Ảo Ảnh

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 10, 2018

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Ảo Ảnh

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 10, 2018

Lần đổi tiền thứ hai năm 1978, Hân chẳng có bao nhiêu tiền để đổi. Lúc đấy Hân đang thất nghiệp, chạy đầu này đầu nọ, chẳng ra việc gì, ai kêu gì làm nấy, bữa đói bữa no. Có thằng bạn thân vượt biên, trước ngày đi có cho một ít, ăn được vài tuần cũng hết sạch. Loay hoay mãi mà chưa biết cách gì để sống. Sách vở bán đã hết. Áo quần cũng chỉ còn bộ đồ mặc trên người, cũng chỉ còn đôi giày da mòn long đế. Gia sản chỉ có bấy nhiêu. Căn phòng càng ngày càng vắng đồ đạc, càng thưa thớt người. Lần lượt từng người đi. Kẻ về quê, người đi đâu mất biệt. Đôi lúc có kẻ lướt về rồi lại đi. Tất cả tản mác để tiếp tục sống, để tiếp tục tồn tại.

Đang là cuối đông. Sài Gòn bỗng lành lạnh với những cơn gió lạ. Cả xã hội nghèo, thiếu ăn. Chén cơm trắng là giấc mơ của bao người. Ai cũng gầy với đôi mắt thất thần và cái bụng lép. Chẳng ai giúp được ai. Hân co ro dưới gió trên đường Trương Minh Giảng. Con đường quen thuộc cả chục năm nay, Hân thuộc từng con hẻm, từng lối rẽ, từng cái ổ gà nho nhỏ trên nền xi măng của vỉa hè. Vẫn biết là chẳng đi đến đâu, chẳng giải quyết được gì cho cái bụng rỗng đã ba hôm rồi, nhưng anh vẫn đi. Nằm nhà xót bụng không chịu được, ra đường với chút hi vọng gặp ai đó, gặp một dịp may nào đó, lượm được đồng bạc ai đánh rơi. Biết đâu? Cũng còn vài người quen, cũng còn vài thằng bạn. Nhưng Hân ngại. Anh tiều tuỵ quá. Đói rách quá, ngại gặp mọi người. Gia đình nào cũng nghèo nhưng đến bữa cũng có bữa cơm dù là bo bo, bột mì hay cá hẩm thịt ôi. Hân chỉ cần có gì bỏ bụng. Lấp đầy khoảng trống của bao tử đang kẻu ầm ĩ. Nhưng Hân không dám đến nhà ai. Đói nhưng cái bệnh sĩ vẫn bám vào anh. Hân đi dọc căn phố, những cửa hàng ngày xưa sầm uất thế, rộn ràng thế bây giờ đìu hiu và buồn tẻ. Đã gần chập chọang chiều mà căn phố vẫn hiu hắt vì không có điện. Những giọt mưa lác đác, hắt vào anh. Hân tay ôm ngực tay loay hoay tìm điếu thuốc. Túi rỗng. Hân thèm một hơi thuốc trong mưa. Hân cúi xuống, mắt lướt trên nền xi măng, anh lượm được hai cái tàn thuốc. Anh lượm mảnh giấy báo, xé hai tàn thuốc, gói mấy sợi thuốc vào mảnh giấy báo rồi se lại. Ánh lửa soi sáng một vùng mặt, khói vờn lên. Bụng đang đói gặp hơi khói làm đầu anh lâng lâng như say. Những bóng người loang thoáng, chập chờn. Bụng anh thắt lại. Hân có cảm giác có dòng nước mắt đang âm ỉ chảy từ đôi mắt cận. Hân băng qua ngã tư. Góc cây xăng Trần Quang Diệu với Trương Minh Giảng cũ có một bà cụ già bán bánh ít nhân đậu. Bà cụ người Bắc đã già lắm. Lưng còng, lúc nào người cũng quấn trong hai ba lớp áo, đầu quấn khăn. Hàng của bà chỉ chục cái bánh lá đặt trên cái thúng cũng cũ kỹ như bà. Một bà cụ nghèo, vốn liếng chẳng bao nhiêu. Bà bán vào buổi chiều, ít thấy khách mua nên nhiều lúc bảy tám giờ tối vẫn còn thấy bà ngồi dưới đèn đường, bóng bà đổ trên đường nhìn hiu quạnh lắm. Hân lâu lâu cũng ghé bà, mua một vài cái ăn qua cơn đói. Hôm nay Hân nghĩ giá có vài cái bánh này, chắc cũng đỡ cho cái bụng. Nhưng anh chẳng còn đồng bạc nào trong túi. Ngang qua, Hân đi luôn dù chân như muốn níu lại. Hân đi đến hẻm Trường Lê Bảo Tịnh. Anh quay lại, dùng dằng mấy bước rồi sà xuống cái thúng bánh tả tơi của bà cụ. Cụ ạ! Cụ cho con hai cái được không? Mời cậu. Cậu mua giúp. Ế quá. Nhưng cụ ơi! Hôm nay cháu không còn tiền, cụ cho cháu thiếu được không? Bà cụ ngần ngừ, chép miệng: Khổ thế cơ à?

Ối giời thời thế gì mà ai cũng khổ thế này? Hân đứng lên, anh thấy chóng mặt, cái đầu hơi quay quay, anh lại đành ngồi xuống. Dạ vậy thôi cụ ạ. Vốn cụ chẳng bao nhiêu mà cháu lại ăn thiếu thì khổ cho cụ quá. Bà cụ đưa đôi mắt hấp hem nhìn Hân, móm mém: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử?
Đêm đó nhờ hai cái bánh ít, Hân ngủ được một giấc ngon.

Mấy hôm sau đó, có việc ở Biên Hoà, anh xuống làm phụ mộc gần chục ngày. Về lại Sài Gòn mấy bữa, ghé góc đường lại không thấy bà cụ. Rồi ngày qua tháng lại, thời gian trôi đi, lúc thì quên, khi nhớ tìm mãi chẳng thấy bà cụ đâu.


**********


Cuối năm ấy, một người bạn cho một suất vượt biên, trả tiền sau. Hân liều làm một chuyến vì đang bế tắc quá. Lênh đênh gần nửa tháng ngoài biển, máy hư, tàu vô nước, cuối cùng cũng cặp được vào đảo Pulau Bidong đảo nhỏ ở phía nam biển Đông, thuộc bang Terengganu của Malaysia.

Đảo này được biết đến chủ yếu vì đây mở trại tạm cư cho người Việt tỵ nạn trong những đợt vượt biên liên tiếp của thuyền nhân từ năm 1975 đến năm 1991. Đến 30 tháng 10 năm 1991 khi trại đóng cửa thì nơi đây đã tiếp đón 250.000 người tỵ nạn.

Hân ở đảo gần một năm vì chẳng có thân nhân nào bảo lãnh, anh vốn lớn lên từ cô nhi viện, tứ cố vô thân nên chẳng biết cậy nhờ ai. Sau đó anh gia nhập đạo Tin Lành và rồi một hội thánh ở Mỹ bảo lãnh Hân qua Mỹ. Những năm tháng ở Mỹ, anh cật lực vừa học vừa làm, cuối cùng cũng có một việc làm ồn định, một bằng cấp kha khá, một căn nhà vừa ý. Hai lần lập gia đình đều đổ vỡ, không có đứa con nào, anh nghĩ chắc ở thế cho đến già. Số thế rồi thì chấp nhận vậy. Đi làm về, một mình trong căn nhà trống, nhiều đêm anh nhớ Việt Nam, đôi khi thấp thoáng bóng của bà cụ và hai chiếc bánh anh còn thiếu nợ hiện ra trong giấc mơ. Nhưng anh vẫn chưa về, thật ra cũng chẳng còn ai để về. Chẳng còn chi níu kéo để về. Nhưng Việt Nam vẫn về trong giấc mơ của Hân. Có một cái gì đó không giải thích được cứ gọi anh về.

Năm 2002, nhân chuyến công tác ở Thái Lan, anh về lại Sài Gòn năm hôm. Thành phố chẳng còn như cũ, nhiều nhà cao tầng, phố xá đông đúc hơn, người ta có vẻ giàu hơn, hàng quán nhiều hon. Buổi chiều anh về lại con đường Trương Minh Giảng cũ, con phố này có vẻ ít đổi thay, trường đại học ngày xưa của anh giờ trông tàn tạ, những bức tường ám rêu, cái cổng trường vẫn thế. Ngôi chợ cũ khang trang hơn, phố sầm uất hơn. Hân đi dọc con đường mấy chục năm trước thường đi, vỉa hè không còn loang lổ, lát gạch đẹp hơn. Đứng ở bên này ngã tư Trần Quang Diệu nhìn qua xây xăng, anh thoáng thấy bà cụ bán bánh ít nhân đậu xanh đang ngồi ở dưới cột đèn đường. Lạ nhỉ? Hai mươi mấy năm rồi, cụ còn sống sao? Cụ vẫn ngồi bán ở đây sao? Hân nhớ hai chiếc bánh còn thiếu nợ bà cụ. Anh vội băng qua đường. Một chiếc xe bus trờ tới, che tầm mắt của anh. Khi anh bước qua bên kia đường thì không còn thấy bà cụ nữa. Mới thấy đây mà? Hay chỉ là ảo ảnh. Hân đi tìm quanh quất mà chẳng thấy gì. Anh đứng ngay chỗ bà cụ hay ngồi ngày xưa, miệng lẩm bẩm: Cụ ơi! Con về tìm cụ trả tiền hai chiếc bánh. Chắc cụ chẳng còn trên đời này nữa đâu. Nhưng con vừa thấy cụ. Hay cụ nhắc con nhớ món nợ năm xưa. Nhưng con biết làm sao trả. Cụ ơi! Mong cụ siêu thoát. Món nợ này con suốt đời nợ cụ.

Mấy ngày còn lại ở Sài Gòn, Hân cứ quanh quất ở cây xăng Trần Quang Diệu, hỏi thăm về bà cụ bán bánh ít hơn hai mươi năm trước ở chỗ này. Mấy hôm rồi chẳng ai biết, chẳng biết thêm tin tức gì. Hôm cuối cùng ở Việt Nam, anh gặp được một anh chàng xe ôm, anh biết rất rõ bà cụ vì anh là con rể của bà cụ. Hân mừng quá, ngồi trên xe để anh xe ôm chở về nhà mà anh cứ ôm bụng anh chàng xe ôm mà nói: Mừng quá, mừng quá. Chắc là bà cụ khiến anh gặp tui. Mừng quá! Anh xe ôm kể đêm qua thấy cụ về bảo chiều mai ra góc cây xăng, có người muốn gặp. Hân nói với lên: Thế là cụ bảo ra gặp tui đấy. Bà cụ linh thiêng thật.

Xe chạy vào mấy cái hẻm ngoằn nghèo. Con hẻm càng vào sâu càng hẹp lại. Căn nhà ở cuối con hẻm ứ nước, cạnh bãi rác. Nhà sơn tróc loang lổ, nghiêng ngiêng như muốn ngã. Nhà tù mù một cái bóng đèn vàng hiu hắt. Một người đàn bà đi ra sau tiếng kêu của anh xe ôm. Hân bước vào nhà, đập vào mắt anh là chiếc bàn thờ be bé thắp ngọn đèn đỏ quạch soi tấm ảnh nho nhỏ của bà cụ. Bà cụ đang nhìn anh, mắt nheo nheo với nụ cười hóm hỉnh. Anh nhớ câu cuối cùng của bà nói với anh hơn hai mươi năm trước: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử?
Hân xin ba cây nhang, đốt lửa, ánh sáng bùng lên soi khuôn mặt của người đàn bà nhầu nhĩ, chắc tại nghèo. Hân chắp tay vào ba cây nhang: Cụ ơi,con xin lỗi cụ, con đắc tội với cụ, con mang nợ cụ hai chiếc bánh cứu con qua cơn đói mà bây giờ con mới trả được cho cụ thì cụ đã chẳng còn. Con không quên được hai chiếc bánh của cụ đâu. Và vì không quên nên con mới nhìn thấy cụ, con mới tìm được nhà cụ để trả món nợ ân tình.

Hân ra ngoài cửa, ánh sáng cuối cùng của buổi chiều hắt lên ánh sáng kỳ dị vừa nhờ nhờ vừa tăm tối trên cánh cửa loang lổ. Anh rút hết số tiền trong ví, trong túi xách, anh không đếm là bao nhiêu nhưng cũng được một bó bằng cườm tay. Anh xin chiếc dĩa, đặt hết lên đấy và vái một lần nữa. Cụ ơi! Con xin gởi cụ. Đã biết trễ rồi nhưng có còn hơn không. Con đội ơn cụ và mong cụ tha lỗi cho con.

Hân bước ra con hẻm, ánh đèn đường vừa bật, anh lại ra con đường cũ. Cây xăng đang tấp nập. Khoảng sáng chiếu ở dưới đèn đường, anh lại thấy nụ cười và dáng lom khom của bà cụ. Nhưng lần này cụ không có bóng đổ.
15.7.2005
DODUYNGOC

Alain Delai

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018
Chuyện kể của Đỗ Duy Ngọc

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Alain Delai

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018
Chuyện kể của Đỗ Duy Ngọc

Nhà hắn nằm sau lưng nhà tôi. Hắn là thằng lai Tây, hơn tôi đâu ba tuổi. Hắn sinh năm 1947 thì phải. Hắn có bố đàng hoàng chứ không phải là thằng con lai hoang. Hắn từng khoe giấy khai sinh làm từ lúc hắn mới sinh, bố hắn là quan ba Pháp, là Capitaine quân đội Pháp. Cũng là thứ dữ chứ chắng phải thường đâu. Sinh ở Hà Nội di cư vào Nam 1954. Mẹ hắn là một phụ nữ đẹp, da bà trắng, mũi cao thon như người Nhật với đôi mắt ướt. Bà lại thường mặc yếm và cái váy đụp như người đàn bà nông dân Bắc bộ nhưng không che hết nhan sắc của bà. Hắn kế thừa nước da trắng, mũi lõ mắt xanh và thân hình to lớn của giống Tây, lại hưởng chút nhan sắc của mẹ nên hắn là thằng đàn ông rất đẹp trai. Cả xóm gọi hắn là thằng Lai. Hắn đẹp không thua gì tài tử Alain Delon, một diễn viên điện ảnh nổi như cồn thời ấy nên tôi gọi hắn là Alain Delai. Hắn cũng khoái được gọi thế với một niềm hãnh diện. Hắn bảo bố hắn bị bắt làm tù binh của Việt minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sau đó được về cố quốc, bỏ mẹ con hắn lại đi tàu há mồm vào Nam.

Hắn sống cùng mẹ với một ông bố dượng trong căn nhà khá rộng nhưng lúc nào cũng tối om om. Mẹ hắn làm nghề đúc đậu khuôn. Những miếng đậu của bà lúc nào cũng chắc, beo béo. Nhất là những khuôn đậu chiên, vàng dòn ở bên ngoài, mềm mại ở bên trong. Những miếng đậu nóng hổi vừa mới rời chảo mà chấm với chén nước tương đầy ớt trái thì ngon rụng rời. Ký ức tuổi nhỏ của tôi ở xóm bến xe Chợ Cồn đầy những bánh đậu khuôn dòn béo ấy.

Bố dượng hắn đúng phong cách công tử Hà thành, ông chẳng làm ăn gì, lại nghiện thuốc phiện. Tôi không quên được cái phong thái vừa lịch lãm vừa phớt đời của ông. Ông cao lắm, chắc phải mét tám, nhưng gầy, vai so ngang của người nghiện thuốc lâu năm. Tôi nhớ mãi ông vì ông giống y chang hình nhà văn Vũ Trọng Phụng trong cuốn sách gì đó mà lâu quá tôi quên mất. Mà tôi thì khoái đọc mấy cái phóng sự rất đời của nhà văn này hồi mới vào lớp nhất dù ba tôi cấm triệt, bắt gặp tôi đọc loại sách ấy là đánh đòn nặng tay với những chiếc roi mây.

Đó là hình ảnh của một người đàn ông với khuôn mặt gầy xương, má hóp, cồ quấn chiếc khăn kẻ ca rô. Khuôn mặt ông bố dượng hắn đấy. Ra ngõ ông đội thêm cái mũ phớt nỉ hoặc chống cây baton lên nước bóng. Hắn có vẻ sợ bố dượng, nhưng trong ánh mắt xanh xanh của hắn có thoáng chút thù hận không nói ra.

Hắn là thằng nghịch phá nhất xóm, hình như đứa con lai nào cũng thế. Hắn lớn con, liều lĩnh, chẳng biết sợ ai nên đám trai trẻ quanh vùng đều tránh không dám gây sự với hắn. Xóm tôi ở là xóm bến xe Chợ Cồn, dân du đãng tứ xứ tụ về, dân tài xế, lơ xe toàn là dân giang hồ, thế mà ai cũng sợ hắn. Hắn liều lĩnh, bất chấp, trong mọi cuộc đấm đá, hắn là thằng đi đầu, xông vào trước, luôn hỗ trợ cho mấy thằng yếu thế hơn. Hắn liều, nhưng chơi đẹp, không bao giờ ăn hiếp kẻ thế cô, không bao giờ đánh tán mạng kẻ thù. Đánh gục đối thủ, hắn thường xốc nách chúng lên, cho ngổi dựa vào tường, lấy nước, mang bia cho uống, lấy khăn ướt lau mặt cho.
Bởi thế, những tay hảo hớn bến xe đã từng đụng độ với hắn một lần thì đâm ra phục hắn, xem hắn như đại ca. Nhưng hắn không muốn làm đại ca, hắn chỉ ra tay khi thấy chuyện bất bình. Đám cảnh sát ở ngã tư Chợ Cồn cũng ngán hắn. Có lần tay cảnh sát ức hiếp bà già bán rau ở lề đường, hắn bay từ xa đá vào ngực tay cảnh sát làm y bồ ngửa, hắn bảo không được ức hiếp người nghèo, có giỏi thì chơi tay đôi với hắn. Xong nó kéo tay tên cảnh sát vào quán bún bò bà Hưng ngay nơi ngã tư, kêu bún bò xí quách và bia nhậu. Thế là xong.

Khi tôi vào tuổi mới lớn, khoảng mười ba, mười bốn thì hắn đã là một thanh niên vạm vỡ. Hắn rất thích chơi với tôi, hắn bảo hắn khoái cái kiểu sống của gia đình tôi. Tuy là một thằng rất ba trợn, nhưng hắn lại là một thằng rất tình cảm. Hồi đấy, tôi đang tập đàn mandoline, cũng chỉ biết lỏm bỏm thôi, nhưng tối tối không có chuyện đi đâu hắn lại rủ tôi ra đầu ngõ, dưới tàng cây trứng cá, đàn cho hắn nghe. Hắn chỉ thích độc một bài của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, bài Giọt mưa thu. Thế mới lạ.
“Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu
Ai khóc ai than hờ!
Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi
mưa buồn chi
cho cõi lòng lâm ly .
Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
chân buông mau
dương thế bao la sầu .
Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
mây ngỏ trời xanh
chắc gì vui
mưa còn rơi
bao kiếp sầu ta nguôi .
Gió xa xôi vẫn về
Mưa giăng mù lê thê
Đến bao năm nữa trời …
… Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu.”

