứ thế vào càng gần trung tâm thì càng gần hiện tại như Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Trãi…
Nhà Nguyễn mới vãn hát không lâu, lại càng gần trung tâm hơn nữa như: Nguyễn Hoàng, Minh Mạng, Tự Ðức cùng chư tướng như Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Lê Văn Duyệt…
Các bến sông thì có Vạn Kiếp, Hàm Tử… lớn nhất tên Bạch Ðằng… Nơi mà quân ta đã thủy chiến mấy trận làm Tàu phù… phù mỏ hết ráo!
Thưa! Tên đường là chuyện lớn, chuyện quan trọng, chớ không phải là chuyện giỡn chơi. Vì nó có cất giữ biết bao nhiêu là kỷ niệm của những người con xa quê, viễn xứ như chúng ta.
Anh bạn văn, đường Ðồng Khánh, hỏi tui Tết nầy có về Sài Gòn ăn Tết hay không?
Tui trả lời: “Tui chỉ về khi nào không còn đường Trần Hưng Ðạo B nữa mà phải là đường Ðồng Khánh mới được!”
Chi vậy? Vì tên đường năm cũ, tui mới quen, mới thuộc, mới biết đường lại nhà anh, kiếm tiền lì xì và nhậu chơi…
Còn cầm bằng tên đường cũ mất rồi vẫn không phục hồi trở lại, mà tui ham vui về, sợ đi lạc, bị xe bắt chó bắt thì tội nghiệp cho con vợ của tui lắm nhe!
Mùa Hè 1972 NHẨY DÙ TỬ CHIẾN VỚI BẮC QUÂN TẠI MẶT TRẬN QUẢNG TRỊ
. Mũ Đỏ Trương Văn Út (Út bạch Lan)
Post by Sơn râu 7 Sep 2023
Mày cứ viết ra vài trang nhật ký Đọc nghe chơi coi thử khóc hay cười? Tuổi học trò tuổi đời rồi tuổi lính Tuổi vào tù, tuổi vượt biển ra khơi (Trạch Gầm)
Chúng ta, những người sinh trưởng tại nước Việt, nhất là ở miền Nam dưới thể chế Việt Nam Cộng Hoà miền nắng ấm ban mai lan toả bao nỗi niềm tự do, hạnh phúc, an bình của những năm 1955 – 1960 và chắc hẳn như bao học sinh ngày ngày cắp sách đến trường khó có thể quên được bài Tôi Đi Học của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính, lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học….”. Và có tôi trong số những cậu học trò nhỏ đó nữa… Vâng, chính tôi với những ngày xưa còn bé cắp sách đến trường học hành, vui chơi cùng “đám học trò” ngây ngô bắt dế, đá gà, trèo cây hái trái, phá phách dễ thương trong xóm làng bình dị, mộc mạc có tiếng võng đu đưa kẻo kẹt và lời mẹ ru con à… ơi lẫn tiếng chim cu đồng gáy gọi nhau nghe buồn xao xác trong buổi trưa hè oi ả …! Cứ mỗi buổi tan trường, chào thầy cô phấn bảng trở về nhà, rồi lớn dần theo thời gian … tôi thường lang thang trên những con đường dưới hàng cây bóng mát, buông lời chọc ghẹo vẫn vơ với những nữ sinh trung học dung dăng tà áo dài phất phơ bay theo cơn gió nhẹ và đem về nhà nỗi tương tư dệt nên dăm đoá mộng diễm tuyệt lung linh và ôi…thời gian đầy hoa mộng đó vội qua mau như áng mây bay qua cửa sổ.! Khi bước chân vào Quân Ngũ phải hành quân miệt mài trên đoạn đường chiến binh, lặn lội đi suốt những con đường dài hun hút gió heo may…Những con đường mòn trên dãy núi rừng Trường Sơn bạt ngàn, lởn vởn những bóng ma trơi và thần chết chực chờ từng giây, từng phút để vung tay tử khí quơ mẽ lưỡi hái đoạt hồn chiến binh trong thâm lâm u ất…! Có lúc phải chặt cây choáng chằng chịt vừa đủ chỗ để chui qua dưới những bụi tre già dày đặc um tùm thăm thẳm mịt mùng… Đi ngày chưa tới, phải cố gắng đi đêm…Còn đâu những buổi ráng chiều nắng nhạt, nhàn du dung dăng dung dẽ thơ thẩn dưới những hàng dừa nghiêng ngã nên thơ “sao không thấy em lại để cùng anh thẩn thơ” đâu đấy thoảng nghe văng vẳng có tiếng sáo diều vi vu trên cánh đồng nội cùng với tiếng bao tiếng cười nói rộn rã của những cô học trò nghịch ngợm ở lứa tuổi trăng tròn…!!! Bây giờ là gót giày Sault dẫm lên chông gai, bùn lầy ướt sũng nước đọng mùa mưa, khô héo quắc queo mùa nắng cháy bõng da người trên khắp nẽo đường hành quân lùng và diệt địch trong những “mật khu bất khả xâm phạm” của địch quân…Còn đâu những bước chân dệt đầy mộng đẹp lứa tuổi học trò, bỏ lại sau lưng những mùa hè có hàng cây phượng trổ hoa nở đỏ thắm rực rỡ với tiếng ve sầu kêu vang và trao vội cho nhau vài hàng lưu bút ngày xanh còn thơm mùi mực mới…! Con đuờng gian khổ, hiểm nguy miệt mài bây giờ là con đường đi biết bao giờ đến đâu và về đâu, đi mãi rồi sẽ “nhỡ” một mai “rách áo” hồn bay vào hư vô với tử thần chực chờ đón tiếp và “anh trở về hòm gỗ cài hoa”…! Sống còn tồn tại hay từ giả cõi đời chỉ trong tích tắt cây kim gió đồng hồ quả thật là như loài phù du trên mặt nước vô tình!
Hạt lệ khô như gió nam Trường Sơn Qua bao tuổi tác bấy nhiêu buồn…!
Từ Trí Bửu tới Hạnh Hoa Thôn:
Quận châu thành Mai Lĩnh nằm ở phía Đông- Nam cổ thành, cách non một cây số về hướng Bắc là làng Trí Bửu nằm ngay chính Đông, lên nữa là Hạnh Hoa Thôn, nơi đây là Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 325 của CSBV, các đơn vị trực thuộc của Sư này gồm cả chiến xa, hoả tiển phòng thủ dọc theo con đường Duy Tân…
Vào trung tuần tháng 5 năm 1972. Chúng tôi Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐ2ND) gồm có Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐ7ND), Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù (TĐ9ND),Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhẩy Dù (TĐ1PBND), Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND) triệt xuất Kontum – Chiến Trường Tây Nguyên về hậu cứ, riêng Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù (TĐ11ND) sau trận “banh xà rong” bi hùng ở đồi Charlie vào ngày 17 tháng 4 năm 1972 Thiếu Tá Lê Văn Mễ Tiểu Đoàn Phó được bổ nhiệm làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, cũng là ngày TĐ11ND chính thức mang khăn tang Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo trở về Sài Gòn tái bổ sung, chỉnh đốn quân sĩ và cũng được lệnh tăng cường ra Huế chuẩn bị tái chiếm Quảng Trị, trong khi Lữ Đoàn I Nhẩy Dù (LĐIND) và Lữ Đoàn III Nhẩy Dù (LĐIIIND) còn đang vất vả bảo vệ An Lộc. Ra đến Huế, tất cả tập trung ở căn cứ Hiệp Khánh (Sally) chờ lệnh xuất phát. Trong thời gian chờ lệnh và cũng đang chờ Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù (TĐ5ND) triệt xuất An Lộc trả về LĐIIND cho đủ “bộ tam sên 5-7-11”, các toán viễn thám TS2ND bung ra xa căn cứ thám sát thì phát hiện ngay địch quân đã nằm áp sát ở bên mình với bộ binh và thiết giáp tự khi nào rồi…!!! Quảng Trị đâu chưa thấy mà thấy chúng nó trước mặt, không chừng chưa kịp đánh nó thì chúng đã “tapi” đè bẹp mình rồi. Đại Tá Trần Quốc Lịch tính toán quyết định ngay là phải “Tiên Hạ Thủ Vi Cường” ra lệnh cho TĐ11ND thử lửa để phục thù rữa hận sau trận “rách áo” ở Charlie và quả thật không hổ danh “Song Kiếm Trấn Ải” lẫy lừng, TĐ11ND phối hợp với Pháo Binh Dù tác chiến chính xác đã chiến thắng vẻ vang trên đồi Trần Văn Lý với chiến tích là xác 20 xe Tank T54 bị bắn cháy và thi thể Bắc Quân phơi đầy trên chiến địa còn đang khét nóng mùi khói lửa…!!! Không cần tịch thu chiến lợi phẩm vì con đường phải đi trước mặt còn dài xa hun hút… Trận chiến ngoạn mục này đã làm cho tinh thần Quân Cán Chính địa đầu giới tuyến vùng lên theo chiến dịch Lam Sơn 72 trở về mái nhà xưa. Chỉ buồn cho ĐĐ2TS vì một Trung Đội giúp đỡ tiếp tế tản thương cho TĐ11ND mà phải banh xác bỡi “dính” một trái mìn chống chiến xa của quân…ta khiến cho Thiếu Úy Nguyễn Văn Oanh, Trung Sĩ Thạch On cùng 6 binh sĩ chết tại chỗ, 17 bị thương nặng nhẹ, số còn lại hồn phi phách tán. Hạ Sĩ Nhất Kim Chơi vừa khóc mếu máo vừa giận giữ chữi thề:” Mẹ,… Trinh Sát Nhẩy Dù không chết rừng chết bụi mà chết trên GMC…”! Buồn cay trên mí mắt đứng tròng đã bao lâu nay khô hóng vì không ngủ và gió cát nóng miền Trung …! Chỉ 5 ngày sau quân số của Trung Đội này được cấp tốc bổ sung đầy đủ với hơn 30 người.
. Ngày N giờ G điểm:
Toàn thể lực lượng quan quân Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐIIND) súng đạn mũ sắt ba lô vượt phòng tuyến bên bờ Nam sông Mỹ Chánh do Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thuỷ Quân Lục Chiến của Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc (K16VBĐL) đang trấn thủ vào “thăm và viếng” Quảng Trị với 3 Sư Đoàn Chính Qui của CSBV, cùng đại pháo 130ly, hỏa tiễn phòng không, hoả tiễn chống chiến xa của Liên Sô ồ ạt tiếp viện trong vòng mấy tháng qua…chúng đã điều nghiên chiến trường và chuẩn bị chu đáo thế thượng phong đang chờ đón quân “Nhẩy Dù Nguỵ”… Lần giở trong ký ức Binh Pháp Tôn Ngô thấy “tức” cười. Muốn tấn công Thành phải dùng lực lượng gắp 5 lần quân phòng thủ, nay toàn thể lực lượng chủ lực phía quân ta chỉ có một mà dám tấn công bên địch mười, thì không bể đầu cũng sức trán, không chột cũng què, ấy vậy mà vì “Nhẩy Dù Cố Gắng” chỉ trong vòng ba ngày đêm từng bước, từng bước thầm đầu đội pháo, chân dẫm lên xác địch, tác xạ lao về phía trước vượt trên quãng đường vài ba cây số ngập tràn máu lửa, đạn bắn như đan lưới địa võng biết nơi nao là không phải là hoả ngục …?
TĐ1ND1,TĐ5ND cũng đã tiến vào được La Vang, TĐ7ND đã vượt qua ngã ba Long Hưng áp sát vào vòng đai Cổ Thành Đinh Công Tráng, TS2 ND có lệnh theo đuôi TĐ7ND, sau đó đơn độc tách rời, rẽ về hướng Đông để tiên phong xâm nhập vào Quận Mai Lĩnh bằng kỹ thuật dạ hành ngụy trang tối đa, bảo toàn lực lượng để làm đầu cầu cho TĐ7ND của Trung Tá Trần Đăng Khôi (Khôi Nguyên Khóa 16 VBĐL) và Thiếu Tá Nguyễn Lô (Sông Lô K18 VBĐL) “từng bước…từng bước thầm…đi vào hang lang sói…” cuối cùng toàn bộ TS2ND cũng “luồn” vào được mục tiêu “êm ái như mơ” địch không hề hay
biết nên không một tiếng súng nổ “chơi”. Tôi và đám “con cái Trinh Thử” loại Chuột với M16, lựu đạn, M72 trang bị tận răng nằm “ém quân” hai đêm ba ngày bất động nằm “ưu ái” trong lòng địch, phải nhiều phen nín thở, nhịn ăn để tránh “đi đồng”, mở banh chong đôi mắt thăm dò trong đêm ngày, vểnh đôi vành tai nghe ngóng âm ba như loài dơi thính dò tìm động tĩnh chẳng khác gì những bóng ma vô hình, theo dõi thật sát từng bước chân của địch quân đang nhởn nha qua lại trên đường phố, đến đêm thứ hai nghe bỗng tiếng thì thào “trọ trẹ” nhẹ như tơ vàng trong máy: – Út Bạch Lan…! Sông Lô đây?
Tôi trả lời với tiếng nói “thỏ thẻ” như gió thoảng hư không trên PRC25: – Tôi nghe! – Tôi sẽ gặp UBL lúc hai (2) giờ sáng đêm nay… chờ !
Tôi vui mừng không thể tả tâm trạng dường như trẻ thơ chờ mẹ đi chợ về, nỗi vui bỗng chốc trấn áp biết bao lo âu, chờ đợi làm căng thẳng thần kinh mấy ngày qua vì nghĩ đã bắt tay được với TĐ7ND tức không còn đơn độc trong lòng địch nữa…! Nhưng không phải như vậy, vì “Ôn” Sông Lô sau 10 phút “bắt tay” hàm thụ xong thì rời khỏi vùng địch ngay, trở về tuyến của Tiểu Đoàn cách xa gần cây số. Tôi xin mở ngoặc để “nói” thêm về “Ôn” Sông Lô Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ7ND, sau lên Trung Tá là một trong những Sĩ Quan Chỉ Huy kiệt xuất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chí cho đến ngày tàn cuộc chiến 30-4-1975… và sau đó Sông Lô với dáng người như cây tùng trước gió bão vẫn anh hùng hiên ngang lừng lững với quần áo Nhẩy Dù rằn ri vượt trại giam, đón xe đò đi về đâu…khi tứ bề địch bủa lưới ? Khi còn bị giam trong tù (nguỵ danh Trại Cải Tạo) đảng Cộng Sản gian trá đề cử nhân viên đài Truyền Hình Saigòn xuống trại tù thu hình làm phóng sự tuyên truyền, bọn công an bắt Sông Lô cầm cuốc làm cỏ để quay phim, Sông Lô liền dõng dạc từ chối thẳng thừng :”Tôi không chơi được cái trò khỉ đó”! Mặc cho chúng muốn hành hạ bắn giết không hề chi, tất cả bạn đồng tù lo âu tưởng rằng Sông Lô cựu Tiểu Đoàn Trưởng Nhảy Dù danh tiếng lẫy lừng sẽ bị chúng giam cùm hoặc bắn bõ. Sông Lô thời chiến yên hùng lẫm liệt giữa chốn ba quân nay trong thân tù cũng hiên ngang lẫy lừng… đã khiến cho tên sĩ quan trưởng trại thán phục với nhận xét: “Họ là những người Sĩ Quan kiên cường đáng phục…” ! Và xin hãy đọc một trích đoạn trong bài viết của người bạn cùng trại tù ngoài Bắc với Sông Lô đăng trên báo Mạch Sống số 62 tháng 9-2007 do Phan Nhật Nam phụ trách trong mục Lịch Sử Qua Lời Kể:
“Toán tử tội được dẫn đến trước những chiếc cột. Các anh có muốn nói điều gì không? Trưởng trại thoáng bối rối trước sự im lặng bình thản của năm người. Không một ai có dấu hiệu sợ hãi. Không có gì? Nguyễn Lô thay mặt các bạn trả lời (Bởi khi chấp cung, Lô đã xác nhận ông là người trách nhiệm độc nhất tổ chức vụ trốn trại). Nhưng đột nhiên, ông cười nhẹ.. Nếu cho hút điếu thuốc lào thì tốt lắm! Trưởng trại trầm mặt nghĩ ngợi (không hiểu Lô có ẩn ý gì vì yêu cầu quá nhỏ nhoi, bất ngờ) trước khi chấp thuận. Lô biết ý, giải thích: “Tôi có cái điếu mới, gởi ở các anh BK (đọc là Bê-Ka, Biệt Kích), tôi muốn hút cái điếu đó một lần chót!” -…Có đây! Có đây! Thưa ban (Ban Giám Thị), chúng tôi hiện giữ cái điếu của anh Lô. Viên trưởng toán Biệt Kích mau lẹ đứng dậy từ đám tù ngồi chật hội trường. Chiếc điếu được đưa tới, Sông Lô cầm lấy ung dung nói:” Mình chơi một điếu nghe mấy ông…? Những người bạn đưa mắt nhìn nhau. Hạnh nói nhỏ chán nản: – Hút làm gì Lô? – Thì cứ hút đi, trước sau cũng chết! Lô ngồi xuống, cho thuốc vào nỏ điếu, hâm cây đóm, kéo sâu hơi thuốc, thở khói lên trời. Ông cười nhẹ, đứng dậy, trao điếu cho các bạn và mời:”Làm một bi đi”! cựu Trung Tá Nhẩy Dù Nguyễn Lô nhìn quanh hội trường, đến với mỗi người tù, mặt ông không biến sắc..ký ức trận Ắp Bắc 1963,Pleime 1965, Cầu An Hòa – Tết Mậu Thân Huế 1968, Tổng Công Kích Đợt 2, Nghĩa Trang Người Pháp, Ngã Tư Bảy Hiền, Sàigòn 1968, Hạ Lào, Động Ông Đô, Chu Pao, La Vang, Quảng Trị 1972, Long Khánh tháng 4-1975.. .Đoạn đường mười hai năm một đời chiến đấu ông đi qua không một lần yếu đuối. Vậy hãy coi đây như chỉ là trận chiến cuối cùng trong đời, trận chiến không vũ khí, chỉ với những người bạn từng sống-chết và những người bạn tù ngồi im lặng dưới xa kia…. Nguyễn Lô thở hắt như lần trái đạn 57 ly bắn tung chiếc chiến xa và thân hình ông trước Thánh Đường Đức Mẹ LaVang, nơi quê hương Quảng Trị vào buổi chiều tháng 7 Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngày ấy cũng có nắng như hôm nay. Nhưng nắng miền Nam ấm, vàng tươi, sáng rỡ hơn… Có chiếc xe đổ nhanh dưới lưng đồi, trước bộ chỉ huy trại. Bóng người cán bộ VC chạy vội lên hội trường hô to:” Dừng lại! Dừng lại! Nguyễn Lô bình thản, tỉnh lạnh bảo với Hạnh và Bằng hai người bạn đứng gần kề bên cạnh: “Cứ hút đi, đừng để ý làm gì”! Điều đáng nói là phong cách hút điếu thuốc lào cuối cùng của Sông Lô khinh bạt, lãng tử yên hùng của trang “Hảo Hán Lương Sơn Bạc” và hơn thế nữa chính là Kẻ Sĩ Đông Phương xem cái chết nhẹ tựa lông hồng quả thật là không hổ danh Cấp Chỉ Huy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà…!!!” (ngưng trích).
Trở lại với hiện tiền trời nhá nhem ửng sáng, những tiếng động của xích sắt chiến xa càng lúc càng rõ dần, trước mặt xuất hiện lố nhố nón cối, AK, Đại Liên, B40-41 đang giàn hàng ngang tiến dần đến gần…oành…oành… oành… ầm… ầm… ầm… nhà bung mái ngói, cây cối gãy đôi, đất sỏi tung bay mù mịt. Trung Uý Cố Vấn Mỹ Terry Griswold chân tay run rẩy như thằn lằn đứt đuôi, hồn phi phách tán hét thất thanh trong máy: “Zulu…Zulu…Zulu right away! Right now…”!!! Mẹ, muốn rút lui phải có
kế hoạch từng bước, nếu rút lui cái ào hỗn loạn vô trật tự là đưa lưng lãnh đạn chết ráo còn ai để mà rút lui. Tên Trung Úy Cố Vấn mới tốt nghiệp West Point, một năm sau lên Trung Úy được điều sang VN tham chiến trong toán Cố Vấn 162 của Nhẩy Dù. Tôi phải trấn an và chậm rãi bảo hắn:”Terry…listen…You and your man stay here with me, don’t move and wait for my order…”! Rồi phải “run” thôi, tháo bung “banh xà rong”dzọt lẹ với kỹ năng nhất bộ nhất biến “thao lược” nhuần nhuyễn xuất thần để bảo toàn lực lượng trong trình trạng sinh tử, tránh bị tiêu diệt là nghề của chàng, của TS2ND vốn là hậu thân của đơn vị 81 Biệt Cách Dù Lực Lượng Đặc Biệt với hỗn danh “Dog Run” chó chạy đường mòn. Chạy cũng có kỹ thuật của chạy, chạy tán loạn là táng mạng cả đám, mạnh ai nấy chạy là tự sát, bỏ xác một mình. Trong kỹ thuật tác chiến rút lui khó hơn tấn công rất nhiều, cho nên theo thứ tự rút lui với chiến thuật “nhẩy cóc”, thằng này rút trước rồi ở lại bảo vệ thằng rút sau, từng bước, từng bước thoát ra cái lưới đạn pháo đang phủ chụp lên cả đơn vị. ĐĐ2TS thoát ra được đồng ruộng, thằng què tay cõng thằng què chân, thằng què chân cà thọt lôi thằng không đi đứng được, đành bỏ lại 17 đồng đội đã ra đi nằm im lìm bất động, hơn 30 mạng máu me đầy người được TĐ6ND vừa được tăng cường từ mặt trận An Lộc giúp đở tản thương, thiếu tá Nguyễn Văn Tùng TĐP/TĐ6ND (Khóa 19 VBĐL) tử thương trong mặt trận này, trung tá Nguyễn Văn Đĩnh (Khóa 15 VBĐL) ôm xác khóa đàn em mắt lệ lưng tròng…! TS2ND lui về phía sau nghỉ “thở” ba ngày để chỉnh đốn lại hàng ngũ trong khi các Tiểu Đoàn Nhẩy Dù vẫn tiếp tục tiến chiếm từng ngôi nhà, dãy phố và áp sát cổ thành Đinh Công Tráng. TĐ11ND đã vào đến đường Nguyễn Hoàng phía chính Nam đang nới rộng về phía tây tới cầu Thạch Hãn với TĐ1ND và hai Biệt Đội 81Biệt Cách Dù cạnh sườn trái ở thôn Như Lệ Tích Tường. TĐ7ND sau khi bứng hết các hầm hố kiên cố chôn dấu dưới những gốc tre già bằng một cái giá sòng phẳng phải chăng, quần thảo với Bắc Quân để bước vào khu vực bến xe và sân banh Nguyễn Hoàng. TĐ6ND theo lộ trình của TS2ND đã chiếm lại chi khu Mai Lĩnh nới rộng về phía Bắc về hướng Trí Bửu. Như vậy là quân Nhẩy Dù đã kiểm soát hoàn toàn khu vực ngoại thành của thành phố Quảng Trị ở phía Tây-Nam, phía Nam và Đông-Nam. TĐ5ND được lệnh triệt thoái phòng tuyến La Vang, bọc sau lưng TĐ7ND song hành với TĐ6ND hướng về Trí Bửu phía chính Đông của Cổ Thành. TS2ND mượn đường TQLC từ hướng chính Đông, dùng thiết vận xa đưa đến điểm xuất phát là sông Nhung để cùng TĐ5ND thành hai mũi giáp công, cố chiếm cho bằng được Trí Bửu để làm bàn đạp đánh phá Cổ Thành Đinh Công Tráng. TS2ND vượt sông Nhung bằng phao dã chiến Poncho, con sông này có thượng nguồn từ trong dãy núi ở phía tây Quốc Lộ 1 chảy ra sông Vĩnh Định chỗ cầu Ba Bến. Sông Vĩnh
Định có đầu nhánh phía tây chạy ngang chợ Sãi và thông với sông Thạch Hãn. Từ chỗ của tôi vượt sông để tới khu nghĩa địa phía chính Đông bìa
làng chỉ cách xa khoảng vài trăm thước, bỗng nghe một tiếng cắc bùm, Thiếu Úy Lã Quý Khâm Tiền Sát Viên của TĐ1PBND đang đứng sát bên vai với tôi, bật ngã ngửa người ra phía sau mắt trợn trừng, môi mấp máy mấy cái rồi…đi! Tôi ngồi thụp xuống bên một mô đất lạ ra lệnh cho tất cả hiệu thính viên, kể cả 5 ông Cố Vấn Mỹ cuốn ngay lá Antenna PRC25 dấu dưới ba lô. Không biết có phải vì biến cố này hay không mà chỉ vài giờ sau toàn bộ Cố Vấn Mỹ được lệnh rời khỏi TS2ND ngay tức khắc. Trước mặt tôi quả là một khúc xương khó nuốt. Bên cạnh sườn trái của tôi TĐ5ND đã chiếm được 1/3 Trí Bửu, bằng mọi giá TS2ND phải trườn hay bò lên phía trước để giữ cạnh sườn phải cho TĐ5ND và hướng mặt về phía Cổ Thành. “Đường đi không khó vì ngăn sông, cách núi” đường chỉ có khoảng vài ba trăm thước… Nhưng khó vì đầu đội pháo, ngực đang phơi khơi khơi trước những họng súng Nga – Tàu và đạn đã lên nòng đang hờm sẵn chờ cho mục tiêu là thân thể chúng tôi lọt vào tầm ngắm rồi nhã hằng loạt đạn… ở phía Bắc của tôi chỉ khoảng 500 mét là Hạnh Hoa Thôn, theo tin tức của Phòng 2 Sư Đoàn Nhẩy Dù cho biết là một đơn vị lớn của Sư Đoàn 320B (SĐ320B) Bắc Quân đang trú đóng ở đó, Sư Đoàn nầy do tướng Nguyễn Sùng Lãm làm Sư Đoàn Trưởng và là Tư Lệnh Mặt Trận 7 Quảng Trị thuộc Quân Khu Trị Thiên được đưa vào tăng cường, chịu trách nhiệm khu vực thuộc quận Triệu Phong từ tây bắc Vĩnh Định ra tới Cửa Việt. Trung Đoàn 27 tại vùng Đông Hà, Động Lôn, Quai Vạc, Trung Đoàn 48 (Quang Sơn) của Trung tá Lê Quang Thúy trong Cổ Thành Đinh Công Tráng, Trung Đoàn 64 tại Cam Lộ, Định Xá, Bái Sơn. Trung Đoàn này tăng phái Tiểu Đoàn 9/64 cho Trung Đoàn 48 của SĐ320B cùng TĐ3 và TĐ8 địa phương của B4 trấn giữ Cổ Thành cùng khu vực
làng Trí Bửu và Hạnh Hoa Thôn… Nếu họ muốn càn quét chúng tôi, chỉ cần một chi đoàn chiến xa T54 với bộ binh tùng thiết, dùng hỏa tập tấn công thì chỉ trong phút chốc chúng tôi sẽ trở thành mây khói, bởi lẽ không yểm của quân ta gần như bất khiển dụng trong việc yểm trợ cận phòng vì lưới đạn phòng không dày đặc đan giăng như Thiên La mắc cửi, pháo yểm cũng không thể diệt được Tank 54 và bộ binh địch chớp nhoáng sẽ tràn ngập….!!!
