This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bạn tôi năng buồn, buồn mang nặng. Để trám lấy, mong khinh khoái, bạn làm thơ. Tơ lơ mơ thôi cũng gặt được gần hai chục cái like. Ai đó nói, bữa nay hắn sinh đổ đốn, bạn nghe, bỏ ngoài tai. Đẹp trai không bằng chai mặt. Bạn kêu ngặt, làm thơ khó mà tìm đứa hiểu ta, lại càng khó hơn. Tôi vỗ vai bạn, một ngày kia rồi sẽ ngộ, chẳng hạn có kẻ tâm đầu ý hợp lò dò quá bộ lại tìm quen.
Tính bạn tôi chướng, ưa cãi bướng, thích Bùi Giáng ở câu “Suốt đời phải thức trắng đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Mày chưa đắc đạo thì chớ cười. Tao nào phải dân chây lười. Lại đọc thơ Tô Thuỳ Yên “thức cho xong bài thơ, mai sớm ra đi, cài hờ lên cửa tặng”. Nghe đã mặn chưa? Có khi thức dậy ban trưa, chưa lại thần hồn đã phán: Mày mần cho tao cái bìa, đôi ba bữa nữa tao gom thơ đi in thi tuyển. Chừng trăm quyển cũng đủ trôi cơn hạn. Đã là bè bạn, không phải nói trạng hãy đợi chạng vạng cùng bá cổ nhau đi đánh chén. Xem như ăn mừng trước đi, hén? Ngoài thể thơ lục bát, có bài bạn xem là lục nồi. Rổ rá cặp nhau chuyện vàng thau, vợ chồng có khi còn y như đôi đũa lệch. Tính suy làm chi cho mệt, ngay cả mấy thằng chệt xà quần ngoài khơi cũng chả biết cách chơi, có ngày rồi nó sẽ bơi vào bờ. Không có đạn đưa lên nòng, chờ. Chỉ toàn một bọn gà mờ. Bạn thắp ba cây nhang cắm trên bàn thờ, điệu bộ thành khẩn. Tưởng khấn nguyện cho nước nhà an ổn ai dè chỉ cầu xin thuận buồm xuôi gió việc in thơ. Bạn chửi thề tỉnh bơ, mẹ nó chứ, nếu tao là con gái post hình mát mẻ thì giờ này đã có thằng vác ngà voi in cho ba tập thơ, chí ít. Ai biểu anh không có ngực cho nên trời sinh ra mỹ nhân! Bạn tôi ưa phát ngôn linh tinh, hiểu tính bạn tôi đành mần thinh.
Và tôi nghe lời, tôi nhúng bút lông vào tách cà phê đen uống thừa để vẽ cho bạn một bức tranh siêu thực. Chỉ một thôi, hết đường lựa chọn, đừng bực. Tôi mài mực, kẻ nét phăn-ta-dzi hai chữ Màn Trinh. Đó là tên tập thơ mà bạn suy nghiệm, chọn lọc để trình làng. Bạn nói nên dùng chữ màu đỏ, vất nó vào cõi ta bà cho chúng phá xem rách tới ngang đâu. Sao mày chừa ra bảy cái đốm trắng trên tranh bìa? Ờ, mày thắc mắc bị mày chưa nghe chuyện Bạch Tuyết và 7 chú lùn. Nghệ thuật nằm ở cái sự chừa ra ấy. Nghĩ mà xem, Bạch Tuyết muôn đời vẫn còn trinh. Bạn tôi cười rộ, lấy làm tâm đắc. Của chùa nhé, tao không giả tiền đâu, nhớ? Bố mày chỉ còn đúng hai ngàn nhằm trang trải việc in sách. Chơi ngông cách này nghĩ cũng hách. Có gặm bánh mì thì đừng trách. Bạn nói mình ên, tuyệt không mang âm hưởng của sự rên.
Sách về hai thùng đầy kè chất ở nhà kho xây sau hè. Màn Trinh nhện giăng bụi bám giấy đổi màu mặt ủ mày chau. Hoá ra nhân thế “đương đại” này hết ai còn hứng thú chuyện phá trinh? Bạn chấm câu: Đau thế! Dại thế! Tao đâu ngờ thơ mà bị ế! Tâm hồn thi nhân bị lay động, ô uế: Bỏ hai ngàn mua vé số không chừng mà trúng được lô ba ngàn. Đi lãnh, bỏ túi một ngàn khoẻ re, chêm một cục cho ấm đít. Lạnh lòng bèn mang Kiều ra đọc, rít róng:
Tiếc thay nước đã đánh phèn Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần… Lỡ từ lạc bước bước ra Cái thân liệu những từ nhà liệu đi… Biết thân chạy chẳng khỏi trời Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh… Rộng thương cỏ nội hoa hèn Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.
Thân bèo bọt là cái chi chi? Ra đường, nhánh rong phiêu bạt trăm khi vẫn đăm chiêu với vần điệu thi ca, lộn hồn lộn vía chẳng màng thế sự vây quanh, luôn gầm đầu đếm bước như thể tìm nhặt câu thơ lỡ rơi. Băng qua đường, băng qua triền hạn để nghe tiếng bốn bánh xe cày bỏng khét mặt nhựa. Rầm, chơi bài tới đụng phải con Ầm. Hay con Nghèo? Hay con Học Trò? Hay con Nọc Đượng? Hay con Rốn? Con gì đi nữa thì cũng xúi vận sự: Nằm thẳng cẳng. Xe ambulance chở bạn vào nhà thương, y như Việt kiều yêu nước đi xe có còi hụ. Khi phone về cho tôi, giọng chẳng hư hao: Chết thế chó nào được, bố mày vẫn còn sống đây.
Tôi vào thăm thằng ranh con lúc nào cũng ưa làm bố người ta. Gãy mất hai cái xương, chân bó bột, mặt trầy trụa, lồi lõm. Không có giấy bút, bạn ghim thơ trong bộ nhớ, từ đầu hôm tới giờ vẫn chưa quên, quay mặt sang bắt tôi ghi vào sổ: “Đêm rồi cởi áo thiên thần, Sa đoạ rụng cánh tần ngần hôn anh. Này môi thơm ngát hương chanh, Cam lê nho táo mọc quanh cửa mình. Thời đi để nhớ cuộc tình, Dưới giường quỷ sứ vẫn rình giao hoan”.
Y tá cho hay, mông-xừ này tối qua ngáy khiếp quá. Tôi giải thích cho bệnh nhân nằm giường bên rằng, đau đớn thì rên la, chuyện thường hằng. Ngáy là hồi nào trong giấc mơ chẳng gặp ác mộng. Thương tật mang gần 40% thì mộng đẹp sao đặng, có là tài thánh! Để chiều nay cho uống thuốc ngủ tăng đô xem có còn “ngáy” nữa thôi.
Bạn biểu tôi lấy iPhone ra “tự sướng” một bức ảnh chụp bạn nằm trên giường bệnh, thuốc thang đầy đủ, sướng rên mé đìu hiu. Mày đưa lên Facebook cho những đứa yêu thơ tao thấy “thi bá” đang long thể bất an, hẹn tuần sau sẽ xuống núi, tâm thần vẫn chưa phân liệt. Có ai nhốt được một ngọn gió? Tôi lại phải nghe lời chỉ dạy, mừng bạn khi bị xe đụng những sợi thần kinh nằm trong sọ chưa thay đổi vị trí, bởi có mệnh hệ gì thì thơ bạn làm ra ắt sẽ gây sóng gió vũ lâm. Hình ảnh kẻ thương tật post lên chừng nửa ngày thu được có tới 19 cái like. Lạ đời, tự cổ chí kim chưa có ai bày tỏ sự thích khi nhìn ngó đứa bị sao quả tạ chiếu. Thù ghét nhau mới vậy. Thơ tình ướt át của đứa bị quấn băng bông đầy người kia khổ sở làm ra thì chỉ có ba “em” like thôi. Thơ ngang trái hăm thik, chỉ thích nghía thân thể mà tứ chi đã thôi lành lặn của người khác.
Bác sĩ có ghé thăm, đứng dưới chân giường hỏi han đôi câu và dặn dò, chớ nên để luỹ vọc tay vào cái ipad. Đang ở thời gian chờ bình phục, đang tĩnh dưỡng, đang yếu đuối mà đụng phải bao tình huống bao hình ảnh bao vấn nạn khóc cười trong cõi ấy thì luỹ sẽ bị sốc thôi, thuốc men ích gì cho buổi ấy?
Luỹ sốc thật. Luỹ nghi ngờ câu “Trust Me, I’m a Doctor”. Luỹ chẳng nghe nghiêm lệnh, lén lút “vượt bức tường lửa”. Nhà thương hàn gắn vết thương thôi mà, nào phải trung tâm cai nghiện mà cấm cản ông lục lạo facebook? Thở dốc xong bèn cười nửa miệng: Đêm qua tao bị thuốc hành, chả ngủ được. Mắt thao láo mà chẳng rình thấy thơ thẩn gì cả, ngược lại một ý tưởng sáng suốt vụt loé lên. Mày nghe bố mày bảo này, mặt mày tao đương bơ phờ tàn tạ lắm phải không? Bây giờ tao nằm vẹo cổ sang bên, há hốc mồm, một cánh tay rớt xuống khỏi giường, ngón co quắp… Mày chụp lấy, sao cho ảnh hình nọ thuyết phục được người xem, đấy là một tử thi, da thịt bắt đầu lạnh… Chơi liền đi, năm mười phút nữa bà y tá vào giục uống thuốc thì hỏng.
Trước khi post hình ảnh cuối cùng của kẻ vắn số lên, người bạn kỳ dị nọ bắt tôi viết đôi dòng tâm trạng: “Chúng tôi vô cùng bàng hoàng, đau đớn trước tin xấu là nhà thơ Không Như vừa đột ngột từ bỏ cõi tạm để rong chơi miền xa có tên gọi Như Không sau hơn hai mươi năm ăn nằm mặn nồng một lòng một dạ cùng nàng thơ, hưởng dương 58 tuổi. Trong lúc buồn đau, chúng tôi tạm thời loan báo có vậy. Mọi chi tiết khác sẽ sớm cập nhật sau. Một số thân hữu của nhà thơ đồng kính báo”.
Tôi nói cho bạn nghe nỗi lo ngại chẳng chính đáng, là giả như trong bệnh viện này có một người Việt mang tên Như Có từng đọc thơ Không Như, chàng ta hoặc nàng ta sẽ lắm mồm nói này nói nọ để đến tai ban điều hành bệnh viện: Cậu điên à? Tập thể bác sĩ chúng tôi có gì không tốt. Rõ là làm ơn mắc oán, đã chữa lành không nhận một đồng trả công, không luôn một tiếng cảm ơn, lại còn loan báo đột tử. Điều này ảnh hưởng trầm trọng tới uy tín của nhà thương này.
Bạn nhăn răng: Mày lo bò trắng răng. Một cái lon nằm giữa đồng, cả triệu con chim bay qua về mỗi ngày, có cục phân nào rơi vào trong lon không? Thử hình dung đi. Mày suốt đời không thể làm thơ được vì mày chẳng tạo ra những bước đột biến, những thứ mà trong nước kêu bằng siêu bức xúc, choáng, khủng.
Ở đời, bá tánh thường rộng lòng chúc mừng khi nghe ai kia vừa lên xe bông. Thường nhỏ xuống đất ba giọt lệ khi nghe kẻ nọ đang sống chuyển sang từ trần. Vận số Không Như cũng không tránh khỏi, mấy thằng cha căng chú kiết lạ hoắc lạ hươ chẳng rõ từ đâu cũng mạnh tay gõ lời chia buồn rất mực thắm thiết. Trong 13 dòng phản hồi, có hai “quới nhơn” viết ra điều đáng quan tâm vì nó quá… sáng giá. Dòng thứ nhất của người mang tên Sa Mạc: “Tôi biết nhà thơ có in ra tập Màn Trinh. Xin hỏi giá mỗi cuốn là bao nhiêu? Thôi thì nhà thơ đã qua đời, tôi xin mua ủng hộ 10 cuốn và sẽ gửi ngân phiếu 1000 đô tới những ai đứng ra lo hậu sự. Chia buồn nha”. Dòng thứ hai của người mang tên Thuỳ Dương: “Xin cho biết ngày giờ và địa điểm hôm động quan đút vào lò thiêu. Người ta bảo nghĩa tử nghĩa tận gì đó, tôi có khi là vợ cũ của anh Trần Văn Mau, tự cái hồi ảnh chưa là Không Như. Tôi mong được thắp cho ảnh ba cây nhang. Vĩnh biệt”.
Bạn Không Như nằm trên giường, điều khiển cho tấm nệm gập lại. Chỉ có đầu tóc là rối như ổ quạ, mặt mày râu ria lún phún; nhưng thần sắc đã có phần lanh lợi của một kẻ vừa chế ngự và đánh thắng nỗi đau. Chính bà y tá cũng gia giảm liều lượng thuốc xuống, bà cho hay: Cực chẳng đã thôi, uống ba thứ này vào thêm mụ người. Mai mốt thử xuống giường lần mò đi quanh xem sao. Phải bắt cơ thể vận động, có hiểu nghĩa “nằm liệt giường” là gì không? Không Như đùa: Đau khổ chi bằng bắt lần mò, đến buồn ríu mắt lại nhảy lò cò. Tôi nói với bà y tá giàu lòng nhân: Bạn tôi thuộc loại nắng mấy hoa cũng không héo. Bon, bon. Tốt, tốt. Nghị lực là phương thuốc quý báu nhất trần đời. Người ta nên bỏ công đi săn lùng cái vui của nụ cười để xem đó là nghĩa sống. Buồn sẽ khiến mình thối đi.