Tôi đàn, hắn hát theo, tôi không ngờ hắn có giọng hát hay thế. Một giọng Bắc chuẩn thật chuẩn, luyến láy đúng điệu, nhịp phách không sai chút nào. Hắn làm tôi khá bất ngờ, bởi tôi biết hắn có chút kiến thức âm nhạc nào đâu.
Giọng hắn thê thiết, buồn, trẩm, có hồn vía ghê lắm. Hắn chỉ hát có một bài đó. Buồn vui chi cũng Giọt mưa thu. Đám cưới, đám ma, sinh nhật, nhậu nhẹt mà có hát là hát Giọt mưa thu. Tò mò, tôi hỏi hắn thì mới biết là ngày xưa ở Hà Nội, lúc tuổi mới lớn, mẹ hắn là láng giềng và cũng là người yêu của nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Người nhạc sĩ tài hoa yểu mệnh, mẹ hắn vì thời cuộc cũng long đong. Khi sinh ra hắn, suốt quãng đời trong nôi, mẹ hắn chỉ ru hắn bằng một bài Giọt mưa thu. Bài hát thấm trong máu hắn, nằm mãi trong ký ức hắn và đối với hắn, âm nhạc chỉ có mình bài đó thôi.

Hắn rất thương mẹ, mẹ hắn ít nói, nhiều khi chỉ một ánh mắt nhìn, hắn đã líu ríu làm theo những gì mẹ hắn muốn. Ra khỏi nhà, hắn là thằng du côn, nhưng ở nhà, hắn là đứa con ngoan. Hắn phụ mẹ hắn xay đậu, ép khuôn, gánh hàng ra chợ. Nhìn hắn quấn quýt bên mẹ, thương lắm. Hắn bảo đời mẹ hắn có lắm nỗi buồn, hắn không muốn làm cho mẹ hắn thêm buồn nữa.

Hắn nói thế mà mười tám tuổi, hắn bỏ nhà đi lính sau một trận cãi nhau bốc lửa với ông bố dượng. Mẹ hắn buồn ghê lắm, nhưng cũng đành, bên chồng, bên con, biết làm sao?
Hắn đi lính nhảy dù. Ngày gặp lại hắn với bộ đồ rằn ri, cái mũ bê rê đội lệch, tôi thấy hắn đẹp quá. Bộ đồ lính ấy trong thân hình thước tám hai, với mấy chiếc lựu đạn mini bên hông, đôi bốt đờ sô dềnh dàng trông nó oai hùng quá. Nhìn hắn chẳng khác chi tay lính Mỹ. Tôi chào hắn như mọi khi: Chào Alain Delai, hắn cũng chào lại như mọi lần gặp nhau: Chào thằng em bô giai.
Hai thằng ôm nhau. Từ đó, sau những đợt hành quân, về hậu cứ là hắn dẫn tôi đi ăn chơi. Tôi vừa mới tuổi mười lăm, cao mét sau lăm, mới đứng ngang nách hắn. Hắn dẫn tôi đi mấy cái bar ở ngã năm. Đó là những nơi tôi chưa từng vào và cũng chưa từng biết. Hắn giúp tôi khám phá thế giới ấy. Thế giới của rượu, bia, thuốc lá và gái. Hăn đi đến đâu, mấy em cave theo đến đấy. Hắn đẹp quá mà. Người đàn bà nào lại không thích trai đẹp, kể cả những người đàn bà làm đĩ. Tôi đi với hắn, ngoan ngoãn như đứa em hưởng sái của thằng anh. Đi đến đâu hắn cũng được các em bao, rượu tràn trề, khói thuốc mờ mịt. Cũng có lần vì ganh tức mấy em, đám lính không quân gây sự, hắn đánh đấm một trận ra trò phải vào bệnh viện còn tôi thì trốn nhủi trong cầu tiêu. Ba tôi biết chuyện, cấm triệt, không cho tôi đi chơi với hắn. Nhưng đôi lúc ngồi đàn cho hắn hát Giọt mưa thu, ba tôi cũng chẳng nói gì, có lần khen hắn hát hay. Hắn cũng rất kính Ba tôi, mỗi lần gặp đều khoanh tay thưa ông Đốc rất đàng hoàng.

Năm 1966, lính vùng một của tướng Nguyễn Chánh Thi liên minh với Phật giáo miền Trung ly khai. Tướng Kỳ đem quân ra dẹp. Lực lượng nhảy dù làm nòng cốt dẹp loạn. Khu vực xóm tôi là trung tâm của cuộc giao tranh. Lính ông Kỳ từ ngã tư Chợ Cồn đánh thẳng đường Ông Ích Khiêm tiến tới chùa Tỉnh hội, trung tâm đầu não của cuộc đấu tranh. Súng nồ ì xèo. Lần đầu tiên tôi biết mùi của đạn bom, của chiến tranh. Hai quả M79 rớt ngay sân nhà tôi, tường lủng tứ tung. Cả nhà sợ quá dắt díu nhau chạy vô bàu Thạc Gián. Đêm tá túc nhà người quen, không dám ngủ, nhìn ra trời thấy đạn bay líu ríu, chỉ mong trời mau sáng. Đến sáng thì êm,khoảng trưa thì nghe tin hắn bị thương, một viên đạn M79 quét ngang chân hắn, hai chân nát bét phải cưa đến đầu gối, đang nằm ở Tồng y viện Duy Tân, chỗ làm việc của Ba tôi. Mẹ hắn qua gặp Ba tôi, nhờ giúp.

Tôi vào gặp hắn, hắn xanh xao vì mất nhiều máu, hai chân băng trắng xoá. Tôi chào: Chào Alain Delai. Hắn cầm tay tôi thều thào với nụ cười méo xệch: Chào thằng em bô giai. Hắn bảo hắn không sao, nhưng chỉ thương mẹ hắn, chắc mẹ buồn lắm. Mẹ hắn chỉ biết khóc. Đi chiến đấu bao lần không sao, cuối cùng lại bị thương vì đạn của phe mình. Hắn chửi đụ mẹ mấy thằng rách việc, bày đặt đấu tranh khiến hắn mất cặp giò. Thà ngoài chiến trường nó không tức. Đây lại tàn phế vì đồng đội, có khốn nạn không?

Từ đó, hắn trở thành kẻ cụt chân, di chuyển bằng đôi nạng, hắn vẫn đẹp, nhưng vẻ đẹp của kẻ thiếu đôi chân. Hắn vẫn là thằng giang hồ, đấm đá với đôi nạng, tuy không còn sức mạnh như xưa nhưng hắn vẫn là ông trùm của khu bến xe Chợ Cồn. Tôi chuẩn bị thi Tú tài, nên cũng ít gặp hắn, thỉnh thoảng lại đàn cho hắn hát Giọt mưa thu, giọng hắn lại buồn hơn.
********
Năm 1968, Mậu Thân, tôi đậu Tú tài hai, đi học xa nhà, đi ta bà thế giới, chẳng có dịp về lại cái xóm bến xe của một thời nên cũng không gặp hắn suốt cả mấy chục năm trời. Thời thế nhiều đổi thay, đời tôi cũng trải nhiều biến cố. Sau 1975, ba mẹ và các em tôi vào hết Sài Gòn, rồi lần lượt phân tán khắp nơi. Tôi chẳng còn ai ở Đà Nẵng nên cũng chẳng hẹn về nên chẳng biết tin tức gì về hắn.

Năm 1985, trong một dịp công tác, tôi trở về xóm cũ. Thay đổi nhiều, người cũ còn lơ thơ, toàn người mới đến. Hỏi thăm mới biết hắn đã đi Pháp theo diện con lai từ năm 1980. Mẹ hắn tự tử chết sau ngày hắn lên phi cơ đến Pháp. Bà tự tử bằng sái thuốc phiện với giấm thanh lấy ra từ cái bàn đèn lưu niên của ông bố dượng hắn. Tôi lại nhớ những miếng đậu khuôn dòn tan của bà, tôi lại nhớ cái nhan sắc rất Bắc của bà, một nhan sắc lầm lũi. Tôi nhớ đến lần đầu tiên tôi thấy bà mặc chiếc áo dài nhung đen với chuỗi hạt ngọc xanh nơi cổ và chiếc khăn quàng hững hờ trong một dịp Tết năm nào đó. Một hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam của một thời đã đi qua. Một hình ảnh rất đẹp đọng mãi trong đầu tôi. Đã nhiều lần tôi muốn vẽ một bức tranh như thế mà vẫn chưa vẽ được vì cái hồn cốt của nhân vật cũng chưa tìm lại được. Bây giờ bà đi xa rồi. Cầu mong bà yên nghỉ. Cũng xong một đời người.
Tôi cũng cầu xin bạn tôi, Alain Delai của tôi sẽ có một cuộc sống bình yên nơi quê nội, chắc là chúng ta sẽ chẳng có dịp để gặp nhau nữa rồi.


*******
Năm 2010, tôi trở lại nước Pháp để hoàn tất một số giấy tờ cho bản thân và gia đình. Chuyến đi dự trù ba tuần lễ, vì tôi nghĩ thủ tục hành chánh rất khó khăn, nhưng không ngờ chỉ trong một tuần lễ, mọi việc hoàn tất suông sẻ. Rảnh thì giờ, tôi đi lang thang.

Tôi đến lại những chốn xưa của một thời long đong và cô đơn ở xứ người. Có nhiều nơi chẳng chút đổi thay dù mấy chục năm đã trôi qua. Tôi đứng trên đồi Montmartre, một khu phố của Paris, quả đồi lớn thuộc Quận 18. Nơi đó là nơi tập trung của nhiều họa sĩ nổi tiếng, cộng với nhà thờ nhà thờ Sacré-Cœur, các con phố nhỏ, quán cà phê, nhà hàng… để nhớ những ngày lang thang vẽ chân dung cho du khách kiếm sống dưới những cánh tuyết mùa đông ẩm ướt.

Tôi tìm về khu Quartier Latin Quận 5 thành phố Paris. Nằm ở tả ngạn sông Seine, khu có nhiều trường đại học nồi tiếng thế giới. Ở đây còn có Điện Panthéon, cung điện Luxembourg trong vườn Luxembourg, Sorbonne, Bảo tàng Trung Cổ…
Nơi đây đầy khách du lịch bốn phương tụ về. Tôi đi bộ trên phố Huchette nằm cạnh sông Seine, hai bên đầu đại lộ Saint-Michel với các con phố nhỏ, lát đá.. khu này có rất nhiều nhà hàng, quán cà phê, cùng các quán bar và nhiều gallery nghệ thuật. Ngày xưa nghèo, đi ngang mà chẳng dám vô. Bây giờ có đủ tiền để làm thực khách thì đi một mình, cảm thấy buồn nên cũng chẳng muốn vào.

Lang thang mãi cũng chán, tôi đi khám phá các metro ở Paris. Métro Paris là một trong những biểu tượng của thủ đô nước Pháp, đặc trưng bởi mạng lưới các tuyến dày đặc, mật độ sử dụng cao và các bến tàu điện ngầm được trang trí theo phong cách Art nouveau. Tôi làm nghề mỹ thuật nên rất ham tham khảo và chiêm ngưỡng những công trình độc đáo này.

Các bến Métro Paris trang trí theo phong cách Art nouveau, được lựa chọn từ năm 1900. Ngay cả trong những lần tu sửa và mở rộng sau này phong cách đó vẫn được tôn trọng. Các vách và trần bến thông thường được lát bằng các viên gạch sành hình vuông hoặc chữ nhật nhỏ màu trắng. Một số bến được trang trí cầu kì hoặc có phong cách rất khác biệt.
Tôi ghé Bến Louvre-Rivoli tuyến 1 mang tên phố Rivoli và Bảo tàng Louvre vào buổi sáng, trời chưa có nắng. Bến được trang trí bằng những bản sao các tác phẩm nổi tiếng của Bảo tàng Louvre, trưng bày trong các hốc tường được chiếu sáng rất đẹp. Chán, tôi lại về Bến Arts et Métiers tuyến 11, vốn mang tên của Bảo tàng Kỹ nghệ Paris (Musée des arts et métiers), khu này toàn phú bằng những rãnh đồng chạy suốt.
Lại định ghé qua Bến Pont Neuf tuyến 7 đặt theo tên cây cầu Pont Neuf. Nằm gần La Monnaie de Paris, chỗ in tiền, nhưng không đến, ngồi nghỉ nhìn đám bồ câu bay.
Loanh quanh toàn thấy quảng cáo. Các tờ quảng cáo được dán trong các ô có viền trang trí và ký hiệu hãng khai thác.

Đang mỏi chân định nghỉ, nhưng rồi lại kêu taxi chạy lăng quăng. Trôi dạt về Gare du Nord. Rổi qua metro Crimée lúc nào không hay.
Không biết sao mình lại giạt về đây, bởi khu này lộn xộn lắm, dễ bị móc túi, người đi lại nhiều lại lắm ăn xin. Nhưng rồi lại tự nhủ, biết muôn mặt của metro Paris cũng là điều thú vị nên dù chân đã mỏi cũng gắng thêm một vòng. Người nườm nượp, ồn ào. Con đường dẫn xuống hầm chật chội. Hai bên có mấy người ăn xin, người đàn, kẻ hát, tiếng trống bập bùng. Một không khí lạ lùng và cũng độc đáo. Trời về chiều, sương xuống sớm, không khí hơi lành lạnh. Đã cuối đông rồi.
Tôi dừng chân, đốt điếu thuốc, khói thuốc tuôn mờ đục. Bỗng trong mớ âm thanh ồn ã ấy, tôi nghe loáng thoáng một giai điệu của bản nhạc Việt Nam. Thoang thoảng thôi, xa xa gần gần như sương khói. Nhưng chắc chắn là một bài hát Việt.

Tôi đi men theo tiếng hát và bắt gặp nột ông Tây già, râu ria lởm chởm, tóc phủ gáy ngồi trên chiếc xe lăn đưa hai chân cụt đến mỏm gối. Ông nhắm mắt hát say sưa bài Giọt mưa thu, hát đi rồi hát lại. Chiếc mũ trước mặt ông cũng có vài đồng tiền giấy và ít tiền xu. Nghe bài hát tôi hình dung ra hắn và tôi đoan chắc chắn là hắn chứ không ai khác. Chỉ có hắn, Alain Dalai mới hát Giọt mưa thu như thế, với giọng như thế và say sưa như thế. Tôi chạy nhanh đến bên lão và hét lớn Chào Alain Delai. Hắn hé mắt, ngập ngừng, nhìn rất lâu vào khuôn mặt tôi, rồi hắn cũng hét lớn Chào thằng em bô giai. Hai đứa tôi ôm nhau, cả hai đều khóc. Không ngờ còn được gặp nhau, mà lại gặp nhau giữa Paris khi tuổi đã già, thời gian chẳng còn bao nhiêu nữa.

Tôi bảo hắn kiếm gì ăn tối, hắn dẫn tôi vào một quán be bé trong con đường nhỏ lát đá với những hàng cây leo. Quán vắng, kêu mấy món ăn, hai chai bia lạnh, hắn kể một đoạn đời mình.

Hắn qua Pháp trong những đợt đầu tiên của chính phủ Pháp giải quyết con lai còn lại ở Việt Nam. Nhờ hắn có giấy khai sinh và một số giấy tờ chứng minh, hình ảnh khác nên nó nhờ các tổ chức xã hội tìm lại bố ruột một cách dễ dàng. Một năm sau khi đến Pháp, hắn được gặp bố. Bố hắn đã già, nhưng rất thương yêu hắn, đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời hắn ở nước Pháp. Gia đình bố hắn ở Marseille. Đó là một thành phố cảng của nước Pháp, là thành phố lớn thứ hai của Pháp, sau Paris, và là vùng đô thị lớn thứ ba của Pháp. Hạnh phúc được hai năm thì bố hắn qua đời. Bố hắn có để lại di chúc, có phần thừa kế của hắn. Nhưng hắn lại không đọc được chữ Pháp, nên các anh chị em cùng cha khác mẹ của hắn bảo sao thì nó nghe vậy. Họ bảo nó không được hưởng thừa kế, không có quyền gì trong tài sản bố hắn để lại. Họ giao cho hắn mười ngàn quan, gọi là trợ cấp cho hắn để hắn ra đi. Thân cô thế cô, chữ nghĩa không biết, thân thể què cụt, hắn ngậm đắng nuốt cay, gạt nước mắt rời khỏi nhà làm kẻ lang thang, sống nhờ trợ cấp. Làm kẻ vagabond trôi giạt từ Marseille về đến Paris. Chờ ngày thành tro bụi giữa thành phố hoa lệ này. Mỗi ngày ngồi ở metro hay mấy quãng trường, hát Giọt mưa thu mấy chục năm rồi, để nhớ về mẹ hắn, để nhớ về Việt Nam, một chốn quê không còn chỗ để về.

Đêm đó, lúc chia tay, dù đã say khướt, bởi tôi có biết uống đâu, hai đứa tôi ôm nhau ở cửa quán ăn, tôi lè nhè Chào Alain Delai. Hắn siết vào vai tôi Chào thằng em bô giai. Tôi thấy vai mình ướt đẫm nước mắt. Tôi đẩy xe lăn của hắn một đoạn đường trong khi chờ taxi. Hai thằng già vừa đi vừa ngêu ngao bài Giọt mưa thu, tiếng hát hoà trong nước mắt. Những giọt mưa thu Việt Nam nhỏ xuống con phố nhỏ giữa khuya của Paris đang cuối đông. Lúc tôi leo vào taxi, hắn ngoái đầu lại, đưa tay lên và nói nhỏ Au revoir mon ami.

Hôm sau tôi trở lại Gare du Nord, không thấy bóng dáng hắn đâu. Tôi qua Gare de l’Est, một khu cũng lộn xộn không kém, cũng không thấy hắn. Hắn biến mất tăm. Những ngày còn lại ở Paris, tôi đi khắp nơi để tìm hắn, nhưng hắn đã biến mất như cây kim rơi vào đống sắt vụn. Biết đâu tìm.

Alain Delai! Với cái chân cụt đấy, bạn sẽ đi về đâu mà tìm không thấy?

Thôi thì cũng bắt chước hắn, tôi đến bên con đường lát đá có hàng dây leo tường vi, ngước nhìn lên trời và nói nhỏ Au revoir mon ami!
14.7.2011
Bastille Day
Lễ Quốc khánh Pháp
DODUYNGOC

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 13

Tôi nghe loa phóng thanh oang oang réo tên Trần Ngọc Dung làm tôi vừa mừng vừa hồi hộp. Tim tôi đập nhanh hơn, người tôi nóng bừng. Lúc đó, tôi không còn suy nghĩ được điều gì khác ngoài việc có giò chạy lẹ về nhà để báo tin cho má tôi hay là …tôi đã thì đỗ vào lớp đệ thất trường trung học Phan Thanh Giản. Không phải chỉ là một vinh dự vì được học ở một trường công lớn của tỉnh Cần Thơ, mà điều quan trọng hơn đối với riêng tôi là má tôi không phải trả học phí suốt bảy năm dài cho một trường tư nếu tôi thi rớt vô trường công.

Tôi chạy như bay về nhà. Nửa đường tôi sực nghĩ đến sự trùng tên: “Rủi có con nhỏ nào cũng tên là Trần Ngọc dung, cũng sanh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm với tôi thì sao?”. Tôi chậm lại. Tôi thầm tự hỏi, trong trường hợp này tôi sẽ phải làm sao? Nhưng chỉ mấy giây sau, tôi nghĩ đến số báo danh. Hai người có thể trùng nhau mọi chi tiết, những chắc chắn không thể trùng số báo danh. Như vậy thì còn sợ là ai khác nữa! Tôi đã bị thất vọng nhiều lần, nhiều hơn số tuổi của một đứa con nít, làm sao tránh khỏi mất tự tin.