Nỗi lo âu đó trong tôi hằng phút hằng giờ trong thế bối thủy, tiến không được mà lùi cũng không xong ? Thôi thì phải tử thủ, Triệu Tử Long – Tam Quốc Chí tân thời không thể buông tay chết đứng giữa trận tiền, đành phải liều “bung Dù” tử chiến với giặc trùng điệp hoặc sẽ tan tành rã đàn xẻ nghé…? Tôi xin tăng viện khẩn cấp M72, buổi sáng ngày hôm sau TĐ5ND tăng cường cho tôi 50 hoả tiễn, buổi chiều Lữ Đoàn cung cấp thêm 100 súng M72 để thủ sẵn. Các toán viên Viễn Thám ngụy trang như những cây di động nằm yên tại chỗ, chỉ di chuyển ban đêm khi trái sáng phụt tắt, rồi tiếp tục nằm yên khi trái sáng bục nở trên bầu trời, tất cả M72 kéo nòng, mở khóa an toàn, áp sát một căn nhà nào đó ẩn thân rồi nhanh nhẹn như một tên đạo chích đột nhập vào trong nhà, dùng lưởi lê “thích khách” Bắc Quân “êm re” không một tiếng động…và có lẽ mấy cán ngố Đặc Công, Tiền Sát Viên đã âm thầm gặp diêm vương nên cường độ pháo tập 130ly giảm dần và cũng vì tình trạng trộn trấu giữa ta với địch cùng ẩn náo, sống chung một nhà “người ơi mau về đây, cùng chung mái nhà” chẳng thằng nào nhận ra thằng nào và cũng vì các toán viên Viễn Thám mặc quân phục của VC và xử dụng súng AK47, dùng ám hiệu mật mã trên PRC25 đều bằng những con số y chang như Bắc Quân thì làm sao chúng có thể phân biệt trong thế tranh tối, tranh sáng mờ mờ nhân ảnh… cho nên chúng nó lần lượt bị “đâm sau lưng chiến sĩ” rồi trở thành liệt sĩ mà không biết tại sao và vì sao
“em” đã vội “chia tay hoàng hôn” …?!… và cứ thế các Trung Đội Trinh Sát trám chỗ để các Toán Viễn Thám tiếp tục truy lùng và diệt địch, cho đến khi song hành với TĐ5ND chỉ còn cách bờ thành Đinh Công Tráng cửa Đông Quan khoảng 100 mét nằm trong tầm đạn đạo súng cối và đại liên 12ly7 từ trên cao của bờ thành rải như mưa xuống đầu chúng tôi…Bên trái là ĐĐ51ND của Trương Đăng Sĩ và ĐĐ52ND của Hồ Tường, tất cả lực lượng gọi là “Tiền Phương” này đều dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền Thủ Khoa K16 VBĐL). Bên phải của TS2ND là trùng trùng điệp điệp bóng dáng Bắc Quân…Bấy giờ lực lượng trừ bị hùng hậu Thuỷ Quân Lục Chiến còn ở xa chưa tới áp sát vì lệnh ở trên ! Chúng tôi trên đầu thì phải đội đạn 130ly sơn pháo, hoả tiễn 122ly, cối 82ly…từng giây phút, hằng giờ, trước mặt là một dãy hào sâu ngập nước với bức tường Cổ Thành dầy đặc kiên cố cao khoảng 12 mét.
– Út Bạch Lan…Tố Quyên. – Tôi nghe Đích Thân. – UBL nghiên cứu thử xem có thể gửi hai con vịt tiềm (Viễn Thám) vào trong được không ? – Nhận 5 trên 5 Đích Thân.
“Mission Impossible” !!! Xâm nhập vào mật khu rừng núi hay vào căn cứ địa của địch không mấy khó khăn, nhỡ bị phát hiện thì trổ tài…”dzọt”, sống còn hay tử vong mất xác là do số mạng, còn như nhận lệnh thi hành nhiệm vụ này chẳng khác gì Kinh Kha sang sông Dịch một đi không trở lại, không có đường về, cũng không có cơ may trở lại để kiếm đường về…! Tôi gọi Thiếu Úy Thông và Thiếu Úy Hiền hai Sĩ Quan trưởng toán vừa được bổ sung sau Mặt Trận Kontum, cả hai chưa có một chút kinh nghiệm gì về thoát hiểm mưu sinh để tôi “ban lệnh hành quân”. Nhìn hai đôi mắt đăm chiêu tư lự của hai Sĩ Quan trẻ độc thân này, lòng tôi bỗng chùng xuống không thể “hạ lệnh” một cách mạnh mẽ và dứt khoát được, vì biết rồi ta sẽ đưa họ vào cõi chết một cách oan uổng và phi lý cho dù “chuyên qua sông Dịch” là nghề của chàng…! Muốn tới được chân bờ thành đã khó vạn nan, rồi còn tìm cách nào để lên được tường thành rồi xâm nhập vào trong thì quả thật là liều lỉnh để tự sát, chỉ có cách duy nhất là làm sao đục thủng một lỗ tường thành thì họa may có thể …? Hiện tại TankM48 không có, pháo binh thì ở xa, phi cơ thả bom cũng chỉ đánh phá từ trên xuống không thể phá ngang hông được, đạn M72 hay 75 ly không giật công phá tường thành dầy 5-6 mét không hề hấn gì…! Tôi thật bối rối không biết
phải tính toán như thế nào để xâm nhập qua bức tường thành chắn lối thật là “đá dựng ngàn năm hoang đường khói độc”…? Nếu liều lỉnh nhắm mắt xua lính cảm tử thi hành lệnh lúc này đồng nghĩa với cái chết, thì lòng can đảm chỉ là thể hiện tính chất cường bạo và vô trí tuệ mà thôi chẳng có ích gì…? Không thi hành thì lại mang tiếng hèn nhát trước địch quân đâu phải là Trinh Sát 2 Nhẩy Dù vốn xuất thân từ Lực Lượng 81Biệt Cách Dù ? Tôi gọi Tố Quyên trình bày những khó khăn trở ngại nói trên và xin cung cấp cho 6 sợi dây tuột núi cùng với móc câu.
– UBL…tôi sẽ cố gắng…nhưng không hứa !
Như vậy là tôi phải chờ ! Tình hình biến chuyển từng phút, từng giờ, ĐĐ51ND (Trương Đăng Sĩ), ĐĐ52ND (Hồ Tường), ĐĐ54ND (Nguyễn Vũ Dương) và ĐĐ111ND (Đinh Viết Trinh) tăng phái dưới quyền điều động chỉ huy hành quân của Tố Quyên đã áp sát bờ thành đang chờ những phi tuần Không Quân Bảo Quốc Trấn Không “bay không ai tìm xác rơi “đang vần vũ trên bầu trời giáng sấm sét từng đợt đánh bom hạng nặng làm sập một góc tường thành thì may ra chúng tôi mới cảm tử chiến cho dù phải hy sinh nhiều chiến sĩ là phải đánh đổi bằng một cái giá rất đắt, nghĩ tới thâm tâm sinh nỗi bất nhẫn, nhưng rồi buột miệng: “chiến tranh mà” lẫn trong tiếng gầm rú của phi cơ và tiếng bom đạn nổ bùng vỡ xé trời xanh… và TS2ND chúng tôi đang trụ thế “nhất kiếm công thành” trước tuyến trận, đứng đầu sóng ngọn gió chịu áp lực từ phía Bắc càng lúc càng nặng nề. Quân số càng ngày càng hao hụt nhưng cũng phải cố gồng mình chịu đựng, vì nếu TS2ND bị chọc thủng thì Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của TĐ5ND bị đe dọa chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ. Đây là một điều ưu tư lo lắng từng phút từng giờ của Ông niên trưởng Tố Quyên (Bùi Quyền) Thủ Khoa Khóa 16 Võ Bị Đà Lạt lúc nào cũng 24/24 trên máy PRC25 với tôi và Chí Bệu (K20VBĐL) trưởng Ban 3 Hành Quân của Tiểu Đoàn. Chúng tôi tiên liệu Bắc Quân sẽ có một trận pháo cường tập và tấn công biển người và chờ đợi tới đâu hay tới đó…? Tố Quyên điều động ĐĐ54ND lo bảo vệ khu vực Đông Bắc Trí Bửu và tải thương, ĐĐ51ND và ĐĐ52ND nhào vào Cổ Thành…Không Quân Việt Nam với những phi tuần Khu Trục (Skyraider AH-1) do những Phi Công dày dạn chiến trường, tài trí siêu xuất đánh bom vào chỗ kỳ đài rất chính xác như “thảy lỗ”, thì lúc đó bỗng có 2 phi tuần Jet của Mỹ ở đâu bay vào vùng để yểm trợ thêm cho quân Nhẩy Dù công phá Cổ Thành, Cố Vấn Mỹ hỏi Tố Quyên có muốn xử dụng không ? Tố Quyên OK và chỉ cho Jet nó đánh ngay vào mục tiêu cùng chỗ phi tuần Việt Nam vừa đánh. Nhưng than ôi… “điều động tại nhân mà tai hoạ tại thiên” khói bụi từ chỗ mới bị bom đánh tỏa ra bị gió thổi bạt đưa về phía ĐĐ51ND và ĐĐ52ND thế là Pilot Mỹ chơi 2 pass Smart Bomb vào Smoke Targets đó, thành ra bom bên Mỹ mình giáng xuống quân ta tan tành “banh xác pháo”…!!!
. Ngày N+21:
– Út Bạch Lan…207. (Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND) – Tôi nghe 207. – Qua bên kia. – Tôi hiểu ngay là qua tần số khẩn cấp đặc biệt của Lữ Đoàn. – Cố giữ cạnh sườn cho Tố Quyên và Minh Hiếu, trễ lắm trong vòng 48 tiếng đồng hồ sẽ có tăng viện thay thế.
Lệnh này Minh Hiếu và Tố Quyên cũng biết, nhưng chỉ biết là sẽ có tăng cường lực lượng, nên kế hoạch mạo hiểm xâm nhập cổ thành hủy bỏ. Hai ngày sau tôi được lệnh chuẩn bị bàn giao phòng tuyến cho hai Biệt Đội 81 Biệt Cách Dù, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phạm Châu Tài.
Tại chão lửa Quảng Trị nầy gặp lại những bạn cũ dưới cơn mưa pháo như Đại Úy Dương Thiện Ngộ (BĐ3BCD), Đại Úy Lê Đắc Lực (BĐ4BCD), Đại Úy Nguyễn Sơn (BĐTS/BCD-Biệt Đội Thám Sát) lòng vui mừng trộn lẫn nỗi lo buồn vì đã bỏ lại hằng chục đồng đội chưa mang được xác của họ về cho vợ con gia đình, mà đơn vị đang xác xơ chỉ còn trên dưới 40 người, tinh thần mệt mỏi rã rời sau 21 ngày đêm chống đỡ xa luân chiến với một lực lượng địch quân đông gấp chục lần quân ta…! Sau khi giao lại chiến trường cho BĐ81BCD, đám thiên lôi TS2ND chúng tôi được lệnh rút về phía
sau lưng bọc hậu cho TĐ5ND giữ đường tiếp tế tản thương đến sông Nhung, nơi đây chúng tôi gọi là “Bến Đò Đưa Xác”. Vừa rời khỏi phòng tuyến chừng 200 mét thì bị một cơn bảo táp tiếng súng lớn nổ vang rền đạn bay phủ chụp lên TS2ND như một mẽ lưới tử thần, chúng tôi nằm bẹp dí như những ngọn cỏ tại chỗ chịu trận…!!! Tôi hét lên trong máy:”Tố Quyên…Tố Quyên…bảo mấy đứa con của đích thân ngưng bắn ngay, nó đang bắn lên đầu chúng tôi…Tố Quyên…Tố Quyên…”! Hai phút sau.
– UBL…check lại xem cho tôi biết ngay. Không có đứa con nào phía sau lưng của tôi nổ súng trong khoảng một giờ trước đây…?
Lúc này là ĐĐ54ND đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy của Tố Quyên. Hoàn hồn, lấy lại bình tĩnh phán đoán, tôi nhận ra ngay, tiếng nổ là B40,B41 và phòng không 12ly7 của Bắc Quân… Tôi vỡ lẽ và buột miệng:”thôi chết rồi …”
TĐ5ND đã bị chặn hậu, đường giây tiếp tế cũng bị bít kín, như vậy TS2ND cũng không còn “đường xưa lối cũ có bóng tre che thôn làng” rồi, bây giờ là là con đường tử địa ! Tôi nghĩ chắc có thể Hổ Xám Phạm Châu Tài 81BCD cũng sẽ bị “gombi” không còn một mống nào thoát được khi bị tấn công cường tập với đại pháo 130ly, Tank T54, 12ly7, cối 82… và bộ binh của Bắc Quân…?! Cả đám chúng tôi tiến không được, thối cũng không xong, chỉ còn sự lựa chọn duy nhất là trực diện xông vào cửa tử để tìm sinh lộ với thân thể tàn tạ sức mòn lực kiệt, “chiến bào” rách bươm tơi tã…nhưng phải đồng thời “cứu chúa phò nguy”, chết vinh còn hơn bị hốt hết rồi sẽ bị sống nhục…! Tôi ra lệnh như hét:” Tất cả bõ Balô xuống, đưa M72 dồn cho Trung Đội 1 (chỉ còn 12 mạng), mỗi người 5 quả M72, kéo nòng, rút chốt an toàn sẵn sàng súng trên vai, nhắm vào căn nhà ngói nền cao phía trước khoảng 50 thước, quỳ dàn hàng ngang chờ lệnh…”. Trung Đội 2 và Trung Đội 3 cũng còn trên dưới 10 mống, cùng với tôi và ban Chỉ Huy Đại Đội, súng cá nhân và lựu đạn sẵn sàng… khi nghe loạt M72 đầu tiên thì phóng như bay khoảng chừng 20 mét rồi nắm bẹp xuống, chờ loạt thứ hai và thứ ba cứ tiếp tục nhào lên cho đến khi đến sát những khung cửa sổ nhà đỗ nát, khi tiếng nổ M72 của Trung Đội 1 chấm dứt tác xạ đợt 4, thì Trung Đội 2 và Trung Đội 3 bắt đầu dùng lựu đạn tung vào trong. Bắc Quân như lũ chuột: chuột cống, chuột chù, chuột nhắt…kinh hoàng tháo thân chạy bung ra ngoài, nón cối rơi rớt vung vãi dưới những họng súng M16 thiện nghệ của Trinh Sát 2 Nhẩy Dù, thây người ngã vật xuống, không một tên nào chạy thoát. Mày là Đặc Công hả? Tao là Trinh Sát Nhẩy Dù đây, mày là “giặc từ ngoài Bắc vô đây bàn tay bắn giết đồng bào” miền Nam, bàn tay đồ tể chúng mầy nhuốm máu anh em cùng dòng máu đỏ, da vàng Việt Nam của mày, thì làm sao tao có thể tha cho mày lúc này được..? Chúng mày chủ trương thà giết lầm còn hơn bỏ sót, còn tao thì chắc chắn không giết lầm cho nên không có cái vụ bỏ sót và lệnh của tao là:” Không để sót một thằng nào chạy thoát trong trận này” mặc dầu tao đã kiệt sức gần như muốn ngã quỵ…! Và chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ đánh xáp lá cà như tia chớp, nhoáng TS2ND đã quét sạch Đại Đội Đặc Công của Sư Đoàn 320B, xác chết quân địch và vũ khí ngỗn ngang chẳng cần thu nhặt dọn dẹp… Tố Quyên mừng lắm gọi tôi:”Thank you UBL…tôi sẽ cho 54 thay chỗ ngay bây giờ, UBL trở về bến đò đưa xác giúp cho tôi cõng thương binh và đem xác anh em “rách áo” về …” ! Ôi,.. đâu rồi “Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê” em ơi… TS2ND nay còn đâu mái tóc thề, rách bươm tơi tả, te tua sau 21 ngày đêm sống trong bão lửa khốc liệt như trời long đất lỡ, súng nổ vang rền tứ phương, đạn bay lấp loáng vung vãi phủ chụp, cày bung thớ đất và trong nón sắt còn âm vang vọng lại như vỡ bung màng nhĩ, nay trở về như lạc lõng nẻo tâm hồn nào vương theo lối cũ…? Tôi ngồi nhìn dòng nước con sông Nhung hiền hòa cứ lững lờ trôi với tâm tư: Sông và nguồn có bao giờ tịch lặng…? Con nước xuôi dòng chuyển chở bao niềm…
Tôi bỗng chạnh thương con sông Nhung vì trong dòng nước phù sa đầy vơi êm trôi kia có pha lẫn máu của Anh Em tử sĩ và thương binh nhỏ xuống hoặc thấm ướt qua làn vải áo trận bê bết đã tơi tã mấy ngày qua …! Nhìn những chiếc bè kết bằng thân chuối, bập dừa thay thuyền chở đưa xác tử sĩ qua sông, bên cạnh tôi còn hằng chục cái Poncho gói kín thân xác anh em chờ tiếp tục qua sông …Chúng tôi vừa khiêng, vừa cõng, vừa dìu dắt những đồng đội bị thương máu me đẫm ướt quần áo trận với tâm tư trĩu nặng, thần trí như con ốc hoang trôi dạt muốn bám vào những gốc cây bần, đám lau sậy hoang ven sông mà tìm nơi trú thân bình yên tạm trong giây phút…! Trong những Poncho đó là binh lính của TS2ND được Biệt Đội Thám Sát 81Biệt Cách Dù của Nguyễn Sơn “săn sóc” gói ghém cẩn thận trao lại cho tôi, còn những thương binh sẽ có “diễm phúc” ngồi chờ trực thăng tải thương có khi Pilot phải cắt giảm Throttle, hạ Collective để cho tàu OA (Overhead Approach) nếu bị 12ly7 đan lưới đạn đón chào và “may mắn” anh em sẽ được bốc về Nguyễn Tri Phương, Huế hay Duy Tân hoặc Đà Nẵng, rồi sau đó về Tổng Y Viện Cộng Hoà…và rồi anh sẽ trở thành “bại tướng cụt chân” tập làm quen với xe lăn, nạng gỗ hoặc mắt không còn thấy ánh sáng của cuộc đời…! Tôi tạm tiếp tục nhiệm vụ làm “tư lệnh” Bến Đò Đưa Xác như thế cho TĐ5ND và BĐ81BCD, đến khi không còn sức lực để khiêng, để cõng xác tử sĩ và thương binh nữa …!!! Tôi yêu cầu Lữ Đoàn tăng phái khẩn cấp cho TS2ND một tiểu đội Quân Y với 50 Poncho và 20 băng ca dã chiến, đồng thời ưu tiên bổ sung quân số. Chúng tôi rất cần những Poncho mới để gói lại những xác lâu ngày đã sình thối, chương phình làm bung rách nát lớp Poncho cũ, băng ca để khiêng những người bị thương nặng đem ra xa khoảng 500 mét, chất lên M113 chở ra Bộ Tư Lệnh SĐND ở Phong Điền. Hai ngày sau được bổ sung thêm 2 Sĩ Quan, 8 Hạ Sĩ Quan và 30 Binh Sĩ được lấy từ Quân Cảnh, Quân Lao, Lao Công Đào Binh, Hồi Chánh Viên tình nguyện trong QLVNCH…thôi thì có còn hơn không ! Trong những giờ phút và ngày tháng ở đây TS2ND chúng tôi bỗng trở thành lao công đào binh khiêng Poncho bọc xác đồng đội TĐ5ND và BĐ81BCD tiếp tục chất lên những chiếc bè kết bằng bập dừa “đưa anh sang sông” mà như dậy sóng ở trong lòng …! Ở Bến Đò Đưa Xác nầy tương đối bình yên, không còn những trận bão lửa, đạn nổ ầm vang tiếng 130 ly, B40, B41, AK47 với tiếng gào thét xung phong đằng đằng sát khí của kẻ thù như năm bảy ngày trước đây…Nhưng lại là những đợt sóng thương tâm dậy lên lao xao đau xót vô cùng khi cõng những đồng đội thân thể đẫm máu đang ngất ngư bơi qua bên kia sông Nhung, và rồi đêm nay, hay ngày mai không biết họ còn sống hay chết…! Chiến tranh mà! Cuộc chiến nào không có máu đổ thịt rơi, không có hủy diệt tàn phá, nhà cửa ruộng vườn mồ mả cha mẹ, ông bà, tổ tiên bị cày sới tung lên rơi rớt xuống từng mảnh vụn huống chi thân xác con người bằng da, bằng thịt sao không nát tan bởi một mảnh đạn sắt thép vô tình xuyên phá .
– Út Bạch Lan…207. – Tôi nghe đích thân. – Vào tần số này để liên lạc với TĐ3TQLC.
Dĩ nhiên cuộc đàm thoại nào với 207 cũng bằng ám số truyền tin. Như vậy là nguồn tin Thuỷ Quân Lục Chiến sẽ tăng cường cho mặt trận Trí Bửu là có thật. Nhưng không phải tăng cường mà là TQLC sẽ thay thế toàn bộ lực lượng Nhẩy Dù trong nhiệm vụ tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng. Trung Tướng Dư Quốc Đống TL/SĐND có lần đã nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Quân Đoàn I rằng :”…Bảo tôi đánh giặc mà đánh như thế này thì làm sao tôi đánh..” và sau đó trên hệ thống liên lạc siêu tần số cơ hữu của Sư Đoàn Nhẩy Dù, sĩ quan truyền tin Võ Trung Tín đã nghe cuộc điện đàm giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng như sau: – Trung Tướng Đống:”Trưởng có thấy không, trước khi tấn công vào mục tiêu, Tổng Thống Thiệu ra lịnh tuyệt đối không cho phá hủy Cổ Thành, đến khi vừa vào được trong thành thì bom dội xuống trên đầu như thế nầy thì đánh giặc cái gì đây? Đánh giặc như thế nầy thì tôi không đánh nữa, Trưởng cứ cho ai vào đánh thì đánh đi”.
– Trung Tướng Trưởng:”Thưa Trung Tướng được rồi, để sáng ngày mai tôi bay ra Sally gặp Trung Tướng sẽ bàn định lại”…
Phía Đông Bắc của Nhẩy Dù hoàn toàn bỏ ngỏ, đại quân Thuỷ Quân Lục Chiến còn đang mở đường từ Cửa Việt ở xa khoảng gần hai cây số, nếu phòng tuyến của TS2ND tan vỡ thì TĐ5ND cũng vỡ, và theo vết dầu loang xuống phía Nam với TĐ6ND sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến các lực lượng vòng đai phía chính Nam của Thành Phố Quảng Trị. Kế hoạch chiếm lại Cổ Thành Đinh Công Tráng như công dã tràng, mặc dù ĐĐ51ND của Đại Úy Trương Đăng Sĩ đã lên được bờ thành, nhưng liệu hai Biệt Đội 81BCD có chịu đựng nổi hay không khi phải tam đầu thọ địch…? Nếu hướng về tường thành là mục tiêu phải đến thì bên trái được “ấm lòng” vì dựa vào TĐ5ND, bên phải bị áp lực nặng nề với quân số chênh lệch như trứng chọi đá, phía sau lưng trống trơn, trong thế gọng kìm đó chỉ có thủ cầm hơi may ra chờ tăng viện, còn công thì bất khả thi chỉ biết ngạo nghễ ca vang “trên đầu súng Bắc Quân, Ta vì tổ quốc phải quên mình”. Hơn ai hết, Tướng Dư Quốc Đống đã thấy và biết điều đó, Ông không muốn những đứa em “đứa con” của Ông bị chết một cách oan uổng để được Tổ Quốc Ghi Ơn vì sự phối hợp hành quân, hợp đồng tác chiến một cách lỏng lẻo sơ hở tắt trách của cấp trên. Do đó mới có lệnh hoán chuyển toàn bộ phía Bắc,phía Đông, phía Tây cho Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là lực lượng hùng hậu chưa sứt mẻ, quân số mỗi TĐ/TQLC trên dưới 800 người với chiến xa Tank M48 và đặc biệt được ưu thế không yểm trực tiếp cận phòng của Không Lực Hoa Kỳ. Hợp đồng tác chiến dưới quyền chỉ huy duy nhất với 3 Lữ Đoàn gồm có 9Tiểu Đoàn, 3Tiểu Đoàn Pháo Binh, 1 Thiết Đoàn Kỵ Binh…thì Thành Phố Quảng Trị đã nằm trong tay của Tướng Tư Lệnh Bùi Thế Lân rồi…?!!! Sư Đoàn Nhẩy Dù dạt qua hướng Tây Nam Thành Phố Quãng Trị nối vòng tay với Sư Đoàn 1Bộ Binh để giữ tuyến từ La Vang xuống Ba Lòng kéo dài tận phía tây Huế. Lúc nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng gọi lạ trên PRC25 tần số Lữ Đoàn:
– Út Bạch Lan…909 đây.
909 có một ám danh khác là Chương Thiện,Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh (K16ĐL TĐT/TĐ3TQLC)
– Tôi nghe 909. – Thằng con đầu của tôi sẽ gặp UBL khoảng nửa giờ sau, đón nó giùm ? – Nhận 5/5…tôi đang chờ.
Thằng con đầu của TĐ3TQLC là “thằng”…Đại Úy Nguyễn Kim Chung (ám danh C18) bạn cùng Khóa 22 Đà Lạt (K22ĐL) với tôi. Ba giờ sáng nó tới gặp tôi dưới ánh đèn pin quét qua quét lại, tôi nói với nó:”Chỗ này của tao, mày lo phối trí cho con cái nghỉ ngơi và đón Tiểu Đoàn rồi sáng nói chuyện”.
Tờ mờ sáng ngày hôm sau, ngồi trước căn nhà lá nghiêng ngả đổ nát cạnh bờ sông, phía trước là sân gạch phơi lúa với Poncho sắp thứ tự (get line) để chờ chuyển về đi phép miên viễn nơi cõi vĩnh hằng, chung quanh đâu đó bên hiên nhà, dưới gốc cây lố nhố những “cây” bông băng trắng xóa, kẻ ngồi,người nằm, vài ba “ông thần” còn tỉnh táo lần mò trong ba lô lôi ra Beret đội lên đầu, mũ đỏ Nhẩy Dù, mũ xanh lá cây Biệt Đội 81Biệt Cách Dù chen lẫn nhau trong đám mũ xanh dương Thuỷ Quân Lục Chiến vừa mới tới còn khoẻ mạnh pha cà phê, mồi thuốc lá cho hai màu mũ thương binh đang nằm ngồi la liệt…! Định mệnh cũng có những trò chơi oái oăm lạ kỳ đun đẩy tôi vào hoàn cảnh cười không ra cười, khóc không ra khóc, tôi đang làm “giám đốc” bệnh viện dã chiến kiêm luôn “giám đốc” nhà xác mà thân chủ của tôi lại là gốc gác, cội rễ xuất thân binh nghiệp của tôi “một đời binh nghiệp hai màu mũ” 81BCD và ND…!!! Với ba ca cà phê dã chiến, Thiếu Tá Cảnh mắt đang dán chặt vào phóng đồ hành quân,thằng Chung cất tiếng hỏi tôi: – Trời ơi,…sao mày vầy nè Út…”?! – Vầy nè là vầy làm sao…?