Có một điểm đáng ca ngợi thượng đế, là khi nhào nặn ra chúng sinh, “ngài” tạo ra ngay sự khác biệt, chẳng ai giống ai. Niềm vui, nỗi buồn cũng thế, cung bậc hoàn toàn riêng tư dành cho mỗi cá nhân. Bi kịch xẩy tới là cá nhân ấy không biết cách thụ hưởng hoặc chống đối và như vậy, hài kịch phát sinh.
Bạn tôi nói, lắm khi tao như một sinh vật thật hèn mọn, có khi thức giấc trên giường bệnh thèm sáng mai được ăn một dĩa bánh bèo cho sướng cái lỗ miệng, dĩ nhiên là ăn chùng vụng kẻo y tá thấy họ sẽ ngầy ngà. Trên đường về nhà, thuận lối tôi tạt vào một cái siêu thị lớn. Tôi sẽ mua bánh Trung Thu và vớt thêm dĩa bánh bèo cho đứa buồn miệng. Siêu thị chộn rộn, hỏi ra mới biết “người ta” đang có chiến dịch thanh lùng và vừa bắt được hai tên chuyên xài bạc giả, thanh toán toàn giấy bạc hai chục. Một “bạn hàng” đẩy xe trong chợ nói: Vú giả, mông giả, chồng giả vợ giả, giả tuốt luốt cho tới tờ hai mươi gia kim. Xem ra cuộc đời này đã chẳng còn thứ gọi là sự thật!
May mà mấy tờ 20 của tôi không bị giả mạo, đưa vào máy dò chẳng tìm ra tì vết. Có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh, tôi mua hai dĩa bánh bèo, lát nữa tôi ăn phần tôi trước để xem bụng dạ có gây đột biến, nếu êm thì ngày mai sẽ mang vào nhà thương cho bạn dĩa còn lại. Cả bánh Trung Thu cũng vậy, chả dính kẽ răng nhưng ăn nó là nhai với bao kỷ niệm cũ, thuở thơ ngây. Hình bóng cũ làm no bụng? Ai biết được, hãy cứ tin vậy, cho khỏi mắc nghẹn.
Mai tôi sẽ nói cho bạn Như Không biết, rằng tôi sẽ “mu” qua thành phố khác sống, hòng kiếm ra môt công việc thích hợp; tiêu phí khoảng thời gian sau chót của đời mình vô vị kiểu này nghĩ không đành lòng. Lời thưa thật ấy hoàn toàn giả dối, nhưng bạn hiểu cho, tôi chẳng thích lui tới với một đứa vừa tự khai tử, một hồn ma? Khi mình rút vào bóng tối, tự thân sự khiếm diện kia cũng nói lên biết bao điều, cần gì phải đánh trống khua chiêng. Ôi, Không Như, mày không biết cách binh 13 lá bài mà đời chia đều cho những đứa nhập cuộc. Hoặc mày mậu binh? Xin thôi được nhìn thấy nhau. Hoặc ở kiếp sau? (xin chớ làm người).
Đây là lá thư thứ hai tôi gửi tới ông. Tôi có xem qua mục trả lời thư tín đăng trong số báo vừa rồi, có một người tên viết tắc là N.B được ông nhắn cho vài dòng: “Truyện khá lắm, có điều hơi ngắn. Cố viết dài hơn, may ra thành công”. Chắc những dòng chữ này không dành riêng cho tôi? Một lá thư khó mà được xem như một cái truyện ngắn dù được nhìn đọc dưới mắt một người dễ tính. Và tôi tin, người bận lo trăm công nghìn chuyện như ông, một chủ bút thì khó lòng làm chu toàn hết mọi việc. Bức thư kia ông không đọc tới? Hoặc ông thấy chẳng có gì quan trọng để đáng phải hồi âm, làm mất thời giờ và tốn một khoảnh “đất” trên trang báo? Tôi còn nhiều dấu hỏi khác, nhưng không hiểu sao tôi đã dẹp bỏ hết mọi hoài nghi để viết thêm một lá thư nữa cho ông.
Tôi xin nhắc lại chút ý của thư đầu, đó là những cảm tình chân thành mà gia đình tôi dành cho quý báo. Ba tôi nói: Tao chịu nhất cái ông ở bên Mỹ chuyên viết về những loại rau quả cây trái, đề tài ngó vô thưởng vô phạt là thế mà chuyên chở lắm hậu ý kiểu như quýt ngọt đất này mà chua loét chua le nếu trồng ở đất kia. Mẹ tôi bảo: Cái ông ở bên Tây viết chuyện lặt vặt thường xẩy ra trong những gia đình lưu vong, đọc luống những ngậm ngùi cho tình đời và lòng dạ con người. Bà luôn mượn trang báo đó để suy nghiệm về hoàn cảnh gia đình mình và đồng thời biểu đứa em tôi đọc chậm rãi cho bà nghe để… nó khỏi quên tiếng mẹ đẻ. Anh chị tôi thì “mê” truyện dài đăng từng kỳ của ông, cá nhân tôi cũng vậy. Nhưng buồn thay, chính ông vừa đánh thức tôi, buộc tôi phải tỉnh táo, hết mê. Chương thứ sáu trong truyện dài, ông cho nhân vật nữ Nhược Băng bị bạo bệnh phải vào nằm nhà thương, thân thể suy yếu, tâm thần không ổn định mất thăng bằng khi một mực cự tuyệt từ chối sự viếng thăm uỷ lạo của những người thân yêu… rõ là điều không mấy tự nhiên, hơi cường điệu. Đã vậy ông xoá tên Nhược Băng trong chương bảy bằng vào một cái chết quá sắp đặt đầy ác ý.
Một người đọc tầm thường như tôi cũng cảm nhận được sự khiên cưỡng ở đoạn đó, chông chênh. Mạch văn bị khựng lại và cái chết của “cô nàng” không nhằm giải quyết được chuyện gì trong những trang viết công phu của ông. Ông biết không? Tôi có người bạn thân học chung ở những năm trung học. Đẹp, thuỳ mị, vượt biển sang đây bạn hứng chịu biết bao thảm cảnh, đau khổ tột cùng nhưng bạn tôi chẳng hề nảy ra thứ tâm lý kỳ cục như nhân vật Nhược Băng của ông dàn dựng. Và cuối cùng là gì? Cuối cùng trời có mắt, bạn tôi vừa lập gia đình, sinh con đầu lòng kháu khỉnh, nhà tràn đầy tiếng cười, bạn ấy hạnh phúc với hiện tại và… bạn cũng ghiền đọc tiểu thuyết của ông. Bạn điện thoại cho tôi, nhận xét ông có vẻ bất công đối với hạng phụ nữ xinh đẹp và hồ nghi rằng tình cảnh diễn tiến trong một vài chương sao lại giống như những gì mà bạn từng chứng kiến ở ngoài cuộc đời.
Tôi không dám nhiều lời ở đây, chỉ xin đóng góp chút ý kiến của một đọc giả trung thành với quý báo. Nếu như thư này vẫn còn “hơi ngắn, khó thành công” thì mộng viết văn của tôi chắc chẳng đi tới đâu cả. Sở dĩ viết thế là do bởi ở lá thư trước tôi có mạo muội hỏi ý ông, nếu ông hứng thú chỉ bảo cho đàn em thì tôi sẽ gửi xấp bản thảo chưa hề đăng báo để nhờ ông bỏ công đọc thử và phê bình, góp ý giúp.
Được hay không thì dù sao tôi cũng cảm ơn ông đã nhín chút thời gian quý báu để xem hết lá thư này. Xin chúc ông nhiều sức khoẻ để chăm sóc tờ báo cũng như sáng tác chẳng ngưng nghỉ những truyện đắc ý hầu khỏi phụ lòng những người đọc lỡ mang kiếp hồng nhan (bạc mệnh?).
Kính thư,
Ngân Bảo.
oOo
Nhắn tin đặc biệt:
Cô Ngân Bảo,
Rất hoan hỉ đón nhận những góp ý từ phía cô. Cũng rất vui thú nếu được đọc xấp bản thảo mà cô có nhã ý dành cho tôi xem trước. Nóng lòng được gặp cô. Toà soạn hay một chỗ nào? Tuỳ cô định liệu và sắp xếp cho vậy. Tình thân.
oOo
Người đàn ông tuổi trên bốn mươi ngồi đó mang một chân dung không nằm trong dự tưởng của tôi. Ông trầm lặng, khuôn mặt vướng chút mệt mỏi với một vầng trán chất chứa những nếp nhăn. Ông uống cà phê đen, nhỏ như tách trà ở nhà mà Ba tôi thường dùng mỗi sáng. Ông hút thuốc lá, có thể những luồng khói xanh ấy giúp ông gạn đục khơi trong, nhìn thấu ra bao hình ảnh, màu sắc, nhiều vấn đề chôn trong mộng tưởng. Một người biết học qua thuật phân thân? Phút đầu, ông không “dễ ghét” như tôi nghĩ.
Chúng tôi nói chuyện khó khăn. Vì ông trẻ hơn những gì tôi dự đoán? Vì ông là một nhà văn? Vì ông nào phải là hạng người hoạt bát mồm năm miệng mười? Hay vì tôi lỡ “làm tình làm tội” ông bằng hai ba bức thư trước? Hình như câu hỏi đầu tiên tôi dành cho ông là sự tò mò về một danh xưng. Ông trả lời: Không phải tên thật, đó chỉ là bút hiệu. Ông ngó xuống tách cà phê, nhặt một chiếc lá khô rơi xuống mặt bàn mà chẳng dài lời thêm. Nếu tôi là nhà văn, có lẽ tôi ngắt câu bằng một dấu phẩy, sau đó “viết” thêm: Còn tên cha sinh mẹ đặt cho là Nguyễn Văn Y, Trần Văn X… chẳng hạn. Văn ông ấy, đồng ý là cô đọng, chẳng rườm rà tỉ mỉ khi thuật tả nhưng ít ra…
“Tại sao Ngân Bảo không gửi cho tôi một vài truyện ngắn dùng đăng lên báo, thay vì viết thư góp ý?”
“Tại không thích. Tại chưa đến thời điểm. Có lẽ tập làm nháp bằng vài lá thư”.
“Có một cái lợi, đó là mình biết được câu trả lời sớm nhất, đăng hoặc không. Chưa kể tới phía người đọc, họ là những nhà phê bình đáng cho mình lưu tâm”.
Tôi không biết nói sao, tôi làm thinh. Tôi ngó lên bầu trời, chẳng thấy gì cả ngoài những chùm lá cây đan kín luôn ve vuốt nhau, ngăn giữ và tạo được một vòm im nắng. Radio sáng nay dự báo sẽ có mưa rơi sau buổi trưa. Tôi nửa thích mưa rơi, nửa mong tin khí tượng ấy đoán nhầm. Lòng tôi chia hai như vậy do bởi sự phân tâm, ái ngại cho một lần gặp gỡ. Mưa, cần có để giải nhiệt, để xoá đi cái màu ui ui nhập nhằng chẳng tỏ này; nhưng một khi nó rơi xuống, liệu nó giúp mình tìm nhặt niềm dễ chịu nào không ngoài cái ướt át ẩm thấp? Dù gì thì tôi chẳng hối hận khi chọn lựa cái quán lộ thiên này, lò dò tới toà soạn tờ báo để gặp mặt thì e sẽ bức bối ngộp thở.
Thấy tôi ngồi yên trong lòng ghế, trông ít ăn ít nói, ông nhà văn chẳng biết cách gợi chuyện đã vừa nói xin lỗi, ông đứng lên, đi tới buồng điện thoại công cộng đặt gần cửa quán cà phê. Ông phục sức cũng bình thường, quần jeans xanh đã bạc màu, áo hàng vải linen màu cát ẩm. Moi bạc lẻ từ túi quần, lấy cuốn sổ nhỏ từ túi áo. Ông bấm số, áp ống nghe một bên tai và nghiêng đầu nhìn tới tôi với nụ cười khó hiểu. Nụ cười duy nhất từ khi tôi gặp ông. Tôi tưởng tượng là ông gọi về toà soạn han hỏi điều gì đó mà cũng có thể thưa gửi cho một quý bà, nhắn gửi rằng sẽ không lâu anh tìm cách lại gần em. Ông ta trở về, ngừng nói chuyện với ai đó trùng khít với sự suy diễn có trong đầu tôi.
“Ngân Bảo uống thêm gì không? Để tôi gọi”.
“Dạ thôi, đủ rồi”.
“Ngân Bảo viết lâu chưa?”
“Cũng mới đây thôi. Chỉ là phương cách tự mình tìm kiếm niềm vui nhỏ bé”.
Ông đốt thắp một điếu thuốc khác. Tôi nghiệm ra ông ta có nhiều lợi khí, tay khỏi dư thừa trống vắng và khói thuốc có thể dìu người hút đi qua nhiều cung bậc cảm xúc, kể cả tỉnh trí hoặc một mưu toan. Còn tôi? Tôi chỉ biết ôm vào lòng cái bao thư màu vàng khổ lớn, ghì siết giữa hai cánh tay. Bao thư nhốt năm cái truyện ngắn từng hoàn thành trong dằn vặt canh khuya hoặc hồn luôn tỉnh thức về một nỗi mất mác quá lớn, đôi khi nghe nặng tim mang, lại có lúc ý thức đó chỉ là niềm hụt hẫng, nhẹ như khói thuốc ông ấy thở ra, tan biến.
“Theo Ngân Bảo điều gì là quan trọng nằm ở thể loại truyện ngắn? Tôi không có ý hỏi tới những thứ nặng nề mà người ta buộc nó phải chuyên chở, gánh vác như một nhiệm vụ”.
