This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Footscray nằm về phía Tây, chỉ cách CBD (Central Business District) của thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu khoảng 5 cây số tính theo đường chim bay. Foots là vùng hạ lưu. Còn Ray là tên một con sông ở London, thủ đô nước Anh. Footscray, nơi tôi bèo giạt hoa trôi theo phần số tấp đại vào đây đã 25 năm, vốn là đất của thổ dân Úc Kulin.Năm 1859, Footscray chỉ có 70 tòa nhà và chỉ 300 người dân. Hơn 150 năm sau, hơn 16 ngàn người chen chúc trên 5 cây số vuông thuộc thành phố Maribyrnong.
Ngày nay chỉ có 41.1% dân Footscray là sinh ra ở Úc. Còn lại là Anh, Hy Lạp, Ý và Nam Tư đến từ Châu Âu. Việt Nam, Tàu, Ấn Ðộ, Ðông Hồi, Tích Lan, Miến Ðiện từ Châu Á. Còn Sudan, Ethiopia, Somalia… từ Châu Phi. Họ nói tới 135 ngôn ngữ khác nhau. Chúng ta, dù Pommy (Anh) hoặc Mít (Việt), dẫu lạc mất quê mình, nhưng ai cũng đem theo một cái tên, một cái hồn cố thổ.
Phố Footscray có siêu thị ‘Little Saigon’ (để nhớ Sài Gòn), mở cửa vào năm 1992, đông đúc, ì ì tối ngày. (Nhưng tiếc thay một đám cháy lớn vào ngày 13, tháng 12, năm 2016 làm thiệt hại hơn 12 triệu đô la Úc.)
o O o
Cái lạ và lý thú là vùng đất Footscray nầy nhỏ như lỗ mũi nhưng người Tân Ðịnh, quận Nhứt Sài Gòn cũng kha khá là đông, chừng vài chục mạng!
Ông bác sĩ gia đình của tui cũng là người Tân Ðịnh. Có lần đi khám bịnh, người ta ngồi ở ngoài chờ thiếu điều râu dài tới rún; ổng vẫn nhẩn nha kể chuyện khi xưa ta bé ta ngu vì gặp được tui, người cùng quê năm cũ.
Ổng “khai” rằng ổng học cấp hai trường Thiên Phước, số 295, đường Hai Bà Trưng. Tui chen vô: “Ờ hồi xưa tui có để ý một em học Ðệ tứ trường nầy đó. Em chuyên mặc váy màu hồng thay vì mặc váy màu xanh nước biển đậm như các trường đạo khác (Couvent des Oiseaux, Régina Pacis và Régina Mundi…).
“Ủa bác sĩ là con trai sao lại học trường dành riêng cho con gái?”
Sợ tui nghi ổng cao hứng nói dóc nên ổng phùng mang cãi lại: “Sau 75, VC sung công trường đạo nầy đổi tên lại là Trường Trung học Cơ sở Hai Bà Trưng. Nó dạy cả trai lẫn gái. Lên cấp ba, tui học ở trường Marie Curie!”
o O o
Rồi có lần thằng bạn mời đến nhà nhậu và nói dóc, tui hân hạnh gặp anh ruột của thằng chả là một ‘cua rơ’ (coureur) nổi tiếng thời Việt Nam Cộng Hòa mình.
Ảnh nói: “Ðường Hai Bà Trưng từ Cầu Kiệu về phía Sài Gòn, phía tay phải có tiệm Ðoàn Văn Thẩm chuyên bán xe đạp và phụ tùng nhập cảng từ Pháp và Ý cho các cua rơ lừng danh như ‘Phượng hoàng Lê Thành Cát’. Rồi Trương Kim Hùng, năm 1969, lúc mới 17 tuổi, đã đoạt huy chương vàng Ðông Nam Á Vận Hội kỳ 5 tại thủ đô Rangoon của Miến Ðiện.
Và anh của chú mầy đây là cua rơ Nguyễn Văn Ngàn. Dân xóm Chùa Tân Ðịnh.”
Hỏi anh có đoạt được huy chương vàng nào hông?
Ảnh cười he he trả lời là: “Hông! Tao chỉ chuyên về nhì, về ba không hè!”
o O o
Nhắc tới dân Xóm Chùa, tui còn giận xanh râu tới giờ. Chẳng qua một chiều lang thang, tui đến Viện Nhu Ðạo Quang Trung đường Phạm Ðăng Hưng coi tập võ. Thì có một nhóm khoảng 5 thằng nhóc tì cỡ tui cà khịa đến xô đẩy, thừa cơ giựt mấy cây viết Pilot 57, màu cà phê sữa, tui giắt trên túi áo, mà Ba tui mới mua cho hồi sáng tốn hết 150 đồng.
Ðám nhóc phá làng phá xóm Chùa còn đi trấn lột một thằng khác. Xui thay anh thằng đó là một đại ca du đãng Hẻm Vạn Chài, gần rạp Văn Hoa, đường Trần Quang Khải. Kết quả đám du đãng nhí Xóm Chùa bị du đãng thứ thiệt xóm Vạn Chài rượt chạy sút quần, tóe khói.
o O o
Có bà con mình khi thương trái ấu cũng tròn nên ‘tưng’ Tân Ðịnh quê mình lên, là một trung tâm của Sài Gòn “Hòn ngọc Viễn Ðông”. Tui thì cũng yêu và nhớ thương đất Tân Ðịnh chắc không thua gì thằng chả, nhưng thấy ‘ca’ như vậy là trật lất, rớt nhịp song lang rồi.
Trung tâm của Sài Gòn là Bến Nghé, qua bài ‘Chạy Giặc của nhà thơ Nguyễn Ðình Chiểu.“Bến Nghé của tiền tan bọt nước/Ðồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây”. Tân Ðịnh là cái rìa của Quận Nhứt, giáp với Phú Nhuận về hướng Bắc mà thôi.
Năm 1954 Tây rút, mình kêu nó đem mấy cái tên Tây nầy về Pháp luôn đi. Vậy là đường Mayer phân Tân Ðịnh với Ða Kao thành đường Hiền Vương. Ðường Blanchy thành đường Hai Bà Trưng.
Ðường Hai Bà Trưng từ tượng Ðức Trần Hưng Ðạo bến Bạch Ðằng, sông Sài Gòn chạy một hơi tới chân Cầu Kiệu dài chỉ hơn 6 km một chút. Còn khúc Hai Bà Trưng, tính từ ngã tư đường Hiền Vương, (VC đặt tên lại là Võ Thị Sáu) tới chân Cầu Kiệu chỉ hơn 2km.
Tây xây dựng thành phố theo bài bản là: Ðường Blanchy chia công sở một bên, khu thương mãi, ăn chơi một bên. Còn Tây chết thì đem ra rìa thành phố, đất còn rộng, để chôn trên đất Thánh Tây, là Nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi thời Ðệ nhứt Việt Nam Cộng Hòa. VC vô đào mồ cuốc mả của người ta lên để làm công viên Lê Văn Tám.
Bảo Huân
o O o
Cất Chợ Bến Thành năm 1914, mãi tới năm 1926, Tây mới cất Chợ Tân Ðịnh. Chợ Tân Ðịnh, mặt tiền đường Hai Bà Trưng, có những sạp trái cây bán vú sữa màu tím, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, xoài, bòn bon, dâu, bưởi, ổi xá lị, mận sọc từ Miệt vườn Lái Thiêu theo quốc lộ 13 bà con mình chở xuống.
Phía sau chợ là đường Mã Lộ (xưa là Bến xe ngựa).
Bên hông phải của chợ là đường Trần Văn Thạch (bị Việt Minh giết năm 1945). Giờ VC đổi là Nguyễn Hữu Cầu.) cho tới đường Mã Lộ, đêm về bà con mình bán la ve, rượu đế tôm khô củ kiệu, khô mực, khô cá đuối, cóc ổi, hột vịt lộn, ốc gạo, ốc hương, ốc len xào dừa cho dân lao động nhậu. Ăn chơi chơi thì có cháo hột vịt muối, nem nướng, bánh ướt, thì bắp nướng mỡ hành, sâm bổ lượng. Cả một khúc đường ồn ào, náo nhiệt cho đến nửa đêm về sáng..
Còn dân công chức kha khá hơn thì dắt vợ con đi ăn cơm gà Hải Nam xéo xéo chợ phía bên kia đường Hai Bà Trưng. Hoặc đi ăn bánh xèo, chả cá Lã Vọng trên đường Ðinh Công Tráng gần hẻm của (danh hài) Tùng Lâm.
Sáng bửng có quán cà phê Hải Nàm của cắc chú trên đường Trần Văn Thạch. Dân chạy xích lô, xe ba bánh, xe ngựa … phì phèo thuốc rê Gò Vấp, điếu Bastos xanh, Ruby Queen, Cotab bên ly xây chừng đen ngòm như thuốc Bắc, rôm rả bàn chuyện trên trời, dưới đất.
o O o
Lưu lạc quê người, chiều cuối năm tui nhớ nhà tui số 9, lầu 2 Cư xá Bưu Ðiện, hẻm 230, đường Hai Bà Trưng, sát bên hông Bưu Ðiện Tân Ðịnh.
Năm 1970, tui sắp thi Tú tài 2. Ðậu rớt gì tui cũng vào lính vì đã quá tuổi để được hoãn dịch vì lý do học vấn. Tui học đòi làm người lớn, hút thuốc Bastos xanh. Khói thuốc đôi khi làm tui ho sặc sụa. Em thu ngân, đẹp nghiêng thùng đổ nước, ái ngại nhìn tui: Anh uống sữa tươi cho bớt ho nhe!”
Tui biết em ‘xỏ’ ngọt tui, chê tui còn con nít mà bày đặt làm người lớn. Tui bèn nháy nháy đôi mắt hí, chơi xỏ lại: “Uống! Mà em có sữa tươi hông?”
Chuyện tình thiệt là lâm ly bi đát! Bi đát đời tui thiệt; vì em thu ngân ngày cũ giờ là con Sư tử Hà Ðông đang nằm ngáy trong phòng của tui kìa cha nội!”
Cuộc sống bi đát đã khiến các ngư dân thành cướp biển và những tranh cãi pháp lý
Mai Tân by Trutv – Khampha.vn
Posted on 17 Feb 2013
Post by Sơn râu 30 Oct 2023
Kỳ 5
Những tên cướp trẻ tuổi
Trong khi 3 tên đồng bọn đã bị các tay súng bắn tỉa hạ gục, số phận của những tên còn lại trong băng đang còn dang dở vì không biết sẽ bị xét xử thế nào.
Một tuần sau cái chết của các đàn em mình, Abdiwali Abdiqadir Muse bị đưa tới New York và buộc tội cướp biển, bắt giữ con tin dựa trên 2 điều luật hiếm được sử dụng của luật liên bang. Một số các chuyên gia luật cho rằng những điều luật này không thể áp dụng cho băng cướp người Somali này vì nhiều nguyên nhân đằng sau vụ việc.
Trong khi đó, mẹ của Musa là Adar Abdirahman Hassan và bố là Abdiqadir Muse, cả hai quê ở Galkayo, Somali đã được hàng loạt các tờ báo quốc tế phỏng vấn. Người mẹ tội nghiệp cầu xin tổng thống Obama tha thứ cho con mình. Ông bố thì giải thích rằng cậu con trai đã bị các tên cầm đầu lừa đảo với những lời hứa hẹn sẽ được các khoản tiền từ trên trời rơi xuống.
Theo thống kê, năm 2008, các băng cướp hoạt động ven biển Somali đã có thu nhập tổng cộng khoảng 50 triệu đô la tiền chuộc con tin. Những tên hải tặc ăn mặc xa hoa, lái các dòng xe ô tô sang trọng lượn lờ trên các làng chài nghèo khó, gặp gỡ và dụ dỗ những thanh niên trẻ như Muse bỏ làng quê nghèo để theo chúng. Trước cuộc sống qua đỗi sang trọng của những tên này, những cuộc sống trái ngược hoàn toàn với cuộc sống khốn khổ hiện tại đã khiến biết bao thanh niên vội vã đồng ý đi theo chúng mà không hề biết mình sẽ làm gì. Cha mẹ của Muse cho biết các tên này đã dụ dỗ con trai họ bỏ nhà, bỏ học đi bụi đời 1 tuần trước khi xảy ra vụ việc. Quan trọng hơn, đôi vợ chồng này khăng khăng rằng con mình mới chỉ 16 tuổi chứ không phải 18 như các cơ quan điều tra đã ghi trong hồ sơ. Nếu như thế, Muse sẽ tránh đi được rất nhiều các phiền phức và án tù nặng. Các cơ quan điều tra thì cho biết thật khó để khẳng định chính xác tuổi của Muse là bao nhiêu. Nếu cậu nhóc chỉ 16 tuổi thì cậu sẽ được sự bảo vệ rất lớn từ luật pháp quốc tế. Thêm vào đó, thông thường một người đang còn là một đứa trẻ sẽ khiến dư luận thương cảm rất nhiều.
Ngày 21/4/2009, một thẩm phán đã tuyên bố Muse có thể bị xét xử như người lớn. Theo các luật sư bảo vệ cho Muse thì dù băng nhóm này đang ở độ tuổi bao lâu nữa thì cũng không nên hoàn toàn xét xử theo các điều luật dành cho những tên cướp biển.
Hệ thống tư pháp sẽ phải đau đầu để quyết định xem Muse có bị kết án như một tội phạm hay đơn thuần với tư cách là một người lính trẻ em bị dụ dỗ. Sâu hơn nữa, các thẩm phán cũng muốn tìm hiểu xem nguyên nhân của việc Muse đi cướp là mưu cầu lợi lộc cá nhân hay hơn thuần là để bảo vệ chính mình khỏi các tên đàn anh đàn chị. Anh ta cũng có thể cung cấp cho các nhà điều tra những thông tin về mạng lưới cướp biển, số người tham dự và tiền sẽ từ đâu tới và đi tới đâu trong mạng lưới này.
Những vấn nạn dai dẳng Tính đến giữa tháng 4/2009, cướp biển Somali và các nhóm cướp khác trên Ấn Độ Dương đã khống chế 18 tàu chở hàng và khoảng 300 thủy thủ làm con tin. Chỉ trong năm 2008, chúng đã tấn công 80 con tàu, trong đó bắt cóc thành công 19 tàu, nâng số lượng tấn công lên tới 111 vụ, thành công 42 vụ trong tổng số 30.000 con tàu qua vịnh Aden.
Chủ nhật ngày 18/4/2009, lực lượng NATO đã bắt giữ được 7 tên hải tặc có mang súng nhưng sau đó đã thả những tên này ra. Họ thực hiện theo chính sách “không giam giữ” và đại diện của họ cho biết không thể giữ các tên cướp trong cuộc đời này.
Cùng ngày, các lực lượng của Hà Lan trong vịnh Eden đã giải thoát được 20 con tin.
Cũng trong tuần lễ đó, hàng ngàn tàu đánh cá heo nhận được lời cấp cứu và bảo vệ một con tàu Trung Quốc khỏi hải tặc Somali.
Từ ngư dân thành cướp biển
Bờ biển dài 2.000km của Somali là bờ biển dài nhất của lục địa Châu Phi. Và những vùng nước có cướp biển sinh sống trải dài từ Somali tới Tanzania, chiếm hơn 1 triệu km2, gấp khoảng 4 lần diện tích bang Texas.
Năm 1991, Somali phải đối mặt với nạn lạm phát kinh hoàng và kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào biển. Nội chiến và nạn đói xảy ra khá thường xuyên.
Các tàu thuyền nước ngoài được trang bị các thiết bị hiện đại gấp nhiều lần Somali nên đã tới khai thác quá mức nguồn hải sản của nước này. Somali lại nhỏ bé, không đủ các cảnh sát biển bảo vệ nguồn lợi ích hằng hải của mình. Kết quả là quốc gia này thất thoát khoảng 300 triệu đô la mỗi năm bởi các hoạt động đánh cắp của các thuyền nước ngoài.
Để đáp lại, ngư dân ở các làng Eyl, Kismayo và Harardhere thành lập băng đảng để bảo vệ cuộc sống của họ. Các băng cướp, một phần nào đó tấn công những thuyền trên biển để bảo vệ cuộc sống của mình. Những băng nhóm này sau đó yêu cầu các tàu thuyền đánh cá trả họ một khoản tiền gọi là tiền thuế.
Nhưng một số băng nhóm không giữ được mục đích tốt đẹp ban đầu này mà dần bị quyến rũ bởi số tiền khổng lồ của việc đòi tiền chuộc các con tin. Và dần dần họ từ các ngư dần hiền lành trở thành các băng cướp.
Các hải tặc này sử dụng và mang lại tiền vào cộng đồng. Chúng thống trị các thương gia địa phương, ăn cắp thực phẩm và nguồn cung cấp của các tổ chức viện trợ…
Trung tâm Hỗ Somali Minneapolis Tư pháp hiện đang giúp gia đình vật lộn với sự phức tạp của hệ thống pháp luật.
Hệ thống tư pháp phải quyết định liệu Muse đã hành động như một tên tội phạm hay là một người lính trẻ nhập ngũ. Hơn nữa, họ sẽ muốn tìm ra những gì có giá trị để có Muse hợp tác, chứ không phải là để truy tố anh ta hoàn toàn. Anh ta có thể có thể cung cấp cho các nhà điều tra với các thông tin có giá trị về cướp biển Somalia của những người tham gia các mạng lưới được tổ chức như thế nào…
Cuộc giải cứu con tin thành công nhưng không kém phần căng thẳng và hồi hộp.
Mai Tân by Trutv – Khampha.vn
Posted on 15 Feb 2013
Post by Sơn râu 30 Oct 2023
Kỳ 4
Giải cứu
Ngày thứ Bảy. Các cuộc đàm giữa lực lượng Hải quân và băng cướp được tổ chức và tranh luận căng thẳng vì cả hai bên đều có những điểm yếu của mình. Muse, “bang chủ” của nhóm hải tặc đang bị thương, dần kiệt sức và cần được các bác sỹ khám và chăm sóc. Nhóm này muốn lực lượng hải quân đưa Muse đi cấp cứu sau khi đưa hắn lên trục tàu. Trước khi được đưa đi lên tàu tấn công USS Boxer để điều trị, Muse đã cùng đồng bọn của mình lên kế hoạch để sát hại thuyền trưởng Phillips. Phía cảnh sát lại đang nắm phần chủ động vì tàu của băng cướp nhỏ, không có vũ khí, lại thêm việc sắp bị hết nhiên liệu nên muốn ép chúng đầu hàng vô điều kiện.
“Zahid” Reza và cô vợ Elizabeth Pond Reza
Những cuộc đàm phán vẫn không đi tới hồi kết thúc. Các đại diện phía Hải quân cho rằng băng cướp đang đòi hỏi quá nhiều và chúng nên từ bỏ một phần của bảng “yêu sách” trong khi nếu đầu hàng thì những tên cầm đầu sẽ được nhận nhiều phần thưởng cũng như sự khoan dung của pháp luật.
Về phần băng cướp, ngoài việc đòi hỏi tiền mặt và 1 sự sắp xếp để trốn thoát cực kỳ an toàn, chúng còn muốn một chuyến bay thẳng cánh ra nước ngoài. Biết chắc chắn rằng nếu bị bắt là sẽ đi tù cho dù có được khoan hồng đi chăng nữa nên nhóm cướp quyết tâm đòi được 1 giải pháp trốn thoát an toàn cho cả bọn.
Theo tính toán, lực lượng giải cứu tin rằng cả băng cướp đang rất kiệt sức, thậm chí bị rối loạn cơ thể vì đói, khát và thiếu ngủ. Chính vì thế họ quyết định thực hiện một cuộc đột nhập và giải cứu con tin. Ngay trong đêm ngày thứ Bảy, một máy bay quân sự của Hải quân đã được điều tới gần tàu Bainbridge. Họ sẽ sử dụng một nhóm quân với các trang thiết bị tối tân nhất để thực hiện công việc này.
“Zahid” Reza và cô vợ Elizabeth Pond Reza
Buổi sáng ngày hôm sau, tàu của băng cướp đã hết nhiên liệu và bắt đầu trôi dạt tự do. Chúng chấp nhận kết nối với tàu Bainbridge bằng một sợi dây để có thể nhận được những nhu yếu phẩm cần thiết. Ban đầu sợi dây này dài hơn 200m nhưng các thuỷ thủ trên tàu Bainbridge đã lợi dụng sự chuyển động ngày càng không đồng đều của nước biển trong khu vực, dần rút ngắn khoảng cách lại đủ để vừa tầm bắn của những tay súng bắn tỉa. Hoàng hôn xuống, 3 lính bắn tỉa từ chiếc trực thăng ẩn nấp trên các đuôi quạt động cơ của thuyền Bainbridge, nhắm về chiếc thuyền cứu sinh của băng cướp. Họ thấy 2 tên hải tặc đang đứng thò đầu ra ngoài cánh cửa còn tên thứ ba đang chĩa khẩu AK-47 vào đầu thuyền trưởng Phillips. Ngay lập tức, 3 người lính bắn tỉa “xử” 3 tên hải tặc với những phát đạn chính xác vào đầu. Toàn bộ những tên còn lại hoảng loạn và nhanh chóng bị khống chế.
Trở về
Trong lúc mọi việc diễn ra một cách gay cấn và dữ dội thì vợ của thuyền trưởng Phillips là Andrea và 2 đứa con là Mariah và Daniel quay trở lại Underhill, Vermont để cùng với hàng xóm tổ chức một buổi cầu nguyện cho chồng và bố của mình.
Khi thuyền trưởng Phillips đươc giải cứu một cách an toàn, mọi người oà lên trong niềm vui sướng. Các thành viên của thuỷ thủ đoàn ca ngợi ông như là một vị thuyền trưởng tốt và dũng cảm nhất mà họ từng biết. Thuyền phó Mate Quinn nói chính Phillips là người cứu sống mọi người trên tàu. Cả đoàn tự hào về người thuyền trưởng của họ, người đã dũng cảm đứng mũi chịu sào, khéo léo không để băng cướp tấn công nhân viên mình.
Cô vợ Andrea, 2 con Mariah và Daniel cùng mẹ của Phillips là Virginia gặp ông ở sân bay. Họ đưa ông về nhà, nấu nướng những món ông thích nhất và thị trấn của ông với dân số 3.000 người đã tổ chức một buổi lễ, tôn vinh ông như một người hùng.