Mặt tôi râu ria xồm soàm, mắt sâu má hóp, quần áo rách bươm bê bết loang lỗ đầy vết máu sậm mầu khô, tươi còn bốc mùi ngay ngáy tanh hôi trong cơn gió nóng nhẹ thổi qua, thần khí tiêu tan, oai phong rũ liệt, chẳng có còn gì để nói, để cười, người về từ cõi chết, bây giờ đang sống ở địa ngục trần gian, chỉ cần định mệnh run rủi một quả đạn 130ly trúng ngay chỗ ngồi thì Thiên Thần Nhẩy Dù hay Lính Nhẩy Dù ngã xuống có mặt đất hướng dẫn đường lên Thiên Thai ngay…Viễn du trên thiên đường để đầu thai kiếp khác…?! Thằng Chung bật cười, cái cười đầy tự tin, nhưng có chút méo mó vì nó biết rồi chính “đương sự” sẽ cũng đi vào “con đường xưa em đi” của tôi đã đi qua, làm sao nhớ và có lối về không…? Nó tiếp tục hỏi nữa: – Tao nghe nói mày bị thương nặng, rồi bây giờ mày có sao không…?! – Có sao thì tao đâu có ngồi đây để đón mày, hay không bằng hên, đạn tránh tao chứ tao tài cán gì như Đoàn Dự mà lăng ba vi bộ để tránh được đạn chứ …? Nhưng đau ở chỗ đạn tránh tao để sơi tái thằng đứng bên cạnh mới buồn xót xa chứ…!
Thiếu Tá Cảnh hỏi tôi: – Út cho tôi biết sơ sơ tình hình trong đó ra sao? Tôi nhận lệnh vào thay thế TĐ5ND và hai biệt đội 81BCD…? – Thưa Thiếu Tá…chua và cay và cam go lắm… ! Vì phía Bắc trống trơn, nên cứ lo sợ nó chơi xả láng một cú là mình mặc quần xà lỏn sáng về sớm…!!!
Thiếu Tá Cảnh bật cười: – Tôi cũng chịu thua và sợ ông luôn, trạng huống này mà ông còn “tếu ngạo giang hồ” được…!!! Nhưng cứ yên tâm vì chúng tôi sẽ vào đó với thế liên hoàn của 3 Lữ Đoàn (LĐ147TQLC, LĐ369TQLC, LĐ258TQLC) cùng giờ phát xuất, Đông, Bắc và dần qua Tây, phía Tây thì nhẹ hơn vì có sông Thạch Hãn làm rào cản, chỉ có lo pháo từ Ái Tử thôi, còn cua (TankT54) của chúng nó, chúng tôi rang muối cũng khá nhiều rồi trên đường đổ bộ từ bờ biển đến đây. Thôi,… 9 giờ chúng tôi bắt đầu qua sông…để tôi gọi ngay cho Tố Quyên, chắc hắn mừng lắm.
TS2ND chúng tôi được lệnh di chuyển về làng Vân Xá cách Huế 10 cấy số, hai ngày sau được lệnh ra phi trường Phú Bài để lên C130 bay về hậu cứ SàiGòn nghỉ phép xả trại 100% 15 ngày, để đi hớt tóc cạo râu, thay quần áo mới, tẩm bổ với những thang thuốc “hoàn hồn linh dược”, viếng mộ, thăm thương binh, cô nhi quả phụ… Trong khi chờ máy bay ở phi trường Phú Bài thì tôi thấy “thằng” Nguyễn Kim Chung mặt mũi băng trắng kín mít với đôi mắt còn tinh ranh. Chỉ mới hai ngày trước “tôi đưa em sang sông bằng Poncho hay bập dừa” mà bây giờ nó lại lội qua sông ở “Bến Đò Đưa Xác” theo tôi ra đây cùng về và ôi …” Anh về thủ đô gò má anh băng đầy bông” ở phiá gò má bên trái của nó ăn một viên “kẹo” AK47 làm thủng “dớt” cái quai hàm máu còn thấm ướt qua lớp band gaz quấn quanh. Tôi đùa lập lại câu hỏi mà nó hỏi tôi hai ngày trước đây khi “hội ngộ” ở Bến Đò Đưa Xác: – Trời ơi sao mày vầy nè Chung…? – Vầy nè là vầy làm sao …? Mẹ…tại tao không chịu luyện nội công lăng ba vi bộ như mầy, nên bị thằng Mộ Dung Phục nó chơi một phát vào mặt, may là không bị mất mặt chỉ bể má thôi…!!!
Tôi và nó là hai thằng bạn thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt ôm nhau lăn ra đất cười ngặt nghẽo, méo mó bên cạnh một đám thương binh bốn màu mũ: Đỏ, Nâu, Xanh Lá Cây, Xanh Dương …!!! Sách Giáo Khoa Thư Tiểu Học: “thân thể người ta chia ra làm ba phần, đầu, mình và chân tay “…thì quan quân chúng tôi tay chân, đầu ngực băng bông trắng xóa, máu tươi thấm ướt “chiến bào” bao nhiêu ngày không được tắm rữa giặt giũ mùi “hương” máu còn thoang thoảng “riêng một góc trời”…!!! Nhưng ở đây nơi bình yên, tôi thấy trong ánh mắt của họ như không còn lưu lại một chút gì dù chỉ mõng mõng một tí thôi nét kinh hoàng lửa khói “thời qua” để “làm tan nát lòng nhau”, thay vào đó là niềm vui hân hoan “hôm nay đây còn vui trông thấy nhau” và rạng ngời lên một thứ tình cảm đồng đội chiến trường đã cùng vào sanh ra tử trong suốt một tháng trời lửa đạn vừa qua…!!! Họ vẫn còn sống và sắp sum họp với gia đình một thời gian dù dài hay ngắn để không còn nghe những tiếng gào thét tử thần của bom đạn, lửa khói bất chợt phủ chụp lên đầu và nín thở lắng nghe, chong mắt trong đêm đen dõi theo những tràng đại pháo của Bắc Quân cày sới mặt đất, hất tung những bạn đồng đội lên cao, rớt xuống rồi nằm im bất động. Họ sẽ hưởng được những ngày dưỡng thương, nghỉ phép trong an bình với gia đình vợ con… !!! Tôi chợt nghĩ đến những cán binh Bắc Quân “sinh Bắc tử Nam” tuổi đời còn non dại, bị bắt buộc hay bị khích động bởi những giáo điều láo lếu của Mao – Hồ rồi bị đưa đẩy vào chiến trường khốc liệt miền Nam như con thiêu thân lao vào ánh đèn sáng nóng 1000 watt, để rồi ngã gục, thịt nát, xương tan trên con đường đi không đến và chẳng có nẻo về…! Họ có cùng máu đỏ như tôi, da vàng mũi tẹt, cùng Lịch Sử một Mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm con nên gọi nhau là “Đồng Bào”, cùng sinh trưởng trên mảnh giang sơn hình cong chữ S này… rồi truy tìm bắn giết lẫn nhau có gì vui làm hạnh phúc…?
Đơn vị về đến hậu cứ, tôi giao hết cho Trung Úy Tài chỉ huy hậu cứ lo hết mọi thủ tục như sau mỗi cuộc hành quân, tôi vội vã ký giấy phép cho tất cả quân nhân trong đơn vị ngoại trừ nhân viên hậu cứ, nói với Hạ Sĩ Quan kế toán và tiếp liệu xoay sở tiền nong ứng trước cho mỗi người 10 ngàn để làm lộ phí về thăm gia đình, thăm cô nhi quả phụ rồi chờ tôi trở về cùng nhau ra Nghĩa Trang Quân Đội viếng mộ Tử Sĩ, thắp nén nhang cầu siêu hương linh quí Anh – Em là Hồn Thiêng Sông Núi hiển linh và siêu linh nơi cõi an lạc hạnh phúc…!!!
Máu đã từ chối không chảy về tim nữa Thì thôi anh tìm một chỗ để yên nằm (The soldiers never die, they just fade away)
Sau 15 ngày phép qua đi như một cơn gió thoảng, bây giờ nào là vợ con, thân nhân, bằng hữu…quyến luyến giữ chân muốn không rời xa ! Một ngày đêm trong vùng địch dài như bách nhật, 15 ngày phép với thân tình ngắn ngủi như chạy nước rút 100 mét ở thao trường. Trở ra vùng hành quân, TS2ND được lệnh tăng phái cho LĐIND làm lá bùa trấn yểm Thôn Như Lệ Tích Tường với TĐ1ND, sau đó tăng cường cho TĐ8ND lên Động Ông Đô, Đồi Gió Hú, tương đối dễ thở hơn Trí Bửu, Hạnh Hoa Thôn, bởi lẽ tất cả nỗ lực của hai bên đều dồn vào Quãng Trị để rút lá bài cuối cùng trên cái bàn thương thuyết bốn bên hình ôn hoàng hột vịt lộn ở Paris ! Đầu tháng 9 năm 1972 TQLC đã kiểm soát hoàn toàn thị xã Quãng Trị, chỉ còn cái nhân bánh chưng Cổ Thành ngày giờ cắm cờ đếm trên đầu ngón tay, Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh TQLC có thể khui sâm banh ăn mừng được rồi. Ngày 16 tháng 9 năm 1972: “cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…cờ bay…” do Đại Úy Giang Văn Nhân (K22VBĐL) thuộc TĐ3TQLC cắm trên một điểm cao nhất trong nội vi Cổ Thành, điểm cao nhất trên một đống gạch vụn, bởi thành phố giờ thành bình địa, không còn một ngọn cây, một nóc nhà nào nguyên vẹn, từ Trí Bửu có thể nhìn thấy dòng sông Thạch Hãn không cần phải leo lên cao, và từ Hạnh Hoa Thôn có thể thấy tháp chuông nhà thờ La Vang khi đi bộ trên đường Duy Tân vừa chiếm lại đêm qua bằng Máu! Máu của ai? Máu của cả hai bên Nam Quân và Bắc Quân, máu vương vãi khắp thôn làng thị trấn, ai có thể lấy thước đo bề dầy của máu đã đổ xuống thấm vào từng thớ đất quê hương à …ơi…”quê tôi nghèo lắm ai ơi, mùa Đông thiếu áo Hè thời thiếu ăn” này…! Để những lãnh tụ, lãnh đạo ngồi ở phủ, ở huyện và cả cái mảnh giấy “lộn” khốn nạn gọi là “Hiệp Định Paris” tháng giêng 1973 chỉ là thành quả, hệ quả đẩy đưa dìm chết toàn thể Quân – Dân miền Nam vào địa ngục dưới bàn tay cai trị ngu xuẩn và trả thù tàn bạo của tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt và đây là lời nói uẩn lương của cố Tổng Thống Ronald W. Reagan Mỹ Quốc:”Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau”.
Trước khi TQLC vẻ vang dựng lên lá cờ vàng ba sọc đỏ, thì ai đã trãi bao nhiêu xương máu lót đường…? đã có biết bao nhiêu thân xác Quân Dân Cán Chính vùng địa đầu giới tuyến ngã xuống chôn bờ, lấp bụi, lớp nhựa đường “Đại Lộ Kinh Hoàng” đã được phủ thêm độ dầy bằng lớp da thịt mỡ người chết phân huỷ dính khằn hong dưới trời nắng quái và mùa gió khô hóc quắc queo thổi qua, đâu đấy còn lặt lìa tử thi quân nhân vương vít đong đưa vạt áo trận trên quân xa hư hỏng vì đạn đạo pháo Bắc Quân…!!! Ôi,… tang thương ngất trời và tôi biết chắc chắn trong niềm hân hoan đại quân Thuỷ Quân Lục Chiến kéo vào Quãng Trị chiến đấu đem chiến thắng về cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã có Máu của chính đồng đội Thuỷ Quân Lục Chiến, Nhẩy Dù, Biệt Cách Dù, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Không Quân, Hải Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, Cảnh Sát, An Ninh và cả quân xâm lăng Bắc Việt đã đỗ xuống thấm sâu vào lòng Đất Nước Việt thân yêu làm nên mầu mỡ cho mai hậu chăng?.
Chỉ có máu mồ hôi và nước mắt Nhỏ xuống thấm lòng đất tổ quê cha Tôi và Anh ai bảo vệ sơn hà? Ai hại nước, lừa ai mà vẽ mặt …?
Chiến thắng hay chiến bại đều phải trả một cái giá của nó. Sau Kontum Kiêu Hùng, Bình Long Anh Dũng, Quảng Trị Vùng lên…không biết các vị Tướng Tư Lệnh “khạc ra lửa, mữa ra khói”có ngồi độc ẩm Bồ Đào Mỹ Tửu Dạ Quang Bôi để nhớ câu “Cổ Lai Chinh Chiến Kỷ Nhân Hồi” ? Sau năm 1975, không biết các Tướng hai sao, ba sao và ba xạo của Bắc Quân vốn trở thành quán tính quen ngồi xổm ở cánh đồng Nông Cống ngập nước, hay khệnh khạng vung vít thế tiểu nhân đắc chí tự cười vang hô hố để quên câu:”Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô”…?! Vì theo tài liệu đã được phổ biến từ những xung đột nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam phía “Bên Thắng Cuộc” đã tiết lộ: Chính Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã cho Tướng Văn Tiến Dũng lên thay Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy Chiến Dịch Xuân Hè 1972 vì chính Võ Nguyên Giáp đã khuyến cáo Chính Trị Bộ không nên tiến đánh Nam Việt Nam vào năm 1972 vì Quân Lực Miền Nam rất mạnh. Đúng như Giáp đã nhận định và kêu than sau thất bại Chiến Dịch Hè Xuân 1972 rẳng:” hơn 10 000 (mười ngàn) bộ đội ta đã bị chết ở Mặt Trận Trị Thiên không có được mấy ai trở về …”! Đêm đã khuya, người người an giấc, còn ta Viết như nhắn gởi với mười phương bằng hữu Huynh Đệ Chi Binh thân tình rằng ta nhớ lắm và mơ một ngày về…?
Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi Các anh đi, đến bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông Các anh về, mái ấm nhà êm Câu hát tiếng cười rộn ràng trong xóm nhỏ Các anh về, tưng bừng trước ngõ Xóm làng tôi còn nhớ mãi Hỡi đoàn người trai trẻ đấu tranh Các anh đi, đến bao giờ trở lại Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ trông… (Các Anh Đi – Văn Phụng)
Nhưng cuộc chiến nầy vẫn chưa kết thúc ! Chúng ta, những người bị gọi là chiến bại vẫn còn cơ hội để giành lại đất nước. Thua một trận chiến (a battle) không có nghĩa là thua một cuộc chiến (a war). Điều kiện tiên quyết để thắng kẻ thù Cộng Sản Bắc Việt là chúng ta phải có quyết tâm tranh đấu và học hỏi, để tích cực tham gia thực hành. Quyết tâm sống và bảo vệ những điều mình yêu, tin và lý tưởng. Phải thắng chính bản thân trước khi thắng kẻ thù. Phương thức để chiến thắng Cộng Sản là: Chúng Ta không được hèn ngu, tất là phải có sự hiểu biết tròn đầy viên mãn về mọi mặt, phải có hệ thống tư tưởng làm căn bản cho sự nhận định, thông suốt đại biện chứng thế giới,phải có ý thức hệ, chủ thuyết giải quyết được vấn đề một cách triệt để, toàn diện và hướng thượng. Không được hèn, tất phải có lòng can đảm hơn người, đại đởm, không quản ngại gian nan khổ cực, quyết tâm là dám chết để tìm đường sống (kinh nghiệm trong trận chiến Quãng Trị). Nhưng không phải là liều lĩnh, vọng động quờ quạng, lấy sự can đảm mà thi hành theo sách lược bỡi hiểu biết Chu Tri cao hơn và đẹp hơn phù hợp với Nhân Bản, phát huy được Nhân Tính để đạt tới mức Nhân Chủ như một lý tưởng vươn tới tất yếu của loài Người. Chúng tôi tin rằng trước thời thế nầy, hầu hết người Dân Việt chúng ta ở trong cũng như định cư ở các quốc gia Tự Do – Dân Chủ trên thế giới trong đáy lòng ưu tư đến Dân Tộc – Đất Nước đều có cảm giác sâu sắc là chúng ta cần phải mạnh dạn hành động quyết liệt để đánh đỗ, tháo cởi gông cùm, xích xiềng do đảng Cộng Sản ngu dốt, tàn hại áp đặt cho Dân Ta ? Nhẩy Dù cố gắng.
. Mũ Đỏ Trương Văn Út (Útbạchlan): Viết và tham khảo với cựu Trung Tá Bùi Quyền (Tố Quyên) Thủ Khoa Khóa 16 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù hiện đang cư ngụ tại San Jose, California USA. Houston Ngày 28 Tháng 2 Năm 2016
Ngày 7-4-72 tình hình trở nên khẩn trương. Việt Cộng vẫn pháo kích đều đều vào tỉnh lỵ. Nhất là vào phi trường, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 và Trung Tâm Quản Trị Tiếp Vận Bình Long.
Tin tức báo cáo về cho biết Việt Cộng đã tràn ngập Chi Khu Lộc Ninh. Một quận ở phía Tây Bắc tỉnh Bình Long, sát biên giới Việt Miên và cách An Lộc chừng 25 cây số. Nghe nói một phần Bộ Chi Huy Trung Đoàn 9 bị bắt.
Thiết Đoàn 1 bị đánh úp, tan nát chỉ còn hai chiếc Thiết Vận Xa cố lết về An Lộc. Một chiếc hư đành nằm lại dọc đường và bị B40 bắn cháy cùng với một số thương binh nằm trong. Tôi đã thấy chiếc còn lại về tới An Lộc, bùn đất bê bết trông thật thê thảm.
Mấy ngày trước, các bệnh nhân từ Quản Lợi ra báo cho tôi biết Việt Cộng về đầy dẫy chung quanh đồn điền, đào hầm hố, công sự chiến đấu một cách công khai. Tôi có cho Thiếu tá Diệm biết và hỏi tại sao mình không có phản ứng nào hay mình không biết. Tin tức tình báo của mình đâu? Tại sao mình không cho máy bay dội bom xuống hay ít ra cũng pháo kích cho địch quân không có cơ hội sửa soạn chiến trường được. Ông Diệm không có câu trả lời. Bây giờ đến lượt Quản Lợi bị chiếm. Các tiền đồn dọc theo Quốc lộ 13 rút dần về phía tỉnh lỵ. An Lộc đã bị bao vây và cô lập. Những tin tức bất lợi dồn dập tới làm mọi người lo lắng xôn xao. Một số nhân viên ờ nhà thương đều có bà con thân thuộc ở Lộc Ninh. Họ không còn tinh thần làm việc nữa. Điều này không đáng trách.
Tôi gặp bà Tư đứng khóc một mình trong phòng mổ. Bà đã khá đứng tuổi. Tôi không biết tuổi thật của bà bao nhiêu nhưng chắc khoảng 50 tuổi. Bà là y công phòng mổ, dáng người gầy gò nhưng vẫn còn mạnh khỏe lắm. Tên thật của bà là Khánh.
Bà có một hàm răng mái hiên rất rõ ràng. Có lần tôi nói đùa với bà rằng nếu trời mưa ai đi với bà chắc chắn không sợ ướt. Bà chỉ cười không tỏ vẻ gì phật ý cả. Ở trại Sản Khoa của cô Đào cũng có một bà y công gốc Bắc Kỳ nữa tên là bà Đề. Một hôm trời mưa, tôi khám bệnh ở trại Sản Khoa xong ngồi lại nói chuyện với cô Đào, có cả bà Khánh, bà Đề. Tôi đọc trẹo một câu ca dao là: “Trời mưa thì mặc trời mưa, tôi không có nón trời đưa tôi về, trời đưa tới nhà bà Đề, trời bỏ tôi đó, tôi về mặc tôi”, làm cho bà Khánh, bà Đề cười sặc sụa. Tôi thấy những người đó rất chất phác và dễ cười thật.
Tôi tuy ít nói cười, thỉnh thoảng cũng hay nói chuyện khôi hài một chút nhưng luôn luôn có một niềm kính trọng người khác, không cậy thế, cậy thần, kiểu dưới mắt không người, nên tôi cũng được người ta quý trọng lại. Đặc biệt là đối với nhân viên dưới quyền, tôi rất tử tế và sẵn sàng giúp đỡ họ khi cần.
Bà Tư rất quý mến chúng tôi, coi như những người thân trong gia đình, đặc biệt là tôi, cũng người miền Bắc như bà. Mặc dù bà đã lập nghiệp ở đây từ mấy chục năm rồi. Tôi hỏi giọng nhẹ nhàng:
– Có chuyện gì vậy bà Tư?
– Con tôi chắc chết mất bác sĩ ơi! – Bà vừa mếu máo vừa trả lời.
– Nó ở đâu? Bị bệnh hay sao?
– Không ạ. Bà Tư vừa lau nước mắt trả lời. Cháu nó đi lính ở Lộc Ninh, Việt Cộng chiếm quận đó rồi thì nó còn sống làm sao được.
Những giọt nước mắt của người mẹ già khóc cho đứa con trai làm tôi xúc động. Tôi nghĩ tới mẹ tôi, giờ này ở Sài Gòn, chắc mẹ tôi nóng ruột và lo lắng cho tôi nhiều lắm. Tôi là con trai độc nhất, mẹ tôi đã ở vậy nuôi anh em chúng tôi từ khi thầy tôi mất, lúc bà mới 26 tuổi. Tới bây giờ tôi vẫn chưa giúp đỡ được gì cho gia đình cả. Mọi việc đều trông mong vào sự đảm đang của các cô em gái.
Hồi đầu năm về thăm nhà, mẹ tôi ân cần dặn dò:
– Này, năm nay con phải cẩn thận. Hạn sao Thái Bạch không phải tầm thường đâu.
Tuổi tôi năm nay 30 nhưng tính theo tuổi ta thì 31. Theo mấy ông thầy tử vi, đó là năm xui xẻo lắm. Tháng nào mẹ tôi cũng cúng sao giải hạn cho tôi. Tôi cũng tin là năm nay tôi gặp nhiều điều nguy hiểm nên tôi thầm mong lòng thành của mẹ tôi sẽ xui khiến tôi tránh được những rủi ro nếu có. Tôi biết rằng nếu tôi có mệnh hệ nào, mẹ tôi và các em tôi sẽ đau khổ vô cùng. Tôi là cột trụ, là niềm hy vọng của gia đình, tôi phải biết bảo trọng lấy thân. Các em tôi thường nhắc nhở:
– Anh ở trên ấy đừng đi chơi xa, Việt Cộng đầy dẫy, nguy hiểm lắm. Má và các em ở nhà lo lắng cho anh nhiều. Hôm nọ má đi xem bói, ông thầy mù nói hãy lưu ý đến đứa con tuổi Ngọ, vận hạn nặng lắm.
Tôi ngắt lời:
– Anh biết rồi, anh làm không hết việc, thì giờ đâu đi chơi xa.
Là con trai độc nhất, tôi nhận được nhiều tình thương của mẹ, lòng yêu kính của các em. Tuy nhiên vì vậy nhiều khi tôi không dám làm những việc theo ý mình. Tôi thích phiêu lưu, muốn có nhiều kinh nghiệm sống. Khi mới ra trường, tôi tính chọn vào một đơn vị Tổng Trừ Bị để có thể đặt chân trên khắp nẻo đường đất nước, để được mở rộng tầm mắt nhìn đối với quê hương. Nhưng nghĩ đến gia đình, tôi đành phải dẹp những ý định đó và cho đến bây giờ tôi vẫn quanh quẩn ở Vùng III Chiến Thuật, để khi cần chỉ trong vòng một hay hai giờ, tôi có thể có mặt ở nhà.
Vì có tâm sự như vậy, nên tôi rất thông cảm hoàn cảnh của bà Tư. Tôi kinh sợ cái cảnh tre già khóc măng. Không biết nói gì hơn, tôi chỉ an ủi bà:
– Thôi bà đừng khóc nữa, sống chết có số mạng cả. Bà ăn ở hiền lành chắc cháu nó cũng không sao đâu. Bà lo phiền, hại cho sức khỏe.
Bà Tư đáp:
– Cảm ơn bác sĩ, chắc tôi phải xin nghỉ. Nghe tin đó, chân tay tôi rời rã không còn làm việc được gì nữa.
– Được rồi, nếu bà thấy khó ở, cứ xin nghỉ vài hôm cho khỏe.
Tôi từ giã bà Tư đi ra Phòng Cứu cấp. Tôi thấy cô Cúc gương mặt buồn rầu, cặp mắt đỏ hoe ngồi thu người trên chiếc divan. Khác với ngày thường cô là người ham hoạt động và hay nói chuyện huyên thuyên rất vui vẻ. Tôi thường lưu ý tới đời sống nhân viên, sẵn sàng giúp đỡ họ nếu họ có gặp điều gì khó khăn. Một vài người kêu tôi là “bác sĩ nhà mình”. Danh từ đó nói lên tình thân giữa tôi và họ. Tôi hỏi cô Cúc:
– Có ai trêu chọc cô hả?
Cúc lắc đầu đáp:
– Nghe tin Lộc Ninh mất, em lo cho ba má em với thằng em trai của em đi lính trên đó. Ba má em già rồi, em còn mỗi thằng em trai, nó mà chết, chắc em sống không nổi.
– Năm nay nó bao nhiêu tuổi?
– Dạ, 17 tuổi.
– Nhỏ vậy chắc địch không thèm giết đâu, cùng lắm là bị bắt mà thôi. Nhưng tôi tin thế nào nó cũng trốn về được.
Những lời an ủi của tôi không làm vơi được nỗi buồn của cô. Sức làm việc của cô kém hẳn đi. Cô không còn tâm trí đâu để làm việc nữa. Thường cô và người em gái nhỏ chừng 12 tuổi rút vào phòng riêng khóc với nhau. Tôi thông cảm nỗi buồn của cô và để cô được tự nhiên.
Trước đây, cô Cúc thuê nhà ở ngoài phố nhưng từ khi có những cuộc pháo kích, cô và mấy y tá khác đã xin phép dọn vào văn phòng của phái đoàn Milphap ở vì nhân viên đoàn này đã không có mặt ở đây. Họ đã rút đi đâu mất tiêu từ khi Bác sĩ Risch đi nghỉ phép. Tôi rất vui lòng khi thấy họ ở đó vì chắc chắn lúc nào tôi cũng có nhân viên giúp việc, rất tiện cho tôi và cho bệnh viện và khỏi sợ họ trốn luôn ở nhà.
Bốn hôm sau khi tôi nói chuyện với cô Cúc, đi ngang qua chỗ cô ở, tôi ngạc nhiên lại nghe thấy tiếng cười vui vẻ rộn rã của cô. Tôi vội bước vào phòng hỏi:
– Có chuyện gì mà cô Cúc vui vậy?
Cúc mỉm cười quay sang bên trái, đưa ngón tay chỉ cho tôi một thiếu niên trong bộ đồ nhà binh nét mặt còn non choẹt nói:
– Bác sĩ, em trai em nó trốn về được rồi.
Tôi mừng rỡ:
– Vậy hả? Nó tên gì? về từ hồi nào?
– Nó tên Nhâm. Nó về đây từ chiều hôm qua.
– Giỏi quá, vậy mà cô không cho tôi biết để tôi mừng với.
Quay sang Nhâm tôi hỏi:
– Em đi bằng cách nào mà hay vậy?
– Em đi bộ từ Lộc Ninh xuống đây, – Nhâm rụt rè trả lời –, em đi cùng với mấy người bạn. Ban ngày thì trốn trong rừng, đêm đến mới dám lần mò tìm đường đi xuống đây.
– Đi như vậy có gặp Việt Cộng không?
– Dạ không, gặp thì nó đã bắt lại rồi. Tụi em biết lối đi, tránh né hết. Tụi em chỉ sợ Pháo Binh mình hoặc máy bay trông thấy tưởng là Việt Cộng bắn lầm. Về đến đây, gặp mấy anh Biệt Động Quân dơ súng định bắn. Tụi em phải dơ tay hàng, xuất trình giấy tờ nói là lính Nghĩa Quân trốn thoát từ Lộc Ninh về. Họ giữ lại điều tra kỹ càng rồi mới cho đi.
– Này, cô Cúc, thế là cô toại nguyện rồi nhé. Tôi nói đâu có sai. Em cô đã trốn về được rồi vậy cô phải làm việc thật hăng vào nghe không?
Cúc cười thật tươi đáp: – Dạ, em của em sống sót trở về. Bây giờ em có phải làm gấp đôi gấp ba em cũng vui lòng.