“Tôi không biết. Nó là một chuỗi sự kiện bị thâu tóm, giản lược. Có thể là cái đoạn kết? Một khép kín bất ngờ, hoặc muốn mở ra lưng chừng một dấu hỏi? Sự thú vị thường nằm ở những dòng chữ cuối?”.
Người đàn ông tóc lắm sợi bạc ngồi nghe, có vẻ chú tâm. Đầu cúi thấp, gật gù như đôi chim bồ câu thơ thẩn đi kiếm ăn quanh chỗ tôi ngồi.
“Đoạn kết…”
“Còn ông thì sao?”
“Tôi? Tôi chỉ biết viết thôi. Viết được là một chuyện, đem nó ra phân tích lý giải lại là một chuyện khác. Không nên sáng suốt quá trong những ý đồ mình muốn nhồi nhét vào? Cô hiểu không? Một sự mê muội, chút hồn nhiên. Tôi yêu cách giải thích ấy nhất. Dẫu sao khi viết văn, thường thì nó mang tới bất ngờ những niềm vui chẳng trông đợi”.
“Chẳng hạn?”
“Chẳng hạn như trong truyện tôi, nhân vật nam có tên Trần khiến cho cô Nhược Băng luôn tưởng nhớ là một nhân vật có thật, hư cấu chỉ chút đỉnh. Nó từng trải qua nhiều sóng gió, nó sống thở trần trụi ở ngoài đời và hiện tại, cô có muốn gặp mặt nó cho biết không?”
oOo
Ông nhà văn chủ bút tờ báo có lắm độc giả, có ai ngờ được ổng chính là người anh rể của Trọng. Vì thế, năm truyện ngắn tôi mãi ôm giữ vào lòng đã không trao cho ông ấy đọc mà làm gì. Đó là năm lá thư kéo dài (may ra thành công) tôi chuyên chở biết bao trông ngóng tới Trọng. Tôi ngỡ Trọng còn ở bên nhà lắm tai ương, mãi thất lạc và Trọng nhốt kín, giam hãm mối tình đầu của tôi theo. Nhưng không, tôi ngồi ở quán cà phê lộ thiên, tôi quay đầu lui và trời trồng ra Trọng đứng cười rộng miệng sau lưng tôi từ hồi nào. Hoang đường hơn cả truyện cổ tích. Một nghìn lẻ hai đêm?
Hình như Trọng có tâm sự nỗi lòng cho người anh rể nghe. Ông mang giùm cái tâm trạng đắng lòng kia, khiên đặt đặt hẳn hoi vào truyện dài của ông viết. Tôi đọc, thấy bất bình, thấy khó chịu, chẳng tìm gặp nét thơ mộng như “sự thật” và tôi chỉ còn mỗi cách cảm ơn ông nhà văn khéo lèo lái câu chuyện. Tôi đã khóc hôm gặp lại Trọng, đài dự đoán thời tiết chỉ đúng riêng cho thính giả Trọng đón nghe. Mưa nhỏ, hạt mặn, rơi xuống không đủ thấm ướt một bờ vai thổn thức.
Ông chủ bút, người anh rể Trọng chào hai đứa, nhường lại cái đoạn kết hợp tình hợp cảnh cho tôi và người của một cách biệt khốn khó dài hơn cả con sông Tương bày trò ngăn cách. Ông nhà văn cười như chia sẻ niềm vui mà tôi đang cuống quýt ngập chìm, thở vội:
“Tâm lý nhân vật tôi viết không đúng. Tôi chẳng hề hối tiếc về chuyện đó bởi tôi cũng như Ngân Bảo, chúng ta chỉ chú ý tới một cái hậu tròn đầy mà thôi. Có nước mắt, có nụ cười, chừng đó đủ để an ủi tôi rồi. Tạm biệt Ngân Bảo nhé. Hẹn gặp lại ở toà soạn lần sau, có rượu mừng và có những trang chữ nghĩa đầy hoan lạc”.
“Tôi là người độc nhất còn lại để kể chuyện cho quý vị.”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Vào năm 1974 có lần tôi đến trình diện tướng Phạm Văn Phú tại tư thất của ông ở Pleiku. Tướng Phú gọi tôi đến thảo luận một số kế hoạch. Điều đầu tiên ông nói là ông muốn di chuyển Bộ Tư Lệnh Quân Khu II tại Pleiku xuống Nha Trang. Ông hỏi tôi nghĩ thế nào? Tôi trả lời: “Tôi nghĩ đây không phải là một ý kiến tốt. Tôi ở vùng này khá lâu, đủ để hiểu tại sao chúng ta đóng Bộ Tư Lệnh tại đây. Chính Tổng thống Ngô Đình Diệm là người đã cho khai phá và phát triển vùng này. Ông Diệm có nhiều lý do chính đáng. Ông có ý đưa ảnh hưởng quân đội lên trấn ngự vùng cao nguyên. Đây là một khu then chốt, một khu vực chiến thuật trọng yếu, một khu vực canh nông với đất đai màu mỡ. Muốn đất nước giàu mạnh, phải sử dụng vùng này. Nay nếu Thiếu tướng rời khỏi đây, dân chúng sẽ di chuyển theo. Vùng này bỏ trống, Cộng sản sẽ đến. Khi kiểm soát được vùng này, chúng sử dụng làm căn cứ thì chúng ta sẽ mất tất cả miền Nam. Vậy nếu Thiếu tướng ở lại, dân chúng sẽ ở lại. Cộng sản có đến chăng nữa cũng phải khốc liệt lắm mới lấy được vùng này khỏi tay chúng ta. Thiếu tướng không thể cho không bọn Cộng sản vùng đất này!”
Hình minh họa
Quân Khu 2 là một vùng rất rộng, trong đó chúng tôi có mười bốn tỉnh. Nhưng chúng tôi chỉ có hai Sư đoàn, Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23. Vùng bình nguyên thuộc Quân Khu 2 cũng là một vùng rất trọng yếu về kinh tế và kỹ thuật.
Nhưng tướng Phú muốn di chuyển. Ông bảo: “Đóng ở đây là đóng Bộ Tư Lệnh quân đoàn ở tiền phương, mà binh đội lại đặt ở hậu cứ.” Tôi nói “Điều ấy rất đúng! Nhưng bây giờ nếu Thiếu tướng rục rịch gì ở Bộ Tư Lệnh là dân chúng cũng sẽ hoảng sợ mà di chuyển theo Thiếu tướng ngay.”
Sau hiệp định Ba Lê 1973, dân chúng luôn xem chừng quân đội. Hễ quân di chuyển đến đâu, dân di chuyển đến đấy. Họ thấy hiệp định Ba Lê không phải là một hiệp định ngưng chiến. Có điều gì dối trá ẩn giấu đàng sau. Dân Việt Nam biết kế hoạch của Kissinger. Họ biết tại sao Kissinger đã ký hiệp định này, dù không có thuận ý của chính quyền miền Nam. Dân chúng luôn tụ tập ở những địa điểm có đặt trụ sở các Bộ Tư Lệnh cao cấp. Khi các Bộ Tư Lệnh cao cấp di chuyển, mặc dầu vẫn để lại các trụ sở cấp dưới, nhưng đại đa số dân chúng sẽ vẫn cứ di chuyển theo bộ tư lệnh cao cấp, bỏ địa điểm cũ thành những nơi gần như hoang vắng.
Cao nguyên có một khối lượng dân đông đảo. Nếu họ di chuyển, Cộng sản sẽ có nhiều cơ may tiến vào. Dân không muốn bị bỏ lại với Cộng sản. Họ xem chừng và để ý tướng Phú rất kỹ. Nhưng tướng Phú thường hay ở Nha Trang. Nhiều người bảo tôi rằng ông ấy sợ. Tôi nghĩ có lẽ đúng. Ông từng bị bắt làm tù binh trong trận Điện Biên Phủ 1954, cho nên cứ nghĩ đến Việt Cộng là ông ấy đã đủ sợ. Tôi không có lòng tin nơi tướng Phú mỗi khi chúng tôi đụng trận.
Lúc ấy, ông quyết định không rời Bộ Tư Lệnh Quân khu nữa, nhưng cá nhân ông đã chuyển một số lớn của cải và đưa cả gia đình đi Nha Trang, hầu hết nhân viên cũng đi theo với ông. Tôi là người phải điều động mọi việc ở Pleiku. Đây là sự thực. Tôi không hề có ý khoe khoang.
Tướng Phú có mâu thuẫn cá nhân với hai ông tướng khác: Tướng Trần Văn Cẩm, trước là Tư lệnh Sư đoàn 23 dưới quyền tướng Nguyễn Văn Toàn. Khi tướng Toàn đổi đi, ông Cẩm trở thành phụ tá hành quân cho tướng Phú. Một người nữa là tướng Phạm Duy Tất, trước là Sư đoàn Trưởng Sư đoàn 21. Sau trở thành phụ tá Bình Định ở Nha Trang. (*)
Hình minh họa
Tướng Phú không thích cả hai ông này. Không có sĩ quan chấp hành, tướng Phú bèn tự đặt ra một số nhân viên riêng. Trưởng phòng Tổng quản trị của tướng Phú, Trung tá Trần Tích là người phụ trách bổ nhiệm sĩ quan vào các chức vụ thân cận của tướng Phú. Trung tá Tích làm việc rất chặt chẽ với vợ tướng Phú. Còn tôi chỉ biết lo điều động những chuyện hành quân, tình báo và tiếp vận của vùng cao nguyên mà thôi.
Tôi nghe quá nhiều dư luận về những chuyện bổ nhiệm này, trong ấy có điều đúng, cũng có điều thổi phồng. Tôi đã nghe nhiều chuyện về việc người ta đưa tiền cho vợ tướng Phú để mua chức vụ. Những chuyện này rất nản, làm người ta xuống tinh thần, nhưng làm gì được bây giờ? Báo cáo cho Tổng thống Thiệu chăng, nhưng như thế cũng chẳng kết quả gì, vì lẽ chính ông Thiệu cũng đã bị mua chuộc. Tôi bảo với các sĩ quan của tôi rằng tôi bịt miệng, che tai. Tôi chỉ cố làm cho tròn bổn phận một cách tốt đẹp. Tôi không muốn quan tâm đến các chuyện khác.
Về vụ tấn công Ban Mê Thuột: Chúng tôi biết chuyện ấy sẽ xảy ra. Tuy không biết đích xác lúc nào, và lực lượng Cộng sản có bao nhiêu, nhưng chúng tôi biết chuyện ấy sẽ đến. Đại tá Trịnh Tiếu, sĩ quan tình báo của tôi – hiện đang ở trong trại cải tạo tại Việt Nam – lúc ấy đã thảo luận với tôi về sự kiện một sư đoàn Bắc Việt có mặt tại vùng cao nguyên đang di chuyển. Chúng sẽ tấn công một địa điểm nào đó. Nhưng khi báo cáo tướng Phú, ông cho rằng chúng sẽ tấn công Kontum hay Pleiku. Ông đã tập trung quân lực để phòng vệ những vùng này. Ông Tất, Chỉ huy Biệt Động quân Vùng II, bạn đồng khoá với tôi, hiện cũng đang ở trại cải tạo tại Việt Nam, là người trách nhiệm phòng thủ Kontum và Pleiku. Kontum rất dễ tấn công. Còn Pleiku là căn cứ Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Tấn công những địa điểm này sẽ là một chiến dịch tuyên truyền chính trị thuận lợi cho địch quân. Tuy nhiên sĩ quan tình báo của tôi và cá nhân tôi hoài nghi giả thuyết này. Nếu địch muốn tuyên truyền, họ sẽ tấn công vào các toà hành chánh tỉnh. Nếu đánh Pleiku, họ không thể tấn công toà tỉnh. Và nếu họ tấn công chúng tôi, là sẽ có ngay các lực lượng tăng cường đến từ Sàigòn. Vì thế chúng tôi đặt Ban Mê Thuột lên đầu bảng liệt kê các mục tiêu mà Cộng quân có thể tấn công tại vùng II.
Nhưng khi tướng Phú quan sát Ban Mê Thuột, ông vẫn cho rằng Ban Mê Thuột có thể giữ được nếu bị tấn công. Ông tin địch quân không thể vào tỉnh. Phần tôi, không thấy có đặc công ở đấy. Còn chiến xa Bắc Việt, đối với chúng tôi không quá quan trọng, vì lẽ chúng tôi có không quân, Bắc Việt thì không.
Cuối cùng khi Cộng sản tấn công Ban Mê Thuột, ai nấy hoảng hốt. Khi chúng tấn công vào, tướng Phú đang ở Nha Trang. Vì thế tôi quyết định dàn quân lên Ban Mê Thuột. Tại đấy chúng tôi đã có Trung đoàn 53, và chúng tôi cho Biệt động quân tăng cường.
Trong một cuộc không kích của phi cơ chúng tôi, chẳng may đụng lầm Bộ chỉ huy tiền phương Sư đoàn 23, phá tan tất cả hệ thống truyền tin. Khi phải tái phối trí trận truyến, chúng tôi chiếm được một nửa thành phố. Vì Bắc quân quá mạnh trong thành phố, chúng tôi tiến chiếm thành phố một cách chậm chạp. Chúng tôi sợ bị mai phục. Rồi chính lúc ấy Sư đoàn Trưởng Sư đoàn 23 đã cho lính giữ an ninh để trực thăng đáp xuống bốc vợ ông và gia đình ông. Thật sỉ nhục. Trách nhiệm ông là chỉ huy chiến dịch tái chiếm Ban Mê Thuột, nhưng chỉ vì lo lắng cho sự an nguy của vợ mà ông đã đặt bãi đáp, ra lệnh cho binh sĩ tấn công phải quay lại bảo vệ vùng này trước! Quân Bấc Việt đã quan sát được. Khi ông ta làm thế thì Bắc quân khép chặt thành phố. Ông đã cho địch quá nhiều thời gian. Ông cho chúng một cơ hội tốt, rồi sau đó ông đã tiến quân rất chậm!