Thuyền trưởng Phillips khiêm tốn đã nói ông chỉ làm bổn phận của mình và nói rằng chính những người lính giải cứu ông, những người ẩn danh, mới là những anh hùng.
Reza, viên kỹ sư đã dùng dao đâm tên cướp Muse cho biết anh không chắc sẽ tiếp tục nghề đi biển không. Tạm thời anh sẽ ở với vợ và con trai tại Tây Hartford.
William Rios, một thuỷ thủ của thuyền Maersk Alabama nói sau việc này, anh không còn sợ bất cứ điều gì nữa, kể cả những tên cướp biển.
Tình hình căng thẳng khiến tổng tư lệnh quân đội Barack Obama phải ra chỉ thị.
Kỳ 3
Cuộc giằng co giữa thuỷ thủ đoàn và băng cướp đã đốt tàu vừa đi để thể hiện quyết tâm của mình, thuyền trưởng Phillips vẫn cố gắng thuyết phục rằng chúng có thể suy nghĩ lại và dùng thuyền cứu hộ để trốn thoát. Để băng cướp tin hơn, ông tình nguyện đi với chúng cho tới khi tất cả đều an toàn và còn chỉ dẫn cho chúng cách sử dụng động cơ của những con thuyền này. Về phần tên “sứ giả” đang bị bắt giữ, Phillips đề nghị 2 bên sẽ trao đổi những người đang bị bắt giữ với nhau và tạo mọi điều kiện để băng cướp có thể trốn thoát. Thuyền trưởng ngỏ ý sẽ đi cùng băng cướp ra xa và tự bơi vào tàu Maersk Alabama khi chúng bắt đầu tăng tốc độ để trốn thoát.
Tuy nhiên, cả các thuỷ thủ và băng cướp đều nhận ra rằng biển ngày càng động dữ dội trong khi những chiếc thuyền cứu hộ hoàn toàn không chịu được tình hình thời tiết đó. Tuy nhiên băng cướp vẫn đồng ý trao đổi người. Muse được thả về với đồng bọn và chúng cùng rút lui trên tàu cứu nạn cùng với thuyền trưởng Phillips.
Thử thách của Thuyền trưởng
Biết chắc chắn rằng chiếc tàu cứu nạn không thể đưa cả nhóm, trong đó có thuyền trưởng đi xa được, thuỷ thủ đoàn của tàu Maersk Alabama lại tiếp tục khởi động máy và đuổi theo, giữ một khoảng cách nhất định.
Con tàu USS Bainbridge
33 giờ sau vụ việc, cuối cùng thì phi hành đoàn của tàu Alabama cũng có được sự trợ giúp của chính quyền. Hải quân đã đảm bảo với họ rằng họ sẽ tìm ra được nơi thuyền trưởng Phillips bị bắt giữ. Đặc biệt họ cho biết còn rất nhiều tên cướp biển đang ở trong vùng này và chính vì số lượng hàng hoá được chuyên chở là thực phẩm và đồ dùng hằng ngày, con tàu Alabama đã vô tình trở thành mục tiêu vô cùng hấp dẫn đối với chúng. Tàu Maersk Alabama theo sự chỉ dẫn của Hải quân đã không đuổi theo băng cướp mà dời về đậu tại cảng Mombasa. Các quan chức địa phương cho biết dù đã an toàn và neo đậu tại bến nhưng thuỷ thủ đoàn vẫn bị hoảng sợ, luôn lo lắng mối đe doạ sẽ bị cướp lại một lần nữa. Trong khi đó, thuyền trưởng Phillips vẫn còn đang bị bọn cướp bắt giữ.
Trong lúc này, thuyền trưởng Phillips và 4 tên hải tặc tiếp tục cho máy chạy dọc theo bờ biển, bên trên không là nhiều máy bay trực thăng Hoa Kỳ và tàu chiến bám sau. Cả hai bên ngày càng tiến gần tới tàu USS Baibridge. Thuyền trưởng của con tàu này là Frank Castellano, đã chuyển tiếp tin nhắn đàm phán của FBI tới nhóm hải tặc. Những tên cướp biển bắt đầu hoang mang và tham khảo ý kiến của những tên Somali nhiều tuổi nhất. Tuy nhiên, cuộc đàm phán đã không đi tới kết quả như mong muốn. Ngày thứ Sáu. Tàu chiến Hoa Kỳ đã áp sát tàu cứu sinh. Thuyền trưởng Phillips dũng cảm đã cố trốn thoát bằng cách nhảy xuống biển để bơi về tàu Bainbridge nhưng bọn hải tặc đã bắt gặp ông và bắt tù nhân ngược trở lại. Lần này chúng không để ông tự do đi lại mà dùng dây trói ông lại.
Hải quân tham khảo ý kiến của tổng tư lệnh quân đội. Tổng thống Barack Obama đã không cho phép sử dụng vũ lực để giải quyết vụ việc, tránh gây ra mất mát về người. Tuy nhiên, thấy đã sang sáng ngày thứ Bảy mà tình hình không cho thấy sự thiện chí của băng cướp, tổng thống đã đồng ý cho Hải quân ra tay vũ lực trong trường hợp thuyền trưởng Phillips gặp nguy hiểm.
Về phía băng cướp, chúng đã khai hoả, bắn vào một chiếc tàu nhỏ chuyển người giữa tàu Bainbridge với đất liền. Và thuyền trưởng Phillips đang thực sự gặp nguy hiểm vì sự manh động và liều lĩnh của nhóm hải tặc, trong khi Hải quân đang tìm cách tiếp cận và khống chế chúng.
Du khách khám phá triển lãm Beyond the Light tại Phòng trưng bày Artechouse ở New York. Ảnh: Cơ quan Anadolu / Getty Images
Beyond the Light, một triển lãm được phát triển với sự hợp tác giữa phòng trưng bày Artechouse ở New York và NASA, khám phá vũ trụ thông qua nghệ thuật sống động dựa trên công nghệ. Nó bao gồm dữ liệu mới được phân tích từ kính viễn vọng không gian James Webb
Sử dụng hình ảnh điện ảnh và nhạc nền độc đáo, triển lãm khiến khán giả chìm đắm trong câu chuyện về ánh sáng xung quanh chúng ta. Chương trình đã nhận được ý kiến đóng góp từ Trung tâm bay không gian Goddard của Nasa, nhóm kính viễn vọng không gian James Webb tại Viện Khoa học Kính viễn vọng Không gian và khoa vật lý và thiên văn học tại Đại học Johns Hopkins.
Tôi hiểu đấy cũng chỉ là một sự chuyển đổi, xả hơi cái nồi “súp ze”. Chẳng có thể giết sạch những người tù này! Nếu giết mà êm thấm, thì chúng tôi chẳng còn ai! Chẳng lẽ cứ giam tù mãi, lại còn phải bắt nữa, dài theo năm tháng, như thế sẽ có rất nhiều trở ngại.
Vậy thì đây cũng như một chổ tạm thời mở nút. Vả lại, ai cũng đã hiểu dưới chế độ VC, nếu có phải tha một người tù, cũng như mở cửa cái lồng nhỏ, cho tù ra một cái lồng lớn mà thôi khi anh đã có cái gốc là đã đi tù, trong chế độ.
Sáng hôm sau, một chiếc xe Camion thời Tây chở cả 13 chúng tôi đi. Gần chiều xe đưa tôi trở về phố Lu, nhưng ở một khu vực khác; vẫn hàng rào nứa cũng như trại tù. Trong khu này có 3 cái lán dài, cũng có cổng nhưng không có công an võ trang gác. Khi xe chúng tôi vào cổng, trong một cái lán cũng râm ran tiếng người. Chúng tôi được dẫn vào một căn lán cạnh đấy, bên trong đã có 3 – 4 chục cậu, cũng toàn là hình sự ở các trại khác về.
Sáng sớm ngày hôm sau, trời hãy còn tối đất, tôi đã nghe thấy tiếng xe Camion rình rình chạy vào trại. Tiếng xe Camion rọt rẹt như tiếng than thở của một ông già ốm yếu, phải làm việc nặng nhọc cả cuộc đời. Tôi và mấy cậu, chạy vội ra ngó ngấp, thấp thoáng bóng người đang trèo xuống trên 2 chiếc Camion thời Tây, một niềm hưng phấn ùa vào lòng tôi.
Rõ ràng chiếc bóng cao lớn của Lê Văn Kinh Người Nhái, vụ sông Gianh đã hơn 5 năm, bây giờ gặp lại. Tôi chạy bổ ra, lại thấy La Văn Thịnh trong toán Biệt Kích của Nông Quốc Hải, cũng hơn 5 năm gặp lại.
Nhìn gần 4 chục anh đều là Biệt Kích. Lòng tôi lúc này lại vừa vui nhưng lại vừa buồn. Niềm vui như những cánh bèo bập bềnh trôi nổi trên mặt nước; được gặp lại một số anh em quen cũ ngày xưa; và anh em Biệt Kích cũng không được trao trả theo hiệp nghị Paris như mình. Nỗi buồn như cả một làn nước ao tù, suốt ngày và suốt đời hẩm hiu quanh quẩn với bùn lầy hôi thối. Thương mình, lại thương anh em. Ai cũng tự hiểu đều là những kẻ khốn cùng, hãy yêu thương nhau, đùm bọc nhau mà sống.
Vài ngày sau lại có hơn một chục anh em Biệt Kích ở trại trung ương số I phố Lu đến, trong đó có Lý Giòng Lau (Người Nhái) Vòng A Cầu, Lê Trung Tín v.v… Trước sau đã có hơn 6 chục anh em Biệt Kích đến trại công nhân Hồng Thắng, với hơn 100 là hình sự do một tên trung úy Tô Bá Oanh làm giám đốc. Một đêm lại có mười mấy anh em Biệt Kích, ở trại Tân Lập Vĩnh Phú, cũng đến Hồng Thắng.
Cuối tuần có một buổi tập trung “công nhân” anh em từ Biệt Kích đến hình sự đều gọi như thế. Gần 200 người được chia làm 3 đội: Đội mộc, xẻ; Đội làm đồi: Trồng dứa và sắn khoai. Đội linh tinh: Làm nhà, lấy gỗ, đan lát v.v… Mỗi đội có một anh đội trưởng, do Ban Gíam Đốc chỉ định và một cán bộ áo vàng phụ trách (cũng giống như của tù). Tôi thuộc về đội mộc, hàng ngày đóng gường, bàn, tủ, ghế v.v… Do tên cán bộ trung sĩ Nguyễn Ngọc Thành phụ trách. Công nhân làm theo mức khoán sản phẩm, và công việc chỉ định.
Trong buổi tập họp toàn công trường, có 3 – 4 tên cán bộ áo vàng phụ trách các đội lăng xăng chạy ra, chạy vào chỉ cho các đội kê bàn, kê ghế! Mãi khoảng gần 10 giờ, tên trung úy Giám Đốc Tô Bá Oanh đến. Mặt y cố tươi roi rói, miệng luôn nở nụ cười tuyên huấn, mầu mè. Y khoa tay như tập thể dục buổi sáng, y hồ hởi cao giọng, nội dung:
Y hân hoan chào mừng toàn thể các anh em công nhân, y được Đảng và nhà nước, giao cho trách nhiệm giúp và tạo điều kiện cho các công nhân, nhìn rõ tương lai mở rộng của mỗi người. Y đề nghị các anh em công nhân, cùng với y quyết tâm trong 2 năm, tức là tới năm 1979 sẽ biến nơi này, thành một thị trấn trù phú, của miền núi! Sẽ có một ngày Hồng Thắng muốn ăn kem thì mua kem ăn, muốn ăn bánh mì thì mua bánh mì ăn. Y đang vẽ ra những chiếc bánh tưởng tượng, đó là phương cách chung của CS, ở đâu và bao giờ cũng thế. Thôi kệ chúng!
Tôi chỉ chú ý nghe, những điều kiện sinh hoạt ra sao. Nội dung y nhấn mạnh: Tuy là công nhân, nhưng là tạm thời bước đầu, vì thế mọi công nhân phải chấp hành, một nội quy nghiêm ngặt.
– Dù làm gì hay đi đâu, đến 9 giờ tối, phải có mặt ở công trường như một hình thức tự giác, ở trong trại tù trước đây. Có hơn những tự giác ở trong tù, những mặt sau:
. Nếu lao động tốt, có năng suất, giữ gìn nội quy đúng, cuối năm sẽ được đi phép, về thăm gia đình.
. Mức ăn đồng đều 15 đồng (tù có 12 đồng), Ban Gíám Đốc công trường đã nghiên cứu thí điểm, nên sát nút: Nếu công nhân nào chịu khó lao động, đều có thừa thãi 5 – 7 đồng, trong một tháng, để tiêu xài cá nhân như trà, thuốc.
Cuối cùng Tô Bá Oanh rành mạch kết luận do những quy định như trên, các anh nên nhớ rõ: có thể một giờ trước các anh là công nhân, nhưng một giờ sau các anh đã là tù rồi.
Mặc cho y nói, mấy điều chính tôi đã nắm được. Tâm tư của tôi mấy ngày nay, đang tập trung tâm tình trao đổi, thăm dò với các anh em Biệt Kích ở các nơi về, để biết rõ những diễn tiến. Tôi có một chút khái niệm, hiểu biết tình trạng thê thảm, bất hạnh của những đứa con, bị bố mẹ bỏ rơi. Mà lại bỏ rơi trong tay kẻ địch, kẻ thù của mình.
Qua nhiều nguồn tin từ các anh em tôi được biết: gần thời gian CS chủ động ký hiệp định Paris, tất cả Biệt Kích gián điệp trong mặt trận tình báo giữa Bắc và Nam gần 20 năm, đã bị CS bắt, chúng tập trung thành 3 nơi để bồi dưỡng, học tập chuẩn bị nếu có phải trao trả, như tôi đã trình bày ở trên.
1) Ở trại Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Ninh, hơn một trăm Biệt Kích gián điệp.
2) Trại Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú, hơn một trăm Biệt Kích gián điệp.
3) Trại trung ương số I phố Lu thuộc tỉnh Lào Cai, khoảng 160 – 170 Biệt Kích gián điệp.
Có lẽ phố Lu, CS tập trung Biệt Kích nhiều nhất. Trước đây trong hội nghị Genève 20/7/1954 CS chỉ có kinh nghiệm với Pháp thôi. Mà Pháp thì chúng đã qua mặt, được rất nhiều sự việc nghiêm trọng. Ngay trong việc trao trả tù binh, hiện nay (1977) còn hàng trăm Maroc, Algérie, thậm chí cả người Pháp, vẫn còn sống ở mạn Ba-Vì, những người tù ở miền Bắc vẫn gặp.
Nhưng bây giờ là Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa. Vì cũng là người Việt Nam, nên chúng ta cũng biết những cái quái quỷ, lọc lừa của cộng sản, vì vậy chúng ta cứ phải chuẩn bị, phòng hờ trước. Còn CS, chúng muốn chủ động, thì phải chuẩn bị; càng chuẩn bị kỹ, tính chủ động càng cao (tôi đã trình bày ở những chương trên). CS đã chuẩn bị cho Biệt Kích gián điệp gần một năm, trước khi CS ký hiệp định.
Tôi đã trình bày rồi, CS như một con nọ không hề muốn trả nợ. Người đòi nợ như ông Trần Văn Lắm, ông Kissinger, là những người lịch sự nhã nhặn nên hỏi, đòi con nơ cũng lịch sự, nhã nhặn như ngoại giao, phòng khách. Nếu hiểu con nợ như trên thì phải nghiêm túc sống sượng đập bàn, đập ghế: :Anh có trả cho tôi không? Khám túi, khám ví, đến nhà bắt đồ đạc, bắt vợ, đợ con để trừ nợ. Khi ấy con nợ nào cũng phải trả, chỉ trừ con nợ thực sự không có tí tiền nào cả. Cho nên chúng (CS) nghe ngóng dọ dẫm thấy Mỹ chỉ là anh chàng “hổ giấy”. Còn VNCH thì chỉ nặng về tham nhũng, ăn chơi, mua quan, bán chức chứ họ có còn quan tâm gì đến những tên BK gián điệp này đâu. Bởi vậy CS đã ra mặt ngừng không cần bồi dưỡng bồi dung gì nữa, cho đám của nợ này làm gì. Thậm chí các anh ở Hoành Bồ cho biết:
Khoảng tháng 10-1973, chính tên Hoàng Thanh đại diện bộ CA (sau nầy là nội vụ), mặt Hoàng Thanh rầu rầu, nói trong nỗi niềm buồn bực, tức tối trước tất cả anh em BK ở Hoành Bồ:
– Tôi suy nghĩ thấy thương các anh lắm! Cùng là người Việt, là đồng bào ruột thịt của mình! Do trước đây chưa hiểu rõ Cách Mạng nên đã nghe theo lời lường gạt dụ dỗ của Mỹ-Ngụy ra Bắc phá hoại nhân dân, phá hoại CM, nhưng trước sức mạnh của chính nghĩa, của toàn dân, trăm tai nghìn mắt của cách mạng, các anh đã bị bắt và đã bị trừng phạt. Ngày nay Mỹ đã bỏ dã tâm biến nước ta thành thuộc địa kiểu mới, phải ký vào hiệp nghị hoà bình Paris ngày 27-1-1973.
Như thế các anh phả được về với gia đình, bố mẹ, vợ con. Nhưng khi chúng tôi đưa vấn đề này ra thì Mỹ và Sàigon đã chối và nói không hề biết các anh là ai cả! Chúng tôi còn căm giận cho dã tâm của chúng, đối xử với những người đã làm việc cho chúng!
Nói chung CS đã lợi dụng kẽ hở nầy để làm cho BK gián điệp đau lòng thêm.
Tôi cũng được anh em cho biết: do sự dùng dằng trở mặt của CS, không chịu nghiêm chỉnh thi hành hiệp nghị hoà bình Paris, nên anh em BK gián điệp ở phố Lu, cũng như ở Tân Lập đều tuyệt thực tập thể, đấu tranh đòi CS thực thi những điều khoản của Hội Nghị Paris. CS đã khôn khéo lắt léo dàn xếp, rồi chúng từ từ phân tán mỏng BK gián điệp, đưa đi trừng trị những BK nào đã tự đóng dấu mình, trong những đợt đấu tranh trước đây. Kết quả có nhiều BK gián điệp chết hoặc bị thương tật, trong dịp CS trả thù này.
Tôi cũng biết trại Hoành Bồ, không có đấu tranh nghiêm trọng như phố Lu và Tân Lập. Đặc biệt nhiều anh em BK nói: Ngay cán bộ CS cũng rất ngạc nhiên vì sao mà đợt đấu tranh tuyệt thực tập thể giữa trại Tân Lập và Phố Lu lại cùng xẩy ra trong một ngày, dù không hề có điều kiện nào liên lạc với nhau?
Nghe nhiều anh em nói, tôi xin tường thuật lại chứ tôi cũng thấy khó có cơ sở, có chăng là một sự trùng hợp kỳ diệu thì tôi không rõ.
Sau mươi ngày, tạm thời ổn định chổ ăn, chổ làm, tôi và Lê Văn Kinh định cuối tuần làm một cú xuất hành, đầu tiên ra chợ Bắc Ngầm. Một ngôi chợ Huyện của miền Núi (một tháng mới họp một lần). Cả Kinh và tôi ở những đường hướng khác nhau, nhưng có nhiều những cái chung, nên đồng cảm nhiều vấn đề.
Cách nhau vài tháng, nhưng Kinh và tôi đều bị bắt vào giữa năm 1962. Và bây giờ cùng ở một cái trại công nhân “đểu” này. Hai người đều có cái cảm giác: đã 15 năm tù, cùng không vợ con, vậy sẽ đi hưởng tự do một chuyến, xem nó ra làm sao?
Cái ngày thứ Bẩy năm xưa ấy, vẫn hằn nét trong lòng tôi. Tôi chắc chắn Lê Văn Kinh (hiện ở Florida), cũng không thể phai mờ trong tâm tưởng hình ảnh ngày thứ Bẩy, của buổi ban đầu, sau 15 năm bị buộc kín trong chuồng.
Vào một sáng thứ Bẩy của tháng 10/1977, tôi không thể nhớ ngày. Trời Lào Cai, từ mấy ngày trước đã có những con nhạn trắng, dài mỏ ra réo gọi mùa Thu về. Hôm nay tôi mới lục dưới đáy chiếc hòm con (rương), cái quần Tergal mầu vàng, chiếc áo sơ-mi ca-rô xám mà các cậu Tiến Ga, Thọ Lột đã trang bị cho tôi từ dưới Hỏa Lò ra mặc, chỉ có đôi giầy “ba-ta” mầu xanh là mới. Từ hôm đến trại Hồng Thắng, tôi đã quen với một cậu hình sự tội tham ô, tên là Nguyễn Trọng Phú. Tuổi chừng 30, người Sơn Tây, trắng trẻo, thư sinh, học hết lớp 10 hệ 10 năm. Phú tỏ ra rất mến tôi, thấy tôi chỉ đi một đôi dép râu hoài, cậu lục va li lôi ra đôi “ba-ta” và niềm nở:
– Em tặng anh đôi “ba-ta” này, mẹ em năm ngoái mới đưa lên tiếp tế cho em!
Thật bất ngờ, tôi xúc động ra mặt! Ở miền Bắc không còn cái kiểu chơi “ân tình” như thế này. Tôi đã ôm lấy Phú như một sự chấp nhận, không nói thành lời.
Lính quýnh trong bộ đồ, tâm trạng như đứa trẻ “mặc manh áo mới ngày Tết”. Anh em nhìn tôi với những đôi mắt, đượm mầu xanh chia xẻ!
La Văn Thịnh đã thốt lên:
– Ông anh còn phong độ lắm!
Tôi quay lại nhìn Thịnh, dịu dàng: “Em lại cho anh đi “trực thăng giấy” rồi!” Trong bụng của tôi lại lẩm bẩm: Có “quê một cục” thì có!