Về đến nhà, tôi thấy má tôi ngồi may miệt mài như quanh năm ngày tháng má vẫn làm. Tôi rón rén lén vô sau lưng rút sợi dây điện ra khỏi ổ cắm điện; tức thì máy may ngưng. Má giựt mình quay lại thấy tôi, nhưng tôi không để bà hỏi, tôi vội nói: “Con đậu rồi!”. Bà không nói gì, nhưng vẻ mặt bà tươi lên, đôi mắt sáng ra, với nụ cười mãn nguyện. Tôi choàng ôm lấy lưng má, như để truyền niềm hạnh phúc tôi đang có sang cho bà.

Đó là kết quả của những ngày đêm cặm cụi học thi dưới nhà bếp, ở trường St. Paul, và ở lớp toán đặc biệt của thầy Ù. Những ngày cực hình đã qua. Hè này đi chơi cho thả cửa trả thù.

Mấy chị học trò của má cũng vui lây, giành nhau may áo dài cho tôi. Nhưng tôi lại không tha thiết với việc mặc áo dài, vì cứ nghĩ rằng áo dài chỉ dành cho người lớn, còn mình thì cứ quần cụt bằng kaki cho gọn.

Một lát sau, tôi trở lại trường Phan Thanh Giản, chen chúc trong đám đông các phụ huynh và thí sinh, cố đến gần tám bảng niêm yết danh sách các thí sinh trúng tuyển, để coi cho bằng được tên tôi trên giấy trắng mực đen cho thêm an tâm. Tôi nhẩm đọc đi đọc lại cả chục lần tên Trần Ngọc Dung, sanh ngày 24 tháng 5 năm 1946 tại Long Thạnh, Cần Thơ.

Chị Thuận cũng có tên trên bảng vàng. Điều đó đối với tôi là điều tất nhiên, vì Chị học rất chăm chỉ và thông minh. Chị luôn luôn là một trong ba người đứng đầu lớp. Tôi phục chị lắm, nên đã nghĩ rằng cuộc thi tuyển này đối với chị như ăn cơm bữa. Chị nhắm một con mắt cũng đậu. Trong khi đó, tôi không làm biếng, nhưng ham chơi, cứ vui trước, rồi trả nợ sau. Khi gần đến ngày thi, tôi phải học dồn học ép, mất ăn mất ngủ cả tháng trời. Điều tôi sợ thứ nhứt là làm má tôi buồn, và điều sợ thứ hai là phải học nhồi lớp, mắc cỡ với chị Thuận. Tôi hay thầm vái trời đừng bị học lớp tiếp liên.

Chiều hôm đó, chị Thuận và tôi rủ nhau đi quanh quẩn trong khu trường mới. Tôi nghe lòng vừa bồi hồi vừa hãnh diện. Bồi hồi vì tôi bước vào một giai đoạn mới, tương lai mở rộng trước trước mắt. Hãnh diện vì biết rằng mình không phải là… “đồ bỏ”. Thế là chị Thuận và tôi đã nối gót những người đi trước trong gia đình đã học trường này. Đó là ba của chị Thuận và các cậu.

Hai chị em tôi ngồi trong hành lang của trường, bên cạnh vừơn bông. Từ hành lang này, chúng tôi có thể nhìn thấy nhà mình bên kia đường Võ Tánh.

Chị Thuận là hình ảnh của người con gái dậy thì, dịu dàng và lãng mạn. Chị thích làm thơ và mê đọc sách. Chị mong đến ngày lên trung học để được mặc áo dài và được mang guốc cao gót. Còn tôi lại chỉ mơ được vào ban thể thao để chạy đua, mang giầy Bata trắng như con ông tỉnh trưởng. Tôi mơ được làm trưởng ban thể thao với hy vọng được phụ thầy Trần Ngọc Nhung, dạy lại các bạn cùng lớp.

Trong khi chúng tôi học thi, má tôi hứa, nếu chúng tôi thi đậu sẽ cho mỗi đứa một món quà. Chị Thuận muốn được thưởng cây viết Pilot ở tiệm Hồng Phát. Còn tôi lại mơ được uốn tóc! Chị Thuận hay hát nho nhỏ bên tai tôi “Em ơi nếu mộng không thành thì sao?”. Mộng của hai chị em tôi đã thành. Cho đến ngày nay tôi còn nghe mùi thuốc uốn tóc đâu đây, và cả cái mùi khen khét trên cái đầu nặng trĩu với mây cây kẹp nóng. Tôi chọn uốn nóng vì rẻ hơn uốn lạnh.

Mấy chị học trò của má đều khen cái đầu quăn của tôi. Nhưng mấy ngày sau, khi ông ngoại tôi ra tỉnh để dẫn đám cháu đi mua sắm giấy mực cho ngày tựu trường, và cho chúng tôi đi ăn ở Túy Huế Lầu như mọi năm, thì cái đầu tóc quăn của tôi bị chê liền. Ông ngoại muốn cháu của ông phải giữ “tóc cha mẹ đẻ”. Hôm đó tôi biết tôi sẽ bị ông ngoại giận, nên định lấy khăn trùm kín tóc. Nhưng rồi tôi đổi ý, thử làm gan cho ông thấy cái đầu quăn. Lúc ông xuống xe lôi, bước vô nhà, tôi nhanh nhẹn chạy trước nhứt, khoanh tay chào:

“Thưa ông ngoại mới ra. Cháu thì đậu vô đệ thất rồi, ngoại”!

Trên khuôn mặt hiền từ của ông, nụ cười biến đi ngay khi ông nhìn thấy cái đầu quăn của tôi. Ông bực bội hỏi:

“Được cái đầu quăn mà để ông ngoại buồn, có xứng không”?

“Dạ không”. – Tôi trả lời yếu xỉu.

Ông không tha lỗi cho tôi dễ dàng như vậy đâu. Hôm đó, sau khi đi mua sắm cho các cháu, ông đưa chúng tôi tới tiệm Tuý Huê Lầu. Trước khi ngồi vào bàn, ông nói:

“Ông không ngồi gần mấy đứa đầu quăn đâu nhen”!

Tôi giành ngay cái ghế kế bên ông rồi nhõng nhẽo:

“Mà đầu quăn muốn ngồi kế ông ngoại”.

Chị em tôi cười rộ lên, chỉ có ông không cười thôi. Thò tay vô túi áo bà ba trắng của ông, tôi lấy ra bao thuốc, vấn một điếu rồi nhét vô giữa hai ngón tay của ông để chuộc tội. Mọi người nhìn tôi lắc đầu.

o O o

Từ ngày ở trong bưng biền ra Cần Thơ, năm Đệ Thất của tôi là năm đầu tiên tôi cho phép mình sung sướng, cho phép tôi vui với tuổi học trò, tôi bỏ dần lời hứa “hai năm” của ba tôi! Mấy chị học Đệ Ngũ cho rằng hai lớp Đệ Thất và Đệ Lục là hai năm học sung sướng nhất của tuổi học trò bậc trung học, rồi sau đó mới bắt đầu học hành chăm chú. Hai năm đó bọn tôi vừa là người lớn, vì lớn hơn đám học trò tiểu học, vừa là con nít vì nhỏ hơn mấy anh mấy chị lớp Đệ Ngũ trở lên.

Mới nhập học mà tôi đã có nhiều bạn, đủ thứ bạn. Người bạn là chị Nguyễn Thị Hiệp, trưởng lớp. Chị lớn hơn tôi chừng năm tuổi. Vì chiến tranh, nhiều người bị chậm trễ trong học hành, hoặc phải bỏ học để đi làm sớm, không phải chỉ riêng một mình chị Hiệp. Trong lớp tôi, có sáu chục học sinh đủ mọi lứa tuổi, từ 12 đến 19. Tôi thân với chị Hiệp nên lúc nào cũng kề sát bên chị, đến nỗi chị kêu tôi là “cái đuôi” của chị.

Cũng như ba tôi, ba chị Hiệp là Việt Minh, cùng người Issarak đánh đuổi giặc Tây. Má chị dẫn chị lên Nam Vang, và cho chị học một trường trung học Tây. Do đó, khi trở về Cần Thơ chị nói tiếng Việt không rành, và thiếu nhiều ngữ vựng. Chị phải học lại từ lớp Đệ Thất.

Lần đầu tiên gặp chị, tôi nói:

“Chị nói tiếng Việt như người Miên”!

Chị liền phản ứng:

“Merde, tại sao mày biết? Bộ mày là Miên hả?”

Rồi chị kể cho tôi nghe về ba má chị. Vì mới về Việt Nam, chị chưa hiểu gì về vấn đề an ninh nên không sợ công an quốc gia hỏi thăm.

Chị Hiệp học giỏi, vì đã có bằng trung học Pháp ở Cao Miên, chị thường “cúp cua” giờ Pháp văn và giờ toán. Đó chính là hai môn tôi rất kém. Chị chăm chú nhiều nhất là môn Việt văn. Ngoài ra, chị cũng cố gắng tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán của người Việt để trở lại làm người Việt chánh cống. Tôi thường nói đùa là chị suy nghĩ như một thằng Tây; còn tánh tình chị là tánh nóng của một người Miên, chỉ có máu Việt Nam trong người chị mà thôi. Một hôm, trong giờ Sử, chị không trả lời được câu hỏi của giáo sư. Chờ một hồi lâu, thầy phải cho chị ngồi xuống. Thế là chị xổ ra một tràng tiếng Pháp pha tiếng Miên. Tôi tò mò hỏi chị nói gì với thầy vậy, chị đáp:

“Tao nói: Merde! Tao đương điên cái đầu, nửa thằng Tây, nửa thằng Miên, bây giờ lại bắt tao trả bài của thằng Việt!”

Nói xong, chị gục đầu xuống bàn.

Chị Hiệp và tôi thường học bài chung với nhau, có khi ở nhà chị, có khi ở dưới bếp nhà tôi. Khi chúng tôi đã thật thân rồi, tôi tiết lộ bí mật gia đình tôi cho chị hay. Đó là chuyện ba tôi tập kết ra Bắc. Tôi cứ tưởng chị ngạc nhiên lắm, không ngờ chị lại nói:

“Tao biết rồi, biết từ hồi mới gặp mầy lần đầu kia, nhỏ à”!

Tôi hỏi làm sao chị biết? Có phải chị Thới ở Rạch Ngỗng cho chị biết không? Sở dĩ tôi nghĩ chị Thới, vì chị Thới cũng thuộc gia đình Việt Cộng. Nhưng chị Hiệp chỉ một ngón tay lên trán tôi thân mật đáp:

“Nhớ là tao lớn hơn mày năm tuổi nhen”.

Tình bạn giữa chị Hiệp và tôi vô cùng quý báu. Có một người bạn để tin tưởng và tâm sự ở cõi đời đầy lừa lọc, gian trá và nhiều đe doạ, không phải là dễ kiếm. Tôi đã sống nhiều năm trong cô đơn: có anh, anh đi tập kết; có chị, chị phải đi học xa nhà! Tôi khao khát tình phụ tử, nên càng rất cần có bạn. Chị Hiệp chợt xuất hiện như một vị cứu tinh của tôi lúc bấy giờ. Nhờ chị, tôi đã giành lại chỗ đứng danh dự dưới ánh sáng mặt trời; tôi không còn mặc cảm mồ côi cha. Đã vậy, cả hai chúng tôi cùng hãnh diện vì cha chúng tôi đều là những người yêu nước.

Chị Hiệp không thích nói tới chuyện thời sự. Mấy lần tôi nói chuyện nước non, chị gạt phắt đi. Chị nói:

“Mấy chuyện mắc dịch đó để cho mấy người ta lo; mình lo chừng nào đi vườn Thầy Cầu nè, vườn ổi nè”.

Thế giới của chị Hiệp lúc bấy giờ thật giản dị. Chị học phong tục, tập quán của Việt Nam, nhất là của tỉnh Cần Thơ. Chị gắng trở thành một người Việt Nam… thứ thiệt. Môn chánh là vườn Thầy Cầu, vườn ổi, bánh mì thịt của chú Lý Ngầu ở trong Cái Răng, và mấy anh học lớp Đệ Nhị, Đệ Nhứt. Vì vậy, mới năm Đệ Thất, chị Hiệp đã có bồ. Từ đó, chị không có nhiều thì giờ dành cho tôi. Nhưng mất chị Hiệp, tôi còn bạn khác. Đó là Lê Thị Bạch Tuyết, Nguyễn Thị Mai Bắc Kỳ, Lê Kim Lệ và chị Thuận. Tuyết, Lệ đều là dân “thổ sanh” tại Cần Thơ, nên Mai đối với chúng tôi là một người bạn vừa lạ, vừa vui tươi, vừa mới toanh. Mai là dân Bắc Kỳ di cư từ Hà Nội vô. Nhiều lúc giờ chơi, Tuyết và tôi kêu Mai là “Mai Bắc kỳ”. Mai không giận mà còn hãnh diện mình là “Bắc Kỳ” nữa. Mai hay trêu chúng tôi bằng cách kéo dài hai chữ “mình ên” theo giọng Nam.

Mai và gia đình di cư vào Nam năm 1954. Ba của Mai đã qua đời, chỉ còn mẹ. Chị cả của Mai là chị Thái Lan, rồi đến các anh Tuyến, Khuyến và ba người em là Minh Thu, Toàn và Hạnh. Lúc mới vào Nam, gia đình Mai ở Sài gòn. Khi chị Thái Lan bỏ về Ô Môn dạy học, cả gia đình đi theo chị. Với đồng lương nhỏ nhoi của một cô giáo tiểu học, chị Thái Lan nuôi một bầy em nhỏ. Người Nam lúc bấy giờ còn kỳ thị dân di cư, nhưng hàng xóm ai cũng thương gia đình của Mai. Ông thầy giáo Chín ở đầu hẻm gần nhà Mai tỏ ra mến phục chị Thái Lan lắm. Ông nói với má tôi:

“Tội nghiệp cô giáo Bắc Kỳ, một mình nuôi mẹ và một bầy em phá gạo. Bà già có tướng sang, chắc cũng là gia đình khá giả ở Bắc”.

Thái Lan không những là người con hiếu thảo, người chị yêu thuơng các em, mà còn là người có nhan sắc. Trong chị như một đoá hoa Lan mầu tím. Quanh năm suốt tháng chị Thái Lan mặc áo dài mầu tím.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Mai và tôi không hứa hẹn một tình bạn thân thiết. Cho đến ngày hôm nay, tôi chưa quên ngày nhập trường. Lòng dạ tôi vừa nôn nao hồi hộp, vừa sợ sệt, mến phục mấy chị các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ. Khi chúng tôi còn chờ đợi giờ vào lớp, bạn cùng lớp nói với tôi:

“Có con nhỏ Bắc Kỳ bên 7z giống mày lắm. Mới đầu, tụi tao tưởng mày đi lộn lớp”.

Tôi cười:

“Trên đời này chỉ có một Trần Ngọc Dung thôi”!

Tuy nói vậy, tôi cũng tò mò muốn biết mặt “con nhỏ Bắc kỳ” kia có thật giống tôi không? Giờ ra chơi, tôi chạy qua lớp 7z. Quả thật, tôi thấy con nhỏ đó giống tôi lắm; đến mái tóc cũng giống hệt tôi. Thiệt kỳ lạ! Tôi đứng ngoài cửa lớp nó một lát rồi ngoắc kêu nó ra. Lúc đầu, tôi thấy nó có vẻ hơi kiêu ngạo. Cặp mắt nó sáng long lanh, có vẻ tinh nghịch, lém lỉnh. Nụ cười ngây thơ nhưng duyên dáng với hàm răng trắng, đều dặn của con gái “Bắc kỳ” đã thu hút tôi. Tuy nhiên, cái vẻ thờ ơ, lạnh nhạt của nó làm tôi bực mình.

“Chị xuống đây lâu chưa?” Tôi hỏi trước.

“Năm năm”. Mai trả lời với giọng Bắc xa lạ.

Thật khó tin. Nếu tôi có người em song thai ở Cần Thơ năm năm, thì tôi phải biết nó từ lâu rồi.

“Năm ngoái chị học ở đâu?” Tôi hỏi.

Mai cho biết là nó học ở một trường tiểu học trên Sài gòn mà tôi không biết nơi đó. À, thì ra nó nói nó vô Nam năm năm chớ không phải “xuống” Cần Thơ 5 năm. Thấy nó có vẻ làm phách, tôi định không thèm làm quen với nó nữa. Nhưng khi nhìn kỹ mặt nó, tôi không đành quên nó, vì nó giống y tôi. Tôi đành miễn cưỡng hẹn nó:

“Giờ chơi kế tụi mình gặp nhau nhen”.

Mai liền trả lời:

“Giờ tan học.

Lời hứa của Mai làm tôi vui trở lại. Thế là từ chiều hôm chúng tôi thường gặp nhau sau giờ học. Dần dần, chúng tôi thành một đôi bạn thân, đi đâu cũng có nhau, như hình với bóng.

Nhà của Mai ở trong hẻm đường Võ Tánh, nhìn xéo qua trường nam tiểu học. Nhà tôi không xa nhà Mai mấy, nên hàng ngày tôi và chị Thuận đứng chờ nó trước cửa để cùng đi tới trường.

Sự thân thiết của chúng tôi giúp chúng tôi quên đi hoàn cảnh nghèo túng của cả hai gia đình. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi cười đùa vui vẻ như bài hát Summer Time mà tôi thường đàn cho Mai hát: “My daddy is rich and my mommy is good looking”. Chúng tôi cùng yêu âm nhạc, cùng là học trò giỏi của thầy Phan Thanh Thư. Tôi là người duy nhứt trong trường được nghe tiếng hát thuỷ tinh đó, vì Mai không bao giờ cho ai nghe tiếng hát của Mai.

Chúng tôi không có tiền đi coi hát bóng thường như chị em của Lê Thị Bạch Tuyết, nhưng hễ có dư đồng nào là xài hết ở hai nơi: một là tiệm sửa xe đạp; hai là nhà sách Văn Nhiều. Chúng tôi chỉ mua sách học và sách nhạc. Ngày cả khi không có một xu dính túi, chúng tôi cũng tới nhà sách Văn Nhiều, la cà cả tiếng đồng hồ. Ông chủ nhà sách là cậu Hai Văn Nhiều, bạn hồi nhỏ của má tôi, nên cậu biết tôi là con của “cô Tám”. Thỉnh thoảng đem cho sách chúng tôi. Nhưng có một người trong tiệm sách ghét chúng tôi lắm, vì chúng tôi cứ bắt anh lấy sách cho coi, hết cuốn này tới cuốn kia, rồi trả lại mà không mua. Yêu sách thì yêu lắm, nhưng tiền đâu mà mua hết những cuốn mình muốn. Coi cọp Văn Nhiều rồi lên Cái Khế mướn sách để coi tiếp tục. Chị Thuận nhiều tiền hơn tôi và Mai, nên chị mua sách, coi xong cho tôi và Mai mượn, với điều kiện là không được bẻ góc sách. Chị Thuận cưng sách lắm.