Hình minh họa
Đó là một lỗi lầm đáng trừng phạt. Ông đã bất tuân thượng lệnh. Nhưng ai sẽ là người quyết định về ông ta? Tướng Phú, hay Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu Trưởng liên quân? Sau này tôi đối diện với ông ta. Ông bảo trực thăng của ông bị bắn tỉa, ông bị thương. Ông giải thích tất cả binh sĩ đã ra khỏi trực thăng đi lo cho gia đình riêng của họ. Ông không thể kiểm soát họ được. Chúng tôi là bạn lâu năm, tôi bèn nói: “Tướng Tường, ông là Tư lệnh Sư đoàn, tại sao ông không bắn chúng nó?”. Ông ta không trả lời.
Phần Tướng Phú thì bay trở lại Pleiku quan sát tình hình. Lúc ông ở trong trung tâm hành quân với tôi thì nhận được một cú điện thoại từ Sàigòn do Tổng thống Thiệu gọi. Ông Thiệu bảo muốn gặp tướng Phú ngày hôm sau, tức là 14 tháng 3/1975 tại Cam Ranh.
Tôi bèn chuẩn bị các đồ biểu thuyết trình, các bản báo cáo tình hình cho buổi họp. Chúng tôi nghĩ Tổng thống Thiệu muốn biết diễn tiến các cuộc hành quân ra sao. Sáng hôm sau, ông Phú bay xuống Cam Ranh gặp ông Thiệu.
Sau khi gặp tổng thống, đêm ấy ông Phú trở về triệu tập một buổi họp tại Pleiku. Hiện diện trong buổi họp gồm có: Tướng Phú, tướng Cẩm, tướng Phạm Ngọc Sang Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân, ông Tất và tôi. Vừa bước vào phòng họp, điều đầu tiên ông Phú nói là ông đã được ông Thiệu chấp thuận thăng chức cho ông Tất. Ông gắn sao cho ông Tất. Chúng tôi vỗ tay.
Xong, ông loan báo: “Chúng ta sẽ triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum!”
Nghe ông nói như vậy, tôi mở mắt thật lớn. Tôi nghĩ có lẽ mình nghe không rõ. Nhưng ông giải thích: Chúng ta rút lui chiến thuật để tái phối trí chiếm lại Ban Mê Thuột. Ông Cẩm, ông Sang, ông Tất và tôi đều ngồi sững. Chúng tôi véo nhau. Tôi tự nghĩ: “Cần phải hỏi xem chúng tôi sẽ triệt thoái cách nào.” Tôi lên tiếng hỏi. Ông Phú đáp: “Quý ông sẽ sử dụng đường 7B.” Phản ứng tức khắc của tôi là bảo: “Thưa Thiếu tướng, không thể được!” Ông Phú bảo: “Tổng thống đã quyết định. Chúng ta không có sự lựa chọn, bởi vì chúng ta cần đạt yếu tố bất ngờ với địch quân.”
Tôi bảo: “Thưa Thiếu tướng, tôi sống khá lâu ở đây. Tôi biết rất rõ vùng này. Đường 7B đã bỏ phế từ lâu. Lực lượng Đặc biệt Mỹ, Lực lượng Đặc biệt Việt Nam, và cả địch quân đều đã hành quân trong khu vực ấy. Họ đã gài mìn khắp nơi. Nếu phải triệt thoái với các quân cụ quân dụng nặng nề, trước tiên phải khai quang mìn trên đường, nay ai còn có thể biết mìn đặt chỗ nào? Rồi lại phải sửa đường, làm gì có thời gian sửa chữa? Ngoài ra khi chúng ta quyết định triệt thoái là mọi người sẽ biết, chẳng còn gì bất ngờ nữa! Xin đề nghị Thiếu tướng nếu phải triệt thoái, hãy sử dụng quốc lộ số 19 mà đi thẳng. Sẽ phải chấp nhận một số tổn thất, nhưng như thế chúng ta mới có thể qua được.”
Tướng Phú bảo: “Không. Tất cả quyết định rồi! Quý ông không lựa chọn gì nữa. Sáng mai tôi bay đi Nha Trang. Quý ông sẽ có ba ngày để lo triệt thoái!” Tôi bảo: “Thưa Thiếu tướng, làm sao được? Chúng ta có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu là đồ tiếp liệu và quân cụ. Phải ít nhất ba tuần lễ chúng tôi mới hoạch định nổi.”
Ông ấy bảo: “Tất cả những điều ấy cũng đã quyết định xong.” Tướng Cẩm và tôi bèn hỏi thế còn Địa phương quân, Nghĩa quân, các nhân viên hành chánh xã, tỉnh và dân chúng thì sao? Tướng Phú nói: “Quý ông đừng phải lo gì cho họ cả. Quên đi!”
Tôi hỏi ông ấy đã nói chuyện với người Mỹ, các nhân viên Trung ương Tình báo và văn phòng Tùy viên Quân sự của Hoa Kỳ trong vùng chưa? Và tôi không bao giờ quên điều này: Ông nhìn thẳng vào tôi mà bảo “Hãy quên bọn Mỹ đi. Đừng nói với gì với người Mỹ cả.” Đó là đích xác những lời ông ấy nói. Tôi rất xấu hổ mà kể cho quý vị nghe sự thực đã xảy ra ở Pleiku như vậy. Tôi không tin nổi chuyện ấy. Tướng Phú đã dự định bỏ rơi cả những người Mỹ, không báo động cho họ biết về cuộc rút quân này. Lệnh thực ra là từ Tổng thống Thiệu. Tất cả những gì tướng Phú nói với tôi, ông bảo đều do ông Thiệu nói. Trong năm người tham dự buổi họp, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi để kể câu chuyện này tại Mỹ. Ông Phú tự sát. Ông Sang, ông Cẩm, ông Tất giờ đây đều bị giam tại các trại cải tạo ở Việt Nam. Còn lại tôi là người độc nhất để kể câu chuyện này cho quý vị.
Hình minh họa
Ông Phú nói ông phải làm như vậy vì ông tuân hành lệnh. “Quý vị khỏi lo lắng gì chuyện này,” ông nói. Ông có vẻ rất bối rối khi nói và hiện rõ vẻ bất đồng ý kiến với lệnh trên.
Tôi được chỉ định làm sĩ quan chỉ huy triệt thoái. Ông Tất phụ trách các lực lượng chiến thuật, toàn bộ hệ thống truyền tin và tiếp vận. Tôi tự bảo “Trời! khổ cho tôi.”
Tám giờ sáng hôm sau, tướng Phú ra đi. Ông dùng máy bay, bay đi. Còn lại mình tôi lo liệu. Một lát sau, từ Sàigòn tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu Trưởng liên quân điện thoại, hỏi: “Tướng Phú đâu?” Tôi bật cười vì sự thể quá lố bịch. Tôi tự hỏi “Nói gì bây giờ? Nên nói thực hay nên chống chế cho ông Phú đây?”
Tôi bèn bảo: “Tôi không được rõ. Hiện tôi không có liên lạc gì với Tướng Phú cả.” Trung tướng Khuyên tiếp tục gọi nhiều lần nữa. Cuối cùng tôi đành bảo: “Vâng, xin Trung tướng cứ gọi Nha Trang để nói chuyện, ông ấy hiện ở đấy.” Tướng Khuyên hỏi: “Tại sao ông ấy lại ở Nha Trang.” Tôi bảo: “Thưa, tôi không được rõ. Trung tướng cứ hỏi thẳng ông ấy. Tôi hiện đang trách nhiệm điều động công tác ở đây, còn Tướng Phú đang ở Bộ Tư lệnh mới, đặt tại Nha Trang.”
Nhiều Tiểu đoàn Trưởng các binh chủng, nào Thiết giáp, Pháo binh, Quân vận đều đến gặp tôi, họ kêu ầm lên: “Tại sao lại rút? Chúng tôi đánh được, tại sao lại rút? Có việc gì xảy ra vậy?” Tôi chỉ còn có thể trả lời: “Tôi đồng ý với các bạn. Nhưng đây là lệnh Tổng thống và Tổng Tham mưu. Là quân nhân chuyên nghiệp, chúng ta làm gì được bây giờ? Bất tuân lệnh hay sao? Tất nhiên là không. Tôi biết là sai, nhưng đây là lệnh. Chúng ta muốn khởi loạn hay sao?”
Lúc ấy tôi tin thượng cấp đã có một kế hoạch mật mà chúng tôi không được rõ. Họ không thể ngu xuẩn đến như thế. Có lẽ đã có một sách lược mà vì không ở cấp chỉ huy tối cao, nên chúng tôi không được biết. Tướng Cẩm và tôi bàn bạc về cuộc rút quân điên rồ này. Chúng tôi ngồi cười. Ông Cẩm bảo: “Tôi cá với ông: đã có thỏa thuận rồi, mình khỏi đánh giặc nữa. Tôi cá là chiến tranh đã xong!” Tôi bảo: “Tôi ngờ lắm.” Nhưng ông ta nói: “Tôi suy đoán như vậy vì ở đây dẫu xảy ra bất cứ một cuộc tấn công nào, chúng ta cũng có thể đương đầu ít nhất ba tháng. Cho nên tôi cá với ông là đã có thỏa thuận, lần này mình có hoà bình thực sự. Tôi không rõ, nhưng tôi cũng cảm thấy như vậy.”
Tướng Cẩm cũng dùng máy bay, bay đi. Chỉ còn ông Tất và tôi trong Bộ Tư lệnh. Tôi tự nhủ người Mỹ đã là đồng minh chúng tôi trong bao năm trời. Diễn tiến này rất trọng hệ, mà họ lại không được biết gì. Tại sao chúng tôi không cho họ hay? Đó là lý do tại sao tôi đã gọi cho họ, bảo họ chúng tôi sắp triệt thoái. Họ hoàn toàn không hay biết gì.
Tôi báo cho các nhân viên Trung ương Tinh báo và Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ trong vùng là chúng tôi sắp rút quân. Họ không tin nổi khi tôi nói với họ như thế. Họ liên lạc Sàigòn, kiểm chứng, rồi tìm ra đó chính là sự thật. Nhờ vậy, họ đi thoát bằng máy bay, nên tôi đã được coi là có công trạng với Trung ương Tình báo Hoa Kỳ tại Sàigòn, tên tôi được lên đầu danh sách những người sẽ được giúp đỡ nếu Sàigòn sụp đổ.
Cuộc triệt thoái khởi đầu tiến triển tốt. Vào giây phút cuối, trực thăng của tôi bị hỏng máy, nên tôi đã đi cùng với đoàn xe ra khỏi Pleiku. Triệt thoái luôn luôn là một chiến dịch khó khăn, đòi hỏi nhiều tính toán cẩn thận, tỉ mỉ. Tôi chỉ có ba ngày để rút 100,000 người, và tôi không thể bỏ ai được. Dân chúng sinh sống chung quanh đáng được chúng tôi phải lo lắng săn sóc cho họ. Và dù tôi không bảo vệ nổi, họ vẫn đi theo. Rồi chỉ trong một thời gian ngắn, mọi sự bắt đầu ra ngoài khả năng kiểm soát của tôi. Các Tiểu đoàn trưởng thuộc quyền tôi không thể nào kiểm soát nổi tất cả mọi người được nữa. Đoàn người tan tành trên đường đến Tuy Hoà. Với thời hạn ba ngày, chúng tôi không thể đủ thì giờ làm được gì. Với thời hạn ngắn ngủi như thế, người ta chỉ còn có thể quyết định: Ai đi trước, ai đi sau, ai đi kế tiếp, thế thôi.
Hình minh họa
Bây giờ, hàng đêm tôi tưởng như tôi vẫn còn nhìn thấy cả đoàn xe ấy trước mắt. Nào chiến xa, thiết vận xa, xe vận tải nối đuôi nhau, biết bao binh sĩ với gia đình thân quyến vây quanh. Những cụ già ngồi lắc lẻo trên mui xe, những bà mẹ, những trẻ thơ ngủ trong lòng mẹ, nằm duỗi trên tay mẹ. Đôi lúc vài người xấu số chẳng may ngã xuống trong lúc đoàn xe tiếp tục chạy. Họ kêu la thảm thiết, thân hình bị nghiền nát dưới bánh xe. Tôi đã nghe những tiếng kêu la ấy. Tôi đã thấy một chiếc xe vận tải sức chở chỉ có nửa tấn đã nhồi nhét đầy người nên bị lật, những con người bị xe đè xuống nát xương. Tôi đã nghe tiếng xương gẫy. Tôi bất lực chẳng giúp gì được họ. Tôi đã thấy những con người bỏ xác bên đường. Thực là một cơn ác mộng kinh hoàng.
Đến phía tây thị xã Cheo Reo, đoàn xe bị oanh tạc nhầm bởi chính không quân chúng tôi, vô số người thiệt mạng. Tôi vừa vào được căn cứ Cheo Reo thì quân Bắc Việt đã kéo đến vây quanh. Chúng rót trái phá vào. Chỉ còn mỗi một máy truyền tin để gọi Nha Trang trong lúc tôi nằm dưới cơn mưa pháo.
