Thuở mơ làm văn sĩ

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Chương 2

Tôi nằm sấp trên đi văng, đầu ngóc lên như con thằn lằn. Xung quanh tôi, đám con ông chú nhìn tôi bằng ánh mắt hãi sợ. 
Tờ báo có bái tuỳ bút của tôi ký tên thật nằm ngay trước mặt và chú tôi thì cầm chổi lông gà cán mây, đôi mắt ông lấp lánh sau cặp kính trắng. Ông nổi giận, cơn giận có thể khủng khiếp lắm, nhưng ông cố kìm lại bằng tiếng thở dài tuyệt vọng, ông khẽ lắc đầu: 
– Long, con có nghe chú nói không? 
– Dạ, con nghe chú nói. 
– Bố con chết được mấy năm rồi  
– Dạ, thưa ba năm. 
Giọng ông chú trở nên buồn bã: 
– Bố con trước đây là một họa sĩ xuất thân từ Beaux Art (Cao Đẳng Mỹ Thuật) Đông Dương ra có bằng cấp đàng hoàng mà suốt đời chẳng làm nên trò trống gì. Sống nghèo rớt mùng tơi cho đến lúc chết. Bố con kỳ vọng ở con rất nhiều, gửi con cho chú, hy vọng con sẽ học hành đến nơi đến chốn, có bằng cấp làm nên ông nọ ông kia, ngờ đâu con lại xao lãng việc học hành mơ làm văn sĩ, con chọn sai đường rồi…. 
Giọng ông hằn học nhưng không kém phần buồn bã: 
– Làm văn sĩ không phải là chuyện gì xấu xa, chú khẳng định như vậy, nhưng đời nghệ sĩ khốn khổ lắm con ơi, nhất là nghệ sĩ ở đất nước mình, mang cái nghiệp đó vào thân rồi khổ cả một đời đấy con ạ. Con không thấy bao nhiêu văn nghệ sĩ ở đất nước mình than thân trách phận đó sao: Anh thì than đói, than nghèo, than khổ, nợ nần ngập đầu, rõ ràng là họ đã viết thành văm, làm thơ….. 
Tôi ngạc nhiên vì thấy chú tôi đọc ra mấy câu thơ dẫn chứng cho lối nói của ông. Hình như mấy câu thơ của Nguyễn Vỹ. Giọng chú tôi như muốn gầm lên: 
– Đấy nhé, chính mấy anh làm thơ viết văn nói ra để ” khuyên đời “, răn đe những kẻ lăm le đi theo con đường ấy, chú không dặt điều nói bậy. Chú khuyên vậy nhưng vẫn chưa thể ngấm vào da thịt con được đâu. Chú cần phải cho con thấm hơn, thấm đến tận đầu, xương tuỷ và nhớ đến già. Con xứng đáng nhận mười cái chổi lông gà…. 
Tôi kinh hoàng, nhưng biết làm sao được, đành nhắm mắt nghiến răng chịu trận tỏ ra can đảm không khóc để giữ “sĩ khí” của kẻ cầm bút. Cái chổi vun vút phết vào mông đít tôi bỏng rát, quả là thấm đến tận tâm gan, tì, phế. Khi đó tôi chỉ mơ ước cái mông đít của tôi bỗng dưng biến thành mo cau. Tôi không hét lên, nhưng nhất định không van xin để bớt đòn. 
Thằng Hiền, thằng em láu cá con chú, vô công rỗi nghề ngoác miệng đếm từng roi, thỉnh thoảng nó còn đếm lộn. Con bé Hạnh giận lên đùng đùng như chính nó bị ăn roi. 
Trận mưa roi đã qua, tôi đau quắn đít mà không khóc được, nhưng con bé Hạnh thì khóc nức nở đi “cứu thương” bằng cách đề nghị xát muối ớt vào những vết thương “văn nghệ” của tôi lằn lên như con lươn. 
Cuối cùng ông chú nghiêm khắc của tôi cụng phải phì cười. Tôi cuống cuồng van xin con bé Hạnh đừng cứu vớt “thể xác đớn đau” của tôi cái kiểu đó. 
Thằng Đức nhảy tưng tưng như mọi da đỏ, đếm: 
– Mơ làm văn sĩ này….một, ái da đau. Mơ làm văn sĩ này….hai. Ối chu choa. Mơ làm văn sĩ này….ba. Trời đất ơi…. 
Cứ thế nó đếm tới mười, cho đến lúc cả bọn bị chú nạt lên mới chịu im 
Buổi tối hôm ấy đến giờ học bài, chú tôi kiểm soát bài vở chặt chẽ của tôi và chú đã khám phá ra khá nhiều bài thơ tôi chép vào sau cuốn vở toán. Ông lắc đầu ngao ngán: 
– “Thi văn đoàn Lãng Bạc” của mày không biết là cái quái gì. Mày đáng được hưởng thêm mười cái chổi lông gà nữa rồi con Hạnh sát muối ớt vào đít. Làm toán đi, mày phải làm xong mấy bài toán đại số này không thì chết đòn, suốt ngày mơ mơ mộng mộng, nút mắt ra đã làm thơ tình ái, nguy hiểm đáng báo động. 
Một sự thật hết chối cãi, cái tên thật của tôi làm so giấu chú được. Phần thì đớn đau mông đít, phần thì tủi thân vì bị “đàn áp”. Tôi ra vườn một mình ngồi “sầu thế sự”. 
Dưới bóng lá cây chấp chới trên đầu, tôi ngước lên ước ao nhìn thấy một ngôi sao cô đơn. Đêm này thật yên tĩnh, bây giờ tôi mới khóc được. Nước mắt tôi nhoè nhoẹt, ngôi sao của tôi cũng mờ đi…..Chỉ còn một ngôi sao cô đơn làm bạn với tôi giữa đêm trường thanh vắng. Sương đêm xuống nhiều, trời hơi lành lạnh. Có lẽ giờ này chú tôi đã ngủ yên giấc, đời sống chú tôi rất mực thước và kỷ luật, chú luôn luôn theo đúng giờ giấc như chiếc đồng hồ treo tường của chú, kể cả lúc chú chơi văn nghệ giải trí. Đúng sáu giờ chiều chú ôm cây đàn Mandoline, gảy tưng tưng đúng mười lăm phút, tôi đếm được 3 bản nhạc, có khi chỉ hai bài rưỡi chú ngừng vì đã hết giờ. Sau đó đọc báo 45 phút. Bảy giờ chiều ăn cơm, nghỉ một lát. Tám giờ tối chúng tôi vào phòng học. Đến 9 giò 15 tối tất cả chúng tôi phải đi ngủ. Sáu giờ sáng tất cả phải dậy ra sân tập thể thao với ông. Bảy giờ sáng làm vệ sinh cá nhân, ăn điểm tâm rồi đi học. 
Trong tủ sách của ông ngoài những sách toán, khoa học, ngoại ngữ tôi thấy thêm loại sách ” học làm người”. 
Chỉ riêng ngày hôm nay ông phá lệ “ban” cho tôi một trận đòn nên thân vì tôi dám mơ ước làm văn sĩ. Cái nghề văn sĩ, thi sĩ qua con mắt môt người mực thước như ông là một nghề cùn mằn, dở ông dở thằng, bất mãn đời mới lao vào. Con người đó là con người lung tung chẳng còn ra làm sao hết, tự hại mình, ăn hoang phá hoại, trác táng hư hỏng. Mất cả đàng hoàng đứng đắn. Tôi có thể lây cái tính nghệ sĩ đó sang các con ông không chừng. Tôi biết trong đầu ông nghĩ như thế. Tôi nguyện sẽ ghi điều này vào nhật ký. Như Anne Frank. Tôi lại mơ mộng mình viết nhật ký như thế nào cho lâm ly thống thiết. Nhưng nguồn cảm hứng tôi bị cắt ngang thảm hại, vì không phải chỉ có mình tôi ngồi trong khu vườn quạnh quẽ đêm hôm khuya khoắt này. 
Tôi nghe tiếng động, tiếng cành cây khô gãy dưới bước chân ai. Lạy trời, không phải là chú ! Không phải là chú. Con chó lông xù nhảy chồm lên liếm mặt tôi lia lịa. Con chó Lu tất nhiên có bé Hạnh. Quả nhiên cái bóng của nó ló ra ngay sau đó. giọng con bé đầy ngậm ngùi: 
– Ba đánh anh Long đau lắm hả? 
Tôi nổi cáu: 
– Vớ vẩn, kệ tao, ông ấy mà biết lại khốn khổ cho mày thôi, vào nhà ngủ đi. 
Giọng con bé Hạnh thì thào: 
– Ba không biết đâu, ngủ rồi, mà anh có đau không? 
Tôi bực mình vì con bé Hạnh lẩn thẩn: 
– Bị đánh mà không đau sao cho được, thân xác người ta chứ có phải……. 
Con Lu vẫn chồm lên liếm mặt tôi, rít lên những tiếng thật dễ thương. Bé Hạnh mau mắn: 
– Em có mang thuốc ra cho anh, để em xức thuốc cho anh. 
Tôi giật nẩy mình, giọng thảng thốt: 
– Thuốc gì vậy? 
– Muối ớt, có trộn thêm tiêu nữa. 
Tôi la lên: 
– Vậy thì chết tao rồi, mày có cho thêm hành tỏi dấm chua nữa không, như nước mắm cơm tấm bì. 
Trong ánh sáng mờ mờ của sao đêm, tôi cũng nhận thấy mặt cô bé ngệt ra vì ngây thơ vô tội, không hiểu gì hết. 
– Chưa có thêm hành tỏi dấm, me vào bếp lấy thêm. 
Đang buồn tôi cũng bật phì cười, chắp tay vái cô em gái lia lịa: 
– Tao van mày, tao lạy mầy trăm lạy, mày cứu thương kiểu đó bằng giết tao mất. 
Con bé ngây thơ, có tiếng là ” ngu dốt ” nhất nhà, hỏi lại tôi: 
– Sao vậy anh ? 
– Còn sao nữa, tao mà phải giải thích cho mày hiểu được thì tao phải hụt hơi chết mất thôi. Cho tao xin đi, tao chỉ nói đó là thuốc độc, mày mà thoa cho tao, tao chết liền, chỉ có thế thôi. 
Con bé hạnh rụt cổ, le lưỡi: 
– Vậy mà em đâu có biết, em thấy ai bị thương đều thoa muối hết mà. 
Tôi không nín cười được: 
– Ừa chỉ có muối thôi, chớ không có ớt tiêu hành tỏi dấm gì ráo, thôi vào nhà đi ngủ cho tao yên. 
Con bé vẫn lân la bên cạnh tôi không chịu vào nhà. Nó ôm con Lu ngồi ngay bên cạnh: 
– Anh dám mơ làm văn sĩ tội nặng lắm phải không? Mà văn sĩ là ” con ” gì vậy anh? 
Trời ơi là trời, tôi phải la lên như vậy. Là con gì ư? Nào tôi có biết alà con gì đâu mà giải thích cho nó hiểu chứ. Nó vô tình, ngây thơ dốt đã xúc phạm đến giấc mơ ” cao cả ” của tôi, nếu nó là con trai như thằng Hiền, thằng Đức, thằng Hoà dám ăn một cái thoi của tôi lắm. Nhưng nó lại là gái, thương anh bị đòn, như con chó Lu thương tôi vậy. Tốt hơn hết tôi không thèm nói chuyện văn nghệ với nó. Có bửa váo đầu nó cũng không thể nào hiểu nổi sự cao đẹp của nghề văn sĩ. dù bị đòn đau tôi vẫn sùng bái như thường. Chợt nhớ ra, tôi móc túi lấy cho nó một cái kẹo bạc hà. cái kẹo bạc hà the the ngọt ngọt mà con bé rất khoái. Con bé nhìn sát vào cái kẹo, hít hít ngửi ngửi rồi nhẩy cẫng lên: 
– Ừa, đúng rồi, mà sao anh có tiền mua cho Hạnh vậy? 
Tôi xuỵt khẽ, ra cái điều quan trọng: 
– Bí mật, nói riêng với Hạnh thôi, tiền anh làm văn sĩ đó, người ta trả công cho anh. 
Con bé Hạnh mút kẹo một cách ngon lành: 
– Thế hả, văn sĩ không phải con gì hả, văn sĩ là người, có đúng không? 
Mãi bây giờ con bé mới phát ngôn một câu dễ nghe. 
– Đúng rồi, ăn hết đi rồi vào nhà, cấm không được nói với ai tao làm văn sĩ nghe chưa! 
Con bé vừa mút kẹo vừa gật đầu lia lịa: 
– Anh nên làm văn sĩ, mai lại làm nữa nhé. Hạnh không mách ai đâu, mà anh phải mua kẹo cho Hạnh à, cả một cái bánh bông lan nữa. Hạnh sẽ cho con chó Lu một miếng. 
Từ hôm đó, cả nhà chỉ có con bé Hạnh đồng ý với tôi nên làm văn sĩ, đi đâu nó cũng hỏi tôi đã làm ” văn sĩ ” thêm chưa. 
Tôi mệt với con nhóc, nhưng cũng thấy vui vui. Ít ra trong nhà chú, tôi cũng có một đồng minh, một đồng minh tuy không hiểu gì nhưng coi tôi như thần, vì có kèm theo những viên kẹo bạc hà, đôi khi có một chiếc bánh bông lan. 
Tôi nói với nó: 
– Hôm nay toa làm văn sĩ thêm ” một xăng ti mét ” 
– Bao giờ anh làm văn sĩ dài đến một ” cây số ” thì nhiều kẹp và bánh lắm hả? 
Tôi thở phào chán chường như một triết gia: 
– Biết sao được, làm văn sĩ mà dài đến một cây số thì cũng mệt lắm. 
Tôi đọc liền một câu của cụ Nguyễn Bá Học: 
– “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. 
Con bé Hạnh ngẩn tò te, chẳng hiểu tôi nói gì nữa mà lảm nhảm như vậy, nó đưa kẹo cho chó Lu liếm, thế là hai đưa ăn chung kẹo, thành thói quen, đến độ con bé ăn chung cơm với cả chó khi cả nhà phát hiện ra thì chuyện đã xảy ra quá lâu! 
Sau này tôi còn học được một vài câu thơ chữ Hán cũng xổ thơ loạn lên với con bé, nó chẳng hiểu gì, càng tốt. 
Cái mặt tôi cứ vác lên kênh kênh, có lẽ coi đáng ghét lắm. 
Tôi mơ ước mua được một cặp kính trắng đeo, làm nhà văn cho thêm phần trí thức. Còn nhiều thứ lỉnh kỉnh khác nữa làm hành trang cho môt văn sĩ, theo quan điểm của tôi thuở đó, một thuở non nớt mang không biết bao nhiêu sai lầm. 
Đến bây giờ tôi vẫn còn hình dung thấy khu vườn nhà chú tôi đêm nào. Những suy nghĩ ước vọng thuở đầu đời. Ngôi nhà và khu vường đó cũng mất rồi. Bé Hạnh cũng không còn nữa, cô em gái tôi đã bỏ xác trên biển cả trong lần vượt biên bỏ quê hương mà đi. Lòng tôi đau quặn thắt, tôi muốn nói với linh hồn em rằng, tôi vẫn muốn làm văn sĩ như ước vọng thuở đầu đời. Tôi đã bước một bước dài, không phải chỉ bước nhích từng xăng ti mét. Một bước dài lịch sử một thế kỷ. nhưng tôi đã làm được gì? Chưa, chưa gì cả, mà sức lực đang mòn kiệt theo thời gian. Chưa gì cả phải không hay mới lá bắt đầu? Vậy thì giao thừa năm 2000 tôi sẽ leo lên căn gác bút cầu xin cho tôi sống lâi trăm tuổi, tôi làm trọn nghiệp mà tôi hằng mơ ước. Tôi đã mất một khoảng thời gian khá dài, tôi xin bù đắp dù bằng sức tàn. Hỡi linh hồn người thân, bạn bè bằng hữu hãy phù hộ cho tôi, những người cùng thế hệ với tôi đã nằm xuống. Hồi đầu năm 1999 tôi nghe tin qua làn sóng điện Lê Đình Điểu ở nơi xa xôi ngoài quê hương đã nằm xuống. Chúng ta hãy tạm gác bên ngoài mọi chính kiến để làm việc mình từng mơ ước. Thực hiện những điều ” thuở mơ làm văn sĩ “.

Thuở mơ làm văn sĩ

Nguyễn Thụy Long
Tuổi Xanh xuất bản 2000

Post by Sơn râu 12 Apr 2024

Tựa

Năm 1950. Ở Hà Nội, tôi 10 tuổi, mới đậu xong bằng tiểu học, sửa soạn thi vào lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường trung học Chu Văn An. Nghĩa là sẽ trở thành học sinh trường bưởi danh tiếng xưa kia đấy. Nhưng là tuổi ăn tuổi chơi. Ba tháng hè, tôi tham gia tất cả những trò chơi trẻ con ở Hà Nội. Đánh đinh, đánh đáo, sưu tầm programes ở những rạp chiếu phim, xem ciné và đọc truyện.
Có lẽ thứ mà tôi đam mê nhất là đọc truyện. Tôi đọc lung tung đủ thứ truyện, từ truyện kiếm hiệp đến mọi loại tiểu thuyết, in thành từng tập mỏng phát hành mỗi tuần mà cha tôi gọi là tiể thuyết ba xu. Gom góp từng tập mỏng ấy để đóng lại thành pho sách dầy. Những truyện đăng trên báo tôi cũng cắt đóng lại thành từng tập. Không kể việc sưu tầm từng cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn mà tôi rất ngưỡng mộ. Tất cả những cuốn sách cũ, đôi khi nát phải tự phục chế. Lý do đơn giản là tôi không có tiền để mua những cuốn tiểu thuyết tinh còn thơm mùi mực in.
Tôi ngưỡng mộ biết bao nhiêu tác giả. Mơ ước ngaynào đó mình được như họ. Tôi mê đến độ, có thể đọc tiểu thuyết bất cứ lúc nào không phải chỉ ở những ngày rảnh rỗi. Thường xúc động về tình huống số phận của các nhân vật. Mùa rét nằm trong chăn bông đọc tiểu thuyết. Tôi nhớ đọc cuốn ” người anh cả ” của Lê Văn Trương, tôi cũng là anh cả trong gia đình nhỏ bé của mình, thế là tôi xúc động. Chui vào torng chăn khóc thoả thích. Khóc sưng cả mắt, vì thương thân phận người anh cả trogn tiểu thuyết đó quá. Sau này, và đến bây giờ tôi vẫn thường mủi lòng trước những hoàn cảnh, có thể trong tiểu thuyết, đời thật hay phim ảnh. Nếu bạn bè tôi có nhận xét về tôi : Trông con người nó hung hãn như vậy, nhưng tâm hồn thì yếu đuối.
Thuở bé xem phim Charlot. Phim The Kid (dịch ra tiếng Việt là Gà trống nuôi con) khi Charlot lạc mất đức con nuôi, Charlot buồn ngẩn người ra. Tôi cũng chảy nước mắt. Còn nhiều, rất nhiều tình huống khác, torng tiểu thuyết hay trong phim ảnh làm cho tôi mủi lòng, đến rơi lệ.
Không biết đó có phải là con đường gai góc mà tôi đã chọn khi cầm bút không? Khi ở Hà Nội, tôi trao lại cho thằng em họ tủ sách. Ra đi nhưng vẫn thăm hỏi về những cuốn tiểu thuyết. Sau năm 1954 thì viết bưu thiếp, cho đến lúc bặt tin. Rồi nhiều chục năm qua….tôi trở thành nhà báo, nhà văn……Cũng là một đời lỡ mà thôi. Nhưng tôi hãnh diện làm sao khi chọn nghề cầm bút.
Sau năm 1975. Miền Nam bại trận, người chiến thắng vào thành phố. Những cuốn sách in ấn phát hành ở miền Nam bị kết tội phản động, bèn được đem ra thiêu đốt. Tôi đứng nhìn tro tàn khói bay, cầu xin cho nó được phiêu diêu miền cực lạc. Tôi cũng đã chứng kiến nhiều tác giả khóc những cuốn sách trên đống tro tàn. Người buôn bán sách, nhưng suốt một đời yêu quý sách, nên làm sách, in ấn sách, đứng ngẩn như người mất hồn trước nhà sách, mà chính là kho sách vĩ đại của mình ở đại lộ Lê Lợi. Nhà sách Khai Trí nay đã đổi tên chủ.
Tôi muốn nói ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương. Một đời ông dành cho những cuốn sách, không phải mình là tác giả mà của nhiều người khác. Ông có cái đam mê của ông, đam mê đến cuối đời. Mấy ai đã được sống đến trăm tuổi, nay tuổi ông Khai Trí đã 80. Hơn nửa đời người kinh doanh sách, nhưng không thể gọi ông từ hạ đẳng là “đầu nậu sách”. Như có lần sau khi nhà sách Khai Trí tịch biên, tôi đã nghe lời miệt thị ấy của một nhà văn muốn lập công. Ví như loài cỏ ” đuôi chó ” mà ông Phan Khôi đã viết hồi nào trong Nhân Văn Giai Phẩm. Tôi nói ít ai thọ được trăm tuổi. Học giả Vương Hồng Sển đã là thọ mà chỉ sống được 94 tuổi. Không như điều mơ ước của cụ, thọ tròn một thế kỷ để nhìn cho rõ hơn ” nhân tình thế thái “. Năm ngoái, tôi gặp học giả Giản Chi. Cụ đã 94. Người yếu lắm rồi, cụ đi phải có người dìu. Nhưng tôi nghe nói cụ vẫn đọc sách, vẫn nghiên cứu. Cụ đọc sách bằng kính lúp soi trên trang giấy. Đáng quý lắm sao.
Cách nay một năm tôi gặp ông Khai Trí trong bữa giỗ ông Chu Tử. Tôi hỏi ông rằng cái nhà sách Khai Trí của ông ở đường Lê Lơi ông đã xin lại được chưa? Sau khi ông từ Mỹ về và đã hồi tịch trở lại người Việt Nam. Ông cười và trả lời:
– Sẽ xin lại được, thời hạn trả lại là năm 3000.
Tôi chưa lẩm cẩm đến độ không hiểu nổi câu trả lời ấy là lời chua chát của một người kiên tâm với cái nghiệp của mình nay đã quá chán nản.
Câu chuyện văn nghêvọng vòng, tôi nhắc đến một bài mới đây viết trên báo chi nhắc ông Khai Trí, có người nhà văn, cũng ông đó, đã hết lòng ca tụng sự hào sảng của ông chủ nhà sách danh tiếng. Ông Khai Trí đã chậm rãi trả lời:
– Tôi biết anh đó, khi tôi ngồi ở Chí Hoà anh ta đi với phái đòan vào thăm từ. Anh từng biết tôi, nhưng hôm ấy anh ta nhìn tôi như nhìn những người tù khác chưa hề quen biết. Vì khi đó tất cả chúng ta đều là kẻ ngã ngựa, bị kết án….
Tôi thoáng nhìn thấy nụ cười ruồi của ông Khai Trí:
– Nhắc lại làm chi không biết nữa.
Đúng vậy, nhắc lại làm ch, nói theo thổ ngữ Nam Kỳ.
Tôi suy nghĩ hoài về câu nói ấy. Một câu nói thóang nghe thì tầm thường, nhưng suy nghĩ thì nó đòi hỏi ở người cầm bút thật nhiều đấy. Tuổi đời, kinh nghiệm đời không chưa đủ, còn đòi ngưòi cầm bút có một điều kiện khác. Có xứng đáng để cầm bút mà viết không?
Đã rất nhiều đêm tôi ngồi trên căn gát bút suy nghĩ. Nên cầm lại cây bút hoặc không nên. Cuối cùng thì tôi đã có quyết định. bây giờ thì dĩ vãng dồn dậy trong tôi.
Trước đây tôi đã viết dang dở tập hồi ký ” thuở mơ làm văn sĩ ” ở một tuần báo thiếu nhi trước năm 75. Sau đó tôi viết lại, những mong ” đăng báo ” được. Nhưng bị đánh giá thấp qua biên tập. Tập hồi ký chẳng ca tụng được caí gì. Chỉ ca tụng một giấc mơ, giấc mơ của một kẻ mơ làm văn sĩ. Tôi đành gác bút…..
Gần nửa đời người làm việc cầm bút. Đến nay không giữ được quyển sách nào của mình viết ra. Trận hoả tai năm 75, không phải riêng tôi bị thiệt hại mà nhiều bạn bè đồng nghiệp của tôi cũng cùng chung số phận và còn trở thành tội phạm, bị đem ra trưng bày tại phòng trưng bày ” tội ác Mỹ Nguỵ ” Nhiều năm dài những cuốn sách của tôi, của chúng tôi bị cầm tù. Tôi không có tiền, lộ phí, không có giấy tờ tuỳ thân đàng hoàng. Đến bây giờ tôi cũng không đi. Phải chăng tôi muốn giữ mãi hình ảnh của Hà Nội, của những con đường những tỉnh miền Bắc tôi đã đi qua nguyên vẹn như thuở nào? Tôi không trả lời của chính câu hỏi mình tự đặt ra.
Tôi như nhìn thấy mình thuở mới bước qua tuổi trẻ thơ mang ước mơ mình trở thành văn sĩ. Ôi giấc mơ mới đẹp và ngọt ngào làm sao. Đến bây giờ cũng vậy, tôi không coi giấc mơ đó là oan nghiệt hay nghiệp chướng phủ phàng.
Muỗi đêm nay sao ra nhiều thế, nó cắn tôi nhoi nhói. Không biết có con muỗi nào mang mầm bệnh không? Nếu có chắc chắn là nó truyền cho tôi căn bệnh nào đó ác tính chứ không phải mãn tính. Muỗi Sài Gòn từng có tiếng cắn đau từ xưa. Tôi nhớ thuở ở Hà Nội, có một ký giả chuyên viết film du jour trên nhật báo lấy bút hiệu là Muỗi Sài Gòn.
Tôi sống với giấc mơ đẹp của tôi. Một đọan ngắn thôi “thuở mơ làm văn sĩ “. Xin mời bước vào tập hồi ký này.

1999.

Chương 1

Buổi sáng tinh mơ trời còn mờ sương, nằm trong giường với mẹ, tôi đã nghe tiếng ngâm thơ của ông ngoại ở nhà ngoài. Tôi không thể nào ngủ thêm được nữa. Tôi choàng dạy bò ra với ông ngoại.
Trên sạp gụ trải chiếu hoa cạp điều trong căn nhà rộng thênh thang, ông ngoại tôi ngồi đó, trước mặt là bộ đồ uống trà xinh xinh,chiếc điêu ông bịt bạc cẩn có cần trúc cong vút, lò than tàu đất nung nhỏ xíu rực lửa đỏ hồng bên trên đặt cái ấm quai vạc như đồ chơi trẻ con, nước sôi vụt ra vòi. Tôi nhìn cái điếu bình của ông ngoại chạm trổ cẩn sà cừ hình mấy ông tiên ngồi đánh cờ, cảnh núi sông mây nước, xe điếu là những mắt trúc ngắn liền nhau uốn cong vút như cần câu. Tất cả những ” đồ chơi ” xinh xinh của ông ngoại đều khiến tôi ưa thích, say mê và mộng mơ.
Ông ngoại tôi mặc áo bông đoạn ấm áp ngồi xếp chân tròn ngay ngắn, chăm lo ấm nước trà bốc khói thơm thoảng mùi hoa sen. Từ chỗ ông ngồi nhìn ra ra ao sen rộng, ở đó neo một chiếc thuyền nan, hoa sen nở đỏ chen lá xanh trên ao. Trên mặt ao còn lăng đăng sương mù buổi sớm mai. Phía trước ao có một khoảng sân lát gạch tàu không rộng lắm.
Phía xa kia, sau luỹ tre xanh, rặng núi Tam Đảo nhô cao che mất một phần chân trời, sương mù như một giải khăn san bao quanh ngọn núi.
Tôi leo lên lòng ông ngoại nằm cuộn tròn như một con mèo ngoan ngoãn. Bàn tay ngoại xương xẩu với những móng dài lá lan lần vào mái tóc xanh của tôi gãi nhè nhẹ, ông phủ một vạt áo lên người tôi, ông vẫn tiếp tục ngâm thơ, mãi sau này khi lớn lên tôi mới biết đó là một đoạn thơ Đường của Lý Bạch.
Quanh tôi, hương trà sen thơm thoang thoảng, mùi hạt bưởi phơi khô dùng làm đóm hút thưốc lào, cháy thơm ngai ngái. Người ta nói ông ngoại tôi có cách ẩm thực cầu kỳ lắm. Từ năm giờ sáng ông đã ngồi trên chiếc thuyền nan bơi trên ao gạt ra khỏi đóa sen lấy dúm trà ướp trọn đêm. Nước pha trà ông cũng hốt bhững hạt sương đêm torng suốt đọng trên lá sen. Đóm hút thuốc lào của ông dứt khoát phải bằng hột bưởi phơi khô và tách đôi, xiên bằng cái châm bạc. Tôi nằm trong lòng ông ngoại nhìn khói thuốc chờn vờn trong không khí mờ ảo làm nổi bậc những câu đối sơn son thếp vàng treo trong căn nhà ngang, những bức đại tự trên tường bên cạnh, bộ tràng kỷ mặt bàn đá cẩm thạch. Tất cả cảnh vật đó, vòng tay ôm thân ái của ông bao qianh tôi làm lòng tôi êm dịu rồi thiếp dần vào giấc ngủ. Giấc ngủ bình yên thoải mái của tuổi ấu thơ thuở nào, thuở mà tôi không bao giờ quên được.
Bây giờ thì ngoại không còn nữa.
Miền Trung Châu Bắc Việt, nơi ấy xa xôi rồi…..
Tôi dứt lời đọc bài tuỳ bút của mình, đám bạn bè vỗ tay rào rào. Trong căn nhà nhỏ của Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch, người bạn học với tôi trang hoàng diêm dúa một cách hết sức trẻ con. Trên tường, ngay trước bàn học của Điểu có hàng chữ cắt dán màu đỏ bằng giấy thủ công học trò ” trụ sở thi văn đoàn Lãng Bạc “. Trên bảng đen ghi chương trình phiên họp hàng tuần của thi văn đoàn cùng tên các bạn thành viên trong nhóm. Điêu quan trọng trên hết là chương trình có ghi mục bình văn bài tuỳ bút của tôi.
Thi đoàn chúng tôi gồm sáu đứa cùng lứa tuổi choai choai, tất cả đều là bạn học chung trường. Chúng tôi mới ở cấp trung học được ba năm. Đặc biệt chúng tôi say mê văn nghệ, ngành văn thơ, như nhiều anh chịo em khác của các trường ngày đó, chúng tôi lập thi văn đoàn, làm riêng những tờ báo chép tay, chuyền nhau đọc.Tôi nghĩ lối chơi ấy rất lành mạnh của tuổi trẻ. Chúng từng phải nhịn quà sáng, các bạn gái thì nhịn ô mai, me chua, tầm ruột chấm muối ớt để dành tiền mua giấy bút làm báo. Tờ báo chúng tôi ra mỗi tháng một số mang tên Thăng Long, thu hút được khá đông đảo bạn đọc trong trường, có khi còn lan sang trường nữ. Địa chỉ toà soạn tờ báo chính là nhà của Lê Đình Điểu. Chúng tôi sung sướng vì trò chơi đượm nét văn háo của mình. Hiện trong ngăn kéo của tổng thư ký văn đoàn Lăng Bạc, Lê Đình Điểu, còn nhiều hồ sơ của các bạn ” thi văn hữu ” nam nữ xin gia nhập. Nhưng điều đó còn xét đã, tổng thư ký Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch luôn luôn quan trọng.
Sáu khuôn mặt ” nòng cốt ” chúng tôi hôm nay ngồi họp trịnh trọng. Bởi vì tôi, người quan trọng nhất có bài được đăng báo, trong trang văn nghệ học sinh. Điều quan trọng hơn nữa là tôi lại còn được nhận tiền nhuận bút, không nhiều nhặn gì nhưng cũng đáng hãnh diện. Rõ ràng là một tờ báo in ấn đàng hoàng phát hành phắp nước. Vậy là tôi đã có thành tích trong nghiệp văn.
Sáng hôm nay cả đám anh em chúng tôi, chở nhau bằng xe đạp đến tận toà báo để nhận báo biếu và tiền nhuận bút. Anh nhà văm Vân Sơn, người phụ trách trang văn nghệ học sinh tiếp đón anh em chúng tôi niềm nở. Ông chủ nhiệm và nhiều nhà văn nhà báo lớn bắt tay chúng tôi. Rõ ràng tài năng tôi đã được đánh giá. Dù là một bài viết con con.
Nhà văn Vân Sơn còn trẻ, có lẽ chưa tới tuổi 30. Anh mang kính trắng gọng đồi mồi tròn xoe càng tăng thêm vẻ trí thức trên khuôn mặt thanh tú rạng rỡ của anh. Sau một lúc tiếp chuyện, uống nước ở phònh khách toà báo, khuyến khích chúng tôi trong việc sáng tác, anh viết tên tôi vào tờ ” bông ” để xuống quản lý dưới lầu lãnh tiề nhuận bút. Tay tôi run bắn lên vì cảm động khi ký vào ” bông “.
– Không bao nhiêu đâu em, nhưng là cái duyên văn nghệ em nên nhận chút tiền nhuân bút của toà báo, mong mỏi rằng anh sẽ nhận được thêm nhiều bài vở văn thơ của các em.
Tôi sướng rơn, nhìn các bạn lòng đầy hãnh diện. Chỉ có một điều tôi không mấy hài lòng là người phụ trách quên phức mất bút hiệu của tôi, mà lại in tên thật. Cũng hơi rắc rối cho tôi, tôi không muốn ai trong nhà biết tôi mang mộng làm văn sĩ. Nhưng chuyện đã lỡ rồi, biết làm sao được. Cứ cho là” định mệnh đã an bài. “
Buổi sáng hôm ấy, thay vì tôi mời anh em một chầu đậu đỏ bánh lọt, nước đá, mát rượi ở Bến Thành, anh em đều nhất trí tôi nên mua một chai ” si rô cam ” về trụ sở, tức căn phòng của Lê Đình Điểu, cả căn nhà của Lê Đình Điểu vắng vẻ vì ba mẹ anh đi làm suốt ngày. Cho nên chúng tôi mặc sức nói chuyện văn nghệ.
Sau chầu nước đá si rô, ăn bánh bích qui. Lê Đình Điểu làm công tác của ” nhà báo ” với tôi, anh phỏng vấn:
– Xin ” nhà văn ” vui lòng cho biết cảm tưởng của anh về ” tác phẩm ” anh cho đăng tải trên đại trang văn nghện học sinh của đại nhật báo Ngôn Luận.
Trời đất ôi, Lê Đình Điểu đã ” bơm ” trang văn nghệ học sinh thành đại trangvà tôi thành nhà văn. Có phải là giấc mơ không? Tôi liền trả lời thẳng ro, chẳng nghĩ ngợi gì:
– Khoái thấy mồ, khoái nhất là có tiền nhuận bút.
Miệng anh chàng Lê Đình Điểu dẻo như bán kẹo kéo, anh ta tán tụng bài tuỳ bút của tôi một hồi, rồi tiếp:
– ” nhà văn ” có buồn phiền gì khi ” người ta ” quên béng mất không ghi bút hiệu của anh dưới tác ” phẩm giá ” trị đó không?
Tôi suy nghĩ một lát rồi mới trả lời:
– Có chút chút, vì bút hiệu của tôi tra trong nhiều quuyển từ điển Hán Việt mới tìm ra, nay bỗng dưng bị ” phang ” luôn tên thật thì cũng phiền thôi.
Phiền như thế nào thì ở đây không thể nói được. Tôi từ chối luôn những câu hỏi hơi rắc rối của Lê Đình Điểu. Buổi họp chấm dứt trong bầu không khí vui vẻ, liên hoan si rô đá với bánh kẹo. Tất cả đều hài lòng. Tôi không quên bôc mấy cái kẹo bỏ túi. Tôi thành người ” vĩ đại ” nhất trong đám bạn bè. tôi thả hồn lãng đãng trong giấc mơ làm văn sĩ, tôi chỉ thành văn sĩ được thôi, không thể thành thi sĩ được. Vì tôi biết mình không có khiếu làm thơ.
Tôi đạp xe quanh trong thành phố. Sài Gòn hôm nay đối với tôi sao đẹp thế, nắng vàng rực rỡ trên những tàn cây đại lộ. Tôi đi qua trường học, con đường rộng thênh thang. Hôm nay là ngày nghỉ sân trường vắng vẻ, hàng phượng vĩ cũng bắt đầu trổ hoa, tôi nghe đâu đây tiếng ve sầu kêu., tuy rằng không ran ran như những ngày cao điểm mùa hè. Ngồi lại bên lề đường, ngẩng lên nhìn tàn cây phượng vĩ. Tiếng ve sầu kêu, nó ở đâu nhỉ ? Dưới những chiếc lá xanh nhỏ xíu hay những chùm hoa đỏ? Tiếng ve sầu kêu, ở đâu cũng giống nhau. Tiếng ve sầu ở Sài Gòn cũng giống như ở Hà Nội. Tôi xa Hà Nội đã sáu năm rồi mà sao hình ảnh Hà Nội tôi vẫn nhớ như in, từ con đường, góc phố. Tiếng ve kêu ở Nghi Tân, Cổ Ngư ở sân trường báo hè về….Sân trường tiểu học Đỗ Hữu Vị ở cuối dốc phố Hàng Than. Trước trường Hàng Than có một gánh phở sáng nào cũng đông khách. Mùi nước phở thơm lừng. Những ngày đó tôi thường ao ước được ăn một bát phở, nhưng gi đình bố mẹ tôi đều còn ở ngoài kháng chiến. Tôi sống nhờ một ông bác ruột, dù bác có thương cũng không thể bằng bố mẹ lo cho mình. Tôi nhậy cảm nên thường có những lúc thầm tủi thân.
Buổi sáng hôm nay, tự bài mình viết được đăng báo. Tôi lại nhớ miền Bắc, nhớ vùng Trung Châu Bắc Việt, nhớ thượng du, những nhớ nhung xa xôi da diết. Hình ảnh bố mẹ tôi, gia đình tôi ngày đoàn tụ, sự đoàn tụ thảm hại sau nhiều năm tháng. Bố tôi ở ngoài kháng chiến trở về Hà Nội. Buổi chiều tôi đi học về, bố tôi ngồi đó với bác, râu ria mọc tua tủa. Ông vốn đã lầm lì, may càng lại lầm lì hơn khi nghe bài hát ” trở về ” của Hoàng Giác từ chiếc máy radio Philips ở nhà bác. ” tung cánh chim tìm về tổ ấm, nơi sống bao ngày giờ đằm thắm……
Bố tôi nói với bác:
– Cơn sốt rét cách nhật của em lại đến rồi. Cứ cách ngày lại một trân….anh cho em đi nằm, dứt cơn em lại ra nói chuyện với anh…..
Bố tôi chưa kịp có cái vuốt đầu tôi thì ông đã nằm rên hừ hừ. Những cảnh đó bây giờ tôi đã thấy lại.
Như thời cha tôi làm việc ở Cục Kiến Tạo trên Đại Từ Thái Nguyên. Cái cầu cheo leo bắc qua con sông Đại Từ nước chảy xiết. Hôm nào đó cha tôi đưa tôi đến chiếc cầu treo ấy để tôi vể Hà Nội, mẹ tôi đưa tôi về rồi trở đi ngay ít hôm sau. Tôi đứng khóc mùi trên lan can nhà bác ở số 38 ngõ Hoà Mã buổi sáng Hà Nội sương mù….
Buổi tối, sau bữa cơm chiều, cha tôi ngồi uống trà với bác ở phòng khách. Ông nói:
– Cám ơn anh, nhưng em không thể đi làm cho Pháp được. Em không thể nào quên ngày anh Cả bị Tây giết ngoài hậu phương bởi vậy em mới đi theo kháng chiến. Em về đây cũng chỉ vì vợ con. Được anh vá các chú ấy ở Sài Gòn giúp đỡ em và vợ con em sẽ buôn bán qua ngày, mong sao các con nên người, được học hành……Em nói thật, em không ưa gì bọn vẹm nên mới về đây. Sống ở đâu cũng là bất mãn thôi với những người bị coi là trí thức vô sản….
Một tháng sau gia đình tôi thuê được một căn nhà ở đầu phố Trần Nhân Tôn và phố Huế trông sang chợ Hôm. Gia đình tôi mở cửa hàng cơm, cha tôi bưng tô rửa chén. Ông đông bạn bè, toàn là bạn bình dân xích lô, xe kéo, ông kiêm luôn nghề vẽ quảng cáo cho rạp xi nê. Ông nguyên là hoạ sĩ xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Tôi hoà nhập vào đời sống Hà Nội. Tô lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm, nghịch như quỷ sứ. Cha tôi nói như vậy. Ông muốn hướng tới một hướng khác. Thế là gia đình tôi vào Sài Gòn. Tôi được gủi ra Vũng Tàu học trường Thiếu Sinh Quân vì chú thứ năm của tôi dạy học ở trường đó. chú tôi xin cho tôi được ngoại trú để kèm học.
Nhưng thực tế không phải như vậy. Tôi ở nhà chú, không có thì giờ để học vì có bà thím quá gian ngoa, quá quắt. Tôi bị đối xử tệ hại còn hơn một đứa ở không công. Từ năm giờ sáng đã phải trở dậy dọn hàng cho thím ở ngoài chợ, bẩy giờ mới được đi học. Trưa trở về coi hàng cho thím.Hai giờ trưa lại đi học. Chiều về dọn hàng đến bẩy giờ tối. Đẩy cả mấy xe bó ệt đầy nhóc hàng hoá. Tôi còn thì giờ đâu mà học hành. Ngày chủ nhật cũng không được ra bãi biển chơi đùa như các banmạ phải ở nhà bổ củi. Sự học hành của tôi bắt buộc phải sút giảm. Thím tôi điêu ngoa về SG nói về tôi với bố mẹ tôi là một đứa trẻ chẳng ra gì. Một ngày kia tôi chịu đựng không nổi bèn bỏ nhà chú thím ra đi, ra bến tàu về SG bằng đường thuỷ, muốn thế nào xũng được. Nhưng tôi bị bắt trở lại. Tôi còn nhỏ bé quá đành phó mặc cho số phận….Cho đến ngày điện tín bay ra VTàu báo tin bố tôi chết đột ngột……Tôi đang bệnh nặng, chân tay phù thủng to bằng cái chĩnh. Chú tôi xin vé máy bay của nhà binhPháp trở về SG, cũng đúng là lúc đưa tang bố tôi ra nghĩa địa đô thành. Bộ quân phục thiếu sinh quân của tôi chật cứng và chân không thể đi nổi đội giầy, tôi lết đi bằng đội dép Nhật, chống gậy đi theo xe tang. Cuộc trở về thảm nảo, tôi khóc vùi bên quan tài của cha.
Tôi cương quyết ở lại SG với mẹ và em, không ra VTàu nữa. Tôi bị coi là đưa cứng đầu. Xảy cha nhờ chú. Tôi còn ông chú thứ tư ở SG. Ông này như ông bác thứ hai của tôi hết lòng vì em vì cháu. Sự thật tôi được nhờ ông rèn cặp như chính các con của ông, nên những năm đầu của trung học dù phải học lại lấy căn bản nhưng cũng khá ra, không giỏi lắm, nhưng không đến nỗi dốt nát. Tôi luôn đứng đầu môn văn trong lớp, nhưng môn toán lại kém. Điều mà chú tôi, một người khoa học không thích tí nào. Sau thời gian đi chơi loanh quanh, tôi lo lắng biến thành sợ hãi. Tự đánh giá việc viết văn của tôi là có tội, đại tội với chú. Sự trừng phạt không thể khác. Tôi nghĩ đến cái chổi lông gà rung lên trên tay chú mà toát mồ hôi. Tôi cầu cứu sự ” cứu rỗi ” ở đâu bây giờ? Ở linh hồn bố tôi? Mả của ông ở dưới nghĩa địa Đô Thành. Tôi đạp xe xuống tuốt cuối đường Lê Văn Duyệt, trước trại lính nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, ngồi trước mồ cha tôi khấn khứa ông phù hộ cho tôi ” tai qua nạn khỏi “. Tấm tức khóc, khóc vì sợ hãi trận đòn đau, sẽ không tránh khỏi. Dù tôi biết chú tôi trừng phạt vì thương không phải vì căm thù hoặc để thoả lòng độc ác. Trời về chiề utôi mới ra về.
Tôi mồ côi cha, tuy còn mẹ, nhưng mẹ tôi phải lo buôn bán để nuôi các em nhỏ của tôi. Tôi phải sống nhờ, học nhờ ngay nhà chú ruột. Chú tôi là người học thức, chú có địa vị cao trong xã hội, thương yêu cháu như những đứa con ruột cuẩong, nhưng ông vô cùng nghiệm khắt, nhất là chuyện học hành.
Tôi đâm hoảng khi nghĩ đến chú, đôi mắt loang loáng sau cặp kính trắng. Chiếc chổi lông gà rung rung trong tay chú. Sau bữa cơm chiều, anh em tôi nghỉ chơi một lát rồi ngồi vào bàn học. Ông chú tôi thường xuyên xem bài vở chúng tôi và sẵn sàng chỉ dẫn cặn kẽ, ông gầm thét như cọp khi thấy anh em tôi dốt nát, hoặc trong sổ điểm có môn nào kém cỏi. Môn toán, tôi kém nhất. Ông nhìn vào môn văn, dù rằng tôi luôn luôn vào hạng cao, nhưng ông chẳng có một lời khen nào, mà chỉ nghe ông hừ hừ trong cổ họng. Ông lạnh lùng nói:
– Mày kém toán lắm, mày phải luyện cho giỏi, mấy bài toán đại số tao ra mày đã làm xong chưa?
Chú thường nhắc nhở với anh em chúng tôi như thế! Chú yêu thương chúng tôi, nhưng yêu thương theo kiểu của chú, tôi hiểu thế. nhưng còn điều gì xảy ra cho tôi hôm nay, tôi biết rõ vào buổi chiều.
Tôi cho là một buổi chiều ảm đạm trong đời tôi, có lẽ là một khúc quanh. Tôi không thể oán trách hcú được. Tôi cố hiểu trong vầng trán rộng của chú tôi hơi nhăn lại suy nghĩ gì, có lẽ không bình thường như mọi khi, lúc trừng con cháu lười biếng học hành.
Qua mắt tôi nhìn, ông là môt nhà khoa học, trong đầu ông chứa toàn những bài toán rắc rối, mà tôi có học đến bạc đầu cũng không giải nổi đáp số, nói chi đến những bài đại số, hình học tầm thường tôi phải làm và học mỗi ngày.
Ông chú có cái lý của ông, lý của đấng làm cha mẹ, hoặc phải thay cha mẹ lo cho tương lai máu mủ của mình. Quyền huynh thế phụ, chú thay cha.

Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

6. Chương 6

Thứ Tư 30 tháng 4 năm 1975

Những ngân hàng đã đóng cửa, không mở cửa lại nữa. Những nơi đổi tiền đã đóng rèm cửa xuống rồi.

Graham Martin và những cộng sự viên cuối cùng đã dùng trực thăng tới mẫu hạm Blue Ridge đang đậu ở ngoài khơi cách Vũng Tâu 30 cây số.

Mệt mỏi và sầu thảm, ông ta từ chối mọi lời tuyên bố và chui vào phòng riêng. Ông ta còn không mang theo được lá cờ Mỹ cuốn lại cẩn thận trong tay như Đại sứ Mỹ tại Nam Vang đã làm.

Là dân ngoại giao chuyên nghiệp, Martin không biết thích nghi với những màn bi kịch. Một Thủy quân Lục chiến lo cuốn lá cờ. Nhưng Martin đã bỏ lại tấm hình chụp Nixon cùng gia đình có chữ đề tặng của Nixon. Chúng tôi tìm được tấm hình ấy.

Những Thủy quân Lục chiến chót đã ra đi lúc 8 giờ 30 sau khi liệng một trái lựu đạn khói vào thang máy và làm rối loạn những cơ cấu điện tử điều khiển các cánh cửa sắt, do đó biến sứ quán Mỹ thành một pháo đài không thể chiếm được.

Tổng thống Ford tuyên bố như sau:

“Cuộc di tản đã chấm dứt. Tôi ngợi khen các nhân viên của quân lực đã thi hành tốt cuộc di tản, cũng như ngợi khen Đại sứ Graham Martin cùng với các nhân viên của ông ta đã biết làm tròn bổn phận tốt đẹp trong những hoàn cảnh khó khăn.”

“Cuộc hành quân này đã khép kín một chương trình trong lịch sử Mỹ. Tôi yêu cầu tất cả những người Mỹ xiết chặt hàng ngũ, tránh những sự chỉ trích về quá khứ, và hãy nhìn phía trước mặt hướng về những mục tiêu và cùng nhau làm việc cho những nhiệm vụ phải hoàn tất.”

Henry Kissinger thì cho rằng đây là một sự thành công. 950 người Mỹ chót đã được đưa đi trong khuôn khổ của cuộc hành quân Lựa Chọn 4 trong kế hoạch Talon Vise và đưa được 5.500 ngườỉ Việt. “Henry thân mến” chỉ mong được có bấy nhiêu cũng đã hài lòng rồi.

Sáng nay, chỉ có các sứ quán Pháp, Nhật, Bỉ và phái bộ Thụy Sĩ mở cửa.

Tướng Minh và những cộng sự viên thân cận nhất đã tự giam mình vào dinh Độc Lập. Chẳng còn ai canh gác nữa. Saigon có bị đốt cháy không?

Cướp bóc cứ tiếp tục. Lần này đến lượt nhà riêng của Graham Martin bị vơ vét sạch, rồi đến sứ quán Anh. Những toán cướp có võ trang tiến dần tới trung tâm thành phố. Nhưng những cảnh thảm khốc nhất diễn ra tại bến tàu.

Coutard và toán chuyên viên truyền hình có mặt tại đó trong khi tôị đánh máy một bài báo, bài báo ấy sẽ không bao giờ tới nơi, sẽ không xuất hiện trên báo.

Trong sự rối loạn kinh khủng, những người Imh muốn cưỡng bách chiếc tàu chót cho họ lên và đã nổ súng. Người ta cướp những máy quay phim, máy chụp hình, tất cả những gì có thể mặc cả được.

Những chùm người bám lấy sườn tàu. Đàn bà, trẻ em bị đè bẹp.

Xe của chúng tôi có thể bị đám đông tràn ngập. Một người lính sắp dùng báng súng đập vỡ kính xe. Cần phải chuồn ngay nếu chúng tôi không muốn mất hết máy móc và những cuốn phim. Và nếu không muốn bị treo cổ.

Coutard, Mathurin và Merlin vừa mới đến chỗ tôi. Chúng tôi tới căn phòng cũ của Phillippe Franchini, đó là đài quan sát rạt tốt và Jean Pouget đang ở đó.

Lúc này là 10 giờ 15. Trên đài phát thanh, Tướng Minh phổ biến lệnh đầu hàng không điều kiện: “Đường lối chính trị mà chúng ta dự trù là sự hòa giải giữa những người Việt Nam để tránh đổ máu vô ích. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu anh em binh sĩ của nước Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt những sự thù nghịch trong bình tĩnh và tôi yêu cầu họ ở đâu hãy ở đó.”

“Tôi yêu cầu những người lính anh em của chính phủ cách mạng lâm thời ngưng những sự thù nghịch. Chúng tôi chờ gặp chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ chuyển giao quyền hành trong trật tự, để tránh mọi sự đổ máu vô ích cho nhân dân.”

Rồi đến một thông điệp khác do một viên tướng dũng cảm hồi hưu đọc, Tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Vì Tướng Vĩnh Lộc đã chuồn hồi đêm nên người ta đã kéo Tướng Hạnh ra và cử ông ta cầm đầu quân đội.

“Binh sĩ, các trung đoàn trưởng, các chỉ huy đơn vị, các lực lượng địa phương, lực lượng nhân dân tự vệ, tôi, tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, tôi yêu cầu tướng lãnh và quân nhân các cấp triệt để tuân theo mệnh lệnh của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa liên quan đến cuộc ngưng bắn.”

“Bộ Tư lệnh Quân sự sẵn sàng tiếp xúc với Bộ Tư lệnh Quân sự của chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam để thực hiện cuộc ngưng bắn tránh đổ máu.”

Và bỗng nhiên, từ nơi tôi quan sát, tôi trông thấy một đơn vị Dù di chuyển dọc hai bên đường Catinat theo đội hình chiến đấu. Súng cầm tay, họ điều động trong một trật tự hoàn hảo. Khi các sĩ quan ra dấu, họ ngừng lại, núp sau những cánh cửa rồi lại tiến lên.

Sắp giao tranh tại Saigon chăng? Trông những người lính này cương quyết lắm. Khi tới ngang nhà hàng Continental, họ quẹo về hướng chợ Bến Thành. Một hiệu lệnh được ban ra. Thế là họ trút bỏ hết quân phục và khí giới với đồ trang bị rồi họ bỏ chạy. Còn lại những gì của quân đội nữa, một trong những quân đội mạnh nhất và được trang bị tốt nhất Đông Nam Á? Những đống khí giới và đồ trang bị, những sợi giây đeo băng đạn.

11 giờ 30, Long, một Đại tá cảnh sát, tự bắn vỡ sọ trước bức tượng của Thủy Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ viện. Ông ta nằm sóng sượt. Chiếc nón kết có hoa lá bạc đặt trên ngực. Sự dàn cảnh của một nhiếp ảnh viên.

Máu và óc chảy từ bên tai trái ra. Ông ta vẫn còn thở trong khi ở phía trên ông ta có tiếng sè sè của máy quay phim và máy chụp hình. Một lát sau, ông ta tắt thở tại nhà thương Grall.

12 giờ 5 phút, một xe jeep chạy tới đường Catinat trên cắm lá cờ Việt cộng bự trong khi những chiếc xe tăng tới chiếm dinh Độc Lập. Cờ Việt cộng được trưng lên trước tiền đình. Một chiếc T-54 húc tung cánh cửa sắt vì người ta chậm mở rồi bắn một phát đại bác và vài tràng đạn đại liên thanh để thị uy. Mười bốn xe tăng khác theo sau, pháo tháp mở và cành cây cắm đầy xe. Binh lính đội mũ lợp lá theo kiểu mũ thuộc địa, quân phục xanh và đi dép Hồ Chí Minh chế tạo bằng vỏ xe hơi, võ trang bằng tiểu liên AK-47 của Trung Hoa, nhẩy ra khỏi xe tăng và chạy vào dinh.

Trên bao lơn, cờ của chính phủ cách mạng lâm thời được kéo lên. Saigon bị chiếm và không bốc cháy. Chỉ thiếu chút nữa thôi.

Phó Tổng thống Nguyễn văn Huyền, Thủ tướng Vũ văn Mẫu và Tướng Minh đã là diễn viên và nhân chứng trong những giờ phút chót của Saigon và họ đã kể cho tôi nghe những giờ chót ấy.

Và số phận của Saigon đã được định đoạt như dưới đây trong vòng vài phút ngày 30-4, khoảng từ 10 giờ 30 tới 11 giờ sáng.

Minh và hai người phụ tá là Huyền và Mẫu ngồi trong phòng khách nhỏ của dinh. Chừng năm chục nhân vật ngồi chờ ở phòng lớn để dự buổi lễ trình diện Tân Nội Các. Người ta đã vơ vét những gì có thể tìm được trong lúc này. Do đó mà Giáo sư Vũ văn Mẫu đã mang theo các thư ký văn phòng luật sư của ông ta.

Không còn chút hy vọng nào để thương thuyết nữa. Sự hỗn loạn ngự trị ở đường phố và những đơn vị đầu tiên của cộng sản đã vào Sàigòn. Nhưng ở khắp nơi đều có những ổ kháng chiến, gồm những đơn vị ưu tú bám lấy lãnh thổ. Thí dụ như tại Tân Sơn Nhất, một đơn vị Dù đã dùng súng Bazooka làm nổ tung năm xe tăng Sô Viết.

Ba người ngồi chờ phái đoàn thứ hai do họ gởi đi trại Davis (Tân Sơn Nhất) trở về. Chẳng thấy gì. Thời giờ cứ trôi qua.

Bỗng cánh cửa mở. Họ đứng phắt dậy, tưởng rằng đại diện của quân đội cộng sản tới đặt các điều kiện cho sự đầu hàng.

Đó chỉ là Tướng Vanuxem. Là một cố vấn rất được Thiệu nghe theo, ông ta tới đây trước đó vài ngày theo lời mời của Thiệu để mang tình bạn đến an ủi Thiệu và cho những lời khuyên nhằm cải thiện tình thế. Thiệu đã từ bỏ quyền hành và Vanuxem còn ở lại. Đi dạo quanh cái dinh bỏ trống, ông ta bước vào trong. Không có thư ký, không có người canh gác. Chỉ có sự bỏ trống. Tướng Minh không dám mời ông ta trở lui. Vanuxem là cựu sĩ quan của cái quân đội mà Tướng Minh còn giữ sự trìu mến lớn lao. Có lẽ Tướng Minh tưởng rằng ông ta thi hành một sứ mạng nào đó?

…. Vậy thì Vanuxem sẽ được tham dự những giờ phút chót của cái chính phủ này, cái chính phủ mà những kẻ xấu mồm đã nói rằng được thành lập tại Ba Lê và do Đại sứ Pháp L.J.M Mérillon chủ tọa tại Sài Gòn. Không một nhà báo nào dám mong có được cái cơ hội như Vanuxem lúc ấy. Sáng hôm ấy, Vanuxem có mặt tại đó nhân danh nước Pháp.

Ngồi ở góc bàn, Vũ văn Mẫu gấp rút thảo lời kêu gọi ngưng bắn. Rồi Mẫu và Minh ngồi vào trong xe đi tới đài phát thanh, trên đường đi, nắm được Cựu Tướng Hoàng đang ngơ ngác tìm viên Tham mưu trưởng là Tướng Vĩnh Lộc. Lộc đã chuồn hồi đêm rồi.

Phó Tổng thống Nguyễn văn Huyền thì lui vào một phòng nhỏ để cầu nguyện.

Ba người biết rằng cộng quân đã sẵn sàng tàn phá Saigon nếu mọi sự kháng cự không chấm dứt ngay, và có thể cộng sản mong có sự kháng cự để tàn phá. Bọn chúng sợ hãi cái thành phố này. Bọn chúng muốn cái thành phố ấy phải mang thương tích và quỳ gối đầu hàng.

Minh và Mẫu vừa mới quay trở về thì nhìn thấy những xe thiết giáp ở bãi cỏ. Không phải là những xe tăng cộng sản mà họ chờ đợi nhưng là ba xe tăng M-48 của quân đội Nam Việt Nam. Vài sĩ quan trẻ tuổi vừa từ trên xe nhảy xuống.

Các sĩ quan này từ chối sự dầu hàng. Họ muốn tiếp tục chiến đấu vì danh dự và vì họ từ chối chủ nghĩa cộng sản.

Họ đâu thèm bận tâm đến việc họ có thể bị chôn vùi dưới những đống gạch vụn đổ nát của Saigon?

Tướng Minh chỉ còn có vài phút để thuyết phục các sĩ quan này. Đại bác 130 và những ống phóng hỏa tiễn 122 ly đã đặt sẵn chung quanh thủ đô.

Sau này, Vũ văn Mẫu cho chúng tôi biết là sự đe dọa ấy có thật. Ông ta và Tướng Minh bị cầm tù 48 giờ trong dinh và một trong những sĩ quan Bắc Việt canh giữ họ, cấp Đại tá hay cấp tướng gì đó nói: “Chúng tôi được lệnh bắn Saigon từ 11 giờ sáng nếu mọi sự kháng cự không ngưng. Thành phố đã được chia ra làm 30 ô vuông. Mỗi ô vuông sẽ lãnh 100 hỏa tiễn và 3.000 đạn đại bác 130 ly.”

“Sau đó, chúng tôi sẽ xung phong. Chúng tôi biết sẽ có những trận đánh dữ dội trong thành phố và có một đơn vị nhất quyết chiến đấu tới cùng. Chúng tôi dự trù những cuộc chiến đấu ấy kéo dài bảy ngày từ 30 tháng 4 tới 7 tháng 5, kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, tới lúc đó, chúng tôi sẽ làm chủ Sàigòn. Đến lúc ấy thì mọi sự kháng cự sẽ ngưng.”

Vũ văn Mẫu nói thêm:

– Tướng Minh và tôi biết rằng những cuộc chiến đấu ấy vô ích vì sẽ gây cho các thường dân số thương vong từ 250.000 tới 300.000 người chết và một phần lớn Saigon sẽ bị tiêu hủy vì những đám cháy không gì có thể ngăn được. Rất nhiều khu nhà ở đều làm bằng gỗ và cảnh sát cũng như mọi lực lượng an ninh đều biến mất.

Dùng uy tín của người cựu chỉ huy, của người thật sự tạo lập quân đội Nam Việt Nam, với giọng nói oai nghiêm của người cha răn dậy những đứa con ngỗ nghịch, Minh Cồ cảm phục lòng can đảm của các sĩ quan trẻ tuổi ấy nhưng giải thích cho họ biết rằng nếu đánh nữa thì họ chỉ làm tăng thêm sự bất hạnh cho đất nước.

Họ còn được bao nhiêu người? Những thành phần còn lại của một lữ đoàn Dù và Thiết Giáp. Chừng hai ngàn người tất cả.

Trước mặt họ có 15 sư đoàn: hơn 100.000 người, các trung đoàn pháo, hỏa tiễn phòng không. Và tất cả đều sẵn sàng xung phong, chỉ mơ ước được nhào vào cái thành phố này vì nó đã luôn luôn chối bỏ bọn chúng, cái biểu tượng của mọi chế độ thực dân và mọi chế độ đế quốc. Để trừng phạt và tiêu diệt thành phố này. Tiếp tục chiến đấu là mắc mưu bọn chúng.

Các sĩ quan đã hiểu và họ trở về đơn vị để thuyết phục các thuộc cấp ngưng chiến đấu. Nhưng có nhiều người sẽ đi về vùng đồng bằng để lập chiến khu. Những kẻ chiến thắng có thể tiến vào Saigon được rồi.

Ai đã cứu Saigon? Không phải Kissinger hoặc Graham Martin đã cứu Saigon khi đẩy ông Thiệu ra ngoài, cũng không phải Sauvagnargues hoặc Mérillon đã cứu Saigon khi bứt ông Hương thống khổ ra khỏi chiếc ghế Tổng thống. Cứu tinh của Saigon, Tướng Dương văn Minh. Ông ta đã cứu thủ đô vì trong suốt cuộc đời của ông ta, ông ta luôn luôn là điều trái ngược với một chính trị gia và đối với các đại úy trẻ tuổi, ông ta vẫn là biểu tượng của một sự cao cả nào đó, một sự lương thiện, một người không hiểu nhiều về những sự tế nhị của chính trị quốc gia hoặc chính trị quốc tế nhưng vào lúc quyết định này, ông ta có thể được lòng tin của những thanh niên hai mươi tuổi sẵn sàng chết. Những người trẻ tuổi này đã khinh bỉ bác bỏ tất cả những lời dao to búa lớn của các nhà ngoại giao và các chính khách vì rằng hai hạng người ấy chỉ biết nói những chuyện cho người già nua, cho những kẻ khuyển nho và cho những kẻ quen với những trò rắc rối này.

Rồi đến chiếc xe jeep cắm cờ chạy tới đường Catínat lúc 12 giờ 5 phút, đến vụ chiến xa chiếm Dinh, theo sau là những xe vận tải Molotova chở đầy binh sĩ, năm chục nhân vật hoặc thư ký tới dự lễ trình diện nội các hoặc tham gia nội các, tới vụ hai ông Minh và Mẫu hai tay đưa lên trời bị những anh “bộ đội” súng tiểu liên cầm tay áp giải lên một xe jeep.

Họ được áp giải đến đài phát thanh để đưa ra lời kêu gọi tối hậu hãy ngưng bắn cho những người chiến sĩ còn đang chiến đấu. Vì người ta vẫp còn đánh nhau tại Tân Sơn Nhất, tại Gia Định, chung quanh một vài trại lính và gần Bộ Tư lệnh Cảnh sát, và ngay cả ở đường Pasteur nữa vì nơi đây có một nhóm quân cảm tử tìm cách chống cự.

Đến 13 giờ thì xong hết mọi chuyện.

Minh được trở lại Dinh, ở đó, ông ta bị canh chừng. Ông ta tự coi là đã làm xong bổn phận.

Sau khi kêu gọi ngưng bắn và kêu gọi quân lực Nam Việt Nam buông súng, trước khi xe tăng cộng sản tiến vào Dinh, ông ta tuyên bố với một trong những người ký giả cuối cùng mà ông ta đã gặp là Arnaud của hãng AFP (Agence France Presse):

“Hôm nay hoặc ngày mai, tôi chờ họ (điều này chứng tỏ ông ta đã bị cắt đứt mọi sự tiếp xúc với những người bên kia). Phải làm như vậy. Phải cứu lấy những mạng người, những mạng người Việt và Pháp nữa. Hãy kể lại cho Đại sứ Pháp nghe rằng ông đã trông thấy tôi ở đây.”

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này diễn ra lúc các sĩ quan trẻ tuổi còn muốn chiến đấu đã trở lại đơn vị và lúc xe tăng cộng sản tiến vào,

Tất cả những người mà tôi hỏi chuyện sau đó và những người có mặt cùng với Minh Cồ, các cộng sự viên thân cận nhất của ông ta, Phó Tổng thống Huyền, Thủ tướng Mẫu, tất cả đều xác nhận rằng những tên lính và sĩ quan đầu tiên tiến vào dinh để bắt họ đều là người miền Bắc.

Lúc ấy, các nhân vật trong chính phủ họp tại phòng khách long trọng của Tổng thống Cộng Hòa. Trong lúc này thì chính phủ cách mạng lâm thời chỉ được đại diện bởi lá cờ nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng và một người lính của Hà Nội treo lên phía trước tiền đình thay cho lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Sau khi các xe tăng tiến vào bãi cỏ trước dinh, đến lượt bộ binh cơ giới hóa ngồi trên xe của Nga hoặc của Tàu chế tạo. Cũng là một thứ xe nhưng nếu xe của Tàu thì người ta phải đến gần mũi xe mới đọc được những chữ ghi ở đó. Các anh “bộ đội” nhảy xuống đất, súng lăm lăm trong tay. Họ ngồi tại bãi cỏ có bóng mát mà mưa tưới ướt và bãi cỏ ấy ở phía trước nhà thờ Đức Bà.

Chúng tôi đi lần vào bọn họ. Có những người thì hung hãn, có những người khác cười với chúng tôi, có người bằng lòng cho chúng tôi chụp hình, có người từ chối. Họ chưa nhận được chỉ thị gì và không biết phải đối xử với chúng tôi ra sao.

Tôi ngạc nhiên vì tuổi nhỏ của những ngưởi lính này, mười sáu, mười bảy, mười tám, ngạc nhiên vì thân hình ốm yếu của họ, vì bộ đồng phục màu xanh quá rộng đối với họ. Họ có cái đầu của những đứa trẻ trong ban hợp ca của nhà thờ được mang chiếc mũ thuộc địa. Họ cười một cách dễ thương nhưng họ cầm trong tay những khí giới nguy hiểm: Tiểu liên Trung Cộng AK-47 hoặc Kalachnikov của Nga, súng Bazooka, súng B-40 và một chùm lựu đạn tròn nhỏ đeo ở giây nịt bụng.

Nhưng cấp chỉ huy của họ thuộc về một thế hệ khác, thế hệ của những người bốn chục tuổi, nét mặt rắn rỏi vì Chiến tranh, dầy dạn phong sương vì những năm chiến đấu trong rừng. Chính họ là những người lính – thầy tu – đã chỉ huy và cuồng tín hóa những người lính tập sự hày.

Hình như toàn thể một thế hệ đã biến mất, thế hệ đã dự những trận đánh dữ dội chống lại người Mỹ, thế hệ đã bị dội bom B-52, thế hệ đã chết mòn mỏi trên đường mòn Hồ Chí Minh. Bị xóa sổ của thế giới, bị bôi tên khỏi cuộc đời.

Cả một thế hệ bị tiêu diệt vì chiến tranh! Những người còn sống sót thì được tôi luyện bằng thép, vững chắc trong sự căm thù người ngoại quốc. Chính những người ấy đã đưa những đứa trẻ này tới Saigon, làm cho chúng lặn lội trong rừng, làm cho chúng chiến đấu, không tha thứ một sự yếu lòng nào và thuyết giảng cho chúng nghe trong rừng già Cao Mên cái tôn giáo mới, tôn giáo có Chúa không phải là Marx mà là Hồ Chí Minh và có mục tiêu là nước “Đại Việt Nam” để sẽ thâu toàn thể Đông Dương thuộc Pháp ngày trước.

Nhưng những cán bộ này đã thành ra những thứ đồ quý, khan hiếm đến nỗi bộ chỉ huy cao cấp buộc họ không được hy sinh mạng sống một cách dễ dàng và luôn luôn được một nhóm bảo vệ. Họ còn được lệnh là phải chạy trốn nếu thấy có thể bị bắt.

Tôi nhận được những con người ấy với nụ cười gắn trên mặt họ như một chiếc mặt nạ. Đó là những người Việt thật sự, những người lính giỏi nhất Á Châu. Họ chỉ biết chiến tranh là cứu cánh và không biết đến điều gì khác. Họ có cái đức tin lạnh lùng của những người truy tà. Họ tin tưởng ở cái chủ nghĩa cộng sản của Bắc Việt, trong đó mọi thứ kết chặt với nhau: chủ nghĩa Mác xít rút gọn còn có vài giáo điều, một chủ nghĩa quốc gia cuồng nhiệt, dễ nóng giận, một lòng yêu tổ quốc Việt Nam, yêu nòi giống Việt Nam khiến cho người ta bực mình nhớ đến những chủ nghĩa chủng tộc khác và những sự cuồng nhiệt khác, một đời sống đạo đức, trong sạch, một sự khắc khổ của những người tu hành. Và cả một hệ thức kiểu “Hướng Đạo” bắt nguồn từ những trại thanh niên ngày xưa của Đô đốc Decoux, tất cả ở phía “cách mạng quốc gia”: lửa trại, ca hát, dân vũ, trò chơi, tôn sùng lãnh tụ già Hồ Chí Minh mà đời sống được coi như một ông thánh thật sự. Trên tấm hình bác Hồ tôn kính xuất hiện khắp nơi ấy, chỉ còn thiếu có cái vòng hào quang. Và người ta quên mất con người ngày trước của ông ta: một người cách mạng dữ tợn, không chút thương xót và để duy trì sự nhất trí của đảng, ông ta đã không ngần ngại đem nộp những người đối đầu với ông ta cho sở mật thám Tây để thủ tiêu những người ấy.

Nhưng cái tình cảm mạnh mẽ nhất đã khuấy động họ là sự kiêu căng bao la mà họ khó dấu dưới sự giả đò khúm núm khiến cho ngay cả những đồng minh của họ cũng không chịu nổi: người Nga, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức và nhất là người Trung Hoa. Họ đã đánh bại người Pháp. Nếu họ bớt cứng rắn thì họ đã có thể thương lượng với người Pháp. Rồi thì họ đã lẳng lặng tiêu hóa nước Việt Nam thay vì chinh phục. Họ tưởng đã đánh bại được người Mỹ thời Johnson trong khi thực ra, người Mỹ không bao giờ muốn đánh đến cùng và người Mỹ đã bị phá hại vì sự bất ổn của lương tâm. Nhưng khi người ta muốn duy trì đế quốc của thế giới thì người ta không nên bận tâm vì lương tâm. Về vấn đề này thì nên hỏi người Nga.

Người Việt cộng sản đã trở thành một dân tộc chinh phục, một dòng tu quân sự Đỏ, xả thân cho chiến tranh và cho sự chinh phục. Ba triệu người chết vì sự kiêu căng.

Và những người lính con nít này!

Tôi đi xen vào với họ. Dân Saigon bắt đầu lại gần, ngạc nhiên vì thấy chưa bị những ngườỉ lính ấy cắn. Ngạc nhiên vì thấy họ còn trẻ quá, tươi cười quá… khi họ có thể vượt qua khỏi sự canh chừng của những người chỉ huy khắc khổ của họ.

Cùng với Coutard, Merlin, Mathurin và Brigitte Friang, với Pouget, Held và F. Dehre, với Dreyfus và Caviglioli, ngoại trừ một bạn đồng nghiệp nổi hứng mang một băng tay màu đỏ và những dấu hiệu của chính phủ Cách mạng Lâm thời, tôi có thể nói rằng tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên vì sự ít tha thiết, hay đúng hơn là sự chịu đựng của nhân dân Saigon. Một vài cái vỗ tay kín đáo, vài bao thuốc lá mà người ta lén đưa cho các anh bộ đội, vài câu hỏi khôn ngoan. Chỉ có thế thôi.

“Họ có gia đình ở Nam Việt Nam không?” Đó là câu hỏi mà người ta thường hỏi những người lính ấy. Đó là một cách hỏi để tìm hiểu về cái chính phủ Cách mạng Lâm thời, là chính phủ đã chính thức chiếm, à xin lỗi, đã giải phóng thành phố, nhưng trong lúc này, chẳng thấy binh lính của chính phủ ấy ở đâu hết.

Đến chiều tối mới thấy những đơn vị miền Nam không nhiều, trang bị tồi, đi thất thểu, đó là những người ở bưng được những người lính vẻ vang của Hà Nội giao cho những nhiệm vụ phụ thuộc. Vì người ta thiếu lính —cho chính phủ Cách mạng Lâm thời nên người tạ đã chế tạo thứ lính ấy.

Tôi đã nói chuyện với những đứa trẻ của Nhân dân Tự vệ là thứ lực lượng xuất hiện những ngày gần đây và đáng lẽ phải giữ gìn trật tự thì lại: đã làm trái lại. Tôi thấy chúng đã biến thành những người bưng biền, mang băng tay đỏ, chiếm đoạt những chiếc xe hơi rồi lái xe thật mau trên những đường phố vắng lẫn lộn vào với những thiếu niên lạc loài khác, những tên du đảng đã lượm trên lề đường một khẩu súng M-16, một súng lục hoặc tiểu liên rồi biến thành quân kháng chiến. Đảng cần có những người kháng chiến gia nhập giờ chót. Do đó, đảng không đòi hỏi nhiều về điều kiện gia nhập. Bất cứ ai cũng có thể gia nhập được.

Người ta cần có bọn trẻ nít ấy để chứng minh lập luận giải phóng Saigon, để một ngày nào đó, người ta có thể xác nhận rằng toàn thể nhân dân Saigon – đó là cái công thức – đã nổi dậy khi quân đội nhân dân Nam đến gần.

Và vì vẻ đó, để cho sự gian dối mang một vẻ có thật đôi chút, người ta để cho lũ trẻ nít ấy làm trò xiệc và bắn nhiều tràng đạn khi nhận kèn inh ỏi chạy xe trên đường phố.

Saigon không được giải phóng, Saigon không nổi dậy, Saigon đã bị quân đội xa lạ từ miền Bắc đến xâm chiếm, trắng trợn vi phạm tất cả các thỏa hiệp ký tại Ba Lê, những đơn vị được trang bị một phần bởi nước Trung Hoa (giờ nầy, nước ấy đang hối tiếc) và được người Nga trang bị rất nhiều (Nga tính chẳng bao lâu nữa sẽ dùng Bắc Việt để chống lại người Tàu) đó là sự thật. Chúng tôi là 120 nhà báo có thể chứng minh được điều ấy. Những người cộng sản biết thế cho nên hai giờ sau đó, đúng 14 giờ, vào lúc diễn hành, bọn chúng chặn chúng tôi ởSaigon bằng cách cắt đứt những đường giây viễn ấn và truyền tin, bằng cách không cho chúng tôi gởi hình ảnh đi ra ngoài. Bọn chúng bắt chúng tôi im lặng để có thời giờ tin ở sự gian dối của chúng.

Quân đội Việt cộng, cái quân đội mà người ta nhồi mãi vào tai chúng tôi rằng đã được huấn luyện bằng súng gỗ trong rừng, cái quân đội ấy đang diễn hành trước mắt chúng tôi. Đó là đoàn xe tăng T-54, T-56 với những máy ngắm bắn ban đêm bằng hồng ngoại tuyên, đó là những thiết vận xa, những xe thám thính gắn đại liên, những pháo đội phòng không, những đại bác nòng dài có xe chạy xích kéo. Và tất cả những xe jeep này, những xe vô tuyến, những đài ra-đa lưu động, và cả rừng ống hỏa tiễn, những súng cối hạng nặng, hàng ngàn xe vận tải chất đầy lính trang bị những súng tiểu liên tân tiến nhất. Từ mọi phía, họ tiến vào thành phố giữa những tiếng gầm thét của động cơ và tiếng xích sắt nghiến đường của các xe chạy xích.

Này anh bộ đội, anh từ pháo thép xe tăng ló ra, đầu anh mang mũ đen, trông giống những người lính thiết giáp Nga đàn áp những cuộc nổi dậy của công nhân tại Bá Linh, Prague và Budapest, anh từ đâu tới đây?

Từ Hà Nội.

Và anh, anh đang lái chiếc xe kéo một khẩu đại bác 130 ly có tầm bắn xa hoặc lái một xe vận tải Molotova, anh ta bố trí khẩu súng phòng không gần dinh tổng thống? Còn anh, anh lính khốn khổ đang đi bộ, một chiếc khăn mặt quấn quanh cổ. Anh từ đâu tới?

Từ Hà Nội. Từ Hà Nội.

Chúng tôi đi tới đại lộ nối liền Chợ Lớn với Saigon. Nơi nào cũng thấy ngổn ngang những xe thiết giáp, xe vận tải và đại bác 105 ly bỏ lại. Trẻ nít lượm súng bắn chơi lên trời hoặc đội mũ sắt cải trang làm lính, có đứa mặc áo giáp hoặc lấy những giây đeo đạn quấn vào mình và giỡn chơi với những trái lựu đạn như chơi với những trái banh. Những người lớn tuổi khôn ngoan hơn, chỉ mở nắp các xe để kiếm những thứ phụ tùng có thể xài được. Nhưng một trăm ngàn lính Nam Việt Nam hôm qua còn bảo vệ Saigon nay biến đâu hết? Quân phục, đồ trang bị của họ vứt ngổn ngang trên lề đường, dưới đường, trong rãnh. Một trăm ngàn người lính mặc đồ lót!

Chiếc tàu chở người tị nạn sáng nay muốn ra khơi đang còn đậu ở bến nhưng người tị nạn đã trốn hết rồi.

Các trạm cảnh sát đã được các ủy ban địa phương chiếm đóng, các uỷ ban này thường gồm những người trẻ tuổi tuy làm ra vẻ nghiêm chỉnh nhưng lại có vẻ như giỡn chơi. Chợ Lớn yên tĩnh. Chưa thấy treo cờ. Người Tàu khôn lắm. Họ tự hỏi xem phải treo cờ Hà Nội cờ đỏ sao vàng hay treo cờ chính phủ Cách mạng Lâm thời. Người Tàu chẳng dại gì treo một thứ cờ để rồi cờ ấy bị thay thế bởi một thứ cờ khác.

Tại Phú Thọ có không khí của một hội chợ. Thẳng thắn cười đùa, và của sự nhẹ nhõm. Mọi người ở khu này đều ra ngoài đường. Để hôi của. Kéo những bao gạo, bột mì, đồ hộp, rượu Whisky, rượu Champagne, những thùng la-de và Coca Cola. Họ vơ vét sạch những cửa hàng mà chủ nhân đã bỏ chạy, ủy ban khu phố gồm vài người trẻ tuổi mang tay đỏ, trang bị súng M-16 gắn mấy bông vại đỏ, tìm cách tạo ra một vẻ gì như là trật tự và ngăn chận việc cướp tất cả những bao gạo lấy được ở một kho hàng.

Trên đường đến trường đua. Một xe tăng Mỹ và một xe tăng Nga đối diện nhau, cả hai cùng bị phá hủy. Hai xe đã bắn nhau rất gần. Cuộc đấu súng kỳ lạ này diễn ra sáng nay. Hai cái xác xe còn bốc khói, ở trong xe, những xác người cháy thành than.

Và đây, xuất hiện những đơn vị bộ binh đầu tiên, từng hàng dài tiến lên trong bộ đồng phục quá rộng. Các anh bộ đội được huấn luyện để mỗi ngày đi được 50 cây số với luôn đồ trang bị. Họ là những con thiêu thân của cuộc chiến này nhưng họ không xẹp.

Tại Tân Sơn Nhất, những xác chết mà chúng tôi nhìn thấy ngày hôm qua vẫn còn đó và bốc lên những mùi hôi thúi. Nhưng những đám cháy đã được dập tắt rồi.

Gần Lăng Cha cả, người che chở và bạn của vua Gia Long, những người chiến sĩ Dù đã đánh trận chót. Họ chiến đấu tới mười một giờ ba mươi, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ cuộc gặp gỡ đau thương với Tướng Minh trở về thuyết phục họ nên bỏ cuộc chiến. Họ đã dùng súng Bazooka tiêu diệt năm xe tăng Nga loại T-54 nặng năm mươi tấn và còn đang bốc cháy. Một chiếc nổ tung với tất cả đạn dược trong xe. Chúng tôi chỉ kịp đậu xe lại để tránh.

Các chiến sĩ Dù không để lại một chút gì, không để lại người chết, những người bị thương, khí giới hoặc đồ trang bị.

Chúng tôi tìm cách vào sân bay. Nhưng sân bay do các anh bộ đội mang vũ khí canh gác và dường như được một người thường phục chỉ huy

Chúng tôi ngỏ lời với người chỉ huy đó. Anh ta nhẹ nhàng giải thích rằng không vào được vì rằng những tên bù nhìn của Mỹ đã đặt mìn tất cả vào sân bay sẽ rất nguy hiểm cho chúng tôi. Nhân dân Việt Nam rất lo lắng giữ an ninh cho các người ngoại quốc. Hắn nói thêm:

– Vài ngày nữa ông trở lại đi.

Thật là một thứ nói dối có hạng. Vì rằng ba giờ sau đó đã có một chuyến bay đầu tiên từ Hà Nội đáp xuống.

Chúng tôi quay lại. Trở lại Saigon giữa tất cả những người lính kia, những người thường dân kia, những người tị nạn kia đang làm cản trở đường đi. Chúng tôi gặp sáu xe tăng Mỹ dàn ra theo đội hình chiến đấu, đại bác chỉa thẳng nhưng đã bị xa đoàn bỏ rơi. Chúng tôi bắt buộc phải lái xe bọc vòng mọi thứ chướng ngại vật: rào cản, những cục xi măng. Không có sự can thiệp của Minh thì người ta đánh nhau lâu và chắc có thương vong.

Tại một ngôi chùa có đám đông đang họp. Vườn của chùa đã trở thành trại tạm trú cho hàng trăm người. Có những người mắc võng, có những người dựng lều, những người khác thì nấu ăn.

Các anh bộ đội hoàn toàn lạc lõng trong sự lưu thông loạn lạc này và dân Saigon có vẻ không biết tới các anh bộ đội. Không thù nghịch. Dường như dân Saigon đã quen với những kẻ mới tới và những kẻ ấy lúc này nhút nhát kín đáo. Chỉ vài giờ sau khi dứt giao tranh, dân Saigon đã coi thường những kẻ mới tới và chế diễu sự quê kệch của những kẻ ấy. Sau biết bao nhiêu kẻ chiếm đóng mới mà dân Saigon phải quen và phải lợi dụng nếu có thể. Các anh bộ đội không thích lối đối xử đó. Họ tưởng sẽ được hoan hô, được choàng vòng hoa chứ không dè bị đối xử tệ như vậy. Dân Saigon thật kỳ lạ, vừa mới sợ hãi rồi lại an tâm ngay đấy! Thấy chưa bật bớ ai, chưa xử bắn ai, lập tức người dân Saigon đã tìm lại được sự vô tâm và đang tự hỏi làm cách nào có thể ‘‘lừa bịp” những kẻ mới tới. Những người dân ấy cũng lo lắng vì rằng có lẽ chẳng kiếm chác được gì nhiều nơi những người lính khốn khổ mang dép kia. Nhưng lần này, dân Saigon lầm rồi. Khi đạo đức dựa trên một chế độ cảnh sát thường trực và khi sự tố cáo lẫn nhau được coi là một nghĩa vụ đối với quốc gia thì đạo đức ấy thắng tội lỗi.

Chúng tôi đi qua Câu lạc bộ thể thao, một trong những nơi quý phái Sài gòn, những nơi đó đã bị chiếm đóng rồi. Tại hội đua ngựa, một bà chủ nhất định đòi xem thẻ hội viên của chúng tôi. Bà ta khăng khăng đòi xem thẻ chúng tôi. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện rồi vượt hàng rào và thấy trong phòng uống rượu toàn thể số nhân viên của hội đang ngồi may cờ Việt cộng.

Vài con ngựa bình thản gặm cỏ tại bãi gần đó, gần một cái chuồng một chàng trẻ đang vỗ về con ngựa.

Tại trường Marie Curie, có treo một tấm bảng. Sau các biến cố này thì kỳ thi vấn đáp phải dời lại tới ngày 3-5.

Cờ bắt đầu xuất hiện trên các cửa sổ. Người ta khâu vội vàng cho nên những lá cờ thay vì hai màu xanh dương và đỏ đã thành xanh lá cây và đỏ.

Những chiếc xe gắn loa phóng thanh chạy khắp ngã đường và đậu tại các ngã tư rồi chuyển đi lời cảnh cáo lập lại nhiều lần bằng giọng nói miền Bắc.

“Các lực lượng của Mặt trận Giải phóng Quốc gia đã làm chủ Sàigòn. Đồng bào đừng lo ngại. Đồng bào sẽ được đối xử tử tế nếu tôn trọng trật tự và kỷ luật.

Dưới trận mưa, một người đàn ông mặc quần lót đang lặng lẽ băng qua đường và cười: đó là một người lính Việt Nam Cộng hòa.

Đài Saigon đã biến thành đài Giải Phóng. Một nữ xướng ngôn viên cho thính giả biết rằng nhiều ngàn người dân Saigon hăng say đang đi diễn hành trên đường Catinat mang những biểu ngữ (chúng tôi đang ở trên con đường này). Có ba bốn kẻ vô nghề nghiệp được một anh cán bộ gom góp lại và anh này đang ra sức gào vào cái loa phát thanh.

Và cô xướng ngôn viên tiếp tục:

“Tất cả đoàn kết để làm cách mạng trong thành phố Hồ Chí Minh, làm vẻ vang cho thành phố ấy vì đã nổi dậy trong cuộc chiến đấu thắng lợi hạ những tên bù nhìn Mỹ và bè lũ ăn lương của Mỹ.”

Một lúc sau đó, đài phát thanh phổ biến mười điểm chương trình của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Mười điểm ấy được áp dụng cho nhân dân Nam Việt Nam:

  1. – Mọi Cơ Cấu hiện hữu phải thi hành chính sách của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Hệ thống cai trị cũ phải được hủy bỏ. Các đảng phái phản động và các tổ chức khác phục vụ đế quốc và những tên bù nhìn đều bị giải tán.

2 – Nam nữ bình đẳng, tự do về lương tâm và tín ngưởng.

3 – Cấm mọi hoạt động gieo rắc chia rẽ, kêu gọi đoàn kết để xây dựng vùng tự do và xây đời mới.

4 – Mọi người được bảo đảm quyền làm việc và có nghĩa vụ ủng hộ cuộc cách mạng.

5 – Tất cả mọi của cải của chính quyền bù nhìn đều do chính phủ Cách mạng Lâm thời quân lý.

6 – Săn sóc trẻ mồ côi và người già yếu là làm bổn phận đối với quốc gia.

7 – Khuyến khích khu vực nông thôn để phát triển sản xuất.

– Các cơ sở văn hóa, nhà thương, trường học do người ngoại quốc quản lý, phải theo đuổi các hoạt động nhằm phục vụ nhân dân. Những tài năng hữu ích cho việc xây dựng xứ sở đều phải được ưu đãi.

8 – Các binh lính đã rời bỏ hàng ngũ địch sẽ được đối xử khoan hồng.

8 – Ngoại trừ những kẻ chống lại cuộc cách mạng và những kẻ ấy sẽ bị trừng trị, những người ngoại quốc và những tài sản của ngoại kiều sẽ được bảo đảm.

Trụ sở Hạ viện trước kia là rạp hát thì bây giờ do các “ủy ban Địa phương” chiếm đóng. Bộ đội thay thế cảnh sát: Biểu ngữ cũ thay bằng biểu ngữ mới. Nhưng trước cửa nhà hàng Continental, vẫn còn biết bao nhiêu hành khất, gái điếm, những kẻ ăn mặc lố lăng, những trẻ đánh giày, những người mối lái, những trẻ nít.

Giới nghiêm. Chúng tôi ăn tối tại khách sạn Caravelle. Từ sân thượng, chúng tôi thấy những kho đạn nổ tung và những cột khói bốc lên từ phía Chợ Lớn.

Từ nay, Saigon mang tên Hồ Chí Minh. Trước cửa kháeh sạn Continental chỉ được treo lá cờ của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Các chủ nhân mới của thành phố đã buộc phải tháo gỡ lá cờ Pháp.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Chương 6

Những người đang ngủ đứng!

Để cầm chân và đánh lạc hướng Quân lực Việt NamCộng Hòa, phía Bắc Việt mở những cuộc tấn công theo lối dương Đông kích Tây. Ngày 22 tháng giêng, một cảnh sát trưởng đạp phải một trái mìn ở gần đồn Nguyễnvăn Quế thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn. Cuộc mưu sát nầy đã làm bị thương 4 người cảnh sát.

Đây là lần đầu tiên từ năm 1972, không khí chiến tranh tràn vô tới Sài Gòn. Phải chăng Việt Cộng lại chuẩn bị phá rối ngày Tết nữa? Tết Việt Nam năm nay bắt đầu từ ngày 11 tháng 2 dương lịch.

Ông Hoàng đức Nhã, người em bà con với ông Thiệu có vẻ lo âu. Bốn tháng nay ông không còn là Tổng trưởng Thông Tin nữa. Đề nghị cuối cùng của ông trong tư cách vừa là tổng Trưởng vừa là cố vấn riêng của ông Thiệu là nên liên lạc thẳng với CPLTCHMN. Mặc dầu ông đã công khai tuyên bố (“4 Không”) nhưng ông Thiệu cũng thấy ý kiến nầy hay hay. Nhưng người Mỹ sẽ nghĩ thế nào về vấn đề nầy? Năm 1963 họ đã loại bỏ ông Diệm bởi vì những người em của ông nầy đã muốn nói chuyện trực tiếp với Hà Nội . Đây là một bài học luôn luôn ám ảnh ông Thiệu.

Nhiều người chỉ trích ông Nhã là đã ngiêng về cánh tả. Nhưng ông nầy nghĩ mình là người thực tế hơn: “Đó là vấn đề “sống còn của Miền Nam chúng ta”. Ông không tin rằng cái gì tốt cho Hoa Kỳ nhất thiết sẽ tốt cho Việt Nam.

Ông Đại sứ Graham Martin đã đòi hỏi và đã loại được ông Nhã ra khỏi nhiệm sở của ông ta nằm ở ngay tầng lầu ba trong Dinh Độc Lập. Người ta gán cho ông Nhã một biệt danh là “một cậu nhỏ chống Mỹ” (nguyên tác: “anti americain kid”) mặc dầu ông đã ba mươi ba tuổi đầu rồi, và ông không bao giờ rút lại lời nói của ông. Tổng Thống Thiệu nghĩ rằng mình có phần nào sai khi nhượng bộ với Đại sứ Hoa Kỳ . Ông đã cho ông Nhã rời khỏi Bộ Thông Tin nhưng vẫn còn tín nhiệm người em của mình. Ông Nhã cố thuyết phục Tổng Thống:

_ “Phải xốc Chánh Phủ của ông Khiêm mạnh lên, ông Thủ Tướng của Anh thiếu hoạt bát. CSVN tấn công Phước Long là để thăm dò hệ thống phòng thủ của chúng ta. Họ muốn xem phản ứng của người Mỹ, và Hoa Kỳ đã không nhúc nhích!”