Mai nhớ Hà Nội nên thường nhắc đến Hà Nội với một giọng tự hào, như tôi hãnh diện về Cần Thơ của tôi.

“Gia đình tao tạm ở đây thôi, khi nào hết cộng sản tao trở về Hà Nội”.

Đó là lời chân thật của người bạn thân, nhưng tự ái của tôi cũng bị tổn thương, vì tôi vẫn nghĩ ở trên cõi đời này không có nơi nào đẹp bằng Cần Thơ, thanh tịnh bằng Cần Thơ và không có ai tử tế bằng người Cần Thơ. Vậy mà con nhỏ Bắc Kỳ này cứ đòi về Hà Nội là tại sao? Hà Nội nghèo nên người ta mới ăn cá rô cây mà!. Dù bị chạm tự ái, tôi vẫn thương Mai lắm, nên tôi giấu kín ý nghĩ đó.

Rồi mấy chục năm sau xa quê hương, tôi lại có tâm trạng của Mai hồi ấy. Một hôm, cùng chồng ngồi ngắm trăng, tôi đã nói:

“Trăng Cần Thơ sáng hơn trăng Hawaii”.

Một hôm khác, vợ chồng tôi ngồi trên cầu tầu ở Monterey Bay, California, chờ xem mặt trời lặn như hàng ngàn, hàng vạn người Mỹ khác đã từng làm để thưởng thức cảnh đẹp của quê hương họ. Vậy mà trên đường về nhà, tôi lại nói: “Trời chiều ở Cần Thơ đẹp hơn ở đây”.

Thì ra “không đâu đẹp bằng quê hương”. Buổi chiều trên đất vườn của ông bà ngoại tôi đều im lặng, như để dọn đường cho mặt trời đi ngủ. Nhưng trước khi lặn hẳn, mặt trời Cần Thơ có một vẻ huy hoàng đặc biệt, mà tôi cho rằng không đâu có. Không bao giờ tôi quên được những buổi chiều vàng trên cánh đồng yên tĩnh ở Bang Thạch. Tiếng mấy con ễnh ương tình tứ gọi nhau để đi ngủ với mặt trời. Tôi nhớ tiếng gà gáy khi trời vừa thức giấc vẫn vang động trong tâm hồn tôi, một kẻ sống xa quê hương cả nửa trái đất.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 12

Mỹ viện trợ Việt Nam, gởi cố vấn Mỹ qua càng ngày càng nhiều. Những ngôi nhà rộng lớn cất hồi thời Pháp thuộc, bấy giờ chủ nhà sửa sang lại cho Mỹ mướn. Gia đình tôi có biết chú Tư là người trước kia theo Việt Minh. Hết giặc, chú về thành làm ăn lương thiện để nuôi vợ, nuôi con. Thím Tư có sạp bán cá ở chợ Cần Thơ, còn chú làm nghề thợ mộc cho hãng cây ở gần cầu Xéo. Hãng mộc trúng thầu sửa dẫy nhà gần phòng mạch bác sĩ Thuấn. Chú Tư tới sửa nhà cho hãng thầu không đầy hai ngày thì bị bom nổ, chết tại chỗ khi chú đang cưa cây. Người dân vô tội chết vì miếng cơm manh áo. Chú Tư chết, nhưng việc sửa nhà cho Mỹ mướn vẫn được tiến hành. Rồi người Mỹ cũng dọn vô ở. Họ mướn người Việt giữ an ninh cho họ. Việt Cộng bắt người vô tội hy sinh tánh mạng để dằn mặt người Mỹ, và chống đối sự tham chiến của quân đội Mỹ.

Lúc đó tôi còn nhỏ quá, nên không có ý kiến gì về cuộc chiến này. Dĩ nhiên tôi cũng muốn gia đình tôi được đoàn tụ, không nghĩ tới kẻ thắng người bại, mà chỉ mong cho hai bên ngưng bắn giết lẫn nhau.

Những người theo Việt Cộng tuyên truyền “Mỹ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam”, nhưng tôi lại thấy người Mỹ đem ánh sáng văn minh tới cho người Việt. Chỉ riêng trong tỉnh Cần Thơ, tôi đã thấy các Hội thiện nguyện Mỹ giúp xây cất công viên. Mấy cái ghế đá ở bến Ninh Kiểu đều có dấu tích của tổ chức CARE với hai bàn tay nắm lấy nhau. Họ xây cầu, sửa đường lộ, mở rộng, cất thêm trường học, chủng ngừa cho học sinh. Mức sống của người dân từ thành thị đến thôn quê được thoải mái hơn qua những chương trình viện trợ này. Trong khi đó, ban đêm Việt Cộng lại đặt mìn phá bỏ những công trình này để đưa đời sống người dân trở lại tối tăm, u ám như những hang hố họ đào cho họ.

Tôi không muốn cũng không đòi hỏi gì ở người Mỹ. Họ muốn gì? Họ sẽ làm gì tới dân tộc Việt Nam? Họ có xúc phạm tới nền văn hoá cổ truyền của người Việt không? Nhiều người tự nhận là đồng chí hoặc bạn của ba tôi cảnh giác chúng tôi là Mỹ sẽ xâm lăng Việt Nam như Tây đã làm hồi thế kỷ trước. Do đó, tôi phải có trách nhiệm cộng tác với họ để chống lại cuộc xâm lăng của Mỹ. Nhưng tôi là một đứa con nít cứng đầu, không tin những lời tuyên truyền đó. Tôi cũng không tin ai hết, tôi muốn tự mình nhận xét coi ai thật sự yêu nước, và ai đang hại dân. Tôi khi dễ những hành động phá hoại của Việt Cộng. Tôi hãnh diện về dân tộc mình, nên không muốn bất cứ ai nhảy vào Việt Nam. Mỹ hay Nga đều là ngoại bang, làm gì có chuyện họ thương xót dân mình. Tôi tin rằng khi có hoàn cảnh thuận tiện, khi người dân có quyền tự chủ và tự do, Việt Nam sẽ vươn lên sánh vai với các nước văn minh trên thế giới, không thua kém ai.

Tôi không tin Hoa Kỳ với truyền thống dân chủ lại đem quân xâm chiếm một nước nhỏ bé, xa xôi, cách nhau cả một đại dương. Vào cuối chiến tranh thế giới thứ hai, chính Tổng Thống Roosevelt là một trong các lãnh tụ thế giới chủ trương khuyến khích các nước thực dân như Pháp, Bỉ, Hoà Lan… nên trả lại độc lập cho các thuộc địa mà họ đang cai trị. Vậy thì không lẽ ngày nay Mỹ lại đi ngược với trào lưu mới của thế giới. Tôi nghĩ rằng dân Mỹ không thể quên lời nói bất hủ của Tổng Thống Abraham Lincoln: “Stand with anybody that stands right. Stand with him while he is right and part with him when he goes wrong”. Chủ nghĩa cộng sản là phi nghĩa, là làm trái lòng dân. Đứa nhỏ như chị em tôi đã hiểu như vậy rồi, tại sao những người biết yêu nước lại bị mê hoặc vì cái thuyết này. Tôi ví họ như những người theo đạo khùng, như mê tín dị đoan.

Ba tôi đã làm tròn bổn phận của một người cha đối với chúng tôi, ông dậy chúng tôi yêu quê hương, yêu dân tộc Việt Nam. Tôi tin tưởng ở người, tôi hãnh diện được làm con một nhà cách mạng, người đã hy sinh đời sống cá nhân của mình để tham gia cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Nhưng bước qua thập kỷ 1960, Việt Minh chỉ còn là một bóng mờ của dĩ vãng. Trên thực tế, Mặt trận giải phóng miền Nam mới được thành lập sau cuộc “Đồng Khởi”. Mặt Trận chỉ là một cánh tay vươn dài của Cộng sản Hà Nội mà thôi.

Bên này của con sông Bến Hải là Chánh phủ của ông Ngô Đình Diệm. Hồi còn học tiểu học, học trò chúng tôi thường phải đứng hai bên đường từ cầu Cái Khế tới đại lộ Hoà bình để đón chào Tổng Thống khi ông xuống thăm Cần Thơ. Chờ đợi từ sáng cho đến trưa, tay cầm cờ, lòng nôn nóng, bụng đói, khát nước. Một hôm một ông cán bộ Việt Cộng lớn tuổi, tôi kêu bằng chú, đánh đố đám con nít chúng tôi xem có đứa nào can đảm dám nhổ nước miếng vô mình Tổng Thống, khi ông xuống xe nhận hoa do học trò choàng cho ổng không? Sau một hồi suy nghĩ, tôi trả lời ông:

“Tôi là con ông Đặng Văn Quang chớ không phải vừa ở lỗ nẻ chui lên, nên không ngu dữ vậy đâu, chú”.

Chị Yvonne vội lấy tay bụm miệng tôi lại, rồi bắt tôi xin lỗi. Tôi đã không xin lỗi, mà còn nói thêm:

” Chú hy sinh con của chú đi, chớ cháu có huy chương rồi”!

Ông giận tái mặt, hỏi:

” Cháu làm gì mà được huy chương”?

Tôi vênh mặt đáp: ” Cháu sống ở rừng U Minh mấy năm mà không bị ai kêu là quân rừng, vì quân rừng mới ngu đi nhổ nước miếng vô mình người mà phe quốc gia coi như ông trời!

Tối hôm đó, chị Yvonne kể lại cho dì Bảy nghe câu chuyện tôi trả môi trả miếng ông cán bộ. Tôi bị dì Bảy cho là “đồ khó bảo”, không kính trọng người lớn, làm mất mặt ba tôi, mất mặt dì. Dì còn cấm không cho tôi về vườn nữa. Tôi tủi thân việc không được dì binh vực, mà dì còn nghe lời chị Yvonne, rầy tôi trước mặt mọi người làm tôi mất mặt. Tôi khóc lóc, giẫy giụa, ói mửa cho đã giận. Khi đã hết khóc, tôi làm bộ rên rỉ cho cả nhà sợ một phen. Chị ba Hồng Nga dẫn tôi ra sau vườn vỗ về.

Ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã hiểu những lời tuyên truyền lừa dối của cộng sản là mị dân. Họ hứa hẹn sẽ chia cho tá điền nghèo ruộng đất mà họ tịch thâu của chủ điền giầu. Những dân nghèo tin Việt Cộng, nghèo là phải, vì họ là những người khờ dại hoặc tham lam, làm biếng, không có tinh thần tự lập.

Giữa năm 1954, hơn 800 ngàn người Bắc di cư vào Nam sau Hiệp định Genève. Họ là những người cần cù, đáng làm gương cho những kẻ làm biếng. Sự chọn lựa “đi Nam” của họ là một sự chọn lựa mạo hiểm nhưng khôn ngoan. Họ đã dám lìa bỏ quê cha, đất tổ để vô Nam tìm tự do, tìm cuộc sống thoải mái, hơn là ở với cộng sản. Trong khi đó, chỉ có chừng khoảng 180.000 người Nam tập kết ra Bắc. Nhân chi sơ, tính bổn thiện, cho nên lúc đó tôi chưa biết kỳ thị “Bắc kỳ di cư”. Tôi còn hãnh diện vì có nhiều người Bắc kỳ chọn Cần Thơ là quê hương thứ hai của họ.

Giữa đường Võ Tánh, từ nhà tôi tới trường nam tiểu học có một cái nhà ngói đỏ. Sáng nào đi ngang, tôi cũng đứng lại nhìn thật lâu. Sao mà giống cái nhà ở Ong Vèo vậy, dù bốn cái cột trước nhà không phải bằng gỗ mun! Tôi nói với má tôi về cái nhà này, nhưng má không tin, vì hồi ở Ong Vèo tôi mới có 5 tuổi, làm sao mà nhớ được. Nhưng má cũng đi coi, rồi công nhận tôi nhớ dai. Tôi còn nhớ chính tôi tiếp chị Hiển giăng một cái võng trước nhà, giữa hai cây cột mun. Ba tôi thường đưa Hải Vân ngủ trên cái võng đó. Những kỷ niệm êm đềm ấy, làm sao tôi quên được. Có thể đây là lần đầu tiên ở Cần Thơ, má tôi và tôi nhắc đến Ong Vèo, nhắc đến ba tôi, và những ngày vui ở đó.

Từ ngày em Minh Tâm tôi bị bịnh, hầu như không bao giờ má tôi cười nữa. Nhưng khi tôi nhắc tới Ong Vèo, má tôi sẽ say sưa kể lại những kỷ niệm cũ, cứ một điều “ba con” hai điều “ba con” như một người vợ trẻ nhắc đến chồng.

Trong tiệm may Mỹ Dung, chúng tôi không có những giờ phút riêng tư. Cuộc sống chung chạ với các chị học may làm gia đình tôi mất đi phần nào tự do. Tôi không dám nhắc tới ba tôi trước mặt mọi người, vì ai cũng tin là ba tôi mất tích.

Dù còn là con nít, tôi quen nhiều người trên đường Võ Tánh. Vì vậy, những chuyện xảy ra trên con đường này, vui buồn cũng như những đổi thay, tôi đều biết. Một hôm, có người cho tôi biết ông chủ của căn nhà số 18 trên đường Võ Tánh là một ông cai tù sắp phải đổi ra Phú Quốc, nên muốn bán căn nhà đó trước khi khi đến nhiệm sở mới. Tôi về cho má hay. Vì muốn ở căn nhà đó, tôi “tán” má:

” Má à, có khi mình dọn vô nhà này mình gặp hên đó, má… Nó giống y như cái nhà hồi đó mình ở với ba. Không chừng khi mình ở nhà này ba với anh Khôi về.

Nghe tôi nói, má chỉ cười, nhưng cũng bằng lòng đi coi căn nhà ông cai ngục. Rồi má quyết định mua căn nhà đó, không phải vì lời tán tỉnh của tôi, mà vì má muốn được sống thoải mái hơn. Má bán tiệm may Mỹ Dung cho một người làm nghề giặt ủi, cho học trò về nhà nghỉ xả hơi hai tuần, trong khi chúng tôi dọn tới nhà mới. Nhà có sân trước thật rộng, nên má mướn người sửa cái sân đó thành một tiệm may. Khi tiệm mở cửa lại, tôi vẫn còn giữ sổ sách.

Vì sửa nhà quá tốn kém, má tôi thiếu tiền để trả nốt cho người bán, mà đã đáo hạn. Má sai tôi về vườn xin phép bà ngoại cho tôi bán đôi bông, hai chiếc vòng đeo tay, và sợi dây chuyền mà bà cho tôi. Má tôi thì luôn luôn coi những gì ông bà cho đều là bảo vật, là kỷ niệm quý báu. Riêng tôi, tôi cho những đồ vật đó chỉ là những của cải vật chất, không cần thiết, vì tôi có đeo nó bao giờ. Kỷ niệm đối với tôi là nụ cười vị tha, hiền hoà của bà, là bàn tay bà vuốt mái tóc che hai con mắt của tôi: “Tóc dài sao con không hớt?”. Bà thường hỏi tôi: “Có nghe chừng nào ba con về không?”. Còn bảo vật đối với tôi là tình yêu vô bờ bến của ông bà.

Chiều chúa nhựt, tôi đem vàng ra bán cho tiệm kim hoàn Mỹ Trang ở bến Ninh Kiều để có tiền trả cho ông chủ nhà.

Get your claws off our food! Terrifying moment cannibalistic robber crabs invade family camping trip on remote Australian island

By Claudia Poposki for Daily Mail Australia

Published: 22 September 2020 

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

  • Một gia đình trên đảo Giáng Sinh đang cố gắng thưởng thức bữa tiệc nướng mùa xuân
  • Tuy nhiên, mùi thức ăn đã thu hút đàn cua ‘cướp’ khổng lồ
  • Cua khổng lồ có thể sống tới 50 năm và được coi là ‘người khổng lồ hiền lành’
  • Chúng là loài ăn ngon nhưng được bảo vệ ở Úc như một loài có nguy cơ tuyệt chủng

Một gia đình đang cố gắng thưởng thức bữa tiệc nướng cắm trại mùa xuân trên một hòn đảo bình dị của Úc đã nhận được nhiều hơn những gì họ mong đợi khi nhanh chóng bị bao vây bởi hàng chục con cua cướp khổng lồ.

Loài giáp xác có vẻ ngoài hung dữ, còn được gọi là cua dừa, dài tới một mét và có khứu giác rất mạnh.

Khi gia đình vô tình thưởng thức bữa tiệc nướng ngoài trời trong khi cắm trại trên đảo Giáng sinh biệt lập, ngoài khơi phía Tây Bắc xa xôi của Tây Úc, những con cua đã tụ tập xung quanh họ để tìm kiếm thức ăn.

Những bức ảnh chụp tiệc nướng cho thấy hơn 20 con cua dừa đang chờ đợi cơ hội để ăn nhẹ một ít thức ăn thừa.

Winter McKendrick, con gái của một trong những gia đình khác trong chuyến đi, trông không hề bối rối khi những con cua khổng lồ vây quanh cô khi cô ăn bữa tối trên chiếc ghế xếp.

Bữa tối cắm trại nhóm trở thành thử thách kinh hoàng khi cố gắng tránh xa 52 tên cướp cua

Một loạt các bức ảnh tuyệt vời về bữa tiệc nướng cho thấy hơn 52 sinh vật móng vuốt đang háo hức chờ cơ hội để ăn nhẹ những thức ăn thừa.

Winter McKendrick, con gái của một trong những gia đình khác trong chuyến đi, trông không hề bối rối khi những con cua khổng lồ vây quanh cô khi cô ăn bữa tối trên chiếc ghế cắm trại gấp lại được.

Một con cua dũng cảm được chụp hình đang leo lên cạnh bàn để tiếp cận bữa ăn của gia đình dễ dàng hơn.

 Amy Luetich và gia đình cô ấy đã sống trên Đảo Giáng sinh được vài năm và đang cắm trại cùng một số gia đình khác ở Grants Well, nằm trong khu rừng rậm của hòn đảo.

Bà Luetich nói với Daily Mail Australia: “Chúng tôi đã cắm trại ở khu vực đó một vài lần và chưa bao giờ thấy nhiều tên cướp đến vậy”.

Cô cho biết khi họ đến nơi, có 20 hạt dưới gốc cây đã bắt đầu gieo hạt.

‘Nhưng ngay khi chúng tôi bắt đầu nấu ăn, chúng đã vây quanh chúng tôi. Con trai tôi đếm được 52 con”,

Một con cua dũng cảm đã được nhìn thấy đang leo lên cạnh bàn để dễ dàng tiếp cận bữa ăn ngon được trưng bày hơn

Một trong những con cua được phát hiện đã trèo lên trên vỉ nướng mà nhóm đang sử dụng

‘Công việc của anh ấy là nhặt chúng lên và di chuyển chúng ra khỏi nơi chúng tôi đang ăn. Anh ấy yêu nó.

Cô cho biết vì họ đã sống trên đảo Giáng sinh một thời gian nên đã quen với việc nhìn thấy lũ cua cướp.

Bà Luetich kể: “Sau đó, họ bắt đầu trèo lên bàn và một người khác trèo lên vỉ nướng”.

‘Chúng tôi để lều cách xa nơi chúng tôi ăn uống, nhưng một trong những gia đình cho biết cả đêm họ có thể cảm thấy có tiếng gõ nhẹ vào bên ngoài lều của mình.’