Đơn vị truyền tin của tôi cố liên lạc với tướng Phú ở Nha Trang, thì ông Phú lại đang đi loanh quanh đâu đó. Tôi sử dụng Anh ngữ nói trên máy truyền tin với sĩ quan của tôi, vì lúc ấy địch quân chỉ còn cách căn cứ chúng tôi có khoảng một cây số. Tôi bảo anh ta: “Trình với Thiếu tướng là tình hình ở đây nguy kịch lắm. Hiểu tôi muốn nói gì khi tôi bảo tình hình nguy kịch chứ? Thế thôi! Không thì giờ nói nhiều. Tôi sẽ cố sức. Địch xiết chặt rồi.” Tướng Phú hiểu. Và hai mươi phút sau ông gọi tôi trên máy truyền tin, báo động cho tôi biết một lực lượng địch tại Phú Bổn đang khép chặt vòng vây. Ông Tất cùng với binh sĩ đang ở cách tôi ba cây số. Không quân được lệnh mang tôi ra bằng trực thăng. Thiết giáp được lệnh mở đường bất kể thiệt hại, và ông Tất sẽ đưa quân hỗ trợ.
Ông Phú gửi hai trực thăng đến, để đưa chúng tôi ra Nha Trang. Hỏa lực địch bắn lên dữ dội khi trực thăng hạ cánh. Chiếc trực thăng chở tôi tính ra tổng cộng chở đúng hai mươi bảy người, trong khi chỉ được chế tạo để chở mỗi lần bảy người. Chiếc kia gồm mười chín người. Rồi cũng cất cánh lên được, bay thoát về Tuy Hoà. Chúng tôi rất may mắn đã thoát. Trong lúc ấy tướng Phú vẫn ở Nha Trang.
Sáng hôm sau, tướng Phú điện thoại ra lệnh gọi tôi vào Nha Trang. Tôi bay vào, tổ chức lại Ban Tham mưu và ở đấy mười hai ngày. Rồi một lần nữa, ông Phú lại bỏ tôi cuốn gói đi. Ông dọn sạch nhà cửa, lấy máy bay đưa toàn gia đình đi, không hề nói với tôi một lời. Một hôm, viên Đại úy đến văn phòng tôi gõ cửa nói: “Đại tá, chỉ còn có Đại tá và tôi ở đây! Chẳng còn ai nữa cả!” Tôi bảo “Anh nói gì thế?” Lúc ấy vào buổi trưa, tôi vẫn đang cắm cúi làm kế hoạch tái phối trí binh sĩ. Tôi rất mệt, đang muốn ngả lưng. Nghe nói thế tôi bèn ra khỏi văn phòng, xuống thang gác. Hai nhân viên của tôi đang làm việc, họ báo cáo cho tôi là tướng Phú đã đi mất. Tôi lại nhà tướng Phú, không một ai. Nhà cửa trống rỗng. Tôi hỏi một Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng đang ở đấy là tướng Phú đâu rồi? Anh ta đáp: “Chẳng hiểu chuyện gì. Hiện nhà này không có ai cả, nhưng binh sĩ của tôi vẫn phải giữ an ninh căn nhà. Tôi không biết làm gì đây nữa.”
Tôi tập hợp sĩ quan, binh sĩ vào năm cái xe jeep. Làm gì được bây giờ? Ai nấy đều đã bỏ đi. Người ta bảo có người thấy tướng Phú ngoài phi trường. Chúng tôi lái ra phi trường. Đầu tiên, quân cảnh không chịu cho tôi vào. Sau, họ mở cổng. Khắp chung quanh tôi là lính không quân, tôi gặp cả ông tướng không quân cũng đang dáo dác tìm tướng Phú. Ông ta bảo: “Ông Phú đã đi, rồi ông Lý cũng đi thì tại sao chúng tôi còn ở lại đây. Đi thôi!” Nhưng lúc ấy tôi nào có đi đâu. Tôi chỉ đi tìm người chỉ huy của tôi thôi!
Hình minh họa
Rồi tôi nhận điện thoại của đại tướng Cao Văn Viên tại phi trường. Ông bảo: “Tướng Phú đâu?” Tôi nói “Tôi không được rõ, chính tôi cũng đang tìm ông ấy!” Ông nói: “Vậy anh cứ ở lại phi trường để kiếm ông ấy cho tôi.” Tôi bảo: “Vâng, tôi sẽ ở đây.”
Chúng tôi đợi chờ trông ngóng mãi vẫn chẳng thấy tướng Phú đâu. Sau bảy ngày không ăn không ngủ, tôi qụy xuống vì suy nhược. Lính và các sĩ quan của tôi bèn đẩy tôi vào một chiếc máy bay trong khi các toán lính khác rút đi. Chiếc máy bay thay vì đi Phan Rang để thiết lập bộ chỉ huy ở đấy, đã bay thẳng về Sàigòn. Khi tôi tới Sàigòn thì tướng Phú đã ở đấy rồi. Tôi về nhà. Hôm sau đi tiểu ra máu, sức khoẻ sa sút. Tôi đi khám bệnh. Bác sĩ cho thuốc, bắt tôi nghỉ ngơi, nhưng tôi vẫn đi làm.
Một lần nữa tôi cố liên lạc tướng Phú để xem phải làm gì. Câu đầu tiên ông ấy bảo tôi là: “Lý ơi, chúng ta bị phản bội rồi.” Tôi hỏi: “Bởi ai vậy?” Ông ta nói: “Bởi Thiệu. Thiệu đã cho chúng ta vào bẫy. Ông ta đã đẩy mọi chuyện cho chúng ta. Ông ta bảo tất cả là lỗi chúng ta. Chính ông ấy ra lệnh cho chúng ta rút quân, bây giờ ông ấy lại tuyên bố mọi sự đều do lỗi chúng ta cả!” Ông Phú muốn chuẩn bị một tờ trình để chứng minh chúng tôi chẳng có tội lỗi gì, để giải thích rõ chúng tôi đã điều khiển các chiến dịch ấy như thế nào, tại sao chúng tôi không lấy lại Ban Mê Thuột, tại sao chúng tôi triệt thoái.
Vì thế tôi sửa soạn một tờ trình dầy cộm cho tướng Phú.
Tôi đến thăm tướng Phú và tướng Trưởng, Tư lệnh vùng 1, bấy giờ đang ở trong bịnh viện. Tướng Trưởng ôm lấy tôi mà khóc. Ông bảo: “Lý ơi, chúng ta mất hết fôi!” Tướng Trưởng yêu đất nước, yêu đồng đội và yêu Quân đoàn I của ông. Nhưng bây giờ, tất cả không còn gì nữa. Khi gặp lại tướng Phú, tôi thấy ông đang giận dữ. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến ông giận dữ tổng thống. Sau khi trao cho ông tập báo cáo tôi đã soạn xong, ông ký tên, tôi đi gặp tướng Khuyên để đưa tờ trình này cho ông Thiệu và ông Cao Văn Viên. Nhưng sau đó, không bao giờ tôi nghe nói gì về tờ trình này nữa.
Tôi hỏi tướng Khuyên: “Chúng ta phải làm gì bây giờ. Chúng ta đã mất tất cả chưa?”. Ông nói: “Không. Chúng ta sẽ tập trung lại, vạch lại ranh giới, ông sẽ nắm lại Quân đoàn II.”
Nhưng tôi tự nghĩ ông tướng này không nói hết sự thật. Bây giờ chúng tôi không còn có thể làm như vậy được nữa. Nếu ông ấy bảo thế từ lúc tôi còn ở Pleiku, thì còn có thể được. Bây giờ tôi chỉ huy được ai. Lính thì không, địch đầy rẫy, chỗ nào cũng có địch quân.
Tướng Khuyên hỏi: “Nếu ông ở địa vị tôi, ông sẽ làm gì?” Câu hỏi đột ngột làm tôi chấn động, vì tôi nhận ra rằng tôi không còn có thể nghĩ được bất cứ giải pháp khả thi nào để giải quyết vấn đề của chúng tôi lúc này nữa.
Khi vê nhà, vợ tôi và tôi nghe tiếng phi cơ liên tục cất cánh mỗi đêm. Chúng tôi biết văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ đang di tản người ra khỏi xứ. Tin tức đưa đến chúng tôi mỗi ngày do đó chúng tôi đều biết những ai đã ra đi. Tôi đến gặp một người bạn là Tư lệnh Sư đoàn 2(?) Ông ta và tôi vẫn cố gắng thu thập lại lính tráng để tái tổ chức Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23.(?) ()
Nhưng bỗng lúc ấy, chúng tôi lại nhận được những tin tức toàn là tin tổn thất. Tôi đi gặp tướng Hiếu một cấp chỉ huy cũ của tôi và là một tướng lãnh hết sức lương thiện trong quân đội. Tôi hỏi tướng Hiếu tình hình Quân khu III ra sao. Ông trả lời: “Chúng ta phải tái tổ chức và nỗ lực mà chặn những cuộc tiến công chiến xa của địch quân”. Vài ngày sau, ông bị giết.
Hình minh họa
Tôi đi ra đi vào từ Vũng Tàu đến Sàigòn nhiều lần, cuối cùng liên lạc được một số bạn hữu của tôi bên tòa Đại sứ Mỹ. Họ điện thoại bảo tên tôi đã có trên danh sách những người ra đi. Tôi đến tòa Đại sứ Mỹ, vào bằng cổng hậu vì người ta quá đông, họ đã để cho tôi vào. Tôi gặp tướng Charles Timmes, một bạn rất tốt của tôi. Ông bảo ông đã nhận được lệnh Hoa Thịnh Đốn đưa Cao Văn Viên đi, tên tôi được sắp kế tên ông Cao Văn Viên, vì tôi đã cứu được nhiều người Mỹ trên cao nguyên.
Do đó tôi đưa gia đình trực hệ, gồm vợ và các con đến đợi ở điểm hẹn, rồi được đón vào Tân Sơn Nhứt bằng xe buýt tòa Đại sứ. Chúng tôi chờ ở phi trường cho đến hôm sau.
Chúng tôi rời Việt Nam bằng chiếc máy bay C-130, bay đến trại tỵ nạn ở Guam. Đó là ngày 25 tháng Tư.
Khi rời đi, tôi biết tất cả đã mất. Trước kia tôi nghĩ có thể Cộng sản và Mỹ có thỏa thuận, nhưng điều ấy sai. Chúng tôi nghe nói người Mỹ đã bán đứng chúng tôi để kiếm những đồng minh khác.
Tôi nghĩ khi Kissinger đi Trung Quốc bắt tay với Mao Trạch Đông, đấy đã là chung cuộc của Việt Nam. Tôi biết sau đó Việt Nam chẳng còn hy vọng gì. Sau khi người Mỹ đi Bắc Kinh bắt tay với Trung Cộng, họ không cần Việt Nam nữa.
Đối với tôi, đấy là chuyện người ta đã bán đứng chúng tôi. Chúng tôi chẳng có gì để nói về chuyện ấy cả. Tôi nghĩ đáng lẽ Tổng thống Thiệu phải thấy được điều này mà chuẩn bị từ trước. Nhưng ông đã không thấy, do đó đối với tôi, Thiệu không phải là một lãnh tụ giỏi.
Bây giờ đây quý ông thử nghĩ: Nếu quý ông là người Việt Nam và quý ông yêu quê hương xứ sở mình, tất nhiên sẽ phải hỏi tại sao người Mỹ hành xử như thế? Đây chính là câu hỏi mà tôi đặt ra cho người Mỹ: Tại sao người Mỹ đã đối xử với bạn hữu của mình như thế?
Nhiều người bảo chúng tôi đã bị bán đứng. Tôi đành phải buồn bã mà đồng ý đúng là như vậy.
Vào lúc Saigon sụp đổ, Tổng thống Nixon đang sống tại San Clemente. Ông có nói với tôi và nhiều người khác rằng ngày Saigon sụp đổ là ngày đau buồn nhất đời ông – Sau ngày ông từ nhiệm chức vụ Tổng thống. Như ông đã vạch ra trong cuốn No More Vietnams “Không còn những Việt Nam nữa”, là cuộc chiến này thất bại không phải vì các chiến sĩ của chúng ta. Lý do chính là vì Quốc hội đã từ chối không cung cấp quân viện cho đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta theo thoả ước Ba Lê năm 1973 đã ấn định cho phép cung cấp số quân viện ấy ngang với số quân viện mà Liên Xô cung cấp cho miền Bắc. Ngay lúc ấy, ông tiên đoán quyền lợi Hoa Kỳ trên thế giới sẽ còn bị thiệt hại hơn là thiệt hại của dân tộc Đông Nam Á. Lời tiên đoán của ông, chẳng may đã được chứng minh đúng vào thời khoảng từ 1975 đến 1980, khi hơn 100 triệu người đã bị thất bại với Cộng sản, hay bởi Tây phương, vì nỗi lo sợ “một trường hợp Việt Nam khác” của Quốc hội, của giới truyền thông, của chính quyền Carter và chính quyền Ford.
Nỗi đau buồn của ông về sự sụp đổ Saigon càng sâu đậm hơn, vì lẽ một trại chuyển tiếp chính của tỵ nạn Việt Nam được thiết lập ở Camp Pendleton, nơi rất gần nhà ông tại San Clemente. Ông thường lái xe đi ngang qua trại tỵ nạn này, và ông đã diễn tả với tôi một cách sinh động mỗi khi nhìn thấy trẻ con chơi đùa, khi thấy những người đàn bà đem quần áo ra phơi ở khu vực tạm trú của họ.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Mùa Xuân năm 1975 gia đình tôi ở cả Saigon trong khi tôi đang làm việc tại Hồng Kông. Các con tôi tất nhiên đều có quốc tịch Mỹ từ khi mới lọt lòng, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã cấp thông hành cho các con tôi rồi. Tuy nhiên, phải có chiếu khán xuất ngoại mới ra khỏi Việt Nam được. Ngay công dân Hoa Kỳ rời Việt Nam cũng cần chiếu khán xuất ngoại mới đi được.
