Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

 Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Tháng Hai 3, 2020 

Post by Sơn râu 23 Dec 2023

Bài 10

Chương 6

Trực Diện Vô Tri

Sau ngày thứ nhất tình hình ở MACV có phần nào lắng dịu nhưng lực lượng địch vẫn kiểm soát hoàn toàn khu vực chung quanh. Từ trạm gác ở tầng lầu hai của tòa nhà MACV mà bây giờ được TQLC đặt cho biệt danh ‘Alamo’ (Tên của khu nhà thờ ở San Antonio, Texas, nơi cố thủ của 180 dân quân Texas bị một lực lượng hằng ngàn quân Mexico do Tướng Santa Anna chỉ huy tấn công và bao vây vào Tháng 2 năm 1836. Họ bị tiêu diệt sau một tháng kháng cự.), tôi thấy toàn cảnh của vùng trời bên trên Thành Nội của đêm 31 tháng Giêng; dù trời có âm u nhưng trông vẫn tuyệt vời.

Phi cơ bay ở cao độ thấp thả trái sáng biến đêm đen thành ban ngày, và cứ thế suốt đêm. Trái sáng lặng lờ trôi xuống đất theo chuyển động hình trôn ốc cho đến khi tắt ngúm rồi lại tiếp nối bằng trái khác loé lên để rồi cũng bắt đầu xoáy dần vào nỗi chết không dứt. Những bóng đen in lên đám mây thấp vẽ nên những hình ảnh quái dị trên toàn cảnh của hai bờ sông Hương. Khi trái sáng đến gần mặt đất hơn những bóng đen ấy di chuyển giữa các tòa nhà khiến các xạ thủ đại liên đang giữ tay trên cò súng càng thấy ngứa ngáy thêm.

Đang mãi mê nhìn hỏa châu, tai tôi bỗng nghe âm thanh của đại liên, súng trường M-16 lẫn AK. Thỉnh thoảng có tiếng của đạn cối vừa ra khỏi nòng, tiếp đó là tiếng nổ chỉ cách vài mét. Có lần lúc ban ngày tôi  nhìn lên trời thì vừa thấy một trái đạn cối đang bay xuống nóc nhà kế cận. Các viên cố vấn lăng xăng chạy tới chạy lui chòi canh này đến chòi canh khác để trấn an mọi người. Họ thông báo tin tức, phát thêm đạn lẫn khẩu phần lương khô ration C. Tôi phải tập nuốt ration C nguội lạnh cho quen vì suốt trong một tháng sẽ không có đồ nóng mà ăn.

Trong khi dân cố vấn vẫn ở nguyên vị trí thì TQLC Mỹ từng nhóm 2 hoặc 3 người lo đóng chốt ở đầu đường và trên các cao ốc. Họ còn tăng cường phòng thủ cả trong khu vực cơ quan. Sự hiện diện của họ làm mọi người cảm thấy nhẹ nhỏm hơn. Nhưng không vì thế mà đạn cối ngưng rơi và cũng không lấy gì bảo đảm là địch sẽ không tấn công.

Trong khi ban tham mưu TQLC lo thảo kế hoạch hành quân cho ngày mai thì binh lính của họ lo tranh thủ ngủ được chút nào hay chút đó; họ ý thức được rằng khi ánh dương lên họ sẽ xông pha ra ngoài kia, một vùng đất không quen thuộc với họ. Lính TQLC chưa từng được huấn luyện tác chiến trong thành phố, lính Nam Việt ở trong Thành Nội cũng thế. Lần sau cùng TQLC nếm mùi này là trận ác chiến ở Hán Thành (Seoul) trong cuộc chiến Triều Tiên vào năm 1951. Trận chiến hồi đó là đối đầu với sự đánh tập hậu của địch, còn ở Huế thì khác, hoàn toàn khác. Lực lượng địch ở Huế cố thủ kiên cường, trang bị tối tân và đầy đủ, sẳn sàng bám trụ tới cùng.

*

Phía TQLC nhanh chóng nhận chân ra rằng cuộc hành quân mang tên ‘Operation Hue City’ như họ mệnh danh cho sứ mệnh giành lại Huế, sẽ kéo dài hơn dự liệu nhiều. Sẽ lâu hơn hai, ba ngày. Có thể một tuần hoặc lâu hơn nữa.

TQLC cần nhất trước mắt là nghỉ dưỡng vì họ cần lấy sức để sống còn trong những ngày sắp đến. Vậy mà hỏa châu và pháo cối vẫn không chịu buông tha khiến họ chỉ có những giấc ngủ chập chờn như giấc ngủ của mèo. Ngủ không được mà ngồi hút thuốc cũng không hay ho gì hơn vì những tay bắn lén của địch sẽ nhân đó mà làm họ toi mạng như chơi.

Quyết định tiên khởi của Bộ Chỉ Huy Quân Đội Đồng Minh là chia Huế ra làm hai vùng ảnh hưởng. Tái chiếm Thành Nội và những khu vực thuộc phía Bắc sông Hương là việc của quân đội Miền Nam; vùng phía Nam, còn gọi là khu Hữu Ngạn thì giao phó cho TQLC HK.

Thoạt đầu, chưa ai nghĩ đến việc sử dụng thêm những lực lượng quân Mỹ khác dù rằng thành phần của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh và Sư Đoàn 101 Dù đang hiện diện ở căn cứ Evans cách Huế 25 km về phía Bắc. Tướng Westmoreland miễn cưỡng không muốn dùng những đơn vị đó vì ông thấy không cần thiết. Ngoài ra họ mới dọn về chưa quen địa hình địa vật. Nếu có dùng chăng thì ông sẽ gởi ra tăng cường vùng Phi Quân Sự (DMZ), đặc biệt là Khe Sanh, vì ông vẫn tin đó mới là mục tiêu chính của địch.

TQLC sử dụng CLB SQ của MACV làm BCH hành quân. Họ hội ý với Đ/tá Lục Quân Adkisson và ban tham mưu của ông ta trong vấn đề hành quân truy quét địch chỉ là phép xã giao mà thôi chứ thật ra mọi quyết định về chiến thuật chiến lược là của họ hết. Sau này Adkisson nói:

“Khỏi phải thắc mắc mọi sự đều do TQLC lo hết, họ lo đánh nhau và chịu tổn thất nặng nề. Trận đánh Huế hoàn toàn của họ cả.”

Tr/sĩ Gonzalez gia nhập TQLC được khoảng 3 năm nhưng thăng cấp nhanh chóng vì anh vốn con nhà lính. Ai nhìn anh cũng đều nễ phục. Việc anh được đặc cách lên làm thường vụ trung đội trưởng trong cuộc hành quân tăng viện cho MACV không làm ai trong Trung Đội 3 ĐĐ Alpha 1/1 ngạc nhiên.

1Dù chỉ mới 21 tuổi nhưng hành động của anh già trước tuổi mình. Những binh sĩ khác phần đông chưa tới độ đôi mươi cũng già dặn như thế; họ thành nhân trong một thời gian kỷ lục. Hằng tháng trời sống thao thức, mắt luôn nheo để lấy tầm nhắm, thường xuyên cảnh giác mìn bẩy, hầm chông, buộc họ phải già dặn nhanh nếu không thì khỏi sống để mà già thêm. Có điều chắc chắn là họ sẽ già nhiều hơn nữa trước khi chiến dịch này chấm dứt.

Sự bố trí của quân đội Đồng Minh trong trận đánh tái chiếm Huế suốt tháng 2 năm 1968. Khởi đầu quân Mỹ chịu trách nhiệm lấy lại vùng Hữu Ngạn còn Tả Ngạn giao cho quân Nam Việt. Về sau TQLC Mỹ kiêm nhiệm thêm khu vực B và D của Thành Nội, tức là vùng quanh cửa Đông Ba và cửa Thượng Tứ như thấy trên bản đồ. (Courtesy of army.mil) 

Tr/tá TQLC Gravel nhận chỉ thị phải đẩy địch ra khỏi khu Nam sông Hương. Khu vực trách nhiệm của ông rộng 11 khu phố và bề sâu là 9. Để thực thi công tác này ông chỉ có 2 đại đội trừ (đại đội trừ là đại đội có có quân số dưới cấp số qui định.) Alpha 1/1 và Golf 2/5; một lực lượng gồm có 300 tay súng, 4 chiến xa M-48, 2 quân xa có trang bị đại liên 50 bốn nòng, và 2 chiến xa hạng nhẹ M-41 của quân đội Miền Nam để lại.

Tuy còn căm hận về vụ bắt Đại Đội Golf hành quân qua bên kia cầu ngày trước, Gravel vẫn là người biết tuân thượng lệnh tuy ông thuộc ‘týp’ sĩ quan hay cự nự và ưa nạt nộ ồn ào. Với tâm niệm ‘tôi làm được’ (can-do), ông đã cho lính của mình lao ra trận địa hôm 1 tháng Hai mà không hề biết tình hình ngoài ấy ra sao mà cứ thây kệ tới đâu hay tới đó, cứ nghĩ rồi ra mình sẽ vượt qua các chướng ngại.

Tr/tá Mark Gravel, TQLC Mỹ. Chú ý ông mang lon theo lối quân đội Nam Việt. (Marines.mil)

Gravel hội ý với ban tham mưu của ông gồm Th/tá Frank Breth và Wayne Swenson, Đ/úy Jim Coolican, cùng tất cả sĩ quan liên lạc và cố vấn TQLC. Sự thiếu vắng của Th/tá Murphy là nỗi xót xa cho ông. Trong suốt buổi họp hầu như chỉ mình ông phát biểu và la lối. Ông không cần phải giấu giếm sự khinh miệt ra mặt đối với sĩ quan cao cấp của MACV là Đ/tá Adkisson, người mà ông đã hai lần đụng độ nẩy lửa. Đường đường là TQLC thì không bao giờ xài đến con cái thuộc các binh chủng khác. Không phải bởi lý do cá nhân mà thường là như vậy.

Không những thế Tr/tá Gravel còn dám xỉ vả cả cấp trên của mình ở Phú Bài vì đã ban lệnh mà không dựa theo một nguồn tin tình báo đáng tin cậy nào. Hơn ai cả chỉ ông mới thấu hiểu tình huống của mình ở Huế: Ông vững tin rằng không có yểm trợ bằng pháo binh và phi cơ thì tấn công trực diện chỉ là tự sát. Điều duy nhất ông học được hôm qua khi cho quân xung phong qua cầu là lực lượng địch đông đảo và mạnh gấp bội khác với suy nghĩ của mọi người. Ông cần có thêm người, thêm vũ khí nặng, và ông cứ tiếp tục la lối đòi hỏi với các cấp chỉ huy cao hơn cho đến khi được các thỉnh cầu được thỏa mãn.

Giọng oang oang của ông người ta có thể nghe ở khắp cơ quan MACV.

“Bộ mấy người dưới đó không biết chuyện gì đang xảy ra trên này sao?” Gravel la om sòm đi tới đi lui trong phòng chỉ huy. “Trước tiên nhờ hên lắm tôi mới lên được tới đây. Bây giờ họ lại muốn tôi thanh toán cho xong trong hai ba ngày. Nếu tôi không có thêm quân và trang bị, địch sẽ thanh toán hết chúng tôi trước.”

BCH muốn Gravel phải đánh về hướng Tây để giải cứu một đơn vị quân chính phủ Miền Nam đang đồn trú ở nhà Lao Thừa Phủ; mục tiêu này cách MACV 1.200 mét hay 8 khu phố.

Với nghiệp dĩ TQLC, Gravel không chống thượng lệnh nhưng trong thâm tâm, ông dư biết sứ mệnh sẽ không thành. Ông ban lệnh xuống để rồi không mảy may ngạc nhiên khi biết quân của mình bị cầm chân cách MACV chỉ 50 mét.

TQLC không vượt qua nổi khu phố đầu tiên.

TQLC Mỹ Đại Đội A TĐ 1/1 hành quân ở khu vực trường Đại Học Huế đưa một đồng đội bị thương ở chân từ trên mái xuống. (DoD/MarineCorps)

“Mỗi cao ốc là một pháo đài; từng căn như thế đan kết với nhau thành một mạng lưới đạn,” một binh sĩ kể lại với tôi. “Anh chỉ cần chường mặt ra một tích tắc thôi là ăn đạn liền. Chúng tôi tiến từng chút một nhưng rồi đến tối thì buộc phải kéo về.”

Ưu tiên một là lấy cao ốc chính của trường Đại Học Huế nằm ở đầu cầu Trường Tiền trước; tòa nhà này chỉ cách MACV một khu phố về hướng Bắc, nó nhìn ra bãi đáp trực thăng và bãi đổ hàng của Hải Quân. Đến trưa mọi người thật sự cảm nhận được tình huống nghiêm trọng đến chừng nào. Cứ mỗi TQLC tiến tới lại một người được khiêng về bệnh xá với một vết thương kinh khiếp.

“Y hệt như mình chiến đấu với bầy ong vỡ tổ,” Một binh nhì kể cho một đặc phái viên. “Chúng tôi chịu hỏa lực từ mặt đường, từ cửa sổ, từ nóc nhà; phải bò lết mà tiến quân; có khi phải gọi chiến xa yểm trợ để kéo mấy người bị thương đến chỗ an toàn. Hình như địch được lệnh cố thủ vị trí của mình và giành lấy từng tất đất không để cho mất. Chắc họ có nhiều đạn lắm.”

*

Một số viên cố vấn cũng bị buộc phải ra chiến đấu. Lính ngành Jim Mueller, một thư ký văn phòng, cùng với đôi ba lính bộ binh nhập chung với tiểu đội TQLC để giải cứu một số thường dân đang bị kẹt trong một căn nhà gần bên MACV.

Sau này Muller viết thuật lại: “Tôi sợ té đái luôn. Suốt đời tôi chưa bao giờ làm chuyện đó. Viên trung sĩ nói với tôi địch sẽ bắn chỗ nào có màu sắc rực rỡ; thế là tôi phải loay hoay lo xé hết phù hiệu lon lá trên cầu vai xuống. Tôi nhét thêm vào bộ đồ trận vài băng đạn carbine và lựu đạn; kế đó phụ với TQLC chất lên chiến xa càng nhiều đạn càng tốt.”

Chiến xa với tiểu đội tùng thiết theo sau tiến ra khỏi cổng và từ từ rẽ lên QL1 men theo bờ tường bên phía đối diện cơ quan.

“Đột nhiên tôi lọt vô tầm đạn của một tên bắn lén nào đó núp trong căn nhà bên kia đường,” Mueller kể.

“Đạn bắn ra từ một khung cửa sổ có mành gỗ trên gác lửng. Tôi chưa bắn trả vì tôi phải xin phép viên trung sĩ trước, bởi thế tôi lên tiếng, “Trung sĩ à, có người ở trên kia mới bắn tôi đó.” Y hỏi lại, “Ở đâu?” Tôi chỉ tay rồi đáp, “Kia kìa.” Y liền nói, “Bây giờ thì chúng không có bắn anh đâu.” Tôi đáp lại, “Không phải vậy, à mà tôi có được bắn trả lại không?” Y trả lời, “Lần sau nếu hắn bắn anh nữa thì cho tôi biết rồi bắn.” Tôi ngẫm nghĩ: chiến tranh gì mà quái chiêu, một người lính muốn tự vệ cũng phải xin phép.

Một lát sau họ tiến vào một căn nhà giống như được dùng để làm bệnh xá.

“Trong phòng không có bao nhiêu giường nhưng chính giữa có đặt một chiếc có màn phủ chung quanh,” Mueller viết thêm.

‘Phận sự chúng tôi là đánh chiếm căn phòng; bởi thế chúng tôi phải bảo đảm là không có ai trong chiếc giường đó. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện mình sắp bắn một người khác. Mình bắn trước rồi hỏi sau hay sao đây? Hay chờ họ vén màn ra đã rồi trong khoảnh khắc đó mình sẽ quyết định là ai để bắn? Hay là mình cứ đừng bóp cò? Tất cả những ý nghĩ đó hiện ra trong đầu khi tôi đang tiến gần lại chiếc giường, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Một người rón rén lại gần rồi bất thần giật mạnh chiếc màn. Không có ai cả. Tôi thở phào nhẹ nhỏm.’

*

Đến trưa ngày 1 tháng Hai thì trạm xá của Bác Sĩ Bernie đã quá đầy. Người chết bọc trong bao ny-lông nằm la liệt trên sàn, một hàng thương binh còn đứng vững đang chờ được gọi tên. Ngay bên ngoài có khoảng hơn hai chục binh sĩ với thương tích trầm trọng đang nằm sẵn trên băng ca chờ được không tải về quân y viện. Trợ y lăng xăng chạy vào chạy ra suốt ngày. Lâu lâu có một trái đạn cối rớt vào cơ quan MACV vậy mà ai cũng tĩnh queo.

Nói đến kẻ đã vượt quá giới hạn thì phải nói đến BS Bernie. Ông là bác sĩ chuyên khoa mắt, tốt nghiệp y khoa trường Ohio State University khóa 1966. Từ lúc đến phục vụ ở Huế vào mùa Thu năm 67 công việc thường nhật của ông chỉ là chủng ngừa và theo dõi các đơn phép xin nghỉ bệnh. Phòng trạm xá tí hon của ông không có trang bị đủ để thực hiện những ca giải phẫu quan trọng, không đủ tiện nghi cần thiết để điều trị cho người bị thương nặng. Chỉ mới vài ngày thôi ông đã bắt đầu cạn kiệt băng, chỉ, kim chích, mọt-phin, và bao đựng xác.

Đứng trên tiêu chuẩn vệ sinh và tinh thần thì tình trạng của bệnh xá coi như quá nghiêm trọng ngay từ ngày đầu.

Mueller người thư ký đánh máy vừa mới thử lửa với súng xong bây giờ được giao cho công tác phụ việc ở trạm xá. Ròng rã suốt ba tuần lễ anh ngồi ghi sổ bệnh nhân, phát thuốc lá cho thương binh hút và nói chuyện với họ để động viên tinh thần. Thì giờ còn lại anh viết hồi ký.

‘Tôi nhớ lúc đầu có một quân nhân TQLC bị trúng đạn AK được mang vào trạm xá. Vết thương trên đầu anh ta trông thật ghê rợn, máu cứ chảy mãi không ngưng. Bác sĩ tạm băng bó rồi làm thủ thuật thông khí quản (tracheotomy) cho anh, họ chỉ làm được có vậy thôi. Họ bảo tôi giữ chắc chân anh ta vì toàn thân anh bị co giật liên hồi.

‘Một hôm có một thường dân người Việt được mang vào với dương vật gần bị đứt lìa. Ông ta cũng được cứu chữa tận tình như bất kỳ ai. Bác sĩ giải phẫu may lại hoàn hảo với hứa hẹn sẽ phục hồi chức năng như xưa. Lần đó chưa hề thấy ai tỏ lòng biết ơn nhiệt thành như ông ấy.

‘Một chiều khác người ta khiêng vào một binh sĩ TQLC bị thương trầm trọng. Mảnh đạn cứa đứt gần hết bàn chân anh chỉ còn dính vào chỗ mắt cá bằng vài sợi dây chằng. Các bác sĩ tiêm mọt-phin rồi cắt lìa bàn chân còn nằm trong đôi giày trận, xong quăng vào túi đựng xác. Trong khi giải phẫu, anh ta được một cha tuyên úy ngồi cạnh bên. Sau khi xong rồi anh ngước nhìn ông cha hỏi: “Thưa cha làm cách nào Chúa vừa thương kẻ địch vừa thương chúng con được?” Vị tuyên ý không nói gì.’

Các binh sĩ thuộc Đại Đội Golf TQLC Hoa Kỳ vào những giờ phút huynh đệ thân ái bên nhau. Nào ai biết sau trận đánh Huế, ai mất ai còn. (USMC Photo)

ĐĐ Golf 2/5 vừa thoát chết khi tiến quân qua cầu nay phải lao vào một sứ mạng không hiện thực. Sáng ngày 1 tháng Hai họ xuất quân đi giải cứu một đơn vị lính Nam Việt người ta cho biết đang cầm cự trong khu nhà 4lao Thừa Phủ. TQLC băng qua con đường ở ngoài chu vi của MACV; vừa tiến được 15 mét thì bị chận đứng vì địch bắn sẻ; tất cả phải rút lui. Suốt một ngày họ tiến chỉ cách điểm xuất phát nửa khu phố.

Cuộc hành quân trên QL1, bên phía đối diện của MACV. (mca.marines.org) 

Tr/tá Gravel ngồi trong phòng chỉ huy vừa theo dõi diễn tiến cuộc tiến quân trên máy vô tuyến vừa liên lạc với Phú Bài; ông không thể ngờ rằng TQLC chỉ tiến được vỏn vẹn có 15 mét. Ông la hét đông đổng nhưng cuối cùng phải chấp nhận sự kiện là mình đã đòi hỏi những người lính quá mệt mỏi phải làm một việc bất khả thi. Ông có thể nhận thấy sự bất khả thi đó qua mức độ thương vong tải về từ chiến địa; tuy nhiên, thượng cấp của Tr/tá Gravel ở Phú Bài lại không nghĩ vậy họ vẫn một mực hối thúc ông phải tiến tới.

Giá như Gravel có được phi pháo yểm trợ thì có gì phải nói. Đằng này cả phi cơ lẫn pháo binh đều bị từ chối vì nào là thời tiết âm u, mây thấp, nào là Phe Đồng Minh thỏa thuận tránh gây thiệt hại tối đa cho thành phố cổ kính và biểu trưng này.

Sau giờ ngọ, Phú Bài lại ra lệnh cho Gravel phải đem trả các quân xa dùng để chở quân từ dưới đó lên ngày hôm qua; họ cần có để gởi lên thêm quân và đạn dược. Biết QL1 vẫn chưa tái lập được an ninh ông thấy cần phải có quân bảo vệ đi kèm. Gravel giao cho Tr/úy Bill Rogers dẫn theo một trung đội để lo việc đó. Ngoài ra Rogers còn lãnh thêm một nhiệm vụ nữa đó là  khi về đến Phú Bài anh phải tả oán cho thật bi thảm với thượng cấp về tình hình ở trên này, sau đó theo về với đoàn xe để lo phòng thủ thành phố.

Chỉ mới 24 giờ chiến đấu, Tr/tá Gravel nhận thấy hiệu năng của 2 đại đội, Alpha 1/1 và Golf 2/5, đã bị giảm xuống còn phân nửa. 150 binh sĩ đã hoặc bị thương hoặc chết, nhiều người chỉ cần băng bó xong là có thể trở lại chiến đấu nhưng có chừng 75 người cần được tải thương lập tức vì vết thương trầm trọng, một số thì đã chết.

Tr/tá Gravel dặn dò với Tr/úy Rogers qua nỗi xúc động, rằng sinh mạng của mọi người ở trên này tùy thuộc vào ba tất lưỡi của anh ta trước thượng cấp, rằng thì là Huế đang ở trong tình trạng khẩn trương, tình trạng phải nói là tồi tệ gấp bội phần so với các báo cáo trong những cuộc họp báo quân sự.

Rogers cho chất lên xe những người bị thương nặng nhất và dặn dò các tài xế cứ xả ga mà chạy nhất định không dừng lại vì bất cứ lý do nào. Sự táo bạo cộng với vận tốc đã gây một bất ngờ cho địch quân. Đoàn công voa vượt qua cánh đồng dài 600m và cầu An Cựu mà chỉ bị bắn theo lẻ tẻ vài phát súng. Một chiếc bị chết máy nhưng họ nhanh chóng sang qua xe khác để rồi về đến Phú Bài mà không bị thương vong nào.