Ông Thiệu không tin chút nào về chuyện đó. Ông Nhã nói với ông Thiệu như một người em nói với ” ông anh cả”. Lúc ông Thiệu chỉ mới có một đứa con gái, ông xem Nhã như một người con trai hơn là một người em. Khi ông Thiệu là chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia ở Đà Lạt, ông Nhã còn là học sinh nội trú trường Trung học ở đó, nên thường đến chơi với gia đình ông Anh mình. ông Nhã thông thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Sau đó ông qua học bốn năm ở trường đại học Oklahoma trước khi vào đại học Pittsburgh và tốt nghiệp ở đó với bằng kỹ sư. Cũng giống như ông Kissinger và người dân Mỹ thuộc vùng Trung Tây Hoa Kỳ, ông Nhã không có lòng tin đối với những người Mỹ ở vùng bờ biển phía Đông. Có rất ít người Việt Nam hiểu người Mỹ bằng ông Nhã. Ông Nhã cũng đã giải bày cho “ông anh cả” của mình ít nhất 90% những suy tư của mình. Đối với một Tổng Thống, như vậy cũng đã quá nhiều rồi. Đối với người Mỹ, ông Nhã không có một tự ty mặc cảm nào mà trái lại ông có một ý thức tự tôn. Và ông cũng không giữ sự tôn kính đối với người già hay các niên trưởng theo truyền thống của người Việt Nam. Ông ta có đủ mọi thứ để quyến rũ người ta và cũng có đủ mọi thứ để làm phật ý mọi người, tùy theo. So với người Việt Nam bình thường thì ông Nhã có hơi to con với 1 thước 65 bề cao. Với cách ăn mặc thanh lịch và đúng mốt, với sự thông minh và kiến thức nhanh nhẹn, ông Nhã bổ túc và lần lượt gây khó chịu cho các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ. Ông cũng khuyên ông Thiệu nên thay người tham mưu trưởng của mình đi. Lúc ông Martin đến Sài Gòn, một nhân viên ngoại giao có nói với ông Nhã: – “Ông có muốn tôi giới thiệu ông với ông Đại sứ không? ” Ông Nhã thẳng thừng nhấn mạnh: – “Không. Tôi là một Bộ trưởng, Ông Đại sứ phải tự giới thiệu với tôi mới phải chứ !” Ông Martin không bao giờ tha thứ cho ông Nhã về tính yêu nước bồng bột và quá tự tin về nghi thức xã giao của ông nầy. Ông Kissinger và ông Martin đều cho là vì còn quá trẻ tuổi nên ông Nhã chưa có đủ kinh nghiệm. Và ông Nhã không đến đỗi dùng ảnh hưởng của ông trong vấn đề lạm dụng quyền hành . Lối sống của ông cũng khác lạ hơn người ta nữa. Ông lái xe Mustang, Mercedes, và trong phòng khách của ông, ông xây một ống khói cho lò sưởi đốt bằng củi, như của người Mỹ vậy, dĩ nhiên đây là lò sưởi độc nhất ở Sài Gòn. Ông Nhã có một hệ thống tin tức khắp thế giới. Trước khi Hiệp Định Paris được ký, ông ta đã có nhiều đụng chạm dữ dội với ông Kissinger. Ông ta thúc giục ông Thiệu:

_ “Tổng Thống Ford bị trói tay trong lãnh vực tài chánh. Người Mỹ chỉ nói cho Anh những gì mà họ muốn Anh nghe thôi. Tôi nói thật với Anh là chúng ta không thể tin vào ông “Anh Lớn” Hoa Kỳ được”.

Ông Thiệu thở ra và nói:

_ “Chú nói hơi quá. Chú nghiêm khắc quá! Ông Martin bênh vực và ủng hộ chúng ta.” Từ khi tới Sài Gònông Martin đã bảo đảm là sẽ có viện trợ Hoa Kỳ cho Tổng Thống Thiệu, một sự tin tưởng mà ông Thiệu đang cần . Đại sứ Mỹ đã cho lệnh nghiêm nhặt cho các ban ngành trực thuộc phải phá tan mọi âm mưu nhằm làm lung lay hay lật đổ ông Thiệu. Mỗi một hành động đối lập hay chống đối ông Thiệu đều phải được xem là một mầm móng của âm mưu đó. Mệnh lệnh còn đi xa hơn : các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ phải bớt tiếp xúc với cánh đối lập không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam, nhất là với “lực lượng thứ ba” mà lãnh tụ của họ là tướng Dương văn Minh mà người ta thường gọi là ông “Minh Dương” (nguyên tác: “Grand Minh”), (người Mỹ thường gọi là “Big Minh”). Đối với người Mỹ, lực lượng thứ ba nầy có nhiều điểm yếu. Một số cá nhơn hay phe nhóm không đáng kể ở tại Thủ Đô Sài Gònvà một vài tỉnh nào đó, được coi là đại diện cho lực lượng nầy mà qua họ để tìm kiếm được một giải pháp chánh trị nào đó, thật là một điều quá vô ích.

Ngày 24 tháng giêng 9 người Mỹ gồm 6 nam 3 nữ, biểu tình trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Họ mang một biểu ngữ bằng vải: “người Mỹ muốn có hòa bình ở Việt Nam. Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh” . Khách qua đường tò mò nhìn vào nhóm người nầy với một vẻ chế diễu. Báo chí được gọi đến. Họ quay cảnh nầy và phỏng vấn những người tham gia. Và như vậy là các đài NBC, AP, UPI, và báo chí Hoa Kỳ bảo trợ cho hành động nầy. Những người biểu tình đòi “hòa bình” nầy, những người mà Đại sứ Martin ghét nhất, đã vào Sài Gòn với giấy phép nhập cảnh du lịch chỉ có giá trị trong một tuần lễ. Họ phát một số truyền đơn. Một nhiếp ảnh viên ngoại quốc biết chuyện đã cười và nói mỉa mai:

_ “Các tay nầy có dám gan ra tận Hà Nội để làm trò biểu tình như vầy không?

Cảnh sát đến yêu cầu họ giải tán. Họ từ chối. Cảnh sát trưởng không muốn bắt họ một cách công khai, nhất là không muốn sự bắt bớ nầy được truyền hình Mỹ quay phim. Về sau, người ta đến khách sạn mời họ một cách rất có lễ độ, và hộ tống họ ra tận phi trường, đưa lên phi cơ về Bangkok lúc 21 giờ 30.

Ông Martin mừng lắm. Chính tổ chức của Fred Bransman, người đã ở Hà Nội với bà ký giả FritzGerald cách đây mấy ngày, đã đài thọ mọi chi phí cho chuyến du lịch của những tay biểu tình nói trên. Những người “đòi hòa bình” nầy đã thất bại trong việc gặp gỡ và phối hợp với những thành viên của lực lượng thứ ba cùng các phật tử ở Sài Gònđể tổ chức một cuộc biểu tình khác trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ . Ông Martin tin rằng đây là một sự cố ý nhằm gây ra những sự xô xát mà nếu được quay thành phim và phổ biến ở Hoa Kỳ thì bọn “đòi hòa bình” sẽ chứng minh rằng chế độ đàn áp của Sài Gòn không đáng được nhận viện trợ kinh tế và quân sự. Ông Martin rất vừa ý, dù sao thì những người biểu tình nầy cũng là công dân Hoa Kỳ, họ đã được đối xử một cách đàng hoàng và bị trục xuất một cách quá đẹp.

Có những tâm hồn cao thượng, có những kẻ trung gian, thật có giả có, có những con rối… lúc nhúc, hướng về Hoa Thạnh Đốn, ai cũng xác nhận là mình có một giải pháp chánh trị cho Việt Nam.

Ngày 27 tháng giêng, trong căn phòng số 6209 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Robert Miller tiếp ông Trần văn Hữu. Ông Miller là cánh tay phải của ông Kissinger, là phụ tá Tổng trưởng đặc trách về Đông Nam Á và Thái bình Dương Sự Vụ. Ông Trần văn Hữu là cựu Thủ Tướng Miền Nam Việt Nam. Hai mươi năm trước ông đã từng thương nghị về nền độc lập của Việt Nam thành phố Pau (Pháp). Giống như tất cả các cựu Thủ Tướng thời Pháp, ông nào cũng tin rằng mình có có thể lãnh đạo đất nước trong tương lai. Ông Hữu được ông Donald Heath Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 1950 đến 1954 giới thiệu. Tuy nhiên sự giới thiệu nầy không được nặng ký lắm để được đích thân ông Kissinger tiếp kiến. Ông Hữu đã tìm mọi cách vận động trong thời gian ông ở khách sạn Hilton ở New York: ông xác quyết rằng ông là người có thể đứng ra thương nghị giữa hai nước Việt Namquốc gia và cộng sản. Ông viện dẫn rằng ông có sự chấp thuận của ông Thiệu trong việc “dùng tên của cá nhơn mình để đứng ra thương thuyết, chớ không phải dưới danh nghĩa của một nhân viên của Tổng Thống Thiệu, vì Hà Nội “không ưa” ông Tổng Thống nầy”. Ông Hữu còn đoan chắc rằng Hà Nội khuyến khích ông vì lúc nào ông cũng tán đồng cho một viện trợ kinh tế cho Miền Bắc Việt Nam.

Là một người giàu có, và chống cộng, ông chống đối lực lượng thứ ba, mà theo ông chỉ là một loại tổ chức chánh trị đã có trò chơi không minh bạch với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông giải thích với ông Miller rằng ông Thiệu chắc chắn sẽ không bao giờ từ nhiệm để trao quyền lại cho một tướng nào khác, dù đó là ông Khiêm hay ông Minh Dương (nguyên tác: Grand Minh). Trái lại ông Thiệu sẽ ra đi nếu qua thương thuyết ông Hữu đạt được một nền hòa bình có thể chấp nhận được . Lúc bấy giờ ông Thiệu sẽ vui vẻ mà lui ra khỏi chánh trường, vui vẻ vì vẫn còn để lại sau lưng mình hình ảnh của người anh hùng đã từng chiến thắng Bắc Việt năm 1972 , ông Hữu nhấn mạnh: – “Là một tướng lãnh Miền Nam đã đánh bại được người anh hùng Miền Bắc Võ nguyên Giáp năm 1972, ông Thiệu sẽ giữ được tên tuổi của mình trong Lịch Sử”. Trước khi kết thúc buổi tiếp xúc, ông Hữu giới thiệu với ông Miller hai người cộng sự viên: Lê quốc Túy, cựu đại tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Mai văn Hạnh, cựu phi công Quân Đội Pháp, người có hai quốc tịch Pháp và Việt Nam.

Ông Miller tóm tắt quan điểm của Hoa Kỳ với ông Hữu:

_ “Chúng tôi luôn luôn nhắm vào sự thi hành Hiệp Định Paris, chủ trương rằng hai Bên Việt Nam phải cùng nhau bàn bạc về tương lai của Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi luôn luôn tự hứa là phải tiếp tục giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa về phương diện vật chất cho đến khi nào quốc gia nầy thấy còn cần thiết để chống đỡ áp lực quân sự của phía Bắc Việt.”

Sau đó ông Miller thảo một bản tường trình về việc nầy cho ông Kissinger:

_ “Chủ yếu, ông Hữu nghĩ rằng Miền Bắc công nhận là họ không thể chiếm được Miền Nam bằng võ lực. Và họ mong kết thúc bằng một giải pháp chánh trị . Ông Hữu nói ông ta có tất cả lý lẽ để tin rằng Tổng Thống Thiệu sẽ sẵn sàng từ nhiệm để nhường quyền lại cho một người nào có thể thiết lập một nền hòa bình thật sự ở Việt Nam.”

Liên Hiệp Quốc cũng là một trong số những trung gian có máu mặt. Đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc phản kháng, sau khi Bắc Việt chiếm Phước Long. Qua văn thư trả lời ông Tổng thư ký Kurt Waldheim rất lấy làm tiếc và chua chát ghi nhận rằng với tư cách Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông không có một nhiệm vụ gì trong việc soạn thảo và ký kết Hiệp Định Paris. Ông Waldheim tiếc rằng những sự mất mát về nhân mạng là do sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ông không thể làm gì hơn được, ngoài việc chuyển những sự kinh sợ và lo âu của ông đến Chánh Phủ Việt NamDân Chủ Cộng Hòa ở Hà Nội. Và không quên nhắc lại sự kính mến đối với đại diện Hoa Kỳ (theo thông lệ)!

Đối với Việt Nam, dưới trào ông Waldheim, Liên Hiệp Quốc hoàn toàn đứng ngoài cuộc, trong một sự bất lực đáng ghê sợ. quá “tục tỉu” như De Gaulle đã từng nói. (nguyên tác: “machin”)

Như vậy thì Waldheim có hữu ý gì đối với trò chơi của Hà Nội?

Ngày 30 tháng giêng, với sự có mặt của Kissinger và Schlesinger, Tổng Thống Ford tiếp các lãnh tụ Quốc Hội trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Ông phải vận động với lưỡng viện Quốc Hội để họ có thể chấp nhận đơn xin ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Các nghị sĩ và dân biểu đang canh chừng Trung Đông. Theo thuyết của ông Kissinger, ông Ford giải thích rằng trong việc thi hành chủ nghĩa quốc tế của mình Hoa Kỳ không thể chỉ chú trọng đến mỗi một vùng Trung Đông vì đó mới chỉ là một điểm trên bản đồ của thế giới mà thôi Như vậy Hoa Kỳ sẽ tự phơi bày chủ nghĩa phân biệt của mình ở chỗ khác, như Việt Nam chẳng hạn.

Các lãnh tụ có nghe mà không có cam kết gì hết.

Tại Thượng Viện và Hạ Viện, không khí có hơi mát. Nhưng ông Ford không lấy làm ngạc nhiên khi nghị sĩ dân chủ Edward Kennedy đổ tội cho Chánh Phủ là “dậm chân tại chỗ” trên địa hạt ngoại giao. Phía chánh trị gia dân chủ, đối thủ vẫn còn là đối thủ. Tổng Thống Ford và những người của ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghị sĩ Henry Jackson, đưa ra một lời tuyên bố công khai, hoàn toàn đối với chủ nghĩa chống cộng:

_ “Hoa Kỳ phải chấm dứt cuộc chiến nầy”

Bộ máy lập pháp nặng nề và chính xác của Hoa Kỳ đang chạy. Ngày 30 tháng giêng nầy người ta triệu tập các thành viên thuộc Ủy Ban Phân Phối Ngân Khoản . Một cuộc họp quan trọng của các ủy ban và tiểu ban thuộc Thượng Viện và Hạ Viện. Hạ Viện vẫn giữ độc quyền trình bày những luật lệ về tài chánh. Nặng nề và rất thận trọng, trong một khung cảnh oai nghiêm, các tiểu ban đưa ra những câu hỏi chất vấn các viên chức cao cấp của Chánh Phủ. Tiểu Ban “Phân Phối Ngân Khoản” nghe nhiều nhân chứng. trong đó có Eric von Marbod, cộng sự viên của Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng, đặc trách về tiếp vận.

Ông Von Marbod xác nhận rằng: Ngũ Giác Đài dự kiến một cuộc tấn công của cộng sản trong sáu tháng sắp tới.

Tướng A. Graham, trưởng Phòng Tin Tức Tình Báo của Ngũ Giác Đài xác nhận rằng: ” – “Chúng tôi không nghĩ rằng Hà Nội mưu toan đạt được chiến thắng toàn bộ trong những tháng sấp tới. Chúng tôi dự kiến là quân đội của Miền Nam sẽ gặp nhiều khó khăn quan trọng. Chúng tôi đang chờ đợi những cuộc tấn công trong vùng Kontum và Pleiku”.

KonTum và Pleiku, chính là vùng mà Bộ Tham Mưu Bắc Việt đã quyết định là “không tấn công”.

Tất cả những sứ quán cộng sản ở Hoa Thạnh Đốn đều theo dõi các cuộc điều trần ở Quốc Hội. Họ có cả những biên bản khi những cuộc điều trần nầy được diễn ra công khai và khi họp kín thì những tiết lộ sẽ làm thỏa mãn những kẽ tò mò muốn tìm hiểu. Như vậy là Hà Nội được báo trước ngay sau đó. Một xã hội (quá) cởi mở không có gì còn là bí mật hết, ngay ở cấp quyết định tối hậu cũng vậy. Ở Hoa Kỳ gần như không thể giữ kín được bất cứ một hành động bí mật nào, cho dù đó là một hành động có tầm mức quan trọng . Lời khai của các nhân chứng Graham và Von Marbod không có gì mâu thuẫn quan trọng với nhau hết: một cuộc tấn công có thể không nhắm vào chiến thắng cuối cùng. Tuy nhiên, những nhân chứng nầy gây bối rối cho các vị dân cử, đại diện cho dân chúng Hoa Kỳ . Dân biểu Robert Gialmo (dân chủ) của tiểu bang Connecticut nói:

_ “Những con số về tương quan lực lượng mà quý vị cung cấp cho chúng tôi cho thấy là quân số Miền Nam cao hơn quân số Bắc Việt ở trong Nam Bộ”

Từ 10 năm nay, câu hỏi về quân số của hai Bên Nam Bắc Việt Nam thật khó có thể ước tính được . Phải biết phân biệt giữa chánh quy và không chánh quy, giữa việt cộng của CPLTCHMN và lực lượng bảo an của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford vừa nói rằng hiện tại 298.000 bộ đội Bắc Việt đang có mặt ở chiến trường Miền Nam . Ở Hoa Thạnh Đốn với sổ sách trong tay, người ta quả quyết là quân đội chánh quy thuộc QLVNCH và lực lượng bảo an, dân vệ là 1.300.000 người. Như vậy, phải nghiêm chỉnh xét lại xem cán cân lực lượng sẽ ngiêng về bên nào? Đó là ý nghĩ của các vị đại diện dân ở Quốc Hội. Tướng Graham biết rõ là QLVNCH không có được tới 500.000 người thực sự là quân số hành quân hay tác chiến. Quân đội nầy được tổ chức rập khuôn theo kiểu Hoa Kỳ: cứ mỗi người lính trong đơn vị tác chiến thì người ta phải có 5, 10, hay đôi khi 20 ở hậu cứ, trong những kho, trong các Bộ Tham Mưu hay ở các căn cứ không quân. Thú nhận việc nầy là sẽ đặt lại cả vấn đề chánh trị quân sự của Hoa Kỳ từ bao nhiêu thời gian lâu nay rồi.

Vấn đề không phải là giải thích sự yếu kém thuộc về cơ cấu tổ chức của Quân Lực Việt NamCộng Hòa, mà phải chỉ cho người ta thấy được những thuận lợi giúp cho bộ đội Miền Bắc có thêm sức mạnh. Tướng Graham bèn xoay qua đường mòn Hồ chí Minh:

_ “Giờ đây, một phần quan trọng của con đường nầy đã được tráng nhựa. Trước kia lực lượng tăng viện của Bắc Việt phải mất 70 ngày đi bộ mới vào được chiến trường Nam Bộ. Bây giờ họ chỉ mất có 3 tuần lễ . Thời gian nầy họ vượt phần lớn các đoạn đường bằng xe vận tải.”

Ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng ngoại giao đặc trách Đông Nam Á Sự Vụ cũng ra điều trần trước Ủy Ban. Ông là một trong những phụ tá của Kissinger ở Paris. Ông Gialmo hỏi:

_ “Trên phương diện pháp lý Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải tiếp tục võ trang cho Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hỏi xong ông Giamo lại tự mình trả lời luôn cho câu hỏi của mình:

_ “Có nghĩa vụ tinh thần, mà không có nghĩa vụ pháp lý”

Ông Habib rất hân hoan: – Đó là một thể thức rất tốt, rất chính xác.! “ Và cuộc điều trần vẫn tiếp tục…..

Có lẽ đây là một sự khéo phối hợp đúng lúc: ông Thiệu thấy được nghệ thuật xử dụng truyền thông mà ông Nhã đã chỉ cho ông, nên ông đã cho tờ Washington Post phỏng vấn. Tờ nhật báo nầy là một tờ báo rất có ảnh hưởng ngay tại thủ đô Hoa Kỳ. Tổng Thống Thiệu không nghĩ rằng Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh của họ. Tuy nhiên ông cũng phải dự trù trường hợp xấu nhất, ông tuyên bố:

_ “Nếu Hoa Kỳ bỏ rơi Sài Gòn thì Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu”

Nhưng thật ra đây là một thất sách. Ông Thiệu lẽ ra phải tuyên bố là:

_ “nếu không có được một viện trợ tài chánh nào thì quân dân Việt Nam Cộng Hòa đành phải chịu buông súng bỏ cuộc thôi!”

Đằng nầy ông Thiệu đã vô tình cho thấy là nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ thì Sài Gòn vẫn có thể tiếp tục chiến đấu. Cuộc phỏng vấn chẳng những đã trở thành vô hiệu mà còn có hiệu quả ngược lại!

Để chứng minh quyết tâm của mình, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố là không cho giải ngũ nữa. Các binh sĩ sẽ không được rời khỏi quân đội trước 38 tuổi, hạ sĩ quan không trước 42 tuổi và sĩ quan cấp úy không trước 45 tuổi. Để nói lên tinh thần chiến đấu của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa Tòa Đại Sứ Việt Nam. Ở Hoa Thạnh Đốn bèn thông báo cho lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ . Do đó mà có một số dân cử trong Quốc Hội đã nói với nhau:

_ “Cuối cùng rồi thì người Việt Namcủa “chúng ta” cũng có thể xoay trở để tự lo liệu lấy” (nguyên tác: nos Vietnamiens với chữ nos nghiêng)

Tình cờ, Quốc Hội Mỹ ngẫu nhiên chú ý tới vùng Đông Nam Á, các đại biểu lại nhìn thấy tình hình ở Cam Bốt có vẻ nghiêm trọng. Chỉ cần theo dõi tin tức trên truyền hình cũng xác định được tình thế.

Nếu Quốc Hội Hoa Kỳ có thật tâm muốn nhận định tình hình ở Việt Nam năm 1975 có nghiêm trọng hay không, thì chỉ cần xem một vài hình ảnh đánh nhau trên hệ thống truyền hình cũng đủ rồi, nhưng rất tiếc là trận đánh Phước Long chẳng có được nhiêu phim ảnh!

_Lực lượng Khmer Đỏ chiếm 80 % lãnh thổ, bắn rốc kết vào Phnom Penh. Sài Gòn chưa có gì đến đổi như vậy.

_Quân số mỗi tiểu đoàn Cam Bốt từ 300 hao hụt chỉ còn 100 người. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có tan rã như vậy

_Trên sông Cửu Long (địa phận Cam Bốt), Khmer Đỏ bắn chìm tàu dầu. Chiếc tàu dầu cuối cùng đến được Phnom Penh ngày 23 tháng giêng. Con sông Mekong (địa phận Việt Nam) vẫn còn lưu thông tốt.

Đường dây duy nhất nối liền thủ đô Cam Bốt với thế giới bên ngoài là cây cầu không vận. Tại Hoa Thạnh Đốn vào một buỗi trưa mát trời, ông Douglas Pike, một chuyên viên về Việt Nam, tác giả của một quyển sách nói về Việt Cộng, lững thững rảo bước trên con đường Mall, một con đường mà hai bên có các viện bảo tàng, có các đài kỹ niệm, và các Bộ của Chánh Phủ. Ông Pike là một chuyên viên thầm lặng, nên luôn luôn từ chối không muốn dính líu về tình cảm đến chuyện Việt Nam. Ngay như lúc ông còn làm việc ở Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn cũng vậy. Trong trận tấn công của Việt Cộng hồi Tết Mậu Thân – lúc nước Việt Nam đang trong cảnh máu lửa- bạn bè khách khứa của ông Pike lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông bình tỉnh xếp loại các con tem trong bộ sưu tầm của ông và nói rằng: “Phải biết chờ.. rồi mọi việc cũng sẽ qua đi…” Cùng tản bộ với ông, có ông Sam Burger, một cựu nhân viên của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Hai người vừa mới tham gia một hội đồng giám khảo của trường đại học. Một đại tá đã trình luận án tiến sĩ: “Không có Hoa Kỳ quân dân Miền Nam có giữ được đất nước mình hay không ?” Ông đại tá nầy có vẻ lạc quan. Hai vị giám khảo thì không quá lạc quan như vậy. Trên đường về Bộ Ngoại Giao, ông Sam Burger nói nhỏ với ông Pike:

_ “Xem chừng như hết rồi phải không?

Hơi trầm ngâm, ông Pike đi được 10 bước mới trả lời:

_ “Đúng vậy, Hết rồi!

Ông Pike chưa cần phải suy nghĩ là đã tin chắc như vậy rồi! Ông lại nghĩ miên man: Tôi lại kể chuyện gì nữa đây? ông không thể tự nói với mình là “Miền Nam Việt Nam có thể sống còn…”

Trong giới công chức ở đây, những người như hai ông Pike và Burger quá hiếm…. Chung quanh ông Kissinger, người ta đang bị Trung Đông ám ảnh.

“Không có gì nguy hiểm bằng tình hình ở Trung Đông”

Ông Kissinger xác nhận như vậy. Ông ta muốn đạt được một Thỏa Ước về sa mạc Sianai. Tổng Thống Sadate của Á Rạp dường như dễ dãi hơn Thủ Tướng Do Thái Rabin. Ông nầy chỉ có một đa số mong manh ở Quốc Hội nên không mạnh tay trong hành động. Còn ông Kissinger thì theo dõi những uẩn khúc chánh trị trong nội bộ của Do thái nhiều hơn là của Miền Nam Việt Nam. Ông ta đang chuẩn bị cho một chuyến đi 10 ngày qua Trung Đông vào tháng hai. Ông muốn đạt được một thỏa thuận với người Do Thái là họ phải lui về 50 cây số ở Sinai. Trong cuộc vận động nầy, qua các tài liệu ngoại giao hay qua nghiên cứu trên bản đồ, các công chức cao cấp đã tốn rất nhiều thì giờ cho đèo Mitla trong sa mạc Sinai hơn là đèo Ải Vân ở Đà Nẵng.

Ở Hoa Thạnh Đốn, có rất ít người có trách nhiệm hình dung được là Bắc Việt sấp sửa tiến quân hằng trăm cây số đến vùng Cao Nguyên. Toàn là những người làm việc ở văn phòng nên họ thiếu óc tưởng tượng.

Ở Bruxelles (Bĩ) ông Đại sứ Nguyễn phú Đức của Việt Nam Cộng Hòa đến thăm tướng Alexander Haig, Tổng Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh Khối Bắc Đại Tây Dương. Ông Thiệu không thích Kissinger nhưng giữ kỷ niệm tốt với tướng Haig. Năm 1972, ở Nhà Trắng, dưới trào Tổng Thống Nixon, tướng Haig đã có thảo luận về Hiệp Định Paris với ông Thiệu. Ông Haig cũng có ép ông Thiệu ký vào Hiệp Định, nhưng rất là nhã nhặn và lịch sự. Giữa quân nhân với nhau, họ dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Tướng Haig hứa với ông Nguyễn phú Đức là ông sẽ đích thân can thiệp với Tổng Thống Gerald Ford.

Từ tướng Marshall đến tướng Eisenhover, người ta chưa từng chứng kiến một sự thăng cấp nhanh như trường hợp của tướng Haig. Chỉ trong vòng có bốn năm, từ cấp đại tá ông ta nhảy vọt lên cấp đại tướng bốn sao. Ở tuổi 50, ông giữ một nhiệm vụ đầy uy quyền ở Âu Châu. Ông sớm hiểu được là muốn thành công trong binh nghiệp thì cần phải có nhiều quan hệ tốt với giới chánh trị. Sỹ quan cấp tướng cần phải chứng tỏ mình có đầy đủ năng lực về chánh trị cũng như về chiến lược quân sự. Tướng Haig đã tốt nghiệp về khoa “bang giao quốc tế” ở Đại Học Hoa Thạnh Đốn . Ông đã từng chiến đấu ở Việt Nam, là Tổng Tư Lệnh của Khối Bắc Đại Tây Dương, qua vài phản ứng của các thủ đô Âu Châu tướng Haig biết rõ là người ta đang đánh giá về lòng tin của họ đối với Hoa Kỳ . Ông biết rằng Lịch Sử tạo anh hùng, và nhiều người như

Nixon, hay Kissinger cũng có thể tạo ra thời thế. Nhưng liệu ông Ford có cơ may nào nắm bắt được thời cơ hay không?

Đến Hoa Thạnh Đốn, ông bàng hoàng thấy không khí chánh trị có vẻ lộn xộn quá. Muốn đánh mạnh vào dư luận quần chúng, ông nghĩ có lẽ ông phải xin từ nhiệm. Người ta tiếp ông ở Nhà Trắng. Thông thường thì ông có tật hay dùng tiếng lóng, nói dài dòng, và thích dùng những danh từ trừu tượng bóng gió hơn là nói thẳng như người Anh, nhưng lần nầy quá cảm xúc, ông nói thẳng với ông Ford, rất là dản dị và dể hiểu:

_Thưa Tổng Thống, ông phải cho tái oanh tạc, dù Quốc Hội có từ chối.”

_Ồ, tôi không làm được việc đó đâu. Cả nước đã chán ghét chiến tranh lắm rồi! Ông Ford nói.

Tướng Haig lại nhấn mạnh là ông Ford cần phải gởi pháo đài bay B 52 đến đó ngay. Đúng theo nguyên tắc và cũng đúng theo quyền lợi của cá nhân ông! Nếu không thì ông sẽ không được tái bầu lại đâu, tướng Haig xác nhận như vậy:

_Ông phải chứng tỏ quyền lãnh đạo của mình ngay bây giờ đây, trước khi nó quá muộn.

Ông Ford có vẻ quan tâm nhưng vẫn không bị lay chuyển. Các nhân viên thân cận như Ron Nessen và Donald Rumsfeld an ủi ông:

_Ông Haig không nắm vững được tình hình thực tế ở Hoa Thạnh Đốn. Trong những ngày nầy, ông có phản ứng của một quân nhân chớ không phải của một chánh trị gia.

Và họ bồi thêm một phát súng ân huệ nữa:

_ “Dưới trào ông Nixon, tướng Haig thường có nhiều cuộc hành quân bí mật và làm mất hòa khí giữa Quốc Hội và Nhà Trắng.”

Ông Ford phải giữ đúng vị trí của một Tổng Thống pháp định, để không còn ai nhớ đến các cuộc dội bom bí mật xuống Cam Bốt của ông Nixon.

Hơn nữa, theo ước tính của những công chức của Nhà Trắng, thì sẽ không có cuộc tấn công nào của Bắc Việt trước năm 1976.

Đúng là những người đang “ngủ đứng”!

Cái quần

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Trời chiều nhọ mặt người. Khi đôi mắt già nua không còn nhìn rõ lỗ mọt ở cái ruột xe đạp khách đưa vá nữa.

Chúng tôi dẹp hàng. Nói là cửa hàng xe đạp thì hơi quá, một trạm hay một điểm sửa xe thô sơ dọc đường thì đúng hơn. Chúng tôi, tôi và người bạn già, ngang nhiên chiếm một khoảng lòng lề đường để hành nghề sửa xe đạp kiếm chác qua ngày.

Tôi cũng như anh bạn đều không phải thợ chuyên nghiệp. Chúng tôi là những tay ngang, đói đầu gối phải bò, bỗng nhiên một ngày nào đó thấy mình trở thành thợ, kiếm ra đồng tiền nuôi sống bản thân bằng chính mồ hôi, sức lao động chân chính của mình. Điếu đó đủ mãn nguyện rồi.

Tôi không phải người đầu tiên hành nghề ở chỗ này, chính anh bạn già của tôi, cũng là bạn cải tạo ngày nào.

Anh đã ngồi một mình ở lề đường một thời gian dài rồi tôi mới vô tình ngang qua. Chúng tôi tay bắt mặt mừng, ngồi với nhau, uống với nhau ly nước, hút điếu thuốc lào, hàn huyên kỷ niệm tù cải tạo. Khi biết tôi vẫn thất nghiệp, không nhà cửa, không gia đình, không hộ khẩu, nghèo kiết xác anh đề nghị tôi hợp tác với anh.

Đúng khi đó có người đến bơm xe đạp, tôi ra bơm thay bạn, nhận tiền khách đưa anh. Anh đề nghị:

– Bây giờ cậu ở đây sửa xe với tôi, đừng ngại, rồi nghề dạy nghề thôi, chúng ta cùng chia nhau mà sống. Chịu không nào? Chịu quá đi thôi. Từ ngày ấy, tôi trở thành anh thợ phụ, có thể thay anh trong những lúc anh phải vắng mặt. Buổi trưa tôi có cơm ăn, dù đạm bạc và không no lắm, đủ cho thể lực cầm được cái kìm vặn con bù loong. Buổi sáng là ly cà phê đen hạng bét, bảnh thì thêm điếu thuốc lá làm thơm râu, nếu không, điếu thuốc lào cũng xong thôi. Tôi được cái nết chịu thương chịu khó, thật thà như đếm nên bạn thương quí. Chập tối như bây giờ, bạn già gom những đồng tiền kiếm được suốt ngày, đếm chia cho tôi một phần ba số tiền đó.

Rất sòng phẳng, nhưng tôi vẫn thấy nét áy náy trong mắt anh:

– Đáng nhẽ tớ phải chia đôi với cậu, nhưng vì tớ còn phải nuôi mẹ tớ và thằng cu, cậu chỉ có một thân một mình, thông cảm nhé!

Tôi cười, nghĩ thật nhanh, thời buổi này trên đời dễ gì đã có người tốt với mình. Tôi có máu quân tử Tàu, bạn bè cần phải gìn vàng giữ ngọc cho nhau, bèn làm mặt giận, nói dỗi:

– Biết rồi, khổ lắm nói mãi! Mai mà cụ còn phát ngôn cái kiểu ấy là tôi bỏ cụ cô đơn, tôi lại đi bụi…

Nụ cười của người bạn hiền lành, anh dẹp đồ chất lên xe đạp, dặn với tôi:

– Mai nhớ đến sớm, mình kiếm tiền uống cà phê.

Tôi khoác túi lên vai, lững thững quay đi. Tất cả cơ nghiệp tôi trong cái túi này. Một bộ quần áo cải tạo tương đối lành lặn, hai chiếc quần đùi, một đang mặc, một để “sơ cua”, khăn mặt rách ngang ngửa cái giẻ lau nhà, kem và bàn chải cùn đánh răng mang nhãn hiệu Cà Là Mèng, một cái ca nhựa mẻ miệng, một cái ve

đựng đúng một xị rượu, một miếng ni lông nham nhở thay chiếu, một cái mền rách bươm mà ấm áp vì đụp vá lia chia.

Tôi có thể nằm ngủ ở bất cứ lề đường, hàng hiên nào, đúng cảnh màn trời chiếu đất mà chẳng sợ trộm cắp.

Còn có gì đáng giá đâu mà sợ mất. Tôi, một người vô sản chân chính sống trong “thành phố mang tên Bác”. Tôi mở to mắt nhìn thành phố ban đêm, ánh sáng chan hòa khắp nơi. Những công viên, những cửa hàng ăn uống, những xe cộ đời cũ được tân trang đẹp đẽ nối đuôi nhau, những lời ca tiếng hát rộn lên từ những quán cà phê, quán bia ôm. Thành phố thời gian này đang ở cuối thời điểm đỉnh cao của bao cấp, sửa soạn đổi mới, rập rình mở cưa bước sang kinh tế thị trường.

Tôi giống như một hạt bụi lãng đãng bay trong cảnh thanh bình. Tôi bay theo một anh bạn bán kẹo kéo, quần áo xanh đỏ “mô đen” chợ trời, nơi bán toàn những tàn dư Mỹ Ngụy, chiếc xe đạp chở quầy kẹo kéo có máy cát sét phát luồng âm nhạc chói tai. Hình như điệu nhạc Lămbađa thì phải, đèn âm thanh chớp chớp nháy nháy xanh đỏ. Tôi bay theo cặp nhân ảnh vào công viên lén nghe những lời tỏ tình lãng nhách nhạt phèo. Tôi bay theo những vị giám đốc đầy quyền uy khạc ra lửa mửa ra tiền vào nhà hàng uống bia lon, nhậu đặc sản rắn chuột, có người đẹp son phấn phục vụ hẩu hạ đến nơi dện chốn. Hạt bụi tôi vật vờ lãng đãng dạo chơi khắp chốn khắp nơi như hồn ma quên siêu thoát.

Cuối cùng thì hạt bụi tôi đậu lại một quán cóc quen thuộc của bà già trầu mắt toét ngồi sau cái bàn bầy lổn nhổn nghêu sò ốc hến và những con khô đủ loại. Cái lò than nhỏ xíu bốc mùi thơm con khô đang nướng. Cái bàn nhỏ gần đó có mấy anh em vô sản ngồi nhậu la hét chẳng văn hóa tí nào: “Dô! Dô! Trăm phần trăm”, chén tình chén nghĩa. Tôi đưa cái ve không cho bà chủ quán, khi bà ta đang đập chí chát con khô cá thiều trên cục đá:

– Đế nếp Gò Đen nhé! Trăm bạc đậu phong đưa cay.

– Một xị thôi hả chú?

Bà già hỏi tôi câu thường lệ, tôi chẳng buồn trả lời Cái ve của tôi cũng chẳng thể đựng được hai xị. Có một cơn gió mát nào đó vừa thổi đến, cơn gió lành lạnh hơi nước. à, thì ra trời sắp mưa. Một tia chớp nháy lên ở cuối trời.

Cầm xị rượu và gói đậu phong mà tôi thấy sảng khoái. Tôi sẽ đỡ chán đời, rồi ngày mai ra sao thì hãy hay. Tôi giống như một đứa trẻ ăn tham, phải tìm một xó xỉnh kín đáo, riêng biệt để chẳng ai làm phiền mình. Rượu dứt khoát tôi phải uống một mình. Cha mẹ ơi? Những lúc ấy tôi lại thích làm thơ, nếu nhớ không lầm tôi cũng có tí ti tâm hồn thơ, nhưng nhiều năm rồi tôi vẫn không răn được một câu nào ra hồn, đành phải đọc thơ người khác vậy, mà chỉ nhớ lõm bõm. Rồi thời gian cũng qua đi.

Tôi trở về nơi quen thuộc, nơi đó một mình tôi một cõi, không một tên ă n mày, đui què mẻ sứt, một tay bụi đời chán đời hành nghề nhặt bao ny lông. Tôi dừng bước giang hồ dưới hàng hiên một cửa hàng thương nghiệp lớn nào đó, tôi chẳng cần biết, chẳng thèm để ý đến bảng hiệu nó mang tên gì. Tôi trải tấm ny lông, vậy là thành cái chiếu. Cái túi xách để lên đầu làm gối, cái mền vá chằng vá đụp chống được muỗi mòng.

Phía bên kia đường lại đông đảo rộn rịp. ớ đó là một mái hiên rộng, dài nếu tôi nhớ không lầm thì nơi đó là cửa hàng ăn uống La Pagode xưa kia, nơi các anh nhà báo thường ngồi trao đổi tin tức cho nhau, mà họ dịch nôm ra là quán Cái Chùa. Nay tên La Pagode không còn nữa. Những khách hàng xưa đã biến, như biến khỏi thế gian. Có một sự liên kết bất thành văn, hay hẹn ước bằng mồm, người về trước hay sau đều giữ “nhà” cho nhau, không cho bất cứ kẻ “lạ mặt” nào chiếm “nhà” của hàng xóm mình. Cái đó gọi là tình làng nghĩa xóm cửa tầng lớp người ở đáy tận cùng xã hội.

Cho dù tôi ở bên này đường, chưa bao giờ liên hệ với họ. Từ khi tôi đến ngủ, cho tới nay, chưa có ai xí chỗ của tôi, dù ban đêm nhiều khi tôi về muộn. Một luật hè phố cho những khách bụi đời, trong đó có tôi. Tôi có tính xấu ít ai chịu nổi, khi uống rượu là rống lên đọc thơ. Tôi nói là đọc thơ, chứ không phải ngâm thơ, có rống lên thì cũng tiếng được tiếng không, tiếng còn tiếng mất.

Ba bài thơ tôi thường rống lên là bài Hồ Trường, Tây Tiến, Hành Phương Nam, đôi khi bài Tống Biệt Hành mà tôi quên tiệt tên tác giả. Tôi cảm khái lố lăng đến độ tưởng mình là hiệp sĩ, kiếm sĩ, hay cái con khỉ khô gì của thuở xa xưa.

” Vỗ gươm mà hát… nghiêng bầu mà hỏi… Trời đất mênh mang ai người tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường… ý… a… “

Thối không chê được, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh tôi mới nhận ra điều ấy. Khốn nạn thân tôi, một thằng già keo bẩn, rượu chỉ uống một mình mà chỉ có một xị, lấy đâu ra vò ra hồ trường để mời khách thập phương. Chẳng ai thèm để ý đến làm gì.

Biên giới của sự sống là cái chết. một bậc hiền nhân chán đời nào đã nói như thế. Tôi thấy có lý. Cái thân khốn khổ của tôi sống muốn không nổi nữa thì chết có nhằm nhỏ gì. Nhưng còn ở lại thế gian ngày nào tôi vẫn phải sống cho ra trò. Tuy cái miệng tôi có láo lếu như ng tôi tự biết mình là người hiền, nên sẽ được hưởng phúc.

Tôi vẫn nghĩ đến một đêm nào, một làn gió độc vô anh dạo chơi, trúng ngay tôi, thế là ngủ luôn giấc ngàn thu, hồn phiêu diêu miền cực lạc, hoặc Chúa đứng ở cửa Thiên Đàng vẫy gọi, thế là tôi bèn trút bỏ cái thân xác thối tha cho cát bụi lại trở về với cát bụi…

Tôi tợp một miếng đế cười khà khà, ném hạt đậu phọng vào miệng đưa cay. Bữa cơm chiều của tôi có thế. Trời bây giờ mới lất phất mưa. Tôi nhìn sang bên kia đường, nghiêng người hàng xóm của tôi lác đác tụ về.

Qua màn mưa, tôi vẫn quan sát được họ: ông già cô đơn nằm cuối hàng hiên, gia đinh mẹ mìn nằm kế, có anh chồng đui què mẻ sứt. Tôi nghĩ gia đình ấy hành nghề mẹ mìn vì có cả “cô lếch xông” con nít san sát tuổi nhau, mỗi sáng tôi thấy có người tới lãnh đi suốt ngày, tối trả về cho chị ta, tiền thuê mướn sòng phẳng, đôi khi còn kèm theo quà cáp. Tối, chị điểm danh con, đếm như đếm vịt. Tối nay tôi nghe chị la lên:

– Còn đứa vắt chân lên cổ nữa, sao giờ này nó chưa trả tao? Trời ơi, muộn chút nữa là nó phải trả thêm tôi hai ngàn, không thì tôi…

Anh chồng chột mắt, cụt giò đang gầy bếp lửa nấu nướng chi đó, gắt lên:

– Làm chi mà ồn vậy, con nhỏ mới ra nghề nhưng coi bộ cũng đàng “giàng”, mày thiệt… Chị vợ lồng lên với cơn ghen, chửi chồng không thiếu một câu tục tĩu nào. Đổ thừa cho thằng chồng mê con ăn mày mới. Anh chồng cho con vợ lắm mồm một cái bạt tai, xàng luôn một cây nạng gỗ, rồi mọi chuyện êm ru. Anh chồng uống rượu, cuối cùng chui vào chiếu làm gì lục đục trong đó (tôi không biết). Dăm phút sau anh ta chui ra chửi thề một câu:

– Lần này mà mày không đẻ thêm đứa nữa thì chết mẹ với tao nghen. Nhớ lúc nào cũng phải khai là mới sanh lần đầu, đừng quờ quạng khai đã sanh nhiều lần, nó đè ra đoạn sản là mất giống. Tao sẽ bỏ mày, tao lấy con khác liền một khi. Đ.M coi đứa nào hận đứa nào.

Mụ mẹ mìn nằm trong chiếu, thò đầu ra quác lên:

– Giỏi thì vô đây thằng đui què kia, đừng đổ thừa tao, tưởng bảnh hả?

Cùng lúc đó chị ăn mày bế thằng bé vắt chân lên cổ về. Chị ta moi tiền ra trả, nhưng mụ mẹ mìn không chịu:

– Đâu được mày, giờ này mày mới đưa con tao về dễ gì… Đưa thêm tao, chớ không mai mày đi mướn chỗ khác nghen…

– Thì em đưa thêm chị một ngàn rồi.

Anh chồng tật nguyền đĩnh đạc ra vẻ một đàn anh đầu nậu chủ gia đình:

– Đâu được, tao không binh vợ, nhưng bà ấy nói có lý. Vì thương mày mới ra nghề, vợ chồng tao giao “cục vàng ” cho mày. Mày phải biết làm cái chân nó vắt lên cổ nghệ thuật được như thế không phải dễ. Tao mất bao nhiêu công phu uốn nắn còn hơn mấy cha nghệ nhân uốn cây kiểng. Khai đi, khai thiệt đi, mày trúng mánh ở “tác phẩm” này phải không? Biết điều mai tao lại cho bế cây vàng của tao đi nữa, còn không thì biến đi nghe mậy.

Con ăn mày mới lưỡng lự:

– Em có trúng mánh, nhưng không nhiều nhặn gì, thằng nhỏ và em có được đĩa thịt bò lúc lắc thừa, chút xíu tiền bố thí mà. Thằng què la lên:

– Ở đâu? Ai?

– Dạ nhà hàng nổi ngoài bờ sông!

– Việt kiều hay du khách nước ngoài?

– Hổng biết nữa, họ đều là người…

– Thôi mày ơi, đúng là Việt kiều rồi, mày trúng mánh rồi, đưa đây, đưa thêm cho tao vài đô thôi.

– Anh chị xử ép em quá, nhưng thôi cũng được, anh chị lên giá “goài” thì em cũng chết. Bộ dễ gì, em cũng phải “ca” chớ bộ…

Thằng què cười hô hố, nhét tiền vào cạp quần, hỏi tiếp:

– Mày ca sao, có thảm không, nói nghe coi!

– Dạ, em ca thằng bé bị “chất độc màu da cam” nên chân nó vắt lên cổ.

Bên này đường, tôi cười bò lăn bò càng. Đến bây giờ nhớ lại, tôi còn cười. Tôi nghĩ ngay đến bài hát gì đó có câu chất độc màu da cam mà tôi không nhớ hết nội dung. Quả thật con nhỏ ăn mày là thiên tài, có đấu óc sáng tạo.

Cuối hàng hiên bên kia đường, chỗ khuất nhất, bóng đèn đường chỉ rọi tới lờ mờ là “nhà” của em. Nhưng tới giờ này em chưa về.

Tôi vốn là kẻ nòi tình nên thương người đồng điệu. Em bận bon chen kiếm khứa ở công viên nào đó, hoặc một khúc đường vắng nào chăng?