Hình minh họa
Tôi đã tin người Mỹ chúng ta sẽ quay lại hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam, chủ chốt vì vấn đề dầu lửa, tôi nghĩ. Có mấy hòn đảo ngoài hải phận Việt Nam mà người Việt phải tranh chấp với Trung Quốc, họ cho là có rất nhiều dầu ở ngoài vùng ấy. Tôi tính nếu có vấn đề năng lượng, nếu có nhiều dầu, chắc chắn Hiệp Chủng Quốc sẽ phải hỗ trợ cho Việt Nam – Chỉ vì vấn đề này. Tôi không nghĩ đến ba cái chuyện bảo vệ tự do dân chủ gì cả, tôi nghĩ toàn bộ cuộc chiến này chẳng là cái gì khác ngoại trừ một đường lối kiếm tiền. Tôi tính ra với khối lượng dầu lửa ấy, một đống tiền, chắc chắn người ta sẽ phải bảo vệ họ vì mớ dầu ấy. Tôi thản nhiên, không bồn chồn lo lắng, cho tới một tháng trước khi đi. Đó là khi Đà Nẵng sụp đổ.
Một cô em họ của vợ tôi sống tại vùng Đà Nẵng. Vợ chồng cô có sáu đứa con, chồng làm thầu quân đội, nhặt rác. Cô em vợ tôi chạy vào Saigon một thân một mình cho biết Việt Cộng đã giết hết chồng con cô. Trước đó, người chồng đã bảo cô thu xếp ra đi “Việt Cộng sắp đến, chúng giết tôi mất”, anh ta có nói thế. Tôi không rõ tại sao họ biết, những sự thể xảy ra như vậy. Chúng đã giết anh và cả mấy đứa con. Sau đó cô đi đường bộ từ một địa điểm gần Đà Nẵng về suốt đến Saigon. Cô bảo bọn Việt Cộng nổi điên, đã bắn giết dân chúng. Tôi mong cô đến ở với chúng tôi để cùng đi. Nhưng cô từ chối, bảo cô không còn lẽ sống ở đời nữa.
Nhưng chúng tôi cũng đã mang đi được 32 người Việt. Tôi bay về Saigon bằng Hàng Không Việt Nam. Tôi có vé máy bay cho vợ và các con tôi, vì ngay từ trước, tôi đã lo chuyện này. Tôi đến hỏi Lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông, vì tôi muốn mang cả gia đình vợ đi, gồm bố mẹ vợ, anh chị em vợ tôi. Nhưng họ đã làm cho tôi phải chạy loanh quanh mãi. Họ bảo: “Ờ được chớ. Đâu có vấn đề gì. Cứ đến tòa Đại sứ Saigon, họ chấp thuận mà. Họ sẽ cho gia đình vợ ông chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ thôi”. Vợ tôi có quốc tịch Mỹ. Tôi bèn đến toà Đại sứ Mỹ ở Saigon. Lúc ấy hãy còn là tháng Ba – họ lại bảo tôi trở về tòa Lãnh sự Mỹ ở Hồng Kông xin thêm giấy tờ nữa họ mới cấp chiếu khán nhập cảnh cho gia đình vợ tôi. Cứ thế, tôi loay hoay chạy đi chạy lại. Cuối cùng vào tháng Tư, tôi đến Tòa Đại sứ Mỹ ở Saigon lần nữa. Bấy giờ chỉ chừng một tuần là mất Việt Nam, tôi đâm hoảng. Tôi bảo: “Lạy Chúa, chuyện gì xảy ra thế? Tôi phải đưa gia đình đi khỏi đây. Vợ tôi không thể bỏ gia đình mà đi được. Bả là công dân Hoa Kỳ. Qúy ông phải giúp cho các công dân Hoa Kỳ đi chớ?” Người nói chuyện với tôi là một tên chó đẻ. Hình như hắn là Phó lãnh sự gì đó ở Saigon. Hắn nói: “Tôi sẽ cho ông một lá thư, mang sang Sở Di Trú Ngoại Kiều của Việt Nam mà lấy chiếu khán. Họ sẽ cấp chiếu khán xuất ngoại cho gia đình vợ ông. Không có gì trở ngại”.
Hình minh họa
Khỉ mốc. Tôi đến Sở Di Trú, đợi hàng giờ đồng hồ mới gặp được người nhân viên chỉ dẫn Việt nam. Tại xứ này, cần gì cũng phải có tiền. Vào gặp thằng cha Việt Nam mà Phó Lãnh Sự bảo tôi tới gặp, tôi giải thích tại sao tôi đến, thằng chả nói: “Anh nói cái gì vậy?” Tôi đưa ra lá thư bên Tòa Đại sứ cấp cho tôi. Thằng cha cười vào mặt tôi. Hắn nói: “Không rõ ông ta mắc chứng gì. Ông thừa hiểu chúng tôi đâu có cấp chiếu khán xuất ngoại? Chúng tôi có quá nhiều việc phải lo! Tôi đã bảo ông ta đừng làm mất thì giờ chúng tôi với chuyện gửi người tới đây xin chiếu khán xuất ngoại cho người Việt”.
Tôi quay lại gặp viên Phó Lãnh sự, hắn không tiếp. Lại phải gặp một cha khác. Tôi nói “Quỷ thần ạ. Tôi cần chiếu khán xuất ngoại mà họ không cho. Họ nói họ quá bận bịu. Mấy đứa con đẻ của tôi đều có thông hành Mỹ, vậy mà họ không chịu cấp”. Cha này nói: “Chẳng việc gì phải lo. Không có lý do gì lại hoảng lên như thế về chuyện phải đưa gia đình đi đâu cả”. Tôi nói: “Người ta đang di tản, tôi cần phải có chiếu khán xuất ngoại”. Hắn nói: “Không, chẳng có chuyện di tản di tiếc gì sất”. Lạy Chúa tôi, bấy giờ chỉ còn một tuần lễ nữa, cái đất nước khốn nạn ấy sẽ sụp đổ. Vậy mà thằng chả vẫn lẻo mồm đến thế. Tôi nói: “Giêsu Ma, ông bảo tôi không có chuyện di tản. Vậy chớ bao nhiêu công ty Mỹ đều đã đi sạch. Ngân hàng “Bank of America” cũng đi rồi. Các công ty thầu xây cất cũng đã đi. Vậy chớ bao nhiêu người đang đứng sắp hàng ngoài Tòa Đại sứ làm chi vậy? Chúng tôi là công dân Mỹ. Chúng tôi có thông hành Mỹ. Tôi muốn đưa gia đình tôi ra khỏi đây”.
Thằng chả nói: “Bận lắm, đừng mất thì giờ. Không có chuyện gì. Không di tản lôi thôi gì. Ông lo lắng quá độ. Chúng ta không bỏ Việt Nam đâu”.
Rồi tôi quay lại lần nữa. Tôi nghĩ bấy giờ là ngày hai mươi tư, lộn xộn không thể tả. Cả một đống người Việt, người Mỹ bu đến chỗ khốn nạn ấy. Tôi xin thề tôi không nói láo – ít nhất có đến bốn trăm con người sắp hàng ở Tòa Đại sứ. Chúng tôi phải đợi đến bốn giờ đồng hồ. Họ không cho tôi gặp ai, cuối cùng mới gặp được một cô Việt Nam làm việc ở đấy. Cô gái Việt Nam này tử tế hết sức. Cô ta nói quả thiệt mọi người đang đi. Họ cũng có hứa với các người Việt làm ở Tòa Đại sứ là khi ra đi, họ sẽ mang những người ấy theo.
Tôi nói: “Vâng, quỷ thần ạ. Tôi nghĩ họ nên làm như thế. Họ nên đưa đi tất cả những người Việt nào đã làm cho Mỹ”. Tôi nói với cô rằng tôi đang cố sức đưa gia đình đi đây. Cô bèn chỉ cho tôi mấy cái mẫu đơn mà nói: “ Đây, đây là những mẫu đơn phải điền vào rồi đóng dấu, mang ra Tân Sơn Nhất mà di tản”. Thế là tôi chụp lấy một mớ. Cô cũng cho tôi một mẫu đơn đã đầy đủ, có đóng triện Tòa Đại sứ cẩn thận. Tôi chạy ngay tới một nhà in, biểu họ rằng: “Tôi cần tức khắc một cái con dấu giống hệt như vầy”. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, họ làm xong. Tôi bèn nhái chữ ký giống y như trong cái mẫu đơn cô ta đưa. Thế là tôi điền hết tên tuổi mọi người trong gia đình vợ tôi, hàng xóm nhà tôi, cả bạn bè nhà tôi, tổng cộng ba mươi hai người Việt.
Nhưng rồi làm sao vô Tân Sơn Nhất? Tất phải cho tiền bọn lính gác. Không tiền làm sao vô nổi. Tôi còn phải mang thêm một số người Việt phụ trội nữa: Một viên Đại tá Việt Nam làm trong Tân Sơn Nhất biểu tôi “Tôi có thể đưa ông vào, nếu ông chịu đưa gia đình tôi đi”. Tôi nói “Tốt thôi, tôi có thể đưa ai là đưa mà”. Thế là hắn cho chúng tôi vào.
Chúng tôi đẩy cả ba mươi hai người vào ba xe lái vào Tân Sơn Nhất. Trời nóng hơn địa ngục. Chúng tôi đều đói, khát mà chẳng lấy đâu đồ ăn thức uống. Đến khi vào trong, họ mới cho chút nước thấm giọng.
Tòa Đại sứ Mỹ chỉ là một bọn cứt. Lũ chính trị gia khốn nạn! Nhưng không quân Mỹ thì tuyệt vời. Bấy giờ người ta phải trình mấy tấm giấy cho các nhân viên không lực làm thủ tục di tản. Một tay sĩ quan không quân hỏi: “Tốt lắm, thưa ông Lumm, ông có biết rằng ông chỉ được phép đưa đi các thân nhân trực hệ của công dân Mỹ không?” Thưa quý vị, lúc đó tôi có mang theo cả một ông cha Công giáo, đã hơn tám mươi tuổi. Tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ đều ghi rành rành trong mẫu đơn. Tay Sĩ quan hỏi: “Tất cả những người này đều là thân thích của ông cả phải không, ông Lumra?” Tôi đáp “Ừa, phải đấy. Hoặc liên hệ trực tiếp, hoặc do thủ tục nhận làm con nuôi”. Anh ta nói: “Vậy chớ cái con quỷ gì đây? Ông Linh mục này đã hơn tám mươi tuổi rồi mà?” Tôi đáp: “Ừa, con nuôi tôi đấy” Anh ta phá lên cười, bảo “Ô kê, ô kê, vào cả đây. Chúng tôi sẽ tận tụy phục vụ để đưa quý ngài ra đi!”.
Hình minh họa
Nguyên tôi không định di tản kiểu này, vì lẽ tôi đã có vé máy bay Hàng Không Việt Nam. Tôi chỉ định đến đó đưa gia đình vợ tôi và những người ấy đi cho chắc thôi. Tôi định đưa họ vào, ký giấy tờ rồi mang vợ con ra, đi bằng Hàng Không Việt Nam. Nhưng mấy cha không quân bảo tất cả máy bay dân sự đều hủy rồi. Không còn máy bay dân sự nữa. Tôi nói: “Mẹ kiếp, làm gì được bây giờ?” Tôi đang có việc làm ở Hồng Kông. Bấy giờ tôi làm cho hãng DHL, một công ty dịch vụ thông tin, hãng này có một trụ sở tại Hồng Kông, và một tại đảo Guam.
Chúng tôi nằm đấy đợi hai ngày trời. Cuối cùng họ cho một chiếc xe buýt – riêng cho chúng tôi – cả thảy 32 người Việt, thêm vợ tôi và tôi. Ông tài xế người Việt cũng đang cố ra đi. Muốn đến máy bay thì phải qua một trạm gác có lính Việt Nam, đến đấy họ bắt xe ngừng. Đàn bà không sao, nhưng trên xe có mấy người đàn ông ở trong quân đội. Họ ngừng xe lại, bắt mở cửa. Tôi bảo vợ tôi dịch cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Gã tài xế phân bua: “Không. Tôi có đi đâu đâu? Tôi chỉ lái xe cho người ta”. Họ lôi gã tài xế xuống. Thường các xe buýt của không quân Mỹ đều có tài xế lái. Số xui, chẳng may chúng tôi lại gặp một tài xế Việt Nam. Thế là một tên lính nhảy lên xe, định chui đầu vào. Bấy giờ, chả rõ vì sao tôi hóa ra can đảm thế, nhưng thực ra tôi đã suýt ỉa trong quần. Như một thằng khùng, tôi nhảy lên, chặn cửa lại, quát: “Anh không được phép vào xe buýt này. Đây là tài sản chính phủ Hoa Kỳ. Còn đây đều là nhân viên của Hoa Kỳ”. Tôi nói lung tung mấy chuyện cứt ỉa như thế. Thằng cha cũng không hiểu tôi nói gì. Hắn lôi cái máy truyền tin ra, vợ tôi dịch lại cho tôi nghe hắn nói gì. Hắn gọi một cha Đại úy để báo cáo là mấy tên Mỹ không chịu cho hắn vào xe buýt khám.
Cha Đại úy bảo “Vậy phải bàn chuyện này. Lại đây”. Tên lính bước đi để nói chuyện với tên Đại úy của hắn.
Cả đời tôi chưa hề đụng đến tay lái một chiếc xe lớn nào. Tôi cũng không biết lái xe số tay. Cái xe buýt cứ nằm chình ình nổ máy. Không một ai trên xe biết lái cả. Đúng lúc ấy, một xe buýt khác chạy tới. Một chiếc xe trống, không hành khách. Người lái xe là một không quân Mỹ. Mỹ đen. Chúa ạ, yêu biết mấy khi nhìn cha đó. Giá ngày nay gặp lại cha này, tôi sẽ ôm thắm thiết. Anh ta dừng xe hỏi “Chuyện gì thế?” Tôi đáp “Lạy Chúa rất thánh, chúng nó sắp bắn hết chúng tôi đây”. Tôi cho anh ta biết chuyện đang xảy ra. Lúc ấy tên lính đang quay lại. Hắn thét lên: “Tốp, tốp! Ngừng lại, ngừng lại”. Vì lẽ anh không quân đã nhảy vào trong xe buýt rồi. Anh chàng không quân trả lời: “Đù mẹ các cậu” rồi tuôn xe chạy. Họ nổ súng bắn. Đù mẹ quả thật họ nổ súng bắn chúng tôi!