Đang mang nặng trọng trách, lại đứng chào nghiêm trước mặt Tướng LaHue, Rogers thấy lạnh cẳng. Anh đem hết khả năng ra để thuyết phục với thượng cấp TQLC của mình rằng Huế cần được quan tâm nhiều hơn vì sự hiện diện đông đảo của địch quân; đồng thời xin được tăng viện quân bị dồi dào hơn những gì họ đang có. Rogers được lệnh về báo với Tr/tá Gravel rằng từ rày về sau mọi sự sẽ khác.

*

Xế chiều hôm ấy Đại Đội F thuộc Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 5 (Fox 2/5) được không vận đến Huế bằng trực thăng CH-46 Sea Knight của TQLC. Ngày hôm sau, Đại Đội H thuộc 2/5 (Hotel 2/5) lên Huế trên đoàn xe 12 chiếc. Có đoạn đường họ phải chạy giữa hai lằn đạn. Đoàn quân xa còn chở theo 5 xe Onto, mỗi chiếc có gắn đại bác 106mm không giật sáu nòng. Đây là loại vũ khí phá cao ốc (building buster) mà TQLC đã yêu cầu đặc biệt với mục đích để tống khứ địch ra khỏi Huế.

Phải đợi đến ngày 3 Tháng Hai TQLC mới bắt đầu hoạt động ăn khớp với nhau vì hôm ấy Đ/tá Stanley Hughes, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 1 TQLC và Tr/tá Ernest C. Cheatham, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/5 mới lên đến Huế. Đ/tá Hughes nắm chỉ huy tổng quát và thảo kế hoạch từ từ quét sạch địch quân khỏi vùng Nam sông Hương nội trong tuần tới.

Cùng tháp tùng đến Huế với ĐĐ Fox 2/5 chiều 1 Tháng Hai còn có đợt nhà báo đầu tiên. Trong số này có Gene Roberts của nhật báo New York Times, Skip Stroelstrup của tạp chí Time, George Syverste của đài truyền hình CBS. Ngày hôm sau có thêm Al Webb, Dick Oliver, và Dana Stone của hãng thông tấn United Press International (UPI), George McArthur và John Lengle của hãng thông tấn Associated Press (AP), Jack Lawrence và Don Webster của CBS, Bill Brannigan của đài truyền hình ABC, Wilson Hall của đài truyền hình NBC, và Bill Tuohy của nhật báo Los Angeles Times.

Lúc đoàn xe công-voa tiếp tế chuyến đầu tiên từ Phú Bài đến, những người mới đến đã có dịp được nghe kể những chuyện đẫm máu kinh hoàng xảy ra ở Huế rồi; trước đó họ đã có dịp tiếp xúc với những người bị thương được đưa về nằm ở trung tâm điều trị Phú Bài. Những gì họ nghe kể, những vết thương họ nhìn thấy khiến họ cảm thấy kinh khiếp.

Michael Herr đặc phái viên của nguyệt san Esquire, người đi theo chuyến xe đầu tiên từ Phú Bài lên Huế, đã ghi nhận đúng tâm trạng của người chiến binh TQLC trong cuốn sách được độc giả nồng nhiệt ca ngợi ‘Dispatches’ như sau: ‘Mấy người lính ngồi trên xe ai cũng luôn miệng huýt sáo nhưng không có đến hai người thổi cho ăn khớp cùng một điệu; hệt như thể trong phòng thay đồ trước giờ thi đấu mà không ai có vẻ muốn ra sân.’

Cơ quan MACV muốn nổ tung vì sự gia tăng dân số quá mức; nào là viện binh đổ thêm, nhà báo kéo tới, dân tị nạn tràn vào. Người ta thấy cần có chỗ tạm cư khác dành cho dân tị nạn trong đó có cả lính tráng quân đội Miền Nam bị kẹt ở nhà trong khi nghỉ phép Tết. Thế rồi cuối cùng cũng giải quyết tạm ổn bằng cách chuyển họ qua khuôn viên trường đại học Huế; duy còn đám nhà báo sau khi đăng ký tạm trú ở MACV họ túa ra khắp mọi nơi theo chân các cuộc hành quân của các đơn vị TQLC; phải nói là họ hoàn toàn tự do vào ra cơ quan bất kỳ khi nào.

Nhiều nhà báo trải lên nền nhà phòng ăn tập thể để ngủ. Chung chạ với họ cũng có nhiều quân nhân TQLC. Có một số khác kiếm tôi nhờ sắp xếp chỗ ngủ, tôi chỉ biết nhún vai. Đây quả là trường hợp điển hình khi mà ngòi bút phải chào thua cung kiếm.

*

Đ/úy Mike Downs chỉ huy đợt bổ xung cho Đại Đội Fox 2/5 bắt đầu đổ quân ở công viên Dốc Lão lúc 3 giờ chiều ngày 1 tháng Hai. Hai giờ sau trực thăng mới chuyển vận xong đủ quân số cho đại đội. Loại trực thăng lớn Sea Knight có khả năng vận tải 25 binh sĩ với đầy đủ trang bị chiến đấu hoặc 5.000 cân Anh hàng hóa. Phi cơ đáp xuống dưới hỏa lực bắn sẻ của địch khiến các TQLC phải khum mình chạy. Mặc dù thân máy bay bị trúng nhiều đạn nhưng cuộc đổ quân được coi như hoàn tất mỹ mãn vì không có một tổn thất nào được ghi nhận.

Ra khỏi phi cơ xong các TQLC lập tức chạy đi kiếm chỗ tránh đạn; có người ngoảnh lại nhìn cánh chim sắt bay lên, buồn lòng tự hỏi sao đành bỏ mặc mình ở chốn đây. Các trung đội trưởng ra hiệu cho các binh sĩ đứng lên chạy ra hướng chu vi phòng thủ. Đến MACV, Đ/úy Downs và ban tham mưu chào trình diện đại đội với Tr/tá Gravel; Họ được gởi qua khuôn viên đại học để tiếp sức với Đại Đội Golf 2/5. Golf 2/5 từng chịu 64 thương vong gồm 7 người chết lúc mới đến Huế trong 24 giờ đầu tiên, không bao lâu nữa những người mới đến sau rồi cũng sẽ ôm đầu máu như họ thôi.

Tiểu Đội 2 của Fox 2/5 vừa vượt qua trước Golf 2/5 thì lập tức người dẫn đường bị trúng đạn, trợ y James Gosselin 26 tuổi nguyên là lính mũ xanh (green beret) liền tức tốc xông ra để kéo người bị nạn vào nhưng anh này liền bị trúng đạn chết tươi. Năm phút sau đó có thêm hai người bị đốn ngã nữa.

Hai chiến xa được gọi đến yểm trợ để có thể cứu những người bị trúng đạn. Con quái thú 50 tấn khạc từng tràng đại liên 50 vào những cao ốc hai bên đường trong khi TQLC vội vàng phóng ra đường lôi mấy xác chết vào. Các xác người được kéo đi hoặc chất lên lưng chiếc chiến xa thứ nhì để chở về. Ngay lúc chiếc này bắt đầu chuyển động đi trở lui thì một trái B40 bay đến trúng hông xe làm tung hai thương binh xuống đất. Trợ y chạy đến chất họ lên cán khiêng về, thế là tất cả lại rút lui về điểm xuất phát.

Chỉ chưa đầy hai tiếng, Tiểu Đội 2 Fox 2/5 thiệt mất 4 chết , 16 bị thương, kể cả trung đội  trưởng là Th/úy Rich Horner.

Chào mừng quí khách đến Huế.

TQLC chưa kịp chấn chỉnh lại sau một ngày ròng rã chiến đấu thì nay phải thi hành lệnh khác. BCH ở Phú Bài rõ ràng là chưa thấu triệt tình hình bi đát ở đây mới đòi hỏi Tr/tá Gravel phải cử ĐĐ Fox mới tăng phái của Đ/úy Downs mở cuộc hành quân đêm tiến lên nhà lao Thừa Phủ. Gravel kinh ngạc trước một lệnh lạc như thế, ông liền nỗi cơn cuồng nộ. Làm sao cấp trên lại trông mong họ có thể vượt 1.200 mét lúc đêm tối trong khi họ chưa tiến được hơn 15 mét giữa ban ngày? Lời thỉnh cầu xin được cứu xét của ông được chấp thuận. Lệnh hành quân hủy bỏ nhưng chỉ đêm này thôi.

Hôm sau có thêm viện binh và đồ tiếp liệu tới do Đ/úy Ron Christmas dẫn ĐĐ Hotel từ Phú Bài lên bằng quân xa; trong số này có hai xe Duster và hai Onto. Quá giang theo đoàn công-voa còn có thành phần còn lại của ĐĐ Alpha 1/1, vốn bị kẹt ở Quảng Trị hai ngày trước đó rồi được trực thăng vận về Phú Bài. Đ/úy Christmas về sau được thăng cấp dần đến chức trung tướng trước khi giải ngủ.

Quân chi viện lên Huế với một tâm trạng tan thần hồn nát thần vía; số là họ đã được nghe truyền miệng về những nỗi kinh hoàng ở Huế, tệ hơn nữa họ từng chứng kiến tận mắt những đoàn xe chất đầy binh sĩ bị thương trầm trọng chuyển về từ ngày đầu tiên. Trung tâm điều trị ở Phú Bài chật ních người bị thương trong đó có bè bạn của họ. Lời truyền miệng lan nhanh rằng Huế là cửa vào địa ngục.

“Charlie (tiếng lóng ám chỉ quân CS) trên đó dán đít chặt vào nhau,” một thương binh cảnh cáo cho quân tăng phái biết. “Chúng ở khắp nơi và trang bị với mục đích cố thủ. Chôn chặt đít xuống đi đừng dại làm anh hùng.”

Những hoài nghi về lời cảnh cáo đó lập tức tan biến sau khi họ vượt qua cầu An Cựu và cánh đồng dài 600m; xác người và xe cộ để lại dọc đường đó đây, khói tỏa ra từ những căn nhà lỗ chỗ đầy vết đạn. Những cao ốc hai bên QL1 biến nó thành con hẻm chật hẹp và xạ trường lý tưởng cho những tên bắn sẻ. Quân tăng viện như đánh hơi được nỗi hiểm nguy đó; họ cảm thấy sự chết gần kề. Đoạn đường 600 m qua đồng An Cựu đầy cạm bẫy. Một xe Onto đang giữ an ninh mạn sườn cho đoàn xe từ Phú Bài lên Huế. (USMC Photo) 

Xác một người còn nằm trên QL1, gần một xe Jeep của cơ quan MACV bị hư hại vì lọt vào ổ phục kích trên đoạn đường đi qua đồng An Cựu. (USMC Photo)

Đoàn công-voa khởi hành khá trễ vì Đ/úy Christmas hy vọng sẽ có phi pháo yểm trợ. Tuy nhiên, trời mù và mây thấp vẫn không đổi nên họ phải lên đường lúc 2 giờ trưa; một giờ sau thì đến khu nhà ở giáp ranh thành phố, nơi đây họ bắt đầu thọ địch với hỏa lực mạnh.

Ở đoạn cách MACV 300 mét địch cho nổ mìn làm thành một hố lớn trên mặt đường; chiếc quân xa đầu tiên lọt vào đó làm cả đoàn xe phải đứng lại. Hàng loạt đại liên 50 và AK từ trên các cao ốc rót túa xuống, TQLC bắn trả không kém. Họ nhảy vội xuống xe; ý thức được rằng nếu không di chuyển lẹ thì chết nên họ chạy thẳng về MACV bằng bộ.

Cuối cùng thì đám con cái lạc đàn Alpha 1/1 lại nhập về với đơn vị mình và lần đầu tiên kể từ lúc đến thành phố này họ mới có một sĩ quan đến bổ xung. Th/úy Ray Smith nhận quyền chỉ huy đại đội thay cho Tr/sĩ Canley xạ thủ đại liên. Hai ngày trước đây trong cuộc tiếp cứu đầu tiên, Đ/úy Batcheller vì bị trọng thương nên đã giao phó chức vụ này cho anh đến bây giờ. Đại Đội Hotel của Đ/úy Christmas được lệnh thay thế Alpha 1/1 có phòng chỉ huy ở trường Đại Học Huế. Đến Huế chưa đầy nửa giờ, Hotel 2/5 liền bắt tay vào sứ mệnh càn quét địch dọc theo đường Lê Lợi.

Đối với binh nhì Peter Hogan, thành viên của Alpha 1/1 lạc loài, cuộc hành trình đến Huế xảy ra đúng như anh đã được cảnh giác trước. Hoban 19 tuổi con dân của Milton, Massachusetts, đến Việt Nam đã được hai tuần; anh kẹt lại ở Quảng Trị trong khi cả đại đội anh đã bay về Phú Bài từ hôm 30 tháng Giêng, sau đó họ triển khai tiếp lên Huế vào ngày hôm sau. Đến ngày 1 tháng Hai anh mới về tới Phú Bài, từ đó anh chỉ có vài giờ để chuẩn bị đi tái nhập với đơn vị.

“Trên đường lên Huế, tôi thấy có nhiều thường dân chết nằm bên vệ đuờng,” Hogan kể. “ Lần đầu tiên tôi được mục kích tổn thất của TQLC khi vào đến MACV. Có khoảng 30 đến 35 xác bọc trong túi đựng xác đặt ở ngoài sân. Họ nằm đó đôi ba ngày rồi vì người chết không được ưu tiên tải thương.”

Hogan và những người lạc bầy khác sau khi nhập lại với ĐĐ Alpha 1/1 thì được cử đi hành quân chung quanh cơ quan MACV, đồng thời yểm trợ cho ĐĐ Hotel 2/5. Anh đến Huế vỏn vẹn mới được một tiếng. Hogan kể tiếp:

“Bạn đứng không được đâu, bạn phải bò để mà tiến nếu bạn không muốn bị ăn đạn. Trong đơn vị tôi có một nhóc tì tóc đỏ mà tôi chưa biết tên, y có một cây súng phóng lựu M79. Y chết vì trúng một viên đạn vào giữa hai mắt và ông đại úy bảo tôi lấy cây súng đó mà dùng. Khi tôi cúi xuống lấy thì tay y cầm chặt cứng không thể gỡ ra được; tôi phải nạy từng ngón tay ra mới xong. Cho tới bây giờ không ngày nào tôi không nghĩ tới TQLC và Huế.”

Ngay sau 6 giờ chiều, con cái Hotel 2/5 có dịp thử lửa của Huế khi họ hợp sức đánh lại cuộc phản công ác liệt của địch có pháo từ Thành Nội bắn sang yểm trợ. Cuộc đọ súng làm rực sáng cả bầu trời như đêm hoa đăng mừng ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7 và kéo dài suốt đêm, làm bà con lại thêm một đêm không ngủ.

Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray ở Phú Bài lại ra lệnh cho Fox 2/5 thi hành sứ mệnh khác là đi giải cứu ở Lao Thừa Phủ. Lại một lần nữa đơn vị này chỉ tiến được nửa góc phố. Cay đắng thay, cùng đêm ấy, quân BV tràn ngập nhà lao, thả hết 2.200 phạm nhân mà sau này một số sẽ cầm súng chống lại quân Đồng Minh.

*

Ba ngày đầu tiên TQLC đã vận dụng nhiều công sức để chiến đấu đồng thời cũng hoàn tất được khóa ‘vừa học vừa hành’ tác chiến trong thành phố. Thời tiết xấu – mây mù và lạnh – làm giảm tối đa sự yểm trợ bằng phi pháo; địch tự do mặc sức tải thương, nhận thêm tiếp tế và viện binh từ hướng Tây mà không bị cản trở. Thêm vào những bất lợi đó TQLC bị trói tay bởi những can thiệp chính trị là không được sử dụng vũ khí hạng nặng hầu giảm thiểu thiệt hại cho Cố Đô. TQLC tôn trọng cái chính sách mà về sau phải bị hủy bỏ bởi lẽ nếu cứ khư khư giữ lấy nó phe Đồng Minh ắt sẽ gánh những tổn thất không thể chấp nhận được đang ngày càng leo thang.

TQLC rất chậm trong việc lượng định tầm cỡ và mục tiêu của địch; tin tình báo chỉ toàn đoán mò; mãi cho đến khi thẩm vấn được nhiều tù binh rồi họ mới vỡ lẽ.

Tư lệnh Quân Đoàn 1 của Nam Việt Nam, Tướng Hoàng Xuân Lãm, sếp lớn của Tướng Trưởng, mở một cuộc họp báo đầu tiên để thông báo về tình hình tại Huế vào đêm 31 tháng Giêng. Hiển nhiên là ông chẳng có tin nào chính xác trong tay nên mới tuyên bố rằng địch đã bị đẩy ra khỏi tất cả các thành phố trong phạm vi trách nhiệm của ông, ngoại trừ Huế, nơi còn sót lại chừng một ‘trung đội’ đang cố thủ ở khu vực phi trường Tây Lộc. Thật là lời tuyên bố quái gở vì Lãm phát biểu ở Đà Nẵng cách xa Huế hơn 100 cây số về hướng Nam.

Sự thật hoàn toàn ngược lại, địch có đến hằng tiểu đoàn ở cả hai bên sông Hương và không thấy dấu hiệu nào cho thấy họ sẽ chịu nhả những phần đất họ đã chiếm. Hơn nữa, hình như họ có quyết tâm phải ở lại càng lâu càng tốt và xuất hiện công khai càng nhiều càng hay.

Tướng LaHue thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray ở Phú Bài cũng không khá gì hơn Tướng Lãm trong những thông tin về phía địch. Trả lời một cuộc phỏng vấn của một đặc phái viên hãng thông tấn UPI, hỏi về tình trạng đánh nhau ở Huế, ông đáp: “Thật rõ rành rành là chúng ta vẫn giữ khu Hữu Ngạn. Tôi nghĩ là địch chịu không nỗi. Tôi biết họ không thể chống lại nỗi. Tôi không tin là họ có khả năng tiếp tế; khi nào họ xài hết đồ mang theo thì họ coi như tàn.”

Khi ngày 2 tháng Hai gần qua đi với sự giao tranh diễn ra suốt đêm khiến đạn lửa loé sáng rực cả bầu trời, ta thấy rõ là TQLC phải chiến đấu thật khó khăn để giành lấy từng tấc đất. Những báo cáo tình báo sơ khởi đã đánh giá quá thấp về sức mạnh lẫn quyết tâm của địch khi cho rằng chỉ cần ‘một đôi ngày’ là giải quyết xong ‘chuyện nhỏ’ ở Huế.

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Chương 6

Khi người giàu lại quá giàu

Đã mấy tháng trôi qua mà Wang Lung và gia đình anh vẫn chưa trở về cố hương. Họ vẫn nghèo, nhưng họ biết chỗ có thể kiếm thức ăn trong thành phố. Wang Lung chẳng nghe được tin tức gì ở làng quê của anh cả, và anh cũng không biết liệu tình hình đã yên ổn để có thể trở về hay chưa.

Từ nơi này trở về mảnh đất của anh quả là một quãng đường dài. Không biết ông cụ và lũ trẻ có thể cuốc bộ hết được lộ trình ấy không? Và nếu như khi họ về đến nơi mà mọi thứ vẫn chưa thay đổi thì sao?

Wang Lung nghĩ: “Nếu ta có thể kiếm thêm được một ít tiền, thì khi trở về, ta sẽ cần phải mua hạt giống để gieo trồng. Nhưng cho tới lúc hạt giống mọc lên thì ta sẽ sống bằng cách nào đây?” Rồi anh nghĩ đến cái lỗ bí mật trên tường nhà, chỗ anh giấu bạc. Bây giờ họ chỉ có thể kiếm vừa đủ tiền nuôi sống bản thân, ngoài ra chẳng dư được chút nào. Bao giờ anh sẽ có thêm bạc để nhét vào chỗ giấu bí mật của anh?

Wang Lung giờ đây hiểu rằng hầu hết mọi người trong thành phố lớn này đều nghèo khổ. Họ không thể dành dụm được chút tiền nào. Những người dân nghèo khổ này làm lụng suốt ngày nhưng họ chỉ có được một ít tiền và vài vật sở hữu. Có một số người không hề làm việc – họ ăn không ngồi rồi – nhưng họ lại giàu có. Họ có tiền, có châu báu và những ngôi nhà xinh đẹp.

“Nếu anh có cái gì đó, anh sẽ bán nó và trở về mảnh đất của chúng ta” anh nói với O-Lan.

“Có đứa con gái” O-Lan nói. “Chúng ta có thể bán nó cho nhà họ Hwang làm nô tì. Em cũng đã từng bị bán làm nô tì cho nhà họ Hwang đó thôi”.

Đứa bé gái đã cứng cáp hơn và đang tập đi. Nó nhìn cha nó và mỉm cười, lòng Wang Lung tràn ngập tình yêu thương đối với nó. Anh nhớ lại chuyện nó đã suýt chết vì đói khi vừa mới chào đời.

“Anh không thể bán nó” Wang Lung nói. “Nó có nụ cười đáng yêu lắm, anh không thể làm điều đó đâu”.

Rồi Wang Lung ra đứng ngoài lều và la lớn lên: “Tôi sẽ không bao giờ được nhìn lại cô hương của tôi sao?”

Người hàng xóm nói với sang từ cửa lều kế bên: “Có hàng trăm người nghèo khổ như chúng ta trong thành phố này”.

“Cuộc sống của chúng ta sẽ luôn như thế này ư?” Wang Lung hỏi.

“Không” người đàn ông đáp. “Khi người giàu lại quá giàu và người nghèo lại quá nghèo, mọi thứ luôn thay đổi”.

“Tôi có biết chút đỉnh về cuộc sống của những người giàu có” Wang Lung nói.

“Và họ biết chút ít về cuộc sống của anh” người hàng xóm nói và cười phá lên. “Nhưng chỉ một bức tường phân cách chúng ta thôi”.

“Anh muốn nói gì?”, Wang Lung hỏi. Anh nghĩ rằng người hàng xóm muốn nói những tấm vách lều của họ. Những vách chiếu mỏng đến nỗi người ta nghe được mọi thứ đang xảy ra ở lều bên cạnh.

Người hàng xóm chỉ bức tường xám dài đằng sau họ. “Đây là bức tường của một ngôi nhà lớn” ông ta nói. “Của cải mà kẻ giàu trong đó ném đi trong một ngày còn nhiều hơn là gia tài cả đời anh. Họ có châu ngọc và vàng bạc. Những con chó của họ còn được ăn ngon hơn anh. Kẻ giàu thì lại quá giàu, nhưng có một cách để chúng ta có thể thay đổi điều này”.

Tối hôm đó, Wang Lung mơ màng về những đồng bạc. Nhưng anh chẳng hề nghĩ đến người hàng xóm có ý gì khi nói: “Kẻ giàu thì lại quá giàu, nhưng có một cách để chúng ta có thể thay đổi điều này”.

° ° °

Vào mùa xuân, Wang Lung thường thấy những người đàn ông đứng túm tụm trên đường nghe người ta diễn thuyết. Rồi những người khác đi phát truyền đơn cho người đứng nghe.

Một ngày nọ, lúc đang kéo xe, Wang Lung chợt dừng lại gần một nhóm người như thế. Anh nghe thấy một tay diễn thuyết trẻ nói: “Người giàu áp bức người nghèo. Người giàu làm cho chúng ta nghèo”.

Wang Lung luôn nghĩ rằng anh nghèo vì Thượng đế không cho mưa để mùa màng tươi tốt. Thế là anh tới chỗ người diễn thuyết và hỏi: “Thưa ông, mấy người giàu, kẻ áp bức chúng ta, có cách nào tạo ra mưa không?”