Bẩy giờ sáng, tôi thức dậy. Suốt đêm qua yên tĩnh, tôi đã ngủ một giấc thật ngon. Tôi thay quần áo ra khỏi phòng đi lên Phòng Hậu Giải Phẫu, gặp cô Trí đang đo nhiệt độ cho bệnh nhân. Tôi hỏi:
– Đêm qua có gì lạ không cô?
– Dạ thưa không, các bệnh nhân đều ngủ yên cả, chỉ có người bệnh bị gẫy tay mà bác sĩ mới nối động mạch hồi chiều kêu đau, em có chích một mũi Demerol. Ông ta nằm ngủ tới tận bây giờ mới thức.
Tôi hài lòng chào cô rồi đi bộ về nhà rửa mặt và sửa soạn ăn sáng.
Tháng Tư trời sáng rất sớm. Ánh sáng trắng không vẩn một chút sương mù. Những dẫy đồi và rừng cao su phía xa hiện ra những nét rõ ràng. Khu chợ mới ngay dưới chân đồi bệnh viện đã nhộn nhịp những người. Khí trời cao nguyên vào buổi sáng vừa trong và mát lạnh. Tôi hít thở một cách khoan khoái.
Tôi nhớ mãi những sáng mùa đông vừa qua, hẹn đánh tennis với bác sĩ Edward D. Risch, một bác sĩ Hoa kỳ trưởng phái đoàn Milphap 10 cùng làm chung với tôi về ngoại khoa. Khi đó bầu trời âm u, mây mù dầy nặng, chúng tôi phải chờ tới 7 giờ rưỡi mới đủ sáng để có thể trông thấy trái banh. Khi ra sân, chúng tôi phải hâm nóng người bằng cách làm những động tác thể dục tại chỗ hoặc chạy vòng quanh sân. Nếu không, nhiệt độ buổi sáng khá lạnh đến cóng cả tay.
Bây giờ là mùa Hạ, mới 6 giờ trời đã sáng tỏ rồi. Nhưng bác sĩ Risch đã đi nghỉ phép và trong tình hình này, chưa chắc đã trở về được. Nếu có bác sĩ Risch thì tôi cũng đỡ được một tay. Nhưng với tình trạng nguy hiểm như bây giờ, tôi thực không muốn ông ta có mặt. Tôi chịu nguy hiểm thì được vì đây là đất nước của tôi. Nếu có chuyện gì không may xẩy ra, tôi cũng gọi là đền nợ nước, còn bác sĩ Risch, người ngoại quốc không dính dáng gì tới nước tôi cả nên rất vô lý nếu ông ta phải nằm xuống ở nơi đây. Chính vì thế tôi mừng thấy ông đi nghỉ mát, tránh được những hiểm nguy ở trận chiến này.
Tôi về tới nhà, anh Châu đang hâm lại nồi cháo đậu đen cho tôi. Một năm nay, từ ngày tới Bình Long, tôi chỉ ăn sáng bằng cháo đậu đen với đường. Ăn như vậy vừa bổ, vừa no, rẻ, lại hợp vệ sinh. Tôi không thích đi ăn tiệm, đã mất thì giờ lại chắc chắn không được sạch sẽ bằng ở nhà.
Sau bữa cơm trưa, anh Châu bắc nồi cháo lên đun sôi trong một giờ cho đậu thật nhừ. Sáng hôm sau anh chỉ hâm nóng lại là tôi có ngay một bữa ăn sáng ngon lành giản dị rất hợp khẩu vị của tôi.
Ăn xong, tôi đi bộ ra phòng khám bệnh của tôi ở đường Nguyễn Huệ, cách nhà tôi chừng 300 thước. Tôi mới dọn lại đây được năm ngày. Cũng nhờ Thiếu tá Diệm cho thợ tới sửa sang giùm nên phòng mạch rất khang trang rộng rãi. Phòng mạch trước của tôi ở chợ cũ, chật hẹp hơn phòng mới nhiều, lại rất bất tiện vì người chủ vẫn ở phía sau. Khi tôi về nhà, con cái họ vào phòng mạch nghịch ngợm, không còn gì là riêng tư nữa.
Do đó tôi quyết định đi thuê chỗ khác, hơi đắt tiền hơn một chút nhưng thoải mái hơn, không ai dòm ngó. Tôi đã phải trả trước sáu tháng tiền nhà, mất 42 ngàn. Nhà rộng 6 mét, sâu 15 mét, có khá đủ tiện nghi. Bà dược sĩ tiệm thuốc Tây An Lộc khuyên tôi đừng thuê chỗ này vì con đường có vẻ chạy thẳng vào nhà lại ở dưới dốc nữa. Tôi cũng biết vậy nhưng quanh đây không có nhà nào cho thuê nên tôi thử làm đại xem sao. Tuy dọn sang chỗ mới nhưng không xa chỗ cũ bao nhiêu nên mọi người đều tìm đến dễ dàng. Công việc làm ăn tiến triển rất tốt, dù chỉ mới có mấy ngày thôi.
Khi tôi đến nơi, cô Liên, cô y tá riêng của tôi đang thu dọn quét sạch nhà. Cô tươi cười chào tôi và tiếp tục làm việc. Cô chăm chỉ và chịu khó, lúc nào cũng vui vẻ nhanh nhẹn. Tôi biết cô là con gái lớn trong một gia đình đông con nên cô quen quán xuyến mọi việc. Cô tiếp khách rất tự nhiên và dịu dàng. Cô là một trong 10 người được Ty Y Tế Tiểu Khu chọn cho thụ huấn một khóa y tá để sau này làm việc cho Y Tế Cộng Đồng. Cô vào khoảng 18 tuổi thôi. Khi cô tới bệnh viện thực tập, cô có dịp làm việc dưới sự chỉ dẫn của tôi ở Phòng Ngoại Chẩn. Tôi biết cô có thể là người phụ tá tốt, vì vậy khi tôi quyết định mở phòng mạch tư, tôi mời cô làm việc. Cô đã vui vẻ nhận lời.
Sau khi khám xong người bệnh đầu tiên, tôi đứng lên ra tiễn người khách quen. Vừa quay trở vào thì một tiếng nổ vang lên ở phía phi trường, rồi liên tiếp ba tiếng nữa nổ rải rác trong thành phố. Ở sân sau của phòng mạch có một cái hầm chìm do chủ nhà đã xây từ lâu trông rất kiên cố, an toàn. Tôi bảo cô Liên:
– Cô xuống hầm đi
– Dạ để khi nào nó pháo gần gần em mới xuống. Hầm này bỏ hoang lâu ngày sợ có rắn rết, chuột bọ bên trong, mà em sợ chuột lắm. – Cô ngần ngừ nói như vậy.
Tôi cũng không muốn xuống hầm vội, vì đạn còn xa chỗ tôi lắm. Nếu nó pháo bừa bãi thế này chắc chắn sẽ có người bị thương, và như vậy tôi sẽ phải về ngay bệnh viện. Quả nhiên 5 phút sau, xe Hồng Thập Tự đến đón tôi thắng ngay trước cửa. Tôi dặn cô Liên:
– Thôi cô khóa cửa rồi mau mau về nhà đi. Về nhà dù sao cũng an toàn và yên trí hơn.
Tôi bước vào ngồi trên ghế xe hỏi tài xế Mệnh:
– Có người bị thương hả?
– Vâng có hai người Thượng.
– Bị nặng hay nhẹ?
– Dạ thưa một người bị ở đùi, một bị ở bụng.
Tôi lặng thinh không nói gì. Xe về tới bệnh viện, rẽ vào đậu trước Phòng Cấp Cứu. Mấy người Thượng cởi trần, đóng khố, thân hình đen sạm, đúng lố nhố ở cửa phòng. Tôi lách mình tiến vào. Tôi ngửi thấy mùi máu tanh pha lẫn mùi mồ hôi khét nặng, mùi thuốc lá rê tạo thành một thứ mùi rất khó chịu.
Một người đàn bà Thượng già, chỉ mặc một cái xà-rông đen viền chỉ ngũ sắc, vú để dài lòng thòng đang đứng khóc cạnh một người đàn ông Thượng được đặt nằm trên bàn khám bệnh. Một người đàn bà Thượng nằm trên chiếc divan, chân trái của bà ta đã được bó im bằng hai cành cây cao su. Dưới sàn nhà tôi còn thấy để chiếc cáng dã chiến bằng một chiếc xà-rông buộc hai đầu vào một cây gậy dài làm võng khiêng.
Tôi khám người đàn ông trước. Y chừng 30 tuổi, có vẻ bị thương nặng.
Tôi thấy hắn ói đầy ra sàn nhà. Khóe miệng còn dính dãi nhớt với cơm. Anh ta cởi trần mặc quần đùi. Tôi kêu y tá cắt băng quấn quanh bụng. Một vết thương nhỏ chừng lcm ở dưới sườn phải vẫn còn rỉ máu. Tôi ấn tay xuống bụng thấy bụng hơi cứng. Bệnh nhân nhăn mặt kêu đau và gạt tay tôi ra.
Người đàn bà Thượng già cầm lấy tay tôi kêu xin:
– Bác sĩ cứu con tôi. Trước kia nó đã bị thương một lần rồi, vợ nó cũng bị thương nữa.
Giọng của bà ngang ngang lớ lớ, nhưng tôi nghe hiểu rất rõ.
Tôi gật đầu không nói gì, dùng ống nghe khám kỹ phổi, thấy bình thường.
Tôi kêu y tá Trọng, một nam y tá thuộc Dân Y chứ không phải Quân Y.
– Anh cho truyền nước Ringer’s lactate, thử máu chụp hình phổi, hình bụng rồi cho lên phòng mổ ngay.
Trọng dạ nhỏ, rồi đưa tôi ký mấy giấy tờ cần thiết. Tôi tới khám người đàn bà Thượng nằm trên divan. Các băng và nẹp cây đã đượcTrung sĩ Tiếng cắt bỏ đi để lộ ra một vết thương xuyên qua đùi trái, ở phía trên đầu gối chừng 20 phân. Trông người bệnh có vẻ bình tĩnh và không có dấu hiệu bị kích xúc nào cả. Tôi bắt mạch cổ chân. Mạch nhẩy tốt. Tôi khám xương đùi thấy không gẫy. Thật là may mắn.
Tôi kêu Trọng:
– Anh chích SAT và PNC rồi cho ngay lên Phòng Mổ. Tôi mổ sạch bà này trước trong khi chờ đợi chụp hình bệnh nhân bị vết thương bụng.
Tôi đảo qua về phòng thay áo. Khi tôi lên tới Phòng Mổ thì bệnh nhân đã được để nằm chờ trên bàn. Tôi nói với cô Lâm:
– Sửa soạn dụng cụ để tôi làm ngay bà này thật nhanh còn dành thì giờ mổ bụng nữa. Anh Xòm lấy Lidocain đi.
Cô Lâm đi lấy cho tôi bộ suture set nhỏ. Tôi đeo găng tay. Trong khi anh Xòm rửa sạch vết thương bằng Phisohex. Tôi trải khăn bao phủ vết thương xong, sửa soạn chích thuốc tê, lấy kéo cắt bỏ những phần thịt hư nát, mổ sạch rồi bơm rửa vết thương bằng nước hấp pha với nước Oxygene và Phisohex. Tôi để hở vết thương không khâu, thoa thuốc Furaeine lên rồi băng lại. Mười phút sau mọi việc xong hết tôi kêu:
– Cô Lâm, cho gọi chị Huyên mang băng-ca chuyển người này xuống trại Ngoại Khoa ngay.
Sau khi chuyển bệnh đi chúng tôi hối hả giúp nhau dọn dẹp phòng cho sạch.
Chúng tôi trải khăn mới lên bàn mổ vừa xong thì mấy người y tá đẩy người bị thương bụng vào. Tôi nhìn anh Sáu Xòm:
– Ca này anh đánh thuốc mê nghe, khỏi cần gọi cô Đào, có Thiện nó giúp một tay.
Rồi tôi quay sang chị Huyên:
– Chị đi kêu cô Bích giùm tôi.
Tôi cầm hai khung phim ướt treo lên Negatoscope. Một mảnh đạn hình tam giác to bằng đầu ngón tay út còn nằm trong bụng phía phải xương sống. Tôi đi rửa tay. Mười lăm phút sau chúng tôi sửa soạn đâu vào đấy. Tôi đứng bên bàn mổ. Cô Bích đứng trước mặt là người phụ mổ chính. Cô Thìn đứng cạnh cô Bích làm nhân viên dụng cụ, có nhiệm vụ đưa cho tôi những dụng cụ tôi cần và xỏ chỉ để tôi may vết thương.
Cô Thìn dáng người khỏe mạnh, nhưng không được cao lắm. Cô với cô Cúc tranh chức vô địch lùn ở nhà thương. Cô ăn nói lễ phép và dịu dàng, khi cô nói đầu cô hay nghiêng qua nghiêng lại, ánh mắt linh động, và lúc nào cũng tươi cười. Tôi bảo cô trông giống như con chim sẻ. Thường những khi phụ mổ với tôi, cô phải dùng một bục gỗ kê lên để đứng cho vừa tầm tay. Trong bệnh viện có tiếng xầm xì đồn rằng ông Đắc già là “Sugar Daddy” của cô, vì thấy hai người thường đi chung với nhau và nói chuyện có vẻ thân mật lắm. Tôi không tin như vậy. Có thể họ có bà con với nhau, chắc chắn không có chuyện gì khuất tất xẩy ra. Tôi chỉ tin khi nào có bằng cớ hẳn hoi, còn những tin đồn nhảm tôi thường để ngoài tai. Tôi cũng không có thì giờ để tìm hiểu chuyện của người khác.
Tôi hỏi anh Xòm:
– Mổ được chưa anh Sáu?
– Thưa bác sĩ mổ được rồi ạ.
Tôi cầm con dao mổ, vẽ trước một đường trên da giữa bụng, tới rốn, vòng qua phía trái của rốn rồi lại đi thẳng xuống. Mặc dầu mổ đã nhiều lần, tôi vẫn không bỏ thói quen đó, nó giúp tôi mở rất chính xác giữa hai bắp thịt bụng, và như vậy ít chảy máu hơn. Có lần tôi nói đùa:“Mọi người coi, quanh năm suốt tháng tôi vẽ mãi hình này mà vẫn chưa xong” khiến cả toán giải phẫu đều cười.
Tôi lấy kéo cắt màng bao cơ giữa hai bắp thịt bụng và phúc mạc. Ruột phồng lên, máu bầm trào ra cùng với chất nước trong ruột non xanh như rau bị nghiền nát. Tôi không ngửi thấy mùi hôi. Chắc không có vết thương ruột già. Kinh nghiệm cho thấy rằng bị thủng ruột già, khi mổ bụng ra lập tức ngửi thấy mùi hôi ngay. Tôi lấy máy hút sạch máu rồi dùng khăn thấm sạch ruột non. Tôi tìm thấy bốn lỗ thủng ở ruột non. Ruột già và các cơ quan khác đều không có gì lạ.
Tôi sửa soạn khâu lỗ thủng đầu tiên. Vừa khâu được một mũi, tôi nghe một tiếng hú của hỏa tiễn rít ngang trời. Mọi người đều ngừng tay đưa mắt lo lắng nhìn nhau. Qua mảnh kính vỡ của cửa sổ phòng mổ, tôi nhìn thấy một cột bụi nâu đen bốc lên ở vòng rào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 cách bệnh viện chừng 100 thước. Bệnh viện và Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn 5 nằm gần nhau tạo thành một góc 90 độ. Mấy ngày nay chắc địch quân bắn điều chỉnh để sửa soạn pháo kích sư đoàn nên nhà thương bị vạ lây.
Tôi kêu Thượng sĩ Lỹ lấy thêm Cagut 3.0. Chưa nói dứt lời, một tiếng nổ nữa vang lên thật gần làm rung chuyển phòng mổ. Mảnh đạn và đất đá văng lên mái tôn nghe rào rào như mưa. Bụi trên trần nhà rơi xuống. Tôi hét cô Bích lấy khăn mổ đậy ruột lại. Cô lúng túng làm rơi khăn xuống đất. Tôi xòe hai bàn tay che lấy đống ruột, trong khi cô Thìn đưa cái khăn tay để phủ lên bụng bệnh nhân.
Ngoài sân bệnh viện vắng tanh không một bóng người. Họ đã kiếm chỗ ẩn núp hết rồi. Trong phòng mổ, tôi thấy chị Huyên rúc đầu dưới cái xe đẩy bệnh để gần máy điều hòa không khí. Chúng tôi, toán giải phẫu đành đứng trơ mình chịu trận… Hai trái nữa nổ bên trường Trung Học. Chúng tôi không thế nào bỏ bệnh nhân tìm chỗ núp trong trường hợp này. Bệnh nhân sẽ chết. Chúng tôi đành liều đứng làm việc như thường.
Trong lòng tôi thấy hồi hộp lắm. Tôi tiếc là không mang theo áo giáp, nón sắt để sẵn ở đây. Bề ngoài tôi làm tỉnh để mọi người bình tĩnh làm việc, nhưng tôi thấy không an toàn chút nào. Nếu như phòng mổ kiên cố một chút cũng đỡ sợ. Đàng này mái tôn, trần bằng carton không bảo đảm chút nào.
Tôi thay găng và tiếp tục khâu lại vết thương ruột. Có điều lần này tôi khâu nhanh tay hơn trước. Vừa làm tôi vừa nói để mọi người quên sợ:
– Quý vị yên trí đi, mình làm công việc cứu người, trời không để hỏa tiễn rơi trúng đâu. Nếu địch có nhắm trúng đây, trời cũng lái nó ra chỗ khác chơi. Phải không cô Bích?
– Vâng ạ, nhưng hình như tay bác sĩ khâu còn hơi run run thì phải.
– Sức mấy mà run, người hùng làm sao run tay được.
Tôi nói móc lại:
– Không biết lúc nãy ai sợ quá đánh rớt cả khăn xuống đất nhỉ.
Mọi người cùng cười quên hết nỗi lo sợ vừa qua.
Nửa giờ sau tôi đóng bụng xong. Băng bó cẩn thận rồi tôi ra phòng ngoài ghi nghi thức giải phẫu, không quên dặn anh Sáu đặt ống Levine để hút bao tử liên tục.
Tôi vừa đặt bút lên cuốn sổ, y tá Trọng từ Phòng Cấp Cứu hấp tấp chạy vào:
– Trình bác sĩ, ngoài kia có hai người bị thương.
Tôi thở ra thật mạnh, đứng dậy rảo bước ra Phòng Cấp Cứu. Trong phòng đặc những người. Tôi bực mình kéo bay một người đứng ở cửa ra ngoài, gạt những người khác ra, miệng nói:
– Ra ngoài. Xem cái gì?
Vài người lùi lại, nhưng vẫn chưa chịu ra. Tôi ra lệnh choTrung sĩ Tiếng:
– Đuổi hết họ ra ngoài đi.
Tiếng quát lớn:
– Mấy người kỳ vậy. Nói hoài không nghe. Ra cho rộng chỗ để bác sĩ làm việc. Đứng đầy ra, thiếu không khí, bệnh nhân thở làm sao được.
Tôi nhìn quanh phòng. Một người băng đầu ngồi ở divan, một băng chân. Trông họ còn tỉnh táo và có vẻ nhẹ. Một người đàn bà ăn mặc sạch sẽ nằm ngay dưới sàn nhà mặt mét xanh, mê man như chết rồi. Tuy nhiên khắp người không có dấu máu.
Tôi quỳ xuống bên cạnh, bắt mạch cổ. Không có. Nghe tim, im lặng. Tôi vạch mắt thấy đồng tử nở lớn. Bệnh nhân kể như đã chết.
Tuy nhiên tôi thấy tôi cần phải làm một cái gì, may ra có thể làm hồi sinh được hoặc ít ra cho thân nhân biết rằng tôi đã cố gắng cứu mà không được.
Tôi kêu Trọng mang Ambu-bag lại bơm giúp cho bệnh nhân thở. Hối cô Cúc truyền một chai Normal Saline. Tôi nhấn mạnh ngực bệnh nhân theo phương pháp hồi sinh cấp cứu. Vừa làm tôi vừa hỏi người đàn ông ngồi cạnh đấy, dáng điệu đau khổ, bồn chồn lo lắng, gương mặt tái xanh.
– Ông là chồng bà này phải không?
– Vâng.
Cúc đứng cạnh nhanh nhẩu nói:
– Ông ấy là giáo sư bên trường Trung Học.
– Ông kể lại tại sao bà ấy ngất đi như vậy.
– Trái đạn vừa rồi nổ ngay sau nhà tôi, ở cư xá công chức. Tường sập nhưng vợ tôi không việc gì cả. Chạy vào bồng đứa con nhỏ ra tới cửa thì xỉu. Tôi liền mang lại đây.
Tôi nhờ Cúc thoa bóp tim. Tôi khám khắp người, không có dấu vết gì khác lạ. Không có vết thương.
– Bà có bị bệnh tim không? – Tôi ngước mắt lên nhìn người chồng hỏi tiếp.
– Thưa tôi không biết.
Thật lạ lùng, trường hợp này đến bây giờ tôi vẫn không biết rõ nguyên nhân đã gây ra cái chết của bà đó. Có thể bị sức ép của vụ nổ, có thể vì quá sợ hãi, kinh hoàng đến độ tim ngưng đập.
Hai mươi phút trôi qua. Hồi sinh không kết quả. Tôi đành chịu thua tử thần, để ông giáo sư mang xác vợ về chôn.
Hai người kia bị nhẹ. Tiếng rửa sạch các vết thương, chích thuốc trụ sinh, ngừa Phong Đòn Gánh xong tôi cho về.
Một cảm giác buồn phiền nhen nhóm trong tôi. Tôi không hiểu được nguyên do cái chết vừa rồi. Nếu được mổ khám nghiệm tử thi, chắc tôi sẽ tìm được nhiều điều bổ ích và các thắc mắc sẽ được giải đáp thỏa đáng. Nhưng việc đó chỉ có thể làm được ở những nhà thương lớn, còn trong tình trạng này không thể và không nên làm. Tôi nghĩ vậy. Tôi phải dành thì giờ và dành sức để làm những việc khác khẩn cấp hơn.
Tôi thấy thương hại người chồng, nét đau khổ hằn trên gương mặt. Chỉ trong khoảnh khắc ông đã mất đi người vợ thân yêu. Trong thời chiến, những cái chết thật đột ngột, thật bất ngờ như Trịnh Công Sơn viết “chết như mơ” . Có những người bạn mới bắt tay cười nói ngày trước, ngày sau thân xác đã vùi trong đất lạnh. Bị hãm trong tận địa pháo của Việt Cộng trời thương ai nấy sống, không còn biết trốn tránh chỗ nào.
Sát ngay Phòng Hậu Giải Phẫu, nơi Phòng Trực Y Tá, trước đây có một cái hầm nổi khá tốt. Vì tình hình an ninh khả quan, gần một năm nay không xảy ra một vụ pháo kích nào nên tôi đề nghị với ban giám đốc phá bỏ hầm đi để Phòng Trực Y Tá rộng rãi và sạch sẽ hơn vì trong hầm thường hay có chuột bọ rắn rết rất nguy hiểm.
Mọi người đều hoàn toàn đồng ý và chỉ trong một ngày hầm đã được dọn sạch. Nay phá xong rồi mọi người đều tiếc. Thành ra cả nhà thương chỉ còn lại bốn hầm mà thôi. Hai hầm ở gần cổng, một hầm chìm ở nhà Bảo Sanh và một hầm trong văn phòng giám đốc bệnh viện.
Khi có pháo kích, ở trong hầm thì yên tâm thật nhưng nếu có người bị thương tôi vẫn phải ra làm. Không ai bắt buộc tôi cả nhưng tôi không thể nào đang tâm ngồi yên được. Đợi ngớt pháo, tôi chui ra khỏi gầm giường chạy lên Phòng Mổ làm việc. Được cái là những ngày đầu Việt Cộng pháo lai rai vài ba quả rồi ngưng, cũng đỡ khổ.
Lúc này hơn lúc nào hết, tôi tin tưởng vào số mệnh. Nếu tới số thì tránh cũng không khỏi. Chính vì vậy tôi vẫn làm việc như thường không ru rú ở trong hầm như những người khác.
Có điều công việc giải phẫu làm việc phải được tổ chức thành một toán. Tối thiểu ba người: một y sĩ, một người phụ và một chuyên viên tê mê. Tôi có thể liều được nhưng tôi không muốn bắt buộc nhân viên chịu chung sự nguy hiểm của tôi. Lỡ ra họ có mệnh hệ nào, tôi sẽ phải ân hận biết bao. Do đó tôi chỉ dùng những người tình nguyện mà thôi.
May mắn cho tôi, tất cả nhân viên Phòng Mổ đều sát cánh bên tôi. Họ đã tỏ ra can đảm, giúp đỡ tôi rất đắc lực khiến tôi có thể hoàn thành mỹ mãn công tác giải phẫu điều trị thương binh. Mặc những trái đạn pháo kích nổ rất gần làm thầy trò đều xanh mặt, chúng tôi vẫn lì lợm làm công việc. Xong xuôi rồi mạnh ai nấy tìm chỗ núp.
Ngày hôm ấy địch quân pháo lai rai suốt ngày. Trưa tôi không thể về ăn cơm được, đành nuốt vội mấy bánh Biscuit, uống một hộp Coca lót lòng. Nằm nghỉ trưa được một giờ, tôi lại dậy tiếp tục làm việc tới 10 giờ tối mới xong. Tính ra ngày đó có một người chết, bẩy người bị thương, toàn là dân do đạn pháo kích mà thôi. Khi lên giường nằm nghỉ, tôi phải để chân lên chiếc gối cao để máu được lưu thông dễ dàng hơn. Mắt tôi lóa lên vì quá chăm chú nhìn khi mổ. Tôi tắt đèn đi, bóng tối tràn ngập căn phòng và tôi cảm thấy dễ chịu hơn.