Đêm mưa buồn lê thê như vầy có mấy ai ra đường, vui chơi, gái đứng đường ế độ, cho dù đóng vai con nhà lành, ngây thơ khờ dại lỡ độ đường hay gì đi nữa khứa vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Nhiều đêm tôi thấy thương cô ta. Chờ mãi chẳng thấy nàng về, tôi tưởng tượng ra đủ thứ, dù tôi chưa một lần nhìn rõ mặt nàng, không biết tên nàng. Tôi thấy mình là một tay chơi. Một tay chơi gặp khó khăn ở giữa thành phố sa hoa, nhưng lại gặp nàng ở một nơi khuất tất nhất, đèn đường bị lưu manh đập bể, tối đến độ không nhìn rõ mặt người con gái đối diện với mình, như trong một bài thơ của Jacques Prévert, mà tôi được đọc qua bản dịch, dùng làm giấy gói đậu phọng: Ba que diêm trong đêm đánh từng que một:

Que thứ nhất nhìn trọn một em

Que thứ hai nhìn đôi mắt

Que cuối nhìn miệng em

Rồi tối hẳn cho anh nhớ lại

Tất cả nét yêu khi xiết chặt em vào lòng.

Một con điếm đứng đường được thăng hoa do một tay chơi có máu thi sĩ. Nhưng điều đó quan trọng gì, tôi thấy hồn tôi bay bổng nghĩ đến nàng, khi tôi cô đơn, tàn xị rượu mỗi đêm thay cơm chiều.

Tôi ngả người nằm xuống, giấc ngủ chập chờn và hình như nghe thấy cả tiếng bước chân em về.

Lãng mạn ra phết. Tưởng tượng ra cái lưng ong thon thả của em ngả xuống vỉa hè.

Mưa rả rích, những hạt mưa loang loáng qua ánh đèn đường. Tôi kéo cái mền phủ lên đầu. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ bốc hơi men.

Tôi thức giấc không biết lúc ấy là mấy giờ đêm, mưa vẫn còn rả rích. Trong giấc ngủ vừa rồi tôi mơ thấy nàng, giấc mơ đẹp. Tôi và nàng cùng dạo chơi trong công viên và nói lời yêu đương chân thật, nhưng lời lẽ thế nào tôi đã quên ráo.

Bây giờ thì tôi tỉnh ngủ hẳn, tôi lại nghĩ đế n nàng. Thế nằm của tôi xoay mặt vào tường, tôi muốn quay mặt trở ra. Nhưng hãy gượm nào, yêu mà, đi đâu mà vội. Con người như tôi chẳng nên làm chuyện gì hấp tấp, cứ từ từ rồi cũng có đêm tôi bò được qua bên kia đường.

Cũng một đêm mưa gió như đêm nay… Nghĩ đến mà tôi thấy nóng bừng cả mặt. Xây mộng đẹp mà nghĩ đến toàn chuyện ma bùn ma tịt thì thật chẳng còn ra làm sao nữa, nghiêm chỉnh chút coi. “Nhưng không, nàng phải bỏ ngay cái nghề đứng đường, phải sống trong sạch và lương thiện kia”. Khi tôi xoay được nửa người, tôi cũng đã xây được nửa giấc mộng. Nàng là bà chủ một hàng. Bán nước trà nóng ở ga xe lửa. Một cái điếu cày hút thuốc lào kêu thật giòn, trên một cái chiếu nàng ngồi giữa róc nước trà cho khách giang hồ. Ở một góc gần đó, tôi đun nước cho nàng. Tiếng điếu thuốc lào rít lên xoe xoè, chuyện giang hồ nam bắc nổ như pháo rang. Quanh chúng tôi. Tiếng còi tàu khởi hành rúc trong đêm. “Ôi chao, đời sống tuyệt vời và đơn giản biết bao”.

Tiếng gió thổi vù vù, hình như có một vài giọt mưa hắt vào chỗ tôi nằm. Không biết giờ này nàng về chưa?

Tôi xót sa và quay hẳn người hướng mặt sang bên kia đường. Tim tôi muốn đứng lại đập thình thinh. Rồi tôi thở, rồi vã mồ hôi.

Tôi chớp chớp mắt, banh to mắt ra mà nhìn. Giấc mơ đẹp được thành hình bây giờ như một làn khói thuốc lào tan loãng vào không khí. Tụ lại phía bên kia đường, ngay tại chỗ “con điếm” nằm. Nó nằm chình ình thõng thượt. Dáng điệu mời gọi cho hai bàn tay nhớp nhúa của gã cỡn trai ngồi cạnh lần mò. Con nhỏ ngủ say quá chăng, đến độ để cho tên lưu manh quờ quạng làm chuyện đồi bại? Hay nàng làm “ca đêm” bắt khứa về ổ kiếm chác ngoài giờ?

Những lời dự đoán xoay mòng mòng trong đầu tôi như dự đoán thời tiết.

Bên kia đường mọi chuyện cứ diễn ra nhịp nhàng. Một pha gay cấn sẽ xây ra trong ít phút nữa thôi. Tôi là người chứng kiến trọn vẹn.

Hai bàn tay nhớp nhúa của thằng khốn nạn “xoạng” loạn cào cào, thế mà con đượi vẫn ngủ say như chết.

Hay là mỗi tối khi nàng hành nghề xong nàng nốc vài viên “xì chọc xì kéo” hay “nốc tan nốc tiếc” gì đó, em “xỉn” nên không biết con mẹ gì nữa. Nếu quả vậy thì nàng đáng thương làm sao, ôi người tình một đời hư đốn.

Mắt tôi càng mở to hơn để nhìn rõ, quân khốn nạn kia bây giờ lần mò phần dưới thân thể nàng. Và rồi rất từ từ, rất thận trọng, hai bàn tay ma mãnh đụng vào dây lưng quần nàng. Cái quần được rút ra từ từ. Tôi quết nước bọt, tôi thấy hết. Đến đoạn nào đây, chắc sẽ tới ngay bây giờ. Ơ kìa, gã tuổi trẻ ấy thật từ tốn nắn vuốt cái quần vừa lột được gấp lại, lịch sự như Tây.

Rồi, thoắt một cái và nhanh như con sóc, gã co giò phóng. Nhanh hơn cả tiếng la của cô gái vừa nhỏm dậy.

Gã đã biến dạng sau màn mưa bụi cuối đường. Cả khu xóm bên kia đường thức giấc, lao nhao. Chỉ riêng tôi còn nằm lặng người vì cảnh tượng vừa xảy ra. Cô gái bu lu ba loa chữi bới thằng khốn nạn. Rồi tiếng cười hô hố, khăng khắc của thằng chột què:

– Mẹ kiếp, ớ thúi, ngủ đến bị lột quần mà cũng không biết.

Con vợ mẹ mìn dài cái mỏ, luận điệu “giậu đổ bìm leo, cây cứt chó cũng leo theo”:

– Đĩ gặp điếm rồi, con ơi? ủa mà sao nó không biết gì vậy. Còn thằng đui què kia không nhìn nó nữa, tao thì móc luôn tròng mắt kia của mày bây giờ.

Thằng chột què vẫn cười ngặt nghẽo. Cô gái tức tưởi khóc phân bua:

– Tôi biết chớ sao không, biết ngay từ lúc đầu lận, nhưng…

– Nhưng mụ nội mày, vậy mà để…

– Tôi đâu có dè nó đểu như vậy.

Mụ mẹ mìn chửi toáng, ra vẻ hiểu đời:

– A thôi, tao hiểu rồi, mày là đồ “nứng” bậy.

Con nhỏ la lên vì bị xỉ vả chạm tự ái:

– Nói cho các người hay, con này kinh nghiệm đầy mình không có nứng bậy đâu, hôm nay trời mưa nên ế độ, về đây đang nằm thì thằng khốn nạn kia nhảy a thần phù vô, tưởng nó biết thông cảm sau khi xong chuyện, ai dè… Trời đất ơi, cái quần của tôi.

Cô gái lại khóc nức lên. Lão già cô đơn cũng bò dậy, chép miệng chán cho tình đời đen bạc:

– Thời buổi làm ăn khó khăn, nói chuyện giá cả đàng hoàng chớ con, ủa mà quần gì vậy nhỏ?

Cô gái càng trở nên uất ức, tức tưởi:

– Cha mẹ ơi, cái quần của tôi là quần “mô đen” mới, có nhiều “li”, nhiều túi, ống túm, dây nhợ tùm lum chớ đâu phải quần thường.

Gã chột què thôi cười:

– A, tao thấy thứ quần đó, bây giờ ở thành phố này mặc thiếu gì, nội hay “ngoại”, mà sao mày có được?

Cô gái gào lên:

– “Ngoại”, quần “ngoại” đàng hoàng, mà tôi có đâu, tôi theo chị em đi mướn của người ta mới chết chứ. Làm sao mai tôi đền cho người ta đây, cả trăm ngàn…

Cô gái ở truồng ngồi bó gối khóc hu hu. Đám con mẹ mìn cũng thức giấc bò lổm ngổm như cua. Thằng bé vắt chân lên cổ, lết đến cạnh cô gái, thao láo mắt nhìn, thò tay gãi đít xành xạch. Nó cũng đang ở truồng, chỉ khác một điều là nó vắt chân lên cổ. Những ngón chân dị dạng quặp lấy một bên vành tai vít nghiêng cái đầu.

Vợ chồng mẹ mìn, lão già cô đơn không còn để ý gì đến cô gái bị cởi truồng nữa.

Họ quay ra tranh cãi nhau về giá cả cái quần “mô đen”. Ai cũng tự cho mình là người nắm vững giá thị trường. Giá trị cái quần, chỉ giá trị cái quần thôi mới là đáng kể.

Cô gái giẫy đành đạch khi thằng bé vắt chân lên cổ mất thăng bằng ngã lăn kềnh ra ngay dưới chân cô ta.

Mẹ mìn chồm lên xoe xoè chửi:

– A con đĩ thối không đáng một xu kia, mày kẹp đầu con tao hả, tao thì xé xác mày ra.

Thằng vắt chân lên cổ được mẹ nó xách lên như xách một gốc củi khô, liệng lại vào chỗ nằm cùng đám con nít bò lổn nhổn.

Một thằng bé trong đám con mẹ mìn, vỗ tay nhảy tưng tưng hát:

– á li ba ba… cái quần rách làm ba… á li ba ba…

Cô gái bị trấn lột quần khóc vang cả một góc phố đêm. Đã đến lúc tôi trở dậy ra đi, vì muốn ngủ tiếp cũng chẳng được.

Trời vẫn còn tối, cô gái vẫn ngồi đó, rúc vào một xó tối nhất. Nhưng đêm sẽ không dài mãi để che chở cho thân xác trần truồng của nàng.

Còn một chút xíu nhân tính sót lại trong người, tôi không đành lòng khi thấy một người gặp chuyện khó khăn. Tôi hy sinh chiếc mền rách quàng lại cho nàng. Tôi ra đi, không nghĩ ngợi gì nữa và quên luôn chuyện ấy.

*

Thời gian sau, tôi nghe có người nói. Thấy một cô gái nhem nhuốc, cởi truồng đi rong vỗ tay hát như điên:

– A li ba ba… cái quần Hara mất đêm qua…

Tôi thầm nghĩ, chẳng biết có phải nàng không?

Tự nhiên tôi thấy xót xa. Lại thêm một dạng điên, một hình thức điên nữa. Điên phải bị một cú “sốc” nặng, và quan trọng nhất là phải có thì giờ hành nghề điên, không thì người ta nói là điên giả vờ. Khối kẻ muốn điên mà không được.