Thật tức cười, khi bước vào máy bay. Các cô gái trẻ sợ te tua, họ e không vào lọt. Tôi chả biết cái máy bay ấy nó là thứ máy bay gì. Nó có cái đuôi thòng xuống, người ta chui vào qua lối ấy. Máy bay lại chẳng có ghế ghiếc gì, cứ vậy ngồi bệt lên sàn. Khi chiếc xe buýt dừng lại, chưa bao giờ trong đời tôi thấy người ta chạy nhanh như thế. Mấy thằng nhỏ vọt khỏi xe buýt, chỉ mấy giây đồng hồ chúng đã tuôn vào trong máy bay. Chúng tôi ai nấy đều khiếp vía, thiệt hết nói.
Quý vị hiểu không, bấy giờ quả thực tôi nghĩ nếu chúng tôi kẹt lại là bị giết sạch cả.
Họ đưa chúng tôi đến Guam. Đầu tiên họ bảo không ai được phép dời đi hết. Tôi nói: “Quỷ tha ma bắt! Tôi là công dân Hoa Kỳ chớ bộ. Tại sao tôi lại không được đi? Có phải lính tráng gì đâu chớ? Xem thông hành đây”. Họ bèn cho tôi đi. Tôi tới văn phòng hãng DHL ở Guam. Tôi hỏi: “Bây giờ phải làm gì nào? Đây, tôi đang có mặt ở Guam.” Họ bảo: “Chúng tôi sẽ thu xếp cho ông về lại Hồng Kông”. Thế là tôi bèn đóng vai thông tín viên cho Hãng DHL. Rồi tôi trở lại Hồng Kông như thế đó.
Sau hai năm bị lôi khỏi máy bay của hãng United Airlines, Bác sĩ David Đào cho biết rằng ông “chỉ khóc” khi xem lại đoạn video, quay cảnh mồm ông đầy máu và tiếng ông gào thét lúc bị kéo đi để nhường chỗ cho nhân viên hàng không trên chuyến bay bán vé quá số ghế.
Vụ việc xảy ra năm 2017 đã làm ông Đào bị chấn động não, gãy mũi và hai cái răng. Sau đó ông đã giải quyết vụ việc với hãng hàng không United Airlines và nhận được một khoản đền bù không được tiết lộ là bao nhiêu. (Khẳm lắm nhe!)
***
Cách đây hai năm, hãng hàng không United Airlines cố ý lù khù như vậy: “Chuyến bay 3411 từ Chicago tới Louisville khách quá số ghế ngồi. Nhân viên chúng tôi yêu cầu 4 hành khách tình nguyện đi chuyến sau. Có một khách hàng từ chối. Và nhân viên công lực được gọi đến cố đem người nầy ra khỏi máy bay. Ông bị ngã, đầu va vào cạnh ghế làm bị thương ở mặt. Ông được đưa tới bệnh viện và vết thương không đe dọa tới tánh mạng.”. Chúng tôi hành xử đúng quy trình. (Cái nầy nghe quen quen nhe!). Chuyến bay phải cất cánh.”
Nhưng video clip do hành khách trên cùng chuyến bay ghi lại rồi lan truyền trên các trang mạng xã hội rành rành ra đó… thì làm sao mà đặt dóc cho được chớ?
Bà con có khiếu về kịch nghệ như William Shakespeare bèn phóng tác một vở kịch ngắn dựa theo vụ bạo hành nầy như sau: “Ði nhà hàng. Mua một ổ bánh mì kẹp thịt. Ngồi xuống chuẩn bị cắn một miếng. Nhân viên nhà hàng thông báo rằng: “Có 4 nhân viên đang đói bụng cần phải ăn. Dùng máy vi tính để chọn ra trong số khách ai là người phải nhường lại ổ bánh mì kẹp thịt của mình? Máy chọn anh nhưng anh không muốn vì anh đã trả tiền rồi. Nhân viên nhà hàng xúm lại đánh anh lòi bản họng, phải đi nhà thương. Và họ xơi cái bánh mì kẹp thịt của anh.”
***
Hãng hàng không Southwest, đối thủ cạnh tranh quyết liệt với United Airlines nhào vô ăn có: “Chúng tôi hạ ‘nốc ao’ đối thủ cạnh tranh. Chớ không phải là ông.” Bằng: “Nếu chúng tôi không hạ đo ván được đối thủ cạnh tranh của chúng tôi. Thì chúng tôi sẽ hạ đo ván hành khách của chúng tôi.”
Còn bà con hành khách thường di chuyển bằng máy bay cắt nghĩa chính sách của United Airlines như vầy: “Tình nguyện có nghĩa là bắt buộc bằng võ lực. Xin cám ơn quý khách đã cộng tác.”
Rồi nhà từ điển học nhào vô định nghĩa chữ tái phối trí chỗ ngồi trên máy bay là: “Hành hung khách hàng đã trả tiền vé, đánh ông ta tới bất tỉnh; rồi lôi ra khỏi máy bay để giành chỗ cho nhân viên của mình.” “United dạy tôi rằng: Tôi có thể kêu nhân viên an ninh đánh đập khách hàng của tôi rồi gọi đó là tái phối trí chỗ ngồi cho họ.”
“Hãng United xin cung cấp chuyến bay cho quý vị. Sau khi đáp xuống, bảo đảm quý vị sẽ chảy máu mũi, gãy hai cái răng cửa và bầm hai con mắt.”
Một họa sĩ có đầu óc hài hước đăng tranh của mình trên Google images cho thấy: Một người cầm gậy đánh bóng chày ở cửa máy bay United Airlines, mặt hầm hè: “Xin chào mừng quý khách.”
Rồi: “Tôi cần nhổ hai cái răng đang nhức. Cách tốt nhứt rẻ nhứt là tôi nên đi gặp nha sĩ hay đáp chuyến bay của hãng hàng không United Airlines?”
Còn bà con mình làm trong ngành quảng cáo thì đánh phèng la: “Bay cùng United Airlines là quý khách sẽ được hãng cung hiến cho một trận đấu đô vật miễn phí.”
Còn người làm công an của các chế độ độc tài thì đề nghị United Airlines nên lắp thêm phòng tra tấn trên máy bay, để đối phó với hành khách cứng đầu, ương ngạnh”
***
Do đó mạng truyền thông trên mạng ngày nay có sức mạnh ‘King Kong’ vì nó tạo ra hiệu ứng dây chuyền, như bom nguyên tử, đưa đến hành động tẩy chay là có mòi sập tiệm, dù công ty “Khủng Long” tới cỡ nào chăng đi nữa.
Chửi United Airlines chưa đã… giờ là hành động của chúng ta. Một khách trung thành của United Airlines đe dọa: “Ông ấy cho anh tiền để được bay, rồi anh đánh người ta sặc máu mũi, chảy máu mồm, lôi người ta ra khỏi máy bay. Tôi đã chi 10 ngàn đô để bay với United Airlines. Giờ thì đừng hòng. Tui sẽ tẩy chay. Không bao giờ bay United Airlines nữa”
(Tẩy chay (boycott) không biết gì đến, không mua, không dùng, không tham gia, không có liên quan, để tỏ thái độ phản đối”. Tẩy chay là hành động đấu tranh bất bạo động nhưng lại đầy kiến hiệu.)
Giám đốc điều hành của United Airlines cũng kinh hoàng khi thấy lời đe dọa tẩy chay nầy rất có cơ may thành sự thật phũ phàng làm công ty thất điên bát đảo khi thấy giá cổ phiếu của công ty tuột dốc không phanh, mất tới 1 tỉ đô la. Nên quýnh quáng lên: “Em xin cúi đầu chờ ân huệ. Em hứa rằng sẽ không ‘tệ’ nữa đâu. Từ rày về sau United Airlines sẽ không còn dám bán vé quá số chỗ trên máy bay nữa; sẽ không bao giờ đem nhân viên an ninh lên để trục xuất hành khách của mình.”
Ông Bác sĩ, cựu học sinh Petrus Ký nầy, họ Đào bị Mỹ vặt dấu hết ráo thành ‘Dao’ nên chơi Dao ngày “đứt tay” quả không sai. United Airlines móc xỉa năm, ba triệu đô la bồi thường mà vẫn chưa yên, vẫn bay trong cơn bão chữi. Cho mầy tởn tới già nhe cái thằng tư bản đang giẫy chết!
Ðại hồng thủy! Hồng là nhiều; như trong chữ ‘Hồng phúc’, phúc lớn. Thủy là nước do mưa to làm nước lụt. Như vậy Ðại hồng thủy là trên trời thì mưa to dưới đất thì lụt lớn.
Từ thuở tạo thiên lập địa, Adam và Eva đã bị coi là những kẻ tội lỗi, xấu xa, phản trắc. Càng về sau lòng tham đã giết con người nghĩa nhân. Con người càng ngày càng tha hóa. Chính con người đã biến vườn Ðịa đàng thành địa ngục trần gian. Trên không thuận với trời bằng cách tàn phá môi trường như đốn rừng, xả khí thải hâm nóng bầu khí quyển. Dưới không thuận với đất, vì giành ăn con người gây thù hận, chém giết lẫn nhau, không chịu sống hòa hiếu như Thượng đế hằng dạy dỗ.
Cuối cùng, chịu hết nổi, Thượng đế phải ra tay trừng phạt con người bằng cách tạo ra cơn Ðại hồng thủy.
Dĩ nhiên đứa làm ác, làm bậy là bị Thượng đế trừng phạt, còn sống đàng hoàng, không có hở một cái là vác dao ra lụi người khác như ông Noah (đọc là Nô- Ê) thì Thượng đế thương, sẽ cứu người hiền sĩ khỏi cảnh tai ương.
Thượng đế giao cho Noah một sứ mệnh trọng đại, vinh quang nhưng cũng đầy nghiệt ngã; đó là gấp rút đóng một con thuyền khổng lồ để bảo vệ vợ chồng Noah với 3 đứa con trai và một cô con gái cùng các loài động vật vô tội trên thế gian khỏi phải chịu cảnh tuyệt tự, diệt vong.
Tuân theo lời chỉ dạy của Thượng Ðế, Noah đóng một chiếc thuyền khổng lồ, dài 360m, rộng 23m, cao 13.6m – được chia làm 3 tầng; rồi đưa tất cả các loại động vật lên đó. Mỗi loài chỉ được có một cặp, một trống và một mái.
Chiếc thuyền Noah vừa đóng xong, tất cả các loài đã lên thuyền, thì băng ở hai đầu địa cực cầu nứt ra, tan chảy làm nước biển dâng lên,
Rồi một cơn mưa lớn và dữ dội kéo dài suốt 40 ngày đêm. Nước tràn khắp nơi. Sự sống chốn nhân gian bị tiêu diệt trừ những sinh vật trên thuyền Noah.
Một khi cõi nhân gian cái xấu đã hoàn toàn bị gột rửa, sự thánh thiện được hồi sinh, người và vật sống sót sẽ “tù ti tú tí” để sản xuất “bé bi” duy trì nòi giống trong một vườn Ðịa đàng tân lập.
Bảo Huân
o O o
Chuyện Ðại hồng thủy, sỡ dĩ tui biết cũng hơi rành rọt là do thằng Úc, bạn nhậu của tui, nó kể cho tui nghe đó chớ!
Một hôm đang nhậu chơi, hổng biết có bị ông lên bà xuống gì không mà nó tự ên xưng là cháu một ngàn đời của ông Noah! Nó kêu tui xít cái lỗ tai lại gần để nó tiết lộ một chuyện thiên cơ bất khả lậu. Sợ nó chơi ác phun nước miếng vô lỗ tai như lần trước, nên tui lắc đầu nguầy nguậy. Nó phải thề thốt lung tung là nếu chơi dơ dáy như lần trước thì bà bắn nó đi, tui mới miễn cưỡng đồng ý.
Nó thì thào vào lỗ tai tui, vẻ nghiêm trọng lắm: “Con người ngày càng đông, tới 7 tỉ 800 triệu người. Rồi ở các nước do độc tài cộng sản phi nhân cai trị, đạo đức càng lúc càng suy đồi, xấu xa còn tệ hơn vợ thằng Ðậu! Tối ngày chỉ lo giành ghế, giành ăn và giành gái mà không lo lắng gì tới những người thấp cổ bé miệng, đang sống cùng khổ như con hổ sắp đem nấu cao hổ cốt. Nên tối qua, Thượng đế về báo mộng kêu tui hãy đóng một chiếc thuyền Noah, phiên bản số 2.
Người đưa cho tui một bản thiết kế và nói: “Nè Noah! Hãy nghe đây! Nhà ngươi có 6 tháng phải làm chiếc thuyền trước khi Ta sẽ làm mưa không dứt trong suốt 40 ngày lẫn đêm.”
Ðó là chuyện năm rồi. Sáu tháng sau gặp lại Noah trong quán nhậu, tui xin nó, nghĩ tình bạn nhậu với nhau bấy nay, hãy dành cho tui với con vợ bé của tui một chỗ. Nhưng nó nói rằng: “Em có đóng xong đâu!”