(Cách đây mười măn tôi có trở về sông Ông Ðốc. Nghe ngư phủ nơi đây nói lại, cá đường không còn hội ở mũi Cà Mau nữa mà đời xuống rạch Gốc, nhưng hội cũng thất thường lắm. Nghề lưới gộc bây giờ cũng không còn nữa. Tiếc hùi hụi, nên tôi viết lại chuyện nầy để tặng các ngư phủ bên vàm sông Ông Ðốc, những bạn đồng nghiệp trước đây và cũng để đánh dấu trên quê hương chúng ta cũng có một thời tài nguyên thiên nhiên rất là phong phú…) Hàng năm khi gió chướng nhẹ nhàng và nắng bắt đầu gay gắt, thì trên vàm sông Ông Ðốc ghe lưới, ghe cào, ghe te, vỏ lải… lớn nhỏ đủ loại của ngư dân ra vào nườm nượp. Ai nói chim trời cá nước mênh mông khó bắt, chớ đối với dân vùng nầy, họ có một niềm tin. Họ tin Ba Cậu, Nam ông và tin tưởng tài nghệ đánh bắt cao siêu của mình nữa. Mấy anh ngư phủ tin ở tài năng của mình bao nhiêu thì mấy chị mần khô, mấy bà bán buôn tôm, cá tin các anh bấy nhiêu. Nhiều chị tới nhà chủ nghe đặt cọc trước để khi trúng được tôm, cá chủ ghe dành phần cho mình. Những ngày nầy thị trấn Sông Ðốc nhộn nhịp vô cùng. Tuy là mùa tôm, mùa cá cho các phần đánh bắt khác nhau, nhưng xóm lưới gộc là xóm bận rộn nhứt. Ngư phủ ở đây hẹn sẽ ăn tiệc lớn sau vụ cá đường hội. Họ o bế lại dàn lưới, tra cán và mài dũa lưỡi câu bắt (1), sửa lại ghe máy cho ngon lành, tuyển chọn ngư phủ “cừ” để chuẩn bị cho những con nước chết từ giữa tháng hai đến tháng tư. Lưới gộc dạo dài ba sải, cước lưới cỡ đầu đũa ăn, lỗ lưới mười phân chuyên dùng bắt cá gộc (2), ngoài ra còn bắt được cá sủ (3), cá sóc (4), cá sạo (5), cá đường và vài ba loại cá lặt vặt khác. Nhờ vừa cỡ bắt cá đường nên người ta dùng lưới gộc trong những ngày cá đường hội. Tuy nhiên khi vô sân hội ngoài lưới gộc ra còn có lưới năm (6), lưới chim. Những ngày này còn có các ghe nhỏ như te (7), cào, vỏ lải đẩy chủ (8), vỏ lải lưới tôm và cả những chiếc xuồng chèo từ rạch Cái Tàu ra tham hội. Sớm lắm là mùng bảy, trễ lắm là mùng chín tháng ba, đoàn ghe lũ lượt nối nhau ra vàm sông Ông Ðốc rồi trực chỉ xuống mũi Cà Mau. Phía ngoài mũi Cà Mau có một bãi rộng vài trăm thước và tiếp liền một vùng nước cạn mênh mông, nơi đây nước xanh màu lá mạ vào những ngày nước chết (9), đục màu phù sa vào những ngày nước săng (10). Cạn lắm một sải, sâu lắm là ba sải. Chỉ có một vòng tròn độ bốn năm cây số trũng xuống trên ba sải chiều sâu nhứt, nơi đó được gọi là Lòng Chảo. Chính giữa Lòng Chảo có nhiều hàng đáy của dân trong đất Mũi nên dân ngư gọi đó là đáy Lòng Chảo. Cá đường màu vàng, thân hình ốm và dài, có kỳ vi cũng như nhiều loại cá khác, vảy tròn nhỏ cỡ đồng xu, mỏng manh như lá lúa. Thịt làm khô mặn, đặt biệt bong bóng rất đắt tiền. Hàng năm cá đường về Lòng Chảo ép trứng vào những con nước chết mà dân ngư gọi đó là cá đường về hội. Ngoài khơi dòm vô thấy dạng rừng đước trong mũi Cà Mau lấp thấp như cù lao dài và nhọn. Ở phía nồm đông (11) hòn Sau và hòn Khoai, tròn như mu rùa khổng lồ úp trên mặt biển. Mênh mông một vùng nước phẳng lặng, bỗng hàng trăm chiếc ghe lớn nhỏ tụ tập về đây, ghe neo kết từng chùm với nhau giống y chang một thị trấn nhỏ nổi bềnh bồng. Bên hướng nồm tây, nhiều chiếc ghe đón cá đêm sợ trễ buổi hội nên sáng sớm đã phóng mút ga phun khói mịt mù trực chỉ vô sân hội. Ðêm xuống, giữa Lòng Chão đèn điện sáng choang như một thành phố nổi trên biển. Vài chiếc ghe lưới gộc coi bộ nóng lòng mở máy vừa pha đèn tránh những hàng đáy, chạy bủa lưới cầu may. Những ghe còn lại thì ghe lớn quăng neo, xuồng nhỏ đeo đít ghe lớn. ngư phủ xúm năm tụm bảy nấu nước pha trà, cà phê uống với kẹo đậu phộng, đường tán. Còn mấy tay bợm nhậu thì bày rượu và khô nướn ra nắp hầm nhậu lai rai. Rồi những chuyện gió mùa, đánh bắt, cá hội, nước chết, nước săng nổ giòn tan. Những người có chút máu văn nghệ, hổng thích ồn ào thì cứ tự nhiên ra dựa lưng sau lái ghe ca vọng cổ. Trong mui mấy ghe lưới gộc, nhiều sòng bài được bày ra. Họ ăn thua đủ, đánh lớn bạc trăm ngàn. thế nào cũng có người cháy túi và nợ luôn cả kỳ hội cá đường nữa là khác. Nhưng hề gì, dân hạ bạc (12) mà, lỡ thua hết chuyến nầy thì họ tìm cách gầy lại chuyến sau, rừng vàng, bạc biển lo gì, miễn sao mạnh tay khỏe chưn, đừng bịnh hoạn bậy bạ là họ còn kiếm ra tiền. Có câu tháng ba bà già đi biển dùng để chỉ mùa gió chướng êm ái chớ thiệt ra bà già đâu có đi biển. Con gái với đàn bà thì có và có nhiều lắm, mấy bà mấy cô nầy thường mần chung với gia đình đẩy te, đẩy chủ hoặc lưới tôm dọc theo bãi quanh năm suốt tháng. Vào những con nước cá đường, mấy chị cũng tụ hết về đây. Trong nhóm nữ ngư phủ, chỉ có hai chị em Liên và Hoa được nhiều người nhắc tới một cách cảm phục. Hai chị em mần nghề đẩy te trên chiếc ghe máy Yanmar ba lốc đầu xanh. Liên là chị mần tài công, Hoa là em mần tài cải. Hai đứa giỏi dàng trời mây, tay chưn của tụi nó gân guốc như con trai. Cái máy ba lốc đầu xanh đôi khi những đứa con trai phải cà ì cà ạch quay lấy trớn trước khi đóng súp bắp. Con Hoa thì khỏi cần, nó đóng súp-bắp trước rồi cầm ma-ni-quên rà qua rà lại cho ngay tăng, mới dùng cánh tay lực sĩ của nó giựt mạnh một cái là máy nổ ngon lành. Ðêm nay Liên buột ghe ở cột đáy bên kia cùng mấy cô mấy chị bên ghe khác bày tiệc chè, cháo gì đó ở bển. Dĩ nhiên cũng có vài anh con trai cà kê dê ngỗng tan chuyện trời trăng mây nước. Lâu lâu họ cười ré lên nghe vui vẻ lắm. Khoảng năm 1968 trở về trước, cá đường hội đúng những ngày nước chết tháng ba, trễ lắm là trong vòng mùng mười tháng tư. Sau nầy kỹ thuật đánh bắt tối tân, máy móc ầm ỹ, bị động ổ nên cá đường hội thất thường. Do đó ngư dân phải chờ từ mùng bảy cho tới mười ba mười bốn âm lịch mới chịu đi. Ðợi cuối tháng, ngày hăm ba hăm bốn con nước yếu dần người ta mới trở lại chờ cho tới hăm chín ta. Có nhiều người kiên nhẫn cơm ghe bè bạn túc trực trên sân hội từ đầu tháng ba đến cuối tháng tư, đến chừng gió nam sòng ngọn, mây giông nghịch trời họ mới chịu chạy ghe về. Sáng nào cũng vậy, khi phương đông trời vừa đâm mây ngang là ngư phủ lo mần cá nấu cơm ăn no nê, họ sẵn sàng “chiến đấu” với bầy cá đường từ sáng tới trưa không cần ăn uống. Mặt trời vừa nhô lên khỏi dạng rừng đước trên mũi Cà Mau thì cơm nước cũng vừa xong. Tất cả ghe máy chuẩn bị nhập hội. Bác tài phân công, tài cải coi lại dầu nhớt và đề máy để sẵn, ngư phủ coi lại lưới, thắt lại ranh nhiệm vụ ngưòi nào ở đâu thì đứng ở đó, chờ lịnh bác. Còn bác thì ra mũi ghe ngồi… nghe ngóng tình hình. Biển im phăng phắc gió như ngừng thở, tất cả mọi người nôn nóng ngó về Lòng Chảo. Mắt các bác tài công láo liên như mắt nhàn. Bỗng từ xa một chiếc ghe xịt khói, rồi hai chiếc, ba chiếc… rồi cả đám hè nhau xịt khói. Tiếng hô cá đường! Cá đường !!! hoà cùng tiếng máy nổ vang dội không gian đất mũi. Ghe chạy xịt khói đen hướn mũi về phía cá đường hội. Chính giữa Lòng Chảo mặt nước vẫn phẳng lặng, bỗng nhiên một dợt sóng dài hàng trăm thước nhô lên như một mô đất cao. Những chiếc ghe tới trước vừa bủa lưới xuống tức thì cá đóng nước văng lên tung toé, có con tung lưới nhảy bổng lên không. Tiếng quát tháo, chửi thề ỏm tỏi. Bên nầy tiếng la the thé trong veo của mấy cô ngư phủ, nhứt là những nữ ngư phủ trên ghe của con Liên. Ðầu đội nón lá, tóc bới cao, tay cầm câu bắt, chạy tới chạy lui, miệng quát om xòm trông chẳng khác gì nữ tướng trong tuồng hát cầm giáo xông trận quần thảo với quân thù. Con trai con gái đều là lực sĩ, một con cá đường tệ lắm cũng bốn năm ký lô mà họ kéo lên liên tục như kéo một chiếc phao. Cá sặc lưới nổi lên một dải vàng lườm như sân lúa ngày mùa. Ngư phủ nhào xuống biển giữ lưới nhà, họ bất kể nhớt nhao, ôm sát vô mình những con cá sút lưới, kề lại be ghe cho cho mấy anh ngư phủ trên ghe dùng câu bắt giựt lên. Xong đợt hội đầu cũng gần hết buổi sáng, mọi ghe đều giạt ra khỏi Lòng Chảo để chờ đợt hội sau. Mấy chiếc ghe nhỏ, trọng tải ít mới đợt đầu mà đã khẵm. Người ta sợ chìm mới mổ bụng moi lấy bong bóng, còn thân cá họ liệng bớt đi. Vài ba đợt hội thì trời đã chiều, ngày hội đã tan, ngư phủ neo ghe lại một nơi gỡ cá, mổ bụng moi bong bóng ngâm nước muối. Khi mặt trời đỏ ngầu lần lần lịm xuống mặt nước phía trời tây, tủa ánh hồng lên áng mây vừa đen vừa đỏ như những dám than ngầm cháy. Bên dưới, mặt biển xanh từ từ đổi ra màu xám xịt, thì đoàn ghe hội cá đường khẳm mẹp nối hàng nhau chạy hướng về vàm sông Ông Ðốc. Gió chướng nhẹ thổi, thoảng mùi thơm của lá phất ra từ khu rừng mắm ven biển. Không ai nói với ai lời nào nhưng trên mặt các anh ngư phủ ánh lên rõ rệt nét mừng vui. Ðêm hôm ấy xóm lưới gộc bên sông Ông Ðốc, đèn điện bật sáng choang như hoa đăng ngày hội lớn. ánh trăng mười bốn chênh chếch trên không cũng mờ đi vì những ánh đèn. Mấy anh lính ngoài đồn cao hứng bắn lên không những trái sáng màu chia xẻ niềm vui cùng dân xóm lưới. Tiếng máy điện chạy rầm rì hoà cùng tiếng dao chặt cá bôm bốp lẫn tiếng mấy anh ngư phủ kể chuyện tiếu lâm làm mấy chị xẻ cá cười lăn nghiêng ngả. Trên boong ghe, bánh bao, xíu mại đầy mâm la-ve, nước ngọt chất đống, họ khui lách tách mời nhau. Bong bóng cá đường là loại mắc tiền. Hình tròn cỡ cườm tay, dài hai gang có hơn, lúc còn tươi màu trắng đục. Sau khi ngâm nước muối, người ta cạo bỏ lớp mỡ đóng bên ngoài đem phơi cho dốt dốt, đem mổ một đường giữa, lột lớp màng nhớt ở trong bỏ đi và lấy hết những chỉ máu li ti ra đem phơi gió cho ráo mặt. Sau đó mới cán bong bóng ra hình bầu dục rồi lấy dao con chó vành bìa cho đẹp. Lần nầy mới đem phơi cho thiệt khô, sau đó đem phân hạng. Hạng nhứt ba cái một ký giá bằng hai lượng vàng, hạng nhì bốn đến năm cái một ký giá hơn một lượng vàng, hạng ba từ năm tới bảy cái một ký giá non một lượng, còn nhỏ quá thì vạt ra bán rẻ hoặc mấy bà dành lại nấu thuốc bắc cho mấy ông ăn để …sung sức. Tại sao bong bóng cá đường mắc dữ vậy? Thật ra ngư phủ miệt nầy chỉ đoán mò thôi. Có người nói bong bóng cá đường ăn bổ. Ðành rồi ! Mà bổ ra làm sao và bổ ở chổ nào. Hổng lẽ đem chưng chung với nhãn nhục, thục địa và vài ba vị thuốc bắc khác để thành một chất nhơn nhớt như cứt mũi xanh con nít, rồi đem cho mấy ông già hết xíu quách ăn để hồi dương. Cho dầu thiệt sự có hồi dương đi chăng nữa thì cũng đâu đến nỗi mắc dữ thần ôn vậy. Ở trong khu vực hai có ông già vợ chú ba Mùi đã ngoài sáu mươi, thuộc hạng giàu có trong xóm, nghe nói ông thường ăn bong bóng cá đường treo giàn bếp lâu năm (17) chưng thuốc bắc để cải lão hoàn đồng. Vậy sao ông vẫn cúp bình thiếc, mỗi khi ra đường ông phải chống gậy, cây gậy vừa tầm vậy mà ông khom đến đổi đầu gậy còn cao hơn đầu ông nữa. Nhiều người ác mồm ác miệng đồn rằng, tại ông ăn nhiều bong bóng cá đường chưng thuốc bắc, sung sức ‘làm’ nhiều quá nên mới ra nông nỗi. Ðó chỉ là chuyện tiếu lâm cho vui, chớ thiệt ra chuyện ăn bong bóng cá đường có hồi dương hay không, bổ như thế nào đối với dân chúng miệt nầy vẫn còn mù mờ chưa rỏ lắm.
Chú thích: 1.- Lưỡi câu bắt bằng thép, cọng lưỡi lớn cỡ bằng ngón tay út uốn cong như lưỡi câu không có ngạnh, cán bằng tre cỡ cườm tay dài bốn năm thước, rất tiện giựt mấy con cá xẩy lưới. 2.- Cá gộc là loại cá xuất cảng, thân cá dài màu vàng, vảy cứng nhỏ cỡ đồng tiền cắc, đúng lứa nặng từ bảy tới mười ký. Có nhiều ở ngoài khơi mũi Cà Mau. 3, 4.- Giống như cá gộc nhưng thịt bở hơn nên không được xuất cảng, ăn tươi cũng không ngon nên thịt nó phần lớn được dùng để xẻ khô mặn. 5.- Như cá chép, vảy cứng màu xám trắng, chót đuôi màu vàng đậm lợt tùy loại. Ðầu cá sạo nấu canh chua, thịt cá sạo, nhứt là cá sạo sực, tả pí lù nhậu rượu đế … hết xẩy. 6.- Lưới năm : lỗ lưới năm phân, cước số 70. 7.- ‘Te’ tức là ‘xệp’. Ngày trước người ta đẩy xệp bằng hai gộn tre gác chéo có gài lưới đằng trước. Người đẩy ‘xệp’ phải lội xuống nước cong lưng đẩy. Sau nầy tối tân hơn, người ta cải tiến lại làm gộn bằng cây đước lớn hoặc cây sao, tùy máy lớn nhỏ đương lưới cho vừa sức đẩy. 8.- ‘Chủ’ giống như ‘te’ nhưng người ta không xài lưới mà xài tấm ni-lông mành lỗ nhỏ li ti như vải mùng lưới để bắt con ruốc về làm mắm ruốc. 9.- Nước chết là nước không chảy xuôi một chu kỳ của thủy triều lên xuống. Những con nước chết chánh là mùng mười và hăm lăm âm lịch. 10.- Nước săng là nước chảy mạnh, đầu nước từ mười bốn cuối nước là hăm hai âm lịch. 11.- Ngư phủ gọi hướng nồm là hướng nam. Nồm đông : đông nam; nồm tây : tây nam. 12.- Hạ bạc: theo truyển thuyết thì có hai nghề làm ra tiền nhưng bạc bẽo, vì tiền vô cửa trước ra cửa sau. Thượng bạc : Nhứt phá sơn lâm, chỉ những người làm rừng. Hạ bạc : Nhì đâm Hà Bá, chỉ những người theo nghề sông, biển, đóng đáy. 13.- Theo lời đồn, bong bóng cá đường treo giàn bếp lâu chừng nào công hiệu chừng nấy, có thể dùng làm thuốc… cải tử hoàn sanh . Thư cho SCL Tác giả viết: Mấy tuần qua tôi kẹt trên Nga và Ba Lan, vừa về tới Hamburg, lên hội quán liền ghé vào thăm SCL. Và in truyện đủ đọc một chuyến di…
Cách đây đúng một thế kỷ Vladimir Lenin cầm đầu đám lâu la cướp chính quyền tại thành phố St. Petersburg thành lập chánh quyền CS!
Đó là ngày 25, tháng Mười, năm 1917 theo lịch của Liên Xô nên mới gọi là Cách mạng 10 Nga! Chớ theo dương lịch, đó là ngày mùng 7, Tháng Mười Một)
Hơn 65 triệu người dân vô tội trên toàn thế giới đã chết vì Chủ nghĩa CS nầy!
Mãi đến khi chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới bước vào thế kỷ 21, với sự sụp đổ của Liên Xô, các nước đàn em theo Chủ nghĩa Cộng sản từ từ hô biến!
Ngày nay chỉ còn 5 nước theo chủ nghĩa CS. Cuba nằm thoi loi một mình ngoài biển Caribbean gần tiểu bang Florida, Đông Nam Hoa Kỳ.
Russian soldiers march toward Red Square to attend a Victory Day military parade in Moscow, Russia, Tuesday, May 9, 2023, marking the 78th anniversary of the end of World War II. (AP Photo/Alexander Zemlianichenko)
Ba nước còn lại đều nằm gần đàn anh Trung Cộng. Nếu một mai anh sẽ qua đời thì ba thằng em CS Bắc Triều Tiên, Việt Nam và Lào chắc chắn sẽ cùng đi tàu suốt. Ngày đó chắc chắn sẽ tới. Chắc như bắp!
Ngày nầy, hơn 30 năm về trước, đám lãnh tụ già nua của CS Liên Xô ngực đeo hàng đống mề đay, rán đứng cho vững, để vẫy tay chào Hồng quân Liên Xô trang bị hỏa tiển mang đầu đầu đạn hạt nhân diễn hành trên Quảng trường Đỏ ở Moscow để nhát thiên hạ!
Nhưng năm nay, một thế kỷ, đúng ra là phải làm lễ cực kỳ long trọng mới phải. Nhưng Liên Xô đã ngáp ngáp chuyển qua từ trần năm 1991! Nước Nga giờ của Vladimir Putin coi bộ không hào hứng ăn mày quá khứ cho lắm!
Quá khứ tàn ác áp bức nầy có gì đâu mà ăn mày? Nó đã để lại nhiều di chứng đau thương nhưng cùng lúc cũng để lại nhiều chuyện tiếu lâm thời CS.
***
Trước hết là về CS Cuba. Về Fidel Castro, mãi tới năm 90 tuổi, chơi bời gái gú nhiều quá liệt giường mới đi chầu Karl Marx với Lenin cũng tháng Mười Nga năm ngoái, tức tháng Mười Một tây, ngày 25!
Fidel giống như các nhà cách mạng tiền bối CS khác rất khoái để râu. Mà râu của Fidel loại tốt, xum xuê, che luôn cả cái mồm, ngậm điếu xì gà Havana dài và to trông rất là ‘công xúc tu sỉ’.
Chiếm được chánh quyền, Fidel bèn ra tay đàn áp khốc liệt, hành quyết và cầm tù biết bao nhiêu người Cuba bất đồng chánh kiến.
Thế nên dân Cuba đùa vui là: Truyền hình XHCN Cuba giờ theo đuôi chủ nghĩa tư bản, chiếu phim sex. Mà thực ra là băng ghi hình Chủ tịch Fidel Castro râu xồm đang ăn chuối!
Rồi Fidel Castro đi thăm Hugo Chávez! Nước Venezuela bắn tới 21 phát đại bác mà không trúng phát nào. Dân Cuba chê Hugo trước khi làm Tổng thống là Đại tá Dù nhưng bắn dỡ ẹt!
CIA, Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ nhiều lần hành thích Fidel Castro nhưng đều thất bại cả. Bà con mình kết luận là vì Fidel giống như con rắn và con thỏ trong câu chuyện ngụ ngôn dưới đây mới được chết già như thế!
Chuyện rằng: con thỏ rối rít xin lỗi! “Tôi không cố ý ngáng chân làm ông ngã té! Nhưng vì thiếu vitamin A, mắt quáng gà không thấy đường nên mới va vào anh đấy thôi!”
Con rắn cười hè hè: “Ờ tui cũng không thấy đường như anh vậy! Nhưng nè! Anh là con gì? Nai, Mển hay Cheo?”
“Thiệt tui hỏng biết tui là con gì nữa! Đâu có thấy đường để soi gương mà biết mình là con gì?”
Con rắn bèn đề nghị: Lại gần đây, tui sờ soạng một hồi là tui biết anh là con gì liền hè! Ờ! Lông mềm như nhung, đuôi cụt ngủn, răng nhỏ sắc, lỗ mũi có tí xíu! Đích thị anh là con thỏ”
Biết mình là con thỏ nên mừng quá cám ơn rối rít ” Xin tạ ơn ông! Nhưng ông là loại con gì vậy?”
Con rắn cũng không biết mình là con gì. Nên để cho con thỏ sờ soạng một hồi chắc nó biết!
“À! Ông lạnh lùng vì máu lạnh, cứng ngắt, trơn lùi, chui qua lỗ nào cũng lọt và không có cái mà ai cũng có! Nhứt định ông phải là đảng viên đảng CS!”
***
Trừ Fidel Castro có vẻ khôn lõi nhưng những người đồng chí của ông ở Việt Nam chắc không được như ông.
Bằng cớ là: Chi bộ đảng mới mua về hai con ngựa cho Chi cục Kiễm lâm tuần tra đường rừng để bắt lâm tặc.
Hai tên kiểm lâm cỡi thử hai con ngựa và cả hai đứa rất lấy làm hài lòng.
“Tao lấy một con! Đồng chí lấy một con!” “Nhưng sao biết được con nào của mầy con nào của tao chớ?”
Hai đứa chụm đầu với nhau bàn bạc một hồi lâu và cuối cùng ra nghị quyết: “Những việc cần làm ngay: Là cắt đuôi một con!”
Sáng hôm sau, Chi cục trưởng Kiễm lâm kiêm Bí thư đảng ủy đến kiễm tra hai con ngựa thấy một con cụt hết cái đuôi, giận lắm, la toáng lên: “Tại sao hai đồng chí lại cắt đuôi con ngựa vậy hả?”
“Thưa đồng chí Bí thư! Phải cắt đuôi một con ngựa để phân biệt được con nào là của tui và con nào là của nó!”
“Thiệt hai đồng chí ngu quá xá là ngu! Đâu cần gì phải cắt đuôi con ngựa cho mất công. Bộ hai đồng chí không thấy con ngựa màu trắng cao hơn con ngựa màu đen hay sao chớ?”
Bài học rút ra là cả ba đồng chí đều ngu hết ráo. Ngu nhưng láo, hống hách với dân lành!
Chuyện rằng tay Bí thư Huyện ủy mới đổi về, đến xem xét một trang trại nuôi cọp để nấu cao hổ cốt của một người dân miền núi sở tại.
Ông chủ trang trại nuôi cọp giơ tay ngăn lại: “Ông không được vô!”
Tay Bí thư tức điên lên, thiếu điều hộc máu mồm! Dân mà dám thách thức quyền lực của đảng ta hả? Y bèn sùy cái thẻ đảng viên đảng CS ra, dí dí trước mặt dân, rồi long trọng tự hào tuyên bố: “Với cái thẻ đảng nầy, ta có thể đi bất cứ đâu, kiễm soát, tịch thu bất cứ thứ gì mà không ai được quyền ngăn cản hay chống đối!” Nói xong, y mở cỗng hàng rào bước vào trại nuôi cọp.
Chừng mười phút sau, tay Bí thư hộc tốc chạy như bay trở ra cửa, luống cuống mãi mà không tìm được chốt khóa.Một bầy cọp cha, cọp mẹ và cọp con đang gầm gừ, hò reo tở mở đuổi theo ráo riết. Tay Bí thư chỉ còn nước phóng lên hàng rào mắt cáo, đeo tòn ten, miệng gào lên kêu cứu!
Nghe tiếng kêu la thảm thiết, ông chủ trang trại trong nhà bước ra nói: “Nè đồng chí Bí thư! Móc thẻ đảng của ông ra!”
***
Đó là chuyện mấy tay đảng viên cắc ké của đảng CS Việt Nam. Còn câu chuyện sau đây là của lãnh tụ CS Bắc Triều Tiên Kim Ủn Ỉn mới 33 tuổi, dám xúc phạm gọi Trùm Đế quốc Mỹ, Donald Trump, là ‘cha già khú đế’.
Làm Donald Trump chạm tự ái phân bua: “Tui đâu có ngạo nó lùn và mập ú đâu mà nó lại chọc quê tui?!”
Thôi xin Tổng thống Donald Trump đừng buồn, đừng để bụng làm chi; đừng gọi nó là thằng nhóc con khoái chơi hỏa tiển tầm xa nữa; vì dân Triều Tiên đã đặt ra câu chuyện tiếu lâm như vầy nếu đọc xong, ông sẽ lấy làm hả dạ.
Chuyện rằng: Kim Ủn Ỉn và tài xế lái chuyến xe về sau buổi thử nghiệm hoả tiển tầm xa nhưng không dám dùng đại lộ vì sợ CIA nó làm ấu nên Kim Ủn Ỉn sai tài xế chạy xuyên qua một vùng quê hoang vắng chiều trời sầm sập tối!
Bỗng có một con heo nái thình lình băng ngang đường. Viên tài xế đạp thắng lết bánh luôn nhưng đã trễ. Kim Ủn Ỉn bèn sai viên tài xế vô nhà người nuôi heo để xin lỗi nhân dân.
Một tiếng đống hồ sau, viên tài xế quay trở lại mặt đỏ như gấc, một tay cầm cái đùi gà, một tay cầm chai rượu sâm banh, miệng còn ngậm một điếu xì gà, đi hơi nghiêng ngã.
Kim Ủn Ỉn ngạc nhiên hết sức, hỏi: “Cái quái quỷ gì đã xảy ra vậy?”
“À! Thưa Chủ tịch kính mến! Ông nông dân đãi tui chè chén say sưa! Vợ ổng cho tui điếu xì gà. Con gái ông còn hun lên má tui một nụ hôn thắm thiết! Còn vết son đỏ choét nè!”
“Vậy ngươi có nói gì với họ hay không!” “Có chớ! Tui nói: Tui là tài xế của lãnh tụ Kim Ủn Ỉn và tui mới vừa cán chết con heo nọc đó rồi!”
***
Nói tận cùng bằng số, CS Viêt Nam và CS Bắc Triều Tiên còn làm cha tới ngày nay là vì còn đại ca Tàu Cộng chống lưng.
Nếu Tàu cộng sập cái rầm là hai đệ tử dù muốn hay không cũng phải đành theo sư phụ.
Mà Tàu cộng còn sống sót tới ngày hôm nay là nhờ công Đặng Tiểu Bình, lãnh tụ ngũ đoản, cái gì cũng ngắn, mở cửa dắt cả nước Tàu đi làm cu li cho đế quốc Mỹ!
Mấy năm trước, để thường công đàn áp nhân dân Tàu, Chu xếnh xáng, trùm an ninh Trung Cộng, thời còn hét ra lửa mửa ra khói, được Thường vụ Bộ Chính trị đảng CS Trung quốc cho ra ngoại quốc tham quan cách làm ăn của chủ nghĩa tư bản dẫy chết ra làm sao để về bắt chước theo.