Nguyễn Thụy Long

Cái Giường

Nguyễn Thụy Long

Post by7 Sơn râu 11 Apr 2024

Tôi không thể không có quyết định dứt khoát khi chấp nhận thuê cái chuồng heo bốn thước vuông làm nhà ở, che mưa đụt nắng cho hai vợ chồng và cái bào thai vợ đang mang. Dầu gì tôi cũng không thể lôi nàng lếch thếch, lang thang đi khắp đầu đường xó chợ, gầm cầu, công viên. Tuy trời đất mênh mông tha hồ màn trời chiếu đất, đâu cũng có thể là nhà. Nhưng căn bản vẫn là một mái nhà, an cư mới lạc nghiệp. Nói chuyện ấy mà buồn cười. Tôi còn nghiệp đâu mà lập. Tôi vốn là nhà văn nhà báo hành nghề thời chế độ cũ, nay đã hết thời, chẳng còn ai dùng đến nữa. Tôi tạm thời gác bút, không nghĩ đến chuyện viết lách làm văn nghệ nữa. Tôi tìm một nghề khác, đang trên đường tìm kiếm.
Tôi trả tiền cò (hoa hồng) cho mụ dắt mối nhà. Đúng ra bây giờ là một cái phòng, nguyên là một cái chuồng heo đủ chỗ cho một con nái xề với một bầy con. Cái chuồng heo trong một dấy chuồng heo, nay đã được ngăn phòng ra cho thuê. Tiền thuê tính theo gạo, 15 kí gạo một tháng. Thôi cũng được. Nhà không cóđiện, tất cả phải thắp đèn dầu, nước thì có giếng chung, ỉa đái có ao cá tra gần đó, thoải mái đổ chất thải nuôi bầy cá đói. Vợ chồng tôi tự giấu thân phận mình, tôi khai tên tuổi, trình độ văn hóa với chủ nhà, tôi chỉ biết đọc biết viết, vợ tôi thì mù chữ. Có vậy mới mong hoà nhập được với đám cư dân ở đây, nếu muốn kiếm miếng ăn. Chốn này là vương quốc Ve Chai, buôn bán đồ phế liệu. Tân Phú, nơi mà trước đây linh mục Đinh Xuân Hải trị vì như một lãnh chúa, chính quyền hồi đó cũng phải nể vì. Tôi nhìn thấy tại nơi đây có hướng làm ăn tốt cho mình.
Căn nhà tôi thuê, nay gọi là nhà, không gọi là chuồng nữa. ở hương lộ 14, nhà ở sâu trong ruộng. Trên cánh đồng hoang, trên nghĩa địa phơi đầy bao ni lông phế liệu, được giặt phơi. Hầu hết cư dân nơi đây là bọn khố rách áo ôm sống bằng nghề nhặt bao ni lông, sắt thép, vỏ đạn phế thải. Thu gom, phân loại ra bán lại cho vựa ve chai. Vì cơm gạo, tôi gia nhập làng ve chai học nghề. Tôiđường cùng rồi, không làm thì lấy gì mà ăn, trả tiền nhà linh tinh đủ thứ, còn phải lo cho cái bào thai của vợ tôi đang mang, mỗi ngày một lớn. Đến khi nào đó vợ chồng tôi có một hài nhi chàođời. Thương con như con chó con mèo biết thương con. Dù đời sống nghiệt ngã thế nào, tôi cũng phải giữ lấy huyết thống của mình. Tôi nghĩ thế. Như một thách thức. Tôi trở nên hung dữ và dễ nổi giận, đã có lần nổi giận vì có người nhân danh đạo đức loài người dám ra lời bắt vợ tôi phải phá cái bào thai đi vì họ cho rằngđứa bé này ra đời là nghiệp chướng.
Tôi thây kệ cuộc đời này lâu rồi, nhưng không thây kệ giọt máu của tôi. Người ta cho tôi là kẻ nghèo khổ hết thời, vô tích sự, lại ngang chướng. Thây kệ họ, bố mẹ vẫn mong mỏi ngày con rađời, dù trong bão táp mưa sa, trong nghèo đói khốn khổ. Tôi thầm hứa vậy.
Bà chủ nhà đưa vợ chồng tôi vào phòng xem nhà. Bà đứng tuổi, vợ của một ông đại tá đã về hưu. Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc, rồi vượt Trường Sơn trở về Nam chiến đấu “chống Mỹ cứu nước”. Bà vẫn ở lại miền Nam bí mật hỗ trợ cuộc chiến đấu của chồng. Nay thì ông đã trở về, ông ở căn nhà ngoài chợ với bà nhỏ. Bà lớn được quyền thừa hưởng trọn vẹn căn nhà xưa, vườn và ao cá. Quyền lực ông to rộng nhưng đối với vợ lớn rất có tình có nghĩa. Bà chủ nhà tôi lấy làm hài lòng về chồng. Chúng tôi xem căn phòng bé tẻo teo, đại tá phu nhân nói:
– Hai vợ chồng bay ở đây là vừa gọn vừa xinh. Này tao nói nhé, vợ mày bầu bì đi thuê nhà rất khó, mày biết chủ nhà nào cũng kiêng kị người thuê nhà có bầu. Nhưng nhà tao có truyền thống cách mạng nên không kiêng kị gì hết, tiền nhà rẻ mạt, chỉ mười lăm kí gạo một tháng, tính bằng tiền như thuế má của nhà nước vẫn tính, chẳng ai thiệt thòi. Đúng đó, trước kia nhà này là dãy chuồng heo, nhưng tao thấy nuôi heo không có lợi, tao bèn thôi nuôi để cho thuê lấy phước. Này đừng cười tao, tao cho chúng mày thuê là làm phước, tao còn lạ gì tụi bay, toàn là thứ trôi sông lạc chợ, lính ngụy, lưu manh, không một mảnh giấy tùy thân, không hộ khẩu, mất quyền công dân, đâu phải người chân chính lương thiện. Vậy mà tao dám chứa chấp, công an phường mó đến tụi bay là không được với tao rồi. Ông ấy nhắc “máy” lên một cái, lính công an “teo bu ri”, xin được thả ngay tụi bay về “nguyên quán”. Ông là người có uy ở vùng này. Nói đến chú Bẩy ưng ai mà không biết, trưởng công an phường, trưởng phường đội, ủy banđều là hàng con cháu ông hết. Bay cứ nói ở nhà Bảy ưng chẳng ai dám đụng đến bay. Tụi bay do tao quản lý.
Bà đại tá Bảy ưng nói một hơi. Trong hoàn cảnh này tôi thấy bà nói có lý và đúng quá. Quả thật vợ chồng tôiđang kẹt trong hoàn cảnh đúng như vậy. Bà là một bà tiên, ông Bảy ưng là một ông Bụt ban cho thế nhân những điều ước. Điều ước nào cũngđược đáp ứng, hài lòng. Căn phòng tuy hơi nhỏ một chút, nhưng cũng đủ chỗ cho vợ chồng tôi, ở góc nhà có kê một cái giường hai người nằm. Bà chủ nhà mau mắn:
– ấy cái giường này của con mẹ thục nhà trước, nó trốn đi không trả tao một tháng tiền nhà nên bỏ lại đấy. Nếu vợ chồng bay có tiền trả tao được hai ngàn rưởi thì lấy xài luôn. Còn không mẹ kia nó chuộc lại tao chịu thôi. Hoặc tụi bay có giường thì cứ khiêng tới mà xài.
Tôi lắc đầu:
– Dạ không, tất cả đồ đạc chúng tôi chỉ có trong hai cái giỏ xách với mấy cái nồi niêu xoong chảo chở trên chiếc xe đạp kia.
Bà chủ nhà chặc lưỡi:
– Vợ chồng bay quả là nghèo, đến cái giường cũng không có, vợ mày bụng mang dạ chửa, bộ nằm đất sao?
– Dạ, cũng có manh chiếu rách lót miếng ni lông bên dưới nằmđỡ, dạ cũng có cái mùng…
– à thôi vậy cũng được, mà thôi tạm thời tao cho vợ chồng bay mượn đỡ cái giường này, vay mượn được ai tiền thì trả tao sau. Tao kỳ hạn cho bay một tuần. Chớ hôm nay tao biết bay cũng không có đủ tiền trả tao cái giường. Thấy người nghèo khổ tao cứ rớt nước mắt, tao không đành lòng đặng, tao có đạo đức cách mạng.
Vợ chồng tôi cảm ơn bà Bảy, thiệt tình tôi cũng không biết làm sao…
– Được được đừng nói nhiều, chuyện làm phước mà, này, mà tao cũng nói trước, mày trả tiền được sớm là cái giường của mày, còn mẹ kia đến chuộc sớm thì ráng mà chịu nghe.
– Dạ, bà Bảy cứ yên tâm.
Bà chủ nhà trở ra, vợ chồng tôi chuyển đồ từ xe đạp vào nhà giải chiếc chiếu rách lên giường. Việc đầu tiên, vợ tôi ngả lưng lên cái giường mượn tạm ấy:
– Gớm ê cả người, anh chở em trên xe đạp ấy đường xóc ơi là xóc.
Tôi nhìn vợ hài lòng:
– Thấy sao, cái giường được không?
– Sao không được, mình nằm đất bao lâu rồi, bây giờ nằm giường mà không được nữa sao?
Tôi mỉm cười tự tin:
– Mình sẽ có cái giường này, anh có thể mượn được tiền đểmua. Cái giường gỗ chắc chắn như thế này chỉ có hai ngàn rưởi thì cũng không mắc mỏ gì.
– Anh chỉ được cái lúc nào cũng lạc quan.
– Không lạc quan sống sao được, em nhớ mình sẽ còn có con.
Suốt một buổi chiều tôi sắp đặt nhà cửa, một cái bếp nho nhỏ, chén đũa nồi niêu xoong chảo tôi nhặt ván vụn ở quanh nhà kê gạch lên cũng xếp được gọn ghẽ. Nhà cũng có chỗ lui ra lui vào. Tôi càng trở nên lạc quan về căn nhà mới của mình, như thuở nào cách đây hai mươi năm, tôi có một căn nhà do tôi làm chủ. Buổi chiều đầu tiên tôi nằm lăn lộn trên sàn gạch bông mát mẻ. Nỗi vui mừng ấy không chỉ có trong đầu mà còn thấm cả vào da thịt. Căn nhà đó nay vẫn còn, nhưng tôi không được ở nữa, vì nếu tôi ở là phạm pháp, tôi cư ngụ bất hợp pháp trên căn nhà tôi làm chủ. Đơn giản là tôi không được cấp hộ khẩu trên căn nhà ấy. Tôi vẫn chưa có quyền công dân, mà chẳng biết bao giờ mới có. Tôi kéo theo người vợ trẻ sống bơ vơ giữa chợ đời. Hai vợ chồng tôi sống nhưcon sâu cái kiến. Phần thua thiệt nhiều nhất vẫn nghiêng về phía vợ tôi. Nếu nàng không theo tôi, một kẻ hết thời, trở nên bần cùng khố rách áo ôm thì đâu đến nỗi này.Với độ tuổi trung niên mà sức lực đang trên đà tàn tạ sau những năm dài học tập cải tạo, laođộng kiếm ăn, liệu tôi có bảo vệ được nàng không. Nàng mang trong bụng cái bào thai, huyết thống của tôi. Tôi sẽ phải làm việc, lao động cật lực, bỏ ngoài tai ngoài mắt mọi lời đàm tiếu, tiếng thị phi. Tôi có thêm sức mạnh. Ngày mai tôi gia nhập nghề ve chai, lượm lặt bao ni lông, tôi lang thang trên những bãi rác, để đố phế thải được tái sinh, dù chất lượng có kém đi nhưng vẫn còn xàiđược.
Tôi loanh quanh trong căn nhà nhỏ và nghĩ đến đứa con sẽ chào đời, nơi ăn nằm của nó, giấc ngủ yên trong tiếng ru hời của mẹ. Tôi phải lo cho bầu sữa được căng, con tôi không bị khát sữa mẹ nó. Tôi lãng mạn rồi, lãng mạn này đưa đến lãng mạn khác. Tôi nhìn lên trần nhà chuồng heo có cái xà ngang khá vững chãi. Tôi nói với vợ:
– Anh sẽ treo lên cái xà ngang này một cái thúng, lót vải rách và che miếng vải mùng để làm cái võng cho con, vừa tầm tay emđưa, ru con ngủ.
Vợ tôi cười lộ chiếc răng khểnh:
– Ông này chỉ lãng mạn, sao không tính đến một cái nôi hay cái võng mà lại là cái thúng.
– Đây không phải sáng kiến của anh, anh vay mượn của đồng bào thổ mán ở miền thượng du Bắc Việt hồi anh còn nhỏ tản cưlên đó. Em công nhận không, sáng kiến ấy hay đáo để, đứa bé nằm trong cái thúng, đi đâu, làm gì cũng mang theo được, cứ treo lên cây vừa làm việc vừa trông chừng nó, lớn hơn nữa thì thả nó lê la, chạy chơi quanh quanh. Anh đi một ngày đàng, học một sàng khôn.
Vợ tôi cười rũ:
– Thôi ông ơi, ông đừng mơ mộng nữa, tôi nghe thảm quá rồi.
Tôi cho vợ tôi trẻ người non dạ nên không nghĩ xa chứ tôi có mơ mộng bao giờ, tôi hơn nàng ở chỗ biết nhìn xa hơn lỗ mũi mình. Tôi trở nên kiêu ngạo một mình, cho mình là người chồng vững tay chèo, biết lèo lái con thuyền gia đình con con. Việc người ta liệu cơm gắp mắm. Tôi sẽ có tất cả, sẽ…
Vợ tôi đưa tôi về thực tế.
– Này anh, nhà mình sắp hết gạo rồi đó, chỉ ăn được bữa chiều nay, sáng mai nữa thôi, còn tiền mua mắm muối….
Tôi đang hưng phấn, nói với vợ:
– Thôi chiều nay mình không ăn cơm nhà, mình ra chợ ăn hủ tíu, em gầy lắm, nên bồi dưỡng tí nước xương thịt để lấy chất bổ nuôi con. Mọi chuyện để mai tính.
Chúng tôi ra khỏi nhà, không cần khóa cửa, thời buổi thanh bình chẳng còn sợ trộm cắp. Vả lại, tôi còn cái đếch gì mà mất nữa.
Ra khỏi cửa, tôi gặp vợ chồng con cái người hàng xóm, cũng thuê chuồng heo ở như vợ chồng tôi. Anh chồng, chị vợ đang thui một con gì đó nho nhỏ trên bếp lưa. Anh chồng cười mời tôi:
– ở lại nhậu với tôi, thịt con linh miêu này ngon đáo để. Mình trước lạ sau quen, lại là hàng xóm…
Tôi đành xin lỗi vì phải đi có công chuyện. Anh chồng vui vẻ:
– Thôi vậy sáng mai đi quán bà “Ba Đít Láng” uống cà phê với tôi. ở đây thiếu gì công chuyện mần ăn. Nơi đất lành chim đậu mà.
Tôi đạp xe chở vợ tôi ra chợ Tân Phú, vợ tôi nói:
– Buổi trưa ra ngoài giếng, em thấy anh này mới đập chết một con mèo của nhà ai đó. Có lẽ anh ta nói linh miêu là con đang bị nướng đó.
Sau này thì tôi biết từ chó, mèo, chuột chù, chuột cống, gà vịt, cá tra dưới ao thấy bóng anh ta đều lặn sâu lánh xa. Một tay săn lùng miếng ăn nguy hiểm. Cả vợ lẫn chồng đều là loại lưu manh chuyên nghiệp. Cái gì cũng có thể làm được, miễn là có tiền có ăn. Anh ta nói đó là bản năng sinh tồn. Buồn cười thật, tôi chót giấu thân phận mình là một kẻ dốt nát nên chẳng có lời nào phản bác.
Tôi chán cho đời, nhắp chén rượu khan, mặc kệ mẹ đời. Tôi hùng hục đi làm như con trâu. Đời sống lưu manh của những kẻ phạm pháp đường cùng vây chặt lấy đời sống nhỏ bé của tôi. Tôi có bị ảnh hưởng hay không thì hạ hồi phân giải. Tôi đang sững trong vũng bùn, nơi gió tanh mưa máu. Đồng tiền kiếm lương thiện quả có khó khăn. Cái bao tử đương nhiên thiếu thứ để bóp nặn, xay nghiền. Cái bụng vợ tôi không to được, có lẽ bào thai cũng èo một lắm. Có được chất bổ béo nào đâu để nuôi lớn. Những cái đạp nghịch ngợm của bé cũng yếu ớt, không như con người ta. Tôi lo lắng không biết là chính đáng hay vẩn vơ do đời sống thường xuyên thiếu thốn xúc tác vào đầu.
Những tiếng chửi thề, văng tục nổ giòn rôm rộp về miếng ăn miếng uống của vợ chồng hàng xóm và những người quanh vùng, quả tôi khó mà hoà đồng hòa nhập được với họ. Nhưng vẫn cứ phải sống chung, và cố giữ hòa khí. Tôi vẫn coi đời sống này là tạm mà.
Ngày hôm sau tôi lên Sài Gòn, tìm đến người bạn xưa. Anh Nhã. Tôi với anh là bạn từ lứa tuổi choai choai kéo dài cả mấy chục năm trời. Tôi tin anh là người thân duy nhất, vì tôi không đối xử xấu với bạn bao giờ.
Chẳng những chúng tôi thân nhau mà hai bên gia đình cũng thân nhau. Sau này khi tôi khổ, tôi không mặc cảm vẫn lui tới anh và gia đình anh bên ấy. Ngược lại, anh cũng lui tới với tôi. Đời sống gia đình anh Nhã khá hơn tôi nhiều. Không có những ngàyđói rã họng như tôi. Đời sống anh bình bình, không sóng gió khi có cuộc đổi đời. Tuy không làm gì, nhưng anh có “ngoại viện”, những thùng đồ từ ngoại quốc của người thân gửi về anh tương đối đềuđặn. Vợ anh cũng buôn bán nhì nhằng. Nhưng chị ở bên nhà mẹđẻ nên anh rảnh rang chỉ phải lo săn sóc đứa con gái, để cháu tiệnđi học. Khi buồn anh tới bạn bè, trong đó có tôi, uống chén trà, ly rượu cho đỡ sầu đời. Thường thì anh là người chủ chi.
Tôi đến anh Nhã khi anh vừa ngủ dậy. Tôi nói vợ chồng tôi mới dọn nhà. Anh nói “thế à” rồi tiếp: “Tôi đi với bạn, xem vợ chồng bạn sống ra sao.
Anh Nhã chắt ra từ trong hũ một chai rượu thuốc ngâm mang theo. Anh mua thêm ít đồ mồi. Anh vẫn giữ phong độ của một tay chơi thuở nào. Anh có vẻ ngậm ngùi khi thấy đời sống quá cực khổ của vợ chồng tôi.
– Cụng ly với tôi, anh nói một câu chữ:
– Gặp thời thế thế thời phải thế… Ráng chịu đựng đi.
Tôi vào thực tế, nói đến cái giường:
– Vợ chồng tôi cần một cái giường, nhà tôi còn sinh nở, có cháu bé…
– Thì cái giường này cũng được rồi, cần gì mới me.
– Giường này của người ta cho mượn, có hạn định chỉ trong bảy ngày, nếu không mua kể như không có, lại nằm đất. Nằm đất thì tội vợ tôi quá. Tôi mượn bạn hai ngàn rưởi thôi để mua lại cái giường này.
Anh Nhã cười:
– ồ được thôi nhưng hiện giờ tôi không mang theo tiền, để lúc khác vậy. Thôi ăn nhậu đi.
Tôi cố với vát:
– Bạn giúp tôi, cố có trước hạn định.
– Chuyện nhỏ.
Tôi tin tưởng bạn. Tôi có một buổi chiều thoải mái. Anh bạn hàng xóm cũng sang góp vui, anh ta ăn nhậu một cách tục tằn, ba hoa và chửi thề luôn miệng. Anh ta nói đến thời vàng son đã qua của anh. Những ngày học tập cải tạo. Những tên trại anh đã đi qua, anh thuộc hàng “sĩ quan chế độ cũ, về những tên trại cải tạo anh ta nói sai bét, toàn là trại giam cưỡng bức lao động cho loại tội phạm hình sự, lưu manh. Rồi đây anh và gia đình anh phải được hưởng qui chế đặc biệt, vì anh là “lính đánh thuê cho Mỹ”. Tôi muốn nổi nóng, nhưng dằn lại được và cả anh bạn tôi cũng dằn nóng. Vì tôi đã dặn bạn giấu thân phận mình ở chốn này. Một thằng lưu manh láo khoét, hoàn toàn láo lếu lại đa ngôn. Một loại người càng nói càng sai, nhưng cứ nói, vì với hắn “mục hạ vô nhân”.
Đến sẩm tối, anh bạn tôi đậy nút chai rượu lại, coi như ngưng bữa nhậu. Anh hàng xóm vẫn chưa đã:
– Này, đi đâu thế, mình chưa hết chuyện mà, thời của mình.
– Xin lỗi, thời của anh chứ không phải thời của chúng tôi.
– Vậy thì để lại rượu đi
– Không được, giọt rượu là giọt máu, đương nhiên là tôi phải mang đi, tôi và bạn tôi có chuyện riêng cần nói.
Anh hàng xóm nát rượu trơ trẽn:
– Tôi bị gạt ra ngoài?
Đúng thế, tôi nói là chúng tôi có chuyện riêng mà.
Ra khỏi nhà, anh Nhã nói với tôi:
– Tôi muốn nổi nóng rồi, vì bạn mà tôi nhịn.
– Đúng vậy tôi đã phải và đang sống chung chạ với những loại người ấy, đó là điều khổ tâm cho tôi. Tôi thông cảm bạn.
Hàng ngày tôi đi làm. Công việc tôi không phải nhặt bao ni lông mà xé bao thuê, đem giặt sạch rồi phơi khô, phân loại. Mùi hôi thối đựng trong bao ni lông khiến người xé bọc muốn nôn oẹ tại chỗ nhưng vẫn phải chịu đựng. Vợ tôi, không giúp gì được trong cái thứ nghề quái gở này. Nàng có thể ói ra mật xanh, mật vàng, nàng đang có thai. Không thể để nàng kéo dài tình trạng ốm nghén bất đắc dí.
Bà chủ vựa ve chai của tôi còn rất trẻ, son phấn loè loẹt vàngđeo đỏ người. Bà mới giàu và cũng mới cưới chồng, một tay chơi nửa đời nửa đoạn nào đó nói giọng Bắc kỳ cố sửa giọng nhưng vẫn ngọng, khi nổi giận đến mất khôn. Anh ta đủ cái hách dịch đểđiều khiển bọn người làm thuê như tôi, mà anh gọi là “công nhân viên”. Vợ anh là “giám đốc”, anh là “phó giám đốc điều hành”. Cái xe Honda đời cũ của anh mua lại tân trang sáng loáng một cách hợm hĩnh chạy vòng vòng trên bãi phơi bao, sân ngồi xé bao và nhà giặt bao, mùi át xít trong xà bông bột của các hãng xà bông tổ hợp xông lên chóng mặt. Chị vợ ngồi thu gom mua phế liệu rành rọt đến độ không một bạn hàng nào qua mặt được. Tiếng chị ta choe choé suốt ngày:
– Này, mang đi vựa khác mà bán nghe, vựa này không muađâu.
– Sao vậy, bao ni lông mà, cân lên rồi trả tiền như mọi khi…
– Mọi khi thì mua được, nhưng lần này thì không mua. Tôi mua của người khác chớ không mua của chú. Tại sao?
– Muốn biết hả, thông Tư đâu, mày xổ tung bao ni lông đó ra, nếu không có độn đá thì tao cùi…
Quả nhiên trong bao ni lông ấy có tới bốn hòn đá xanh, cân nặng đến hơn ba kí lô. Miệng bà giám đốc vựa ve chai Thành Công quang quác:
– Rõ chưa nào, thôi mang đi vựa khác, nhớ nhặt lại mấy hònđá bỏ vào bao, nhà anh đừng hòng qua mặt con này. Con này có thừa kinh nghiệm.
Anh bán bao ni lông đành năn nỉ bán giá hạ để lấy tiền mua gạo sống qua ngày. Một bạn đồng nghiệp xé bao ni lông cạnh tôi nói:
– Đừng hòng qua mặt con Ngọc Tũn này, nó chuyên nghề nhặt bao ai lông từ hồi sáu tuổi. Bây giờ thì nó giầu lên làm chủ. Sang rồi nó đổi tên từ Ngọc Tũn thành Ngọc Tuyết..
– Tôi muốn hỏi về cái tên trong hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân kia.
– Đúng, tên trong hộ khẩu và chứng minh thư nhân dân bây giờ là Nguyễn Thanh Ngọc Tuyết. Có tiền là xong hết.
– à, thì ra chị muốn bỏ luôn chữ Thị quê mùa, thay vào đó chữ Thanh cho sang, xứng đáng với cuộc đổi đời, với địa vị sang cả của chị.
Tôi vẫn còn thắc mắc tại sao từ một con bé nghèo đói bẩn thỉu lại trở thành bà chủ giàu có như vậy. Sự thắc mắc ấy được giải tỏa ngay. Cô bé gập may, một lần ngồi xé bọc ni lông thuê cho người ta, chị thấy một bao ni lông đầy những khoeo vàng. Chị thủ chị giấu và trở nên giàu có, nhất nghệ tinh nhất thân vinh, chị theo nghề truyền thống. A ra vậy, hèn chi khâu xé bọc ni lông, người ta xé rất kỹ. Ai cũng mang một hoài vọng, hy vọng mà người ta không chê là hão huyền. Biết đâu lại không có một bà già lẩm cẩm nào đó gói vàng vào bọc ni lông giấu con chấu rồi quên, liệng đi. Mùi hôi thối từ những bao phế liệu xông lên nồng nặc, những con chó đứng vây quanh đang muốn chôm vồ một cái bao nào đó tha chạy.
Một con cún đã vồ được một bao, cong đuôi té chạy. Tiếng người la lối:
– Bắt nó, bao ni lông lụa…
Lụa là tên gọi thứ bao ni lông có màu trắng tinh mềm nhuyễn, loại Một. Anh phó giám đốc điều hành gầm lên:
– Bắt ló đập chết ngôn, à thằng lào đập được tao cho nuôn xác ló, nhớ để cho tao miếng chả chìa…ờ thằng Lam hả, tao cho mày nàm nính bảo vệ, chiến đấu với mấy con chó.
Tiếng con chó kêu đến “đắng” một cái, nhả cái bao ni lôngđựng phân, dấy lên tê tê… Kẻ đập được con chó chính là thằng Nam, người lùng săn trộm, hàng xóm nhà tôi. Phân vãi tung toé, thối hoăng, còn cái bao ni lông được lấy lại.
Anh phó giám đốc điều hành cố vẻ hài lòng:
– Nàm thế nà đúng, không để thất thoát nguyên vật niệu của cơ sở. Phải giết chết, phải ăn thịt những con chó tham nhũng.
Những cục phân té đổ vung vãi được đám chó ăn cướp dọnđến loáng là xong. Một anh ngứa miệng nói không ngãi trước nghĩsau với đám chó đang tranh ăn:
– Ồ lẹ lên tụi bay, ông phó giám đốc biết lại mệt bây giờ.
Anh phó giám đốc ngồi ghếch chân lên chiếc xe Honda tân trang. Nhậy cảm, ra họng liền:
– Ê thằng kia, nói gì vậy? Tao mà đi ăn tranh cứt với chó à?
– Tôi có nói gì đâu, tại anh nghĩ như thế.
– Tao cho mày nghỉ việc.
– Làm thì làm, mà nghỉ thì nghỉ, trả tiền thuê cho tôi đi
– Mày muốn vậy hả, dễ thôi. Mày đừng tưởng mày nà công nhân viên, mày nà cu ni, tất cả đều nà cu ni, thứ không có biên chế. Đừng lói chuyện nuật pháp với tao, tao nà luật mà luật nà tao. Truyền đời cho chúng bay biết, ông đi từ bắc chí lam đã từng nàm ông nớn. Thằng lào, con lào không muốn nàm lữa thì nghỉ. Không có luật nao động bồi thường cho bất cứ đứa lào. Có nàm thì có ăn. Không kỷ luật thép với chúng mày thì không xong.
Tôi biết tôi đang sống ở đâu, đang làm gì, tôi câm họng suốt một con giáp, mười hai năm trời. Tôi vầy vò những chiếc bọc ni lông thuộc loại hàng “hắc quẩy. Tôi thuộc tên hàng như cháo, nhưnhững tay chuyên nghiệp. Những bao ni lông phế liệu được tái sinh và tôi cũng được xào nấu tái sinh nhiều lần.
Tôi về đến nhà người mệt nhoài, buổi chợ chiều muộn mằn, đồ ăn mua được đều là thứ ế ẩm, mà cũng chẳng có gì giá trị vì số tiền tôi kiếm được trong suốt một ngày làm việc cật lực chẳngđáng là bao, gạo cho hai người ăn, đồ ăn thì khiêm nhượng miễn là mặn miệng để nuốt trôi cơm. Tôi muốn làm thêm “ca” đêm, là đi giặt bao ni lông thuê, nhưng vợ tôi cản:
– Thôi anh, hồi này anh yếu lắm rồi, anh lại húng hắng ho, coi chừng anh nhiễm ho lao, đám phế liệu bẩn thỉu như thế anh hít ngửi cả ngày… Có được hai bữa cơm là quí rồi, buổi sáng anh cũng có được ly cà phê, nắm xôi, điếu thuốc. Mình sống qua ngày chớ có làm giàu làm có gì đâu.
– Mình còn phải lo cái giường, em cũng cần tí thịt cá bồi dưỡng cho cái thai.
– Biết rồi, không can gì đâu, hồi này em ăn được, đồ ăn chẳng có gì mà em ăn tới gần ba chén cơm đấy. Còn tiền mua cái giường anh Nhã đã hứa cho mượn.
– Mượn thì cũng phải trả, dù là bạn bè…
Đang nói đến bạn thì anh Nhã đến. Tôi cười nói:
– Bạn linh thế, tôi biết bạn đến đúng hẹn mà.
Anh Nhã cười, ngồi ghé xuống một góc đầu giường, đặt xị rượu xuống, rượu trắng và một cái ly con con, chúng tôi thường uống “xây tua “, nghĩa là người này uống cạn giao ly cho người kia xoay vòng.
Cuộc uống “xây tua” đều đặn thì phần mỗi người là tám ly conđủ sừng sừng, không hẳn say mà cũng không đủ tỉnh táo. Nhưng cũng dễ quên buồn. Nhã róc rượu anh mời tôi uống trước:
– Rượu đế nếp Bà Bóng Gò Đen đấy, nước nhất nhé. Uống say êm lắm, không nhức đầu, tôi đặt nó từ Gò Đen Long An đó, hôm nay nó mới mang lên. Một can hai mươi lít, quí lắm nên tôi phải lấy luôn để dành uống. Xị này tôi mang tới cho bạn uống, tôi chỉ nhâm nhi chút chút với bạn cho vui thôi, ồ quên mất rồi, tôi
không mang theo tí đồ mồi nào.
– Có đấy, tôi còn mấy miếng thịt Tam Tạng.
– Thịt Tam Tạng?
Tôi mang ra món tàu hủ kho tương, hai đôi đũa, giải thích:
– Tôi gọi món tàu hủ kho này là thịt Tam Tạng cho sang. Vì thịt cá dị ứng với khẩu vị vợ chồng tôi từ lâu rồi.
Hai vợ chồng tôi lại có bệnh viêm màng túi, nên phải kiêng kỵ kỹ lưỡng, nhiều hôm chúng tôi hạt muối cắn đôi, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Thầy thuốc dặn thế.
Tôi uống rượu và lòng cảm thấy hưng phấn, vợ chồng tôi sẽ có một cái giường. Có thể sau xị rượu này tôi sẽ hùng dũng lên đập cửa má Bảy đang ở nhà trên trả tiền. Cái giường thuộc về tôi, tôi thuộc về cái giường, cái giường sẽ là thành viên thân thiết của giađình tôi. Nó sẽ là một đồ vật yêu quí như con chó, con mèo trong một gia đình. Ngược lại, tôi phải săn sóc nó, khi nó long đinh tôiđóng lại, nước véc ni tróc nham nhở tôi sẽ mua hộp sơn sơn lại cho sáng sủa. Lúc tôi đang hứng khởi như vậy, đang mơ mộng nhưbản chất tôi thì anh bạn bèn “pạc xơ cờ…” Lý do anh chưa cho tôi mượn được số tiền tôi yêu cầu để mua lại cái giường. Một thoáng sững sờ, nhưng rồi tôi giữ được bình tĩnh ngay nghe anh nói:
– Đến hẹn rồi mà đồ ngoại quốc của tôi chưa về tới. Thế có kẹt không chứ, hôm nay còn mấy ngàn, cái thằng bán rượu Gò Đen lại mang lên, tôi trả hết cho nó rồi. Đúng cái rượu bạn vừa uống đó, ngon như thế mà mình không mua thì uổng. Tôi hứa với bạn tôi nhớ chứ, hay là bạn xoay tạm ở đâu, rồi tôi sẽ đưa bạn sau vậy Tôi hỏi bà già thì không tiện, vì mẹ con tôi mới có chuyện xích mích, mà hỏi bà xã tôi lại không tiện nữa vì vốn buôn bán của bả. Bạn biết bản thân tôi có làm gì ra tiền đâu. Này, bạn có thể nói với bà chủ nhà thư thả được không?
Tôi đặt ly rượu xuống:
– Chắc chắn là không rồi, tôi cũng chẳng xoay được ở đâu hết. Tôi chỉ biết xoay đằng trước ra đằng sau thôi. Nhưng thôi, bạnđừng quan tâm đến chuyện đó nữa. Đối với tôi là chuyện lớn nhưng đã là chuyện nhỏ rồi. Trước đây chúng tôi từng nằm đất, đừng vì chuyện ấy mà sứt mẻ tình bạn.
Tôi vốn là kẻ nông nổi, không ngờ tôi lại ăn nói bình tĩnh nhưthế. Nhìn vợ, tôi thấy nàng cũng rất bình tĩnh. Nàng đã rửa xong mớ bát đĩa, đang xếp vào rổ trên cái kệ dã chiến do tôi đóng. Xị rượu ngon tôi không uống hết, đậy nút lại đưa bạn tôi mang về. Tôi tự đo lường được thân phận mình.
Tôi tiễn bạn ra về, hình như trời đang về khuya. Chốn ngoại thành này vắng vẻ. Hương lộ 14 ai đóng lên ở ngã ba đường cái tên mới đường âu Cơ, tổ tiên dân tộc tôi, tôi nhìn mờ mờ thấy dưới ánh điện vàng. Tôi trở về ngôi nhà chuồng heo. Vợ tôi đã lên giường nằm, mùng đã buông, cái mùng vá chằng vá đụp màu cháo lòng. Tôi cài cửa tắt đèn, chui vào mùng. Bóng tối âm u, ngoài mùng muỗi reo vo vo, ngoài trời gió nổi. Có một con cá tra nào đó quậy trong ao. Mái tôn hở, tôi nhìn thấy một ngôi sao đơn độc trong trời đêm. Thốt nhiên thở dài.
Vợ tôi nắm tay tôi:
– Đừng buồn anh, em chịu đựng được mà. Người ta nắm kẻ có tóc chứ ai nắm kẻ trọc đầu.
– Đừng nói thế thêm mích lòng.
Tôi đặt tay lên cái bụng lúp xúp của vợ. Bé đang cựa quậy, nhưng sao yếu quá. Tôi im lặng trong đêm. Ngôi sao ở khe hở mái tôn hồi nãy đã di chuyển theo vòng quay trái đất. Tôi không nhìn thấy nữa. Con dế mèn ngoài đầu hè cất tiếng gáy hoà nhập với nhiều âm thanh côn trùng khác. Cái giường ngày mai hết hạn cho mượn. Lồng ngực tôi nặng nề, tôi bật lên tiếng ho.
Sáng sớm tinh mơ tôi đã mò ra quán cà phê bà Ba Đít Láng ở chợ Tân Phú. Quán cà phê bình dân không trưng bảng hiệu mà lại mang cái tên tục tĩu như thế Nhất định là cái tên của bọn giang hồ, quân khố rách áo ôm đặt cho, nhưng nguyên do tôi vẫn chẳng rõ vì sao. Quán đông khách như được quỉ thần phù hộ trong khi cà phê bắp rang, pha túi dở òm. Tôi mua một cái dầu cháo quẩy vừa uống cà phê vừa nhai. Đúng ra chẳng ngon lành no nê gì mà chỉđỡ buồn miệng, có cảm tưởng mình có lương thực, đang nhai nuốt nó. Như kẻ sắp chết đói nhai cỏ, rễ cây, đánh lừa cái dạ dày khốn khổ của mình.
Tôi thắc mắc về tên quán cà phê, nhưng rồi cũng biết. Chẳng phải hỏi ai, cứ nghe khách giang hồ nói chuyện với nhau rồi khắc biết thôi.
Bà chủ quán góa chồng, sống với hai cô con gái đã đỡ đầnđược mẹ. Bà tuy hơi đứng tuổi nhưng vẫn còn nét mặn mà, là niềm mơ ước của nhiều tay chơi tỉnh lẻ, những mong làm nên chuyện “rổ rá cạp lại”. Nhưng lâu rồi, niềm mơ ước ấy vẫn chưađược đáp ứng dù lời ong bướm dập dình quanh người thiếu phụ tuổi đời đang ở độ “ngon lành”. Thể hình tròn trịa, nụ cười tươi hết cỡ như đóa hoa mãn khai lấn lướt cả hai đóa hoa hàm tiếu của hai đứa con gái. Bà Ba không xe xua trưng diện, tứ thời cái áo bà ba cổ tròn màu xanh, màu tím, màu mỡ gà hoặc màu trắng thắt eo hông ôm lấy cái quần đen vải Mỹ A láng bóng, tròn vo, mượt mà khiến nhiều tay hảo ngọt vùng Tân Phú phải hít hà thèm muốn. Một tay chơi hết thời, nửa đời lỡ, giờ làm nghề nhặt bọc ni lông thấy chịu không đặng, nhân buổi uống cà phê sáng, do bạn bè thách thức và cũng muốn bày tỏ tình cảm bằng thái độ bạo dạn, anh ta xoạng bậy “cái chảo” láng mướt của bà. Bà chửi, suýtđánh. Công an bèn túm lên phường bắt làm kiểm điểm rồi đưa đi giáo dục qua lao động hết ba tháng trời. Tên quán cà phê bà BaĐít Láng có từ đó.
Quán ngày một phát triển, đông khách, bà Ba Đít Láng không có tình thì cũng có nghĩa. Bà có một dịp lên thăm người khách hàng bị đi học tập vì bà, đồ tiếp tế hậu hĩnh, không quên một bình cà phê biếu bạn. Như một lời hứa hẹn, nhờ anh ấy mới có tên quán mà ai cũng biết, đông khách. Cuộc tình, nếu có thể gọi nhưthế, dừng lại ở đó hay đi đến đâu tôi không biết. Nhưng người khách hàng “tội lỗi” xưa cũng có trở lại và được uống cà phê miễn phí. Lại được bà Ba Đít Láng sai vặt, còn hai cô con gái thì lườm nguýt, dầu mỏ ra chửi:
– Chú tưởng đã làm được dượng tôi mà lên mặt. Uống cà phê thí mà còn đòi cà phê sữa, coi có được không?
Bà Ba Đít Láng khóa cửa động đào hay mở có Trời biết. Tất cả đều bù trật trong cái ồn ào của buổi sáng quán cà phê bình dânđông khách.
Tôi cặm cụi lao động xé bọc ni lông cho tổ hợp phế liệu Thành Công của Thị Ngọc Tũn hy vọng vay mượn được tiền, trừ lương mỗi ngày có tính lời để mua lại cái giường. âu đó cũng là niềm vui, tặng phẩm sinh nhật cho vợ. Tôi chưa vô tích sự. Hai ngày nữa thôi, tôi sẽ cầm được số tiền “lớn ” ấy, khi bà chủ đã đủ tin cậy ở tôi. Cái giường sẽ thuộc về gia đình tôi. Tôi hưng phấn, tay nghề mỗi lúc một cao, xé đến loáng đã được cả kí bọc ni lông, bất kể dơbẩn. Thây kệ những cơn ho rũ rượi làm mềm cả thân xác.
Phiên chợ chiều muộn màng, chợ chẳng còn gì, không lẽ bắt vợ ăn hoài cái món thịt Tam Tạng, nàng sẽ lả người đi mất, và cái bào thai, con tôi sẽ yếu không giẫy đạp nữa thì khốn, nó bị suy dinh dưỡng khi còn nằm trong bụng mẹ.
Tôi vào quán cơm bình dân mua ít thịt kho, cái trứng vịt kho và chén canh khổ qua nhồi thịt. Tất cả được đựng vào bao ni lông mà nhà hàng cho là bao sạch. Tôi chấp nhận, lom khom xách đồăn về cho vợ trong niềm hạnh phúc tràn trề. Canh khổ qua mát, miếng thịt, rừng kho nước dừa khiến gia đình tôi ngon miệng,
con tôi tha hồ giẫy đạp trong bụng mẹ nó.
Không biết phải gọi là hồi sinh hay tái sinh cho đúng. Thây kệ sao cũng được ăn mừng cái giường, cũ người mà mới ta.
Tôi bước chân vào nhà trong niềm hưng phấn, nhưng buồn ngay khi thấy nàng, vợ tôi ngồi bệt dưới đất.
Nàng ngồi trên tấm chiếu rách. Tôi kêu lên:
– Sao lại thế này?
– Người thuê nhà cũ đã đến chuộc lại cái giường mất rồi.
– Kỳ vậy, anh đã khất với bà Bảy…
Vợ tôi thở dài đến thượt một cái:
– Ai biết được, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn.
– Để anh lên nói chuyện với bà Bảy.
– Kệ anh, nhưng em biết chẳng ăn thua gì đâu.
Anh nói gì thì cứ nói, coi chừng bị bứng ra khỏi nhà, mình sẽ mất an toàn. Có người đến đòi thuê căn nhà này giá cao hơn đấy. Lại có đặt cọc, mình ganh nổi với họ không? Anh liệu lời mà nói.
Mẹ kiếp, lại còn thế nữa. Nhưng tôi vẫn nói để vợ an lòng:
– Anh biết, anh tin ở cách ăn nói của mình. Đại tá Bảy ưng chẳng từng khen anh là người ăn nói có văn hóa đó sao. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Vợ tôi đang buồn cũng phải bật phì cười, cái răng khểnh mới duyên làm sao, hớp hồn tôi:
– Anh chỉ được cái vậy, ai bơm vào cho cứ tưởng thật. Thôi em sửa soạn cơm, a hôm nay cơm có thịt, có canh, có trứng. Sao mà sang quá vậy? Lẹ lên rồi về ăn nghe.
Tôi lên gặp bà Bảy. Bà đang ngồi xỉa trầu thuốc dưới ánh đènđiện từ cái bóng máng trên bình “ắc quy. Thấy tôi, bà hỏi ngay:
– Mày lên tao về vụ cái giường, phải không?
– Dạ đúng vậy, má Bảy đã hứa…
Bà Bảy nhổ một miếng cất trầu vào cái lon sữa bò:
– Tao đã gia hạn cho mày, người ta đến chuộc, tao làm saođược.
– Hai ngày nữa tôi đủ tiền mà.
Bà Bảy nhìn nhanh tôi:
– Tao biết, nhưng không làm sao được, người thuê nhà cũ cũng nghèo như mày vậy. Tao không đành, giúp đứa này bỏ đứa kia. Cứ công bình mà làm. Tao là người có đạo đức cách mạng.
Bà Bảy nhìn lên bức chân dung vẽ truyền thần của chồng làđại tá Bảy ưng, đủ cả cân đai mũ mãng. Bà vững lòng tin truyền sang cả tôi phải nghĩ là nền đạo đức của bà đúng, rất đúng.
– Tao nói vậy, phải không mày?
Tôi mềm lòng gật đầu:
– Dạ phải, chỉ mong má Bảy giúp cho vợ chồng tôi một việc khác.
– Khất tiền nhà phải không?
– Dạ không, một chuyện khác.
– Cứ “trình bày” hợp lý tao chấp nhận.
– Vợ tôi có thai, nằm đất thì hại sức khỏe quá…
– Ờ ờ, cũng đúng, vậy thì mày mang một cái giường khác vế mà nằm.
– Cái giường tre cũng mắc, tôi không đủ tiền mua, đồ cũ họ cũng nói trời thần lắm.
– Vậy hả, mày tính sao?
Thấy tôi liếc nhìn cái giường nhỏ ở góc nhà, bà Bảy giẫy lên:
– Không được đâu, cái giường ấy tao không bỏ không, của con tao đấy. Nó đi bộ đội chiến đấu ở phía Tây Nam tổ quốc, chống Khờ Me đỏ, lâu lâu nó về nó phải có giường nằm nghỉ ngơi. Mày biết nó cũng là sĩ quan ở binh đoàn Cửu Long, con dòng cháu giống.
Tôi cười:
– Dạ không phải, tôi không mượn giường, mà cũng không mua lại nữa.
Đến lượt má Bảy ngạc nhiên:
– Vậy là cái gì? Nói rõ ra nào!
– Muốn xin má Bảy cho đóng xuống sàn bốn cái cọc, tôi đi tìm ván cốt pha về làm mặt, kê làm giường cách mặt đất cho đỡ ẩm thấp.
Bà Bảy rơ miếng thuốc xỉa trên hàm răng có dính quết trầu màu đỏ, móc miếng thuốc lên môi thành một cục to bằng trái tắc. Suy nghĩ một lát rồi lắc:
– Cũng không ổn, mày biết sàn chuồng heo tao đổ bê tông, mày đào bới tầy quầy ra, hư nền nhà tao. Mai mốt tao nuôi heo, heo phải nằm sàn, ỉa đái tùm lum. Chớ heo có nằm giường bao giờ. Cái giường của mày cố định ở đó coi sao được. Tao bác ý kiến “ngông cuồng” của mày. Tao thiệt hại quá, ông chồng đại tá nhà tao rầy la tao. Thấy cũng thương, mà tao biết làm sao được.
Tôi thua, năn nỉ vô ích với một người có đạo đức cách mạng như bà Bảy, được huấn luyện cứng như thép.
Tôi lui về chốn chuồng heo. Tôi nghĩ đến câu chuyện đại tá Bảy ưng nói với tôi, ngày ông và đồng đội “xẻ dọc Trường Sơn”, nằm bờ nằm bụi để có ngày hôm nay. Giải phóng cho nửa phầnđất nước, thống nhất đất nước. Các vị ấy gian khổ biết bao nhiêu. Sự đau khổ của vợ chồng tôi có nhằm nhỏ gì. Ba cái lẻ tẻ. Cần phải lấy đó mà làm gương.
Đêm hôm ấy ngủ đất, nằm lạnh lưng nên tôi ho hơi nhiều, vợ tôi cũng ho và trăn trở không ngủ được, cái cống thoát nước trênđầu nằm chảy róc rách, muỗi bay vo vo góp sức phá thêm giấc ngủ chập chờn… Tôi biết rằng miếng ni lông mỏng rách trải dưới cái chiếu rách không ngăn nổi khí lạnh dưới nền sàn, nếu có miếng dầy hơn? Nhưng làm sao được. Tôi nằm tính toán thâu đêm. Tôi không kêu trời mà chỉ hiểu thấu thêm câu nằm gai nếm mật, hiểu giá trị anh hùng của những người xẻ dọc Trường Sơn. Đẹp đẽ biết bao, hào hùng biết bao! Con ngựa chướng trong người tôi muốn lồng lên phi nước đại. Buổi sáng hôm sau tôi đi làm sớm, uống vội ly cà phê đen nhỏ ở quán cà phê bà Ba Đít Láng. Tôi đến cơ sở gặp bà chủ:
– Tôi xin rút lại lời xin mượn tiền bà.
– Vậy hả? Có món khác rồi chăng?
– Không, thứ tôi định mượn tiền bà để mua, người ta bán mất rồi.
– Chú mua món gì vậy?
Tôi không thể giấu được bà chủ, tình thật kể lể câu chuyện cái giường cũng là câu chuyện giải tỏa ẩn ức. Bà chủ vựa ve chai của tôi tỏ ra thông cảm và nhân hậu. Luôn miệng nói “thế à” và câu “tội nhỉ”.
Cuối cùng bà nói:
– Tiếc rằng nhà tôi không có dư cái giường nào, chớ không, tôi cho chú mượn. Mình cùng cảnh nghèo với nhau dễ thông cảm.Được thôi, nếu thấy, tôi sẽ mua giùm chú, một cái cũ cũ cũngđược chớ gì. Hồi trước thiếu gì, tôi phải chẻ làm củi, nay lại không thấy nữa.
Tôi nghĩ bụng tôi cần ngay hôm nay, chứ chuyện mai sau thì nói làm gì. Tôi hùng hục làm việc, đến chiều trời bới nắng, tôiđược cắt ra thu gom bao ni lông phơi ngoài ruộng mang về cất trong kho. Bao ni lông khô ran vì hôm nay trời nắng và nóng đến 39 độ, tôi loáng thoáng nghe đài phát thanh nói thế khi đang ngồi xé bọc ni lông, mồ hôi chảy ròng ròng. Thế mà vẫn có cả trăm người lui cui trên bãi rác đổ nắng lửa, phơi lưng với trời, gục mặt trên đất, bãi rác lúc nào cũng như chực bốc cháy. Những con người như đám thiêu thân.
Những đôi mắt trẻ thơ nguyên xanh trong, dưới cái nắng gay gắt đó biến màu đỏ, màu vàng như mắt khỉ, mớ tóc rối chuyển sang màu rơm rạ. Bao nhiêu con người lang thang kiếm ăn nhưbầy chó hoang. Tôi thương cho họ, chính là thương tôi, tôi cũngđang ở hoàn cảnh đó. Tôi mơ ước một ngày nào đó được nói lên cảnh này, nhưng không vì vậy mà hận thù ai cả. Một tinh thần rất Việt Nam, thụ động mà không thụ động: Ngồi buồn mà trách ông xanh, khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.
Trời tắt nắng, tôi thu gom được hết bao ni lông phơi đóng bao, thồ lên xe đạp chở về kho. Có thể ngay tối nay có người sẽ phân loại, một bộ phận khác phân loại rồi chở đi nhà máy tái sinh qui tụ ở quận 5 tức vùng Chợ Lớn. Những đồng bào người Hoa cần cù chịu khó làm ông chủ lớn, đón gió. Có tổ chức nhịp nhàng nhưtrong cỗ máy hay một tổ kiến. Tôi nhìn thấy cái vĩ đại trong hoạt cảnh xã hội, tôi ghi nhận như người quay phim ghi nhận những thước phim tư liệu. Tôi xổ tung mớ ni lông, đặt lên bàn cân tạ có trừ bì. Tôi khám phá ra những bao ni lông thật to rộng, mỗi cái phải to bằng cái chiếu con, dài cỡ hai thước, ngang cũng tám mươi phân, ni lông khá dày. Có thể người ta dùng để bọc một cỗ máy gì chăng, nay là dạng phế liệu, đã được giặt sạch, phơi khô. Tôi nở nụ cười.
Thực tế tôi đang nghĩ đến một cái giường vừa hẫng hụt khỏi niềm mơ ước. Bây giờ tôi phải lót ổ để nằm, tấm ni lông mỏng rách lót dưới một cái chiếu rách không thể ngăn khỏi chướng khí ẩm thấp chốn chuồng heo.
Tôi cần một cái ổ lành lặn, dầu cho là tạm thời thay cho cái giường. Sáng kiến loé trong đầu tôi nhưng tôi phải thực thà, tôi tới chị chủ vựa:
– Tôi cần hai miếng ni lông lớn kia, bà có thể để lại cho tôi giáđặc biệt được không?
Chị chủ vựa ve chai nhíu mắt nhìn hai tấm ni lông tôi đã nhặt ra. Sau một phút suy nghĩ cắn môi thoa son đỏ loét hình trái tim, chị gật gật:
– Cần dùng có công chuyện hả, được thôi.
– Bà chủ cho biết bao nhiêu tiền, tôi cân cả hai tấm được hai kí tư, dạng ni lông lụa dầy.
Tất cả đều có giá của nó và đã phân loại, tôi nói theo đúng kinh nghiệm của kẻ trong nghề.
Bà chủ lại nhíu mắt, ghếch một chân lên ghế. Tôi nhìn thấy những móng chân sơn màu tím xẩm. Nhưng gót chân thì vẫn nứt nẻ dài, đen xì, chứng tỏ bà có một thời cực nhọc từng lang thang trên những bãi rác. Sự lao động của bà được đền đáp mang đến vinh quang. Bà cắn môi rồi nở nụ cười, kiểu nụ cười của một ngôi sao,trong làng cải lương hay tài tử nữ phim ảnh Hồng Lông:
– Được thôi, nhưng chú thì tôi không bán mà tôi biếu chú đấy. Chú đàng hoàng, lương thiện, lại biết chữ, chồng tôi nói thế. Vì hoàn cảnh chú phải làm nghề này.
Tôi ngạc nhiên, nhưng cũng phải cảm ơn một người có lòng tốt, có con mắt tinh đời. Họ biết gì về mình, khi tôi đã ngụy trang,đã ẩn mình, giấu tung tích như một kẻ tội phạm đang bị truy nã. Khi tôi không có một tội gì, tôi chỉ muốn không ai biết đến tôi, không ai nhớ ra tôi thôi.
– Tôi chỉ biết đọc biết viết!
– Không đâu, chồng tôi biết rõ chú mà, thôi được ngày mai chú làm lại sổ sách giùm tôi thật rõ ràng. Cái thằng thư ký của tôi nó mới học đến lớp ba, sổ sách làm teng beng, nhầm lẫn thất thoát bao nhiêu tiền bạc.
– Còn công việc xé bọc?
– Sẽ có người khác làm thay chú. Cháu nâng đỡ chú lên địa vị cao hơn, người tài mà, chồng cháu nói quyết không bỏ sót nhân tài.
Tôi để ý thấy cô chủ xưng cháu với tôi. Tôi có được bơm lên không. Cô ta như một nữ hoàng tự hạ mình xuống đám tiện dân, hết một tên nâng lên hàng kẻ sĩ. Cuộc đời có lắm chuyện bất ngờ. Như trước đây ba mươi năm, tôi đang làm cu li bên kho 5 Khánh Hội được chủ thầu bốc lên làm cai cu li rồi lên địa vị cao hơn nữa. Rồi tôi trở thành nhà văn nhà báo trong những sự bất ngờ. Lại là chuyện hạ hồi phân giải.
Tôi cám ơn cô chủ, ôm hai tấm ni lông về nhà, không quên hứa sáng mai sẽ trở lại cùng anh thư ký coi việc sổ sách cũ. Tôi chỉ muốn giúp anh ta thôi chứ không có ý tranh việc.
Tôi về nhà, vứt đi tấm ni lông rách ở dưới, trải lên hai tấm ni lông mới, lành lặn, cái bao có hai lớp. Tôi giải tấm chiếu rách lên là có một cái ổ khá xinh xắn. Tôi nói với vợ:
– Thôi cũng được, anh sẽ mua một cái chiếu mới lành lặn, trước khi mua cái giường.
Từ nãy vợ tôi không nói gì, nàng quan sát tôi như con chim mái quan sát con chim trống làm tổ. Lòng tôi thấy vui vui. Vợ tôi nói:
– Sao hôm nay anh vui thế?
– Anh sẽ kể cho em nghe tối nay, khi ngủ giường mới.
– Cái ổ mới mới đúng.
– Cái tổ chim bồ câu được không?
– Khỉ ơi là khỉ!
Căn nhà nhỏ của tôi vang tiếng cười. Có phải hạnh phúc đó không? Chỉ vợ chồng tôi biết với nhau.
Ngoài sân tôi nghe tiếng bà Bảy ưng xoe xoè chửi vợ chồng thằng Nam ở chuồng heo cùng dấy:
– Mày thiệt tệ, ăn cắp ăn trộm quanh hàng xôm láng giềng, giờ có con gà mái đẻ nhà tao mày cũng câu luôn, lông gà còn đây mày chối cãi cái gì. Bao nhiêu lần mày ăn cắp trứng, lưới trộm cá tra của tao, tao thương hại không nói đến, chớ tao không đui. Nhà tao không chứa quân ăn trộm ăn cắp. Tao muốn bay ra khỏi nhà tao, càng sớm càng tốt, tao thí luôn cho số tiền nhà vợ chồng bay còn thiếu tao…
Tiếng con vợ thằng Nam năn nỉ:
– Má tội nghiệp cho vợ chồng con, vì hoàn cảnh mà phải vậy thôi, chớ trước đây chúng con cũng sống trong nhà cao cửa rộng vậy. Anh ấy đi học tập cải tạo về…
– Câm ngay, chúng mày nói láo, chẳng phải ông nọ bà kia gì ở chế độ cũ được đi học tập cải tạo mà là đôi vợ chồng lưu manh chuyên nghiệp trộm cắp vặt bị tù nên mới có tư cách ấy. Tao không đui, vợ chồng mày đâu phải như vợ chồng nhà người ta.
Con vợ thằng Nam oé lên, tôi nghe giọng điệu nó chĩa sang vợ chồng tôi nói xiên nói xỏ. Tiếng thằng Nam ồm ồm:
– Thôi bà ơi, bà đừng nói đụng chạm đến danh dự tôi. Bà khenđứa này chê đứa kia. Tôi lưu manh nhưng cũng không lưu manh bằng kẻ khác sống ở đây. Tôi chỉ bần cùng sinh đạo tặc. Có saođâu, đời mà… Cái nhà bà cho thuê là cái chuồng heo chớ là gì mà báu giá thế.
Bà Bảy ưng tức cành hông, giọng bà gay gắt:
– Ngay sáng mai tụi bay đi khỏi đây, nếu không tao cho công an xúc bay đi đổ ngoài bãi phế liệu.
– Xong ngay, bà đuổi hết chứ? Hay chỉ một gia đình tôi?
– Vợ chồng con cái mày thôi, người khác có tội tình gì.
Thằng Nam cười lên khăng khắc, có lẽ nó đang tu xị rượu để”nung chí anh hùng”.
– Tôi đi, nhưng kẻ khác đừng hòng ở đây để bà làm giàu. Tôi kiếm chuyện đó.
Tôi liếc nhìn vợ tôi như thầm hỏi. Vợ tôi nói:
– Kệ họ, mình chẳng dính gì đến họ.
– Dzăng miếng!
– Mình có làm gì đâu, ăn cắp ăn trộm của ai cái gì đâu.
– Ấy vậy mới dzăng miếng, bởi mình không là đồng bọn.
Tôi muốn nói đến cái ngược ngạo của cuộc đời. Nhưng thây kệ, tôi mệt mỏi quá rồi. Tôi thèm một giấc ngủ hơn tất cả. Làm việc ban ngày ở nơi hôi thối không được nghỉ ngơi, đêm thường xuyên bị mất ngủ thì chết mất.
Tấm ni lông giải dưới chiếu quả nhiên đỡ ẩm thấp. Tiếng gió thổi qua vách liếp nghe êm như lời ru.
Tôi thiếp đi không biết bao lâu.
– Thằng giặc kia, bước khỏi nhà tao ngay, mày hiểu rằng đàn ông đàn bà không quen biết nhau không thể ở chung một nhà,đừng nói chi nằm chung một giường. Cút xéo, biết điều thì cút xéo ngay…
Đúng là một người đàn bà trọng tuổi mà lạ hoắc đối với tôi. Mụ có son phấn mà mặt xanh nhợt nhạt như ma, đôi mắt quắc lênđổ lửa, lạnh lùng. ừ, tôi đang ở trong một căn nhà lạ, nằm trên giường với người đàn bà lạ.
Kỳ vậy, không biết tại sao nữa. Tôi chưa kịp giải thích thì mụđàn bà hung dữ giương những móng tay nhọn hoắt lên cào mặt tôi. Tôi né tránh, mụ vồ hụt nhưng mười móng nhọn cứ múa vèo vèo trước mặt tôi. Tôi hét lên…
– Anh! Anh! Tỉnh dậy, anh!
Tôi thở hào hển, đêm tối mò mò, một cơn ác mộng, chỉ là một cơn ác mộng. Vợ tôi đang ngồi bên cạnh lay gọi.
– Anh tỉnh rồi, thắp đèn lên.
Vợ tôi chui ra khỏi mùng thắp ngọn đèn dầu. Tôi hoang mang về cơn ác mộng, mồ hôi vã như tắm. Tôi hổn hển nói:
– Ghê quá, một cơn ác mộng ghê quá.
Vợ tôi sờ trán tôi:
– Anh bịnh rồi, tại anh làm việc nhiều quá đấy mà, anh cầnđược nghỉ ngơi. Đừng nghĩ ngợi lung tung. Anh la hét mà em bắt sợ.
Vợ tôi róc cho một hớp nước lạnh, thoa dầu rồi ép tôi ngủ. Nhưng không ngủ được, tôi cứ hoảng sợ. Cái đèn dầu để ngoài mùng rọi ánh sáng vàng vọt, mờ mờ. Tôi thao thức nghĩ hoài đến cơn ác mộng vừa rồi. Bây giờ đến lượt vợ tôi, có lẽ đã quá mệt nên ngủ say. Tôi nghe tiếng ngáy của nàng, rồi tiếng ú ớ. Nàng lại nói mê chăng? Tôi cầm tay nàng bỏ xuống khỏi ngực, nàng xoay người nằm nghiêng. Rồi nàng giẫy đạp, nàng hét.
Tôi ôm lấy nàng, nàng đánh vào mặt tôi bôm bốp. Rồi nàng hồi tỉnh, nhin tôi kinh hãi:
– Ma, ma, anh ơi!
– Em ngủ mê, làm gì có ma.
– Thật đấy thật đấy, đúng là một con ma. Em không ngủ nữađâu, cứ nhắm mắt lại là thấy nó.
Nàng kể cho tôi nghe cơn ác mộng. Một gã đàn ông lạ hoắc, kéo nàng, ép nàng nằm chung giường với hắn.
Hắn than hắn cô đơn, đang cô đơn thì có người đến chung sống. Nàng phản kháng mãnh liệt. Khi nhìn kỹ thì thấy hắn là một con ma. Đúng là một con ma kinh khủng, hắn cứ nhất định đòi bắt nàng, nàng chống trả đánh đấm hắn túi bụi…
Tôi phi cười:
– Có thể con ma đó là anh!
– Nỡm, thế mà cũng đùa được, nhà này có ma.
Tôi suy nghĩ một lát:
– Nếu có ma thật thì đâu cũng có ma chứ riêng gì nhà này. Chúng ta đang sống trên mảnh đất lắm người mà cũng nhiều ma, mà thôi, không nói nữa, em lại sợ không ngủ được.
– Em không ngủ đâu, nằm canh cho anh ngủ.
– Anh cũng không ngủ được.
– Vậy thì mình nằm chờ sáng, anh chở em đi uống cà phê.
– Mình sẽ uống cà phê sữa, đã lâu lắm mình không uống cà phê sữa. Anh phải hút một điếu thuốc thơm. Em ăn tô hủ tíu, chịu không?
– Ừ nhưng anh ăn gì?
– Gói xôi hay cái dầu cháo quẩy như mọi khi.
– Không chịu đâu, anh có ăn hủ tíu thì em mới ăn, anh làm việc cực nhọc…
Tôi đặt tay lên bụng vợ:
– Tất cả dành cho con, nghĩ đến nó bất kỳ là trai hay gái, anhđều thương, đều muốn hy sinh cho nó. Em nhớ chỉ chúng ta là bố mẹ mới thương yêu nó thôi. Ngoài ra, xin lỗi anh không còn dám tin tưởng ai.
Không ai thương chúng ta cả, nói chi thương nó, hài nhi vô tội này bị coi là nghiệt chướng.
Anh thù hằn đời sống đến thế sao?
– Không thù hằn mà chỉ cảnh giác, chính đời sống này đã dậy anh như thế…
Chúng tôi chung sống với nhau, nhưng vì chuyện cơm áo ít có dịp tâm tình. Đêm nay nhân chuyện sợ ma, chúng tôi nói chuyện thâu đêm. Sáng sớm tinh mơ, vợ chồng tôi trở dậy đã thấy bà Bảyưng quét sân quèn quẹt. Bà nhìn vợ chồng tôi, hỏi:
– Sao chúng bay dậy sớm vậy?
Vợ tôi mau mắn:
– Chúng cháu ra chợ uống cà phê.
– Đêm qua tụi bay làm chi mà um xùm vậy, đánh lộn hả?
– Không có đâu…
Tao tối qua cũng không nói gì vợ chồng bay, chỉ vợ chồng thằng lưu manh kia phải bước khỏi nhà tao ngay ngày hôm nay. Vợ chồng bay đừng hiểu lầm, tao thương vợ chồng bay ít học mà hiền lành, không xạo sự. Giúp đỡ được tụi bay tao giúp liền, vợ chồng có điều gì không phải thì bảo nhau, đừng đánh lộn, nghe không…
– Dạ, tụi cháu không đánh lộn, tại đêm qua thấy ma nên cháu mới la.
– Ma hả, ứa tao sẽ cúng kiềng, oan hồn uổng tử ở đây thiếu gì. Xưa kia nơi đây là bãi chiến trường mà. Ông Bảy nhà tao có đánh trận này, tao là giao liên.
Buổi chiều tôi trở về, vợ chồng thằng Nam hàng xóm đã dọn nhà đi.Vợ thằng Nam trút giận ngoặt sang gây lộn với vợ tôi. Nhưng chuyện cũng đã qua. Cái giống ti tiện hạ cấp ấy vẫn thế, chấp nhất làm chi. Tôi thấy thuộc lối vào nhà có treo một nhánh xương rồng, cửa lại dán một lá bùa nào đó viết vẽ lăng quăng. Vợ tôi hiểu thắc mắc của tôi, nàng giải thích:
– Má Bảy “ếm xì bùa” con ma đó. Bùa má lấy của thầy nào đó em không biết, anh đừng có bóc đi mà bả giận.
Tôi ừ ào cho qua chuyện. Cuộc sống yên ổn hơn khi bên cạnh tôi không còn gia đình hàng xóm ồn ào toàn những chuyện trộm cắp lừa đảo. Nhưng bùa chú cũng vô ích, những con ma vẫn lộng hành. Tôi mất ngủ, người gầy dốc, tuy rằng công việc không đến nỗi nặng nhọc như lúc đầu. Tôi đi làm không cần phải mặc những quần áo xấu, rách. Tôi được cầm lại cây bút, không phải để viết văn, làm thơ mà để viết những con số trong sổ hàng. Nhưng cũng là cầm bút vậy. Địa vị tôi được nể vì, có người ve chai còn gọi bằng thầy.
Tôi huấn luyện cho cậu thư ký trình độ học vấn lớp ba đỡnhầm lẫn hơn trong sổ sách. Thuở đó người có học vấn làm việc trong một cơ sở hiếm hoi như lá mùa thu.
Chuyện tôi được trọng dụng không có chi lạ. Giám đốc của tôi ký tên bằng cái gạch chéo chữ thập. Tôi làm giùm cho họ nhữngđơn từ gởi nơi này nơi kia, lại “có tài điều khiển nổi cái máy chữ cũ rích hiệu Remington, những đơn từ trở nên trang trọng hơn, có mộc xanh mộc đỏ mang tên cơ sở, tên giám đốc Ngọc Tũn. Nhưvậy làm gì mà tôi không được trọng dụng, ở xứ mù thằng chột làm vua. Đúng là trường hợp của tôi.
Những con ma vẫn quấy phá gia đình nhỏ bé của tôi. Tôi không tin chuyện ma quỉ mà buộc phải tin, thây kệ bà Bảy ưng cúng kiềng cho vợ tôi, vì nàng ngã bệnh mà bà già trầu Bảy ưng nói là bị ma làm. Nhưng tôi vẫn phải cho nàng uống thuốc hàng ngày. Tiền bạc kiếm được đổ vào thuốc và những bữa ăn có thêm chất lượng, nên vẫn chưa mua được cái giường cho ra hồn. Cái giường bây giờ là những tấm ván kê lên mấy viên gạch cách mặt sàn xi măng mươi phân, hai tấm ni lông dầy ngăn cách hơi ẩm thấp, cái chiếu mới. Như vậy cũng tạm ổn rồi.
Ông bà chủ tỏ ra biết điều và trọng dụng tôi, giao tôi điều hành hầu hết công việc trong cơ sở, trừ công việc mua bán và xử dụng người. Tôi không thể hiểu được cái lắt léo mánh mung trong công việc, kể cả việc đi mua bán đồ phế liệu có tôi được đi theo. ông bà chủ dự tính thành lập hẳn một nhà máy tái sinh đồ phế liệu.
Cho đến một ngày, vợ chồng ông bà chủ đề nghị tôi mở một lớp bổ túc văn hóa cho riêng hai vợ chồng… Tôi cũng đành chấp nhận, vì tôi có thêm thu nhập. Nhưng sao tôi vẫn chán công việc ấy, chán những tiếp xúc hàng ngày đầy những mánh mung. Đôi khi những quyết định của tôi làm mếch lòng chủ.
Mướn thêm một người, hoặc sa thải một người… ông phó giámđốc điều hành gay gắt:
– Chú nên hiểu rằng đây là cơ sở làm ăn, không phải viện tế bần, mình không nên giúp ai hết vì lòng nhân đạo.Thực tế là thế tôi phải nhận sự sai trái.
Vợ tôi bị ma làm nên ốm đau quặt quẹo hoài, ốm đau như giả vờ… Tôi buộc phải tin rằng trên đời có ma hiện hình hay ở trong những cơn ác mộng để dọa người. Nạn nhân của ma toàn là những con người hiền lành, yếu đuối hay hết thời như… tôi chẳng hạn. Những con ma đều có tư cách hèn hạ như nhau, nhưng nguy hiểm vô cùng. Nguy hiểm ở điểm đó.
Sửa soạn cho một đời sống văn minh, một cuộc đổi mới nào đó sau ngày chiến thắng. Thành phố được giải phóng phải giàu đẹp gấp mười ngày xưa. Con người ở đó phải sống văn minh hơn đểtheo kịp đà tiến bộ của thế giới, của nhân loại. Tôi đứng lại tức là tôi tụt lùi. Con người tiến bộ là con người biết bỏ thuốc lào hút sang thuốc lá, thuốc có cán (đầu lọc) mang mác ngoại quốc càng tốt. Biết bỏ dép râu, mũ cối để đi dép sa bô da, tiến tới đi giầy, đội mũ giô kề hoặc mũ phớt. Phụ nữ phải biết bỏ áo bà ba để mặcđầm, bỏ khăn rằn đội đầu để làm tóc kiểu cọ, biết trang điểm son phấn. Tất cả những thứ cũ kỹ xưa kia đều nên chui vào tủ kính ở viện bảo tàng lịch sử, nhà truyền thống.
Một ngày nào đó ai muốn biết phải giở tư liệu lịch sừ ra tham khảo hoặc nghe hướng dẫn viên thuyết minh.
Tôi vẫn tin như thế và có những suy nghĩ lẩm cẩm. Vì nhìn đà tiến bộ quay đến chóng mặt. Đối với thế giới chẳng nhằm nhỏ gì, nhưng với đất nước này thì đã ghê gớm lắm. Dập dình chuyện đổi mới, có thể đổi mới luôn tư duy. Nhưng tôi thấy vẫn còn nhiều khó khăn lắm, vì ở các cơ quan, các công sở vẫn còn những người dân thấp cổ bé miệng khi muốn xin xỏ một điều gì trên mặt giấy tờ, tay vẫn lo le điếu thuốc có cán hiến dâng lên vị cán bộ để cán bộ thông cảm. Kẻ tự coi là nhỏ bé làm việc nhỏ, các ông lớn thì làm việc lớn, muốn làm ăn phải biết chi đẹp, nơi bàn chuyện là cửa hàng bia có ôm để nói chuyện phải quấy. Tôi nghe ông bà chủ tôi nói vậy.
Tôi an phận thủ thường, tuyệt chẳng nghĩ đến chuyện bon chen. Hiền như chưa bao giờ hiến thế, như một lão bộc ở nhà quê có cơ may được vào nhà chủ giàu có.
Dân số thành phố bùng nổ, vì những lý do gì đó, người ta dồn vào thành phố để làm ăn, để kiếm sống. Nhà nước phải nới rộng vùng ven đô để trở thành đô thị. Các nghĩa địa chôn người chết nên đi chỗ khác chơi, di dời đi nơi xa hơn nữa, nhẩy cứ như cóc nhẩy. Xương cốt người chết cũng điêu linh. Người còn thân nhân thì đỡ, người không còn thân nhân cũng được nhà nước liệu bề lo toan hợp tình hợp lý. Tôi được biết chừng đó thôi.
Buổi trưa, vợ chồng cô Ngọc Tũn rộn lên về việc đi thâu mua bao ni lông. Dĩ nhiên tôi là người được đi theo để lo chuyện sổ sách. Anh thư ký lo chuyện cân đo Hẳn phải là một đám bán đồphế liệu to nên Ngọc Tũn lo một số tiền lớn mà nàng vẫn chưa an tâm, nói với chồng:
– Anh đi theo tôi, nếu thiều tiền bạc anh chạy về lấy liền. Mình tiền trao cháo múc nó không ép giá được. Có phải sang tay ngay mình cũng có lời.
Anh chồng mà số tử vi có sao thân cư thê chiếu mệnh, hỉ hả:
– Cần gì phải sang tay ai, mình dư sức xử lý nó, làm thành phẩm khi đó bán còn lời gấp mấy…
Anh ta còn tỏ ra nắm bắt được nền kinh tế thị trường trên đà phát triển mà vợ chồng anh đang gặp thời cơ:
– Ta có thể không cần bán, chờ cho nhà máy tái sinh của mình hoạt động, ta sẵn vật liệu, có giải tỏa cả mười nghĩa địa ta cũng chẳng lo.
Thế là sao? Thế nào? Tại sao lại liên quan đến việc giải tỏa nghĩa địa? Tôi không hỏi ai cả, lặng lẽ đi theo họ.
Anh chồng, phó giám đốc điều hành, hôm nay không nói ngọng vì anh đang hồ hởi chứ không tức giận. Anh chỉ tức giận mới nói ngọng. Điều đó ai cũng biết.
Nghĩa địa bị đào bới đông nghịt người. Người công tác lao động có, thân nhân những bộ xương khô vừa gào khóc vừa la lối:
– Khi chôn má tôi, ngoài những vòng vàng bà mang theo, tôi nhớ còn bỏ vào miệng bà một chỉ vàng mà, bây giờ sao không có…
Bà ta gào khóc, trong khi mấy người làm công việc đào mồ mồm năm miệng mười:
– Có thì lẫn đâu đó chớ ai ăn cắp của người chết, mang tội…
Chị đàn bà đốt nhang khấn vái lia lịa:
– Má ơi, má có khôn thiêng thì phù hộ cho con tìm lại được chỉ vàng, tưởng má được mồ yên mả đẹp, ai dè. Má có khôn thiêng thì vặn cổ chúng nó. Mùi hôi hám của những xác chết được đào bới lên thật khó ngửi, hòa lẫn không khí nóng hầm hập càng dậy hơi. Bây giờ thì như một khu chợ trời, người ta ngã giá đủ thứ được xử dụng lại, từ cái nắp ván thiên gỗ còn tốt, đến một cái vòng ngọc thạch, chẳng may bị vỡ. Tất cả đều là đồ ve chai được đánh giá. Quần áo của xác chết nếu không mục nát cũng được đánh giá. Những mộ bia, những phiến đá, những chồng gạch được đập ra từ các ngôi mồ, có thể dùng lại để xây cất. Tiền, tất cả đều là tiền, ngoại trừ những bộ xương, mảnh xương dược rửa sạch trước khi bỏ vào cái tiểu sành do thân nhân mang tới.
Nhiều bộ xương chưa tiêu còn dính thịt da bầy hầy dậy mùi hôi đến phát khiếp. Những xác chết khó tiêu được khâm liệm trong bao ni lông dầy buộc chặt ngăn không khí. Nhưng khi baođược mở hơi xì ra, xác chết đột nhiên phồng lên rồi xẹp xuống, chảy nước màu gì đó coi kinh khủng, không hẳn màu bùn xám, màu máu mủ, xương thịt thối rữa. Những xương thịt đó bị dốc ra khỏi túi ni lông, được rửa sơ trong một vũng nước lớn, ném sang một bên. Ruồi nhặng bay như trấu, va đập vô tội vạ người đứng xung quanh. Những chiếc khăn bịt mũi trở nên vô ích. Những khăn tẩm dầu gió, dầu cù là càng trở nên vô ích hơn nữa, dậy mùi hơn. Có những người nôn oẹ. Nhưng họ vẫn lăn xả vào tranh nhau thu mua.
Bà chủ Ngọc Tũn là người có tiền và dầy dạn kinh nghiệm trong những việc mua bán như thế này. Chờ cho các bạn hàng nhỏ tranh cướp, thâu mua hết. Bà ra một giá cao nhất, mua mão toàn thể những bao ni lông vĩ đại của những bạn hàng nhỏ. Tôi nhìn những bao ni lông và nhận thấy quen quen. Rồi tá hỏa, thì ra thế, toàn là bao ni lông khâm liệm người chết, như những chiếc áo quan tráng chì kẽm mà tôi từng thấy thuở còn chiến tranh. Thuở tôi còn làm phóng viên chiến tranh chạy rong trên những mặt trận. Quá giang những chuyến máy bay C.130 chở xác tử sĩ từ Quảng Trị về Sài Gòn, sao bây giờ tôi mới nhận ra những bao ni lông ấy. Những kẻ khác vẫn làm việc vô tư nhiều bao còn nhầy nhụa thịt da. Có cả đội người đứng xua đuổi, đánh đập bầy chó đói chỉ toanđánh cắp xương. Tiếng bà chủ bên tai tôi:
– Chú vô sổ giùm tôi, tôi thâu mua được sáu trăm bảy mươi ba bọc ni lông. Cho nó chuyển lên xe lam của cơ sở mình. Tối nay chú cho điều động người giặt sạch, đừng tiếc xà bông, sáng mai cho phơi khô rồi nhập kho.
Tôi xây xẩm mặt mày, những tia nắng chiếu trên nghĩa địa loé lên thành hằng vạn ngôi sao. Tôi muốn ói. Bà chủ nhìn tôi:
– Mặt chú xanh quá, sao vậy?
Tôi dốc bi đông nước, uống ừng ực, nhưng tôi vẫn thấy chóng mặt, bây giờ hình như nhức đầu.
Tôi nói với bà chủ:
– Tôi bị trúng gió rồi.
Bà chủ đưa tôi chai dầu gió:
– Chú thoa đi, ờ thôi, chú cứ về, giao lại công việc cho thằng nhỏ.
Tôi loạng choạng leo lên xe đạp ra khỏi nghĩa địa đang bị đào bới trong cảnh hỗn loạn của phiên chợ trời về chiều. Cái oi bức, nồng nực của nắng tháng hai vùng nhiệt đới làm tôi muốn ngất xỉu. Trời ơi, cái giường của tôi, tấm ni lông khâm liệm người chết. Tôi đã nằm chung với ma quỉ bấy lâu nay. Vợ tôi đau ốm, cái bào thai cũng đau ốm lây. Bố đã lầm lẫn! Cả nhà tôi bị ma làm bấy lâu nay. Tôi phải đốt nó không phải trả thù mà trả lại những gì của người cõi âm, tôi khấn khứa. Tôi cuồng lên đạp xe, mà sao hai chân tôi cứ ríu lại Tôi ngã lăn trên đường.

_____________

Cái Còng  

vietvanmoi.fr

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Cái còng! Nói đến từ ấy tôi thất kinh. Mạng số không ra quái gì, bởi vậy nhiều lần trong đời tôi đút tay vào còng. Thời Ngô Đình Diệm làm tổng thống, tôi bị tống giam vào khám Chí Hòa. Hai tay bị còng, cái còng Tây để lại, bằng đồng, vặn vít chứ không khóa. Tất cả “quái khuếch ” đều chịu thua khi bị mang loại còng này.

Thời Nguyễn Văn Thiệu là nguyên thủ quốc gia, tôi cũng bị ném vào Chí Hoà vì tội chống đối lăng nhăng gì đó. Bị khóa tay. Nhưng cái còng năm xưa vắng bóng đâu rồi. Một loại còng mới có răng cưa, dây xích ngắn, khóa chắc chắn do Mỹ quốc viện trợ. Tôi nhìn thấy cả thùng còng chưa dùng tới có dán nhãn hiệu hai bàn tay nắm lấy nhau, tỏ rõ lòng thân thiện, ném ở góc phòng can nhơn khám Chí Hòa.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, tôi quờ quạng lại bị tóm và bị còng. Nhìn lại cái còng, tôi thấy nó đã cũ kỹ, đúng là cái còng tàn dư của Mỹ Ngụy bỏ lại. Tôi bị khóa tay giải đi khám Chí Hòa. Tôi vô phúc nên bị khóa bằng cái còng xét rỉ. Khóa hóc, càng cựa quậy lưỡi răng cưa ở cái còng tối tân càng thít chặt, đến độ hai tay tôi sưng lên, đỏ lựng. Người cán bộ công an lôi tôi đi phá chiếc còng bằng búa và đục sắt. Hai cổ tay đau điếng mà không dám kêu. Tôi còn bị chửi lên đầu:

– Tổ cha thằng phản động, mày làm tao tiêu mất một cái còng rồi.

Khi vào xà lim, tôi bị cùm bằng sắt. Tới trại học tập cải tạo tay tôi bị cùm bằng tre, chân thì bị cùm gỗ cây thau lau, cổ cũng bị gông nốt. Khi bị kết tội chống đối hay trây lười lao động.

Nói tóm lại, cái còng, cái cùm, cái gông đều là một thứ dụng cụ để khống chế cơ thể con người. Nó muôn hình vạn trạng.

Tôi muốn quên chuyện đó khi được trả tự do.