Tôi và Kinh mới bước xuống sân, ngước nhìn lên trời tôi đã gặp cụ Nguyễn Khuyến: Trời xanh cao ngất mấy tầng cao…
Hình như hôm nay, cảnh và vật phố Lu có vẻ hưng phấn hẳn lên, cứ như chào đón chúng tôi. Từ những ngọn núi xa xa mầu xanh thẩm, đến những cánh rừng bạt ngàn xanh lam chung quanh, như đang mỉm cười với chúng tôi. Nhìn những cành thông gió đẩy đưa, nhấc lên, nhấc xuống ở bên đường, tôi còn có cảm tưởng như những bàn tay của núi rừng, đang vẫy chào chúng tôi. Trên một đoạn đường rừng gần 5 cây số dẫn đến chợ Bắc Ngầm, chúng tôi sóng bước đi bên nhau, đã nhiều lần ngoảnh lại phía sau rồi cùng nhìn nhau mỉm cười, với đôi mắt nhấp nháy như cùng hiểu: Chả thấy một tên công an võ trang nào đeo súng, đi “hầu” phía sau như mọi khi!
Phải rồi đã 15 năm, chưa bao giờ chúng tôi đi mà lại không có một vài tên công an võ trang cắp súng theo sau. Hôm nay mới thực sự là “tự do” trong cái lồng to!
Đã 40 tuổi rồi, đi trên đường chân tôi cứ thỉnh thoảng nhẩy “cẫng” lên như một cậu bé 14 – 15 tuổi. Không biết do đôi “ba-ta” mới xỏ, hay trong lòng tôi? Chẳng biết được! Cứ cho là cả hai đi, có ảnh hưởng sai lầm gì đâu? Nhìn cheo chéo trên một hẻm đồi cao, trong đám rừng cây rậm xì, có một giòng suối con đang róc rách chảy đều đều, tôi chợt liên tưởng đến bài “Suối Mơ” ngày xưa:
Suối ơi!… Bên rừng Thu vắng…. Giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng!
Tôi không thể kìm hãm lòng mình được nữa! Tôi đã rủ Lê Văn Kinh đến tận bên con suối, để ngắm nhìn cho đã! Biết đâu lại chả có những cô Thiên Nga, đùa giỡn đang tắm phía sau đồi! Một ngày quá đặc biệt, tôi đã thả lỏng hồn tôi tự do lang thang đây đó! Tôi còn định kéo tay rủ Kinh vào gặp cụ Văn Cao trong Thiên Thai nữa chứ! Nếu Lê Văn Kinh không phản đối tôi kịch liệt…
– Thôi! Tôi không vào trong ấy đâu! Tại sao Bình lại cứ ngẩn ngơ, với những vật vô tri ấy như vậy?
Tôi đành dịu dàng năn nỉ:
– Kinh ơi! Một chiếc cầu ao, mái nhà tranh, một ngọn cỏ, một lũy tre làng, một ánh trăng, một giòng suối, một cây rừng v.v… Đúng là những vật vô tri theo bạn. Nếu bạn biết “xuất hồn “cảm nhận, thì những vật vô tri ấy đều có “hồn” cả. Chúng cũng biết giận hờn hay mừng vui chào đón bạn, chia xẻ với bạn nhiều lãnh vực, khi bạn vui cũng như lúc bạn buồn.
Tôi đã tha thiết vận dụng, cái óc nhiều “bã đậu” của tôi để nói nhiều. Nhưng nhìn đôi mắt mầu nhờn nhợt nâu nâu, của Lê Văn Kinh, tôi cũng đành ngừng lại. Kinh chẳng chiều, chẳng thông cảm cho tôi, thì tôi phải chiều Kinh vậy. Tôi kéo Kinh ra đường, tiếp tục đi, và chỉ nói những chuyện về chấp hành nội quy của Hồng Thắng. Đóng giường, tủ ghế, sao cho nhanh và đẹp. Chốc nữa đến chợ, mua được cái gì tươi để cải thiện cái dạ dầy v.v…
Từ xa, kia rồi, tôi đã thấy một đám đông người trên ngang lưng một ngọn đồi, cạnh đường đi. Những chiếc lều trống trải, một vài con bò, con trâu gầy, không phải để bán mà là những vật dụng, chuyên chở trên đường rừng. Trong đám đông hàng trăm người ấy, chỉ có dăm, mười người là Kinh, hầu hết là bán hàng, còn hầu như toàn là người dân tộc thiểu số. Tôi chẳng biết họ thuộc những sắc tộc gì; nhưng chắc chắn họ đều là người VN. Nhìn từ xa, ngôi chợ chỉ là một mầu nâu, hay xám. Bước vào chợ, có một cái mùi ngai ngái của phân trâu, phân bò, lẫn mùi cây rừng và đá núi, thành một cái mùi giản dị, mộc mạc thô kệch mà chất phác, của quê hương.
Cũng có vài tấm phản, trên có vài mảnh thịt của những con thú rừng như nai, hoẵng, gà Gô. Đa số là thịt khô đã treo trong bếp, ám mồ hóng lâu ngày. Tuyệt đối không có thịt trâu, bò, lợn, gà, vịt, gạo, đậu v.v… Những thứ này nhà nước đã quản lý chặt, phải đến cửa hàng Quốc Doanh, mua theo tem phiếu cố định, ở những thị trấn, thị xã.
Cảnh chợ hầu như người ta chỉ bán bằng thúng và mẹt, chổ này một ông dân tộc, để trên cái mẹt vài cái nhạc ngựa bằng đồng, vài cái vòng tay, vòng cổ, hay giây chuyền của phụ nữ bằng bạc đã cáu ghét, đen xỉn lại. Chổ kia mấy bà bày mấy quả cây rừng, vài cái lược, cặp tóc v.v… Đồ dùng của phụ nữ, miền sơn cước.
Có 2 – 3 anh mặc quần áo xám bộ đội, tay đeo chiếc băng đỏ. Một hình thức như cảnh sát, giữ trật tự ở dưới xuôi. Một anh chừng 25 tuổi, nhìn tôi và Kinh bằng đôi mắt màu thiên lý thiện cảm, rồi cười. Chúng tôi cũng cười đáp lại và tôi đã làm quen. Anh tưởng chúng tôi là nhà báo, hay cán bộ miền xuôi, của nhà nước. Tôi đã nói thẳng, thật, chúng tôi là tù đã gần 2 chục năm rồi, bây giờ là công nhân ở Hồng Thắng. Có lẽ vì tôi tỏ ra thành thật chân thành, nên anh càng có thiện cảm hơn. Anh là dân tộc Thổ, tiểu đội trưởng du kích ở Bắc Ngầm. Anh chỉ tay về phía cuối đường, chừng nửa cây số, có mấy căn nhà lá con:
– Nhà tôi nớ!
Chiều tan chợ, tôi định ghé thăm nhà anh, tên anh là Sín Lồ hay Sín Lò tôi không còn nhớ rõ. Tôi và Kinh mua được mấy bắp ngô luộc, ăn thay bữa trưa. Mới khoảng hơn 2 giờ chiều, chợ đã vãn người, có lẽ miền núi họ phải về bản làng xa chăng? Nhìn ngôi chợ miền Núi về chiều, tôi chợt nhớ đến Bà Huyện Thanh Quan “Qua Đèo Ngang”. Rồi lại nghĩ đến Hoàng Thanh trong “Bát Cảnh Danh Họa” đời Đường: “Sơn Thị Tình Lam” ở phân trại E. ngày nào! Tôi và Kinh còn mải mê ngắm nhìn con trâu gầy ở góc chợ, đang nhai cỏ, thì chính Sín Lồ đến. Anh muốn rủ chúng tôi trên đường về Hồng Thắng, ghé vào chổ anh.
Khoảng 3 giờ, tôi và Kinh lang thang, thảnh thơi trên đường trở về Hồng Thắng. Đặc biệt là chúng tôi mua được 10 bắp ngô sống, định mang về công trường, ngày mai luộc ăn thêm.
Khi đi qua xóm nhỏ của Sín Lồ, chính anh lại ra đường vẫy chúng tôi vào, tôi kéo tay Kinh cùng đi vào! Thoáng bên trong có một cái chõng tre đã lên mầu thời gian; có hai thanh niên nữa. Sau khi chuyện trò được biết cả 3 anh đều là bạn và cũng là du kích của Bắc Ngầm, chúng tôi cũng chuyện trò xã giao. Tôi không thể quên được một sự việc trong lúc ngồi hút thuốc lá Hoa mai, uống trà chuyện trò, tôi nhìn lên vách thấy tấm hình của HCM bị lệch. Để tỏ cái “mắt thợ” của mình, và cũng để nghe xem sao, lòng của người dân Bắc Ngầm. Tôi chỉ tấm hình, nói như nhắc nhở:
– Tấm hình của bác Hồ, bị lệch kìa!
Cả 3 anh quay lại nhìn tôi, nửa như ngạc nhiên, nửa như thăm dò; Sín Lồ chậm rãi:
– Lệch đã lâu rồi! Có rơi cũng không sao?
Tôi nhìn Kinh rồi ngừng lại đấy, và chuyển đề tài:
– Các anh có hay ra thị xã Cốc Lếu chơi không? Và cách đây bao xa?
Sín Lồ lại vồn vã trả lời:
– Một, hai tháng mới ra một lần! Xa lắm! Đi xe đạp cũng hơn 2 tiếng, mới tới!
Thấy hôm nay, buổi đầu; như vậy là tạm đủ. Hơn nữa thái độ mấy cậu có vẻ bồn chồn, như sắp phải đi đâu, hay làm gì. Tôi nhìn Kinh như ra ý rồi quay lại từ giã ra về, hẹn một ngày thuận tiện sẽ gặp lại. Cả 3 cậu đều niềm nở tiễn đưa, chúng tôi ra đầu ngõ.
Vừa bắt tay với Sín Lồ, quay ra, tôi bàng hoàng giật mình, như có một gáo nước lạnh bất ngờ dội vào người. Một nàng tiên của núi rừng; phải nói là một sơn nữ, từ ngoài đường đang đi vào. Da cô trắng mát, ngược lại với mái tóc đen huyền, thò ra trong chiếc khăn vuông mầu xanh xanh đo đỏ. Lưng đeo một chiếc gù mây, chẳng biết đựng gì chỉ thấy một bông hoa rừng trắng toát lắc lư, nhô cao hơn miệng gù. Một bàn tay như thỏi sáp, hờ hững cầm vào một chiếc quai gù phía trên ngực, làm cho ngực của cô càng giồ lên. Đôi mắt của cô cũng đang mở to nhìn chúng tôi, như của một con nai tơ mới trong rừng sâu đi ra, bất chợt gặp bóng người.
Tôi ngây người ra đờ đẫn, chân không thể nhắc lên để bước đi. Mặt cô đỏ lên, rồi nhìn vào phía trong khu nhà, một giọng oanh vàng ré lên, như cầu cứu:
– Sín Lồ Cố!
Lê Văn Kinh đã kéo tay tôi đi, mà đầu tôi còn ngoảnh lại, cô sơn nữ cũng ngoảnh lại nhìn chúng tôi. Tôi ngoảnh lại vì tôi đang lục lại, và so sánh nàng sơn nữ đã từ lâu; qua văn, thơ vẫn êm đềm, nằm trong trí, hình dung tưởng tượng của tôi: Sơn Nữ ơi!…. Hoàng hôn xuống dần…. chờ đợi ai? Làm chi…. cho đớn đau lòng… Trong một thời gian rồi thương…. rồi nhớ… Sơn nữ ơi! Với cô sơn nữ tôi vừa gặp, khác nhau như thế nào!
Còn cô ngoảnh lại, tôi chắc cô ta cũng băn khoăn, không hiểu tại sao lại có một anh chàng, mặt lại đần ra như ngỗng ị thế? Trên đường về Hồng Thắng, Kinh nói những chuyện gì tôi chẳng hiểu và cũng chẳng còn nhớ gì hết.
Hôm sau chủ nhật, tôi nhớ đến anh chàng y tá Vũ Mạnh Tâm, khu tập thể công nhân xã hội (công nhân này không phải là tù như chúng tôi). Có khoảng hơn 100 người cả nam lẫn nữ, hầu hết từ thanh niên xung phong tuyển vào. Họ ở cách chúng tôi hơn 2 cây số, đang xây dựng mấy căn nhà “kiến thiết cơ bản” bên cạnh con đường ra phố Lu.
Tuần trước, tôi lang thang tò mò đã vào khu của họ và đã quen anh y tá tên là Tâm, chịu trách nhiệm y tế của khu. Anh ta khoảng hơn 4 chục tuổi có vợ con ở Bắc Ninh, tôi và anh đã hẹn nhau chủ nhật này để chuyện trò, quen biết bạn bè. Tôi cũng đã nói thẳng, vả lại đám công nhân này cũng biết Hồng Thắng có một trại công nhân “rởm”.
Tôi tính lại rủ thêm Lê Văn Kinh, cùng là Biệt Kích Gián Điệp (Biệt Kích GĐ) ở Sài Gòn, đi chơi thuận tiện hơn.
Tôi lại đóng bộ quần áo hôm qua đi Bắc Ngầm, đó cũng là bộ đồ duy nhất để diện. Ngoài một bộ đồ nâu và mấy bộ sọc (của tù) tôi vẫn thay đổi để đi lao động. Những ngày cuối tuần, trên đường đi rải rác đây đó, đã có những bóng dáng những anh chàng công nhân “rởm” của Hồng Thắng.
Tôi và Kinh đi đến một đoạn vòng cung của một ngọn đồi, thoáng thấy một bóng áo vàng đi ngược chiều. Đến gần ra là chính Tô Bá Oanh, như thế anh chàng này cũng thích trầm tư lang thang một mình. Mới chỉ một vài lần trao đổi tiếp xúc, khi ông ta vào lán mộc như quan sát, nhìn, xem xét của một ông gíam đốc công trường. Nhưng tôi đã thấy Tô Bá Oanh, tuy mang cái lon trung úy và chừng khoảng gần 4 chục tuổi như tôi, nhưng tôi cảm thấy tay này cũng khôn, quái và nhiều tham vọng lắm!
Chúng tôi đều cúi đầu chào theo thủ tục, mắt y lại sáng lên, tiến sang hẳn bên này đường, phía chúng tôi, tươi mặt vồn vã:
– Trông xa tôi lại tưởng là khách lạ, ở dưới xuôi lên!
Y nói, nhưng mắt chằm chằm nhìn quần áo của Kinh và tôi. Nhìn sang Kinh cũng bộ quần áo bộ đội hôm qua đi chợ, Kinh vẫn đi đôi dép râu “Bình Trị Thiên” như nhiều công nhân của Hồng Thắng. Chỉ có tôi mang đôi “ba-ta” mới, nên hơi khác một chút, ở nơi núi rừng. Tôi cười và nói cho qua chuyện:
– Thưa ông! Bộ quần áo này tôi mua rẻ lại của các cậu bên hình sự!
Nói rồi chúng tôi chào, và rút lui ngay.
Vào khu công nhân xã hội, tìm đến buồng y tá của anh Tâm. Nhìn chung một vài nét, tuy ở nhà xây (cơ bản) những ngôi nhà, chính họ đã xây, tạm thời họ ở, để xây những cái tiếp. Hai khu Nam, Nữ ở hai nhà khác nhau.
Thoáng một số nét sinh hoạt, họ cũng nghèo nàn lạc hậu, chả hơn gì chúng tôi bao nhiêu, đặc biệt là tinh thần, họ rất lười. Với cái năng suất lao động như vậy còn kém chúng tôi hàng nửa, thời gian cả về mặt kỹ thuật. Họ lơ là, đàn đúm chơi đùa là nhiều.
Anh Tâm ở một mình, trong một căn phòng con chật hẹp của y tế. Bốn chục tuổi mà có vẻ trầm lắng, không giao thiệp nhiều với những công nhân khác. Quan điểm của tôi lúc nào cũng thể hiện chân thành trước, tôi cũng đã nói thẳng, nói thật chúng tôi là loại Biệt Kích GĐ từ trong Nam ra Bắc v.v… Anh Tâm vui ra mặt, anh lăng xăng hoạt bát hẳn lên.
Tôi có cảm tưởng cuộc sống của anh bị buộc kín theo xã hội. Ở “bầu thì tròn ở ống thì dài” hôm nay anh gặp được mấy người thể hiện “tình người là chính” nên anh đã hưng phấn như thế?
Tôi đã được nghe nhiều sự thật, của cái hệ thống công nhân này. Như làm ít báo cáo nhiều, làm xanh lại báo cáo đỏ. Anh ở trong Đảng Ủy của công trường, anh đã lập gia đình 5 năm rồi. Vợ anh cũng là đảng viên, trong một xí nghiệp may ở Bắc Ninh. Vợ chồng anh có một đứa con trai 4 tuổi.
Tôi luôn mang một ý niệm: Mình có thật sự, như vậy đường mình đi là chính thống, vậy chỉ cần khéo léo trong hành xử, chắc chắn mình có tính hơn hẳn. Vậy thì bất kể với ai, dù chung quanh toàn là kẻ thù, nham hiểm là người của đối phương, ta vẫn mở cửa. Không phải chỉ có máy nhìn, mà có cả máy ngửi. Dù anh có bọc bao nhiêu lần vỏ, pha trộn bao nhiêu màu, ta tin tưởng sẽ nhìn vào cái nhân, vào bản chất của con người và sự việc. Rồi tùy theo, sẽ giải quyết theo chiều hướng ta muốn,
Có một chuyện vui mà tôi chưa quên: Sau khi Tâm biết chúng tôi là tù nhân 15 – 16 năm rồi, một loại tù phải chịu những hình thức khai thác ngặt nghèo, khác thường. Nghèo thôi, nhưng chân thành, chỉ có đậu phụng rang và ổi xanh với rượu trắng, mỗi người góp một đồng là có một bữa say, đầy nghĩa tình người.
Trong lúc bên trong là say, bên ngoài là tỉnh, rồi lẫn lộn: Tâm rất băn khoăn thắc mắc: Tại sao tôi và Kinh đã trên dưới 40 tuổi, Tâm mới 35 tuổi lại già hơn, cằn cỗi hơn? Trong khi Kinh và tôi phải ở trong tù, khổ đau như vậy?
Chính Lê Văn Kinh cũng không thể giải lý rõ vì sao, mà chỉ quy cho là có người trẻ hơn tuổi; có người già trước tuổi là do trời, do máu, do giòng họ của mỗi một người.
Tôi đồng ý, chúng ta không thể phủ nhận được yếu tố đặc biệt này, nhưng nếu ta xét, ta nhìn cái chung: Một chục người cùng tuổi ấy, điều kiện ấy mà ở trong tù cách biệt kiên giam. Và một chục người cùng tuổi ấy, điều kiện ấy ở ngoài đời có vợ, có con thì sẽ thấy yếu tố trên, không còn đúng hoàn toàn nữa.
Tuy đầu tôi nghĩ thế, nhưng tôi vẫn ngồi im lặng; mãi cho tới khi cả Kinh và Tâm bắt tôi phát biểu ý kiến. Cũng đã gặp cụ Lưu Linh rồi, nên tôi mạnh bạo trình bày, dù tự biết đầu óc của mình có nhiều “sạn, sỏi”. Nhưng phải cởi mở lòng mình, phải chân thành như lòng mình đã, nên tôi đã mạnh dạn phát biểu:
– Tôi suy nghĩ thế này: Phật và Chúa nói theo từng tôn giáo, nói chung là đấng tạo hóa sinh ra con người. Ngài ban cho mỗi người kể cả đàn ông, lẫn đàn bà, một bọc, một cục sống. Nói một cách giản dị là tạo hóa ban cho mỗi người 1000 đồng chẳng hạn. Bằng nhau, ai cũng như ai. Nếu anh phung phí tiêu nhiều, về cuối anh còn ít. Ngược lại thì anh còn nhiều, đó là hình dung theo toán.
Bây giờ ta hình dung có vẻ theo kiểu văn chương: Tạo hóa ban cho loài người đồng đều, mỗi người một sợi tơ đồng, để hưởng một thời hoa mộng. Nói chung, từ khoảng 20 tuổi đến 40 tuổi, cái dây tơ hồng đó, có qúy vị gẩy nhiều, người gẩy ít tùy theo. Bình thường trong 20 năm gẩy, thì sợi tơ đồng đó đã dão ra rồi, nên khi gẩy thì tiếng kêu của nó đã rè, đã đục. Các quý vị cứ nhìn các ông Cha, ông Sư. Các ông ấy thường trẻ hơn, với những người cùng tuổi ở ngoài đời, đấy là cái chung.
Chứ tôi hiểu cá biệt có những ông Cha, những ông Sư (nhất là ở Việt Nam hiện nay) các ông ấy không những vẫn gẩy đàn, mà còn gẩy hơi nhiều, gẩy hơn một người bình thường nữa. Như vậy thì ai cũng đã thấy, nếu đem cái dây tơ đồng của một ông 40 tuổi ra gẩy, nếu nó không rè rè thì nó cũng kêu bùng bục. Ngược lại, Lê Văn Kinh và tôi không gẩy và chưa hề dùng đến cái dây tơ đồng ấy. Nếu bây giờ đem gẩy thì nó vẫn thánh thót, du dương như thưở ban đầu vậy.
Tâm và cả Kinh đều cười ngặt nghẽo, cười bò ra, tay ôm bụng. Nỗi hưng phấn của Vũ Mạnh Tâm, càng được đẩy cao; anh chạy đến chiếc tủ con, mở lấy ra một chiếc máy ảnh nhỏ, quay lại nói rổn rang:
– Đây là chiếc máy ảnh của ông anh trung tá sư phó, mới mua ở Sài Gòn tháng trước, cho tôi mượn một tuần. Hôm nay anh em ta ghi một tấm hình, để kỷ niệm.
Truyện trên trời rơi xuống! Chụp ảnh ngoài xã hội lúc này còn khó, huống chi lại ở trong tù. Tôi nhoài người đến cầm chiếc máy, ngắm nghía. Máy ảnh của Nhật, TENKA II có automatic nữa. Ra ngay ngoài hè, Tâm chụp mấy tấm, trong đó có riêng một tấm Kinh và tôi. Có lẽ đó là một tấm hình đặc biệt duy nhất, của Kinh và tôi, chụp để kỷ niệm trong giai đoạn ở tù.