“Anh ngu thật” người thanh niên nói. “Anh vẫn còn để tóc đuôi sam kia à. Người giàu chẳng thể tạo ra mưa. Nhưng nếu họ chia bớt đồ ăn và của cải cho chúng ta, thì mưa chẳng có ý nghĩa gì cả”.

Từ đám đông có tiếng la lớn và một người đàn ông tiến lại và nhét vào tay Wang Lung vài tờ truyền đơn. Mấy tờ truyền đơn này chẳng có ý nghĩa gì đối với Wang Lung, bởi vì anh không biết đọc mà cũng chẳng biết viết. Nhưng anh giữ lấy chúng vì anh nhớ ra O-Lan cần giấy để nhóm lửa và để chêm vào những chiếc giày đã vẹt mòn mỏng dính của họ.

Wang Lung không đồng ý với lời nói của người thanh niên. Miệng ăn núi lở, tiền tiêu mãi thì trước sau gì cũng sẽ hết. Nhưng nếu không có mưa, không có nắng, đất đai sẽ không cho mùa màng và cái đói sẽ đến.

Đột nhiên, tiếng la ó ầm ĩ nổi lên rồi quân lính xuất hiện trên đường. Họ mang súng, gươm và bắt giữ vài người đàn ông trong nhóm. Tất cả những người khác rần rần bỏ chạy. Nhưng Wang Lung không thể chạy đi và bỏ lại xe kéo được, vì vậy anh nấp vào cửa hiệu của một ông lão.

“Nằm xuống sàn ấy,” ông lão nói, “đám lính sẽ chóng bỏ đi thôi”.

“Bọn chúng làm gì thế hở cụ?” Wang Lung hỏi.

“Chúng bắt đàn ông đi; đánh nhau ngoài mặt trận chứ làm gì” ông lão trả lời.

“Bắt đàn ông rời khỏi gia đình của họ sao?” Wang Lung hãi sợ hỏi. Anh nghĩ đến những người vợ và những đứa con bị bỏ mặc đói khát khi người chồng người cha của họ bị bắt đi đến cái chết trong chiến trận.

“Bọn lính chẳng quan tâm đến gia đình của họ đâu” ông lão nói. “Tụi lính đi rồi kìa. Về nhanh đi”.

Wang Lung vắt chân lên cổ chạy về nhà cùng với chiếc xe kéo. Rồi anh kể cho O-Lan nghe những gì anh đã chứng kiến. “Chúng ta phải về quê nhà thôi” anh nói.

“Đợi thêm mấy ngày nữa đi” O-Lan nói. “Em nghe được một chút tin tức. Người hàng xóm nói sắp có chiến tranh đấy”.

Ngày kế tiếp Wang Lung không rời khỏi lều vì anh sợ gặp phải tụi lính. Anh bảo thằng con lớn trả chiếc xe kéo cho ông chủ.

Hai ngày sau, nhà ăn công cộng đóng cửa. Wang Lung rời khỏi lều đến nói chuyện với người gác bên ngoài nhà ăn.

“Tại sao nhà ăn bị đóng cửa vậy?”

“Mấy người giàu đỡ đầu cho nhà ăn công cộng trong thành phố đang rời khỏi nơi này” người gác trả lời. “Họ muốn mang theo tất cả tiền bạc. Nhưng quá trễ rồi. Cổng thành đã bị đóng lại. Quân địch thì ở bên ngoài thành phố. Chẳng ai có thể ra vào cả”.

Wang Lung trở về lều. Trên đường về, anh thấy phố xá vắng hoe. Ai có chút của cải cũng đều lo sợ vì quân địch đã đến gần. Nhưng những người nghèo sống ở các túp lều bên bức tường của ngôi nhà lớn không hề sợ hãi gì hết, bởi vì họ chẳng có gì để mà mất cả. Họ ngồi trong lều và chờ đợi. Wang Lung không hề biết quân địch là ai, nhưng anh lại sợ bọn lính và chẳng biết phải làm gì nên anh cũng ở lại trong căn lều của mình.

“Chúng ta phải thoát ra khỏi thành phố này thôi” anh quyết định. “Không có việc làm và thức ăn. Nếu chúng ta còn ở lại đây, chúng ta sẽ chết đói mất”.

Anh bế đứa con gái nhỏ lên tay và nói: “Đứa con ngu ngốc bé bỏng của cha ơi, con có muốn vào ngôi nhà to lớn đằng sau bức tường không? Có đồ ăn và thức uống trong đó đấy”.

Đứa bé mỉm cười, không hiểu anh nói gì cả. Sau đó, Wang Lung nói với O-Lan: “Hồi ở nhà họ Hwang em có hay bị đánh không?”

O-Lan trả lời: “Ngày nào em cũng bị đánh cả”.

Bất thình lình, những âm thanh gào thét và đổ vỡ dữ dội vang lên. Wang Lung và gia đình anh đều nhào xuống đất và giấu mặt đi. Wang Lung dùng tay che kín mặt đứa con gái, còn hai thằng bé thì thét lên sợ hãi. Rồi họ nghe thấy một tiếng động long trời lở đất, như thể nhiều người đàn ông trong thành phố cùng đồng thanh hét lên.

“Quân địch đã phá vỡ được cổng thành rồi”. O-Lan thì thào.

Và rồi những âm thanh khác, gần hơn nhiều, vọng lại phía họ. Họ nghe thấy tiếng kèn kẹt của một cánh cổng lớn.

“Đến đây nào, cổng bọn nhà giàu mở rồi” hàng xóm của họ gọi lớn.

O-Lan nhanh nhẹn rời khỏi lều. Wang Lung dặn ông già và lũ trẻ: “Ở yên đây nhé”. Rồi anh đi theo O-Lan.

Nhiều người chạy về phía mấy cánh cổng ngôi nhà to lớn. Họ gầm gừ trong họng như những con cọp. Wang Lung đi cùng với họ và bị đẩy lọt vào trong ngôi nhà. Đám đông xông vào bên trong, lục lọi các căn phòng, tháo tung mấy cái hộp, kéo đứt màn cửa, lấy đi chén dĩa và quần áo.

Còn Wang Lung thì đi vào nội viên nơi ở của các phu nhân giàu có. Anh trông thấy đằng sau ngôi nhà lớn có một cánh cửa nhỏ, gọi là cửa thoát hiểm. Mấy người đàn bà ở nội viên đã thoát ra bằng cửa này.

Có một người đàn ông chưa kịp chạy thoát. Gã mập này đi ra từ một căn phòng bên trong. Khuôn mặt hắn núc ních và đôi mắt ti hí giống mắt lợn. Trông hắn như là đang buồn ngủ hay say rượu gì đấy. Khi nhìn thấy Wang Lung, hắn liền thét lên: “Xin tha mạng… xin tha mạng… đừng giết tôi mà! Tôi có tiền cho anh đây… rất nhiều tiền”. Wang Lung không có vũ khí và anh không hề có ý tấn công hắn. Nhưng từ “tiền” đã làm lóe lên ngọn lửa trong đầu anh. Tiền! Đứa con gái sẽ được cứu. Anh có thể trở về quê hương! Thế là anh quát lên với giọng thô bạo: “Đưa tiền cho tao mau!”

Tên mập bốc một nắm đầy vàng từ túi áo choàng ra và đưa cho Wang Lung.

“Đưa tao thêm nào!” Wang Lung nạt. 
Tên mập lại đút tay vào túi và lấy thêm tiền ra. “Bây giờ tôi chẳng còn gì để mất nữa rồi, đời tôi thế là hết rồi,” gã nói và bắt đầu khóc lóc. “Giờ thì cút đi, không thì tao cho mày chầu Diêm vương bây giờ,” Wang Lung hét.

Gã mập lủi thủi chạy ra ngoài cổng thoát hiếm và chuồn mất.

Wang Lung rời khỏi nơi đó một mình với hai nắm tay đầy vàng. Anh giấu tiền trong tay áo và trở về lều.

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Chương 5
Ăn xin trong thành phố

Không có thời giờ để kịp nghĩ ngợi về cách di chuyển lạ lùng này của xe lửa. Một nhân viên đi thu tiền đám đông. Hai đồng bạc của Wang Lung là chi phí cho cả gia đình trên chuyến đi một trăm dặm bằng đường sắt. Cho đến lúc này, anh chỉ còn lại vài xu.

Một người bán đồ ăn đẩy xe vào toa. Wang Lung mua bốn ổ bánh mì nhỏ và một bát cơm. Chỗ đồ ăn này còn nhiều hơn cả chỗ thức ăn mà gia đình Wang Lung đã ăn trong suốt mấy ngày qua nên mấy đứa nhỏ không dễ dàng nuốt trôi chúng được. Ông cụ mút ổ bánh mì, cười ngất và nói: “Cái dạ dày ngu xuẩn của ta đến ăn cũng còn lười. Nó đâu có quen được ăn”.

Có vài người trong xe lửa hiểu biết về những thành phố phương nam.

“Chúng tôi sẽ sống như thế nào ở phương nam vậy?” Wang Lung hỏi.

“Anh phải mua sáu cái chiếu” một người đàn ông trả lời. “Hai xu mỗi cái”.

“Rồi sau đó thì sao?”, Wang Lung hỏi tiếp.

“Rồi…”, người đàn ông ngập ngừng, “… anh ghép mấy cái chiếu lại thành một túp lều để sống trong đó. Sau đó anh ra ngoài đường đi xin ăn”.

“Chúng tôi phải đi ăn xin á?” Wang Lung thốt lên ngạc nhiên.

“Ừ,” người đàn ông đáp, “nhưng chỉ sau khi anh đã ăn no. Anh có thể ăn ở mấy nhà ăn công cộng mà chỉ mất một xu thôi. Khi dạ dày đã căng, anh có thể đi xin tiền để mua đậu phụ, cải bắp và tỏi”.

Wang Lung đứng tách ra khỏi mọi người. Anh chưa từng đi ăn xin và cũng không thích cái ý kiến đó. Anh đếm số tiền xu của mình một cách kín đáo. Vừa đủ tiền để mua mấy cái chiếu.

Xe lửa dừng lại vào sáng hôm sau, tất cả đều xuống. Họ nhìn chòng chọc những con người phương nam xung quanh. Những người này có làn da nhờn, nhợt nhạt và nói chuyện một cách khác lạ. Wang Lung khó có thể hiểu được những người phương nam này đang nói chuyện gì.

Anh bảo O-Lan cùng với cha anh và lũ nhỏ đứng đợi cạnh một bức tường xám dài. Sau đó anh đi tìm một cửa hiệu bán chiếu để hỏi và biết được giá một chiếc chiếu là hai xu.

Khi anh quay lại, mang theo mấy manh chiếu, thì đã có những túp lều mới được dựng lên bên cạnh bức tường xám dài. Bức tường chắn cho họ những cơn gió lạnh. Không ai biết bên kia bức tường là cái gì và cũng chẳng ai quan tâm đến chuyện đó.

“Đưa mấy cái chiếu cho em” O-Lan nói. “Em đã học được cách ghép chúng lại với nhau lúc em còn nhỏ”.

Cô xếp thành một túp lều đơn giản, cũng dựa vào tường như những túp lều khác. Mỗi túp lều sát nhau đến nỗi Wang Lung chỉ cần vươn người ra là chạm được vào lều của hàng xóm.

Wang Lung tìm thấy nhà ăn công cộng, nơi dành cho những người nghèo khổ của thành phố. Những nồi cơm lớn được bắc trên các đống lửa. Mấy cái nồi này to như một cái ao nhỏ, nhiều đàn ông và phụ nữ tụ tập xung quanh để lấy thức ăn. Anh đứng với một nhóm, trả tiền xu và lấy ra bát .cơm của mình. Cái bát đầy ắp. Anh không hiểu được tại sao người ta lại phải làm cái nhà ăn công cộng này.

Một lính gác trong bộ đồng phục màu xanh dương và đỏ đứng gần cửa vào nhà ăn. Wang Lung liền hỏi anh ta: “Làm sao biết bao người có thể ăn chỉ với một xu được? Ai phát số gạo này vậy?”

Người lính gác trả lời: “Những người giàu có trong thành phố cho số gạo này đấy”.

“Nhưng tại sao?”, Wang Lung hỏi. “Tại sao mấy người đó lại phải cho kẻ nghèo thức ăn như vậy?”

“Có người làm điều đó như là một việc thiện,” người lính gác trả lời, “để họ có thể nhận được phước lành trên thiên đàng. Còn vài người khác làm vậy để được bạn bè nói tốt về mình”.

“Và vài người làm việc tốt vì họ có trái tim nhân hậu” Wang Lung nói thêm vào. Nhưng người lính gác không đáp.

Sáng hôm sau, gia đình Wang Lung cần thêm tiền, và O-Lan tìm được giải pháp.

“Em cùng với lũ nhỏ và ông cụ sẽ đi ăn xin ở ngoài đường” cô nói. “Tất cả sẽ cầm bát cơm trên tay và la to: Thưa các quý ông tốt bụng, thưa các phu nhân hiền hậu. Làm một việc thiện chắc chắn sẽ nhận được điều tốt đẹp trên thiên đàng. Cho tôi xin một xu thôi. Để đứa bé sắp chết đói này có được cái ăn”.

Wang Lung nhìn cô chằm chằm: “Em học đâu ra cái thứ này vậy? Em học đâu ra cái kiểu xin ăn trên đường như thế?”

“Em đã học được khi còn bé” O-Lan trả lời. “Em đã từng đi ăn xin vào một năm lúc không còn gì để ăn. Vào năm đó, em bị bán làm nô tì cho nhà họ Hwang”.

Ông già đang ngủ bỗng thức giấc. O-Lan nhét mấy cái bát vào tay ông cụ và hai đứa con trai. Rồi họ ra ngoài đường và bắt đầu ăn xin.

O-Lan ôm đứa con gái nhỏ vào lòng. Đứa bé đang ngủ, nhưng đầu nó ngả sang một bên trông giống như đã chết.

“Chúng tôi đói lắm!”, O-Lan bắt đầu rền rĩ. “Cho tôi xin một xu đi, nếu không đứa bé sẽ chết mất!”

Hai đứa con trai chơi trò ăn xin. Chúng đã quên mất cái đói, đối với chúng, ăn xin chỉ là một trò chơi. Chúng la to: “Chúng con đói lắm! Chúng con đói lắm!”, rồi toét miệng cười ngượng nghịu với nhau. Thấy vậy, O-Lan liền nổi giận và đánh chúng.

“Chúng mày vừa ăn xin vừa cười à? Lũ ngu xuẩn! Chắc chắn chúng mày sẽ chết đói đấy, biết chưa!” Và cô đánh chúng mãi cho tới lúc đau cả tay và những dòng nước mắt chảy ràn rụa xuống mặt lũ trẻ.

“Bây giờ chúng mày có thể xin xỏ được rồi đấy” O-Lan nói.

Wang Lung cảm thấy xấu hổ trước cảnh người nhà anh trở thành những kẻ ăn xin. Thế rồi anh lên đường đi kiếm việc làm và tìm thấy một chỗ cho thuê xe kéo. Người chủ hiệu xe giải thích cặn kẽ cho Wang Lung cách thức làm việc.

“Anh có thể lấy một chiếc xe kéo của ta để chở khách” ông ta nói. “Đòi tiền công sao cho vừa với túi tiền của khách. Mỗi tối, anh sẽ đưa ta nửa đồng bạc. Phần tiền còn lại anh có thể giữ lấy”.

Wang Lung nhận một chiếc xe kéo và ra đường. Công việc này nặng nhọc hơn là làm việc ngoài đồng. Từ xưa tới giờ, anh chỉ dùng cuốc xới đất chứ đã bao giờ kéo xe đâu. Lúc đầu anh chẳng biết cách nào tìm được nơi khách cần đến. Anh cũng không biết phải đòi khách bao nhiêu tiền. Nhưng rồi anh học rất mau. Tuy nhiên, tối hôm đó, sau khi trả nửa đồng bạc cho ông chủ xe, thì anh chỉ còn có một xu.

Wang Lung trở về lều và biết được cả ngày O-Lan xin được bốn mươi cắc lẻ. Tính ra được bốn xu đồng. Đứa con trai lớn có tám cắc lẻ, còn đứa em có mười ba cắc.

Ông cụ thì chẳng được xu nào. Ông lão đã ngủ khì bên đường và không xin xỏ gì hết. “Ta đã từng cày đất, gieo hạt và kiếm đủ ăn” ông tuyên bố. “Và ta đã sinh con trai”. Ông tin rằng gia đình sẽ nuôi ông.

Khi Wang Lung ngả lưng sau cả ngày làm việc mệt nhọc, anh nghĩ về mảnh đất của mình. Nó đang đợi anh, xa tận phương bắc. Nghĩ về điều đó, lòng anh cảm thấy thật an bình.

° ° °

Ngày ngày trôi qua, Wang Lung kéo xe suốt các con đường của thành phố lớn miền nam. Anh nhìn thấy nhiều thứ mới mẻ và lạ lẫm. Những người nông dân ở vùng này rải phân chuồng ra đất, vụ mùa tươi tốt. Thực phẩm có ở khắp nơi. Anh thấy gạo và ngô, những con cá còn sống, quẫy mình trong rổ ở khu chợ bán cá, những miếng thịt to dùng treo trong các cửa hàng thịt.

Nhưng Wang Lung không thể kiếm đủ tiền, vì vậy gia đình anh phải tới nhà ăn công cộng để lấy đồ ăn. Nếu có một hoặc hai xu dư, O-Lan sẽ nấu cơm với bắp cải trong túp lều của họ. Trước đó, cô tìm được hai viên gạch và một cái nồi sắt mà ai đó đã vứt đi. Nhưng chất đốt rất khó kiếm. Hai thằng bé đi trộm lá tranh hay cỏ khô ở mấy xe bò của nông dân nên bị họ rượt chạy bán sống bán chết. Đứa lớn mập và chậm chạp, nhưng đứa nhỏ thì nhanh nhẹn và tháo vát nên nó luôn tìm được vài que củi hoặc cỏ khô làm chất đốt.

Một đêm nọ, Wang Lung trở về và thấy O-Lan đang nấu một miếng thịt heo to.

“Ai cho chúng ta miếng thịt này vậy?”, Wang Lung hỏi.

“Con lấy nó lúc người bán thịt không để ý,” đứa con trai nhỏ liền khoe, “nó là của con đó!”

Nghe thấy vậy Wang Lung liền đùng đùng nổi giận. “Ta sẽ không ăn miếng thịt này!”, anh quát lên. “Chúng ta sẽ chỉ ăn miếng thịt nào mà chúng ta mua hoặc xin được. Chúng ta sẽ không ăn thứ thịt ăn cắp!”

“Thịt là thịt mà” O-Lan nhỏ nhẹ nói.

Cô lấy miếng thịt đã nấu ra và xắn nó bằng đôi đũa. Cô đưa một ít cho ông già và lũ trẻ, rồi đút đầy miệng đứa con gái nhỏ, cuối cùng mới tởi lượt mình. Nhưng Wang Lung không ăn một miếng nào. Anh lôi đứa con trai nhỏ ra khỏi lều và đánh nó, vừa đánh vừa chửi: “Làm điều đó là một thằng ăn cắp!”, rồi anh lại đánh tiếp.

Thằng bé chạy lại chỗ mẹ nó, khóc lóc thảm thiết, còn Wang Lung thì đứng ngoài lều một mình trong đêm tối.

“Chúng ta phải trở về mảnh đất của mình thôi” anh nói.

Đất lành

Perl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Chương 4

Wang Lung rời khỏi mảnh đất của mình

Giờ đây Wang Lung đã là một chủ đất và là một kẻ phát đạt, nhưng anh không bao giờ nhắc đến vận may tốt đẹp của mình. Anh lo rằng cá thần linh hay thiên hạ sẽ ghen ghét với anh O-Lan cũng sinh đứa con trai thứ hai và lại sớm sinh đứa thứ ba. Thấy sự thịnh vượng của Wang Lung, dân làng đề nghị cử anh làm trưởng làng.

Nhưng rồi vận may của anh đã thay đổi. Nguyên một mùa hạ sau đó không có cơn mưa nào cả. Đồng ruộng trở nên khô cằn và nứt nẻ, đây đó chỉ có vài cây bắp héo quắt. Ngay cả ao và giếng nước cũng hầu như khô cạn.

“Lũ trẻ và ông cụ phải có nước để uống” O-Lan nói. “Để dành nước trong giếng anh ạ, đừng tưới lên mấy mảnh đất khô nữa”.

“Nếu cây trồng không có nước để sống thì tất cả chúng ta sẽ chết đói mất” Wang Lung rầu rĩ đáp.

Trước mùa đông, O-Lan lại sinh thêm một đứa con, lần này là gái. “Một con nô tì” O-Lan chán chường. “Một đứa con gái. Một con bé ngu ngốc”. Vậy là trong nhà Wang Lung lại có thêm một miệng ăn.

Trời vẫn không có lấy một giọt mưa và dân làng dần dần tuyệt vọng. Họ đói khát, giận dữ và sợ hãi. Họ kháo nhau rằng Wang Lung đã cất giấu tiền bạc và thực phẩm. Nhưng mỗi khi họ hỏi anh: “Anh và gia đình sẽ ăn gì trong mùa đông này?” thì Wang Lung luôn trả lời rằng: “Tôi cũng không biết nữa”.

Vào cuối năm, dân làng kéo tới nhà Wang Lung, họ đã tuyệt vọng và trở nên liều lĩnh bởi sự đói khát. Họ dùng gậy gộc đập tung cửa và xông vào nhà.

“Đồ ăn để đâu?”, họ rên rỉ.

Họ đẩy Wang Lung và gia đình của anh ra ngoài rồi lục lọi khắp nhà. Thực phẩm duy nhất mà họ tìm thấy là một bát ngô và một nắm đậu, vì vậy họ bắt đầu lôi đồ dùng ra khỏi căn nhà.

“Hãy để bàn ghế lại!”, O-Lan kêu khóc. “Các người đã bán hết bàn ghế của các người rồi phải không? Các người có nhiều thực phẩm hơn chúng tôi vì giờ đây chúng tôi chẳng còn gì cả. Ít nhất cũng để lại cho chúng tôi vài thứ chứ”.

Thế rồi đám dân làng cảm thấy xấu hổ nên bỏ đi mất. Họ không phải là những con quỷ, trừ khi họ tuyệt vọng vì đói.

Thế là Wang Lung đưa lũ con đang khóc lóc cùng với người cha già và cô vợ còn run rẩy vì khiếp hãi rời khỏi ngôi nhà. Bây giờ thì chẳng còn tí đồ ăn nào. Dân làng đã lấy đi tất cả.

“Thế nào họ cũng lấy bạc của ta” Wang Lung thầm nghĩ. “Nhưng may mà ta không còn gì cả. Ta đã dùng tất cả chỗ bạc để mua đất. Mà họ thì không thể nào lấy đất của ta được”.

Nhưng Wang Lung và gia đình anh không thể ở lại mảnh đất đó nữa. Nếu ở lại họ sẽ chết đói. “Chúng ta phải đi lên phương nam” anh nói. “Ở phương nam ấm áp luôn có đồ ăn. Chúng ta sẽ chỉ mang theo những gì có thể mang được. Ta sẽ bán đồ gỗ và rời khỏi cái xác nhà này”.

“Nhưng đừng bán dụng cụ làm việc” O-Lan dặn. “Chúng ta sẽ cần đến chúng để làm lụng trên mảnh đất này khi chúng ta trở về”.