Quên vĩnh viễn cái còng. Nó lâm sự xui xẻo cần được đốt vía xua đuổi đi như thay pháp trừ tà ma quỉ quái.

Tôi trở về tự.do, thảnh thơi sống bằng nghề mua bán ve chai. Tôi rong chơi khắp thành phố, rao hàng và nhiều khi cũng trúng mánh. Thâu mua được nguyên một cục răng vàng, một cái đỉnh bằng bạc, một cái huy chương bắc đẩu bội tinh bằng vàng 18 K của một ông tướng, ông tá nào đó ở cư xá sĩ quan mà nay phải đi học tập mút mùa tận Hà Sơn Bình. Thằng con trai ngu dốt dại khờ của ông ta lục ra bán cho tôi. Thế là tôi trúng mánh..

Rõ ràng tôi là thằng mua gian bán lận. Đạp lên đầu nhau mà sống. Để chắc ăn, tôi móc ra hai chai át xít Một chai nước màu vàng, một chai nước màu trắng. Chấm lên đồ vật mình định mua. Một vệt đen nổi lên. Trúng rồi! Tôi phải ếm giá. Cái đồ khỉ này chỉ đáng giá một ly cà phê đen, thêm cho ba điếu thuốc lá Samit lậu Thái Lan! Tôi nói với chú nhóc:

– Cho chú em năm đồng đi uống cà phê, hít Samit cho đỡ vã, thật ra tôi chẳng muốn mua cái khuy đồng này làm gì.

– Cái huy chương của ba tôi, Bắc đẩu bội tinh.

-Chẳng cần biết, cũng như cái khuy đồng thôi. Chỉ có kẻ ngu dốt như tôi mới mua một cái khuy đồng tới năm đồng bạc.

Chú nhóc vã, đành ô kê ngay. Thế rồi tôi thơ thới ra đi. Thật ra chẳng cần mua bán nữa, tôi đã trúng mánh rồi. Tôi chạy về bọn thu mua ngồi ở góc đường Nguyễn Thiện Thuật, hùng dũng gọi rượu thuốc uống để nung chí anh hùng. Thằng phân lòm cân vàng trả tiền cho tôi theo giá vàng thị trường. Mặt tôi cứ vác lên, ra lệnh cho đám ve chai hết thời gọi rượu uống thả cửa. Thằng bạn tôi có bút hiệu là Sao Biển, trước kia làm nghề viết báo, nay cũng ra nghề ve chai mang cái bản mặt sưng tím, lỗ đầu, lỗ mũi ăn trầu, trẹo quai hàm trở về:

– Xui quá, tao bị chúng nó quây lại “phện” cho một trận thừa chết thiếu sống. Chút xíu nữa thì chúng nó móc mắt tao cho tao chuyển sang nghề bán vé số. Tôi thân róc ly rượu xây chừng mời bạn:

– Cạn ly, lý do?

– Tao thử vàng, một bà lão có chiếc răng vàng lung lay muốn bán cho tao, nhưng còn ở trong miệng bả. Để chắc ăn tao biểu bả há miệng ra, lấy át xít thử. Không may một giọt át xít rớt ra nước răng bả, bả dẳy lên tê tê. Vậy là con cháu bả xúm lại đập tao. Phải thử vì răng vàng bây giờ nhiều loại giả, làm bằng đồng mạ vàng hay i-nốc. “Đại đế ve chai đã cảnh giác anh em như thế.

Chúng tôi hộc lên cười, uống rượu như điện, an ủi bạn gặp cảnh tai nạn nghe nghiệp. Thay vì ca hát, chúng tôi mở cuộc thi rao hàng xem đứa nào hót hay nhất. Nội dung bài thi chỉ như thế này:

– Mắt kiềng bể, vỏ đồng hồ, vỏ cà rá, răng vàng, bạc vụn, tiền xưa bạc cũ, ai bán không. Mua hết, bán hết, bà con cô bác ơi… ấy vậy mà nhiều thằng rao không ra lời. Thằng thì nghẹn lời, thằng tủi thân, mấy con “ghệ” rao như khóc. Thằng bị bệnh sốt rét tắt tiếng ngang. Thằng sứt môi rao có âm điệu ễnh ương kêu. Tôi dĩ nhiên rao được, công phu tập luyện đi lại theo đại đế ve chai hết sáu tháng trời mới vỡ giọng. Hôm nay tôi giật giải vì tôi là người trúng mánh.  Không phải ngày nào cũng giống như ngày nào.

Ngày vàng son có và ngày thê thảm cũng có. Vận bỉ đến không hẹn, tôi rao rát cổ bỏng họng mà chẳng có ma nào mang đồ ra bán. Tôi đi vào một xồm xưa, theo tôi đánh giá hẳn là có cối giã trầu bằng bạc, hay tiền xưa bạc cũ, chắc cũng bằng quí kim. Xóm Gà này có nhiều bà già trầu, ưa để dành chắt bóp, tiền bằng bạc chôn giấu cả hũ ngoài vườn. Thế là tôi cất tiếng rao giữa buổi trưa nắng cháy. Nâng giá đồ vật mình muốn mua lên cho thêm phần hấp dẫn.

Trong xóm có một quán nhậu đông đảo khách hàng. Tôi nhận ra họ đều là thanh niên, ở trần, mặc quần đùi ngồi chồm hổm ngay giữa quán nhậu đế với một mâm xíu quách, chấm nước mắm chanh ớt. Bữa nhậu đang đến hồi gay cấn, bầy hấy. Chẳng biết họ đã “cưa, hết bao nhiêu lít đế, văng tục và chửi bới nhau đến từ thứ bao nhiêu triệu. Những cục xương văng vung vãi khắp nơi. Ruồi nhặng bay như vãi đậu. Có người nghe tiếng rao, anh ta ngoắc tôi vào:

– Mày mua tiền xưa bạc cũ phải không?

– Dạ, đúng vậy.

– Mua với giá cao, một đồng ăn chín mười đồng?

– Đúng vậy.

– Kim loại màu vàng?

– Chính thế!

Người đàn ông hỏi tôi mặt đỏ như mặt gà chọi, kêu thằng nhỏ ngồi cùng bàn:

– Bẩy, mày về nhà tao mở cái ngăn tủ, lấy sang đây cho tao đồng kim loại màu vàng. Chủ quán đâu, đưa thêm một can rượu nữa, hết xíu quách thì nướng khô…

Thằng Bẩy phóng rẹc một cái. Nó sang đến bên kia đường. Chạy vào nhà, lục lọi. Tiếng đàn bà la chói lói.

Thằng nhỏ chạy sang quán đưa đồng tiền cho tôi:

– Chung tiền đi, quí lắm đó?

– Cha mẹ ơi, một đồng tiền điếu, dùng để cạo gió.

Đồng tiền dùng lâu ngày mòn vẹt, màu vàng, bóng loáng. Không phải đồng tiền bà đầm xoè. Tôi chưa kịp nói gì mụ đàn bà đã nhào sang xoe xoè chửi:

– Nhậu nhẹt từ đêm qua tới giờ chưa đã sao, bây giờ lại về nhà khiêng của đi bán nữa.

Gã lớn tuổi bình tĩnh:

– Đừng ồn lên vậy, bà yên tâm bán được cho chú ve chai này, tôi chia cho bà năm chục.

Tôi lắc đầu đưa lại đồng điếu:

– Tôi không mua đâu.

Một gã khác trong đám nhậu:

– Tại sao không mua, rõ ràng mày nói mua mà.

Mụ đàn bà nhảy choi choi:

– Không bán, tao không bán cho đồ lưu manh chợ trời. Bọn này ghê lắm, chuyên đi lừa gạt người lương thiện.

Tình thế trở nên gay cấn. Đám đàn ông say rượu hung tợn. Chúng dám làm thịt tôi cướp hết tiền bạc vốn liếng lắm! Miệng mụ đàn bà điêu toa độc ác, kinh khủng không kém:

– Đồ buôn gian bán lận, trời ơi, đồng tiền cạo gió của tôi bằng vàng y mà rẻ mạt thế à. Lột da nó ra!

Không còn cách nào khác, chạy là thượng sách. Tôi nhẩy nai. Tôi phải nhanh hơn bọn say rượu kia, khoẻ hơn mụ nái xề chân yếu tay mềm. Tôi phóng đi, vẫn nghe tiếng chân đuổi theo đồng thời nghe tiếng ngã ạch đui.

Chín mươi chín phần trăm tôi thoát hiểm. Nhưng này, sao lại có bàn tay ai túm cổ tôi. Sợ chết, tôi liền giở mặt hèn ra:

– Lạy ngài, tha cho con, con còn phải nuôi mẹ già, vợ dại, con thơ.

Tiếng cười hề hề:

– Bình tĩnh đi…

Gã đàn ông mặt rỗ chằng rỗ chịt, có hàm răng cải mả ố vàng, nam đen, trông cái mặt như trái xúp lơ.

Tôi vẫn chưa hoàn hồn:

– Thật tình tôi không thể mua được món hàng ấy của các ông. Tôi không gian dối gì hết…

Gã đàn ông buông cổ tôi, vẫn cười nhe hàm răng cải mả:

– Đúng rồi, tôi hiểu, cái đồng điếu hạng bét đó mà mua gì được. Vào nhà tôi đi, anh có hàng mua được. Tôi biết anh là “chuyên gia mua đồ cổ”.

Tôi hoàn hồn thật sự, đứng trước mặt anh ta.

Hình dạng anh ta coi xấu xí vậy nhưng cũng không có gì nguy hiểm. Tôi chỉ nhận thấy anh ta có biệt tài bắt người. Chỉ một cái nắm cổ, hết cựa quậy. Hẳn là một cao thủ, giấu tung tích.

Tôi theo anh ta vào căn nhà rách nát. Mái lá, tường bằng tôn thùng khuy. Sàn xi măng loang lổ trơ cả đất . Hai đứa trẻ ở truồng, mặt mày lem luốc nằm ngủ. Đứa nhỏ đút ngón cái vào miệng mút, dãi dớt nhậu nhão

Căn nhà nhỏ thấp lè tè, nóng hầm hập. Gã đàn ông mặt mũi quái gở mời tôi ngồi xuống sàn:

– Ngồi chơi chờ tôi chút. Tôi mang ra món đồ “gia bảo” này chắc chắn anh mua được. Hắn khom người xuống mở cái cửa tủ nhỏ xíu lục lọi. Tiện tay tôi lột cái mũ ra quạt cho hai đứa bé. Tự nhiên tôi thấy thương chúng, như thương hai đứa con tội nghiệp của tôi. Mái tóc tơ của trẻ thơ phơ phất. Gã đàn ông lục một hồi, lấy ra một vật gói giấy cẩn thận đưa cho tôi:

– Đồ gia bảo đó, sự nghiệp đời tôi, bây giờ phải bán cho anh, tôi tiếc đứt ruột.

Vật tôi cầm trên tay nặng như sắt thép, có thể một vật gì đó không bằng vàng cũng bằng bạc, đồng đen? Tôi vẫn chưa mở giấy:

– Cái gì đây?

– Anh có quyền mở ra xem hàng, mình thuận mua vừa bán, tôi chỉ cần tiền mua đủ năm ký gạo cho các chịu. Tội nghiệp chúng cả tháng trời nay ăn mì sợi khoai lang. Con vợ tôi đi bán tàu hủ mà không đủ tiền mua gạo cho tụi nó. Tôi thất nghiệp mấy năm nay rồi, không làm gì ra tiền, cứ phải bán dần đồ đi ăn… Tháng trước tôi bán chiếc xe đạp cũ, sườn hiệu Tao cho lạc xoong. Người ta tân trang sơn phết lại lời đáo để đó .

Tôi giở hai lần giấy gối lấy ra món đồ. Tôi thất kinh kêu lên:

– Trời, cái gì thế này, sao lại cái còng?

– Ừ cái còng đồ, cái còng gia bảo của tôi, mua đi rẻ thôi mà.

Tôi vẫn giẫy lên:

– Không được tôi sợ cái này lắm.

Gã cười, nhe hàm răng cải mả và nước răng xám ngoét ra:

– Xem kỹ hàng đi, hàng tốt, cả một đời làm lính kín của tôi mới trúng thăm được cái này. Một triệu cái còng viện trợ mới có một cái đặc biệt, trong nghề tôi biết, không sét rỉ, khóa nhậy đàng hoàng, pặc một cái là khóa nghiến lại, hết đường cục cựa.

Anh bạn mới say sưa nói đến sự nghiệp lính kín chuyên đi bắt người của anh ta ngày nào, nay đã là dĩ vãng.

Những cái hay cái đẹp và cái tốt của chiếc còng gia bảo mà anh may mắn làm chủ. Anh nói nó “o li din” đồ ngoại vì có chữ đề Made in USA. Tôi phải chặn anh ta lại:

– Tôi hiểu giá trị của nó rồi, nhưng cái này mua làm gì được?

– Đề phòng kẻ gian.

– Thôi đi cha nội, mua rồi tôi bán cho ai đây?

– Sao lại không, công dụng của nó ghê lắm chứ. Bây giờ kẻ gian hơi nhiều, anh dùng cái còng này khóa xe đạp, ông nội thằng vồ xế nào dám đụng đến. Mấy cái khóa xe đạp Trung quốc sản xuất đâu có bằng. Công dụng của nó đó, chưa kể…

Anh ta bỏ lửng câu nói, nhưng tôi cũng hiểu cái oai của cái còng khiến kẻ gian e ngại. Nhìn hai đứa bé ngủ say, tôi thấy tội nghiệp quá. Tôi nói thôi được. Trả cho anh ta năm đồng bạc, ném cái còng vào túi xách khoác vai, ra khỏi nhà anh cựu lính kín, nói cách khác là công an chìm thời chế độ cũ. Trời vào trưa, nắng gay gắt, nhưng tôi phải đi nữa, mua được món gì kha khá một chút. Không thì coi như hôm nay lỗ sở hụi. Tôi nghĩ đến vài địa bàn hoạt động: Tại sao tôi không đến nhà một bà quen mà ở đó tôi từng mua được nhiều món quí. Giới thiệu người ăn hoa hồng. Khu đó là nơi béo bở cho những thằng ve chai như tôi.

Tôi cuốc bộ đến nơi đó.

Cư xá buổi trưa vắng tanh. Hình như chỉ có mình tôi cầm xâu chuỗi máng đồ ve chai, – vừa lắc vừa điểm ngón tay từng món hàng:

Coi này, cái kiềng bể cũng mua được, cái nắp viết máy cũ rích cũng mua được. Cái vỏ cà rá mất hột cũng mua được. Tất cả mọi thứ trong nhà vứt đi đều mua được hết. Chung tôi không mua rẻ bán đắt mà chỉ lấy công làm lời. Bán hết, bán ráo trọi đi bà con ơi. Tôi lảm nhảm độc thoại, ai muốn nghe thì nghe, không thì thôi. Tôi giống như một thằng điên. Cuối cùng tôi cũng đến được ngôi nhà đó. Nhà chị Tư. Rung xâu chuỗi ve chai lên, cánh cổng mở. ở nhà đã hiểu ám hiệu của tôi.

Chị Tư tiếp tôi ở phòng khách. Chị lúc nào cũng mặt hoa da phấn, áo quần là lượt diêm dúa. Hôm nay mà chị bận bộ đồ suýt bóng màu tím hoa cà, thêu ren, móng chân móng tay sơn phết công phu. Người chị đẫy đà ấy vậy mà chị lại có bệnh. Căn bệnh hiểm nghèo là nhồi máu cơ tim. Bệnh hoạn như vậy, nhưng chị lại làm một nghề cực kỳ nguy hiểm gai góc là chủ tàu chuyên đóng tàu vượt biên đưa người ra nước ngoài. Sự khôn ngoan của chị không để đâu cho hết. Lời nói chị như mật ngọt róc vào tai người nghe. Đứa con gái lớn của chị bưng ra cho tôi một ly nước chanh ướp lạnh. Uống vừa mát vừa ngọt vừa giải cảm nắng. Chờ tôi uống hết ly nước chanh, chị hỏi tôi trong nụ cười:

– Thế nào, hôm nay định đưa đến chị mấy mối?

Tôi khẽ lắc đầu, chị hơi nhíu đôi lông mày “điêu thuyền”:

– ờ sao lạ vậy, tôi nói với chú cả tháng nay mà không tìm được mối nào sao?

– Dạ, cũng có tìm, nhưng người ta không tin em có tàu. Người ta sợ em bịp.

– Chú cứ đưa đến đây, tôi bao hết, tiền mặt thì ba cây một người, nếu chung tiền bên kia thì bốn cây. Chung tiền bên kia, ở đây tôi vẫn cho chú hoa hồng trước Nhưng này, có đưa đến đây cũng phải đặt cọc cho tôi, tôi mới cho xem tàu. Dứt khoát là cọc năm chỉ, không ưng đi tôi trả lại cọc, không sợ mất, tôi giữ lại hai chỉ làm tin.

– Chi vậy chị?

Chừng nào tàu của tôi ra khỏi hải phận tôi trả nết. Chớ không nó đi tố cáo tôi thì ai chịu cho tôi đây, chiếc tàu của tôi cả mấy trăm cây vàng. Tính tôi thực thà có sao nói vậy, chuyện gì bảo đảm được tôi mới dám nói. Tôi+bảo đảm bến bãi an toàn, tàu ra khỏi hải phận, được chưa, khi ấy tôi mới hết nhiệm vụ. Ra ngoài đại dương tôi không bảo đảm được sóng to gió lớn hay cướp biển. Chuyện đó thuộc về chuyện của ông Trời rồi.. Ta cầu xin Trời, Chúa, Phật. Người nào cầu xin theo đạo người nấy, nên cầu lấy bình an là đáng quí nhất. Sóng gió có thể vượt qua được, tàu của tôi không bao giờ dùng loại tàu nhỏ, ít lắm là dài hai mươi lăm thước, máy Ray 6. Bốn ngàn lít dầu dự trữ. Thủy thủ đoàn toàn là hải quân cũ, hai tài công một lái đường sông, một lái đường biển. Chú thấy đã mê chưa. Ba cây vàng rẻ rề…

Chính tôi nghe nói mà còn mê tít, vì tôi cũng muốn đi mà không có vàng, có cây cối gì ráo. Tôi đành thúc thủ, mặt buồn xo. Nhặt lẻ vài ba phân vàng, mua bán ve chai, đời thuở nào mới đủ “cây” để đi.

Chị Tư là người sểnh tâm lý, chị hiểu tôi, chị nói:

– Chú tìm cho tôi ba mối, mỗi mối ba cây chồng tiền bên này. Tôi cho chú một chỗ.

Tôi không tin được tai mình. Tôi nhìn chị, tự chỉ vào ngực mình:

– Em ấy à?

– Chính chú, chú tưởng tôi nói giỡn đó hả. Chú biết tôi là người làm ăn đàng hoàng mà, một là một, hai là hai. Thôi cố gắng lên, tôi thương chú như em, đáng ra tôi cho chú đi không, nhưng tôi e rằng người ta dị nghị.

Nụ cười của chị Tư nở tòe loe coi rất là… đã.

Thân phận tôi là kẻ hèn nên đành nhịn và cũng cười mỉm ăn theo. Chị Tư luôn luôn đoán trước được ý nghĩ của tôi, chị hỏi:

Hôm nay không có mối manh gì, chú đến chị có việc gì không?

Tôi như được gãi đúng chỗ ngứa, vọt miệng:.

– Chuyến này chắc chị có cho con chị đi theo tàu?

Có chứ, hai đứa, cũng để làm tin với khách hàng.

– Vậy thì chị bán lại cho em thứ gì của cháu không cần xài nữa, chẳng hạn như đồng hồ, cát xét, ra-đi-ô hay quần áo cũ gì cũng được. Em đi rạc cẳng từ sáng đến giờ mà chưa mua được gì.

Chị Tư lại cười:

– Mua bán khỉ gì, được rồi, tôi cho chú. Sang Mỹ thì xài đồ Mỹ, mấy thứ này ở Mỹ nó vứt ra nghĩa địa. Tôi khoái trong bụng. Tôi chợt nhớ ra tôi chưa hút điếu thuốc lá nào. Tôi có mấy điếu Đà Lạt xuất khẩu lẻ để trong túi xách. Tôi lục tôi tìm thuốc và cái bật lửa. Tay tôi lụp chụp, vô tình cái còng gia bảo mà tôi mua được lọt ra khỏi giỏ rơi cạch xuống nền gạch bông. Chị Tư nhìn xuống, hét lên một tiếng thất thanh, ngã bật ngửa ra ghế sa lông. Những đứa con của chị chạy ra cấp cứu mẹ vừa lúc tôi nhặt cái còng lên. Chị Tư chưa ngất xỉu hẳn, chị thều thào:

Công an, chú ấy là công an, cái còng kìa, còn súng… Chú ấy theo dõi nhà mình bấy lâu nay má không biết… Chuyến ngoài Bà Rịa mình bể… do… do chú… ấy…

Tôi cuống lên, xua tay lia lịa:

– Không phải, không phải…

Đứa con gái chị Tư, thuộc nòi làm ăn, phản ứng nhanh, quì ngay xuống chân tôi vái lấy như tế sao:

– Lậy chú, xin chú bỏ qua vụ này cho má cháu. Cháu không quên đền ơn chú ngay tức thì hai cây.

– Nhưng tôi…. số là thế này…

Tôi thấy chị Tư đưa bàn tay nguyên năm ngón lên. Đứa con gái líu tíu:

– Dạ, thưa năm cây vậy, cháu biết chú chia chác với anh em. Chú để cho tàu nhà cháu thoát chuyến này.

Vâng, chú cứ cầm trước năm cây vậy. Tôi hết đường chối cãi. Tôi nhìn thằng con trai to con của chị Tư, mặt nó lầm lì coi thiệt dễ sợ. Tôi bắt buộc phải thủ thế, một tay cầm cái còng, tay kia đút vào túi xách. Tôi vừa bóp nát một điếu thuốc Đà Lạt. Không thể nói năng, giải thích gì được. Tôi lùi ra cửa và ra đường luôn.

Chỉ loáng sau tôi nhìn thấy chị Tư ngồi sau xe Honda của thằng con trai chạy vụt qua tôi. Họ mải nhìn sang phường công an bên kia đường nên không nhìn thấy tôi. Thiệt là một ngày xúi quẩy.

Chưa ra hết chung cư, tôi gặp thằng Sao Biển. Nó lắc xâu chuỗi ve chai, nhẫn nại rao hàng, người nó rạc đi như con ve sầu, mặt đỏ gay, gân cổ kéo lên cả chùm. Nhưng gặp tôi, nó cười ngay:

– Trúng mánh rồi hả, không thấy mày rao nữa.

Tôi chửi thề một câu:

– Đ. M. xui tận mạng.

Hai thằng kéo nhau vào quán, ăn đỡ đói rồi nhậu. Tôi kể cho bạn nghe vụ cái còng. Hắn nghe lấy làm thú vị.

Rượu sừng sừng, hắn nói:

– Mày ngu quá, cứ lấy mẹ nó năm cây hối lộ đi, làm gì nhau nào. Mày đưa tao tới… Tao tính gọn sổ sách.

Tôi lắc đầu:

– Đầu óc tao chậm tiêu cũng có mà muộn rồi cũng có. Đừng nghĩ nuốt năm cây của nó dễ đâu. Nó có thể nhốt mình lại chờ cho chuyến của nó ra khơi mới thả. Hoặc băm xác mình như xíu mại, liệng xuống hầm cầu dội nước cho tiêu theo phân…

– Thôi ghê quá, mày? Đừng nói nữa. Có bao nhiêu bỏ ra đây mình ăn nhậu. Mai mình sẽ trúng mánh, tao với mày chia nhau.

– Vốn đâu nữa mà làm ăn?

– Vay vốn con Bokassa nhà tao, “xanh xít đít đui thôi, như bạn hàng chợ Tân Định.

Bokassa là cô gái lai da đen, con nuôi của bà mẹ vợ Sao Biển. Vì là da đen nên Sao Biển phong cho nó chức vị công chúa Bokassa, con gái hoàng đế Bokassa, vua kim cương, đá quí ở châu Phi.

Buổi nhậu của tôi với Sao Biển tàn cuộc về đêm. Khi trăng treo đỉnh đầu.

Trên đường về, Sao Biển nói với tôi rằng đã tìm ra nơi có chiếc thuyền buồm bằng bạc. Có khắc chữ Sterling, bảo đảm “din”. Ngày mai trúng mánh đó tha hồ mà vẻ vang.

Đi qua cầu Bình Lợi, Sao Biển hỏi tôi có chán sống không. Hắn hỏi mượn tôi cái còng và quăng tòm luôn xuống sông.

Hắn nói:

– Tưởng mày chán sống thì khóa tay mày lại bằng cái còng gia bảo này quăng mày xuống luôn.

Tôi dựng tóc gáy.

Nguyễn Quý An, người bạn tù.

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Mang cái túi xách tay, chỉ chứa đủ một bộ quần áo cũ, chiếc mùng nhà binh, khăn mặt, bàn chải răng và mấy gói mì con cua, tôi lội bộ từ nơi tạm trú, cư xá Trung Dũng, trại gia binh của ban Quân Nhạc và đơn vị phòng vệ Đô thành, gần cuối đường Hồng Thập Tự phía cầu Thị Nghè, đến trường Nguyễn Bá Tòng. Cánh cổng trường chỉ hé mở, một tên bộ đội đứng gác. Vào bên trong cũng hai hàng vệ binh, súng cầm tay, mũi súng gắn lưỡi lê chỉa xuống đất. Tôi hơi giật mình, bước đến trước mấy chiếc bàn xếp dọc dài giữa sân, bốn người mặc quân phục xanh lá cây, chừng là sĩ quan, trên cổ áo mang những ngôi sao vàng nền đỏ thẩm, những chiếc nón cối cũng màu xanh, đội sụp xuống che khuất cả chân mày, chỉ thấy những con mắt sòng sọc nhìn lên, ngó xuống. Họ ngồi thu giấy tờ. Người ngồi cuối ghi chép xong, y hất đầu như ra lệnh cho tôi đi vào theo lối có toán vệ binh đứng gác cách nhau một tầm tay giữa hai người. Tôi bước lên lầu hai theo chỉ dẫn. Tên bộ đội đứng đầu hành lang chỉ tôi vào một phòng học, bàn ghế đã được xếp chồng về một góc.

Hôm nay thứ Sáu, 13 tháng 6- 1975, còn những ba ngày nữa mới hết hạn “đi trình diện”, nhưng Phường Khóm đã đến tận nhà để nhắc nhở, thúc giục từ chiều hôm qua. Họ nói các anh không nên chậm trễ, không ai “đảm bảo” an ninh cho các anh, vì “nhân dân” đang căm thù các anh lắm, đi trình diện sớm để được “nhà nước cách mạng” bảo vệ!

Không biết họ “sắp đặt” nhân sự từ lúc nào mà chỉ mới hơn một tháng đã có ngay những kẻ thừa hành khá “chuẩn mực” cả trong ngôn ngữ mới, lạ?

Thôi thì đi “học tập” một tháng cho xong, để được cấp giấy tờ trở về quê, không còn con đường nào khác. Nhưng khi bước đi giữa hai hàng vệ binh lầm lì, đằng đằng sát khí, tôi cảm thấy có điều gì bất ổn. Tôi hối tiếc đã không nán trễ thêm môt ngày để dò xét tình thế. Tôi tiếc đã không nghe lời người bạn rủ trốn về miền Tây; vào đến đây thì mọi việc đã an bài! Tôi lại nhẩm tính cái vận hạn mười năm “Liêm, Tham, Kình Đà, Không, Khiếp…” của mình mà buông xuôi, thúc thủ mặc cho định mệnh!

Đã có mấy người vào trước đang ngồi tựa vách tường, im lặng, quay nhìn chào tôi, người mới tới, bằng ánh mắt. Cứ ít phút lại có thêm một người bước vào, nét mặt người nào trông cũng hốc hác, thất thần, thiếu ngủ. Khi sĩ số trong phòng đã hơn một tiểu đội, bắt đầu có nhiều tiếng thì thầm, hỏi nhau tin tức từ những nơi khác. Tin đồn về những đơn vị còn chiến đấu, không chịu buông súng. Mấy vị tướng, nhiều chiến sĩ, những quan chức đã tự sát, tậpthể, cá nhân hay cả gia đình. Có người kể lại vụ một sĩ quan Thiết giáp đã bắn vào đầu vợ và mấy đứa con rồi quay súng vào đầu mình tự sát ở cư xá Chí Hòa. Về sau nầy có người cho biết đó là anh Lê Văn Hồng, người bạn của tôi, cùng khóa 66A SVSQKH. Hồng không may bị loại phần khảo hạch quân sự nên đã vuột mất hoài bão “lướt gió tung mây”, từ ngày anh chuyển qua Bộ binh, tôi chưa một lần gặp lại anh, một người đẹp trai, hiền lành vui tính, anh có một giọng ca khá truyền cảm. Không ngờ một người như anh lại có hành động can trường như thế.

Cứ năm, mười phút lại có thêm người mới vào phòng. Phòng chỉ chứa trên hai chục mạng. Người cuối cùng vừa bước vào mặc bộ bà ba đen, mang hai cánh tay giả, mà bàn tay là là cái móc sắt trắng. Có người lên tiếng tuy nhỏ, nhưng ai cũng nghe, vẻ ái ngại:

-Thương phế binh đã đến lượt đâu mà anh vào đây sớm làm gì?
Anh cười, hồn nhiên:
-Phường khóm họ bảo đi thì mình cứ đi, chứ có biết gì đâu? Mấy ông “cách mạng” thì chưa nghe thấy nói gì, mà mấy ông “Ba mươi” ghê quá!
Anh nói tiếng Bắc, trông anh có vẻ điềm tĩnh. Mọi người đều cố nói chuyện với nhau thật khẽ. Những câu chuyện trao đổi rì rầm giữa các nhóm hai, ba người đứng hoặc ngồi trong căn phòng chật hẹp. Trong ánh mắt, nụ cười, mỗi người đều có những mối lo âu riêng về những ngày sắp tới. Chẳng ai buồn hỏi tên tuổi mà chỉ hỏi thăm nhau về binh chủng, đơn vị và ở đâu, làm gì trong những ngày cuối cùng. Trong phòng nầy có tới năm mạng Không quân: Một phi công F5 đã giải ngũ, về sau nầy mới biết tên anh là Lưu Tùng Cương, người mất hai cánh tay là Nguyễn Quý An, Phi đoàn 219 Lôi Hổ, Bùi Văn Thời, Phi đoàn quan sát. Anh Hảo sĩ quan không phi hành và tôi.

Trời mới hơi xế chiều, Những người mới vào ngang qua hành lang để đến những phòng kế thưa dần. Một tên bộ đội vào phòng đọc lại danh sách, chỉ định tổ trưởng, đội trưởng. Rồi hắn đọc mấy điều “nội quy” và dặn tới giờ ăn thì đội trưởng, tổ trưởng cử người xuống sân lấy phần cơm lên chia nhau.

Trong thông báo nói cơm nước đặt nhà hàng của khách sạn cung cấp, nay chỉ thấy phát một chậu cơm chưa chín đều và thau cá ngừ kho với nước muối còn mùi tanh tưởi. Mọi người cố nuốt cho qua bữa với nỗi chán chường, ngán ngẫm. Tôi để ý thấy An tháo hai cánh tay giả dựa vào tường, đặt tô cơm trên túi xách cá nhân, anh dùng hai phần cánh tay còn lại kẹp chặt chiếc thìa xúc cơm ăn, không mấy khó khăn. Ăn xong anh lần bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ trong túi áo ra, ngắm hình người lính ôm súng lao tới trên nền cờ vàng sọc đỏ, một thoáng tư lự, anh lắc nhẹ bao thuốc rồi đưa một điếu lên môi. Anh lại lần hộp quẹt zippo trong túi áo ra, anh giữ chặt giữa hai cùi tay lắc mạch cho bật nắp rồi kẹp giữa hai đầu gối, dùng đầu cánh tay bật bánh xe và giữ chặt vị trí giữ ngọn lửa để mồi thuốc. Xong anh buông bánh xe, ngọn lửa tắt, anh lắc ngược trở lại đậy nắp cho vào túi. Những động tác chậm rãi, nhưng đều đặn, nhịp nhàng, quen thuộc.

Tối đến, mọi người đi ngủ sớm. Tôi thấy An kéo mùng ra, đứng tìm vị trí để treo. Tôi giúp anh mắc một đầu, rồi căng mùng nằm cạnh đó. Nằm trằn trọc mãi, một lúc đã có nhiều tiếng ngáy lớn, nhỏ. Cũng có người còn thao thức, thở dài.

Những ngày thứ hai, thứ ba, sự lo lắng sợ sệt của ngày đầu nơi mọi người đã vơi bớt, nhưng thời gian trôi đi quá chậm. Những đợt người tiếp tục đi vào dưới sân trường. Nội quy không ai được đi ra khỏi phòng, ngoại trừ đi vào nhà vệ sinh gần đó. Vài người ngồi gần cửa hay đứng lấp ló để ngóng tìm người quen mới vào, đi ngang qua ngoài hành lang.

Đội trưởng và mấy tổ trưởng được chỉ thị lập danh sách “trích ngang”, thu tiền ăn của tổ viên đóng góp như đã quy định trên thông cáo, tiền ăn một tháng! Ai nấy chẳng có việc gì ngồi tụm năm tụm ba hút thuốc, kể đủ thứ chuyện cho qua ngày giờ.

Một người hỏi An về trường hợp của anh. Trước đây giữa cuộc chiến dầu sôi lửa bỏng, nhiều câu chuyện bi hùng của nhiều đơn vị, cá nhân… không phải ai ai cũng biết hết, có khi chỉ nghe biết loáng thoáng rồi lắng chìm, lãng quên theo tình hình sôi bỏng từng ngày. Nay có thì giờ vô tích sự, ngồi nghe một nhân chứng cũng chính là người trong cuộc kể lại nhiều chi tiết sống động gian nguy và quả cảm trong những phi vụ rải và đón biệt kích.

Người phi công khu trục được tiếng oai hùng, dù ai chẳng may lãnh đạn phòng không của địch, thì trước khi “đi không ai tìm xác rơi”, ít nhất anh cũng đã dội lên đầu thù những trái bom nặng ký. Người phi công Lôi Hổ chiến đấu âm thầm, nhận nhiều hơn cho. Vài cây đại liên trang bị trên phi cơ không đủ làm cho địch quân tán loạn, mà chỉ để được đáp trả bằng những loạt đạn đủ loại bắn lên từ những hang núi hóc rừng, khi chiếc H34 cồng kềnh phải đáp xuống trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nguy hiểm.

Những chiến sĩ biệt kích gan lì, chiến đấu rất cô đơn, mỗi toán hai, ba người giữa núi rừng trùng điệp, quân thù vây bọc tứ bề, không những phải gan dạ mà còn phải mưu trí và biết ứng biến trong từng giây phút. An kể chuyện tự nhiên và sống động, đôi khi anh ngưng lại với vẻ cảm xúc mỗi lần nhắc tới một đồng đội, một phi hành đoàn phải hy sinh hay bị địch bắt giữ mà không có cách nào cứu được, những chiến hữu biệt kích có đi mà không trở về.

Anh kể lại phi vụ cuối cùng, chiếc H34 anh lái bị bắn cháy ở cao độ, con tàu như bó đuốc lao xuống từ trên cao, anh ráng bình tĩnh đáp khẩn cấp xuống chỗ trống, mỗi một tích tắc là một nỗi chết đau đớn kinh hoàng, anh cố cứu lấy phi hành đoàn; nhưng khi đáp xuống an toàn, anh xô cửa nhảy ra khỏi phi cơ thì không nhìn thấy người phi công phụ, anh lăn nhiều vòng cho dập tắt ngọn lửa  phủ quanh người, rồi anh cũng bất tỉnh.

Tôi hỏi anh người phi công phụ là ai? Anh nói Nguyễn Hải Lộc, người Huế, có quen không? Tôi nói Lộc khóa 65 E, hồi đó ở Tân Sơn Nhất tôi có biết tin anh ấy bị bắn rơi máy bay và tử thương nay nghe anh kể lại mới rõ chuyện. Anh nói có lẽ Lộc nhảy ra trước khi phi cơ chạm mặt đất và chạy trốn vào bụi rậm, rồi đuối sức và bất tỉnh, nên khi toán cấp cứu đến thì không tìm thấy.

Tôi hỏi về trường hợp anh đã cứu một phi hành đoàn Mỹ ngộ nạn mà báo chí từng đề cập. Anh kể lại từng chi tiết, nghe xong mới thấy anh là tay gan lì, quyết đoán và đầy tình người. Tôi nói:

-Nghe kể cũng đủ lạnh cẳng, anh liều lĩnh thật!

Anh cười:

-Chỉ là phản ứng tự nhiên, khi cất cánh lên an toàn rồi, nghĩ lại cũng giật mình chứ!

*

Đêm thứ ba, khi tôi vừa chợp mắt thì nghe có tiếng xe ầm ỳ trên đường phía trước cổng trường, tiếng chân người đi lại ngoài hành lang, vài người ngồi dậy trong mùng nghe ngóng. Có người bước vào phòng bật đèn lên và ra lệnh:

-Tất cả dậy thu xếp tư trang, chuẩn bị sẵn sàng “cơ động!”

Lạ tai về hai tiếng “cơ động” nhưng tất cả mọi người đều ngầm hiểu và nhất loạt nhỏm thu xếp chăn mùng, nhanh gọn cho vào túi xách. Không ai nói tiếng nào, chỉ có tiếng động sột soạt, càng làm tiếng xe bên ngoài rộn ràng thêm lên giữa đêm khuya. Thu xếp xong chỉ trong vòng mấy phút, tôi quay lại tính phụ giúp An thì anh đã ngồi trên ba lô gần lối cửa.

Lúc xếp hàng xuống sân để ra xe giữa hai hàng vệ binh súng ống lăm lăm cầm tay, tôi cố ý đi gần An để giúp anh khi cần, nhưng anh đã đứng cách sáu, bảy người phía trước. Ra tới đường, mọi người lần lượt lên xe, những chiếc Motolova phủ kín trần, ngồi bó gối chật ních giữa sàn xe, nhiều tiếng thở dài lo lắng, có tiếng xì xầm bàn tán, hoang mang chẳng hiểu chúng nó đem mình đi đâu giữa đêm khuya?

Tôi định nói vào tai mấy người ngồi cạnh phải cảnh giác trường hợp Tết Mâu Thân để đối phó nếu có chuyện bất trắc xẩy ra, nhưng hai tên vệ binh đã nhảy lên chống súng ngồi hai bên thành cửa xe phía sau và hai tên khác trên đầu xe, phía bên ngoài.

Đoàn xe lần lượt chuyển bánh qua những con đường phố khuya im lìm, ánh điện vàng vọt, ra xa lộ về hướng Long Khánh, rừng cao su hai bên tối om. Tôi cảm thấy bồn chồn lo lắng về hình ảnh Mậu Thân, miên man nghĩ cách đối phó nếu tình huống xấu xẩy ra. Rồi tôi lại tự trấn an là trường hợp sẽ xẩy ra như thế nếu Mỹ quay trở lại dưới bất cứ hình thức nào, ném bom hay đổ quân. Nhưng rồi tôi tin chắc là không đời nào! Những lực lượng nhỏ, lẻ tẻ còn kháng cự không đủ sức làm chúng sợ để phải tiêu diệt ngay những kẻ đang ở trong tay.

Đêm càng về khuya khí hậu rừng lạnh lẽo. Đoàn xe rẽ vào một doanh trại cũ thì trời vừa hừng sáng. Có người cho biết đây là căn cứ Long Giao của quân đội Mỹ đóng sau nầy đã bàn giao cho Trung đoàn X…Chúng tôi xuống xe, trời chưa sáng hẳn, sương xuống dày đặc, hơi lạnh buốt cóng chân tay. Chúng tôi được chỉ vào một căn nhà kho mái tôn, cao rộng, dấu vết hoang tàn, ẩm mốc…căn nhà chứa đủ bốn đội, non 120 người.

Trời sáng nhanh, chúng tôi dọn dẹp và phân chia chỗ nằm. Mỗi người đi lượm nhặt những tấm ván ép, giấy carton cũ, bao cát để kê lót chỗ nằm của mình. Căn nhà được gọi là “láng”, Bác sĩ Cẩm được cán bộ chỉ định làm “láng trưởng”, Bs Cẩm là Trung tá Quân y , Chỉ huy trưởng Quân y viện Quy Nhơn, dáng người ông cao lớn, chừng ngoài bốn mươi, tư cách chững chạc, trước mặt bọn cán bộ ông không tỏ vẻ khúm núm, sợ sệt như một vài người. Trước mặt anh em, những lần tập họp điểm danh, chia công tác, trong khi chờ tên cán bộ đến, ông luôn ôn tồn khuyên nhủ và an ủi mọi người cũng là cách tự trấn an mình. Lời lẽ của ông khá khôn khéo để anh em đồng cảnh không buồn lòng và bọn chúng có nghe được cũng khó bắt bẻ, gán tôi.

Chỉ mới có mấy ngày ở đây mà đã cảm thấy không khí tù túng, ngột ngạt, lâu dài. Lao động là làm những công việc tạp dịch lặt vặt, dọn dẹp cỏ rác trong doanh trại, sửa sang lại những hàng rào kẽm gai, những con đường đất đỏ bị xói mòn qua mùa mưa trước. Ai cũng trông đến ngày được “học tập” cho xong để được về nhà sớm!

An đáng lẽ được miễn lao động, nhưng anh vẫn đi theo anh em, anh nói:

-Đi làm với anh em cho vui, ngồi nhà cũng buồn. Hơn nữa thấy anh em phơi nắng, dầm mưa mình cũng thấy áy náy.

Không cản được, mọi người cũng chiều theo ý của anh.. Chỉ khi nào công việc quá nặng nhọc, hoặc những buổi chiều nắng gay gắt, nhiều người mới khuyên anh ở nhà giúp dọn dẹp vặt vãnh, tới giờ đi nhận phần cơm trước cho tổ, đội.

Mới ba tuần lễ mà thời gian như cả mấy tháng, nhiều người nôn nóng, trông đợi ngày giờ được “học tập!”

Thế rồi ngày đó cũng đến! Căn “láng” chúng tôi đang ở phải giải tỏa để dùng làm hội trường. Các đội được phân tán vào những nhà khác. Đội của tôi có hai tổ dọn qua căn nhà tôn mới dựng bên kia nhà bếp và giếng nước, còn một tổ ở chung nhà với đội bên cạnh. An và tôi thuộc tổ I, bên trái. Anh muốn nằm đầu bìa cho tiện việc treo mùng và đứng lên ngồi xuống dễ dàng, anh tổ trưởng cho tôi nằm kế An để giúp anh khi cần. Mặc dù mọi người trong tổ, đội lúc nào cũng sẵn sàng muốn giúp anh bất cứ việc gì, nhưng tính anh rất tự trọng, đầy nghị lực và nhẫn nại, anh nói cứ để anh làm lấy cho quen, nhờ vả hoài sẽ trở nên ỷ lại và lười nhác.

Đối với tôi, An là khóa đàn anh xa nên tôi vẫn tôn trọng trong cư xử, trái lại anh nói: “Mình cũng sàng sàng, xấp xỉ nhau cả, cứ coi như bạn bè cùng lứa.”

Nằm kế tôi là ông Lô Hồng Chân, tổ trưởng tổ I, đến ông Sen Sao Khao, đội trưởng, cả hai là sĩ quan Thanh tra thuộc Bộ Tổng Tham Mưu gốc người Nùng, tính tình bộc trực, hiền lành chất phát. Tổ II nằm phía đối diện, anh Hảo là tổ trưởng, nằm cạnh Hảo là anh Lưu Tùng Cương, trước An mấy khóa, trông anh rất trẻ, hiền lành vui tính và ít nói.

Chuyện trông đợi rồi cũng đến, những buổi sáng tập trung một nửa trại lên hội trường để “học tập” gọi là “lên lớp”, nửa trại còn lại có “lớp” buổi chiều. Những cán bộ thuyết trình “giảng dạy” gọi là “giáo viên”, những người nầy nói năng trơn tru, lớp lang, mạch lạc , thuộc lòng, nhắm đúng tâm lý những người thua cuộc đang hoang mang lo lắng, nên ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm, yên lòng.

Trong thời gian “học tập” được gia tăng phần ăn lên một chút, có nhiều bữa ăn mỗi người được chia một mẫu thịt bằng đầu ngón tay cái, làm cho ai nấy cũng thấy “phấn khởi”. Ai có đem theo tiền được cho “đăng ký” (lập danh sách) rồi đội trưởng đi theo cán bộ ra “căn tin” (câu lạc bộ, cửa hàng nhu yếu phẩm) của trại để mua đem về phân chia: đường sữa, thuốc lá…

Sau những buổi sáng “lên lớp” ở hội trường, những buổi chiều phải ngồi “thảo luận” từng tổ 15 người, anh em gọi là “ngồi đồng!” Thảo luận “bài học” buổi sáng, chung quanh những câu hỏi đã được hướng dẫn sau mỗi buổi học, một viên cán bộ “chính huấn” đến ngồi theo dõi suốt buổi. Một vài người khai mào “phát biểu”, rồi ai cũng phải “cố gắng” phát biểu, cho lấy có, tên cán bộ như soi rõ tâm lý đám “học viên”:

-Các anh phát biểu thì phải cho “sâu, sát”, nghĩa là các anh phải thấy rõ “bản chất của Đế quốc Mỹ là xâm lược”, “ngụy quyền Sài Gòn là tay sai”, mà các anh là thành phần cao cấp trong chế độ, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Các anh đừng có phát biểu chung chung mà phải “động não”, phải “xoáy sâu vấn đề”: đảng CSVN đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là đỉnh cao trí tuệ của loài người, Bác đã lãnh đạo đảng và nhân dân đi từ thắng lợi nầy đến thắng lợi khác, đã chiến thắng ba Đế quốc to là Pháp, Nhật, sừng sỏ nhất là Đế quốc Mỹ. Vì vậy, các anh phải thấy được thời đại Hồ Chí Minh là thời đại vẻ vang nhất trong lịch sử Việt Nam.

Mới “học tập” được vài bài mà tinh thần ai nấy quá căng thẳng, lúc nầy mới thấy đi lao động “khỏe hơn”, nắng mưa nhọc nhằn một chút nhưng không cảm thấy nhức đầu buốt óc, nghe những lời rêu rao nhân nghĩa giả dối đầu môi, ép buộc người thất thế phải tự kết tội, phải tự xỉ vả mình, đồng cảnh phải tố cáo lẫn nhau!