Buổi chiều trở về, mới bước chân vào đến cổng của Hồng Thắng, tôi mừng quá! Lý Cà Sa to lớn tiến lại bắt tay tôi, có một số công nhân mới chuyển đến, có thêm mấy anh Biệt Kích nữa trong đó có cả Nguyễn Cao Sơn (một chuẩn uý của Thủ Đức).
Trên đường vào chổ của mình, đầu tôi suy tư: Lý Cà Sa mà được ra công trường HT, cũng là một sự khác thường. Tôi xách gầu và quần áo ra sau giếng tắm một cái, sau 2 ngày ngược xuôi quanh vùng.
Trong hàng chục người chung quanh giếng, có một cậu hình sự chừng 20 tuổi cứ liếc nhìn tôi, thái độ khác thường. Xong xuôi, tôi vừa rẽ về đến ngôi nhà số 2, thì cái cậu liếc nhìn tôi khi nãy, đã đón đường. Thái độ cậu ta hơi ngập ngừng, hai tay xoa xoa vào nhau; rồi giọng như được tăng số:
– Em hỏi thực anh, có phải anh là một điệp viên cừ khôi được đào tạo công phu ở Nhật, về Hà Nội hoạt động phải không?
Tôi còn ngạc nhiên, đắn đo quan sát thái độ của cậu, cậu ta lại nhấn mạnh:
– Anh cứ nói thật với em đi!
Một chút băn khoăn, tôi khẽ để một tay lên vai cậu:
– Trước khi anh trả lời, hãy cho anh biết do đâu em lại hỏi anh như thế?
Cậu này tỏ ra hơi bộp chộp, nên trả lời ngay:
– Nhiều bạn bè em chỉ anh, nói với em như vậy!
Tôi vẫn đặt tay lên vai cậu, dịu dàng nói với cậu:
– Cám ơn em đã hỏi anh như vậy, anh xin nói ngay là những lời đồn đó, là không đúng sự thật. Tên em là gì?
Cậu trả lời tên là “Công” còn gặn lại:
– Hãy tin em! Nếu thật em sẽ xong ngay!
Tôi thấy không giải quyết cái gì, cũng chả cần hiểu “xong ngay” là “xong” gì? Tôi đập vào vai cậu, như đẩy đi:
– Thôi chào em Công nhé!
Quay vào buồng tôi nghĩ: tiếng đồn thì thường hay phóng đại!
Đã có một số cậu hình sự xin đi phép, cả một vài Biệt Kích cũng đã xin đi phép vào miền Nam 2 tuần, 1 tháng. Để nghe ngóng, để thử, tôi cũng dần đánh tiếng qua tên cán bộ trực của công trường là Đỗ Nhận. Nghe đồn tên này là trung sĩ cán bộ trên trại Quyết Tiến (Cổng Trời) về đây.
Ra vào qua ánh mắt; tôi thấy y có chút thiện cảm cá nhân với tôi, nên một buổi thuận tiện gặp y, trên một quãng đường từ cơ quan vào Hồng Thắng. Nghĩ đến Hà Nội, còn mấy người em ở Hàng Bột con bà dì, em ruột của mẹ tôi. Tôi còn một bà dì họ ở Lương Ngọc Quyến. Thì cứ thử xin 2 tuần, xem họ có cho đi không đã. Nhưng tên Nhận đã nhìn tôi, rồi nói rõ ràng:
– Anh Bình cứ thử làm đơn lên Ban Gíám Đốc! Theo tôi đã có 2 người (Biệt Kích) đi phép vào Nam, nếu họ không trở lại thì không phải là dễ.
Sau mấy ngày, tôi đã biết phân trại A này có khoảng 7, 8 trăm tù, hầu hết là hình sự: tham ô, trộm cắp, giết người. Chỉ có một toán tù chính trị địa phương, duy nhất hơn 4 chục người, làm mộc và làm nhà do tên cán bộ Tý phụ trách, anh Ngô Đạo làm toán trưởng.
Lán mộc cũng là tre nứa, gỗ trống trếnh 4 gian ở ngay cạnh đường cái. Gọi là đường cái chứ cũng là đất, đôi khi có một vài chiếc xe cổ lỗ hoặc là xe bò của trại đi qua. Hàng ngày toán tù chính trị chúng tôi xuất trại ra khỏi cổng, rẽ tay phải theo đường cái chừng 200m, là đến lán mộc thủ công. Ở lán mộc tôi được phân công trong tổ làm cửa và một vài ngày lại đóng quan tài, gọi là quan tài cho nó sang, vì bên hình sự này chết hơi nhiều (chết đói và kiết lỵ). Chúng tôi được lệnh chỉ cần rọc 4 tấm ván thô (không bào), rồi đóng đinh là xong.
Từ lán mộc, sáng, trưa, chiều, tôi vẫn nhìn thấy những toán hình sự rách rưới, gầy yếu, ghẻ lở đi qua lại. Có hôm anh Ngô Đạo toán trưởng, nhìn những đoàn tù hình sự đi qua nói chuyện với tôi. Anh chỉ tay xa xa, phía trước mặt:
– Anh Bình có biết không? Chúng nó đói quá, trên đường đi lao động về mấy cái nhà tư của cán bộ có mấy giậu dâm bụt và thài lài phía sát đường. Họ vặt sạch, đút ngay vào miệng nhai ngấu nghiến, về sau trên đường đi về, hai bên đường, bất cứ cành cây rừng nào chĩa ra, họ cũng vặt lá đút vào mồm, dù bị công an võ trang dùng báng súng thúc, đánh, đá tơi bời.
Nghe anh Đạo nói chuyện, lòng tôi vặn vò như xát muối. Tôi thầm nhủ trong lòng, nỗi thương đau này của họ, có một phần do tôi gây ra!
Một sự việc buổi chiều hôm qua, vẫn còn chèn ứ chật cứng lòng tôi: Tôi đang làm việc với tổ mộc làm cửa ở lán, một số người láo nháo, rầm rì chỗ căn nhà con của cán bộ Tý, mé sau của lán mộc. Căn nhà con này trên một khu đất cao. Tò mò, tôi lách lên nhìn vào chiếc sân con, trước mặt căn nhà: à, anh Lộc Mù, đang nằm xấp dưới đất, tay chân đều xuôi thẳng! Tên cán bộ Tý đang trợn mắt nhìn anh Tuấn Nguyệt, cầm một chiếc roi tre, quát:
– Đánh mạnh vào, đúng 10 roi! Cho chừa tội ăn cắp sắn!
Trước 7, 8 người trong tổ làm nhà, anh Lộc Mù, mọi người gọi anh như thế. Mắt anh bị bệnh mắt đỏ, nên không mở to được. Anh Lộc chừng 45 tuổi, người Hà Nội cùng quen biết với ban nhạc vàng của Toán Xồm. Sau 10 roi, anh Lộc lồm cồm bò dậy. Đến lượt anh Tuấn Nguyệt, lại nằm xuống và anh Lộc lại cầm roi. Tên Tý mắt gườm gườm, gằn giọng:
– Trước mặt tôi, các anh không đánh thật, đánh mạnh, tôi sẽ ngồi đây, bắt các anh thay nhau đánh tới khi trại về.
Tôi bàng hoàng, ngẩn người ra! Tôi nhẹ nhàng lủi xuống chỗ làm. Tôi ngồi nhắm mắt lại cho hồn lẩn trốn vào mây đen, của cuộc đời. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cảnh này trong tù! Phải rồi, trước đây còn miền Nam, còn một nửa nước nữa VC chưa chiếm được, chúng còn che giấu để bịp bợm tuyên truyền. Bây giờ, chúng đã nuốt xong miền Nam rồi, không cần phải che đậy nữa.
Tên Tý chừng 30 tuổi, anh Lộc 45 tuổi, anh Tuấn Nguyệt khoảng 40 tuổi đều là dân ăn chơi, của đất ngàn năm văn vật. Tôi đã quen biết các anh hơn một năm trước trong trại B, ở những buổi nhạc vàng bỏ túi, lén lút cuối tuần. Tuy đánh không đau lắm, vì có quần áo, nhưng mà nhục. Có lẽ tên cán bộ Tý mục đích, cũng chỉ muốn làm nhục là chính. Tất nhiên tôi hiểu, phải có chủ trương từ trên, thì tên Tý mới dám làm như vậy.
Ít ngày sau, một buổi tối cán bộ trực trại vừa vào điểm xong ra khóa cửa buồng, lại thấy mở khóa nữa. Tên trực trại, tên Tý cán bộ toán nói gì với anh Đạo toán trưởng. Anh Đạo quay lên sàn trên nói to:
– Anh Bình và anh Tuấn Nguyệt khẩn trương theo cán bộ ra lán, đóng 2 chiếc quan tài có bồi dưỡng 1 kí sắn luộc, cho 2 anh.
Tôi và anh Tuấn Nguyệt đều vội vàng leo xuống, theo một tên công an võ trang ra lán thủ công. Trời đã tối đen, chỉ có một ngọn điện 40 Watts treo giữa lán. Ít khi nào tù làm đêm, vì thế bóng đêm phủ căn lán gần hết. Trên đường vào lán mộc, trong bóng tối mập mờ, tôi thấy một chiếc xe ba gác trên có 2 xác người, với 4 anh tù hình sự đang ngồi gục đầu ở mé đường. Một tên công an võ trang đeo súng, miệng lập lòe điếu thuốc đứng bên cạnh, với tên Thông y tá hình sự của trại. Như vậy gồm có mười người: Hai tên công an võ trang, tên cán bộ trực trại, Tuấn Nguyệt và tôi, y tá với 4 anh hình sự, không kể 2 cái xác.
Trong bóng đêm rừng, ngọn điện chỉ khoét ra một lỗ sáng méo mó, còn đều đen ngòm. Phần vì gió lộng thêm, sương núi lại tỏa ra nhiều như mưa phùn, nên cả 4 anh hình sự và 3 tên cán bộ, đều vào trong chỗ chúng tôi làm. Tiếng rọc cưa xoèn xoẹt rù rì, vài tiếng cú rừng the thé vọng về, càng khoét sâu lòng mọi người, ai cũng câm nín. Bỗng tên trực trại ghé về phía anh y tá hình sự, giọng thắc mắc:
– Làm sao, chúng chết nhanh như thế?
Dưới ánh đèn, hai con mắt tên y tá trắng dã như mắt cú mèo, lấm lét nhìn mấy tên áo vàng, rồi lắc đầu chậm chạp:
– Thưa cán bộ, cháu cũng không biết, khi khênh ra khỏi buồng, thì chúng đã chết rồi!
Tên trực trại, thái độ có vẻ ấm ức, tò mò. Y dõng dạc ra lệnh cho 4 tên hình sự, đang ngồi như 4 con gà rù, ở mé cầu bào bên kia:
– Bốn anh ra mang một cái, vào đây cho tôi!
Nói xong, y quay lại tên y tá hình sự, nhưng nói với tôi:
– Anh hãy cho anh y tá mượn cái chàng, hay cái bướm một tí!
Tôi và Tuấn Nguyệt cũng muốn biết ra sao, nên đã đưa một cái chàng, tôi mới mài.
Tên Thông y tá đã chỉ một cái cầu bào trống bên cạnh, cho 4 tên hình sự đặt cái xác lên. Dưới ánh đèn mập mờ, tôi thấy cái xác chừng 20 tuổi quần áo rách tả tơi. Cái mặt xám đen, đặc biệt là cái bụng phình to tướng. Tên Thông cầm cái chàng, rạch mạnh cái bụng to ấy, nó phì ra thành tiếng, như chiếc lốp xe đạp bị xì hơi. Tên trực trại ra hiệu tay, cho tên Thông:
– Rạch nữa, cho rộng ra! Rạch cả cái bọc dạ dầy kia kìa!
Tôi chạy sang liếc nhìn, chỉ có một tí máu đen bên ngoài, trong dạ dầy, chỉ có vỏ sắn và lá cây, thành một màu xam xám xanh xanh.
Tôi và Tuấn Nguyệt nhìn nhau, rồi đều quay về chỗ đóng đanh ghép cho xong 2 chiếc quan tài. Vừa mệt vừa đói, tôi và Tuấn Nguyệt cũng đều không ăn được kí sắn luộc, cuộn trong chiếc lá đu đủ để đấy. Được sự đồng ý của Tuấn Nguyệt tôi mang cả gói sắn luộc, đưa cho 4 cậu hình sự, vì họ cứ liếc nhìn trộm, gói sắn từ sớm tới giờ. Chúng tôi cũng là tù đói, vậy mà thấy vậy chẳng muốn ăn. Chỉ trong một phút, cả 1 kí sắn 4 cậu chia nhau, ngốn hết chả còn tí sơ nào!
Tôi hỏi ra, các cậu đi chôn, mỗi người chỉ có 2 lạng sắn bồi dưỡng, đã ăn ngay hơn một giờ trước rồi. Tôi và Tuấn Nguyệt vội vàng thu dọn dụng cụ, để tên vũ trang dong về trại. Trên đường vào trại tăm tối gập ghềng, tôi liên tưởng cảnh vừa qua. Tôi nhớ đến một ý thơ:
Không kèn, không trống, không ai tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu.
Chỉ có bạn tù, khiêng lặng lẽ,
Vùi nông một lỗ, kiếp người ơi!
Chừng hơn 2 tháng sau, được lệnh của tên cán bộ Tý, anh Đạo chuyển tôi sang tổ làm nhà. Tôi ở tổ này khoảng hơn 3 tháng. Tôi nhớ vào đầu 1977, một hôm tên Thành, cán bộ giáo dục của phân trại A, gọi tôi. Gần một năm ra trại này y mới gọi. Y gợi ý và bơm cho tôi như sau: Sớm muộn Đảng và nhà nước sẽ tha cho tôi, về một công nông trường nào đấy. Nhưng có điều, nếu cho tôi ra nông trường, công trường, thì không còn thợ làm nhà, ở trong trại giam. Vì thế tôi phải có ý thức đào tạo, dạy cho các cậu bên khu hình sự án dài, biết làm nhà để thay thế các anh, các bác bên chính trị, chết hoặc được tha v.v…
Tôi hiểu, chẳng qua đây cũng chỉ là một cách khích lệ, dụ tôi dậy hết nghề, cho đám trẻ hình sự mà thôi. Hiểu như vậy, nhưng là tù, thì cứ tà tà mà làm, rồi đến đâu hay đến đó.
Ba ngày sau tên Tý dẫn đến 3 cậu chừng 19 – 20 tuổi. Ngay nơi sân sau của lán mộc, tôi đang chuẩn bị để làm một căn nhà 3 gian. Tôi chỉ biết, chịu trách nhiệm làm theo kích thước đã vẽ sẵn, còn họ dựng ở đâu thì tôi không biết. Ba cậu đều là dân ở khu Hoàn Kiếm Hà Nội. Lúc đầu các cậu tỏ ra thái độ ngang tàng, bất cần đời, nhưng sau những thăm hỏi, trao đổi tâm tình, các cậu lại tỏ ra sốt sắng, ân cần ngoan ngoãn và vui vẻ làm theo, những lời tôi chỉ dậy.
Hơn 10 năm xưa tôi đã có một số kinh nghiệm sống với biết bao nhiêu các cậu “cháu ngoan của bác Hồ” ở Hỏa Lò. Thậm chí, cả những loại là giới anh chị của các cậu nữa, nên điều hành 3 cậu này, chẳng khó khăn gì.
Cậu Nguyễn Đắc Dũng 20 tuổi, cậu Phan Hà 19 tuổi cùng một vụ ở Ngõ Huyện Hà Nội, đầu năm 1976. Cậu thứ 3 là Hoàng Văn Nô ở một vụ khác, các cậu đều mới lên trại được 5 tháng. Về vụ việc của cậu Dũng và Hà, tôi xin sơ lược như sau: Vào cái dịp Tết (âm lịch) của năm 1975 đầu 76. Có lẽ vừa cướp được miền Nam béo bở, VC hơi lơ là vấn đề quản lý xã hội ở miền Bắc nói chung, và Hà Nội nói riêng. Nhóm Ngõ Huyện gồm 5 cậu Dũng, Xuân, Hà, Kỷ, và Thái. Các cậu lêu lổng không chịu học hành, và cũng không theo một cái khuôn khổ của Đảng, là gia nhập đoàn thiếu nhi, hay đoàn thanh niên CS.
Một đêm 2 cậu Dũng và Thái, đi chơi la cà ra khu bờ sông gần nhà Bác Cổ. Trong bóng đêm 2 cậu thoáng thấy một cô gái đang ngồi ủ rủ ở một bậc hè, của một ngôi nhà trên đường phố. Nháy nhau 2 cậu đều quay xe đạp trở lại, vì đoán là “bò lạc” các cậu vẫn thỉnh thoảng vớ được. Được biết cô này tên là Hồng, 16 tuổi lên Hà Nội để chăm sóc bố bị bệnh lao xương, nằm ở Việt Đức.
Thấy Hà Nội phố phường có nhiều cửa hàng, cửa hiệu, cô cứ đi, rồi bị lạc không biết đường về, nhà thương. Cô đã đi mỏi cả chân, lại còn bị đói từ sáng, chưa ăn uống gì.
Hai cậu dụ Hồng đi ăn phở, cô Hồng lên xe cho Dũng đèo đi. Hai cậu đưa Hồng ra phía sau, đầu nhà thờ lớn rồi đè Hồng ra làm bậy, vừa đói, vừa không chăn chiếu, ở ngay sàn gạch. Sau khi 2 cậu làm xong, bỏ mặc Hồng nằm đó khóc, các cậu về nhà vì đã 11 giờ đêm rồi.
Nhưng nằm không yên, nghĩ đến mấy thằng bạn ở Hàng Trống và Hàng Gai, các cậu đã xách xe đến tìm. Cậu này gọi cậu kia thay nhau tất cả 5 cậu. Riêng cậu Dũng và Thái, gần sáng còn trở lại làm thêm lần nữa. Tuy các cậu đã dặn kỹ Hồng, không được nói với ai, nhưng có lẽ phần vì đói, phần vì đau, nhục, nên cô đã bò về phía Hàng Trống, rồi đến được đồn cảnh sát thì bị ngất.
Lần lượt các cậu đều bị bắt, sáu tháng sau đem các cậu ra tòa xử: 3 cậu Dũng, Hà, Thái, mỗi cậu 20 năm; hai cậu Kỷ và Xuân mỗi cậu 18 năm vì các cậu đã từ chối không muốn đi, nhưng Hà, Thái, Dũng cứ lôi kéo. Cái điều đáng trách nhất của các cậu, là cô Hồng đã đói từ sáng, mà không cậu nào kiếm cái gì, cho cô đó ăn. Tôi có hỏi thì Dũng, Hà đều nói trong niềm xúc cảm, đau đớn ra mặt:
– Khi ấy chúng em cũng đói, mà không đứa nào có tiền cả!
Gần một thế kỷ tù, trong một vụ án vẩn vơ không tên tuổi. Năm cuộc đời hay cả sáu cuộc đời sẽ đi vào khổ đau, tàn lụi. Nghe chuyện các cậu tôi hiểu, cái chính là các cậu gặp lúc không may nữa. Chính trị cũng như hình sự, CS hay lấy một sự việc trị đến nơi đến chốn, trị nặng gấp đôi gấp ba. Vì chúng muốn trị người chưa, vi phạm hoặc mới vi phạm, không dám vi phạm nữa. Có thể đám anh chị Ngõ Huyện (khu nhà thờ lớn Hà Nội) làm nhiều chuyện đã từ lâu, nhưng CA không tìm bắt được. Bây giờ vớ được một vố chúng xử làm gương, cho giới bụi đời, anh chị Hà Nội?
Làm nhà với các cậu còn trẻ, cái khó nhất là chữ Nho: Tiền hậu, thượng, hạ v.v… Tôi thay vào bằng chữ in và số La Mã. Các cậu đều học lớp 7, lớp 8 (hệ 10 năm) nên tôi áp dụng công thức, của tam giác vuông góc Pythagore, cho các cậu tìm đường chéo v.v… Có thể do sự thông minh của các cậu, hoặc do sự pha trộn nhuần nhuyễn giữa: nghề nghiệp, kiến thức, lý tình của người hướng dẫn. Chỉ ba tháng sau, các cậu không những đã xàm được các xà thượng, hạ, đúng qui cách kỹ thuật, mà còn có thể đứng làm vì trưởng. Như vậy có thể tạm gọi là một thợ làm nhà, được rồi.
Một buổi chiều tôi theo toán đi làm về; ra khỏi lán mộc, toán rẽ trái để về trại. Từ xa (200 m) trước cửa căn nhà trực trại, đối diện với cổng trại. Có 6 – 7 cán bộ áo vàng lố nhố, tôi thoáng thấy một bóng người cao cao, đúng là hung thần Hoàng Thanh.
Tôi hơi choáng khi bất chợt nhìn thấy y, nhưng lòng cũng một chút vui vui, gặp lại một người quen biết đã lâu không gặp. Dù sao 7, 8 năm xưa, một lần tôi và y đã có một buổi ở phân trại E phố Lu, đàm đạo về một số loài hoa của quê hương. Có thể y đã quên tôi rồi, một người tù trong hàng chục ngàn người tù khác. Tôi nhìn đi nơi khác, khi toán đi qua mặt y. Nhưng y đã tiến ra sát mé đường, gần hàng toán mộc đang đi. Tôi quay lại nhìn y, và hơi gật đầu miệng nói nho nhỏ: “Chào ông!” Cổ áo y thường không đeo lon, mắt y sáng lên rồi vồn vã:
– Anh có khỏe không? Cắt tóc và cạo cái râu đi! Trông yếm thế quá!
Anh em trong toán và cả tên Tý cán bộ toán, cũng hơi ngạc nhiên. Có thể là một thứ giác quan đặc biệt của một người với một người? Về trại anh em nói Hoàng Thanh hiện nay là cán bộ cao cấp trên bộ nội vụ; ông Thích tổng giám thị vẫn phải nem nép nể vì.
Bốn ngày sau, buổi sáng cán bộ trực trại, đọc tên tôi ở lại trại để gặp cán bộ. Khi trại đã đi lao động hết, tên trực trại sai trật tự vào gọi tôi. Tên trực trại dẫn tôi đến một căn nhà nhỏ, ở trên một khoảnh đồi con, phía trái của trại.
Đến cửa, tiếng nói phía trong rất mềm dịu nhã nhặn:
– Anh mở cửa vào đi!