Thế là Wang Lung tới chỗ một lái buôn trong thị trấn và bán hết số đồ gỗ mà anh có. Gã lái buôn lấy tất cả giường và bàn ghế với giá hai đồng bạc.

“Ít quá. Chỉ bằng giá nửa cái giường”, O-Lan than vãn.

Gia đình Wang Lung nắm chặt tay cố gắng giữ lấy nhau

Sau đó họ khóa cửa căn nhà trống và bắt đầu đi lên phương nam. Giờ đây, tài sản của họ chỉ là bộ quần áo đang mặc trên mình, chén ăn cơm và mấy đôi đũa.

O-Lan đưa chén đũa của cô cho hai đứa con trai cầm để cô rảnh tay bế đứa con gái nhỏ xíu. Nó mới vài tháng tuổi, gầy gò và ốm yếu.

Wang Lung đỡ người cha già của anh bước đi. Anh rất yêu, nhưng người cha già của anh thì hầu như chẳng còn tẹo cân nào.

“Ở phương nam rất ấm áp và có gạo ăn nữa” anh nói với mấy đứa con trai, “Ở đó các con có thể ăn thoải mái”.

Họ chậm rãi đi xuyên qua thị trấn và đến gần nhà họ Hwang. Hai cánh cổng được đóng và khóa chặt, vài người ăn xin nằm lay lắt phía trước. Một người ăn xin thét lên: “Họ có gạo ăn trong khi chúng ta chết đói! Ngàn lần nguyền rủa nhà họ Hwang!”

Khi Wang Lung và gia đình anh đã đi qua khỏi thị trấn và lê bước đến một thị trấn khác, họ nhìn thấy một đám người rất đông. Wang Lung hỏi một người đàn ông: “Tất cả những người này đi đâu vậy?”

Người đàn ông trả lời: “Họ sẽ lên xe lửa đi tới phương nam. Anh có thể đi xe lửa chỉ với vài xu”.

“Tôi có nghe nói về những chiếc xe chạy trên đường sắt,” Wang Lung nói, “dù tôi chưa từng thấy chúng”. Và anh hỏi O-Lan: “Chúng ta sẽ đi xe lửa chứ em?”

O-Lan không nói gì. Ông già và lũ trẻ ngồi bệt dưới đất. Đứa bé gái nằm yên lặng trong vòng tay của mẹ nó. Cái chết đang dần dần hiện lên trên khuôn mặt nhỏ xíu.

“Con bé vẫn còn sống chứ?” Wang Lung hỏi.

“Nó vẫn còn thở,” O-Lan trả lời, “nhưng chắc nó không qua được đêm nay quá”.

Họ dường như không muốn nhúc nhích nữa nếu như không có tiếng ầm ầm vọng đến từ trong bóng đêm. Đột nhiên, giống như một con rồng, những toa xe lửa xình xịch chạy đến dọc theo đường sắt. Mọi người xung quanh bắt đầu la hét và xô đẩy. Gia đình Wang Lung nắm chặt tay cố gắng giữ lấy nhau. Rồi đám đông chạy rần rần về phía các toa xe lửa, Wang Lung và gia đình anh bị đẩy vào trong.

Lập lờ đánh lận con đen!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Thợ hồ dùng cái bay, thợ mộc dùng cái cưa, cái đục, (thợ) viết văn là dùng chữ.

Dĩ nhiên, viết xong là phải đọc lại chính chữ của mình. Đọc năm lần, bảy lượt. Đọc xong rồi phải gởi cho bạn văn xem trước; coi tụi nó có nói ra nói vô gì không? Có can gián là “chữ của chú chọc cho chúng chửi”!

Nhưng còn cái quan trọng hơn là đọc chữ của người khác để mình học, mình ‘cọp dê’ của người ta.

(Nhưng xin cẩn trọng! Thời buổi ‘Fake News’ của Donald Trump nầy, hỏng biết bài viết ký tên ông đó mà phải của ông đó hay không hay của thằng ‘khỉ gió’ nào (người hầu bàn giả danh) viết xong rồi ký tên ổng; làm ổng tự nhiên kẹt phé, kẹt đủ thứ, phải la trời như bộng!

Chính vì vậy trong bài nầy, tui có trích hay nói thẳng ra là ‘chôm’ vài lời, vài ý, chữ của quý vị nhưng không dám đề tên ra vì không biết phải vậy hay không; xin niệm tình tha thứ…tội.)

Đó đó đa! Cái nghề cầm bút, làm nhà văn, nhà báo nó hay chỗ đó đó. Càng viết càng thông thái vì ‘chôm’ chữ của thiên hạ về làm vốn… hơi ‘bị’ nhiều.

Viết là học, học hoài, học mãi nên trán đã dồ càng dồ hơn, đẹp trai hơn, mắt đã cận ngày càng nặng độ hơn, càng ra vẻ trí thức hơn dù mình đang ngủ… gục!

(Chớ chuyện tiền bạc nhuận bút thì đừng kể số gì. Dám chơi, dám chịu, dám viết dù biết… chữ bán rất ít tiền.)

Chính vì biết vậy cho nên tui không có than vãn như bậc lão thành, nhà thơ Nguyễn Vỹ trong bài ‘Gửi Trương Tửu’ là: “Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An Nam khổ như chó! / Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ Và nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết/ Mà thương cho tôi, thương cho anh/ Đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!”

So sánh như vậy tui cho rằng ông Nguyễn Vỹ đã sỉ nhục con chó.

Đọc Nguyễn Vỹ, có một nhà thơ đương đại, cực kỳ cảm thán nhưng không phải càm ràm về tiền bạc mà càm ràm về vụ không cho sủa, bèn viết bài thơ ‘Con chó’! “Bảo ra đường. Ra đường. Bảo nằm gầm giường. Nằm gầm giường. Bảo sủa. Sủa. Bảo im. Im. Cứ thế triền miên. Một đời con chó!”

Làm tui nhớ đến chuyện thời CS: Chó Mỹ sủa, chủ cho miếng thịt bò. Chó Bắc Triều Tiên hỏi: “Thịt bò là gì?” Còn chó Việt Nam hỏi: “Sủa ra làm sao?”

***

Tình cảnh đã thê thảm đến nước nầy rồi nhưng lỡ dính vô cái nghiệp thợ viết nầy rồi, nó giống như ruồi bay vo ve dính vào mủ mít dính hết có ra luôn.

Nhà văn Sơn Nam, thuở sanh tiền, đã từng nói thiệt như đùa khi trả lời tại sao ông lại chọn nghiệp viết văn, viết báo?

“Nếu phẻ mạnh như Huỳnh Đức, tui sẽ đi làm cầu thủ đá banh. Nếu đẹp trai như Chánh Tín, tui sẽ đi làm tài tử đóng phim. Không phẻ mạnh, không đẹp trai, tui đành đi viết văn, viết báo vậy!”

Chớ cái gì cũng tệ hơn thiên hạ hết ráo chỉ có mớ chữ đành đem ra chợ đời hay chợ trời bán để cầm hơi.

Mà đâu phải muốn viết gì thì viết đâu. Viết ngòi bút phải cong qua cong lại, dùng chữ là phải cân nhắc né… Kẻo chúng bảo sao dám xỏ xiên? Coi chừng vô ‘hộp’. Ăn cơm nhà dẫu gì cũng đỡ hơn ăn cơm tù!

Mà muốn có cơm là phải chạy gạo về cho con vợ nấu, kẻo sắp nhỏ đói khóc rùm trời thì làm sao chịu đời cho nó thấu.

Cái khổ nữa là viết mà muối mặt nịnh dơ, nịnh dở bà con chửi là ‘bồi bút’, ăn miếng cơm mà nước mắt lưng tròng vì nó nhục lắm. Nên thôi bao ấm ức đành để dành trong bụng chừng nào về hưu rồi chửi cũng đặng mà.

Thôi đành chọn cái đề tài nào lành lành, vô thưởng vô phạt, viết quảng cáo đồ ăn. (Dĩ nhiên là làm báo viết quảng cáo không thể nào đọ với băng nhạc làm quảng cáo rồi.

Nghe thiên hạ đồn là: MC Việt Thảo, chừng hơn 15 năm trước, có vi hành qua Melbourne, cái xứ Chuột túi nầy đây, làm một đoạn phim ngăn ngắn về tô phở vừa ăn vừa thở vì nó bự quá, tô xe lửa.

Dĩ nhiên phở phải nóng, khói bốc lên ngào ngạt mũi. Thịt bò Úc thì khỏi chê rồi, vừa mềm, vừa ngọt, rau quế, củ hành ngâm dấm, giá do bà con người Việt mình làm ‘farm’ giao tận tới cửa tiệm nên tươi chong hè.

Xơi phở xong; còn được chủ tiệm trả bù thêm tới 5 ngàn đô Úc công ăn nữa đó.)

***

Nhưng cà nanh mà chi! Dù là dân văn nghệ với nhau nhưng mỗi đứa sanh ra dưới một ngôi sao khác nhau. Làm MC còn được tí ti, còn nhà báo chỉ mong bài nói dóc để tâng bốc; may được chủ quán thơm thảo cho ăn miễn phí, đôi khi ‘chiêu đãi’ thêm vài xị. Tính ra cũng khá hơn tiền nhuận bút nhiều.

Bài tui vừa đọc được có cái tựa toát mồ hôi lạnh là: “Xôi nhà xác”.

Tác giả nầy đặt cái tựa bài báo rất giựt gân làm độc giả ai cũng tò mò muốn đọc. Thì ra ‘Xôi nhà xác’ trên một miếng lá chuối đựng xôi trét mỡ hành, thịt chà bông, vài lát lạp xưởng, rắc đậu phộng, giá 10 ngàn đồng bán gần hai cái nhà xác của nhà thương.

cá tào lao nướng

Rồi bài thứ hai cùng chủng loại, tựa là “Cá tào lao” làm tui cũng tò mó rán đọc. (Cái gì cái chớ cái vụ tánh tò mò tọc mạch của tui ăn đứt em yêu!)

Tác giả viết rằng cá tào lao dù hình thù thấy ớn nhưng thịt ngọt, béo, dai nướng muối ớt, nướng sa tế, nấu lẫu, chiên giòn, làm gỏi… thôi ngon bá chấy!

Nhưng tại sao gọi là cá tào lao hè? Hồi trước nó tên là con cá chìa vôi, cá phóng lao nhưng sau nầy mấy ông anh mình ngoài ‘Nẩu’ đổi tên lại cá tào lao vì cái mỏ của nó dài ngoằng giống cái mỏ của em yêu.

Ở Sa Huỳnh, mụ nào lắm mồm, lanh chanh lách chách được đặt danh hiệu “mỏ cá tào lao”.

Kết luận là phải thông cảm cho mấy thợ viết trong nước nầy, rán kiếm đỏ con mắt được ‘chữ’ nào là là lạ, gợi trí tò mò để nhiều bà con lò dò vô đọc coi nó viết cái giống gì?

Bán chữ như bán phở vậy mà. Phở phải ngon, nhiều khách ăn là mình lủm bạc, viết văn, chữ nó phải súc tích về ý nghĩa, thâm trầm về tư tưởng mới được nhiều người đọc… là nhà văn, nhà báo có thêm chút cháo trắng để ăn với hột vịt muối!

***

Nhưng điều lạ lùng là các cán bộ CS trong nước bây giờ, không viết văn, viết báo gì ráo mà đứa nào cũng khoái chơi chữ.

Chơi chữ không phải để cho bài viết hay bài nói hấp dẫn người đọc hoặc người nghe để chứng tỏ mình là học rộng tài cao, nói năng lưu loát, hùng biện cỡ Mục sư Martin Luther King bên nước Mỹ tư bản giẫy chết; mà chơi chữ để chém vè, để né, để trốn trách nhiệm, để đổ thừa… để tránh búa rìu dư luận.

Chơi chữ để lập lờ (hay mập mờ) đánh lận con đen, dùng mánh khóe gian giảo, xảo quyệt để xí gạt Tú Bà như tên ma cô Mã Giám Sinh trong Truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du vậy.

“Dưới trần mấy mặt làng chơi/ Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa.

Nước vỏ lựu máu mào gà/ Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.

Mập mờ đánh lận con đen/ Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi?

Mụ già hoặc có điều gì/ Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.”

***

Chẳng qua Sài Gòn tháng Năm, mới vào mùa mưa mà đường phố đã ngập tá lả tà la hè.

Đường Ung Văn Khiêm, đường Huỳnh Tấn Phát, đường Phan Anh, đường Quốc Hương… Phải mất 5 giờ nước mới rút hết. Trong khi chờ đợi nước rút thì dân Sài Gòn chịu khó tập lội đi.

Vậy là đường ngập lụt hỏng dám nói trắng ra ngập mà nói đường ‘tụ nước’.

Tụ nước là do nước tụ lại; là do ông Trời, ổng làm mưa. Rồi tại dân. Dân cứ lạy Trời mưa xuống; lấy nước tui uống; lấy ruộng tui cày. Lấy đầy bát cơm…

Nên ông Trời thương người, làm mưa, Sài Gòn nó mới ngập đó chớ.

Rồi tại cái thằng Đế quốc Mỹ hâm nóng quả địa cầu, làm biến đổi thời tiết nên nước lớn cứ dâng lên hoài nên ‘tụ nước’.

Rồi tại dân ở dơ, xả rác bừa bãi, làm nghẹn ống cống thoát nước mưa nên Sài Gòn mới ngập.

Lại bài ca đổ thừa lẫn nhau. Tại đô thị phát triển mạnh. Tại nơi mặc áo mới và chỗ kia mặc áo cũ không có sự đồng bộ… (Lại chơi ‘chữ’: áo mới áo cũ nữa hè!)

Mà đâu chỉ ở Sài Gòn, ở Cần Thơ trong Nam, ở Đà Nẵng ngoài Trung và cả ở Hà Nội ngoài Bắc đều ‘tụ nước’ nghĩa là ngập! Mưa cũng ngập, không mưa cũng ngập hết ráo hè!

Vậy trách nhiệm của Sở Quy Hoạch, Sở Xây Dựng, Sở Giao Thông Vận Tải ở đâu?

Cái đáng lưu ý là những con đường bỗng biến thành sông uốn quanh toàn là những con đường mới phóng, mang tên CS cộm cán không hè.

Tinh ý một chút thì bà con mình biết lý do là tại làm sao rồi. Vì nó dễ hiểu quá mà.

Phóng lộ, hay cất nhà, không cần là kiến trúc sư, kỹ sư công chánh hay kỹ sư xây dựng gì ráo; ai cũng biết là phải làm ống cống thoát nước trước. Hồi xưa Tây nó làm sao không ngập? Việt Nam Cộng Hòa làm sao không ngập? Tới CS làm là nó ngập? Là vì CS chụp giựt, hốt tiền cho lẹ, rồi dông qua Mỹ! Ngu sao mà ở đó mà ở đó lo làm cống trước, đường sau

Bài bản rề rà như vậy thì chưa kịp ăn đã bị đứa khác cưa ghế, giành cái chức mất rồi. Đứa khác lên thay, nó ăn… thì phí cả của ‘giời’.

Mà cái vụ chơi chữ một cách ma le nầy không chỉ trong một lãnh vực giao thông thôi đâu mà về chính trị, quân sự, kinh tế chỗ nào cũng có.

Kết bè kết đảng, chia chác công quỹ thì nói thẳng ra là bè đảng tham nhũng, ăn cắp của dân chớ lợi ích nhóm, cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng là cái gì hè?

Như Trung Cộng đưa tàu xuống vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa thì gọi là tàu Trung Cộng chớ không là tàu lạ gì hết ráo. Thằng ăn cướp vô nhà mình thì phải báo cho dân biết nó là đứa nào. Viết chữ Tàu, nói tiếng Tàu, (bộ ngu sao mà hỏng biết), lại cho rằng tàu lạ?

Thế nên nếu một nhà nước dựa trên sự trong sạch và trung thực; nhứt định không chơi chữ để nói dóc với dân; đừng lập lờ đánh lận con đen, đừng đánh lừa dân bằng mánh khóe gian giảo xảo quyệt nữa nhe mấy cha nội!

đoàn xuân thu.

melbourne

“Làm mất mặt tui quá hè!”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Hồi xửa, hồi xưa là tui đã kính trọng giới phụ nữ rồi. Lạng quạng là Má tui bắt tui cúi nằm lên bộ ván. Má mới nhịp nhịp cái roi mây mấy mà mông tui đã run lên bần bật rồi hè.

Má tui là người phụ nữ đầu tiên tui sợ Vợ tui là người phụ nữ thứ hai tui cũng sợ. Nhỏ sợ Má; lớn lên sợ vợ nên tui mới nên người đó bà con ơi!

Không những sợ vợ tui, tui sợ luôn vợ thằng hàng xóm. Đề cập tới bất kỳ người phụ nữ nào là tui mặt mày xanh chành như trái chanh xanh hè!

***

Vậy mà mấy năm trước, tui đọc báo thấy ông Donald Trump, hổng biết sợ phụ nữ như tui vậy mà dám chỉa mũi dùi vào hang hùm của đàn bà Mỹ.

Chỉa cái gì thì được chớ chỉa mũi dùi vô là chỉ ‘mông xừ Trump’ mới dám ‘chỉa’ mà thôi!

Số cử tri Mỹ, phân nửa là phụ nữ rồi mà ông Donald Trump dám xâm mình, đi đầu trong cái gọi là “cuộc chiến chống lại phụ nữ”.

Trump từng gay gắt đấu khẩu với em dẫn chương trình Megyn Kelly của đài Fox News. Gọi em diễn viên hài Rosie O’Donnell là “Một con lợn mập!”

Hay bảo em Gail Collins của tờ New York Times, có “Khuôn mặt của một con chó”.

Chị em mình bên Mỹ phản ứng một cách rất là quyết liệt:

“Người đàn bà lẳng lơ! Con lợn mập! Chó!” “Đây là cách ông Donald Trump nói về những người mẹ, người chị, và con gái của chúng ta”.

Dẫu chị em mình hô hào chống đối Ngài Trump quyết liệt đến thế như cuối cùng dù hơn 3 triệu phiếu phổ thông, Bà Hillary Clinton, phe chị em mình cũng thua một cách tức tưởi. Đành ôm hận tan vở cái mộng là Nữ Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Thôi về nhà viết hồi ký, không phải để kiếm bạc cắc, mà để kiếm hàng chục triệu đô la cho đở cái buồn rầu thất trận.

Buồn hơn nữa là Ngài Bill Clinton! Đã từng làm Tổng thống tới hai nhiệm kỳ giờ tính làm ‘Đệ nhứt Phu Quân’ nước Mỹ mà ông Trời ổng hổng có cho!

Rồi gần 4 năm nay, suốt nhiệm kỳ đầu, đối với Tổng thống Donald Trump không có lúc nào Trời im bể lặng cả. Mà lỡ Trời có im im là ông quậy đùng đùng cho thế giới nổi sóng lên cho vui.

Vậy là: Có 50% khoái Tổng thống Donald Trump hết biết nhe! Nhưng cũng có 50% ghét Trump thậm tệ.

Khoái thì Tổng thống Donald Trump nói gì cũng khen hay quá là hay xin cho một tràng pháo tay như ‘Fox News’ của Trùm truyền thông Mỹ (gốc Úc) ‘mông xừ’ Rupert Murdoch vậy.

Ghét thì Tổng thống Trump nói gì cũng nhào vô vặn vẹo tới lui hoài hè như ‘CNN’ của ‘mông xừ’ Ted Turner vậy!

***

Tui thì bao giờ cũng nhớ hai câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương rằng:

“Này này chị bảo cho mà biết!
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!”

Nên tui không bào giờ dám mó tay vô hang hùm, viết bậy bạ, viết lung tung để chọc quê mấy em đâu.  Bộ mấy anh tưởng tui là cái thằng chết nhát sao chớ? Hổng dám đâu tui sợ là vì mấy em mình giỏi thiệt đó.

Bằng cớ đâu?

Nè trong thời kỳ đại dịch viêm phổi cấp tính do con ‘coronavirus Wuhan’ gây ra, tháng Chạp năm ngoái, thì bà Thái Anh Văn, Tổng thống Đài Loan, lãnh đạo 24 triệu người – với dân số gần bằng Úc, mới nghe tin về một loại ‘virus’ bí ẩn đang lây truyền trong dân Vũ Hán là bà đã ngay lập tức ra lệnh cấm tất cả chuyến bay từ Đại lục, Hong Kong và Macau.
Rồi Bà Thái Anh Văn cho thành lập ngay một trung tâm chỉ huy về phòng chống dịch bệnh, sản xuất dụng cụ xét nghiệm ‘virus’ và khẩu trang.

Kết quả là Đài Loan đến nay chỉ ghi nhận gần 400 ca nhiễm nCoV, trong đó có 6 bịnh nhân bị thiệt mạng.

Đài Loan đã thành công trong việ kiểm soát đại dịch ‘coronavirus’ và đang xuất hàng triệu khẩu trang để giúp Liên Âu, Mỹ và các nước khác.

Rồi Nữ Thủ tướng Phần Lan, Sanna Marin, 34 tuổi, là nhà lãnh đạo trẻ nhất thế giới nhưng được tới 85% dân Phần Lan chấm là tuổi trẻ quả tài cao. Vì dân số Phần Lan 5,5 triệu người chỉ có 59 người thiệt mạng.

Rồi 5 nước Bắc Âu, có 4 phụ nữ làm xếp sòng, chỉ huy phòng chống dịch bệnh đều thành công. Số người dân bị thiệt mạng vì con ‘coronavirus’ nầy đều thấp hơn so với phần còn lại của Châu Âu.

***

Trái lại, cũng ở Bắc Âu, phe đàn ông chúng ta thì làm dỡ như hạch!

Ông Thủ tướng Thụy Điển Stefan Löfven không chịu cách ly, cô lập gì ráo. Trường học, nhà hàng quán ăn, doanh nghiệp cứ hoạt động ì xèo, bình thường như hổng có gì mà âu với sầu, phải lo lắng hết ráo.

Hậu quả là số người chết so với tỷ lệ dân số cao hơn nhiều so với hầu hết các nước Châu Âu khác.

***

Rồi Thủ tướng Anh, (‘Vladimir’) Boris Johnson cười hè hè về mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh.

Cứ phớt tỉnh ‘Ăng-Lê’, không hạn chế đối với các cuộc tụ tập ăn nhậu. Gặp nhau cứ bắt tay, ôm hôn, má tựa môi kề như cũ.

Hậu quả là lính lác phải chở chính ông Thủ tướng chạy ù ù vô nằm thu lu trong Phòng Cấp cứu về tội giỡn mặt với con ‘coronavirus Wuhan’.

Hổng chết là may!

***

Rồi bên Mỹ, Tổng thống Donald Trump ban đầu kết tội đảng Dân chủ đã chính trị hóa con ‘virus’. Đây là một “trò lừa bịp”.

Nên phè phè, làm lơ các cảnh báo từ các nhà khoa học về dịch tể hàng đầu của nước Mỹ trong suốt tháng Hai, năm 2020. Hậu quả là nước Mỹ phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp vì dịch bịnh tràn lan.

Hiện tại, (cập nhựt ngày 16/04/2020 theo trường Đại học Y khoa Johns Hopkins), toàn nước Mỹ có tới 639.644) người bị nhiễm bệnh. Riêng thành phố New York có tới 10. 899 người đã chết. Cả nước Mỹ hơn 31 ngàn người.