Chu xếnh xáng từ Hoa Kỳ về, ghé ngang nước Tây Ban Nha xem đấu bò tót cho biết!
Bà con mình ai cũng biết: Tay đấu bò mặc trang phục truyền thống với một thanh kiếm sắc và một tấm vải đỏ. Đấu sĩ lịch lãm cầm tấm vải điều, (màu đỏ choét con bò tót thù bất công đái thiên), tự tin sàng sàng qua sàng lại xung quanh một con bò đực đang hung hăng húc vào tấm vải vì điên tiết!
Cuối màn biểu diễn, đấu sĩ đâm một nhát vào tim để giết chết con bò đấu.
Tan về, Chu xếnh xáng đói bụng tạt vô một nhà hàng cực kỳ xa hoa và sang trọng tại thủ đô Madrid để ăn tối.
Chu xếnh xáng để ý thấy bàn kế bên, có có hai viên thịt băm vo tròn lại bằng như hai trái bưỡi năm roi nằm trên chiếc dĩa trẹt!
Lấy làm lạ, Chu kêu đầu bếp nhà hàng ra hỏi! “Thưa đồng chí Trung quốc! Đó không phải là món bò vò viên thường đâu ạ! Đó là món ‘Ngầu pín’ tiềm thuốc Bắc!”
Theo truyền thống ẩm thực của Tàu là ăn gì bổ nấy, Chu bèn gọi món ‘Ngầu pín tiềm thuốc Bắc để tăng cường sinh lực cho mình mà không dùng đến ‘viagra’ của đồ đề quốc!
Nhưng nhà hàng xin cáo lỗi: Mỗi ngày chỉ có một trận đấu bò thôi! Nếu con bò thua bị giết chết thì mới có món quý nầy. Xếnh xáng có thể thưởng thức nó vào ngày mai!”
Hôm sau, Chu lại đến! Giữa chiếc đĩa bằng bạc, muỗng nĩa cũng bằng bạc chỉ có hai viên nhỏ xíu như trái tắc?!
“Hôm qua món ngầu pín tiềm thuốc Bắc bự như trái bưỡi năm roi sao bữa nay nó nhỏ xíu như trái tắc vậy hả?”
“Thưa Chu xếnh xáng! Đâu phải ngày đấu bò tót nào, con bò cũng thua đâu ạ! Bữa nay con bò nó thắng!”
Tối nay ba đi làm về đã mười hai giờ rưỡi đêm. Ba mỏi, mệt vì phải làm việc suốt tám tiếng đồng hồ, cộng thêm bốn tiếng nữa để đáp xe lửa, leo xe tram, ngồi xe bus mới về được tới nhà. Nhà mình dẫu mướn nhưng luôn luôn là nơi ba muốn về nhất để gặp má con, anh Tí và con. Đó là nơi ba thấy đáng yêu nhất. Gia đình chính là nguyên nhân của tất cả mọi nguyên nhân mà ba, má con phải làm việc vất vả. Tất cả chỉ vì con.
Vậy mà khi về tới nơi, dẫu khuya, đèn vẫn còn chong, hắt ra khung cửa kiếng là một bóng cô đơn. Má con lặng lẽ ngồi, cặm cụi may từng chiếc áo một, kiếm từng mươi xu lẻ để sống sót nơi đất lạ quê người. Ba hỏi con đâu? Má con buồn bã trả lời: Thằng Tèo vẫn chưa về. Con đã đi chơi suốt từ chiều thứ sáu cho đến nay là tối thứ hai rồi. Hơn ba ngày đêm con không có mặt ở nhà. Vắng ngắt nhà. Mênh mông nhà. Không tiếng chân bước vào ra. Ngoài cửa, gió mùa đông Melbourne rét căm căm.
Bao nhiêu buồn bã nhất là má con đang chịu, con có biết không? Ba nghĩ là con biết. Nhưng ba không hiểu tại sao con lại nỡ dửng dưng trước nỗi đau khổ của ba và má. Ba tin rằng trong lòng con, con vẫn còn thương ba má lắm phải không?
Có lần đi chơi khuya về, tình cờ con gặp ba trên chiếc xe tram đầy mỏi mệt. Rồi cha con mình may mắn chung một đoạn đường về. Ba nói may mắn vì hiếm hoi lắm cha con mình mới có dịp đi bộ cùng nhau. Đột nhiên mình bắt gặp một cánh chim cô đơn, đậu trên nhánh bạch đàn, đong đưa theo mưa gió. Có phải là chim Việt nhớ cành Nam? Nhà mình đâu? Quê mình đâu? Sao biết được ngày bay về tổ cũ!
Ba còn nhớ mùa nước lụt năm 1978, ba năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Nước tràn mênh mông vườn của ngoại. Rắn bò cả vào nhà. Gạo không có mà ăn, phải độn khoai lang, khoai mì. Nước cơm pha chút đường dành cho con thay sữa. Ba phải đi hái lá tàu bay, đem luộc làm canh. Nước pha muối để thay nước mắm. Có con gà nuôi dành giỗ nội thì hàng xóm bắt trộm, ăn mất rồi. Ba buồn nhưng không giận. Vì không phải riêng nhà mình chịu đói. Cả dân tộc lầm than! Mình có nước mà mình không biết giữ để đến nông nỗi này!
Cuối cùng bị dồn đến chân tường, không lẽ ở lại chịu chết, má con đành phải bán tư trang ngày cưới để có tiền, làm lộ phí cho ba bế con đi. Nhà mình xẻ hai. Xẻ đàn tan nghé. Ba với con ra đi; má và anh Tí ở lại để lỡ có bị bắt còn có kẻ thăm nuôi. Vã lại mình cũng không có đủ tiền, vàng chung cho bốn chổ.
Ngày cha con mình đi, Cần Thơ chìm trong tối. Lúc bế con xuống ghe nhỏ chờ ra tàu lớn, con khóc. Ai bị buộc rời xa quê cha đất tổ, chổ chôn nhau cắt rún trong một hoàn cảnh bi thương như thế, làm sao mà không khóc. Ba phải cho con uống sirop Phenergan để con ngủ. Rồi lênh đênh trên biển, trong mịt mùng dông bão, đói, khát, cướp biển Thái Lan. Cuối cùng tàu cũng đến được Pulau Bidong. Con lả người trên tay ba. Ba bế con, bước đi xiêu vẹo vì vẫn còn say sóng. “Xin hãy cứu con tôi!” Đó là lần đầu tiên trong đời ba đã phải van xin.
Vậy mà mấy năm sau khi má và anh Tí con được lãnh qua, ngày gặp lại má con ở phi trường Melbourne, con chỉ nói được ‘Hi! mum’ rồi thôi. Má con nói với ba rằng mới xa thằng Tèo có mấy năm mà nó đổi thay nhiều quá. Vỏ nó vàng nhưng ruột đã trắng rồi. Hồi ở bên nhà, sợ con mình lớn lên, họ bắt đi nghĩa vụ, chết ở bên Miên. Còn qua bên này, xa hoa, phù phiếm đã bắt mất nó rồi. Ở đâu mình cũng không giữ được con mình. Hồi nhỏ cho nó một cục kẹo, nó cũng mừng; bây giờ mình cho nó cả cuộc đời nó cũng không nhận.
Mười năm, hai chục năm nữa khi ba má đã già, cát bụi sẽ trở về cát bụi. Cha còn gót đỏ như son. Đến khi cha mất gót con lấm bùn. Ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Mười hai tiếng làm việc và di chuyển. Tám tiếng ngủ để hồi sức lao động. Chỉ còn bốn tiếng vào, ra để gặp mặt hai con. Ba đã bán năm phần sáu đời mình cho vòng đời tư bản khốc liệt cạnh tranh để đổi lại vỏn vẹn một phần sáu vô cùng cho cõi thương yêu. Vậy mà cũng không được!
Ba cũng có má giống hệt như con có. Đó là bà nội của con. Chẳng may má ba mất sớm, rất sớm. Vì sức tàn lực kiệt, đèn khô dầu lụi bấc, qua những ngày, tháng, năm mưa dầm nắng dãi, sớm tần hôm tảo. nuôi đàn con nheo nhóc ăn học.
“Mẹ già như chuối chín cây. Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi.”
Câu hát ru đó đã theo ba suốt thời quần xanh áo trắng, qua dấu lửa binh, xuống tàu vượt Thái Bình Dương; rồi đất lạ quê người. Ba chắc rằng câu hát ru đó sẽ còn theo ba mãi, cho đến khi ba về với nội.
Bây giờ nghĩ lại ngày ba còn thơ dại như con, đôi khi dửng dưng, vô tình làm má buồn, ba khổ giống như những gì con đã và đang làm đối với ba má bây giờ. Ba đã hối hận biết bao khi má mình không còn nữa. Có nụ cười nào rạng rỡ hơn khi má mình thấy mình lẫm đẫm tập đi, bập bẹ tập nói. Có tiếng khóc nào chua xót hơn , đèn đêm đối bóng khi má mình biết mình trốn học, rong chơi.
Làm được gì bây giờ nữa hở con? Có chăng chỉ là một đóa hoa màu trăng trắng, cài lên ngực áo, trong mùa lể Vu Lan, như thầm nói với đời rằng: mất má rồi đời chỉ là một dải khăn tang.
Ai cũng thích đi chơi hết. Đi chơi vui lắm. Người ta thường bảo sân nhà hàng xóm cỏ chắc xanh hơn. Nhưng Tèo con ơi! luống hoa hồng vườn Botany sao đẹp bằng luống rau má con trồng bên hè nhà mình ở. Con Bulldog nhà hàng xóm sao bằng con Mực nhà ta. Mac Donald sao ngon bằng dĩa cơm tấm tình quê. Lẩu nhà hàng Tàu sao ngon bằng nồi canh chua má nấu. Con trách sao con tên Tèo. Cái tên gợi nhớ quê nghèo đã xa. Cái tên Tony sao bằng cái tên Tèo yêu dấu của đồng chua nước mặn; của những dải bần xanh.
Có thể con cho ba là lạc hậu, là bảo thủ, là xưa rồi. Nhưng ba tin rằng có những điều chưa sáng tỏ bây giờ sẽ hoàn toàn đúng trong mươi năm nữa khi con ngồi nghĩ lại.
Ngày mình đi Cần Thơ chìm trong tối. Ngày con về chốn cũ chắc bình minh. Má là quê hương. Quê hương là má. Quê hương con còn có thể tìm lại được; chớ mất ba má rồi thì thôi đã hết trông mong.
“Má ơi chim vịt chết chìm. Thò tay vớt nó con cá lìm kìm cắn tay.”
Mười năm, hai mươi năm nữa biết con còn có má để mà kêu mà réo nữa hay không?
Hai giờ kém 15, Thiếu tá Diệm và tôi trở dậy đi làm. Mặc dù chiều nay là ngày nghỉ, tôi cũng phải vào bệnh viện. Tình thế này không cho phép tôi ở nhà. Thiếu tá Diệm lái xe đưa tôi tới nhà thương rồi ông quay xe lại đi về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu cách đây chừng một cây số.
Vào giờ này bệnh viện hãy còn vắng. Nhân viên lác đác đi làm. Ở đây họ đi làm không được đúng giờ lắm.
Trong khi chờ đợi Lạng đi phân phát hồ sơ, tôi ngồi ký những phiếu để lấy thuốc dùng trong trại. Mấy phút sau Lạng trở lại nói:
– Thưa bác sĩ phát xong rồi.
Chiều nay tôi đi khám lại bệnh, nhằm cho xuất viện tối đa những người bị thương nhẹ vì tôi mới nhận được công điện của thượng cấp từ Liên Đoàn 3 Quân Y ở Biên Hòa, chỉ thị cho chúng tôi dùng mọi phương tiện cũng như sáng kiến để có một số giường trống tối đa. Chắc thượng cấp cũng đã nhìn thấy sắp có đụng độ lớn nên phải dự trù trước số giường trống cho thương binh.
Tôi đi một vòng. Tôi nhận thấy phần đông những người bệnh nhẹ nằm đây cả tuần lễ đã gần khỏi rồi. Tôi cho xuất viện ba mươi người. Trại Nhi Khoa phần đông bệnh nội thương, tôi cho xuất viện hết. Như vậy tôi đã có 48 giường trống. Ngày mai tôi sẽ cho xuất viện thêm nữa. Những người lính được xuất viện, kèm theo mấy ngày phép nên không kêu ca gì. Những người dân phần đông đều xin ở lại mặc dù vết thương rất nhẹ. Một số vì nhà ở Lộc Ninh đường đã bị cắt rồi không về được. Một số cố xin nằm lại nhà thương để được nuôi ăn.
Tôi tới bên giường một bà bị chấn thương đầu và gãy kín hai cánh tay vì tai nạn xe hơi lật cách đây mấy ngày. Thay vì cho bà về ngay sau khi bó bột, nhưng tôi ngại chấn thương sọ não nên để bà nằm lại mấy ngày để theo dõi. Nay tình trạng của bà có vẻ đã ổn định. Tôi khám thần kinh cho bà, xem xét mọi thứ xong tôi nói:
– Tôi cho bà xuất viện, ngày mai về nhà tĩnh dưỡng, mười lăm ngày sau trở lại tái khám.
Bà ta cố làm ra vẻ thiểu não, mắt rơm rớm, dở giọng van xin:
– Thưa bác sĩ bác sĩ, bác sĩ thương cho tôi nhờ. Tay của tôi còn đau lắm, chóng mặt và tôi không đi được.
Nếu bình thường tôi cũng cho bà nằm thêm ngày nữa, để tránh cái cảnh van xin này. Nhưng trong tình trạng hiện tại phải cứng rắn mới được. Tôi giảng cho bà hiểu:
– Bây giờ bà hết nguy hiểm rồi. Tôi đã bó một cánh tay cho bà rồi. Chỉ cần bà về nhà nghỉ ngơi dưỡng sức chừng sáu tuần sau các xương sẽ lành.
– Thưa bác sĩ nhà tôi ở tận Lộc Ninh. Làm sao tui về được. Bác sĩ rộng lòng thương cho tôi được nằm ở đây thêm mấy ngày nữa.
Tôi nhẹ nhàng nhưng cương quyết nói:
– Bệnh bà tương đối nhẹ. Tôi đã chăm sóc tử tế cho bà, bây giờ bà phải về để nhường giường cho những người nặng hơn. Bà có thể ra ở nhờ nhà quen dưới phố. Ở đây thêm mấy ngày nữa cũng không ích gì. Sắp sửa đánh nhau lớn rồi, bệnh viện lại gần căn cứ quân đội, sẽ bị pháo kích nguy hiểm lắm. Tôi sẽ cho bà thuốc khi ra khỏi nhà thương.
Tôi bỏ đi tới khám một người đàn ông 45 tuổi, bị té gãy một xương sườn. Nằm đây đã gần một tuần. Cứ thấy mặt tôi ông ta nằm gục xuống kêu đau ngực. Có chiều tôi thấy ông ta ra ngoài hành lang, đi bách bộ quanh trại, chẳng có vẻ gì đau đớn cả. Tôi dùng ống nghe khám kỹ thấy phổi ông tốt. Tôi nói:
– Mai ông xuất viện về nhà.
– Thưa bác sĩ em không có nhà.
– Thế trước ông ở đâu?
– Dạ em ở nhà người quen dưới chợ.
Tôi cau mặt:
– Thế bây giờ ông lại về đó ở.
– Em có một thân một mình không ai săn sóc em.
Nói xong ông ta ôm ngực ra chiều đau đớn lắm. Rồi ngẩng lên nhìn tôi tiếp lời:
– Em xin bác sĩ cho em ở đây kiếm chút thuốc chút cơm qua ngày.
Tôi nhẫn nại giải thích:
– Không được đâu, tình trạng của ông không còn gì nguy hiểm nữa. Nhà thương chữa bệnh chứ đâu có phải là khách sạn đâu. Ông nên xuất viện tìm chỗ trú ngụ, tháng sau tới tôi khám lại.
– Bác sĩ thương em…– ông ta cố nài nỉ.
Tôi bực mình ngắt lời:
– Tôi sắp sửa nhận hàng trăm thương binh tới đây, bệnh của ông thực ra không cần nằm bệnh viện ngay từ ngày đầu. Nay đã khá rồi ông nên kiếm chỗ tĩnh dưỡng để nhường giường cho những người nặng sắp vô.
Theo đúng nguyên tắc những bệnh nhân nội khoa nhẹ như hai trường hợp trên không cần nằm lại. Nhưng tình cảnh của những dân vùng này thật nghèo khó. Kiếm đủ hai bữa ăn một ngày rất chật vật. Vào nằm bệnh viện bảo đảm có đủ hai bữa cơm ăn, tuy không ngon lành béo bổ, nhưng cũng đủ no khỏi phải mất sức lao động vất vả suốt ngày. Thông cảm tình trạng khó khăn của dân như vậy nên chúng tôi rất dễ dãi trong việc nhập viện. Đặc biệt là khi bệnh viện có nhiều giường trống. Lâu dần thành lệ quen, nên mới gặp rắc rối như hôm nay.
Như đã nói ở trên, đa số dân ở đây đều là phu đồn điền cao su trước kia, những người còn làm cho đồn điền sẽ được săn sóc tại bệnh viện riêng của đồn điền. Bệnh viện Quản Lợi là bệnh viện lớn nhất có đủ dụng cụ, thuốc men, có nhà xây rộng rãi khang trang gấp mấy lần Bệnh Viện Tiểu Khu. Tôi biết vậy vì tôi đã có dịp làm bác sĩ cho đồn điền được một tháng. Mỗi tuần làm có nửa ngày thứ Năm. Trong khi đó, lương lại gấp đôi lương quân đội. Đi hay về đều có xe đồn điền đưa đón. Những bệnh xá ở xa đều đi bằng máy bay Cesna của đồn điền. Tôi được ăn uống, tiếp đãi rất trọng thể tại một biệt thự dành riêng cho bác sĩ. Có một bà bếp riêng nấu ăn trưa rất ngon. Bà này ăn mặc rất giống những bà già quê miền Bắc. Nói giọng đặc biệt Bắc Kỳ. Tôi tò mò hỏi:
– Bà làm ở đây đã lâu chưa?
Bà già lễ phép trả lời:
– Thưa quan đốc, nhà cháu làm ở đây đã được gần năm mươi năm rồi. Từ khi nhà cháu mới 18 tuổi, đăng ký đi làm phu đồn điền. Rời khỏi đất Bắc lúc còn con gái, năm nay đã 66 tuổi rồi.
– Thế bà có về thăm lại làng quê bao giờ chưa?
– Dạ, có về một lần, cách nay đã mười mấy năm rồi, nhưng họ hàng chả còn ai nữa nên nhà cháu trở lại đây làm việc. Con dâu, con rể cùng làm việc ở đây cả nên cũng đỡ buồn. Chứ hồi trước, lúc mới vào đây nhớ nhà mà cực khổ quá chỉ có khóc mà thôi.
– Thế ông nhà còn làm việc ở đây không ?
– Thưa ông nhà cháu mất được năm năm rồi, bị lao lực mà chết.
Thực vậy số bệnh nhân bị lao phổi nặng ở các bệnh xá đồn điền không phải ít. Tôi đến khám bệnh cho họ thấy họ được cho ở một khu riêng trong bệnh viện. Mỗi bệnh xá gần chục người. Thân hình gầy khẳng khiu chỉ còn da bọc xương, mặt mũi tái mét chắc có lẽ họ cũng đã bị vi trùng sốt rét tàn phá. Tôi nghĩ họ cũng chỉ còn chờ ngày chết.
Tuy làm bác sĩ cho đồn điền thì sướng và có thêm tiền thật, nhưng sau một tháng tôi phải tự ý xin nghỉ. Những y tá có cảm tình với tôi khuyên tôi không nên làm nữa vì rất nguy hiểm. Tôi có thể bị phía bên kia bắt cóc.
Tôi thấy có lý, vả lại tôi cũng chẳng tham tiền. Sở dĩ tôi nhận lời làm bác sĩ cho đồn điền vì nơi đó đối với tôi vẫn là những khu vực bí mật. Tôi tò mò muốn vô tận nơi xem sinh hoạt của những cư dân ở đó ra sao.
Tôi báo cho chủ đồn điền sẽ không tiếp tục công việc nữa. Họ thông cảm trường họp của tôi và một tuần sau, cho anh Kiên người có nhiệm vụ đưa đón tôi đi các bệnh xá của đồn điền mang đến đưa cho tôi một số tiền 50 ngàn đồng, 10 ngàn nhiều hơn số lương họ đã đồng ý trả cho tôi. Tôi có nói cho anh Kiên biết, nếu có bệnh nhân nào cần mổ xẻ khẩn cấp, cứ cho chở ra Bệnh Viện Tiểu Khu, tôi sẽ hết lòng săn sóc họ.
Xong việc tôi đi lên trại Nội Khoa gặp cô Túy, y tá trại này. Tôi hỏi cô:
– Ông Đắc đâu cô, cô kêu ông lại đây giúp tôi.
Ông Đắc là trưởng trại Nội Khoa Nữ kiêm Phụ Tá Điều Dưỡng Trưởng bệnh viện. Người ta thường gọi ông là Đắc già, mặc dù ông chỉ 48 tuổi thôi, để phân biệt vớiTrung sĩ Đắc Quân Y.
– Thưa bác sĩ kêu tôi?
Đắc già vừa cười vừa tiến đến bên tôi, tướng đi chân chữ bát, lưng hơi còng. Tôi gật đầu:
– Trại ông có bệnh nặng không?
Đắc già nhanh nhẩu trả lời:
– Dạ thưa không, toàn bệnh nhẹ cả.
– Như vậy ông cho xuất viện hết dùm tôi. Sắp đánh nhau lớn rồi, mình phải dự trù một số giường lớn cho thương binh nằm.
– Vâng bác sĩ để tôi lo cho, nhưng có cho ra hết cũng chỉ được 20 giường.
– Ờ, được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
– Thưa còn những người ở xa như Lộc Ninh thì sao?
– Đó là việc của họ, không phải việc của mình.
Thoáng thấy ông quản lý Kiên ở cuối hành lang, ông này là quản lý Bệnh Viện Dân Y, tôi vẫy ông ta lại.
– Mình còn bao nhiêu giường dư ở dưới kho hả ông?
– Dạ thưa 15.
– Ông cho lấy ra kê hết vô phòng trống. Mình phải kiếm cách tăng số giường lên mới được.
– Thưa đã cho kê xong cả rồi.
– Ông cho y công dọn dẹp phòng hội, ở đó có thể để được gần 20 băng-ca.
– Vâng, tôi sẽ cho họ làm ngay.
Tôi chợt nhớ ra hỏi:
– A, vụ ông Long ra sao?
– Tôi đang cho người đi đóng hòm. Bây giờ người nhà đang tắm rửa cho ông ấy, chờ liệm xác. Ngày mai tôi cho xe mang đi chôn.
Tôi gật đầu nói:
– Thôi, chào hai ông.
Cả hai cùng cất tiếng:
– Chào bác sĩ.
Tôi đi xuống Phòng Mổ. Qua Phòng Hậu Giải Phẫu tôi thăm người bệnh ban sáng. Y nằm ngủ yên hơi thở đều hòa. Tôi dơ tay bắt mạch. Thấy bình thường. Tôi thấy khá yên lòng. Trên chiếc cọc sắt cắm ở đầu giường, chai nước biển nhỏ từng giọt đều đặn. Trên thành chai có một mảnh giấy ghi:
Chai thứ 2, 14 giờ ngày 5-4-72 PNC 5 triệu. Ký tên: Trí
Tôi gật đầu hài lòng. Tôi đã dặn dò y tá nhiều lần, người nào chuyền nước biển cho bệnh nhân phải ghi rõ ngày giờ, chai thứ mấy trong ngày, pha thứ thuốc gì trong đó, đồng thời ký tên để dễ theo dõi và kiểm soát. Nhưng chỉ được mấy ngày đầu, rồi vì quên hoặc làm biếng họ ghi một cách thiếu sót hoặc không ghi khiến tôi bực mình không ít.
Phòng Hậu Giải Phẫu có năm giường điều chỉnh và một giường băng-ca có bánh xe đẩy. Hiện giờ chỉ còn hai giường trống. Để có thêm giường tôi cho chuyển ba người đã ổn định xuống trại Ngoại Khoa. Một người bị vết thương bụng tôi đã mổ cách đây ba ngày, tình trạng khả quan. Một người lính Thượng tên là Điểu Thoul bị lủng ruột già, tôi đã làm hậu môn tạm và một người lính bị gẫy hở xương chân ống quyển.
Tôi mở cửa Phòng Mổ, thấy bác sĩ Chí đang mổ sạch một vết thương ở cánh tay. Cô Trí đang đứng phụ bên cạnh. Cô có cặp mắt rất đẹp, nhất là khi cô mang khẩu trang che bớt cái miệng hơi móm. Tôi hỏi:
– Có gì lạ không Chí?
Bác sĩ Chí quay mặt ra trả lời:
– Có hai người Địa Phương Quân bị thương mới vô.
Tôi thắc mắc:
– Còn người kia đâu?
Chí đứng dậy tháo găng. Cô Trí thoăn thoắt băng vết thương.
– Người kia bị gãy nát khuỷu tay phải. Tao cho đi chụp hình rồi.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế tròn bằng sắt của phòng mổ, gần máy điều hòa không khí. Hơi lạnh tỏa ra làm tôi thấy dễ chịu. Trưa tháng Tư ở đây thật nóng.
– À Chí ơi, hôm nay mày cho xuất viện bao nhiêu người?
– Ba chục.
– Ít đấy, ráng cho thêm đi, mình phải có số giường trống tối đa.
– Dễ mà, bệnh trại tao toàn sốt rét, cho họ thuốc về nhà uống cũng được. Đến mai tao sẽ cho ra hết, chỉ giữ lại một hai người nặng thôi.
Tôi mừng rỡ, gật đầu vui vẻ nói:
– Như vậy là nhất mày rồi. Này, tình hình có vẻ găng lắm đấy nhé. Bình Long kể như bị cô lập rồi, xếp lại đi vắng, tao vừa lo mổ vừa lo chỉ huy toàn bệnh viện, bận muốn điên cái đầu luôn.
Bác sĩ Chí hơi mỉm cười an ủi:
– Ôi, hơi đâu mà lo, nghĩ làm gì cho mệt.
Tuy nói vậy nhưng nhìn nét mặt của Chí, tôi cũng thấy những ưu tư không thể dấu nổi. Cũng may vợ và hai con Chí đã về Saigon mấy ngày trước, Chí cũng yên lòng được phần nào. Nhưng Chí mới xây xong căn nhà khá khang trang ở ngay phố chợ, vừa dùng làm chỗ ở, vừa dùng làm phòng mạch. Tôi đã có dịp tới thăm. Tôi có cảm tưởng bao nhiêu tiền dành dụm được, Chí đã đem đổ vào căn nhà này cả. Nếu trận chiến xảy ra căn nhà bị hủy hoại thì chắc không được vui lắm.
Tôi ngồi yên lắc đầu, nhè nhẹ thở ra không nói gì. Kể từ Tết tới giờ tôi luôn luôn bận rộn. Dân, lính bị thương tùm lum. Bị thương vì đụng độ với địch thì ít mà vì những tai nạn lãng nhách thì nhiều như say rượu mở chốt lựu đạn bỏ vào ly rượu, khiến cho đương sự bị mất đầu và năm người khác bị thương. Tám nhân dân tự vệ 14-15 tuổi thách nhau mở chốt lựu đạn ra chơi khiến chỉ còn một mạng sống sót. Cả chục người bị thương vì một ông già lẩm cẩm lấy đạn súng cối ra đập chơi… Rồi đi làm dẫm phải mìn, lựu đạn gài. Toàn những chuyện không đâu.