Một cán bộ lạ cũng không đeo lon, chừng 40 tuổi. Sau khi tôi lễ phép chào theo thủ tục, y chỉ chiếc ghế đối diện: “Anh ngồi đi! Tôi là cán bộ của bộ, hôm nay tôi muốn hỏi lại anh một số sự việc”- trong khi tay y đặt một cái tách trên bàn rồi rót trà. Điều tôi chú ý nhìn là bao thuốc lá Điện Biên giấy bạc thò ra hai, ba, điếu ở góc bàn. Có lẽ y cũng nhìn thấy thái độ của tôi, nên y cầm bao thuốc, rút thò ra một điếu thuốc, rồi giơ về phía tôi:
– Anh có hút thuốc lá không? Mời anh!
Tôi đường hoàng rút một điếu, y còn lịch sự bật quẹt ga cho tôi hút! Tôi vừa cám ơn y, vừa nhìn mấy sợi khói nho nhỏ của tách trà. Chúng đang uốn éo cong queo bỗng duỗi thẳng ra, rồi cùng chui vào đám khói thuốc lá, tôi vừa thở ra. Hồn tôi cũng đê mê, đờ đẫn vì lâu ngày mới được dầm mình, vào cái không khí thuốc thơm, trà ngon.
Hơn một tiếng đồng hồ, y hỏi lại một vài sự việc mà tôi đã khai báo trước đây ở Hỏa Lò. Tôi thận trọng trả lời những câu hỏi của y, lòng cũng hơi lo lắng, vì bây giờ chúng đã chiếm được miền Nam rồi. Có thể một số hồ sơ riêng về vụ án của tôi, chúng phát hiện được, những điều khác thường?
Nhưng qua nghe ngóng từng lời nói, từng hiện tượng, tôi yên lòng, vì y chỉ hỏi lại những điều cũ, trước đây mà thôi. Tuy thế, tôi cũng phải kính nể, cho sự dè dặt thận trọng của chúng. Vụ án của tôi, đã có gần 6 năm khai thác. Đã đem ra tòa xử gần 10 năm xưa, thế mà bây giờ chúng còn hỏi lại sự việc.
Tên cán bộ đột nhiên cúi xuống mở chiếc cặp ở dưới chân, lấy ra một bao thuốc lá lạ, đã bóc dở. Nhìn thoáng bao thuốc, tim tôi như ngừng hẳn lại hai, ba, giây. Nhìn lá cờ vàng 3 sọc đỏ, người tôi đờ ra. Cảm giác như nhìn thấy một cái gì cao qúy thiêng liêng, của đời tôi. Thoảng mấy giây, tưởng như nhìn thấy người yêu lý tưởng 15 năm mới gặp lại. Từ đầu 1962 bây giờ là giữa năm 1977. Tôi ngẩn ngơ đến nỗi, tên cán bộ nói gì đó, tôi phải hỏi lại. Y mới nhắc lại:
– Anh còn nhớ loại thuốc này không?
Tôi hổn hển ngắt quãng, ngập ngừng:
– Thưa ông…. thuốc của quân đội miền Nam, Quân Tiếp Vụ, đã lâu lắm rồi ạ!
Có thể y cũng thấy cái lúng túng, khác thường của tôi. Y chỉ bao thuốc, miệng cười nhã nhặn: “Anh có muốn hút thử lại không?”
Như vồ lấy bao thuốc, có lá cờ vàng 3 sọc đỏ, miệng tôi lắp bắp:
– Thưa ông có ạ!
Trong bao thuốc còn 2 điếu, tôi rút 1, mới thoáng ngửi mùi thuốc Quân Tiếp Vụ. Một mùi hương thoang thoảng nhè nhẹ, ngọt lịm như cam thảo, như đường phèn, cái mùi của gần gũi thân thương! Tôi không thể chịu được nữa, tôi đưa đại bao thuốc lên mũi. Hà hít cho đã niềm thương, nỗi nhớ của 15 năm dài đằng đẵng, y nhìn thái độ lính quýnh của tôi, vẫy tay:
– Còn 2 điếu, anh 1 tôi cũng muốn hút lại một hơi. Ba tháng trước tôi vào Sài Gòn công tác, tôi mua thử một bao. Về Hà Nội tôi cũng cho mấy người quen, và mấy đồng chí hút thử. Nó cũng có mùi thơm lạ, khác với Điện Biên và Tam Đảo. Hôm tôi được lệnh lên gặp anh, tôi nghĩ nếu anh hút thuốc, chắc trước đây đã hút thuốc này. Tôi lục lại, thấy bao chỉ còn 2 điếu, tôi mang đi.
Tôi mừng vui quá, nên bộc phát thành lời:
– Xin cảm ơn và nhớ ông nhiều lắm! Tôi tìm lại được một dư vị cũ, ngày xưa!
Xem ra, y cũng chẳng để ý những gì tôi nói, tôi đánh bạo:
– Ông cho tôi cái bao này, để nhớ ngày tôi được gặp ông?
Y cười rất tự nhiên:
– Anh lấy thì lấy, không thì vất đi chứ làm cái gì!
Cái điều tôi phải ngổ ngáo, thô lỗ chỉ vì “lá cờ vàng 3 sọc đỏ” như một thứ cao qúy, linh thiêng của đời tôi. Tôi muốn ôm ấp lá cờ thiêng liêng ấy, ép vào trái tim thương yêu, nhưng đã lâu ngày bầm tím của tôi.
Tôi vẫn để bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ, cố gấp nhỏ giấu đút vào một chỗ kín và qúy nhất, trong những vật dụng của tôi. Tôi chủ trương là, sẽ giữ mãi bao thuốc lá cao qúy này, cho tới khi tôi mang theo về lòng đất. Nhưng… lại chữ “nhưng” quái ác, chữ “nhưng” độc địa….. Tôi đã bị…. không thể thực hiện được chủ trương, dù nhỏ nhặt của tôi…. Vì sao? Xin sẽ trình bày ở những chương tới.
Hơn một tháng sau, ngày 7/8/1977, một buổi sáng, trước toàn phân trại A, có mấy tên cán bộ lạ. Có cả tên thiếu tá Thích tổng giám thị. Tên cán bộ giáo dục đọc một bản tuyên bố, nội dung: Do sự tích cực lao đông cải tạo của trại viên, và do lòng nhân đạo của Đảng và Nhà nước, nay tuyên bố tha cho các anh có tên sau đây về công trường Hồng Thắng, phố Lu Lào Cai. Vẫn dưới sự quản lý, của bộ nội vụ (bộ công an trước đây).
Đọc 12 – 13 tên, đặc biệt trong đó có tên ĐCB là tù chính trị duy nhất, còn lại hầu hết là hình sự. Có thể trong toán tù chính trị địa phương, ai cũng có gia đình, quê quán, thân nhân, nên nếu được tha, đều được về nhà. Chỉ có mình tôi, là loại “tứ cố vô thân” ở miền Bắc.
Tất cả 13 người được tha, về trại công nhân Hồng Thắng này, đều được phát một bộ đồ nâu. Chiều hôm đó tập họp lại ở hội trường, cán bộ vào tuyên bố nội dung: Tuy được ra công nhân, nhưng vẫn dưới sự quản lý của Bộ nội vụ, cho nên các anh phải tuyệt đối chấp hành nội quy của công trường.
Dư âm của bữa ăn con gà giò hãy còn rơi rớt trong cảm giác, hãy còn làm cho lòng tôi lâng lâng nhìn cuộc đời. Sáng sớm hôm nay, trong buồng hãy còn tối, tôi giật mình thức giấc vì chiếc loa ở cửa buồng nheo nhéo loan báo: Ngày 13 – 3 đại quân CS có xe tăng đại pháo đã bất ngờ mở trận tấn công vào thị xã Buôn Mê Thuột ở cao nguyên miền Nam, chúng đã chiếm được thị xã Buôn Mê Thuột. Hôm nay là ngày 15-3, như thế đã 3 ngày chúng mới loan tin trên đài. Tình hình phải chắc ăn chúng mới loan tin, chúng rút kinh nghiệm năm Mậu Thân 1968.
Người tôi tự nhiên đờ ra, tôi đã ngồi dậy rồi, lại nằm xuống lịm đi, phải chăng mối ưu lo của tôi hơn 2 năm xưa bây giờ đã ló ra? Tôi nhớ thời gian ký hiệp nghị Paris, nhìn một tấm hình chúng đang tuyển quân, tôi đã lo có khi vì hội nghị Paris này rồi sẽ mất miền Nam!
Cả ngày hôm ấy, người tôi như mất hồn. Ngồi xếp hàng với các toán chờ xuất trại, tôi liếc nhìn mãi sang phía bác Tiến, anh Bưởi và các toán chung quanh. Mọi người nhìn nhau bằng những đôi mắt trắng nhờ nhờ. Ngay xa xa chỗ mấy toán hình sự, hôm nay cũng không còn ồn ào cãi cọ nhau, như mọi khi.
Từ tối hôm qua, lòng tôi đã nhẩm tính dự trù cho đêm nay (15-3) như mỗi tháng. Từ cái tháng 7/1973 cho tới bây giờ niềm hy vọng mòn mỏi đợi chờ cứ mỗi tháng, mỗi bé dần, bé dần cho đến đoạn chót chỉ còn bé một tị. Cũng như đêm nay, niềm mong chờ, hy vọng của chúng tôi cũng còn bé, chỉ còn chút síu.
Bản tin buổi chiều, lại thêm: Đại quân hàng 5- 6 sư đoàn đã vượt sông Bến Hải, bất ngờ thần tốc tiến chiếm Cổ Thành và thị xã Quảng Trị. Đại quân đang trên đường tiến vào cố đô Huế. Từ nay chúng không để hai, ba ngày sau mới đưa tin tức nữa. Có lẽ riêng về trận đầu, trận mở màn ở Buôn Mê Thuột chúng thận trọng, nghe ngóng trong nước ngoài nước nên chúng mới chậm trễ, đưa tin cho nhân dân miền Bắc như vậy. Còn bây giờ thì đài, báo, cứ ra rả từng bước tiến, từng trận đánh của đại quân mà chúng đã tuyên bố là chiến dịch tổng tấn công toàn diện, lấy tên là Hồ Chí Minh.
Đất nước miền Nam thương yêu ơi! Ông bà tổ tiên ơi! Có chứng giám lòng con lúc này! Vì tôi hiểu, tôi nhìn vào bản chất của cuộc chiến, hoàn cảnh, điều kiện nên tôi mới buồn héo hắt, rũ rượi như thế này!
Đúng như ông bà mình dạy: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Đêm ngày 2-4 khoảng 10 giờ; kẻng cấm 9 giờ vừa xong một lúc; bên ngoài cổng và sân trại rầm rập í ới tiếng của công an võ trang và cán bộ. Nhìn ra về phía lán thủ công có ngọn lửa sáng, biết là có cháy nhà, nhưng chúng tôi không biết cháy ở đâu, phía ngoài cổng trại. Nửa giờ sau, ngọn lửa đã được dập tắt, một đoàn cán bộ và công an võ trang lại vào mở khóa, ngay lán của chúng tôi. Thoáng nhìn tôi thấy cả Tôn, Tằng, cán bộ toán tôi và trực trại, tên Hường đứng trước cửa cầm tờ giấy dõng dạc:
– Anh ĐCB nghe đây: Anh giấu than trong cầu bào, than đã ngún lửa, cháy cầu bào. Lệnh của ban giám thị, ĐCB bị kỷ luật một tuần, hạ mức ăn 13 kg.
Không ngờ nguyên nhân vụ cháy lại là do chính tôi, chỉ vì kỳ này tâm hồn “bay lên cây” cả rồi. Tôi đã cập rập, vội vàng, lú lẫn giấu than như mọi khi trong cầu bào, nhưng hôm nay đã không coi kỹ, than hãy còn tí lửa, ngún dần đến 10 giờ thì cháy lên.
Tôi ôm chăn chiếu vào nhà kỷ luật, trong đó đã có 2 – 3 cậu hình sự cũng đang bị cùm. Loại cùm suốt, giống như ở trại giam Hà Tĩnh tôi đã bị cùm. Cùm loại này chỉ là hàng cháu, hàng chắt của cái cùm Hỏa Lò. Hạ mức ăn 13 kg, chứ dù 7.50 kg một tháng, đối với tôi cũng chẳng nhằm nhò gì lúc này. Cái quan trọng, cái làm tan nát lòng tôi bây giờ là, tình hình chiến sự ở miền Nam.
Tôi bị cùm chừng 5 ngày, một hôm một em tù hình sự cùng suốt cùm với tôi, đưa cho tôi một miếng giấy cuộn tròn nhỏ xíu:
– Chú ơi! Có một chú ở gian đầu nhà kỷ luật này, bảo cháu trao giấy này cho chú! Cháu nghe nói chú ấy là Nguyễn Hữu Luyện, Đại Úy Biệt Kích trong Nam ra Bắc hoạt động. Chú ấy hiện giờ mức ăn kỷ luật, nhưng không bị cùm.
Trong bóng điện mờ mờ, tôi mở miếng giấy ra; chữ viết bằng bút chì nguyên văn: Chào anh Bình! Anh hãy yên tâm! miền Nam của chúng ta sẽ không sao cả! Ít ngày tới anh sẽ biết!
Tôi đọc miếng giấy ân tình, đăm chiêu một lúc! Trước hết tôi xúc động, cảm ơn anh Luyện, tôi chưa hề biết gì về anh, thế mà anh đã gửi lá thư động viên cho tôi. Bình thường như mọi khi, trường hợp này là tôi đôn đáo, xúc tiến để liên lạc với anh. Anh không tìm tôi, tôi cũng tìm đến anh. Nhưng bây giờ cơ thể tôi như con gà đang bị “dịch”, tinh thần của tôi thì đã bay lên cây mất rồi, nên tôi chả muốn gì hết! Tôi chả cần hỏi em hình sự bằng cách nào và đường dây nào, để mảnh giấy này đến tay tôi? Hẳn anh Luyện nghĩ anh là Đại úy, lại mới ra Bắc sau này, anh nắm vững được tình hình hơn, nên anh có trách nhiệm, làm yên lòng anh em đã từ lâu, không thể biết hiện tình.
Tôi hiểu thế, và lòng tôi vẫn xúc động biết ơn anh vì tình chiến hữu, cùng mầu cờ sắc áo, cùng không may đã rơi vào tay kẻ thù. Cũng mừng cho anh, một mình ở trong một gian nhỏ, không bị cùm xích, như một hình thức kiên giam. Anh đã viết thư an ủi, động viên tôi nhưng anh Luyện ơi! Tôi còn hiểu, không phải anh mà cả những vị lãnh đạo ở miền Nam cũng chưa nhìn từng điều kiện, hoàn cảnh của mỗi giai đoạn, cho nên còn mơ hồ là Mỹ, sẽ mang quân vào cứu.
Chúng ta gạt bỏ một điều khách quan: Với cái điều kiện cuộc chiến ở VN vừa qua, dù Mỹ có bom, nguyên tử, khinh khí cũng không bao giờ dám dùng. Nếu Mỹ khùng, Mỹ dốt, Mỹ kém mà dùng là Mỹ tự sát. Không những cả nhân dân thế giới ngăn chặn, mà chính ngay nhân Mỹ, trong chính quyền Mỹ sẽ sớm muộn giải quyết, kẻ nào quyết định dùng bom nguyên tử. Vậy chúng ta chỉ bàn về chiến tranh thông thường, với những vũ khí thông thường.
Nếu chịu khó suy sâu, nhìn kỹ tình hình miền Nam từ 1965 (Mỹ mang quân đầu tiên) cho đến 1971 -1972, trận Nam Lào, trận Khe Sanh v.v. . . Nói theo lối bình thường dân gian: Có “các vàng Mỹ cũng không dám” mang quân trở lại miền Nam nữa. Mỹ mà không dám thì không có một nước nào khác, một khối quân sự nào khác lại dám xông vào.
Xin hãy khách quan để xét vấn đề: ở đây chúng ta không nói hay chưa nói về chính trị, mà chỉ đơn thuần về quân sự. Xin hãy tìm đọc lại những báo chí, những bài nhận định, bình luận của những giai đoạn chiến tranh ở miền Nam. Ngay của phe ta (thế giới tự do) hay những nước trung lập, thành phần thứ 3 dân tộc chủ nghĩa phân tích, nhìn nhận.
Tổng quan:
– Phong cách chiến đấu.
– Phương tiện chiến đấu.
– Tinh thần chiến đấu.
– Phục vụ một người quân nhân.
– Nhu cầu của một quân nhân v.v. . .
Rất nhiều những nhà bình luận quân sự, những chiến lược, chiến thuật gia đều đánh giá chung để tương quan ngoài chiến trường.
Nếu bên CS là 1, thì Mỹ đồng minh phải 12.
Nghĩa là:
Nếu cộng sản có một khẩu súng, Mỹ và đồng minh phải có 12 khẩu.
Nếu CS có một xe tăng, Mỹ và đồng minh phải có 12 xe tăng.
Nếu CS có một viên đạn, Mỹ và đồng minh phải có 12 viên.
Kinh phí CS đài thọ cho một bộ đội, kinh phí Mỹ phải có 12 lần hơn v.v. . .
Tôi không rõ họ đánh giá có chính xác hay không? Họ nhìn tổng quan, mặt này bù mặt kia chăng? Chứ tôi cứ xét một quân nhân, về lương lậu đài thọ: Mỹ không phải 12 lần hơn mà mấy chục lần hơn phía CS.
Một tên Việt Cộng chiến đấu, có khi chỉ một cái quần đùi, một áo cánh nâu. Đâu họ cũng nằm được, chướng ngại hoàn cảnh nào cũng tích cực chiến đấu được, chui rúc chỗ nào cũng xong. Họ ăn uống thì nếu cần vài nắm gạo rang, với nước ao hay nước sông.
Ngược lại phía Mỹ, tôi nghe nói: Đi trận phải mang theo giấy toilet, đầy đủ tiện nghi cá nhân, thậm chí còn đem theo cả nước tắm nữa (sợ tắm nước Đông Á không hợp), nghĩa là quá kềnh càng. Một tiểu đoàn chiến đấu phải có 2 tiểu đoàn phục vụ. Thành ra vừa phí phạm vô ích, lại vừa hạn chế tính năng cơ động, của một người chiến binh.
Không chính xác nhưng cứ ang áng chiều hướng đó, ta suy ra Mỹ là siêu cường, chứ có là siêu siêu cường, cứ dần dần sẽ không thể chịu nổi, theo lũy tiến cuộc chiến này. Cho nên ông Nixon, ông Johnson hay bất cứ ông nào, Đảng Dân chủ hay Cộng Hoà thì rồi cũng phải tìm cách rút khỏi cuộc chiến hiện nay. Hơn nữa nước Mỹ còn hàng trăm thư lo cho mình, còn áp lực phản chiến của nhân dân Mỹ nữa. Cuộc chiến ở Đông Nam Á xa xôi, có phải là sống còn của Mỹ đâu? Vậy nếu chúng ta chửi là Mỹ đểu, Mỹ bỏ bạn chiến đấu Mỹ v.v… là trách oan.
Phải nói cuộc chiến ở Miền Nam là Mỹ không thể chịu nổi nữa, nên phải tìm cách rút chạy trong điều kiện đỡ mất mặt mà thôi.
Cái điều đáng nói và cần nói là: Tạo Hoá sinh ra con người, Ngài đã tạo ra cho mỗi người có 2 cái chân. Trừ trường hợp tật nguyền bẩm sinh hay không may trong quá trình sống. Mỗi một người phải có ý chí tự cường, tự túc, đứng thẳng bằng đôi chân của chính mình. Không dựa dẫm bất cứ cái gì, bất cứ ai, đương nhiêu không dựa được thì đổ. Một nước cũng thế! Chứ như tuyên bố của một vị tổng thống: “Viện trợ 700 triệu thì đánh theo 700, viện trợ 300 triệu thì đánh theo lối 300″. Nếu sự việc này có thật, nó nói lên nhiều vấn đề lắm!
Đúng bẩy ngày tôi được tha kỷ luật, lại trở về lán làm mộc. Tôi phải tiếp tục lao động hàng ngày, nên trừ lúc tôi còn trong kỷ luật ăn 9 kg, bây giờ tôi lại trở về mức ăn bình thường 15 kg. Những điều này làm sao tôi còn quan tâm đến. Hàng ngày những tin tức miền Nam đã làm lòng tôi thiu sượng, rữa ra rồi. Hôm nay đã 9/4 quân dân miền Nam thương yêu của tôi, đã rơi vào cái thế “cuốn chiếu”. Lúc này dù bất cứ ai, dù có tài thánh cũng không thể còn cứu giúp miền Nam, được nữa. Trừ trường hợp dùng bom nguyên tử, cái mà tôi đã gạt bỏ đi rồi.
Với sự xét luận của mình, tôi đã thấy trước, thấy đã từ gần 2 năm xưa. Thế mà sao lòng tôi vẫn rách nát, vặn vò nghe những sự việc diễn tiến từng ngày, ở miền Nam ruột thịt lúc này. Tôi nhìn những cây “bàng lăng” vô tri bên cạnh lán mộc, cành lá vẫn vung vẩy với gió. Nhìn cả mấy con chim câu đang đùa bỡn rúc mỏ vào nhau, trên nóc nhà trực trại, lòng tôi như muốn hỏi chúng:
“Chim ơi! Cây ơi! có hiểu lòng tôi đã ung thối thế nào không?”
Hôm nay đã 20/4 tôi chẳng còn muốn chạy sang bác Tiến, anh Bưởi và nhiều bạn tâm hồn khác, cả Lý Cà Sa, Lưu Nghĩa Lương v.v… để bàn luận tình hình nữa. Tôi chỉ muốn không biết gì nữa! Tôi cố không muốn rơi vào những chuyện bình thường của cuộc đời: Khi vui, khi thắng, khi thành công, thì tay bắt mặt mừng, liên hoan, chúc mừng v.v… Nhưng khi hư hỏng, thua lỗ, thất bại thì quay ra vặc nhau, hết đổ lỗi cho người này, lại người kia của bất cứ một đoàn thể, một công ty, hay một nước nào.