Thế rồi mười bài học cũng trôi qua. Có người còn lạc quan rằng “học” xong sẽ “mãn khóa”. Lại có kẻ loan tin đã dựng xong lễ đài mãn khóa ở trại Sóng Thần. Nhiều đêm nghe tiếng đoàn xe di chuyển đâu phía ngoài đường lộ, có người nhỏm dậy kêu lên “Xe tới rồi anh em ơi!” Làm nhiều người choàng tỉnh dậy theo, có lần tôi buôt miệng:

-Ngủ đi mấy cha nội ơi! Phải “học” thêm năm, mười năm nữa, không phải một hai tháng đâu mà bật rật!

 Nằm trong mùng anh Viễn lên tiếng mắng vốn:

-Cha nào miệng ăn mắm, ăn muối nói bậy bạ, xui quẩy!

Lại có người phụ họa, như trút tức bực:

-Đúng là thối mồm!

Tôi im luôn, chính tôi cũng giật mình khi nói ra ý nghĩ thầm kín mà sau nhiều ngày nghiền ngẫm lá số Tử vi của một số người mới quen biết khi vào đây trong. Suy đoán từ cộng nghiệp của một nhóm nhỏ nằm trong tập thể lớn. Tôi cũng mong rằng điều tôi nghĩ là không đúng, lời tôi nói là sai bậy! Nhưng sau mấy lần chuyển trại, nhiều người vẫn còn đi chung với nhau, khi lên Bù Gia Mập, ra Xuân Phước… như anh Phạm Đức Vui, anh Hồ Viết Viễn, đôi khi còn nhắc chuyện cũ để nửa đùa, nửa thật: “Cũng tại chú mầy nói nói bậy mà mình ở tù lâu!”

Sau những buổi “lên lớp” rồi về tổ, đội “đào sâu thảo luận” từng “bài học”, ít hay nhiều ai cũng phải “thấm nhuần đường lối chính sách của Cách mạng”:

-Bây giờ các anh đã thấy rõ tội lỗi của các anh đối với nhân dân và “cách mạng!”  Nay các anh đã được đảng và nhân dân khoan hồng mà tha cho tội chết; vì vậy mà các anh phải biết ăn năn hối cải, phấn đấu học tập rèn luyện để sớm trở thành người công dân tốt trong xã hội mới, để sớm được trở về sum họp với gia đình! Bước đầu sự tiến bộ của các anh sẽ được đánh giá trong “Bản tự khai”.  Các anh phải khai báo cho thành thật với “cách mạng”, như vậy các anh mới mong sớm “giác ngộ” mà về đoàn tụ với vợ con được!

Đó là lời tên chính huấn nói sau khi hết bài học cuối cùng! Tôi mơ hồ chiếc bánh vẽ đang treo lên tường! Buổi “lên lớp” tổng kết để chấm dứt mười “bài học”, để giáo viên hướng dẫn cách “tự khai” từng đề mục, từng chi tiết và giải đáp mọi thắc mắc của “học viên!

Tan lớp, về tổ đội từng người phải “động não” mà khai báo sao cho “tốt!”

Giữa năm 1972 (hay 1973?) tôi được Phi đoàn sắp xếp đi học một khóa “Mưu sinh và thoát hiểm” ở Trung tâm huấn luyện Không Quân Nha Trang, giảng viên thuyết trình về “kinh nghiệm khi rơi vào tay kẻ địch và cách khai báo” với Việt Cộng. Vị giảng viên nầy là một phi công trực thăng bị VC bắn hạ, bắt giam và được thả về trong đợt trao trả tù binh. Anh cho biết nếu chẳng may rơi vào tay chúng, ban đầu chúng sẽ ngọt ngào phủ dụ cho mình thành khẩn khai thật, khai hết, chúng sẽ bắt khai đi khai lại nhiều lần để so sánh, đối chiếu. Theo kinh nghiệm của anh thì chỉ nên khai những gì cần khai cho dễ nhớ, những gì giấu được thì bỏ qua, khai thêm, khai bớt hoặc khai trước sau bất nhất chúng sẽ truy vấn đến khổ sở, dù chúng dụ ngọt hay hăm dọa cũng đừng tin, đừng sợ mà phải tỉnh táo giữ vững lập trường. Với hai tiếng đồng hồ, anh trình bày rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian anh bị bắt làm tù binh CS, không hiểu sao tôi lại chú ý và ghi nhớ kỷ chuyện “khai báo?”

Tôi cũng kín đáo truyền đạt lại kinh nghiệm nầy cho nhiều người, trừ một vài người tỏ ra “quá tiến bộ” trong “học tập” qua những lần “phát biểu” tự tố cáo mình và tố cáo đồng cảnh một cách hăng say, cuồng nhiệt! Chẳng phải ích kỷ mà chỉ ngại những người nầy đem ra phê bình trước tổ, ngay cả khi có mặt bọn cán bộ thì nguy hiểm!

Đến giờ khai báo, người nào người nấy ngồi im lặng, suy tư rồi cắm cúi viết. An lấy tấm ván nhỏ kê lên hai thùng đạn (loại hộp chứa đạn có nắp kín, dung tích chừng ba, bốn lít, người nào cũng nhặt một hai cái để đựng thức ăn, làm ghế ngồi, đem theo những lần chuyển trại cho đến khi bọn cai tù là công an thì chúng tịch thu hết!) anh kẹp cây bút giữa hai phần cánh tay còn lại để viết, tên cán bộ đi vào nhìn thấy cũng tỏ vẻ ngạc nhiên.

Gần hết giờ quy định cho việc khai bản nháp, tên cán bộ phụ trách đột ngột xuống kiểm tra và gom thu tất cả, kể cả những mảnh giấy ghi chép ngoài, hắn nhặt luôn tất cả những mẫu giấy lớn, nhỏ mà nhiều người vò vứt dưới nền nhà. Hắn bảo các anh được nghỉ ngơi đến sáng mai khai lại và viết sạch sẽ trên mẫu giấy do trại phân phát. Nhiều người không kịp cất giấu mẫu giấy ghi tóm lược những điểm chính để khai lại lần sau như tôi đã chỉ mánh. Trước khi viết bản để nộp may tôi đã đề phòng, cảnh giác nên viết hai mẫu dàn bài tóm tắt và cất đi một bản.

Lúc nầy tôi mới thấy sự ích lợi thiết thực của khóa học “Mưu sinh và thoát hiểm”. Tôi thầm cám ơn chiến hữu Trung úy phi công Trực thăng là vị giảng viên của khóa học, tôi hy vọng và thầm cầu mong anh được may mắn, không lâm nạn lần thứ hai, trong lúc nầy.

Hôm sau, trại phát mẫu giấy “Bản tự khai” để mọi người viết lại, rồi những ngày kết tiếp là những buổi “ngồi đồng” căng thẳng để “kiểm điểm: phê và tự phê” bản tự khai của từng người. Mỗi người lần lượt đọc bản tự khai của mình, những người khác trong “tổ học tập” nêu câu hỏi thắc mắc xem đương sự đã khai đúng, khai đủ, khai thành thật chưa? Có những điểm nào không rõ ràng, chưa thành khẩn thì mọi người phải “góp ý phê bình giúp đỡ” để đương sự phải “nhận sai sót khuyết điểm” mà khai lại cho đúng.

Tên cán bộ ngồi theo dõi thấy chúng tôi có vẻ miễn cưỡng đặt câu hỏi chung chung, vô tội vạ, không cố ý “đấu tố” nhau, hắn gay gắt: “Các anh còn tiêu cực, bao che tội lỗi cho nhau, chưa mạnh dạn nhìn nhận tội lỗi của mình, cũng như chưa thẳng thắn phê bình, giúp đỡ cho người khác thấy! Như thế thì các anh làm sao mà mong tiến bộ được”

Được kích động, vài người bắt đầu đào sâu, tìm cách để “tố” đồng cảnh, hoặc tự phê rằng mình còn khai thiếu sót, tự che giấu. Tên tên cán bộ tỏ vẻ hài lòng:

-Đấy! Các anh phải mạnh mẽ phê và tự phê như vậy. Nhưng đó cũng mới chỉ là bước đầu có tiến bộ, các anh phải mạnh dạn hơn nữa! Các anh còn tự giấu diếm và bao che cho nhau nhiều lắm.

Nghe kể ở những tổ khác có người còn tự bịa ra rằng trong những cuộc hành quân đã đốt bao nhiêu nhà, bắn chết bao nhiêu “cách mạng”, được cán bộ khen là rất thành khẩn! Có một người còn đấu tố rất hăng vị chỉ huy trực tiếp của mình cũng đang ở trong trại nầy!

Những người thân thiết, tín cẩn trong tổ “học tập” của tôi vẫn ngầm bảo nhau nhất định ù lì không mắc mưu và đừng quá sợ hãi vì những lời dụ dỗ, răn đe của bọn chúng, giữ một lập trường “phát biểu chung chung!” Rồi cũng qua, “kiểm điểm bản tự khai” của người cuối cùng trong tổ xong, tên cán bộ phụ trách thu hết bản tự khai và phát bản mới bắt viết lại với lời dặn “Lần nầy là lần chót, các anh phải khai cho đúng, khai thật, khai hết!”

Tôi nhủ thầm “Ừ! Thì khai hết! Trước sau như một!”

Càng ở lâu trong nhà tù CS mới thấy sự thâm hiểm của chúng về Mười bài học nhồi sọ, bước đầu khủng bố tinh thần trước khi chúng khéo léo vừa khuyến dụ vừa đe dọa người tù phải “thành khẩn khai báo: khai thật, khai hết!” Để rồi “Bản tự khai” là bản cáo trạng mà từng người tù phải tự kết tội cho chính mình, thậm chí là một bản án tử hình, một khi bọn cai tù cần đến mà tòa án “nhân dân” của chúng khỏi mất công soạn thảo!

 Như sau nầy, chỉ một thời gian ngắn sau khi học tập khai báo xong, chuyển trại lên Suối Máu-Tân Hiệp, ngày xử án hai người vượt ngục là anh Tư và anh Bé, công tố chỉ cần đem “bản tự khai” của hai anh ra đọc rồi đúc kết:

 “Đấy! Tội ác của các anh đối với cách mạng, đối với tổ quốc và nhân dân do chính các anh khai báo, nay các anh không chịu yên tâm học tập để nhận được sự khoan hồng của đảng và nhân dân, các anh còn âm mưu trốn ra ngoài để tiếp tục chống phá cách mạng, nhưng cách mạng vẫn luôn đối xử nhân đạo với các anh, giúp các anh không tiếp tục gây thêm tội ác đối với nhân dân nữa bằng cách tuyên án “Tử hình!”

Ngay lập tức, toán thi hành án xông lên, nhét trái chanh vào mồm hai tử tội và lôi nạn nhân ra pháp trường, không chậm trễ.

Bản tự khai cũng chính là trọng lượng nặng nhẹ của từng người để xếp loại và chuyển trại thích hợp cho việc cai quản, hoặc để tiện việc “xét tha” sau nầy.

“Học tập và khai báo” xong, tinh thần bớt căng thẳng. Tiếp tục những công việc dọn dẹp quanh trại. Những buổi rảnh rỗi, An nhặt miếng sắt mỏng đem mài thành lưỡi dao để sử dụng lặt vặt, nhiều anh em bắt chước làm theo. Một tên cán bộ tình cờ trông thấy, hắn ra lệnh đem nộp và cấm tiếp tục. Nhiều người chế dụng cụ đào hà thủ ô, nấu nước uống, có người lấy được nhiều phơi khô dể dành, tính nay mai đem về làm quà!

Một ngày Chủ nhật nghỉ, anh Lưu Tùng Cương và tôi tìm thấy dây khoai mài gần gò mối ngoài bãi đất trống, anh và tôi thay nhau đào xuống sâu bốn mét, hơn ba ký củ, cả hai tổ góp đường nấu chè.

Vào một buổi sáng “lao động xã hội chủ nghĩa” ngày Chủ nhật, thấy có một phái đoàn “cấp cao” ở đâu tới “kiểm tra”, họ dừng lại gần tổ chúng tôi, thấy An đang phụ với anh tổ trưởng kéo chùm kẽm gai, một người chỉ trỏ và nói gì đó với mấy người kia, một người lấy giấy bút ra ghi chép. Thế là anh em lại bàn tán, có người nói “Chắc là An được cho về, trước khi bọn mình mãn khóa!”

Quả nhiên, ít hôm sau, An được gọi lên ban chỉ huy trại để “làm việc”. Anh được thông báo sẽ được cho về. Ai cũng mừng, phần thì mừng cho anh, phần thì hy vọng cũng sẽ đến lượt mình.

Trong mấy ngày An làm thủ tục chờ đợi, nhiều người đọc địa chỉ của mình nhờ anh về Sài Gòn nhắn tin, không ai dám ghi lên giấy. Tôi cũng nhờ anh về nhắn với người em chú bác ở cư xá Vĩnh Hội. Lúc anh đi, tôi chào và nhắc “nhớ giúp nghe”, thế là anh đọc đúng tên người và địa chỉ mà tôi đã nói với anh mấy hôm trước. Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ bụng, về Sài Gòn, có lẽ bận rộn công việc, anh không thể nhớ hết từng ấy địa chỉ của nhiều người, hơn nữa thời buổi nầy đi lại cũng khó khăn, nên tôi cũng không hy vọng và thấy cũng chẳng có gì quan trọng, chỉ muốn nhắn cho người nhà biết tin để yên tâm, thế thôi!

Vậy mà, gần bảy năm sau, khi tôi về thì người em nhắc lại  “Hồi anh đi được hơn ba tháng, có một ông đi xe đạp với hai cánh tay giả tới đây nhắn tin, anh ấy nói là ở cùng chỗ với anh mới được cho về trước.” Tôi càng thêm thán phục trí nhớ và thiện chí của An.

 Trước khi về, An để lại cho tôi tấm nylon mà trại phát làm chiếu nằm, thứ nylon dệt sợi để may bao cát, tôi đem theo lúc chuyển lên trại Suối Máu, tháo rời cả hai tấm rồi xe sợi, đan đủ một chiếc võng, tôi đã mang theo nhiều trại qua những năm tháng sau nầy. Mắc võng nằm những buổi chiều ở rừng Bù Gia Mập, những buổi trưa nắng ở Bù Đăng…lại chợt nhớ tới An, chẳng biết tình cảnh của anh ra sao bên ngoài cái xã hội khốn khó nầy?

Hết hạn, rồi tôi cũng được thả về! Từ Xuân Phước ghé Nha Trang hai ngày tôi về tạm trú ở Vĩnh Hội mấy hôm nữa và xuống Giá Rai, Bạc Liêu, gia đình nhà vợ đang tạm cư ở đó

Gần một năm khó sống với bọn VC địa phương quá hung hăng hắc ám, tôi bỏ trốn khỏi Giá Rai- Bạc Liêu về vùng kinh tế mới Xuyên Mộc. Một lần tôi lên Sài Gòn, gặp anh Nguyễn Bá Cầu đang làm thợ sửa đồng hồ trên lề đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, anh Cầu thuộc Phi đoàn 120 cũng cùng khóa với An, ở chung tổ đội với tôi ngoài Xuân Phước, anh về trước tôi một năm. Tôi hỏi địa chỉ An nhưng anh không biết. Anh nói chỉ gặp An có một lần lúc đó An đang làm “gia công” thợ bạc gần dưới Ngã Bảy, nhưng lần sau anh ghé lại thì An đã nghỉ việc.

Mãi về sau tôi gặp Xuân mới biết địa chỉ An, anh Phạm Ngọc Xuân cùng khóa và cùng Phi đoàn với An. Xuân cho hay:

-Hắn đóng tàu vượt biên hai lần nhưng thất bại!

Tôi hỏi:

-An cũng tổ chức vượt biên nữa à?

-Hắn tự đóng tàu lấy mới đáng nói chứ!

Tôi trố mắt khâm phục, nhưng không mấy ngạc nhiên về tài năng và ý chí của An.

*

Tôi dẫn xe đạp đi vào con hẽm 322 đường Trần Bình Trọng, địa chỉ mà Xuân cho. Tôi bấm chuông và nhìn vào khoảng sân không tới sáu mét vuông. Một giàn lan treo lủng lẳng, nhiều chậu lan và bonsai xếp hàng vòng quanh chân tường. Có tiếng chân, An bước ra mở cửa, anh cười:

-Để nhớ xem, Ân phải không?

-Tôi chịu thua trí nhớ của anh! Mười mấy năm rồi chứ ít chi. Thấy anh cũng không thay đổi gì mấy.

-Già nhiều đấy chứ không thay đổi sao được.

-Tóc chưa có sợi bạc là chưa già.

Tôi theo An vào nhà, anh mời tôi ngồi và anh đi thẳng ra phía sau. Anh mang nước trở ra. Tôi đứng dậy đỡ lấy và cùng ngồi xuống. Anh nhấc bao thuốc lá trên bàn, lắc một điếu đưa lên môi, vừa nói:

-Hồi ở Long Giao tôi nhớ hình như bạn không hút thuốc, sau nầy có hút không, làm một điếu cho vui.

-Dạo sau tôi có thử thuốc lào, nhưng bị say ngã té nên bỏ luôn.

An chậm rãi lấy hộp quẹt lên, cũng những động tác bật lửa như ngày trước, ngày đầu tiên ở trường Nguyễn Bá Tòng.

Những câu chuyện vãn mười mấy năm không thể nào kể hết. Tôi hỏi và anh kể rõ về hai lần anh tự tay đóng tàu vượt biên, những nguyên nhân không thành công. Anh nói hiện nay anh đang trồng lan, anh đứng dậy bảo tôi ra xem cho biết.

Anh giải thích về đặc tính và giá trị của từng loại lan. Anh giảng giải về phương pháp lai giống. Tôi chẳng có chút kiến thức gì về lan nên cũng chỉ nghe như vịt nghe sấm.

Tôi nói:

-Tôi cũng thích cây kiểng nhưng không kiên nhẫn và tỉ mỉ như anh được.

Anh nói:

-Nếu để ý nghiên cứu và chịu khó lúc ban đầu thôi, chẳng khó khăn gì đâu. Bạn ở dưới Xuyên Mộc, khí hậu rất thích hợp. Rừng dưới đó cũng có nhiều giống lan quý hiếm. Nghề trồng lan ở Sài Gòn cũng sống được lắm.

Anh kể tên vài loại lan ở rừng Xuyên Mộc, tôi nghe xong rồi cũng không nhớ. Anh hứa sẽ kiếm cho tôi tài liệu để nghiên cứu và thực hành.

Quay vào nhà ngồi một lúc thì trời xế chiều, tôi xin phép cáo từ. Tôi nói biết nhà rồi, có dịp lên Sài Gòn tôi sẽ ghé chơi. Anh bảo tôi ngồi đợi anh một chút, rồi đi vào bên trong, tôi đoán anh vào lấy vật gì đó cho tôi, tôi đứng dậy nhìn bức tranh treo trên tường. Một lát anh trở ra, hai phần cánh tay kẹp xấp giấy bạc loại lớn nhất, anh nói:

-Bạn cầm lấy xài đỡ.

Tôi cố nén cơn xúc động. Tôi đỡ lấy xấp giấy bạc, vỗ vai anh và nói:

-Anh làm như vậy tôi sẽ không bao giờ trở lại đây nữa.Rất biết ơn anh, nhưng cho phép tôi được từ chối.Tôi ở dưới quê kinh tế mới nhưng cũng không đến nỗi nào đâu. Phải sống lam lũ bề ngoài để che mắt tụi nó thôi. Anh Xuân cũng thường giúp tôi, với Xuân thì tôi không từ chối.

Tôi cuộn xấp giấy bạc nhét vào túi áo anh, thấy anh có vẻ áy náy, tôi nói:

-Anh yên chí đi, hiểu tấm lòng của anh là quý rồi. Lẽ ra tôi phải giàu có mà giúp anh mới đúng.

Nghe tiếng ho, tôi hỏi An:

-Ai ở phía sau đó?

Anh nói:

-Bà cụ, mẹ tôi.

-Vậy mà anh không nói, cho tôi vào thăm bà cụ.

Anh dẫn tôi vào chào và hỏi thăm cụ. Bà đã ngoài chín mươi, nét phúc hậu quý phái, búi tóc bạc phơ, cụ đeo mắt kiếng và đang khâu vá, tai còn nghe rõ, cụ nói chỉ có đôi chân yếu nên đi đứng khó.

Tôi nói:

-Mẹ cháu cũng gần chín mươi, còn đi đứng được nhưng mắt thì yếu và tai không nghe rõ. Cụ còn được anh An ở bên, cháu không được may mắn như vậy.

Cụ an ủi:

-Mỗi người có một hoàn cảnh cháu ạ, thời buổi nầy ai ai cũng khổ cả cháu ơi.

Tôi cũng vâng dạ và chào cụ để ra về.

An tiễn tôi ra cổng.

* Gần một năm sau, tôi có công việc đi lên Sài Gòn.Tôi đạp xe đến nhà An, giữa trưa Sài Gòn oi nắng. Anh có sẵn cho tôi tập sách dạy trồng Lan và một tập tài liệu về Bonsai đánh máy, những hình vẽ đã được anh ghi chú nhiều chi tiết cặn kẽ. Có một chuyện hơi nguy hiểm, tôi định gợi ý nhờ anh giúp, nhưng tôi chần chừ đắn đo mãi. Rồi khi vào thăm bà cụ, khi nhìn hai phần cánh tay còn lại lúc anh ngã người sau ghế phà khói thuốc, trầm ngâm. Bất giác tôi thấy ái ngại tính thôi. Những câu chuyện cũ, mới… chung quanh đời sống, thế rồi tôi cũng kể câu chuyện với anh. Tôi nói tôi lên Sài Gòn lần nầy là để đưa một người bạn đi chữa bệnh, anh ta trước là Trung úy biệt phái Xây dựng nông thôn, sau mấy năm tù trở về anh vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan, ở trại tỵ nạn anh đã theo một tổ chức trở về “Phục quốc” từ Bắc Thái Lan qua ngả Lào, đến biên giới Lào -Việt, bị Việt Cộng phát giác truy đuổi, một số bị bắn chết, một số bị bắt, anh ta và một số ít trốn thoát về tới Miền Nam rồi phân tán mỗi người tự hòa nhập mỗi nơi để hoạt động. Anh ta lấy tên giả là Hoàng Đình, thường gọi là chú Tư, nhập “hộ khẩu” giả trong vai là anh vợ của một quân nhân Sư đoàn II Bộ binh trước đây, hiện ở kinh tế mới dưới Xuyên Mộc. Anh tìm đến tôi mời tham gia cộng tác, ban đầu tôi nghi ngờ có thể đây là tổ chức “Kháng chiến, Phục quốc” giả do VC tổ chức để giăng lưới, gài bẫy đánh lừa, nhưng sau một thời gian theo dõi, tìm hiểu, tôi tin  tổ chức của anh là “thật”. Nhưng tôi nhận thấy tổ chức nầy khó phát triển và khó vận động lôi kéo quần chúng, khó có thể hoạt động bền vững, lâu dài. Tôi hứa sẽ yểm trợ, giúp đỡ nhưng sẽ tham gia khi biết rõ tinh thần và bản lĩnh của nhóm lãnh đạo mà Tư hết lòng tin tưởng, ngợi khen. Ngoài những thời gian đi liên lạc, hoạt động tổ chức, Tư lao động ruộng rẫy với người “em rễ” giả, Mới đây, một hôm đang ngủ trong chòi rẫy giữa rừng, anh bị trúng gió, miệng méo xệch, tay trái bị tê liệt. Sợ lộ tung tích nên không thể vào các bệnh viện, tôi đưa anh lên Sài Gòn đi châm cứu “chui” ở cư xá Nguyễn Thiện Thuật, hiện tại tôi đang gởi anh ta tạm trú ở nhà một người bạn của tôi dưới Bà Quẹo.

Tôi hỏi An nếu thấy không trở ngại anh có thể giúp được gì cho anh ta như giới thiệu chỗ nào chữa bệnh tốt hơn, giúp ý kiến về phương cách hoạt động, giới thiệu những người có tâm huyết muốn tham gia hay yểm trợ, vì đây là một tổ chức “Phục Quốc thật”, không sợ bị lầm. An hứa sẽ giúp trong khả năng hạn chế của mình

Tôi cáo từ khi bóng nắng xuống thấp bên kia vách tường. Đến chào bà cụ, nhưng cụ đang ngủ. Tôi ôm theo hai tập sách anh cho. An chỉ lên tấm bằng “khen thưởng” mà anh đã đoạt giải nhất trong cuộc dự thi triển lãm của hội “Cây Cá Kiểng” vừa qua với giò Hồ Điệp. Tôi nói:

-Dân chơi lan ở đất Sài Gòn nầy toàn là bậc sư cả mà anh chiếm giải nhất thì xin bái phục.

Ra tới sân anh còn khoe với tôi giò Nghinh Xuân đang trổ hoa, “một loại lan chỉ trổ vào dịp Giáng Sinh cho đến Tết.” Anh giải thích.

Tôi lên xe đạp còn ngoái lại đưa tay vẫy chào anh lần nữa, rồi đạp xe loanh quanh những con đường phố bụi bặm với nỗi buồn trống trải.

*

Tôi đưa Tư đến giới thiệu với An, sau khi ra về tôi nói với Tư rằng An là một người có tâm chí tốt, nhưng hoàn cảnh của anh ấy thì như anh đã thấy, lại còn bà mẹ già trên chín mươi, cần thiết lắm mới nên đến nơi đó. Có chuyện gì xẩy ra là mình ân hận suốt đời. Tư nói rằng anh cũng suy nghĩ như tôi vậy.

*

Tháng Ba,1992 tôi đến Texas được vài ba tuần lễ thì gặp Sáu Đằng, bí danh của người “lãnh đạo” tổ chức Phục Quốc mà Tư đang hoạt động. Ông ta xuất thân từ Quốc gia Hành chánh, từng là Phó tỉnh trưởng nội an nhiều tỉnh ở Miền Nam, sau khi ra khỏi nhà tù CS ông đã vượt biên rồi đến Mỹ sớm. Qua hai lần diện kiến và nhiều lần nói chuyện, tôi đánh giá vị nầy không mấy có viễn kiến chính tri, thường chủ quan về thời cuộc, tâm chí tầm thường, tham vọng hạn hẹp, chỉ có thể thuyết phục nhân tâm một số người, đặt mục tiêu cao nhưng không xa, được chăng hay chớ, nếu thành công thì về chia chỗ ngồi, ghế lãnh tụ. Còn thất bại thì là kẻ dễ phủi tay, “đem con bỏ chợ!” Ai chết sống mặc ai!

Tôi định biên thư bóng gió gởi về cho Tư biết đôi phần. Nhưng chỉ vài tháng sau thì được tin Tư bị bắt tại nhà người bạn tôi ở Bà Quẹo, về sau nầy tôi được biết rằng bọn phản gián Hà Nội đã  lần ra dấu vết, chúng phối hợp với công an bảo vệ chính trị tỉnh Đồng Nai theo dõi anh từ Xuyên Mộc đến Sài Gòn.

Anh bạn tôi nhanh chân trốn thoát qua Nam Vang, tin chỉ có thế, thư từ gởi về Việt Nam đã chậm lại không thể hỏi rõ, công an bưu điện có thể mở bất cứ thư từ “nghi ngờ” nào gởi đến và đi để kiểm duyệt. Tôi không biết Tư có đến nhà An mấy lần, có bị chúng nó theo dõi không? Nếu có thì thật là nguy cho An. Nếu không, tôi tin tưởng Tư sẽ không hé môi khai báo thêm gì về An cả. Nỗi âu lo trong tôi kéo dài ngay cả lúc An được anh Nguyễn Quý Chấn và nhóm thân hữu vận động với chính phủ Hoa Kỳ qua một vị cựu Đại tá người Mỹ gốc Nhật để An được đi định cư. Anh Nguyễn Quý Chấn trước có ở Phi đoàn 417 Hỏa Long, cùng là Nguyễn Quý người Miền Bắc, nhưng hai anh không cùng họ hàng với nhau.

Hơn một năm sau, khi An đến Cali, tôi mới thở phào, nhẹ nhõm.

Ở tù thêm mấy năm, Tư mưu kế thoát khỏi ngục CS và trốn qua biên giới Thái Lào, rồi tiếp tục hoạt động trở lại. Tôi vẫn do dự, ngại nói rõ với Tư những nhận xét của tôi về tổ chức và lãnh đạo mà tôi đã gặp trực tiếp và đánh giá. Chần chờ mãi cho đến một ngày mọi tiên liệu của tôi đã trở thành sự thật. Thêm một lần tôi hối tiếc, tự trách mình thiếu quyết định dứt khoát sớm, làm hệ lụy đến cho nhiều người, ngay cả chính bản thân mình!

MAJ. Nguyen Quy An and his daughter, Kim Ngoc, are greeted by COL. Robert D. Phillips, vice commander, 60th Airlift Wing, on arrival at Travis AFB. An, a recipient of the Distinguished Flying Cross, risked his life by flying his CH-34 Sikorsky helicopter into the path of a UH-1H helicopter to force it to abort an unsafe landing on a field

Major Nguyen Quy An. Vietnamese KingBee Pilot. “We have to bring back all my friends.” Hundreds of missions in support of SOG. Shot down 4 times. Wounded. Double amputee. Communist prison camp. Another one of my heroes.

Vặn tới một giờ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/03/2019

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

 Nữ tiếp viên hàng không Air Canada đa số tuổi trên 40. Hết đẹp, tàn phai, tròn người, thôi dịu dàng. Và cho dẫu đấu tranh đòi bình quyền, trong lòng phi cơ, nam nhân cùng job vẫn nhiều hơn nữ giới. Quý bà mặc váy xanh nước biển chỉ chiếm một phần ba, ngực cài cánh chim sắt, cổ quàng chiếc khăn lụa màu đỏ ẩn chìm vô số chiếc lá phong, thứ biểu tượng riêng ngành hàng không Gia Nã Đại cầu chứng. Bây giờ leo vào máy bay, ít khi nhìn thấy một vài đoá hoa xuân thì lướt qua êm ái, dùng dằng sau lưng một mùi hương dịu ngọt bám gót.

Sử dụng phương tiện di chuyển đi mây về gió nhậm lẹ này đâu ai để tâm chiêm ngưỡng dáng ngọc, tôi mọc lên ý nghĩ quàng xiên nọ vì tôi đang nhớ tới Quỳnh Hoa, người bỏ tiền ra mua vé máy bay mời tôi “chịu khó” sang Mỹ chia sẻ niềm vui cùng cô khi vừa tìm ra một bến đậu. Một niềm vui quá đỗi bất ngờ, đáng hoài nghi, đáng nhìn tận mặt, đáng đặt câu hỏi khờ khạo: Tại sao? Quyết định chín chắn chưa? Thân này ví xẻ tới bao nhiêu khúc rồi?
Mấy chục năm trước, thời còn là học sinh thật thà như đếm, hai đứa từng khi che chung chiếc áo bồ bịch, dại khờ chưa đọc thông câu kệ “đời là bể khổ, tình là dây oan”. Không chịu lãnh hội thơ Bùi Giáng: “Môi là môi của môi hôn, mà không hôn để môi mòn mỏi môi”. Tôi từng nói: Bồ mang tên Quỳnh Hoa, đâu cần phải thắp đuốc, Huế này trong đêm có cả vạn đoá quỳnh hoa thay phiên nở bông. Bịch thưa xong, bồ phán ngay: Là răng? Phổ thông? Loạn xị xà bì? Đi mô cũng gặp? Phải hay ho cha mạ mới thơm thảo lựa đặt cho. Nhiều người trùng tên gọi thì đủ chứng minh, quan trọng là hoa này chẳng giống hoa kia. Đừng nhiều lời, chớ có nhọn mồm nghe bạn tèo. Thế kỷ trước, bồ ưa bắt nạt ăn hiếp tèo. Tèo chưa kịp tán dương mỹ danh đã sớm nghe bồ lên giọng. Yêu người chưa chắc đã yêu cả đường đi lối về, bởi đường cắt chia ra quá nhiều đoạn. Duyên thề đã lỡ, thất lạc lâu hung, bi chừ xa xôi nghe bồ nên duyên mới, vậy mà chẳng cực lòng nhắm mắt bay qua mấy con sông thầm thì hát khi đã bình phi: Hôm nay ngày cưới em, vì sao nàng mời tôi đến? Lại lơ mơ nhớ một ca từ do ông nhạc sĩ viết nên, qua giọng ca nữ trình bày chất ngất tâm sự tự động đổi giống đực sang giống cái: “Mưa bên nàng có làm anh khóc”? Ôi, chả lẽ máy bay bình an đáp xuống một bầu trời ráo hoảnh, lật đật chạy vào cửa hàng duty free nhanh tay tậu một đống mù-soa giấy Kleenex để khi lệ đổ từng dòng theo người vu quy có thứ mang ra mà chặm, mà lau, mà chùi con mắt đỏ ham sùi sụt. Xưa nay cha chết mạ chết mới khóc bù lu bù loa, bồ lên xe hoa há lẽ tèo dậm cẳng sướt mướt hu hu nước mắt cá sấu? Mất mặt bầu cua cá cọp quá thể! Quỳnh Hoa từng trách móc: Muốn đo mức nông sâu của cuộc tình, biểu cảm trước tiên là biết dằn vặt thổn thức ngây dại, có ai như bồ tèo cứ trương mắt ốc mặt tỉnh như ruồi, ngó bắt nản. Thấy chưa đủ để chấm câu bèn thòng thêm cái kết luận: Người chi mà quá hậu đậu!

Ra đường ngu ngơ, về nhà hỏi mạ: Hậu đậu là răng mạ hè? Mạ la: Tau không biết, chăm học chăm hành đi con. Học giỏi, sáng dạ thì đoạn tuyệt hậu đậu. Tôi theo thằng bạn chui vô quán cà phê nghe quân sư dạy đời: Mi về biểu con Hoa mặc áo làm bộ sút khuy nút, khi nớ xem mặt thằng bồ có còn tỉnh như ruồi nữa không? Chẳng nắm tay thì nắm chưn, nắm cho đã rồi giả ngây cởi thêm một hột nút áo. Người mô ngầy ngà thì người nớ rõ là hậu đậu.

Quá sức lợi hại chuyện ngày xưa, hồi ức chi chặp phi cơ đã trồi sụt hạ thấp dần, ba cái bánh cao su nghiến mặt xi măng phi đạo ken két lay tỉnh tới hiện tiền. Một nữ tiếp viên hàng không “ô-tét-đờ-le” khom lưng đòi lại cái head-phone cái chăn đắp. Mắt hành khách hậu đậu nhìn vô một đường khe núp sẵn sau hai hạt nút cố tình để hở. Thương ông Bùi Giáng quá mức: “Khi xưa tôi đã có lần, và bây giờ đã đôi phần tôi quên”. Tạm biệt, chúc một ngày lành. Ngực phập phồng. Tôi lập lại lời bà ấy. Lâu ngày dùng lại tiếng Anh đâm lọng cọng. Thuở xa xưa tôi chọn Pháp văn làm sinh ngữ chính, bậc Trung học thầy giảng theo sách “Cours de langue et de civilisation Francaises” do ông Gaston Mauger biên soạn. Tome 1 bìa xanh xám dày 248 trang. Hình như trong cuốn “Bài học về ngôn ngữ và văn minh Pháp” nọ có bài văn ngắn tả cảnh gia đình ông Vincent từ Paris sang thăm thú Montréal? Trò phải biết thì quá khứ, phân định ra thì hiện tại, ngôi thứ nhất số ít ngôi thứ ba số nhiều, sao vật này có “le” đi trước vật nọ lại là “la”. Thế nào là động từ bất quy tắc, cái chi kêu bằng pát-xê-còm-pô-dê… Ôi, linh tinh lục tặc bao điều đã rơi rụng dần. Khi Quỳnh Hoa biết tin tôi định cư ở Montréal, với trí nhớ chưa hao mòn cô đã nhắc lại cuốn sách kia, rồi đùa: Xin chào ông Vincent, có nhận biết ai đang “pạt-lê” không? Tôi hô câu tiếng Pháp: Embrassez-moi mon amour. Quỳnh Hoa lên giọng tở mở: Okay. See you soon. Make love not war.

Tôi ra đi không mang ba-lô, hậu đậu chỉ đeo cái túi xách gọn nhẹ, bước ra cánh cửa tự động mở, đứng trông thiên ngó địa chừng tàn một cây nhang thì có một gã đàn ông diện bộ đồ lớn miệng cười tới mang tai chạy lại gần: Mụ cô mi, mấy chục năm rồi tướng tá mặt mày mi cũng rứa, có vất vô hóc bò tó tao cũng nhận ra. Hắn ôm tôi coi mòi tỏ tình thắm thiết. Mi biết đó, nhân vật chính giờ ni như ngồi trên lửa, đầu tắt mặt tối, Hoa ra lệnh cho tao phải đi rước mi. Thấy tao ra răng? Tôi định thần, thằng cu Cương thì thay đổi gắt, thay đổi dữ lắm, chỉ cái tật luôn nói búa sua thì cứ rứa, y xưa. Phàm những kẻ ăn nói tứ tung bát giác như hắn lại dễ chơi, dễ thân cận, ruột để ngoài da. Một dạo, cu Cương nớ cũng từng cất công mang cây si tới trồng trước nhà Quỳnh Hoa, đâu chừng một năm chẳng biết chuyện chi xảy ra khiến loài cây bạc phước nọ bị héo úa, ai bứng nhổ đi, trồng chi cho chật đất? Tôi không điều tra mà Quỳnh Hoa cũng… tỉnh như ruồi. Cu Cương dễ thương ở chỗ hắn mọc tâm lành, không hận kẻ bạc tình, chẳng thù oán giận hờn việc bị cho ra rìa. Diện mạo vui tươi chưa hề gợn da nhăn, áo quần chăm chút bảnh bao, nghe đồn Cương sẽ là một trong hai người phụ rể, rất mực uy tín. Lại được Quỳnh Hoa giao phó trao chức bộ trưởng bộ ngoại vụ lẫn tiếp tân, đưa đón khách phương xa lạc loài về như thằng tôi, lên chương trình đi nhậu cơm hàng cháo chợ, dàn xếp cho chỗ ăn chỗ ngủ. Quỳnh Hoa ký duyệt văn bản: Không được đem con bỏ chợ, gây chấn thương thêm vào nỗi đau của đứa hậu đậu ngày nào bị đồng minh giũ áo tháo chạy.

Cu Cương chở tôi từ phi trường hút gió đi vào thành phố bưng bít cao ốc láo liên ngoạn cảnh. Nhìn ngó cho có chút khái niệm về thành phố có tao và Hoa trú thân, mất đâu khoảng mươi phút hắn quành xe vào khu thương mãi của “người mình”. Ăn bún bò hí? Mụ ni người Đà Nẵng nhưng là cao thủ bún bò Huế dân cố đô địch chẳng lại, không ngon không lấy tiền. Tôi ôn kỷ niệm cho cu Cương nghe:

Ngày xưa mạ của Quỳnh Hoa nấu bún bò cũng ngon ác liệt. Mi biết không? Hoa nói, muốn ăn phải lăn vô bếp, nhưng trước khi ăn phải tập vận động tay chân. Giò heo luộc chín để nguội, Hoa đưa tao cái nhíp bày cách nhổ lông lởm chởm sợi ngắn sợi dài trên bắp đùi heo nái. Nhổ cho sạch để khi bày vô tô bún ngó vệ sinh dễ nuốt hơn. Mạ của Hoa cười: Giỏi hè! Mát tay như rứa mai sau mụ vợ được nhờ.

Cương háy: Được tài bày đặt, làm như đang kể chuyện tình võ hiệp của Vô Kỵ Triệu Minh không bằng!

Tôi chọc: Cặp kia vụng về, chàng chỉ biết nhổ lông mày cho nàng, làm sao sánh được với tao, cao thủ biết nhổ lông chân.

Cương nguýt, mắt có đuôi: Khác biệt lớn lao đáng bàn cãi là chân heo hay chân người? Cả đời, tao có nhìn ra cảnh Hoa mặc quần xà lỏn mô nà, cứ ưa làm trạng cho cố xá!

Ăn uống no say, mùa này chóng tối, trời chiều nhá nhem. Cương chở tôi về con đường vắng xe nơi có cái khách sạn đèn đóm tờ mờ nhỏ không khác một căn nhà bình thường, trước cửa bày đặt gắn ba sao cầu chứng vào tấm bảng hiệu chữ đã tróc sơn. Cương làm khúc dạo đầu, chỗ ni giá cả phải chăng đúng với yêu cầu tạm trú chỉ mong có chỗ đặt lưng mà ngáy, mi nên hiểu đã là cô dâu thì có chán khối việc phải lo, ăn trông nồi ngồi xem hướng, ngay từ phút này nên liệu cơm mà gắp mắm. Tao nói thiệt thời buổi ni khó tìm ra ai rộng lòng chu đáo như Quỳnh Hoa, lo cho mi từ a tới z làm tao phải ghen tị, mi không chuột sa hũ nếp thì cũng thuộc dạng có căn tu. Cái gì mà chuột sa hũ nếp với cu tăng cha nội! Người ta đang cắn rức lương tâm thì đúng hơn.

Cu Cương dẫn tôi đi vào một hành lang nhỏ rồi dừng chân trước cánh cửa ghi số 9. Thôi, vào tắm một phát giũ sạch bụi đường, ngủ yên giấc cho lại sức. Tao về, mai tới sớm chở mi đi cà phê. Vét-tông cà vạt đầy đủ cả bộ sậu rồi chứ? Tôi nhìn Cương: Đi bụi đời thôi mà, chỉ đeo cái ba-lô, nhét làm gì ba thứ lỉnh kỉnh ấy cho nhọc sức. Mai uống cà phê xong chở tao tới chợ chí rận tậu bộ đồ vía hàng xi-đa, năm bảy đồng diện xong rồi dụt cũng không hối tiếc. Mẹ, khi đó không chừng mà le lói bắt mắt, bảnh tỏn hơn thằng phụ rể xa lắc. Trước khi bỏ đi, Cương chửi: Ông nội mi!

Giường không lớn, gối chăn nệm màu mỡ gà cho tiệp với màu vôi vàng, tủ gỗ và màn cửa đều sắc nâu, ton sur ton hài hoà với tấm thảm đỏ bầm. Chỗ dùng vệ sinh cách nơi đứng tắm chỉ ba bước chân, không biết lỗ mũi thì lớn bao dường để mang ra so sánh. Nói nhỏ như con thỏ thì coi bộ khi dễ cái khách sạn ba sao này quá. Cả đời tôi chưa từng đặt lưng trong một khách sạn nào cả nên bù trất việc so sánh, định giá. Bên kia biên giới, đất nước có thành phố tôi ở, hình như hèn kém lắm tiền phòng một ngày cũng phải tiêu tốn 100 đô?

Tôi đi tắm, phải đứng dưới vòi sen hòng tìm gặp một tinh thần minh mẫn mới cầu may có được thân thể tráng kiện sau, bước ra vuông phòng mờ mịt hơi nước, đợi tóc khô trước khi ngủ, ngồi mép giường táy máy mở TV xem thử có gì hay ho. Muốn coi thứ đồi truỵ bức xúc ác ôn cho qua đêm dài lắm mộng thì màn hình hiện lên hàng chữ đỏ: Bạn đã cân nhắc chưa? Bạn phải trả 3 đồng 99. Và bạn phải trên 18 tuổi. Cấm sao chép dưới mọi hình thức, bất tuân sẽ chịu vào ngồi nhà lao trung ương 5 năm đồng thời đóng 250.000 tiền phạt. FBI kính báo. Lôi thôi nhỉ? Doạ nạt nhỉ? Dằn mặt nhỉ? Tưởng tình cho không biếu không chớ, giải trí mà tốn 4 đô thì cũng nên tính toan, không đùa đâu nhé, cho dù món ăn tinh thần ấy giúp mình không nở bề ngang cũng mạnh cho bề dọc. Ba kênh đài đang phát sóng kia “lành mạnh” qúa, chả có gì lôi cuốn cả. Đài thì diễn hài kịch khó hiểu, đài thì tường thuật tin tức đó đây và băng tần cuối cùng thì trình chiếu về thế giới động vật, kiểu cần cù như ong thợ, kiểu trì chí kiến tha lâu đầy tổ, kiểu như con mèo con chó có lông con chim có cánh con công đủ màu.

Có tiếng gõ cửa. Một hai ba. Tôi dỏng tai lên. Bốn năm sáu. Phát động ra một nghe mơ hồ nhưng tới số sáu thì rõ là cường độ décibel tăng cao. Nôn nóng như công an hăm he đòi xét giấy đăng ký tạm trú. Tôi tần ngần lại mở cửa, trong đầu nghĩ ra vài câu tiếng Anh dùng để đối đáp với nhân viên khách sạn, chẳng hạn: Tôi nào có gọi phone yêu sách đòi phục vụ thứ này thức kia đâu cà? Có đi lộn phòng không nà. Hãy khai báo thật thà. Nói ngay là…

Một bà người Á châu Thượng Hải Hàn Quốc gì đó dáng vẻ đường bệ mặc chiếc váy đỏ hiện ra sau cánh cửa. Bà này chắc không phải vào phòng làm vệ sinh giường chiếu? Bà nhìn vào chiếc khăn tắm tôi dùng quấn quanh bụng, may bà không hỏi có phải sir mang tên Trần Một Nửa? Phải mất tới hơn phút tôi mới nhận ra bà ấy đích thị ma-dzê-in Vietnam mang tên Quỳnh Hoa. Xin bỏ quá cho cái nằm mộng cũng chẳng ngờ này. Đường đột tới sững sờ, ngỡ như chỉ xảy ra trong phim Thập Diện Mai Phục thôi. Thân phận giữa hai đứa quả có sự khác biệt hố sâu, bà là chủ khách sạn mà tôi là nhân viên chuyên hút bụi hành lang ôm chăn màn đi giặt giũ phơi phóng, tơ lơ mơ chây lười lao động là boss cho nghỉ việc, ăn hưu non đặng ta về ta tắm ao ta đuổi gà sân trước quét rác sân sau chống chổi ngậm hờn việc thế sự.