-Thưa bác sĩ có phim ướt đây.
Một y tá Phòng Quang Tuyến ló đầu vào phòng mổ báo cáo. Tôi nhìn ra đó là Hạ sĩ Ngà, người nhỏ con có nước da trắng như con gái. Tôi đưa tay cầm lấy khung phim chụp khuỷu tay còn ướt nước tráng phim. Tôi soi phim lên ánh đèn. Thấy đầu dưới xương cánh tay bị dập nát. Khớp xương này kể như không dùng được. Tôi nói với cô Trí:
– Cô kêu người đem bệnh này ra, khênh người bị thương ở khuỷu tay vô.
Trong chốc lát người bệnh được đem vào nằm ngay ngắn trên bàn mổ.
Cánh tay phải đã được băng bằng một băng cá nhân lớn, đẫm máu. Tôi bắt mạch cổ tay, không có. Tôi trợn mắt nhìn bác sĩ Chí. Chí nhún vai đứng yên. Tôi bắt mạch tay bên kia thấy bình thường. Tôi nói:
– Chắc đứt động mạch cánh tay.
Tôi quay sang phía anh Xòm nói:
– Anh đo áp huyết rồi sửa soạn cho bệnh nhân ngủ đi.
Cô Trí lấy cho tôi bộ đồ Suture lớn và bộ Vascular.
Bệnh nhân ngước nhìn tôi:
– Bác sĩ đừng cắt tay em. Anh ta rơm rớm nước mắt. Bác sĩ mà cắt tay em chắc em không sống được. Em còn sáu đứa con.
Tôi thông cảm với anh ta. Đây không phải là lần thứ nhất tôi bị nghe những lời như vậy. Phần đông những người bị thương tay chân đều có thành kiến là vào bệnh viện sẽ bị cưa bị cắt, nhất là ở những bệnh viện cấp thấp và nhỏ như Bệnh Viện Tiểu Khu này. Điều này cũng đúng một phần nào vì chuyên viên giải phẫu không đủ, đặc biệt là về kỹ thuật giải phẫu mạch máu.
Tôi vẫn lấy làm lạ là ở trong một nước chiến tranh ròng rã đã bao nhiêu năm mà nền y khoa miền Nam Việt Nam không chú trọng gì về ngành giải phẫu. Trước sau vẫn chỉ rập khuôn theo chương trình trong thời bình của người Pháp để lại, không có gì thay đổi cho phù hợp với tình thế hiện tại. Những giới chức có trách nhiệm hình như rất ù lì không có sáng kiến.
Ngay cả Cục Quân Y cũng vậy. Mấy năm gần đây tuy có tổ chức được mấy khóa Giải Phẫu Binh Đoàn nhưng số bác sĩ được thụ huấn quá ít, không đủ cung ứng được nhu cầu của chiến trường toàn quốc về y sĩ giải phẫu. Mặc dù ngành Quân Y được ưu tiên trưng dụng hầu hết các nam bác sĩ mới ra trường hàng năm.
Khi con trai của vị Khoa Trưởng Đại Học Y khoa bị nhập ngũ với chức vụ sĩ quan Trợ Y. Anh bị một mảnh đạn vào cổ đã không được săn sóc đúng cách và đã bị tử thương một cách oan uổng. Lập tức một lệnh được đưa xuống. Tất cả các bác sĩ mới ra trường, nhập ngũ phải dự một khóa huấn luyện về giải phẫu cấp cứu. Chắc chắn cấp trên đã rút được một bài học đắng cay từ kinh nghiệm trên. Tuy có trễ nhưng muộn vẫn còn hơn không.
Khi hành nghề y sĩ lúc nào tôi cũng nhớ câu: Đừng làm cho người những gì mình không muốn người khác làm cho mình. Tôi đã dùng câu này làm phương châm chỉ đạo trong suốt cuộc đời tôi. Không những về phương diện y khoa mà với tất cả các sự việc khác trên đời. Tôi lúc nào cũng tâm niệm coi bệnh nhân như những người thân, cố hết sức chữa chạy cho họ như cho người trong gia đình, hay cho chính bản thân tôi.
Tôi thương tôi. Tôi thương những người con trai Việt Nam mà tuổi hoa niên chỉ là những chuỗi ngày bom đạn. Suốt hai mươi năm chiến tranh biết bao người đã âm thầm ngã gục. Biết bao người đã trở thành tàn phế, sống lây lất chuỗi ngày còn lại.
Tôi nhớ lại những ngày ở đơn vị tác chiến, ngay trong những giây phút cam go khổ cực nhất, tôi đã bắt gặp những nụ cười vừa hồn nhiên vừa cam phận lại vừa tin tưởng nơi những người lính trẻ. Tôi thấy mến họ hơn bao giờ hết. Có những người còn đang tuổi đi học. Chiến tranh đã cướp mất tuổi trẻ của họ. Bắt họ rời ghế nhà trường quá sớm để đi vào một cuộc đời phiêu lưu đầy hiểm nguy và bất trắc.
Trong cuộc hành quân đầu đời, tôi còn nhớ một Chuẩn úy trẻ tên Chánh, hình như mới ra trường. Anh có nét mặt rất non, rất sữa, dáng người mập mạp, miệng luôn tươi cười. Khi Trung Đội của anh tiến lên phía trước, vượt qua chỗ tôi đang dừng quân. Thấy tôi, anh giơ tay vẫy, miệng cười gọi:
– Bác sĩ mạnh giỏi không ?
Tôi nhìn ra thấy Chánh, cũng vẫy tay làm hiệu chào lại, mỉm cười gật đầu không nói gì. Ba mươi phút sau đó, tiếng súng nổ ròn rã ở phía trước. Tôi biết tiền đạo của mình đã đụng trận. Và không bao lâu, Trung úy Kháng Phòng 3 Trung Đoàn báo cho tôi biết Chuẩn úy Chánh đã trúng đạn tử trận. Nét mặt tươi cười của Chánh chưa phai trong trí tôi, nhung nay Chánh đã không còn nữa.
Thật như một giấc mơ. Trường hợp như Chánh không phải là ít. Những người trai trẻ ấy đã sinh lầm vào một thời kỳ lịch sử đen tối của nước nhà. Số phận của họ thật hẩm hiu. Tôi thương và quý họ vô cùng.
Tôi thấy tôi phải hết lòng giúp đỡ họ, nếu chẳng may trên chiến trường họ có mệnh hệ nào. Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của tôi để cứu sống họ, cố giữ cho họ được toàn vẹn thân thể.
Phải cắt đi một bàn tay hay một cẳng chân của người khác là một điều tôi không bao giờ muốn vì nó làm tôi đau lòng không ít. Trước khi đưa tới quyết định khủng khiếp đó, tôi phải đắn đo ghê gớm và chỉ làm khi nào có đầy đủ nhưng yếu tố cần thiết hoặc để cứu lấy mạng sống của người thương binh, Không bao giờ tôi phóng tâm làm bừa bãi.
Có nhiều trường hợp tuyệt vọng, tôi cũng cố giữ cho đến khi không thể được mới cắt đi. Làm như vậy thực trái với tinh thần khoa học nhưng nói lên tâm ý của tôi là không bao giờ làm cẩu thả cho xong việc, không để ý gì đến nỗi đau của người khác.
Bởi vậy tôi rất thông cảm nỗi lo lắng bị tàn tật của anh thương binh.
Những lời van xin của anh đã nói lên điều đó. Tôi đến gần bên anh vỗ vai anh nói:
– Anh đừng lo, để tôi xem nếu giữ được tôi sẽ cố giữ. Nếu mạch máu đứt, tôi sẽ cố nối lại. Bất đắc dĩ lắm tôi mới phải cắt, anh yên tâm đi.
Tuy nói vậy nhưng tôi lấy làm lo lắm. Vì vết thương này xảy ra đã lâu, quá sáu giờ rồi, dù có nối mạch máu lại nhưng cánh tay có sống được không. Hy vọng thật là mong manh.
Tôi cho đặt đai chỉ huyết phía trên cánh tay gần nách. Trong khi chờ đợi anh Sáu cho bệnh nhân ngủ, tôi đi rửa tay với bác sĩ Chí và cô Bích.
Sau khi sửa soạn xong, tôi ngồi xuống và bắt đầu mổ. Tôi rạch da theo đường đi của động mạch. Tôi tìm thấy động mạch cánh tay không khó khăn. Động mạch bị đứt gần hết. Hai đầu chỉ còn dính với nhau ở mặt sau. Tôi cắt rời ra. Đầu dưới mạch máu vẫn còn máu tươi chảy lên. Tôi nghi chắc còn những động mạch phụ chảy vào. Như vậy hãy còn nhiều hy vọng. Tôi làm sạch sẽ hai đầu mạch máu, cắt cho thật phẳng rồi dùng Mersilene 5.0 may lại. Cuộc giải phẫu kết thúc sau một giờ. Tôi dùng máng bột bọc mặt sau cánh tay tới bàn tay để giữ yên cẳng tay (cẳng: từ khủy tay tới cổ tay) hợp với cánh tay một góc 90 độ để đề phòng bệnh nhân duỗi tay ra làm đứt động mạch mới nối.
Sau khi băng bó xong, tôi trút bỏ găng tay bắn văng xuống chân cô Bích, khiến cô lườm tôi một cái xiêu đình. Tôi chỉ mỉm cười hít mạnh. Không gì khoan khoái bằng giây phút được trút bỏ găng tay sau vụ mổ. Tôi cởi bỏ áo choàng, lau sạch mồ hôi tay đến bên người bệnh. Bác sĩ Chí bắt mạch cánh tay vừa mới mổ xong nhìn tôi nói:
– Sao không thấy mạch nhảy?
– Từ từ đừng nóng, không thấy bàn tay nó hồng hào trở lại sao bạn. Lạy trời nếu không có gì trục trặc xẩy ra, cuộc giải phẫu thành công thì vui biết mấy.
Mổ bụng cứu sống một mạng người tôi không thích bằng nối động mạch cứu sống được một phần thân thể. Vì kết quả được thấy ngay trước mắt. Tôi quay sang người y công mới được gọi vào, nói:
– Chị Huyên đẩy giường vào đi. Cho bệnh nhân ra, mình còn về ăn cơm chứ. Anh Xòm nhớ cho 5 triệu Penicillin vào chai nước nghe.
– Vâng ạ.
Tôi giúp anh Xòm và chị Huyên chuyển bệnh nhân sang bên giường, đẩy ra ngoài Phòng Hậu Giải Phẫu. Tôi lấy hộp băng bột chèn vào phía bên ngoài để cho cánh tay bị thương khỏi ngả sang một bên.
Sau khi viết nghi thức giải phẫu cùng ghi thuốc vào tờ bệnh nghiệm tôi dặn cô Trí, y tá trực đêm nay :
– Cô nhớ coi chừng bệnh nhân, nếu anh ta kêu đau cô chích 50 mg Demerol như tôi có ghi trong hồ sơ.
Trí gật đầu dạ nhỏ. Tôi quay sang bác sĩ Chí:
– Về chưa, sáu giờ rồi.
Chí gật đầu tay móc xâu chìa khóa. Tôi nói tiếp:
– Cho tao quá giang về nhà, đói quá.
Chí đề nghị:
– Đi ăn phở với tao không ?
– Thôi để khi khác, anh Châu nấu cơm cho tao rồi.
– Tao bây giờ không ai nấu cơm nữa, bà xã bị kẹt ở Sài Gòn rồi.
Chúng tôi bước ra ngoài, lên xe. Chí rồ máy, chiếc xe từ từ đi ra khỏi bệnh viện. Chí tiếp tục nói:
– Sáng nay tao gọi điện thoại về nhà, tính dặn vợ tao đừng có lên, nguy hiểm lắm, người nhà cho biết là bà đã đi rồi, thế có bực mình không ?
Tôi an ủi Chí:
– Lo gì đường đã bị cắt rồi. Lên đến Lai Khê hoặc Chơn Thành là phải quay về.
Xe đã đến nhà tôi. Tôi nói:
– Tốp đi, cám ơn.
Tôi bước xuống xe. Chí rồ ga đi thẳng.
Lúc này trời đã hết nắng. Ngôi nhà nhỏ đứng thu hình dưới tàn cây đa. Thời tiết tháng Tư có vẻ oi bức lạ. Hơi nóng từ mặt đất vẫn còn xông lên. Tôi đi vòng ra phía sau nhà. Anh Châu đang ngồi trên bậc thềm hút thuốc lá, mắt nhìn ra xa xăm. Nơi bậc thềm tam cấp phía sau nhà là chỗ ngồi quen thuộc của anh mỗi khi anh rảnh rỗi, làm xong hết công việc trong nhà. Tôi hỏi anh :
– Ông Diệm về chưa?
Châu lắc đầu:
– Thiếu tá không về, ông sai chú Út về lấy cơm nước, mang mùng mền vào ngủ trong Tiểu Khu, cấm trại 100 phần trăm.
Chú Út là lính cận vệ của Thiếu tá Diệm và cũng là tài xế của ông. Tôi bước vô nhà ngồi xuống cái giường sắt của tôi. Cởi giầy thay đồ sửa soạn đi tắm. Sau một ngày dài bó chân trong đôi giầy nhà binh cao cổ, tôi thấy rất dễ chịu khi để chân trần trên nền gạch sạch mát. Đôi giầy này thuộc loại Jungle boot số 9, của quân đội Mỹ mà em Tuệ tôi đã mua cho tôi mấy tháng trước đây. Rất vừa chân, đi rất thoải mái và an toàn bởi vậy mới đi suốt ngày được. Tôi lấy ngón tay xoa bóp hai bàn chân cho máu chảy đều.
Có những bữa mổ hơi nhiều, đứng cả chục tiếng đồng hồ một ngày, tôi thấy mỏi ở hai bắp chân. Nếu có người đấm bóp thì thực khoan khoái biết chừng nào! Nhưng cái hạnh phúc nhỏ nhoi ấy hiện giờ không có được nên phải tự làm lấy thôi. Vả lại bản thân tôi cũng không muốn nhờ và làm phiền đến những người khác.
Tôi tìm đôi dép Nhật, vươn vai đứng dậy đi vào buồng tắm. Buồng tắm hơi tối, ẩm thấp nhưng được cái lúc nào cũng đầy đủ nước. Nước ở Bình Long thật khan hiếm. Vì tỉnh tọa lạc trên một dẫy đồi nên phải đào giếng bằng máy khá sâu mới có nước. Thiếu tá Diệm là sĩ quan Trưởng Phòng 4, nên chúng tôi lúc nào cũng có đầy đủ phương tiện đi lấy nước từ Quản Lợi, xa chừng ba cây số. Mỗi tuần chúng tôi lại có một xe nước kéo tới nhà.
Những mệt mỏi đã trôi đi theo những gáo nước lạnh xối trên người. Tôi thấy thoải mái nhẹ nhàng sau khi tắm. Tôi ra phòng ngoài ăn cơm.
– Anh Châu này, tối nay tôi vô bệnh viện ngủ.
Anh Châu hơi ngạc nhiên:
– Sao bác sĩ không ngủ nhà. Hôm qua bác sĩ trực rồi mà ?
– Cấm trại 100 phần trăm. Vả lại ngủ nhà cũng hơi ngán, sợ địch tràn vào đánh đặc công.
Châu cười tin tưởng:
– Nhà mình ở giữa, chung quanh toàn lính lo gì.
– Mình phải đề phòng, tôi phải vào để coi sóc binh lính.
Thực ra có bao nhiêu lý do bắt buộc tôi phải vào bệnh viện. Thứ nhất vì trách nhiệm chỉ huy đơn vị. Thứ hai tôi muốn lúc nào cũng phải ở tư thế sẵn sàng để đón tiếp những người bị thương. Tôi rất ghét làm việc hấp tấp hốt hoảng không phương pháp và vô tổ chức. Thứ ba tôi muốn tránh việc di chuyển trong đêm hôm rất nguy hiểm cho tôi và cho người đi mời tôi. Nếu có sự xáo trộn xảy ra, di chuyển ban đêm rất dễ là mục tiêu cho địch và bạn bắn lầm.
Ăn cơm xong tôi ra ghế uống nước, đi giầy để sửa soạn vô bệnh viện. Liếc nhìn đồng hồ thấy 7 giờ 30 tôi đứng dậy:
– Anh Châu trông nhà nghe.
– Vâng bác sĩ cứ đi đi. – Châu đáp vọng lại từ sau nhà.
Trời tối mờ mờ, dãy nhà cư xá công chức trước cửa đã bật đèn. Những bóng người loáng thoáng trong ánh điện vàng nhạt. Có nhà đang ăn cơm. Ngoài đường không một bóng người. Quán nước ở góc đường, ngày thường đồng đảo bây giờ chỉ còn một hai người. Cây xoài ở cổng trường Tiểu Học in bóng đen thẫm trên nền trời xám nhạt. Tôi rẽ vào cổng bệnh viện, liếc nhanh về hố hỏa tiễn vẫn còn thấy rờn rợn. Vào giờ này bệnh viện thật vắng vẻ và hiu quạnh. Đã có lần Thiếu tá Diệm phải thốt lên:
– Buổi chiều bệnh viện sao mà buồn và lặng lẽ thế !
Ánh điện tù mù nơi hàng hiên càng tăng thêm vẻ thê lương. Một vài bóng bệnh nhân âm thầm ngồi bên những gốc cột bên ngoài hành lang. Tôi bước về phòng Hậu Giải Phẫu. Ánh đèn Néon sáng chói làm lóa mắt tôi từ ngoài bước vào. Cô Trí đang làm sổ thuốc trực. Tôi đến ngay giường người bệnh mới nối mạch máu hồi chiều. Tôi nắm ngay lấy cổ tay bắt mạch. Mạch nhảy đều. Bàn tay ấm, ấm cả lòng tôi. Một niềm vui nhẹ nhàng làm miệng tôi tự động nở một nụ cười. Tôi so sánh mạch hai cổ tay. Mạch bên bị thương yếu hơn nhiều, nhưng không sao, sau này nó sẽ trở lại bình thường. Hiện giờ miễn cánh tay sống lại là được rồi.
Bệnh nhân cựa mình rên nhẹ. Khuôn mặt nhợt nhạt vì bị mất máu và kích xúc lúc mới vào nay đã thấy tươi lên được một chút. Anh ta mở mắt, mấy giây sau anh mới nhận ra tôi:
-Bác sĩ không cắt tay tôi chứ ?
– Không. Còn nguyên, anh nhìn xem. Tôi đã nối mạch máu cho anh.
Anh mấp máy môi:
– Cám ơn bác sĩ.
Anh không cần phải nói, trong mắt anh tôi đã thấy điều đó.
-Anh thấy bàn tay ra sao?
– Thưa bác sĩ nó hơi tê tê.
– Anh cử động mấy ngón tay tôi coi.
Anh ta ngo ngoe mấy ngón tay. Có lẽ cử động ấy làm anh ta đau, tôi thấy anh nhăn mặt.
– Thôi đủ rồi, thế là anh yên tâm nhé. Mới mổ nó còn đau một chút, chừng hai ba ngày nó sẽ bớt đi nhiều. Thôi anh nằm nghỉ nhé.
– Cám ơn bác sĩ.
Tôi quay sang người bệnh mổ lúc ban sáng. Anh ta đã tỉnh. Một ống nhựa đặt qua lỗ mũi vào bao tử để hút nước trong dạ dày.
– Thưa bác sĩ, cho rút ống này ra để khó chịu quá.
Tôi đặt tay lên trán người bệnh, nhẹ nhàng giải thích:
– Anh cố chịu khó để chừng một ngày. Khi tôi nghe thấy tiếng ruột kêu trong bụng chứng tỏ ruột đã hoạt động lại rồi tôi sẽ cho rút ra liền không cần anh phải xin. Anh bị thương ở ruột phải làm như vậy mới mau lành. Cô Trí ơi, tension ông này bao nhiêu?
Cô Trí tìm tờ bệnh nghiệm xem xong trả lời:
– Thưa bác sĩ, 11 trên 7, lúc 7 giờ.
Tôi gật đầu:
– Tốt, cám ơn cô. Cô để ý bệnh dùm tôi, tôi đi xuống phòng đây.
– Vâng ạ.
Cô Trí lễ phép trả lời tôi rồi quay đi coi mấy bệnh khác.
Tôi bước ra khỏi Phòng Hậu Giải Phẫu. Trời tối đen như mực. Tôi lần bước xuống trại Ngoại Khoa. Nơi đây có vẻ nóng vì nhiều hơi người. Tôi mở khóa bước vào văn phòng của tôi cũng là nơi tôi trực gác. Tôi lấy tay mở nút bật đèn lên. Ánh sáng tràn đầy căn phòng. Những đồ vật quen thuộc hiện lên trước mắt tôi: một tủ đầy sách gần cửa sổ đã được đóng kín. Cửa sổ này nhìn thẳng lên phòng cấp cứu. Một cái bàn gỗ kê giữa phòng, một chiếc giường sắt nhà binh có nệm phủ vải xanh lơ kê dọc theo tường gần cửa ra vào. Vài thùng giấy, trong để những đồ lặt vặt, vứt loanh quanh đâu đó.
Tôi bắt đầu dọn dẹp. Những sách vở để bừa bãi trên bàn được cất hết vào tủ, chỉ để lại một tờ báo và một ly nước. Tôi lấy chổi quét kỹ nền nhà. Tôi đang sửa soạn làm một cái hầm giản dị nhất thế giới và cũng tạm bợ nhất vì không còn cách nào khác. Đó là hầm trú ẩn dưới gầm giường. Quét xong tôi lấy một tấm nệm mỏng trải ngay ngắn trên sàn gạch giữa bốn chân giường. Thế là xong việc, trong nháy mắt tôi đã có một chỗ tránh mảnh đạn pháo kích mà tôi cứ cho là an toàn để tự an ủi lấy mình cho đỡ sợ.
Tôi lôi ở cuối giường ra một cái áo giáp còn mới nguyên bọc trong bao nylon. Tôi đã đem nó lên từ Saigon, cất dưới nệm cả năm nay không dùng. Tôi nghĩ với tình hình này tôi sắp phải cần tới nó. Tôi vuốt cái áo giáp cho thẳng thắn, để lên mặt bàn. Tôi nhét vào trong túi áo giáp một cái bật lửa gas và một con dao bấm rất sắc còn mới của phi công Mỹ mà tôi rất thích. Túi bên trái tôi để một cái băng cá nhân.
Mỗi khi đi đâu xa tôi đều dự bị ba vật mà tôi cho rất cần thiết nên lúc nào cũng mang theo bên mình. Đó là một con dao, chiếc bật lửa và chiếc đèn pin. Dao là một dụng cụ đa dụng, khi cần có thể là một vũ khí rất tốt, đặc biệt rất quan trọng trong việc mưu sinh thoát hiểm. Tôi không ưa súng. Lửa cũng rất hữu ích không kém gì dao. Tôi có hai con dao bấm, hai bật lửa, một gas một xăng, mặc dù tôi không ghiền thuốc. Một đèn pin đề phòng đi đêm tối. Chiếc đèn pin lúc nào cũng có ở ngay tầm tay khi tôi nằm ngủ. Còn thêm một bi-đông đựng nước trà nữa nhưng ngày thường tôi chỉ uống nước lạnh.
Lúc mưu sinh thoát hiểm tôi thích có nước trà do kinh nghiệm đi hành quân hồi tôi còn ở Trung Đoàn Xung Kích 43. Uống nước trà sẽ không bị khát nước, đi bộ không biết mệt, tinh thần rất tỉnh táo. Một bi-đông nước trà tôi dùng ba ngày không hết. Nếu phải tiết kiệm như khi bị lạc trong rừng, tôi có thể dùng cho cả tuần lễ vẫn còn dư vì chỉ khi nào thật khát tôi mới uống một nắp bi-đông tức là vào khoảng một muỗng cà phê. Nước trà để lâu không bị hư. Uống một nắp bi-đông là tỉnh người liền.
Tôi để cái áo giáp và cái mũ sắt ngay dưới chân bàn. Khi có biến tôi chỉ lăn người xuống gầm giường rồi thò tay ra là có ngay áo giáp mũ sắt cùng những đồ vật cần dùng khác.
Sau vụ trang bị, tôi nghĩ đến vấn đề thực phẩm. Tôi có một thùng đồ hộp mới mua ở Quân Tiếp Vụ để ở góc phòng. Một lon gô thịt chà bông mới mang từ Sài Gòn lên tháng trước vẫn còn đây. Cạnh tủ sách sau cái bàn gỗ là nửa két bia hộp, nửa két Coca và chừng sáu lít nước đựng trong hai thùng nhựa xanh trước kia là thùng Phisohex. Sau khi xài hết thuốc, tôi xin ở phòng mổ, đem rửa súc thật sạch để đựng nước đề phòng khi cần.
Tôi vững bụng yên trí, ít ra tôi cũng không sợ bị đói khát trong hai tuần. Tôi vặn quạt. Thay đồ ngả lưng nằm trên giường nghỉ thoải mái. Tôi nghĩ với tấm nệm dầy hơn một tấc. Tôi không sợ những mảnh đạn pháo kích với súng cối 82 và 61 ly. Những thứ này đụng mái ngói đã nổ huống chi còn cái trần nhà rồi mới tới tấm nệm. Nếu bị trúng hỏa tiễn thì hết thuốc chữa. Đó là số mệnh, đành chịu vậy. Vả lại mấy hầm trú ẩn đều cách xa phòng tôi. Di chuyển trong khi đang bị pháo kích rất dễ bị trúng mảnh đạn. Tôi quyết định dù thế nào chăng nữa tôi cứ nằm dưới gầm giường chịu trận là chắc ăn.
Tôi với tờ báo. Báo cũ đã ba ngày. Tin tức chẳng có gì lạ. Tôi thấy buồn ngủ. Tôi nhìn đồng hồ đã 11 giờ rồi. Tôi với tay tắt đèn. Giấc ngủ đến với tôi rất mau chóng.
Tôi rời Phòng Mổ đi về nhà. Tới cổng bệnh viện, liếc nhìn hố hỏa tiễn nổ sát bờ rào bên ngoài bệnh viện, ngay sau nhà gác cổng. Tôi thấy ơn ớn xương sống. Tôi rảo bước băng qua bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Đoàn 5. Băng ngang đường Nguyễn Huệ, đi chừng vài chục bước nữa là tới nơi tôi trú ngụ từ khi làm việc tại tỉnh lỵ này. Như thế, nơi tôi ở cách bệnh viện chừng 300 thước. Thường ngày tôi hay đi bộ để đi làm. Đôi khi tôi quá giang xe Thiếu tá Diệm, sĩ quan Trưởng Phòng 4 Tiểu Khu, cũng là người ở cùng nhà với tôi.
Tôi biết Thiếu tá Diệm từ hồi ở Trung Đoàn 43. Hồi đó ông là Sĩ Quan Trưởng Phòng 4 Trung Đoàn. Hôm tôi lên nhận việc tại bệnh viện, có nhờ bác sĩ Nguyễn Phúc –Trưởng Ty Y Tế – chở tôi tới tòa Tỉnh Trưởng chào Đại tá Nhựt. Thấy tôi, Đại tá Nhựt mừng lắm, vồn vã đón mừng vì là chỗ quen biết cũ và đã từng cùng đi hành quân mấy lần, từng đóng quân ở đồi Dốc Mơ, Gia Kiệm gần cả một năm trời, biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Đại tá Nhựt giả giọng Bắc cười nói:
– Thế là cụ lại theo tôi lên đây đấy hả?
Tôi mỉm cười gật đầu đáp:
– Dạ, cũng gần như vậy. Tôi chọn ở đây tương đối cũng gần Sài Gòn, hơn nữa lại biết có Đại tá làm Tỉnh Trưởng ở đây, được gặp lại chắc cũng vui lắm.