Có thể vì tôi kỳ này ít ăn, nên sức yếu hoặc ít ngủ hay bị cơn gió không lành. Chiều hôm qua tôi đang đứng nói chuyện với mấy chủng sinh: bỗng hoa mày chóng mặt rồi tôi không biết gì nữa. Khi tôi tỉnh dậy; các anh Nguyễn Thanh Đương, Nguyễn Quốc Anh và Phùng Văn Tại đang xoa dầu, nắn bóp tay chân của tôi. Các anh nói, tôi ngất xỉu té xuống sân trại, các anh đã kịp đưa vào trong buồng xoa dầu, cao. Dù thế nào tôi cũng xin cảm tạ Chúa cho tôi sống, cảm ơn các anh, bạn bè đã tương trợ, cưu mang.
Rồi cái ngày 30/4/1975 phải đến…. và đã đến. Cái ngày mà cả miền Bắc cũng như miền Nam, không ai là không biết đến. Trong chốn ngục tù tăm tối, cái ngày 30/4/1975 đến với tôi, như một mốc nghiệp của đời. Xoá đi hết những hy vọng, những mộng mơ, những viễn tưởng. Đồng thời những cùm kẹp khổ đau của tôi, những đói khát đọa đầy, cả tuổi xuân hoa mộng của tôi đều trở thành con số Zêrô to lớn.
Tôi nghĩ đến đoạn chì mật duy nhất, tôi còn cất giấu. Tôi cứ tưởng, cứ đinh ninh đã phòng hờ cả 2 hướng tốt và xấu. Tốt là nếu có điều kiện sẽ dùng nó, để hoạt động trở lại. Xấu là tôi quyết đem theo nó, về lòng đất với tôi. Ai ngờ đâu, lại có hướng thứ 3. Tôi đã moi đoạn chì mật trong riềm gấu, của chiếc áo soọc tù đã cũ rách, và tôi đã tự hủy nó. Bây giờ:
Với tôi… tất cả… đều vô nghĩa
Tất cả…. không ngoài nghĩa…khổ đau!
(Chế Lan Viên)
Nhưng sau cái ngày đen tối ấy đến, một đêm tôi chợt lóe lên một ý niệm: Sống, tôi cần phải sống, can đảm nhận lãnh cuộc sống này để…. sám hối…. Để chuộc cái lỗi lầm, tội lỗi với những thương đau, khốn cùng của đồng bào từ đây, và cho những ngày tới, mà chính tôi đã góp phần gây ra. Không làm tròn một trách nhiệm nhỏ, được đất nước trao cho.
Sau cái ngày 30-4-1975, cái ngày Dương Văn Minh đại diện quân nhân miền Nam, tuyên bố đầu hàng CS vô điều kiện. Dù tâm niệm là cần phải sống, nhưng con người tôi như không còn hồn, vẫn như một cái xác biết đi. Đã giữa tháng 5, đã có những chú ve sầu rả rích, nỉ non than vãn trong những cây rừng chung quanh trại. Tôi vẫn đội một chiếc mũ dạ rách vá 2 – 3 mầu, trùm đầu, trùm tai chẳng còn muốn nói chuyện với ai. Râu ria, tóc tai không cần cắt, không cần cạo, lang thang một mình, miệng luôn lẩm bẩm một câu duy nhất: Riêng tôi một mình… tâm tư sầu lắng đi trong… bùi ngùi…
Khoảng gần cuối tháng 5, họ chuyển tôi về toán làm gạch. Theo cái hiểu biết của mọi người tù, toán gạch là một toán làm nặng, bùn đất, nắng mưa; cho nên phải về toán gạch có nghĩa là bị phạt, bị trừng giới trong tù. Tôi được chuyển vào khu II ở nhà A. Cán bộ phụ trách toán gạch là trung sĩ Hoàn người lùn tịt nhưng thuộc loại hắc ám, ác ôn. Địa điểm làm việc của toán gạch thật xa trại đến hơn 2 cây số.
Làm gạch có nhiều khâu: Khâu lấy đất, nhào đất, khâu đóng khuôn, phơi gạch, khâu vận chuyển về lò nung v.v… Vì tôi là lính mới, chưa biết cách làm ở các khâu khác, nên họ phân công vào một nhóm hơn chục người vận chuyển, gạch thô về lò. Gạch thô là gạch chưa nung, còn ở sân phơi, mỗi một viên nặng gần 2 Kg.
Mỗi người quang gánh với 2 cái sọt, người gánh yếu nhất cũng phải mỗi bên sọt 5 viên, như vậy cũng 2 chục kg trên một đoạn đường gần 1000m. Người trung bình mỗi bên sọt 10 hay 15 viên gạch. Trong tổ, cá biệt có anh Thanh, do “tinh thần phấn đấu thi đua”, gánh mỗi bên 20 viên, như thế cũng gần một tạ rồi. Gánh gạch hay làm ở các khâu, có tổ trưởng ghi đếm từng ngày. Về toán gạch, tôi cũng có một chút vui vui. Một buổi tôi thoáng thấy bóng Nguyễn Chí Sơn, anh chàng đầu 1972 đã trốn tù ở trại trung ương số I Lào Cai, thế mà bây giờ 1975 lại thấy lao động ở khâu đóng gạch này.
Tôi nhớ Chí Sơn, tập kết ra bắc theo đảng VC. Năm 1964 Sơn đã thấy được bộ mặt thật của con Hồng Tuộc, nên đã vượt tuyến vào Nam (Thép Đen III). Ngay trong nhóm vận chuyển gạch này lại có cả Lưu Nghĩa Lương, chắc cũng bị đầy ra toán này. Lúc đầu về toán gạch tâm trạng “mũ ni che tai “để qua cầu, nên tôi gánh mỗi bên sọt 5 viên gạch. Được 2 – 3 ngày cái vai nó sưng, đau nhức lòng tôi càng bế tắc, bi đát.
Tôi đã hiểu và hiểu đến đáy, càng chán chường, sầu não càng chóng tàn lụi; nhưng lúc này tôi không còn quan tâm đến bất cứ thứ gì. Hôm sau tôi khai bệnh nghỉ, không đi làm. Chúng không cho nghỉ, chúng bắt trật tự, toán trưởng lôi kéo.
Thậm chí có ngày chúng được lệnh lôi tôi xềnh xệch, từ trong sân ra ngoài cổng trại, để theo toán. Ra ngoài hiện trường, tôi liều lĩnh muốn ra sao thì ra, mỗi bên sọt tôi để 1 viên gạch, rồi gánh theo nhóm. Tên Hoàn tức ứ ra mặt, đã mấy lần lão định đến đấm đá tôi, chắc y đã báo cáo về giám thị nhiều lần và chắc giám thị cũng xem hồ sơ của tôi. Tôi là dạng tích cực lao động, một con người năng động cải tạo tiến bộ, mà bây giờ lại như thế, chắc họ đã đoán ra ngày 30-4 miền Nam mất đi, phải có liên quan!
Một buổi nhóm gánh gạch chúng tôi sắp về tới lò nung, phải đi qua chiếc nhà con, của cán bộ toán. Xa xa ở một cái lều con, ngay cạnh đường, tôi thấy 5 – 6 cán bộ áo vàng, các anh em đã nhìn thấy đều lộ vẻ nghiêm trang lo lắng. Có cả thiếu tá Thích, giám thị trưởng của trại trung ương số 2, Phong Quang!
Tôi đoán, tên Thích này đã nghe báo cáo: Tên ĐCB gánh mỗi bên chỉ có một viên gạch; hôm nay lão thân chinh ra tận hiện trường xem thực hư? Phần tôi, nếu bây giờ quá sợ sệt, tôi xin anh em vài viên gạch bỏ thêm vào sọt, thì cảm thấy hèn quá! Dứt khoát, dù có bị bắn vẫn tiến bước! Khi nhóm đi qua 5, 6 tên cán bộ, chúng đều quay ra gườm gườm nhìn. Tên Thích đeo chiếc lon thiếu tá, hai tay chống cạnh sườn tiến ra chỗ tôi, anh em đều cúi đầu chào: Thưa ban!
Tôi không nhìn y, nhưng cũng làm theo! Mắt y quắc lên, trắng như mắt cá mè. Khi tôi đi ngang qua, y gọi giật lại:
– Anh Bình đứng lại!
Tôi gánh 2 viên gạch đứng im. Bước lại gần, y cầm hai viên gạch đưa sát mặt tôi, nói như quát:
– Anh vất mẹ cái quang gánh đi! Hãy cầm mỗi tay một viên này, mà đi!
Hai tay tôi đỡ hai viên gạch từ tay y, rồi lại cắm cúi đi theo tổ, trước hàng chục con mắt tưởng phụt lửa của lũ áo vàng và gần 2 chục con mắt lấm lét của anh em tù.
Vắng lặng, ngột ngạt căng thẳng, tôi biết tên Thích đã kìm chế mạnh lắm. Tôi đã chuẩn bị đón nhận, một trận cuồng phong của y. Khi tổ trở lại thì đám áo vàng đã đi đâu hết, chỉ còn một tên vũ trang đeo súng, đứng lơ ngơ bên ngoài văn phòng, của tên cán bộ toán. Tôi tự hiểu, chiều nay và những ngày tới tôi sẽ gánh những hậu quả của việc làm này.
Trong một nhà tù kín mít hàng ngàn tù nhân, trưa và chiều hôm ấy, cái chuyện ĐCB gánh mỗi bên quang một viên gạch, làm đầu câu chuyện, để nhiều anh em bàn tán kháo nhau. Ngày hôm sau, chiều tan tầm, đoàn tù của toán gạch lếch thếch uể oải, trên đường về trại như mọi ngày. Khi toán đến một khúc quành, đột nhiên có 3 tiếng súng phiá hàng đầu. Hai tên công an vũ trang cầm ngang, 2 khẩu CKC và tên cán bộ Hoàn nhớn nhác, hùng hục quát tháo ầm ĩ:
– Cả toán tập trung lại, anh Dậu điểm con số toán!
Chúng tôi phải xếp hàng đôi, vón lại cho anh Dậu điểm người, và đã biết là Nguyễn Chí Sơn. Chí Sơn đã làm cho tên vũ trang đi cạnh mất cảnh giác, trong một khúc quẹo, anh đã lỉnh nhanh vào một vạt rừng giang.
Tôi nhìn vào cánh rừng trong chiều muộn, khoảng 3 chục mét cách đường đi. Một vài đống giang chặt từ tuần trước, còn xếp đấy. Khi đã biết rõ là Nguyễn Chí Sơn, mấy tên vũ trang và tên Hoàn, bắt toán nghiêm chỉnh xếp hàng đôi, tiếp tục đi về trại.
Những lần khác tôi không biết, cụ thể tại trại Trung Ương số 1, Sơn đã trốn ở thùng phân nhà cầu, hơn bốn năm trước. Anh chàng Nguyễn Chí Sơn này cũng như Lê Sơn ở phân trại E, đều là người của họ, đã có nhiều công lao trước đây với chúng. Vì thế chúng đã không hành hạ tới chết, chứ loại chúng tôi, mà chúng bắt được, thì khó mà tồn tại.
Tôi đang miên man về hai anh chàng Sơn, tiếng chó cắn ở một khúc khuất vắng, văng vẳng đến. Sáu, bẩy tên công an vũ trang với ba con chó to, cao, lo le ba cái lưỡi đỏ lòm, rầm rập chạy ngược từ phiá trại ra. Gặp đoàn tù đang líu ríu về trại, chúng hội ý với mấy tên cán bộ của toán, rồi dắt chó chạy xô toả vào rừng giang. Nhìn cảnh bố ráp săn đuổi của lũ áo vàng, tôi rất lo lắng cho Sơn.
Tôi biết Sơn đã từng là đặc công khu Ba Lòng, vừa lanh lẹ vừa tinh khôn, nhưng vẫn phải cần những may mắn, của đời hỗ trợ. Cả trại chiều hôm ấy đều được lệnh ăn cơm sớm, vào buồng điểm số ngay.
Trăn trở tâm tư khắc khoải, trong lo âu lẫn chán chường cả ngày, nên tôi nằm xuống là đi ngay vào một giấc mịt mùng vô thức. Tiếng ồn ào ở trong buồng, rồi tiếng giật giọng của ai: “Chí Sơn”! Tôi bò nhổm dậy. Qua lỗ vách nứa đan, bẩy, tám tên áo vàng, quần ống cao, ống thấp. Một tên cầm một sợi thừng, đang kéo Chí Sơn bị trói giặt cánh khỉ, đi ở giữa. Hơi ngạc nhiên, ở phân trại E hoặc phân trại A trại tù Trung Ương số 1, đã mấy lần tôi nhìn thấy cảnh lũ áo vàng bắt được tù trốn, thường nằm trên mấy đòn cây rừng mang về.
Bởi khi bắt được tù trốn, chúng thường phì nỗi bực tức căm giận, vì mệt nhọc lùng xục tìm tòi, qua những cẳng chân, nắm tay hay những chiếc gậy vào người tên tù, thì còn làm sao mà đi được. Nhưng Chí Sơn chỉ bị trói dong về trại, chắc rằng chúng đã được lệnh nghiêm ngặt không được đánh, vì Sơn chỉ là đối tượng, mâu thuẫn nội bộ?
Ở trong trại, những ngày cuối tuần hay những giờ không đi lao động, anh Bưởi và Lương thấy tôi buồn ít nói, nên hay rủ tôi tới thăm uống trà, với anh này anh kia như: Kiều Duy Vĩnh (nghe nói là một đại úy thời Liên Hiệp Pháp) hay anh Nguyễn Chí Thiện, hoặc anh Phùng Cung v.v… (những thi nhân phản kháng trong nhân văn giai phẩm). Tôi đều từ chối, tránh xa những chỗ đông người. Tuy ra vào khu có nhìn thấy nhau, nhưng chưa hề tâm sự với ai, vì giai đoạn này tôi có còn hồn đâu!
Trưa hay chiều, tôi hay lang thang một mình ra phía sau lán, ngồi vắng lặng đăm chiêu, cho hồn lửng lơ hay đi chơi đây đó! Một buổi trưa mắt tôi lững lờ, lần theo một bóng người với chiếc cần câu, phải nói là một chiếc que nứa dài hơn 1m. Bóng đó cứ loay hoay, thả câu trong một cái ao con. Phải nói là cái rãnh con, đầy bèo tấm, nước đen ngòm. Tôi đoán chiếc ao con này, (bên trong hàng rào trại) khi làm trại người ta đào lấy đất đắp, mấy cái nền của lán trại. Do năm tháng, và mưa nắng thành một rãnh nước tù, như những người tù trong trại.
Thỉnh thoảng tôi cũng thấy có tiếng động trong đám bèo tấm. Chắc chỉ là mấy con ngóe, con ễnh ương chứ không phải là cá. Cá ở đâu vào đây? Và nếu có do trời mưa, thì lấy cái gì để mà ăn, nước lại đen thẫm như vậy!
Bỗng bóng người đó giật mạnh chiếc que nứa! Rõ ràng một chú cá trê đen thẫm, như mun tung lên cao, ngọ ngoạy mấy cái rồi lại rơi tõm, xuống chiếc rãnh màu đen mất tiêu. Tôi chạy bổ đến, ra là anh Bùi Tâm Đồng, anh đang ngẩn ngơ nhìn xuống chiếc ao đen, tay mân mê chiếc lưỡi câu. Tôi háo hức vồn vã:
– Tiếc quá! Tôi cũng tiếc cho anh!
Anh xòe tay rồi đưa cho tôi một chiếc xương hàm trên, của con cá còn dính ở lưỡi câu:
– Đây anh xem, nó đã bị xứt hàm rồi, chắc chả bao giờ còn dám cắn câu nữa.
Rồi anh nói thêm như giãi bầy:
– Tôi đã rình và chuẩn bị hơn 2 tháng nay, qua hiện tượng động tĩnh sau những trận mưa, tôi xác định chiếc rãnh này có một con cá, mà tôi còn đoán được là cá trê nữa! Tôi phải tìm thép, chặt ngạnh uốn thành một lưỡi câu, rồi tôi phải hy sinh một miếng tóp mỡ, mẹ tôi hồi tết mò mẫm lên tận đây tiếp tế. Cũng hàng tuần lễ nay, hôm nay nó mới cắn, thì chỉ được mỗi cái hàm trên của nó.
Để cho câu chuyện tôi và anh gần gũi nhau hơn, và cũng để khích lệ, tôi động viên:
– Yên chí anh Đồng ơi! Nó vẫn là một sinh vật, đói phải ăn, hãy kiên trì!
Và rồi mãi hơn một tháng sau, một trận mưa đêm thứ Bẩy, ngày Chủ nhật tôi và anh Đồng đã lại câu được chú cá trê ngày ấy. Hàm trên của chú cá đã thành sẹo, trông chú giẫy như một người bị tật méo mồm. Nhìn con cá trê gầy nhẳng, tuy không to nhưng tôi chắc nó đã già lắm rồi!
Không phải nó không biết, nó không rút kinh nghiệm, có khi nó đã tự thề hứa là không còn bao giờ cắn những cái loại vớ vẩn ấy nữa! Đã làm mình mất cả xương hàm trên, lại còn bay lên trời như pháo thăng thiên nữa. Thà đi kiếm chác con sâu, con bọ ở mé bờ, cùng lắm thì mấy cánh bèo mà sống. Nhưng….. Như tôi đã nói chữ “nhưng” ở đời, con cá cũng không thoát khỏi chữ “nhưng”. Đói quá! Chẳng có con sâu, con bọ nào cả, suốt ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác chẳng có một cái gì, ngoài những cánh bèo. Thôi thì, nếu có phải “đớp” vào là sẽ chết, thì cũng xin một lần, vì thế cậu cá trê ngày ấy lại sơi nữa. Và bây giờ chúng tôi: Anh Đồng và tôi, chạy chọt ngoại giao được tí muối với một cái lon Guigoz. Chiều nay sẽ có một bữa tơi bời hoa lá cành, với chú cá trê này.
Chúng tôi xốn xang tất bật chuẩn bị nhiều mặt; lửa đóm canh gác, bí mật chỉ có 2 người thôi. Khi cắt đôi con cá, thấy ruột nó ngắn một tị chừng 2 phân toàn đất thôi. Lá gan và tim của nó cũng tí tẹo, khác hẳn với một con cá to bằng thế, mà ở điều kiện bên ngoài. Chưa nói, khi mỗi người có một phần, bắt đầu thưởng thức thì ôi thôi! Thịt của nó như mùi con bọ xít của cây bí ngô, bí đao, nó vừa khăn khẳn lại vừa nồng nồng. Tuy thế chúng tôi cũng vui vẻ và nhăn mặt, trợn mắt chén hết!
Ngày 19/2/76, buổi sáng, tôi đang ngồi trong hàng chờ toán xuất trại như mọi khi, tên Hường trực trại đọc tên tôi ở lại, chuẩn bị công tư trang, chuyển trại.
Đã từ lâu tôi xác định, mình bây giờ như một món đồ vật, vậy tùy chúng muốn đưa đi đâu thì đi, muốn để ở đâu thì để. Không đâu xa, chúng chuyển tôi ra phân trại A.
Đây là trại chính của trại Phong Quang, trung ương số Hai Yên Bái có tên tổng giám thị là thiếu tá Nguyễn Trọng Thích trực tiếp phụ trách. Chung quanh trại có tường xây như bên trại chính phố Lu, Lào Cai. Bên trong có 7 – 8 ngôi lán tù cũng bằng tre, nứa, gỗ như trong phân trại B, tôi vừa chuyển đi.
Chiều nay tôi đang lửng lơ, khệnh khạng (buồn chán không muốn làm gì cả) lắp ghép một cánh cửa chớp trên lán mộc, thì có tiếng ồn ào ở phía dưới chân đồi, nơi có toán 4, đa số là tu sĩ chủng sinh, trong đó có bác Túy, một ông Chánh Trương thường ngồi một mình đọc kinh, lần hạt, mà buổi đầu tôi đến trại đã thấy. Toán đang đào một chiếc ao ngay phía trái của trại, hàng tháng nay rồi, toán này bị hành, làm bùn đất.
Tuy đã giáp Tết nhưng trời vẫn còn lạnh buốt, với những cơn gió mùa Đông Bắc, về muộn. Từ chỗ lán mộc của toán tôi, trên một cái đồi con gần khu ban giám thị, nhìn xuống chỗ đào ao xa, khoảng 6, 7 chục mét. Từ dưới ao chuyển đất lên bờ, tù đứng thành mấy dây, để chuyền đất.
Qua dáng dấp, rõ ràng bác Túy, có thể vì tuổi già, hơn nữa bác đã ốm bịnh mấy ngày ăn cháo, nên không chuyển kịp đất. Tên Tằng (toét) từ cổng trại đi ra, đứng nhìn một lúc, rồi tay y khua khoắng chỉ trỏ gì đó, tôi không nghe rõ; đột nhiên tôi thấy tên Tằng đạp cho bác Tuý một cái, bác ngã sóng soài ra. Mấy anh chủng sinh chạy lại đỡ bác dậy, nhưng tên Tằng không cho một ai đỡ bác; y bắt bác đứng vào đường dây. Tên cán bộ toán, tên công an võ trang đứng gần đấy cũng không có thái độ gì. Bác Túy lặc lè, xớ rớ vừa đứng dậy được; tên Tằng xông đến đạp một cái nữa. Bác lộn từ ở trên bờ cao, lao xuống chỗ đất bùn, đầu cắm ngập xuống bùn. Chân tay bác giẫy chới với ở trên không, mấy người chạy xô xuống định kéo bác lên, nhưng tên Tằng quát to:
– Cấm không anh nào được mó vào người anh ta!
Chúng tôi ở lán đứng nhìn, cùng kêu giổ lên! May quá, đúng khi ấy Tôn đại úy (người miền Nam tập kết chừng hơn 50 tuổi) giám thị phân trại B, từ trên khu giám thị đi ngang thấy thế, ông ta quát:
-Ai kéo anh ta lên, không thì chết!
Tên Tằng chạy lại kéo tay tên đại úy Tôn (nói gì nhỏ, xa nghe không rõ), rồi một tay y chỉ về phía cổng trại. Giữa lúc ấy tên Hòa, cán bộ toán mộc ra đuổi chúng tôi về chỗ làm.