Cua cướp được đặt tên vì thói quen lấy vật lạ từ khu cắm trại

Cua cướp là loài giáp xác trên cạn lớn nhất thế giới và nhiều người coi Đảo Giáng sinh là nhà.

Chúng có thể nặng tới bốn kg và rộng một mét.

Một số có thể sống tới 50 tuổi.

Cua cướp là loài ăn ngon và được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương, nhưng chúng là loài được bảo vệ ở Úc và không thể ăn được.

Cua cướp sàn kiếm ăn những thứ như hạt giống và trái cây.

Cua cướp lớn hơn được biết là ăn thịt những con nhỏ hơn.

Cua dừa là loài leo trèo đặc biệt và di chuyển rất nhanh khi tìm kiếm thức ăn.

Tên của nó xuất phát từ xu hướng lấy vật thể lạ và bỏ chạy cùng chúng.

Cua cướp có họ hàng gần với cua ẩn sĩ và sử dụng vỏ sò hoặc dừa để bảo vệ cho đến khi bụng chúng phát triển cứng.

Những người lái xe trên đảo Giáng sinh được yêu cầu ‘giảm tốc độ và lái xe vòng quanh’ những con vật như thể chúng bị ô tô đâm có thể bị giết.

Những hình ảnh được chia sẻ trên trang Facebook du lịch Đảo Giáng Sinh.

‘Cướp cua cư xử tồi tệ! Một vài gia đình địa phương ở Đảo Giáng Sinh đã có thêm vài miệng ăn để đi dự tiệc BBQ vào cuối tuần”, chú thích viết.

‘Gua dừa có khứu giác cực kỳ tốt và đối với những sinh vật di chuyển chậm, chúng chắc chắn sẽ di chuyển nhanh chóng khi có thức ăn xung quanh.’

Những người theo dõi trang này đã nhanh chóng bình luận về bài đăng, trong đó nhiều người kể lại trải nghiệm của chính họ.

‘Một đêm nọ, bọn này đã đánh mất một chiếc giày thể thao. Không tìm được con cua cướp một chân’, một người nói đùa.

Một người khác nói: “Chúng giống như những chú chó con vậy. Chúng tôi đi chơi trên bãi biển Dolly cho chúng ăn dừa. Rất dễ thương!’

Những người khác lại không hào hứng lắm với khả năng rơi vào hoàn cảnh của gia đình.

“Điều này khiến tôi cảm thấy không thoải mái”, một người nói.

Đảo Giáng sinh có số lượng cua cướp lớn nhất thế giới.

Cua cướp ăn rất ngon, có vị giống như sự kết hợp giữa cua bùn và tôm hùm. Nhưng trong khi chúng được coi là món ngon có tác dụng kích thích tình dục trên khắp Thái Bình Dương thì chúng lại là loài được bảo vệ ở Úc và không thể ăn được.

Du khách được cảnh báo rằng mặc dù loài giáp xác ngoan ngoãn nhưng chúng có thể di chuyển nhanh chóng khi cảm nhận được thức ăn.

Khách du lịch được yêu cầu treo thức ăn của họ lên cây và luôn để mắt đến nó – đặc biệt là trên Bãi biển Dolly.

Các tài xế qua khu vực cũng được yêu cầu chạy chậm để không cán cua.

Người Úc sống ở WA có thể đến thăm Đảo Giáng sinh bất chấp lệnh cấm du lịch trên khắp đất nước.Khách du lịch được cảnh báo rằng cua cướp được ‘bảo vệ và tôn trọng’ trên đảo.

Cua cướp không phải là loài giáp xác duy nhất sinh sống ở Đảo Giáng sinh – ước tính có khoảng 25 triệu con cua đỏ

Cua cướp là loài giáp xác trên cạn lớn nhất thế giới và nhiều người gọi Đảo Giáng sinh là nhà

Đảo Giáng sinh được chuyển quyền sở hữu từ Singapore sang Úc vào tháng 10 năm 1958

Đảo Giáng sinh được chuyển quyền sở hữu từ Singapore sang Úc vào tháng 10 năm 1958.

Hòn đảo này được sử dụng làm trung tâm giam giữ ngoài khơi từ năm 2016 và đã bị đóng cửa trong một thời gian ngắn.

Gia đình Biloela người Sri Lanka đang ở trong cơ sở này,

Tuy nhiên, Đảo Giáng Sinh còn nổi tiếng với đời sống hoang dã tuyệt đẹp.

Hòn đảo này là nơi sinh sống của 25 triệu con cua đỏ, chúng sống trên đất liền cho đến khi di chuyển ra biển để sinh sản và sau đó con non quay trở lại đất liền.

Cá mập voi cũng là nét đặc trưng của hòn đảo vào thời điểm này trong năm.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Giăng lưới bắt tôm

Đặng Chí Bình

Bài 24

Đã chiều muộn, tôi từ giã anh chị Đạt để về nhà, chuẩn bị đi trình diện CA. Về đến nhà, ngạc nhiên, tôi thấy một chiếc xe đạp dựng khóa phía ngoài cửa, thì ra anh chàng Lê Văn Bưởi, cũng là điệp viên ra Bắc cá lẻ như tôi (Thép Đen III). Anh bị án 20 năm, nhưng lại được về trước tôi. Anh ở trên khu Đắc Lộ; tôi và anh đã gặp nhau một lần, giống như anh Bạch. Anh Bưởi đang sống nhờ, tạm trú một gia đình có cái xưởng lán làm gỗ, anh sống lai rai giúp việc nhà cho một người, còn có chút tấm lòng bao dung những kẻ khốn cùng.

Ngoài những chuyện bình thường, anh ghé vào tai tôi thì thầm: “CIA đã bắt mối liên lạc với anh, có thể họ sẽ đón anh đi một ngày gần đây”.

Hoàn cảnh của tôi như một người sắp chết đuối, không có điều kiện nào để bơi nữa, thấy bất cứ vật gì nổi cũng đều bám, hy vọng sống được.

Một chút mặc cảm vấn vít vào vị thế nhỏ bé của mình, anh Bưởi đã tâm sự với tôi từ buổi đầu gặp nhau ở phân trại E, phố Lu Lào Cai 1968. Anh là loại tình báo chiến lược, loại cấp cao của VNCH. Mình chỉ là loại tép riu chiến thuật, nên Mỹ đâu có để ý gì đến! Lòng nghĩ như thế, nhưng cuộc sống của tôi bị nhiều dồn ép, nghẹt thở quá nên tôi đã xuống nước, nói với anh Bưởi:

– Nếu anh đi được, nhớ đừng quên tôi đang bơi lội, trong sình lầy nhé!

Anh Bưởi nhìn tôi với ánh mắt chia xẻ:

– Bình yên tâm, tôi không thể quên Bình đâu!

Tuy nghe anh Bưởi nói thế, nhưng đầu tôi lại lóe lên một ý:

Biết đâu, đây chỉ là một đòn hiểm của CS? Mình là loại do áp lực của Quốc Tế, của dư luận. CS thả về để làm chiếc loa “không công” cho CS, chứ cộng sản không tha do thực lòng họ. Như vậy sớm muộn, nó sẽ cố tìm cớ để bắt lại, hoặc sẽ tạo điều kiện, bầy ra một hình thức khác, để bắt mình về tội hình sự. Có khi còn làm mai một hết những năm tháng tù đày, về chống Cộng Sản của mình. Nghĩ như thế, tôi quay lại tỏ ra bình thường nói chuyện, hơi một chút trầm trồ:

– Làm sao anh lại biết đấy là đường dây của CIA? Họ là loại người nào? Họ đến với anh ra sao?

Anh Bưởi đã biết tôi, không có cơ sở thì làm sao tôi tin, mắt anh liếc nhìn hai phía, rồi ngồi gần lại tôi:

– Là một anh Xích-lô bình thường, họ còn hỏi tôi: Cuộc sống có khó khăn lắm không? Có thể lần gặp tới, họ sẽ cung cấp một hai cây vàng!

Tôi hỏi liền:

– Khi nào lần gặp kỳ tới?

– Sáng thứ Tư này!

Vì có chủ trương nên tôi hỏi rõ:

– Mấy giờ và ở đâu?

-10 giờ sáng ở bùng binh, chợ Bến Thành!

Để biết rõ sự thật, và cũng để một con mắt cho sự việc của anh Bưởi có an toàn không? Ngày mai tôi sẽ ngoan ngoãn đi làm tổ mành trúc, chiều mai (Thứ Ba) sẽ báo cáo ông Bàng, tôi xin đi khám bệnh nơi một ông lang trên Ngã Bẩy sáng thứ Tư, tôi sẽ đi làm buổi chiều.

Hôm sau tôi dậy thật sớm, từ 6 giờ, tôi đã có quán tính, nếu không làm thì thôi, nếu đã định làm thì đừng tiếc công, dù có thiệt thòi hay mệt nhọc hơn, tôi chấp nhận. Để đạt những điều mình muốn, để không than trách tiếc nuối bỏ lỡ công việc này do mình lười, lỗi chính do mình.

Tôi tính anh Bưởi có hẹn 10 giờ, có thể anh Bưởi từ nhà đi sớm từ 9 giờ, nhỡ đi việc khác nữa, anh rời nhà ngay 8 giờ sáng thì sao? Vậy phòng hờ cao, là 7 giờ tôi đã có mặt ở phía trước cửa nhà anh rồi.

Tôi đứng từ một chỗ xa, cách cái cửa lán mộc nơi anh Bưởi đang ở hơn 100 mét. Trong một chỗ khuất nẻo thuận tiện, để nếu anh Bưởi ra, tôi phải biết. Lấy một nắm cơm nếp đã từ hôm kia cô Xuân mang biếu thầy mẹ, chưa ăn hết trong túi. Miệng nhai miếng cơm nếp vừa cứng, vừa hơi có mùi, mắt nhìn lên bầu trời sớm mai của khu Đắc Lộ. Mãi phía Tây, phía có dòng sông Sài Gòn, hơn một chục con hải âu, hay vịt trời cứ vòng quanh chao đảo đuổi nhau, không hiểu chúng đùa vui, hay đang săn đuổi bắt những côn trùng trong không khí?

Mặt trời còn chưa bò dậy mà da trời đã như một cánh buồm xanh mát mắt, chỉ có ba cụm mây nhỏ trăng trắng, cảm tưởng như một bà tiên vừa bưng một rổ bông gòn đi qua để vương vãi. Nếu ở gần, tôi chẳng tiếc công, đến nhặt hết cho cái màu xanh dịu êm ấy, nó êm dịu hơn.

Mãi 9:15 anh Bưởi, mới xách chiếc xe đạp đàn ông (chắc mượn của anh chị chủ nhà) lò cò trong cổng đi ra. Tôi giữ một khoảng cách, tùy theo trên dưới hàng trăm mét, trong dòng người ngược xuôi mỗi lúc càng đông. Tôi không để mất “con mồi” là anh Bưởi, và cũng không để anh Bưởi biết là tôi đang theo anh. Bất chợt tâm tư của tôi lại trở về với tháng Năm, tháng Sáu ở Thăng Long thành 1962. Tôi lại là “con mồi” và thường có năm cái đuôi của phản gián CS đi theo. Khác nhau hoàn toàn về ý nghĩa, bây giờ tôi lại đang dõi theo một đồng chí, một người bạn của tôi. Điệp viên về vườn, theo dõi một điệp viên hết thời. Vì muốn biết sự thật và cảnh giác cho bạn mình, cũng là cho mình. Từ hè của một ngôi nhà có cửa vòm phía gần rạp ciné Lê Lợi ngày xưa, tôi nhìn ra anh Bưởi đang ngồi một mình hút thuốc, trên chiếc ghế ciment ở công viên Quách Thị Trang. Từ 10 giờ kém 10, tinh thần tôi căng thẳng hơn vì điều tiết của mắt. Cả một hiện trường rộng với đầy người, xe cộ qua lại. Không những để ý người sẽ đến với anh Bưởi, mà còn phía sau và chung quanh người đó, từ những hiện tượng, thái độ để mình thẩm định.

Hai mươi phút sau, tức 10 giờ 10, một anh xích – lô, gác xe ở chỗ quán nước phía bên kia bùng binh, anh ta đội chiếc mũ vải tai bèo như nhiều xích – lô khác, che sụp gần kín mắt, thái độ quan sát của anh ta, tôi nghi có thể là đối tượng. Quả như rằng, anh ta vượt những dòng xe để tiến sang bùng binh, mà anh Bưởi vẫn chưa thấy, nhưng anh ta đã nhận thấy anh Bưởi rồi.

Khi anh Bưởi đã nhận ra, anh ta ra hiệu tay để anh Bưởi theo, thái độ anh này rất tháo vát, nhanh nhẹn. Chừng 35, 36 tuổi, mặc chiếc quần short mầu vàng nhạt đã tã. Chiếc áo màu cứt ngựa, rách cụt cả hai tay. Họ đã theo nhau trở về đường Cách Mạng Tháng Tám, vào một quán nước chéo vườn Tao Đàn.

Nửa giờ sau hai người ra hè phố còn bắt tay nhau, một người ra xe đạp, một người đến xích lô và đi về hai ngả khác nhau. Người tôi cần biết là tên xích lô này sẽ đi về đâu, làm gì? Trước khi y rẽ về đường Võ Tành, y còn ngoái lại nhìn về phía sau, sợ có anh Bưởi theo.

Y lách vào mấy phố vắng rồi trở ra đại lộ Trần Hưng Đạo. Điều làm tôi càng đặt vấn đề, khi y đạp xe qua nhà thờ Huyện Sĩ có một bà dẫn tay một đứa nhỏ năm, sáu tuổi vẫy xích – lô, y đã xua tay từ chối. Cuối cùng, y đã đến một ngôi nhà sang trọng, ngay phía trái trước thành CA, nơi hơn ba tuần trước tôi phải đến trình diện, y lái tuột xích – lô vào trong sân. Tôi chờ đến 11:30 không thấy y ra, tôi phải về cơm nước và chuẩn bị đi làm chiều.

Trên đường về nhà, tôi chưa thể có một kết luận rõ ràng, phải sau giờ làm chiều lên nhà anh Bưởi gặp anh đã, nhưng tôi cũng hơi phân định được chiều hướng. Khả năng hãn hữu, nếu không nói là không có cái kiểu CIA lại đặt nơi liên lạc ở trước Thành công an của Cộng Sản. Kể cả phương châm: nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất. Vậy chỉ có thể của Cộng Sản mới hợp tình, hợp lý.

Chiều hôm đó, tôi gặp lại anh Bưởi, tôi muốn đến anh trước rồi về trình diện sau. Anh Bưởi đang hì hục hót đống mùn cưa (cưa máy) trong lán mộc. Tôi cũng loay hoay làm với anh để nói chuyện. Tinh thần thái độ anh Bưởi tỏ ra phấn chấn rõ rệt. Tôi hỏi anh đã gặp người xích lô lần trước hẹn chưa? v.v. . . Anh Bưởi tươi tỉnh trả lời là họ còn xem cả giấy ra trại nữa và tôi cũng đã nói sơ, gợi ý về Bình. Họ nói còn phải xin ý kiến, và dặn tuyệt đối không được mở rộng thêm. Tôi hỏi anh Bưởi một vài việc, cho sáng tỏ thêm như: Gặp họ có lâu không? Họ có mời ăn uống gì không? Phương cách đi như thế nào? và vào khoảng bao giờ? Còn chuyện cây vàng thì sao?

Tất cả anh Bưởi chỉ được biết lờ mờ, thường lấy chữ “bí mật”, chờ, để trả lời nhiều vấn đề v.v. . . Tôi đã ngửi thấy cái hơi ngược hay xuôi rồi. Trước khi tôi có ý kiến, tôi vẫn hỏi để biết về sự tinh tế, của anh Bưởi:

– Anh Bưởi ơi: có lúc nào anh nghĩ đây là một đường dây của CS? Và có khi nào anh thử lại chưa? Như thử một cái máy, xem còn tốt hay hư rồi ấy mà!

Anh Bưởi đã trả lời tôi một cách tin tưởng:

– Họ tư cách, đúng mực lắm!

Không do dự, tôi nói luôn, còn về. Gần đến giờ trình diện và còn sinh hoạt cá nhân:

– Bây giờ anh hãy nghe tôi, anh hãy tìm cách từ chối không giao thiệp nữa. Phần tôi, tôi nói rõ ràng, tôi sống đến bây giờ là vì bố mẹ tôi, bởi vậy tôi chẳng ra đi, khi bố mẹ tôi chưa “mãn phần “.

Thấy anh Bưởi mở to mắt nhìn tôi như không hiểu, tôi cầm tay anh Bưởi bóp nhẹ nói:

– Chiều nay sáu bẩy giờ tối, đến tôi. Rất cần đấy!

Từ lâu, anh Bưởi đã hiểu tôi, khi tôi nói như vậy là có việc cần nói thật.

Vội vàng đạp xe về tới nhà, tôi khẽ mở khóa vào nhà mà, thầy mẹ tôi không biết. Thầy tôi hôm nay chưa ăn cơm, và từ trong màn người cứ rên, nghe não ruột. Mẹ tôi đang lần mò ra chỗ ấm tích, tay sờ miệng chén để rót nước. Tôi cứ đứng yên theo dõi, một tay mẹ tôi cầm một viên thuốc, một tay cầm chén nước, chân chậm chạp tiến về phía giường thầy tôi. Nhưng người không có tay sờ, nên lại đi ra phía cửa để rồi xô vào chiếc xe đạp tôi dựng sát cửa sổ, rơi cả thuốc, đổ cả chén nước, tôi không nhanh tay đỡ ôm lấy người thì người đã ngã xuống nền nhà.

Mắt tôi lại mờ đi, ôm mẹ mà lòng tôi như quắt lại, vặn vò xót xa. Miệng tôi gọi mẹ chỉ còn thều thào. Tôi đỡ mẹ tôi đến giường thầy tôi, thầy tôi kêu đau bụng từ chiều, mẹ tôi đã mò mẫm kiếm được viên thuốc, rồi rót nước cố đưa đến cho thầy tôi. Cầm tay thầy, tôi còn hổn hển:

– Thầy đau ở đâu?

Thầy tôi không nói, mà chỉ run rẩy chỉ tay xuống bụng, tôi chỉ biết cho người uống thuốc, rồi xoa bụng cho người. Tôi vo gạo, gầy nồi cơm, nhìn trong chạn chỉ còn hai miếng đậu rán, lúc trưa còn lại, trong khi chờ cơm chín, tôi tranh thủ cầm sổ chạy sang cô CA Mỹ Lệ ở xóm trong.

Đi qua nhà bà Lân phía cuối nhà thờ, nhìn trên cái sạp bán những thứ lặt vặt của bà, một hũ cà ghém nén trắng phau, quyến rũ tôi đã từ lâu. Trình diện xong trở về phen này quyết tâm mua một đồng cà, để cho đời lên hương và thỏa lòng thèm muốn của mình. Cứ nghĩ đến câu: Canh đay, chan đẵm… Quả cà cắn ngang là nước miếng của tôi đã rỉ ra cuống họng rồi. Lần trước em Thu đã đút vào túi tôi mười đồng, hôm nay còn ba đồng trong túi, nên khi trở về tôi đã thực hiện được cái hạnh phúc đó. Tuy chưa tròn, chưa có canh rau đay, điều này phải chờ khi nào em Xuân hay em Thu, vì tôi chưa biết nấu, nhưng từ quan điểm: Hãy thích những cái gì mình đang có, lòng tôi vẫn thấy xởi lởi mang gói cà về.