Nghe vậy, tui quày quả “tếch” ngay ra cửa thì Noah gọi giựt lại: “Nhậu chưa có đã mà huynh đã vội bỏ đi đâu?”. “Tao hổng dám ngồi gần chú mầy nữa. Chú mầy dám cãi ông Trời thì ổng sẽ sai Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đánh một phát cho chú mầy biết thế nào là lễ độ. Tao sợ Thiên lôi chém chú mầy hụt, trúng tao thì tội nghiệp cho con vợ của tao!”.
Noah cười hè hè nói; “Huynh đừng có lo! Tối qua ông Trời đã hiện về báo mộng! Và cái chuyện đóng thuyền Noah nhiêu khê rắc rối nầy đã được đôi bên giải quyết rốt ráo xong rồi”.
Chẳng qua Thượng đế nhìn xuống và thấy em đang ngồi khóc nức nở trước sân nhà. Nhưng thuyền, Thượng đế nhìn quanh, nhìn quất tìm hoài cũng không có thấy đâu!”
“Noah!” Thượng đế gầm lên: “Ta sắp làm mưa! Thuyền Noah ở đâu?”.
“Thượng đế ơi! Xin Ngài hãy tha thứ cho con. Giờ đã khác xưa lắm rồi, mọi thứ thủ tục xin đóng thuyền đều thay đổi cả”.
Con phải cần giấy phép xây dựng. Tay thanh tra xây dựng của “cáo sồ” (Council: Hội đồng Thành phố) nói con phải cần lắp đặt hệ thống phun nước để chữa lửa. Con tranh cãi là mưa sẽ như trút nước thì cần quái gì đến cái hệ thống phun nước chớ? Nhưng thằng chả không chịu. Con phải chung cho nó một chầu nhậu tới 5000 đô Úc nó mới chịu cấp phép xây dựng cho con.
Sau đó, Sở Kiều lộ kêu con đặt cọc trước chi phí di dời đường dây điện để dọn đường cho con thuyền Noah ra biển. Con tranh cãi rằng: “Tui đâu cần ra biển làm gì? Biển sẽ đến ngay tại sân nhà nầy đây!”.
Tiếp theo, Sở Môi Trường phán rằng, con không thể đóng thuyền Noah cho đến khi họ hoàn thành việc nghiên cứu tác động của trận lũ kinh hoàng đối với môi trường theo lời cảnh báo của con.
Muốn đóng tàu là con phải cần có gỗ. Nhưng “cáo sồ” cấm chặt cây vì phải cứu loài Koala, chuyên ăn lá cây, khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Con tranh cãi rằng con cần gỗ để cứu những con Koala, con Kangaroo và nhiều con khác nữa… nhưng vẫn không được!
Về nhân công, Nghiệp đoàn Công nhân Xây dựng của Úc cấm không cho con mướn người trong gia đình như vợ và con. Không được mướn di dân ở lậu mà phải mướn công nhân quốc tịch Úc. Tụi nó phải có bằng cấp về xây dựng, có đóng tiền bảo hiểm nhân thọ. Và thiết yếu hơn cả là có đóng tiền niên liễm cho nghiệp đoàn
Rồi hàng xóm cho rằng con đã vi phạm luật vì đây là khu dân cư chớ không phải nơi dành để đóng tàu thuyền gì hết ráo. Tụi nó đưa con ra Tòa và năm tới mấy ông Tòa mới có huỡn mà đem vụ việc ra xét xử.
Khi bắt đầu thu thập các loài động vật thì con đã bị một nhóm bảo vệ quyền động vật kiện. Họ khăng khăng kết tội rằng con đang nuôi nhốt động vật hoang dã trái với ý muốn của chúng. Họ cho rằng chỗ ở dành cho chúng quá nhỏ hẹp; nhiều động vật như vậy phải được sống thoải mái trong một không gian không hạn chế như sở thú chẳng hạn. Con buộc phải xin tới 834 giấy phép khác nhau để được quyền nuôi thú dữ trên tài sản của tư nhân.
Tệ hại nhứt là Chánh phủ Úc đã thu lại passport tức thông hành của con vì cáo buộc con sẽ mang những thú hiếm của Úc Châu vượt biên bất hợp pháp đến Bắc Kinh để bán cho Tàu cộng.
Tóm lại, muốn giải quyết mớ bòng bong luật lệ chồng chéo nhiều tầng, nhiều lớp do chánh quyền Úc nầy rất huỡn bày ra để chấm mút thì con cần tới ít nhứt là 100 năm mới đóng xong chiếc thuyền Noah huyền thoại lần thứ hai nầy! Vì vậy, xin Thượng đế hãy tha thứ tội cho con”.
Ðột nhiên bầu trời quang đãng, ánh dương bắt đầu chiếu sáng, một dải cầu vồng xuất hiện vắt ngang cả bầu trời.
Noah ngạc nhiên nhìn lên và hỏi: “Dà! Dấu hiệu trời quang mây tạnh này có nghĩa là Thượng đế sẽ không còn có ý muốn hủy diệt thế giới nầy lần nữa hay chăng? Con xin cúi đầu tạ ơn Thượng đế!”.
Ông Trời bèn trả lời rằng: “Thôi không cần tới ta phải ra tay trừng phạt, hủy diệt các ngươi đâu. Chánh phủ Úc làm còn giỏi hơn ta! Thôi để tụi nó làm đi!”.
Tiến Sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO. (Hình: UN Photo/Elma Okic)
Mỗi năm, nước Mỹ đóng góp khoảng $400 đến $500 triệu cho Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO). Trong khi đó Trung Quốc chỉ chi có $40 triệu.
Tổng Thống Mỹ Donald Trump kết tội WHO dùng tiền của Mỹ nhưng lại ủng hộ lập trường của Trung Quốc khiến dịch COVID-19 lan nhanh khắp toàn cầu.
“Nếu WHO làm tốt công việc của mình bằng cách đưa các chuyên gia y tế tới Trung Quốc để đánh giá tình huống tại đây một cách khách quan và lên tiếng về sự thiếu minh bạch của Trung Quốc thì dịch bệnh có thể đã được khống chế ngay tại nơi khởi phát với rất ít người tử vong.”
Phê phán WHO xong, ông cắt luôn tiền tài trợ của nước Mỹ cho tổ chức này.
Tuy nhiên theo luật pháp Mỹ, quyết định dừng tài trợ nước ngoài trong thời gian hơn 45 ngày phải được Quốc Hội thông qua bằng một đạo luật.
Nhưng có người cũng biện hộ cho WHO là Tổng Thống Trump kỳ vọng WHO điều tra thông tin do các nước thành viên báo cáo lên là điều không thực tế.
WHO không có đủ tiền và không có quyền đó. Đây là một tổ chức liên chính phủ và ở bất kỳ đâu mà họ hoạt động, WHO luôn cần sự cho phép và lời mời từ chánh quyền sở tại”
Nói cách khác, nếu gặp một chánh quyền láo khoét, chuyên báo cáo láo như Trung Quốc, không lẽ họ nói gì mình cũng gục gặc cái đầu: “Nị nói đúng hay hết hay sao?”
Công bằng mà nói cũng tại ông tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus một phần lớn. Dẫu đường đường bằng cấp đầy mình, là một tiến sĩ về sức khỏe cộng đồng, nhưng lại khù khờ, như hồi nhỏ tới giờ chỉ biết cỡi lừa, ngây thơ và ngu ngơ về chánh trị “láu cá” nên bị Trung Quốc xỏ mũi, làm xiếc, bằng cách thổi bùa vào mắt, rót mật vô lỗ tai (trâu)! Nghe rồi như bị thôi miên, tin liền hè mà không cần nhận xét để coi nó thực hư ra sao gì ráo trọi!
Bị tổng thống Mỹ giận dỗi cắt kinh phí hoạt động, WHO trong thời gian tới chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc chống lại nạn đại dịch COVID-19 đang tràn lan khắp thế giới.
Vì thế, chủ tịch Hiệp Hội Y Khoa Mỹ, Bác Sĩ Patrice Harris, gọi quyết định của ông Trump là “một bước đi nguy hiểm, sai hướng, và có thể khiến thế giới dễ thất bại trước COVID-19 hơn.”
Tổ chức y tế Protection Our Care (Mỹ) cũng nói rằng: “Việc cắt nguồn tài trợ giữa lúc cao điểm của đại dịch toàn cầu là môt hành động vô trách nhiệm.”
Về phía các chánh trị gia đối địch nhau, như nước với lửa, như chó với mèo, thì Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ Nancy Pelosi phê phán là: “Tổng thống đã phớt lờ lời cánh báo của các chuyên gia y tế toàn cầu, coi thường khoa học. Ông là một nhà lãnh đạo kém cỏi, không chịu trách nhiệm, một người yếu đuối hay đổ lỗi cho người khác.” Bà thêm: “Lệnh của tổng thống tạm dừng tài trợ cho WHO khi tổ chức đang lãnh đạo toàn cầu chống đại dịch COVID-19 là một điều vô lý. Quyết định này nguy hiểm và bất hợp pháp!”
Rồi tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Liên Âu, Đức… cũng lên tiếng.
“Đổ lỗi không giúp được gì. Virus này không có biên giới. WHO phải được hỗ trợ, vì đó là điều cực kỳ quan trọng để giúp thế giới giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại đại dịch COVID-19!”
Ngay cả mấy đàn em “chút chít” của Mỹ, xưa giờ ít cả gan, dám làm phật lòng đại ca, như thủ tướng Úc, thủ tướng New Zealand, cũng sẽ tiếp tục ủng hộ và tiếp tục phần đóng góp cho WHO.
Công bằng mà nói WHO được Liên Hiệp Quốc thành lập vào ngày 7 Tháng Tư, 1948, trụ sở đặt tại Geneva, Thụy Sĩ, đã làm được rất nhiều việc như loại trừ bệnh đậu mùa, hạn chế các bệnh truyền nhiễm HIV/AIDS, Ebola, bệnh sốt rét và lao…
Đó là chuyện thành công, còn chuyện thất bại trong cơn đại dịch COVID-19 này là nếu WHO yêu cầu các nước đóng cửa biên giới sớm hơn 1 tuần, nhiều người có thể đã không mạng vong.
Chỉ trích như vậy cũng đúng, chớ không phải không. Chính vì vậy mà Tiến Sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, 55 tuổi, làm tổng giám đốc WHO từ năm 2017, cúi đầu nhận lỗi, lỗi tại tui một phần, hứa sẽ rút kinh nghiệm sau khi đại dịch COVID-19 kết thúc.
Cái này nghe quen quen nhe! Tui e rằng cái dây kinh nghiệm nầy, nó dài lắm! Rút tới bao giờ mới xong? Chắc ông khó lòng ngồi yên trên ghế đó để mà rút. Chắc phải có ông khác phải lên thay ông quá?
Dù trong nước và ngoài nước Mỹ coi bộ ít ai theo cách rạch ròi đến nỗi tàn nhẫn: “You’re fired” (trong show truyền hình thực tế, rất ăn khách, lúc ông Donald Trump chưa làm tổng thống), đang giữa chừng trận đánh mà trảm tướng.
Nộ khí xung thiên, ngài tổng thống lôi tướng ra chém cho chết ngắc, mà không sợ hành động “bốc đồng” đó sẽ làm xao động lòng quân.
Giặc “coronavirus Wuhan” đang đánh ầm ầm mà tổng thống lại đưa tới 7,000, cả một sư đoàn chuyên gia về dịch tễ, là xưa vốn kinh nghiệm đầy mình, là lính chống dịch cực kỳ thiện chiến trên đầu trận tuyến, ra tòa án quân sự rồi cho giải ngũ hết ráo. Vậy thì còn ai mà “quánh giặc” nữa chớ?
Vì thế cho nên, lãnh tụ các nước khác họ ủng hộ việc cải cách WHO từ từ, sửa đổi cũng từ từ, đuổi đứa nầy thay đứa kia, chớ không phải nắm đầu đuổi hết ráo như ngài tổng thống Mỹ làm.
Họ làm vậy là vì nhân loại (chớ không phải vì quyền lợi, sanh mạng chánh trị của cá nhân mình), cốt chỉ để làm cho guồng máy của nó sau khi thay dầu, thêm nhớt, thêm kiến hiệu, hơn là thay một tổ chức hoàn toàn mới toanh.
Mà chiếc xe dù tốt tới đâu mà ngài tổng thống nỡ lòng nào cúp tiền xăng thì làm sao mà nó lăn bánh cho được chớ?
Thế nên mình thay thằng cha tài xế dở như hạch, tệ hơn “vợ thằng Đậu” thôi. Còn chiếc xe cứ để đó mà xài, cho một tài xế khác hay hơn leo lên cầm “vô lăng” mà “ủi” tới!
***
Thưa Tổng Thống Donald Trump!
Xin ông bớt giận, WHO đâu phải của riêng ông Tổng Giám Đốc Tedros Adhanom Ghebreyesus này đâu?
WHO là của toàn thể nhân loại, là của chúng ta, là của những người thọ thuế trên toàn thế giới.
Ông ấy làm không được việc, làm không xong thì các quốc gia thành viên trên toàn thế giới, từ Châu Âu sang Châu Á, Châu Mỹ, từ Châu Phi cho tới Châu Đại Dương, sẽ bầu lên người khác lên thay.
Tỉ như một mái nhà bị dột, ông thợ cả này lợp lại không xong thì mình là dân, là chủ, sẽ kiếm, mướn ông thợ cả khác.
Chớ không lẽ mái nhà bị dột, thằng cha lợp nhà không biết lợp lại ra làm sao cho khỏi dột, khỏi ướt “đít,” mà mình giận lẫy, đốt nhà luôn cho đã nữa sao?
Xin ngài hãy bình tâm suy xét và nghĩ lại cho mấy em, dân ngu khu đen (sợ chết gần chết) nhờ chút được hông?! Thưa tổng thống!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.