Tan tầm, toán mộc của tôi về ngang cổng trại. Bác Túy đang bị treo ngoài hè nhà trực trại, như cái trống. Đầu và chân bác thõng xuống, không động đậy, hai tay bác bị bẻ giặt phía sau lưng, treo lên mái. Những toán đi lao động về ngang đều nhìn thấy, tù nhân chỉ lấm lét, nhìn nhau! Người tôi như đờ đẫn, tôi ghé vào tai Phùng Văn Tại:
– Nó sẽ hành bác Túy, chết mất!
Mãi hơn 7 giờ, cơm nước đã xong, tên Hường trực trại vào gọi toán trưởng của toán 4 (đào ao) ra nhà trực. Hai mươi phút sau, Bằng trật tự và toán trưởng 4, khênh bác Túy về chỗ của bác. Một số các anh chủng sinh và quen biết, xúm lại lau bớt bùn đất, đắp chăn bỏ mùng cho bác. Bác không nói năng gì được nữa. Dưới ánh đèn không đủ sáng, tôi thấy tay và mặt bác sưng tấy lên nhiều chỗ. Vài người có một số thuốc riêng, cố cho bác uống. Nghe mấy anh lau rửa cho bác nói, ngực bác tím bầm sưng to ở phía trên mỏ ác. Tôi cũng được anh em toán thuật lại: Ông Tôn giám thị ở chỗ đào đất, bảo mấy người kéo bác Túy lên, nhưng tên Tằng toét đã hẩy tay ông Tôn và nói nhỏ:
– Ông hãy về làm việc của ông đi! Để tôi giải quyết!
Tên Tằng toét, có người nói y chỉ có cái lon thượng sĩ thôi, thấy lạ, tôi mò mẫm tìm hiểu. Chính anh Bằng trật tự đã cho tôi biết: Tằng chỉ là thượng sĩ, cán bộ giáo dục nhưng y là bí thư đảng ủy. Ông Thích, thiếu tá Giám thị trưởng của trại Phong Quang này, mà vẫn còn phải nể. Nhiều sự việc, tai nghe, mắt thấy để sự hiểu biết của tôi, được nới rộng.
Tôi cũng lấy làm lạ, không hiểu vì sao tên Tằng lại hành động dã man, với bác Túy như thế? Nghe dư luận, hơn một tháng trước, khi bác Túy (Lâm Đình Túy), từ trại Vĩnh Quang chuyển đến, cùng hơn một chục người tù khác. Trong lúc khám tư trang ở cuối hội trường, chăn màn quần áo của bác Túy còn để đấy, nhưng không thấy bác đâu. Chính tên Tằng, vào hội trường thấy bác Túy đang ngồi khoanh chân một mình dưới đất trong một góc, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Y quát và kéo bác ra sân.
Đột nhiên bác Túy tát cho tên Tằng một cái. Vì bất ngờ, tên Tằng bị một cái tát như trời giáng. Mọi người tù có mặt đều choáng hồn, xanh mắt, một việc chưa thấy ở nhà tù Việt Cộng. Tên Tằng hùng hục đấm đá, rồi sai trói bác Tuý treo ngay ngoài nhà trực trại.
Sáng mồng một Tết, tôi dậy sớm ngồi trong mùng, đầu óc mông lung, rồi rũ rượi. Chợt một ý thơ xưa (tiền chiến) chẳng nhớ rõ của ai, tôi xin phép cứ đổi đại, để phù hợp với lòng tôi lúc này, miệng lẩm nhẩm cóc rỉ:
Xuân đã sang rồi… ai có hay?
Tình xuân chan chứa… ý xuân đầy.
Trại giam buồn lắm… xuân không đến.
Chỉ đứng bên ngoài… ngắm vào đây.
Xuân về mà lòng buồn rười rượi; bao nhiêu điều ngược, xuôi trong đầu. Tôi có ý định bàn với anh Bưởi và Lương, khi Tết xong, cứ lên cán bộ hỏi đại: “Bây giờ đã có hiệp nghị Paris thì giải quyết chúng tôi thế nào?” Xem họ trả lời sao? Bật dậy, gấp chăn màn, rửa mặt rồi lỉnh sang anh Bưởi và Lương.
Đầu tôi chợt lóe một tia sáng! 4 anh chàng: Tiệp, Đằng, Vinh và Thuần có liên hệ, đến trại tù quân đội; vậy thì biết đâu! Họ sẽ được về? Tôi phải thăm… hỏi!
Làm sao tôi quên một sự việc: khoảng 10 giờ tên Tằng vào trại, hôm nay y gọi trật tự hô hào các buồng ra sân trại chơi vui ngày Xuân (có thể y cũng vui vì Đảng của y đã ký được hiệp nghị Paris có lợi). Y cố khích lệ, đem vào một quả volley, bảo anh em chăng lưới. Rồi sai Bằng lấy một sợi dây thừng to, giở trò thi các toán kéo co.
Có thể tâm trạng của đa số tù nhân, ngày Xuân dân tộc mà! Ủ rũ trong buồng thì buồn quá! Gia đình, cuộc đời, đất nước, trăm thứ nó xé óc mình ra. Thì cứ vui đại cho quên đời v.v… Cho nên anh em cũng ra đông, hò reo, chạy nhảy, chuyện trò. Tôi nhớ nhất về cái vụ kéo co: 17, 18 toán toàn trại, thi kéo co với nhau. Cho tới chiều, toán thợ xẻ là vô địch.
Toán này có mấy cái ưu thế: kéo xẻ, việc nặng thường ăn mức 18 kg gạo, hai cánh tay chỉ có cò cưa suốt ngày. Tên Tằng cũng tỏ vẻ bực bội với toán xẻ. Y nghĩ thế nào không biết, y lấy chùm chìa khóa trong túi, lạch cạch mở cổng khu kiên giam hình sự: toàn những tay đầu gấu anh chị, võ biền. Đội xẻ kéo co có 16 người, y vào khu kiên giam hơn nửa giờ. Chả biết y kích bác ra sao ở trong đó, y chọn được 16 anh trẻ, ngổ ngáo, tay chân xâm vẽ rồng, phượng, trông gớm ghiếc.
Y dẫn 16 cậu ra sân; tinh thần thể thao của trại càng được khích lệ. Mấy chỗ bóng chuyền cũng dẹp, để tụ tập vây quanh đám kéo co. Phần thưởng là 3 cái bánh chưng; với những tiếng hò reo cổ vũ cho mỗi bên, cũng làm cho lòng ai, vài giờ quên đi… Cái sầu vạn cổ, chất trong hồn chiều nay… Chất trong hồn… chiều nay. Nhớ nhà châm điếu thuốc… Khói vàng bay lên mây… (Hồ Dzếnh).
Điều này cho tôi hiểu: Cái hệ thống uy lực của đảng CS! Thông thường, khu kiên giam chỉ có lệnh trực tiếp của Ban giám thị trại, mới được mở cửa, thế mà tên Tằng, đã chả coi BGT ra cái gì, do một cái hứng cá nhân! Một ông đại úy giám thị một trại, mà một tên thượng sĩ coi như cái móng tay, chỉ vì đảng.
Cuối cùng chức vô địch trại, không một toán nào lấy khỏi tay toán cò cưa. Anh chị võ biền, ngổ ngáo mà đói meo thì cũng đành nhìn mấy anh già toán xẻ, mà lồi mắt ra. Tên Tằng cũng ứ ruột, máy tốt mà không có xăng thì cũng chào thua!
Như đã hẹn hôm mồng một Tết với Đằng, Tiệp, Vinh và Thuần, chiều nay tôi ghé sang nhà A khu II. Ngày Xuân còn rơi rớt, cũng có ca trà với mấy chiếc ly nứa con con, anh em hàn huyên cho niềm Xuân trong tù bớt phần nào da diết. Hỏi thêm một vài chi tiết liên quan, tôi gợi ý; nhìn các cậu, mắt ai cũng sáng dần ra. Anh Thuần tương đối lớn tuổi, khoảng 44, 45, tỏ ra chững chạc, điềm đạm. Nhưng, hầu như anh chỉ thể hiện, tình thương nỗi nhớ, vợ con là chính. Sau buổi nói chuyện, cả 4 người đều dạt dào hy vọng. Phần tôi, với những điều tôi hỏi các anh từng chi tiết sự việc, tôi cũng tin tưởng rất nhiều là 4 người sẽ về miền Nam.
Dù tôi hiểu họ cũng có nhiều tính toán trong lòng, tôi vẫn nói đại ý: Dù sắp tới suy nghĩ một chuyện gì thì cũng nên phòng hờ cả 2 trường hợp: tốt và xấu! Xấu là không được vể thì sẽ tính sao? Còn nếu tốt là được về thì sẽ làm gì? Làm gì cũng phải phòng hờ 2, 3 hướng! Bây giờ trước mắt, trong vòng một tháng kể từ hôm nay, chúng ta đều nghe ngóng, từng hiện tượng xem động tĩnh ra sao. Tùy theo tình thế diễn tiến thế nào, bấy giờ bàn tính thảo luận mới thích ứng.
Riêng Tiệp, tôi hẹn một ngày sang tôi, anh em mình sẽ nói tiếp, hiểu ý tôi nên Tiệp nhẹ gật đầu mà mấy anh em kia không để ý thấy. Vả lại tôi và Tiệp cũng thường xuyên gặp nhau từ trước, không như ba người kia. Khoảng 10 giờ tôi đang lơ mơ đi vào giấc ngủ, bỗng nghe tiếng sang sảng, giọng Nghệ An rủng rẻng, xoáy vào đêm rừng, rõ như hát:
– Nói dối trở thành công khai, hợp pháp! Thầy nói thầy thương yêu trò lắm! Trò nói trò kính yêu thầy lắm! Cả thầy lẫn trò đều hiểu là nói dối, nhưng cả hai bên đều chấp nhận và nó trở thành hợp pháp, công khai!” Rồi có tiếng cười ròn sằng sặc…..như nắc nẻ.
Thấy anh Trần Thế Khải dậy đi đái qua, ngồi trong màn tôi hỏi với ra:
– Sao lạ vậy! Ở đâu, ai mà dám nói thế?
Anh Khải ngập ngừng đứng lại, thì anh Khẩn toán trưởng cũng nằm trong màn nói vọng ra:
– Cái anh chàng Bổn đó mà! Ở ngay đầu lán A khu 1, nghe đâu anh ta bị bắt từ giữa 1954, đêm tối thỉnh thoảng anh ta cứ hay lảm nhảm như vậy!
Nhẩm tính, anh này đã tù 18 – 19 năm rồi còn gì! Chẳng hiểu anh ta tội tình gì? Gợi trí tò mò, định tâm sẽ tìm hiểu nếu có dịp, trong những ngày tới.
Ngay phía sau lán mộc của tôi, chỗ vẫn thường đi tiểu tiện; cạnh đó có một cây trò cụt. Cứ mỗi lần đứng tồ, mắt tôi lơ đãng nhìn cây trò cụt; không hiểu vì sao nó cụt lưng chừng, từ gốc tới chỗ cụt, chỉ chừng 1m50. Sau nhiều những trận mưa rừng rả rích, mãi trong một góc khuất, sáng nay nó nảy ra 3 – 4 cái nấm trắng hồng ngồn ngộn, non hơ hớ. Đúng là nấm mèo, loại nấm ở trại I tôi đã ăn nhiều năm, nhiều lần. Của núi rừng tặng thưởng, mình phải biết nhận chứ!
Nghĩ như thế, tôi cố tìm cách lại ra “tồ” lần nữa. Mắt trước, mắt sau tôi hái hết, giấu trong miếng giẻ, đem vội vào cầu bào cất kỹ. Như “buồn ngủ gặp chiếu manh”, cả một buổi làm, thỉnh thoảng như tôi muốn cười với gió núi, cây rừng; hứa hẹn sẽ có một bữa ngất ngây tuyệt cú mèo. Tôi nghĩ đến chiếc ca tráng men đã cũ mèm, vẫn đun pha trà 6, 7 nước, đến khi trà đã nhừ nát mới thôi! Nồi đấy, và đống lửa kia, ôi sao cuộc đời hậu hĩnh!
Gần tới giờ chiều thì chiếc ca nấm nóng hổi, đã sôi nhiều lần. Tôi đã lau chùi sạch sẽ, thương mến, nâng niu như một cô nàng, ngọc ngà mỹ miều, đang nằm khuất trong góc cầu bào rồi. Dù mùi thơm của nàng xì ra đã ngứa cả mũi, nhưng tôi cương quyết không nếm, hay ăn thử. Chế ngự sự ham muốn của lòng mình, để mang về trại (tin tưởng anh Bằng và khả năng ứng xử của mình). Chờ khi nào điểm xong, bỏ mùng, bấy giờ ta mới mở nàng ra mà thưởng thức. Chỉ mới suy nghĩ thế mà cái tay bào thẳm thấy khỏe hẳn lên, đẩy xoèn xoẹt phoi bào chạy ra văng tứ tung, như pháo bông ăn mừng đêm dạ hội.
Tối đến cơm nước cũng như mọi khi, đã vào nằm yên một chỗ trong dạ dầy. Tất cả đều diễn tiến, như đã dự trù. Bỏ mùng sớm, từ nãy tôi vẫn ủ kỹ nàng trong người, bây giờ tôi mới êm ái lôi tuột nàng ra chiếu. Sờ vào nắp ca vẫn còn âm ấm tay, chẳng cần ly bát, thìa đũa làm quái gì, có phải mỡ, mắm đâu? Mắt liếc nhìn bóng người qua lại lờ mờ phía ngoài mùng, tay tôi khe khẽ thò vào, lại thấy hơi nhơn nhớt. Nhón lẹ một miếng, tôi ngửa hẳn mặt lên, há hốc miệng ra từ từ sẽ đưa miếng nấm vào………… Nhưng mà ngọt quá, thơm quá! Ôi! Nấm mèo Yên Bái sao mà thơm ngon thế, hỡi núi rừng! Tôi ngấu nghiến nhai, rồi cầm cả ca uống ừng ực.
Chỉ một phút đã sạch trơn, sạch khô không còn một tí nước. Mặc cuộc đời, mặc thiên hạ tôi nằm đổ vật ra, để thưởng thức cái của hiếm, của núi đồi sơn cước; để cho con tì, con vị nó nhẩy nhót tự do, như chưa bao giờ nó hiểu thế nào là tự do. Nằm tơ mơ lòng vần thầm nhủ: Xin cảm tạ rừng thiêng Yên Bái đã ban đặc ân cho tôi!
Nhưng cũng đất trời hỡi, tự nhiên nhà cửa, đất trời quay như chong chóng, người tôi cứ giật lên từng cơn, cả tay chân cũng giật. Tôi chỉ kịp nhấc được cái mùng rồi tôi nôn thốc, nôn tháo xuống đất. Tôi chả còn biết ngượng ngùng, hay xin lỗi ai. Dưới đất chỉ có một đống lá rau cải bắp già và nước đen đen, vàng vàng. Từng sợi nhớt kéo dài từ đống nôn, nối dài tới miệng tôi, tôi không còn biết ngượng nữa, và tôi cũng không biết gì nữa.
Mãi khi tôi lơ mơ nhìn thấy ánh nắng, và bóng anh y tá đẩy cửa bước vào. Anh y tá này tên là Kiệt người miền Nam, anh nói nhưng mặt lại lạnh lùng:
– Đù mẹ, tôi tưởng đêm hôm qua anh chết rồi chứ!
Quá nhiều nỗi niềm trong lòng, nên tôi im luôn, chả nói năng gì! Tôi muốn hỏi anh vì sao tôi lại ở đây, mà bây giờ tôi đã biết đấy là buồng y tế, ở mãi gần nhà kỷ luật. Thấy thái độ của anh ta như vậy, tôi đành nuốt mọi thắc mắc vào trong lòng. Anh ta cũng đóng, rồi khóa cửa đi luôn. Mãi hơn 1 giờ sau, Y trở lại với tên Hường trực trại, bảo tôi hãy đi về lán. Do lòng không vui nên tôi cố gắng kéo người ngồi dậy, để chân xuống đất tìm dép nhưng chợt hiểu, nên tôi gắng đứng dậy, tập tễnh chân không đi về lán. Phải đến hơn 100m, lưng chừng có anh Bằng trật tự ghé đến, dắt tay tôi.
Về đến lán chưa nằm ấm chỗ, khoảng hơn 10 phút thì ông Tôn giám thị, đi theo có tên trực trại Hường bước vào lán. Nghĩ đến tấm lòng của ông Tôn hôm sự việc bác Túy, tôi cố bò dậy thể hiện một thái độ nhỏ với người có lòng. Yên lặng 5-10 giây, y liếc khắp lán một lượt quay lại, vẻ trang trọng:
– Anh phải thành khẩn biết ơn Đảng và nhà nước, đã cứu sống anh đêm qua!
Tôi tỏ ra thành khẩn, nói trong niềm xúc động:
– Tôi xin cảm tạ Đảng và nhà nước đã đặc ân cho tôi!
Trong lòng tôi lại nghĩ thầm: “Như tôi đã thành khẩn cám ơn rừng thiêng Yên Bái, đã ban đặc ân cho tôi.” Trước khi ra, y còn nói:
– Anh hãy nằm xuống đi, phải nhớ chú ý, cẩn thận ăn uống sau này!
Như tôi đã có chủ trương từ trước, sẽ lên hỏi thẳng cán bộ, Hiệp định Paris đối với chúng tôi thì sẽ như thế nào? Tôi cũng có nhiều lần bàn với anh Bưởi và Lương rồi; nhưng cứ lần lữa, rụt rè ngày này qua ngày khác. Bây giờ đã giữa tháng 3, từ ngày ký hiệp nghị Paris đã một tháng rưỡi rồi, mà không ai nói gì đến chúng tôi cả.
Trong dạ chúng tôi đều đinh ninh, những anh em Biệt Kích ở trại trung ương số 1, đã được về miền Nam rồi. Không do dự ngần ngại nữa, một buổi sáng tôi thấy ông Tằng (tôi đã biết là bí thư Đảng, ông Tôn Đại Úy giám thị không quan trọng). Tôi xông thẳng vào cửa chính, hỏi ngay tên có quyền, tôi tiến lên tới chỗ ông Tằng. Y quay lại tôi, mặt hơi ngạc nhiên.
Ngay chiều hôm ấy, sau khi anh Khẩn toán trưởng đến cán bộ toán báo cáo công việc thường lệ. Anh quay xuống hàng toán đang ngồi, đến chỗ tôi:
– Anh Bình ở lại, gặp cán bộ!
Về lán, cũng hơi hồi hộp, nhưng lại nghĩ tới nguyên tắc: “Không liều không có cái gì cả!” Bây giờ hãy cứ xông đã!
Xuất trại xong chừng nửa giờ, anh trật tự Bằng vào buồng gọi tôi ra cổng trại. Tôi ra đến nơi, cán bộ trực trại Hường, đứng từ nhà trực trại, chừng 15-20 mét vẫy tay. Chắc có sự hợp ý trước, tên công an võ trang gác cổng chỉ nhìn tôi gật đầu. Tôi tưởng gặp trực trại Hường, nhưng khi tới nơi, y ra hiệu tay, tôi đến cửa một gian buồng, ngăn đôi với phòng trực trại. Bên trong, có tiếng nói lão Tằng:
– Cứ mở cửa vào!
Phòng rất đơn giản, chỉ có hai cái bàn to và nhỏ, tên Tằng cầm bút ngồi ở cái bàn to, trước mặt cũng có một ghế đẩu cho bị can ngồi, như phòng hỏi cung. Trong góc có chiếc bàn con và chiếc ghế, chắc cho tù ngồi viết báo cáo hay kiểm điểm. Mắt tên Tằng có cái lẹo, thành ra mắt lão nhìn như chỉ mở một nửa, hơi nhếch mép cười hỏi tôi:
– Anh muốn gặp tôi làm gì?
Trong túi tôi đã mang sẵn tờ báo ND có đăng bản Hiệp nghị Paris; nhưng tôi chưa lấy ra tôi hỏi thẳng:
– Thưa cán bộ, bây giờ có hiệp nghị Paris, nhà nước sẽ giải quyết tôi thế nào ạ?
Tên Tằng toét đứng xổ dậy, thái độ vẻ hùng hổ, mắt y càng nhắm lại. Y tiến đến chỗ cái bàn con trong góc, lật mấy tờ báo rồi lôi tờ ND, ném xuống bàn trước mặt tôi, giọng như riễu cợt:
– Đâu chỗ nào, nói trao trả các anh?
Mở tờ báo, liếc nhìn điều 8a, tôi chỉ vào giọng tin tưởng:
– Thưa ông đây ạ! Điều 8a đã nói rõ ràng: Trao trả lại người của 4 bên!
Mặt vênh lên, mắt y càng nhắm lại:
– Đọc kỹ lại đi! Anh là người Việt Nam hay là người nước ngoài?
Tôi hơi chột dạ, tuy vậy vẫn cúi xuống đọc: Nhân viên quân sự, dân sự nước ngoài bị bắt…. Tôi hơi đờ ra vài giây, vì bất chợt, nhưng tôi đã nói ngay:
– Thưa ông, theo công pháp quốc tế thì VNDCCH và VNCH là 2 chế độ chính trị khác nhau là 2 nước khác nhau!
Tôi mới nói tới đây y dõng dạc gạt ngay:
– Hội nghị Paris để giải quyết cho người nước ngoài, không phải giải quyết cho người VN. Thôi anh hãy về suy nghĩ cho nó kỹ! Anh không hiểu biết gì cả! Đừng có suy nghĩ viển vông!
Nói rồi, thái độ của y như muốn đuổi tôi về. Tôi không thể quên được một việc này. Khi tôi đã bước ra cửa, để về trại, y gọi giật lại rồi chỉ vào tờ báo:
– Có mục giải quyết cho người Việt Nam, đây này!
Tôi cắm cúi đọc điều 8c : Về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam, bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam, sẽ do hai bên miền Nam, giải quyết.
Không biết rằng các ông ký hiệp nghị kể cả Mỹ, có hiểu rằng làm sao tù, dám cãi lý tay đôi với cán bộ giam giữ?