Thầy tôi chắc đã đỡ đau, nằm im, mẹ tôi đã về giường, tôi trang trọng nhè nhẹ chuẩn bị một bữa cơm thịnh soạn, để cùng hưởng với thầy mẹ tôi.

Khi cơm đã đầy đủ trên chiếc bàn con góc nhà, tôi vào đỡ thầy tôi ngồi dậy, và dẫn thầy tôi xuống bếp đi tiểu với lời khích lệ:

– Hôm nay con thổi cơm rất dẻo, vì thầy đau bụng!

Tôi đã đỡ mẹ tôi ra ngồi một ghế, mẹ tôi hãy còn tinh tế thật! Tôi chưa nói gì thế mà cụ chỉ ngồi một tí đã hỏi:

– Tao ngửi thấy mùi cà ghém nén phải không?

Tôi đã vồ lấy hai tay cụ, trầm trồ:

– Mẹ của con giỏi lắm! Con vừa mua cà ở hiệu bà Lân.

Mâm cơm chỉ có đĩa đậu (hai miếng nhỏ) và một bát cà ghém nén, một bát con mắm tôm (không có chanh). Tôi đã có chủ định: hai miếng đậu để dành cho song thân, mỗi người một. Tôi đã có cà và thêm thắt chút mắm tôm.

Nghiệm ra rằng cứ hình dung, như những ngày còn ngồi trong xà- lim ở Hỏa Lò, hạnh phúc cuộc đời lại ùa về tràn ấp lòng tôi. Ngày ấy làm gì có cà ghém mắm tôm, làm gì có bát cơm đầy, và làm gì được ngồi với đấng sinh thành?

Tôi xin cảm tạ Chúa, cảm tạ cuộc đời thật nhiều, đã ban cho tôi niềm hạnh phúc này. Nhìn ba bát cơm còn khói bay lên, nhìn thầy tôi nhìn mẹ tôi, rồi tôi nhìn lên bàn thờ Chúa. Đức Mẹ Maria giang tay, nhìn gia đình tôi bằng đôi mắt bao la dịu hiền. Mẹ tôi làm dấu nguyện kinh theo thủ tục tôn giáo, tôi làm theo thủ tục gia đình là mời thầy, mời mẹ xơi cơm. Tôi đã gắp hai miếng đậu vào bát hai người, riêng mẹ tôi có thêm một quả cà.

Nhìn đôi mắt của mẹ tôi lòa hõm vào, nhưng khi người cắn quả cà, tôi cảm thấy nét hân hoan của mẹ tôi. Tôi phải xuống bếp lấy chiếc quạt nan, khi nãy nấu cơm tôi đã mang xuống, bây giờ nhìn mồ hôi đã lấm tấm trên mặt mẹ tôi, tôi phải quạt cho người.

Khi trở lại bát cơm của tôi lại có hai miếng đậu, tôi không muốn, mà nước mắt tôi cứ tràn ra, làm sao tôi ăn được hai miếng đậu này. Tôi gắp lại bát thầy mẹ, mà tay tôi còn run rẩy vì tấm lòng thương con, lồng lộng như đại dương của các người (bây giờ ngồi viết lại mấy dòng này mắt tôi lại mờ đi).

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Người ấy đã sang đò

Đặng Chí Bình

Bài 23

Trên đường đi xe, tôi đã được biết sơ lược: Vì Lộc không biết gì giữa tôi và cô Vân, nên cũng chẳng hỏi kỹ ông Võ. Chỉ biết cô Vân đã lấy chồng cuối năm 1969, HCM chết xong thì cô Vân đám cưới với một Trung úy bộ đội đi B. Hiện nay cô đã có một con trai 6 – 7 tuổi, Lộc cũng không nói chuyện với cô Vân, ngay ông Võ, Lộc cũng không biết địa chỉ.

Tôi trình diện CA về, thì Lộc cũng đã nấu xong cơm, tôi hì hục bác trứng và luộc tí rau muống, đã mua từ hôm qua. Hai anh em ăn cơm ở sàn trên gác, chỉ có trứng bác và rau muống luộc, nhưng thật đậm đà nghĩa tình trong khó khăn cuộc sống, của những người đi tù về.

Phần tôi vẫn thèm, nhớ tiếng hát của Lộc vàng nhất là lòng tôi đang nát nhão, như dưa khú lâu ngày. Tôi đã cho Lộc biết sơ sơ một chút sự liên hệ giữa tôi và cô Vân. Sau khi cơm nước xong, Lộc đã nho nhỏ hát tặng tôi một bài trên căn gác trống, không có đàn, trống. Tôi đã nằm lịm đi để mặc cho giọng hát truyền cảm của Lộc, chui luồn vào cơ thể, rúc vào hồn tôi. Theo Lộc, đây là bài: Lá Đổ Muôn Chiều:

Thu đi cho lá vàng …….bay….

Lá rơi…….cho đám cưới về……..

Có những đêm về sáng……..

Đời . buồn…..chi mấy cố nhân ơi…..

Đã vội chi……men rượu…. nhấp đôi môi…..

Mà phung phí…..đời em…..không tiếc nhớ… …

Lá đổ muôn chiều…..ôi lá úa…..

Phải chăng . . . . . là nước mắt người đi . . .

Em ơi…..đừng dối lòng……

Dù sao chăng nữa…….không nhớ đến tình đôi ta……..

Thôi thế đây……anh cố đành quên ….rằng có người ……

Cầm bằng……như không biết ………mà thôi…….

Lá Thu…..còn lại……đôi ba cánh…..

Đành lòng….cho nước cuốn…….hoa trôi…..

Thôi thế từ nay…….như vàng bay…….

Làm lòng anh …….nhớ mãi……… người ơi……

Nhớ nhau …….từ làn môi ………đôi mắt……..

Đời vắng em rồi……….vui với ai?………

(Đoàn Chuẩn, lời Từ Linh)

Lộc vàng đã đập vào chân tôi, dù tôi không ngủ, nhưng tôi như vừa ở một vùng đầy sương khói chui ra. Một ý thơ của T.T.KH hãy còn già một nửa ở trong đầu:

Nếu biết rằng tôi….. đã ……..lấy chồng!

Trời ơi!…….người ấy có ……buồn không?…..

Bao nhiêu ngược xuôi, ngang dọc rối rắm trong đầu, tôi thừa nhận cô Vân lấy chồng là đúng, là hợp lý, vậy mà tại sao, tôi vẫn buồn? Lộc nói, mà mắt nhìn tôi như nài nỉ:

– Anh đưa em về đi, kẻo khuya!

Tôi muốn Lộc ngủ lại với tôi đêm nay, nhưng Lộc cũng đã hiểu. Bất ngờ lũ Nặc – Nô CA lại vào khám nhà. Hai bên đều tự hiểu, tôi đứng dậy đưa Lộc về Khánh Hội. Bố mẹ tôi đã nằm yên ở trong màn, tôi cũng cần về sớm, sợ chúng vào lúc tôi không có nhà. Chiều theo ý của Lộc, tôi đạp xe theo đường Công Lý để Lộc nhìn Dinh Độc Lập một lần. Mới khoảng hơn 9 giờ mà Sài Gòn đã đìu hiu vắng vẻ.

Bao nhiêu năm xa vắng, tôi nhìn Dinh Độc Lập tận mắt, niềm ước mơ, niềm khắc khoải nhớ thương, thế mà tâm trạng của tôi chỉ thấy dửng dưng, quấn quít một chút xót xa. Nhìn tòa nhà từ xa, dưới ánh đèn đêm của thành phố, tôi có cảm tường như nét mặt của thầy tôi. Chiếc cửa sổ chiếu ánh đèn lờ mờ như đôi mắt kèm nhèm, cửa to phía dưới như cái miệng của thầy tôi méo xẹo, trong đêm CA vào khám nhà. Đã đạp xe qua rồi, mà đầu tôi còn ngoái lại; đúng nét mặt thiểu não của thầy tôi, cụ cũng đã lẩn thẩn rồi!

Đến một xóm nghèo phía bên kia cầu Khánh Hội. Một cái ôm khắng khít chia tay với Lộc, không hẹn ngày gặp lại. Nét mặt của Lộc, cũng thiểu não như nét mặt của thầy tôi khi nãy đi qua, Lộc đã giúi vào túi tôi 10 đồng. Tôi hiểu Lộc muốn chia xẻ với cảnh đời rách mướp của tôi lúc này, nhưng tôi đã cương quyết không nhận! Phần vì chính cảnh sống của Lộc cũng chỉ là một cái “sơ mướp”, phần khác, dù tôi đang gặp khó khăn thế này, hay rồi đây sẽ hơn nhiều thế nữa, tôi vẫn đứng bằng chính đôi chân của tôi. Tôi đã trả lại Lộc, những người cùng khổ có lòng và một cái ôm chặt nữa, để chia tay.

Hôm sau, buổi sáng tôi không làm sao bò dậy được, miệng khô đắng như cho giấy vào thấm, đã đến giờ ra tổ Mành Trúc, nhưng tôi cố mãi vẫn chưa ngồi được lên. Phải ra báo và xin phép nghỉ một ngày, nhưng tôi đành nằm liệt. Thế mà khoảng 9 giờ, cô ả Mỹ Lệ đã mò đến gõ cửa. Tôi nghe tiếng của thầy tôi nói, không thành câu:

– Thằng Bình ốm. . . . . .trên gác!

Tôi nghe tiếng chân khe khẽ, nhè nhẹ bước lên thang gác! Cô “ả” này liều thật? Nếu mặt cô “ả” không phải là quả cà ghém luộc? Và nếu tôi không có định kiến “ghét rồi” từ hôm đầu gặp “ả” thì cơ hội này, sẽ có một câu chuyện của cuộc đời.

Một giọng êm nhẹ, khác với mọi khi:

– Anh Bình!

Tôi cứ nằm im trong màn, xem sao?

Tiếng bước chân nhè nhẹ trên sàn gác, rồi chiếc màn tôi nhúc nhích: Đúng là coi “trời bằng vung”. Cô ả lưỡng lự, dùng dằng một lúc, rồi cô bước chân rón rén đi xuống nhà. Cho đến khi nghe tiếng chốt cửa của thầy tôi, một ý tưởng không thực tế len lỏi vào đầu: Giá đấy là cô Vân. Tôi cong hai chân bật người dậy theo thói quen, xuống đến dưới nhà nghe tiếng mẹ tôi ở trong màn:

– Con đã uống thuốc gì chưa?

Thầy tôi cũng đã chui ra khỏi màn. Để thầy mẹ tôi yên lòng, tôi nói cố ra vẻ bình thường:

– Con không có sao đâu!

Mấy hôm trước cô Thu, đã đưa sang hơn một chục ký gạo và một nải chuối. Tôi phải sắp xếp dọn dẹp trong nhà. Khi còn ở trong tù, tưởng như không có ngày về thì mơ ước, thèm khát được làm những công việc này, để phụng dưỡng đấng sinh thành. Bây giờ có, lại coi thường! Không thấy đó là một điều may mắn, sung sướng! Tâm lý của con người cũng kỳ lạ!

Tôi chợt nhớ đến thằng Đạt, từ cái dạo tôi mới về thằng Lợi đã cho tôi biết sơ về Đạt. Tôi cũng xin sơ lược về Đạt.

Thời gian 1955-1956 tôi chạy Bình Xuyên, lên sống ở trại định cư Hà Nội Hố Nai Biên Hòa. ở đây, tôi đã quen Nguyễn Hữu Lợi và Nguyễn Đức Đạt. Tôi với Đạt cũng chơi thân, nhưng không thân bằng Lợi với tôi. Bố của Đạt làm về bưu điện ở ngoài Bắc, bây giờ di cư vào Nam, già yếu về hưu.

Một số cậu thanh niên Hà Nội ở trại chơi với nhau, trong đó có Lợi, Đạt và tôi. Khi tôi đi Bắc, cậu nào cũng còn độc thân. Khi tôi trở về thì Nguyễn Hữu Lợi (tôi đã tường thuật trên), còn thằng Nguyễn Đức Đạt, nghe vợ chồng Lợi nói: Thằng Đạt có cái tú tài đôi đã theo nghề bố, thi vào ngạch bưu điện. Thời gian Mỹ ồ ạt vào miền Nam, Sài Gòn cũng “cuốn theo chiều gió” thằng Đạt nghe đâu đã làm trướng phòng nhân viên “bở béo” ngay bưu điện trung ương ở Sài Gòn (cạnh nhà thờ chính tòa). Hiện nay vợ con gia đình Đạt đang ở Trương Tấn Bửu, còn vì sao gia đình nó lại không đi di tản, tôi sẽ đến thăm gia đình, và hỏi trực tiếp nó.

Lợi dụng ngày hôm nay (không đến tổ mành trúc), tôi chuẩn bị lo nhà cửa và cho bố mẹ xong, xách xe đạp, tôi sang tìm nhà thằng Đạt. Sau một lúc mò mẫm, tôi đã đứng trước nhà của Đạt, thoáng qua một vài nét bên ngoài cũng là loại khá giả, nhưng không bằng thằng Lợi. Tôi bấm chuông đứng chờ, qua vợ chồng Lợi, nên Đạt và tôi không có cái bất ngờ gặp lại. Ngày xưa cậu trưởng phòng này, nọ; giờ đây đang ngồi đút cơm cho đứa con út, giúp vợ, giữ nhà.

Đạt rất vui, gọi cả vợ con trên gác xuống giới thiệu. Anh chị Đạt được năm sáu đứa con, đứa con gái lớn cũng 17 tuổi, con trai kế tiếp là Nguyễn Vạn Thắng 15 tuổi. Vợ chồng Đạt cứ ríu rít định làm cơm ăn bữa chiều. Tôi đã hiểu dưới chế độ “tem phiếu” nên tôi dứt khoát từ chối, lý do phải về trông nom ông bà cụ v.v. . . Ngay từ ngày tôi chưa đi Bắc, Đạt vẫn mến nể tôi, nhất là về mặt ngang tàng coi nguy hiểm là chuyện bình thường.

Do đấy, khi ở phòng khách chỉ có Đạt và tôi, tôi đã hỏi Đạt, có rào đón. Chính tôi cũng muốn biết tâm trạng, sự hiểu biết của một người có tú tài đôi, đã từng là một trường phòng ở Sài Gòn, cũng đã tiếp xúc nhiều với bạn bè Mỹ, Việt v.v. . . nên tôi đã ngửng lên hỏi:

– Đạt ơi? Bây giờ tao hỏi mày, với lòng tự trọng, trả lời những suy nghĩ thực mày đang nghĩ. Mày có đồng ý như thế không?

Mặt Đạt ngẩng lên tỏ ra, rất chân thành:

– Mày hỏi gì tao cũng nói sự thật?

Thấy đã đủ để biết rõ vấn đề, tôi hỏi ngay:

– Lý do chính, vì sao gia đình mày không đi di tản?

Thằng Đạt, cái mặt chảy dài, đứng hẳn dậy, nói như còn phẫn uất:

– Cái số của tao, chỉ vì vợ tao khi đó đang chửa đứa thứ tư, bố tao lại đang ốm nặng. Ngày 27-4, thằng Ted Folk, trung uý Hải Quân, quen thân gia đình tao, nói hai ba lần, tao vẫn dứt khoát không đi.

Ngập ngừng một chút, nhìn qua cửa sổ rồi quay lại, tỏra thành khẩn:

– Thực sự khi ấy tao còn tiếc cái nhà này, và đi như vậy, sẽ không biết như thế nào. Người ta bảo: “xẩy nhà ra thất nghiệp”.

Để cho cạn lý, tôi gặng hỏi tiếp:

– Mày nghĩ kỹ lại đi, còn một lý do nào nữa, để mày không đi?

Nó nhìn tôi chăm chú, và lấc đầu. Vào thời gian ấy (1980-1981), vượt biên bị lừa lọc, bị chết cao nhất. Tôi nhớ có một chiếc tầu ở ngoài Cấp bị vỡ, đắm chết hơn 300 người. Khu Ông Tạ, Tân Bình hầu như nhiều nhà phải để tang ngầm. Tôi thấy thằng Đạt cứ lúng túng, tìm nhiều lý do để bảo vệ. Đạt chưa nhìn thấy cái nguyên nhân chính, vì thế tôi đặt một câu hỏi nữa cho sáng vấn đề. Trước khi hỏi, tôi vẫn phải ràng lại:

– Bây giờ tao hỏi thật mày một câu, mà cũng nói thực lòng mày: “Nếu bây giờ có một chiếc tầu của Mỹ đến cảng Bạch Đằng, mày phải bỏ hết tất cả, cả vợ con, nhà cửa, bố mẹ, chỉ được mặc một chiếc quần đùi, tầu sẽ đón đi, mày có đi không?”

Đạt tươi hẳn mặt, nói như quả quyết:

– Đi, đi chứ! Tao đi ngay?

Tôi thong thả nói rành rọt:

– Như thế, tất cả những lý do mày nói, đều là sai cả! Cái nguyên nhân chính mày không nhìn thấy, hoặc chỉ nhìn thấy mập mờ, để mày và gia đình không đi di tản ngày 30/4/1975 là khi ấy mày chưa nhìn rõ CS. Mày không ngờ CS đểu ra, sắt thép, nham hiểm như bây giờ!

Mặt thằng Đạt lại đực ra, đầu gật gật, miệng còn nói như nhắc lại:

– Tao không ngờ nó độc hiểm, sắt máu như vậy!

Tôi phải nói chút nữa cho trọn ý:

– Mày nhớ, ông cụ (bố của Đạt) và mày, đã từng ở khu 3 (Việt Minh) về thành 1950 (vào Hà Nội). Đã di cư vào miền Nam 1954, mà còn mơ hồ, chưa nhìn rõ sự việc. Huống chi hầu hết đồng bào ở miền Nam. Chưa một ngày sống với CS, và nếu có biết về CS cũng chỉ qua sách báo, thì làm sao hiểu được cái tim đen của họ. Anh còn vũ khí, anh còn tiền, anh còn bên ngoài vòng kiềm tỏa của họ, anh đừng vội vỗ ngực, tự đắc: Tao còn đi guốc vào những lừa lọc, thủ đoạn của CS. Chưa đâu! Khi nào anh đã hạ vũ khí cất đi, anh hết tiền, anh đã vào trong sự kiềm tỏa của CS. Khi đó anh mới hiểu tim đen của CS, mà một khi anh đã hiểu, đã đủ hiểu thì anh không còn, làm gì được CS nữa.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 3 Nov 2023

Thăm mộ cụ Ngô

Đặng Chí Bình

Bài 22

Tôi đã vận dụng lý do: Mẹ tôi vừa ho ra máu, bố tôi đêm qua đã té ở dưới bếp, chảy máu mũi. Tôi phải lo cơm nước, thuốc men cho hai cụ, và tôi phải thu xếp nhiều chuyện trong nhà v.v. . . Thứ Ba tuần tới tôi mới có thể đi làm việc ở tổ Mành Trúc, trong khi chúng bắt tôi đi làm Thứ Hai. Phải dùng nhiều cách để hỗ trợ nhau, tên Mậu mới đồng ý.