Đại tá Nhựt chợt hỏi:
– À, bác sĩ đã gặp ông Diệm chưa?
– Dạ thưa chưa.
– Để tôi mời ông ấy tới nói chuyện cho vui.
Vài phút sau Thiếu tá Nguyễn Kiếm Diệm tới, vừa trông thấy tôi ông reo lên:
– À, bác sĩ Quý, tôi nghe tin ông sắp lên làm việc ở đây. Tôi mừng quá cứ mong gặp lại ông. À, mà ông đã có chỗ ở chưa?
– Thưa chưa, tôi mới tới đây ngày hôm nay, chưa biết sẽ ở đâu.
Ông Diệm vui vẻ nói:
– Khỏi lo, về ở chung với tôi. Chỗ tôi ở sạch sẽ mát mẻ lắm, lại gần bệnh viện, rất tiện cho ông đi làm.
Thế là ngay từ ngày đầu tiên lên Bình Long tôi đã có chỗ tạm trú tốt, không phải mất thì giờ lo lắng, số tôi như vậy, đi xa thường hay gặp người giúp đỡ.
Tôi bước vào nhà, căn phòng mát rượi. Đó là một căn nhà nhỏ có một phòng ngủ và một phòng khách. Căn nhà này đã cũ kỹ lắm, ước chừng cũng phải ba, bốn chục năm.
Tôi được biết trước kia căn nhà này thuộc Ty Tiểu Học Bình Long. Không hiểu sao nó đã bị bỏ hoang đổ nát cho đến khi Thiếu tá Diệm đổi về đây, xin phép tỉnh sửa sang lại nên bây giờ mới ở được. Nhà rộng 5 thước, dài 10 thước, nền cao tới 40 phân trên mặt đất. Phòng khách làm phòng ăn luôn. Phòng ngủ kê hai cái giường sắt nhà binh, một cho Thiếu tá Diệm và một cho tôi. Trên trần nhà cũng như chung quanh vách tường có chất hai lớp bao cát để tránh mảnh đạn pháo kích. Ngoài ra còn có một cái hầm nổi khá rộng, khá kiên cố ăn thông ngay bên hông phòng ngủ. Nếu có biến động gì thì chỉ trong nháy mắt tụi tôi đã có chỗ an toàn trú ẩn. Căn phòng này thực ra cũng chỉ mới được Thiếu tá Diệm cho dựng lên dùng làm chỗ ở tạm cho bà Diệm lên đây sanh đứa con út mấy tháng trước. Sau khi sanh xong được một tháng, cháu bé đã cứng cáp rồi, bà Diệm và các con đã về lại Sài Gòn. Phía trước nhà còn có một hàng ba khá rộng. Chiều chiều khi đi làm về hay những ngày nghỉ, tôi và Thiếu tá Diệm thường ngồi chơi hay uống nước trà nói chuyện trước khi đi ngủ.
Nhà cất trên một khoảng đất khá rộng bên cạnh trường Trung Học Bình Long. Trước cổng có hai cây chà là và một cây mãng cầu Xiêm. Tôi đã được nếm những trái cây nhà lá vườn này. Phía sau là một cây đa cổ thụ vĩ đại, lớn nhất Bình Long, bao trùm gần trọn vẹn mái nhà khiến cho trong nhà lúc nào cũng mát lạnh. Dưới gốc cây đa có một miếu thờ. Tôi không biết thờ ai và cũng chẳng muốn hỏi thêm chi tiết.
Những đêm đầu ngủ tại nhà này, thỉnh thoảng tôi giật mình sờ sợ vì có những quả đa rơi lộp độp trên mái ngói, tưởng như những bước chân người rón rén đi ở đâu đây. Cây đa này quá âm u và người ta đồn nhà tôi đang ở có ma.
Có thể vì lý do ấy căn nhà này đã bị bỏ hoang lâu ngày. Cho đến bây giờ dân tỉnh này vẫn còn nhiều người không dám đi đêm qua đó. Nhưng tôi ở đây đã gần một năm vẫn chưa thấy gì. Ông Diệm nói:
– Tôi có tượng ảnh Chúa đã được Cha làm phép, treo trong nhà này thì ma đâu còn dám lộng hành nữa.
Tôi không theo đạo Chúa, nhưng nếu đúng như lời ông Diệm nói thì cũng tốt thôi. Những ngày rảnh rỗi, tôi vác cuốc lên luống quanh nhà trồng ít khoai lang, thứ rau tôi rất thích, vừa được ăn lá lại được ăn củ.
Tôi cất tiếng gọi:
– Anh Châu ơi, có cơm chưa?
Anh Châu là người nấu cơm và coi nhà cho chúng tôi. Anh là lính Địa Phương Quân của tỉnh, bị thương hư mắt trái từ mấy năm trước. Lúc nào cũng băng mắt. Ra ngoài anh thường hay đeo kính râm để che con mắt hư và tuy gần năm mươi tuổi anh vẫn còn bay bướm. Nghe ông Diệm nói anh Châu đã có vợ và ba con sống ở quận Chơn Thành. Tôi chưa bao giờ gặp mặt và cũng ít thấy khi nào thấy anh về thăm gia đình. Hiện nay anh còn có thêm một bà nữa ở ngay bên kia đường. Bà này có hai đứa con, chắc goá chồng. Ngoài ra tôi không biết gì thêm.
– Xong rồi bác sĩ.
– Thiếu tá về chưa?
– Ông đang rửa mặt ở đằng sau.
– Sao bác sĩ về muộn vậy? – Thiếu tá Diệm từ sau nhà bước ra hỏi tôi.
– Tôi mắc mổ một người bị thương bụng.
– Liệu có sống không?
– Sống chứ, vết thương ở ruột non dễ lành lắm. Anh lính này cũng hên, bao nhiêu mảnh đạn đều ghim vào ruột non, chừa ruột già và những động mạch lớn ra, thế có phúc không?
Tôi tiếp:
– Đêm qua súng nổ dữ rồi ông có biết đánh nhau ở đâu không?
Thiếu tá Diệm gật đầu:
– Địch quân tấn công đồn điền Quản Lợi. Lôi Hổ bắn chết sáu tên, tịch thu hai súng. Địa Phương Quân bị thương ba người.
– Sao tôi mới nhận có một?
– Chắc hai người kia bị nhẹ chuyển ra sau. Có tin địch quân sắp đánh Bình Long đấy. Nó kéo về đây mấy sư đoàn.
Tôi thản nhiên nói:
– Nó hăm đánh mình hoài mà có thấy gì đâu!
Thiếu tá Diệm chép miệng trả lời:
– Mình cũng mong như vậy, nhưng dù sao cũng phải đề phòng.
Chúng tôi lên phòng trên kéo ghế ngồi vào bàn ăn. Mâm cơm bữa nay có rau cải cúc nấu với sườn, một dĩa thịt heo kho và một dĩa rau cải xào thịt bò. Tôi ăn rất ngon miệng. Anh Châu nấu ăn rất khéo. Bữa cơm kết thúc mau chóng. Chúng tôi sửa soạn đi ngủ trưa. Hôm qua tôi trực nên chiều nay được nghỉ. Tuy nhiên lắm khi cũng không được ngủ yên. Có bệnh ngoại khoa phải mổ bất kể ngày giờ.
Là y sĩ giải phẫu đã cực rồi, cực từ khi học đến lúc ra trường. Y sĩ giải phẫu duy nhất tại tỉnh nhỏ lại càng cực hơn. Có thể nói lúc nào cũng trong tình trạng 24 trên 24.
Tại Bệnh Viện Bình Long có ba bác sĩ. Bác sĩ Trưởng Ty không phải gác. Chỉ còn hai người, tôi với bác sĩ Chí, chia nhau ra cách ngày một lần, hôm sau được nghỉ buổi chiều. Nhưng bác sĩ Chí là bác sĩ Nội Khoa chỉ làm được những vết thương nhỏ. Những vết thương lớn, vết thương bụng tôi phải làm. Trong thời chiến này, nhất là ở tỉnh Bình Long, một tỉnh gần biên giới Miên Việt, những cuộc đụng độ xảy ra thường xuyên, chiến thương ngày nào mà chẳng có. Do đó tôi luôn phải có mặt, đi đâu phải để địa chỉ cho người ta dễ kiếm. Có nhiều khi tôi đang dự tiệc hoặc xem trình diễn văn nghệ phải hấp tấp trở về bệnh viện. Có lần tôi đang ngồi hớt tóc ngoài phố họ cũng tìm được lôi về, khiến tôi phải hối anh thợ cắt cho thiệt lẹ.
Tỉnh Bình Long mấy năm trước không có y sĩ giải phẫu, chỉ có một phái đoàn Milphap Hoa Kỳ có khả năng làm được những cuộc mổ lớn. Tuy nhiên thường những bệnh nặng đều được tản thương bằng trực thăng về Bình Dương hoặc Sài Gòn. Hồi ấy có một đơn vị Không Kỵ Hoa Kỳ đóng ở gần tỉnh nên phương tiện tản thương rất dồi dào và dễ xin. Về sau tình hình an ninh khả quan hơn, đường bộ có thể đi được dễ dàng vì Quốc lộ 13 mới được tu bổ nên hầu hết các vụ tản thương đều theo đường bộ. Tản thương bằng trực thăng mới đầu giới hạn, dành riêng cho quân nhân, về sau cũng ngưng luôn. Phải mất một giờ rưỡi xe Hồng Thập Tự mới có thể đi từ Bình Long tới Bình Dương. Thời gian lâu như vậy lại thêm đường dằn xóc nên chuyển bệnh bằng đường bộ rất rủi ro cho thương bệnh binh, có khi chịu không nổi chết ở dọc đường. Từ ngày tôi về đây vấn đề tản thương ít khi được đặt ra. Hầu hết bệnh nhân đều được giải phẫu ngay tại bệnh viện, số thương vong vì thế giảm đi rất nhiều. Tôi nói ra điều này không phải tự đề cao, nhưng trong thâm tâm tôi rất lấy làm hài lòng về sự có mặt của tôi đã giúp đỡ được nhiều cho bệnh nhân tỉnh này.
Tôi còn nhớ mấy tháng trước đây, hơi rảnh rỗi, tôi đã bàn với bác sĩ Risch đi lùng bệnh. Vào những thôn xóm, những sóc quanh tỉnh để tìm những trẻ bị tật bẩm sinh như sứt môi hay tất cả những bệnh gì chúng tôi có thể mổ được, đem về bệnh viện để trước chữa cho dân, sau thêm kinh nghiệm trong nghề nghiệp.
Những trường hợp quá khó khăn thì bác sĩ Risch cho chở về bệnh viện Long Bình của Mỹ. Ở nơi này có khá nhiều bác sĩ chuyên khoa và phương tiện lại dồi dào nên có thể giải quyết được mọi trường họp một cách an toàn hơn cho bệnh nhân. Nhân thể trong khi phụ mổ cho các bác sĩ chuyên khoa, tôi cũng được học thêm. Mới hai tháng trước đây, chúng tôi kiếm được một em nhỏ tám tuổi bị một bướu ở não, Meningioma. Bác sĩ Risch đã dàn xếp chuyển bệnh nhân về 24th Evacuation Hospital ở Long Bình. Tôi được may mắn phụ mổ và học hỏi thêm về Neurosurgery (giải phẫu thần kinh) từ một bác sĩ chuyên khoa rất dễ thương và rất giỏi về môn này. Ông ta còn trẻ, đã để tôi cầm dao mổ và chỉ bảo một cách tận tình cũng như khuyến khích khen ngợi tôi sau khi mổ xong một cách an toàn khiến tôi thấy thoải mái tự tin lắm. Chương trình đang tiến hành tốt đẹp thì xảy ra trận chiến này, chúng tôi không thể tiếp tục được nữa.
Tôi còn độc thân, đang tuổi thanh niên, không phải lo lắng về sinh kế cho gia đình. Mẹ và các em tôi sống an lành tại Sài Gòn. Ở đây tôi chỉ lấy công việc làm vui. Cố gắng học hỏi trau dồi tay nghề cho vững để có dịp đem khả năng của mình ra giúp người. Tôi không hay đau vặt, sức khỏe dồi dào nhờ năng tập luyện thể dục. Tôi có thể mổ xẻ suốt ngày không biết mệt. Ước ao chân thành nhất của tôi là trở thành một y sĩ giỏi. Tôi ham học hỏi và đọc sách, nhưng tiếc rằng nơi đây không có bạn học.
Bệnh viện có quá ít y sĩ, ai nấy đều lo làm công việc của mình nên hết thì giờ rồi. Chúng tôi ít có dịp ngồi lại với nhau để bàn chuyện học hành. Nhất là tạo thành một Journal Club mà tôi đã có dịp tham dự tại một bệnh viện Mỹ ở Long Bình. Hồi tôi còn đang học khóa Giải phẫu Binh đoàn, mỗi tuần các bác sĩ trong bệnh viện thay phiên nhau đọc những tạp chí y khoa, chọn lấy những bài hay đem ra trình bày cho các đồng nghiệp để bàn thảo và học hỏi thêm để chúng tôi có thêm tin tức về những tiến bộ y khoa trên thế giới. Nếu không có những phương tiện truyền thông đó, ở một xứ xa xôi hẻo lánh này, kiến thức y khoa của chúng tôi sẽ bị tụt lùi càng ngày càng xa. Cho nên tôi rất thích phương pháp học hỏi của Journal Club. Chỉ cần một người đọc mà mọi người đều được chia sẻ những tin tức mới. Một mình không ai có thể đọc hết những tạp chí đó vì có quá nhiều. Do đó tôi vẫn mang ý định về sau sẽ thành lập một hình thức học hỏi như vậy tại bệnh viện này, nhưng thấy khó có thể thực hiện.
Về đây tôi chỉ có cái cảm giác sung sướng là tự mình điều khiển lấy mình. Muốn làm gì có thể làm ngay được, không cần phải qua những thủ tục giấy tờ như ở các bệnh viện lớn. Những trường hợp mổ khẩn cấp chỉ trong vòng 15 đến 30 phút là có thể thực hiện được. Điều này rất có lợi cho bệnh nhân, đỡ mất thì giờ cho tất cả mọi người. Tuy nhiên nhiều khi tôi cũng thấy tiếc không có thầy hoặc các đồng nghiệp đàn anh chỉ bảo cho những trường hợp khó khăn.
Bác sĩ Risch cũng không có nhiều kinh nghiệm vì mới xong năm thứ nhất về giải phẫu chỉnh xương đã được phái đi cầm đầu phái đoàn Milphap của tỉnh. Trước đây bác sĩ có làm việc mấy tháng tại một bệnh viện Mỹ ở Cam Ranh, hình như là bệnh viện 94th Evacuation Hospital.
Tôi thích Phòng Mổ bệnh viện này, nơi tương đối sạch sẽ nhất trong nhà thương. Phòng Mổ khá rộng khoảng 6 thước X 6 thước và có một máy điều hòa không khí. Dụng cụ khá đầy đủ đựng trong một dãy tủ bằng sắt không rỉ sáng bóng. Tôi có đủ các bộ đồ để mổ trong mọi trường hợp. Năm bộ đồ mổ bụng, giải phẫu thần kinh, giải phẫu thẩm mỹ, bộ mổ tử cung, bàng quang, túi mật, xương, ghép da v.v….. Đối với một bệnh viện hạng bét như bệnh viện này tôi thấy thế là quá đủ. Như vậy khả năng tối đa của phòng mổ này là năm trường hợp giải phẫu lớn trong ngày.
Cái khó khăn nhất trong Phòng Mổ là vấn đề điện nước. Máy phát điện có hai cái thì một cái bị hư, một cái trục trặc thường xuyên. Có nhiều lần tôi đã phải mổ dưới ánh đèn pin như đã nói ở trên. Điện không được liên tục 24 giờ. Sáng từ 8 giờ đến 12 giờ, trưa từ 2 giờ đến 6 giờ, tối từ 7 giờ đến 9 giờ 30. Tình trạng điện như vậy gây rất nhiều trở ngại trong việc săn sóc hậu giải phẫu.
Vấn đề nước cũng không kém phần quan trọng. Đôi khi không có nước giặt những khăn mổ. Thành ra có nhiều ngày mổ nhiều, thiếu khăn trải phải dùng áo choàng mổ thay thế.
Năm nay tôi được về nhà ăn Giáng Sinh và tết Tây. Hôm tôi về tới nhà thì bà xã đã dựng cây thông nhân tạo có trang trí những bóng đèn li ti, dây kim tuyến và đồ chơi treo lủng lẳng với nhiều màu sắc trông rực rỡ vô cùng. Nhưng năm nay hai đứa con gái không dám về nhà vì sợ lây nhiễm co-vi. Nhớ những năm trước vào những ngày Giáng Sinh và Tết tây cả nhà quây quần bên nhau đầm ấm, vui vẻ lắm. Năm nay chỉ có tôi và bà xã ở nhà nên hổng thiết tha gì tới Giáng Sinh. Đêm giao thừa dương lịch hai vợ chồng hâm một bình rượu ấm uống với oliebol, phó mát, trái ô liu và ngồi xem truyền hình, cứ để mặc cho dòng thời gian lặng lẽ trôi qua.
Nhớ hồi còn trẻ, hễ sau tết Tây tôi hay nhớ về Tết ta ở quê nhà, rất hứng thú viết bài cho báo xuân và chờ báo xuân ra cũng như chờ Tết. Có lẽ nhiều năm ở xứ người với mùa đông lạnh lẽo, đón Tết ta qua những trang báo xuân riết rồi nhàm, năm nào như năm nấy, cũng chỉ có bấy nhiêu màu mè, hoa tươi sắc thắm, én liệng trời cao, hoa mai, hoa đào nở, chùa chiền người đông như kiến cỏ và khói hương nghi ngút. Đọc thấy không khí xuân trên báo lúc nào cũng hao hao giống lúc chị em Kiều du xuân của mấy trăm năm trước: “… Ngày xuân con én đưa thoi… Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa, Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh, Gần xa nô nức yến oanh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm…” Không biết thời gian phôi pha hay sao và cũng không biết từ lúc nào lòng tôi trống vắng khi nghe Tết đến và có năm tôi quên luôn ngày Tết cổ truyền của dân tộc mình. Tôi không đợi chờ năm hết, Tết đến nữa nên thấy thời gian qua mau và tuổi đời chồng chất bao nhiêu tôi cũng hổng màng. Có lẽ ở xứ nầy nó thiếu cái gì đó, mà người ta gọi là không khí tết, thấy hàng quán trang hoàng sặc sỡ, thiên hạ mua bán rộn ràng và nhạc xuân văng vẳng khắp nơi lòng mình cũng rộn ràng theo. Năm nay tôi biết được Tết đến là nhờ trước ngày tôi lên đường, bà xã rủ đi chợ Việt Nam mua đồ về gói bánh tét và làm dưa món. Về nhà bà xã kêu tôi phụ bà dẹp cây thông Giáng Sinh bỏ vô thùng và đem cất. Sau đó vô rừng lựa chặt một cành cây tươi đem về cắm vô chỗ cây Giáng Sinh để cho bà xã gắn bông mai bằng nhựa lên làm cây mai chưng trong phòng khách. Bà xã nói:
– Cho nhà có không khí Tết.
Khi tôi vô rừng chặt cây đem về, bà xã kêu tôi lấy cái xô và mấy cục gạch chèn hai bên để cắm nhánh cây cho khỏi ngã. Vợ kêu làm sao thì tôi làm theo vậy, trong buổi sáng tôi vừa dọn cây giáng sinh vừa chặt và cắm xong cành cây tươi, phần tôi đã xong rồi. Tới phiên bà xã đứng gắn từng cái bông mai nhựa nhỏ xíu màu vàng lên nhánh cây. Khi gắn hết bông rồi bà đứng ngắm nghía trông có vẻ hài lòng lắm. Tôi thì thấy nhánh cây có bông mà hổng có lá, tôi nói:
– Cây mai gì có bông mà hổng có lá trông hơi kỳ cục.
Bà xã cười cho cái sự thiếu kinh nghiệm về cây cảnh của tôi, bà liền giải thích cho tôi hiểu:
– Ở ngoài trời lạnh cây hổng ra lá được, đen vô nhà ngâm trong nước và không khí ấm áp, từ đây tới Tết mình lá cây ra xanh màu đọt chuối trông cũng bắt mắt.
– Ồ, ngộ vậy…
– Ngộ gì, ông múc nước đổ vô gốc cây dùm đi.
– À, vậy thì bây giờ gọi là cây mai được rồi.
Tôi lấy nước đổ vô gốc cây, coi như phần cây mai đã xong. Bà xã chợt nhớ ra một chuyện, liền nói:
– Hôm rồi đi chợ Việt định xin lịch về treo, nhưng năm nay bị cô-vi nên người ta hổng in lịch nữa, Tết năm nay nhà mình hổng có lịch Việt treo rồi.
– Hổng có lịch Ta thì treo lịch Tây.
– Treo lịch Tây hổng thấy không khí Tết.
– Có lịch mới treo được rồi, năm nay không khí đại dịch cô-vi thì có, chớ Tết nhứt khỉ khô gì.
Bà xã càu nhàu:
– Nhưng cả nước Hoà Lan bị phong toả, tiệm đóng cửa hết, hơn nữa tết Tây qua lâu rồi, đi mua lịch năm tới chắc !
Tôi chợt nhớ ra hôm ở trên tàu người giao hàng có tặng tôi tờ lịch, tôi cuốn tròn nhét trong học trên nắp va li, nếu không có chuyện lịch Tết thì tôi đã quên luôn rồi. Tôi nói:
– À, anh có tấm lịch còn trong va li, để anh lên lấy xuống cho bà xã treo.
Tôi lên phòng mở va li lấy cuộn lịch đem xuống đưa cho bà xã. Bà xã mở ra thấy nguyên xấp lịch toàn hình phụ nữ trần truồng. Bà trợn mắt nói:
– Cái này làm sao treo được?!
Tôi cũng có hơi bị bất ngờ, tôi đi lại lấy xấp lịch lật xem, nhìn những cô gái Tây khoả thân. Chắc người tặng lịch nghĩ là những người làm việc trên tàu cũng giống những thợ sửa xe hơi trong garage, là thích treo hình phụ nữ sexy để nhìn cho ấm lòng. Tôi cười và nói dỡn chơi cho vui nhà vui cửa:
– Ờ, trông cô nào cô nấy cũng “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang… Mỗi người một vẻ, Mười phân vẹn mười”.
– Hứ, còn ở đó mà đọc Kiều.
– Anh thấy năm nào bà xã cũng vô tiệm Việt tìm xin cho bằng được lịch có hình các cô gái Việt Nam về treo, năm nay hổng có gái Việt thì treo gái Tây có sao đâu.
Bà xã nghiêm giọng nói:
– Ông già rồi mà còn ăn với nói, lẩm cẩm rồi hả, ông quên nhà mình toàn là con gái.
Tôi cười cầu hoà:
– Biết rồi bà xã, dỡn chơi thôi mà, để tôi đem bỏ thùng rác.
– Bỏ chi uổng vậy, mai mốt ông đi rồi, sao hổng đem theo xuống tàu treo.
– Thật ra thì trên tàu tui cũng hổng có treo lịch sexy trong phòng.
– Thì cho người khác.
– Trên tàu lịch thiếu gì.
Tôi để tờ lịch lên bàn. Bà xã thấy cũng không còn chuyện gì làm nữa mới đề nghị ăn bánh tét dưa món. Tôi nói:
– Ô kê, cái này hấp dẫn à nha.
Trong khi chờ đợi bà xã cắt bánh tét, tôi nhìn lên tờ lịch cũ treo trên tường, một cô gái Việt Nam trong chiếc áo dài mà tôi thường nghe những nhà văn hoá ca ngợi là “quốc hồn quốc tuý” của dân tộc và được coi như là một trong những biểu tượng văn hoá truyền thống của Việt Nam. Tôi ngắm nghía nhìn kỹ, tự dưng trong đầu nảy sanh ra một ý nghĩ so sánh. Các cô người mẫu Việt Nam bận áo dài phủ từ cổ xuống chân, tuy kín đáo nhưng thân hình lồ lộ đầy gợi cảm, cũng bốc lửa đâu thua gì những cô gái Tây phương. Nhưng khác cái là các cô gái Tây phương chụp hình in lịch thì trần trụi khoe hết cả thân người, dù cho các cô gái Tây có mập, có ốm gì mà khoả thân chụp hình thì trông cô nào cô nấy cũng hấp dẫn như nhau. Còn các cô gái Việt Nam muốn mặc áo dài cho đẹp, hấp dẫn và cho bắt mắt mọi người thì người thợ may phải chọn những cô người mẫu ôm ốm, chân dài, ngực, mông đầy đủ và vòng eo càng nhỏ càng tốt, mà người ta thường gọi đó là “thắt đáy lưng ong”. Chọn xong, người thợ may cẩn thận đo từng ly từng tí những chỗ lồi ra lõm vào theo thân người của các cô để tạo nên sự gợi cảm tưởng tượng. Sau đó mới tới người thợ chụp hình, cho các cô người mẫu bận áo dài mới, đi tìm chỗ nào có bông hoa đẹp để các cô đứng làm kiểu, chụp mỗi cô vài ba chục tấm và lựa lấy một tấm đem về sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu bận mới vừa ý. Nhờ thợ may và thợ chụp hình tốn nhiều thời gian và công sức, nên trông hình cô gái Việt bận áo dài, cô nào cô nấy cũng đẹp giống như tranh vẽ, nó hổng giống thiệt như các cô gái Tây phương.
Bà xã bưng bánh tét và dưa món ra để lên bàn. Tôi lấy xấp lịch nhét vô thùng giấy, báo vụn và đứng lên phụ bà xã dọn chén, tôi thích ăn bánh tét chấm xì dầu cay cay mới lấy chai xì dầu xịt ra dĩa dầm thêm trái ớt hiểm rồi bưng mọi thứ để lên bàn. Bà xã gắp bánh bỏ vô chén mời tôi ăn. Chúng tôi im lặng ngồi ăn ngon lành. Tới khi ăn gần hết bánh bà xã mới lên tiếng hỏi:
– Sao, ông ăn thấy được không ?
– Được, được, ngon bá chấy luôn, cám ơn bà xã.
– Coi như mình ăn Tết sớm đi.
– Ừa, không khí tết qua cây mai, hương vị Tết qua những thứ nằm trên bàn này đây.
– Còn chả lụa tôi cắt ra để trong tủ lạnh, lát tối tôi với ông uống bia. À, mà công ty có cho ông biết ngày đi chưa?
– Chưa, họ chỉ kêu ngày mai đi khám sức khoẻ và xét nghiệm PCR.
– PCR là gì?
– Là Polymerase Chain Reaction, đại khái là thử coi mình có dương tính không?
– Nhớ coi đồ đạc, đủ thiếu gì nói tui biết để tui mua.
– Áo quần đi làm còn nguyên trong va li, có lẽ mua thêm bàn chải, kem đánh răng và dầu gội đầu.
– Được rồi, ông xem thiếu cái gì thì ghi vô giấy, mai ông đi lo thủ tục, tui ra chợ mua cho. Cả đời tôi đi đi về về là chuyện bình thường. Có điều khác là lần này sắp lên đường tâm trạng tôi nao nao làm sao. Những ngày ở nhà, mỗi khi ra ngoài trở về thì phải khử trùng hai bàn tay và vợ chồng tránh tránh né né, ngồi nói chuyện cũng giữ khoảng cách, khi đụng chạm nhau cũng ngài ngại sao đó, như vậy còn nói gì tới chuyện săn sóc cho nhau. Ở nhà thì thấy hơi phiền, ra đi thì trong dạ không yên.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.