***

Dẫu bà con mình ai nấy cũng thừa biết rằng: Nếu Chủ tịch Tàu Cộng Tập Cận Bình thông minh hơn, nhạy bén hơn, chớ không chổng mông ngồi chơi như con khủng long; mà đóng cửa (ngay lúc Bác sĩ Lý Văn Lượng báo động dịch bịnh viêm phổi cấp do một loại ‘ virus’ mới gây ra có thể bùng phát)’, để ngăn năm triệu người Tàu rời khỏi Vũ Hán vào trước Tết Âm lịch thì tình trạng dịch bịnh lây lan ra toàn thế giới đâu có nguy cấp đến nông nổi nầy.

Tuy nhiên ‘lửa thử vàng’ gian nan’ thử sức. Đụng chuyện mới tỏ mặt anh hào? Biết đứa nào là kẻ tài ba; ai là người bất tài, vô dụng?

Trong 152 nguyên thủ quốc gia chỉ có 10 người phụ nữ, tỉ lệ chưa tới 7% các nhà lãnh đạo chóp bu. Vậy mà 10 người nầy, chỉ 7% nầy, em nào cũng giỏi hết ráo. Trong khi cách đàn ông phe ta thì dỡ như hạch. Thua cả “Vợ Thằng Đậu’.

Thôi vầy nè nhe! Mấy ông anh mình làm dỡ quá thì về chăn bò đi để chị em phụ nữ người ta làm.

Cùng cánh đàn ông với nhau mà mấy ông anh mình làm mất mặt tui quá hè!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Meo huyền

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

1.

“Nhà em có nuôi một con mèo. Hắn không có tên, trong khi nớ con chó thì mang tên Lu. Nhờ con Lu nhà em ít khi bị ăn trộm chui vô, trong khi nớ nhà em nhiều chuột dễ sợ vì nuôi con mèo không có tên, đồ vô tích sự. Bên nhà hàng xóm o người làm lúc mô cũng hò ru em: Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt nồi đồng có quai…” 

Cô ngừng đọc, cô ngó tôi, có vẻ ngao ngán, có vẻ chê bai, có vẻ hết biết. Người tôi nóng, sự hổ thẹn khiến đầu tôi trì nặng cúi gầm xuống mặt bàn. Bàn gỗ nhiều vết rạn nức, hai mẫu tự ai đó cặp đôi bằng dấu cọng lồng vô một trái tim. Tôi sẽ khắc lên đó chữ thù ghét cô nếu cô mãi tiếp tục trò đùa tai quái ấy. Đã có nhiều tiếng cười trỗi lên lùng bùng màn nhĩ. Sĩ số trong lớp là bốn mươi tám đứa cả gái lẫn trai và trai hay gái đều cười một giọng điệu hệt nhau, rất trêu ngươi. Cô bước tới trước mặt tôi, thảy tờ giấy mỏng manh đang co rúm ấy xuống bàn. Con số không thiệt to nằm dưới chữ Luộm Thuộm Dài Dòng Lạc Đề, cùng đi với chúng là dấu chấm hỏi và dấu than; tất cả cô dùng mực đỏ cào đậm nét ở góc giấy uốn cong. 

Sau khi đọc xong bài luận văn cô cho là dở nhất lớp, cô tiếp nối chương trình tự diễn bằng một bài mẫu mực với số điểm tối đa. Cô hắng giọng, trò Nguyễn thị Huyền xứng đáng để mấy em noi gương. Bài luận tuy ngắn nhưng nó có đủ mọi yếu tố để nói rõ tới nhân vật chính: Mèo. Nó đáng yêu ở chỗ mô, nó lợi ích ở chỗ nào. Có nên xem mèo là con vật thiết thân không? Và cô đọc. Cô đi giữa khoảng trống lớp học, từ bảng đen xuống cuối vách rồi ngược lại. Mọi thứ im thin thít, mọi thứ chẳng cục cựa, mọi thứ tuồng đang dóng tai nghe. Tôi thì không, tai tôi điếc đặc, tôi ngó ra vuông sân ngập nắng. Ngoài cổng trường thằng cha bán kẹo kéo đã xuất hiện, bắt đầu dựng chống chiếc xe đạp lỉnh kỉnh đồ đoàn rất rắc rối nhưng cũng rất gợi trí tò mò. Tôi chờ đợi tiếng trống đánh dồn dập nhưng ông cai có vẻ như đang quên nhiệm vụ, hoặc ông bị mụ vợ bắt nhồi nặn bánh bột lọc, xào nhân nhụy tôm thịt từ hồi hôm tới chừ vẫn chưa xong? 

Nguyễn thị Huyền, đứa văn hay chữ tốt kia thì đang nở lỗ mũi. Nó ngồi bàn đầu phía bên kia, cái lưng tròn đầy mà thằng cu Toản lúc mô cũng ưa làm trạng: Con Huyền mai sau hắn đẻ con như gà đẻ trứng cho mà coi. Nói láo cho bà vật tau ra hộc máu… Huyền cắt tóc ngắn, nghe kêu là kiểu bum-bê, ưa dùng ngón tay vén những sợi đi lạc giắt lui sau vành tai. Trái tai có đục lỗ nhỏ rức nhưng chưa khi mô tôi thấy nó đeo bông đeo vòng đeo khoen đeo xuyến như thể những vật trang sức nọ sẽ làm ô uế vẻ ngây thơ tuổi học trò. Mỗi khi tan học, đi cùng đường nhưng khác hướng Huyền luôn quay đầu ngó tôi, ê a ngâm nga ca kệ một điệp khúc: “Tau đi lối ni có hoa có bướm, mi đi lối nớ có ma qủi chận đường”. Ban đầu tôi có hơi ngán nhưng thét rồi cũng bình yên. Đường tôi đi dọc bờ thành phủ bám đầy rêu xanh, cỏ tranh từ trong đó phồn thịnh mọc lấn ra tuốt mép rìa đường nhựa, cỏ xao xác run rẩy thường trực. Châu chấu có nhiều ở mùa hè và cóc nhái ễnh ương kêu than rỉ rả suốt những ngày mưa. Nghe đồn có o con gái thất tình chui vô đám cỏ rậm cả gan uống độc dược tự tử, nghe thêu dệt đêm khuya thanh vắng chính o con gái dễ sợ nớ leo lên đọt cây sầu đông ngồi chơi với đám đom đóm ma trơi luôn quần tụ, lân tinh xanh mướt sáng ngời cả một khúc đường vắng người, nhác chơi. Trong bài luận, tôi có thòng vào cái lí do vì răng tôi ghét mèo: “Em nghe nói, mèo phi thân qua xác chết thì xác chết liền lồm cồm ngồi dậy, cái mới gay cấn ác đức bất nhơn không bút mực nào tả xiết!”. Rõ ràng là cô ghét tôi, sao nỡ nhẫn tâm cho tôi ăn hột vịt lộn khi tôi đưa ra được cái nhận xét quan trọng và hiểm nghèo đó. Người ta đã đặt một con dao trên thi thể khi chuẩn bị khâm liệm, Huyền có biết không, dụng ý là con dao đó sẽ cắt đi, hóa giải được dòng điện do con mèo tạo ra khi nó bất thần nhảy ngang qua xác kẻ xấu số.

 Hiện tại thì cô đang là con dao thiệt bén, cứa vào lòng tôi những nhát đau thương. Tôi là đứa bất hạnh đang hồn lìa khỏi xác. Và Nguyễn thị Huyền đích thị biến thân thành con mèo đen, ngổi thu lu với tất cả vẻ xấu xa của nó. 

2.

Tôi học kém, tôi không phủ nhận chuyện đó. Nhưng nhờ Trời tôi cũng leo ì ạch theo kịp những bước nhảy chân sáo của Huyền. Thỏ hay rùa, chẳng quan trọng. Cái đáng nói là lằn mức của đích tới, cả hai, tôi và Huyền cùng dẫm đạp lên. Cũng đệ Tứ, cũng đệ Tam, cũng đệ Nhị như ai. Khác biệt chăng là tôi học một nơi toàn cả bọn đực rựa, còn Huyền thì kín cổng cao tường nhốt thân trong ngôi trường tinh ròng một binh đoàn con gái, ngó bắt ớn! Thời tiểu học, ham nói chuyện với thằng bạn ngồi bên bị thầy phạt bắt qua ngồi bàn con gái, bị chèn ép giữa hai trò tóc dài có kẹp bướm, sợ tới độ gần són đái. Giờ ni, nếu vô tình đi lạc ngang trường của Huyền vào lúc bãi học cũng còn cái cảm giác ngan ngán, tim đập quờ quạng. Lúc xưa, con nít chay còn rứa huống chi bây chừ ngã mặn o mô cũng ngực nở eo thon yểu điệu áo dài má hồng môi đỏ. Họ có thể bẻ gãy sừng trâu sá chi cái mạng èo uột của tôi. Nhưng nói thật lòng, bây giờ gây lầm lỗi, hình phạt là bị kẹp giữa hai trò khác giống e trong bụng cũng có chút thinh thích, tay chân bức rức và đít sẽ nhấp nhổm tựa phỏng lửa. Chẳng biết mặt o bên trái khuôn trăng đầy đặn hay o bên phải nét ngài nở nang? Lê thị hoa nhường hay Nguyễn thị nguyệt thẹn? Và rồi thì cái mùi thơm kì lạ vừa chui vào khứu giác chẳng biết của người mô vừa xô giạt qua, cho hít ké. Ui chầu, học răng vô hè. U mê ám chướng là điều bắt buộc!

 Nguyễn thị Huyền rất đẹp. Nhỏ không lộ ra, lớn một tí thì e ấp, phải đợi đúng kỳ hạn mới phô bày toàn vẹn, làm bọn con trai chết lên chết xuống… là chuyện hiển nhiên. Nhưng do một sắp đặt bậy bạ của đấng vô hình nào đó, Nguyễn thị Huyền lên xe hoa với một kẻ xa lạ, nếu còn nhật báo, giở mục Từ Thành Đến Tỉnh ra, hẳn bạn sẽ đọc hàng chữ: “từ chết tới bị thương đếm không xuể”. Tôi là một trong số những “thương binh” đang lây lất sống sau ngày Huyền theo chồng vào nam. Tôi chưa bao giờ viết thư cho Huyền vì mặc cảm tự biết phận mình không văn hay chữ tốt bằng cô bạn học cũ. Tôi ôn lại hình ảnh cùng điệu bộ Huyền, cái môi chu, cái lưỡi lè ra và chuỗi cười sảng khoái: Tau đi lối ni có hoa có bướm… Không, Huyền ạ, mình không là đứa ác khẩu nhưng mình linh cảm có khi Huyền sẽ bị ma qủi chận đường. 

3.

Do thời cuộc, do hoàn cảnh, do sinh kế hoặc do định mệnh, tôi vào Sài gòn đầu tắt mặt tối làm đủ bảy nghề, ngoại ngữ gọi là Thất Nghiệp. Tôi lao đao và hư hao. Tôi ốm o và tôi gầy mòn. Tôi xấc bấc và tôi xang bang. Tôi ngác ngơ và tôi lạc hồn. Tôi linh tinh rắc rối luộm thuộm lạc đề cà năm trời thì một bữa đụng đầu Huyền ngay chợ Bến Thành. Bạn có tin tình yêu được khởi đi từ một ánh mắt? Tôi không tin. Nhưng tôi tin có thần Thiên lôi vác búa làm nên sét đánh ngang mày. Tôi choáng váng ở phút giây tao phùng hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Tai tôi lùng bùng, thị tại môn tiền náo có khi được giải thích sai lạc, ngay ở chợ Bến thành âm thanh vỡ bờ đến thế mà tuyệt đối nó không chui được vào thính giác tôi. Tất cả những nhiễu loạn của các nguồn sóng xô bồ vây quanh đều bị chận đứng lại bởi sự xuất hiện thần kỳ của Huyền. Cái loa phóng thanh treo ờ góc chợ lải nhải những chuyện xằng bậy phải nghẻo đầu tắt tiếng. Nó nhường lời cho Nguyễn thị Huyền: Ủa, vô đây khi mô? Chỉ năm chữ, chỉ một câu hỏi tầm thường. Vẫn là giọng nói nhỏ nhẹ, gần như thỏ thẻ; nhưng nó dịu dàng chui vào tai tôi rất rõ tiếng. Tôi đứng như hình dáng núi vọng thê, nghĩa là cứng đờ chẳng tin vào hiện thực. Tôi ngác ngơ như đứa trôi sông lạc chợ lâu ngày một hôm về chốn xưa để phải bàng hoàng bởi những đổi thay, tàn phá kỉ niệm. Huyền tựa một báu vật đã bị đánh tráo, đã bị phủ dụ bằng thứ sơn son thếp vàng giả mạo. Vẻ đẹp nức lòng ngày cũ bỏ trốn đi đâu? Huyền mời tôi đi ăn cơm bụi, dắt lắc léo vào sâu trong chợ. Huyền dùng từ mới lạ: Để Huyền bồi dưỡng cho, ngó gầy quá! Bây giờ thì tóc Huyền để dài, dài như một hồi ức rối rắm khó đi hết đường. Những trang đời giỡ lật nhưng tựu trung nó chẳng soi sáng được điều gì và có vẻ như nó làm tăng thêm sự bí ần luôn hiện diện. Tôi đưa ra nhiều câu hỏi, Huyền nói không dấu che, chẳng bối rối. Huyền li dị đã lâu, lí do: Ông chồng ấy rất mực hoang đàng, ổng có mèo. Huyền chấm câu. Nữa, lại là mèo! Mèo, con vật ấy gần như tượng trưng cho những điều bất chính. Có bồ nhí sao không gọi là tôm cá cua nai bầu gà, thiếu gì thứ, mà kêu là mèo. Nghĩ không ra! Mi đi lối nớ có ma qủi chận đường. Không riêng tôi, chúng ta đều gặp hoạn nạn, phải không Huyền? Và bằng sự chống đối trong tuyệt vọng, chúng ta phải tự mình xoay xở lấy, cố tìm cho ra hoàng đạo. 

Ăn uống no say, tự do độc lập hạnh phúc xong, tôi phải va đầu vào thực tại: Sự chia lìa. Huyền không cho biết địa chỉ thường trú. Huyền nói một câu tối nghĩa: Chẳng ai lường được chuyện ngày mai. Hãy buông thả.  Huyền gọi một chiếc xe ôm, leo lên ngồi ở chỗ trống còn lại. Tôi ngửi mùi khói xăng. Huyền trao cho tôi một phong thư, dặn dò lát nữa hẳn mở. Huyền nói với ông già luôn vặn tay ga: Bác cứ cho xe chạy đi, tôi sẽ nói địa điểm sau. Như vậy, Huyền chẳng cần mặc cả tiền cuốc xe. Thây kệ! Tôi ngó cái dáng ngồi hư hao của Huyền đang bị bụi đường nuốt trôi. Nắng, khói xe hay bởi điều gì làm mắt tôi cay. Tôi cúi đầu mở phong bì. Một xấp tiền với nhiều con số: 10.000, 20.000. 50.000… Và vuông giấy nhỏ. Nét chữ mềm mại: “Huyền đang là cô con dâu của một gia đình người Đài-loan. Huyền sắp lưu lạc. Tiền này không biết cách xài, bạn tiêu phung phí giùm mình hỉ. Thương nhớ. Nguyễn thị Huyền.”

 Tôi lội bộ ra tuốt bờ sông. Sóng nước ở đó luôn cau có và chúng làm tôi chóng mặt dật dờ. Ngó mông lung, tôi không tài nào biết được hướng mô chôn chặt vùng đất mang tên Taiwan. Tôi thầm gọi tên Huyền, nhẫm gọi như lần kêu mẹ ơi mẹ ơi khi bà bị hạ huyệt ở buổi tiễn đưa đơn sơ và buồn đau.

 Năm ấy là năm Mão, lòng người tao loạn đầy nghi kỵ, bội bạc. Gió về đêm buốt lạnh, cây đứng dáng mặc niệm và hoa lá chưa đâm chồi kết nụ dù Xuân đang về.

 Hồ Đình Nghiêm

Mèo cái

 Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Người đàn ông dựng xe ở gốc cây, dưới tấm giấy cứng ghi chữ “Chuyên vá sửa xe đạp”. Anh cởi nón, đứng quạt, ngó con đường bụi mốc dẫn tới cái chợ án cuối tầm nhìn.

– Trời đất, tưởng ai!

Sau ngạch cửa tối om có người bước ra. Áo quần lem luốc, tay chân đen đúa, tóc rối và giọng nói khàn đục.

– Chớ bấy lâu ni đi mô mà không thấy?

Người đàn ông nheo mắt:

– Loanh quanh chỗ cũ chứ biết đi mô!

– Chừ thì răng? Xe trật cóc hay có chuyện chi mà ghé đó?

– Mượn cái bơm, chỉ rứa thôi.

– Rảnh không? Vô đây uống miếng nước.

Hai người bước vào khung cửa tối. Nắng đứng ngoài và dường như nó không đủ sức mạnh để lấn sâu. Chập choạng thứ ánh sáng dán nơi vách xám bẩn. Người đàn ông ngồi xuống chiếc giường tre, nhỏ nhắn, ọp ẹp. Anh vác mặt ra đường.

– Làm ăn buôn bán ra răng?

– Cụ mi thấy đó, ngồi ngáp vặt cả buổi. Cái ruột xe bị chi? Ưa tau vá cho không? Vừa vá vừa nói chuyện.

– Thôi, mất công. Điệu ni bán phức cho yên chuyện!

– Mụ vợ cũng thường hí? Nghe họ nói trên Kim-long có ông thầy thuốc mát tay lắm, uống vô vài thang thì gieo mô đậu nấy. Hai người đã thử chưa?

Người đàn ông đón ly nước từ tay bạn. Ly thủy tinh vẽ sơn lem nhem bên ngoài hình cô thiếu nữ đội nón bài thơ nhìn mặt trời và đôi ba cánh chim bay. Thứ ly mà ở chợ Đông-ba bán tràn đìa, vài đồng mua được cả tá, rẻ như bèo, đổ bể chẳng lấy làm xót ruột. Người đàn ông uống chất nước vàng, không biết gọi là chè hay trà, màu sắc thì đậm đà hơn cả rượu thuốc. Dẫu là thứ gì thì nó cũng mát cần cồ khi trôi xuống bao tử, nẫu ruột!

– Chưa thử. Có con trong lúc ni thì thêm bấn thôi.

– Cụ mi cũng lạ thiệt. Người ngợm tướng tá ngó đâu đến nỗi!

– Chuyện chi nữa đó?

– Còn nhớ thằng Hưng không? Học Hàm-nghi với tụi mình tới lớp đệ tam thì hắn đổi qua bên Quốc-học đó… Ai đời học tới đệ ngũ rồi mà con chim thì nhỏ chỉ bằng cái van xe đạp!

– Nói quá đáng!

– Ấy. Thời đó hắn đái bậy ở am miếu miễu đền nào không biết, về nhà khóc tứng lừng lựng  Mạ ơi Mạ hỡi cả buổi. Hắn vạch quần chỉ con cu sưng tấy mọng nước cho mọi người coi. Cụ mi biết đó, sưng quá cỡ thợ mộc mà chỉ lớn bằng ngón tay cái thì khi bình thường nó không bằng cái van xe đạp là chi?

– Thì đã sao?

– Dĩ nhiên là không sao cả. Bởi giờ này hắn có tới bốn mặt con. Hôm trước hắn đi cà nhắc ghé thăm tau, kể là đương sự bị mụ vợ bắt đi cột cho mụ ta được yên thân tảo tần. Ngồi nhắc chuyện cũ hắn rung đùi cười nắc nẻ, nhỏ to là chuyện lẻ tẻ. Khiếp thật!

– Thôi, lấy cho mượn cái bơm đi.

– Chưa nóng đít đã bỏ đi! Cái số tau ngó vậy mà nhàn nhất bọn. Me! Cuộc đời này chẳng có chi sướng cho bằng làm chủ được bốn chữ…

– Độc lập tự do à?

– Sai. Ung dung tự tại.

– Sao không là “In God we trust”?

– Hả. Cụ mi nói chi?

Người đàn ông bước ra sân. Chợ ở cuối đường vẫn đông, không ngớt gửi về những thứ tiếng động tạp nhạp. Mơ hồ, nghe chẳng rõ hư thực.

– Có con bé bán ly tách chén đọi đằng chợ lúc nào cũng cười mỉm chi với tau. Có hôm sơ ý làm vỡ mất của nó cả chồng chén đất, cụ mi biết em nó nói sao không? Cái anh ni thiệt vô tâm, răng không xô bể cho nhiều thêm để tui tha cái xác anh về mà trừ nợ. Con gái bây giờ có nhiều đứa ăn nói chịu đời không thấu. Phải mà nó thơm chút xíu thì lọ phải ngôn, giờ này nó có thể cầm bơm ra xịt ít phát cho bánh xe cụ mi được năng cứng lên… Ủa, chở cái qủi chi ở yên sau rứa?

– Nuôi mèo không? Định chở nó tới đằng chợ mà thả chơi. Cho nó hết biết đường về.

– Đoản hậu! Có vấn đề à?

– Nó ăn cái giống gì mà đẻ lia chia, tìm người cho không cũng đủ khùng!

– Mèo cái à? Bỏ nó trong bao bố cả buổi vậy sao chẳng nghe nó kêu than gì cả?

– Vậy đó, đến khi cần, đêm hôm khuya khoắt nghe giọng nó réo gọi mới thê thiết. Có nước thức trắng đêm theo nó.

– Ui chào. Đằng chợ kia mèo hoang cả ngàn con, thả nó tới đó mặc sức mà trúng mánh, lập đoàn lập đảng. Cái xứ chi kỳ lạ, chó qúy mà mèo thì chê. Cụ mi quen ai có chó mới đẻ, nhớ xin cho tau một con.

– Rủ rê con nhỏ đằng chợ về sống với nhau có phải thích hơn không? Nuôi thú vật làm sao bằng được.

– Bậy nà. Chó còn biết giữ nhà, đàn bà có khi biết bỏ nhà mà ra đi. Này, tính bán chiếc xe ni thiệt à? Khi mô kẹt tiền nhớ hú tau.

Người đàn ông nắn thử bánh xe, anh vỗ vai bạn như thế một lời cám ơn.

– Đi hí. Chiều hung rồi. Còn về nấu miếng cơm.

– Ủa, chớ mụ vợ làm chi?

– Làm chuyến đi buôn cả mấy ngày rồi, không chừng bả về tối nay. Thiệt khổ! Thất bại lần này nữa thì buộc lòng phải giao chiếc xe ni cho ông thôi.

Người đàn ông đạp xe đi, cái bao bố ở yên sau nhúc nhích. Tiếng mèo kêu nghe phát chán, cứ lập lui lập tới chữ “nghèo, nghèo”. Dai dẳng, da diết.

Xe dừng ở quảng đường vắng, cách ty Thương nghiệp một bãi đất trống. Xe tắt máy, bóng đêm phủ chụp lẹ làng xuống mọi cảnh vật. Gió thổi hiu hiu, mang theo mùi nồng của vùng đất đang cày xới ngổn ngang và rỉ rả tiếng dế từ đó trôi dạt về, không gián đoạn. Động cơ tuy yên nghỉ, nhưng thỉnh thoảng sắt thép còn trở mình kêu ca, bốc hơi nóng luồn lách vào đôi chân.