Như thế phải tranh thủ ngày mai, tôi thực hiện cái chủ trương thứ ba, là thăm mộ Cụ Ngô. Những ngày trước, tôi lựa lời thăm hỏi, không ngờ người cho tôi tin tức tương đối đáng tin cậy, là ông Trùm Lộc. Ông là công giáo được phường chỉ định làm tổ trưởng khu phố của tôi. Tối thứ Năm hàng tuần, tôi vẫn phải đến nhà ông để sinh hoạt tổ dân phố với bà con, đọc báo và nghe thông báo điều này, khoản kia của Phường, của Quận. ông Trùm Lộc, hơn sáu chục tuổi tỏ vẻ lấm lét, ghé vào tai tôi thì thầm:

– Mộ của Cụ Diệm và ông Nhu được ông bà Trần Trung Dung (là cháu), chôn ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi.

Tôi hiểu một mình tôi vào thăm mộ hai người, là không tiện lắm! Tôi biết tụi CS vẫn rải những công an chìm, lẫn vào những người ra vào nghĩa trang. Như chúng sẽ bí mật chụp hình, hoặc để ý những ai còn tư tưởng hướng về một người mà chúng kình địch. Những tổng thống, hoặc các vị lãnh đạo khác chúng chẳng phí thời gian làm như vậy.

Tôi đã hẹn trước với cháu Thanh Lan, con của cô Xuân cũng đã 19 – 20 tuổi rồi. Điều tôi không thể quên, là cái tên “Thanh Lan” này lại chính tôi đã đặt cho cháu, khi vào thăm mẹ nó sinh ở nhà thương Từ Dũ. Hơn một năm trước ngày tôi đi Bắc, bố nó là công nhân ở Ba Son, đẻ con đầu lòng chưa kịp đặt tên. Bấy giờ anh trai vào thăm, nên mẹ nó nhờ tôi đặt tên cho cháu luôn. Đi với cháu gái, cho có vẻ gia đình, nếu biết khéo léo ứng xử có thể qua mặt, những con mắt cú vọ của CA chìm.

Hai bác cháu đã mò mẫm đến được mục tiêu. Lúc đầu, tôi còn ngồi xa xa cạnh những ngôi mộ khác, để quan sát theo dõi toàn bộ hiện trường. Tôi hơi ngạc nhiên, nhìn hai bó huệ còn tươi và một bó to bạch hồng, ở mỗi ngôi mộ. Hơn một chục cây nhang đang nghi ngút tỏa mùi hương, luồn vào trong gió của mỗi ngôi mộ.

Tôi bần thần, ngước mắt nhìn lên mây trời , lòng tôi rung rung mở dần ra như một sự cảm ơn không bằng lời. Những ai đã vừa tặng hoa, thắp nhang cho hai ngôi mộ đặc biệt này? Phải chăng cũng là những người dân vô danh như tôi và cháu Lan? Chỉ vì lòng ngưỡng phục một người đã dám gạt bỏ tiền tài và danh vọng, chọn cái chết dứt khoát, không chịu để chủ quyền Quốc Gia bị xâm phạm, không những người dân ngưỡng phục, kẻ thù cũng không thể coi thường.

Thấy không có gì trở ngại, tôi và cháu Lan trang trọng thắp nhang và đặt một bông hoa hồng nhỏ (tôi không đủ tiền mua một bó), như tỏ tấm lòng của một người, đã nhận một nhiệm vụ trong thời của cụ, ra Hà Nội nhưng bất tài, kém khả năng hiểu biết, nên đã rơi vào tay kẻ thù. Nay sống sót trở về, tôi xin cúi đầu tạ tội với cụ, với đồng bào lầm than khổ đau hiện nay, và sau này.

Tôi nhìn kỹ từng phần nhỏ của hai ngôi mộ, rồi tôi lại nhìn lên trời. Mây đen trắng lổn nhổn trên nền xanh mát của bầu trời. Tôi ngắm một đám mây to, đang đùn lên về phía Đông. Tôi chợt thấy- có thể từ lòng thành mong ước, hay trí tưởng tượng- rõ ràng tôi nhìn thấy nét mặt một bà cụ già tóc trắng phau, bộ mặt hiền từ đôn hậu. Mắt Cụ đang đăm đăm nhìn tôi, cháu Lan và hai ngôi mộ. Một luồng lạnh từ trong xương sống đi dần lên đầu tôi, phải chăng là hồn thiêng của dân tộc, linh khí của sông núi và của Sài Gòn đã bốc lên, kết tụ lại? Đó là Người Mẹ Hiền Việt Nam. Miệng của Mẹ mấp máy tôi nghe rành rọt:

Các con thương yêu của mẹ! Với ý chí rắn chắc, bền bỉ chịu đựng, các con hãy đứng dậy bằng chính đôi chân của mình, mẹ luôn luôn đứng bên cạnh và độ trì cho các con.

Tôi bàng hoàng thảng thốt, quay lại cháu Lan đang quỳ bên cạnh, mắt cháu Lan cũng đang ngước nhìn lên trời. Không biết cháu có nghe thấy những lời, của Mẹ Việt Nam như tôi không?

Kính thưa quý vị độc giả ! Hiện giờ tôi đang viết hồi ký tường thuật lại những cảnh đời tôi đã trải qua! Theo sự hiểu biết của tôi, hồi ký là tường thuật lại những sự việc gì tai tôi nghe, mắt tôi thấy, những sự kiện tôi đã phải trải qua và những gì chính tôi cảm nghĩ ở trong trại tù, không thể nhìn được trong buồng xà- lim này với trong buồng xà-lim kia. Ngoài trại chung không thể chứng kiến buồng này, nhìn sang buồng khác, càng không thể biết được cảm nghĩ của người khác. Viết như vậy là tưởng tượng, tưởng tượng là hư cấu, hư cấu là viết tiểu thuyết. Tôi luôn luôn tôn trọng sự hiểu biết rộng rãi, sáng suốt của quý vị.

Có một chuyện nhỏ, nhưng buồn cười, tôi xin trình bày, như một thể hiện lòng tôn trọng của tôi về sự sáng suốt của quý vị. Khi cháu Lan và tôi dắt hai chiếc xe đạp vào nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, mấy bà, mấy cô bán nhang, nến, hoa xông ra mời chào:

– Mời cậu mợ mua hoa đi!

– Mời cậu mợ mua nhang, nến này!

Tôi đã nghiêm mặt nói rõ ràng:

– Đây là cháu của tôi! Tôi là bác của nó!

Mấy bà xin lỗi, nhưng có cô lại buông một câu cộc lốc:

– Thế mà!

Do sự mời chào, lôi kéo khách mua hàng, nhưng cũng nói lên một điều: Vì tù lâu, nằm yên một chỗ, nên tôi không già lắm! Lòng tôi cũng “rổn” lên một niềm vui, hy vọng sẽ lấy được vợ, không sợ ở “giá”

Cháu Lan hiện nay đã có ba con, người cháu rể tên là Mão, hai vợ chồng mở một hiệu phở khá đông khách, ở Ông Tạ Sài Gòn.

Buổi chiều, tôi và bố mẹ vừa ăn xong, thì có tiếng gõ cửa, tôi lại tưởng CA. Nhưng thật vui, đó là anh Đèo Văn Bạch, anh được về trước tôi 7- 8 tháng, anh đã đến thăm tôi hơn tuần lễ trước. Nhà anh ở phía trước hồ bơi Cộng Hòa, tôi lại phải nhớ để ghi vào sổ trình diện, anh Bạch trình diện tháng một lần. Sở dĩ tôi tưởng anh Bạch là CA, vì mới đêm qua CA phường, CA khu vực một giờ đêm, đập cửa nhà tôi rầm rầm. Chúng bắt mở cửa ngay, cửa vừa mở chúng gạt tôi ra, chen lấn vào trong nhà. Đèn pin chiếu loang loáng khắp trên gác, dưới bếp, xoi mói, chúng bắt đưa sổ hộ khẩu, sổ trình diện. Tôi còn thoáng thấy một vài tên áo vàng nữa, phía sau nhà. Cảnh giác của chúng thật cao và kỹ thuật cũng thâm hậu.

Chúng suy đoán, bất ngờ ban đêm đột nhập vào khám nhà, nếu trong nhà có người lạ, không hợp pháp thì sẽ chạy chuồn ra ngoài, nên chúng đã phòng sẵn bên ngoài. Tôi thì chẳng ngán ngẩm gì, nhưng thầy mẹ tôi mù lòa, già yếu, các người hốt hoảng đờ người ra.

Tôi không nhìn rõ, nhưng chắc mặt các người phải tái đi, chúng kéo hất tung cả mùng mền của thầy mẹ tôi.

Tôi cảm thấy, tôi có lỗi với bậc sinh thành lắm, không những làm các người lo lắng, mà ngay giấc ngủ của các người cũng không yên. Sau khi chúng rút đi rồi, không một lời chào thầy mẹ tôi, tôi đã quỳ xuống, gục đầu vào đầu gối mẹ tôi, mắt tôi mờ đi, nói trong nghẹn ngào:

– Xin thầy mẹ, tha lỗi cho con!

Mẹ tôi đưa bàn tay run rẩy vuốt đầu tôi, từng dòng nước từ đôi mắt loà chảy xuống má, mẹ tôi không nói ra lời, bố tôi đã vào màn, chỉ nghe những tiếng thều thào mệt nhọc:

– Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi!

Tôi không hiểu thực dân Pháp ngày trước có làm như thế với người dân không?

Sáng hôm sau tôi đã đến tổ mành trúc, với cái tên: “Mành Trúc Xuất Khẩu 19 tháng Năm”. Đây là một khu thủ công chuyên sản xuất mành trúc của Phường, chừng gần hai chục người, năm sáu cậu 15- 16 tuổi, bẩy tám bà xồn xồn 30- 35 tuổi, vài thanh niên, mấy ông nhơ nhỡ như tôi. Tổ mành trúc do một bác chừng 50 tuổi, tên là Bằng làm tổ trưởng, các công nhân kể trên toàn là thường dân, chỉ có tôi là đi tù về mà thôi. Thấy tôi có vẻ nhanh nhẹn, nên ông Bằng phân công tôi ở khâu cắt trúc, bằng một chiếc máy cưa con con.

Sản xuất tính theo giờ và mức khoán, hình thức thì có vẻ nền nếp, nhưng thực tế thì không phải như thế. Chỉ thoáng qua thái độ làm việc của mọi người, qua các khâu tôi đã thấy, cũng như cái chung của công nhân dưới chế độ ưu việt XHCN dân chủ gấp triệu lần các chế độ dân chủ, của các nước tư bản. Trên sổ sách ghi 7 đồng một ngày, nhưng riêng tôi cuối tuần lãnh lương chiều thứ Sáu, ông Bằng đã khất lại, để tuần sau. Chỉ hơn một tuần tôi đã biết ông Bằng là một cán bộ của phường. Từ đó, trừ thứ Bẩy, Chủ Nhật cuối tuần, hoặc những ngày đặc biệt tôi phải lên Thành xuống Quận, ngày nào tôi cũng phải đi làm ở tổ Mành Trúc.

Một buổi chiều tôi cà rịch, cà tàng đạp xe đến đường Phan Đình Phùng để mua thuốc đau mắt cho mẹ tôi, thoáng một bóng người quen quen, anh ta đang định trèo lên một chiếc xe Buýt. Tôi dẫn xe đến, người đó cũng quay lại. Ồ! Tôi không thể tin ở mắt mình, Lộc, Lộc Vàng! Tôi và Lộc Vàng đã ríu rít như “mít quậy sinh tố với dứa”, vừa ngọt vừa thơm ngát. Lộc Vàng trong vụ nhạc vàng “đồi trụy” của Hà Nội năm 1967 (tôi đã tường thuật), tôi siết chặt tay Lộc vồn vã:

– Sao lại ở đây? Sao lại ở trong này? Vào đây bao giờ và ở đâu?

Lộc không trả lời, mà cũng cuống quít hỏi tôi tới tấp:

– Anh về bao giờ? Nhìn anh mà em không nghĩ là anh? Vì em không tin được!

Nhớ lại những ngày cuối tuần buồn lê thê, trong trại tù Thanh Phong muốn tìm những giờ phút trầm lắng để gửi hồn chơi vơi về những nơi mình muốn. Cái thú nhất giai đoạn ấy với tôi là ngồi năm bẩy người, những người cùng “gu” phóng đãng chơi vơi tâm hồn, với một ca trà rừng đặc, nhấm nháp bằng những chiếc ly nứa con tự chế.

Sắp xếp người “ghếch” (tiếng trong tù) áo vàng. Nếu có áo vàng vào trại thì người gác ra hiệu, trong này lời ca tiếng nhạc, bất đầu đổi “gam” từ nhạc xanh ra nhạc “đỏ”. Toán Xồm đàn, Đắc Sọ đập sàn nứa thay trống, Lộc Vàng ca Nhạc “tiền chiến, như những bài: Thiên Thai, Đêm Đông, Suối Mơ, Cánh hoa duyên kiếp v.v. . . Hay nhạc “vàng”: Mưa Rừng, Tầu Đêm Năm Cũ v. v… Thậm chí cả những bài của Sài Gòn sau này (tôi chưa biết) Đời Là Vạn Ngày Sầu, Xuân Này Con Không Về, Áo Lụa Hà Đông v.v. . .

Giọng ca của Lộc Vàng nổi tiếng của đất Thăng Long. Bây giờ trong một bối cảnh lâm ly ngục tù, ngồi lim dim đôi mắt, mặc cho lời ca, tiếng nhạc tỉ tê rót vào tai, thì còn cái thú nào hơn?

Sau khi miền Nam bị “cướp giật” CS chuyển tôi ra trại xây. Nhóm “nhạc vàng” Toán Xồm, Đắc Sọ, Thành Tai Voi và Lộc Vàng, tôi không còn gặp nữa. Cho tới ngày tôi được ra từ trại Thanh Phong (Thanh Hóa) giữa năm 1980 cùng với Toán Xồm, tôi không có thời gian để hỏi về những người trong nhóm đó.

Hôm nay, bất chợt gặp lại Lộc Vàng ở Sài Gòn. Lộc Vàng đã được tha từ 1977, như thế Lộc đã có hơn hai năm ở ngoài chiếc lồng to, cuộc sống tần tảo, Lộc đã xoay sở đủ nghề: quét vôi, làm thuê, gánh nước v.v. . .

Hiện nay, Lộc tìm vào Sài Gòn “phe phẩy” vặt vãnh, tìm nơi “đất lành chim đậu”. Gặp tôi, Lộc tưởng là một dịp may, Lộc có biết đâu, tôi còn bị o-ép, đè bóp hơn ở trong tù. Ngồi ở một quán nước mía, hai anh em tâm tình, đều tắc tị. Trong những câu chuyện lan man, đến những người đã đi tù về, hiện đang ở Hà Nội, chợt Lộc nói như khoe thành tích:

– Em mới gặp ông Võ, bây giờ về hưu, ông buồn lắm! ông ấy muốn về Nam mà không có tiền!

Đầu óc tôi lơ mơ, chưa nhớ rõ “Võ” nào? Thấy mặt tôi ngẩn tò te, Lộc đã hỏi, như giải thích:

– Anh không biết ông Võ, chánh giám thị ở Hỏa Lò à?

Tôi chợt nhớ, ông Võ đó đã có “ân” với tôi, đã cấm CAVT đánh tôi, trong buổi tôi trốn tù ở Hỏa Lò 1964. Tôi săn đón hơn:

– Ủa, em gặp trong trường hợp nào? ông ta có khỏe không?

Lộc vẫn vồn vã:

– Em mới ngồi uống cà phê với cụ ấy ở Hàng Trống, cụ ấy bây giờ hom hem, bé tí, em cũng gặp cô Vân y tá nữa!

Như một luồng điện, tôi vội vàng cầm tay Lộc, vồ vập:

– Em biết cô Vân ư? Em gặp cô ấy ở đâu?

Lộc lại lơ đãng vô tình, không thấy sự mất bình thường của tôi, Lộc trả lời một cách rời rạc:

– Em đang ngồi với ông Võ, thấy cô Vân đi với một đứa nhỏ, em hỏi luôn ông Võ, là cô Vân có con lớn thế?

– Ông Võ trả lời em sao?

Bây giờ Lộc đã thấy thái độ không thường của tôi, Lộc còn cười, nói như đùa trêu tôi:

– Mặt anh làm gì mà thất sắc thế! Làm như cô Vân là bồ của anh không bằng?

Tôi đứng dậy trả tiền, kéo Lộc ra mé đường, tôi muốn rủ Lộc về nhà tôi chơi để hỏi thêm chi tiết, phần vì cũng gần tối đến giờ trình diện, và còn phải mua thuốc kịp cho mẹ. Lộc nói là Lộc về Bắc chuyến tầu Thống Nhất chiều mai, Lộc hiện đang ở nhà một người quen bên Khánh Hội. Tôi cứ khẩn khoản bảo Lộc ngồi lên yên, tôi “đèo” đi mua thuốc cho mẹ. Chơi với tôi, khoảng 9 giờ tôi sẽ mang Lộc về Khánh Hội.

Tôi ngấu nghiến đạp xe, mua thuốc rồi về, mới 6: 30 đã tới nhà. Trên đường tôi đã cho Lộc biết sơ qua cảnh sống của tôi. Lộc lại tỏ ra thương cảm, chia xẻ với tôi hơn, tôi chỉ có 4 đồng, trả tiền nước mía hết 2 đồng chỉ còn 2 đồng, tôi đành mua hai quả trứng vịt 1đồng 50 để bác, có rau muống luộc nữa, thế là hơn trong tù rồi. Bố mẹ tôi đã ăn cơm từ chiều. Tôi chỉ cho Lộc bếp núc, rồi tôi lấy cuốn vở sang nhà cô Mỹ Lệ ở xóm bên, trình diện. Gạo hãy còn nhiều, hai chục ký, thằng Lợi cho đã ăn hết đâu.

Xe đò tháng Chạp!

 đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Nhà thơ Thanh Nam, người di tản, xa quê, buồn u uất, đã từng viết: “Một năm người có mười hai tháng/ Ta chỉ riêng mình một tháng Tư”

Tháng Tư buồn thiệt! Tháng của những ngày ly biệt, rồi ra đi biền biệt, dẫu quê lòng tha thiết nhớ… nhưng làm sao biết tới ngày nào mà về quê cũ?

Nhưng tui còn buồn hơn nhà thơ Thanh Nam nữa. Ông buồn chỉ tháng Tư; tui còn buồn thêm tháng Chạp, tháng cuối cùng của năm. Con nhớ Má! Má ơi!

Ôi tháng Chạp, năm cùng tháng tận, xa quê, ai cũng muốn về nơi chôn nhau cắt rún để coi cái nhau rún ngày xưa (của tui), Tía vùi trong quê đất, chắc nó cũng lạc mất rồi… Nhưng cái tình quê tha thiết sao vẫn còn mãi trong tui!

Ôi nhớ xưa! Chiều cuối năm đi học xa, Tết gần kề thì đâu còn lòng dạ nào mà học! Chữ nghĩa không có vô vì chỉ trông ngóng ngày về.

Từ Sài Gòn về Mỹ Tho thì phải đi xe đò. Nhưng xe không chạy trên sông sao gọi xe đò? Có nhà từ nguyên học cắt nghĩa như vầy:“Đồng bằng Nam Bộ sông rạch chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đò ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hãng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường lộ chưa có nhiều, xe đến bến, khách phải đi tiếp bằng đò ghe nên người ta gọi là xe đò cho tiện?!”