Quỳnh Hoa bước vô, đóng cửa bằng lưng. Nữ hiệp vung tay quá đà đã xuất ngân lượng ra, móc hầu bao nhằm chi trả cho tôi thoát cảnh qua sông luỵ đò, thậm chí còn bao giàn trà đình tửu điếm nhà nghỉ cho tại hạ kinh qua ba ngày xuống núi lăn lóc chốn giang hồ xa lạ đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tôi dùng tay bấu vào chiếc khăn lông đang cảm động tới độ thoi thóp lỏng lẻo muốn giả mù sa mưa. Xin lỗi, mình nhận không ra, bạn thay đổi dữ quá. Tôi nói, không thốt ra câu cuối: Giống như mới vừa ra khỏi thẩm mỹ viện. Vai trò Cương làm có tốt không? Cương có nói xấu Hoa điều gì không? Vừa hỏi, Hoa vừa nhón gót cởi đôi giày cao gót, đi chân trần tới đặt mông ngồi xuống giường. Tôi nhìn tấm nệm đang co rúm, trên TV chiếu cảnh con rắn nằm đờ đẫn vì đang cố tiêu hoá con chuột gồ ghề mắc nghẹn ở cổ họng. Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay. Sao chẳng mặc áo? Sửa soạn hay đã tắm xong? Làm chi mà đứng thẫn thờ kiểu nớ? Bước tới đây. Tệ quá, gặp bạn cố tri cách xa biền biệt mà không thèm ôm ấp hỏi han lấy một tiếng. Đã quen con mắt chưa? Hoa đâu đổi thay đến độ có thể đi nhát ma cho người ta thót tim. Nhớ khi xưa bồ kể chuyện con ma vú dài, sợ bắt mắc tiểu nín đái luôn.

Thôi đừng nhắc lại chuyện ngày xưa. Kể về người sắp làm chồng cho tui nghe đi. Ủa, đã lạ chưa tề, bộ ông Cương bị may miệng không bép xép điều gì sao? Hoa vẫn nhìn tôi, nhãn tuyến long lanh như thanh xà quan sát con chuột chù: Ổng nhỏ thua Hoa ba tuổi, vợ chết sớm và mình đồng ý đứng ra đóng vai mẹ hiền. Gà trống nuôi con thấy cũng không phải, tội nghiệp cách gì. Và đứa con ổng cũng ra chiều thương mến, tin cậy Hoa. Ổng biết mình từng qua ba lần đổ vỡ nhưng vẫn tha thiết ân cần săn đón tốn nhiều công sức, bỏ ngoài tai bao miệng lưỡi thế nhân. Năm mươi rồi, còn nước nôi gì mà lên mặt ỏng ẹo làm cao, trước khi héo úa gỡ gạc chút đỉnh vậy mà… Lại đây cho tui ôm bồ cái, sẵn tắm xong để tui hun hít bậy bạ cho đỡ nhớ người xưa. Hoa luôn cầm tay cái iPhone, bồ áp má tèo xong liền tự selfie hai mái đầu đang tàn phai chụm lại. Mấy thuở mới được đoàn viên, đời có bao lăm mà hững hờ?

Thu cất tấm ảnh chân dung xong, Hoa vất điện thoại thông minh xuống bên mông, hết đụng máy móc thì táy máy sờ người. Dùng điện thoại thì nhớ sạc điện, con người cũng một nghĩa như nhau, chẳng ngó ngàng tới thì khó mà bắt sóng. Con mèo con chó có lông, cũng nên chọc giận buộc công ngủ vùi. Hoa nằm vật xuống nệm, cằn thân lên dong tay tắt hai ngọn đèn bắt đầu giường. Hoa quỳnh chỉ nở về đêm, son trẻ không nói gì, bây chừ xộc xệch thì vẫn muốn coi bóng tối là đồng loã của việc che dấu vụng chùng. Đừng cởi, chỉ việc lật váy lên. Hôn mình đi, ở bên má, dưới dái tai, ở cổ, những chỗ ngày xưa mình cho phép được hôn.

Tôi thở gấp: Mình hôn ở ngực được không? Không. Hôn ở nách? Không. Mình hôn bụng? Không, nhột lắm. Đừng hôn hít, đừng nói năng. Yêu Hoa đi. Nhẹ nhàng thôi, từ tốn thôi… Không ấy thì để cho Hoa ở trên. Hoa kiêng ăn dữ lắm mà người cứ phát phì, cục mịch, cái béo tốt đầy tai hại, có đúng không? Mình xa nhau đã quá lâu, phút sum họp gắn kết này phải cố đền bồi sao cho tương xứng, bồ nhớ chớ sớm bỏ cuộc nghe chưa. Tôi đưa tay vuốt ve, sờ soạn từ đầu gối lên tới mông Hoa, có lẽ thằng chồng sắp hợp thức hoá kia đã chí thú lao động chuyên cần cầm nhíp đi nhổ sạch những sợi lông lạc loài? Giò heo mới cần vệ sinh kiểu đó, cha nội! Táy máy tay chân, ngứa ngáy làm chi cho hư bột hư đường thế kia. Rõ là nhàn cư vi bất thiện! Rách việc quá xá quà xa.

Chuột kêu chút chít trong rương chẳng qua là em trốn trong đó giả giọng làm ám hiệu, phận sự còn lại của anh là đề cao cảnh giác đi đứng cẩn thận chớ gây tiếng động kẻo mạ thức giấc phát hiện âm mưu bán trời không văn tự của chúng bây. Ca dao luôn chứa sự ngây ngô đáng yêu đến thế, nhưng hiện tại Quỳnh Hoa đi từ “chút chít” đến ư hử liên hồi trong mỗi thao tác chẳng cần che dấu, chưa tính chiếc giường cũ kỹ già nua cũng góp giọng kêu ca. Mạ đang luộc giò heo, hạ lửa lò nước sôi ùng ục: Ủa, mèo đực hay mèo cái mà thê thiết gào nấc mùa động tình rứa bây? Con mèo nhảy đổ nồi canh, con chó chạy lại lanh chanh dính đòn.

Mèo thương tình nằm vật mình sang bên, tóc rối bao che khuôn mặt đang thở nhịp hối. Mèo sờ thân chó trụi lông: Cảm ơn bồ nhen. Tin tới số mạng không? Nếu ngày đó hai đứa mình khởi đầu đã keo sơn thì chẳng rõ hậu vận sẽ ra sao? Sau nhiều đổ vỡ, mình chỉ muốn sống đơn thân, buông bỏ hết. Nhưng rồi khi gặp hai cha con họ, hoàn cảnh đẩy đưa làm mình trở lại với cái tham sân si như cũ. Tội lỗi!

Rất giản tiện, mèo chỉ thò chân vào quần lót, xong thì kéo váy xuống y như trước. Chó cũng vậy, quấn lại chiếc khăn tắm từ thắt lưng, vẫn mang tên gọi Trần một Nửa. Bán thân luôn biểu tượng về điều bất toàn. Vầng trăng ai xẻ làm đôi là một ví dụ. Uyên ương gãy cánh là một ví dụ khác. Một thằng chồng sắp cưới, trước đêm tân hôn hắn biết cô vợ lén tới khách sạn ngủ hoang với thằng bạn cũ đến từ phương xa, liệu hắn có nửa hồn thương đau? Khéo lo, mèo phải biết dấu cứt chứ! Mèo mở sáng màn hình cái iPhone nhìn tấm ảnh chụp tự sướng. Thôi, Hoa về. Mười giờ rồi, phải thích nghi mặc dù hẳn còn sớm vì vừa chỉnh sửa vặn đồng hồ tới một tiếng. Người ta gọi sự ăn gian nọ là Daylight Savings Time. Xuân đang tới và Spring Forward.

Mèo bước vào phòng vệ sinh, trong khi chó mở sáng hai bóng đèn vàng, soi rọi chăn nệm nhăn nhàu ghi dấu tích một cuộc tình “thù này phải trả”. Rồi mai em đưa anh xa kỷ niệm, xin lần cuối… Mèo mang tiếng hát từ chỗ giải thuỷ bước ra. Tóc hết rối, váy thôi nhăn và bờ môi vừa được trau chuốt tô son lại: Có sẵn tiền Mỹ trong túi không? Cầm trăm bạc này cho có mà chi trả tiền ăn quà vặt, không nên để cho Cương bao suốt, kỳ cục lắm. Chó muốn sủa một tiếng nhưng ngại mèo hờn giận, không luôn cả tiếng merci. Chó nói: Tự nhiên sao mình cầm lòng không đậu chẳng muốn giã từ vũ khí đầu hàng cuộc chơi. Mèo ngó vào chiếc khăn quấn quanh bụng kẻ vừa lộng ngôn: Nói thế là có ý gì? Trăng vẫn treo trên đầu súng? Thích tham dự chiến cuộc vào giờ thứ 25? Lời tèo đã thốt há lẽ bồ lại giả điếc giả câm? Lòng bồ mở rộng hải hà phen này rồi mai sau có đóng chặt cũng rũ bỏ phần nào chút ân hận vậy.

Bóng đèn lại thui chột đi, để bóng tối lấn chiếm một vuông phòng chỉ phát ra tiếng thở. Lần này thì chiếc váy bị cởi phăng ra, ném không xót thương rơi xuống thảm. Cho ham hố hôn đó, hôn cùng khắp cho bõ những ngày cơ cực. Ư… ứ… ừ… Thật ra thì giờ này mới có 9 giờ chứ mấy… Có thích selfie hai con nhộng mang về giữ làm kỷ niệm không? Ui, máy móc ích gì cho phút ấy. Quên đi nha, đang sửa soạn thăng hoa. Hay trăng hoa? Hay mèo mả gà đồng? Hay chết bỏ bể bỏ?

Khách sạn vắng tẻ, ít ai thuê ngụ, có lẽ vậy. Nếu lắm kẻ lỡ đường vào tá túc, phòng bên hẳn đã có đôi bàn tay đập vào vách ngăn: Xin vui lòng vặn nhỏ âm thanh vừa đủ nghe để khỏi làm phiền lòng hàng xóm. Ôi dà, bọn tớ hoàn toàn nói tiếng mẹ đẻ, liệu đằng ấy áp sát tai vào vách, nín thở có thông hiểu chút gì chăng? Thôi thì thôi nhé, động đất cũng chỉ ngần ấy thôi…

Hồ Đình Nghiêm

Vân Cẩu

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Apr 2024

Thoát được bát quái trận đồ, Đằng Vo đứng nhìn căn nhà án lối. Vật đổi sao dời, cảnh sắc biến hóa, đường sá thay tên đổi họ, thiệt khó tùm. Mà cũng không chừng thằng lái xe ôm ưa trấn lột tiền bằng cách chạy vòng vo, thong thả phun khói xăng. Chóng mặt, say nắng. 

Đằng Vo bước vào sân, hơi choáng váng. Một người đang ôm bình tưới nước ngẩng mặt lên, án chừng dọ hỏi, đón đường.

– Có đúng là nhà của Kiếm Văn?

– Thưa phải.

Những cánh hoa đầm đìa ướt át, lả lơi. Năm sáu loài khác nhau, ba bốn màu dị biệt. Hương thơm nhẹ thoảng. Nước rơi xuống, giọt đọng trên cánh hoa, giọt lăn vào đất, thẩm thấu.

Người đàn bà ngưng tay khi nước đã cạn trong bình. Y phục nhàu bẩn, dáng dấp quê mùa, tựa hồ một kẻ làm công.

– Nói cho Văn biết có ta từ ngàn dặm đến thăm.

– Xin đợi ở đây, tôi vào báo cáo.

Đằng Vo chắp tay sau lưng, nhìn ngang liếc dọc cảnh vật. Dưới mái hiên có treo dãy lồng chim. Sơn ca, chích chòe, họa mi, hoàng yến thay phiên hòa âm. Tiếng cao tiếng thanh chen vai thích cánh, ngân nga giữa chiều đang dịu nắng. Hoa và chim. Vườn tược và cách bài trí. Ô hay, xem chừng như đây là nơi quan chức an hưởng tuổi già. Một kẻ giàu tiền của muốn ẩn dật vui thú điền viên?

– Trời đất ơi!

Một tiếng la. Nửa mừng vui, nửa thảng thốt.

Kiếm Văn mang tiếng reo ra khỏi bậc thềm. Áo quần bảnh bao, mặt mày tươi nhuận, thần sắc khác thường.

– Về hồi nào? Sao không đưa tin cho đệ đi đón rước?

– Về ban trưa. Ta bao giờ cũng ưa mang đến sự bất ngờ.

– Than ôi! Bao nhiêu năm rồi? E đã có hơn mười mấy mùa lá rụng. Huynh thật đổi thay.

– Bậy. Trước sau ta vẫn vậy. Kiếm Văn mới là kẻ làm ta ngờ vực.

Trong đầu ta không hình dung được cảnh trí này. Đứng đây mà ngỡ ngàng, tưởng chân đi lạc vào gia trang kẻ khác.

– Thôi, chớ chơi nhau. Chớ làm tình làm tội nhau kiểu ấy.

– Ta mừng cho hiền hữu không hết sao lại bảo là chơi nhau? Ta vẫn tưởng kẻ ở lại quê nhà đứa nào cũng lam lũ chật vật. Ai mà dè!

– Cuối cùng huynh cũng quay đầu. Phú quý không về làng khác nào áo gấm đem mặc vào ban đêm. Hãy vào nhà, uống một chút men cay gọi là đánh dấu buổi sum vầy, mừng vui vô hạn.

Đằng Vo đi theo Kiếm Văn. Nhà ba gian hai chái đã phá bỏ để xây cất theo kiểu hiện đại. Trường kỷ, tủ khảm xà cừ, bệ thờ ông bà tổ tiên đã dẹp mất, nhường chỗ cho bàn ghế gọn nhẹ in tuồng của Ikea. Mỹ thuật, hài hòa, sang cả. Đằng Vo dòm qua, bật lên tiếng than:

– Ta mà phú quý gì. Sống lây lất xứ người lao động quần quật cũng chỉ vừa đủ miệng ăn. So ra, nhà ta bên đó không thể sánh được chốn này. Cuộc đời thật có nhiều cái khó hiểu!

– Thật sao? Khó hiểu lắm sao? Xuân vũ vô cao hạ, hoa chi hữu đoản trường.

Kiếm Văn xổ nho. Đằng Vo ngả người xuống ghế.

– Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, nếu thế ta là ngón cái còn Kiếm Văn là ngón giữa chăng?

– Khẩu khí ấy thật không phải là của bọn Việt kiều. Nhưng thôi, hãy quên đi. Mọi thứ đều phù du, tình bạn là vạn tuế, đúng không?

– Đúng mà sai. Đừng cưỡng bức định nghĩa một thứ gì ráo. Ta đọc trên báo Công an, hằng hà sa số những vụ khó hiểu, đơn cử như con đâm cha mẹ những năm nhát dao trí mạng vì muốn làm chủ hai triệu đồng. Chuyện ấy nên hiểu sao cho thông ý suốt tình?

Bia Heineken được khui. Lon nhôm ướp lạnh, logo ngôi sao đỏ in bên ngoài vả mồ hôi, chảy nước mắt.

– Uống đi. Uống mừng mầy chục ngàn dặm kinh qua mà chẳng bị không tặc khủng bố, lành lặn hình hài về tới quê hương.

Đằng Vo nghe lời, ngửa cổ nốc bia. Thoáng đọng trong con mắt, lung linh vẻ đẹp rạng ngời của một thiếu nữ thoát y. Đặt lon bia xuống bàn, kéo vạt áo chùi kính cận thị, đeo lên lại và ngó chăm chú vô bức tranh sơn dầu khổ lớn treo ở góc tường, anh họa sĩ nào đã tỉa tót vẽ nên một dáng dấp sống động, ngỡ như thật. Ngày xưa, ông quan tội nghiệp nào đi sứ sang Tàu đã đưa tay chụp bắt một con chim có trong bức tranh, chuyện đó e phải nên tin. Thực và giả, việc ấy chỉ có bọn nghệ nhân nghệ sĩ mới hiểu thấu tường tận.

– Có đẹp chăng? Kiếm Văn rung đùi.

– Đẹp. Đẹp lắm. Đằng Vo chớp mắt.

– Người hay tranh?

Đằng Vo nheo nheo hai con mắt. Lông, tóc, mông, ngực, eo, đùi. Đầu, mình và tứ chi thảy đều mượt mà, không tì vết. Thậm chí nốt ruồi cũng chẳng đậu được một hột đen.

– Sao lại hỏi thế? Sao lại treo cái báu vật đó giữa nơi này? Hội họa có được hiểu là một thứ để khiêu dâm không? Treo lên để trắc nghiệm lòng người chăng?

– Ngôn từ nọ có đúng lại có sai. Thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật mà lòng gợn tà ý thì ắt rằng kẻ đó chẳng phải là bạn của Văn này.

Sao, từ thuở làm kiếp ăn nhờ ở đậu huynh có còn xắn tay áo lao vào cuộc chơi giởn màu vọc cọ?

– Than ôi! Vo này ví như cây quýt bị bứng trồng ở nơi hiểm địa.

Chua lè, đắng chát. Sinh lực tiêu hao, ta chẳng còn thiết để tâm vào một việc làm nào cả.

– Uổng thay! Phí thay! Thảng hoặc lòng có dấy lên chút nỗi niềm hối hận?

– Hối hận chuyện gì ?

– Chuyện bỏ trốn đất cha làm thân lưu lạc.

– Bậy. Ta sống còn tới hôm nay là nhờ mau chân. Làm con rùa rút cổ ở lại thì e hẳn du địa phủ lâu rồi. Thôi, đừng khơi chuyện cũ, mất vui. Ta về hôm nay mọi vật tưởng như đã khác trước?

– Phải. “Hãy lau khô nước mắt đi em, vết thương hôm qua sẽ thành sẹo”.

– Thơ của Kiếm Văn?

– Không dám đâu. Tuyên ngôn của một kẻ đại thần.

– Đổi khác không có nghĩa là vết thương đã thành sẹo. Diện mạo này tuy bề ngoài hoa hòe hoa sói nhưng bên trong chừng như nhiểm độc trầm kha. Nghe đâu nuôi dưỡng vi trùng vô số kể.

– Sida là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì.

– Lần này thì đúng là lục bát của Kiếm Văn?

– Đấy là quan niệm sống của chị em ta. Văn này tuyệt không đủ sức để sáng tác một câu xuất thần tựa thế.

– Vậy chớ hiền hữu làm quái chi mà một tay gầy dựng nên cơ ngơi to tát đến dường này?

– Đêm nay hãy nán lại tệ xá, chúng ta nằm gác chân lên nhau mà hàn huyên bao chuyện đổi dời.

– Nói cũng đúng.

– Về ở lâu mau?

– Ta không có hoạch định chương trình. Dài lâu hay ngắn hạn đều tùy vào lòng người, lệ thuộc cảnh vật. Thành tâm mà nói mọi thứ ở đây từng đã thờ ơ lạnh nhạt với ta, như không có dây mơ rễ má nào liên hệ với nhau. Ác cảm. Ngay phút ban đầu đặt chân xuống đất mẹ cũng phải bị nộp tiền mai lộ mới được hanh thông chuyện đi đứng. Ôi, ta vẫn ngỡ bọn thảo khấu Lương Sơn Bạt chỉ có trong võ hiệp kỳ tình giả tưởng mà thôi!

– Cha mẹ ôi! Bơ sữa của bọn đế quốc đã đầu độc huynh mất rồi! Sao lại phát ngôn linh tinh ra thế? Nhập gia thì phải tùy tục.

Đằng Vo chưa phản ứng chợt có tiếng chuông ré lên. Trong túi áo Kiếm Văn dấu gọn cái vật phát tiếng thúc bách ấy. Cầm điện thoại di động như tựa một cái tai heo, Kiếm Văn áp nó vào má và sắc diện luôn thay đổi khi đón nghe lời nhắn nhủ thì thầm.

– Thật là đường đột. Xin thứ lỗi, đệ có chuyện khẩn phải đi ngay. Huynh cứ ngồi yên vị mà nhấm nháp, thoải mái tựa đang ở nhà mình. Thu xếp công việc xong đệ sẽ dời chân trở về và chúng mình kéo nhau đi nhà hàng đặc sản cao cấp đánh chén.

Xe gắn máy đời mới sản xuất ở nước đàn anh Trung quốc vĩ đại từ nhà sau được dắt ra. Máy nổ dòn, Kiếm Văn leo lên yên.

– Nhớ nhé, chớ buồn chân đi thơ thẩn mà lạc mất nhau. Đi đái đi ỉ? thì cứ tỉnh bơ lui nhà sau xả bầu tâm sự.

– Được. Ta đợi. Tám giờ tối là hạn cuối.

– Quân tử nhất ngôn.

– Đinh mười phân đóng chặt vào gỗ.

Xe hai bánh phun khói lại ở sân mang bóng hình Kiếm Văn vụt mất như gió thoảng. Đằng Vo khui thêm bia, mặt đỏ ké và lò dò tới đối mặt với tấm tranh. Thiếu nữ đứng trần truồng bất động ấy khoảng tuổi đôi mươi, tuy bị dát mỏng hình hài trên mặt bố phẳng nhưng Đằng Vo cũng mường tượng ra những vùng thật sung mãn nhô ra ngoài. Tràn đầy, căng cứng. Bắt chước tiền nhân, Đằng Vo cũng thò tay sờ nắn thử. Nếu ta làm chủ được xác thân kia thì những đứa bạn mà ta kết giao đều phải có lý lịch là thái giám trong sạch, ba đời không nuôi chim, đảng viên đảng dị ứng đàn bà.

Ý nghĩ ấy làm Đằng Vo mắc đái, vén màn vải in hình chùa Một Cột lui gian nhà sau. Chạng vạng ngoài trời và tù mù phòng vệ sinh ám tối. Bước chân thôi dọ dẫm khi ngọn đèn néon xanh tái mở bừng con mắt trên đầu Đằng Vo. Có tiếng cười nhẹ sau lưng.

– Công tắc đèn nằm đây chứ nào phải bắt ở đó mà đưa tay sờ soạng.

Đằng Vo quay đầu, sững sờ tới độ chẳng rút được bàn tay đang mân mê những hạt nút vừa cởi ở quần. Giống như chuyện liêu trai, người vừa gióng tiếng giễu cợt đó là một thiếu nữ mặt hoa da phấn. Cô đã sống động từ bức tranh bước ra, không quên mặc vào người bộ đồ ngủ bằng hàng lụa mỏng. Được ôm con ma ấy vào lòng có chết cũng cam, Nghĩ vậy Đằng Vo chẳng chút hãi sợ, nao núng.

Nói cho khoa học biện chứng, bia trong người Vo đã trao cho Vo sự can đảm. Đồng thời nó có vẻ xúi giục Vo, khích lệ một cuộc tổng tấn công. Tiền pháo hậu xung, lấy thịt đè người. Ôi, nhà thì quạnh quẽ mà nhà ấy lại chứa độc có cảnh trai đơn gái chiếc. Cái ấy là ý nghĩ sáng suốt của ta chứ không phải do bia Heineken xúi dại.

– Vo này lưu lạc đã lâu, đi đã gần cùng khắp mọi chốn nhưng thề với em ta chưa từng gặp ai mang thứ nhan sắc diễm tuyệt như em đang có. Phút đầu, khi ngó lên bức tranh, lòng ta đã thoáng giao động, nhuốm mùi tục lụy sững sờ. Nói cho ta biết em tên chi? Nhắc nhở cho ta hay đây là hiện thực mà không hề là mộng ảo.

Áo lụa mỏng di chuyển lại gần, êm ái, thướt tha.

– Sao lại mộng mơ, sao lại hoang đường? Khi ngắm tranh, Kiếm Văn không giới thiệu qua cho anh rõ à? Em là Quỳnh Hoa. Và chúng ta đang ở đời thường.

Khứu giác Vo đánh hơi, cánh mũi Vo phập phồng. Quả nhiên từ người con gái không ngừng xô dạt tới một hương mùi kín đáo. Nó không hẳn là mùi Dove, Camay; lại càng không ra mùi xà phòng Chà Và, Cô Ba, trầm, bồ kết do nội địa sản xuất 72 phần dầu. Đích thị đây là mùi thanh tân của một đứa con gái vừa đi qua cánh cửa vị thành niên, mùi hoa quỳnh oằn thân khai hoa nở nhụy kín đáo giữa đêm thâu. Ấm thầm, ngây ngất.

– Nãy giờ em trốn nơi mô mà ta không hề thấy qua?

– Em bận tắm. Em bận vốc nước kỳ cọ rửa ráy, em lau mình lau mẩy. Kiếm Văn thông báo: Hôm nay nhà ta có khách quý. Không có gì quý hơn… ông khách Việt kiều.

– Mà này, ta cũng hơi sơ ý. Liên hệ giữa em và bạn ta ra sao? Biết trước để khỏi mang tội sàm sơ?. Bà con xa? Láng giềng gần? Hay thê nhi, tì thiếp?

– Trật tuốt luốt. Gọi sư huynh cũng đúng mà nói Kiếm Văn từng là ân nhân của em cũng chẳng sai.

Đằng Vo nhìn mặt mũi, ngó tay chân, quan sát thân hình Quỳnh Hoa. Rõ ràng người với tranh tuy hai mà một, như chị em sinh đôi, như hai giọt nước. Hoa nhường nguyệt thẹn.

– Thằng họa sĩ nào cũng khá mát tay!

– Xưa nay em nghe đời gọi là bác sĩ mát tay, thi sĩ mát giây, chứ chưa bao giờ nghe tới họa sĩ có đôi tay thiệt mát.

– Không mát thì nóng, không sạch thì bẩn; cái đáng nói là thành quả: Nó đã lột tả hết nét đẹp mà em có. Kiếm Văn quả là kẻ biết nhìn người, khéo chọn lựa.

– Ngó dậy mà hổng phải dậy!

– Tại sao vậy cà?

– Anh còn nhớ trò chơi tìm ra bảy điểm khác biệt thường in trên báo không?

– Nhớ, thời xưa ta rất ưa chơi trò đó. Họ đặt hai hình vẽ tựa nhau nằm kề cận để thử nghiệm cặp mắt mình. Bên này ba cành hoa bên kia chỉ có hai. Ông sói tóc này có ba sợi, hình kia thì đầu lại mọc thêm sợi thứ tư…

– Bức tranh treo ngoài kia và em cũng có vài điểm dị biệt.

– Tranh thì hoàn hảo lắm rồi, chẳng lẽ em lại trách cứ lão họa sĩ

– Với đôi mắt của một kẻ tầm thường, người nào cũng phát hiện không chịu triển khai hết vẻ đẹp thầm kín trên người em? ra sự khác biệt ấy.

Bàn tay Quỳnh Hoa đưa lên lần cởi nút áo. Bụng dưới căng cứng, Đằng Vo như người đứng trên lửa.

– Khoan, xin em hay đợi.

– Chuyện gì?

– Ta linh cảm như có điều bất thường đang rình rập.

– Anh có muốn đi đái thì cứ nói trắng ra. Đái cho nhẹ người, điều bất thường đang rình rập kia sẽ trôi ra ống cống.

– Phải. Ta sẽ đái nhưng chưa chắc là ta sẽ nhẹ người. Kiếm Văn trở về bất ngờ và ta sẽ nói sao với nó đây? Giang hồ đã từng coi thường bọn Việt kiều như ta. Dỏm, hồi hộp, Việt gian… đủ các thứ gán ghép.

– Anh thì khác, dưới mắt em anh là đã xỉn. Còn Kiếm Văn? Một kẻ đi hẹn hò với nhân tình nhân ngải thì hắn ta đâu có dễ mau chân rời bỏ hiện trường. Lại nữa, giờ này đang cao điểm, tất phải bị ùn tắc giao thông. E phải tới tám giờ tối chàng ta mới phờ phạc trở về, đến hẹn lại lên.

– Ùn tắc giao thông?

– Bị kẹt xe đó, không hiểu à?

– Fuck.

Đằng Vo chửi thầm. Rắc rối hơn cả tiếng tây tiếng u.

Hạt nút cuối cùng thoát khỏi khuy, hai tà lay động như màn voan treo trước cửa phòng the run rẩy gió. Da thịt trắng ngần, phơi bày từ bán phần đến toàn phần. Nụ hồng lấp ló. Đằng Vo nuốt nước bọt. Quả?thật, tu bia có đến cả lít vậy mà nó đã bốc hơi đi đâu? Khô khan, bỏng rát. Thèm ăn chù?g một trái dừa tươi biết mấy! Thèm uống vụng một bầu sữa ngọt vô cùng!

– Khoan…

– Nữa, lại hụi rồi khoan. Sao anh cắc cớ quá chừng chừng!

– Ta không phải hạng trẻ người non dạ. Thực ra thì em đang nuôi dưỡng một âm mưu gì?

– Em sợ và em ghét chữ âm mưu vô hạn. Ấm mưu vượt biên, âm mưu bôi bác chế độ, âm mưu chống đối chính quyền. Đừng đổ oan vào lòng thơ ngây này bằng cụm từ khó nghe đó.

– Ta cũng ghét câu như chim vào lồng như cá cắn câu. Bác Hồ cũng từng làm thơ răn đe: “Đau khổ gì cho bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho!”

– Ỉa đái gì thì làm lẹ lên. Có ai cấm cản đâu?

– Vo này đâu phải hạng phàm phu tục tử. Ta phải biết thu dấu của quý trước mặt chị em phụ nữ.

– Thôi, để khỏi mất thời giờ vô lối em đành thưa thốt đôi điều để xua tan sự dị nghị có ở anh.

– Phải. Sáng sủa bao giờ cũng hơn mờ ám. Em cứ nói thật, nếu được không chừng ta sẽ dốc lòng vui vẻ giúp em ít nhiều.

Chiếc áo được cởi ra. Quỳnh Hoa để mặc cho nó rơi nhẹ xuống đất. Cô xoay người lại.

– Anh thấy gì không?

– Em cảm cúm hay em bị trúng gió?

– Kiếm Văn đánh em bằng roi mây đó.

– Bậy. Không phải có người đã cạo gió cho em sao? Sau lưng hằn đỏ hình xương cá.

– Ở ngực thì sao, có ai lại cạo gió nơi vú bao giờ?

– Trời đất! Kiếm Văn bạn ta sao lại nhẫn tâm đến thế.

– Để em cởi quần cho anh xem những thương tích bên dưới. Em và bức tranh không hề là bóng với hình. Nếu có, một bên đã là quá khứ, một bên là hiện tại thương đau. Khác, khác xa.

– Dập liễu vùi hoa! Không thương hoa tiếc ngọc. Bậy, bậy thật!

– Anh nói sao?

– Không. Ta thật ái ngại. Cho em và cho ta.

– Xin anh hay thương em.

– Thương yêu có năm bảy đường. Em muốn ta tỏ bày bằng cách gì?

– Em sợ bị tù đày chốn này rồi. Hãy mang em cao chạy xa bay. Ơn cứu tử ấy em nguyện làm thân tôi mọi để đền đáp.

– Nhưng mà…

– Nhưng mà để tỏ thành tâm, trước tiên em xin được hiến dâng, ngay từ giờ phút này.

Đằng Vo tần ngần, mặt khờ khạo tuồng như suy nghĩ lao lung.

– Cơ hội chỉ tới với chúng ta lần này thôi. Dùng dằng, thắc mắc, toan tính thì sẽ hỏng việc.

Cho anh hai phút, em ra khóa lại cửa nẻo.

Quỳnh Hoa bước đi và Đằng Vo tranh thủ đứng đái, bộ tịch bấn loạn, rùng mình mấy bận.

– Khi tới đây anh có trông thấy dãy lồng chim không?

– Thấy. Có chi đặc biệt?

– Những que những cành trong lồng đều có bao quanh ở ngoài bằng giấy nhám.

– Chi vậy?

– Để móng chim được mài sắc, để mỏ chim gạt vào dần dà sẽ bén ngọt tựa lưỡi kéo.

– Ta thực không hiểu.

– Nếu nó tấn công địch thủ vì ghen ghét tiếng hót thì nó sẽ chóng thắng trận trong vẻ vang. Dập tắt bài ca sinh tồn của giống khác.

– Ai bày ra trò hiểm độc ấy?

– Dạo này đang có cao trào mang chim đi uống cà phê, học mót từ phim ảnh Tàu. Con chim nào lỡ chết sau màn đấu nhau, khổ chủ sẽ có đó làm mồi đưa cay. Nhậu chim nướng rất bắt. Trước giải trí sau được bồi dưỡng. Kiếm Văn rất thú vị chuyện đó. Chữ hiểm độc là do anh nói, vậy thì anh đã tin những thương tích có trên người em chưa? Anh hôn hít đi, đâu có mùi khuynh diệp mùi dầu cù là mà bảo là cạo gió.

– Phải, ngó tướng em sung, đúng là kẻ không bao giờ biết cảm mạo xâm xoàng. Ta mới là đứa đang cần xức dầu nhị thiên đường.

– Chi vậy?

– Một, ta đã say bia. Hai, ta đã say em. Than ôi, người đâu gặp gỡ làm chi..!

– Đằng này có cái futon, anh tạm ngã lưng và chúng ta ký kết một hợp đồng.

– Ký kết hợp đồng? Em ơi, ta sợ nhất là câu “bút sa gà chết.”

– Chỉ là một cách nói đã quen mồm. Như thế này nhé, anh hãy ăn tươi nuốt sống lấy em rồi sau đó mang em tới một phương trời

cao rộng khác.

Quỳnh Hoa đưa tay ôm eo dìu đỡ Đằng Vo đi. Thân nhiệt giao hòa, chân cẳng va chạm, vướng víu như Lăng ba vi bộ. Một bên tỉnh táo ngửi thấy mùi bia nồng vướng trong hơi thở gấp. Một bên mù lòa ngửi ra mùi thơm của một thứ trái cây dấu chín trong hủ gạo. Đằng Vo không gian dối, quả tình hắn đang say. Trôi nổi đã lâu, đây là lần đầu hồ hởi phấn khởi, vân vân và vân vân. Phải về quê hương mới bắt gặp, mới đăng ký được cái cảm giác lạ lùng nọ. Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Quái đản thật! Ắn ở thiếu vệ sinh. Biết bùn lầy nước đục mà cũng nhắm mắt lao đầu xuống. Chuyện nấu nướng bếp núc cũng thế, ai đời mà nó bảo mình hãy ăn tươi nuốt sống lấy nó!

Gương cận thị được lấy ra bởi đôi tay lụa là của người trong tranh. Năm ngón cởi áo, mười ngón cởi quần, xuống tận cùng là cởi giày lột vớ. Trần như nhộng. Con tằm cựa quậy đòi ăn lá dâu. Đằng Vo nhìn Quỳnh Hoa, ngó sự vật bằng nhãn quang của một kẻ lâu ngày không về thăm thôn Vỹ, để thấy “da” em trắng quá nhìn không ra, mơ hồ có vết lọ nồi bôi đen ở đâu đó, rất sương khói. Chẳng cần là pháo binh, Đằng Vo cứ xem vệt đen kia tựa một điểm đã chấm tọa độ. “Này anh bạn đồng đội… Hay rót cho khéo nhé kẻo nhầm nhà tôi…” “Ôi, đường ra trận mùa này đẹp lắm…Trường sơn đông leo lên trường sơn tây.”

Đang loay hoay sửa soạn, đang chuẩn bị hô xung phong thì cánh cửa bên hông nhà mở rộng, thảng thốt, chết điếng, trăng treo đầu súng nguội lạnh.

– Mẹ kiếp. Tao mà về trễ chừng nửa giờ thì đôi gian phu dâm phụ này đa bê nguyên cặp sừng tê giác đặt trên đầu thằng Kiếm Văn này rồi. Hãy vào đây mà coi, mà chứng giám cho nỗi đau của một kẻ bị bạn thân chơi khăm. Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!

Kiếm Văn đứng chống nạnh giữa gian nhà, mặt mày tựa rắn hổ đang phùng mang trợn mắt. Có một kẻ đi sau lưng và kẻ đó vừa đóng chặt cánh cửa lại. Kiếm Văn đằng hắng: 

– Thưa anh, tôi mời anh về đây cốt là để nhậu nhẹt khuya nay, sau nữa là tôi muốn thông báo cùng anh tôi có đứa bạn phương xa về thăm nhà, xin được đăng ký tạm trú ít hôm. Vậy đó, vậy mà tưởng vui vẻ cả làng, ngờ đâu lại diễn ra thảm trạng này. Ôi bạn hiền! Ôi vợ quý! Xin anh hay lấy công đạo mà xử lý giùm, đời Kiếm Văn này chưa bao giờ đau đớn tợ hôm nay!

Đằng Vo vội vã tròng lại y phục vào người, lóng cóng nhặt tìm được cặp kính cận. Ô hay, sao Quỳnh Hoa vẫn thần sắc rạng ngời như thế? Nàng tuyệt không chút mảy may sợ sệt, mắc cỡ. Ta, thân đại trượng phu, có lý nào lại tệ hại chết đứng như Từ Hải?

– Tang chứng vật chứng rành rành. Anh kia, còn lời gì để nói? Tôi, công an khu vực, xin mời anh về đồn nghiêm chỉnh thi hành pháp luật nhà nước không khoan nhượng.

– Nghe đồn nghe bót thì bản thân tôi cũng sợ hãi huống chi bạn tôi từ nước ngoài ngày đầu về thăm thú.

Kiếm Văn phát biểu cảm tưởng.

Kẻ tự nhận là công an lên giọng, gần như reo hò:

– A. Việt kiều đây hở? Vậy thì để ông chơi theo kiểu Việt kiều.

Đánh điện thư về bển kêu họ hàng thân thích sang mà kíp lãnh ra. Nhà nước không sẵn cơm nuôi béo những hạng vô đạo đức như ngươi.

– Xin anh khoan hồng, chớ bắt giam tù tội. Chuyện nội bộ, xin phép cho chúng tôi được dàn xếp riêng tư. Hoa, em sớm mời anh Bảy đây một lon bia, uống để hạ hỏa.

Lạ. Roi mây đâu? Sao không mang ra quất con nha đầu đĩ thỏa kia một vài lằn ngang dọc? Khiếp, chúng đó đóng tuồng tự biên tự diễn hay sao? Thế còn thằng mặt xanh mày lả mặc thường phục nói sôi bọt mép kia? Công an thật ư? Chẳng thấy súng ống dây dợ nhưng cốt cách bặm trợn ấy chắc đúng là đầy tớ của nhân dân. Tiến thối lưỡng nan, tình thế khó xử, tứ bề thọ địch, miệng ngậm như hến. Đằng Vo ngồi co rúm trên futon, mặt mày rã rượi, tỉnh rượu muộn phiền.

– Rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Thôi, nói năng chi cũng bằng thừa, mày hãy cuốn gói mà trốn khỏi nhà tao. Kiếm Văn vô phúc lỡ giao du với một thứ bạn khốn nạn. Kinh nghiệm này đời sau vẫn còn khắc ghi!

Kiếm Văn nói, tự động đến mở rộng cánh cửa, mặt lạnh như tiền.

Hắn cư xử rất mực đàng hoàng, chẳng có biểu lộ sự ghen tuông nóng nảy quá đáng. Thong dong độ lượng y như quân tử Tàu.

– Ta thật có lỗi, ta thật nhẹ dạ, ta những mong mang được niềm vui đến cho Quỳnh Hoa…

– Đừng rườm lời. Mày cút ngay, hay nhớ cái địa chỉ này để bận sau chớ xớ rớ trở lui. Anh Bảy công an đây chỉ niệm tình tha thứ duy một lần này thôi.

– Đâu có được. Người ta rộng lượng cũng chỉ ở một chừng mực nào đó thôi. Hắn ra về mà người lành lặn không rụng một sợi lông thì e quý vị đã coi thường sự có mặt của Bảy này mất rồi.

– Vậy chớ anh hai muốn chi?

Đằng Vo xuống giọng. Ông công an xán tới gần.

– Bảy này một lời nói ra bốn ngựa khó kéo. Ta muốn giữ của ngươi cái đồng hồ đeo tay không người lái để làm vật kỷ niệm, có được chăng?

Nhẹ nhàng quá, tưởng gì ghê gớm hơn. Đằng Vo cởi chiếc đồng hồ Thụy sĩ giá tám trăm đô ra khỏi cổ tay. Mẹ kiếp, kinh nghiệm lần sau về thăm nhà nên đeo đồng hồ nhựa giá bảy đồng tính luôn cả thuế. Sự hào nhoáng nào cũng là con dao hai lưỡi cả. Nó cứa vào ruột, quặn thắt. Vĩnh biệt nhé, Oméga. Vật ở lại giùm, cho người đi êm thắm.

Bảy đeo vào tay, săm soi.

– Đồ dỏm hả mày, sao kim chỉ? giờ giấc lung tung bấn loạn cả lên?

– Thưa anh, giờ ấy là giờ ở một đất nước xa xôi chứ không phải giờ của tổ quốc giàu mạnh mến yêu này. Bản thân chiếc đồng hồ nọ thì lao động rất xuất sắc, trong sáu năm trời nó chỉ sai lệch có hai giây thôi.

– Được, trông vừa vặn bắt mắt như chính tao đi lựa mua. Tao tha mày đấy, về lại xứ vật chất cặn bã ấy nhớ cho tao gửi lời hỏi thăm đồng bào mình.

Cánh cửa đóng đùng một tiếng, như sấm nổ giữa trời giông.

Hú hồn, phước đức ông bà để lại. Đằng Vo lau mồ hôi trán, phố phường lên đèn, rậm rật mọi thứ tiếng động lan tràn luôn chảy. Ta vẫn bình yên và đời này vẫn đập hối hả nhịp tim thời buổi mở cửa kinh tế thị trường. Những bảng hiệu sáng đèn toàn tiếng Tây tiếng u nhấp nháy chào mời, dân vô học ngó qua e phải gầm đầu cắn lưỡi tự tử. Những người cởi xe gắn máy chạy tán loạn như bị ma rượt, họ mang kính râm, đeo khẩu trang, găng tay lên thấu nách như thể Ninja; như thể chuẩn bị đánh cướp nhà băng một vố to. Thiệt gay cấn, khó nhìn rõ mặt, vô phương nhận đoán ai là đầu đảng, ai cảm tình viên, ai tòng phạm, ai vô can, ai con nhà lành. Xêm xêm cá mè một lứa.

Người đàn bà đợi Đằng Vo thất thểu đi ra tới đường cái mới đóng cửa sắt, bóp chặt ổ khóa. Bà trở vào nhà đưa trả Kiếm Văn máy điện thoại di động.

– Thím Ba cầm đỡ năm chục mà chi viện cho dượng dưới quê. 

Lần sau nhớ gọi tôi sớm sủa một chút, chậm hơn hồi nãy vài phút không khéo thằng đó đã đánh du kích em Hoa tới tả tơi.

– Xí, anh khinh thường em cũng vừa phải thôi. Hắn du kích thì em giao liên, em dẫn cho đi lòng vòng thì hắn biết đường mô mà mò.

– Đây, phần em hai trăm. Còn thằng Bảy, tao giữ phần mày ở đây, đưa bây giờ thì mày lại cúng hết vào mục chích choác.

– Ảnh có cái đổng xịn rồi, nghèo mà ham! Lần sau có nhập vai công an thì nhớ bỏ bộ mặt đang đói thuốc kia ra kẻo rách việc.

– Được, tớ không lấy tiền, nhưng đã lập ra công ty thì xin cứ thông báo sự thật cho tớ mừng lây thành quả.

Quỳnh Hoa ngó Kiếm Văn, cô nhét tiền vô xú-chiêng chật chội.

– Trong bóp hắn có tất cả là bảy trăm năm mươi lăm đô. Tui đã cẩn thận rà soát thắt lưng, sờ nắn chiếc quần xì -líp, thậm chí còn thử xỏ chân vô giày hắn nhưng không phát hiện vật thu dấu. Thằng đó chắc thuộc thành phần vô sản bần cố nông. Đánh trận này thiệt chưa đã.

Bảy hỏi giờ rồi vặn kim đồng hồ điều chỉnh phút giây:

– Hắn là bạn cũ của ông thật sao?

– Sao lại có chuyện giả vào đó? Hắn vượt biển lần thứ tư mới được trót lọt. Mẹ cha nó, nhớ lại có lần hắn bắt tao ngồi chờ ở bãi bốc đến trắng con mắt, thiếu đường bị muỗi tha đi, nhức nhối tới độ thấy ông bà ông vải luôn.

– Thôi, anh lo lên chương trình đãi đằng em và anh Bảy là vừa, ở đó mà nói chuyện xưa tích cũ.

– Em ăn nói vậy là thiếu chất xám. Cái này người ta gọi là ôn cố tri tân. Nghĩ lại, ta đây thật hối hận.

– Anh hối hận điều gì?

– Phải mà hồi đó ta giao du kết bạn cho nhiều thì giờ này đã ngồi không mà ăn bát vàng.

– Thật không đó cha. Còn công sức con Hoa này thì bỏ cho chó ăn hay sao?

– Ừ nhỉ. Em là số một. Làm sao ta có thể phụ em. Cái đó thì em đã đi guốc trong bụng ta rồi, chẳng cần thề thốt. Kế mỹ nhân bao giờ cũng lợi hại. Đêm nay ta nguyện tắm táp sạch sẽ, ra giữa trời đốt hương khấn vái cao xanh, rằng xin cho em được giữ mãi nhan sắc ấy, xin cho thân thể em mãi được phì nhiêu núi đồi căng cứng.

– Làm chi có trời đất, làm gì có thần linh. Đừng bắt em đi khách cho Tây ba-lô thì thân xác này sẽ không sớm bị xộc xệch. Cái ấy là chân lý.

– Em nói chí phải. Và chân lý thì ngàn năm không đổi. Nói xong Kiếm Văn ôm Quỳnh Hoa vào lòng, điệu bộ như cưng trứng hứng hoa, cực kỳ âu yếm, cẩn trọng dịu dàng. Nàng quả là con gà đẻ trứng vàng, là cánh cửa hữu nghị rộng mở chào đón mấy anh khúc ruột từ ngàn dặm đi lơ ngơ về nộp mạng. Bộ nội vụ mà thuê được nàng làm công an chìm, làm gián điệp, thì đất nước ngày mỗi phồn vinh, kẻ thù sừng sỏ nào cũng đánh thắng. Than ôi! Mấy sếp lớn không biết dụng binh, chẳng có mắt nhìn người, thua xa một mình Kiếm Văn này vậy. 

Chuyện hậu Liêu trai chí dị đành phải ngừng lại ở đây. Người thuật chuyện cảm thấy ngao ngán, bần thần tựa cảm giác Đằng Vo đi lạc loài giữa phố khuya. Những mong sao cho Vo nọ xoay xở được tiền nong sớm trở về Mỹ quốc. Cũng thiết tha mong cầu cho Vo tu được thân, ổn định tinh thần qua những trang sách thấm đẫm hương vị Thiền học. Chớ đem lòng oán hận, xem cuộc đời này chỉ? là đám mây vân cẩu trôi ngang, một sớm một chiều sẽ tan biến.

Xin được buông bút.

Hồ Ðình Nghiêm

Mộng Lệ An, lập Xuân Nhâm Ngọ.