Quan sát động tĩnh một khoảnh khắc, kể cả ngó tìm vào kính chiếu hậu. Yên hàn vô sự. Đêm sâu hoắm, sâu tới mức trăng sao thảy đều mờ nhạt thiếp ngủ. Gã lái xe nuốt nước bọt, rời những ngón khỏi tay lái trơn tuột. Hắn không kềm giữ được cái độ rùng lan truyền nhanh từ cơ thể chạy ra tới tận cùng những ngón tay vụng cứng. Người đàn bà ngồi bên hơi co thân lại, chiếc nịt vú như nguyên nhân chính làm tim cô đập vội, bởi bình thường nó không chật chội đến thế. Những ngón tay kia đã điều khiển xe, mang chở cô đi và về an toàn trên suốt con đường dài của quốc lộ Một có quá nhiều trạm kiểm soát. Và lần này nó như muốn kéo cô vào một lãnh thổ khác, ở cái nơi mà lý trí dường như là thứ sớm bỏ cuộc nhất. Người đàn bà nhắm mắt lại, lưng hơi cong để vô tình đầu cô dựa khít khao vào thành cửa. Gió phiá ngoài mơn man làm dễ chịu cái vầng trán đang tươm mồ hôi. Những ngón tay làm máu huyết hốt hoảng chạy xuôi ngược, làm miệng cô khô khát và cô đã phải cắn lấy môi mình nhiều bận. Chiếc quần được kéo xuống, thoát vội vã khỏi đôi chân. Cô rướn mình để việc thoát y được suông sẻ. Cô hoàn toàn không muốn hai bàn tay năng động kia lỡ làm rách cái quần “ăn nói” của cô. Nếu rách, cô thiệt chẳng biết sao ăn nói…

– Bao lâu nữa thì tụi mình lại gặp gỡ nhau?

Gã lái xe nói giọng đứt quảng. Hắn có bộ ngực khá rắn chắc. Phiến lưng to, nhờn láng như thoa sẵn dầu mỡ. Khi nói, những chân râu cứng châm chích vào má. Cô thấy nhột nhạt ở mặt và sự ngứa ngáy chạy xuôi phiá dưới cơ thể. Mọi cử động của hắn có vẻ từ tốn, khoan thai, chậm rãi. Làm như cấp bách quá thì lời từ giã sẽ sớm được nói ra.

– Anh lỡ ghiền mùi hương của Trầm mất rồi. Một tuần với Trầm thật không đủ cho anh.

Người đàn bà nấc lên. Cô ngẫng đầu và cô vung phát những cử chỉ gần giống như một người đàn bà đang lâm bồn. Điểm khác biệt là mỗi bên ở một tận cùng thái cực. Sự đau đớn ở cuối đường và hút mắt đầu kia là niềm sung sướng tràn dâng. Đau đớn có thể kéo dài, nhưng hạnh phúc thì luôn diễn ra trong phút giây. Thật không đủ! Cho riêng anh, cho chính tôi, cho chúng ta.

Đêm hừng hực nóng. Cơ thể như cổ máy đã yên nghỉ, nguội dần, nguội dần. Gã lái xe mặc lại áo quần. Hắn thắp một điếu thuốc, khói tuôn mau ra khỏi buồng lái. Khi hít hơi sâu, đầu lửa đỏ rọi cho người đàn bà thấy một phần khuôn mặt gãy góc của hắn, vương vấn ít nhiều gió bụi giang hồ. Lúc hút thuốc, hắn có vẻ trầm tư.

– Đây, phần của Trầm. Lần trước thì sáu bốn, nhưng bây giờ tụi mình bình đẳng, năm mươi năm mươi.

Người đàn bà đón lấy gói giấy báo, nó hơi kềnh càng khi nhét thu vào lưng quần. Cũng chẳng hề gì, con buôn nào mà không từng một lần đóng vai bụng mang dạ chửa khi đi qua những trạm quan thuế. Biết cách nôn mửa thì càng tốt. Con buôn Trầm lại khác, đi bên hắn, tên “giặc lái” này như thể có ô dù, không một ai gạn hỏi rầy rà khi hắn trình tờ giấy giới thiệu của một cơ quan khỉ mốc nào đó của tỉnh Bình-trị-thiên. Thuận buồm xuôi gió.

– Trầm ưa xuống đoạn nào? Thương-bạc hay cầu Gia-hội?

Người đàn bà thở dài:

– Khoảng giữa. Chợ Đông-ba.

Xe rùng mình, hai ngọn đèn lòa sáng xẻ rách màn đêm. Những con vật bé xiú bay quờ quạng giữa vũng màu chói. Xe rú lên, chồm mình ra con đường trồng sánh đôi bóng điện vàng, thắp bạc nhược suốt lối về nhà. Và lối đi khuya khoắc ấy trở nên hun hút sâu dưới mắt người đàn bà.

Người đàn bà gác chân lên xô nước, lau chậm rãi từng vuông da. Lau đùi, lau mông, lau lưng. Cổ, ngực… và sau cùng dùng khăn lông kì cọ qua về trên bụng. Cô áp bàn tay vào đó, đứng bần thần, như thể một người đang tự tra vấn mình, tìm hiểu xem đã ăn nhằm thứ gì trong ngày để giờ này phải chột bụng.

Buổi tối điện cúp, người đàn bà bước ra khỏi buồng tắm với một mẩu nến tàn lụn khá nhiều. Theo chân đi, ngọn lửa trên tay cháy nghiêng về phiá sau khiến người đàn ông đang gối tay nằm trên giường nhìn thấy đốm lân tinh chớp sáng trên màu lụa trắng. Màu trắng, nó chẳng tượng trưng được điều gì cả, nhưng ít ra, nó nói hộ ta một chuyện: Nó sạch sẽ nhất so với những sắc màu khác nó. Đã thế, sau khi tắm gội xong, vợ anh sẽ rất “ăn” với cái màu trinh nguyên ấy. Tại sao lại gọi là màu trong khi nó trắng ngần, nó sạch bong?

Người đàn bà đặt cây đèn cầy nơi chiếc bàn nhỏ kê sát đầu giường. Cô khởi sự chải tóc. Trước đây, khi còn là học sinh, cô có mái tóc thề rất mực mượt mà. Lấy anh xong, cô cắt mái tóc ấy đi, như cắt bỏ chuỗi ngày hồn nhiên để trực diện những khốn khó khi vào đời. Tóc ngắn, điều đó làm người cô trông có vẻ khỏe mạnh hơn. Sự khỏe mạnh biết lan truyền qua người anh nỗi an tâm, gieo cho anh cái ý tưởng khó có người bắt nạt được cô ấy.

Một hai giọt nước rơi xuống mặt người đàn ông. Mát, ngọt. Anh lười biếng giữ nguyên dáng nằm, đón nhận sự tĩnh lặng, lơ mơ thụ hưởng niềm sảng khoái nào đó vừa hiện tới.

– Nghĩ thật buồn cười… dài lưng tốn vải ăn no lại nằm… những ông nhà thơ là những kẻ tiên tri.

Người đàn bà thôi chải tóc, cô kéo những hộc tủ và đóng nó lại sau khi thò tay vào lục soạn.

– Em muốn kiếm tìm cái chi?

– Cái quạt. Anh không thấy nóng sao?

– Anh đang cầm trên tay. Nằm xuống đi, để anh quạt cho.

Người đàn ông dang cánh tay cho vợ gối lên trên, bàn tay kia xòe chiếc quạt giấy phe phẩy hình cánh cung. Ngọn nến cháy run đốm lửa.

– Em thổi tắt đèn sáp hí?

– Kệ, cứ để rứa, cho nó tự lụn tàn.

– Ngày ni anh làm được những chi, kể em nghe.

– Anh ra chợ mua hết những thứ em ghi trên giấy. Giặt đống áo quần, hứng đầy những xô nước dự trữ. Viết cho thằng bạn tị nạn bên Pháp một lá thư. Hết, xong một ngày! Nghĩ cũng lạ đời, cái đời mà trong đó nó hoán đổi tài tình cái chức năng giữa gái và trai. Em bương chải bên ngoài và anh lại cặm cụi việc nội trợ. Xã hội bây giờ không tin tưởng lắm khi giao việc cho bọn đàn ông. Bao giờ thì lí lịch của mỗi người được trong sạch?

Người đàn bà không nói gì. Cô nhìn con thằn lằn đang di chuyển kiếm ăn trên trần nhà. Và cô đếm, có cả thảy là năm con. Cô dong tay lên, uốn éo co giãn những ngón rồi mượn đốm sáng duy nhất trong phòng để chiếu hắt lên vách hình thể những con thú. Với hai bàn tay quyện vào nhau, người đàn bà có thể thay đổi dáng dấp từ con chó sang con thỏ, tới con cò, con rắn con rùa…

– Úi chào, sao mà mỏi hai cái bả vai!

Người đàn bà than, hai cánh tay buông mạnh xuống mặt chiếu.

– Tại hôm nay khiên phụ bà Qúy đống hàng. Nặng như qủy sứ!

Người đàn ông thôi quạt, anh ngồi dậy sửa soạn đấm bóp cho vợ. Người đàn bà để yên cho chồng cởi từng hạt nút áo. Bên hông người đàn bà có cái bớt đỏ. Hình dáng sẽ thay đổi tùy thuộc vào dáng nằm của cô. Méo, tròn, bầu dục. Nó như triện son thế vì khai sanh nhằm cầu chứng sự có mặt ở đời. Mỗi lần nhìn thấy dấu vết riêng tư kín đáo ấy, người đàn ông đều liên tưởng tới chuyện tiết trinh. Ở trong cổ tích, người ta dựng nên truyền thuyết: Con gái, khi thất thân, cái đốm màu đỏ chu sa đó sẽ bị phai nhạt đi. Đêm nay, dưới mù lòa ánh nến, cái bớt kia dường như có phần biến đổi. Nó đen đúa tựa như có người nhúng mực xạ để lăn dấu tay vào đấy. Nó giống vệt dầu nhớt mà ta sơ ý bị vấy bẩn, thấm qua làn vải mỏng, ngấm rút xuống thịt da.

– Thằng bạn hành nghề vá sửa xe đạp nói với anh trên Kim-long có ông thầy mát tay lắm.

Người đàn bà lật úp thân thể lại.

– Ông ta trị được bệnh đau lưng không?

– Không. Ông xắc vài thang thuốc, uống vô thì gieo mô đậu nấy.

– Có nghĩa là sao? Thực sự thì anh đâu cần những thứ bậy bạ đó.

Người đàn ông dừng tay. Từ vai, anh di chuyển những ngón xuống mông vợ và lật ngửa người đàn bà lại.

– Không chắc lắm, nhưng em nghĩ mình đã có thai.

Khi nói, người đàn bà chẳng nhìn mặt chồng. Tia mắt đâm thẳng lên trần nhà. Cô lấy cánh tay đắp lên vầng trán đang gợn nhăn, như thể ánh nến có thể làm người ta chói lòa nhãn quang.

Người đàn ông nhìn xuống cái bớt đen, cố nhớ lại một cột mốc, một khoảnh khắc của quá khứ. Bao lâu rồi, chúng ta đã ra sức đền bù cho nhau với sự rên siết đồng lõa của chiếc giường long chân này?   

– Có ai gõ cửa phải không? Anh nghe tiếng động gì không?

Người đàn ông bước xuống khỏi giường, đi chân đất rón rén lại gần cánh cửa. Anh áp tai vào tấm ván mỏng dùng ngăn chia, định hình cái thế giới nhỏ bé của mình và bên ngoài là một cõi ta bà lao lung những hoạt cảnh của lầm than nhớn nhác khổ ải triền miên. Cửa được mở trong ái ngại, cảnh tỉnh. Trống trơn, không một ai. “Meo, meo…meo”. Dưới chân anh, con mèo tam thể vừa lách mình vào. Nó dụi mặt và liếm lấy những ngón chân trần của người đàn ông.

– Đồ tinh ranh! Xa xôi như rứa mà mi cũng biết tìm đường về.

Con mèo đi khoan thai vào chỗ ngủ của hai vợ chồng. Trên mình nó, đốm lông đen di động trông hệt như cái bớt bí mật của người đàn bà. Nến lung linh ứa chảy chất sáp xuống rồi phụt tắt. Phòng tối thui. Chỉ có một vật thể sáng nhờ nhợ: Bộ đồ lụa của người đàn bà. Cô nằm với tư thế dạng chân.

Hồ Đình Nghiêm

Mày biết đời là gì

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 22 Dec 2023

* Viết, sau khi nghe bài hát chẳng mấy hay “Bonjour Viet Nam” của Marc Lavoine.

 1.

  Quán cà phê Mèo Đen. Cả bốn con mắt cùng nhìn thấy bảng hiệu. Xe gắn máy tấp sát lề đường, thắng đứng. Gã trung niên trả về số không, chống một chân xuống đất. Người đàn bà ngồi phía sau nhích mông rời ghế xe.

 – Đứng yên chỗ này, đừng dời đổi.

 – Bà chị yên tâm. Tôi vẫn để máy nổ?

 – Ừa, cao tay chỉ mất năm phút là cùng.

 Bà sửa lại khẩu trang, đeo xách ny lông ở nách, ngó trước trông sau và xăm xăm đi vào quán. Gã điều khiển xe nhìn theo. Nắng làm hoa mắt, ô cửa đen ngòm nuốt vội chiếc áo màu vàng của người đàn bà. Nhạc kích động ùa ra thềm. Chát chúa tiếng đàn tiếng trống. Buổi trưa mà quán cà phê không vắng. Chẳng phải cuối tuần mà có lắm kẻ ngồi tụ đàn đấu hót.

   Phục vụ viên, lo phần tiếp khách đều là con gái. Áo quần hở hang theo quy định, “điện nước đầy đủ”, che bớt da thịt thì sẽ sập tiệm vì chẳng còn khách lai vãng. Mèo đen. Đứa nào đặt tên thật có ý nghĩa. Mèo ưa nũng nịu cạ thân vào, lim dim mắt khi được vuốt ve. Tuy đen nhưng người đàn bà vẫn nhìn ra mục tiêu. Vừa đi vừa thò tay vào túi ny lông. Con dao Thái lan mang theo hàn khí khi rời chỗ ẩn. Dao vung lên, lạnh lùng, tàn nhẫn.

 – Con đĩ mẹ mày, tao chém cho mày biết đời là gì.

   Nhiều tiếng rú cất lên. Tiếng ly tách rơi vỡ. Những bàn chân chạy, hoảng loạn.

 Máu đã đổ. Không một ai can thiệp. Tất cả đều đứng một góc, trương mắt ra ngó. Lực lưỡng có, ốm o có, tóc dài có, đầu trọc có. Tai đeo khoen có, mũi đục lỗ có, thun ba lỗ khoe mình đầy vết xâm cũng có. Nam nhi cả tá nhưng không hề là đại trượng phu.

 – Mả cha mày. Chừa cái thói đi hại đời con gái nhà lành, nghe con.

 Người đàn bà tuyên bố câu cuối cùng. Bà quay lưng, đi bước dài. Gã trung niên làm nghề chạy xe ôm vẫn đen đúa đội nắng chờ khách trở ra. Khách đeo khẩu trang nên chẳng trông được nhan sắc. Khách ôm eo. Đôi tay còn run.

 – Thăng.

 Chiếc xe phóng chạy theo mệnh lệnh.

 – Về hướng ngoại ô nghen.

 – Dạ được.

  Người đàn bà ngó lui. Mọi thứ đều bình thường. Cây vẫn xanh lá. Đường vẫn lắm xe. Bụi bặm và khói xăng. Nóng bức và đứng gió. Chẳng có gì lạ.

 – Anh hành nghề này đã bao lâu?

 – Có hơn sáu năm nay.

 – Ngon cơm không?

 – Chị nói sao?

 – Sống thong thả hay chật vật?

 – Trời! Thong thả nghĩa là sao hở chị? Tôi và chiếc xe này giống nhau, lật đật chạy ngoài đường cả ngày. Bỏng khét, bá thở chỉ hòng nuôi hai miệng ăn qua bữa.

 – Tới nghĩa trang thì anh quẹo phải.

 Chiếc xe nấc lên, rùng mình mỗi khi sang số. Người đàn bà sẽ cạ thân vào lưng gã mỗi khi hắn đạp thắng. Nhưng nói chung, với sáu năm lèo lái, có thể nói hắn điệu nghệ. Lòn lách giỏi, biết chạy lắc léo, chưa từng bị ùn tắc khựng đứng. Đen đúa, bẩn thỉu như đa số bọn hành nghề chạy xe ôm.

  – Nuôi hai miệng ăn? Nghĩa là chỉ hai vợ chồng đùm bọc? Con cái thì sao? Chúng tự lập thân?

 – Không. Tôi chẳng có vợ con. Tôi nuôi mẹ già.

  Hỏi, trả lời. Cả hai phải dụng sức gần như hét. Đường luôn chan tiếng động, ngay cả chiếc xe đang lao, máy nổ cũng rầm rộ góp tiếng. Tên lái xe la toáng lên:

  – Chị đòi được nợ chưa?

  – Rồi.

  – Nó chồng đủ tiền hay sao mà mau dữ dậy?

  – Chồng đủ.

 – Má tôi thiệt thà, cho người bà con vay hai chỉ vàng, ngày một ngày hai nó lặn mất tiêu. Tôi chạy xe bay tóc trán tìm không ra tăm hơi đứa quỵt nợ. Khốn kiếp!

 – Thôi, bỏ tôi xuống đây.

 Xe thắng gần một bãi rác. Vắng người, vì chẳng còn gì để bới móc thu hoạch. Tan hoang. Kể cả ruồi, chúng cũng tìm nơi bốc mùi mà tụ họp, ở đây chả còn hương vị gì. Người đàn bà trả tiền cuốc xe.

 – Đời có vay có trả, nó chạy không khỏi đâu. Tin tôi đi.

  – Tôi cũng nói câu đó với má tôi. Chỉ nhằm an ủi bả.

 Gã trung niên đếm những tờ giấy bạc, cất vào túi áo. Hình như có thừa một tờ năm ngàn nhưng gã không nói. Lặng yên quay xe trở ra.

 2.

 Người đàn bà cầm bó tiền được cột bằng sợi giây thun. Bà không đếm, như thể với trọng lượng đó, với bề dày đó, là đủ, chẳng thiếu. Hoặc giả bà tin cậy tới kẻ trao tiền. Bà nói:

  – Tôi đi.

  – Vội thế. Làm miếng nước đã.

 Người đàn bà ngần ngừ, sau cùng ném cái khẩu trang xuống bàn gỗ và ngồi lên mặt ghế nhựa. Ly nước nằm trước mặt. Nước màu đen, có thể xá xị, có thể Coke, có thể là cà phê Trung nguyên. Bà ngó lên gã đàn ông. Đã lâu rồi, họ quen nhau ở chợ trời. Ông ta bán thuốc Tây, còn bà là kẻ chuyên đi đòi nợ. Một thứ nghề cần nhiều máu lạnh, vô cảm trước những than khóc đớn đau. Có lẽ ông ta cũng vậy, thuốc ông bán đa phần là trụ sinh, dùng để cứu người; đôi khi cũng có thể giết người. Trường hợp ngoài ý muốn. Ông ta sẽ nói thế. Và dong đôi tay lên trời, miệng chửi rủa: Mẹ kiếp, chúng nó trao thuốc giả, có thánh mới biết! Nó chết là bởi cái tuối thọ của nó chỉ trường tồn tới ngang đó thôi. Làm sao hơn?

 Chuyện ngày xưa. Nó giống một trang sách liêu trai đã lật qua. Bây giờ khác, rất chí dị trong thay đổi và rõ nét nhất là ở người đàn ông. Chẳng biết hắn làm chuyện gì mà tiến bạc rủng rỉnh? Áo xống tử tế, diện mạo tươi nhuận, đỏ da thắm thịt. Hắn ngồi xuống ghế. Cách bề rộng của chiếc bàn, người đàn bà ngửi được mùi dầu thơm từ phiá kẻ đối diện lùa qua. Một thứ mùi dễ làm nhột mũi, ưa hắt hơi. Thoang thoảng chút gợi dục.

 – Có lẽ tôi lại nhờ chị một lần nữa.

 Người  đàn bà đón lấy điếu thuốc. Hơi chồm người qua để dí mặt vào ngọn lửa vừa được thắp lên.

  Khói thuốc thơm. Ai bảo thế? Nó hôi và độc hại. Biết vậy, nhưng đôi khi người ta cần nó. Để tính toan. Để cứng rắn. Để mơ mòng. Để hoài nghi. Để tỉnh thức. Mặt người đàn bà phủ màn ngờ vực. Bà từ tốn đưa ra câu hỏi, hơi e dè:

  – Lại chém người?

  – Không. Lần này nhờ chị dắt nó đi phá thai.

  – Chuyện nhỏ.

 – Tìm chỗ đáng tin cậy. Làm ăn vén khéo. Chớ quan hoài chuyện tiền bạc.

  – Nó đã mang thai rồi sao? Chóng thế? Làm sao biết?

 Người đàn ông cười. Tiếng cười khô, sặc; nghe tựa tiếng ho.

  – Có những niềm riêng người ta dấu kín như thứ bí mật quốc phòng. Như mèo dấu cứt. Nhưng mang thai. Trời, nó lộ liễu quá, chị không thấy sao?

  Trên bàn chẳng có gạt tàn, người đàn bà ném điếu thuốc hút dở xuống đất rồi dí dép nhựa lên trên, đay nghiếng, chà đạp. Giọng người đàn ông tuôn đều đều, như tụng kinh:

 – Phải làm sớm. Có thể dăm bữa nửa tháng nó sẽ đi mất đất sang Đài loan.

  Uống hết ly nước. Người đàn bà đứng lên.

   – Chị có gì để hỏi không?

   Người đàn bà ngó quanh, bước tới mở vòi nước để rửa tay. Trên vách có treo  tấm gương soi, bà nhìn vào đó và trông thấy mặt con mẹ nào thật lạ lẫm. Bà để những ngón ướt nước vuốt tóc con mẹ ấy. Nước mát lạnh thật dễ chịu, làm trán bớt cau có. Bất thần vuông gương hứng thêm khuôn mặt mày râu  nhẵn nhụi của gã đàn ông.

 – Cỡ như tôi muốn sang Đài loan đổi đời có dễ không?

   Bà nói mà không quay mặt lại. Nhìn cái môi dầy trong gương nhóp nhép:

  – Chị thật biết nói đùa.

 – Sao?

  – Con bé ấy mới có mười bảy tuổi. Nó mới thất thân lần đầu và tương lai sáng lạng hẳn còn rộng mở. Tụi đàn ông Đài loan không phải đứa nào cũng đui chột. Vả lại chị đi rồi tôi biết trông cậy vào ai? Rách việc mất.

   Người đàn bà tắt vòi nước. Chùi hai tay vào vạt áo.

  – Quan trọng vậy sao?

 – Phải. Ngày mai nhé. Khoảng tám chín giờ cho đất trời mát mẻ. Tôi biểu nó chờ chị ở đây.

 – Tôi đã già chưa?

  – Chị phải biết điều đó hơn ai cả. Sao lại đè tôi mà hỏi?

 – Giả như anh đè tôi ra giờ này chắc tôi sẽ không có phản ứng gì ráo.

  – Là sao?

  – Trên người tôi chẳng có thứ gì hấp dẫn cả, phải không?

 – Đừng nói vậy. Đàn ông xứ này còn tệ hơn bọn Đài loan Hàn quốc nhiều. Không tin hả? Đêm hôm chị đi lơ ngơ một mình, chúng hiếp cho nát người ra.

 – Thôi, tôi đi. Mất thì giờ!

  – Vậy nhé. Trăm sự nhờ chị. Lo chuyện này xong, thưởng công, chúng ta tắm táp sạch sẽ cùng nhau ôm ấp làm việc đại sự. Để chứng minh: Với tôi, chị còn hấp dẫn chán. Tiền bạc không thành vấn đề, đúng không?

 Người đàn bà bước qua ngạch cửa. Nhà hàng xóm có ai đốt vàng bạc, hứng trong thau nhôm, đặt ở sân đất. Khói mù mịt, che bít lối đi.