Tui nghe nhà từ nguyên học nầy cắt nghĩa như vậy là tui nghe vậy… rồi để đó!

Chớ trong bụng, lại nghĩ rằng: Đúng là Lục tỉnh Nam Kỳ mình sông rạch chằng chịt! Hồi chưa có lộ; có xe, bà con mình phải đi đò. Nào là đò dọc, đò ngang, chở khách từ bến nước nầy xuôi hay ngang qua bến khác, rồi lại quay về bến cũ

Xe đò, chắc cũng thế, đưa người từ bến nầy tới bến kia, thả khách cũ xong, bắt khách mới, quay trở lại bến cũ, như cái thoi đưa, nên ông bà mình gọi đó là xe đò?!

(Sao tui khoái chữ bắt khách và thả khách của giới xe đò giàn trời mây đi?!

Bắt khách, nhốt vô cái thùng bằng sắt tây, trấn lột lấy tiền vé, chạy lắc lắc hồi lâu tới bến; rồi thả khách ra tiếp tục bắt khách khác! )

Nhớ xưa đón xe ở dọc đường, tài xế chưa kịp ngừng hẳn là lơ xe nhảy xuống nắm tay mình kéo lên!“Tới luôn bác tài!” Là xe nó dọt lẹ vì phải ngăn thằng chạy sau qua mặt; kẻo nó hớt hết khách dọc đường!

Tui là đực rựa nên cái vụ nắm tay kéo áo nầy hỏng nhằm nhè gì! Nhưng có em nào coi đã con mắt, đi gần xa gì cũng được, lơ xe nó hốt lên liền! Một là có thêm tiền hay là đụng sơ chút chút cho nó khoái.

Ở đây không dám quơ đũa cả nắm đâu nhe mấy bác tài và lơ xe! Mấy ông lỡ có đọc bài nầy… xin đừng giận lẫy mà xài xể tui! Tội nghiệp!

Vài tay lơ xe quả là dê đạo lộ. Bác tài là bác của lơ xe; dĩ nhiên cái vụ dê nầy là chắc Bác cũng hơn thằng cháu hàng trăm cây số!

Nghe nói bác tài ngoài con vợ dữ như bà chằn ở nhà, bác tài vẫn tỉnh bơ, sơ cua (xe nào mà không có bánh sơ cua chớ?) ít nhứt thêm một vài em đi buôn chuyến đường dài.

Luôn ưu tiên cho người đẹp, giắt bông lài, ngồi sau lưng bác tài. Ghế số một cữ đàn bà con gái ngồi. Không phải trọng nam khinh nữ gì đâu; mà chỉ sợ cho người đẹp ngồi ngang mặt; bác tài cứ “địa” qua hoài; không lo lái là có ngày bay xuống ruộng!

Mới đây, tui có đọc tin một chiếc xe đổ đèo mà thắng lại không ăn. Bà con trên xe kêu cứu, la khóc rùm trời! May nhờ tài xế chiếc khác nhanh trí kêu ông đụng ‘đít’ tui đi! Hai xe bèn dìu nhau xuống đèo, an toàn xa lộ!

Nên bác tài cứu khổ cứu nạn nầy được quan lớn tặng thưởng vô lăng (volant) vàng. Cái vô lăng nầy không bằng vàng đâu mà ham! Nó bằng giấy… giấy khen!

Rồi có một bác tài chở chừng 6, 7 chục hành khách; hát xiệc, vừa lái xe vừa ăn mì gói đó. Ngon hông? Hành khách lên ruột, bèn chụp hình bằng mobile phone làm bằng chứng để đi méc, nên bác tài nầy nghe nói sẽ được nghỉ cầm lái dài dài.

“Ê! Cấm phóng nhanh giành đường vượt ẩu; chớ đâu có cấm vừa cầm tay lái vừa ăn mì gói (tại tui đói) sao lại đuổi tui?”

Tui e rằng bác tài nầy xe được các quan tặng cái bằng ‘vô lăng mì gói’!

Thưa thời Tây, ông bà mình đi xe ngựa không hè. Giờ thì có quốc lộ, tỉnh lộ trải nhựa và hương lộ trải đá. Rồi xe bên Tây nhập về để chở khách, chở hàng hóa!

Xe của Tây nên tiếng Pháp ăn theo, nhập vào kho tàng từ vựng của tiếng Việt mình. Démareur, ‘đề ma rưa’, cắt bớt đuôi, thành đề, là bộ phận khởi động xe! Manavel, ‘ma ni quên’, que sắt dùng để quay, khởi động xe,đôi khi được dân đứng bến quơ quơ như cây thiết bảng của Tề Thiên để đe dọa đám xe khác dám cạnh tranh, giành kéo, níu khách của mình.

Còn lơ xe là ‘Contrôleur’ có nghĩa là người soát vé mà ra! Sau nầy, tụi nó gọi là phụ xế!

Nhưng tài xế lại là tiếng Quảng Đông, do hai tiếng “đại xa” đọc theo tiếng Việt thì gần như là “tài sé”.

Tùy theo chạy đường xa hay gần; số hành khách nhiều hay ít nên xe đò có ba loại: nhỏ 10-15 người (tài xế kiêm lơ xe), loại trung (lỡ) chở 2, 3 chục khách (một tài xế, một lơ xe), loại lớn lên đến 50-70 người (gồm một tài xế, một lơ xe, và có thêm thằng nhỏ, theo học việc, chỉ được chủ xe cho ăn cơm, lâu lâu được chủ xe cho tiền cà phê thuốc lá chớ không có trả lương! Lơ nầy gọi là lơ cơm!

Xe đò chạy từ Sài Gòn về tận cùng đất mũi Cà Mau trên kiếng xe có chơi thêm chữ ‘chạy suốt’ cho nó oai! Sau nầy còn thêm chữ ‘tốc hành’ nghĩa là tao chạy lẹ đó nhe!

Lúc Tây còn làm cha thì hãng Renault của Pháp, xe thân dài (như xe của hãng Tân Mỹ chạy Tân An – Mỹ Tho), làm bá chủ!.

Tới thời Việt Nam Cộng Hòa của mình, sau 1954, thì tới phiên xe Mỹ như De Soto, Chevrolet, Ford , GMC… Nhựt Bổn ráng chen vô một tụ, hãng Toyota!

Xe lô (ca xông)! Như của hãng xe lô Minh Chánh ở Mỹ Tho! Nguyên là xe Huê Kỳ, của hãng Ford, đã cũ, ghế ngồi được thay đổi để chở được nhiều, khách phải đợi cho đủ số người sau đó xe sẽ chạy suốt, ít ngừng ở dọc đường. (Còn cuốc bộ thì gọi là đi ‘lô ca chưn!)

Để: ‘Nhỏ đưa anh, mặt mày ủ dột/ Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm…

xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh/ Nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn!’

Những chiếc xe đò chạy đường Sài Gòn Mỹ Tho mang tên như Á Đông, Tân Á, Đông Á của thầy Hài! Thuận Thành của ông Sáu Thuận và những hãng nhỏ hơn chỉ có một hai chiếc như: Ngọc Châu và Chánh Đức!

Xe đò đi miền Tây như: Hiệp Thành chạy Vĩnh Long, Đức Hiệp chạy Cần Thơ, rồi Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Đại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành,Tam Hữu chạy tới Bạc Liêu, Cà Mau hay qua Bắc Mỹ Thuận quẹo về tay phải đi Sa Đéc qua Bắc Vàm Cống về Long Xuyên và Rạch Giá.

Nhắc tới xe đò thì mình phải nhớ tới xe thơ chớ!

Đầu thập niên 20, Pháp đã thiết lập hệ thống nhà dây thép ở các tỉnh miền Nam.

Sau nầy gọi là Ty Bưu Điện. Mới đầu chỉ là bưu chính nghĩa là thơ tín cộng thêm đánh “morse” để chuyển điện tín cho nó nhanh.

Chuyến xe thơ chở thơ tín (được bỏ trong bao bố có niêm dấu khằn) cho Bưu Điện, thường chạy sớm khoảng 4 hay 5 giờ sáng, có quyền ưu tiên qua cầu Bến Lức, cầu Tân An hay Bắc Mỹ Thuận, Bắc Cần Thơ hoặc Bắc Vàm Cống!

Chủ xe không nhận tiền công mà được hưởng quyền ưu tiên qua cầu phà trước; không cần xếp hàng nối đuôi. Do đó, nhiều hãng xe các tỉnh tình nguyện nhận làm chùa! Đôi khi còn giành nhau khiến Ty Bưu Điện phải cho bắt thăm hàng năm; coi đứa nào được! Cũng là một cách các hãng xe cạnh tranh, phục vụ hành khách rất là chánh đáng!

xe-do-thang-chap-4Chủ xe chỉ cần treo tấm bảng “xe thơ” chữ màu đỏ phía trước. Nhiều hành khách thích đi xe thơ vì xe ưu tiên, nhanh chóng về quê mà không phải mất thời gian chờ đợi qua phà lâu lắc.

 Hồi nhỏ, mỗi lần được Tía má cho về quê Nội hoặc Ngoại ăn Tết là tối đêm trước khi đi, chu choa, ngủ không được! Vì sắp thoát khỏi cái đất Sài Gòn khói bụi và tù túng! Mà còn vì tui, giống như mấy thằng nhóc khác cùng tuổi, rất thích được đi xe đò, thích ngồi hàng ghế đầu, sát cửa sổ, phè phè ngắm phố phường chầm chậm lướt qua…

Ra khỏi thành phố là tha hồ ngắm cánh đồng cuối năm chỉ còn trơ gốc rạ. Những đống rơm to đùng! Khói nhà ai bốc lên trong sương sớm?! Xa xa, những vườn cây, dòng sông lóng lánh như dải bạc! Xe đò ngày cũ quả là những ký ức tuổi thơ êm đềm!

Lại nhớ năm 1961, Tía tui từ Bưu Điện Rạch Giá đổi về Sài Gòn! Cả nhà đông quá nên bao nguyên một cái băng 7 chỗ, trên chiếc xe đò Liên Trung thuở đó.

Tới Lấp Vò là phải xuống xe lội bộ vì tối qua Việt cộng mò ra đắp mô, đào đường phá hoại!

Tới bến xe Petrus Ký của Sài Gòn hoa lệ, cả nhà tíu tít làm sao mà để quên con chó cưng! Ôi con Mực của tui thời thơ ấu, giờ chú em phiêu bạt tới tiệm cầy tơ bảy món phương nào?!

Đêm nay, đêm tháng Chạp cuối năm, tui thả hồn về quê cũ!

Lại nhớ Giáng Thu, người ca sĩ gốc Ấn Độ, với bài hát của nhạc sĩ Hoài Linh: “Chuyến xe đầu đưa người từ lòng nôi/ Vào nhân thế chơi vơi/ Tay không hành lý ngóng nhìn về tương lai/ Ngỡ ngàng lên tiếng khóc cười/ Thay cho lời đầu tiên người nói!

Tháng năm dài vui buồn tuổi chồng thêm/ Ngọt cay cũng mau quen/ Xe loan nhiều chuyến cát bụi mòn chân đen/ Sang giàu may mắn phút đầu/Hay những đổ gẫy đôi ba cầu/

Xe hoa đưa người êm ấm tình nồng/ Em, anh nên nghĩa đôi vợ chồng/ Se tơ hồng một duyên hai bóng/

Duyên ưa có người chỉ một xe đầu/ Có người vài lần thương đau/ Có người chẳng bao giờ đâu.

Sáng trưa chiều khi tuổi đời nặng gieo/ Vòng tay cũng xuôi theo/ Công danh ngày ấy giấc mộng tình hôm nay/ Cũng về như chiếc lá gầy /Xe đơn lạnh tiễn ai trong nầy?”

Vâng đúng vậy! Đời ta như lên những chuyến xe “đò” và cuối cùng ai cũng lên một chuyến xe “đòn” hết ráo.

Nên tháng Chạp cuối năm về; xin bà con và tui cứ vui lên đi khi mình còn được lên xe đò, nghĩa là vẫn còn lắc lư sống theo nhịp xe rung trong cuộc đời quá khổ đau nầy. Ha ha!

đoàn xuân thu

Xạo có số má!

Đoàn Xuân Thu

April 6th, 2023

Post by Sơn râu 2 Nov 2023

Thấy nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết xưng là Tiến sĩ NSND thì nghệ sĩ cải lương Kim Tuyến ở quận Cam, thủ đô của người Việt tị nạn CS tại Hoa Kỳ đặt quá nhiều dấu chấm hỏi:

– Bạch Tuyết không học trung học, không học đại học thì làm sao có bằng tiến sĩ?

– Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu?

– Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ðức thì làm luận án tiến sĩ bằng tiếng gì? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt?

– Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng tiến sĩ danh dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường đại học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng tiến sĩ giấy?

Tui cũng muốn đem mấy cái hồ nghi, mấy cái thắc mắc nầy đi hỏi Tiến sĩ NSND Bạch Tuyết như nghệ sĩ cải lương Kim Tuyến hỏi. Nhưng nghĩ tới, nghĩ lui, suy đi tính lại thấy không cần nữa đâu. Vì mới đây, ông Nguyễn Ðình Thi, Hiệu trưởng Sân khấu – Ðiện ảnh Hà Nội đã đề xuất NSND được tính tương đương như tiến sĩ.

Như vậy chúng ta sẽ có Tiến sĩ Kim Cương, Tiến sĩ Út Trà Ôn, Tiến sĩ Bảy Bá.  Tiến sĩ Bạch Tuyết bóng nhẫy, mướt rượt như tắm xà bông Cô Ba có 72% dầu dừa.

Thế nên xin đừng có nói danh xưng tiến sĩ nầy do bả ‘nổ’ như đẻ ở Trảng Bom, nổ ‘banh ta lông’ đó nhe bà con!

Rồi nhân NSND Diệp Lang vừa mới qua đời ở quận Cam, Hoa Kỳ, Tiến sĩ NSND, cụ bà Bạch Tuyết có viết như vầy: “Ở tuổi 79 chứng kiến những cuộc ‘di cư’ của người thân, bạn bè đồng nghiệp… lần lượt ra đi em đã quen dần với điều đó… Ấy vậy mà nhận được tin buồn của anh… em vẫn cứ day dứt và đau lòng khó tả…”

“Chuyến đi bão táp” năm 1984 với vở Ðời Cô Lựu… Ðó chính là cuộc hội ngộ đặc biệt trong cuộc đời làm nghệ thuật của cả hai. Trong cuộc đời của cô Lựu (vở cải lương Ðời Cô Lựu) có rất nhiều lần kết hợp với ông Hội Ðồng (Ðều là những nghệ sĩ tên tuổi và giỏi nghề). Ấy vậy mà, chỉ riêng ông hội đồng của anh là khiến cho cô Lựu đau đớn và nặng lòng nhất với từng câu thoại rất ư là “hội đồng Thăng”

“Từ ngày bà bước chân vô cái nhà này, tôi chưa bao giờ thấy bà nở với tôi một nụ cười, gương mặt lúc nào cũng trầm tư? U uất, nặng nề, âm trì địa ngục. Mười mấy, hai mươi năm rồi bà chờ đợi ở cái gì…Còn cái gì nữa mà bà chờ đợi, xương cha nó cũng mục nói chi là xương con…”                                                                

Một vở cải lương đã gần 40 năm mà đi đâu làm gì khán giả cũng nhắc nhớ… đó là phước báu của Tổ dành tặng cho cả ‘ekip’ mình… Bài viết ký là:  Em Bạch Tuyết.

Xưng em; vì ông Diệp Lang 82 tuổi; còn bà cụ Tiến Sĩ NSND Bạch Tuyết cũng đã 79 tuổi rồi. Cái tuổi con cháu đùm đề, gần đất xa trời thì nói dóc làm chi cho chúng nó khi?

Nói dóc ở đoạn nào? Ở đoạn: “Anh em nghệ sĩ chúng tôi đã bịn rịn chia ly Nguyễn Minh Thành (nghệ sĩ Thành Ðược) thủ vai đầu tiên vì “sự cố bắt cóc”, anh phải rời đi… đến một quốc gia khác…”

Không tin vụ em Bạch Tuyết nói anh Thành Ðược bị bắt cóc, tui bèn lục lọi trên web thì thấy như vầy: “Nghệ sĩ cải lương Thành Ðược là một trong những nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam thập niên 1980. Vào năm 1984, khi lưu diễn ở Tây Âu, ông đã đào thoát tìm tự do bằng cách lẩn trốn khỏi đoàn diễn. Thành Ðược đã được những người ủng hộ tại Châu Âu giúp đỡ, bao gồm việc cung cấp chỗ ở và thức ăn, để ông có thể tự lập cuộc sống mới. Trong thời gian đó, ông cũng đã tham gia các hoạt động vận động chống lại chính quyền Cộng sản ở Việt Nam.

Sau khi sống ở Châu Âu một thời gian, Thành Ðược đã được chính quyền Pháp cấp thị thực và cho phép định cư tại nước này. Tại Pháp, ông tiếp tục hoạt động nghệ thuật và trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng của cộng đồng người Việt tại Pháp. Sau khi sống ở Pháp một thời gian, Thành Ðược chuyển đến Hoa Kỳ và định cư tại tiểu bang California. Ông đã mở một nhà hàng cùng vợ tại thành phố San Jose, California. Bên cạnh đó, Thành Ðược cũng tiếp tục hoạt động nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa, giao lưu giữa cộng đồng người Việt tại Mỹ.”

Theo tui đoán mò nhưng chắc trúng: “Một nước Tây Âu như nước Ðức, có luật pháp đàng hoàng mà có cái vụ Thành Ðược bị bắt cóc nữa sao ta? Tội “kidnap” (bắt cóc) là một tội nặng, tù mọt gông chớ hổng phải chuyện giỡn chơi. “Tội bắt cóc là hành vi phạm tội nghiêm trọng, khi một người khống chế, ép buộc hoặc bắt cóc một người khác mà không có sự cho phép của nạn nhân hoặc của pháp luật. Tội bắt cóc là một trong những hành vi đe dọa tính mạng và tự do cá nhân của nạn nhân, do đó, bị xem là một tội ác đặc biệt nghiêm trọng và bị trừng phạt nghiêm khắc ở hầu hết các quốc gia.

Tại Ðức, theo Ðiều 234 của Bộ luật Hình sự, tội bắt cóc bị xem là một tội ác nghiêm trọng và bị xử theo cách nghiêm khắc. Nếu bị kết án tội bắt cóc, bị cáo có thể bị phạt tù từ 1 đến 15 năm, hoặc thậm chí có thể bị kết án tù chung thân. Ngoài ra, nếu hành vi bắt cóc gây ra thương tích, tổn thất tài sản, hoặc các hậu quả khác, bị cáo cũng sẽ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân”

Bằng cớ là ngày 25, tháng Bảy, năm 2018, Tòa án ở Berlin, Ðức đã tuyên án một người Czech gốc Việt, 3 năm 10 tháng tù vì tội tham gia giúp đỡ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đem về Hà Nội xử hai án chung thân.

Cụ bà Tiến sĩ NSND Bạch Tuyết mới đây có kể lại chuyện nghệ sĩ Thành Ðược bị bắt cóc? Bà con trong nước khen nức nở: “Bà tiến sĩ kể chuyện lâm li quá. Có thể dựng thành tuồng đấy!”.