Các ngài, các qúy vị có biết rằng với VC: Cũng cùng một sự việc! Qúy vị thảo luận, bàn cãi thêm bớt điều này, khoản kia, qúy vị nói chuyện với chúng ở đâu? Ở ngoại quốc, ở nước các qúy vị, ở VN hay ở trong tù, là hoàn toàn khác nhau. Tôi xin tường thuật lại một sự việc cụ thể, mà tôi là nhân chứng cho sáng tỏ: Vụ việc của anh Trần Thế Khải. Anh là một chủng sinh tu sĩ, bố là ông Trần Tứ Hải cùng ở Hà-Nội. Cả hai bố con đều bị bắt, từ đầu năm 1964. Khoảng năm 1974 – 1975, tôi gặp hai cha con đều tù ở phân trại B Phong Quang. Sau khi VC cướp được miền Nam, thì chúng thả ông Hải về cuối năm 1975, anh Khải thì vẫn còn ở tù.
Đầu năm 1976, anh gửi một lá thư lén lút (qua những người đi tiếp tế), về cho ông bố là Tứ Hải. Thư hợp pháp, là thư tù viết mỗi tháng một lần, gửi cho thân nhân. Với điều kiện, thư viết xong để vào bì thư, không được dán. Đưa cho cán bộ duyệt xét, rồi cán bộ gửi đi. Tù nhận thư gia đình, cán bộ cắt ra, duyệt xét. Lá thư chui, anh Khải đã nói ý với bố, hãy hỏi cho ra nhẽ. Hiến pháp của VC có ghi rõ ràng, quyền tự do tôn giáo. Muốn tu hay tôn thờ đạo nào, là quyền của mọi người; vậy tại sao, anh chỉ đi tu dòng thôi, anh đã tự hiến dâng mình cho Chúa, mà Đảng và nhà nước đã bắt giam giữ anh, hơn 10 năm rồi?
Không biết vì sao lá thư chui của anh Khải, bị ban giáo dục phát hiện. Trước 4, 5 toán trong toàn khu II, phân trại B. Ban giáo dục do Tằng Toét triệu tập, để tố anh Trần Thế Khải đã vi phạm nội quy, trầm trọng.
Trong buổi truy ép này, anh Khải phải đứng riêng một chỗ, cho mọi người “nhằm” để truy ép, phát biểu. Có thể kỳ này VC đã chiếm được miền Nam, những kìm kẹp, o ép trong xã hội đã có phần lới lỏng, (trước đây, nó cứ đưa đi cùm, chẳng cần sinh hoạt) anh Khải phát biểu, rất hùng hồn:
– Thưa cán bộ: Hiến pháp của nước nhà, Đảng và nhà nước đã công nhận, quyền tự do tín ngưỡng; vậy tôi đi tu thì có tội gì?
Lời phát biểu rất lạ ở trong tù tôi chưa được nghe, trong khu này có hơn 1 chục tu sĩ chủng sinh, đang ngồi như: anh Phạm Sĩ An, Nguyễn Thanh Đương, Phùng Văn Tại, Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Xuân An, Phạm Xuân Thi.v.v… Mặt ai cũng hồng lên như thêm khí thế mới! Tên Tằng Toét, dõng dạc, bước đến gần anh Khải, rồi quay lại anh em, y khoắng tay gằn giọng:
– Đúng! Đúng chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nguyên tắc sống, một triệu lần ưu việt hơn bất cứ một chế độ nào: mọi người không ai ăn bám ai!
Ngừng lại một tý, rồi y quay lại, cao giọng hỏi cả buồng:
– Các anh có đồng ý như vậy không?
Cả buồng ồn ào lên tiếng: “đồng ý ạ”
Y quay lại anh Khải, nhấn mạnh lần nữa:
-Anh có đồng ý cái nguyên tắc, đó không?
Anh Khải cũng dõng dạc trả lời:
– Tôi rất đồng ý!
Tên Tằng cười nửa miệng, y tiến sát anh Khải hơn, cầm cái ve áo của anh, y hằn học:
– Anh có làm được, cái áo này không?
Mặt anh Khải vừa đỏ mặt lên vừa lắc đầu. Y lại chỉ đôi dép râu, anh Khải đang đi:
– Anh có làm được, đôi dép kia không?
Anh Khải lại lắc đầu! Y quay lại nói giọng đều đều.
– Cái kính anh đeo, bát cơm anh ăn, anh đều không làm được. Người khác đã làm cho anh! Vậy anh cũng phải có trách nhiệm, với người khác. Nghĩa là, anh cũng phải như mọi người dân, cũng phải đi nhân công, thủy lợi. Anh cũng phải đi nghĩa vụ quân sự, như mọi người!
Hầu hết anh em, trong đó có tôi đều ớ ra. Tôi định giơ tay phát biểu. Nhưng tôi chợt tự hiểu, tôi đành nuốt xuống, rồi ngồi yên. Tôi tin hầu hết anh em khác, cũng tự hiểu như tôi, kể cả anh Trần Thế Khải.
Nếu được tự do bàn cãi tranh luận thì ai cũng thấy: Trong vấn đề liên đới xã hội, không một ai có thể làm hết mọi nhu cầu của mỗi người. Vậy người làm cái này, người làm cái kia tác động qua lại vậy thôi, chứ từ xưa có ai ăn bám ai đâu? Cho nên, người nào đặt câu hỏi như vậy, là không hiểu gì về sự tương quan của xã hội, nếu không nói là ngu! Nhưng đấy là tự do bàn cãi. Chứ anh là người dân trong chế độ VC, nhất là tù nữa thì phải biết điều, nó khác hẳn nhau đấy. Không biết thì ráng mà chịu, đừng có kêu trời!
Kết quả buổi truy ép anh Khải: Anh nhận vi phạm nội quy đã viết thư thắc mắc điều sai trái. Anh phải nhận 2 tuần kỷ luật, 6 tháng không được viết thư và nhận quà tiếp tế, của gia đình.
Do những chồng chéo liên hệ, để chế độ Độc Tài CS còn duy trì, do đó chúng bị một số sức ép bên ngoài nên khoảng 1981 – 82 đa số các tu sĩ chủng sinh còn sống, được tha về. Người lập gia đình lấy vợ con, có người vẫn lén lút, tận hiến mình cho Chúa. Để rồi phải luồn lách, dưới nhiều hình thức, cuối cùng thụ phong linh mục “chui” được một số vị.
Phần anh Trần Thế Khải, 1982 anh được về nhà ở đường Ngô Thời Nhiệm, anh tiếp tục tu ở nhà thờ Hàm Long. Rồi được thụ phong linh mục chui do Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Sau đó được chính thức, về làm cha xứ ở nhà thờ cửa Bắc. Hai năm trước đây, đầu 2002, linh mục Khải bị “stroke” liệt hết nửa người, linh mục đã trở về nhà chung của nhà thờ lớn để dưỡng bệnh. Bố của anh, là ông Tứ Hải đã chết từ năm 1985.
Xin trở lại chuyện của tôi, với Tằng Toét. Trên đường vào trại, tôi vừa buồn vừa ức. Buồn vì sự việc đã rõ ràng, họ giấu mình, họ không muốn trả mình! Ức vì “Con dại cái mang” Bố mẹ có tài có của, thì con cái được nhờ! Ngược lại bố mẹ đã không khôn lanh, hiểu được kẻ thù, lại vô trách nhiệm, thì con cái ráng mà chịu. Nhất lại là những đứa con, đã bị bỏ rơi như tôi!
Tuy vẫn đi làm (không đi làm không được) nhưng lòng buồn rã rượi. Trong lòng lại cứ hình dung, các anh em Biệt Kích ở trại 1 bây giờ, đang tíu tít chìm ngập vào một trời mầu sắc huy hoàng, của miền Nam. Tôi cũng đã cho anh Bưởi và Lương biết sự tình. Chúng tôi cùng nhìn nhau, bằng đôi mắt đờ đẫn, không còn sinh khí.
Mới được 3 – 4 ngày, một buổi sáng, Hường trực trại vào gọi tôi ôm chăn chiếu, chuyển về toán 6 (toán rau xanh). Tôi ôm chăn chiếu đi, và tự hiểu: Họ không cần nghề nghiệp gì cả, dù tôi có nghề mộc vững. Họ đầy ra chỗ cứt đái, đất cát, để tự ngẫm, tự thấy vì sao? Tôi ngồi đăm chiêu một lúc, rồi lòng như cứng lại: Không sao cả! Hãy gồng mình lên, đón nhận những trái đắng, mà mình đã tự nguyện gieo!
Toán rau, do một cán bộ tên Mão phụ trách, dáng y lùn lùn nhà quê đặc sệt. Tôi được phân công tưới, tiêu một số vườn cà, đậu, gánh gồng cứt, nước đái, ruồi, bọ tiếp xúc hàng ngày.
Có những buổi tôi đứng giữa trời bao la, bên cạnh những hố phân và nước tiểu, nghĩ suy: Một đời người của bất cứ ai, đều phải có những giai đoạn khó khăn, và những giai đoạn thuận tiện. Điều quan trọng khi gặp giai đoạn khó khăn, hãy vận dụng trí óc tìm ra phương cách, để chuyển đổi thành giai đoạn thuận tiện. Bây giờ, theo họ là tôi đang bị hành! Tại sao tôi không biết thưởng thức, cái tuyệt vời của thiên nhiên? Bình minh và hoàng hôn diệu kỳ? Mây chiều, gió núi và những sinh hoạt của sinh vật của đất trời, dù cho là con bọ, con bướm, con sóc, con trùng?
Rồi những ngày sau, tôi đã tìm ra những phương cách cải thiện: Cà luộc, cà nướng, đậu luộc, đậu nướng, mùa nào thức ấy, tôi qua mặt hầu hết! Khéo léo tôi kết hợp với anh Vàng Dơi, một người dân tộc Mèo, trong toán chúng tôi lại được về một tổ, cùng làm một công việc, thật là hết ý.
Đã có những con Cuốc gọi vào Hè; hàng ngày tôi chỉ đánh có cái quần đùi, còn trần trùng trục, ngoài vườn rau. Giữa thanh thiên bạch nhật, cán bộ, công an võ trang ngồi gác cả các khu vườn rau rộng. Tôi nằm ngửa, trườn vào giữa vườn ớt, vườn cà, (nếu ngồi sẽ thấy đầu nhấp nhô) tha hồ với tay chọn những quả, ưng ý nhất.
Tôi chỉ mặc mỗi cái quần đùi, có 2 lý do:
1) Mọi người từ cán bộ trại, toán trưởng tự hiểu, tôi không thể giấu đút được, một cái gì; mà lại ra vẻ chịu khó lao động.
2) Tôi khâu một cái túi nhỏ dài chừng 18 – 20 phân, rộng 6 – 7 phân, miệng túi khâu liền vào cạp quần phía trong. Cái túi lủng lẳng, khoảng giữa “tổ chim”. Thôi thì thượng vàng, hạ cám, toàn những thứ quốc cấm đầu mùa, vừa non, vừa ngon, kể cả ban giám thị cũng chưa có ăn, như ớt, cà, đậu v.v… Tôi cho vừa đủ vào túi, nhìn bên ngoài không có một hiện tượng khả nghi. Khi về cổng trại, cán bộ, cũng như trật tự thường chú ý khám xét, những anh quần áo rườm rà, ôm xách lềnh khềnh. Tôi chỉ mặc cái quần đùi, tay cầm một cái ca uống nước cũ mèm, nhiều khi tôi để vài cái rau già, có khi mở nắp đường hoàng v.v…
Tóm lại, giai đoạn này tôi không còn đói như trước đây, cơ thể của tôi còn được bồi dưỡng. Rau, trái ngon đầu mùa, thứ mà hơn một chục năm, cơ thể tôi không có (chỉ ăn muối rang là nhiều). Tôi cũng muốn cho, những bạn bè thân quen được hưởng ít nhiều, nên mới có cái túi bí mật trên. Một buổi vào giữa hay đầu tháng Tư, Tiệp sang tôi với đôi mắt long lanh, ghé tai tôi thì thầm:
– Anh nhận định rất đúng, hôm qua cán bộ gọi chúng em, họ chuẩn bị trao trả về miền Nam. Cán bộ căn dặn tuyệt đối không được nói, với bất cứ ai.
Tôi đờ người suy nghĩ: vui, buồn, lẫn lộn. Bốn người được về, thì mừng cho anh em rồi, nhưng điều đó càng khoét sâu những nỗi niềm riêng, trong lòng mình. Tôi đề nghị hôm sau gặp lại Tiệp, rồi chuẩn bị, trang bị, tư tưởng, quyết tâm, phương cách kỹ thuật v.v…
Ngày 31 Tháng 3 năm 1968, Mỹ ngưng ném bom miền Bắc. Bốn bên: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa một bên; Bắc Việt và Việt Cộng một bên, lục tục đến Thủ đô Paris của Pháp hòa đàm… tìm cách giải quyết chiến tranh. Nhưng chỉ cãi nhau toàn những chuyện vớ
vẩn về cái bàn ngồi họp. Hình tròn, hình vuông, kiểu nầy kiểu kia. Cứ đánh đánh đàm đàm. Bàn Hội nghị cứ cãi và chiến trường thì cứ đánh! Xương máu của người lính ở chiến trường được đem ra trên bàn Hội nghị ở Thủ đô hoa lệ Paris mà cò kè bớt một thêm hai?! Sau những trò cam kết rồi lật lọng của Bắc Việt, với chánh sách cây gậy và củ cà rốt của Mỹ, ngày 18 Tháng 12 năm 1972, Mỹ cho máy bay B–52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng… Đợt ném diễn ra trong 12 ngày (18 tháng 12 đến 30 tháng 12), đó là Chiến dịch Linebacker II. (Bom nổ ở Hà Nội! Sài Gòn cửa kính có rung rinh?) Bắc Việt mới chịu trở lại bàn Hội nghị và ký tắt Hiệp định ngày 23 Tháng 1 năm 1973 tại Paris và bắt đầu có hiệu lực vào Thứ Bảy 27 Tháng Giêng 1973. “Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam. Bắc Việt được ở lại miền Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hoà bình. Trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày.” Cả tiểu đoàn 2 sinh viên sĩ quan trường bộ binh Thủ Đức khóa 4/72 đang thụ huấn, chiều 6 giờ, nghe tin trên Đài phát thanh Sài Gòn… ‘hurrah’ mừng rỡ?! Ngày Thứ Sáu, 26 Tháng Giêng năm 1973, các tiểu đoàn sinh viên sĩ quan Thủ Đức lên đường đi chiến dịch Hiệp định Paris. Mỗi sinh viên sĩ quan được cấp số đạn đầy đủ và hai trái lựu đạn M 67. Đại đội 4 Tiểu đoàn 2 được đưa về Tiểu Khu Kiến Hòa. Trung đội 242 được xe nhà binh GMC 10 bánh từ Tiểu Khu chở ngược ra Tân Thạch, cầu bắc Rạch Miễu để 4 giờ chiều xuống mấy Tiểu đỉnh của Giang Đoàn xuôi dòng sông Mỹ Tho ra biển, về Bình Đại. Đêm tối dần trên mặt sông. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi. Tiếng máy tàu chạy rầm rì giữa dòng sông lặng, để tránh đạn B 40. Mấy con tép bạc xin của dân đóng đáy, luộc lên màu đỏ ối, chấm nước mắm y. Một nồi cơm nguội. Nhắm chút rượu trong cái chén mẻ miệng, khè một tiếng, cho ấm bụng! Rượu trong veo như nước mắt quê hương, rót ra từ một can 4 lít, mua ở bến phà Rạch Miễu…
o O o Tám giờ đêm tàu ủi bãi. Đạn lên nòng súng cầm tay, ta về quê em: Bình Đại. Bình Đại buồn, thu nhỏ lại trong đêm. Ánh đèn vàng hiu hắt, ly cà phê chát ngắt, cho ta trắng đêm nay, cho em hầm trú ẩn. Tiếng đạn giặc bay bay, em nghe riết quen rồi! Em thức giấc sáng mai, hỏi ai còn, ai mất? Ai còn, rũ khăn sô, ai mất, vùi dưới mộ! Đêm qua rồi đêm nay, ngàn đêm như thế đó! Bình Đại buồn, thu nhỏ lại trong đêm! Ta yêu vô cùng Bình Đại chân quê! Xin quán em mở khuya thêm chút nữa. Hãy khêu lên bếp lửa, đến đối ẩm cùng ta. Zhivago, Lara trong cách mạng mười Nga điên loạn! Ta, đời lính, cạn ngàn ly rượu đắng! Hiệp định Paris; ngày mai ngừng bắn? Chiến tranh? Hòa bình? Chết? Sống? Hư không! Buồn chi em! Vạn thọ đã vàng bông! Trời cuối năm, giáp Tết. Sống sót đã là may! Ly rượu này, cạn hết! Cùng ta say đêm nay!
Chiều đầu tiên nằm trên nắp hầm truyền tin trong đồn nghĩa quân Tân Phú Trung kề con hương lộ buồn thiu như dế kêu. Nhìn phía xa, phía quê nhà ráng chiều đỏ rực cháy chân mây! Sao nhớ má, nhớ em biết bao nhiêu! Về Bình Đại, về Tân Phú Trung, về một vùng quê không yên tĩnh… lần đầu giáp mặt gần hơn với cuộc chiến tranh kinh khiếp nầy. Đời lính, thực tế chiến trường khắc nghiệt làm sao để sống còn… để trở về với má, với em… Chàng tuổi trẻ từ trường đại học, bạch diện thư sinh, dù muốn dù không cũng bờm xờm râu tóc, đã nhuốm phong trần trong lửa đạn. Niềm ước vọng về Hiệp định Paris sẽ có ngưng bắn, sẽ có hòa bình da beo, ai ở đâu ở đó… không kéo dài được bao lâu đã lụi dần rồi vỡ tan do các cuộc xâm phạm, giành dân lấn đất của Bắc quân… Dù trên Đài phát thanh Quốc gia vẫn còn: “Rồi có một ngày. Sẽ một ngày chinh chiến tàn. Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi. Ngoài con tim héo em ơi. Xin trả lại đây, bỏ lại đây. Thép gai giăng với lũy hào sâu. Lỗ châu mai với những địa lôi. Đã bao phen máu anh tuôn. Cho còn lại đến mãi bây giờ. Trả súng đạn này. Khi sạch nợ sông núi rồi. Anh trở về quê, trở về quê. Tìm tuổi thơ mất năm nao.Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu. Với cây đa khóm trúc hàng cau. Với con đê có chiếc cầu tre. Đã bao năm vắng chân anh. Nên trở thành hoang phế rong rêu. Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa. Rồi anh sẽ đón cha mẹ về. Rồi anh sẽ sang thăm nhà em. Với miếng cau, với miếng trầu. Ta làm lại từ đầu. Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm. Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn. Bạn anh đó đang say ngủ yên. Xin cám ơn! xin cám ơn! người nằm xuống. Để có một ngày. Có một ngày cho chúng mình. Ta lại gặp ta, còn vòng tay. Mở rộng thương mến bao la. Chuông chùa làng xa, chiều lại vang. Bếp ai lên khói ấm tình thương. Bát cơm rau thắm mối tình quê. Có con trâu, có nương dâu. Thiên đường này mơ ước bao lâu”(Nhạc Trịnh Lâm Ngân)***
Sau 4 tháng đi chiến dịch, Tháng 6 năm 1973, trở về, ra trường, tứ tán người đi mỗi ngả. Binh lính chết ở chiến trường! Tướng công chết ở trên giường thê nhi! Ra mặt trận chẳng bao lâu là thằng Khôn ngã xuống ở Cái Côn, thằng Tuấn chết trận ở Thuận Nhơn, Phong Dinh và nhiều nhiều nữa trong cuộc lui binh bất ngờ hai năm sau đó.
23-3-1975 phần đuôi đoàn xe di tản bị mắc kẹt trên Tỉnh Lộ 7 gần quận Phú Túc, cách TP Tuy Hòa khoảng 40 km về phía tây, vì pháo VC bắn vào đoàn xe ở phía trước
Tháng Giêng năm 75 mất Phước Long, tháng 3 mất Ban Mê Thuột dẫn tới cuộc triệt thoái kinh hoàng của Quân đoàn 2 trên liên tỉnh lộ 7B được xem là một cuộc lui binh bi thảm nhất trong suốt chiều dài cuộc chiến. Liên tỉnh lộ 7 B là hành lang máu, con đường đầy nước mắt, xương máu trong 9 ngày đêm của thường dân và binh lính miền Nam. ‘Đánh Nguyệt Chi theo quân năm trước / Toàn đạo binh bị diệt trên thành / Hán, Phiên vắng bặt tin anh /Cho dù sống chết cũng đành xa nhau / Màn trướng nát không ai thu lượm / Ngựa trở về cờ phướn rách tan / Cúng anh, nghi vẫn sống còn /Chân trời xa tắp, khóc trông quê nhà! / Thổ Phồn chiếm cứ Tây Châu / Ngoại vi mất hết còn đâu lũy thành /…Kỵ binh giặc tới bất kỳ / Dân tình hết vía chuyển di luôn ngày /…Vùng ven chém giết bão giông / Chiến binh giáp trận chết không vẹn hình*
Quân cứ triệt thoái hoài, đoạn chiến mà không hiểu vì sao?! Người lính luôn cô đơn, chỉ biết tuân lịnh, xưa giờ cũng vậy: Ngựa qua uống nước sông thu! Nước sông lạnh, gió vù vù cắt da. Rồi cùng nhau ngã xuống cho một thiên đường mơ ước bao lâu?! Cổ kim cát bụi chôn vùi! / Chỉ còn xương trắng ngậm ngùi cỏ lau.**
Tháng Tư lại về trên quê người viễn xứ, đốt lò hương cũ, đọc thơ xưa, nhớ một thời giầy sô áo trận, dù ngắn ngủi, nhưng dễ gì quên! Anh nhớ tình năm cũ, nước mắt và Tháng Tư, già rồi… anh hay khóc, khóc tình cũ, em xưa! Anh rót đầy ly rượu, cạn hết nỗi đắng cay, của một người mất nước. Mất hết… còn cơn say… Đêm nay, gần 40 năm, sau ngày thất trận đó… ly hương và tha phương… lại nhớ về bè bạn cũ mà tuổi xanh của chúng ta vốn đẹp biết bao đã cháy rụi… tàn trong cơn binh lửa.
‘Thở thật dài vào thinh không bát ngát / Theo gió về động lá cánh rừng xa / Này thằng lì còn chơi miền gió cát / Trong kiêu dũng mày cho gửi chút hồn ta!’***
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.