  – Đéo mẹ!

   Người đàn bà chửi vào khoảng không.

 3.

  – Tôi chạy xe ôm đã sáu năm. Có nghĩa là cô nên tin tôi. Tôi tựa như thổ địa vậy. Biết thổ địa là gì không? Là ma xó đó. Địa chỉ nào, đường phố nào, hẻm hóc nào mà tôi hổng rành!

  – Có xa không chú?

  – Cô sốt ruột rồi sao? Ngồi chưa nóng đít! Ừ, mà tôi hiểu. Ai cũng thế cả, tâm trạng chung. Ở phương xa về thăm lại quê cũ mà, ắt phải nóng lòng.

 – Nhà cửa ngỗn ngang… Trước đây có đông đúc vậy không chú?

  – Trước đây là bao giờ? Mà thời nào cũng thế, phố phường thì lúc nào cũng chộn rộn. Ở bển chắc dữ dằn hơn nhiều, phải không cô?

  – Chú có thân nhân sống ở nước ngoài không?

  – Làm gì có. Vô phước là ở chỗ đó. Tôi sống với mẹ già, mình bỏ trốn, lấy ai nuôi bả. Người có tình cảm thường cực thân. Không bì được với bọn vô tâm, chúng hơi bị vô tư thoải mái ở đời thường!

  – Đời thường là gỉ?

 – Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Chắc cô quên tiếng Việt đương đại đã bộn bề?

  – Đương đại là gì?

 Chú lái xe ôm đã không trả lời. Cô gái ngồi sau bấu cứng chéo áo nhìn cảnh vật hoang đường vất chạy lui sau. Xe gắn máy giã từ phố thị, chạy qua cầu xi măng, rẽ xuống đường đất, song song với con lạch cạn nước. Nước màu đen. Cắm xuống thân nó là những cọc gỗ xiêu vẹo, hứng đỡ bên trên thứ nhà cửa rách nát vá víu bằng nhiều tấm bià cứng. Mì ăn liền hiệu Mamy. Sữa đặc hiệu Hột xoàn… Xe chạy bên này và mùi hôi rượt đuổi bên kia. Mùi bùn, mùi rác và mùi quen thuộc của loài người: Cứt! Có người đang ngồi ỉa, đưa cái đít sần sùi ra và vật bị thải đang chực rơi xuống vũng bùn. Con lạch, cái mương, cái ao này trước đây hẳn nhiều cá? Uổng! Cá không còn mà quây quần đớp hít động đậy dưới chân bèo. Cá đã bỏ chốn cũ để ngơ ngác ra hoà nhập với sông hồ nước cao sóng lớn biển mặn dâng tràn tai ương.

  – Chỗ này sao xác xơ vắng lặng vậy chú? Có đi nhầm nơi không?

 – Không. Đến rồi. Xuống đi.

 Xe dừng trước cái chòi lá nằm khuất sau bụi cây. Gã cúi mặt sửa lại vành nón tai bèo như không muốn cô gái nhận diện. Chân sang số, vặn tay ga. Xe gầm gừ quay một vòng, tìm đường cũ mà truy phong. Cô gái đứng một mình, gần như đồng không mông quạnh. Bụi cây ra hoa, ngầy ngật tỏa ngát hương thơm. Không. Hoa vô hương vô sắc. Mùi thơm kia vốn từ cơ thể cô mà phát sanh. Chanel hay Gucci? Làm sao biết được? Hương đồng cỏ nội đã cúi rạp mình mà say khướt trong gió thoảng ngất ngây. Cô nắm chặt sợi dây da ở cái xách đeo vai. Hoang mang, hối hận. Lạ! Sao chú kia lật đật quày quả đến nỗi quên nhận tiền cô trao. Thơ ngây! Cô không hề tưởng tượng được gã ấy đã run tay nhận nửa triệu trước khi sà tới đón cô ở cổng khách sạn. Túi cộm tiền. Im re và đứng cúi đầu. Đù má, mày cà chớn ông thịt bà già mày cú một. Hiểu không? Hiểu. Thà bất nhơn chứ chẳng thể bất hiếu. Gã rồ máy xe, ồn ào để khỏa lấp những lo toan. Và sau đó tuân thủ một cách đúng bài bản, phép tắc. Hợp quy định, đạt chỉ tiêu của mấy ổng đề ra. Vất cô gái xuống điểm X đánh dấu mực đỏ trên bản đồ bỏ túi.

   Cô gái thò tay vào túi xách sờ nắn, lôi ra được cái điện thoại di động. Đã trễ. Hai thằng đàn ông đưa cả bốn tay bịt mồm ôm cứng cô ta. Mùi hương của cô, nước da trắng ngần không tì vết của cô vô tình trao cho chúng tất cả sức mạnh, vượt ngoài mức đòi hỏi khi muốn khống chế một kẻ chân yếu tay mềm. Hồ hỡi phấn khởi là thứ phương ngữ nghèo nàn, chẳng nói hết nổi mừng vui đại thắng của chúng.

 Buổi chiều ở đấy thật êm ả. Hoàng hôn chưa về, mây trắng còn bay hững hờ trên nền trời xanh. Chẳng một cánh chim đảo qua. Tịch lặng. Nước mắt cô gái chảy đầy, ướt cả bàn tay hung bạo. Cho hay có khi, có nơi, ban ngày ban mặt mà quỉ dữ vẫn lộng hành!

 4.

  Người đàn ông đứng tần ngần, mặt lộ vẻ hốt hoảng pha chút phiền muộn, mệt mỏi. Chỗ ông đang đứng, thú thật chẳng mấy ai ưa đặt để đôi chân. Trụ sở ấy, tự bản thân, nó toát ra cái gì đấy, ngầm đe dọa. Nó là đường ranh mong manh chia cắt giữa nhất nhật và thiên thu. Tạm trú và thường trú. Nhà cửa và chấn song ngục tù.

  – Vào đi.

 Cánh cửa khép hờ. Tiếng nói từ bên trong vọng ra, nhắm tới ông. Ông xô cửa, mỏi gối chồn chân, đá cứng chân mềm. Nền gạch hoa đen trắng vuông tròn đánh lừa nhãn quang rối bời hai con mắt mông lung. Đồ vật trang trí trong phòng đa phần nhuộm sắc đỏ. Băng-rôn, biểu ngữ, cờ xí, huy hiệu, sơ đồ, biểu đồ ngành nghề thảy đều đồng phục. Nóng. Màu cách mạng. Ngộp thở.

  – Ngồi đấy.

 Ông ngó xuống chiếc ghế trống. Cái bàn gỗ tiệp màu và đàng sau gã công an mặt cau có vừa ban phát mệnh lệnh.  Ông ngồi. Ở một chiếc ghế kê sát vách, lùi sâu góc phòng có đứa con gái ôm mặt khóc nấc. Đầu tóc rối và lụa là nhăn nhàu, sắc diện áo quần thảy lấm lem bất thường.

  – Ông là Trần văn đại Gia?

 – Dạ phải.

 – Hừ. Tên nghe oách nhỉ? Giấy chứng minh nhân dân đâu?

  Người đàn ông trình tấm thẻ căn cước bọc nhựa, vói người đưa bằng cánh tay run.

 – Quan hệ thế nào với cô Minh Đài?

 – Thưa nó là cháu tôi, gọi bằng cậu.

 – Là thế nào? Phải nói cho rõ.

  – Là tôi có bà chị ruột. Lập gia đình rồi chỉ mang thai, chỉ đẻ ra đứa con gái duy nhất, đặt tên là Nguyễn thị Minh Đài. Tôi là cậu nó, là em má nó.

  – Được. Lần gặp gỡ mới nhất của hai người?

 – Dạ… dạ e đã có hơn mười năm. Má nó làm giấy tờ bảo lãnh, rồi thì biền biệt cách chia.

  – Rườm lời! Có nghĩa là từ khi cô ấy về thăm lại quê hương giàu mạnh ông chưa hề gặp mặt?

  – Chưa hề.

  Người đàn ông nhìn tới hướng cô gái. Giọng ông òa vỡ cốt cho cô ấy nghe ra:

  – Tại sao vậy cháu? Chớ tội tình chi mà cháu phải chịu đọa đày! Đột xuất. gây nên sự cố bất ngờ mà làm gì? Muốn cậu ngạc nhiên mà làm chi. Cậu đã già, tim mong manh lắm Đài à. Đường Yên Đỗ không bước lại nhắm chốn đoạn trường mà đi!

 Ông ca cẩm, ông càm ràm mà như đang đọc thơ Kiều. Lời lẽ tuồng như oán trách số phận. Hồng nhan đa truân. Người bạn dân tỏ vẻ khó chịu khi nghe qua. Đưa tay ra dấu cho một tên công an còn trẻ lại gần:

 – Sang phòng bên xem thử đã thu hoạch được gì?

  Phòng bên cách ngăn bằng tường vôi viết đầy khẩu hiệu ca tụng sự chí công vô tư. Cửa gương mờ đục được mở ra.

  – Chuyện gì?

  – Anh Năm bảo diễn tiến vụ việc đến ngang đâu?

  – Đấy. Cái túi xách của cô ta chứa đựng toàn những thứ linh tinh. Son phấn mỹ phẩm. Một cuốn sổ ghi địa chỉ, số điện thoại. Mười lăm ngàn tiền Việt nam kẹp bên trong. Hai thỏi kẹo cao su. Một đĩa CD. Một miếng băng dùng  khi có tháng. Hết. Không có đô la, chẳng có tài liệu gì sất.

 – CD à? Nghe thử chưa?

  Dưới chân dung Hồ chủ tịch, dưới hàng chữ “Không có gì qúy hơn độc lập tự do”, ở trên cái tủ sắt sơn xám có đặt để chiếc máy màu đen. Một trong ba gã công an cầm dĩa nhạc tới, mở Power, bấm Play, sờ nút Volume: “… Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme…”

  – Nhạc gì thế? Tiếng Mỹ hay tiếng Liên xô thế?

  – Tiếng Đan mạch đấy. Việt kiều từ Đan mạch về mà lị.

 – Ừ nhỉ. Đan mạch là chốn nao? Chúng mày biết nó rêu rao những gì bên trong?

  – Im coi nào. Nó có nhắc tới Việt nam nữa cơ. Lại tuyên truyền cái gì đấy phỏng?

 – Bố khỉ! Cơ quan mình có đồng chí nào am tường tiếng nước ngoài không?

  Câu hỏi chẳng có trả lời. “…images de la guerre. Un film de Coppola, des helicopters…”

 – Bực cả mình. Thu cất cái này làm tang chứng vật chứng. Có khi nhờ nó mà ta điều tra được cả một chuỗi âm mưu thâm độc chăng?

 – Bắt buộc rồi. Thưa với anh Năm là bảo cô ấy nghiêm chỉnh viết bản tự khai, dịch minh bạch lời bài hát là rõ.

 – Nhất trí.

 5.

  Người đàn bà chận gã mặc đồng phục bệnh viện ở hành lang thắp sáng dãy đèn xanh mướt.

  – Sao rồi?

 – Tiền bồi dưỡng đâu? Con bé đang nằm nghỉ. Khoảng nửa giờ thì có thể về nhà.

 Người đàn bà bắt tay thằng đàn ông. Trong hai bàn tay nắm ơ hờ kia là khoảng tiền trà nước buộc phải có, bất thành văn tự. Cả hai bàn tay từng thấm nhiều máu. Bên chém người và bên cứu người, moi từ cửa mình chật hẹp ra cục máu chưa tượng hình. Rồi cái cửa mình lắm chuyện ấy sẽ rặn đẻ, vất ngoài cõi đời những đứa con lai Đài loan. Nhưng đó là chuyện mai hậu. Hiện tại, đứa con gái nhắm hờ đôi mắt, dang tay dạng chân nằm trên giường với nước da tái.

 – Đau không?

   Con bé mở bừng mắt ra. Mắt long lanh, mắt như biết cười khi nhìn thấy người đàn bà.

 – Đau chớ. Thằng bác sĩ nó vọc rõ lâu. Nó còn đòi cạo lông cắt tỉa nghệ thuật cho em nữa cơ. Khiếp! Bàn tay nó nóng một cách lạ lùng. Bận sau lỡ có vào cô nhớ tìm cho em bà bác sĩ thì tốt hơn. Đàn bà với nhau… Cô hiểu không? 

 – Biết đau đớn ê chề thì tại sao còn nói tới bận sau?

 – Bao lâu thì về hả cô? Chân đang còn run.

  – Không gấp. Hồi nào cưng nghe khỏe hẳn tính.

 – Mồm miệng đắng chát. Dắt em đi ăn tô phở cao cấp hả cô. Tự dưng sao thèm quá mạng!

   Phòng có hai giường, ngăn chia bằng tấm màn vải màu xanh vấy bẩn ở đường biên. Chỗ vấy bẩn đang có bàn tay kéo nó sang bên. Tiếng những khoen sắt móc trên màn chạy xô về một phía nghe ê răng.

  – Cậu đưa cháu về khách sạn đi. Cháu hãi chỗ này quá.

  – Thì mình cũng nên làm đúng thủ tục. Xem kết quả vết thương có bị nhiễm trùng không đã. Bịnh ết, bịnh xi-đa, giang mai lậu mủ các thứ.

  – Họ đòi bao nhiêu hở cậu?

 – Trước mắt là ba triệu. Sau đó thì linh động gia giảm tùy theo mức độ khám nghiệm thuốc men.

  – Gì mà dữ thế?

 – Ai biểu cháu làm Việt kiều. Cháu nổi bật giữa đám đông mà cháu không hay biết.

 Người ta thèm khát, người ta ganh tị, người ta đố kị những thứ mà cháu có.

  – Mai mốt cháu lấy vé máy bay. Cháu về lại bên ấy sớm. Cậu đừng buồn nhé. Chuyến đi thăm quê hương vỏn vẹn đúng ba ngày.

 – Cậu không buồn. Cậu trách mình lúc nào cũng bó tay trước nghịch cảnh. Cậu bất lực, cháu đừng giận, xin thông cảm. Mình người Việt với nhau mà sao…

 Người đàn ông bỏ lửng câu nói. Mắt đỏ hoe. Hai tay xoắn xít với nhau, bức rức, rối rắm.

 – Chuyện gì đã xẩy ra?

  Người đàn bà ngồi giường bên cạnh hỏi vọng sang.

  – Chuyện đau buồn cá nhân giòng họ. Chị hỏi làm gì?

  – Chỉ mặt thằng nào đã hại cô này. Tôi cam kết với ông là sẽ chém nó theo yêu cầu. Từ chết tới bị thương…

 – Cám ơn tấm lòng nghĩa hiệp của chị. Lúc này đây người tôi đang bị bằm vụn ra. Tôi đang là kẻ u mê ám chướng. Nhưng mà chém, biết chém chừng nào mới thôi? Bọn gian ác lúc nào cũng hằng hà sa số. Chị không thấy mỏi tay sao?

  Người đàn bà ngậm câm. In tuồng sát thủ đã nhìn ra chân lý, vỡ lẽ mọi căn nguyên.

 – Cháu nằm xuống một tẹo, đắp chăn lên. Cậu ra ngoài tranh thủ hút điếu thuốc và gọi một chiếc taxi.

  Người đàn ông kéo lại tấm màn vải. Bước ra hành lang, đi xiêu lạc. Ông xô cửa, bóng tối đổ ập xuống thành phố. Đèn đường bừng sáng và những con thiêu thân bắt đầu lao vào với tất cả sự mù lòa.      

  – Oan nghiệt!

   Người đàn ông nói một mình. Ông đốt lửa điếu thuốc và hút nó với điệu bộ của một con nghiện đang lên cơn.

  – Chị Sáu ơi! Đớn đau quá chị Sáu ơi! Ngày xưa vượt biển chị bị bọn hải tặc Thái lan hãm hiếp đến khờ khạo, giờ này đứa con duy nhất lá ngọc cành vàng của chị cũng bị bọn đầu trâu mặt ngựa Việt nam thay phiên làm nhục ở cố hương. Nó về thăm em mà làm gì? Thăm thằng cậu tật nguyền này mà được cái chi? Ta về ta tắm ao ta… Mả cha cuộc đời quá vô hậu!

 Hồ Đình Nghiêm

  Tháng Tư, 06

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Tháng Hai 2, 2020 
Post by Sơn râu 22 Dec 2023

Bài 9 

Chương 5

Cứu Nguy Thành Nội 

Đ/úy Ty Cobb có một công tác quan trọng phải hoàn tất trong ngày 29 tháng Giêng, đó là đi xin thực phẩm về để cho lính VN của đơn vị mình vui ba ngày Tết. Anh quê ở Sparta, New Jersey, là cố vấn quân sự phục vụ cho SĐ1 BB hai, ba tháng trước khi được điều về làm với Tiểu Đoàn 2 Dù NV đang tạm thời đóng quân ở Quảng Điền, nằm về phía Bắc Huế, cách Cây Số 17 khoảng 15 km về hướng Đông. Anh đem theo một xe Jeep và một quân xa nhỏ men theo đường đất để đến Cây Số 17, từ đây anh dùng QL1 đi xuyên qua Huế rồi trực chỉ Phú Bài.

Huế tấp nập xe nhà binh và dân chúng đi sắm sửa chuẩn bị ăn Tết. Cobb say mê chiêm ngưỡng vẻ đẹp và sự yên bình của thành phố. Anh thấy nụ cười trên khuôn mặt những người mà anh bắt gặp trên đường. Sao họ không cười được, họ đang được về ăn Tết với gia đình mà.

Dù đã nhiều lần có dịp đến Huế qua công tác nhưng lần nào anh cũng trầm trồ trước cái vẻ đồ sộ của hoàng thành Huế. Càng tiến gần thành phố anh càng thấy cả tòa kiến trúc như muốn nhảy chồm về phía mình. Dãy tường thành nổi bật hẳn với nhà cửa chen chúc bên ngoài; nó vươn mình cao ngất như các thành lũy bên Âu Châu thời Trung Cổ.

Khi hai xe đến gần cầu Trường Tiền, anh chợt nhớ lại về cuộc hành quân tuần trước đây. Tiểu Đoàn 2 Dù NV được không vận đến một khu vực cách Huế 8 cây số để điều tra về một báo cáo hoạt động của CS ở đây. Nhiều năm sau Cobb kể lại:

“Chúng tôi khám phá được một hầm thật lớn chứa đầy vũ khí mới toanh còn nguyên trong thùng. Gồm có hằng chục cây đại liên, 6 súng cối 60 mm, 27 súng trường SKS có gắn lưỡi lê, dụng cụ giải phẫu và 3 tấn gạo. Đây đúng là cấp số thuộc một bộ chỉ huy cấp trung đoàn. Có điều họ không tìm thấy địch quân nào cả.

“May mắn là chúng tôi không đụng độ vì nếu có thì chắc họ đông hơn chúng tôi nhiều,” Cobb tiếp. “Bấy giờ có lẽ họ đã cải trang làm thường dân và đang dọ thám thành phố Huế.”

Số vũ khí được chuyển về BCH SĐ1, rồi ra vài tuần sau nữa chúng sẽ trở nên hữu dụng khi được đem dùng để chống lại các cuộc tấn công.

“Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy việc tịch thu được số lượng lớn vũ khí này đã giúp cho quân trú phòng ở Huế tiên liệu được một cuộc tấn công sẽ xảy đến,” Cobb nói. “Có thể chúng tôi đã góp phần giúp họ cầm cự được lâu hơn.”

Thế rồi Cobb mau mắn xua đuổi những suy nghĩ về số vũ khí bị tịch thu trong khi tiếp tục lái xe về phía Phú Bài, nơi anh đang có một sứ mạng quan trọng hôm nay phải thực hiện cho xong. Dù sao thì giới tình báo của BTL SĐ1 đã tỏ ra không lo lắng cho lắm và Cobb cũng không nghĩ là địch đang có kế hoạch mở một cuộc tấn công qui mô vào khu vực này.

Hai quân xa vào đến Phú Bài và Cobb chất đầy số thực phẩm anh xin được gồm 60 cân đường (người Việt rất hảo ngọt), 10 cân cà-phê, hai két đào lon, vài hộp corned beef (thịt ức bò đã nấu chín và được ướp muối), và ít hộp bánh ngọt. Chuyến trở về chậm hơn nhưng cũng không có chuyện gì xảy ra.

Hôm sau Cobb và Th/tá Thạch đến viếng bốn đại đội của tiểu đoàn để phân phát thức ăn. Buổi trưa có cuộc liên hoan tân niên tại bộ chỉ huy tiểu đoàn. Cuộc vui kéo dài đến khuya, lúc nửa đêm vài người xách M16 ra bắn lên trời, có người đốt pháo.

Sau đó thì lặng yên như tờ.

*

Hôm trước Tết, Đ/úy Jack Chase cũng có một công tác tương tự. Anh quê ở Jericho Center, Vermont, là cố vấn quân sự cho ĐĐ3, Tiểu Đoàn 7 (3/7) Kỵ Binh NV đóng tại Cây Số 17 ở Tây Bắc thành phố Huế. Chase kể:

“Tôi xin cho lính VN loại phụ trội của khẩu phần lương khô C vì họ thích ăn kẹo cao su và kẹo ngọt, có điều là đồ cạo râu thì họ không xài vì họ khoái dùng tay bứt từng sợi hơn.”

ĐĐ 3/7 vừa có một cuộc tống cựu nghinh tân; Tr/úy Trần Văn Minh mới thay thế cho Đ/úy Nguyễn Văn Thi hồi tháng trước, nay ông đang làm quen dần với đơn vị mới. Chase thuật lại:

“Anh em binh sĩ đều nễ phục Đ/úy Thi như thần thánh còn Tr/úy Minh vì mới về nên cần thời gian để tạo uy tín.”

Chiều Mồng Một, đơn vị ăn mừng năm mới với lễ nghi rình rang và trao đổi nhau quà cáp. Minh tặng Đ/úy Chase một album đựng ảnh có bìa tráng sơn mài mà đến giờ anh ta vẫn còn thích. Bàn dọn đầy thức ăn nấu theo truyền thống và một số món cầu kỳ khác nữa. Tiếng cười nổ rang trong tinh thần huynh đệ chi binh.

“Họ hạ một con trâu để làm tiệc,” Chase nhớ lại. “Suốt đời tôi chưa bao giờ được ăn qua một thứ thịt nào dai như thế.”

Đêm đó mọi người hả hê đi ngủ bụng đầy căng.

*

Một trong những nhiệm vụ Đ/úy Chuck Jackson phải làm để chuẩn bị đón Xuân với Tiểu Đoàn 7 Dù NV là kiếm đồ uống.

“Thứ ưng ý của chúng tôi là whisky Nhãn Đen (Black Label), kẹt lắm mới uống Nhãn Đỏ (Red Label).” Jackson nói. “Còn thứ hợp ‘gu’ khác nữa là rượu cognac Hennessy.”

Jackson, con dân của Macungie, Pennsylvania, vì lí do an ninh nên mới cùng đơn vị Dù này di chuyển về An Lỗ ở phía bắc Cây Số 17 vài ngày trước Tết, sau đó họ được rải đều khắp miền thôn quê. Anh cùng Th/tá Lê Văn Ngọc đi thăm hết 4 đại đội để chia xẻ niềm vui đầu năm. Về đồ ăn Việt, anh có ý kiến:

“Một số đồ ăn tôi thấy ngán quá nuốt không nổi, điển hình là thịt heo do làm chưa kỹ còn đầy cả lông. Duy chỉ có nem là tôi ăn được thôi. Phải công nhận là ngon. Về sau tôi mới biết họ bọc lá để thịt heo lên men cho chín tới.”

Đêm ấy Jackson cũng như Cobb và Chase ai cũng đi ngủ ngon lành không hay biết gì đến cuộc tổng tấn công đang sắp sửa diễn ra. Sáu giờ sau, định mệnh sẽ đưa ba đơn vị này lại gần nhau, trong trận đụng độ đẫm máu với lực lượng hùng hậu của địch, trong nỗ lực cố ngăn chận không cho địch tiến vào Huế; đồng thời họ được triệu về đây để cứu nguy cho BCH SĐ1 đang bị vây khốn.

* Tướng Ngô Quang Trưởng gọi cứu viện lúc 4g30, ông kêu Trung Đoàn 3 đang tản mác bên ngoài Huế và Tiểu Đoàn 7 Kỵ Binh về tiếp ứng; đồng thời ông thỉnh cầu Trung Ương xin được phép chỉ huy trực tiếp Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù số 1 (gồm 3 Tiểu Đoàn 2, 7 và 9). Sau khi được chấp thuận, cả ba đơn vị này liền lập tức có lệnh kéo ngay về Huế. Riêng Tiểu đoàn 9 Dù và ĐĐ2, Tiểu Đoàn 7 Kỵ binh đang bận phải chống trả cuộc tấn công ác liệt của địch đánh vào căn cứ ở Quảng Trị cách Huế 50 km về phía Bắc nên không thi hành lệnh cứu viện được ngay.

Tình hình Huế hôm 31.1.68. Các mũi tên xanh lục là đường viện binh NV đến tiếp cứu BTL. Mũi tên xanh là của TQLC Mỹ từ Phú Bài lên giải vây cho MACV. Những chỗ kẻ sọc là nơi bị quân cs chiếm. Các đường kẻ đứt quãng là đường tiếp tế của Cộng quân. (FMFPac Headquarters)

Chase kể lại: “Chúng tôi nhận lệnh lúc 4 giờ 30, và vì chưa bị tấn công nên nghĩ là chuyện chắc không lấy gì làm ghê gớm lắm nên chỉ chuẩn bị đủ cho một cuộc hành quân 3 ngày.”

Trong khi ấy ở cách Cây Số 17 tám cây số về hướng Bắc quân Dù của Tiểu Đoàn 7 bị đánh thức vì địch pháo kích từng chặp. Một giờ rưỡi sau họ nhận lệnh nhập chung với đơn vị của Chase để lên Huế.

Hai đơn vị gặp nhau ở Cây Số 17, rồi cùng tiến dọc theo QL1 lúc 9g20. 12 xe thiết vận xa của Phân Đội 3/7 dẫn đầu dưới nắng mai rực rỡ. 375 binh sĩ Tiểu Đoàn 7 Dù tỏa ra hai bên đường, mỗi bên hai đại đội. Đường hỏa xa chạy song song với quốc lộ bên tay phải. Nhiều người cất nón sắt để đội bê-rê đỏ truyền thống của mình.

Khi cách Huế chỉ còn 5 km, đường sắt chạy gần sát với quốc lộ hơn và khoảng cách chỉ còn 100m khiến lính mủ đỏ phải đi lệch xa thêm về bên phải để dễ kiểm soát mặt kia của đường rầy.

Đến trưa lúc có thể thấy Hoàng Thành hiện rõ trong tầm mắt thì chiếc thiết giáp dẫn đầu bị ăn ngay một trái hỏa tiễn làm nổ luôn đạn chứa trong xe gây cho 8 người tử thương. Đoàn xe bị ngưng lại.

Chase thuật lại: “Từ khoảng đất nằm giữa Quốc Lộ và đường rầy, họ đặt súng B40 chờ xe đến gần chừng 5, 6 m mới khai hỏa, không ai ngờ họ dám nằm lộ liễu ra đó để phục kích, chỉ cần một bụi tre nhỏ họ có thể núp được rồi.”

Tất cả trong đoàn xe kinh hoàng trố mắt nhìn chiếc xe bị ăn đạn nổ tiếp đợt hai. Không ai dám đến gần cứu người bị kẹt bên trong vì sợ còn nổ nữa. Chiếc xe thứ hai lại gần để quan sát cho rõ hơn thì bị trúng một quả khác. Nhiều người liền nhảy xuống xe kiếm chổ núp. Những xe thiết giáp còn lại bắt đầu cày nát hai bên vệ đường bằng những tràng đại liên 30 và 50.

Chase kể tiếp, “Đến khi tới gần được để quan sát chiếc xe dẫn đầu mới thấy thịt xương của những người chết bị tan nát ước chừng hốt lại không đầy một nón sắt.”

*

Đại đội đi đầu của Tiểu Đoàn 7 Dù ở sườn trái bắt đầu bị ăn đạn từ phía một nghĩa địa lớn ở trước mặt bắn qua. Sau khi thảo luận vắn tắt với Tr/úy Minh, đại đội trưởng 3/7 Kỵ Binh, quyết định được đưa ra là Dù số 7 sẽ tấn công thẳng vào nghĩa địa trong khi những thiết xa còn lại bắn yểm trợ vì các xe này không hoạt động trong nghĩa địa được do có những mô đất và bia đá.

Địch chờ quân Dù tiến sâu được nửa đường rồi mới bắt đầu đốn ngã toán dẫn đầu bằng đại liên, trung liên, tiểu liên lẫn đạn cối.

“Một trăm năm mươi người chạy băng qua nghĩa địa, sau khi vượt được 300 m rồi thì không nhìn thấy ai còn đứng vững nữa,” Chase ngồi trên một chiến xa chứng kiến cuộc xung phong kể. “Tôi thấy từng người một ngã xuống. Cảnh tượng y như trong cuộc chiến tranh thời Nội Chiến Mỹ (Civil War)”

Đ/úy Jackson chết trân vì sửng sốt. Về sau, ở BCH tiểu đoàn, ông hồi tưởng lại:

“Quả là một ngày xui xẻo, quá sức xui xẻo!”

*

Trong khi đó Tiểu Đoàn 2 Dù được báo động từ lúc tinh mơ, chuẩn bị cho cuộc hành quân vào Huế. Gần Cây Số 17 họ phải dừng quân vì một cây cầu bị giật sập. Sau hai lần chạm súng với địch, tiểu đoàn 350 người đến được Cây Số 17 lúc buổi trưa; họ đã đi mất năm tiếng đồng hồ. Đ/úy Cobb nói:

“Không ai rõ chuyện gì đang xảy ra ở Huế và mức độ nghiêm trọng đến đâu. Trong ấy chỉ cho biết là cần viện binh vài ngày.”

Xin được quân xa để di chuyển rồi, đến 2 giờ trưa Tiểu Đoàn 2 Dù mới khởi hành từ Cây Số 17. Được biết chỉ hành quân ngắn ngày nên đơn vị để lại phần lớn quân cụ cho gọn nhẹ. Cobb tiếp: “Lúc đến gần Huế điều đầu tiên tôi thấy là một đống quân dụng bị bỏ lại bên vệ đường. Đó là đồ tháo ra từ những xác chết hoặc bị thương của đơn vị VN vừa mới đụng độ lúc sớm. Bao tử tôi thắt lại và linh cảm một ngày xấu sắp xảy ra. Tôi lượm một ít lựu đạn để rồi đây thế nào cũng cần đến.”

Lính mủ đỏ Dù số 2 bèn lập kế hoạch tấn công khu vực nghĩa địa, lần này vào mạn sườn chứ không trực diện. Phụ tá cố vấn trưởng của đơn vị là Đ/úy Donald C. Erbes đi theo đại đội tiền đạo cùng viên sĩ quan tiểu đoàn. Erbes nhớ lại:

“Tiến quân chưa được 100 m thì viên sĩ quan tiểu đoàn bị một loạt AK vào nón sắt chết ngay tại chỗ.”

Điếng người, Erbes lôi xác viên sĩ quan vào nằm cạnh một tấm mộ bia rồi ra hiệu tiếp tục tiến. Đại đội khác có Đ/úy Cobb và tiểu đoàn trưởng đi cùng, thấy vậy liền ào tới phụ lực tấn công địch.

Cobb kể: “Khi xông qua khu nghĩa địa có chuyện buồn cười xảy ra. Đang chạy cách sau toán quân dẫn đầu chừng 100 m thì tôi thấy một cụm khói trắng bốc lên rồi liền ngay khi đó một trái đạn cối rớt ngay giữa hai chân tôi, lúc đó tôi nghĩ cuộc đời của Đ/úy Cobb này đến đây coi như tàn rồi; may thay nhờ đất ở đó hơi mềm nên trái đạn đi xuyên sâu xuống đất, đồng thời tôi đánh lộn mèo một cái 360 độ. Kết quả tôi bị long đầu tí chút và một mảnh nhỏ cắt xém qua mũi. Tôi quay nhìn toán chỉ huy thì thấy họ đang khúc khích cười tôi. Đang giữa trận tiền người ta chết la liệt khắp nơi vậy mà họ có thể đem tôi ra mà cười khiến tôi cũng bật cười theo.”

Lúc ấy Đ/úy Erbes mới xin pháo binh tác xạ vào khu vực nghĩa địa nhưng rốt cục không liên lạc được ai. Anh quay qua xin SĐ1 Kỵ Binh cho gunship yểm trợ. Cuối cùng anh liên lạc được một chiếc đang bay gần đó. Erbes nói:

“Viên phi công bảo rằng anh sẽ lượn qua một vòng để xem rõ quân bạn đang nằm đâu trước khi tác xạ. Kế đó anh bị bắn hạ. Đó là chiếc trực thăng gunship cuối cùng tôi còn thấy trong thời gian ở Huế.”

*

Chúng tôi quyết định nằm lại đêm tại chỗ chờ đến mai sẽ vào Thành Nội. Binh sĩ được cắt đặt nhiệm vụ canh gác trong khi ba toán khác đi thu nhặt vũ khí cùng gom về những người chết và bị thương.

“Nhiều xác địch quân mặc thường phục khiến tôi nghĩ rằng nhờ vậy họ có thể xâm nhập vào Huế một cách dễ dàng,” Chase thuật lại. “Tôi nhận thấy địch không quan tâm đến việc thu lượm vũ khí đạn dược từ xác chết của đối phương, điều này khiến tôi tin tưởng rằng địch đã có đủ tất cả những gì họ cần. Họ vào Huế với trang bị đầy đủ đến tận răng, sợ không có sức mà mang.”

“Từ giờ đến nửa đêm không ai hi vọng mình có thể chợp mắt được một chút,” Cobb nói. “Lúc ấy trời lạnh lắm và chung quanh vẫn còn nghe đủ thứ âm thanh. Tôi tiếc đã để bớt đồ lại ở Cây Số 17, mà rút cuộc phải chịu run bần bật suốt đêm.”

Sau nửa đêm Jackson nói anh nghe như có ai đang tìm cách đề máy chiếc thiết giáp bị bắn hư bỏ lại trên đường Quốc Lộ. Anh tiếp:

“Chắc địch đang cố đoạt một chiếc để quay lại đánh chúng tôi.”

Đ/úy Erbes gốc ở Gainesville, Florida nói, anh nhớ có nghe hằng chục tiếng nổ từ Thành Nội vọng ra. Anh nghĩ có thể địch đang phá hủy những gì họ chiếm được.

*

Sáng hôm sau ngày 1 tháng Hai, tất cả khá yên tĩnh. Quân cứu viện tiếp xúc được với BTL SĐ1, nơi đây liền gởi một trung đội thuộc ĐĐ Hắc Báo ra đón. Họ đi vòng qua hướng Đông dọc theo bờ thành Tây Bắc mang theo cả người bị thương lẫn người chết. Đến lúc này thì toán quân chỉ còn gặp ít đụng độ với địch. Dọc đường, nhiều người gặp gì ăn nấy cho đỡ đói. Sau cùng đến trưa, 3 đơn vị vừa mới bị đánh tan tác vào đến bên trong an toàn.

Quân tăng viện báo cáo tổn thất có 40 chết và 90 bị thương hầu hết thuộc Tiểu Đoàn 7 Dù. Tuy vậy họ cho biết đã giết được 270 địch quân, bắt sống 5 tù binh, tịch thu 71 súng cá nhân và 25 súng cộng đồng. Đ/úy Cobb cũng báo cáo thiệt hại 4 thiết giáp trong tổng số 12 chiếc. Cobb nói, chỉ cần nhìn vẻ mặt của quân trú phòng ở BTL cũng thừa biết chuyện gì ghê gớm vừa xảy ra nơi đây. Anh tiếp:

“Trông người nào cũng lộ vẻ lo sợ; một cố vấn Mỹ nói với tôi họ vừa trải qua một cơn ác mộng kinh hoàng.”

Sau hai giờ báo cáo tình hình, cả ba đơn vị mới về liền được phân công tăng cường bảo vệ chu vi phòng thủ của Bộ Tư Lệnh.

*

Trong số các đơn vị kéo về tăng viện, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 3 (1/3) đã thực hiện một cuộc di hành kỳ công nhất. Họ bị địch chận đánh và bao vây cách Huế vài cây số về hướng Đông. Đơn vị trưởng, Đ/úy Phan Ngọc Lương, tốt nghiệp khoá 1960 Võ Bị Đà Lạt là một trong những sĩ quan tiên phong của Tướng Trưởng, một người có kỷ luật nghiêm minh. Ông ta chỉ huy lính bằng đôi tay sắt. Do không hài lòng với tác phong lè phè của một số thuộc cấp nên đêm 30 Tháng Giêng ông ra lệnh mở một cuộc hành quân càn quyét như là một hình thức phạt kỷ luật.

“Toán quân chúng tôi rơi ngay vào đám hậu quân của một tiểu đoàn đối phương và thế là đụng độ lớn,” Đ/úy Lương kể lại. “Không mấy chốc chúng tôi bị vây trong khi mỗi binh sĩ chỉ còn đủ ba băng đạn. Bấy giờ tôi nghĩ phải tìm cách thoát mới sống được.”

Viên cố vấn là Th/tá Lục Quân Gary Webb tìm cách liên lạc được vài chiếc gunship lúc trời sáng; nhờ các trực thăng xạ kích yểm trợ nên họ phá được vòng vây và chạy xa hơn về phía Đông, hướng về thị trấn duyên hải Ba Làng; đồng thời Webb gọi xin thêm tiếp liệu và tải thương. Lương tiếp:

“Chúng tôi hạ được hơn một trăm địch quân và lấy được vô số vũ khí không thể mang theo hết.” Về sau ông báo cáo bị thiệt mất 15 cùng 33 bị thương.

Nhận tiếp tế xong, ngày hôm sau họ đi vòng qua mấy chốt địch để vào Ba Làng. Ở đây họ theo ba thuyền máy của dân đi ngược dòng sông Hương lên đến Thành Nội lúc ba giờ chiều. Đơn vị này liền được bố trí giữ an ninh mặt Tây Bắc hoàng thành. Th/tá Webb, trong lần phục vụ ở VN trước đây từng làm cố vấn quân sự cho một đơn vị người Thượng, về sau được tưởng thưởng huân chương Distinguished Service Cross.

*

Cùng lúc ấy, hai đại đội thuộc Tiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2 vừa được trực thăng vận từ căn cứ của họ ở Đông Hà, gần khu Phi Quân Sự, lúc 3 giờ trưa; họ lập tức được triển khai giữ an ninh mặt Đông Nam thành phố, dọc theo tường thành Đông Bắc. Thành phần còn lại của tiểu đoàn này cùng một đại đội của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 1, ngày hôm sau cũng được chở đến bằng trực thăng. Cùng đến hôm 2 tháng Hai còn có Tiểu Đoàn 9 Dù, đơn vị này vừa mới ác chiến với địch ở Quảng Trị xong thì được trực thăng của TQLC Mỹ chở đến Huế; lập tức họ phối hợp với Tiểu Đoàn Dù 2 và Dù 7 tái chiếm lại phi trường Tây Lộc trong cùng ngày.

*

Tiểu Đoàn 9 Dù vừa mới dọn đến hôm 30 Tết và đang tạm đóng quân ở khu doanh trại ngay tại Quảng Trị. Hầu hết 650 binh sĩ của đơn vị này đều mang tâm trạng thất vọng như 2 đơn vị anh em, Dù 2 và Dù 7, là không được về Sài Gòn ăn Tết với gia đình. Nhưng rồi họ cũng phải cam chịu chấp nhận với hoàn cảnh. Đ/úy cố vấn Dick Blair nói:

“ Chúng tôi không được ăn Tết gì cả. Một số anh em ra đường múa lân giúp vui; ngoài ra thì không có tiệc tùng ăn uống mừng tân niên. Đêm giao thừa mọi người đều đi ngủ sớm.”

Một phần của Quảng Trị cũng có tường thành bao bọc như Huế nhưng nhỏ hơn. Thành phố này nằm chắn ngang QL1 trên đoạn cách Huế 50 km về hướng Tây Bắc; nơi đặt BCH của 2 đơn vị là Trung Đoàn 1 thuộc SĐ1 BB và Phân Đội 2, Trung Đoàn 7 Kỵ Binh. Đây cũng là nơi làm việc của Toán cố vấn quân sự MACV số 4.

Đại đội chỉ huy của Tiểu Đoàn 9 Dù cùng hai đại đội tiên phong của tiểu đoàn này đều nằm trong khu nội thành của Quảng Trị. Một đại đội thứ ba đóng ở bên ngoài về hướng Nam và một đại đội khác nữa ở hướng Bắc. Phân đội Kỵ Binh 2/7 thì nằm cách Quảng Trị 1 cây số về hướng Tây.

Đêm 30 tháng Giêng, hai cố vấn của Tiểu Đoàn 9 Dù là Tr/sĩ Mike Smith của Dahlonega, Georgia, cùng Tr/sĩ nhất John Church, là hai bạn cũ từ Tiểu Đoàn 82 Dù HK kéo nhau đến uống bia ở hội quán hạ sĩ quan tại Quảng Trị. Hai người ngồi nhắc lại kỷ niệm xưa hồi ở đơn vị trước, rồi cụng ly chúc mừng Tết. Đó là lần cuối cùng Smith gặp Church còn sống. Ba giờ sáng ngày 31, Đ/úy Blair bị Th/tá Nguyễn Tế Nhã lay dữ dội, đánh thức anh dậy báo tin quân BV đang tấn công thị xã, phải nai nịt sẵn sàng. Blair kể lại:

“Điều đầu tiên là tôi gọi ngay cho Tr/sĩ nhất Church vì đại đội anh này đóng gần thành phố trên phía Bắc. Không nghe trả lời nên tôi biết ngay họ có sự chẳng lành.” Lợi dụng đêm tối và sương xuống dày đặc quân BV lén được vào bên trong đại đội của Church và dứt đẹp. Quân Dù bị giết 40 người trong đó có Church, 65 người khác bị thương. Đ/úy Blair thuộc Centerville, Virginia mở máy liên lạc vô tuyến lên và chỉ nghe lỏm bỏm được những mẫu điện đàm đứt quảng của đại đội này. Ông nghe vị đại đội trưởng ra lệnh binh sĩ không dùng súng nữa mà dùng lựu đạn để chiến đấu; ông này còn xin pháo binh tác xạ ngay trên đầu nhưng bị từ chối vì quá nguy hiểm.

Phân đội 2/7 Kỵ Binh cũng chịu chung số phận nhưng may mắn hơn vì khi địch lọt vào thì họ đã di chuyển ra nằm ngoài chu vi của căn cứ từ đêm trước. Cố vấn Mỹ, Đ/úy Jim Zimmerman, thì đang ở trong cơ quan MACV khi địch tấn công. Trong vòng một tiếng đồng hồ họ đưa một xe thiết giáp tới đón ông về sau đó cùng sát cánh đẩy lui địch.

Đường tiến của CSBV vào Quảng Trị hôm 31 Tháng Giêng năm 1968. (Photo courtesy army.mil)

Trong hai giờ đầu địch rót vào Quảng Trị 200 quả đạn cối buộc mọi người phải kiếm chỗ núp. Khi cường độ pháo thưa bớt, Đ/úy Blair và Th/tá Nhã leo lên nóc nhà ở nội thành để quan sát tình hình. Nhờ sương tan dần họ có thể thấy quân BV trong đồng phục ka-ki đang di chuyển về hướng thành phố. Blair quay sang hỏi Nhã bây giờ phải làm gì. Nhã đáp:

“Chúng ta sẽ phản công; Quân Dù không chết khi núp dưới hầm hố mà chỉ chết lúc đang xung phong.”

Tiểu Đoàn 9 Dù đã làm đúng y như vậy. Đại Đội của Smith dẫn đầu mũi phản công; mặc dù kém hẳn về quân số nhưng họ đã đẩy lui được cuộc tấn kích. Sau đó gunship thuộc Không Kỵ số 1 HK xuất hiện và tác xạ vào bất cứ vật gì trong tầm thấy không phân biệt bạn hay thù.

“Tôi đang quan sát hoạt động của các gunship, đột nhiên chúng quay về hướng chúng tôi, tôi liền la lên kêu mọi người tránh đạn,” Smith thuật lại. “Ớn thật, các binh sĩ đều bổ nhào xuống các hầm hố hoặc bờ đất để núp. Tôi liên lạc với Blair hỏi thử xem anh có bảo họ ngưng bắn được không… Nhưng vô ích, họ vẫn cứ tiếp tục.”

Tiểu Đoàn 9 Dù với sự trợ lực của 2/7 Kỵ Binh đẩy lui được tất cả mũi tấn công trong ngày 31 tháng Giêng. Đêm đó, ngoài hai trung đoàn được tung ra để mở màn cuộc tấn công, địch đưa thêm quân chi viện từ hướng Tây để tạo cú thốc cuối cùng. Trong khi họ biển người tràn vào thành phố từ một nghĩa địa lớn ở khu ngoại vi thì Blair liên lạc với một chiếc Douglas AC-47 gunship, một thứ máy giết người từ trên trời mà dân nhà binh quen gọi là ‘quỷ quái’ (Spooky) hay ‘Rồng phun lửa’ (Puff the Magic Dragon) vì nó được trang bị với những đại liên Vulcan có sức bắn nhanh ghê hồn.

“ ‘Con rồng’ khạc lửa suốt đêm,” Smith kể. “Sáng hôm sau nơi khu nghĩa địa xác chết nhiều đến độ không thấy đất. Tôi không biết con số là bao nhiêu. Tôi chưa đếm thử bao giờ.”

Các mũi phản công của quân đồng minh nhằm đẩy quân CS ra khỏi Quảng Trị trong hai ngày 31/1 và 1/2 năm ’68. (Photo courtesy of army.mil)

Qua ngày 2 Tháng Hai, khi tình hình có vẻ khả quan rồi, Dù 9 mới trao trọng trách bảo vệ Quảng Trị lại cho 2/7 Kỵ Binh rồi lo thu xếp để vào Huế. Họ được chuyển vận bằng hai lượt trực thăng Sea Knight của TQLC Mỹ. Trọn tiểu đoàn đến Thành Nội lúc chập tối và lập tức được gởi đến mặt Tây, nơi đây họ phụ lực để chiếm lại phi trường Tây Lộc.

Về phần 2/7 Kỵ Binh, họ phải mất thêm 4 ngày nữa mới có thể rời Quảng Trị để đi Huế. Sau một tuần lễ giao tranh ác liệt, nhiều nơi phải cận chiến để chiếm lại từng căn nhà, từng khu phố; cuối cùng Quảng Trị được tuyên bố là hoàn toàn an ninh. Quân trú phòng báo cáo tiêu diệt được 1.450 địch quân và tịch thu được 485 súng.